Lịch sử thăng trầm của đế chế Babylon

2

Lạc Vũ Thái Bình

Nền văn minh Babylon có vai trò nổi bật trong lịch sử thế giới, vì nó là trung gian lưu truyền lại nền văn hóa Sumer-Akkad cho cả vùng Tây Á, và cách riêng, Babylon chính là bối cảnh văn hóa trực tiếp của Kinh Thánh Cựu Ước… Trong hơn một ngàn năm, Babylon đã nếm trải cả đỉnh cao và vực sâu quyền lực trong vùng đất phát tích Văn minh Phương Tây…

1.SƠ LƯỢC VỀ LƯỠNG HÀ VÀ TIỂU VÙNG BABYLONIA

Vùng đất hình bán nguyệt nằm giữa Vịnh Ba Tư và Bán đảo Sinai thường được gọi là vùng Mảnh Trăng Màu Mỡ (Fertile Crescent). Vùng đất này bị chia tách với các vùng đất kế cận bởi những ranh giới tự nhiên như sau: phía tây là Địa Trung Hải; phía bắc là những dãy núi cao hầu như không thể vượt qua như Amanus, Taurus, Ararat; phía đông là dãy núi Zagros; phía nam là hoang mạc Arabia. Đặc tính địa lý cho thấy đây là một vùng đất hầu như khép kín. Trong vùng đất đó, các bộ tộc định cư, di cư rồi lại gây chiến với nhau, nhưng trong thời kỳ đầu của lịch sử cổ đại, họ hầu như không phải đụng độ với thế lực ngoại bang nào.

Biên giới của Babylon thay đổi liên tục theo những biến động chính trị không ngừng của vùng đất Lưỡng Hà. Hầu hết các thành phố chính của nền văn minh Babylon đều nằm hai bên bờ sông Euphrates và các chi lưu của nó. Vùng đất phát tích của Babylon thường xuyên hứng chịu sự công kích mọi bề của các lực lượng ngoại bang do địa thế của nó thiếu vắng trầm trọng các rào cản tự nhiên che chắn. Trong thời cổ, Babylon không hưởng một lịch sử uy danh hơn những thành cổ khác ở vùng Sumer. Tuy nhiên, vào giữa thiên niên kỉ thứ hai BC, Babylon dần dần trở thành trung tâm chính trị của cả Lưỡng Hà.

Tên gọi Babylon trong ngôn ngữ bình dân Akkad có một ý nghĩa cao sang là ‘cổng trời’. Thế nhưng trong Kinh Thánh, sách Sáng thế lại dùng một cách chơi chữ trong tiếng Do Thái để đả phá lời tuyên bố kiêu kỳ đó, bằng cách giải thích rằng cái tên Babylon có nguồn gốc từ chữ ‘bâlal’ trong tiếng Do Thái, có nghĩa là làm cho lộn xộn, và như thế Babylon, từ ‘cửa trời’ đã biến thành ‘sự lộn xộn của ngôn ngữ’ và sự phân tán của nhân loại: “Người ta đặt tên cho thành ấy là Babel, vì tại đó, ĐỨC CHÚA đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó, ĐỨC CHÚA đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất” (St 11,9).

2.BABYLON CỔ, ĐẾ CHẾ PHÙ DU

3

Một thành phố Babylon Cổ

Ngay từ cuối thiên niên kỉ thứ ba BC, lịch sử Sumer và Akkad đã ghi nhận sự xuất hiện của các nhóm dân du mục hiếu chiến đến từ bên ngoài. Vào thiên niên kỉ thứ hai BC, sự di dân của nhóm dân du mục đó đã làm thay đổi bộ mặt dân tộc học của vùng Babylon và các khu vực kế cận. Người Sumer gọi nhóm dân du mục đó là ‘Martu’ nghĩa là ‘miền tây’, người Akkad gọi họ là ‘Amurru’, cũng có nghĩa là ‘miền tây’ trong tiếng Akkad. Chính từ ‘Amurru’ mà chúng ta có các tên gọi Emori hay Amorite. Trong những thế kỉ sau đó, người Amorite định cư tại vùng Lưỡng Hà. Họ thiết lập triều đại đầu tiên của Babylon.

Babylon vẫn là một thị trấn nhỏ trong một tiểu quốc cho đến vị vua Amorite thứ sáu, Hammurabi, (1792BC-1750BC). Ông đã thực hiện những công trình xây dựng lớn ở Babylon, mở rộng nó từ một thị trấn nhỏ thành một thành phố lớn tương xứng với quyền lực đang lên của nó. Là một nhà cai trị hiệu quả, ông thành lập một bộ máy quan lại, đặt ra thuế và chính quyền trung ương. Hammurabi đã giải phóng Babylon khỏi ách thống trị của Elam, và đánh đuổi người Elam khỏi miền nam Lưỡng Hà, sau đó, ông đã chinh phục lần lượt toàn bộ miền nam Lưỡng Hà. Các cuộc chinh phạt của ông đã mang lại cho khu vực sự ổn định sau thời kỳ hỗn loạn, và thống nhất các tiểu quốc thành một quốc gia; từ thời của Hammurabi trở đi, miền nam Lưỡng Hà được gọi là Babylonia. Hammurabi cho quân đội lên phía đông và xâm chiếm những khu vực sau này thuộc Iran, là Elam, Guti, và Kassite; ở phía tây, ông đã chinh phục các vương quốc của vùng Levant. Sau đó, Hammurabi bước vào một cuộc chiến kéo dài với đế quốc Assyria Cổ để giành quyền kiểm soát Lưỡng Hà và bá chủ Cận Đông. Ông đã buộc người kế vị Mut-Ashkur của họ phải thần phục Babylon vào khoảng năm 1751BC và nhượng lại các thuộc địa Hatti và Hurri lâu đời của Assyria ở Anatolia.

