Võ Văn Dũng- danh tướng nhà Tây Sơn

Bùi Thụy Đào Nguyên

Võ Văn Dũng, không rõ năm sinh năm mất, quê quán thôn Phú Mỹ, huyện Bình Khê, nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Theo sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của danh sĩ Nguyễn Trọng Trì (1853-1922), thì ông được người đương thời liệt vào hàng Tứ kiệt (3 người còn lại là Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu)

1.Tư liệu nói về nơi sinh và dòng tộc của Võ Văn Dũng:

Từ thị trấn Phú Phong (huyện Tây Sơn) rẽ trái khoảng 3 km là tới thôn Phú Mỹ.
Thôn Phú Mỹ trước có tên là Phú Lộc thuộc ấp Phú An, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn.

Phú Mỹ là một làng được hình thành do kết quả khai hoang của những lưu dân Việt vào quãng giữa thế kỷ 17. Dân Phú Mỹ chủ yếu làm nghề nông có kết hợp với nghề đi rừng lấy trầm hương và các lâm thổ sản khác.

Trong làng có 12 dòng họ sinh sống, trong đó lớn nhất là ba họ: Võ, Trần, Nguyễn. Họ Võ là họ đầu tiên có công khai phá đất đai lập làng, lập ấp, được coi là tiền hiền khai canh.

Theo gia phả họ Võ do Võ Thừa Khuông, di duệ đời thứ 9, soạn trên cơ sở những tài liệu cũ, thì thủy tổ của họ Võ ở Phú Mỹ là Võ Văn Của, vốn quê gốc ở Nghệ An, di cư vào nam từ thế kỷ 17, đến lập nghiệp tai thôn Phú Lộc, ấp An Tư, tổng Thời Đôn, huyện Tuy Viễn.

Đến thời thứ hai là Võ Văn Thọ, gia thế họ Võ đã tương đối khá giả. Võ Văn Thọ đã xuất tài lực tổ chức việc đắp đập Lộc Đổng và tham gia đắp nhiều đập khác dẫn nước vào đồng ruộng, mở mang kinh tế nông nghiệp, không chỉ cho Phú Mỹ mà còn cho cả nhiều làng xã khác trong vùng.

Đời thứ ba là Võ Văn Khanh. Ông là một người tài trí, có công huân với nhà nước, từng được phong tước nam. Võ Văn Khanh kết duyên cùng Nguyễn Thị Điểm, sinh hai nam là Võ Văn Chỉnh và Võ Văn Dũng.

Như vậy, đến Võ Văn Dũng thì họ Võ đã sinh cơ lập nghiệp ở Phú Mỹ được ba đời.

Có thể tổ ba đời của Võ Văn Dũng và tổ ba đời của anh em Tây Sơn cùng bị chúa Nguyễn bắt và đưa đi khai hoang lập ấp trong một đợt. Và cũng giống như gia đình Hồ Phi Phúc – Nguyễn Thị Đồng (phụ mẫu 3 anh em Tây Sơn), gia đình Võ Văn Khanh – Nguyễn Thị Điểm có kinh tế tương đối khá giả với số ruộng đất 6 mẫu, một ngôi nhà gỗ 12 gian.
2.Thân thế Võ Văn Dũng:
Võ Văn Dũng thuở nhỏ có tên là Độ, là một người thông minh, có chí khí từ sớm. Sống trong một gia đình khá giả, ông có điều kiện được học hành, lại hay đi đây đi đó nên hiểu biết rất rõ về thời cuộc, tầm nhìn được mở mang. Đặc biệt, ông rất giỏi võ nghệ, một phần là sự kế thừa truyền thống thượng võ của quê hương, một phần chính là sự nỗ lực rèn luyện của bản thân, bao gồm đủ các môn cung, đao, kiếm…

Là một người có tinh thần trách nhiệm cao với gia đình, với họ tộc nên mặc dù là con thứ, Võ Văn Dũng vẫn được ông Võ Văn Khanh trao quyền thừa tự. Tại quê hương Phú Mỹ, Võ Văn Dũng đã lập gia đình và sinh được 6 người con gồm 4 trai và 2gái.

