Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 10 (Hết)

jerusalem

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

  PHẦN 9

ZIONISM: CHỦ NGHĨA PHỤC QUỐC DO THÁI ZIONISM

Ôi Jerusalem: người độc nhất đã hiện diện trong tất cả việc này trong khi người mơ mộng đáng yêu xứ Nazareth không làm gì hết trừ gia tăng thù hận. 

Theodore Herzl, Nhật Ký

Gương mặt giận dữ của Yahweh đang đăm chiêu nhìn những tảng đá nóng cháy đã từng chứng kiến vụ tàn sát thần thánh, hiếp dâm và cướp bóc nhiều hơn bất cứ nơi nào trên mặt đất này.

Arthur Koestler

Nếu đất có linh hồn, thì Jerusalem là linh hồn của đất nước Israel.

David Ben-Gurion, phỏng vấn báo chí

Không có hai thành phố nào quan trọng với nhân loại cho bằng Athens và Jerusalem.

Winston Churchill, Thế Chiến II, cuốn 6: Khải hoàn và Thảm kịch 

Thật không dễ để làm dân Jerusalem. Một con đường gai góc chạy dọc theo những bờ vui của nó. Cái vĩ đại trở nên bé nhỏ bên trong Thành phố Cổ. Giáo hoàng, giáo trưởng, vua chúa đều giỡ mũ miện của mình xuống. Đó là thành phố của Vua của các vì Vua; và các vua chúa thế tục đều không phải là chủ nhân của nó. Không người nào có thể sở hữu Jerusalem.

John Tleel, ‘Tôi là Jerusalem’, Jerusalem Quarterly

CHƯƠNG 42 : VỊ KAISER 1898–1905

HERZL

Theodor Herzl, một nhà phê bình văn học ở Vienna, được cho là ‘đẹp trai cực kỳ’, cặp mắt ‘hình quả hạnh với lông mi đen dày u sầu’, có vóc dáng của một ‘Hoàng đế Assyria’. Một người cha có ba con trong một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, ông là một người Do Thái bị đồng hóa hoàn toàn với cổ áo cánh én và áo choàng; ‘ông không phải là người của quần chúng’, và có ít liên hệ với đám dân Do Thái tóc quăn, luộm thuộm ở thị trấn tỉnh lẻ. Ông là luật sư có bằng cấp, không nói được tiếng Do Thái cổ hay mới, dựng cây Noel dịp Giáng Sinh và không buồn cắt bao quy đầu cho con trai. Nhưng những vụ pogrom ở Nga năm 1881 đã cơ bản làm ông bị sốc. Vào năm 1895, khi Vienna cử tên khích động gây rối chống Do Thái Karl Lueger làm thị trưởng, Herzl viết: ‘Tâm trạng người Do Thái rất tuyệt vọng.’ Hai năm sau, ông ở Paris tham gia vụ án Dreyfus, trong đó một sĩ quan Do Thái vô tội bị khép tội làm gián điệp cho Đức, và ông chứng kiến những đám đông dân chúng Paris kêu gào ‘Mort aux Juifs’ (Giết hết bọn Do Thái) trong một xứ sở đã giải phóng người Do Thái. Sự kiện này càng củng cố thêm niềm tin của ông là sự đồng hóa không chỉ thất bại mà còn khiêu khích thêm phong trào bài Do Thái. Thậm chí ông còn dự đoán rằng phong trào bài Do Thái một ngày nào đó sẽ được hợp pháp hóa ở Đức.

Herzl kết luận rằng người Do Thái không thể nào được an toàn nếu không có tổ quốc. Thoạt đầu, nhân vật nửa thực tế, nửa lý tưởng này mơ ước về một cộng hòa quý tộc Đức, một Venice Do Thái được cai trị bởi một nghị viện với một

Rothschild là tổng trấn hoàng thân và mình là  quan chưởng ấn. Tầm nhìn của ông có tính thế tục: các giáo sĩ cao cấp sẽ mặc những sắc phục ấn tượng; quân đội sẽ khoa trương những kỵ binh mặc giáp ngực bằng bạc, các công dân Do Thái hiện đại của ông sẽ chơi cricket và quần vợt trong Jerusalem. Nhà Rothschilds, thoạt đầu hoài nghi về bất kỳ ý tưởng gì về nhà nước Do Thái, nên bác bỏ cách tiếp cận của Herzl, nhưng những ghi nhớ sớm sủa này chẳng bao lâu chín mùi trở thành một điều gì đó thực tiễn hơn. ‘Palestine là quê hương lịch sử luôn trong ký ức của chúng ta,’ ông phát biểu trong Nhà Nước Do Thái xuất bản vào tháng 2 1896. ‘Triều đại Maccabee sẽ đứng lên lần nữa. Cuối cùng chúng ta sẽ sống như những người tự do trên mảnh đất của chính mình và chết bình an tại ngôi nhà mình.’

Không có gì mới về từ Zionism – thậm chí từ này đã được tạo ra vào năm 1890 – nhưng Herzl khoác cho nó cách diễn tả và tổ chức có tính chính trị đối với một tình cảm cổ xưa. Dân Do Thái đã hình dung sự tồn tại của mình trong tương quan với Jerusalem kể từ thời Vua David  và đặc biệt kể từ chuyến Lưu đày Babylon. Người Do Thái luôn hướng về Jerusalem khi cầu nguyện, chúc nhau ‘Năm tới ở Jerusalem’ mỗi năm vào dịp lễ Vượt Qua, và tưởng nhớ ngày Đền Thờ sụp đổ bằng cách đập nát cốc rượu trong lễ cưới của họ và trong nhà lúc nào cũng dành riêng một góc không chăm sóc, trang trí. Họ đến đó hành hương, nguyện vọng được yên nghỉ tại đó và cầu nguyện bất cứ khi nào có thể quanh tường thành. Thậm chí khi họ bị bức hại tàn nhẫn, họ vẫn ở lại Jerusalem và chỉ bỏ đi khi ở lại sẽ bị tội chết.

Chủ nghĩa dân tộc Âu châu mới không tránh khỏi xúi giục hận thù chủng tộc đối với dân tộc có mặt ở mọi quốc gia này – nhưng đồng thời cũng chủ nghĩa dân tộc ấy, cùng với quyền tự do mà Cách mạng Pháp giành được, cũng tạo cảm hứng cho người Do Thái. Hoàng thân Potemkin, Hoàng đế Napoleon và Tổng thống Mỹ John Adams tất cả đều tin tưởng về sự trở về Jerusalem của dân Do Thái cũng như những người dân tộc chủ nghĩa Ba Lan và Ý, và tất nhiên những người Zionist (người tin vào Zionism) Cơ đốc ở Mỹ và Anh. Nhưng những người Zionist tiên phong là những giáo sĩ Chính thống giáo, vốn nhìn thấy Sự Trở Lại dưới ánh sáng của kỳ vọng cứu thế. Năm 1836, một giáo sĩ dòng Ashkenazi ở Phổ, Zvi Hirsch Kalischer, tiếp cận nhà

 Rothschild và Montefiore để xin tài trợ một nhà nước Do Thái, và sau đó viết quyển Đi Tìm Zion. Sau vụ ‘vu khống máu’ ở Damascus, Giáo sĩ Yehuda Hai Alchelai, một giáo sĩ gốc Sephardic ở Sarajevo, đề nghị người Do Thái sống trong thế giới Ả Rập cử ra các lãnh đạo và mua đất ở Palestine. Năm 1862, Moses Hess, một đồng chí của Karl Marx, dự đoán rằng chủ nghĩa dân tộc sẽ đưa đến nạn bài Do Thái. Trong cuốn La Mã và Jerusalem: Vấn Đề Dân Tộc Cuối Cùng, đề nghị một xã hội Do Thái xã hội chủ nghĩa ở Palestine. Vậy mà chính nạn pogrom ở Nga mới là nhân tố quyết định.

‘Chúng ta phải tự xác lập mình là một quốc gia đang hiện hành,’ Leo Pinsker, một thầy thuốc ở Odessa viết, trong quyển sách của mình, Tự Giải Phóng, viết cùng lúc với Herzl. Ông gây cảm hứng cho một phong trào mới trong nhóm người Do Thái Nga. ‘Người Yêu Zion’, Hovevei Zion, nhằm phát triển những khu định cư canh nông ở Palestine. Cho dù nhiều người trong số họ là thế tục, ‘tính cách Do Thái và chủ nghĩa Zionism của chúng tôi đều có thể hoán đổi với nhau được’, một thanh niên trẻ giải thích. Năm 1878, người Do Thái Palestine đã thành lập Petah Tikvah (Cánh Cổng Hy Vọng) trên bờ biển và giờ đây thậm chí nhà Rothschilds, cụ thể là Nam tước Pháp Edmond, đã bắt đầu tài trợ cho các ngôi làng nông nghiệp có tên Rishon-le-Zion (tức Trước tiên ở Zion) cho những người nhập cư Nga – tổng cộng ông quyên tặng một số tiền hậu hĩnh là 6.6 triệu bảng Anh. Như Montefiore, ông cũng ra sức xin mua Bức Tường ở Jerusalem. Vào năm 1887, vị mufti Mustafa al-Husseini, đồng ý thương lượng nhưng rồi mọi việc trôi qua. Khi Rothschild nỗ lực lần nữa vào năm 1897, Tộc trưởng Husseini là al-Haram cho nó chìm xuồng.

Năm 1883, khá lâu trước khi quyển sách của Herzl ra đời, 25,000 người Do Thái bắt đầu đến Palestine trong đợt sóng nhập cư thứ nhất – Aliyah. Hầu hết nhưng không phải tất cả đến từ Nga. Nhưng Jerusalem cũng thu hút dân Ba Tư vào những năm 1870, dân Yemen những năm 1880. Họ có khuynh hướng sống chung trong những cộng đồng riêng biệt của mình: người Do Thái từ Bokhara, trong đó có nhà Moussaieff chuyên chế tác trang sức kim cương đã từng phục vụ cho Thành Cát Tư Hãn, định cư trong Khu Bokharan được qui hoạch theo  mạng lưới, các lâu đài của họ thường theo kiểu tân-Gô tích, tân-Phục hưng, và đôi khi kiểu Ma Rốc cho giống các lâu đài ở các thành phố vùng Trung Á.

Vào tháng 8 1897, Herzl chủ tọa Hội nghị Zionist lần thứ nhất ở Baste và sau đó ông huênh hoang trong nhật ký của mình: ‘L’état c’est moi (Tiếng Pháp có nghĩa Nhà nước chính là tôi). Ở Baste, tôi đã thành lập nhà nước Do Thái. Hôm nay nếu tôi la lên như thế, mọi người sẽ cười ồ lên vào mặt tôi. Có thể trong 5 năm còn chắc chắn thì trong 50 năm, mọi người sẽ biết về nó.’ Đúng là như vậy. Herzl giờ thuộc một dòng mới các chính trị gia và người dẫn dắt công luận, đi đây đó bằng tàu hỏa châu Âu để vận động các nhà vua, bộ trưởng và các chủ báo. Năng lượng của ông cứ tuôn ra không ngừng nghỉ, thách thức trái tim yếu ớt của ông, có thể giết chết ông bất cứ lúc nào,

Herzl đặt niềm tin vào Zionism, không phải được xây dựng từ nền tảng dân định cư, mà được ban bố từ các hoàng đế và tài trợ bởi các ông trùm tài phiệt. Nhà Rothschild và Montefiore thoạt đầu coi thường  Zionism nhưng các Hội nghị Zionist sớm nhất lại được Sir Francis Montefiore chuẩn bị. Tuy nhiên, Herzl cần một người có thế lực để can thiệp với vị sultan. Ông định rằng nhà nước Do Thái của ông nên nói tiếng Đức – và vì thế ông quay sang một quân vương hiện đại rất mẫu mực, vị Kaiser Đức.

Wilhelm II (tên của vị Kaiser) đang lên kế hoạch cho một chuyến đi phương Đông để gặp gỡ vị sultan và sau đó tiến hành đến Jerusalem để dâng cúng một ngôi nhà thờ mới xây dựng sát bên Mộ Thánh trên miếng đất được ban cho vua cha, Kaiser Frederick. Nhưng kế hoạch của Kaiser còn nhiều hơn thế: ông tự hào về chính sách của mình với vị sultan và thấy mình là một người Tin Lành hành hương đến những Thánh địa. Trên hết ông hy vọng sẽ ban cho triều đại Ottoman sự bảo vệ của nước Đức, xiển dương nước Đức mới của mình và chặn đứng ảnh hưởng của Anh.

‘Tôi sẽ đi đến Kaiser Đức (để nói với ngài) “Hãy để dân chúng tôi ra đi”‘, Herzl quyết định, và quyết tâm dựa nhà nước mình vào ‘nước Đức vĩ đại, hùng mạnh, có đạo đức, thịnh trị, kỷ cương. Qua Zionism, một lần nữa có khả năng người Do Thái sẽ yêu quí nước Đức này.’

WILHELM: KÝ SINH TRÙNG CỦA ĐẾ CHẾ TA

Vị Kaiser là một chiến binh Do Thái không hứa hẹn. Khi ông nghe tin người Do Thái đang định cư ở Argentina, ông nói, ‘Ô giá mà ta có thể gửi người Do Thái của xứ ta đến đó,’ và khi nghe về Zionism của Herzl, ông viết, ‘Ta rất lấy làm ưng ý việc bọn Mauschels (tiếng Đức có nghĩa bọn ‘Do Thái khốn khổ’) đi về Palestine. Chúng đi khuất mắt càng sớm càng tốt!’ Mặc dù ông gặp gỡ thường xuyên các kỹ nghệ gia Do Thái ở Đức, và làm bạn với chủ đóng tàu Do Thái Albert Ballin, tận trong lòng ông là người bài Do Thái luôn huênh hoang chống lại con rắn nhiều đầu độc địa của tư bản Do Thái. Bọn Do Thái là ‘ký sinh trùng của đế chế ta’ mà ông tin bọn chúng đang ‘luồn lách và làm suy đồi’ nước Đức. Những năm tháng sau đó, khi là một quốc vương bị phế truất, ông còn đề xuất hủy diệt hàng loạt người Do Thái bằng khí độc. Vậy mà Herzl còn nghĩ rằng ‘những người bài Do Thái đang trở thành những người bạn đáng tin cậy nhất của chúng ta’.

Herzl phải xâm nhập vào tận triều đình của vị Kaiser. Trước tiên ông xoay sở để gặp được người chú có ảnh hưởng của vị Kaiser, Đại Công tước Friedrich Baden, người đang quan tâm đến kế hoạch tìm kiếm chiếc Hòm Giao ước. Baden viết thư cho cháu mình, và đến lượt Kaiser hỏi nhờ Philipp, Hoàng thân Eulenburg, báo cáo cho ông về động tĩnh của những người Zionist. Eulenburg, người bạn thân nhất của Kaiser, đại sứ tại Vienna và là nhà dàn xếp chính trị bậc thầy, bị ‘mê hoặc’ trước cao giọng của Herzl: Zionism là một cách thức để bành trướng quyền lực Đức. Vị Kaiser đồng ý rằng ‘năng lượng, sức sáng tạo và hiệu năng của bộ tộc Shem (theo Kinh thánh Do Thái cũng như truyền thuyết Hồi giáo, là con của Noah) sẽ được chuyển hướng sang những mục tiêu khác hơn là vắt hết sữa của người Cơ đốc’. Wilhelm, như hầu hết giai cấp thống trị thời bấy giờ, tin tưởng rằng người Do Thái sở hữu một quyền lực thần bí có thể sai khiến sự vận hành của thế giới: 

Chúa Trời thân yêu của chúng ta biết rõ hơn chúng ta rằng người Do Thái giết Đấng Cứu Thế của chúng ta và ngài đã trừng phạt chúng một cách thích đáng. Không nên quên rằng, nếu xét đến mạnh lực bao trùm và cực kỳ nguy hiểm mà tư bản Do Thái Quốc tế đại diện, nó sẽ là một điều vô cùng thuận lợi cho Đức nếu người Do Thái nhìn vào đó để tỏ lòng biết ơn.

Đây là tin tốt lành cho Herzl: ‘Khắp nơi con rắn nhiều đầu của phong trào bài Do Thái gớm ghiếc nhất đang ngẩng cao chiếc đầu đáng sợ và người Do Thái run sợ nhìn quanh quất để tìm người bảo vệ. Tốt, thế thì tôi sẽ can thiệp với ngài sultan.’ Herzl ngây ngất: ‘Tuyệt vời! Tuyệt vời!’

Vào ngày 11/10/1898, vị Kaiser và Kaiserin xuống tàu hỏa hoàng gia với đoàn tùy tùng kể cả ngoại trưởng của ông, 20 quan triều, 2 bác sĩ và 80 thị tỳ, phục vụ và vệ sĩ. Băn khoăn muốn tạo ấn tượng với thế giới, ông đã đích thân thiết kế một đồng phục trắng-xám đặc biệt với áo choàng dài màu trắng kiểu Thập Tự quân. Vào ngày 13/10, Herzl, với bốn đồng đội Zionist, khởi hành từ Vienna trên tàu Tốc hành Phương Đông, đem theo cả một tủ áo hành trang trong đó có cà vạt trắng, áo đuôi tôm cũng như mũ bấc và áo đi săn.

Ở Istanbul, Wilhelm cuối cùng cũng tiếp kiến nhân vật Zionist, mà ông phán xét là ‘người mơ mộng với tâm thế quý tộc, khôn khéo, rất thông minh với đôi mắt diễn cảm’. Vị Kaiser nói mình sẽ ủng hộ Herzl vì ‘có nhiều người cho vay nặng lãi đang hoạt động. Nếu những người này đi định cư ở các thuộc địa, họ có thể hữu dụng hơn.’ Herzl phản đối sự thoá mạ này. Vị Kaiser thắc mắc ông yêu cầu vị sultan điều gì. ‘Một công ty có đủ tư cách pháp nhân dưới sự bảo vệ của Đức,’ Herzl trả lời. Vị Kaiser mời Herzl gặp mình ở Jerusalem.

Herzl rất ấn tượng. Nhân vật của dòng họ Hohenzollern này là hiện thân quyền lực đế chế với ‘cặp mắt lớn xanh màu nước biển, gương mặt thanh tú nghiêm nghị, bộc trực, vui tính nhưng đôi khi trơ trẽn’, nhưng thực tế lại khác. Wihelm chắc chắn là thông minh, có kiến thức và đầy nghị lực, nhưng ông cũng quá bồn chồn và thất thường đến nỗi thậm chí

Eulenburg sợ rằng ông bị yếu thần kinh. Sau khi cách chức thủ tướng Hoàng thân Bismarck, ông nắm quyền trong nền chính trị Đức, nhưng ông lại thiếu tính  kiên định để có thể giữ vững nó. Chính sách ông gây thảm họa; các nhận xét ông viết cho bộ trưởng quá xúc phạm đến nỗi họ phải cất vào két sắt; những bài diễn văn thẳng thừng gây hoảng sợ, trong đó ông cổ vũ binh lính bắn hạ các công nhân Đức hoặc tàn sát kẻ thù như bọn Hung Nô, gieo rắc hoang mang.

Dù sao thì ông cũng đề xuất kế hoạch Zionism cho Abdul-Hamid. Vị sultan bác bỏ nó thẳng thừng, bảo với con gái mình, ‘Bọn Do Thái có thể tiết kiệm hàng triệu. Khi đế chế ta bị phân chia, có thể họ sẽ lấy Palestine không tốn một xu. Nhưng họ chỉ có thể phân chia thi thể ta mà thôi.’ Trong khi đó Wilhelm, sửng sốt trước phản ứng quyết liệt của người Hồi, nên thôi quan tâm đến Herzl.

Lúc 3 giờ chiều ngày 29/10/1898, vị Kaiser cưỡi bạch mã qua một  lỗ thủng đặc biệt mở ra ở tường thành kế bên Cổng Jaffa và đi vào Jerusalem.

VỊ KAISER VÀ HERZL: THẬP TỰ QUÂN CUỐI CÙNG VÀ ZIONIST ĐẦU TIÊN

Vị Kaiser mặc đồng phục trắng với khăn choàng dài chỉ vàng lấp lánh trong ánh mặt trời, rủ xuống từ chiếc mũ sắt có mấu trên chóp là con đại bàng vàng bóng loáng, được một đoàn người ngựa hộ tống gồm những kỵ binh Phổ to con đội mũ sắt vẫy cờ hiệu kiểu Thập Tự quân và các binh lính cầm thương của Sultan quấn băng thắt lưng màu đỏ, mặc quần dài xanh lam và khăn xếp xanh lá và trang bị thương. Vị Kaiserin, trong trang phục tơ lụa có thêu với khăn choàng và nón rơm, đi theo sau chồng trong xe ngựa cùng hai người hầu.

Herzl ngắm nhìn cuộc trình diễn của vị Kaiser từ một khách sạn đầy sĩ quan Đức. Vị Kaiser đã nhận ra rằng Jerusalem là sân khấu lý tưởng để tuyên truyền cho đế chế mới ra đời của mình (ông lên ngôi năm 1888), nhưng không phải ai cũng thấy ấn tượng: Thái hậu Nga cho rằng cuộc trình diễn này ‘thật là khôi hài và gớm ghiếc!’ Vị Kaiser là nguyên thủ  nhà nước đầu tiên chỉ định một nhiếp ảnh gia chính thức cho chuyến viếng thăm cấp nhà nước.

Theo báo New York Times, đám đông ‘ăn mặc lễ phục, người thành phố đội khăn xếp trắng, áo choàng có sọc màu sắc tươi tắn, các bà vợ sĩ quan Thổ trong bộ milayes lụa sang trọng, những nông dân giàu trong kaftan mượt mà màu đỏ chói’, trong khi binh lính Bedouin trên lưng ngựa ‘mang giày ống đỏ rộng vụng về, một đai da vắt qua áo choàng mang đủ thứ vũ khí và một khăn xếp. Các tộc trưởng mang giáo có gắn một nhúm lông đà điểu quanh lưỡi.

Tại cung vòm khải hoàn Do Thái, giáo trưởng Sephardic, một ông già cữu tuần râu dài trong bộ kaftan trắng và khăn xếp xanh, và người đồng cấp dòng Ashkenazi trình cho Wilhelm một bản Kinh Torah, và ông được thị trưởng Yasin al-Khalidi trong bộ áo choàng tía hoàng gia và khăn xếp viền vàng nghênh đón. Wilhelm xuống ngựa tại Tháp David, và từ đây ông và hoàng hậu bước vào thành phố, đám đông bị giải tán vì sợ có bọn sát thủ vô chính phủ trà trộn (Hoàng hậu  Elisabeth nước Áo vừa bị ám sát gần đây). Khi các giáo trưởng trong các lễ phục lộng lẫy đính ngọc đá dẫn lối cho ông thăm Mộ Thánh, tim của vị Kaiser bổng ‘đập rộn rã và rạo rực khi đi theo bước chân của Jesus.

Trong khi Herzl chờ đợi để được yết kiến và khám phá thành phố, vị Kaiser dâng cúng Nhà Thờ Cứu Thế với tòa tháp theo phong cách La Mã, một kiến trúc do chính ông đích thân thiết kế ‘với sự chăm chút và lòng kính yêu’. Khi ông đến thăm Núi Đền, vị Kaiser, một nhà khảo cổ nhiệt tình, xin phép vị mufti cho phép được khai quật, nhưng ông này từ chối một cách lễ phép.

Vào ngày 2/11, Herzl cuối cùng được tiếp kiến nhà vua – năm đồng chí của ông hồi hộp đến nỗi một người đề nghị hãy uống thuốc an thần. Ăn mặc lễ phục với áo đuôi tôm, cà vạt trắng và mũ cao, họ đến phía bắc Cổng Damascus nơi dừng chân của vị Kaiser. Đây là ngôi làng Thomas Cook sang trọng với 230 lều, đã được chở đến trên 120 xe ngựa do 1,300 con ngựa kéo, với đội phục vụ gồm 100 xà ích và 600 tay ngựa, 12 đầu bếp và 60 bồi, tất cả đều được canh phòng bởi một toán binh sĩ Ottoman. Theo lời người xếp lữ hành, đây là ‘đoàn du lịch đông nhất đến Jerusalem kể từ thời Thập Tự Chinh. Chúng tôi phải vơ vét ngựa và xe ngựa và hầu hết lương thực khắp vùng quê.’ Báo Punch chế giễu Wilhelm đang cầm đầu ‘Thập Tự quân Đầu Bếp’.

Herzl thấy vị Kaiser đang làm dáng để chụp ảnh ‘trong đồng phục thuộc địa màu xám, đội mũ sắt, mang găng tay nâu và tay cầm – hơi kỳ cục – một roi da đi ngựa’. Nhóm Do Thái tiến đến, ‘dừng lại và cúi đầu. Wilhelm chìa tay ra rất nhũn nhặn’ và rồi giảng bài cho họ, ‘Vùng đất này cần nước và bóng râm. Đủ chỗ cho tất cả mọi người. Ý tưởng đằng sau phong trào của ông là một ý tưởng lành mạnh.’ Khi Herzl giải thích rằng lắp đặt hệ thống cung cấp nước có thể khả thi nhưng tốn kém, vị Kaiser trả lời, ‘Vâng, các ông có nhiều tiền mà, nhiều hơn tất cả bọn chúng tôi.’ Herzl đề xuất một Jerusalem hiện đại, nhưng rồi vị Kaiser kết thúc cuộc gặp mặt, ‘chả nói có mà cũng chẳng nói không’.

Mỉa mai thay, cả vị Kaiser lẫn Herzl đều chán chê Jerusalem: ‘một đống đá khô cằn ảm đạm,’ Wilhelm viết, ‘khung cảnh bị làm hỏng bởi những vùng ngoại ô mới cất của dân nhập cư Do Thái. 60,000 người này đang ở đó, nhầy nhụa và bẩn thỉu, co rúm và khốn khổ, không làm gì ngoài việc lừa đảo hàng xóm từng đồng xu.’ Nhưng ông viết cho anh họ ông, Hoàng đế Nga Nicholas II, rằng ông khinh bỉ ‘thói trân quý vật thờ cúng’ của người Cơ đốc còn nhiều hơn  – ‘khi rời Thành phố Thánh em cảm thấy hổ thẹn sâu xa trước người Hồi’. Herzl cũng gần như đồng ý với ông: ‘Rồi đây trong những ngày tháng sắp tới khi ta nhớ về ngươi, ôi Jerusalem, chắc không phải là với niềm hoan hỉ. Những trầm tích ẩm mốc của 2,000 năm vô nhân, tàn nhẫn và độc ác nằm trong các ngõ vắng hôi hám của ngươi.’ Bức Tường Tây, ông nghĩ, bị xâm lấn bởi những kẻ gớm ghiếc, khốn khổ, bọn hành khất ồn ào’.

Thay vào đó Herzl mơ ước ‘nếu Jerusalem một khi thuộc chúng ta, tôi sẽ dẹp sạch mọi thứ không linh thiêng, phá sập mọi hang ổ bẩn thỉu,’ giữ gìn Thành Phố Cổ như một di sản như Lourdes hoặc Mecca. ‘Tôi sẽ xây dựng một thành phố mới tinh, khoáng đãng, tiện nghi, có hệ thống thoát nước đàng hoàng chung quanh những thánh địa.’ Herzl sau đó quyết định là Jerusalem nên được chia sẻ : ‘Chúng ta sẽ biến Jerusalem thành một siêu lãnh thổ để nó không thuộc về ai mà thuộc mọi người, những Thánh Địa của nó là tài sản chung của mọi tín đồ.’

Khi vị Kaiser khởi hành đi Damascus, tại đó ông tuyên bố sẽ là người bảo vệ cho đạo Hồi và tặng cho Saladin một lăng mộ mới, Herzl nhìn thấy tương lai trong ba người khuân vác Do Thái lực lưỡng mặc áo kaftan: ‘Nếu chúng ta có thể mang về đây 300,000 người Do Thái như họ, tất cả Israel sẽ là của chúng ta.’

Tuy thế Jerusalem không khác một trung tâm Do Thái ở Palestine: trong tổng dân số 45,300 cư dân, giờ đây có đến 28,000 người là Do Thái, một sự gia tăng đã gây lo lắng cho giới lãnh đạo Ả Rập. ‘Ai có thể cạnh tranh quyền người Do Thái đối với Palestine?’ ông già Yusuf Khalidi bảo với bạn mình Zadok Kahn, Giáo Trưởng Do Thái ở Pháp, vào năm 1899. ‘Chỉ có trời mới biết, về lịch sử, nó thực ra là của xứ sở ngài’ nhưng ‘sức mạnh thô bạo của thực tế,’ cho biết Palestine hiện giờ là một phần không thể tách rời của đế chế Ottoman và, điều nghiêm trọng hơn, nó được cư ngụ bởi những người không phải Do Thái.’ Mặc dù bức thư có trước ý tưởng về một quốc gia Palestine – Khalidi, một cư dân Jerusalem, một người Ả Rập, một thần dân Ottoman, cũng thấy cần thiết phải từ khước quyền đòi lấy lại Zion của người Do Thái, ông tiên đoán rằng sự trở về của người Do Thái, có tính lịch sử và hợp pháp như vốn là, sẽ đụng chạm với sự hiện diện cũng có tính lịch sử và hợp pháp của người Ả Rập.

Vào tháng 4 1903, vụ pogrom ở Kishinev, được bộ trưởng nội vụ Vyacheslav von Plehve của Sa hoàng hậu thuẫn, kích động một làn sóng khủng bố và tàn sát dân Do Thái trên khắp nước Nga.* Kinh hoảng, Herzl vội vã đến Peterburgs để thương lượng với chính Plehve, tên bài Do Thái cùng cực, nhưng không đi đến đâu. Cùng với kết quả bế tắc từ vị Kaiser và Sultan, ông quay ra tìm kiếm một lãnh thổ mới lâm thời bên ngoài Miền Đất Thánh. 

* Cũng trong thời gian này một mật vụ của sa hoàng, giám đốc cơ quan Okhrana ở Paris, Piotr Rachkovsky, ra lệnh làm giả một quyển sách nói là tài liệu bí mật của Hội nghị Herzl ở Basle năm 1897: Giao Thức của Trưởng Lão Zion, được phỏng theo một quyển sách châm biếm Pháp 1844 chống Hoàng đế Napoleon III và một tiểu thuyết Đức bài Do Thái 1868 của Hermann Goedsche. Giao thức trình bày một kế hoạch phi lý và quỷ quyệt của người Do Thái nhằm xâm nhập các chính quyền sở tại, nhà thờ và truyền thông nhằm xúi giục chiến tranh và cách mạng để tạo ra một đế chế toàn cầu do một nhà chuyên chính dòng dõi David cai trị. Được xuất bản năm 1903, nó được soạn ra để xúi giục phong trào bài Do Thái bên trong nước Nga nơi chế độ bị đe đọa bởi các nhà cách mạng Do Thái.

 

Herzl cần một người hậu thuẫn mới: ông đề xuất tổ quốc Do Thái hoặc ở Cyprus hoặc quanh El Arish ở Sinai, phần đất Ai Cập thuộc Anh, cả hai địa điểm này sát bên Palestine. Năm 1903, Natty, ngài Lord Rothschild cuối cùng cũng mặn mà với Zionism, giới thiệu Herzl cho Joseph Chamberlain, thư ký thuộc địa Anh. Ông này loại ra Cyprus nhưng đồng ý xem xét El Arish. Herzl thuê một luật sư để thảo nháp một giấy phép cho khu định cư Do Thái. Luật sư là một chính trị gia Cấp tiến 40 tuổi tên David Lloyd George, người mà những quyết định của ông sau này sẽ làm thay đổi số phận của Jerusalem hơn bất cứ ai khác kể từ Saladin. Đơn xin bị từ chối, khiến Herzl vô cùng thất vọng. Chamberlain và Thủ tướng Arthur Balfour đề xuất một lãnh thổ khác – họ đưa ra Uganda hoặc một phần của Kenya ở châu Phi làm quê hương Do Thái. Herzl, không còn cách nào hơn, đành phải tạm thời chấp nhận.

Bất chấp những nỗ lực thất bại của ông nhằm tranh thủ các hoàng đế và sultan, Zionism của Herzl đã cổ vũ cho người Do Thái bị bức hại ở Nga, đặc biệt một thiếu niên trong gia đình một luật sư giàu có. Cậu trai 11 tuổi David Grün nghĩ rằng Herzl là Đấng Cứu Thế sẽ dẫn dắt người Do Thái trở về Israel. 

1

Theodore Herzl, một nhà báo Vienna và nhà dẫn dắt công luận xuất sắc, là người tổ chức phong trào Phục quốc Do Thái Zionism.

bb

Vị Kaiser thăm Lăng mộ các Vì Vua. Trong cuộc chạy đua khảo cổ giữa các Siêu Cường, người Pháp de Saulcy đã tuyên bố đây là lăng mộ Vua David. Nhưng thực sự đây là lăng mộ của Hoàng hậu  Adiabene thế kỷ thứ nhất.

CHƯƠNG 43

NGƯỜI CHƠI ĐÀN OUD  Ở JERUSALEM 1905–1914

 

DAVID GRÜN TRỞ THÀNH BEN-GURION

Cha của David Grün là thủ lĩnh địa phương của Người Yêu Quý Zion, phong trào tiền phong của Zionism, một người Do Thái nhiều nhiệt huyết, vì thế cậu con trai được dạy tiếng Do Thái cổ từ rất sớm. Nhưng David, như nhiều người Zionist khác, bị sốc khi đọc được tin Herzl đã chấp nhận đề nghị Uganda. Tại Hội nghị Zionist Lần 6, Herzl cố gắng lôi kéo thành viên ủng hộ giải pháp Uganda nhưng lại làm chia rẽ phong trào. Đối thủ của ông, nhà soạn kịch người Anh

Israel Zangwill, tẩy chai để thành lập Tổ chức Lãnh địa Do Thái của ông và theo đuổi một loạt các Zion phi-Palestine viễn vông. Nhà tài phiệt  Maurice de Hirsch đang tài trợ cho các thuộc địa Do Thái ở Argentina, và nhà tài chính New York Jacob Schiff đang xúc tiến Chương trình Galveston cho người Do Thái Nga ở Texas. Có nhiều người ủng hộ vùng El Arish hơn vì nó sát bên Palestine và Zionism không là gì nếu không có lãnh thổ Do Thái, nhưng không có dự tính  nào ở đây * phát triển và Herzl kiệt sức vì những chuyến đi vận động, chẳng bao lâu sau qua đời ở tuổi 44. Ông đã tạo dựng thành công Zionism là một trong các giải pháp cho vấn nạn Do Thái, đặc biệt ở Nga.

* Có ít nhất 34 dự tính khác nhau trong những địa điểm đa dạng như Alaska, Angola, Libya, Iraq và Nam Mỹ. Các chính trị gia từ Churchill Roosevelt đến Hitler và Stalin theo đuổi những kế hoạch khác: trước khi tấn công Liên Xô vào năm 1941, Hitler có dự tính trục xuất người Do Thái sang một thuộc địa tử thần ở Madagascar. Trong những năm 1930 và 1940, Churchill đề xuất một quê hương Do Thái ở Lybia. Stalin thực sự đã dựng một quê hương Do Thái và trong những năm 1940 cứu xét một đất nước Do Thái ở vùng Crimea.

Cậu David Grün than khóc cho người hùng Herzl của mình cho dù ‘chúng tôi kết luận rằng cách hiệu quả nhất để đả phá giải pháp Uganda là định cư ở Miền Đất Israel’. Năm 1905, Hoàng đế Nicholas II đối mặt với một cuộc cách mạng khiến ông suýt mất ngôi. Nhiều nhà cách mạng là Do Thái – Leon Trotsky là người nổi bật nhất – nhưng họ thực sự là những con người quốc tế coi thường chủng tộc và tôn giáo. Dù vậy, Nicholas cũng cảm thấy rằng văn kiện bài Do Thái giả mạo,  Giao Thức của Trưởng Lão Zion, đã trở thành hiện thực: ‘Đúng như tiên tri!’ ông viết, ‘Năm nay 1905 thực sự bị Trưởng Lão Do Thái khống chế.’ Buộc phải chấp nhận một hiến pháp, ông nỗ lực phục hồi nền chuyên chính bị tổn thương của mình bằng cách cổ vũ những vụ tàn sát bài Do Thái, mượn bàn tay bọn báo thù theo chủ nghĩa dân tộc biệt danh Black Hundreds.

 Những vụ pogrom cổ vũ David Grün, một thành viên của đảng xã hội chủ nghĩa Poalei Zion – Công Nhân Zion – đáp tàu từ Odessa và khởi hành về Miền Đất Thánh. Người thanh niên đó là điển hình cho Aliya Thứ Hai, làn sóng những người tiên phong thế tục, nhiều người trong số họ theo chủ nghĩa xã hội, xem Jerusalem như một tổ của trò mê tín trung cổ. Năm 1909, những người định cư thành lập Tel Aviv trên những đụn cát kế bên cảng cổ Jaffa; năm 1911, họ tạo một nông trại tập thể mới – kibbutz đầu tiên – ở phía bắc.

Grün không thăm Jerusalem nhiều tháng sau khi đến; thay vào đó ông làm việc trên cánh đồng Galilee, cho đến khi, vào giữa năm 1910 chàng trai 24 tuổi di chuyển đến Jerusalem để viết bài cho một tờ báo Zionist. Nhỏ thó, gầy gò, tóc quăn và luôn vận bộ sơ mi rubashka của nông dân Nga để khẳng định chứng minh thư xã hội chủ nghĩa của mình, ông nhận bút danh ‘Ben-Gurion’, mượn tên một trung úy của Simon bar Kochba (lãnh tụ Do Thái quật khởi chống ách cai trị La Mã). Chiếc sơ mi cũ và cái tên mới tiết lộ hai mặt trong cơn người vị lãnh đạo Zionism mới nổi lên.

Ben-Gurion tin tưởng, như hầu hết những đồng đội Zionist của mình tại thời điểm này, là một nhà nước Do Thái xã hội chủ nghĩa sẽ được tạo ra mà không gây bạo lực và không khống chế hoặc xua đuổi người Ả Rập ở Palestine; nói khác đi nó tồn tại cùng với họ. Ông tin chắc rằng giai cấp lao động Do Thái và Ả Rập sẽ hợp tác. Suy cho cùng, những tỉnh Ottoman như Don và Damascus và quận Jerusalem – như Palestine được biết lúc đó – là những vùng lạc hậu  nghèo nàn, dân cư thưa thớt độ 600,000 người Ả Rập. Có nhiều không gian để phát triển. Người Zionist hy vọng người Ả Rập sẽ chia sẻ những lợi ích kinh tế do việc nhập cư Do Thái đem lại. Nhưng giữa hai bên ít có sự hợp tác và người Zionist không biết rằng hầu hết dân Ả Rập này không kỳ vọng vào những lợi ích kinh tế mà  người định cư Do Thái sẽ mang lại.

Ở Jerusalem, Ben-Gurion thuê một tầng hầm không cửa sổ nhưng bỏ nhiều thời gian la cà trong các quán cà phê của Thành Phố Cổ, lắng nghe những đĩa hát chơi các bài ca Ả Rập mới nhất. Cùng lúc đó, một chàng trai Ả Rập Cơ đốc, một cư dân Jerusalem sành điệu về cái đẹp và lạc thú, cũng đang lắng nghe cùng bài hát trong cùng quán cà phê và học chơi chúng trên cây đàn oud của mình.

NGƯỜI CHƠI ĐÀN OUD: WASIF JAWHARIYYEH

Wasif Jawhariyyeh bắt đầu học chơi sáo oud khi còn nhỏ, và sớm trở thành người chơi đàn oud giỏi nhất trong một thị trấn sống vì âm nhạc: nó giúp cho cậu đến được với mọi người, sang hay hèn. Sinh năm 1897, con trai một cố vấn thị trấn theo Chính thống giáo Hy Lạp được kính trọng, thân cận với các Đại gia, cậu học nghề cắt tóc nhưng rồi cãi cha mẹ để trở thành một nhạc công. Chứng kiến mọi việc và quen biết mọi người, từ các ông lớn Jerusalem và pasha Ottoman đến các nữ ca sĩ quán rượu, nhạc công hút ha-sit Ai Cập và các gái điếm Do Thái, Wasif Jawhariyyeh bắt đầu viết nhật ký từ năm lên 7, và nhật ký 40 năm của cậu là một trong những tuyệt tác của văn chương Jerusalem.

Khi cậu bắt đầu viết nhật ký, cha cậu còn đi làm trên lưng một chú lừa trắng, nhưng cậu nhìn thấy một phương tiện chuyên chở không có ngựa đầu tiên, một ô tô hiệu Ford do một người trong khu Thuộc địa Mỹ lái trên Đường Jaffa; được sử dụng trong một thế giới chưa có điện. Chẳng bao lâu cậu thích xem chớp bóng hiện đại trong Phức hợp Nga (‘phí vào cửa là một đồng bishlik Ottoman trả ở cửa ra vào’).

Năm 1908, Jerusalem chào mừng cuộc Cách mạng Tuổi Trẻ Thổ lật đổ nhà độc tài Abdul-Hamid và đám mật vụ của ông ta. Tuổi Trẻ Thổ lập Ủy ban Đoàn kết và Tiến bộ, phục hồi Hiến pháp 1876 và triệu tập bầu cử nghị viện.

Người Ả Rập tin rằng cuối cùng họ sẽ được giải phóng khỏi chế độ độc tài Ottoman. Những nhà dân tộc Ả Rập buổi đầu phân vân không biết mình cần một vương quốc đặt trung tâm ở Arabia hay Syria. Nhà văn xứ Lebanon Najib Azouri nhận ra được các khát vọng Ả Rập và Do Thái đang phát triển cùng một lúc – và ắt phải va chạm nhau. Jerusalem cử các ông lớn Uthman al-Husseini và cháu của Yusuf Khalidi, Ruhi, một nhà văn, chính trị gia và người của Thế giới, làm thành viên của Nghị viện. Ở Istanbul, Ruhi Khalidi trở thành phó xướng ngôn viên, lợi dụng vị trí này để mở chiến dịch chống Zionism và việc tậu đất đai của người Do Thái. 

Các Đại gia không ngừng thịnh vượng, càng ngày càng giàu hơn. Các con trai của họ được theo học với Wasif tại trường St George của Anh, con gái thì học ở trường nữ Husseini. Giờ phụ nữ ăn mặc thời trang Ả Rập lẫn Tây Ban Nha. Trường Anh mang bóng đá vào Jerusalem: mỗi chiều thứ bảy lại có trận đấu giao hữu ngoài bãi Bab al-Sahra. Trước Thế Chiến, Wasif còn là một học sinh, vậy mà cậu đã sống hai mặt như một người Bohemian. Cậu chơi đàn và làm người trung gian đút lót đáng tin cậy và tổ chức tiệc vui, có thể đóng vai ma cô cho các Đại gia, giờ đang sống bên ngoài tường thành trong những lâu đài mới ở Sheikh Jarrah. Các ông lớn có thói quen thuê một căn hộ nhỏ để bài bạc và nuôi bồ nhí, và họ giao chìa khóa nhà cho cậu. Người bảo trợ cho Wasif, con trai của thị trưởng Hussein Effendi al-Husseini, nuôi một cô bồ mướt nhất, Persephone, một thợ may Hy Lạp-Albania, trong ổ của anh chàng bên kia Phố Jaffa. Persephone thích ca hát nên nhập bọn với chàng nhạc công Wasif chơi đàn oud. Khi anh chàng Husseini trở thành thị trưởng vào năm 1909, anh cưới luôn Persephone.

Các nhân tình của ông lớn thường là phụ nữ Do Thái, Amenia hay Hy Lạp, nhưng giờ hàng ngàn khách hành hương Nga đã trở thành nguồn tài nguyên phong phú nhất cho giới ăn chơi Jerusalem. Wasif ghi chép rằng trong sự đồng hành với thị trưởng tương lai Ragheb al-Nashashibi và Ismail al-Husseini cậu sắp xếp những buổi tiệc hẹn hò bí mật với ‘các phu nhân Nga’. Tình cờ đúng vào thời điểm này một khách hành hương Nga đặc biệt đến Jerusalem phàn nàn về sự đồi bại và mua dâm đáng kinh ngạc của những đồng bào mình trong thành phố. Đến vào tháng Ba 1911, tên thầy tu thích hưởng lạc này là cố vấn tâm linh và nguồn an ủi của hoàng đế và hoàng hậu Nga, mà cậu con trai Alexei bị bệnh nan y của họ  chỉ y mới có thể chữa được.