Sau cái chết của Hammurabi, đế chế của ông bị đế chế Assyria lấn át, và do miền Nam Lưỡng Hà do khá bằng phẳng, không có địa hình hiểm trở nên dễ bị các tộc người du mục từ các vùng khác tấn công. Đế chế Babylon Cổ bắt đầu tan rã. Người Babylon và những người cai trị Amorite bị đuổi khỏi Assyria bởi một tổng trấn Assyria là Puzur-Sin năm 1740BC. Babylonia đã bị thu hẹp trở lại thành một quốc gia nhỏ bé và tương đối yếu nhược như trước đây, tuy thành phố này lớn hơn nhiều so với thị trấn nhỏ trước thời Hammurabi. Samsu-Ditana là vị vua Amorite cuối cùng của Babylon, sau đó họ bước vào thời kỳ suy yếu thường được tính là Trung Babylon 1531BC-627BC.

Tuy không còn được những cuộc chinh phạt của những đế vương mạnh mẽ như Hammurabi hậu thuẫn, từ giữa thế kỉ thứ 18 BC, người Amorite vẫn tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng từ Babylonia về phía tây và tây nam đến Syria và Palestine và trở thành sắc dân đa số tại miền Canaan; cùng với đó, việc đồng hóa nền văn hóa Lưỡng Hà của người Amorite vẫn tiếp tục. Đây chính là bối cảnh của câu chuyện về Abraham được kể lại trong St 12, 1-6. Theo nhiều sử gia, việc di cư của Abraham đến Canaan như được ghi nhận trong sách Sáng thế đã được liên kết trong một hình thức nào đó với sự xâm nhập của dân Amorite vào trong vùng Lưỡng Hà và Syria những thời đại trước. Theo cách hiểu này thì tổ phụ Abraham sống vào khoảng thế kỉ 18 BC và có thể là người đương thời với vị vua nổi tiếng của người Amorite là Hammurabi. Người ta cũng ghi nhận là Haran, nơi Abraham bắt đầu đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa, là nơi sinh sống của người Amorite vào giai đoạn này, và các tên riêng của các tổ phụ như Abraham, Jacob, Isaac, Benjamin đều có nguồn gốc Semite.

Dân số Babylonia trong thời kỳ Trung Babylon bao gồm hai nhóm chính: người Babylon bản địa (bao gồm hậu duệ của người Sumer và Akkad, người Amorite) và những người di cư mới (như Aram và Chaldea). Đến thế kỷ thứ 8, các nhóm dân tộc bản địa mất dần bản sắc và đã dung hòa thành một nền văn hóa “Babylon” thống nhất. Đồng thời, người Chaldea, mặc dù vẫn giữ hình thái bộ tộc và lối sống của họ, ngày càng trở nên “Babylon hóa”. Những người Chaldea được Babylon hóa này dần nắm vai trò quan trọng trong chính trị Babylon. Trong thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ thứ 8 BC, vương quốc Babylon độc lập suy yếu trầm trọng và cuối cùng bị người láng giềng hùng mạnh phía bắc là đế chế Assyrian can thiệp quân sự năm 745BC và sáp nhập vào đế chế năm 729BC. Cuộc chinh phạt của người Assyria đã bắt đầu một cuộc đấu tranh kéo dài một thế kỷ để giành độc lập của người Babylon.

3.ASSYRIA-JUDAH-BABYLON VÀ NHỮNG KHÚC QUANH ÉO LE CỦA LỊCH SỬ

Người Babylon bắt đầu xuất hiện trở lại trên sân khấu chính trị của Lưỡng Hà vào thế kỉ 9 BC. Họ sống thành những nhóm bộ tộc được gọi là ‘nhà’ và định cư ven các đầm lầy và hồ ao ở vùng đất hợp lưu hai sông Euphrates và Tigris. Do kiểm soát tuyến đường giao thương từ Lưỡng hà đi vào miền núi Zagros phía đông và Vịnh Ba Tư phía nam nên người Babylon nhanh chóng tích lũy được nhiều của cải. Với sự giàu sang đó họ đã triều cống rất hậu hĩnh cho đế chế Assyria, tuy nhiên, tất cả chỉ là tạm thời. Năm 783BC, với việc hoàng đế Adad-ninari III băng hà, đế chế Assyria rơi vào suy thoái. Ngoài những vấn đề lớn về kinh tế và quản trị đế chế, họ cũng chịu sự đe dọa của vương quốc Urartu ở mặt bắc. Còn người Babylon khi đó lại đang trên đà phát triển mạnh về dân số và sức mạnh, sẵn sàng thế vào lổ hổng quyền lực đang xuất hiện ở Lưỡng Hà do sự suy yếu của đế chế Assyria. Trong lịch sử, các hoàng đế Assyria thường được biết đến như những nhà chinh phục mạnh bạo hơn là những nhà cai trị khôn khéo. Với khuynh hướng tôn sùng vũ lực, họ thường tàn phá hơn là thiết lập các chính quyền hiệu quả ở những vùng đất bị họ đánh chiếm. Thời kỳ thống trị của đế chế Assyria, lãnh thổ Babylon đã chịu sự đô hộ cũng như kiểm soát trực tiếp của Assyria. Chính Sennacherib (704BC-681BC), con của Sargon II, là người in dấu ấn khá sâu đậm trong truyền thống Kinh Thánh. Chính Sennacherib là hoàng đế Assyria đầu tiên đã tấn công Judah và bao vây Jerrusalem vào năm 701BC (2V 18-20), một chiến dịch đã bước đầu hòa quyện định mệnh ba dân tộc vào trong một vòng xoáy giằng co lôi kéo và hủy diệt lẫn nhau.