Tuy nhiên, không biết Phan Trần Chúc đã dựa vào tư liệu nào mà viết rằng:

Dũng, người làng Đan Giáp, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Và Dũng là người có sức khỏe, nhưng thất học. Lúc còn nhỏ chuyên sống bằng nghề trộm cướp, nên đã nhiều lần bị bắt, bị tống giam. Lần sau cùng, cũng vì tội cướp của giết người, Dũng bị giải về kinh thành chờ ngày lãnh án. 
May gặp lúc quân Tây sơn ra đánh Bắc Hà, nhờ kinh thành nhiễu loạn nên Dũng trốn thoát được.
Nhân lúc loạn ly, Dũng chiêu mộ những quân vô lại rồi xin sung vào quân Tây Sơn. Nguyễn Huệ thấy Dũng hình dung to lón, sức khỏe hơn người nên vui lòng thuận cho…(tr 124 trong sách Triều Tây Sơn- nxb VHTT, năm 2003).

Đoạn tư liệu này tôi chép ra, vì không thấy bất kỳ bộ sách sử nào viết như vậy cả. Nếu bạn đọc tra được nguồn, xin chia sẻ. 

3.Tài năng của Võ Văn Dũng:

“(Võ Văn) Dũng là tâm phúc của ta” ( Nguyễn Huệ)

Về sự nghiệp của ông các sách đã viết nhiều, nên ở đây tôi chỉ nhắc lại một vài chi tiết:

Vì ông là bạn thân của Nguyễn Nhạc, nên ngay từ buổi đầu, khi ba anh em Tây Sơn tụ nghĩa trên đất Tây Sơn thượng đạo, Võ Văn Dũng đã có mặt; và phụng sự cho đến những ngày tháng cuối cùng.
Với tài năng của mình, Võ Văn Dũng đã sớm được các thủ lĩnh Tây Sơn trọng dụng, sớm được đứng trong hàng ngũ các tướng lĩnh Tây Sơn. Trong quân Tây Sơn bấy giờ thường truyền tụng câu nói về tài võ nghệ của Võ Văn Dũng.

Võ Văn Dũng quán quân
Bách chiến khởi Tây thùy
(Tiếng tăm Võ Văn Dũng trùm khắp ba quân
Trăm trận đánh nổi lên từ bờ cõi phương tây)

Còn Nguyễn Nhạc khi xem Võ Văn Dũng múa đại đao đã ca ngợi:

Phá sơn trung tặc dị
Thắng Văn Dũng đao nan
(Phá giặc ở trong núi thì dễ,
thắng được cây đao của Võ Văn Dũng thì khó)

Nhưng Võ Văn Dũng không chỉ là người có sức khỏe, giỏi võ nghệ mà còn rất can đảm và nhiều mưu trí. Như trong trận đánh nhau với Tôn Sĩ Nghị ở Thăng Long, Dũng đã có dịp bộc lộ hết tài năng của mình nên Quang Trung rất yêu mến mà cất lên chức Đại đô đốc, tiếp đến là Đại tư đồ, là một trong những chức quan trọng nhất của vương triều Tây Sơn.

Vào ngày rằm tháng 4 năm Quang Trung thứ 4 (1791), ông cng Nguyễn Quang Thùy, phan Huy Ích, Võ Huy Tấn đưa giả vương Phạm Công Trị sang Yên Kinh gặp vua nhà Thanh, để tâu lên 2 việc: xin cầu hôn và xin đất đóng đô. Mọi việc đều đang thuận lợi, thì nhận được tin vua Quang Trung đột ngột qua đời, Võ Văn Dũng cùng sứ bộ đành ngậm ngùi trở về.