3

Người chơi đàn oud Wasif Jawhariyyeh với quyển nhật ký để đời làm nhân chứng cho Jerusalem

RASPUTIN: CÁC NỮ TU NGA COI CHỪNG

‘Tôi không thể mô tả được những cảm xúc vui sướng, bút mực thảy đều vô dụng khi tâm hồn của bạn hoan hỉ cất tiếng hát “Từ cõi chết Chúa đã đứng lên”‘, Grigory Rasputin viết. Y là một nông dân Siberia 44 tuổi biến thành một thánh nhân lang bạt. Y đến Jerusalem lần đầu vào năm 1903 trong vai một khách hành hương vô danh và vẫn nhớ cuộc hải trình khổ nhọc từ Odessa, ‘bị nhồi nhét trong khoang tàu như súc vật 700 người một lượt’. Nhưng Rasputin đã vươn lên từ đó. Lần này, Nicholas II, người gọi Rasputin là ‘bạn chúng ta’, đã đài thọ chuyến hành hương này để y tránh mặt khỏi St Petersburg vì có quá nhiều lời đàm tiếu không ngớt về tên tội đồ thần thánh này: ăn chơi trác táng với gái bán hoa, phô bày thân thể và đi tiểu giữa khách sạn. Giờ Rasputin cư trú tại biệt thự lộng lẫy của giáo trưởng Chính thống giáo ở Jerusalem, nhưng y coi mình là thủ lĩnh của dân hành hương bình dân, diễn tả ‘niềm vui sướng không thốt nên lời’ của ngày lễ Phục Sinh: ‘Nó đúng như nó phải là: bạn sẽ thấy dân chúng ăn mặc như thời kinh thánh, khoác cùng những chiếc áo choàng và vận y phục kỳ lạ thời Cựu Ước. Khiến tôi mềm lòng rướm lệ.’ Rồi còn có tình dục và nhậu nhẹt, vốn thuộc sở trường của Rasputin.

Khoảng năm 1911, hơn 10,000 người Nga, phần lớn là những nông dân hay quậy, đến mừng lễ Phục Sinh. Họ ăn ở trong phòng trọ tập thể luôn mở rộng trong Phức hợp Nga, cầu nguyện trong Thánh đường Mary Magdalene của Đại Công tước Sergei và Nhà thờ mới Alexander Nevsky sát bên Mộ Thánh. Những vị khách này đã khiến quốc gia họ chịu nhiều tai tiếng: thậm chí trong những ngày đầu lãnh sự của họ đã mô tả Giám mục Cyril Naumov là ‘tay bợm và thằng hề luôn quanh quẩn các diễn viên hài Ả Rập và phụ nữ’. Về phần người hành hương, ‘nhiều người trong số họ sống ở Jerusalem theo kiểu không tương xứng với chốn thiêng liêng cũng không tương xứng với mục đích chuyến viếng thăm, dễ dàng rơi vào những cạm bẫy khác nhau.’

Khi số người tăng lên, khách hành hương lại lao vào đánh nhau và ăn nhậu, càng trở nên khó kiểm soát, và Rasputin tiết lộ mình thù ghét bọn Thiên chúa và người Armenia biết bao, nói gì bọn Hồi. ‘Ma men có mặt khắp nơi và họ uống vì giá rẻ, hầu hết do các nữ tu Athens nấu,’ Rasputin giải thích. Tệ hơn nữa là nạn phóng đãng: như chúng ta đã biết, các phụ nữ hành hương Nga dễ dàng lọt vào tay các ông lớn Jerusalem, và một số ở lại làm hầu thiếp cho họ. Rasputin biết mình đang nói gì khi cảnh báo

Các nữ tu không được đi đến đó! Phần đông họ kiếm kế sinh nhai ở bên ngoài Thành phố Thánh. Không cần giải thích xa hơn, bất cứ ai từng ở đó đều hiểu rõ bao nhiêu lỗi lầm mà các sơ và huynh đã phạm phải! Rất khó cho bọn phụ nữ, họ ở càng lâu, càng dễ bị cám dỗ, kẻ thù (Thiên chúa? Người Hồi?) vô cùng ham hố. Nhiều người trong số họ trở thành hầu thiếp và gái đứng đường. Họ chỉ cần rỉ tai ngươi ‘tụi tao có cha nuôi là mỏ vàng’ và thế là họ bổ sung ngươi vào danh sách! *

* Sau khi trở về Nga,  Rasputin tiếp tục vai trò là người thân thiết với gia đình hoàng đế. Y xuất bản cuốn Ý Nghĩ và Suy Nghĩ của Tôi: Mô tả ngắn ngủi chuyến đi thăm các thánh địa giữa cuộc Thế chiến năm 1915, trong khi Nicholas II đang chỉ huy quân đội Nga, để Hoàng hậu Alexandra ở lại thủ đô cai trị hậu phương, được Rasputin cố vấn, dẫn đến những kết quả thảm hại. Y là tên dốt nát; quyển sách viết như thể được đọc chép và người ta cho rằng chính hoàng hậu đã chỉnh sửa cho y. Mục đích nhằm đánh bóng hình ảnh của y như một người hành hương đáng kính khi y đang ở trên đỉnh cao quyền lực nhưng bị dân chúng căm phẫn. Nhưng đã quá muộn: y bị ám sát không lâu sau đó.

Việc lưu thông trong lạc thú đi theo hai chiều. Stephen Graham, nhà báo Anh đi theo đám nông dân hành hương khoảng cùng lúc với Rasputin đang ở đó, mô tả cách thức làm thế nào các phụ nữ Ả Rập tìm được đường vào nhà trọ tập thể trong Tuần Thánh vượt qua các qui định để bán rượu cho nông dân. Jerusalem bắt đầu tấp nập khách hành hương và khách du lịch đến trên lưng lừa, xe ngựa, cùng với bọn lang băm, nghệ sĩ xiếc, kẻ bán rong, cảnh sát Montenegrin, sen đầm Thổ, người Anh, người Mỹ, nhưng Thành phố Thánh được giao vào tay người Nga, người Armenia, Bulgaria và người Ả Rập theo Cơ đốc giáo.

Những tên dắt mối Nga làm hư hỏng du khách. Philip, ‘một nông dân cao to, vai rộng, khá béo, với gương mặt mâm bẩn thỉu không cạo và tóc đen, một bộ râu mép xệ xuống đôi môi dày đỏ nhục dục’ là điển hình – ‘một tên môi giới cho các thầy tu, người chào hàng cho các tiệm bán đồ cổ, một tay buôn lậu hàng hóa, một tên buôn đồ lưu niệm tôn giáo bất chính’. Các giáo sĩ sa đọa kết thúc chuỗi ngày ở Jerusalem trong ‘men rượu, điên cuồng tôn giáo và vệ sinh xác chết’ – vì có nhiều người Nga chết (một cách hạnh phúc) ở Jerusalem. Trong khi đó để thêm gia vị cho hỗn hợp này, các tay tuyên truyền Mác-xít rao giảng về cách mạng và chủ nghĩa vô thần cho nông dân Nga.

Vào ngày Chủ nhật Lễ Cọ trong chuyến thăm, khi binh lính Thổ đánh trở lui khách hành hương cản đường, để đám rước Cọ của người Ả Rập Chính thống giáo ùa ra ngoài Nhà Thờ trong tiếng la hét điên cuồng tôn giáo. Thình lình họ bị một đám mũ đỏ Thổ và khăn xếp Hồi tấn công, cũng hú hét  giơ nắm đấm xông vào, phóng tới người mang cành ô liu và đập cành gãy vụn rồi bỏ chạy. Người Ả Rập Cơ đốc thề sẽ trả thù. Sau đó người Nga đợi Sự Trở Lại Lần Hai của người chinh phục vĩ đại tại Cổng Vàng. Nhưng đỉnh điểm lúc nào cũng là Lửa Thánh: khi ngọn lửa xuất hiện, những người dự lễ thăng hoa, dúi những bó nến cháy sáng vào lòng mình, và kêu lên trong niềm hoan lạc xuất thần. Họ ngân nga như thể trong cơn say một loại thuốc siêu nhiên nào đó với điệp khúc: KYRIE ELEISON: CHRIST PHỤC SINH!’ Nhưng rồi tất nhiên cũng xảy ra giẫm đạp như thường lệ và được dập tắt bằng roi da và bá súng.

Đêm đó Graham ghi chép việc các bạn đồng hành của mình – ‘phấn khích, sôi nổi, và lính quýnh như trẻ con’ hốt đất Jerusalem bỏ đầy bao, lấy nước sông Jordan, lá cọ, vải liệm – ‘và chúng tôi lại ôm hôn nhau khắp lượt lần nữa!’

Biết bao nhiêu hôn hít trao đổi đêm hôm đó. Bắt đầu của ngày lễ hội tưng bừng. Số lượng rượu vang, cô-nhắc và a-rắc tiêu thụ ắt hẳn sẽ làm khiếp đảm phần đông người Anh. Và cuộc nhảy nhót túy lúy ắt hẳn lạ lẫm với Jesus!

CHƯƠNG 44: THẾ CHIẾN 1914–1916

 

JEMAL PASHA: NHÀ ĐỘC TÀI CỦA JERUSALEM

Thực tế đã phơi bày những khiếm khuyết của nền cai trị do đảng Cách mạng Tuổi Trẻ Thổ lãnh đạo: họ yếu kém và tham nhũng không kém người tiền nhiệm, và họ đã làm dấy lên hy vọng tự trị của người Ả Rập. Chẳng bao lâu rõ là Tuổi Trẻ Thổ vẫn cũng chỉ là một tổ chức tàn nhẫn và không minh bạch, chỉ có dân chủ ngoài mặt. Họ là những người dân tộc chủ nghĩa Thổ quyết tâm dập tắt không chỉ hy vọng Ả Rập mà còn việc dạy tiếng Ả Rập. Các nhà dân tộc chủ nghĩa Ả Rập bắt đầu thành lập những hội kín đấu tranh cho sự độc lập và thậm chí nhà Husseini và những đại gia khác cũng tham gia. Trong khi đó những thủ lĩnh Zionist khuyến khích những người nhập cư mới thành lập những thị trấn Do Thái, đặc biệt ở Jerusalem, đầu tàu của quốc gia, và giờ họ mua đất cho Đại học Hebrew tương lai trên Núi Scopus. Điều này đánh động các Đại gia – cho dù nhà Husseini và những chủ đất khác đều lặng lẽ bán đất cho người Zionist.

Ruhi Khalidi, nhà trí thức nói tiếng Pháp và hiện giờ đang làm phó xướng ngôn viên của Nghị viện Istanbul, là một người Ottoman cấp tiến, không phải dân tộc chủ nghĩa Ả Rập. Nhưng ông thận trọng nghiên cứu Zionism, thậm chí viết một quyển sách về nó. Ông xác định rằng nó là mối đe dọa. Ở Nghị viện, ông ra sức ngăn cấm bất kỳ vụ mua đất nào của người Do Thái ở Palestine. Chủ bút báo Filastin, một tờ báo dân tộc chủ nghĩa Ả Rập, cảnh báo, ‘Nếu tình trạng mua bán này tiếp tục, người Zionist sẽ làm chủ đất nước chúng ta.’

Vào ngày 23/1/1913, một sĩ quan trong Tuổi Trẻ Thổ 31 tuổi, Ismail Enver, một cựu binh của Cách mạng 1908 đã làm nên tên tuổi khi chiến đấu với quân Ý ở Libya, xông vào Sublime Porte (triều đình Ottoman), bắn chết bộ trưởng chiến tranh và cướp chính quyền. Ông và hai đồng chí, Mehmet Talaat và Ahmet Jemal, họp thành tam đầu chế Tam Pasha. Enver đã từng đánh thắng một trận nhỏ trong Cuộc Chiến Balkan Lần 2, nên ngỡ mình là Napoleon Thổ, quyết tâm phục hồi đế chế. Năm 1914, ông nổi lên như một tay cự phách Ottoman và làm bộ trưởng chiến tranh – và thậm chí cưới cháu gái vị sultan. Tam Pasha tin rằng chỉ có Thổ hóa đế chế mới có thể ngăn chặn rốt ráo bạo loạn. Chương trình của họ hướng đến chủ nghĩa Phát xít và Hủy diệt Do Thái trong sự man rợ, diệt chủng và gây chiến.

Vào ngày 28/6/1914, các tên khủng bố người Serbia ám sát Thái tử Áo Franz Ferdinand, người sẽ thừa kế ngôi vua Áo, thế là các Cường quốc loạng choạng rồi xông vào Trận Thế Chiến I. Enver Pasha hồ hởi chiến đấu, thúc ép Đức làm đồng minh để được cung cấp sự hậu thuẫn quân sự và tài chính cần thiết. Vị Kaiser Wilhelm, nhớ chuyến đi phương Đông của mình, nên hậu thuẫn tình đồng minh với Ottoman. Enver tự phong là phó thống tướng dưới quyền vị sultan bù nhìn và bước vào cuộc chiến bằng cách oanh kích các cảng Nga từ những chiến hạm mới được Đúc cung cấp.

Vào ngày 11/11, Sultan Mehmet V Rashid tuyên chiến với Anh, Pháp và Nga – và ở Jerusalem cuộc jihad được tuyên bố tại al-Aqsa. Lúc đầu không khí chiến tranh rất hồ hởi. Khi tư lệnh binh đoàn Ottoman ở Palestine, tướng Baron Friedrich Kress von Kressenstein, đến, người Do Thái ở Jerusalem chào đón các đơn vị của ông bằng cung vòm khải hoàn. Người Đức nắm quyền bảo vệ người Do Thái từ tay người Anh. Trong khi đó Jerusalem chờ đợi ông chủ mới của họ.

Vào ngày 18/11 Wasif Jawhariyyeh, người chơi đàn, chỉ 17 tuổi, ngắm nhìn Ahmet Jemal, bộ trưởng hải quân, một trong bộ Tam Pasha, đi xe vào Jerusalem như một nhà độc tài có năng lực của Syria và tư lệnh tối cao của Đệ Tứ Quân đoàn Ottoman. Jemal lập bộ tư lệnh tại Augusta Victoria trên Núi Olives. Ngày 20/12, một tộc trưởng già đến Cổng Damascus trong một cỗ xe ngựa uy nghi mang theo lá cờ xanh lá của Đấng Tiên Tri từ Mecca. Sự kiện này gây ra một cảnh nhộn nhịp không mô tả được khi một đoàn binh sĩ đầy màu sắc trật tự bước theo lá cờ tiến vào Thành phố Cổ, vừa đi vừa rảy nước hoa hồng. Toàn thể dân chúng Jerusalem bước theo sau cất tiếng hát  Allahu akhbar ‘trong một cuộc diễu hành đẹp nhất mà tôi từng nhìn thấy,’ Wasif Jawhariyyeh viết. Bên ngoài Vòm Đá, Jemal tuyên bố thánh chiến. Nỗi hân hoan xâm chiếm tâm trạng của mọi người – cho đến khi vị tộc trưởng Mecca già khú bổng lăn ra chết ngay trước Giáng Sinh, như một điềm báo gây hoang mang cho cuộc thánh chiến Ottoman.

Jemal, 45 tuổi, người lùn thấp và để râu, luôn luôn được một đội cận vệ ngồi trên lưng lạc đà bảo vệ, vừa có tính tàn nhẫn thô bạo và hoang tưởng, vừa có sức mê hoặc, óc thông minh và các trò hề kỳ khôi. Một người biết hưởng thụ với điểm yếu là chuộng nghi thức, và khoái gái đẹp Do Thái, ông có ý thức về sự vĩ đại lẫn tính khí phi lý của mình. Trong khi khủng bố Jerusalem, ông vẫn thích chơi bài, đua ngựa qua những ngọn đồi Judaea, uống xâm banh và hút xì gà cùng người bạn, Bá tước Antonio de Ballobar, lãnh sự Tây Ban Nha. Ballobar, một nhà quý tộc lịch sự tuổi gần 30, mô tả vị pasha thuộc loại người bẩn nhưng tốt bụng. Còn Bertha Spafford cho rằng Jemal là ‘một người kỳ lạ nhưng đáng sợ’, nhưng cũng là ‘một con người có hai cá tính’ có duyên và tử tế. Có lần, không có ai nhìn, ông cho một bé gái một tấm huy chương có đính kim cương mà cha mẹ em phát hiện ra khi họ về nhà. Một sĩ quan Đức của ông, Franz von Papen, chỉ đơn giản phán xét ông là ‘một người Đông phương độc đoán cực kỳ thông minh’.

Jemal cai trị lãnh địa của mình gần như là độc lập: ‘Con người có ảnh hưởng vô hạn đó’ tận hưởng quyền lực mình, hỏi đùa: ‘Luật là gì? Ta tạo ra chúng và gỡ bỏ chúng!’ Bộ Tam Pasha ngờ vực rất đúng về lòng trung thành của người Ả Rập. Thấm nhuần sự phục hưng văn hóa, khát vọng dân tộc chủ nghĩa ra hoa, người Ả Rập thù ghét chủ nghĩa xô vanh mới của người Thổ. Người Ả Rập chiếm đến 40 phần trăm dân số Ottoman, và nhiều trung đoàn Ottoman chỉ toàn người Ả Rập. Sứ mạng của Jemal là giữ vững các tỉnh lỵ Ả Rập và dẹp tan những vụ vùng lên của người Ả Rập – và như thế cũng dẹp luôn những vụ vùng lên của người Do Thái theo Zionism, với biện pháp củ cà rốt và cây gậy.

Ngay sau khi đến Thành phố Thánh, ông triệu tập một phái đoàn Ả Rập bị nghi là theo chủ nghĩa dân tộc. Ông chủ ý phớt lờ khi thấy mặt họ càng lúc càng xanh mét. Cuối cùng ông hỏi, ‘Các ông có hiểu rõ tính nghiêm trọng của những tội lỗi mình làm chưa?’ Ông cắt ngang câu trả lời của họ: ‘IM LẶNG! Các ông biết sẽ lãnh hình phạt gì không?’ Hành hình! Hành hình!’ Ông đợi trong khi họ run lên lập cập, rồi từ tốn nói: ‘Nhưng tôi bằng lòng lưu đày các ông và gia đình đến Anatolia.’ Khi nhóm người Ả Rập khiếp đảm đã lui ra, Jemal quay sang viên phụ tá cười lớn: ‘Làm sao khác được? Đó là cách thức chúng ta làm việc ở đây.’ Khi ông cần xây dựng những con đường mới, ông bảo viên kỹ sư, ‘Nếu đường chưa làm xong đúng thời hạn, tôi sẽ cho người hành hình ông ngay nơi viên đá cuối cùng vừa được đặt xuống!’ Ông sẽ thở dài ra chìu tự mãn: ‘Ở đâu cũng có người rên siết vì ta.’

Khi Jemal gom toàn bộ lực lượng, chủ yếu do các sĩ quan Đức chỉ huy, để tiến công Ai Cập thuộc Anh, ông nhận thấy rằng Syria đang âm ỉ mưu đồ, và Jerusalem là một ổ gián điệp. Chính sách của vị pasha thật đơn giản: ‘Đối với Palestine, trục xuất; đối với Syria, khủng bố; đối với Hejaz, quân đội.’ Ở Jerusalem cách giải quyết của ông là bắt các giáo trưởng, hoàng thân và tộc trưởng xếp thành hàng, và treo cổ những viên chức’. Khi mật vụ của ông lùng sục được những kẻ phản bội, ông trục xuất bất kỳ ai bị nghi là kích động chủ nghĩa dân tộc. Ông xung công những cơ sở Cơ đốc như Nhà Thờ St Anne và bắt đầu trục xuất những chức sắc Cơ đốc trong thời gian chuẩn bị tấn công Ai Cập.

Vị pasha cho diễu hành 20,000 lính qua Jerusalem trên đường ra mặt trận. ‘Chúng ta sẽ gặp nhau bên bờ kia Kênh đào (Suez) hoặc ở thiên đường!’ ông hô hào. Vào ngày 1/2/1915, xúc động khi nghe binh sĩ hát vang ‘Ngọn Cờ Đỏ Phấp Phới trên Cairo’, Jemal ra lệnh tấn công Kênh đào với 12,000 binh sĩ; nhưng họ bị đẩy lui dễ dàng. Ông tuyên bố cuộc tiến công chỉ là trận đánh thăm dò lực lượng, nhưng rồi ông lại thất bại lần nữa vào mùa hè. Thất bại về quân sự, bị phương Tây phong tỏa và sự áp bức của Jemal càng lúc càng tăng khiến người dân Jerusalem lâm vào cảnh khốn đốn, nên lao vào hưởng lạc để giải sầu. Rồi chẳng bao lâu sau trận giết chóc bắt đầu.

KHỦNG BỐ VÀ CHẾT CHÓC: JEMAL ĐAO PHỦ

Trong vòng một tháng sau khi Jemal đến, Wasif Jawhariyyeh nhìn thấy thi thể của một người Ả Rập trong áo choàng trắng bị treo dưới một cành cây bên ngoài Cổng Jaffa. Vào ngày 30/3/1915, vị pasha hành quyết hai lính Ả Rập tại Cổng Damascus vì tội làm gián điệp cho Anh, và sau đó treo cổ vị Mufti xứ Gaza và con trai trước sự chứng kiến im lặng và kính trọng của đám đông dân chúng. Những vụ treo cổ được thi hành tại Cổng Damascus và Jaffa sau buổi cầu nguyện ngày thứ sáu để bảo đảm có đông người dự khán. Chẳng mấy chốc các cổng dường như lúc nào cũng được trang trí bằng những xác chết lắc lư, cố tình để đấy nhiều ngày theo lệnh của Jemal. Có một lần, Wasif khiếp vía khi chứng kiến một cảnh xử giảo thiếu chuyên nghiệp

Tiến trình treo cổ không được nghiên cứu khoa học hoặc y học một cách kỹ lưỡng thành ra nạn nhân vẫn còn sống, chịu nhiều đau đớn và chúng tôi chỉ biết nhìn mà không thể nói hay làm gì. Một sĩ quan bèn ra lệnh cho một binh sĩ leo lên và trèo lên người nạn nhân. Sức nặng góp thêm khiến mắt nạn nhân vọt ra khỏi hốc mắt. Đây là tính cách tàn bạo Jemal Pasha. Tim tôi muốn kêu lên khi nhớ lại cảnh tượng này.

Vào tháng 8 1915, sau chứng cứ lộ liễu về âm mưu dân tộc chủ nghĩa, ‘Tôi quyết định,’ Jemal viết, ‘thi hành những biện pháp quyết liệt chống bọn phản động.’ Ông treo cổ 15 nhân vật Ả Rập tiếng tăm gần Beirut (trong đó có người trong nhà Nashashibi từ Jerusalem), và rồi trong tháng 5 1916, thêm 21 người ở Damascus và Beirut. Sau những vụ này ông được tặng biệt danh Đao Phủ.

 Ông nói đùa với người bạn Tây Ban Nha Ballobar là ông cũng có thể treo cổ ông ta nữa.

Jemal cũng nghi ngờ người Zionist âm mưu phản bội. Nhưng Ben-Gurion vẫn đang đội mũ đỏ Thổ và đang chiêu mộ binh sĩ Do Thái cho người Ottoman. Vào tháng 12 1915 Jemal đài thọ cho hai buổi họp mặt độc đáo giữa người nhà Husseini và các thủ lĩnh Zionist trong đó có Ben-Gurion, nhằm tập kết sự ủng hộ cho một quê hương chung dưới quyền lãnh đạo Ottoman. Nhưng sau đó, Jemal trục xuất 500 người Do Thái nước ngoài, bắt giữ các thủ lĩnh Zionist và cấm sử dụng các biểu tượng của mình. Những vụ trục xuất làm dấy lên phong trào phản đối trong các báo chí Áo và Đức (đồng minh của Ottoman). Vì thế Jemal triệu tập người Zionist để cảnh cáo những mưu tính phá hoại: ‘Các ông có thể lựa chọn. Tôi sẵn sàng trục xuất các ông như đã làm với người Armenia. Bất kỳ ai chỉ cần hăm he một quả cam thôi, là tôi sẽ hành hình. Nhưng nếu các ông muốn lựa chọn thứ hai, toàn thể báo chí Vienna và Berlin phải im lặng!’ Sau đó, ông huênh hoang: ‘Tôi không tin ở lòng trung thành của các ông. Nếu các ông không mưu tính gì hết thì các ông sẽ không đến miền đất hoang vu này để sống giữa những người Ả Rập thù ghét các ông. Theo tôi nghĩ thì các Zionist đáng bị treo cổ nhưng tôi cũng ngán việc treo cổ lắm rồi. Thay vào đó chúng tôi sẽ phân tán các ông ra khắp đất nước Thổ.

Ben-Gurion bị trục xuất, chuyển hy vọng của mình sang các Đồng minh. Người Ả Rập bị gọi vào lính; người Do Thái và Cơ đốc buộc xung vào các tiểu đoàn lao dịch để xây dựng đường xá, nhiều người trong số đó chết vì đói và giãi nắng dầm mưa. Rồi dịch bệnh, sâu bọ và nạn đói đến hoành hành. ‘Châu chấu bay dày như những đám mây,’ Wasif nhớ lại, chế giễu việc Jemal cố gắng giải quyết tai họa ‘bằng cách ra lệnh mỗi người trên 12 tuổi phải nộp 3 kí trứng châu chấu, khiến người ta đua nhau buôn bán trứng châu chấu.

Wasif chứng kiến ‘nạn đói lan tràn khắp xứ’, cùng với ‘bệnh viêm phổi, sốt rét, khiến rất nhiều người thiệt mạng’. Khoảng 1918, dân số Do Thái ở Jerusalem đã giảm, do dịch bệnh, nạn đói và bị trục xuất, chỉ còn 20,000.

Trong khi Jemal giám sát Jerusalem tàn phai này, đồng sự của ông, Phó Thống chế Enver, mất 80,000 quân trong cuộc tiến công vụng về vào nước Nga. Ông và Talaat đổ lỗi thảm bại của mình cho người Armenia Cơ đốc, và ra lệnh trục xuất họ và tàn sát một cách có hệ thống. Một triệu người thiệt mạng trong một tội ác man rợ mà sau này Hitler bắt chước để hủy diệt người Do Thái: ‘Giờ không ai nhớ gì về vụ thảm sát Armenia,’ ông nghĩ thế. Jemal tuyên bố không tán thành cuộc tàn sát này. Ắt hẳn ông cho phép người tị nạn định cư ở Jerusalem vì số người Armenia ở đó tăng gấp đôi trong chiến tranh.

Có những thỏa thuận ngầm với người Anh: Jemal bảo Ballobar là London muốn ông ám sát đồng sự của mình Talaat Pasha. Có thời điểm, Jemal bí mật tiếp cận phe Đồng minh, đề xuất việc mình sẽ hành quân vào Istanbul, lật đổ Enver, giải cứu người Armenia và trở thành vị sultan cha truyền con nối: khi Đồng minh không đón nhận lời đề nghị một cách nghiêm túc, Jemal tiếp tục chiến đấu. Ông treo cổ 12 người Ả Rập ở Jerusalem, thi thể họ được phô bày quanh tường thành, trong khi Enver kinh lý miền đông để củng cố sự tín nhiệm Hồi giáo dành cho mình, hù dọa những người Ả Rập bất đồng chính kiến và để mắt đến đồng sự của mình. Wasif trông thấy người hùng Ottoman đi xe vào Jerusalem với Jemal. Sau khi tham quan Vòm Đá, Lăng David và Nhà Thờ Mộ Thánh, và khai mạc Đường Jemal Pasha, Enver dự tiệc tại Khách sạn Fast do Thị trưởng Hussein Husseini khoản đãi.

Hai vị pasha khởi hành đi Mecca để đánh đuổi bất kỳ cuộc phản loạn tiềm năng nào của người Ả Rập. Nhưng chuyến hành hương Mecca của Enver không thể cứu Arabia cho người Ottoman.

4

Jemal Pasha, nhà độc tài Jerusalem trong Thế Chiến I, là người dân tộc chủ nghĩa Thổ, thích xì gà, xâm banh, gái đẹp Do Thái và trò hành hình tàn bạo

CHƯƠNG 45: NGƯỜI Ả RẬP QUẬT KHỞI, TUYÊN BỐ BALFOUR 1916–17

 

LAWRENCE VÀ SHERIF CỦA  MECCA

Ngay trước khi Thế Chiến bắt đầu, một ông hoàng con ở Mecca, Abdullah ibn Hussein, trên đường từ Istanbul trở về, đến thăm Thống chế Lord Kitchener, Viên chức Anh cai trị ở Cairo, để xin được yểm trợ quân sự cho cha mình.

Cha của Abdullah là Hussein, Sherif của các Sherif  (Sherif là những hậu duệ của nhà tiên tri Muhammad dòng Fatimah, con gái của ông) và Tiểu vương Mecca, người có quyền lực nhất ở Arabia, một người thuộc dòng Hashemite hậu duệ trực tiếp từ đấng Tiên Tri. Gia đình theo truyền thống là các tiểu vương của Mecca nhưng vị sultan Ottoman Abdul-Hamid đã quản thúc ông trong chốn xa hoa ở Istanbul hơn 15 năm và bổ nhiệm những thành viên khác của gia đình thay ông. Rồi vào năm 1908, Tuổi Trẻ Thổ, đối mặt trước sự thiếu hụt các ứng viên khác, phái ông về Mecca (tại đó số điện thoại của ông là Mecca 1). Đương đầu với chủ nghĩa dân tộc Thổ hiếu chiến của Enver Pasha và sự cạnh tranh của nhà Saudi và các bộ tộc Ả Rập khác, Hussein muốn chuẩn bị một trận chiến tại Arabia hoặc một cuộc quật khởi chống Istanbul.

Abdullah hãnh diện chỉ cho Kitchener thấy một vết thương của mình khi chiến đấu chống một tộc trưởng Ả Rập ở miền nam, còn Kitchener thì khoe các vết thẹo của mình từ cuộc chiến ở Sudan. Người Ả Rập thấp bé bảo với Kitchener cao nghều, ‘Ngài là mục tiêu không thể bắn trượt nhưng thấp như tôi, đã bị một tên Bedouin bắn trúng.’ Dù trao đổi thân tình, Kitchener từ chối trang bị vũ khí cho dòng Sherif.

Một vài tháng sau, Thế Chiến nổ ra thay đổi tất cả. Kitchener quay về Anh để giữ chức bộ trưởng chiến tranh – và phát động chiến dịch tuyển mộ quân nhân với áp phích mang dòng chữ ‘Tổ Quốc Bạn Đang Cần Bạn’ – nhưng ông vẫn là một chuyên gia Đông phương hàng đầu của Anh. Khi sultan-khalip Ottoman tuyên bố jihad chống Đồng minh, Kitchener liền nhớ đến Hussein và đề nghị bổ nhiệm ông làm kha-lip riêng của Anh để phát động cuộc quật khởi của Ả Rập chống Ottoman. Ông ra lệnh Cairo tiếp xúc với vị Sherif.

Lúc đầu không có trả lời. Rồi thình lình, vào tháng 8 1915, Sherif Hussein đồng ý cầm đầu cuộc quật khởi Ả Rập – đổi lấy một vài lời hứa. Người Anh, đối đầu với sự thảm bại của cuộc viễn chinh Gallipoli, tìm cách phá vỡ thế bế tắc của Mặt Trận phía Tây bằng cách hạ gục Ottoman ra khỏi cuộc chiến và giải vây cho một quân đoàn bị bao vây thảm khốc tại Kut ở Iraq. Người Anh sợ rằng Jemal Pasha sẽ đánh chiếm Ai Cập trừ khi y bị kềm chế bằng việc nổi dậy của người Ả Rập. Vì vậy London ra lệnh cho Sir Henry McMahon, ủy viên cao cấp ở Ai Cập, đồng ý mọi điều kiện cần thiết để giữ người Ả Rập về phe mình mà không hứa hẹn bất cứ điều gì đụng chạm tới tham vọng của Pháp và tất nhiên của Anh.

Sherif Hussein, giờ đã quá 60,  không thích hợp để cai trị một nhà nước hiện đại, nhưng tại thời điểm này người Anh rất cần đến sự hợp tác của ông. Được sự dẫn dắt của con trai thứ hai Abdullah, giờ ông đòi một đế chế Hashemite * gồm tất cả xứ Arabia, Syria, Palestine và Iraq, một  quân cờ thí quá cao và một đế chế trên một qui mô chưa từng tồn tại kể từ thời Abbasid. Đáp lại ông sẽ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại người Ottoman không chỉ trên quê hương Arabia của ông mà còn trên Syria qua một mạng lưới các hội kín dân tộc chủ nghĩa Ả Rập al-Fatat và al-Ahd. Các điều này không có cái nào hoàn toàn đúng thực: ông ta chỉ chỉ huy một vài ngàn chiến binh và thậm chí không cai trị toàn vùng Hejaz. Phần lớn lãnh thổ Arabia được kiểm soát bởi các thủ lĩnh cạnh tranh nhau như nhà Saudi và vị trí của ông ta rất bấp bênh. Các hội kín đều nhỏ, với chỉ vài trăm thành viên hoạt động và chẳng mấy chốc sẽ bị Jemal tiêu diệt.

Họ lấy tên của triều đại từ Hashem, nội tổ của Nhà Tiên Tri. Họ là dòng dõi của Muhammad qua con gái ông Fatimah và cháu nội Hassan, từ đó có  tước hiệu Sherif (hay Sharif, tiếng Ả Rập có nghĩa là ‘Cao quý’). Họ xưng là Hashemite, còn người Anh gọi họ là Sherifian)

 

McMahon không chắc phải nhượng bộ thế nào đối với những yêu sách bi hài này, nhưng, trong khi ông phân vân, Hussein đồng thời trao cho Bộ Tam Pasha cơ hội trả giá cao hơn người Anh, yêu cầu quyền sở hữu có kế thừa vùng Hejaz và chấm dứt hành động khủng bố của Jemal. Vị Sherif phái đứa con thứ ba Faisal đến thỏa thuận với Jemal, nhưng nhà độc tài buộc anh phải dự khán việc xử giảo những nhà hoạt động dân tộc chủ nghĩa Ả Rập. 

Vị  sherif thành công nhiều hơn với người Anh. Các chuyên gia Đông phương của London đóng ở Cairo biết rõ địa hình của Palestine qua việc khảo cổ gián điệp của thế kỷ trước và chính Kitchener đã chụp ảnh Jerusalem và lập bản đồ xứ sở đó, đôi khi phải ngụy trang là người Ả Rập. Nhưng nhiều người biết rõ các câu lạc bộ ở Cairo tốt hơn các khu chợ ở Damascus: họ đang bảo trợ cho người Ả Rập và có thành kiến đối với người Do Thái mà họ thấy như đứng đằng sau mỗi mưu mô của kẻ thù. Trong khi London thi hành một chính sách, thương thảo với vị Sherif, thì vị phó vương Anh ở Ấn Độ lại theo đuổi một chính sách hoàn toàn khác của riêng mình, ủng hộ kẻ thù của vị Sherif,  nhà Saudi.

May mắn thay, McMahon có một sĩ quan thực sự hiểu biết Syria. Đó là T. E. Lawrence, 28 tuổi, con trai của Thomas Chapman, người đã bỏ vợ để lập gia đình mới với tình nhân   Sarah Lawrence và ông đã lấy họ của mẹ kế.

Khi còn đi học, ông ham mê rèn luyện thể lực và sức chịu đựng đồng thời soạn luận án Oxford về đề tài pháo đài Thập Tự Quân. Sau đó, ông hoàn thiện ngôn ngữ Ả Rập bằng cách du lịch khắp Syria, và làm việc như một nhà khảo cổ tại những địa điểm Hittite ở Iraq, tại đó người phụ tá Ả Rập trẻ tuổi của ông Dahoum trở thành bạn đồng hành và có lẽ nỗi đam mê dẫn dắt cuộc đời anh. 

Giờ ở Cairo, McMahon quay sang viên sĩ quan trẻ này, người sẽ trở thành ‘một vị thần  dịch chuyển trong những cuộc thương thảo với vị Sherif’. Khi Lawrence viết báo cáo, ông luôn thấy mình cứ nghĩ về Saladin và Abu Ubayda, nhưng ông chia sẻ quan điểm của nhiều chuyên gia về Ả Rập của Anh rằng người Ả Rập ở sa mạc là thuần khiết và cao quý – không giống người Ả Rập ở Palestine. Trong khi ông xác định Damascus, Aleppo, Homs và  Hama là khu trung tâm Ả Rập của Syria, ông không công nhận Jerusalem thực sự thuộc Ả Rập – Jerusalem là một thị trấn bẩn thỉu, mà dân cư của nó là những bồi phòng khách sạn thấp hèn, sống nhờ vào đám du khách ghé qua.

Vào ngày 24/10/1915, McMahon trả lời Hussein. Thắt buộc bằng sự mơ hồ cố ý, câu trả lời được sắp xếp để hai bên đọc hiểu khác nhau. McMahon đồng ý về đế chế của Hussein, phía đông các thành phố Syria như Lawrence chỉ ra, nhưng loại bỏ phần lãnh thổ mù mờ ở phía tây. Palestine không được đề cập đến, cả Jerusalem cũng vậy. Vị Sherif không chắc sẽ chấp nhận loại trừ Jerusalem nhưng người Anh có quyền lợi riêng của mình ở đó, vì thkhông đề cập đến thành phố là tránh né vấn đề. Ngoài ra, McMahon nhấn mạnh rằng tất cả quyền lợi của Pháp được loại ra – và Pháp cũng có những đòi hỏi cổ xưa về Jerusalem. Thật ra, ủy viên cao cấp có kế hoạch đặt Jerusalem trên danh nghĩa dưới triều đại Albania ở Ai Cập để Thành phố Thánh sẽ thuộc Hồi giáo nhưng dưới quyền kiểm soát của Anh.

Người Anh cần cuộc Quật khởi của người Ả Rập ngay lập tức vì thế Anh đưa ra những hứa hẹn cần thiết mơ hồ như có thể. Nhưng mà những hứa hẹn của McMahon chưa đủ mơ hồ , bởi vì chúng khiến những kỳ vọng của người Ả Rập lên cao ngay trước khi Anh và Pháp bắt đầu thương thảo thực sự để chia nhau đế chế Ottoman.

Nhà thương thuyết Anh, Sir Mark Sykes, đã từng du lịch phương Đông và do đó đã trở thành một chuyên gia sừng sỏ. Tài năng thực sự của ông là một tính cách sôi nổi đầy tham vọng quá thu hút đến nổi cấp trên của ông sẵn sàng cho phép ông tùy ý nhúng tay vào bất cứ chính sách gì ở phương đông. Sykes và người Pháp cùng cấp François Georges-Picot, người đã từng giữ chức lãnh sự ở Beirut, thỏa thuận rằng Pháp sẽ nhận Syria và Lebanon, còn Anh nhận Iraq và một phần Palestine. Sẽ có một liên minh Ả Rập dưới quyền giám sát của Anh và Pháp – và Jerusalem sẽ được quốc tế hóa dưới quyền của Pháp, Anh và Nga.  Như vậy cũng hợp lý vì cả ba đế chế này đều đã nỗ lực kiểm soát Jerusalem trong 70 năm qua – and it allowed for an Arab state of sorts. Nhưng nó sớm lỗi thời vì Anh bên trong cũng thèm muốn Jerusalem và Palestine cho riêng mình.

Vào ngày 5/6/1916, Sherif Hussein, không biết tin về thỏa thuận Sykes-Picot nhưng biết được rằng người Ottoman sắp sửa lật đổ mình, nên giơ cao ngọn cờ đỏ tại Mecca và phát động cuộc Quật khởi Ả Rập. Ông tự xưng là ‘Vua của Toàn Ả Rập’, một tước hiệu đánh động đến người Anh, khiến họ phải thuyết phục ông ta hạ xuống là ‘Vua của Vùng Hejaz’ (vùng lãnh thổ phía tây của Saudi Arabia ngày nay). Đây chỉ là khởi đầu: có ít dòng họ trong lịch sử được đội quá nhiều vương miện của nhiều vương quốc trong một thời gian ngắn như vậy. Vua Hussein bổ nhiệm mỗi con trai mình chỉ huy những đạo quân nhỏ nhưng kết quả về quân sự thật nản lòng và việc khởi nghĩa ở Syria không hề thành hiện thực. Người Anh thấy khó khăn trong việc tìm cách nào khiến các thành viên Sherif hoạt động  hiệu quả hơn. Vì vậy, vào tháng 10, Ronald Storrs, người sau này sẽ trị vì Jerusalem, và người phụ tá, Lawrence, đến Arabia.

LAWRENCE XỨ ARABIA: NHÀ SHERIF – ABDULLAH VÀ FAISAL

Lawrence quan sát kỹ lưỡng bốn người con trai của nhà vua để tìm ra người cai trị lý tưởng của Ả Rập, và ông nhanh chóng nhận ra người con thứ hai và thứ ba, Abdullah và Faisal, là hai người có tiềm năng. Ông loại ra Abdullah vì ‘quá khôn ngoan’ còn  Abdullah loại Lawrence vì là ‘một sinh vật kỳ lạ’, nhưng lúc mà Lawrence nhìn kỹ Hoàng tử Faisal, ông gần như muốn xỉu: ‘cao lớn, duyên dáng, năng động, gần như đã là vua. Tuổi 31, rất nhanh nhẹn và luôn bận rộn. Nước da sáng, mái tóc đen, cặp mắt huyền sống động. Trông như một người Âu, và là thần tượng của nhiều người.’

Lawrence thổ lộ rằng Faisal là ‘một nhân vật đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng yếu đuối, dốt nát – tôi phục vụ hắn vì lòng thương hại’.

Cuộc Quật khởi Ả Rập đang thất bại thậm chí trong lãnh địa Hejaz của nhà Sherif và Lawrence thấy rằng một vài ngàn lính lạc đà của Faisal có thể bị một đại đội Thổ đánh bại. Nhưng nếu họ tập kích những tiền đồn và phá hoại đường ray, họ có thể cầm chân cả một quân đoàn Ottoman. Khi được điều về phục vụ Faisal, Lawrence tiến hành việc này và tạo ra một kiểu mẫu của cuộc nổi dậy hiện đại. Nhưng chính Faisal là người khoác cho Lawrence vẻ huyền thoại, ‘diện cho tôi áo lụa trắng sang trọng, thêu chỉ vàng’. Ông viết cuốn kim chỉ nam tổ chức nổi dậy Ả Rập – tài liệu buộc phải đọc đối với các sĩ quan Mỹ trong chiến trường Iraq và Afghanistan thế kỷ 21 – ‘Nếu bạn ăn mặc như người Ả Rập thì hãy ăn mặc sang trọng nhất. Ăn mặc như một sherif.’ Lawrence không qua khóa huấn luyện quân sự nào và có tinh thần của một thi sĩ khổ hạnh, nhưng ông hiểu rằng ‘khởi đầu và kết thúc của bí quyết điều khiển người Ả Rập là phải không ngừng nghiên cứu họ. Hãy tìm hiểu gia đình họ, họ hàng và bộ tộc họ, bạn bè và kẻ thù họ bằng cách lắng nghe và điều tra gián tiếp.’ Ông học cưỡi lạc đà và sống như một người Bedouin. Nhưng ông không bao giờ quên rằng nhờ những số vàng lớn mà chính phủ Anh cung cấp mới giữ được quân đội của ông gắn kết – ‘đây là thời gian phủ phê nhất mà các bộ tộc từng được biết’ – và thậm chí 50 năm sau họ còn nhớ ông là ‘nhân vật giữ vàng’.

Sự tàn sát và gian khổ của chiến tranh vừa làm ông khiếp sợ vừa làm ông phấn khích. ‘Tôi hy vọng việc này nghe hấp dẫn như nó vốn vậy,’ ông viết một cách sôi nổi sau một trận đột kích thành công. Khi một người của ông sát hại một đồng đội, Lawrence phải tự tay hành hình tên sát thủ, để tránh gây mối thù truyền kiếp giữa dòng họ. Sau một trận tàn sát quân Thổ, ông hy vọng ‘cơn ác mộng này kết thúc khi tôi tỉnh dậy và được sống lần nữa. Việc giết đi giết lại người Thổ thật là kinh khủng.’

Lawrence biết tin về việc chia cắt bí mật vùng Trung Đông của Sykes-Picot và việc ấy làm ông hổ thẹn: ‘Chúng ta đang kêu gọi họ chiến đấu vì chúng ta trên sự dối trá và tôi không thể chịu được.’ Có những lúc ông liều chết trong một cơn tuyệt vọng, ‘hy vọng bị giết khi đang làm nhiệm vụ.’ Ông tự mô tả mình là ‘thân Anh và thân Ả Rập một cách mạnh mẽ’, nhưng ông khinh bỉ chủ nghĩa đế quốc, thích một Arabia độc lập như một lãnh thổ tự trị – nhưng dưới sự bảo hộ của Anh. ‘Tôi nghĩ rằng mình sẽ sống sót và có thể đánh bại không chỉ người Thổ trên chiến trường mà còn đánh bại cả xứ sở của mình cùng các đồng minh của nó trong phòng hội nghị.’

Lawrence tiết lộ cho Faisal biết tin mật của Sykes-Picot đồng thời kế hoạch để sửa chữa nó. Nếu họ muốn tránh một Syria thuộc Pháp, họ phải tự mình giải phóng nó và phải bắt đầu bằng một động thái quân sự ngoạn mục tạo cho họ một thực quyền đối với Syria: Lawrence dẫn dắt lực lượng  Faisal vượt qua một hành lang vòng cung ven biển 300 dặm qua sa mạc Jordan khắc nghiệt để đánh chiếm cảng Aqaba.