1

Một phù điêu Assyria, có thể là hoàng đế Sennacherib (trv. 705BC-681BC)

Năm 705BC, hoàng đế Sargon II băng hà, đế chế Assyria chìm trong khói lửa nội loạn. Ở phía đông, tỉnh Babylon đang diễn ra một cuộc nổi dậy, được dẫn đầu bởi một tù trưởng người Chaldea tên Merodach-Baladan, vốn là đồng minh của người Elam, cuộc nổi dậy chỉ bị dập tắt khi thành phố Babylon bị phá hủy hoàn toàn. Còn ở phía tây đế chế Assyria lại nổi lên một liên minh chống đối của các vua vùng Phoenicia, Philisstine, Judah và vùng bên kia sông Jordan. Thực vậy, bất chấp lời khuyến cáo của ngôn sứ Isaia, vua Hezekiah của Judah đã gia nhập liên minh, thậm chí còn trở thành kẻ cầm đầu liên minh. Vua Hezekiah sai người qua Ai Cập để thương thảo hiệp ước, rồi tất bật lo tăng cường các công trình phòng thủ cho kinh thành Jerusalem: xây thêm các pháo đài, đào kênh Siloam để dẫn nước từ suối Gihon vào trong thành. Năm 701BC, sau khi xử lý xong cuộc bạo loạn của Babylon ở miền đông, hoàng đế Sennacherib quay sang phía tây. Tiến quân từ phía bắc xuống dọc theo con đường ven Địa Trung Hải – Via Maris, ông đè bẹp cuộc nổi loạn của các vương quốc Tyre, Byblos, Ascalon. Sau đó, bằng một loạt chiến thắng áp đảo, ông khuất phục các vương quốc dọc theo Vương Lộ là Ammon, Moab và Edom. Tuy tất cả các vương quốc miền tây đều đã phải im hơi lặng tiếng trước mặt hoàng đế Sennacherib, nhưng mục tiêu của ông vẫn chưa đạt được, vì ông còn muốn cho kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn là vua Hezekiah của Judah phải thần phục mình. Trong một bi ký Assyria, hoàng đế Sennacherib tuyên bố là đã bao vây 46 thành có tường lũy bao quanh của Judah và vô số các làng mạc không có tường bao quanh, cùng bắt 200150 người làm chiến lợi phẩm. Ông đã tiến lên bao vây Jerusalem và nhốt vua Hezekiah tại đó ‘như một con chim trong lồng’. Khi biết tin Ai Cập không thể tới tương trợ và thấy mình lâm vào thế phải chiến đấu hoàn toàn đơn độc với đoàn quân đông đảo của Assyria đang bao vây Jerusalem, vua Hezekiah đã dự tính đầu hàng hoàng đế Sennacherib.

Trong thời điểm tưởng chừng như mọi hi vọng đã tiêu tan, thì ngôn sứ Isaia lại loan báo về việc Thiên Chúa sẽ ra tay cứu thoát dân Người: “Về vua Assyria ĐỨC CHÚA phán như sau: Nó sẽ không vào được thành này, không bắn được mũi tên tới đó, không núp sau thuẫn mà xông lên, cũng chẳng đắp ụ để công phá. Nó sẽ phải quay về, theo chính con đường nó đã đến, chứ thành này thì nó không vào được. Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA. Vì Ta và vì David, tôi tớ của Ta, chính Ta sẽ che chở và sẽ cứu thành này’’ (2V 19, 32-34). Quả vậy, Jerusalem bị vây nhưng được giải thoát vào phút cuối cùng bởi những lý do mà cho đến nay vẫn còn chìm trong màn sương bí ẩn. Quân Assyria đã không vào được Jerusalem. Điều này nếu căn cứ vào bản văn Kinh Thánh “Chính đêm ấy, thiên sứ của ĐỨC CHÚA ra đánh chết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong trại quân Assyria. Ban sáng, khi người ta thức dậy, thì kìa, toàn là thây ma xác chết” (2V 19, 35) thì phần lớn quân đội Assyria đã bị thiên sứ của Thiên Chúa tiêu diệt, nhưng trong sử biên của Assyria không hề nhắc đến sự kiện nào như vậy. Một vài học giả ước đoán rằng đã có một thiên tai hay ôn dịch nào đó trong đội quân Assyria đang vây thành, hoặc hoàng đế Sennacherib phải rút quân vì ở miền đông đế chế có một sự kiện đặc biệt cần đến sự can thiệp trực tiếp của ông: Marduk-apla-iddina II lại tự tuyên bố là vua Babylon. Chiến đấu trên hai mặt trận không bao giờ là điều dễ dàng, quân đội Napoleon đã kiệt sức thất bại của Đại Quân ở Mặt trận phía đông và vì Cái ung bướu Tây Ban Nha’ ở phía nam, còn người Đức dù thiện chiến và tàn nhẫn cũng không sao khắc phục được trận thế Hai Mặt Trận trong hai cuộc thế chiến. Năm 681BC, hoàng đế Sennacherib bị các con trai của ông ta giết chết trong lúc ông đang tế lễ trong đền thờ thần Nimrud (2V 19, 37).