Tương truyền, ông đã khóc nhà vua bằng tấm lòng tiếc nuối, thương cảm như sau:

Bố y phấn tích ngũ niên trung
Kim cổ thi vi sự bất đồng
Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
Bất ư Ðường, Tống thuyết anh hùng

Anh Hợp tạm dịch:

Năm năm dấy nghiệp tự thôn nông
Thời trước, thời sau khó sánh cùng
Trời để vua ta thêm chục tuổi
Anh hào Ðường, Tống hết khoe hùng…

Chỉ nêu ra ngần ấy sự việc, đủ biết Võ Văn Dũng có nhiều đức tính hơn người, nên mới được anh em nhà Tây Sơn khen ngợi và tin dùng đến như vậy.

4.Trách nhiệm của Võ Văn Dũng về sự rạn nứt vương triều Tây sơn:

Phan Trần Chúc, ở trang 133 trong sách vừa kể trên, có nêu một câu hỏi:
-Đối với vương triều Tây Sơn, Võ Văn Dũng có công hay có tội?

Tác giả tự trả lời: Câu hỏi rất khó trả lời. Vì ghen quyền Võ Văn Dũng đã đẩy triều Tây Sơn vào cuộc nội loạn do việc tàn sát bọn Bùi Đắc tuyên và Ngô Văn Sở. Nhưng để chuộc những tội lỗi trên, Dũng đã cầm lá cờ Tây Sơn mà phấn đấu tới cùng…

Ở đây, tôi không cần bài bác mà chỉ muốn bạn đọc lưu ý mấy việc:

-Nội bộ nhà Tây sơn đã có mầm mống rạn nứt ngay từ buổi đầu dựng nghiệp.

Nên khi Quang Trung đột ngột ra đi, vương triều này càng mất đoàn kết nghiêm trọng.

Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược viết như sau:

Tháng 8 năm 1792, Vua Cảnh Thịnh tuy đã lên ngôi nhưng mà việc gì cũng do ở thái sư là Bùi Đắc Tuyên quyết đoán cả. Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái Hậu, cho nên uy quyền lại càng hống hách lắm. Các quan văn võ có nhiều người không phục, bởi vậy cho nên về sau trong triều phân ra bè đảng; các đại thần giết hại lẫn nhau…

Trong cảnh bát nháu như vậy, ta thấy Võ Văn Dũng đã bắt giết Bùi Đắc Tuyên và một số người cùng phe phái này, tuy chưa phải là giải pháp hay, nhưng để ổn định nhanh chóng tình thế, khó có thể làm khác được.

Có thể đô đốc Dũng cũng thấy mình quá mạnh tay và vận nước lúc bấy giờ cũng quá chông chênh, nên chẳng bao lâu sau ông lại thần phục nhà vua trẻ và làm hòa với Trần Quang Diệu để cùng chống chúa Nguyễn Ánh.

Nhưng vì nhiều nguyên do khác nữa, nên mặc dù quân tướng nhà Tây Sơn cố ra sức chống ngăn, “cổ xe” đã quá rệu rã này cứ trượt dài trên đà suy vong, không sao gượng lại được nữa…

-Võ đô đốc cũng như nhiều tướng lĩnh khác: Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…dám dứng lên chống giặc ngoại xâm, trừ khử bọn bạo ngược, rồi sau này không vì nhà Tây Sơn suy vi mà chạy sang hàng ngũ đối phương.

Ta nên biết tất cả khoảng 200 tướng lĩnh của nhà Tây Sơn đã hiên ngang ra pháp trường bãi chém An Hoà, ngoại ô Huế, để nhận án chứ không chịu van xin hay đầu hàng.

Nếu không lấy việc thành bại ra bàn luận, thì những ai có đủ đởm lược, trung tín và nghĩa khí như thế, thiển nghĩ cũng đáng để ta gọi họ là Anh hùng.