FALKENHAYN NẮM QUYEN CHỈ HUY: JERUSALEM THUỘC ĐỨC

Sau khi trận tấn kích thứ ba của Jemal vào Ai Cập gặp thất bại, quân Anh phản công ngang qua Sinai. Vào mùa xuân 1917, họ đã hai lần bị đánh bại nặng nề tại Gaza bởi 16,000 quân Đức được pháo binh Áo-Hung yểm trợ. Jemal biết rằng họ sẽ tấn công lần nữa. Palestine giờ âm ỉ mưu tính chống Ottoman. Mật vụ của vị pasha phanh phui một ổ gián điệp Do Thái thân Anh, NILI. Các thành viên của họ bị tra tấn – móng tay bị rút ra, xương sọ bị xiết chặt bằng gọng kềm cho đến khi nứt rạn – và rồi bị treo cổ. Tại Jerusalem, cảnh sát Jemal đang săn lùng một tên gián điệp Do Thái khác, Alter Levine, một thi sĩ, thương gia sinh ở Nga, mà họ cho rằng ông đã dựng lên một loạt các ổ gián điệp núp bóng nhà thổ. Levine xuất hiện tại nhà một người bạn, Khalil Sakakini, một giáo viên đáng kính ở Jerusalem, đồng ý che chở ông. Những ổ gián điệp của phe Zionist khiến Đao Phủ nổi giận. Vì vậy tháng 4 ông triệu tập các lãnh sự nước ngoài đến Pháo đài Augusta Victoria, tại đó ông độc thoại, hăm dọa sẽ trục xuất toàn bộ dân cư ở Jerusalem – và sau vụ ‘trục xuất’ người Armenia sai địa chỉ, điều đó có nghĩa là sẽ có hàng ngàn người chết nữa.

‘Chúng tôi thấy minh bắt buộc phải chiến đấu vì Jerusalem, ‘ Jemal bảo với Enver. Họ mời Thống chế Erich von Falkenhayn, nguyên Tổng Tham mưu Đức chỉ huy trận công kích Verdun, đến Jerusalem và cố vấn cách đánh thắng người Anh. Nhưng Enver qua mặt Jemal và đặt tướng Đức nắm quyền chỉ huy tối cao. ‘Trận Verdun của Falkenhayn là thảm họa của quân Đức’, Jemal cảnh báo Enver, ‘và cuộc công kích Palestine của ông ta sẽ là thảm họa của chúng ta.

Vào tháng 6 1917, Jemal tiu nghỉu gặp Falkenhayn tại ga Jerusalem và họ lúng túng khi đứng chung chụp ảnh trên các bậc thang của Vòm Đá. Falkenhayn lập bộ chỉ huy tại  Augusta Victoria. Các quán cà phê của thành phố đầy những binh sĩ Đức và sĩ quan của họ thì chiếm Khách sạn Fast. ‘Chúng ta đã vào Miền Đất Thánh,’ một quân nhân Đức trẻ tuổi điển hình, Rudolf Hoess, viết. ‘Những tên tuổi thân thiết cổ xưa trong lịch sử tôn giáo và những câu chuyện các thánh đều ở chung quanh chúng tôi. Và thật khác xa với các giấc mơ thời trẻ biết bao!’ Binh lính Áo đi qua thành phố; binh lính Áo gốc Do Thái cầu nguyện tại Bức Tường Tây. Jemal Pasha rời thành phố và điều quản các tỉnh lỵ của mình từ Damascus. Vị Kaiser cuối cùng cũng kiểm soát Jerusalem – nhưng đã quá muộn.

Vào ngày 28/6, Sir Edmund Allenby đến Cairo nhậm chức tư lệnh mới của Anh. Đúng một tuần sau, Lawrence và quân nhà Sherif chiếm được Aqaba. Ông chỉ mất bốn ngày đi lạc đà, tàu hỏa và tàu hơi nước để đến được Cairo và báo cáo thắng lợi của mình cho Allenby.

Rất ấn tượng trước nhân vật Anh hốc hác trong y phục Bedouin này, Allenby giao phó cho Lawrence và Lữ đoàn Quân Lạc đà Sherif giữ cánh phải độc lập trong quân đoàn của mình. 

Ở Jerusalem, các máy bay Anh ném bom Núi Olives. Phụ tá của Falkenhayn, Đại tá Franz von Papen, bố trí việc phòng thủ và lên kế hoạch phản công. Quân Đức đánh giá thấp Allenby và họ bị một đòn bất ngờ khi vào ngày 31/10/1917, ông phát động cuộc tấn công đánh chiếm Jerusalem.

LLOYD GEORGE, BALFOUR VÀ WEIZMANN

Khi Allenby tập kết 75,000 bộ binh, 17,000 kỵ binh và một vài xe tăng mới, Arthur Balfour, ngoại trưởng Anh, đang thương thảo một chính sách mới với một nhà khoa học tại Nga, Tiến sĩ Chaim Weizmann. Đó là một câu chuyện đáng kể: một người nhập cư Nga, lang thang quanh Whitehall (một con đường ở London, trung tâm chính quyền Vương quốc Anh) và tạt vào văn phòng một chính khách hùng mạnh nhất trên thế giới để hàn huyên về Israel và Kinh thánh cổ xưa, tranh thủ sự hậu thuẫn của đế chế Anh cho một chính sách sẽ thay đổi Jerusalem một cách triệt để không kém quyết định của Constantine hay Saladin và định hình nên Trung Đông đến tận ngày nay.

Họ đã gặp nhau lần đầu 10 năm trước nhưng mối quan hệ của họ bấp bênh. Balfour có biệt danh Niminy Piminy và Pretty Fanny vì có đôi má hồng hào và cặp chân mảnh khảnh, nhưng cũng có biệt danh  Bloody Balfour vì tính khắt khe khi làm tổng thư ký cho Ireland. Ông là dòng dõi giới cự phú Scotland và đại quý tộc Anh – mẹ ông là em gái vị thủ tướng thời Victoria, Robert Cecil. Ông đã đồng hành với người cậu và Disraeli đến Hội nghị Berlin vào năm 1902. Một triết gia, nhà thơ xoàng và người mê chơi quần vợt, ông không hề lập gia đình và thích bông lông tếu, lời nói đùa ưa chuộng của ông là ‘không có vấn đề gì quan trọng nhiều và rất ít điều thực sự quan trọng’. Ông chắc chắn được nhớ nhiều nhất vì mối quan hệ của mình với Weizmann và Tuyên bố mang tên ông.

Hai người dường như không thể  đến từ những thế giới xa lạ hơn. Weizmann là con trai một người buôn bán gỗ từ một ngôi làng Do Thái nhỏ bé gần Pinsk đã thấm nhuần Zionism ngay từ bé và trốn khỏi Nga để học khoa học ở Đức và Thụy Sĩ. Khi ông 30, ông chuyển đến Manchester dạy hóa học tại đại học.

Balfour và Weizmann gặp nhau lần đầu vào năm 1906. Họ trao đổi ngắn ngủi nhưng khó quên. Chính Balfour là người, khi giữ chức thủ tướng vào năm 1903, đã đề xuất giải pháp giao Uganda cho người Zionist.

Cuộc trao đổi giữa họ không đi đến đâu, nhưng Weizmann đã gặp được chính khách đế chế đầu tiên của mình. Balfour thua trong kỳ tổng tuyển cử và trải qua vài năm mất quyền. Trong khi đó, Weizmann mở chiến dịch xây dựng một đại học Hebrew ở Jerusalem, mà ông đến thăm ngắn ngủi không lâu sau khi gặp Balfour. Các nông trại của người Zionist năng động ở Palestine khiến ông phấn chấn, nhưng Jerusalem làm ông khiếp đảm. Đó là ‘một thành phố sống bằng của bố thí, một khu ổ chuột khốn khổ’, nơi ‘chúng ta không có một tòa nhà ra hồn – tất cả thế giới đều có chỗ đứng ở Jerusalem chỉ trừ người Do Thái. Nó khiến tôi ưu sầu và tôi rời thành phố trước khi đêm buông xuống.’

Khi Thế Chiến bắt đầu, Weizmann được triệu tập đến Bộ Hải Quân gặp bộ trưởng Winston Churchill. Ông này hỏi, ‘Nào, Tiến sĩ Weizmann, chúng tôi cần đến 30,000 tấn acetone.’ Weizmann đã khám phá một công thức mới sản xuất ra acetone, chất dung môi dùng trong việc chế tạo thuốc nổ. ‘Ông có thể làm được không?’ Churchill hỏi. Weizmann có thể và đã làm được.

Một vài tháng sau, vào tháng 12 1914, một người bạn chủ báo dẫn Weizmann đến dùng điểm tâm với Lloyd George, lúc ấy là bộ trưởng ngân khố, và đồng nghiệp của ông Herbert Samuel. Weizmann ngạc nhiên khi nhận xét các chính trị gia này có cảm tình với Zionism.

Lloyd George đề nghị sẽ giới thiệu Weizmann với Balfour mà không biết hai người đã biết nhau. Còn Samuel, người Do Thái làm việc trong nội các Anh, tiết lộ mình đang chuẩn bị một bản ghi nhớ về Sự Trở Về của người Do Thái.

Vào tháng 1 1915, Samuel nộp bản ghi nhớ cho thủ tướng, Herbert Asquith: ‘Đã xuất hiện tình trạng khuấy động trong 12 triệu người Do Thái sống rải rác,’ Samuel viết. ‘Ý tưởng về việc phục hồi miền đất cổ cho dân tộc Hebrew nhận được cảm  tình rộng khắp.’ Asquith không mặn mòi gì với số phận người Do Thái nhưng cho rằng sẽ là điều sỉ nhục nếu để những Thánh Địa rơi vào tay người Pháp vô thần.

Lloyd George thì quan tâm nhiều đến người Do Thái, và đã từng đại diện người Zionist với tư cách một luật sư 10 năm trước. Khi Thế Chiến bùng nổ, ông đã biến thành một bộ trưởng chiến tranh năng nổ và một nhà đế quốc lãng mạn, do chịu ảnh hưởng của các tác phẩm cổ điển Hy Lạp và Kinh thánh.

Lloyd George giới thiệu Weizmann với Balfour. Balfour nói đùa, ‘Weizmann không cần giới thiệu.’ Ông tiếp đón Weizmann với câu, ‘Vâng, anh không thay đổi nhiều,’ và rồi trầm ngâm, nói tiếp, ‘Anh biết đấy, khi tiếng súng ngưng, anh có thể nhận được Jerusalem. Đúng là anh đang tranh đấu cho một chính nghĩa vĩ đại. Anh phải đến đây một  lần nữa và một lần nữa.’ Họ bắt đầu gặp nhau đều đặn, tản bộ quanh Whitehall về đêm và thảo luận một đất nước Do Thái sẽ đối phó ra sao, do những éo le của số phận, đối với những quyền lợi của công lý lịch sử và quyền lực Anh.

Khoa học và Zionism thậm chí trùng lập nhau nhiều hơn vì Balfour giờ làm bộ trưởng Hải quân và Lloyd George là bộ trưởng quân nhu, hai bộ có liên quan nhiều nhất với chuyên môn của Weizmann về thuốc nổ. Thêm một lần nữa, Kinh thánh, sách của Jerusalem, ảnh hưởng đến thành phố hơn 2,000 năm sau khi nó được viết ra. ‘Nước Anh là một quốc gia Kinh thánh,’ Weizmann viết. ‘Những chính khách Anh của trường phái cổ thấm nhuần tôn giáo. Họ hiểu như một thực tế khái niệm về Sự Trở Về. Nó kêu gọi đến truyền thống và tín ngưỡng của họ.’ Cùng với Mỹ, ‘nước Anh đọc Kinh thánh và suy nghĩ Kinh thánh,’ một phụ tá của Lloyd George nhận xét, ‘là xứ sở duy nhất tại đó ước muốn của dân Do Thái được trở về tổ quốc xưa của mình được coi là một khát vọng không thể bị khước từ.’

Có điều gì đó lẩn khuất trong thái độ của họ đối với người Do Thái: các lãnh đạo Anh có cảm tình thực sự đối với tình cảnh bị đát của người Do Thái Nga, nhất là trong chiến tranh sự áp bức càng tăng lên. Các tầng lớp cao Âu châu đã bị choáng trước sự giàu sụ của các nhà tài phiệt Do Thái như nhà Rothschilds. Tuy nhiên điều này cũng gây cho họ hiểu lầm, vì họ không thể xác định liệu người Do Thái có phải là một chủng tộc cao quý của những người hùng kinh thánh bị bức hại hay không, mỗi người họ đều là Vua David hoặc một Maccabee, hoặc một tổ chức âm mưu hiểm ác, những tên hobbit mũi quặp, thần bí có năng lực gần như  siêu phàm. Trong một thời đại tràn lan những học thuyết về tính ưu việt của chủng tộc, Balfour tin rằng người Do Thái là ‘chủng tộc tài năng nhất mà nhân loại từng biết kể từ người Hy Lạp thế kỷ thứ 5 TCN’ còn Churchill nghĩ rằng họ thuộc ‘chủng tộc ghê gớm nhất và tài ba nhất’.

Nhưng thời cơ là tất cả trong chính trị. Vào tháng 12 1916 chính phủ Asquith sụp đổ, Lloyd George trở thành thủ tướng, và ông bổ nhiệm Balfour làm ngoại trưởng. Họ sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để chiến thắng cuộc chiến. Tại thời khắc sinh tử này trong trận chiến lâu dài và khủng khiếp chống quân Đức, thái độ đặc biệt của họ đối với người Do Thái trộn lẫn với sự trùng hợp đặc biệt của các tình huống năm 1917 thuyết phục Lloyd George và Balfour rằng Zionism là thiết yếu giúp nước Anh đạt đến chiến thắng.

Vào mùa xuân 1917, Mỹ bắt đầu tham chiến và Cách mạng Nga lật đổ Sa hoàng Nicholas II. Mối quan tâm chính của Vương quốc Anh là kêu gọi Nga tiếp tục đứng vào hàng ngũ của Đồng minh. Balfour, chuẩn bị công du Mỹ, bảo với các đồng sự của mình rằng ‘đại đa số người Do Thái ở Nga và Mỹ đều tỏ vẻ ưng thuận với Zionism.’ Nếu Anh có thể đưa ra lời tuyên bố ủng hộ Zionism, ‘chúng ta sẽ có thể tiến hành tuyên truyền cực kỳ hữu dụng cả ở Nga lẫn ở Mỹ.

Nếu Nga và Mỹ không đủ khẩn trương, người Anh biết tin rằng người Đức đang xem xét một tuyên bố về Zionist của riêng mình. Suy cho cùng, Zionism là một ý tưởng thuộc Đức-Áo và người Zìonist đặt căn cứ ở Berlin cho tận năm 1914.

 Khi Jemal Pasha, nhà độc tài của Jerusalem, viếng thăm Berlin vào tháng 8 1917, y gặp những người Zionist Đức, và tể tướng Ottoman, Talaat Pasha, miễn cưỡng đồng ý xúc tiến ‘một ngôi nhà quốc gia Do Thái’. Trong khi đó, trên biên giới Palestine, Tướng Allenby đang bí mật chuẩn bị tấn công.

Vào ngày 9/11, Balfour ban hành Tuyên bố của mình, phát biểu: ‘Chính quyền Vương quốc Anh đồng thuận việc thiết lập ở Palestine một lãnh thổ quốc gia cho dân tộc Do Thái, được hiểu rõ ràng là không có gì sẽ được thực hiện có thể gây thiệt hại cho các quyền lợi tôn giáo và dân sự của các cộng đồng phi Do Thái đang hiện diện.’

Tuyên bố nhằm mục đích tách rời người Do Thái Nga khỏi chủ nghĩa Bôn-se-vich nhưng ngay chính cái đêm nó được ban hành, Lênin chiếm lấy quyền lực ở Peterburgs. Nếu Lênin ra tay sớm hơn vài ngày, Tuyên bố Balfour có thể không bao giờ được ban hành.

Khi Allenby đột nhập vào Palestine, Lloyd George hô hào kêu gọi đánh chiếm Jerusalem như một món quà Giáng Sinh cho nước Anh.

5

Chaim Weizmann miệt mài tranh đấu  cho giấc mơ trở về đất cũ của người Do Thái, đã lôi kéo được những người có thế lực nhất của đế chế Anh, Lloyd George, Churchill và Balfour, đến với Zionism, trong khi Lawrence xiển dương chính nghĩa Ả Rập.

  CHƯƠNG 46:  MÓN QUÀ GIÁNG SINH 1917–1919

 

THỊ TRƯỞNG TÌM CÁCH ĐẦU HÀNG

Allenby chiếm Gaza vào ngày 7/11/1917; Jaffa thất thủ ngày 16. Tình cảnh ở Jerusalem thật là tuyệt vọng. Jemal Đao Phủ, cai trị các tỉnh lỵ từ Damascus, đe doạ một Götterdämmerung (tên một bản giao hưởng của Wagner, có nghĩa sự hủy diệt thảm khốc) ở Jerusalem. Trước tiên y ra lệnh trục xuất tất cả giáo sĩ Cơ đốc. Các tòa nhà Cơ đốc, kể cả Tu viện St Saviour, đều bị mìn đánh sập. Các giáo trưởng được chở đến Damascus nhưng Đại tá von Papen, một người Thiên chúa, giải cứu giáo trưởng Latinh và giữ ông ở Nazareth. Jemal treo cổ hai gián điệp Do Thái ở Damascus, rồi y tuyên bố trục xuất mọi người Do Thái ở Jerusalem: để không còn người Do Thái nào ở lại để tiếp đón người Anh. Người Đức, giờ đang kiểm soát Jerusalem, tỏ ra rất bực bội. Những đe doạ bài Do Thái của Jemal thật điên cuồng và Tướng Kress can thiệp ở cấp cao nhất để giải cứu người Do Thái. Đây là vụ dính líu cuối cùng của Jemal ở Jerusalem. *

* Jemal trở lại Istanbul vào năm 1917, nhưng khi Ottoman đầu hàng vào năm sau y bay đến Berlin, tại đó y viết hồi ký. Y bị người Armenia ám sát vào năm 1922 để trả thù cho việc diệt chủng người Armenia, cho dù y đã tuyên bố việc trục xuất người Armenia sẽ gây ra thảm cảnh lớn lao.’ Talaat cũng bị ám sát; Envers thì tử trận, dẫn đến sự nổi dậy của người Thổ chống chính quyền Bôn-se-vich ở vùng Trung Á.

 

Vào ngày 25/11, Allenby chiếm Nabi Samuel ngay bên ngoài Thành phố Thánh. Người Đức không biết phải làm gì. ‘Tôi xin Falkenhayn di tản khỏi Jerusalem – thành phố không có giá trị về mặt chiến lược’, Papen nhớ lại.  ‘Tôi đã thua trận Verdun,’ Falkenhayn la lên, ‘và giờ anh yêu cầu tôi đi tản khỏi thành phố vốn là tâm điểm chú ý của cả thế giới. Không thể nào!’ Papen gọi điện cho đại sứ minh ở Constantinople, và ông này hứa sẽ nói chuyện với Enver.

Máy bay Anh bỏ bom bộ chỉ huy Đức tại Augusta Victoria và trưởng phòng tình báo của Allenby ném xuống thuốc điếu ma túy cho binh lính Ottoman, hy vọng họ sẽ phê không thể phòng thủ Jerusalem được. Dân tị nạn ùa ra ngoài thành phố. Gỡ xuống chân dung của Kaiser khỏi Nhà nguyện Augusta Victoria, Falkenhayn cuối cùng phải bỏ thành phố và di chuyển bộ chỉ huy đến Nablus. Máy bay Anh và Đức quần thảo nhau trên bầu trời Jerusalem. Súng cối nã đạn vào vị trí của kẻ thù; quân Ottoman phản công Nabi Samuel ba lần; cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài đến 4 ngày. Vào ngày 4/12, máy bay Anh ném bom bộ chỉ huy Ottoman đóng trong Phức hợp Nga. Ở Khách sạn Fast, các sĩ quan Đức uống đến chai rượu schnapps cuối cùng và cười nói cho đến phút chót, trong khi các tướng Ottoman bàn luận nên đầu hay nên chiến; nhà Husseini họp bí mật trong lâu đài của họ. Quân Thổ bắt đầu đào ngũ. Hàng đoàn xe chở lính bị thương và xác chết không toàn thây rùn rùn chạy qua đường phố.

Buổi chiều ngày 7/12, những binh sĩ Anh đầu tiên đã nhìn thấy Jerusalem. Một màn sương mù buông xuống thành phố; mưa che kín đồi. Sáng hôm sau, Thống đốc Izzat Bey đập nát các bộ phận điện đài bằng búa, trao văn kiện đầu hàng cho thị trưởng, ‘mượn’ một xe song mã của khu Thuộc địa Mỹ mà ông thề sẽ trả lại, và phóng đi về hướng Jericho. Suốt đêm hàng ngàn lính Ottoman lê lết qua thành phố và bước ra khỏi lịch sử. Lúc 3 giờ sáng ngày 9, các lực lượng Đức rút khỏi thành phố. Người Thổ cuối cùng rời Cổng St Stephen lúc 7 giờ sáng. Lúc 8.45 sáng, những binh sĩ Anh tiến gần Cổng Zion.

Hussein Husseini, Thị trưởng Jerusalem, dáo dác tìm miếng vải trắng. Một phụ nữ đưa cho ông một áo blu trắng, nhưng ông thấy không thích hợp. Vì thế Husseini cuối cùng mượn một tấm khăn trải giường của khu Thuộc địa Mỹ, rồi ông buộc vào một cán chổi dài. Tập hợp một phái đoàn có vài người nhà Husseini, họ lên ngựa và xuất phát qua cổng Jaffa, vừa đi vừa vung vẫy lá cờ buồn cười này.

Người Jerusalem sau đó tìm gặp hai sĩ quan pháo binh Anh hướng dẫn họ đến bộ chỉ huy. Tại đó họ gặp Trung tá Bayley, đưa họ đến gặp Chuẩn tướng C. F. Người này báo cho Trung tướng John Shea chỉ huy Sư đoàn 160. Shea chấp nhận việc đầu hàng nhân danh Tướng Allenby, và vị tướng nhận được tin báo trong lều của mình gần Jaffa khi đang trao đổi với Lawrence.

ALLENBY BÒ TÓT: GIÂY PHÚT TỘT CÙNG

Súng vẫn nổ rền khi Tướng Sir Edmund Allenby đi xuống Đường Jaffa để đến Cổng Jaffa. Ở London, thủ tướng hớn hở. Trong tuyên bố sau đó vài ngày, ông phát biểu: Việc chiếm được Jerusalem đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc nhất trong khắp thế giới văn minh. Thành phố tiếng tăm nhất trên thế giới, sau nhiều thế kỷ xung đột và tranh đấu vô ích, đã rơi vào tay quân đội Anh, không bao giờ được trả lại cho những người đã giữ nó quá thành công chống lại những chủ nhân sẵn sàng chiến đấu của giáo triều Cơ đốc. Tên của mỗi ngọn đồi vọng về những ký ức thiêng liêng.’

Văn phòng ngoại giao điện cho Allenby tránh bất cứ hành động khoa trương như vua chúa hoặc thần thánh khi bước vào thành phố: ‘KHUYẾN CÁO TRIỆT ĐỂ XUỐNG NGỰA!’ Vị tướng bước qua cổng, theo sau là các đại diện Mỹ, Pháp và Ý và được theo dõi bởi tất cả giáo trưởng, giáo sĩ Do Thái, thủ lĩnh Hồi giáo và lãnh sự, và được Thị trưởng Jerusalem đón tiếp trong tiếng khóc vui sướng và chúc tụng lẫn nhau.

Allenby được Lawrence xứ Arabia tháp tùng. Anh vừa sống sót trong một chấn thương đau đớn nhất trong đời mình. Vào cuối tháng 11, trong một cuộc trinh sát phía sau chiến tuyến địch, anh đã bị bắt tại Deraa ở Syria bởi tên thống đốc bạo dâm Ottoman Hajim Bey, người cùng với các tay sai của mình đã dỡ trò hiếp dâm đồng tính đối với chàng trai Anh. Lawtence tìm cách trốn thoát và dường như đã phục hồi về mặt thể chất nhưng chấn thương tâm lý vẫn còn ăn sâu và, sau chiến tranh, anh mô tả mình có cảm giác như ‘bị thương tật, bất toàn, chỉ còn phân nửa là chính mình. ‘Ắt hẳn là do tinh thần bị phá vỡ bởi sự đau đớn đập nát thần kinh đã nhấn đạp tôi xuống ngang hàng với súc vật và đã đi theo tôi suốt từ đó.’ Khi anh đến được Aqaba sau cuộc đào thoát, Allenby cho gọi anh đến ngay khi Jerusalem thất thủ.

Allenby nước lên bậc thang lên bục đọc lời tuyên bố về ‘Jerusalem được Ban Phước’, sau đó được dịch ra tiếng Pháp, Ả Rập, Do Thái, Hy Lạp, Nga và Ý – cẩn thận không đề cập đến từ đang lởn vởn trong đầu óc mọi người: Thập Tự Chinh. Nhưng khi cuối cùng Thị trưởng Husseini trao cho ông chùm chìa khóa của thành phố Allenby được cho là đã nói: ‘Các cuộc Thập Tự Chinh đã kết thúc.’ Thị trưởng và thủ lĩnh tôn giáo Hồi bỏ đi một cách giận dữ.

Sau đó, Lawrence nhớ lại, tại buổi cơm trưa ở bộ chỉ huy của Tướng Shea, đại diện Pháp Picot đưa ra yêu cầu chia phần Jerusalem cho Pháp. Y nói với Allenby, ‘Và ngày mai, thưa tướng quân, tôi sẽ chuẩn bị những bước cần thiết để dựng lên chính quyền dân sự trong thị trấn này.’

Một phút im lặng sau đó, rồi mặt Allenby bổng đỏ lên, ông nuốt vội thức ăn còn trong miệng, cằm ông nhô ra trước rồi nói rít: ‘Quyền hành duy nhất là quyền hành của Tổng Tư lệnh – CHÍNH LÀ TÔI!’

Lawrence bay về với Faisal và Lữ đoàn Lạc đà Sherif. Người Pháp và Ý được phép chia sẻ nhiệm vụ canh gác tại Mộ Thánh, nhưng trách nhiệm khóa và mở cửa Nhà Thờ, như luôn luôn, là của nhà Nuiseibeh và chức việc này có tính kế thừa. * Allenby cắt đặt binh sĩ Hồi gốc Ấn canh gác Núi Đền.

 * Khi người nhà Nusseibeh dẫn Allenby đi quanh Nhà Thờ, họ kể rằng ông ta có hỏi về chìa khóa. Ông ta nói, ‘Giờ thời Thập Tự Chinh đã qua, tôi gửi lại ông chùm chìa khóa nhưng chúng không phải của Omar hay Saladin mà là của Allenby. Câu chuyện này do Hazem Nusseibeh, ngoại trưởng Jordan trong những năm 1960 trong hồi ký của ông, xuất bản 2007.

 

Sau khi được Vua George V tiếp kiến ở London, Weizmann đến Thành phố Thánh với Ủy ban Zionist của ông, được sự phụ tá của Vladimir Jabotinsky, một nhà dân tộc chủ nghĩa khoa trương và một trí thức thạo đời từ Odessa nơi ông đã tổ chức nhóm dân quân Do Thái để kháng cự lại những vụ pogrom. 

 Sự tiến công của Allenby dừng lại ngay phía bắc Jerusalem. Người Ottoman không khi nào chịu kết thúc ở Palestine, và ông mất gần một năm để tập kết lực lượng tiến hành tiếp cuộc tiến quân, vì thế Jerusalem trở thành thành phố ở tuyến đầu, đông nghịt các binh lính Anh và thuộc địa sẵn sàng xông tới. Người Sherif dưới quyền chỉ huy của Lawrence và Faisal, chực chờ cơ hội để đánh chiếm Damascus – và phá hỏng các tham vọng của Pháp.

Jerusalem loè loẹt và băng giá; dân số đã giảm xuống 30,000 người kể từ 1914 chỉ còn khoảng 55,000; nhiều người còn chết vì đói và sốt rét, bị hành hạ bởi bệnh giang mai (thành phố lũ lượt 500 gái điếm vị thành niên Do Thái); có 3,000 trẻ mồ côi Do Thái.

Trong quán cà phê ở Cổng Jaffa, người Ả Rập và Do Thái luận bàn về tương lai Palestine. Bên phía Do Thái chính kiến đi từ siêu Chính thống vốn khinh bỉ người Zionist báng bổ, qua những dự kiến về những thuộc địa Do Thái tích hợp đầy đủ trên khắp Trung Đông do người Ả Rập cai trị, đến những chính kiến dân tộc chủ nghĩa cực đoan mong muốn một nhà nước Do Thái vũ trang cai trị một thiểu số Ả Rập thuần phục. Chính kiến Ả Rập thay đổi từ những người cơ yếu chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa Hồi muốn trục xuất người Do Thái nhập cư, đến những người cấp tiến dân chủ chào đón sự hỗ trợ của người Do Thái để xây dựng một nhà nước Ả Rập. Những trí thức Ả Rập thảo luận liệu Palestine là một bộ phận của Syria hay của Ai Cập. 

Vào ngày 20/12 1917, Sir Ronald Storrs đến nhận nhiệm vụ thống đốc quân sự của Jerusalem – hoặc theo lời ông, ‘tương đương với Pontius Pilate’.

NGÀI STORRS ĐÔNG PHƯƠNG: NHÀ ĐỘC TÀI TỐT BỤNG:

Storrs không phải là một viên chức Phòng Thuộc địa trung bình. Ông là con một cha sở và theo học  ngành văn hóa cổ đại ở Cambridge với một quan điểm quốc tế đáng kinh ngạc.

Lawrence, bạn của Storrs, nhớ đã  từng nghe Storrs thảo luận về tài năng của nhà soạn nhạc  Wagner và Debussy bằng tiếng Ả Rập, Đức và Pháp. Vị thống đốc quân sự bất thường này lên đường phục hồi một Jerusalem tơi tả. 

Trong vòng chỉ một ít tháng, Storrs thành lập Hiệp hội Thân Jerusalem, do nhà buôn bán vũ khí người Armenia  Sir Basil Zaharoff và các triệu phú Mỹ Bà Andrew Carnegie và J. P. Morgan Jr, bảo trợ. Mục tiêu của hội là ngăn cản Jerusalem trở thành ‘một Baltimore hạng hại’.  (Baltimore là thành phố của bang Maryland, nổi tiếng vì có nhiều tội phạm).

Storrs nhận thấy những chiến thuật của người Zionist ‘là một cơn ác mộng, phản ánh tục ngữ Thổ: “đứa trẻ không khóc không được cho bú sữa”‘. Người Zionist sớm nghi ngờ ông không cảm tình với họ. Nhiều người Anh khinh khi Jabotinsky và những người Do Thái Nga đi nghênh ngang khắp Jerusalem trong bộ đồ kaki bán quân sự, họ xem Tuyên bố Balfour là không thể thực thi. 

Mặc dù người Ả Rập đánh động về Tuyên bố Balfour, Jerusalem vẫn yên tĩnh trong hai năm. Storrs giám sát việc tu sửa tường thành và Vòm Đá, lắp đèn đường, thành lập Câu lạc bộ Cờ và phá nổ tháp canh ở Cổng Jaffa của Abdul-Hamid. Ông thậm chí thành lập một ban đồng ca các nữ tu do chính ông điều khiển, và ra sức làm trung gian những vụ tranh chấp trong Nhà Thờ, bám sát vào cách phân chia nhiệm vụ năm 1852 của sultan. Việc này làm phe Chính thống mãn nguyện nhưng không vừa lòng phe Thiên chúa. Khi Storrs  thăm Vatican, giáo hoàng lên án ông làm ô nhiễm Jerusalem bằng cách tổ chức việc chiếu phim thế tục và dung túng 500 gái mãi dâm. Người Anh không bao giờ xoay sở giải quyết được những thâm thù nhỏ nhặt diễn tiến trong vòng lẩn quẩn.

Vị thế thực sự của Palestine, không nói chi đến Jerusalem, còn lâu mới được xác định. Picot một lần nữa thúc đẩy quyền người Pháp ở Jerusalem.

Khi thị trưởng đột ngột qua đời vì bệnh sưng phổi (có lẽ ông nhiễm bệnh do đi mưa qua nhiều), Storrs bổ nhiệm em trai ông, Musa Kazem al-Husseini, thay thế. Vị thị trưởng mới ấn tượng này, đã từng giữ chức thống đốc các tỉnh lỵ Ottoman từ Anatolia đến Jaffa, dần dần nắm quyền lãnh đạo chiến dịch chống người Zionist. Cư dân Jerusalem Ả Rập đặt kỳ vọng của mình vào một vương quốc Đại Syria do ông hoàng Faisal cai trị, bạn của Lawrence. Tại Hội nghị đầu tiên các Hiệp hội Hồi-Cơ đốc, tổ chức ở Jerusalem, các đại biểu bầu để  gia nhập Syria của Faisal. Người Zionist, vốn vẫn còn tin chắc một cách phi hiện thực là hầu hết người Ả Rập đồng thuận với việc định cư của họ, cố gắng làm giảm bớt mối lo sợ của dân bản địa. Người Anh cổ vũ những cử chỉ thân thiết từ cả hai bên. Weizmann đến gặp và trấn an vị đại mufti rằng người Do Thái sẽ không đe đọa đến quyền lợi Ả Rập, tặng ông ta một cuốn Kinh Koran cổ.

Vào tháng 6 1918, Weizmann đi qua sa mạc để gặp Faisal, có mặt Lawrence, tại căn cứ của ông gần Aqaba. Ông giải thích rằng người Do Thái sẽ phát triển xứ sở dưới sự bảo hộ của Anh. Bản thân Faisal nhìn thấy sự khác biệt lớn giữa điều mà Lawrence gọi là người Do Thái Palestine và người Do Thái thuộc địa: đối với Faisal điều quan trọng là người trước nói tiếng Ả Rập còn người sau nói tiếng Do Thái gốc Đức’. Faisal và Lawrence hy vọng nhà Sherif và Zionist có thể hợp tác để xây dựng vương quốc Syria. Lawrence giải thích: ‘Tôi coi người Do Thái như người nhập khẩu tự nhiên chất men Tây phương rất cần thiết cho những xứ vùng Cận Đông.’

Tại cuộc gặp thượng đỉnh ở ốc đảo, Faisal ‘công nhận tính khả thi của việc người Do Thái trong tương lai sẽ đòi lại lãnh thổ ở Palestine’. Sau đó, ba người lại gặp nhau lần nữa ở London, Faisal đồng ý Palestine có thể nhận ‘4-5 triệu người Do Thái miễn không vị phạm quyền lợi của giới nông dân Ả Rập. Lúc đó ông không nghĩ ở Palestine có tính trạng khan hiếm đất đai’, và tán thành sự hiện diện đa số Do Thái ở Palestine bên trong Vương quốc Syria – miễn là ông nhận được vương miện. Syria là phần thưởng và Faisal sung sướng để lấy được nó qua thỏa hiệp.

Chính sách của Weizmann bước đầu mang đến thành quả. Ông nói đùa rằng ‘một nhà nước Do Thái mà không có đại học giống như Monaco không có casino’, vì thế ngày 24 tháng 7 1918 Allenby chở ông trên chiếc Rolls-Royce lên Núi Scopus. Ở đó vị mufti, giám mục Giáo hội Anh, hai giáo trưởng Do Thái và chính Weizmann cùng nhau đặt những viên đá móng đầu tiên  cho việc khởi công xây dựng Đại học Hebrew. Nhưng các quan sát viên nhận thấy vị mufti Hồi giáo trông rầu rĩ đến tận tâm can. Ở xa xa, tiếng đại bác Ottoman còn vọng lại khi các quan khách hát quốc ca Anh ‘Chúa Phù Hộ Nhà Vua’ và bài ca Zionist Hatikvah. ‘Bên dưới chúng tôi là Jerusalem,’ Weizmann nói, ‘lấp lánh như một viên ngọc.

Người Ottoman vẫn còn chiến đấu dữ dội ở Palestine, trong khi ở Mặt Trận phương Tây chưa có dấu hiệu của thắng lợi.

Chỉ đến tháng 9 1918 Allenby mới mở lại cuộc tấn kích, đánh bại quân Ottoman tại Trận Megiddo. Hàng ngàn tù binh Đức và Ottoman được giải qua. đường phố Jerusalem. Vào ngày 2/10, Allenby cho phép Faisal, Vua chỉ định của Syria, và Đại tá Lawrence giải phóng Damascus với quân Sherif. Nhưng, như Lawrence nghi ngờ, việc đưa ra quyết định thực sự bắt đầu từ một nơi rất xa. Lloyd George quyết tâm giữ lấy Jerusalem.

 Cuối cùng Đức sụp đổ, và việc lốp bi đã bắt đầu. Vào ngày hiệp ước đình chiến được ký kết, 11/11, Weizmann, người được hẹn gặp trước diễn biến trọng đại này, bắt gặp Lloyd George khóc tại số 10 Phố Downing khi đang đọc Thánh Thi. Lawrence duyệt xét những viên chức ở London có khả năng hỗ trợ chính nghĩa Ả Rập. Faisal đang ở Paris để tìm kiếm sự hậu thuẫn của người Pháp cho kế hoạch của mình. Nhưng khi Pháp và Anh xung đột nhau về sự chia phần Miền Đông, Lloyd George phản kháng rằng chính người Anh đã chinh phục Jerusalem: ‘Những chính quyền khác chỉ cắt đặt một vài cảnh sát da đen để canh chừng chúng tôi ăn cắp Mộ Thánh.’

aa

Đầu hàng, 1917: Hussein al-Husseini, thị trưởng Jerusalem (chính giữa, cầm gậy) đi đầu hàng người Anh với khăn trải giường gắn trên cán chổi

7

Tướng ‘Bò Tót’ Allenby (phải), và thống đốc quân sự Ronald Storrs (giữa) ăn mừng lễ  4 Tháng 7 tại khu Thuộc địa Mỹ vào năm 1918

  CHƯƠNG 47: NGƯỜI CHIẾN THẮNG VÀ CHIẾN LỢI PHẨM 1919–20

 

WOODROW WILSON Ở VERSAILLES

Gặp nhau ở London một ít tuần đầu, Lloyd George và Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau bàn việc chia chác ở Trung Đông. Để lấy Syria, Clemenceau đang dàn xếp:

CLEMENCEAU: ‘Hãy nói tôi biết ý muốn của ngài.’

LLOYD GEORGE: ‘Tôi muốn Mosul.’

CLEMENCEAU: ‘Ngài sẽ có được Mosul. Còn gì nữa không?’

LLOYD GEORGE: ‘Vâng tôi cũng muốn Jerusalem!’

CLEMENCEAU: ‘Ngài sẽ có Jerusalem.’

Vào tháng 1 năm 1919, Woodrow Wilson, vị tổng thống đầu tiên của Mỹ rời khỏi nước Mỹ  trong nhiệm kỳ, đến Versailles để dàn xếp nền hòa bình với  Lloyd George và Clemenceau. Những vai chính ở Trung Đông đến để lốp bi những kẻ chiến thắng, với Faisal, có Lawrence đồng hành, ra sức ngăn trở quyền kiểm soát của Pháp ở Syria; và Weizmann hy vọng sẽ giữ được người Anh ở Palestine và tranh thủ được sự công nhận của quốc tế cho Tuyên bố Balfour. Ngay sự hiện diện của Lawrence, với vai trò cố vấn của Faisal, mặc quân phục Anh nhưng đội khăn xếp Ả Rập, khiến người Pháp bực bội. Họ cố tìm cách loại ông ra khỏi bàn hội nghị.

Wilson, nguyên giáo sư tại Virginia theo chủ nghĩa  lý tưởng đã biến thành chính trị gia Dân chủ và giờ đây là trọng tài quốc tế, tuyên bố rằng ‘mỗi vùng định cư lãnh thổ liên quan đến cuộc chiến này phải được thực thi trong những quan tâm và lợi ích của các dân chúng liên quan’. Ông từ khước hậu thuẫn việc cắt xén kiểu đế quốc vùng Trung Đông. Ba ông lớn chẳng mấy chốc hiềm khích nhau. Wilson coi Lloyd George là ‘trơn tuột’. Ngài Clemenceau 78 tuổi, bị kẹp giữa ngài Wilson biết lẽ phải và ngài Lloyd George muốn chiếm đất, phàn nàn, ‘Tôi thấy mình đứng giữa Jesus Christ và Napoleon Bonaparte.’ Trong một căn phòng ốp gỗ ở Paris, kê đầy sách vở, ba vị thần Olympia này sẽ định hình lại thế giới, một viễn cảnh khiến Balfour vui thích khi ông theo dõi một cách khinh thị ‘ba nhân vật toàn năng, toàn dốt nát đang cắt xẻo các lục địa’.

Những ham hố của Clemenceau cũng sống sượng chẳng kém của Lloyd George. Khi Clemenceau đồng ý gặp Lawrence, ông biện minh cho việc mình đòi Syria bằng lời giải thích rằng người Pháp đã cai trị Palestine trong thời Thập Tự Chinh: ‘Vâng,’ Lawrence đáp lại, ‘nhưng Thập Tự Chinh đã thất bại.’ Ngoài ra, các Thập Tự Chinh chưa hề chiếm được Damascus, đích nhắm chủ yếu của Clemenceau và trung tâm của những khát vọng dân tộc Ả Rập. Người Pháp còn hy vọng chia sẻ Jerusalem bằng kế hoạch Sykes-Picot, nhưng người Anh giờ đây đã bác bỏ hiệp ước đó.

Tổng thống Mỹ. đã ủng hộ Tuyên bố Balfour. Ông chịu ảnh hưởng của văn hóa Do Thái Tin Lành lẫn cố vấn của ông, Louis Brandeis, một người Do Thái ở Kentucky đã được ông bổ nhiệm vào Tối cao Pháp viện. Brandeis, được biết dưới biệt danh ‘Luật sư của Quần chúng’, là một con người mẫu mực chính trực của sự thông thái và tinh thần phục vụ cộng đồng. Trong năm 1914, chỉ có 15,000 trong số 3 triệu người Do Thái Mỹ là thành viên của Liên đoàn Zionist Hoa Kỳ do ông thành lập. Nhưng đến 1917, có đến hàng trăm ngàn người Do Thái Mỹ đã tham gia; các người Cơ đốc phúc âm đang lốp bi cho Zionism; và cựu Tổng thống Teddy Roosevelt, người đã từng đến thăm Thành phố Thánh với cha mẹ khi còn bé, cũng ủng hộ ‘một nhà nước Do Thái chung quanh Jerusalem’.

Dù sao đi nữa thì Wilson phải đương đầu với sự xung đột giữa Zionism và quyền tự quyết của người Ả Rập. Tại một thời điểm người Anh đề xuất Mỹ nhận quyền ủy thác – một từ mới mô tả điều gì đó ở giữa sự bảo hộ và sự cai trị. Wilson thực sự có xét đến khả năng đó. Nhưng, đối mặt với sự tranh giành đất Palestine của Anh-Pháp và Syria, ông phái một ủy ban Mỹ đến điều tra nguyện vọng của người Ả Rập. Ủy ban King-Crane báo cáo rằng phần đông người Ả Rập ở Palestine và Syria muốn sống trong vương quốc Đại Syria của Faisal – dưới sự bảo hộ của Mỹ. Nhưng những kết quả này cho thấy không thích hợp khi Wilson không thể kềm chế những bạn đồng minh đế quốc. Còn phải mất hai năm cho Hội Quốc Liên mới ra đời khẳng định rằng người Anh được Palestine và người Pháp lấy Syria – mà Lawrence gọi là ‘trò lươn lẹo ủy thác’.

Vào ngày 8/3/1920, Faisal được tuyên bố là vua Syria (bao gồm Lebanon và Palestine) và bổ nhiệm Said al-Husseini ở Jerusalem làm ngoại trưởng. Sự phấn khích do một vương quốc mới ra đời khiến người Ả Rập ở Palestine bạo dạn đứng lên chống lại mối đe đọa Zionist. Weizmann cảnh báo là có thể xảy ra lộn xộn. Jabotinsky và Pinkhas Rutenberg, nhà cách mạng Nga trước đây, thành lập lực lượng tự vệ gồm 600 người. Nhưng Storrs phớt lờ hồi chuông báo động.