4

Cương vực đế chế Assyria qua từng thời kỳ bành trướng

Bị đánh bại tại Ai Cập vào năm 660BC, đế chế Assyria xuống dốc mau lẹ. Sau khi hoàng đế Ashurbanipal băng hà năm 627BC, đế quốc Assyria rơi vào hỗn loạn do một loạt các cuộc nội chiến. Cuối cùng, Babylon, cũng như các vùng lãnh thổ phía đông, đã lợi dụng tình trạng gần như vô chính phủ của đế chế Assyria để tự giải phóng khỏi sự cai trị của người Assyria. Vào năm 626BC, thủ lĩnh người Chaldea là Nabopolassar tự xưng là hoàng đế, lập ra triều đại Tân Babylon, ông nhanh chóng giành quyền kiểm soát phần lớn Babylon và được dân chúng ủng hộ, ngoại trừ thành Nippur và một số khu vực phía bắc vẫn trung thành với vua Assyria. Nabopolassar dành bốn năm tiếp theo chiến đấu với quân đội Assyria đóng quân tại Babylon. Hoàng đế Nabopolassar quả thực đã may mắn xuất hiện trên vũ đài chính trị khi mà đế chế Assyria đã suy yếu rất nhiều. Ông nhanh chóng kí kết một hiệp ước liên minh giữa Babylon và Cyaxares, vua của Medes, người Ba tư, người Scythia và người Cimmeria, theo đó thì miền bắc Lưỡng Hà thuộc phạm vi ảnh hưởng của người Medes, còn miền trung Lưỡng Hà và Syria thì thuộc về Babylon. Vào năm 615 TCN, trong khi vua Assyria dồn sức dẹp loạn ở cả Babylonia và Assyria, Cyaxares đã phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào trung tâm Assyria, Nabopolassar khi đó vẫn bị vây ở miền nam Lưỡng Hà nên không tham dự chiến dịch này. Từ lúc đó, liên minh của người Babylon, Chaldea, Meia, Ba Tư, Scythia, Cimmeria và Sagartia đã đồng loạt nổi dậy chống lại Assyria. Nhiều thành phố lớn của Assyria rơi vào tay liên quân vào năm 614 TCN. Hoàng đế Assyria là Sin-shar-ishkun đã đảo ngược tình thế vào năm 613 TCN, thành công đẩy lùi quân nổi loạn. Tuy nhiên, liên quân quay lại tấn công cấp tập vào năm tiếp theo, và sau năm năm kháng cự ác liệt, Nineveh bị công phá vào cuối năm 612 TCN sau một cuộc bao vây kéo dài. Sau đó, hoàng đế Nabopolassar tham gia với quân Medes triệt hạ các thành phố còn lại của đế chế Assyria.

Ngọn lửa chiến tranh vẫn cháy hừng hực. Một tướng lĩnh trong hoàng tộc Assyria là Ashur-uballit II lên ngôi (612BC-605BC). Theo Biên niên sử Babylon, ông được liên quân khuyên hàng và chấp nhận xưng thần, nhưng ông từ chối và tìm cách rút khỏi Nineveh để đến thành phố phía Bắc Assyria là Harran ở Thượng Lưỡng Hà và thành lập kinh đô mới. Ashur-uballit II bị Media, Babylon, Scythia và đồng minh đánh bật khỏi Harran, ông tại tiếp tục rút lui về phía tây đến Carchemish. Pharaoh Necho II của Ai Cập, triều đại chư hầu do Assyria lập nên năm 671 TCN, trợ giúp Assyria vì lo sợ Ai Cập sẽ bị các thế lực mới thôn tính nếu Assyria không còn nữa. Năm 609BC, Pharaoh Necho II (610BC-595BC, thuộc triều đại 21) đưa quân lên miền bắc để hội sư với quân Assyria tại Carchemish, một địa điểm bờ tây bắc sông Euphrates, để chống lại Babylon. Vua Judah là Josiah (640BC–609BC), vì một liên minh kí kết trước đó với Babylon, đã can dự vào chiến cuộc bằng cách đưa quân chặn đường Pharaoh Necho II tại Megiddo, như được tường thuật trong Kinh Thánh, “Vào thời vua Josiah, vua Ai Cập là Pharaoh Necho lên gặp vua Ashur bên bờ sông Euphrates. Vua Josiah đi đón vua Necho, nhưng vua Necho giết vua Josiah ở Megiddo, khi vừa thấy vua này” (2V, 23, 29), và đã mất mạng trong trận chiến này, quả là, trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết. Tuy nhiên, sự tác động của vua Josiah đã làm Ai Cập mất thăng bằng, và một cách gián tiếp đã góp phần vào chiến thắng của Babylon tại Carchemish năm 609BC, nhưng về phía người Do Thái, cái chết của một vị minh quân như Josiah được cho thấy là một thảm họa kéo theo sự sụp đổ của Jerusalem và Judah.