Nói gọn, nếu bảo Võ Văn Dũng có tội vì đã làm nội bộ nhà Tây Sơn thêm rạn nứt, liệu có đúng với thực tế, với công trạng và tấm lòng của ông đối với vương triều này không?
5. Võ văn dũng và vợ chồng Trần Quang Diệu bị bắt như thế nào?:
Theo “Tây Sơn thất võ tướng” đăng trên web Vn thư quán:

Nghe tin quân Tây Sơn bị thua ở Nhật Lệ, Trấn Ninh Nguyễn Phúc Ánh hoàn toàn làm chủ đất Thuận Hóa, Võ Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu đem 3 ngàn quân cùng 80 thớt voi, theo đường sạn đạo sang Lào để ra Nghệ An vào thượng tuần tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802).

Đường đi khó khăn, Lam Sơn chướng khí đầy dẫy, khiến cho đoàn quân càng ngày càng hao hụt. Lớp bị bệnh, lớp bị bọn thổ ty theo nhà Nguyễn tập kích, nên khi đến Nghệ An thì mười phần chỉ còn ba bốn. Đoàn tượng binh chỉ còn mươi thớt.

Tại Hương Sơn, Võ Văn Dũng cùng Trần Quang Diệu và các tướng bị tướng nhà Nguyễn là Võ Doãn Văn, Lê Đức Định bắt sống.

Ở Diễn Châu, Bùi Thị Xuân hay tin đem nữ binh đi giải cứu. Đến Giáp Sơn thì giải cứu được, nhưng chạy đến sông Thành Chương thì hai vợ chồng Trần, Bùi bị bắt trở lại.
Một mình Võ Văn Dũng mở đường máu thoát chạy. Nhưng chạy đến Nông Cống, thuộc Thanh Hóa thì

Võ Văn Dũng bị bọn Lê Văn Pháp, Phạm Ngọc Thụy kéo dân địa phương ra bao vây. Với một thanh đoản đao, Võ Văn Dũng đã đánh thắng hai tướng Lê, Phạm xong quá yếu sức vì gian lao đói khát, nên đành buông đao chịu trói.

Bộ ba Dũng, Diệu, Xuân bị đóng cũi giải về Nghệ An. Dọc đường, Võ Văn Dũng phá cũi, thoát ra ngoài, ông giải cứu luôn cả hai vợ chồng Trần, Bùi song hai chân của Trần tướng quân bị sưng phù, không thể chạy trốn được. Bùi nữ tướng đành ở lại chịu chết cùng chồng.

6. Về cái chết của Võ Văn Dũng:
Hiện tồn tại 2 ý kiến về cái chết của ông:

-Theo sử nhà Nguyễn, sau khi Phú Xuân thất thủ, Đại tư đồ Võ Văn Dũng và vợ tên Lê Thị Vi đều bị bắt và bị hành hình man rợ vào năm 1802.

-Theo những phát hiện gần đây thì Võ Văn Dũng đã trốn thoát về quê một thời gian, ông trở lại An Khê chiêu mộ đồng bào Thượng khởi nghĩa chống Nguyễn, mãi đến khoảng đời Thiệu Thị (1841-1847) ông mới mất, thọ trên 90 tuổi. Năm 1907, con cháu đem hài cốt ông về táng tại quê hương là làng Phú Mỹ.

Trong “Tây Sơn thất võ tướng” kể chi tiết như sau:

“Một mình Võ Văn Dũng lặn lội suối đèo, ngày nghỉ đêm đi, sau nhiều tháng mới về đến quê hương. Trong đêm tối, ông ghé thăm nhà tại Phú Phong, đốt hương lên bàn thờ tổ tiên, rồi âm thầm ra đi. Ông lên sống tại các làng người dân tộc vùng cao trước kia đã từng một thời hợp tác với nhà Tây Sơn, mong có ngày gầy dựng lại cơ đồ.