STORRS: CUỘC NỔI LOẠN  NABI MUSA – NHỮNG PHÁT SÚNG ĐẦU TIÊN

Vào sáng Chủ nhật 20/4/1920, trong một thành phố căng thẳng với người hành hương Do Thái và Cơ đốc, 60,000 nguòi Ả Rập tụ tập làm lễ Nani Musa, do người nhà Husseini cầm đầu. Người viết nhật ký Wasif cũng ngắm nhìn họ hát những ca khúc chống đối Tuyên bố Balfour. Em trai của vị mufti,  Haj Amin al-Husseini, khích động đám đông, giơ cao bức chân dung Faisal: ‘Đây là Vua chúng ta!’ Đám đông hét lên, ‘Palestine là đất chúng ta, bọn Do Thái là con chó của chúng ta!’ và đổ về Thành phố Cổ. Một ông già Do Thái bị gậy đập chết.

Thỉnh lình, Khalil Sakakini nhớ lại, ‘sự náo nhiệt biến thành cơn điên loạn’. Nhiều người rút dao găm và chày vồ, la lên, ‘Tôn giáo của Muhammad được dựng lên bằng gươm giáo!’ Jawhariyyeh nhận xét, ‘Thành phố đã biến thành bãi chiến trường’. Đám đông đồng thanh hô vang ‘Tàn sát họn Do Thái!’  Cả Sakakini lẫn Wasif đều ghét bạo lực nhưng cũng bắt đầu ghê tởm không chỉ người Zionist mà cũng người Anh nữa.

STORRS bước ra khỏi Nhà Thờ Anh sau lượt kinh sáng và bổng thấy thành phố Jerusalem chìm trong cơn hỗn loạn. Ông chạy vội đến bộ chỉ huy đặt trong Nhà An Dưỡng Áo, cảm thấy như có ai đó ‘đã thọc một lưỡi kiếm vào tim mình’. STORRS chỉ có 188 cảnh sát ở Jerusalem. Khi cơn bạo loạn lên cao vào ngày hôm sau, người Do Thái sợ rằng mình sẽ bị quét sạch. Weizmann xông vào văn phòng Storrs xin cứu giúp; còn Jabotinsky và Rutenberg thì chụp lấy súng lục và huy động 200 người tại sở chỉ huy cảnh sát ở Phức hợp Nga. Khi Storrs ngăn cấm việc này, Jabotinsky tuần tra bên ngoài Thành phố Cổ, đấu súng với các tay súng Ả Rập – đây là ngày trận đấu súng thực sự bắt đầu. Trong Thành phố Cổ, một số đường phố ở Khu Do Thái bị bao vây, và bọn Ả Rập lẻn vào hiếp dâm tập thể các thiếu nữ Do Thái. Trong khi người Anh đang ra sức giữ gìn trật tự nghi lễ Lửa Thánh, thì một người Syria dời đi chiếc ghế của người Coptic thế là ‘địa ngục bùng phát’, và các cửa Nhà Thờ bắt lửa trong cuộc xô xát. Khi một viên chức Anh rời Nhà Thờ Mộ Thánh, một bé gái Ả Rập ngã xuống từ một cửa sổ gần đó, bị một viên đạn lạc bắn trúng.

Nehemia Rubitzov, một trong những người được Jabotinsky tuyển mộ, cùng một đồng sự giấu súng lục dưới lớp áo cứu thương trắng, đi vào Thành phố Cổ trên xe cứu thương để tổ chức việc phòng thủ. Rubitzov, quê quán Ukrainia, đã từng được Ben-Gurion tuyển mộ vào Quân đoàn Do Thái, thay tên là Rabin. Hiện giờ, khi ông vỗ yên những người dân Do Thái hoảng sợ, ông gặp được và giải cứu ‘Hoa hồng Đỏ’ Cohen, một cựu đảng viên Bôn-se-vich vừa từ Nga đến: họ yêu nhau và kết hôn. ‘Tôi sinh ra tại Jerusalem’, con trai họ nói. Anh là Yitzhak Rabin, nhiều năm sau với chức vụ tham mưu trưởng Israel anh sẽ đánh chiếm Jerusalem.

HERBERT SAMUEL CHỦ NHÂN MỚI CỦA PALESTINE

Khi vụ bạo loạn đã lắng xuống, 5 người Do Thái và 4 người Ả Rập bi giết chết, 216 Do Thái và 23 Ả Rập bị thương. 39 Do Thái và 161 Ả Rập bị đưa ra xét xử vì tội tham gia vào sự kiện được biết duới tên Bạo Loạn Nabi Musa. Storrs ra lệnh bố ráp nhà cửa của Weizmann và Jabotinsky: Jabotinsky bị kết tội sở hữu súng và bị kêu án 15 năm tù. Amin Husseini – ‘người chủ mưu’ cuộc bạo loạn, theo lời Storrs – bị kết án 10 năm. Nhưng y đào thoát khỏi Jerusalem. Storrs cách chức Thị trưởng Musa Kazem Husseini, mặc dù người Anh ngây thơ đổ lỗi cho các thành viên Bôn-se-vich Do Thái từ Nga đến gây ra bạo loạn.

Weizmann cấp tiến và Ben-Gurion xã hội chủ nghĩa tiếp tục hy vọng về một tổ quốc sẽ tiến hóa dần dần và một phương cách sống chung với người Ả Rập. Ben-Gurion không chịu công nhận chủ nghĩa dân tộc Ả Rập: ông muốn các công nhân Ả Rập và Do Thái chia sẻ ‘một cuộc sống hài hòa và thân hữu’, nhưng đôi khi ông phải thốt lên, ‘Không thể có giải pháp! Chúng ta muốn xứ sở là của chúng ta. Người Ả Rập muốn xứ sở là của họ!’ Người Zionist giờ bắt đầu tái tổ chức bộ phận Hashomer – Người Canh Gác – cũ của họ thành một tổ chức dân quân hiệu quả hơn, Haganah – Phòng Ngự.

Còn Jabotinsky thì quyết liệt chủ trương khối thịnh vượng chung Do Thái của ông sẽ được thành lập với ‘sự bình đẳng tuyệt đối’ giữa hai dân tộc và không có chuyện người Ả Rập phải dời đi. Khi Benito Mussolini lên nắm quyền lực vào năm 1922, Jabotinsky chế giễu sự tôn sùng Il Duce (Danh hiệu của Mussolini, có nghĩa là ‘Nhà Lãnh Đạo’ – ‘Cái từ vô lý nhất trong tiếng Anh – nhà lãnh đạo (người dẫn đường). Mấy con bò đi theo một con dẫn đường. Nhưng người văn minh không cần có “người dẫn đường”.’

Vua Faisal, niềm hy vọng của các nhà dân tộc chủ nghĩa Ả Rập – bị đọa đày vì người Pháp quyết tâm sở hữu Syria. Người Pháp cưỡng chế đánh đuổi nhà vua và đập tan quân đội còm cõi của ông, hoàn toàn làm kế hoạch của Lawrence sụp đổ. Việc chấm dứt Đại Syria và những  cuộc nổi loạn giúp hình thành nhân dạng quốc gia Palestine.

Vào ngày 24/4/1920, tại Hội nghị San Remo, Lloyd George chấp nhận Quyền Ủy thác để cai trị Jerusalem, dựa vào Tuyên bố Balfour, và bổ nhiệm Sir Herbert Samuel làm cao ủy thứ nhất. Ông đến ga tàu hỏa Jerusalem vào ngày 30/6, long trọng trong lễ phục trắng, mũ cao gắn lông và một thanh kiếm trong 17 tiếng đại bác chào mừng. Sau đó ngài thống đốc quân sự trao lại ông quyền kiểm soát Palestine.

Lúc đầu sự tinh tế điềm đạm của Samuel vỗ yên Palestine sau cú sốc Nabi Musa. Đặt văn phòng Chính quyền tại Augusta Victoria trên Núi Olives, ông thả Jabotinsky, tha tội Amin Husseini, tạm thời hạn chế người Do Thái nhập cư và trấn an người Ả Rập. Các mối quan tâm của người Anh không còn như hồi năm 1917. Curzon, giờ là ngoại trưởng, chống đối sự hậu thuẫn quá mức đối với Zionism và cho những hứa hẹn của Balfour như nước chảy qua cầu. Sẽ có quê nhà cho người Do Thái nhưng nhà nước thì bây giờ và sau này thì chưa. Weizmann cảm thấy bị phản bội nhưng người Ả Rập thậm chí coi điều này là thảm họa. Năm 1921, tổng số 18,500 người Do Thái đã đến Palestine. Trong tám năm sau, Samuel cho phép thêm 70,000 người nữa vào.

Vào mùa xuân 1921, xếp của Samuel là Winston Churchill, ngoại trưởng về vấn đề thuộc địa, đến Jerusalem, tháp tùng có cố vấn của ông là Lawrence xứ Arabia.

CHURCHILL LẬP RA TRUNG ĐÔNG HIỆN ĐẠI: GIẢI PHÁP SHERIF CỦA LAWRENCE

Churchill đã tận hưởng một sự nghiệp với những chuyến phiêu lưu giang hồ, sự thăng tiến đầy tự mãn và thành tựu khó cưỡng. Giờ trong tuổi tứ tuần, viên bộ trưởng thuộc địa đối mặt với tổn thất cao về xương máu và chi phí nuôi đạo quân đồn trú trong một đế chế mới: Iraq đang tiến hành nổi dậy đẫm máu chống ách cai trị của Anh. Vì vậy Churchill triệu tập một hội nghị ở Cairo để giao bớt quyền lực cho các nhà cai trị Ả Rập dưới ảnh hưởng của Anh. Lawrence đề xuất một vương quốc Iraq mới cho Faisal.

Vào ngày 12/3/1920, Churchill hội họp với các chuyên gia Ả Rập của minh tại Khách sạn Semiramis trong khi một cặp sư tử con đang quấn quýt dưới chân họ. ‘Chúng tôi cư ngụ trong một khách sạn đồng đá,’ Lawrence viết. ‘Rất sang trọng, và xa hoa. Mọi người  ở Trung Đông đều có mặt ở đây. Ngay mốt chúng tôi sẽ đến Jerusalem. Chúng tôi như một gia đình hạnh phúc: nhất trí về những vấn đề trọng yếu’ – nói cách khác, Churchill đã chấp nhận ‘giải pháp Sherif’: Lawrence cuối cùng cũng đã lấy lại được  danh dự sau những hứa hẹn mà người Anh đã bội ước đối với vị Sherif và các con trai ông.

Vị Sherif già, Vua Hussein xứ Hejaz, không thể địch nổi những chiến binh Wahabi do thủ lĩnh Saudi Ibn Saud cầm đầu. * Khi con trai ông  Abdullah ra sức đẩy lùi quân Saudi với 1,350 chiến sĩ, họ bị đánh tan tác: Abdullah phải thoát chạy qua phía sau lều, mặc nguyên quần lót, sống sót như một phép lạ. Họ đã dự trù Faisal sẽ cai trị Syria-Palestine và Abdullah sẽ là vua Iraq. Giờ thì Faisal đang chiếm được Iraq, còn Abdullah thì không có gì.

*  Vua Hussein đã già lúc nào cũng bị ám ảnh bởi sự bất hiếu của các con và sự dối trá của người Anh. Trong sứ mạng cuối cùng của mình, Lawrence được phái đi thuyết phục vị vua cay cú hãy thỏa hiệp với sự bá quyền của Anh và Pháp, nếu không sẽ mất sự tài trợ của Anh. Ông khóc, nổi giận và khước từ. Không lâu sau đó, ông bị  Ibn Saud đánh bại và phải thoái vị cho con trưởng lên kế vị, trở thành vua Ali. Nhưng quân Saudi đánh chiếm Mecca, Ali bị tống khứ và Ibn Saudi tự xưng là vua xứ Hejaz, rồi xứ Saudi Arabia. Hai vương quốc này vẫn còn được cai trị bởi gia đình họ – Saudi Arabia và Hashemite Jordan.

Trong khi hội nghị Churchill đang tiến hành ở Cairo, Abdullah dẫn 30 sĩ quan và 200 người Bedouin vào nơi ngày nay là Jordan – về kỹ thuật là bộ phận thuộc Quyền Ủy thác của Anh – để chiếm lấy lãnh địa khiêm nhượng cho mình. Tin tức về hành động ngang ngược này đưa ra cho Churchill như một sự kiện đã rồi. Lawrence khuyên ông nên hậu thuẫn Abdullah. Churchill phái Lawrence đến mời ông hoàng đến Jerusalem gặp ông.

Vào nửa đêm ngày 23/3, Churchill và bà vợ Clementine khởi hành đi Jerusalem bằng tàu hỏa, và được một đám đông nhiệt tình chào đón tại Gaza, hô vang ‘Hoan hô bộ trưởng’ và ‘Đả đảo Do Thái! Cắt cổ Do Thái!’ Churchill, không hiểu gì, vẫy chào một cách thân thiện.

Ở Jerusalem ông dừng chân với Samuel tại Augusta Victoria. Tại đó ông gặp gỡ bốn lần với ông hoàng Abdullah ‘ôn hòa và thân thiện’, người sở hữu đầy hy vọng vùng TransJordan, được Lawrence hộ tống. Abdullah, người hy vọng có được một đế chế Hashemite, cho rằng cách tốt nhất cho người Do Thái và Ả Rập sống chung hòa bình sẽ là một vương quốc dưới quyền ông ta và bổ sung Syria về sau. Churchill giao ông Transjordan miễn là ông công nhận Syria thuộc Pháp và Palestine thuộc Anh. Abdullah miễn cưỡng chấp thuận, do đó Churchill lập một xứ mới: ‘Amir Abdullah ở trong Transjordania,’ ông nhớ, ‘nơi tôi đặt ông ở đó vào một buổi chiều Chủ nhật tại Jerusalem.’ Sứ mạng của Lawrence, người cuối cùng đã dẫn dắt Faisal và Abdullah lên hai ngôi vua, đã hoàn tất. *

*  Sau đó ông lui về viết hồi ký. Ông nói đùa, ‘Tôi thích nói dối hơn nói thật, nhất là về những chuyện liên quan đến tôi.’ Sau đó, ông thay đổi tên, gia nhập không lực và về hưu trong sự quên lãng, và mất trong một tai nạn mô tô vào năm 1935.

Những người Ả Rập Palestine phàn nàn với Churchill rằng ‘Người Do Thái từng là những nguời chủ trương tích cực nhất cho sự huỷ diệt và người Zionist muốn điều khiển thế giới’. Churchill tiếp các cư dân Jerusalem do cựu thị trưởng Musa Kazim al-Husseini cầm đầu, nhưng nhấn mạnh rằng ‘rõ ràng việc người Do Thái nên có được một lãnh thổ lập quốc  là đúng, đó là một sự kiện vĩ đại trong vận mệnh thế giới’.

Cha của Churchill đã dạy ông thấm nhuần lòng ngưỡng mộ đối với người Do Thái và ông thấy Zionism như là một kết cục chính đáng sau hai ngàn năm khổ nhục. Trong thời kỳ khủng bố Đỏ sau khi Lênin thành lập nước Nga Xô-viết, ông tin rằng người Do Thái Zionist là ‘thuốc giải độc’ cho ‘tính cách hiểm độc, càn quấy của chủ nghĩa Bôn-se-vich ‘vốn là một phong trào Do Thái’ do một tên quỷ quái cầm đầu gọi là ‘Do Thái Quốc tế’ (ý chỉ Trotsky, người Cộng sản gốc Do Thái chỉ đứng sau Lênin, chủ trương phong trào Quốc tế Cộng sản: ND).

Trong dịp khánh thành Nghĩa trang Quân đội Anh trên Núi Scopus, Churchill tuyên bố, Jerusalem là nơi ‘đã an nghỉ tro cốt của những vị Kha-lip và các Thập Tự quân và nhà Maccabee!’ Ông thường lui tới Núi Đền bất cứ khi nào có thể. Trước khi quay về Anh, ông còn họp trên Núi Olives khi vị mufti của Jerusalem bất ngờ qua đời. Storrs đã cách chức thị trưởng Husseini vì thế có vẻ phũ phàng nếu cũng lấy đi chức vụ mufti của gia đình. Ngoài ra, người Anh để ý đến uy lực của các Đại gia giống như của tầng lớp quý tộc của họ. Vì vậy Samuel và Storrs sắp xếp chức thị trưởng và chức mufti sẽ được hai gia đình lừng lẫy nhất nắm giữ: những hiềm khích của họ sẽ làm họ trở thành như hai nhà  Montagues và Capulets của Jerusalem (đây là hai dòng họ có mối thù truyền kiếp trong tác phẩm Romeo and Juliet của Shakespeare: ND)

service-pnp-cph-3b10000-3b12000-3b12900-3b12983r

Lawrence xứ Arabia và Amir Abdullah đi theo Winston Churchill qua khu vườn trong  Augusta Victoria vào năm 1921: Bộ trưởng Thuộc địa Anh tạo ra một lãnh địa mới   Transjordan cho Hashemite Abdullah.

CHƯƠNG 48 : QUYỀN ỦY THÁC CỦA ANH 1920–36

 

MUFTI ĐẤU VỚI THỊ TRƯỞNG: AMIN HUSSEINI ĐẤU VỚI RAGHEB NASHASHIBI

Người họ chọn làm thị trưởng là hiện thân của thị dân phong lưu Ả Rập: Ragheb Nashashibi hút thuốc lá có tẩu, cầm gậy và người đầu tiên ở Jerusalem sở hữu một chiếc limousine hiệu Packard màu xanh lá, lái bởi một tài xế người Armenia. Ngài Nashashibi láng mướt thừa kế những rặng cam và những lâu đài của những Đại gia gần đây nhất và giàu có nhất, nói trôi chảy tiếng Pháp và Anh, đã đại diện Jerusalem tại Nghị viện Ottoman.  Từng là người cầm đầu chống Zionism, ông nhận chức vụ một cách nghiêm túc như một lãnh chúa Jerusalem và nhà lãnh đạo Palestine.

Người họ chọn làm đại mufti là người anh em họ giàu có của Nashashibi, Haj Amin Husseini. Storrs giới thiệu người gây rối vụ bạo loạn Nabi Musa với vị cao ủy. Thật bất tiện khi Husseini không thắng trong cuộc bầu cử theo thông lệ, người trúng cử là người của nhà Jarallah. Ông chỉ đứng thứ 4, vì thế người Anh chỉ đơn giản hủy bỏ kết quả và bổ nhiệm ông cho dù ông chỉ mới 26 tuổi và chưa bao giờ tốt nghiệp khóa giáo lý ở Cairo. Samuel sau đó nhân đôi quyền lực chính trị và tài chính của ông bằng cách đỡ đầu cho ông trúng cử làm chủ tịch Hội đồng Hồi giáo Tối cao mới.

Husseini thuộc truyền thống đạo Hồi; Nashashibi thuộc Ottoman. Cả hai đều chống đối Zionism nhưng  Nashashibi tin rằng, đối mặt với quyền lực Anh, người Ả Rập nên thỏa hiệp; Husseini, theo một lộ trình lắt léo và bất thường, rút cục là một tay dân tộc chủ nghĩa ương ngạnh chống lại bất cứ thỏa hiệp nào. Lúc đầu, Husseini đóng vai trò một đồng minh thụ động của Anh, nhưng rốt cục ông sẽ vượt quá tư thế bài Anh của nhiều người Ả Rập để trở thành một người bài Do Thái mang tính chủng tộc và theo đuổi hướng Giải pháp Cuối cùng của Hitler đối với vấn đề Do Thái.

VỊ  MUFTI: TRẬN CHIẾN BỨC TƯỞNG

Vào tháng 6 năm 1925, Samuel quay về London, tuyên bố rằng tinh thần vô pháp đã chấm dứt. Một năm sau, Storrs rời thành phố hòa binh và tốt đẹp hơn lên và được thăng chức thống đốc Cyprus và sau đó thống đốc Bắc Rhodesia, mặc dù ông than thở, ‘Không thể gọi là thăng chức sau khi đã làm việc ở Jerusalem.’ Vị cao ủy mới là Viscount Plumer. Vì ngân sách bị cắt giảm, ông phải giữ gìn trật tự với số binh lính ít hơn thời Samuel. Ông nghĩ hưu vì lý do sức khỏe nhưng vị cao ủy mới vẫn chưa đến khi tình hình chính trị đã có sự cố. Vào ngày Lễ Đền Tội (Yom Kippur) năm 1928, thầy tư tế Do Thái dựng lên một tấm bình phong nhỏ để phân chia khu vực Nam nữđàn ông và phụ nữ đứng cầu nguyện theo đúng luật Do Thái. Bình phong và ghế dành cho người già những năm trước đây đã được cho phép, nhưng bây giờ vị mufti phản kháng cho rằng người Do Thái đã tự tiện thay đổi hiện trạng.

Người Hồi tin tưởng rằng Bức Tường là nơi mà Muhammad đã buộc con linh thú Buraq  mặt người, mà ngài đã cưỡi trong chuyến Dạ Hành. Trong thế kỷ 19, người Ottoman đã sử dụng đường hầm kế cận làm chuồng lừa. Về pháp lý nó đã thuộc về vật cúng cho Abu Maidan (giáo chủ phải Hồi giáo thần bí Sufi) có niên đại thời con trai Afdal của Saladin. Do đó nó là tài sản thuần túy Hồi giáo. Hơn nữa, người Hồi sợ rằng việc người Do Thái đến được Bức Tường sẽ dẫn đến việc họ dựng lại Đền Thờ Thứ Ba trên Haram (đất thiêng) của đạo Hồi. Bức Tường là thánh tích thiêng liêng nhất của Do Thái và người Do Thái Palestine tin rằng những hạn chế của người Anh, và đúng ra không gian chật chội dành để cầu nguyện, là những vết tích của nhiều thế kỷ dưới sự áp bức của người Hồi, minh chứng cho việc tranh đấu Zionism là cần thiết. Người Anh thậm chí cấm thổi shofar – tù và sừng dê – vào những ngày thánh lễ Do Thái.

Ngày hôm sau, người kế nhiệm Storrs làm thống đốc, Edward Keith-Roach, ra lệnh cho cảnh sát bố ráp Bức Tường trong khi người Do Thái đang hành lễ  Yom Kippur, lễ thiêng liêng nhất của năm Do Thái. Cảnh sát xông vào đánh đập người Do Thái đang cầu nguyện và kéo ghế không cho người già cả ngồi. Vị mufti hớn hở nhưng cảnh báo rằng ‘mục tiêu của người Do Thái là nuốt Thánh đường al-Aqsa dần dần’. Vì vậy ông phát động một chiến dịch chống tín đồ Do Thái đang cầu nguyện, ném đá và đánh đập và phát nhạc thật ồn. Đội phòng vệ trẻ Betar của Jabotinsky biểu tình để được đến Bức Tường.

Cả hai bên đều đang thay đổi hiện trạng từ thời Ottoman, vốn không còn phản ánh đúng thực tế. Việc nhập cư và tậu đất đai của người Do Thái dễ hiểu đã gây lo lắng cho người Ả Rập. Kể từ khi có Tuyên bố Balfour, khoảng 90,000 Do Thái đã đến Palestine. Chỉ tính riêng năm 1925, người Do Thái đã mua 44,000 mẫu đất từ các Đại gia. Một thiểu số rất nhỏ người Do Thái theo chủ nghĩa tôn giáo đúng là mơ ước dựng lại Đền Thờ Thứ Ba, nhưng đại đa số áp đảo chỉ đơn giản muốn cầu nguyện tại nơi thiêng liêng của họ. Vị cao ủy mới, Sir John Chancellor, xin vị mufti bán Bức Tường để người Do Thái có thể xây một vuông sân ở đó, làm chỗ cầu nguyện. Nhưng vị mufti từ chối. Đối với người Do Thái, Kotel (Bức Tường) là biểu tượng của sự tự do cầu nguyện và sự tồn tại quê hương của mình, đối với người Ả Rập, linh vật Buraq trở thành biểu tượng của tinh thần dân tộc đối kháng.

Vào mùa hè 1929, vị mufti ra lệnh mở một lối đi khiến Bức Tường Do Thái nằm trong đường lưu thông của người Hồi cho lừa và bộ hành đi qua khi các muezzin kêu gọi đến giờ cầu nguyện và các tin đồ dòng Sufi đọc kinh lớn tiếng lấn át cả tiếng cầu nguyện của người Do Thái. Người Do Thái bị tấn công trong những ngõ vắng gần đó. Khắp Palestine người Do Thái biểu tình dưới khẩu hiệu ‘Bức Tường là Của Chúng Ta’. Chancellor đã đi khỏi khi, vào ngày 15/8, 300 thành viên Zionist biểu tình, do sử gia Joseph Klausner  và những thành viên Betar cầm đầu, tuần hành đến Bức Tường trong im lặng, giơ cao ngọn cờ Zionist và hát hành khúc dưới sự canh gác của cảnh sát Anh. Ngày hôm sau, sau buổi cầu nguyện thứ Sáu, 2,000 người Ả Rập từ al-Aqsa đi xuống và tấn công người Do Thái đang cầu nguyện, đuổi họ ra khỏi Bức Tường và đánh đập bất kỳ ai họ bắt được. Vào ngày 17, một bé trai Do Thái đá bóng bay vào vườn một người Ả Rập và, khi em chạy đến nhặt bóng, liền bị giết chết. Tại tang lễ, các thanh niên Do Thái tấn công Khu Hồi giáo.

Tại buổi cầu nguyện thứ Sáu ngày 23/8, được sự cổ vũ của vị mufti, hàng ngàn tín đồ ùa ra khỏi al-Aqsa tấn công người Do Thái. Vị mufti tìm đủ mọi cách để khích động còn các đối thủ Nashashibi của ông kềm chế đám đông: một số thủ lĩnh Ả Rập quả cảm đứng ra ngăn cản nhưng không có kết quả. Họ tấn công Khu Do Thái, vùng lân cận Montefiore và những khu ngoại ô, tại đó họ tàn sát 31 người Do Thái. Có trường hợp một  hộ 5 người đều bị giết sạch; ở Hebron, 59 người Do Thái bị sát hại. Tổ chức  Haganah, đội dân quân Zionist được thành lập năm 1920, chiến đấu chống trả. Trong toàn xứ Palestine chỉ có 292 cảnh sát Anh, vì thế binh sĩ hỗ trợ được điều tới từ Cairo. Tổng cộng, 131 người Do Thái bị người Ả Rập sát hại, trong khi có 116 người Ả Rập thiệt mạng phần lớn do binh lính Anh bắn.

Những vụ bạo loạn, mà người Ả Rập gọi là Cuộc Vùng dậy Buraq khiến người Anh lúng túng. ‘Tôi không biết ai có thể làm một cao ủy tốt ở Palestine ngoại trừ Thượng Đế,’ Chancellor bảo với con trai mình. Chính sách Balfour đang được xổ chỉ ra. Vào tháng 10 1930, Bạch Thư của Bộ trưởng đề nghị hạn chế người Do Thái nhập cư và rút lại vấn đề lãnh thổ dân tộc Do Thái. Người Zionist  tuyệt vọng. Vụ Vùng dậy Buraq đốt lên ngọn lửa cực đoan ở cả hai bên. Bạo lực và Bạch Thư của Passfield làm mất uy tín của Weizmann quá tin vào người Anh: người Zionist thấy không còn có thể dựa vào Anh và nhiều người quay sang chủ nghĩa dân tộc sắt thép hơn của Jabotinsky. Tại Hội nghị Zionist 17, Jabotinsky công kích Weizmann dù ông đang vận động với thủ tướng Anh Ramsay Macdonald lật ngược Bạch Thư.  Macdonald viết cho ông một bức thư, được đọc lớn trong hội nghị, khẳng định lại Tuyên bố Balfour và mở lại việc nhập cư người Do Thái. Người Ả Rập giờ gọi nó là Hắc Thư. nhưng đã quá muộn để cứu được uy tín Weizmann. Ông mất chức chủ tịch Zionist. Quá thất chí, ông tạm thời quay về với khoa học. Lực lượng Haganah dù còn tập trung vào việc phòng vệ các khu định cư nông thôn, nhưng đã bắt đầu vũ trang. Bực bội với hạn chế này, các người dân tộc chủ nghĩa chủ chiến tách ra và thành lập Irgun Zvai Leumi, Tổ chức Quân sự Quốc gia, do Jabotinsky gây cảm hứng, mặc dù nó còn ở quy mô nhỏ. Jabotinsky bị trục xuất khỏi Palestine vì những bài diễn văn khiêu khích, nhưng vẫn không ngừng được giới trẻ Do Thái ở Palestine và đông Âu tôn sùng. Nhưng ông không phải là người thay thế Weizmann: chính David Ben-Gurion là người xuất hiện như thủ lĩnh của cộng đồng Do Thái đúng lúc vị mufti trở nên thủ lĩnh của người Ả Rập.

Vào tháng 12 1931, vị mufti xuất hiện trên chính trường thế giới khi ông chủ tọa với tư cách nhà lãnh tụ dân tộc không đối thủ toàn Hồi giáo tại Hội nghị Hồi giáo Thế giới trên Núi Đền: đây là giờ phút vinh quang nhất của ông và nó khiến ông say sưa. Ông vẫn chống đối triệt để với bất kỳ thuộc địa Zionist nào ở Palestine, trong khi những đối thủ của ông, Thị trưởng Nashashibi, nhà Dajani và nhà Khalidi lập luận rằng sự hòa giải sẽ là giải pháp tốt đẹp hơn cho người Ả Rập và Do Thái. Vị mufti không khoan nhượng sự chống đối nào và lên án các đối thủ của mình là bọn phản bội phò Zionist và tố cáo dòng họ Nashashibi có lén lút nhiễm huyết thống Do Thái. Nashashibi ra sức làm ông mất chức tại Hội đồng Hồi giáo Tối cao nhưng thất bại. Vị mufti bắt đầu loại trừ những kẻ chống đối mình ra khỏi mọi tổ chức mà ông điều khiển. Người Anh, yếu ớt và phân vân, dựa vào phe cực đoan thay vì phe ôn hòa: năm 1934, vị cao ủy mới, Sir Arthur Wauchope, rút lui sự hậu thuẫn đối với nhà Nashashibi và ủng hộ việc bầu người nhà Khalidi làm thị trưởng. Cuộc tranh giành giữa hai nhà Husseini và Nashashibi càng gay gắt hơn bao giờ. 

Thế giới đang đen tối dần, những  cọc nhọn vươn cao. Sự lớn mạnh của chủ nghĩa Phát xít khiến việc hòa giải dường như đuối sức, và bạo lực không chỉ chấp nhận được mà còn mời gọi. Ngày 30/1/1933, Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng Đức.* Ngày 31/3, chỉ hai tháng sau, vị mufti bí mật đến thăm lãnh sự Đức ở Jerusalem, Heinrich Wolff, để tuyên bố ‘người Hồi Palestine chào đón chế độ mới, hy vọng Phát xít sẽ bành trướng sự lãnh đạo chống dân chủ’; ông nói thêm là ‘người Hồi hy vọng Đức sẽ tẩy chai người Do Thái.’

* Ông được von Papen, vị sĩ quan mà trong năm 1917 đã rất muốn cứu danh tiếng nước Đức ở Jerusalem. Papen, lúc đó là thủ tướng, khuyên Tổng thống Hindenburg bổ nhiệm Hitler, viện lẽ rằng mình và các bạn bè quý tộc có thể kiểm soát Quốc xã. Papen trở thành phó thủ tướng của Hitler nhưng chẳng bao lâu từ chức, trở thành đại sứ Đức ở Istanbul. Ông bị xử tại tòa án Nuremberg, ở tù vài năm rồi mất vào năm 1969.

 

Người Do Thái Âu châu báo động sự lên ngôi của Hitler. Việc nhập cư, vốn đã chậm lại, giờ đã tăng tốc theo cách làm thay đổi mãi mãi cán cân dân số. Năm 1933, 37,000 người Do Thái đến Palestine; 45,000 năm 1934. Đến 1936, ở Jerusalem có 100,000 người Do Thái, so sánh với 60,000 người Ả Rập Cơ đốc và Hồi giáo. Đúng lúc sự gây hấn của Quốc xã và chủ nghĩa bài Do Thái đe doạ châu Âu, và sự căng thẳng ở Palestine tăng lên, *  Sir Arthur Wauchope chủ trì một Jerusalem mới, thủ đô của Thời Hoàng Kim ngắn ngủi của Quyền Ủy thác Anh.

* Khi người Anh xét đến việc hạn chế người Do Thái nhập cư đến Zion, Joseph Stalin đang xây dựng khu Jerusalem riêng của ông. Quan điểm của ông về người Do Thái xung khắc nhau. Trong một bài viết nổi tiếng năm 1913 về quốc tịch, Stalin tuyên bố rằng người Do Thái không phải là một quốc gia mà ‘có tính thần bí, khó nắm bắt, như thuộc về một thế giới khác’. Khi đã nắm quyền, ông ngăn cấm chủ trương bài Do Thái, mà ông gọi là ‘hành động ăn thịt người’, và vào năm 1928, tán thành việc thành lập một quê hương Do Thái thế tục với tiếng Do Thái và tiếng Nga là ngôn ngữ chính thức. Được khánh thành vào tháng 5 1934, xứ Zion của Stalin, vùng tự trị Do Thái, là vùng đất hoang hóa Birobidzhan sát biên giới Trung Hoa. Sau Thế Chiến II và vụ Holocaust, ngoại trưởng của ông, Molotov và những người khác ủng hộ một quê hương Do Thái khác trong vùng Crimea hấp dẫn hơn – một California của Stalin – nhưng ông không tán thành. Vào năm 1948 Birobidzhan chứa 35,000 người Do Thái. Ngày nay thị trấn vẫn còn với một vài ngàn người Do Thái và tất cả bảng hiệu hiện còn viết bằng tiếng Do Thái.

THỦ ĐÔ CỦA WAUCHOPE

Wauchope, một người độc thân giàu có, thích tiệc tùng chiêu đãi. Đi hai bên là vệ sĩ áo tía vung gậy mạ vàng, vị tướng đội mũ lông chào đón khách đến Trụ sở Chính quyền mới trên đồi Evil Counsel, phía nam thành phố, với một tháp canh bát giác, chung quanh là giếng phun nước, và những rặng keo và thông. Lâu đài là một thế giới Anh thu nhỏ với phòng dạ vũ, đèn treo và hành lang cho đội cảnh vệ, phòng ăn, phòng chơi bida, phòng tắm riêng biệt cho khách Anh và khách địa phương – và một nghĩa địa chó độc nhất ở Jerusalem cho một quốc gia yêu chó. Khách khứa mặc lễ phục hoặc mũ cao và áo đuôi tôm. ‘Tiền bạc và xâm banh’, một người nhớ lại, ‘chảy như suối.’

Jerusalem còn thiếu những xa hoa của một thành phố lớn, nhưng vào năm 1930, một khách sạn đẳng cấp thế giới đầu tiên được xây dựng. Khách sạn Vua David được hậu thuẫn bởi các đại gia Do Thái Ai Cập giàu có và nhà tài chính Anh-Do Thái Frank Goldsmith. Ngay lập tức nó trở thành trung tâm phong cách của thành phố, trang trí theo phong cách kinh thánh Assyria, Hittite và Hồi.

Một du khách Mỹ có cảm nghĩ đây chẳng khác Đền Thờ Solomon được tân trang. Khách sạn biến Jerusalem thành một nơi nghỉ dưỡng xa hoa cho nhà giàu Ả Rập ở Lebanon và Ai Cập, mà những gia đình hoàng gia trụy lạc vẫn thường cư ngụ.

Không để bị qua mặt, vị mufti xây dựng khách sạn của mình, Khách sạn Palace, do kiến trúc sư Do Thái thiết kế ngay trên địa điểm của nghĩa trang cổ đại Mamilla.

Jerusalem mới phồn thịnh lên với 132,661 dân cư vào năm 1931, chứng tỏ sự cai trị của người Anh và việc nhập cư của người Zionist đúng là kích thích sự phát triển kinh tế – và làm gia tăng dân số Ả Rập nhập cư: nhiều dân Ả Rập nhập cư vào Palestine hơn người Do Thái và dân số Ả Rập tại Palestine tăng 10 phần trăm, nhanh gấp hai ở Lebanon và Syria. Trong 10 năm, Jerusalem thu hút 21,000 người Ả Rập mới và 20,000 người Do Thái mới.

BEN-GURION VÀ MUFTI: GHẾ SOFA NHÚN XUỐNG

Vị mufti đang ở đỉnh cao uy thế nhưng ông còn tranh đấu để kiểm soát nhiều hơn những thang bậc quan điểm về Ả Rập. Có những người Tây phương cấp tiến, có những người Mác-xit, có những người dân tộc chủ nghĩa thế tục và những người cơ yếu chủ nghĩa Hồi giáo. Đa số người Ả Rập càng ngày càng tin rằng chỉ có cuộc đấu tranh vũ trang mới có thể ngăn chặn được Zionism. Vào tháng 11 1933, cựu thị trưởng Musa Kazem Husseini, người không theo phe với anh em họ của mình vị mufti, dẫn đầu cuộc biểu tình ở Jerusalem làm bùng phát bạo loạn khiến 30 người Ả Rập thiệt mạng. Khi Musa Kazem mất vào năm sau, người Ả Rập mất một chính khách lão thành được mọi người kính trọng.  Ahmed Shuqayri, sau này là một lãnh đạo Palestine, viết: ‘dân chúng khóc thương Musa Kazem rất nhiều, còn Haj Amin (vị mufti) làm nhiều dân chúng rơi lệ.’ Hơn một phần tư triệu người Do Thái đến Palestine trong thập niên thứ hai của thời Ủy thác, gấp hai lần thập niên trước. Người Ả Rập, cho dù là người ưu tú có văn hóa nhất Jerusalem, tốt nghiệp tại Oxford, hoặc là những phần tử cực đoan Hồi giáo thuộc tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo, giờ tắt cả đều cảm nhận rằng người Anh sẽ không bao giờ dừng việc cho nhập cư, cũng không ngăn cộng đồng Do Thái (Yishuv) càng ngày càng tổ chức  tinh vi. Họ đã hết thời gian. Năm 1935, tại đỉnh cao của phong trào nhập cư, có 66,000 người Do Thái đến. Trong thời đại bệnh hoạn đó, khi mà chiến tranh thường được coi là một nghi lễ thanh tẩy quốc gia, thậm chí nhà trí thức Sakakini và người nghệ sĩ  Jawhariyyeh giờ cũng tin rằng chỉ có bạo lực mới có thể cứu vớt được Palestine. Câu trả lời, Hazem Nusseibeh viết, là ‘nổi dậy vũ trang’.

Sự kiện này sẽ do Weizmann đang luống tuổi đương đầu, giờ lại là chủ tịch Zionist, nhưng quyền lực thực sự nằm trong tay Ben-Gurion, gần đây được bầu làm chủ tịch Ban Điều hành Cục Do Thái, quyền hành cao nhất trong cộng đồng Do Thái định cư. Cả hai người đều độc đoán và phong cách trí thức, hiến dâng cho Zionism và nền dân chủ Tây phương. Nhưng tính cách họ đối nghịch nhau.

 Ben-Gurion là một người thuộc tầng lớp lao động cục mịch, được trang bị để lãnh đạo trong chiến tranh và hòa bình. Lập gia đình và có hai con, một người chồng không mãn nguyện, ông có quan hệ ngoài luồng với một phụ nữ Anh mắt xanh, cao ráo ở London. Nhưng ông là một người cô độc trầm ngâm và một chiến lược gia suy tư, luôn ám ảnh với chính nghĩa. Lão gia, biệt hiệu của ông, học tiếng Tây Ban Nha để đọc Cervantes và Hy Lạp để đọc Plato; và khi ông lên kế hoạch lập quốc, ông đọc Clausewitz.

Còn Weizmann là một đức ông, ăn mặc đúng mốt thượng lưu, cảm thấy thoải mái trong những phòng khách lâu đài hơn là trong những nông trại nắng cháy vùng Galilee. Weizmann biết rằng, không giống Ben-Gurion, mình không cắt ra từ khuông đúc để làm một tư lệnh, nhưng ông nửa kính trọng nửa khinh thị tính hiếu chiến của chàng trai trẻ tuổi hơn mình. Trong hồi ký 600 trang của ông, ông chỉ nhắc đến tên Ben-Gurion đúng hai lần.

Ben-Gurion thoạt đầu là một người xã hội chủ nghĩa trưởng thành trong phòng trào lao động và không hoàn toàn đánh mất niềm tin rằng một Palestine mới nên được tạo dựng qua sự hợp tác của giai cấp lao động Do Thái và Ả Rập. Ben-Gurion có thể đã mơ về một nhà nước Do Thái nhưng điều đó dường như không hoàn toàn chắc chắn và xa vời. Vì ông đánh giá rằng phong trào dân tộc Ả Rập sinh ra gần như cùng lúc với phong trào phục quốc Do Thái mang tính chính trị, nên ông tin rằng liên đoàn Ả Rập và Do Thái là phương cách tốt nhất người Do Thái có thể hy vọng tại thời điểm đó. Cả ông và vị mufti đều thăm dò nhau với những kế hoạch cho một nhà nước cùng chia sẻ: khi nhìn lại, một thỏa thuận vẫn còn khả thi. Vào tháng 8 1934, Ben-Gurion bắt đầu gặp Musa al-Alami, * một luật sư làm việc cho Anh, và George Antonius, nhà văn – cả hai đều là những cố vấn ôn hòa của vị mufti. Ben-Gurion đề nghị hoặc một chính quyền chia sẻ Do Thái-Ả Rập hoặc một thực thể Do Thái bên trong một liên đoàn Ả Rập sẽ bao gồm cả Transjordan và Iraq. Chắc chắn, Ben-Gurion lập luận, Palestine giống như một ghế sofa: có đủ chỗ cho cả hai Vị mufti ấn tượng nhưng không hợp tác. Sau này Alami suy nghĩ rằng vị mufti và Ben-Gurion chia sẻ cùng một chủ nghĩa dân tộc khắt khe nhưng nhà lãnh tụ Do Thái mềm dẻo và khéo léo hơn nhiều. Ông hối tiếc là người Ả Rập không sản sinh một Ben-Gurion của riêng mình.

Trong khi đó, vị mufti và các đồng sự của đang mất quyền điều khiển phong trào của mình.

Vào tháng 11 1935, một thầy giảng Syria tên Sheikh Izzat al-Din al-Qassam, người giữ chức vụ nhỏ trong toà án giáo luật của vị mufti ở Haifa và liên tục hối thúc ông bác bỏ mọi hòa giải chính trị, nổi dậy chống người Anh. Y còn cực đoan còn hơn cả vị mufti, một người cơ yêu chủ nghĩa thuần túy tin tưởng vào tính linh thiêng của việc tử đạo, một người tiên phong của al-Qaeda và nhóm Jihadist ngày nay. Giờ thì ông cầm đầu 13 mujahid (chiến binh thánh chiến) của tổ chức Black Hand của y tiến vào vùng đồi tại đó vào ngày 20/11, y bị dồn vào đường cùng bởi 400 cảnh sát Anh và bị giết chết. Hành động tử đạo của Qassam thúc đẩy vị mufti đến gần hơn với cuộc nổi dậy. Vào tháng 4 1936, người kế nhiệm Qassam tiến hành một chiến dịch bên ngoài Nablus làm chết 2 người Do Thái – nhưng phóng thích một người Đức tuyên bố mình là một Quốc xã ‘vì Hitler’. Đây là ngòi nổ. Tổ chức Irgun, các người dân tộc chủ nghĩa Do Thái, giết chết 2 người Ả Rập để trả đũa. Khi vụ bắn giết nổ ra, Sir Arthur Wauchope tỏ ra mình hoàn toàn không  đủ năng lực để đáp ứng. Một sĩ quan trẻ nhận xét rằng ông ta ‘không biết làm gì.

1280px-Jerusalem_church_leaders_1922

Cao ủy Herbert Samuel (ngồi, ngay giữa) và thống đốc Jerusalem Storrs (đứng, thứ tư từ phải) tiếp các chức sắc tôn giáo của thành phố để chào mừng sự kiện Ánh giải phóng Jerusalem năm 1924.

8

Sherif của Mecca, Vua xứ Hejaz, Hussein gặp gỡ nhà lãnh đạo dân tộc Palestine buổi đầu Musa Kazem Husseini (trái) ở Jerusalem.

9

Vị sherif không hề tha thứ cho các đứa con nhiều tham vọng của mình:  Faisal (trái),  thoạt đầu là vua xứ Syria sau đó Iraq và Abdullah (phải), sau này là vua xứ Jordan (trong hình trên ở Jerusalem năm 1931) vì việc chiếm lấy những vương quốc cho riêng mình. 

11

David Ben-Gurion, hoạt động trong công tác tìm chỗ ở mới cho người Do Thái trong năm 1924, nổi lên như nhà lãnh đạo Zionist kiên định tương tự như vị Mufti Amin al-Husseini, nổi lên như một nhà lãnh đạo dân tộc Ả Rập: trong hình trên ông dẫn đầu đám rước Nabi Musa hàng năm, một đại lễ Hồi giáo ở Jerusalem, trên lưng ngựa vào năm 1937.