4.HOÀNG ĐẾ NABOUKHODONOSOR VÀ ĐỈNH CAO QUYỀN LỰC CỦA ĐẾ CHẾ BABYLON

Hoàng đế Naboukhodonosor II (605BC-562BC) lên kế vị Nabopolassar năm 605BC và trị vì trong 43 năm, đưa Babylon một lần nữa trở thành bá chủ của phần lớn thế giới văn minh, tiếp quản các phần của Đế quốc Assyria cũ, với phần phía đông và đông bắc là Media và phía cực bắc là Scythia. Naboukhodonosor II phải đối mặt với tàn dư Assyria và các mối đe dọa mới là người Scythia và người Cimmeria, vốn là các đồng minh cũ dưới thời Nabopolassar. Naboukhodonosor II đem quân lên Anatolia và đánh tan các thế lực này, chấm dứt mối đe dọa ở phía Bắc. Người Ai Cập cố gắng trụ lại Cận Đông, có thể là để khôi phục Assyria làm vùng đệm an toàn chống lại Babylon, Media và Ba Tư, hoặc để tạo ra một đế chế mới của riêng họ. Naboukhodonosor II tấn công người Ai Cập và đẩy họ trở lại Sinai. Tuy nhiên, ông không thể khuất phục được Ai Cập như Assyria đã làm, chủ yếu là do một loạt các cuộc nổi loạn từ Judah, Phoenicia và Aram của vùng Levant. Judah đã sực tỉnh giấc mộng để nhận ra gã đồng minh Babylon thân thiết ngày nào của họ nay đã trở thành tên bạo chúa tham lam và tàn bạo mới của miền Mảnh Trăng Màu Mỡ, nhưng có lẽ đã muộn.

Trận chiến giữa hoàng đế Naboukhodonosor II và Ai Cập vào năm 601BC khiến cả hai bị tổn thất nặng nề. Năm 598BC, bất chấp sự ngăn cản của ngôn sứ Jeremias, vua Jehoiakim của Judah cho rằng trong hai cường quốc đang tranh chấp thì Ai Cập mạnh hơn, nên đã bỏ Babylon mà ngả theo Ai Cập. Cũng năm đó, hoàng đế Naboukhodonosor II thân chinh tiến công Judah, vua Jehoiakim băng hà khi Jerusalem đang bị bao vây, và con ông là Jehoiachin lên nối ngôi. Thành Jerusalem thất thủ vào tháng 3 năm 597BC, nhưng Đền Thờ vẫn chưa bị phá hủy. Hoàng đế Naboukhodonosor II bắt được vua Jehoiachin, đem ông và hoàng tộc đi đày ở Babylon, đồng thời đặt Zedekiah lên ngôi vua. Không từ bỏ ý định thoát khỏi sự kiểm soát của Babylon, vua Zedekiah lại dẫn Judah về phe với Ai Cập. Hoàng đế Naboukhodonosor II trả đũa quyết liệt và nhanh chóng, ông cho bao vây Jerusalem ngày 15-01-586BC, và triệt hạ thành ngày 19-01-586BC (có sử liệu nói 587BC). Đoạn sách 2V 24-25 đã kể lại chuyện hoàng đế Naboukhodonosor II đã đến tấn công Jerusalem hai lần như thế nào. Vị tướng của Naboukhodonosor II là Nebudaradan đã cho quân bình địa hoàn toàn Jerusalem. Sự tàn phá đầy kinh hoàng và man rợ của quân Babylon cùng khung cảnh khói lửa thê lương của thành đô Jerusalem đã đóng một dấu sắt cháy bỏng đầy đau đớn lên ký ức tập thể của người dân Judah. Bằng chứng từ khoa khảo cổ gợi ý rằng dân số của Judah thời đó đã giảm sút từ 250000 trong thế kỉ 8 BC xuống còn khoảng một nửa sau sự sụp đổ của Jerusalem. Judah cố gắng khởi nghĩa giành lại nền độc lập vào năm 582BC, nhưng đã bị tướng Nebudaradan đè bẹp nhanh chóng. Các thành phố như Tyre, Sidon, Damascus, cùng người Ả Rập và các dân tộc Nam Ả Rập khác cư ngụ trong các sa mạc ở phía nam biên giới Lưỡng Hà sau đó cũng bị đế chế Babylon khuất phục.

5

Hoàng đế Naboukhodonosor II (trv. 605-562)

Cùng với nền độc lập được khôi phục, một thời kỳ mới được mở ra, các hoạt động kiến trúc diễn ra sôi nổi khắp đất nước. Hoàng đế Naboukhodonosor II ra lệnh tái thiết toàn bộ các công trình quan trọng của đế chế, đặc biệt phải kể đến ziggurat Etemenanki và Cổng Ishtar – cổng thành nổi bật nhất trong tám cổng thành của Babylon, nhưng công trình khiến cho danh tiếng của Naboukhodonosor II còn mãi với thiên thu là công trình kì vĩ ông xây tặng cho hoàng hậu Amytis, Vườn Treo Babylon.

5.CHIỀU VỢ THEO KIỂU BABYLON

5

Vườn Treo Babylon

Vườn Treo Babylon là một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Nó được ca ngợi là một thành tựu nổi bật về kỹ thuật xây dựng với một chuỗi vườn bậc thang, có đủ các loại cây, cây bụi và cây leo đa dạng, tạo nên một ngọn núi xanh lớn được đắp bởi gạch bùn. Vườn treo được cho là được xây dựng tại thành phố cổ đại Babylon, gần thành phố Hillah tỉnh Babil, Iraq ngày nay. Tên của nó được lấy nguồn gốc từ chữ Hy Lạp kremastós, dùng để chỉ những cây cối được trồng trên một cấu trúc trên cao như là ban công hay sân thượng. Josephus, Diodorus Siculus và Strabo mô tả Vườn treo Babylon có hình vuông, với mỗi bên dài khoảng 120m, được thiết kế theo dạng bậc thang, với tầng trên cùng cao khoảng 25m. Những bức tường, dày gần 7m, được xây bằng gạch. Nền của những bậc thang đủ sâu để chứa rễ của những cây lớn nhất, và khu vườn được tưới tiêu bởi hệ thống máy bơm đinh vít dẫn nước lên từ sông Euphrates. Vườn treo Babylon được trang trí bằng đủ các loại cây như ô liu, mộc qua Kavkaz, sung ngọt, hạnh đào, chi lê, chà là, nho, điều… Theo một ghi chép vào khoảng 290 TCN của một tu sĩ người Babylon là Berossus, vườn treo Babylon được hoàng đế Naboukhodonosor II xây tặng cho người vợ yêu dấu của mình là hoàng hậu Amytis người Medes, để làm bà khuây khỏa nỗi nhớ quê hương Zagros, nơi vốn có những ngọn đồi và thung lũng xanh tốt.