Các vùng núi Tây Sơn thượng đều lưu vết chân ông. Các thôn Đồng Phó, Hà Nhung thường là nơi ông lưu trú lâu nhất. Tại An Khê ông chiêu mộ được một số người dân tộc thiểu số, lấy hòn Hội Sơn ở Trinh Tường làm căn cứ quân sự. Do đó nhân dân địa phương cũng gọi hòn Hội Sơn là hòn Ông Dũng và gọi tắt là Hòn Dũng.

Khi hợp tác cùng các sắc tộc vùng núi, Võ Văn Dũng ban đầu được sùng bái, sau lần lần vì thế lực của ông không có mà thế quyền Gia Long càng ngày càng vững mạnh, nên các sắc tộc vùng núi tỏ ý lơ là không muốn hợp tác nữa.

Vì vậy, ông bỏ hẳn vùng Tây Sơn thượng trở về hoạt động ở vùng cận quê hương. Các vùng ven sông Côn như Tiên Thuận, Vĩnh Thạnh, Kiên Mỹ đều nằm trong phạm vi hoạt động của ông .
Việc ông đứt đoạn với các sắc tộc vùng Tây Sơn thượng được nhân dân địa phương đưa vào ca dao:

Củ lang Đồng Phó
Đậu phụng Hà Nhung
Chàng bòn thiếp mót bỏ chung một gùi
Chẳng qua duyên nợ sụt sùi
Chàng giận chàng đá cái gùi, chàng đi
Chim kêu dưới suối Từ Bi.
Nghĩa nhơn còn bỏ huống chi cái gùi.

Đó là câu ca dao đã dùng thể tỷ nói về việc chung lưng đấu cật, về việc bất hòa giữa Võ tướng và tộc người thiểu số.

Để chuẩn bị cho một cứ điểm ẩn náu cuối cùng, Võ tướng đã đi sâu vào vùng Lộc Đổng, Hầm Hô, tìm những hang động rộng rãi, kín đáo để chuẩn bị cho việc ẩn náu lâu dài.

Trong khi hoạt động ở vùng Tây Sơn thượng, Võ tướng đã có một thời đến sống trong rừng mộ điểu, nhưng sau thấy Cô Hầu ( người dân tộc Bana, vợ Nguyễn Nhạc, bà có công lớn khi nhà Tây Sơn khởi nghiệp) không thiết tha đến việc phục hưng nhà Tây Sơn, nên ông đã đón hai con của vua Thái Đức là Văn Đức, Văn Lương và cháu nội là Văn Đẩu về ở chung.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1882), tưởng thời gian đã xóa đi các liên hệ tranh chấp, ba chú cháu Văn Đức về thăm quê hương ở Kiên Mỹ thì bị quan lại địa phương bắt giải về Phú Xuân, giết chết.

Còn lại trơ trọi một mình, Võ tướng sống một cuộc đời rày đây mai đó.Ông mất dưới triều Thiệu Trị nhưng không rõ ngày nào, năm nào và tại đâu. Chỉ biết là ông sống được 90 năm, nhờ vào bài thơ Vịnh Võ Đô đốc của danh sĩ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì (1853-1922), làm mừng khi ông thoát nạn:

VỊNH VÕ ĐÔ ĐỐC.

Tạo vật khốn hào kiệt.
Ý tưởng sử hữu vi.
Công danh vị túc ngôn.
Hoặc tác xuất thế ty.
Võ công dũng quán quân.
Bách chiến khởi Tây thùy.
Thiên phương yểm trung nguyên.
Đãi phi nhất mộc chi.
Thoát thân tứ thập niên.
Thế nhân thức công thùy.
Đản kinh sơn thạch gian.
Hữu thử hùng báo ty.
Ngã diệc chí phương ngoại.
Bạch đầu vị phùng sư.
Niên niên hạnh phế phóng.
Thảng toại giữ thế từ.
Tùng công du Ngũ Nhạc.
Khể thủ thốn linh chi.
Kim cốt hoán lục tủy.
Khiêm nhiên tùng đào phi.