CHƯƠNG 49: CUỘC NỔI DẬY Ả RẬP 1936–45

 

SU KHỦNG BỐ CỦA VỊ MUFTI

Một đêm mát mẻ ở Jerusalem vào đầu năm 1936, ‘những phát súng lác đác vang lên trong bầu trời chiều quang đảng’ và Hazem Nusseibeh nhận biết rằng ‘cuộc nổi dậy vũ trang đã bắt đầu’. Cuộc nổi dậy leo thang dần dần. Đến tháng 4 năm đó, người Ả Rập tàn sát 16 người Do Thái ở Jaffa. Các đảng phái ở Palestine lập thành Ủy ban Ả Rập Cấp Cao dưới sự lãnh đạo của vị mufti và kêu gọi một cuộc đình công toàn quốc nhanh chóng thoát khỏi sự kiểm soát của mọi người. Vị mufti tuyên bố đây là một trận chiến đấu thiêng liêng và gọi lực lượng mình là Quân đội Thánh Chiến khi những người tình nguyện bắt đầu tham gia chống người Anh và Do Thái từ Syria, Iraq và Transjordan.

Vào ngày 14/5, hai người Do Thái bị bắn trong Khu Do Thái, và vị mufti lên giọng, ‘Người Do Thái đang ra sức trục xuất chúng ta ra khỏi đất nước chúng ta, sát hại con cái chúng ta và phóng hỏa nhà cửa chúng ta.’ Hai ngày sau, các tay súng Ả Rập giết chết 3 người Do Thái trong rạp chiếu bóng Edison.

Khu định cư Yishuv bắt đầu hoảng loạn, nhưng Ben-Gurion theo đuổi chính sách tự kềm chế. Trong khi đó các bộ trưởng Anh giờ đây truy vấn lại toàn bộ cơ sở của Quyền Ủy thác và ủy nhiệm cho Earl Peel, một cựu bộ trưởng trong nội các, có nhiệm vụ báo cáo tình hình. Vị mufti kêu gọi hủy bỏ đình công vào tháng 10 1936, mặc dù ông từ khước nhìn nhận Peel. Nhưng Weizmann dỗ ngọt các ủy viên. Trước sự khăng khăng của Abdullah vị mufti xác nhận rằng người Palestine đòi hỏi độc lập, hủy bỏ Tuyên bố Balfour và, một cách đáng ngại, trục xuất người Đó Thái.

Tháng 7 1937, Peel đề xuất giải pháp hai-nhà nước, việc chia Palestine thành hai vùng,  một vùng Ả Rập (chiếm 70 phần trăm xứ sở) nhập vào Transjordan của Amir Abdullah và một vùng Do Thái (20 phần trăm diện tích). Thêm vào đó, ông đề nghị chuyển 300,000 dân Ả Rập vào vùng Do Thái. Jerusalem sẽ duy trì là một thực thể đặc biệt dưới quyền kiểm soát của Anh. Người Zionist chấp nhận – họ đã biết rằng mình sẽ không hề được chia phần của Jerusalem. Weizmann cũng không bất mãn với kích cỡ nhỏ bé của thực thể Do Thái, ngẫm nghĩ rằng ‘vương quốc Vua David con nhỏ hơn.’

Peel phàn nàn rằng, trái với người Zionist, ‘kể từ năm 1919 không hề có nhà lãnh đạo Ả Rập nào cho rằng hợp tác với người Do Thái là điều khả thi’. Chỉ có Abdullah xứ Transjordan là hậu thuẫn nhiệt tình kế hoạch của Peel và, khi nghĩ lại, điều này ắt hẳn đã ngăn cản xảy ra sự kiện Israel như tình trạng hiện nay nhưng vào thời điểm đó, mọi người Palestine  đều sôi máu trước ý tưởng của nhà ngoại giao Anh tạo ra một nhà nước Do Thái: cả vị mufti lẫn đối thủ Nashashib của ông đều bác bỏ.

Cuộc Nổi dậy bùng phát lần nữa, nhưng lần này, vị mufti chủ trương và tổ chức bạo lực; ông dường như quan tâm đến việc sát hại các đối thủ Palestine của mình hơn là người Anh và Do Thái. Vừa dùng món ưa thích là súp đậu lăng, vị mufti, lúc nào cũng có các vệ sĩ gốc Sudan theo truyền thống kề bên, xử sự như một ông trùm Mafia khi ông ra lệnh những vụ ám sát đến nỗi trong hai năm Huynh đệ tương tàn ông giết sạch  nhiều đồng bào tử tế và ôn hòa nhất của mình. Chín ngày sau khi Peel đến, vị mufti đến thăm vị tổng lãnh sự Đức để bày tỏ tình cảm của mình đối với chủ nghĩa Quốc xã và tỏ muốn hợp tác. Ngày hôm sau, người Anh cổ gắng bắt giữ ông nhưng ông trốn trong điện thờ al-Aqsa.

Người Anh không dám xông vào Điện thờ. Thay vào đó, họ bảo vây Husseini trên Núi Đền, lên án ông là chủ mưu vụ Nổi dậy. Nhưng không phải toàn thể băng đảng Ả Rập đều nằm dưới quyền điều khiển của ông: những người thánh chiến theo phe Qassam cũng hăng say giết bất kỳ người Ả Rập nào bị nghi là hợp tác với chính quyền Anh. Không kém gì một cuộc nội chiến tàn bạo đã xảy ra giữa những người Ả Rập. Giờ có thể nói vị mufti đã làm rơi lệ nhiều gia đình.

Thoạt đầu hậu thuẫn Vụ Nổi dậy, sau đó, Ragheb Nashashibi chống đối vị mufti vì tính cách khủng bố và chiến lược của ông ta. Thế là biệt thự của ông bị hoả lực súng máy cày nát; một người em họ nhỏ bị giết trong lúc đang xem đấu bóng. Khi Fakhri Bey Nashashibi, cháu của ông, lên án vị mufti có máu độc đoán hủy diệt, bản án tử của anh được đăng trên mặt báo: sau đó anh bị ám sát ở Baghdad. Nashashibi vũ trang những người theo mình, được biết dưới danh hiệu ‘đơn vị  Nashashibi’ hay ‘đơn vị hòa bình’, và họ đã chiến đấu với phe mufti. Vật đội đầu Ả Rập trở thành biểu tượng các phe cánh trong cuộc Nổi dậy. Phe Husseini đội khăn ca rô; phe Nashashibi đội mũ đỏ thẫm hòa giải. Vị mufti dựng những tòa án đặc biệt để xử những kẻ phản bội và ban hành tem về  nổi loạn.

Ở Jerusalem, cuộc Nổi dậy được chỉ huy bởi Abd al-Kadir Husseini, vị tư lệnh 30 tuổi của Quân đội Thánh Chiến. Anh là con trai của Musa Kazem Husseini quá cố (anh sử dụng tên chiến tranh là Abu Musa), và đã nhận được sự giáo dục tốt nhất tại trường Anglican Bishop Gobat trên Núi Zion. Anh đã dùng bài diễn văn tốt nghiệp của mình tại Đại học Cairo để lên án sự lừa bịp của người Anh và âm mưu của người Zionist. Sau khi bị trục xuất khỏi Ai Cập, anh tổ chức Đảng Ả Rập Palestine, biên tập tờ báo của nó và thành lập, dưới vỏ bọc hướng đạo sinh, lực lượng dân quân Bàn Tay Xanh Lá của mình, sau này trở thành cánh quân sự của đảng.

Ở nhà anh là một ông lớn lịch lãm với hàm râu mép viết chì và bộ vét Anh nhưng ở trong môi trường của mình anh rong ruổi, cưỡi ngựa, bắn súng, chiến đấu. Anh thường làm mất mặt các lực lượng thuộc địa chung quanh Jerusalem. Anh bị thương vào năm 1936 trong một trận đánh chống xe tăng Anh gần Hebron nhưng sau khi được chữa lành ở Đức, anh trở lại chiến đấu tiếp tục từ căn cứ của mình ở ngôi làng của John the Baptist, Ein Kerem. Trong thành phố, anh tổ chức vụ ám sát cảnh sát trưởng Anh. Bị thương lần nữa trong một cuộc oanh kích của Không lực Hoàng gia Anh, Husseini  được những người ngưỡng mộ xem như một hiệp sĩ Ả Rập xa lánh chốn phồn hoa để chiến đấu với các nông dân Ả Rập chống lại sự xâm nhập của bọn ngoại đạo – nhưng kẻ thù Palestine xem anh như một trong những tư lệnh tệ nhất của vị mufti, vì các bộ hạ của anh khủng bố làng mạc nào không hậu thuẫn cho phe Husseini.

Vào ngày 26/9/1937, ủy viên quận Galilee của Anh,  Lewis Andrews, bị ám sát. Vào ngày 12, vị mufti trốn thoát khỏi Jerusalem, ngụy trang giả đàn bà, một lối thoát hèn hạ làm yếu đi quyền lực của ông ở Palestine. Trong chốn lưu vong ở Lebanon, ông lãnh đạo các chiến dịch trong một cuộc chiến vẫn còn đang leo thang. Ông cưỡng chế không thương xót sự tùng phục cá nhân mình và những chính sách triệt để không khoan nhượng

Người Anh chiến đấu để gìn giữ Palestine: Nablus, Hebron, những vùng lãnh thổ Galilee – và thậm chí họ mất Thành phố Cổ trong những khoảng thời gian ngắn. Người Anh tuyển mộ những lực lượng hỗ trợ Do Thái từ Haganah để gia nhập bộ phận gọi là Cảnh sát Định cư Do Thái, nhưng lực lượng này cũng ít khi bảo vệ được những ngôi làng ở xa. Những người dân tộc chủ nghĩa Zionist bất mãn trước chính sách kềm chế của Ben-Gurion. Tổ chức Irgun Zvai Leumi, Tổ chức Quân sự Quốc gia, chỉ huy động được khoảng 1,500 người lúc bắt đầu cuộc Nổi dậy, đáp lại những vụ tấn công Ả Rập bằng những hành động tàn bạo đối với dân thường Ả Rập, ném lựu đạn vào các quán cà phê ở Jerusalem. Vào Chủ nhật Đen tháng 11 1937, họ phát động những vụ đánh bom phối hợp, khiến Ben-Gurion và Weizmann khiếp đảm, nhưng các người xin gia nhập Irgun lũ lượt đổ về. Ngay khi các phần tử ôn hòa Ả Rập bị tiêu diệt bởi bọn vô lại của vị mufti, cuộc Nổi dậy cũng phá hủy niềm tin của bộ phận người Do Thái chủ trương hòa giải như Judah Magnes, hiệu trưởng người Mỹ của Đại học Hebrew, chủ trương một nhà nước hai quốc gia với một quốc hội lưỡng viện gồm Do Thái và Ả Rập và không có thực thể Do Thái nào cả. Sự tự kềm chế của Ben-Gurion chẳng bao lâu đuối sức và giờ người Anh cởi bao tay ra và đè bẹp người Ả Rập bởi tất cả và bất cứ phương tiện nào: họ trừng phạt tập thể làng mạc và có lúc hủy diệt cả một vùng lân cận Jaffa. Vào tháng 6 1937, họ áp dụng án tử hình cho bất kỳ ai mang vũ khí.

Vào tháng 10, Sir Charles Tegart, người đã giữ gìn trật tự một cách nghiêm nhặt ở Calcutta (Ấn Độ) trong 30 năm, đến Jerusalem. Ông xây dựng 50 ‘đồn Tegart’, dựng hàng rào an ninh quanh các đường biên giới và đảm nhiệm việc chống sự nổi dậy và phản gián, lập ra các Trung tâm Điều tra Ả Rập. Tegart  điều hành một trường ở tây Jerusalem để huấn luyện những nhân viên tham vấn cách tra tấn nghi can – kế cả kỹ thuật ‘thùng nước’ trong đó tù nhân bị đổ nước vào mũi từ một vòi nước. Một sĩ quan RAF (Không quân Hoàng gia Anh), Arthur Harris – sau này nổi tiếng trong vụ ‘Oanh tạc Dresden’ *- giám sát các cuộc không kích làng mạc nổi dậy. Nhưng khi cuộc khủng hoảng với Hitler phát triển ở châu Âu, người Anh không thể đem đủ quân số để tiêu diệt phe Nổi dậy, vì thế họ cần sự hỗ trợ của Do Thái nhiều hơn.

* Vụ Oanh tạc Dresden là vụ Anh Mỹ bỏ bom vào thành phố công nghiệp Dresden của Đức trong thế chiến II. 722 oanh tạc cơ hạng nặng của Anh và 527 của Mỹ bỏ hơn 3,900 tấn bom, giết hơn 20,000 dân thường vô tội, được coi là tội ác chiến tranh, gây tai tiếng cho Đồng Minh.

 Một chuyên gia chống nổi dậy trẻ tuổi có tên Orde Wingate được gửi đến Jerusalem tại đó ông được mời ở cạnh Cao Ủy Wauchope. Wingate nhận xét thấy rằng Wauchope ‘nghe theo lời khuyên của mọi người nên không nắm bắt được tình hình. Ông đề nghị huấn luyện các chiến sĩ Do Thái và mang sự nổi dậy đến cho bọn nổi dậy. Ông sẽ trở thành phiên bản Zionist của Lawrence – Weizmann gọi ông là ‘Lawrence của Judaea’. Thật tình cờ, hai chuyên gia Ả Rập người Anh này lại là anh em họ.

ORDE WINGATE VÀ MOSHE DAYAN: SỰ THẤT THỦ CỦA THÀNH PHỐ CỔ

Là con trai của một đại tá thuộc địa giàu có với sứ mạng phúc âm là cải đạo người Do Thái, được nuôi dưỡng trên Kinh thánh và đế chế, Wingate nói trôi chảy tiếng Ả Rập, và, như Lawrence, anh được nổi tiếng nhờ chỉ huy những lính trừ bị Ả Rập – một đơn vị trong Lữ đoàn Đông Ả Rập ở Sudan. Nhưng khi đến Jerusalem ông như lột xác vì ấn tượng trước năng lực của những Zionist, và ghê tởm trước những chiến thuật hù dọa của vị mufti và  thái độ bài Do Thái của các sĩ quan Anh: ‘Mọi người đều chống Do Thái,’ ông tuyên bố, ‘vậy thì tôi sẽ ủng hộ họ!’

Wingate thanh tra các binh lính Anh và các nông trại bị bao vây. Ngay giữa đêm khuya khoắt, họ thường được một nhân vật phi thường đột xuất thăm viếng. Lúc nào cũng trang bị đến tận răng, Đại úy Wingate 31 tuổi, với cặp mắt xanh thẫm xuyên thấu, mũi khoằm và trông khắc khổ, xa xăm của một học giả, đến bằng chiếc Studebaker kín mít chứa đầy vũ khí, bản đồ, súng trường Lee Enfield, lựu đạn Mills – và một cuốn Thánh kinh. Wingate xác định rằng ‘người Do Thái sẽ cho ta những quân nhân thiện chiến hơn chúng ta.’ Vào tháng ba 1938, tư lệnh Anh Sir Archibald Wavell, ấn tượng trước cá tính mạnh mẽ này, ra lệnh cho Wingate huấn luyện các lực lượng đặc biệt Do Thái và bố trí những lực lượng này được gọi là  Đội Biệt kích Đêm chống bọn nổi dậy.

Đặt trụ sở trong Khách sạn Fast, gần Cổng Jaffa, Wingate học nói tiếng Do Thái trôi chảy và sớm được biết là ‘Người Bạn Lớn’ của Zionist – nhưng người Ả Rập xem như kẻ thù, còn các sĩ quan đồng nghiệp Anh thì xem ông như tên lập dị luôn tất bật. Dời ra ngoài Trụ sở Chính quyền, ông cất nhà ở Talpiot sống với cô vợ Lorna, ‘trẻ và xinh xắn như búp bê bằng sứ. Người ta khó rời mắt khỏi nhìn cô’, Ruth Dayan nhớ lại. Ruth Dayan là vợ của Moshe Dayan, con trai 22 tuổi của những người nhập cư Nga, sinh ra tại khu định cư Do Thái đầu tiên ở thuộc địa, đã bí mật gìa nhập Haganah và đang phục vụ trong Lực lượng Cảnh sát  Định cư Do Thái.

Wingate là một người mảnh khảnh, luôn kè kè một khẩu súng lục to nặng bên hông, mang theo một cuốn Kinh thánh nhỏ. Trước khi bước vào hành động, ông thường đọc một đoạn trong Kinh thánh có liên quan đến nơi họ chuẩn bị tác chiến. Ông cầm đầu Đội Biệt kích Đêm chống lại các tay súng Ả Rập. Chúng buộc phải nhận thức được rằng chúng không còn có thể tìm được con đường an toàn cho mình: chúng chắc chắn bị đánh chụp trong một cuộc đột kích bất ngờ ở bất cứ nơi đâu. Trong cuộc Nổi dậy và sau đó trong Thế Chiến II, người Anh huấn luyện 25,000 quân trừ bị Do Thái, kể cả các đơn vị biệt kích khác do Yitzhak Sadeh, một cựu sĩ quan Hồng quân Nga đã trở thành tham mưu trưởng của Haganah, cầm đầu. Wingate thường động viên họ, ‘Các anh là những người con của Maccabee. Các anh là những chiến sĩ đầu tiên của quân lực Do Thái!’ Sự tinh nhuệ và tinh thần của họ sau đó tạo thành Lực lượng Phòng vệ Israel.

Vào tháng 9 1938, Hiệp ước Munich của Thủ tướng Neville Chamberlain, làm hạ nhiệt mức gây hấn và cho phép ông ta chia cắt Czechoslovakia, giải phóng được binh sĩ Anh: 25,000 quân chi viện đến Palestine. Vậy mà ở Jerusalem, phe nổi dậy đột kích thành công một trận táo vào ngày 17/10, họ đánh chiếm toàn bộ Thành phố Cổ, phong tỏa các cổng, đánh đuổi binh sĩ Anh và thậm chí phát hành tem bưu chính có đóng dấu al-Quds (tức Jerusalem theo cách gọi của người Ả Rập). Wasif Jawhariyyeh, người chơi đàn oud sống gần Cổng Jaffa, tự hào trông thấy một lá cờ Ả Rập bay phấp phới từ Tháp David. Nhưng vào ngày 19/10, quân Anh tấn công ào ạt các cổng và chiếm lại thành phố, giết chết 16 tay súng.

Mặc dù ông  là một người hùng đối với người Do Thái, các cuộc hành quân của Wingate bị  các sĩ quan Anh coi là không có lợi ích thiết thực.

Tư lệnh sư đoàn của Wingate, Thiếu tướng Bernard Montgomery, không thích sự bừa bãi quân sự và tính bè phái đối với Zionist của ông. Montgomery nói với Dayan rằng ‘Wingate có tâm trí không ổn định’. Wingate bị gọi về bộ chỉ huy Anh ở Jerusalem. Giờ người Anh đã có đủ lực lượng, họ không còn cần biệt kích Do Thái.

‘Tôi không cần biết các bạn là Do Thái hay không,’ Montgomery bảo với đại diện của cả hai bên. ‘Trách nhiệm của tôi là duy trì luật pháp và trật tự. Và tôi dự tính sẽ làm thế.’ Montgomery tuyên bố cuộc Nổi dậy ‘cuối cùng đã bị đập tan’. 500 người Do Thái  và 150 người Anh đã bị giết, nhưng cuộc Nổi dậy đã lấy đi sự tổn thất khủng khiếp nhất cho xã hội Palestine : một phần mười nam thanh niên trong độ tuổi 20-60 đã bị thiệt mạng, bị thương hoặc bị lưu vong. 146 người bị kết án tù, 50,000 người bị bắt và 5,000 ngôi nhà bị phá hủy. Khoảng 4,000 người bị giết chết, nhiều người trong số đó bởi các đồng bào Ả Rập của mình. Cũng vừa đúng lúc, vì các lực lượng Anh chắc chắn chẳng bao lâu sẽ cần có mặt ở châu Âu.

Neville Chamberlain, mà cha ông đã đề xuất giải pháp lãnh thổ Uganda cho người Do Thái, quyết định đảo ngược Tuyên bố Balfour. Nếu xảy ra chiến tranh, người Do Thái không có lựa chọn nào khác trừ hậu thuẫn người Anh đánh Quốc xã. Nhưng người Ả Rập có được sự chọn lựa thực sự. ‘Nếu chúng ta phải xúc phạm một bên,’ Chamberlain nói, ‘chúng ta thà xúc phạm người Do Thái hơn là Ả Rập.’ Vì vậy ông mời cả hai bên phát biểu trước một hội nghị ở London. Người Ả Rập cử vị mufti làm trưởng đoàn, nhưng vì người Anh không đồng ý sự hiện diện của ông, nên em họ của ông là Jamal al-Husseini thay thế vị trí ông; Nashashibi cầm đầu phe ôn hòa. Nhóm Husseini cư ngụ tại Dorchester, nhóm Nashashibis tại Carlton. Weizmann và Ben-Gurion đại diện những người Zionist. Vào ngày 7/2/1939, Chamberlain phải khai mạc hội nghị tại Cung điện St James hai lần vì người Ả Rập và Zionist không chịu thương lượng trực tiếp.

Chamberlain hy vọng thuyết phục được người Zionist đồng ý ngưng nhập cư, nhưng không đạt kết quả. Vào ngày 15/3 sự trống rỗng trong lời hứa xuống thang của Hitler được phơi bày khi vị Führer xâm chiếm phần còn lại của Czechoslovakia. Hai ngày sau, Malcolm MacDonald, bộ trưởng thuộc địa, ban hành Bạch Thư đề xuất việc hạn chế người Do Thái mua đất đai và hạn chế số người nhập cư chỉ còn 15,000 mỗi năm trong 5 năm, mà người Ả Rập sau đó sẽ phủ quyết, Palestine sẽ được độc lập trong vòng 10 năm và không có vấn đề nhà nước Do Thái. Đây là đề nghị tốt nhất mà người Palestine nhận được từ người Anh hoặc bất kỳ nước nào khác trong suốt thế kỷ 20, nhưng vị mufti, thể hiện sự bất tài chính trị và sự ương ngạnh ta đây, bác bỏ nó từ chốn lưu vong của mình ở Lebanon.

Ben-Gurion chuẩn bị lực lượng dân quân Hagamah để chống lại người Anh. Người Do Thái nổi dậy ở Jerusalem. Vào ngày 2/6, Irgun đánh bom ngôi chợ bên ngoài Cổng Jaffa, giết 9 người Ả Rập. Vào ngày 8, ngày cuối cùng ở lại Jerusalem trong chuyến thăm vào dịp Phục Sinh, một du khách Mỹ trẻ, John F. Kennedy, con của vị đại sứ Mỹ ở London, nghe 14 vụ nổ do Irgun thực hiện, phá sập hệ thống điện trên khắp Thành phố Thánh. Nhiều người giờ đây chia sẻ với quan điểm của Montgomery cho rằng ‘Do Thái sát hại Ả Rập và Ả Rập sát hại Do Thái và tình trạng đó chắc chắn sẽ tiếp tục 50 năm tới.

VỊ MUFTI VÀ HITLER: THẾ CHIẾN Ở JERUSALEM

Khi Adolf Hitler thắng lợi như chẻ tre, vị mufti của Jerusalem thấy đây là cơ hội để giáng trả những kẻ thù chung của họ, người Anh và Do Thái. Pháp đã sụp đổ, Wehrmacht (quân lực Đức) đang ồ ạt tiến về Moscow, và Hitler bắt đầu kế hoạch tàn sát 6 triệu người Do Thái trong Giải pháp Cuối cùng của ông ta. Vị mufti đã chuyển về Iraq để chỉ đạo những mưu mô chống Anh nhưng, sau khi tổ chức thêm những thất bại, y phải tháo chạy đến Iran và rồi, bị đặc vụ Anh truy lùng, y lao vào một chuyến phiêu lưu cuối cùng mang y đến Ý. Ngày 27/10/1941, Benito Mussolini tiếp y tại Palazzo Venetia ở La Mã, hậu thuẫn việc thành lập nhà nước Palestine: nếu bọn Do Thái muốn có xứ sở riêng, ‘chúng nên thành lập Tel Aviv ở Mỹ’, Il Duce nói. ‘Chúng tôi có ở đây nước Ý 45,000 người Do Thái và sẽ không có chỗ nào cho chúng ở châu Âu.’ Vị mufti – ‘rất hài lòng về cuộc tiếp kiến’ – bay đến Berlin.

Lúc 4:30 chiều ngày 28/11, vị mufti được Adolf Hitler tiếp kiến: y đang căng thẳng vì người Xô-viết đã chặn đứng đà tiến của người Đức ở ngoại vi Moscow. Người thông ngôn của vị mufti đề nghị với Führer rằng, theo truyền thống Ả Rập, cà phê nên được phục vụ. Hitler bực dọc trả lời ông không uống cà phê. Vị mufti cật vấn có vấn đề gì thế. Viên thông ngôn trấn an vị mufti,  nhưng giải thích với Führer rằng khách còn chờ đợi cà phê. Hitler trả lời rằng ngay cả Tư lệnh Cao cấp còn không được phép uống cà phê khi có sự hiện diện của ông: sau đó ông rời phòng, trở lại với một cận vệ SS mang đến một chai limonade.

Husseini nhờ Hitler hậu thuẫn ‘sự độc lập và thống nhất của Palestine, Syria và Iraq’ và việc thành lập một Quân đoàn Ả Rập để sát cánh cùng với Wehrmacht. Vị mufti nói với vị chủ nhân của thế giới rằng mình đang mặc cả không chỉ vì Palestine mà còn cho đế chế Ả Rập dưới sự cai trị của ông ta.

Hitler vui sướng khi ông ta và vị mufti có chung kẻ thù: ‘Đức đang lao vào một cuộc chiến sống chết với hai thành lũy của quyền lực Do Thái – Anh và Liên bang Xô-viết’ – và tất nhiên sẽ không có nhà nước Do Thái ở Palestine. Đúng ra Hitler ám chỉ đến Giải pháp Cuối cùng cho vấn đề Do Thái của ông ta: ‘Đức quyết tâm, từng bước một, sẽ yêu cầu hết quốc gia Âu châu này đến quốc gia Âu châu khác giải quyết vấn đề Do Thái của nước mình.’ Ngay sau khi ‘quân Đức tiến đến cửa ngõ phía nam Caucasus’, Hitler nói, ‘mục tiêu sau đó của Đức sẽ là hủy diệt yếu tố Do Thái còn tồn tại ở khu vực Ả Rập.’

Tuy nhiên, chỉ khi nào Nga và Anh bị đánh bại, bước đi đầy tham vọng của vị mufti đối với toàn Trung Đông còn phải đợi. Hitler nói ông ‘phải suy nghĩ và ôn tồn cân nhắc như một người biết lý lẽ’, cẩn thận không làm mất lòng chính phủ Vichy Pháp bạn đồng minh của mình. ‘Chúng tôi lo lắng cho ngài,’ Hitler bảo với Husseini. ‘Tôi biết chuyện đời của ngài. Tôi theo dõi với mối quan tâm chuyến đi nguy hiểm của ngài. Giờ tôi sung sướng có ngài bên chúng tôi.’ Sau đó, Hitler khen tặng cặp mắt xanh và mái tóc hung đỏ của Husseini, xác quyết rằng y có dòng máu Aryan.

Vậy là vị mufti chia sẻ với Hitler không chỉ mối thâm thù có tính chiến lược với người Anh mà còn chủ nghĩa bài Do Thái mang tính chủng tộc đến mức độ chết người nhất – và thậm chí trong hồi ký viết khá lâu sau đó, y còn nhớ rằng Reichführer-SS Heinrich Himmler, mà y rất thích, thổ lộ với y trong mùa hè 1943 là Đức Quốc xã đã ‘hủy diệt hơn 3 triệu người Do Thái.’ Vị mufti lạnh lùng huênh hoang rằng mình hậu thuẫn bọn Quốc xã ‘vì tôi từng tin và vẫn còn tin rằng nếu Đức thành công, sẽ không còn bóng dáng tên Zìonist nào ở lại Palestine’.

Người Do Thái ắt hẳn thối chí khi biết tin y có mặt ở Berlin. Quan điểm của vị mufti là không thể bào chữa được – nhưng thật sai lầm khi sử dụng nó để  cho rằng các người dân tộc chủ nghĩa Ả Rập đều theo Hitler bài Do Thái. Wasif Jawhariyyeh, người như chúng ta đã biết rất thông cảm với nỗi khốn khổ của người Do Thái, là trường hợp điển hình. Ông viết trong nhật ký của mình rằng người Jerusalem Ả Rập, ghê tởm người Anh vì ‘tính bất công, bất lương và Tuyên bố Balfour, hy vọng Đức sẽ đánh thắng cuộc chiến. Họ quen ngồi đó, lắng nghe tin chiến sự, chờ đợi những tin thắng lợi phía Đức, buồn rầu khi nghe tin tốt lành của Anh.’

‘Nghe có vẻ kỳ lạ’, Hazem Nusseibeh nhớ lại, nhưng vào thời chiến ‘Jerusalem lại tận hưởng không khí hòa bình và thịnh vượng chưa từng có’. Người Anh kềm kẹp lực lượng dân quân Do Thái: Moshe Dayan và các đồng chí Haganah của ông bị bắt giữ và cầm tù ở Pháo đài Acre. Nhưng vào tháng 5 1941, khi Palestine thuộc Anh có tiềm năng bị kẹp gọng kềm giữa các lực lượng phe Trục ở Bắc Phi và Syria thuộc chính phủ Vichy Pháp, người Anh lập ra Palmach, một lực lượng biệt kích Do Thái nhỏ, từ các chiến binh của Wingate và Sadeh, sẵn sàng chiến đấu với bọn Quốc xã.

Dayan, được phóng thích từ nhà tù, được gửi tham gia những cuộc đột kích để chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm Syria và Lebanon của Vichy. Trong một cuộc giao tranh ở nam Lebanon, Dayan đang theo dõi những vị trí của Pháp qua ống nhắm ‘thì một viên đạn súng trường bắn nát kính và một mảnh ghim vào tròng mắt ông’. Ông ghét phải đeo chiếc đệm lót che con mắt bị hư, cảm thấy như một người tàn tật. ‘Ước gì tôi có thể bỏ đi chiếc đệm che mắt màu đen. Nó lôi kéo sự chú ý của người lạ thật không chịu đựng được. Tôi thích ru rú ở nhà, hơn là đối đầu trước những phản ứng của người lạ bất cứ tại đâu tôi đến.’ Dayan và cô vợ trẻ chuyển đến Jerusalem để chữa trị vết thương. Ông ‘yêu thích lang thang quanh Thành phố Cổ, nhất là. đi trên lối đi nhỏ hẹp phía trên tường thành bao quanh. Thành phố Mới có phần nào xa lạ đối với tôi, nhưng Thành phố Cổ quả là điều mê hoặc.’ Tổ chức Haganah, với sự hỗ trợ của người Anh, đang chuẩn bị hoạt động ngầm nếu quân Đức chiếm Palestine.

Jerusalem là nơi trú ẩn ưa chuộng cho những ông vua lưu vong – George II của Greece, Peter của Nam Tự và Hoàng đế Ethiopia Haile Selassie tất cả b đều lưu trú tại Vua David. Hoàng đế đi chân trần qua đường phố và đặt vương miện dưới chân áng thờ trong Mộ Thánh. Đúng là những lời cầu nguyện của ông được đáp lại: ông được phục hồi trở lại ngai vàng .

Ngày và đêm, những hành lang và quán ba của Khách sạn Vua David đông nghẹt các hoàng thân, các đại quý tộc, quan triều, tài phiệt, ma cô, gái điếm hạng sang, ngôi sao điện ảnh, bọn làm tiền, bọn ăn không ngồi rồi Ai Cập, Lebanon, Syria, Serbia, Hy Lạp và Ethiopia và các gián điệp Đồng minh, phe Trục, phe Zionist, và Ả Rập, cũng như các sĩ quan và nhà chính khách trong các sắc phục Pháp, Anh, Úc và Mỹ.

Năm 1942, người Đức thọc sâu vào vùng Caucasus, trong khi Lữ đoàn Ai Cập của Tướng Erwin Rommel tiến vào Ai Cập. Ngay cả sự tồn tại của khu định cư Do Thái ở Palestine cũng lâm vào cảnh hiểm nghèo. Khắp Địa Trung Hải, ở Hy Lạp, lực lượng SS Einsatzkommando Afrika dưới sự chỉ huy của SS Walter Rauf, được giao nhiệm vụ hủy diệt người Do Thái Phi châu và Palestine. ‘Người Do Thái nào cũng đều lộ vẻ sợ hãi nhất là khi quân Đức đến Tobruk,’ Wasif ghi trong nhật ký. 

Vào tháng 10 1942, Tướng Montgomery đập tan quân Đức tại El Alamein, một phép lạ mà Weizmann so sánh với cuộc rút lui bí mật của Sennacherib từ Jerusalem. Nhưng vào tháng 11 những tin tức đầu tiên về vụ Holocaust đến Jerusalem. ”Thảm sát Tập thể người Do Thái Ba Lan!’ tờ Palestine Post đăng tít. Người Do Thái Jerusalem than khóc trong ba ngày, và kết thúc bằng buổi cầu nguyện ở Bức Tường.

Việc người Anh siết chặt người Do Thái nhập cư được thông báo trên Bạch Thư năm 1939, không thể nào ở vào một  thời điểm tệ hơn: trong khi người Do Thái Âu châu đang bị tàn sát ở châu Âu thuộc Quốc xã, thì binh lính Anh đang đuổi trở lại những chuyến tàu chở người tị nạn tuyệt vọng. Vụ Nổi dậy Ả Rập, Giải pháp Cuối cùng của Hitler và Bạch Thư thuyết phục nhiều người Zionist rằng chỉ có bạo lực là con đường duy nhất để buộc người Anh chấp nhận vùng đất quê hương  Do Thái.

Cục Do Thái điều khiển lực lượng dân quân lớn nhất, tổ chức Haganah, với lực lượng đặc biệt 2,000 người, nhóm Palmach, và 25,000 dân quân của nó được người Anh huấn luyện. Ben-Gurion hiện giờ là lãnh tụ Zionist không tranh cãi. Nhưng chính tổ chức Irgun hiếu chiến hơn, dưới sự lãnh đạo của một nhân vật mới rất kiên định, giờ đây phát động cuộc chiến chống người Anh.

12

Nghi thức Lửa Thánh trong dịp Lễ Phục Sinh hàng năm   (nhìn từ mái vòm của Nhà Thờ Mộ Thánh) chen chúc người, đam mê và thường gây chết người.

13

Cầu nguyện tại Bức Tường 6 năm 1944 để tưởng nhớ những nạn nhân vụ Holocaust cho thấy khu vực nhỏ hẹp được cấp phép cho người Do Thái.

12

 Mufti Amin al-Husseini gặp gỡ Hitler. Em họ ông, Abd al-Kadir Husseini, là một chiến binh quý tộc và người hùng Ả Rập năm 1947-48, mà cái chết của anh là một cú sét đánh đối với niềm hy vọng Ả Rập. Lê ân táng anh trên Núi Đền là một sự kiện căng thẳng và hỗn loạn: một số người đưa tang bị giết bởi súng bắn lên trời.

CHƯƠNG 50: CUỘC CHIẾN BẨN THỈU 1945–7

 

MENACHEM BEGIN: NGÀY SABBATH ĐEN

”Tôi chiến đấu; do đó tôi tồn tại,’ Menachem Begin, nhạy theo câu nói của Descartes, ‘Tôi suy nghĩ; do đó tôi tồn tại.’ Sinh tại Brest-Litovsk, đứa trẻ của shtetl (thị trấn Do Thái nhỏ ở Đông Âu) này đã gia nhập phong trào Betar của Jabotinsky ở Ba Lan, nhưng ông đã đụng chạm với người hùng của mình, ném bỏ tất cả những phẩm chất tinh tế, để đúc rèn ý thức hệ sắt đá hơn về mặt quân sự của Zionism  theo ý mình – ‘một cuộc chiến tranh giải phóng chống lại những kẻ dám  bám giữ đất đai của tổ tiên chúng ta’, kết hợp chính sách cực đoan với cảm xúc tôn giáo. Sau khi Quốc xã và Xô-viết đã cắt xén Ba Lan lúc bắt đầu Thế Chiến II, Begin bị NKVD bắt giữ và kết án tù ở Gulag vì tội gián điệp cho Anh: ”Tên đặc vụ Anh này đã ra sao?’ ông nói đùa. ‘Y sớm có trong đầu phần thưởng lớn nhất mà cảnh sát Anh trao cho.’

Được phóng thích sau hiệp ước 1941 của Stalin với lãnh đạo Ba Lan Tướng Sikorski, Begin gia nhập Quân đội Ba Lan mang ông qua Ba Tư đến Palestine. Được tạo ra trong lục địa đen của máy nghiền thịt  Stalin và lò sát sinh Hitler – ở đó cha mẹ  và anh ông đều qua đời – ông xuất thân từ một môi trường hà khắc hơn Weizmann và Ben-Gurion. Jabotinsky đã mất vào năm 1940 và giờ đây năm 1944, Begin được chỉ định làm chỉ huy Irgun với 600 chiến binh. Những người Zionist lão thành xem Begin là ‘bình dân hoặc tỉnh lẻ’.  Begin trông giống một thầy giáo Ba Lan tỉnh lẻ hơn là một bộ óc thiết kế cách mạng. Vậy mà ông có tính kiên nhẫn của một tay thợ săn đang rình mồi.

Mặc dù Irgun đã tham gia cuộc chiến Đồng minh chống lại Quốc xã, một số thành viên cực đoan, do Abraham Stern cầm đầu, đã tách ra riêng. Stern bị quân Anh giết vào năm 1942. Nhưng dư đảng của ông, Lehi, Chiến binh vì Tự Do của Israel , biệt danh Bọn Stern , giờ phát động cuộc nổi dậy chống người Anh. Khi thắng lợi của Đồng minh gần như chắc chắn, Begin bắt đầu trắc nghiệm quyết tâm của người Anh ở Jerusalem: thổi tù và sừng dê vào Ngày Đền Tội, sự kiện đã bị người Anh cấm thực hiện tại Bức Tường từ năm 1929. Mỗi năm Jabotinsky đều thách thức luật lệ này. Vào tháng 10 1943, Begin ra lệnh thổi tù và: cảnh sát Anh lập tức trấn áp người cầu nguyện Do Thái, nhưng vào năm 1944, người Anh không phản ứng gì. Begin xem điều này là dấu hiệu cho thấy Anh đã yếu đuối.

Ông bầu của bạo lực này tuyên chiến với người Anh và vào tháng 9 năm 1944, Irgun tấn công các đồn cảnh sát Anh ở Jerusalem và sau đó ám sát một sĩ quan CID khi y đi qua thành phố. Begin, biệt danh Lão gia (giống như Ben–Gurion), cho dù ông chỉ khoảng 30 tuổi, bắt đầu hoạt động bí mật, liên tục thay đổi địa chỉ và hóa trang thành một học giả kinh thánh Do Thái râu ria. Người Anh treo giải thưởng 10,000 bảng cho cái đầu của ông, sống hay chết.

Cục Do Thái bị kết tội khủng bố, nhưng khi Đồng mình tiến hành cuộc đổ bộ ngày D vào vùng châu Âu bị Đức chiếm đóng, Lehi hai lần nỗ lực ám sát Cao Ủy Harold MacMichael trên đường phố Jerusalem. Ở Cairo tháng 11 đó, họ sát hại Walter Guinness, Lord Minister ở Ai Cập. Ben Gurion lên án bọn sát nhân và, trong 1944-45 giúp người Anh săn lùng những dân quân Do Thái ‘bất đồng chính kiến’ – 300 người nổi loạn bị bắt giữ.

Vào ngày 8/5/1945,  Ngày Thắng Lợi Âu châu, Cao Ủy mới, Thống chế Viscount Gort, làm lễ chào bên ngoài Khách sạn King David và ban hành lệnh ân xá cho các tù chính trị Do Thái và Ả Rập trong khi người dân Jerusalem ăn mừng. Tuy nhiên, ngay ngày hôm sau thực tế của chính tình thế tục lại nổi lên lần nữa: cả người Do Thái lẫn Ả Rập đều biểu tình – và cả hai đều đã tẩy chai hiệu quả chức thị trưởng của thành phố.

Ở Anh, Churchill bị đánh bại trong kỳ tổng tuyển cử. Tân thủ tướng, Clement Attlee, hứa với nhân dân mình một ‘Tân Jerusalem’ – mặc dù ông đã chứng tỏ là mình hoàn toàn bất lực trong việc điều hành Jerusalem cũ.

Người Anh lo lắng gồng mình chờ đợi cuộc đấu tranh sắp đến. Liệu thành phố với 100,000 người Do Thái, 34,000 người Hồi và 30,000 người Cơ đốc có nên là Nhà nước Jerusalem do Anh điều hành như đề xuất của MacMichael, hoặc chia phần, với những thánh địa do người Anh điều hành, như đề nghị của Gort? Cách nào thì người Anh cũng quyết tâm ngăn chặn việc nhập cư Do Thái vào Palestine – cho dù nhiều người nhập cư đã sống sót từ những trại tử thần của Hitler. Giờ bị quản thúc trong những trại trung chuyển khốn khổ trên khắp châu Âu, những chuyến tàu chở người tị nạn Do Thái tuyệt vọng này bị quấy nhiễu và đuổi đi bởi các lực lượng Anh. Các chuyến Xuất Hành bị người Anh tràn vào, đánh đập các dân tị nạn, nhiều người trong số đó sống sót từ trại tử thần, và rồi, với sự vô cảm khó tin, chở họ trở lại các trại ở Đức.

Ben-Gurion, Begin và Lehi đồng lòng thành lập một Bộ Chỉ huy Kháng chiến Thống nhất để chở lén lút người nhập cư Do Thái từ châu Âu và phối hợp cuộc đấu tranh chống người Anh, tấn công tàu hỏa, phi trường, căn cứ quân sự và đồn cảnh sát trên khắp xứ. Nhưng hai phe nhỏ chỉ góp tiếng còn chủ yếu là Irgun hành động. Phức hợp Nga giờ đã biến thành một căn cứ cảnh sát, là một mục tiêu được Irgun nhắm tới.  Vào ngày 27/12, họ phá hủy trụ sở cảnh sát CID, trước đây là nhà trọ Nikolai cho người hành hương. Begin đi xe buýt từ Tel Aviv đến Jerusalem để chứng kiến tác phẩm của mình. Vào tháng 1 1946, Irgun tấn công nhà giam bên trong Phức hợp Nga trước đây là khu nhà trọ tập thể Marianskaya cho khách hành hương nữ.

Người Anh, tơi tả vì những vụ đột kích này, kéo nước Mỹ vào giải quyết vấn nạn. Cộng đồng người Do Thái ở Mỹ đang không ngừng ủng hộ Zionist nhưng Tổng thống Franklin D. Roosevelt chưa từng công khai ủng hộ một nhà nước Do Thái.

FDR mất vào tháng 4 1945. Người kế nhiệm ông, Harry S. Truman, muốn định cư người Do Thái sống sót sau vụ Holocaust ở Palestine và yêu cầu người Anh để họ vào. Truman, lớn lên như một người theo giáo phái Baptist, nguyên là trại chủ, thư ký ngân hàng, buôn bán quần áo, thượng nghị sĩ Missouri bình thường,  dành tình cảm cho người Do Thái và có nhận thức về lịch sử. Truman yêu cầu Bộ Ngoại giao tìm hiểu tình hình và một ủy ban điều tra Anh-Mỹ được thành lập.

Ủy ban dừng chân tại Khách sạn King David. Styles đã hy vọng Truman sẽ hậu thuẫn chính sách của mình chống lại việc Do Thái nhập cư, nhưng Ủy ban Anh-Mỹ đề nghị trái ngược rằng Anh nên nhận ngay 100,000 nguời tị nạn. Truman công khai ủng hộ đề xuất của họ nhưng Attlee thì giận dữ bác bỏ sự can thiệp của Mỹ. Cục Do Thái gìa tăng việc nhập lậu người tị nạn từ vụ Holocaust, chở được 70,000 người trong ba năm trong khi tổ chức Palmach của họ quấy rối người Anh, đỉnh cao là một thành tích nổ bom  ngoạn mục – Đêm của những Cây Cầu.

Người Anh đã đè bẹp người Ả Rập; giờ đây họ sẽ đè bẹp người Do Thái. Tháng 6 1946, Viscount Montgomery xứ Alamein, giờ là thống chế và Tổng Tham mưu Trưởng Hoàng gia, trở lại Jerusalem, phàn nàn rằng ‘Anh chỉ cai trị trên danh nghĩa; người cai trị thực sự đối với tôi dường như là người Do Thái, mà khẩu hiệu không nói ra của họ là – “Các anh không dám động đến chúng tôi”.’ Nhưng Montgomery dám, gửi thêm quân tiếp viện.