Quả thật, nếu Naboukhodonosor II đã thực sự xây nên Vườn treo Babylon, thì đúng là cho dẫu ông cũng đã chinh nam phạt bắc lập nên nhiều chiến tích đặt nền móng cho đế chế Babylon thế nào đi nữa, rút cuộc ông lại được hậu thế nhớ đến nhiều nhất do món quà vĩ đại mà ông dành cho người phụ nữ mà ông yêu. Và, người Việt ta là một trong vài dân tộc văn minh hiếm hoi đã thấu hiểu sâu sắc cái tinh thần đó của hoàng đế Naboukhodonosor II, đúc kết trong câu nói khá quen thuộc: Ở bẩn sống lâu, đội vợ lên đầu là trường sinh bất tử.

6.CÓ AI MUỐN SỐNG Ở BABYLON KHÔNG?

6

Sử gia Herodotus kể khá nhiều câu chuyện về Babylon, nhiều câu chuyện trong đó đã gây nghi ngờ cho không ít người. Tỉ dụ như việc ông kể về việc người dân Babylon khi bị bệnh thì ra ngồi ở giữa chợ và kể về bệnh của mình, và kẻ qua người lại sẽ chỉ vẻ cho bệnh nhân phải làm những gì, thể theo những kinh nghiệm cá nhân của họ, điều này đã bị những văn bản y học Lưỡng Hà cổ đại chứng mình là sai. Herodotus cũng kể về chuyện tất cả phụ nữ Babylon trong đời phải ít nhất một lần giao hoan với người lạ tại thánh địa của nữ thần tình yêu Ishtar. Một người phụ nữ khi đã tới đây sẽ không về nhà cho đến khi một trong số người lạ mặt ném một đồng xu bạc vào cô ta và nói: ‘Ta muốn cô, nhân danh thần Ishtar’, đồng bạc có thể bất cứ trị giá nào, và người phụ nữ không thể từ chối. Những người có nhan sắc dĩ nhiên ngồi chưa ấm chỗ, nhưng cũng có những người phải ở thánh địa tới ba năm.

Herodotus kể phong tục trên như là phong tục đáng hổ thẹn nhất cho người Babylon, thực hư không biết ra sao, nhưng như để gỡ gạc cho thành phố cổ xưa này, ông lại kể tiếp về phong tục cưới xin của vùng này mà ông cho là rất đáng trân trọng. Theo đó thì khi các trinh nữ đến tuổi thành hôn, người ta tập hợp những cô gái này đến quảng trường thành phố, ở đó những người đàn ông đã chờ sẵn. Người xướng danh liền gọi tên cô gái xinh đẹp nhất, và tiến hành bán họ, sau khi thiếu nữ này được bán đi và đem về một khoảng tiền lớn thì ông xướng danh và bán tiếp cô đẹp thứ hai, và cứ tiếp tục như thế. Tất cả những người đàn ông giàu có ở Babylon sẳn sàng đấu giá với nhau để giành những trinh nữ xinh đẹp nhất, những người đàn ông bình dân cũng sẳn sàng lấy vợ nhưng không đòi hỏi những cô xinh xắn sẽ chấp nhận trả một khoản tiển nhỏ đi kèm những cô kém sắc hơn. Và khi những cô có nhan sắc được bán hết, người xướng danh gọi tên những cô rất kém sắc hoặc bị tật, và người nào chấp nhận lấy các cô sẽ nhận được khoản tiền có được trước đó từ việc bán các cô trinh nữ xinh đẹp. Như vậy, các côn xinh đẹp phải cung cấp của hồi môn cho các cô kém sắc. Sau một thời gian chung sống, nếu người đàn ông muốn li dị thì phải trả lại của hồi môn cho cô gái.

Đất đai của Babylon cực kì màu mỡ, khiến cho lúa mì lúa mạch kê và vừng của vùng đất này to đến nỗi Herodotus thấy ngại khi phải kể lại vì sợ bị nguwoif ta cho là đang nói quá. Babylon có những cánh đồng lúa mì bạt ngàn có thể cho sản lượng gấp 300 lần hạt giống đem gieo, mức cao nhất của nền sản xuất lương thực cổ thời, cùng với đó là những vườn chà là và vả sum suê trĩu quả được dùng để chế biến thực phẩm, làm rượu và mật.

7.SỰ SUY YẾU CỦA ĐẾ CHẾ BABYLON

Năm 562BC, khi hoàng đế Naboukhodonosor II băng hà, quyền lực của đế chế Babylon bắt đầu suy giảm nhanh chóng, chỉ trong vòng bảy năm, ngai vàng đã đổi chủ tới ba lần. Amel-Marduk kế vị và chỉ ở ngôi hai năm, Neriglissar (560BC-556BC) cũng có một triều đại ngắn ngủi, ông này là con rể của Nebuchadnezzar II. Con trai Neriglissar là Labashi-Marduk (556 TCN), vẫn còn là một cậu bé, kế vị và bị giết trong cùng năm bởi Nabonidus, con trai của nữ tư tế người Assyria Adda-Guppi, xuất thân từ Harran kinh đô cuối cùng của Assyria. Hoàng đế Nabonidus (556BC-545BC) do xuất thân từ dòng dõi tư tế và có lòng sùng kính đặc biệt thần mặt trăng Sin, ông đã cho khôi phục đền thờ kính vị thần này tại Haran, và do vậy, đã gây ra sự kình địch của giới tư tế đầy quyền lực của thần Marduk, điều này đã tạo nên một sự rạn nứt trong nền tảng quyền lực của đế chế Babylon.