Nghĩa là:

Tạo hóa làm khốn đốn kẻ hào kiệt.
Ý muốn cho họ làm việc gì.
Công danh không đủ nói.
Hoặc giả bày ra cơ hội để họ thoát đời.
Tài đánh dẹp của ông thật quán quân.
Từ biên giới phía Tây nổi lên, trăm trận trăm thắng.
Nhưng trời muốn dứt nửa chừng.
Thì một cây không chống nổi.
Thoát mình khỏi nạn ngót bốn mươi năm.
Người đời ai biết ông?.
Sống lâu ngày trong nơi núi chồng đá chất.
Ông có tư thế mạnh như gấu như hùm.
Tôi cũng có ý muốn xuất thế.
Nhưng đã bạc đầu mà chưa gặp được thầy.
Làm quan nay được đuổi về, năm năm rảnh rang.
Muốn thoát khỏi cuộc đời.
Theo ông đi dạo chơi khắp năm ngọn núi tiên.
Cúi đầu ăn cỏ linh chi.
Xương vàng đổi tủy xanh.
Nhẹ nhàng bay lên nhánh tùng.

Mãi đến khoảng Ðống Khánh – Thành Thái (1885-1907), con cháu mới lấy cốt đem về cải táng ở quê nhà Phú Mỹ.

Tác già Huỳnh Văn Mỹ trong loạt bài viết về “Dấu tích vương triều Tây Sơn”, báo Tuổi Trẻ ra ngày 22/10/2007 có nêu thêm nhiều chi tiết quí:

Làng Phú Mỹ nay đường sá khang trang bởi từ quốc lộ 19 rẽ vào đã có đường nhựa vào khu du lịch sinh thái Hầm Hô cách làng không xa. Hầm Hô cũng là nơi Võ Văn Dũng chiêu tụ nghĩa binh cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Từ đường Võ Văn Dũng nằm cách con đường vào Hầm Hô vài trăm mét, kề những vườn nhà quanh xóm. Ông Võ Văn Diệu, 75 tuổi, hậu duệ của đại đô đốc Dũng, cho biết người của chi tộc nhà ông dựng ngôi từ đường này từ rất sớm để thờ tự ngài đại đô đốc.

Ông Võ Thừa Hậu, cũng là hậu duệ của đại đô đốc, cho biết: “Mộ đại đô đốc được ông cha chúng tôi dời từ trong núi sâu về vào thời đầu thế kỷ 20”.

Và ông còn ông kể về đoạn cuối oai hùng của Võ Văn Dũng:

“Trên đường bị áp giải về Phú Xuân, ông đã phá cũi thoát thân. Lẻn trốn về quê, ông tập hợp người cũ và chiêu mộ thêm nghĩa quân mưu việc phục thù. Ông chọn núi Hòn Hợi ở dưới đèo An Khê làm căn cứ, lên kế hoạch khôi phục cơ đồ. Nhưng mãi rồi cũng bị bại lộ, con cháu của Nguyễn Nhạc bị giết, ông thoát thân được lại trốn vào một làng người Thượng. Được họ đùm bọc, mãi đến mươi năm sau dưới thời Thiệu Trị (1841-1847) ông mất, thọ trên 90 tuổi”.

Nhưng khổ nỗi sử nhà Nguyễn nói là ông đã bị giết cùng với các cận thần của vua Cảnh Thịnh vào cuối năm 1802. Cũng vì vậy, theo ông Võ Thừa Hậu, đến nay một số người ở các ngành chức năng vẫn chưa nhìn nhận đây là mộ của đại đô đốc Võ Văn Dũng!
Bùi Thụy Đào Nguyên, biên khảo

(Ngoài những tư liệu đã nêu tên trong bài, người soạn còn sử dụng tư liệu của tác giả B.H viết dựa theo Địa chí Bình Định)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s