Vào thứ bảy 20/6, tư lệnh của ông, Tướng Evelynn ‘Bubbles’ Barker, tiến hành Chiến dịch Agatha, tấn công vào các tổ chức Zionist. Ông bắt giữ 3,000 người Do Thái – cho dù không tóm được Ben-Gurion vì lúc ấy ông tình cờ có mặt ở Paris. Barker củng cố ba ‘vùng an ninh’ ở Jerusalem, biến Phức hợp Nga thành một pháo đài mà người Do Thái đặt biệt danh là Bevingrad, theo tên của ngoại trưởng Anh Ernest Bevin. Đối với người Do Thái chiến dịch được biết dưới tên Ngày Sabbath Đen, và Barker ngay lập tức trở thành biểu tượng thù địch của sự áp bức Anh. Lehi tìm cách ám sát Barker, sử dụng bom ngụy trang như một em bé trong một xe đẩy trẻ con. Menachem Begin của Irgun, được sự hỗ trợ của Lehi, lên kế hoạch giáng trả Sabbath Đen của Barber để gióng lên tiếng vang trên khắp thế giới. Tổ chức Haganah tán thành, cho dù Ben-Gurion và Cục Do Thái thì không.

Khách sạn Kinh David là đền thờ thế tục của Quyền Ủy thác Jerusalem, và một cánh của nó được trưng dụng bởi ban điều hành và các cục tình báo Anh. Vào ngày 22/7/1946, đặc vụ Irgun, ngụy trang thành người Ả Rập và nhân viên khách sạn trong trang phục Nubia, xếp gọn ghẻ các bình sữa chứa đầy 500 cân thuốc nổ vào dưới hầm.

MONTGOMERY TRỪNG TRỊ: VỤ ÁN THIẾU TÁ FARRAN

Irgun gọi điện nặc danh cho khách sạn, cho Palestine Post và cho Lãnh sự Pháp, để cảnh báo về cuộc công kích sắp xảy ra để di tản người ra khỏi King David. Nhưng người ta phớt lờ lời cảnh báo – và chúng cũng đến quá muộn. Người ta không biết việc xử lý kém những cảnh báo này là do vô tình hay cố ý. Begin đứng đợi gần đó: ‘mỗi phút dài như một ngày. 12:31, 32. Giờ zero đến gần. Đã gần hết nửa giờ. 12:37. Thình lình cả thành phố dường như rung chuyển!’ Các quả bom phá hủy toàn bộ một cánh của khách sạn King David, sát hại 91 người, trong đó có người Anh, Do Thái và Ả Rập. Năm đặc vụ M15 có mặt trong số người thiệt mạng, nhưng các ‘Cô nương London’ trong Mật Vụ còn sống, loạng choạng bước ra từ đống đổ nát, tóc tai họ trắng xóa vì vôi bụi tường. Ben-Gurion lên án vụ đánh bom; ông coi Begin như một mối đe doạ của cộng đồng Do Thái, và Cục Dọ Thái rút khỏi Bộ Chỉ huy Kháng chiến Thống nhất.

Việc đánh bom King David làm gia tăng cường độ phản kích của người Anh – nhưng nó thành công trong việc làm tăng tốc việc Anh rút khỏi Quyền Ủy Thác. Ở Jerusalem, người Do Thái và Ả Rập ngừng sinh hoạt lẫn lộn nhau. Mọi người đều biết là sẽ có chiến tranh. Một bức màn đã bắt đầu chia cắt Jerusalem. Người Do Thái hoảng sợ về tin đồn cuộc tàn sát trả đũa đang đến gần. Dân thường Anh được di tản ra khỏi Jerusalem.

Vào tháng 10, Irgun thổi tung Đại sứ quán Anh ở La Mã. Tháng 11, Montgomery bay trở lại Jerusalem. Vị thống chế hoạch định sự trả đũa phũ phàng trước sự láo xược của Irgun. Một cảnh sát trưởng mới, Đại tá Nicol Gray, tuyển mộ người lì lợm, cựu cảnh sát hoặc cựu thành viên các lực lượng đặc biệt trước đây, để tham gia Biệt Đội chống bạo loạn. Thiếu tá Roy Farrah là một người được tuyển mộ điện hình, một sĩ quan biệt kích SAS Ireland mà lý lịch cho thấy một lịch sử những kỳ tích ngoạn mục.

Khi đến Jerusalem, Farran được chở đến Phức hợp Nga để nghe báo cáo ngắn rồi đến Khách sạn King David ăn tối. Farran và Biệt Đội bắt đầu lái xe chung quanh Jerusalem, truy lùng nghi can để thẩm vấn, hoặc bắn ngay tại chỗ. Những thành viên Biệt Đội này không có kinh nghiệm hoạt động bí mật, không biết tiếng địa phương, vì thế không có gì ngạc nhiên, Farran thất bại một cách gần như khôi hài cho đến khi, lái xe qua phố Rehavia vào ngày 6/5/1947, đội ông nhác thấy một học sinh không vũ trang, Alexander Rubowitz, đang dán các áp phích Lehi trên tường. Farran bắt cóc thằng bé nhưng, trong lúc giằng co, làm rơi chiếc mũ ni mềm của ông, có ghi tên sai vần ‘FARAN’. Ông hy vọng cậu thiếu niên hoảng sợ sẽ khai ra con cá lớn Lehi. Ông chở Rubowitz ra khỏi Jerusalem, xuống Đường Jericho vào vùng đồi, treo cậu lên một cành cây, đánh đấm cậu một giờ bắt khai ra, rồi ông đi quá xa khi đập đầu cậu bằng một hòn đá. Thi thể bị đâm dao và lột truồng và chắc chắn bị lũ chó rừng ăn thịt.

Trong khi người Do Thái Jerusalem điên cuồng đi tìm kiếm cậu bé mất tích , Thiếu tá Farran khai với cấp trên tại phòng ăn cảnh sát ở Katamon, rồi thình lình biến mất, chuồn khỏi Jerusalem. Thoạt đầu là bưng bít, rồi kêu gào phản đối khắp thế giới. Lehi bắt đầu giết bừa bãi binh lính Anh, cho đến khi Farran trở lại Jerusalem và trình diện tại Doanh trại Allenby. Vào ngày 1/10/1947, ông ra tòa án binh tại Talbieh, nhưng được xử trắng án vì thiếu bằng chứng thuyết phục. Thi thể của Rubowitz không hề được tìm thấy. Farran được kè đi giữa hai sĩ quan đến một xe bọc thép và biến mất vào bóng đêm về hướng Gaza. Lehi quyết tâm ám sát ông. Năm 1948, một bưu phẩm, gởi đến ‘R. FARRAN’ nhưng người em mở ra vì có cùng họ, nổ tung: người em mất mạng. *

* Farran vẫn được coi là người hùng thời chiến đối với lực lượng an ninh Anh. Ông chuyển đến sống ở Canada, làm nghề nông, rồi được bầu vào lập pháp thành phố Alberta, rồi giáo sư khoa học chính trị. Ông mất năm 2006, thọ 86 tuổi. Một đường phố ở Đông Talpiot, Jerusalem, gần đây được đặt tên Rubowitz.

Vụ án khẳng định mọi thứ mà Yishuv căm phẫn về người Anh là đúng. Khi nhà cầm quyền kết án tử một thành viên Irgun vì tội khủng bố, Begin đánh bom Câu lạc bộ Sĩ quan Anh ở Goldsmith House, Jerusalem, giết chết 14 người, và phá vỡ một lối thoát cho Trại giam Arcre. Khi người của ông bị phạt roi, ông phạt roi binh lính Anh, và khi người của ông bị treo cổ ở Trại giam Acre vì tội khủng bố, ông treo cổ hai binh sĩ Anh ngẫu nhiên vì những ‘hoạt động chống Do Thái’.

Churchill, giờ là lãnh tụ phe đối lập, lên án Attlee đã tiến hành ‘cuộc chiến bẩn thỉu và vô nghĩa’ này với người Do Thái để giao Palestine cho người Ả Rập hoặc cho ai có Trời mới biết’. Giờ kết hợp sự căm phẫn trước hành động bạo lực của Irgun và Lehi, cùng với tình cảm truyền thống dành cho người Ả Rập và chủ nghĩa bài Do Thái đã biến người Anh chống đối mạnh mẽ người Do Thái. Những quân nhân đào ngũ và đôi khi binh lính đang tại ngũ Anh quay ra hỗ trợ các lực lượng Ả Rập.

Vào ngày 14/2/1947, Attlee, mệt mỏi vì hoạt động đổ máu, đồng ý ở Nội các rút khỏi Palestine. Vào ngày 2/4, ông yêu cầu Liên Hiệp Quốc vừa mới được thành lập cử ra một Ủy ban Đặc biệt về Palestine (UNSCOP) để quyết định về tương lai của nó. Bốn tháng sau UNSCOP đề nghị phân chia Palestine thành hai nhà nước với Jerusalem là một khu vực được ủy thác quốc tế dưới quyền một thống đốc Liên Hiệp Quốc. Ben-Gurion chấp nhận giải pháp, mặc dù chưa có đường biên cụ thể. Ông cảm thấy rằng Jerusalem là ‘trái tìm của nhân dân Do Thái’ nhưng mất nó là ‘cái giá phải trả để có nhà nước’. Ủy ban Cao cấp Ả Rập, được Iraq, Saudi Arabia và Syria hậu thuẫn, bác bỏ sự phân chia, đòi hỏi ‘một Palestine độc lập thống nhất’. Vào ngày 29/11 LHQ bỏ phiếu cho đề xuất này. Sau nửa đêm, người Jerusalem tụ tập quanh những chiếc đài lắng nghe trong sự lặng im căng thẳng đến rợn người.

ABD AL-KADIR HUSSEINI: MẶT TRẬN JERUSALEM

33 quốc gia bầu thuận cho Nghị quyết 181, dẫn đầu là Mỹ và Liên Xô, 13 phiếu chống, và 10, kể cả Anh, phiếu trắng. Amos Oz nhớ lại: ‘Sau một vài phút bị sốc, miệng há hốc như đang khát và mắt trao tráo, đường phố xa xôi trên bờ bắc Jerusalem của chúng tôi bỗng vỡ òa ngay lập tức, không phải kêu to vì vui sướng, giống một tiếng thét kinh hoàng hơn, một tiếng hét đại hồng thủy có thể dời chuyển đá núi.’ Rồi ‘những tiếng gào thét vì sung sướng’ và ‘mọi người đều ca hát’. Người Do Thái thậm chí ôm lấy cảnh sát  Anh mà hôn khiến họ giật nảy người.

Người Ả Rập không công nhận LHQ có thẩm quyền cắt xén xử sở mình. Có 1.2 triệu người Palestine còn sở hữu 94 phần trăm đất đai; có 600,000 người Do Thái. Cả hai bên đều sẵn sàng đánh nhau, trong khi những phần tử quá khích Do Thái và Ả Rập thi đua thi thố những trò dã man nhức nhối đối với nhau. Jerusalem đang lâm chiến với chính mình.

Các đám đông Ả Rập ùa ra trung tâm thành phố, xử giảo người Do Thái, phóng hỏa nhà ở ngoại ô, cướp bóc các cửa hiệu, họ hét ‘Làm thịt bọn Do Thái!’ Anwar Nusseibeh, một luật sư tốt nghiệp Cambridge, buồn bã nhìn tình hình đã biến tướng thành ‘bụi bặm, ồn ào và hỗn loạn’ khi ‘các giáo viên, bác sĩ và chủ cửa hiệu ở cả hai phía trao đổi hoả lực với những người mà, nếu thường ngày, có thể là khách quý của mình’.

Vào ngày 2/12, 3 người Do Thái bị bắn ở Thành phố Cổ; vào ngày thứ ba, các tay súng Ả Rập tấn công Khu Montefiore, rồi một tuần sau Khu Do Thái, tại đó 1,500 người Do Thái đang chờ đợi căng thẳng 22,000 người Ả Rập bên trong tường thành. Người Do Thái và Ả Rập chuyển ra ngoài những khu vực trước đây họ sống lẫn lộn với nhau. Vào ngày 13/12, Irgun ném bom vào trạm xe buýt bên ngoài Cổng Damascus, giết chết 5 người Ả Rập và làm bị thương nhiều người khắc. Trong hai tuần, 74 người Do Thái, 71 người Ả Rập và 9 người Anh bị giết.

Khi Ben-Gurion đi từ Tel Aviv xuống để gặp vị cao ủy vào ngày 7/12, đoàn xe của ông bị phục kích trên đường. Haganah kêu gọi quân trừ bị gồm những thanh niên từ 17 đến 25 tuổi. Người Ả Rập chuẩn bị chiến tranh. Những người tình nguyện chiến đấu đến từ lực lượng dân quân các vùng miền khác nhau: Iraq, Lebanon, Syria, Bosnia, một số là những cựu binh có tính thần dân tộc chủ nghĩa; số khác là những người cơ yếu chủ nghĩa muốn thánh chiến. Lực lượng dân quân lớn nhất, Quân Giải phóng Ả Rập, tự hào là mình có 5,000 chiến binh. Trên giấy tờ, các lực lượng Ả Rập, được hậu thuẫn bởi các quân đội chính quy của 7 nhà nước Ả Rập, có quân số áp đảo. Thật ra, Liên đoàn Ả Rập, tổ chức của những nhà nước Ả Rập độc lập mới thành lập vào năm 1945, bị chia rẽ giữa các tham vọng lãnh thổ và sự tranh giành triều đại của các thành viên. Abdullah, nhà vua Hashemite xứ Jordan, còn muốn xáp nhập Palestine vào vương quốc mình; Damascus thèm muốn một Đại Syria; Vua Farouk Ai Cập coi mình là lãnh tụ hợp lý nhất của thế giới Ả Rập và căm ghét dòng Hashemite của cả Jordan và Iraq, rồi đến phiên họ ghê tởm Vua Ibn Saud, người đã đuổi họ khỏi Arabia. Mọi lãnh đạo Ả Rập đều nghi ngờ vị mufti, người vừa mới trở lại Ai Cập và quyết tâm tự đặt mình vào vị trí đứng đầu nhà nước Palestine.

Giữa quá nhiều bại hoại, phản trắc và bất tài, Jerusalem cũng cung cấp những người hùng Ả Rập thời chiến. Anwar Nusseibeh, thành lập Ủy ban Cổng Herod  với các đại gia khác, Khalidi và Dajani, để mua vũ khí. Anh họ ông Abd al-Kadir Husseini, người đã chiến đấu chống người Anh ở Iraq vào năm 1941, rồi sau đó ẩn mình trong chiến tranh ở Cairo, nắm quyền chỉ huy bộ tư lệnh Ả Rập có tên Mặt Trận Jerusalem.

Husseini nổi lên như một người hùng Ả Rập được hiện thân, luôn đội khăn xếp, mặc áo khoác kaki, và đeo băng chéo, dòng dõi cách mạng của giới quý tộc Jerusalem, con trai và cháu nội của các thị trưởng, hậu duệ của Đấng Tiên Tri, một người tốt nghiệp ngành hóa học, chủ biên tập và một chiến binh mà lòng quả cảm đã được chứng tỏ. Ông được mọi người kính trọng dù sang hay hèn. Một sinh viên từ Gaza có tên Yasser Arafat, tự hào mẹ mình có bà con với nhà Husseini, phục vụ trong bộ tham mưu của Abd al-Kadir.

Các tay súng Zìonist trong Khu Do Thái bắn qua Núi Đền; người Ả Rập khai hỏa vào dân chúng Do Thái từ Katamon. Vào ngày 5/1, Haganah tấn công Katamon và phá hủy Khách sạn Semiramis, giết chết 11 người Ả Rập Cơ đốc vô tội. Ben-Gurion cách chức viên sĩ quan chỉ huy. Hai ngày sau, Irgun đánh bom một tiền đồn Ả Rập ở Cổng Jaffa không cho phép chở đồ cung cấp đến Khu Do Thái. Vào ngày 10/2, 150 dân quân Husseini tấn công Khu Montefiore, Haganah đánh lại nhưng hứng hoả lực từ những tay bắn tỉa Anh trong Khách sạn King David gần đó. Chỉ còn bốn tháng nữa là hết thời hạn cai trị của người Anh mà Jerusalem đã sa lầy trong một cuộc chiến quy mô nhưng bất tương xứng. Trong sáu tuần vừa qua, 1060 người Ả Rập, 769 Do Thái và 123 Anh đã bị giết. Mỗi hành động tàn bạo được đáp trả gấp đôi.

Người Zionist dễ bị tổn thương ở Jerusalem: đường từ Tel Aviv đến đi qua 30 dặm trên lãnh thổ Ả Rập và Abd al-Kadir Husseini, người chỉ huy lữ đoàn Jerusalem gồm 1,000 tay súng trong Đạo Quân Thánh Chiến của vị mufti, đột kích nó liên tục. Yitzhak Rabin, một sĩ quan Palmach sinh ra ở Thành phố Thánh, nhớ lại: ‘Kế hoạch của người Ả Rập là bóp nghẹt 90,000 cư dân Do Thái Jerusalem đến khi họ khuất phục’ – và kế hoạch đó bắt đầu có tác dụng.

Vào ngày ½, dân quân của Husseini, với sự hỗ trợ của hai đào binh Anh, cho nổ tung văn phòng của Palestine Post; ngày thứ 10, ông tấn công Khu Montefiore một lần nữa nhưng bị Haganah đẩy lùi sau sáu giờ giao tranh. Người Anh dựng lên một trạm chỉ huy bên dưới Cổng Jaffa để phòng thủ Montefiore. Ngày 13/2, người Anh bắt giữ 4 chiến binh Haganah và rồi trả họ sau khi tước vũ khí cho một đám đông Ả Rập để bị sát hại. Vào ngày 22, Husseinni phái những đào binh Anh đánh bom Phố Ben Yehuda, một hành động dã man giết chết 51 thường dân Do Thái. Irgun bắn chết 10 lính Anh.

Cố gắng bảo vệ những khu Ả Rập ở Jerusalem, Nusseibeh nhớ lại, ‘giống như sửa một ống nước đã hư mòn, vá chỗ này lại phụt ra hai chỗ khác.’ Haganah cho nổ tung lâu đài Nusseibeh cũ. Cựu thị trưởng Ả Rập Hussein Khalidi phàn nàn, ‘Mọi người đang bỏ đi. Tôi không thể trụ lại lâu hơn nữa. Jerusalem đã mất. Không ai còn ở lại Katamon. Sheikh Jarrah đã trống trơn. Ai có ngân phiếu hoặc chút ít tiền của đều bỏ đi đến Ai Cập, đến Lebanon, đến Damascus.’ Chẳng bao lâu người tị nạn bỏ ra khỏi vùng ngoại ô Ả Rập. Dù sao thì Abd al-Kadir Husseini đã thành công trong việc cắt đứt tây Jerusalem của Do Thái khỏi bờ biển.

‘Jerusalem thế nào rồi?’ Ben-Gurion hỏi các vị tướng của ông vào ngày 28/3 tại bộ chỉ huy ở Tel Aviv. ‘Đó là trận đánh quyết định. Sự thất thủ của Jerusalem có thể là cú đấm chết người cho khu định cư Do Thái.’ Các vị tướng chỉ còn 500 quân. Người Do Thái đã trong tình trạng phòng thủ từ khi có việc bầu nghị quyết của LHQ, nhưng giờ đây Ben-Gurion ra lệnh Chiến dịch Nachshon để dọn đường đến Jerusalem, bắt đầu một thế tiến công mở rộng, Kế Hoạch D, được thiết kế chiếm được những vùng lãnh thổ Do Thái do LHQ ấn định nhưng thêm tây Jerusalem. Sử gia Benny Morris viết, ‘Kế hoạch rõ ràng là phải tiêu diệt những làng mạc Ả Rập chống đối và trục xuất dân cư ở đấy’ nhưng ‘không thấy văn kiện nào nói về một biện pháp hoặc ý muốn trục xuất “dân cư Ả Rập” ra khỏi Palestine.’ Tại một số nơi dân cư vẫn ở lại, nơi khác họ bị trục xuất.

Làng Kastel kiểm soát con đường từ bờ biển đến Jerusalem. Vào đêm 2/4, Haganah đánh chiếm căn cứ, nhưng Husseini tập trung dân quân chiếm lại. Ông và Anwar Nusseibeh đều nhận ra là họ cần quân tiếp ứng. Hai người vội vã đến Damascus để yêu cầu pháo binh nhưng chỉ để thêm tức giận trước sự bất tài và mưu mô của các vị tướng trong Liên đoàn Ả Rập.  ‘Kastel đã thất thủ,’ tổng tư lệnh quân Iraq nói. ‘Nhiệm vụ của ngài là chiếm lại nó, Abd al-Kadir.’

’Cho chúng tôi vũ khí tôi yêu cầu và chúng tôi sẽ chiếm lại ngay,’ Husseinni giận dữ trả lời

‘Thế là thế nào, Abd al-Kadir? Không có đại bác à?’ vị tướng nói, nhưng không cho gì.

Husseini hục hặc bỏ ra ngoài: ‘Đồ phản trắc! Lịch sử sẽ ghi lại là ngài đã để mất Palestine. Tôi sẽ chiếm Kastel hoặc chết trong chiến đấu với các mujahidin của tôi!’ Đêm đó ông viết một bài thơ cho đứa con trai 7 tuổi Faisal, mà các thập niên sau, sẽ trở thành ‘bộ trưởng’ Jerusalem của Palestine của Yasser Arafat:

Vùng đất này của người quả cảm là vùng đất của cha ông chúng ta

Người Do Thái không có quyền chiếm lấy

Làm sao ta yên giấc khi kẻ thù còn cai trị?

Tim ta nóng buốt. Tổ quốc đang vẫy gọi.

Vị chỉ huy đến Jerusalem vào sáng hôm sau và tập họp chiến sĩ.

SÚNG DÀN CHÀO TRÊN HARAM: ABD AL-KADIR HUSSEINI

Vào ngày 7/4, Abd al-Kadir cầm đầu 300 chiến binh và 3 đào binh Anh lên Kastel. Lúc 11 giờ đêm đó, họ tấn còn ngôi làng nhưng bị đẩy lui. Đến bình minh ngày hôm sau, Husseini tiến ra phía trước để thay thế một sĩ quan bị thương, nhưng khi ông tiến đến gần trong sương mù, không chắc ai  đang trấn giữ ngôi làng thực sự, một lính canh Haganah, nghĩ rằng người mới đến là quân tiếp viện Do Thái, gọi to bằng tiếng lóng Ả Rập: ‘Ở đây này, bạn ơi!’

‘Chào, anh bạn,’ Husseini đáp lại bằng tiếng Anh. Người Do Thái thường sử dụng tiếng Ả Rập – nhưng không bao giờ xài tiếng Anh. Anh lính canh Haganah cảm thấy có nguy liền xổ một loạt đạn trúng ngay Husseini. Các đồng chí ông bỏ chạy, để mặc ông trên mặt đất, rên rỉ, ‘Nước, nước.’ Mặc dù được một y sĩ Do Thái theo dõi, ông qua đời. Chiếc đồng hồ vàng và khẩu súng lục cán ngà tiết lộ ông là chỉ huy, nhưng ông là ai?

Qua điện đài, những người Haganah phòng thủ đã kiệt sức nghe lén những trao đổi đầy lo lắng làm sao lấy lại thi thể của vị chỉ huy đã mất dấu. Em trai ông lên nắm quyền chỉ huy. Khi tin tức lan truyền, dân quân Ả Rập lũ lượt đến nơi bằng xe buýt, lừa và xe tải và chiếm lại ngôi làng , các binh sĩ Palmach hy sinh tại vị trí tử thủ. Người Ả Rập giết 50 tù binh Do Thái và phân thây họ. Người Ả Rập đã lấy lại chìa khóa đến Jerusalem – cùng với thi hài của Husseini.

‘Thật là một ngày buồn! Cái chết tử vì đạo của ông khiến mọi người sầu não,’ Wasif Jawhariyyeh ghi lại. ‘Một chiến binh của lòng ái quốc và phẩm chất cao quý Ả Rập!’ Vào ngày thứ sáu 9/4, ‘không ai ở nhà. Mọi người đều có mặt trong đám tang. Tôi cũng có mặt ở đó,’ Wasif ghi. 30,000 người đưa tang – chiến binh Ả Rập vẫy cao khẩu súng, các Quân đoàn Ả Rập từ Jordan, nông dân, Đại gia – đều tham dự khi chiến binh Husseini ngã xuống được chôn cất trên Núi Đền cạnh cha mình và gần Vua Hussein trong điện thờ danh nhân Ả Rập ở Jerusalem. Mười một phát đại bác đưa tiễn ông; các tay súng bắn chỉ thiên. Chuông nhà thờ ngân vang, mọi người kêu gào đòi trả thù. Những chiến binh Ả Rập quá nặng lòng tham dự tang lễ Husseini đến nỗi họ không để lại quân đồn trú nào ở Kastel. Lực lượng Palmach phá hủy căn cứ .

Khi tang lễ đang tiến hành, 120 chiến binh Irgun và Lehi liên kết tấn công một ngôi làng Ả Rập ngay phía tây Jerusalem có tên Deir Yassin, tại đó họ phạm một tội ác man rợ đáng hổ thẹn nhất trong chiến tranh. Họ nhận lệnh đặc biệt không được hại phụ nữ, trẻ em hoặc tù binh. Khi họ tiến vào làng, họ gặp hoả lực. Bốn chiến binh Do Thái bị giết chết và vài chục người bị thương. Khi họ đã vào được trong làng Deir Yassin, các chiến sĩ Do Thái điên tiết ném lựu đạn vào nhà dân, sát hại đàn ông, đàn bà và trẻ em. Số nạn nhân vẫn còn đang tranh cãi, nhưng trong khoảng 100 đến 254 người bị giết. Những người sống sót được chở đi xe tải qua Jerusalem cho đến khi được Haganah phóng thích. Irgun và Lehi không nghĩ ngờ gì tin chắc vụ tàn sát man rợ sẽ gieo khiếp sợ cho người dân Ả Rập để họ bỏ đi. Chỉ huy Irgun, Begin, cứ một mực chối hành động dã man trong khi huênh hoang tính thiết thực của nó: ‘Huyền thoại (về Deir Yassin) có giá trị ngang với nửa chục tiểu đoàn quân Israel. Kinh hoàng xâm chiếm người Ả Rập.’ Nhưng Ben-Gurion xin lỗi Vua Abdullah, nhưng ông không chấp nhận.

Sự trả thù của người Ả Rập thật nhanh chóng. Vào ngày 14/4, một đoàn xe cứu thương và thực phẩm khởi hành đến Bệnh viện Hadassah trên Núi Scopus. Bertha Spafford chứng kiến ‘150 người nổi dậy, trang bị vũ khí đủ loại từ súng nòng ngắn và súng cổ lỗ đến khẩu Sten và Bren hiện đại, nấp sau những rặng xương rồng trên đất Thuộc địa Mỹ. Mặt mày họ méo mó vì hận thù và khao khát trả thù,’ bà viết. ‘Tôi ra ngoài và đối mặt với họ. Tôi bảo họ, “Bắn giết từ một nơi trú ẩn của Thuộc địa Mỹ cũng giống như bắn giết từ một thánh đường Hồi giáo,”‘ nhưng họ phớt lờ sự nghiệp 60 năm làm việc thiện của bà và hăm doạ sẽ giết bà nếu bà không lui ra. 77 người Do Thái, phần lớn là bác sĩ và y tá, đều bị sát hại và 20 bị thương trước khi người Anh đến can thiệp. Các tay súng phanh thây người chết và chụp ảnh cùng với các xác chết được sắp xếp theo những tư thế ghê rợn. Các tấm ảnh được in ra hàng loạt và bán như những tấm bưu thiếp Jerusalem.

Deir Yassin là một trong những sự kiện xoay chuyển cục diện của cuộc chiến: nó trở thành tâm điểm của chiến dịch truyền thông Ả Rập phóng đại mức tàn bạo của Do Thái. Mục đích là nhằm củng cố sự đối kháng, nhưng thay vào đó nó cổ vũ một tâm lý về điềm gở trong một xứ sở đã có chiến tranh. Vào tháng Ba, trước vụ Deir Yassin, 75,000 người Ả Rập đã rời bỏ nhà cửa. Hai tháng sau 390,000 người đã ra đi. Một số bị trục xuất bằng vũ lực, một số ra đi để tránh chiến cuộc, hy vọng có ngày quay về – và xấp xỉ phân nửa ở lại bình yên trong ngôi nhà mình để trở thành người Ả Rập ở Israel, những công dân không Do Thái trong một nước dân chủ Zìonist. Nhưng tổng cộng 600,000 -750,000 người Palestine đã rời đi và bỏ nhà cửa của họ.

Ben-Gurion triệu tập trưởng Ủy ban Khẩn cấp Jerusalem, Bernard Joseph, đến Tel Aviv để quyết định cách thức tiếp tế cho Jerusalem giờ đang chết đói. Vào ngày 15/4 đoàn xe xông qua được, và lương thực nhỏ giọt vào thành phố. Vào ngày 20, Ben-Gurion khăng khăng đòi đến thăm Jerusalem nhân ngày lễ Vượt Qua với bình sĩ: Rabin, chỉ huy Lữ đoàn Harel của Palmach, phản đối màn trình diễn của Ben-Gurion. Ngay sau khi đoàn xe vừa khởi hành với Ben-Gurion ngồi trong xe bọc thép, người Ả Rập tấn công. 20 người bị giết – nhưng lương thực và Ben-Gurion đến được khu vực Jerusalem của người Do Thái.

Nền cai trị của Anh giờ đang trong những ngày cuối cùng. Vào ngày 28/4, Rabin đánh chiếm Sheikh Jarrah ở khu ngoại ô Ả Rập, địa điểm của các Đại gia, nhưng người Anh buộc ông phải buông bỏ nó. Khi người Anh chào cờ lần cuối cùng, người Do Thái đang giữ phần phía tây của thành phố, người Ả Rập giữ Thành Cổ và phần phía đông. Lúc 8 giờ sáng thứ sáu ngày 14/5,

Cunningham, vị cao ủy cuối cùng bước ra khỏi Trụ sở Chính quyền trong quân phục chỉnh tề, duyệt đội quân danh dự, rồi lên chiếc Daimler bọc thép và lái đến Khách sạn King David để thanh sát binh sĩ.

13

1946–8: khi Ả Rập và Do Thái tàn sát dân thường của nhau. Irgun của Menachem Begin  đánh bom bộ chỉ huy Anh ở Khách sạn King David. Tướng Bubbles Barker lên mặt bảo (hình dưới bên phải)

14

Trận đánh Jerusalem năm 1948; binh lính Ả Rập hộ tống một tù binh Do Thái trong trận đánh Khu Do Thái; một bé gái chạy khỏi nơi gìao tranh; Quân đoàn Ả Rập đứng sau các chướng ngại vật bao cát.

CHƯƠNG 51: ĐỘC LẬP CỦA DO THÁI, THẢM HỌA CỦA Ả RẬP 1948–51

 

NGƯỜI ANH RA ĐI; BEN-GURION: CHÚNG TA LÀM ĐƯỢC RỒI!

Tướng Cunningham ra khỏi Jerusalem qua những phố xá vắng tanh trừ vài đứa bé Ả Rập. Binh lính Anh án ngữ các ụ súng máy tại những góc đường. Khi chiếc Daimler phóng qua, những người trẻ nhìn theo vỗ tay như trẻ con và một người đứng chào. Cái chào được chào đáp trả. Từ sân bay Kalandia, vị cao ủy bay ra khỏi Jerusalem đến Haifa và từ đó, lúc nửa đêm, ông lên tàu về Anh.

Binh lính Anh di tản pháo đài Bevingrad của họ trong Phức hợp Nga: 250 xe tải và xe tăng rùng rùng chạy dọc Đại lộ Vua George V, trước cặp mắt nhìn trong im lặng của đám đông Do Thái. Cuộc chạy đua giành quyền kiểm soát Phức hợp Nga bắt đầu ngay lập tức. Irgun tràn vào Nhà Nghỉ Nikolai. Súng rít khắp thành phố. Nusseibeh vội vã đến  Amman để xin Vua Abdullah giải cứu thành phố. Nhà vua hứa. 

Lúc 4 giờ chiều ngày 14/5/1948, ngay bên ngoài Jerusalem, Rabin và binh sĩ Palmach của ông, mệt nhoài vì chiến đấu giữ cho con đường lưu thông, đang lắng nghe thông báo trên đài từ David Ben-Gurion, chủ tịch Cục Do Thái. Đứng bên dưới chân dung của Herzl, trước 250 khán giả trong Bảo tàng viện Tel Aviv, Ben-Gurion tuyên bố, ‘Tôi sẽ đọc từ cuộn văn bản Lời Tuyên bố Thành lập Nhà nước . .  . ‘

 …’ Ông và các đồng sự đã tranh luận phải nên gọi tên nước là gì. Một số đề nghị Judaea hoặc Zion – nhưng những tên này có liên quan đến Jerusalem và người Zionist đang chiến đấu để giữ thậm chí một phần thành phố. Những người khác đề nghị Ivriya hoặc Herzliya, nhưng Ben-Gurion đã lập luận chọn Israel và tên đó được mọi người đồng ý: ‘Đất nước Israel’, ông đọc lớn, ‘là nơi khai sinh của dân tộc Do Thái.’ Họ hát vang bài quốc ca, Hatikvah (Niềm Hy Vọng):

Hy vọng của chúng ta không bao giờ tắt

Hy vọng của hai ngàn năm;

Để là một dân tộc tự do trên mảnh đất của mình,

Đất của Zion và Jerusalem!

Ben-Gurion tươi cười trước cánh báo chí. ‘Chúng tôi đã làm được!’ ông nói, nhưng ông tránh biểu lộ sự hân hoan. Ông đã chấp nhận nhiều lần sự phân chia hai nhà nước, nhưng giờ đây người Do Thái phải kháng cự trước cuộc xâm lấn của quân đội chính quy Ả Rập với mục tiêu được phát biểu rõ ràng là tiêu diệt. Ngay chính sự sống còn của Nhà nước Israel còn gặp lâm nguy. Mặt khác, quan điểm của ông đã tiến hóa kể khi ông hy vọng trong những thập niên 1920 và đầu thập niên 1930 về một Palestine xã hội chủ nghĩa được chia sẻ hoặc một nhà nước liên bang. Giờ đây, đối diện trước một cuộc chiến toàn diện, mọi thứ phải dành cho sự nắm giữ.

Tại mặt trận Jerusalem, binh sĩ của Rabin trong Lữ đoàn Harel quá oải khi lắng nghe Ben-Gurion trên đài. ‘Ê, thôi tắt đi cho tao ngủ chút. Ngày mai nghe tiếp,’ một người van nài.

Rabin nhớ lại: ‘Có ai đó thức dậy, bật núm đài, nhưng chỉ là sự lặng thinh nặng nề.’ Phần đông đều không nghe được Tuyên bố, vì lực lượng Ả Rập đã cắt nguồn điện.

11 phút sau, Tổng thống Truman thông báo công nhận nhà nước Israel. Trong khi đó Stalin là người đầu tiên công nhận chính thức Israel.

Ở New York, Weizmann, giờ gần như mù, đợi trong phòng của ông ở Waldorf Astoria, vui sướng vì được độc lập nhưng cảm thấy bị bỏ rơi và quên lãng, cho đến khi Ben-Gurion và đồng sự yêu cầu ông làm tổng thống đầu tiên của Israel.

Tổng thống Weizmann đến Israel, trong khi ông sợ ‘những điện thờ Do Thái ở Jerusalem, vốn đã sống sót qua những trận tấn công của quân man rợ thời trung cổ, giờ này bị bỏ tan hoang.’ Ở Jerusalem, Anwar Nusseibeh và một số ít quân không chính quy, chủ yếu là những cựu cảnh sát, cố hết sức để phòng vệ Thành phố Cổ cho đến khi quân đội chính quy đến. Nusseibeh bị bắn trúng đùi và phải chịu cưa cụt chân. Nhưng cuộc chiến không chính quy đã qua rồi.

Cuộc chiến thực sự giờ đang bắt đầu và vị thế của Israel thật ngặt nghèo. Các quân đội của các nước trong Liên đoàn Ả Rập, Ai Cập, Jordan, Iraq, Syria và Lebanon, xâm lăng Israel với sứ mạng đặc biệt là thủ tiêu người Do Thái. ‘Đây sẽ là một cuộc chiến hủy diệt và một trận tàn sát trọng đại,’ Azzam Pasha, thư ký Liên đoàn, tuyên bố, ‘sẽ được nhắc đến như các trận tàn sát của quân Mông Cổ và Thập Tự Chinh.’ Các tư lệnh của họ rất phấn khởi tự tin. Người Do Thái luôn là những thần dân thấp hèn của các đế chế Hồi giáo, đôi khi được khoan thứ, thường bị bức hại, nhưng luôn chịu thuần phục, trong hơn 1,000 năm. ‘Người Ả Rập tự tin là một dân tộc chiến đấu vĩ đại và coi người Do Thái như một quốc gia của những chủ cửa hàng. Người Ai Cập, Syria và Iraq luôn nghĩ rằng họ sẽ không gặp khó khăn khi đánh bại người Do Thái.’ Chủ nghĩa dân tộc thế tục trộn lẫn với nhiệt huyết của tinh thần thánh chiến: không thể nghĩ được làm sao người Do Thái có thể đánh bại những quân đoàn Hồi giáo, và nhiều phe nhóm Jihad đã chiến đấu bên cạnh những đạo quân chính quy từ lâu đã thấm nhuần chủ nghĩa bài Do Thái cuồng tín. Phân nửa lực lượng Ai Cập là các chiến binh mujahidin của người tổ chức Huynh Đệ Hồi Giáo, trong số đó có Yasser Arafat thời trai trẻ.

Vậy mà sự can thiệp với những hy vọng khủng khiếp và tính cay độc chính trị sẽ là mối thảm họa cho người Palestine và góp phần rèn đức nên một Israel lớn mạnh hơn chưa từng thấy. Trên giấy các lực lượng Ả Rập có 165,000 quân nhưng do thiếu tổ chức, trong tháng 5, họ chỉ tung ra mặt trận 28,000 quân – xấp xỉ bằng Israel. Vì 9,000 quân của Abdullah trong Quân đoàn Ả Rập là do Anh huấn luyện trước đây là thiện chiến hơn tất cả, nên ông được chính thức bổ nhiệm là Tư lệnh Tối cao của các lực lượng Liên đoàn Ả Rập.

Vua Abdullah đứng trên Cầu Allenby và, rút ra khẩu súng lục, bắn lên trời, hô to: ‘Tiến lên!’

ABDULLAH NGƯỜI VỘI VÀNG

Lần cuối cùng chúng ta nhìn thấy Abdullah là khi ông ở Jerusalem nhận vương quốc sa mạc của mình từ tay Winston Churchill. Lawrence đã mô tả ông ‘lùn thấp, vạm vỡ, mạnh như ngựa, với đôi mắt nâu đậm vui tươi, gương mặt tròn trĩnh bóng láng, đôi môi dày nhưng móm, cánh mũi thẳng’ – và ông đã trải qua một cuộc đời mạo hiểm, làm Lawrence choáng ngợp với những kỳ tích phóng đãng:

Là một người thuộc dòng  Sherif, đứng hàng thứ 37 tính từ Đấng Tiên Tri, ông có thể trêu chọc vị ulema. ‘Nhìn một phụ nữ xinh đẹp có sai quấy không?’ ông hỏi một vị mufti. ‘Một tội lỗi, thưa Hoàng thượng.’ ‘Nhưng Kinh Koran có dạy “Nếu ngươi nhìn một phụ nữ, thì hãy quay mặt đi” nhưng ông không thể quay mặt đi chỗ khác trừ khi ông đã nhìn thấy rồi!’ Ông đồng thời là một người Bedouin kiêu hãnh và một đứa con thuộc dòng dõi sultan Ottoman, ông đã chỉ huy quân đội khi còn là thiếu niên và là ‘bộ óc’ của cuộc Nổi dậy Ả Rập Vĩ đại. Tham vọng của ông là vô hạn cũng như khẩn thiết, từ đó có biệt danh ‘Người Vội Vàng’. Nhưng một thời gian dài ông đã chờ cơ hội chinh phục Jerusalem này.

Qua nhiều năm, ông thường tiếp chuyện với Weizmann và các doanh nhân Do Thái, dâng tặng người Do Thái một tổ quốc nếu họ chịu chấp nhận ông là vua Palestine. Ông thường viếng thăm Jerusalem, gặp gỡ đồng minh của ông Ragheb Nashashibi, nhưng ông không ưa vị mufti, cho rằng Zionism lớn mạnh hơn nhờ ‘những người Ả Rập như ông ta không chịu chấp nhận giải pháp nào’.   

Nhà vua đã bí mật thỏa thuận một hiệp ước bất tương xâm với người Zionist: ông sẽ chiếm những khu vực Bờ Tây được gìao cho người Ả Rập đổi lại không chống đối những đường biên được LHQ ấn định cho nhà nước Do Thái: và người Anh đã đồng ý việc xáp nhập của ông. ‘Tôi không muốn sáng lập một nhà nước Ả Rập mới cho phép người Ả Rập cưỡi trên lưng tôi’, ông giải thích với phái viên Zìonist Golda Myerson (sau này là Meir). ‘Tôi muốn làm kỵ sĩ chứ không muốn làm ngựa.’ Nhưng con ngựa bay giờ đã lồng lên: Cuộc chiến, đặc biệt, vụ tàn sát Deir Yassin, đã buộc ông phải chống lại người Do Thái. Ngoài ra, các nhà nước Ả Rập khác cũng quyết tâm hạn chế tham vọng của Abdullah nhiều như quyết tâm giải cứu Palestine, và người Ai Cập và Syria có kế hoách xáp nhập những vùng đất chinh phục của mình. Tư lệnh Glubb Pasha của Abdullah, người đã cống hiến đời mình cho việc tạo dựng một quân đội đàng hoàng cho người Hashemite, giờ miễn cưỡng phải mạo hiểm sử dụng nó.

Quân đoàn Ả Rập của ông tiến lên thận trọng qua vùng đồi Judaea về hướng Jerusalem, tại đó Quân đội Giải Phóng Ả Rập không chính quy tấn công vùng ngoại ô Do Thái. Khi đêm xuống ngày 16/5, Haganah đã đánh chiếm đồn cảnh sát Mea Shearim và vùng Sheikh Jarrah về phía bắc và trọn Thành phố Mới về phía nam tường thành cũng như những căn cứ Anh trước đây ở trung tâm, Phức hợp Nga và YMCA. ‘Chúng tôi đã chiếm được gần như toàn bộ Jerusalem, trừ Augusta Victoria và Thành phố Cổ,’ Ben-Gurion tuyên bố.

‘SOS! Người Do Thái đến gần tường thành!’ Anwar Nusseibeh vội vã trở lại nhà vua xin ông can thiệp. Abdullah không hề quên vị trí của mình trong lịch sử: ‘Nhờ Trời tôi là nhà cai trị Hồi giáo, một vì vua dòng Hashemite, và cha tôi là vua của mọi người dân Ả Rập.’ Giờ đây ông viết cho vị tư lệnh người Anh của mình: ‘Pasha Glubb, tầm quan trọng của Jerusalem trong mắt người Ả Rập và người Hồi và người Cơ đốc Ả Rập ai cũng biết rõ. Bất kỳ tai họa nào mà nhân dân thành phố chịu đựng dưới bàn tay của người Do Thái sẽ có những hậu quả sâu xa đối với chúng ta. Mọi thứ chúng ta giữ được hôm nay phải được gìn giữ – Thành phố Cổ và con đường đến Jericho. Tôi nhờ anh thi hành điều này nhanh như có thể, bạn thân mến.’

ABDULLAH: TRẬN ĐÁNH JERUSALEM

‘Binh lính nhà vua rất hân hoan, nhiều xe của họ trang trí cành lá xinh tươi hoặc những đóa hoa trúc đào hồng thắm. Đoàn diễu hành của Quân đoàn Ả Rập về hướng Jerusalem dường như giống một đám rước lễ hơn là một đoàn quân ra chiến trường’, Glubb nhận xét. Vào ngày 18/5, những đạo quân đầu tiên chiếm lĩnh các vị trí quanh tường thành của Thành phố Cổ từ đó, ông viết, gần 1,900 năm cách đây chính người Do Thái đã phóng tên xuống các quân đoàn Titus’. Nhưng nhà vua hốc hác vì lo lắng sợ người Do Thái sẽ tiến vào Thành phố Cổ và Điện thờ nơi cha ông vị  vua Hussein quá cố xứ Hejaz được an táng. Các lực lượng của Glubb cày nát qua vùng Sheik Jarrah do Israel chiếm đóng đến Cổng Damascus.

Bên trong Thành phố Cổ, những quân không chính quy và sau đó các Quân đoàn Ả Rập bao vây Khu Do Thái, nơi định cư của một số gia đình Do Thái lâu đời nhất ở Palestine, nhiều người trong số họ là những học giả Hasidic già khú, và tất cả được bảo vệ bởi 190 chiến sĩ Haganah và Irgun. Rabin giận dữ khi biết rằng chỉ có một lực lượng khiêm nhường có thể dành được  để giải cứu Thành phố Cổ. Ông quát người chỉ huy Jerusalem, ‘Đây có phải là lực lượng duy nhất mà người Do Thái có thể gom góp để giải phóng kinh đô của mình?’