7

Cuộc thiên đô của hoàng đế Nabonidus từ Babylon sang ốc đảo Teima

Vì một lí do nào đó mà đến nay vẫn còn là bí ẩn, hoàng đế Nabonidus đã thiên đô từ Babylon sang ốc đảo Teima nằm phía bắc sa mạc Arabia, việc làm khinh suất này của ông đã đưa tới hai hệ quả nghiêm trọng cho nền chính trị đế chế Babylon. Thứ nhất, với việc đặt trung tâm hành chính của đế chế ở một vị trí ngoại vi, hoàng đế Nabonidus đã khiến việc kiểm soát và điều hành một đế chế rộng lớn như Babylon thêm phần khó khăn, trong khi người Medes và Ba Tư đang bắt đầu nổi lên thành một mối đe dọa cho đế chế. Thứ hai, việc hoàng đế Nabonidus vắng mặt tại Babylon khiến cho những năm đó người ta không thể cử hành Lễ hội Năm mới, là lễ hội mà trong đó hoàng đế đóng vai trò chính. Đối với người Babylon, việc hoàng đế Nabonidus không cử hành những nghi thức của lễ hội này để kính thần Marduk, mà người dân tin là sự may mắn và chính sự hiện hữu của Babylon phụ thuộc và vị thần này, rõ ràng là một tai họa.

Mối đe dọa bên ngoài do thế lực ngày càng lớn mạnh của người Medes ở miền đông bắc đế chế bắt đầu trở nên rõ ràng. Người Medes đã từng là đồng minh của người Babylon trong việc lật đổ đế chế Ashur, lúc này chính họ lại đe dọa đế chế Babylon. Bản thân hoàng đế Nabonidus xem người Medes như là mối nguy hiểm chính đối với đế chế của ông, nên ông đã kết đồng minh với vua Cyrus (576BC-530BC) của Ba Tư, một chư hầu của người Medes. Cyrus đại đế, vua của người Achaemenid ở Elam, đã quật khởi mà không cần người Babylon hỗ trợ để chống lại ách thống trị của Astyages, vua của Medes, tại Ecbatana. Quân đội của Astyages ngả theo phe Cyrus. Đế chế Media sụp đổ và người Ba Tư trở thành chúa tể của tất cả vùng đất phía đông dãy Zagros nhìn xuống vùng đồng bằng Lưỡng Hà. Lúc này, hoàng đế Nabonidus mới nhận ra người Ba Tư mới là kẻ thù đích thực của họ, nhưng có lẽ đã muộn.

8.BABYLON ĐỐI DIỆN VỚI NHÀ CHINH PHỤC ĐẾN TỪ PHÍA ĐÔNG

8

Cyrus đại đế (~590BC-529BC)

Năm 547BC, hoàng đế Cyrus chinh phục một đồng minh của Babylon là vương quốc Lydia ở phía tây Tiểu Á. Năm 545BC, hoàng đế Nabonidus từ Teima trở về Babylon để cử hành Lễ hội Năm mới, nhưng đã quá muộn để cho vị hoàng đế kém cõi này có thể kiểm soát sự hỗn độn và lấy lại cảm tình của người Babylon. Năm 539BC, một trận đại chiến giữa quân đội Babylon và Ba Tư nổ ra tại Opis, bên bờ sông Tigris, với kết quả là sự thảm bại của người Babylon. Các cánh quân Ba Tư vượt qua các chi lưu hai con sông Euphrates và Tigris, xiết vòng vây xung quanh thành Babylon.

Kinh thành Babylon được cho là bất khả xâm phạm. Theo lời kể của Herodotus, thành có hình vuông với mỗi cạnh dài 120 ‘stadia’, đơn vị đo chiều dài của người cổ đại, bằng khoảng 200m. Nó có hai vòng thành với mỗi mặt thành rộng 50 ‘pekhes hoàng gia’, mỗi ‘pekhes hoàng gia’ tương đương 52cm. Giữa hai vòng thành là một hào nước sâu, hào nước này nối với sông Euphrates. Điểm yếu duy nhất của hệ thống phòng ngự là việc con sông Eupherates chảy qua chính giữa thành phố. Người Babylon đã cho lắp đặt lưới kim loại chắn ngang sông để dòng sông có thể chảy qua thành phố mà vẫn ngăn chặn được sự xâm nhập từ bên ngoài, nhưng lưới này không chạm đáy sông. Ngay bên ngoài thành là một hồ nước chu vi lên tới 420 ‘stadia’, được sử dụng để rút nước sông Euphrates trong quá trình thi công các công trình phòng ngự cho thành và cây cầu bắt qua chính giữa thành.