Rabin nỗ lực không thành công để tràn vào Cổng Jaffa, nhưng đồng thời những binh sĩ khác đột phá qua được Cổng Zion vào Thành phố Cổ. 80 quân Palmach gia nhập binh sĩ phòng thủ trước khi để mất Cổng Zion. Nhưng giờ đây, Quân đoàn Ả Rập đến đầy đủ. Trận đánh giành Thành phố Cổ sẽ rất tuyệt vọng. Glubb ghi chép hai bên đánh nhau ‘từ phòng này qua phòng khác, xuống những lối đi tối om, lên xuống những cầu thang bé xíu cắt trong sân và thông xuống hầm qua những mê lộ ngột ngạt của Khu Do Thái phía trên những rác thải và đồ tế nhuyễn thiên niên kỷ. Glubb giờ ra lệnh tiêu diệt Khu Do Thái một cách có hệ thống. Các giáo sĩ Do Thái kêu gọi cầu cứu. Ben-Gurion điên cuồng. ‘Jerusalem có thể thất thủ bất cứ giây phút nào! Tấn công bằng mọi giá!’

Vào ngày 26/5, Quân đoàn Ả Rập chiếm Quảng trường Hurva, và phá mìn những giáo đường Do Thái hoành tráng. ‘Hai ngày sau, hai giáo sĩ già, lưng cong vì tuổi tác, bước xuống một lối đi hẹp tay mang cờ trắng’, Glubb nhận xét. Băng qua chiến tuyến, và chỉ cách vài trăm bộ trong chiến trường tí tẹo này, Rabin cũng nhìn thấy cùng một cảnh tượng đổ nát từ Núi Zion: ‘Tôi khiếp đảm.’ 39 trong số 213 người phòng thủ đã chết, 134 bị thương. ‘Vậy là Thành phố sẽ rơi vào tay kẻ thù,’ Begin viết. ‘Tang tóc  buông xuống chúng tôi.’ Còn Glubb thì hớn hở, cho phép đập phá Khu Do Thái: 22 trong số 27 giáo đường bị phá hủy. Lần đầu tiên kể từ thời Hồi giáo tái chinh phục vào năm 1187, người Do Thái đánh mất lối đi đến Bức Tường Tây.

Glubb sử dụng Pháo đài Latrun để khép lại con đường đến tây Jerusalem. Ben-Gurion ra lệnh lặp đi lặp lại phải chiếm Latrun, dù phải trả giá sinh mạng cỡ nào, nhưng những cuộc tấn công đều thất bại. Người Do Thái Jerusalem đã sống dưới hầm, bắt đầu chết đói cho đến khi người Israel mở một tuyến đường mới để tiếp tế, cái gọi là Đường Miến Điện phía nam Latrin.

Ngày 11/6, người trung gian LHQ, Bá tước Folke Bernadotte, cháu nội của một nhà vua Thụy Điển, người đã thương thảo với Himmler để giải cứu người Do Thái trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, đã làm trung gian thành công cho một cuộc hưu chiến và đề nghị một phiên bản phân chia mới, cho Vua Abdullah toàn bộ Jerusalem. Israel bác bỏ kế hoạch của Bernadotte.

Khi thời hạn hưu chiến đã hết; cuộc chiến tiếp tục. Ngay hôm sau một máy bay Spitfire của Ai Cập ném bom tây Jerusalem. Các Quân đoàn Ả Rập hồ hởi tấn công Thành phố Mới qua Cổng Zion và sau đó tiến về hướng Nhà Thờ Đức Bà: ‘Chỉ cần quay đầu, họ có thể nhìn thấy Vòm Đá và al-Aqsa,’ Glubb viết. ‘ Họ đang chiến đấu trên lối đi của Chúa Trời’, khi người Israel một lần nữa cố gắng chiếm Thành phố Cổ.

‘Chúng ta có thể giữ Jerusalem không?’ Abdullah hỏi Glubb.

‘Họ sẽ không bao giờ chiếm được nó, thưa ngài!’

‘Nếu anh có nghĩ là người Do Thái sẽ lấy được Jerusalem, thì hãy cho tôi biết,’ nhà vua nói. ‘Tôi sẽ đi đến đó và chết trên tường thành.’ Cuộc phản công của quân Israel thất bại. Nhưng sức mạnh quân sự của Israel đang tăng lên: Nhà nước mới giờ đây đang tung ra 88,000 quân, chống lại 68,000 quân Ả Rập. Trong thời gian 10 ngày trước khi có cuộc hưu chiến thứ hai, người Israel chiếm Lydda và Ramla.

Trước sự nổi giận của người Zionist về lời đề nghị của Bernadotte người Thụy Điển giờ đề xuất là Jerusalem phải được quốc tế hóa. Vào ngày 17/9, bá tước Thụy Điển bay vào Thành phố Thánh. Nhưng những người quá khích Lehi, do Yitzhak Shamir (một thủ tướng Israel tương lai) cầm đầu, quyết định tiêu diệt con người lẫn kế hoạch của ông. Khi Bernadotte lái xe từ bộ chỉ huy của ông trong Trụ sở Chính quyền qua Katamon để gặp thống đốc Israel Dov Joseph ở Rehavia, chiếc jeep của ông bị vẫy tay kêu dừng lai tại một trạm kiểm soát. Ba người từ một chiếc jeep khác bước xuống lia khẩu Stens; hai khẩu bắn xẹp bánh xe, khẩu thứ ba bắn vào ngực Bernardotte trước khi lao xe đi. Bá tước chết tại Bệnh viện Hadassah. Ben-Gurion dẹp bỏ và giải thể Lehi, nhưng bọn sát nhân không hề bị bắt.

Abdullah đã giữ được Thành phố Cổ. Trên Bờ Tây, nhà vua giữ phía nam, người Iraq giữ phía bắc. Ở phía Nam Jerusalem, đội tiên phong Ai Cập có thể trông thấy Thành phố Cổ và đang đánh vào những khu ngoại ô phía nam. Vào giữa tháng 9, Liên đoàn Ả Rập công nhận một ‘chính quyền’ Palestine đặt căn cứ trên Gaza được vị mufti và các Đại gia ở Jerusalem thống trị. Nhưng khi đánh nhau tiếp tục, người Israel đánh bại và bao vây quân Ai Cập, chinh phục sa mạc Negev. Bị mất mặt, Ai Cập đưa vị mufti trở lại Cairo, sự nghiệp chính trị của ông ta cuối cùng bị tai tiếng. Vào cuối tháng 11, 1948, Trung tá Moshe Dayan, giờ là chỉ huy quân sự của Jerusalem, đồng ý ngưng bắn với quân Jordan. Trong nửa năm đầu 1949, Israel ký hiệp ước đình chiến với cả 5 nhà nước Ả Rập, và vào tháng 2 1949, Knesset, Nghị viện Israel, nhóm họp tại trụ sở Cục Do Thái trên Đại lộ George V ở Jerusalem để bầu Weizmann chính thức vào chức vụ tổng thống.

Weizmann, giờ đã 75, thấy mình bị Thủ tướng Ben-Gurion phớt lờ và tức giận vì vai trò không quyền hành của mình, ‘Tại sao tôi phải là tổng thống kiểu Thụy Sĩ?’ Weizmann hỏi. ‘Tại sao không là tổng thống kiểu Hoa Kỳ?’ Ông nói đùa cho mình là ‘Tù nhân của Rehovoth’ – chỉ thị trấn nơi ông đã dựng lên Viện Khoa học Weizmann. Cho dù ông có nơi cư trú chính thức ở Jerusalem, ‘tôi vẫn luôn thành kiến chống lại thành phố và thậm chí bây giờ  tôi cảm thấy không thoải mái sống trong đó.’ Ông mất năm 1952.

Hiệp ước Đình chiến, ký vào tháng 4 1949 và được giám sát bởi LHQ, đặt văn phòng tại Trụ sở Chính quyền Anh, phân chia Jerusalem: Israel nhận phần phía tây với một đảo lãnh thổ trên Núi Scopus, trong khi Abdullah giữ Thành phố Cổ, đông Jerusalem và Bờ Tây. Hiệp ước hứa cho người Do Thái lối đi đến Bức Tường, nghĩa địa trên Núi Olives và các lăng mộ ở Thung lũng Kidron nhưng điều này chưa hề thực thi đúng hẹn. Người Do Thái không được phép cầu nguyện tại Bức Tường trong 19 năm sau, và những lăng mộ trong các nghĩa địa của họ bị gây hư hại.

Người Israel và Abdullah cả hai đều sợ mất phần phân nửa Jerusalem  của mình. LHQ khăng khăng tranh luận về việc quốc tế hóa thành phố, vì thế hai bên đều chiếm Jerusalem một cách bất hợp pháp và chỉ hai xứ công nhận việc Abdullah giữ Thành phố Cổ. Vào ngày 11/12 Jerusalem được tuyên bố là thủ đô của Israel.

Người chiến thắng Ả Rập là Abdullah Người Vội Vàng, người mà 32 năm sau cuộc Nổi dậy Ả Rập, cuối cùng đã giành được Jerusalem. Ông nói, ‘Ai muốn giành được Jerusalem từ tay tôi phải bước qua xác tôi.’

CHƯƠNG 52 : CHIA RẼ 1951–67

 

VUA JERUSALEM: MÁU TRÊN NÚI ĐỀN

‘Một dảy kẽm gai củng cố, bãi mìn, ụ súng và chốt quan sát đi ngang qua thành phố,’ Amos Oz viết. ‘Một bức màn bê tông buông xuống và chia cắt chúng tôi khỏi Sheikh Jarrah và những vùng lân cận Ả Rập.’ Thường có nạn bắn tỉa: năm 1954 có 9 người bị giết theo cách này và 54 người bị thương. Thậm chí khi hai bên hợp tác, cũng rất căng thẳng: năm 1950, LHQ làm trung gian trong việc nuôi ăn một con hổ, một sư tử và hai con gấu trong Vườn thú Kinh thánh trên Núi Scopus do Israel kiểm soát và chính thức giải thích rằng ‘Phải đưa ra quyết định hoặc là (a) tiền Israel nên được dùng để mua lừa Ả Rập cho sư tử Israel thịt hoặc (b) một con lừa Israel sẽ chạy qua lãnh thổ do Jordan giữ để được nuôi thịt cho sư tử nói trên.’ Cuối cùng các con thú được hộ tống trong đoàn xe của LHQ đi qua Jordan đến tây Jerusalem.

Vào tháng 11, Abdullah được tôn làm vua Jerusalem bởi giám mục Coptic – vị vua đầu tiên kiểm soát thành phố kế từ Frederic II. Vào ngày 1/12 ông tự xưng là vua Palestine ở Jericho, đặt tên lại lãnh thổ mình là Vương quốc Jordan Thống nhất. Nhà Husseini và nguời dân tộc chủ nghĩa lên án Abdullah cho sự nhượng bộ của ông và không thể tha thứ cho ông vì tội là người Ả Rập duy nhất đã thành công trong Tai Hoạ Palestine.

Nhà vua quay sang các Đại gia Jerusalem. Ông giao cho Ragheb Nashashibi chức thủ tướng Jordan. Nashashibi từ chối, nhưng đồng ý làm bộ trưởng. Nhà vua cũng chỉ định ông làm thống đốc Bờ Tây và Người Bảo Hộ Hai Haram (Jerusalem và Hebron) cũng như tặng ông một ô tô Studebaker và tước hiệu ‘Ragheb Pasha’. (Người Jordan còn dùng tước hiệu Otto trong thập niên 1950). * Abdullah cũng chính thức bãi nhiệm vị mufti mà ông ghét.

* Nhưng Ragheb sắp chết vì bệnh ung thư. Nhà vua đến thăm ông trong Bệnh viện Augusta Victoria. Vào năm 1951, Nashashibi mất và được chôn cất trong một ngôi mộ nhỏ gần biệt thự của ông – mà sau đó bị sẵn bằng để xây khách sạn Ambassador.

Abdullah được cảnh báo về những âm mưu ám sát ông, nhưng ông luôn đáp, ‘Ngày ta chưa tới thì không ai làm hại ta được; ngày ta tới rồi, thì không ai bảo vệ ta được.’ Dù với bất cứ hiểm nguy nào, Abdullah, giờ 69 tuổi, tự hào vì sở hữu được Jerusalem. Abdullah không hài lòng về con trai trưởng Talat, nhưng ông yêu quý cháu nội mà ông dạy dỗ cách làm vua.

Vào ngày thứ sáu 20/7/1951, Abdullah đi đến Jerusalem với Hussein 16 tuổi, mà ông ra lệnh phải mặc quân phục có đeo huy chương. Trước khi đi, nhà vua bảo cậu, ‘Cháu của ông, một ngày nào đó con sẽ nắm giữ trách nhiệm,’ và nói thêm ‘Khi ông phải chết, ông thích bị một tên vô danh nào đó bắn vào đầu. Đó là cách thức đơn giản nhất.’ Họ dừng lại ở Nablus để gặp em họ của vị mufti, Tiến sĩ Musa al-Husseini, người đã phục vụ vị mufti ở Berlin Quốc xã: ông này cúi đầu và bây tỏ lòng trung thành.

Ngay trước giữa trưa, Abdullah đến Jerusalem dự buổi cầu nguyện thứ sáu với cháu nội mình, Glubb Pasha, Trưởng Nội thị Hoàng cung Nassereddin Nash-ashibi và Musa Husseini. Khi thấy quá nhiều vệ sĩ bao quanh, Hussein nói đùa ‘Đây là gì vậy, một đám đưa tang à?’ Abdullah đi thăm mộ cha, rồi bước đến al-Aqsa và bảo cận vệ lùi lại, nhưng Musa Husseini vẫn đứng rất sát ông. Khi Abdullah bước vào khung cửa, tộc trưởng của thánh đường hôn tay nhà vua, và đồng thời một thanh niên ló người ra từ phía sau cánh cửa. Nâng khẩu súng lục, y ấn nòng súng vào tai nhà vua và bóp cò, giết chết ông ngay lập tức. Viên đạn xuyên qua mắt, và Abdullah ngã bổ xuống, khăn xếp trắng của ông rớt sang một bên. Mọi người nằm sát đất, trừ Hussein chồm tới tên sát thủ, giờ quay sang cậu. Y chĩa súng và bóp cò. Viên đạn bắn trúng tấm huy chương nên Hussein thoát chết. Ông nội Abdullah của cậu đã cứu cậu khi ra lệnh cậu phải mang huy chương. Các vệ sĩ bắn tới tấp, giết chết tên sát thủ.

15

Người chiến thắng Ả Rập năm 1948 Vua Abdullah của Jordan đang vẫy tay chào dân chúng ở Jerusalem, nhưng ông phải trả giá bằng mạng sống của mình. Tên sát thủ nằm chết trong Thánh đường Agsa. Cháu nội ông Vua Hussein xứ Jordan chuẩn bị chiến tranh vào năm 1967.

HUSSEIN XỨ JORDAN: VỊ VUA CUỐI CÙNG CỦA  JERUSALEM

Vị mufti và Vua Farouk xứ Ai Cập được cho là đứng đàng sau vụ ám sát. Musa Husseini bị bắt giữ và tra tấn trước khi y và ba người khác bị hành hình. Vào năm 1952, Vua Farouk, người Albania cuối cùng thuộc dòng dõi Mehmet Ali bị phe Sĩ Quan Tự Do do Tướng   Muhammad Neguib và Colonel Gamal Abdul Nasser, lật đổ.

Người kế vị Abdullah là con trai ông, Vua Talat, bị chứng tâm thần phân liệt rất nặng, có lần suýt giết chết vợ mình. Vào ngày 12/8/1952, chàng Hussein trẻ tuổi đang nghĩ mát tại một khách sạn ở Geneva thì người bồi tiến đến trao cho cậu một phong bì đựng trên đĩa bạc: thư được gởi đến ‘Đức Vua Hussein’. Cha ông đã thoái vị. Chỉ mới 17, Hussein thích ô tô thể thao và xe gắn máy phân khối lớn, máy bay và trực thăng và thiếu nữ đẹp – cậu cưới đến năm bà vợ. Trong khi ông nội mình đã chưa hề thôi mơ ước về một vương quốc Hashemite rộng lớn hơn, và liều lĩnh làm mọi việc để giành được Jerusalem, Huszein dần dần nhận thức được rằng trong thời ông thậm chí sống sót để làm vua Jordan cũng là một thành tựu. 

Một sĩ quan được huấn luyện ở Sandhurst, vị vua phóng khoáng này thân phương Tây, chế độ ông thoạt tiên được Anh tài trợ rồi tới Mỹ, ông sống được chỉ nhờ lấy lòng giữa những lực lượng đang vờn nhau trong thế giới Ả Rập. Có lúc ông phải gồng mình chịu đựng cái ôm xiết đến ngạt thở của các tên độc tài như Nasser của Ai Cập và Saddam Hussein của Iraq. Như ông nội mình, ông có thể hợp tác với người Israel; sau này ông còn trở nên thân thiết với Rabin.

Vào ngày 23/5/1961, Ben-Gurion cho gọi một phụ tá trẻ của mình, Yitzhak Yaacovy, vào phòng làm việc. Vị thủ tướng ngước nhìn Yaacovy: ‘Cậu có biết Adolf Eichmann là ai không?’

‘Không,’ Yaacovy trả lời.

‘Y là người đã tổ chức vụ Holocaust, giết hại gia đình cậu và đưa cậu tới trại tử thần Auchwitz vào năm 1944’ Ben-Gurion nói.

Tại đó cậu đã sống sót nhờ được tuyển chọn làm lao động khổ sai, những người khác bị xông hơi độc ngay lập tức bởi chính bác sĩ SS Josef Mengele. Sau đó cậu di cư đến Israel, chiến đấu và bị thương trong Chiến tranh Độc lập và định cư tại Jerusalem, tại đây cậu làm việc cho văn phòng thủ tướng.

Ben-Gurion nói tiếp, ‘cậu hãy lái ô tô đến Knesset và ngồi như là khách của tôi và xem tôi thông báo rằng chúng ta đã mang được Eichmann về đây để bị xét xử tại Jerusalem.’

Cơ quan mật vụ Israel Mossad đã bắt cóc Eichmann từ nơi ẩn náu của y ở Argentina, và vào tháng 4 vụ xét xử bắt đầu trong một tòa án ở khu hành chính Jerusalem. Y bị treo cổ trong nhà tù Ramla.

Trên phía bên kia biên giới, Vua Hussein gọi thành phố Jerusalem là thủ đô thứ hai của ông. Thủ đô chính là Amman. Thành phố Thánh đúng là xuống hạng chỉ còn là một thị trấn tỉnh lẻ với hàng rào kẽm gai ở giữa. 

Các Siêu Cường đã luôn hậu thuẫn phe cánh của mình thành ra không có gì ngạc nhiên khi Chiến tranh Lạnh được tiến hành một cách vụng trộm dưới lớp áo và phía sau những áng thờ của Jerusalem cũng ráo riết như trong những ngõ ngách phía sau của Berlin, thành phố bị phân chia khác. Phó Lãnh sự Mỹ Bird khuyến cáo CIA tài trợ 80,000 đô la để sửa chữa các vòm hình củ hành của Nhà Thờ Mary Magdalene của Đại Công tước Sergei. Nếu CIA không trả, KGB có thể trả. Chính thống giáo Nga bị phân chia giữa Giáo hội do CIA hậu thuẫn có trụ sở tại New York và phiên bản Xô-viết do KGB hậu thuẫn ở Moscow. Người Jordan, bạn đồng minh sừng sỏ của Mỹ, giao các nhà thờ Nga cho Giáo hội chống Cộng, trong khi người Israel, nhớ rằng Stalin là người đầu tiên công nhận nhà nước mới của mình, giao những tài sản Nga cho người Xô-viết, nhờ đó họ dựng lên một xứ đạo ở tây Jerusalem do một ‘giáo sĩ’ cầm đầu, mà thực sự là một đại tá KGB đã từng là cố vấn quân sự ở Bắc Triều Tiên.

Trong chốn tù đọng còn bị các Husseini, Nashashibi, học giả Hồi và giám mục Cơ đốc thống trị, nếu bạn có thể phớt lờ hàng rào kẽm gai và các trại tị nạn, thì dường như không có gì từng xảy ra. Vậy mà không có gì là như cũ – và thậm chí Jerusalem lai tạp này giờ đang bị đe dọa. Sự trỗi dậy của Nasser, Tổng thống Ai Cập, thay đổi tất cả, khiến Hussein lâm vào cảnh khốn đốn và có nguy cơ đánh mất phần sở hữu Jerusalem.

CHƯƠNG 53:    SÁU NGÀY 1967

 

NASSER VÀ HUSSEIN: ĐẾM NGƯỢC ĐẾN CHIẾN TRANH

Sinh ra trong chốn mờ mịt, Nasser là mẫu người lý tưởng của chính khách Ả Rập – một sĩ quan trẻ bị thương trong cuộc bao vây của Israel năm 1948 và quyết tâm phục hồi niềm kiêu hãnh Ả Rập. Ông trở thành nhà lãnh đạo được nhân dân yêu chuộng nhất trong nhiều thế kỷ, nhưng ông cũng cai trị như một nhà độc tài, được mật vụ tiếp tay. Được biết dưới biệt hiệu El Rais – Ông Chủ – trên khắp thế giới Ả Rập, Nasser quảng bá chủ nghĩa toàn-Ả Rập xã hội chủ nghĩa tạo cảm hứng cho dân tộc mình thách thức sự thống trị của phương Tây và thắng lợi của người Do Thái và nâng cao hy vọng ngất trời là thảm bại của họ sẽ được báo thù.

Nasser ủng hộ những cuộc đột kích của Palestine chống Israel. Việc lãnh đạo của quốc gia  Ả Rập hùng mạnh nhất của ông, Ai Cập, khiến Israel báo động. Năm 1956, ông thách thức uy thế của các đế chế Anh-Pháp bằng cách quốc hữu hóa Kênh đào Suez và hậu thuẫn cuộc nổi dậy giành độc lập của nhân dân Algeria chống thực dân Pháp. London và Paris, quyết tâm hủy diệt ông, bí mật liên minh với Ben-Gurion. Cuộc tấn công thành công của Israel vào Sinai, do Tham mưu trưởng Dayan lên kế hoạch, tạo cho Anh-Pháp cái cớ để xâm chiếm Ai Cập, bề ngoài là để tách hai nước láng giềng thù địch ra. Tuy nhiên, Anh và Pháp thiếu sức mạnh để duy trì cuộc phiêu lưu đế chế cuối cùng này: Mỹ buộc họ rút lui. Lập tức ngay sau đó, Vua Hussein sa thải Glubb khỏi chức vụ tư lệnh quân đội mình. 1956 là hoàng hôn của nền đế chế Trung Đông Anh và bình minh của sự trỗi dậy Hoa Kỳ.

Nasser nhắm đến hai vương quốc Hashemite, nơi tính cực đoan của chủ nghĩa toàn-Ả Rập càng ngày càng được ưa chuộng trên đường phố và trong hàng ngũ sĩ quan. Năm 1958, em họ của Hussein là Faisal II xứ Iraq bị sắt hại trong một vụ đảo chính quân sự. Gia đình đã từng là vua xứ Ả Rập, Hejaz, Syria, Palestine, Iraq – và Hussein giờ là vì vua dòng Hashemite cuối cùng. Nasser chính thức xáp nhập Ai Cập với Syria trong Cộng hòa Ả Rập Thống nhất, bao vây Israel và thống trị Jordan, nhưng Cộng hòa này, đã hai lần tan rã và hai lần xáp nhập, vẫn còn mong manh.

Vua Husseine giờ đang tranh đấu để sống còn, bị đè bẹp giữa Ai Cập và Syria của Nasser quá khích, giữa người Ả Rập và Israel, và giữa những tham vọng triều đại của riêng mình và những đắng cay mà nhân dân Palestine cảm thấy là ông đã phản bội họ.  Khi Nasser âm mưu lật đổ nhà vua, Jerusalem và Bờ Tây liên tiếp nối lên chống lại triều đại Hashemite.

Năm 1959, Yasser Arafat, một cựu binh của cuộc chiến 1948, thành lập một phong trào giải phóng hiếu chiến có tên Fatah – Chinh phục. Năm 1964, Nasser tổ chức một hội nghị thượng đỉnh ở Cairo thành lập Bộ Tư lệnh Ả Rập Thống nhất cho cuộc chiến sắp tới chống Israel và thành lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) dưới sự lãnh đạo của  Ahmed al-Shuqayri. Tháng năm đó ở Jerusalem, Vua Hussein miễn cưỡng mở Hội nghị Palestine, nhằm phát động PLO. Tháng 1 sau đó, Fatah của Arafat tiến hành một vụ đột kích nhỏ vào Israel từ Jordan. Đó là một thảm bại và thương vong duy nhất là một du kích Palestine bị người Jordan bắn chết. Nhưng hoạt động của Fatah bắt được sự tưởng tượng của người Ả Rập và đánh dấu khởi đầu chiến dịch của Arafat đặt chính nghĩa Palestine tại trung tâm chính trường toàn cầu. Sự trỗi dậy của những người quá khích hông vắt súng lục, mặc quân phục kaki, đội khăn xếp của lực lượng Fatah làm lu mờ hình ảnh những Đại gia cao ngạo, đã bị vị mufti và cuộc chiến 1948 gây tai tiếng. Như một dấu hiệu của thời thế, con trai Sari của  Anwar Nusseibeh gia nhập Fatah.

Người Palestine đang mất kiên nhẫn với Husseine. Khi Thống đốc Nusseibeh từ chối một lệnh của nhà vua, nhà vua sa thải ông và bổ nhiệm một người Jordan thay thế. Vào tháng 9 1965, theo bước chân ông nội, Hussein bí mật gặp ngoại trưởng Israel, Golda Meir, đề nghị rằng một ngày nào đó ‘chúng ta có thể buông xuống vũ khí và dựng lên một tượng đài ở Jerusalem đánh dấu thời kỳ hòa bình giữa chúng ta’.

Khi Ben-Gurion về hưu vào năm 1963 sau khi làm thủ tướng, người kế vị ông là Levi Eshkol, 68 tuổi, ra đời gần Kiev. Ông không phải là Ben-Gurion. Vào đầu năm 1967, Syria tấn công phía bắc Israel, dẫn đến một cuộc hỗn chiến trong đó không lực Syria bị tiêu diệt trên bầu trời Damascus. Syria hậu thuẫn nhiều cuộc đột kích của Palestine hơn vào Israel.

Liên Xô cảnh báo Nasser – hóa ra sai lầm – là Israel lên kế hoạch tấn công Syria. Vẫn còn chưa rõ tại sao Moscow đưa ra tin tình báo sai lầm này và tại sao Nasser lại chịu tin vào đó khi ông có cả nhiều tuần lễ để xác minh hay phủ nhận. Với toàn bộ sức mạnh của Ai Cập, uy tín và sức thu hút của chủ nghĩa Toàn-Ả Rập, Nasser đã bị bẽ mặt bởi những trận đột kích giáng trả của Israel và lâm vào tình thế nguy hiểm vì đưa Syria đến miệng hố chiến tranh. Ông chuyển quân vào bán đảo để cho thấy mình sẽ không tha thứ một cuộc tấn công vào Syria.

Vào ngày 15/5, ngài Eshkol và tham mưu trưởng, Tướng Rabin, gặp nhau tại King David ở Jerusalem trước cuộc diễu binh nhân ngày Lễ Độc Lập: họ phản ứng cách nào trước đe doạ của Nasser? Ngay hôm sau, Ai Cập yêu cầu LHQ rút những nhân viên gìn giữ hòa bình ra khỏi Sinai. Nasser ắt hẳn hy vọng leo thang cuộc khủng hoảng trong khi vẫn có thể tránh được chiến tranh. Nếu đúng như thế, thì động thái của ông quả là vụng về hoặc bừa bãi. Khi các nhà lãnh đạo Ả Rập và dân chúng ngoài đường phố reo hò nhà nước Do Thái sắp diệt vong, Eshkol run rẩy căng thẳng. Một cơn hoảng loạn bao trùm khắp Israel. Chỉ sống nhờ cà phê và hút thuốc lá không ngừng đến  70 điếu một ngày, biết rằng sự sống còn của Israel đè nặng lên vai mình, Tướng Rabin bắt đầu suy sụp.

RABIN: SUY SỤP TRƯỚC TRẬN ĐÁNH

Nasser đánh giá cục diện khi triệu tập nội các và cật vấn phó tổng thống và quyền quân sự tối cao, Thống chế Abdel-Hakim al-Amer, một người ảo tưởng, thích hưởng và phê thuốc, là người bạn lâu năm nhất của tổng thống. 

NASSER: Giờ với việc chúng ta tập trung quân trên Sinai cơ hội chiến thắng là 50-50. Nếu chúng ta khép lại Eo Tiran, chiến thắng sẽ là 100 phần trăm. Lực lượng vũ trang có sẵn sàng chưa, Abdel Hakim (Amer)?’

AMER: Theo tôi đã sẵn sàng, Ông Chủ! Mọi thứ đều hoàn hảo.

Vào ngày 23/5, Nasser khép lại Eo Tiran, con đường biển đến cảng then chốt Eilat của Israel. Syria động viên cho chiến tranh. Vua Hussein duyệt lại lực lượng. Rabin và các tướng lĩnh khuyên Eshkol phát động trận đánh phủ đầu vào Ai Cập nếu không sẽ bị tiêu diệt. Nhưng Eshkol từ khước cho đến khi ông đã sử dụng hết các lựa chọn giải pháp chính trị: ngoại trưởng của ông Abba Eban thi hành hoạt động ngoại giao nhẫn nại để ngăn ngừa chiến tranh – hoặc tranh thủ được hậu thuẫn nếu chiến tranh đến. Vậy mà Rabin cứ giày vò vì nghĩ mình làm chưa đủ để cứu Israel. Ông đã chín ngày gần như không ăn uống, không ngủ, hút thuốc không ngừng và thể xác rã rời.

Với thủ tướng phân vân, bộ tham mưu đang an thần, các tướng lĩnh trên bờ vực nổi loạn và quốc gia trong cơn hoảng loạn, không có gì sai trong cơn chấn thương của Israel. Ở Washington, Tổng thống L. B. Johnson từ chối hậu thuẫn việc tấn kích của Israel; ở Moscow, Thủ tướng Alexei Kosygin mạnh mẽ khuyến cáo Nasser rút khỏi cuộc chiến. Ở Cairo, Thống chế Amer, hô hào ‘Lần này chúng ta sẽ là người phát động cuộc chiến, chuẩn bị tấn công Negev. Vừa đúng lúc, Nasser ra lệnh Amer ngưng lại.

Ở Amman, Vua Hussein thấy mình không có lựa chọn nào khác trừ về phe của Nasser: nếu Ai Cập tấn công, ông phải ủng hộ anh em Ả Rập của mình; ngược lại, nếu Ai Cập thua, ông sẽ bị xem là một kẻ phản bội. Vào ngày 30/5, Hussein, mặc quân phục thống chế và vắt một khẩu Magnum .357, lái phi cơ riêng bay đến Cairo, tại đó ông gặp Nasser

‘Vì chuyển thăm của ngài là bí mật,’ Nasser nói, đứng chồm lên nhà vua thấp bé, ‘điều gì xảy ra nếu chúng tôi bắt giữ ngài?’ ‘Khả năng này tôi không hề nghĩ tới,’ Hussein trả lời, đồng ý đặt 56,000 quân của mình vào tay Tướng Riyad của Ai Cập. Nhà vua tuyên bố, ‘Tất cả quân đoàn Ai Cập giờ đang bao vây Israel.’ Israel đối mặt với cuộc chiến trên ba mặt trận. Vào ngày 28/5, Eshkol đọc diễn văn trên đài chỉ làm dân chúng thêm hoang mang. Ở Jerusalem, hầm trú bom được đào, cuộc diễn tập không kích được tiến hành. Người Israel sợ bị hủy diệt, một vụ Holocaust khác. Eban đã cạn kiệt giải pháp ngoại giao và các tướng lĩnh, chính trị gia và công luận đã mất tin cậy vào Eshkol. Ông buộc phải gọi đến quân nhân đáng kính nhất của Israel.

DAYAN NẮM QUYỀN CHỈ HUY

Vao ngày ⅙, Moshe Dayan tuyên thệ nhậm chức bộ trưởng quốc phòng và Menachem Begin cũng tham gia Chính quyền Quốc gia mới với chức bộ trưởng không giữ bộ nào. Dayan, luôn mang chiếc mạng đen che mắt đặc hiệu của mình, là đệ tử của Ben-Gurion và không ưa Eshkol, vốn là người trong chốn riêng tư thường gọi ông bằng biệt danh Abu Jildi, một tên cướp Ả Rập độc nhãn lươn lẹo.

Là học trò của Wingate, tham mưu trưởng trong cuộc chiến Suez và giờ đây là một nghị sĩ, Dayan là một con người tương phản – một nhà khảo cổ và ăn cắp cổ vật, một người nắm sức mạnh quân sự đầy thù hằn và một người tin vào sự hợp tác khoan dung, một người chinh phục Ả Rập và một người yêu quý văn hóa Ả Rập. Vị tướng đồng liêu của ông, Ariel Sharon, cho rằng Dayan ‘sẽ tỉnh dậy với 100 ý tưởng. Trong đó có đến 95 ý tưởng là nguy hiểm; 3 là tồi; hai ý tưởng còn lại là xuất sắc.’

Dayan tỏa ra nét thu hút của một người Do Thái linh hoạt kiểu mới không vì ông tuân theo qui luật, mà vì ông phá bỏ chúng với năng lực và sức thu hút, theo lời của Peres. Ông là người cô độc không bạn bè, một tên khoa trương không thể dò xét được và một tay sát gái. Đô đốc Nelson an ủi bà xã Ruth của ông: ‘Chị phải làm quen với điều đó. Cuộc sống riêng tư và công khai của các vĩ nhân thường được diễn tiến trên hai mặt phẳng song song không bao giờ gặp nhau.’

Khi Eban báo cáo là người Mỹ không tán thành hành động quân sự, nhưng cũng không có động thái ngăn cản nó, Dayan cho thấy mình đã nắm bắt được chiến lược một cách hoàn hảo. Ông nhấn mạnh rằng Israel phải đập Ai Cập ngay tức thì trong khi tránh chạm trán với Jordan. Chỉ huy Jerusalem của ông Uzi Narkiss thách thức ông: nếu Jordan tấn công Núi Scopus thì sao? ‘Trong trường hợp đó,’ Dayan trả lời khô khan, ‘anh hãy cắn môi và giữ vững phòng tuyến!’

Nasser tưởng mình đã thắng một cuộc chiến không đẫm máu nhưng quân Ai Cập vẫn tiếp tục lên kế hoạch tấn công vào Sinai. Quân Jordan, được lữ đoàn Iraq hậu thuẫn, vạch Chiến dịch Tariq để bao vây tây Jerusalem của Do Thái. Thế giới Ả Rập, giờ đây dàn ra 500,000 quân, 5,000 xe tăng và 900 máy bay, chưa bao giờ đoàn kết như thế. ‘Mục tiêu chính của chúng ta là tiêu diệt Israel,’ Nasser tuyên bố. Tổng thống Aref của Iraq giải thích, ‘Mục tiêu của chúng ta là quét sạch bọn Israel ra khỏi bản đồ thế giới.’ Người Israel tung ra 275,000 quân, 1,100 xe tăng và 200 máy bay. 

Vào lúc 7.10 sáng ngày ⅚, các phi công Israel bất ngờ quét sạch không lực Ai Cập. Lúc 8.15, Dayan ra lệnh Lực lượng Phòng thủ Israel tiến vào Sinai. Ở Jerusalem, Tướng Narkiss nôn nóng đợi, sợ rằng người Jordan sẽ chiếm Núi Scopus dễ tổn thương và bao vây 197,000 người Do Thái ở tây Jerusalem, nhưng ông hy vọng quân Jordan chỉ đóng góp tượng trưng cho cuộc chiến Ai Cập. Ngay sau 8 giờ sáng, còi báo động không kích ré vang. Cuộn Văn Bản Biển Chết (Bản thảo tôn giáo của Do Thái cổ đại được tìm thấy trong Hang động Qumran ở Sa mạc Judaea) được cất giữ an toàn. Quân trừ bị được động viên. Ba lần, Israel cảnh báo Vua Hussein, qua Bộ Ngoại giao Mỹ, LHQ ở Jerusalem và Bộ Ngoại giao Anh, rằng ‘Israel sẽ không, lặp lại không, tấn công Jordan nếu Jordan không động binh. Nhưng nếu Jordan khai mở hận thù, Israel sẽ đáp trả với tất cả sức mạnh của mình.’

‘Thưa Hoàng thượng, cuộc tấn công của Israel đã bắt đầu ở Ai Cập,’ sĩ quan phụ tá Vua Hussein báo tin lúc 8.50 sáng. Điện thoại cho bộ chỉ huy, Hussein biết tin Thống chế Amer đã đập tan các lực lượng Israel và đang phản công thành công. Lúc 9 giờ sáng, Hussein bước vào bộ chỉ huy và biết rằng tướng Ai Cập Riyad đã ra lệnh tấn công vào các mục tiêu Israel và đánh chiếm Trụ sở Chính phủ ở nam Jerusalem. Nasser gọi điện để khẳng định thắng lợi của Ai Cập và không lực Israel bị hủy diệt.

Lúc 9.30, vị vua ủ rũ báo với nhân dân: ‘Giờ phút báo thù đã điểm.’

5–7 THÁNG 6 1967: HUSSEIN, DAYAN VÀ RABIN

Lúc 11.15 sáng, pháo binh Jordan phát động trận pháo 6,000 viên bắn vào lãnh thổ Do Thái ở Jerusalem, bắn trúng trụ sở nghị viện và dinh Thủ tướng cũng như Bệnh viện Hadassah và Nhà Thờ Dormition trên Núi Zion. Theo lệnh của Dayan, người Israel đáp trả chỉ bằng vũ khí nhẹ. Lúc 11.30, Dayan ra lệnh tập kích không lực Jordan. Theo dõi từ mái cung điện với con trai trưởng, nhà vua tương lai Abdullah II, Hussein chứng kiến các máy bay mình bị bắn hạ tan tành.

Ở Jerusalem, Israel đưa ra đề nghị ngừng bắn nhưng phía Jordan không quan tâm. Các loa phóng thanh trên Vòm Đá, thường ngày dùng để báo giờ cầu nguyện, hôm nay hét lên, ‘Hãy trang bị vũ khí và chiếm lại lãnh thổ đã bị bọn Do Thái ăn cướp.’ Lúc 12.45 quân Jordan chiếm Trụ sở Chính phủ: hóa ra đó là bộ chỉ huy LHQ nhưng nó khống chế Jerusalem. Dayan ngay lập tức ra lệnh phải tràn vào, và nó thất  thủ sau bốn giờ giao tranh. Ở phía bắc, đạn súng cối và đạn đại bác Israel nã vào quân Jordan.

Dayan tôn kính Jerusalem, nhưng ông hiểu rằng tính phức tạp chính trị của nó có thể đe dọa đến chính sự tồn tại của Israel. Khi Nội các Israel tranh luận có nên tấn công Thành phố Cổ hay chỉ đơn giản làm im bặt tiếng súng Jordan, Dayan lập luận là không tiến chiếm, sợ trách nhiệm cai quản Núi Đền, nhưng ông bị phủ quyết. Ông đình hoãn mọi hành động cho đến khi chinh phục được Sinai.

‘Đêm đó quả là địa ngục,’ Hussein viết. ‘Trời quang đãng như ban ngày. Bầu trời và mặt đất sáng rực lửa rốc két và tiếng bom dội xuống từ máy bay Israel.’ Lúc 2.10 sáng ngày 6/6, lính nhảy dù Israel tập kết thành 3 nhóm, được Tướng Narkiss cổ vũ đền lại tội của năm 48 khi chính ông đã chiến đấu vì thành phố. Nhóm thứ nhất vượt qua vùng trống về hướng Cổng Mandelbaum để chiếm Đồi Quân nhu – nơi Allenby đã cất giữ vũ khí của ông – trong một trận đánh ác liệt với 71 quân Jordan và 35 quân Israel tử trận. Quân nhảy dù nhanh chóng tiến lên qua Sheikh Jarrah vượt qua Thuộc địa Mỹ về hướng Bảo tàng Rockefeller, thất thủ lúc 7.27.

Nhà vua còn giữ bộ chỉ huy ở Bệnh viện Augusta Victoria giữa Núi Scopus và Núi Olives, và ông cố gắng một cách tuyệt vọng để cứu Thành phố Cổ bằng cách đề nghị ngừng bắn, nhưng đã quá muộn. Nasser đã gọi điện bảo Hussein là họ nên tuyên bố Mỹ và Anh đã đánh bại người Ả Rập, chứ không chỉ một mình người Do Thái.

Hussein chạy xe jeep nhanh chóng vào Thung lũng Jordan, nơi ông gặp các binh sĩ mình đang rút khỏi phía bắc. Bên trong Thành phố Cổ, người Jordan, vốn đã đặt bộ chỉ huy của họ trong Tu viện Armenia từ năm 1948, cắt 50 người tại mỗi cổng và chờ đợi. Quân Israel lên phương án đánh chiếm Augusta Victoria, nhưng các xe tăng của họ quẹo sai đường đi xuống Thung lũng Kidron và bị tấn công dữ dội từ Cổng Sư Tử, mất 5 người và 4 tăng ngay sát Vườn Gethsemane. Quân Israel núp trong sân vườn đìu hiu của Lăng mộ Thánh Nữ Đồng Trinh. Thành phố Cổ vẫn chưa bị bao vây.

Dayan lên gặp Narkiss trên Núi Scopus nhìn xuống Thành phố Cổ: ‘Thật là một cảnh tượng thiêng liêng!’ Dayan buột miệng, nhưng ông không cho phép tấn công. Tuy nhiên, lúc bình minh ngày 7/6, Hội đồng Bảo an LHQ chuẩn bị ra lệnh một cuộc ngừng bắn. Menachem Begin gọi cho  Eshkol để khuyến khích một cuộc tấn công khẩn cấp vào Thành phố Cổ. Dayan thình lình có nguy cơ hết thời gian. Trong Phòng Hành quân, ông ra lệnh Rabin đánh chiếm ‘mục tiêu chiến tranh khó khăn nhất nhưng đáng mơ ước nhất’.

Trước tiên quân Israel dội bom  Augusta Victoria, sử dụng bom lửa na-pan; quân Jordan bỏ chạy. Rồi lính nhảy dù Israel chiếm Núi Olives và tiến xuống Vườn Gethsemane. ‘Chúng tôi chiếm những cao điểm nhìn xuống Thành phố Cổ,’ chỉ huy nhảy dù Đại tá Motta Gur bảo với lính của mình. ‘Chỉ một lát nữa thôi chúng ta sẽ tiến vào đó. Thành phố cổ đại Jerusalem mà bao thế hệ chúng ta đã mơ ước và nỗ lực vì nó – chúng ta là người đầu tiên bước vào. Quốc gia Do Thái đang chờ đợi nghe tin chiến thắng của chúng ta. Hãy tự hào lên. Chúc may mắn!’

Lúc 9.45 sáng, xe tăng Sherman của Israel khai hỏa nhắm Cổng Sư Tử, bắn tan xác chiếc buýt án ngữ nó, và thổi tung cánh cổng. Dưới mưa đạn Jordan, quân Israel tấn công vào cổng. Lính nhảy dù xông vào Via Dolorosa, còn Đại tá Gur dẫn đầu một nhóm tiến lên Núi Đền. ‘Ở đó sau hai ngày chiến đấu với đạn còn rít trong không khí, thình lình bạn bổng bước vào khoảng không rộng mở mà mọi người đã nhìn thấy trước đây trong ảnh chụp,’ sĩ quan tình báo Arik Akhmon viết, ‘và mặc dù tôi không người sùng đạo, tôi không nghĩ có ai mà không thấy cảm xúc dâng trào. Một điều gì đó rất đặc biệt đã xảy ra.’ Có một vụ đột kích với quân Jordan trước khi Gur báo cáo qua điện đàm: ‘Núi Đền đã thuộc về chúng ta!’

Trong khi đó trên Núi Zion, một đại đội thuộc Lữ đoàn Jerusalem xông qua  khung Cổng Sư Tử tiến vào Khu Armenia, ném mình xuống triền đồi dốc vào Khu Do Thái, đúng vào lúc các binh sĩ cùng đơn vị đột kích qua Cổng Dung. Tất cả đều hướng về Bức Tường. Trở lại Núi Đền, Gur và binh sĩ không biết đến đó bằng cách nào, nhưng một ông già Ả Rập chỉ cho họ Cổng Maghrebi và cả ba đại đội đều đồng thời hướng về chốn thiêng liêng. Tay cầm sừng dê và cuốn kinh Torah, Giáo sĩ râu dài Shlomo Goren, trưởng tuyên úy của Quân đội Israel, sảy bước đến Bức Tường và bắt đầu đọc kinh bi ai Kaddish trong khi binh sĩ cầu nguyện, khóc nức nở, vỗ tay, nhảy múa và một số thì hát quốc ca mới của thành phố ‘Jerusalem Bằng Vàng’.