Vì thấy trước Cyrus sẽ không án binh bất động sau khi chinh phục các chư hầu của mình, người Babylon đã tích trữ lương thực đủ dùng trong nhiều năm. Vì thế trong khi cư dân Babylon không mấy lo lắng về cuộc vây hãm thì Cyrus lại lúng túng khi thấy cuộc vây hãm kéo dài mà không đạt được tiến triển nào, nhưng cuối cùng ông đã nghĩ ra được một mưu kế. Cyrus bố trí quân chủ lực ở nơi dòng sông chảy vào thành, và một cánh quân khác ở nơi dòng sông chảy ra khỏi thành, rồi đích thân ông dẫn cánh quân thứ ba đi đào một con kênh dẫn nước từ sông Euphrates vào hồ nước cũ ở ngoại thành, khiến cho dòng chảy sông trong một vài giờ hạ xuống thấp đến mức có thể lội qua được. Hai cánh quân Ba Tư phục sẵn nhanh chóng ập vào và hạ thành. Vì quy mô rộng lớn của chính nó, khi khu vực tiếp giáp với tường thành đã lọt vào tay quân Ba Tư, những người ở khi vực trung tâm thành phố, ngẫu nhiên lúc đó đang tổ chức một lễ hội thâu đêm, vẫn tiếp tục nhảy múa vui chơi cho tới sáng, khi mọi việc đã an bài.

Tháng 10 năm 539BC, hoàng đế Cyrus tiến vào Babylon, ông tuyên bố mình là người giải thoát người dân Babylon ra khỏi ách thống trị của Nabonidus, khôn khéo hơn nữa, ông còn tuyên bố rằng mình mới là người bảo trợ thực sự của thần Marduk, vị thần đã bị Nabonidus lơ là trong việc thờ kính. Hoàng đế Cyrus đã tính toán chính xác, vì người dân thành Babylon đã đầu hàng mà không hề kháng cự. Thành Babylon và các thành lận cận không hề bị tổn hại, do quân đội Ba Tư đã được lệnh phải tôn trọng tôn giáo người bản xứ và tránh gây sợ hãi cho họ.

So với các đạo quân chinh phục như Asssyria và Babylon, đạo quân Ba Tư của hoàng đế Cyrus rõ ràng là nhân đạo hơn. Các vị hoàng đế kế nghiệp Cyrus tuy không được như ông nhưng đế chế Ba Tư cũng chưa bao giờ phải mang tiếng xấu về tham lam và tàn bạo như đế chế Asssyria. Điều này có lẽ phát xuất từ việc người Asssyria tôn sùng vị chiến thần Ashur như vị thần bảo trợ đế chế, trong khi vị thần tối cao của dân Ba Tư lại là Ahura Mazda, một vị thần của sự khôn ngoan. Theo đó, quả thực hoàng đế Cyrus đã đối xử với các thần linh của các dân tộc bị chinh phục một cách khoan dung. Chính trong bối cảnh đó mà người Do Thái ở Babylon được hoàng đế Cyrus cho hồi hương và tái thiết Đền Thờ.

Chỉ vài tháng sau khi lên ngôi, hoàng đế Cyrus đã ban hành một chiếu chỉ vào năm 538BC cho phép người Do Thái hồi hương và tái thiết Đền Thờ. Ta có thể tìm thấy chiếu chỉ này ở trong hai sách Ezra và Nehemiah. Chiếu chỉ này được lưu làm hai bản, một bản bằng tiếng Do Thái và một bản bằng tiếng Aram, ngôn ngữ chính thức của đế chế. Người Do Thái không bị ép buộc phải ra đi, và quả thực, nhiều người đã lựa chọn ở lại Babylon và tham gia tái thiết Đền Thờ bằng cách đóng góp tài chính. Chính vì thế, Babylon vẫn tiếp tục là một trung tâm học thuật quan trọng đối với người Do Thái trong nhiều thế kỉ tiếp theo.

9.CHIẾN QUẢ LỚN NHẤT CỦA CÁC ĐẾ VƯƠNG

Đế chế Babylon đã sụp đổ hoàn toàn, thành Babylon tuy vẫn nguyên vẹn nhưng chỉ còn là một tỉnh của đế chế đã nuốt chửng nó, đế chế Ba Tư. Đó là một chiến quả vĩ đại, vì theo Herodotus, để cung cấp cho hoàng đế và quân đội hoàng gia, toàn bộ đế chế Ba Tư được chia làm các vùng, mà trong 12 tháng, có bốn tháng hoàng đế được cung cấp bởi vùng Babylonia, và trong tám tháng còn lại bởi tất cả các vùng còn lại của châu Á. Đây là một minh chứng rõ ràng cho sự trù phú và giàu có của vùng đất Babylon.

9

Đế chế Ba Tư (539BC-333BC)

Ba Tư là đế chế đầu tiên trong hàng loạt đế chế ở bên ngoài Lưỡng Hà làm chủ vùng này. Kể từ năm 539BC, từ chỗ nắm giữ vận mệnh của chính mình với những cuộc tranh đoạt giữa các sắc dân địa phương, Lưỡng Hà – thiên phủ chi địa của thế giới cổ đại, trở thành sân khấu tranh hùng tranh bá của các quyền lực ngoại bang. Lưỡng Hà đã chấp nhận lui về đóng vai trò làm phần thưởng lớn nhất cho ngôi vị bá chủ thiên hạ: Alexander đại đế đã băng hà tại Babylon, chiến quả lớn nhất của chiến thần Macedonia, đế chế Rome dù đã có Ai Cập, nhưng vẫn gây chiến với đế chế Parthia vì thèm thuồng xứ xở địa đàng này…


Lạc Vũ Thái Bình

Huế, 03-2021

Thư mục tham khảo

-Phạm Hữu Quang, Dẫn nhập Thánh Kinh, Nxb Tôn Giáo, TPHCM, 2018

-Herodotus, Lịch Sử, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2019

-Viện Smithsonian, Lịch sử thế giới – chân dung nhân loại theo dòng lịch sử, Nxb Dân Trí, Hà Nội, 2017

-Mortimer Chamber, Lịch sử văn minh Phương Tây, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s