Lúc 2.30 chiều, Dayan, hai bên là Rabin và Narkiss, bước vào thành phố, băng qua những chiếc tăng bốc khói, và bước qua những đường phố hoàn toàn vắng ngắt, một sự im lặng thê lương bao trùm thỉnh thoảng bị phá vỡ bằng vài tiếng súng bắn tỉa. Khi họ đi lên Núi Đền, Dayan trông thấy một lá cờ Israel bay trên nóc Vòm Đá ông ra lệnh gỡ xuống ngay lập tức. Rabin nín thở khi nhìn thấy nhóm binh sĩ dạn dày, rã rời vì trận chiến, mặt đầm đìa nước mắt. Ông viết, ‘Nhưng đó không phải là lúc để khóc, mà là thời khắc để cứu chuộc, để hy vọng.’.

Giáo sĩ Gorem muốn tăng tốc đến thời đại của đấng cứu thế bằng cách cho nổ bom những thánh đường Hồi giáo trên Núi Đền, nhưng Tướng Narkiss đã ngăn lại.

‘Ngài sẽ đi vào sử sách,’ Giáo sĩ Goren nói.

‘Tôi đã ghi tên mình vào lịch sử Jerusalem,’ Narkiss trả lời.

Rabin nhớ lại: ‘Đây là đỉnh cao của cuộc đời tôi. Bao năm qua tôi đã lặng lẽ ôm ấp giấc mơ mình sẽ đóng vai trò nào đó trong việc phục hồi Bức Tường Tây cho nhân dân Do Thái. Giờ giấc mơ đã thành hiện thực và thình lình tôi tự hỏi sao mình được chọn để có được đặc ân đó.’ Rabin được ban vinh dự đặt tên cuộc chiến: lúc nào cũng khiêm nhượng và phẩm cách, cộc cằn và kiệm lời, ông chọn cái tên giản dị nhất: Cuộc Chiến Sáu Ngày. Nasser có một cái tên khác cho nó – al-Naksa, Đảo Ngược.

Dayan viết vài lời trên một tờ giấy – nó đọc ‘Cầu mong hoà bình sẽ buông xuống toàn thể ngôi nhà Israel’, rồi ông đặt tờ giấy giữa các đá khối của Herod. Và ông tuyên bố, ‘Chúng ta đoàn tụ thành phố, thủ đô của Israel, không bao giờ rời xa nữa.’ Dayan tiếp, ‘Tới các láng giềng Ả Rập của chúng tôi, Israel vươn ra bàn tay hòa bình và tới các dân tộc thuộc mọi tín ngưỡng, chúng tôi bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng đầy đủ. Chúng tôi không đến để chinh phục những thánh địa của người khác mà để sống với người khác trong hòa hợp.’

Dayan suy nghĩ khắt khe về Jerusalem và đưa ra chính sách của mình. Mười ngày sau đó, ông trở lại al-Aqsa tại đó, ông ngồi chân vẫn mang vớ cùng với tộc trưởng của ngôi đền và vị ulema, ông giải thích rằng Jerusalem giờ thuộc về Israel nhưng người Hồi sẽ kiểm soát Núi Đền. Cho dù, sau 2,000 năm, người Do Thái giờ cuối cùng có thể thăm viếng Har ha-Bayit (Núi Đền), ông ra luật là cấm họ cầu nguyện ở đó. Quyết định có tính cách chính trị của Dayan còn hiệu lực đến nay.

Tổng thống Nasser tạm thời từ chức nhưng không hề buông bỏ quyền bính và thậm chí tha thứ cho người bạn của mình Thống chế Amer. Nhưng Amer âm mưu đảo chính, nhưng bị bại lộ và bị bắt, và chết bí mật trong nhà giam. Nasser khăng khăng rằng ‘‘Al-Quds không bao giờ có thể buông bỏ,’ nhưng ông không hề hồi phục sau vụ thảm bại, và mất vì nhồi máu cơ tim ba năm sau đó. Vua Hussein sau này nhận rằng 5-10 tháng 6 là ‘chuỗi ngày tồi tệ nhất đời tôi’. Ông đã mất phân nửa lãnh thổ – và báu vật Jerusalem. Trong chốn riêng tư, ông khóc vì al-Quds: ‘Tôi không thể chấp nhận được Jerusalem đã mất trong thời kỳ của tôi.’

16

Chính quyền Israel trong khủng hoảng: Tổng Tham mưu Yitzhak Rabin (trái) suy sụp  dưới áp lực và phải cho điều trị an thần; Moshe Dayan (phải) đuợc gọi vào với chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, trong hình trên với Rabin tại một cuộc họp nội các khi cuộc khủng hoảng gia tăng cường độ vào năm 1967 . Quân nhảy dù Israel tiến vào Cổng Sư Tử (ảnh dưới)

17

Vài phút sau khi chiếm được vào tháng 6 1967, binh sĩ Israel cầu nguyện tại Bức Tường Tây; tộc trưởng của Haram al-Sharif nhìn từ Cổng  Maghrebi Gate; phía sau ông các xe jeep Israel chiến đấu ngang qua Haram, trước khi ăn mừng sự thống nhất của Jerusalem trước Vòm Đá.

LỜI BẠT 

Mỗi người đều có hai thành phố, thành phố quê quán và Jerusalem.

                      Teddy Kollek, phỏng vấn

Qua một tai họa lịch sử, sự hủy diệt Jerusalem bởi hoàng đế La Mã – tôi sinh ra trong một thành phố của Diaspora (cộng đồng Do Thái). Nhưng tôi luôn nghĩ mình là một đứa con của Jerusalem.

I. Y. Agnon, diễn văn lễ nhận giải Nobel 1966

Jerusalem nơi tôi được dạy dỗ để yêu thương là con đường hạ giới dẫn đến thế giới linh thiêng nơi các nhà tiên tri Do Thái, Cơ đốc và Hồi giáo, những con người có tầm nhìn và có tính nhân loại, gặp gỡ nhau – dù chỉ trong tưởng tượng.

Sari Nusseibeh, Ngày Xưa có Xứ Sở Đó

Ôi, Jerusalem, với các nhà tiên tri tỏa hương

Con đường ngắn nhất từ mặt đất đến thiên đường

Một đứa trẻ đẹp với ngón tay cháy xém và cặp mắt nhìn xuống. . .

Ôi Jerusalem, thành phố của nỗi buồn,

Một giọt lệ đọng lại trong tròng mắt buồn vương. . .

Ai sẽ lau sạch cho em bức tường loang vết máu?

Ôi Jerusalem, người tôi yêu dấu

Ngày mai các cây chanh sẽ nở hoa; cây ô liu sẽ vui mừng; ánh mắt bạn sẽ nhảy múa; và chim bồ câu sẽ bay về đậu trên những tòa tháp linh thiêng.

Nizar Qabbani, Jerusalem

Người Do Thái đã xây dựng ở Jerusalem cách đây 3,000 năm và người Do Thái đang xây dựng ở Jerusalem hôm nay. Jerusalem không phải là nơi định cư. Nó là thủ đô của chúng ta.

Binyamin Netanyahu, diễn văn 2010

Thêm một lần nữa là trung tâm của những trận bão quốc tế. Không phải Athens hay La Mã đã khơi gợi quá nhiều đam mê như thế. Khi một người Do Thái đến thăm Jerusalem lần đầu tiên, đó không phải là lần đầu tiên, đó là một chuyến trở về nhà.

Elie Wiesel, thư ngỏ gửi Barack Obama, 2010

BUỔI SÁNG Ở JERUSALEM: TỪ THUỞ ĐÓ ĐẾN BÂY GIỜ

Cuộc chinh phục biến đổi, nâng cao và phức tạp hóa Jerusalem trong một chớp nhoáng khải thị vừa có tính cứu thế vừa có tính khải huyền, có tính chiến lược và tính dân tộc. Và tầm nhìn mới này thay đổi Israel, người Palestine và Trung Đông. Một quyết định vốn đã được đưa ra trong cơn hoảng loạn, một cuộc chinh phục vốn chưa hề được lên kế hoạch, một thắng lợi quân sự bị đánh cắp từ bờ vực của thảm họa, thay đổi những người đã tin tưởng, những người không tin điều gì và những người đã khao khát tin vào điều gì đó.

Tại thời điểm không có điều gì rõ ràng nhưng, khi suy nghĩ lại, việc sở hữu Jerusalem dần dần thay đổi tinh thần cai trị của người Israel, vốn theo truyền thống là thế tục, xã hội chủ nghĩa, hiện đại, và nếu nhà nước có một tôn giáo thì nó nhiều phần là khoa học lịch sử của ngành khảo cổ Judaea không kém Do Thái giáo Chính thống.

Việc đánh chiếm Jerusalem nâng cao nhận thức thậm chí những người Do Thái thế tục nhất. Nỗi khao khát Zion quá sâu nặng, quá cổ xưa, quá ăn sâu trong bài hát, kinh cầu và huyền thoại, việc bị tước đoạt khỏi Bức Tường quá lâu đời và quá đau đớn, và vòng hào quang thiêng liêng quá mạnh mẽ đến nỗi những người Do Thái không sùng tín nhất, trên khắp thế giới, cũng trải nghiệm một cảm xúc hân hoan gần như một trải nghiệm tôn giáo sâu xa nhất.

Đối với người Do Thái sùng tín, hậu duệ  những con người trong hàng ngàn năm đã nhìn thấy, ngóng chờ sự ban truyền của đấng cứu thế đang đến gần, thì đây là một dấu hiệu, một sự giải thoát, một sự cứu chuộc và một sự viên mãn những lời tiên tri của kinh thánh, và sự kết thúc của Xuất Hành và Trở Về đến những cánh cổng và sân đền của Điện Thờ trong thành phố của David đã được phục hồi. Đối với nhiều người Do Thái thấm nhuần Zionism dân tộc chủ nghĩa, mang tính quân sự, kế thừa Jabotinsky, thắng lợi quân sự này có tính chiến lược và chính trị – độc nhất, cơ hội trời cho để thủ đắc một Đại Israel với biên giới an toàn. Những người Do Thái sùng tín và dân tộc đều chia sẻ xác quyết rằng họ phải quyết tâm ôm trọn sứ mạng, phấn khích để xây dựng lại và mãi mãi giữ lấy Jerusalem của người Do Thái.

Không chỉ người Do Thái bị ảnh hưởng: những người theo giáo phái Phúc âm Cơ đốc hùng mạnh và đông đảo hơn ở Mỹ cũng trải nghiệm giây phút gần như xuất thần có tính khải huyền này. Họ tin rằng hai điều kiện tiên quyết đã hội đủ cho Ngày Phán Xét: Israel được phục hồi và Jerusalem trở lại với Do Thái. Tất cả điều còn lại là tái dựng Đền Thờ Thứ Ba và bảy năm khổ não, sau đó là trận đánh Armageddon lúc đó Thánh Michael sẽ xuất hiện trên Núi Olives để chiến đấu với bọn Chống-Christ trên Núi Đền. Và kết cục là sự cải đạo hoặc hủy diệt dân Do Thái và sự Xuất hiện Lần Hai và thời kỳ cai trị ngàn năm của Jesus Christ.

Thắng lợi của một nước dân chủ Do Thái nhỏ bé trước những quân đoàn được Xô-viết vũ trang của chế độ độc tài Ả Rập thuyết phục Hoa Kỳ rằng Israel là người bạn đặc biệt của mình trong vùng láng  giềng nguy hiểm nhất, đồng minh của mình trong cuộc tranh đấu chống Nga Cộng, chủ nghĩa cực đoan kiểu Nasser, chủ nghĩa cơ yếu Hồi giáo. Mỹ và Israel chia sẻ nhiều hơn thế, bởi vì họ là những xứ sở xây dựng trên lý tưởng tự do được thần thánh chạm đến: một xứ là Zion mới, xứ kia là Zion cổ được phục hồi. Người Do Thái Mỹ đã là những người hậu thuẫn tham lam nhưng giờ đây những người phúc âm Mỹ tin rằng Israel đã được Ơn Trên ban phước. Và do đó họ đặt tất cả sức nặng của mình sau lưng Jerusalem của người Do Thái, và người Israel biết ơn  cho dù vai trò của họ trong kịch bản ngày tận thế thật đáng buồn.

Người Israel từ tây Jerusalem, từ khắp Israel và các khu định cư Do Thái trên khắp thế giới, đổ về Thành phố Cổ để chạm vào Bức Tường và cầu nguyện ở đó. Việc sở hữu thành phố khiến họ say sưa đến nỗi việc từ bỏ nó là không thể chịu được và không thể nghĩ bàn – và những nguồn tài nguyên rộng lớn giờ được động viên để khiến điều đó thành bất khả thi. Thậm chí con người thực tế như Ben-Gurion đang về hưu đề nghị Israel nên từ bỏ Bờ Tây và Gaza để đổi lấy hòa bình – nhưng Jerusalem thì không bao giờ.

Israel chính thức thống nhất hai nửa phần của thành phố, mở rộng đường biên hành chính để ôm trọn 267,800 công dân – 196,800 người Do Thái và 71,000 người Ả Rập. Jerusalem trở nên lớn rộng hơn bao giờ trong lịch sử của nó.  Trước khi nòng súng đã nguội lạnh, những cư dân của Khu Maghrebi, được con trai Afdal của Saladin thành lập, được di tản đến những ngôi nhà mới, nhà cũ bị đập xuống để mở rộng lần đầu tiên không gian trước Bức Tường. Sau nhiều thế kỷ thờ cúng chật chội, hạn hẹp và bị quấy nhiễu trong một dải đất chỉ dài 9 bộ, giờ không gian sáng sủa, thoáng đãng của quảng trường mới tại chốn thiêng liêng cực kỳ của người Do Thái bản thân nó đã là một sự giải phóng; người Do Thái đến đây tấp nập để cầu nguyện. Khu Do Thái xập xệ được phục hồi, những giáo đường cũ bị phá sập bằng mìn và xây dựng lại và làm đẹp hơn, những trường tôn giáo Chính thống được xây dựng hoặc tu bổ, tất cả đều bằng đá lấp lánh vàng.

Khoa học cũng được chào đón: các nhà khảo cổ Israel bắt đầu khai quật thành phố đã thống nhất. Bức Tường Tây dài được chia giữa những giáo sĩ kiểm soát khu vực cầu nguyện phía bắc Cổng Maghrebi, và các nhà khảo cổ được đào bới ở phía nam. Chung quanh Bức Tường, ở Khu Do Thái và Hồi giáo, họ phát hiện những báu vật đáng kinh ngạc – những công sự thời Canaan, dấu ấn Judaea, nền móng Herod, và tường thành Maccabee và Byzantine, đường phố La Mã, cung điện Umayyad, cổng Ayyubid, nhà thờ thời Thập Tự Chinh – đến nỗi những phát hiện của họ hòa trộn với nhiệt tình chính trị-tôn giáo. Những đá tảng họ phát hiện – từ tường thành Hezekiah và đá khối  Herod bị lính La Mã ném xuống đến những đá tảng được lót làm con đường Cardo của Hadrian – được triển lãm thường xuyên trong Thành phố Cổ.

Teddy Kollek, thị trưởng tây Jerusalem, người được bầu lại để điều hành thành phố thống nhất trong 28 năm, làm việc cật lực để trấn an người Ả Rập. Như dưới thời Ủy thác, Jerusalem phồn thịnh lôi kéo người Ả Rập từ Bờ Tây – dân số của họ tăng gấp đôi trong 10 năm.

Thoạt đầu, sự chống đối của Ả Rập là câm lặng; nhiều người Palestine làm việc ở Israel hoặc với người Israel. Ở ngoài nước thì khác. Yasser Arafat và tổ chức Fatah lãnh đạo PLO vào năm 1969. Fatah tăng cường chiến tranh du kích chống Israel trong khi một phe khác, Mặt trận Dân tộc Mác-Lê Giải Phóng Palestine, cách tân việc không tặc song song với những cách giết hại dân chúng truyền thống hơn.

Trong ‘Tháng 9 Đen’ 1970, Vua Hussein đánh bại và trục xuất Arafat và PLO, vốn đã thách thức quyền kiểm soát đất nước của mình. Arafat dời bộ chỉ huy đến Lebanon và Fatah lao vào một chiến dịch không tặc và giết hại thường dân nhằm mang chính nghĩa Palestine ra trước thế giới. Năm 1972, các tay súng Fatah, sử dụng ‘Tháng 9 Đen’ làm bình phong, giết chết 11 vận động viên Israel tại Thế Vận Hội Munich. Đáp trả, Mossad, cơ quan mật vụ Israel, săn lùng bọn xâm nhập trên khắp châu Âu.

Trong Ngày Đền Tội vào tháng 10 1973, người kế nhiệm Nasser, Tổng thống Anwar Sadat của Ai Cập, phát động một cuộc tấn còn bất ngờ thành công, liên kết với Syria. Người Ả Rập ghi được những thắng lợi sớm, khiến bộ trưởng quốc phòng Moshe Dayan bẽ mặt. Tuy nhiên, người Israel, được Mỹ không vận, tập kết và cuộc chiến giúp làm nên tên tuổi của Tướng Ariel Sharon, người dẫn đầu cuộc phản công của Israel băng qua Kênh Suez. Không lâu sau đó, Liên đoàn Ả Rập thuyết phục Vua Hussein công nhận PLO như là đại diện duy nhất của người Palestine. 

Năm 1977, 30 năm sau vụ đánh bom King David, Menachem Begin và đảng Likud của ông cuối cùng loại ra đảng Lao Động đã cai trị từ năm 1948 và giành lấy quyền lực với một cương lĩnh cho một Đại Israel với Jerusalem là thủ đô. Vậy mà cũng chính Begin là người mà, vào 19/11, tiếp đón Tổng thống Sadat trên chuyến bay can đảm của ông đến Jerusalem. Sadat dừng chân ở Khách sạn King David, cầu nguyện tại al-Aqsa, thăm Yad Vashem và đề nghị hòa bình với Nghị viện Do Thái. Hy vọng bừng lên. Với sự hỗ trợ của Moshe Dayan mà ông bổ nhiệm làm ngoại trưởng, Begin trả lại Sinai cho Ai Cập để đổi lấy hiệp ước hòa bình. 

Năm 1982, Begin đáp trả các vụ tấn công của PLO vào các nhà ngoại giao và dân thường Israel bằng cách xâm lược Lebanon nơi Arafat đã xây dựng một căn cứ. Arafat và lực lượng của ông bị buộc rút khỏi Beirut, chuyển đến Tunis. Cuộc chiến, do bộ trưởng quốc phòng Sharon vạch ra, trở nên sa lầy và kết cục đưa đến tình trạng các dân quân Cơ đốc tàn sát khoảng 300 đến 700 dân thường Palestine ở các trại Sabra và Shatila. Sharon, chịu trách nhiệm gián tiếp cho hành động tàn bạo, buộc phải từ chức và sự nghiệp Begin kết thúc trong sự buồn rầu, từ nhiệm và cô lập.

Niềm hy vọng dâng lên của năm 1977  bị đập tan vì những động thái ương ngạnh ở cả hai bên, giết chóc dân thường, mở rộng các khu định cư Do Thái ở Jerusalem và Bờ Tây. Năm 1981, vụ ám sát Sadat do phe Cơ yếu thì hành nhằm trừng phạt chuyến bay của ông đến Jerusalem, là một cảnh báo sớm cho một quyền lực mới đang lên ở Islam. Vào tháng 12 1987 một cuộc nổi dậy tự phát của người Palestine – Intifada – bùng phát ở Gaza và lan đến Jerusalem. Cảnh sát Israel đánh nhau với người chống đối kịch liệt trên Núi Đền. Thanh thiếu niên trên đường phố ném đá vào binh sĩ Israel. Năm 1988, phe cực đoan Hồi giáo thành lập Phong trào Kháng chiến Hồi giáo, Hamas, một nhánh của Huynh Đệ Hồi giáo Ai Cập, tận hiến cho cuộc thánh chiến để hủy diệt Israel.

Intifada gián tiếp đưa tới  những đàm phán hòa bình Oslo. Năm 1988, Arafat chấp nhận ý tưởng giải pháp hai nhà nước và từ bỏ đấu tranh vũ trang để hủy diệt Israel. Vua Hussein cũng từ bỏ việc đòi Jerusalem và Bờ Tây nơi Arafat dự tính xây dựng một nhà nước Palestine với al-Quds là thủ đô của nó. Năm 1992, Yitzhak Rabin trở thành thủ tướng và đè bẹp  Intifada; với tính ngoan cố thẳng thừng của mình, ông sở hữu những phẩm chất duy nhất mà người Israel tin cậy ở một nhà kiến tạo hòa bình. Người Mỹ chủ trì những cuộc đàm phán ở Madrid non yểu, nhưng có một đối thoại khác, tiến hành trong bí mật, lại mang đến kết quả.

Việc này bắt đầu bằng những trao đổi không chính thức giữa các học giả Israel và Palestine tiến hành ở khu Thuộc địa Mỹ, London và rồi ở Oslo. Thoạt đầu những đối thoại được chủ trì bởi ngoại trưởng Shimon Peres và người phó của ông là Yossi Beilin mà không cho Rabin hay biết. Chỉ đến năm 1993 họ mới thông báo cho Rabin và được ông ủng hộ. Vào ngày 13/9, Rabin và Peres ký hiệp ước với Arafat tại Nhà Trắng, được Tổng thống Clinton giám sát một cách thân tình. Bờ Tây và Gaza được giao một phần cho Chính quyền Palestine. Rabin ký một hiệp ước hòa bình với Vua Hussein của Jordan và khẳng định vai trò đặc biệt của dòng Hashemite của ông là người trông nom Điện Thờ Hồi giáo ở Jerusalem tiếp tục tận ngày nay.

Những chi tiết hóc búa về Jerusalem được gác qua một bên để thương thảo tiếp và trong thời gian đó Rabin đẩy mạnh việc thiết lập những khu định cư mới. Beilin và người phó của Arafat là Mahmoud lãnh việc tiếp tục đàm phán.

Vào ngày 4/11/1995, chỉ bốn ngày sau khi Beilin và Abbas đến được sự thông hiểu không chính thức về Jerusalem, thì Rabin bị ám sát bởi một tên Do Thái cuồng tín. Chào đời tại Jerusalem, ông được đưa về đó an táng trên Núi Herzl. Vua Hussein đọc điếu văn; Tổng thống Mỹ và hai người tiền nhiệm có đến dự lễ tang. Tổng thống Ai Cập Mubarak đến thăm viếng.

Hòa bình lại bắt đầu tan vỡ. Các tên cơ yếu Hồi giáo của tổ chức Hamas phát động một chiến dịch nổ bom tự sát gây thương vong xương máu cho dân chúng Israel: một vụ đánh bom tự sát Ả Rập giết chết 25 người dân trên một xe buýt Jerusalem. Một tuần sau một tên đánh bom khác giết chết 18 người trên cùng tuyến xe buýt trước. Dân Israel trừng phạt Thủ tướng Peres bằng cách bầu chọn Binyamin Netanyahu, lãnh tụ đảng Likud. Netanyahu cật vấn nguyên tắc đổi đất lấy hòa bình, chống đối bất cứ việc phân chia Jerusalem và ủy nhiệm việc lập thêm khu định cư.

Vào tháng 9 1996 Netanyahu mở một đường hầm chạy từ Bức Tường dọc theo Núi Đền để chui ra trong Khu Hồi giáo. Khi một số tên quá khích Israel ra sức khai quật lên trên về phía Núi Đền, giới thẩm quyền Hồi giáo của Thánh địa nhanh chóng lấy xi măng lắp lại lỗ. Tin đồn lan truyền rằng các đường hầm là âm mưu phá hoại Điện Thờ Hồi giáo và 75 người bị giết và 1,500 người bị thương trong những cuộc nổi loạn tiếp sau đó.

Israel vẫn chưa hoàn toàn đánh mất niềm tin vào hòa bình. Tại nơi nghỉ dưỡng Trại David của tổng thống Mỹ, Clinton lại mang tân thủ tướng Ehud Barak và Arafat đến gần nhau vào tháng 7 2000. Barak mạnh dạn đưa ra một giải pháp cuối cùng: 91 phần trăm Bờ Tây với thủ đô Palestine đặt ở Abu Dis và tất cả vùng ngoại ô Ả Rập ở đông Jerusalem. Thành phố Cổ tiếp tục thuộc chủ quyền Israel nhưng người Hồi và Khu Cơ đốc và Núi Đền sẽ đặt dưới ‘quyền bảo vệ tối cao’ của Palestine. Đất đai và các đường hầm bên duới Điện Thờ – trên hết Đá Nền của Đền Thờ – sẽ vẫn thuộc Israel và lần đầu tiên, người Do Thái sẽ được phép cầu nguyện với một số lượng giới hạn đâu đó trên Núi Đền. Thành phố Cổ sẽ được phối hợp đi tuần tra nhưng được giải giới và mở rộng cửa cho tất cả . Đã được giao phân nửa các khu vực trong Thành phố Cổ, Arafat còn đòi thêm Khu Armenia. Israel cũng chấp thuận, thực sự giao đến ba phần tư Thành phố Cổ. Dù Saudi gây sức ép buộc chấp nhận, Arafat cảm thấy mình không thể điều đình một giải pháp rốt ráo về quyền trở lại của người Palestine cũng không thể tán thành chủ quyền của người Israel về Vòm Đá vốn thuộc về tất cả Hồi giáo.

Vào ngày 28/9/2000, Sharon, lãnh tụ phe chống đối đảng Likud, góp thêm vấn đề của Barak bằng cách nghênh ngang vào Núi Đền, được các biệt đội cảnh sát bảo vệ, với một ‘thông điệp hòa binh’ rõ ràng hăm doạ Agsa và Vòm Đá thân yêu của người Hồi. Những vụ nổi loạn sau đó leo thang thành tổ chức Aqsa Intifada, trong đó Fatah và Hamas  tiến hành những vụ ném đá kết hợp chiến dịch đánh bom tự sát vào dân thường Israel. Nếu vụ Intifada đầu tiên đã hỗ trợ người Palestine, lần này nó lại tiêu hủy lòng tin Israel trong tiến trình hòa bình, đưa đến việc Sharon đắc cử, và chia cắt người Palestine một cách chết người.

Sharon dẹp tan Intifada bằng cách đập nát Thẩm quyền Palestine, bao vây và sỉ nhục Arafat. Ông chết vào năm 2004 và người Israel không cho phép an táng ông trên Núi Đền. Người kế vị ông là Abbas mất chức trong cuộc bầu cử vào tay Hamas. Sau một trận xung đột ngắn ngủi Hamas chiếm được Gaza trong khi Fatah của Abbas tiếp tục cai trị Bờ Tây.

Những hạt giống hòa bình không chỉ gieo trên đất đá mà còn làm nhiễm độc nó; hòa bình làm mất tiếng những người kiến tạo nó. Jerusalem giờ đây sống trong trong nỗi lo âu hoang tưởng. Người Do Thái và Ả Rập không dám liều lĩnh đi vào vùng lân cận của nhau. Gương mặt họ căng thẳng, tiếng nói họ cộc cằn và người ta cảm thấy rằng, thậm chí những người thuộc ba tôn giáo đang tin tưởng mình đang hoàn thành một dự tính thiêng liêng, đều không chắc ngày mai sẽ mang đến điều gì.

NGÀY MAI

Ở đây, hơn bất cứ ở đâu khác trên mặt đất, chúng ta khao khát, chúng ta hy vọng và chúng ta tìm kiếm một giọt thuốc xổ của lòng khoan dung, sự sẻ chia và trái tim rộng lượng để hành động như một kháng thể chống lại tính độc hại của thành kiến, tính loại trừ và tính sở hữu. Không phải dễ dàng tìm được. Năm 2010, Jerusalem chưa từng quá rộng lớn, quá diễm lệ như thế, cũng chưa từng có chất Do Thái  quá bao trùm như thế trong hai thiên niên kỷ. Vậy mà nó cũng là thành phố Palestine đông dân nhất. *

* Vào năm 2009/2010, dân số của Đại Jerusalem là 780,000: 514,800 Do Thái (bao gồm 163,800 siêu Chính thống) và 265,200 Ả Rập. Có khoảng 30,000 người Ả Rập trong Thành phố Cổ và 3,500 người Do Thái. Có khoảng 200,000 người Israel sống trong những khu ngoại ô mới ở đông Jerusalem.

Trong 1,000 năm, Jerusalem độc quyền của người Do Thái; trong khoảng 400 năm thuộc người Cơ đốc; trong 1,300 năm của người Hồi; và không có một tôn giáo nào trong ba tôn giáo này chiếm được Jerusalem mà không bằng lưỡi gươm, máy bắn đá hoặc súng cối. Có những bước tiến hóa thầm lặng cũng như những cách mạng thảm kịch. Đôi khi chính thuốc nổ, sắt thép và máu xương đã làm thay đổi Jerusalem, đôi khi chỉ là sự đi xuống chầm chậm của những thời đại, của những bài hát được hát lên và truyền tụng, những câu chuyện được kể lại, những bài thơ được đọc lên, những bức tượng được tạo tác, và những công việc thường nhật mơ hồ và vô thức của bao gia đình qua bao nhiêu thế kỷ đi từng bước ngắn xuống những cầu thang uốn khúc, nhảy những bước loắt thoắt lên thềm cửa nhà láng giềng và làm nhẵn những phiến đá thô nhám cho đến khi chúng sáng bóng lên.

Jerusalem, quá đáng yêu theo nhiều cách, chứa quá nhiều thù hận theo những cách khác, vừa thiêng liêng vừa thế tục, vừa thô thiển hợm hĩnh, vừa tinh tế thẩm mỹ, dường như sống mãnh liệt hơn bất cứ nơi nào khác; mọi thứ dường như vẫn như cũ vậy mà không có gì đứng yên. Lúc bình minh mỗi ngày, ba điện thờ của ba tín ngưỡng bừng sống lại theo cách riêng của mình.

BUỔI SÁNG NAY

Lúc 4.30 sáng, Shmuel Rabinowitz, giáo sĩ Do Thái của Bức Tường Tây và Thánh Địa, thức dậy khởi đầu nghi thức cầu nguyện thường nhật, đọc kinh Torah. Ông bước qua Khu Do Thái đến Bức Tường không bao giờ đóng, những lớp đá khối Herod chiếu sáng trong bóng đêm. Người Do Thái cầu nguyện ở đó suốt đêm ngày.

Giáo sĩ, 40 tuổi và xuất thân là dân nhập cư Nga đến Jerusalem cách đây bảy thế hệ, đến từ những gia đình trong triều đình Gerer và Lubavitcher. Là cha của 7 đứa con, mắt xanh đeo kính, cằm để râu, trong bộ đồ đen và đội mũ chỏm, đi xuống Khu Do Thái, dù trời rét hay bức, mưa dầm hay tuyết rơi, cho đến khi ông nhìn thấy Bức Tường của Herod Đại Đế dâng cao trước mặt ông. Lần nào trái tim ông cũng lỡ một nhịp đập khi tiến gần hơn đến ‘giáo đường lớn nhất trên thế giới. Không có cách phàm tục nào mô tả được mối liên kết cá nhân với những tảng đá này. Đó là tâm linh’.

 Là giáo sĩ, ông coi sóc việc giữ gìn sạch sẽ cho Bức Tường: những khe hở giữa các khối đá được các tín đồ nhét vào đó những lời cầu nguyện được viết ra. Hai lần mỗi năm – trước lễ Vượt Qua và Rosh Hashamah – những tờ giấy được lấy ra và được ông chôn trên Núi Olives vì tính thiêng liêng của chúng.

Khi ông đến Bức Tường, mặt trời đã mọc và đã có khoảng 700 người Do Thái đang cầu nguyện ở đó, nhưng ông luôn tìm thấy cùng một nhóm cầu nguyện – minyan – đứng tại cùng một vị trí cạnh Bức Tường. Ông không tiếp chuyện họ, cùng lắm là gật đầu để họ được tập trung vào việc cầu nguyện – ‘những lời đầu tiên là dành cho Chúa- trong khi ông buộc hộp tefillin (hộp da nhỏ đựng các văn bản của Kinh thánh Do Thái mà người Do Thái buộc vào đầu hoặc cánh tay khi cầu nguyện) vào cánh tay. Ông đọc bài kinh buổi sáng, shacharit, kết thúc bằng câu: ‘Chúa ban hòa bình cho quốc gia.’ Chỉ khi đó ông mới có thể tiếp đón bạn bè. Một ngày ở Bức Tường đã bắt đầu.

Trước 4 giờ sáng một chút, ngay khi Giáo sĩ Rabinowitz thức dậy trong Khu Do Thái, một hòn sỏi ném lướt vào cửa sổ của Wajeeh al-Nusseibeh ở Sheikh Jarrah. Khi ông mở cửa,  Aded al-Judeh, 80 tuổi, trao cho Nusseibeh một chìa khóa to dài 12-inxơ có từ thời trung cổ, nặng chịch. Nusseibeh, cũng đã 60 tuổi, dòng dõi của một trong những Đại gia lừng lẫy nhất ở Jerusalem, đã mặc áo vét và cà vạt, khởi hành nhanh nhẹn qua Cổng Damascus, xuống đến Nhà Thờ Mộ Thánh.

Nusseibeh, đã từng là người Trông Nom Mộ Thánh hơn 25 năm qua, đến đúng 4 giờ sáng và gõ cánh cửa cổ xưa cao ngất gắn trong mặt tiền kiểu La Mã của Melisende. Bên trong Nhà Thờ, mà ông đã khóa đêm trước lúc 8 giờ tối, người phục vụ Hy Lạp, Latinh, và Armenia đã thỏa thuận ai là người được mở cửa vào ngày hôm đó. Các giáo sĩ của ba giáo phái chủ trì đã trải qua đêm cùng nhau vui vẻ và tiến hành nghi thức cầu nguyện. Lúc 2 giờ sáng dòng Chính thống khống chế, dòng được hành lễ trước nhất trong mọi nghi lễ, bắt đầu lễ Mét, với 8 giáo sĩ đọc kinh bằng tiếng Hy Lạp quanh Lăng Mộ, trước khi giao cho dòng Armenia làm lễ badarak bằng tiếng Armenia  bắt đầu khi các cổng mở ra; dòng Thiên chúa sẽ đến lượt vào lúc 6 giờ sáng. Trong khi đó tất cả giáo phái đều đọc kinh sáng. Chỉ duy nhất một người Copt được phép ở lại đêm nhưng ông cầu nguyện một mình bằng tiếng Ai Cập-Coptic cổ. Ban đêm, Nhà Thờ âm vang tiếng lâm râm đọc kinh êm tai của nhiều ngôn ngữ giống như một rừng đá trong đó nhiều loại chim đang thi nhau hót.

Đây là Jerusalem và Nusseibeh không sao biết được điều gì sắp xảy ra: ‘Tôi biết hàng ngàn người lệ thuộc vào tôi và tôi lo lắng không biết chìa khóa có mở được không hay có điều gì không ổn. Tôi mở nó lần đầu tiên khi 15 tuổi và thấy vui nhưng bây giờ tôi biết đây là vấn đề nghiêm túc.’ Dù có chiến tranh hay hòa bình, ông phải mở cửa và nói cha mình thường ngủ trong sảnh của Nhà Thờ để được an tâm. 

Nhưng Nusseibeh biết rằng mỗi năm thế nào cũng có vài vụ cãi lộn giữa các giáo sĩ. Thậm chí trong thế kỷ 21, các giáo sĩ xoay chiều giữa sự lễ phép tình cờ bẩm sinh, sự tẻ nhạt của những đêm dài trong Mộ Thánh và sự bất mãn có tính lịch sử từ trong gan ruột có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nhưng thường là vào Phục Sinh. Người Hy Lạp, người điều khiển phần lớn Nhà Thờ và có dân số đông nhất, đấu tranh với người Thiên chúa và Armenia và thường thắng trận. Người Copt và Ethiopia, mặc dù đều theo thuyết Nhất Thể, lại đặc biệt cay độc với nhau: sau Cuộc Chiến Sáu Ngày, người Israel trong một lần can thiệp hiếm hoi giao người Nhà Nguyện St Michael của người Copt cho người Ethiopia, để trừng phạt Ai Cập của Nasser và ủng hộ Ethiopia của Haile Selassie.

 Giờ người phục vụ mở một cửa sập nhỏ trong cánh cửa bên phải và đưa qua một cái thang. Nusseibeh lấy thang và bắc dựa vào cánh cửa trái. Ông mở khóa bên dưới của cánh cửa phải bằng chiếc chìa khóa khổng lồ rồi leo lên thang để mở cái khóa phía trên cao. Khi ông đã leo xuống, các giáo sĩ đẩy mở toang cánh cửa to đùng, và Nusseibeh chào các giáo sĩ: ‘Bình an’!

‘Bình an!’ họ đáp lại lạc quan. Nhà Nusseibeh và nhà Judeh đã mở những cánh cửa Mộ Thánh ít nhất là từ năm 1192 khi Saladin chỉ định nhà Judeh làm ‘Người Trông Nom Chìa Khoá’ và nhà Nusseibeh làm ‘Người Trông Nom và Giữ Cửa của Nhà Thờ Mộ Thánh’, (được viết ra như thế trên danh thiếp của Wajeeh). Nhà Nusseibeh, vốn cũng được chỉ định làm người lau chùi Sakhra (Tảng Đá) trong Vòm Đá và nhiệm vụ này có tính thừa kế, tuyên bố rằng Saladin chỉ đơn giản phục hồi họ trở lại vị trí mà họ đã nhận từ Kha-lip Omar vào năm 638. Trước khi người Albania đến chinh phục vào thập niên 1830, họ rất giàu nhưng giờ đây họ sống chật vật bằng nghề hướng dẫn du khách.

Vậy mà hai nhà vẫn còn kèn cựa nhau quyết liệt. ‘Bên Nusseibeh nhằm nhò gì với bên tụi tôi,’ ông lão Judeh bát tuần nói, người đã giữ chìa khóa 22 năm, ‘họ chỉ là bọn giữ cửa!’ Còn Nusseibeh thì khăng khăng ‘bên Judeh không được phép rờ cánh cửa hoặc chìa khóa,’ cho thấy những tranh chấp Hồi giáo cũng nhỏ nhen và hăng say như người Cơ đốc. Con của Wajeeh, Obadah,  là người kế thừa ông.

Nusseinbeh và Judeh bỏ chút thời gian trong ngày ngồi trong hành lang như tổ tiên họ từng làm trong 8 thế kỷ qua – nhưng họ không hề có mặt cùng một lúc. ‘Tôi biết từng viên đá ở đây, giống như ở nhà mình,’ Nussenbeh trầm ngâm. Ông tôn kính Nhà Thờ: ‘Chúng tôi Hồi giáo nhưng tin Muhammad, Jesus và Moses là những đấng tiên tri và Mary rất linh thiêng vì vậy đây cũng là chốn đặc biệt đối với chúng tôi.’ Nếu ông muốn cầu nguyện, ông có thể chui ra cửa sau đến thánh đường Hồi giáo kế bên, được xây dựng để hù dọa người Cơ đốc, hoặc đi bộ 5 phút đến al-Aqsa.

Chính xác cùng lúc với Giáo sĩ Bức Tường đang thức dậy và Người Trông Nom Nusseibeh nghe tiếng sõi ném vào cửa sổ thông báo giờ giao chìa khóa Mộ Thánh, Adeb al-Ansari, 42 tuổi, người cha của 5 đứa con mặc jacket da đen, đang bước ra ngôi nhà thời Mamluk của ông, được giao cho dòng họ ông sở hữu, trong Khu Hồi giáo và bắt đầu bước ra đường, đi đến đường Bab al-Ghawanmeh phía đông bắc. Ông qua chốt kiểm soát của cảnh sát Israel măc quân phục xanh, mỉa mai thay thường là những người Ả Rập xứ Druze hoặc Galilee được giao nhiệm vụ không cho người Do Thái bước vào Haram al-Sharif (Núi Đền).

Vỉa hè thiêng liêng phía trước đã được thắp sáng bằng đèn điện mà trước đây cha ông phải mất hai giờ để đốt tất cả đèn dầu. Anseri chào bộ phận an ninh Haram và bắt đầu mở bốn cổng chính của Vòm Đá và mười cổng al-Aqsa. Phải mất một giờ.

Nhà Anseri, thuộc dòng dõi  Anseri đã di cư đến Medina với Muhammad, tuyên bố rằng mình được Omar chỉ định làm Người Trông Nom Haram nhưng chính Saladin là người khẳng định chức vụ ấy.

Thánh đường mở cửa một giờ trước buổi cầu nguyện bình minh. Anseri không phải mở cổng mỗi bình minh – giờ ông đã có một đội phân công nhau – nhưng trước khi lên kế vị làm Người Trông Nom kế thừa, ông hoàn thành nhiệm vụ này mỗi buổi sáng với niềm tự hào: ‘Trước tiên chỉ là công việc, nhưng sau đó là nghề  cha truyền con nối, và một trách nhiệm trọng đại, nhưng trên hết đó là công việc cao quý và thiêng liêng.’ Nhưng nó không được trả lương khá. Tôi phải làm thêm bảo vệ tại một khách sạn trên Núi Olives

Những chức vụ thừa kế dần dần biến mất trên Haram. Nhà Shihabis, một Đại gia khác, xuất thân từ các ông hoàng  xứ Lebanon, sống trong nhà cấp riêng của gia đình sát bên Bức Tường Nhỏ, từng là Người Trông Nom Râu của Nhà Tiên Tri. Râu và việc làm đã biến mất nhưng sức thu hút của nơi này vẫn còn mạnh: Nhà Shihabis còn làm việc tại Haram.

Ngay khi giáo sĩ Do Thái buớc xuống Bức Tường, ngay khi Nusseibeh vỗ vào cánh cửa Nhà Thờ, ngay khi Anseri mở cổng Haram, Naji Qazaz đang rời ngôi nhà trên Phố Bab al-Hadid mà gia đình đã sở hữu 225 năm, để đi bộ vài thước dọc theo các con đường thời Mamluk cổ lên các bậc thang qua Cổng Sắt và tiếp tục đến Aram. Ông tiếp tục đi thẳng vào al-Aqsa, tại đó ông bước vào một gian phòng nhỏ có trang bị một micrô và những chai nước lọc. Trước năm 1960, nhà Qazaz sử dụng tháp canh minaret nhưng bây giờ họ dùng phòng này để hâm nóng như những vận động viên trước khi báo giờ. Trong 20 phút, Qazaz ngồi và vươn mình, một vận động viên của công việc thiêng liêng, sau đó ông thở và xúc miệng. Ông kiểm tra micro và khi đồng hồ trên tường chỉ đến giờ, ông hướng mắt về phía Mecca và bắt đầu ngân nga kinh adhan kêu gọi tin đồ cầu nguyện, âm vang  khắp Thành phố Cổ.

Nhà Qazaz đã từng là muezzin tại al-Aqsa trong 500 năm kể từ thời trị vì của Sultan Mamluk Qaitbay. Naji, mới làm muezzin được 30 năm, chia sẻ nhiệm vụ với con trai Firaz và hai anh em họ.

Bây giờ là một giờ trước bình minh trong một ngày mới ở Jerusalem. Vòm Đá đã mở cổng: người Hồi đang cầu nguyện. Bức Tường luôn mở cửa: nguời Do Thái đang cầu nguyện. Mộ Thánh đang mở cửa: người Cơ đốc đang cầu nguyện bằng những ngôn ngữ khác nhau. Mặt trời mọc lên trên Jerusalem, những tia nắng khiến những đá khối Herod trông như phủ tuyết – giống như Josephus đã mô tả cách đây 2,000 năm – và rồi bắt được lớp vàng rực rỡ của Vòm Đá, hất trở lại mặt trời. Mảnh đất thiêng liêng nơi Trời và Đất gặp nhau, nơi Thượng Đế gặp gỡ con người, vẫn còn thuộc lãnh vực vượt quá ngành bản đồ học của con người. Chỉ có  tia nắng làm được điều đó và cuối cùng ánh nắng rơi trên kiến tạo bí ẩn và sắc sảo nhất Jerusalem. Tắm gội và rực rỡ trong ánh mặt trời, nó nhận được cái tên vàng xứng đáng. Nhưng Cổng Vàng vẫn còn khóa, cho đến khi Ngày Cuối Cùng sẽ đến.

BẢN ĐỒ QUA CÁC THỜI KỲ

21

Kế Hoạch Sykes-Picot 1916

22

Giấc mơ đế chế của Sherif Hussein1916

23

Kế hoạch của LHQ 1947

24

Israel từ 1948

25

Jerusalem: Thành phố Cổ

26

Jerusalem vào đầu thế kỷ 20


Dịch xong ngày 12 tháng 4 năm 2021

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s