BẬT DẬY VÀ GIẾT LIỀN : Hồ Sơ Mật các Vụ Ám sát Có Mục Tiêu của Israel- Bài 12

Ronen Bergman

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 12 : SỰ NGẠO MẠN

TUY XẢY RA VỤ LỘN XỘN  LILLEHAMMER, tâm trạng chung của cơ sở quốc phòng vẫn hưng phấn sau Chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ.  Có một cảm giác tự tin mới được tìm thấy và nó không chỉ giới hạn ở Mossad, mà còn lan rộng qua tất cả các cấp lãnh đạo của Israel.

 Hai ngày sau chiến dịch, Bộ trưởng Quốc phòng Moshe Dayan đã leo lên đỉnh của pháo đài núi Masada.  Chính ở đây, những người Do Thái can trường đã khởi nghĩa chống lại Đế chế La Mã và tự sát cùng với  gia đình họ hơn là chịu bị bắt, từ đó tạo ra một huyền thoại anh hùng vĩ đại của quốc gia.  Dayan tuyên bố, “Chúng tôi sẽ thành lập một Israel mới với biên giới rộng lớn, không giống như những năm 1948…. Những ngày này chúng ta được ban phước cho những điều kiện không nghi ngờ gì đất nước chúng ta chưa từng có được trong quá khứ.”  Tham mưu trưởng Elazar, trong một bức thư gửi cho Zamir, khoe rằng sau Mùa xuân Tuổi trẻ  “uy tín của IDF đã nâng lên một tầm cao mới và vinh quang của nó đã tăng cao.”  Và Golda Meir, vào ngày 15 tháng 4 năm 1973, đã viết, “Có lẽ ngày đó sẽ đến khi những câu chuyện về chủ nghĩa anh hùng và tính tháo vát, lòng hy sinh tận tụy của những chiến binh này sẽ được kể lại ở Israel, và các thế hệ sẽ kể lại cho những thế hệ tiếp nối với sự ngưỡng mộ và tự hào, như một chương khác trong di sản của chủ nghĩa anh hùng của dân tộc ta. ”

 Tuy nhiên, sự tự tin có thể dễ dàng trở thành sự tự tôn thái quá, những cạm bẫy của nó không chỉ giới hạn ở Caesarea và thất bại Lillehammer.  Bốn mươi năm sau cuộc đột kích Ehud Barak, thủ lĩnh của đội sát thủ Beirut và sau này là  tham mưu trưởng, thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng sự ngạo mạn này đã gây ra hậu quả tai hại cho toàn thể dân tộc.  “Nhìn lại,” ông nói, “đối với tôi dường như chúng ta trở về từ Beirut vào đêm hôm đó và các nhà lãnh đạo của đất nước đã rút ra các kết luận sai lầm từ thành công của chiến dịch.  Nó tạo ra một sự tự tin thiếu nền tảng.  Không thể phóng chiếu từ cuộc đột kích biệt kích chính xác như giải phẩu vào khả năng của toàn bộ quân đội, như thể IDF có thể làm bất cứ điều gì, rằng chúng ta là toàn năng.

 “Họ — thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng và tất cả những người còn lại — nhìn chúng tôi, Sayeret và Mossad, nhận được lệnh và trong vòng vài tuần, sẽ hành động theo lệnh đó. Và chúng tôi đã hành động tốt. Điều này cho họ cảm giác rằng khả năng như vậy là phổ biến trong toàn quân. Nhưng những thành công của chúng tôi, cả trong Chiến tranh Sáu ngày và trong các hoạt động sau đó, xuất phát từ việc lập kế hoạch chính xác và sử dụng tối ưu yếu tố bất ngờ. Chúng tôi là những người khởi xướng. Chúng tôi đặt thời gian biểu cũng như kết quả.

“Và với nhận thức mới về an ninh mới cũng khiến chúng tôi hóa ra tự mãn. Chúng tôi không nghĩ rằng họ cũng có thể làm chúng tôi bất ngờ, đến mức có thể gây thiệt hại nặng nề cho chúng tôi ”.

Niềm tin vững chắc vào các lực lượng vũ trang và niềm tin rằng ba nhánh của cơ sở quốc phòng – IDF, Shin Bet và Mossad – có thể cứu Israel khỏi bất kỳ nguy hiểm nào khiến giới lãnh đạo đất nước cũng cảm thấy rằng không cần thiết phải  đạt được một thỏa hiệp ngoại giao với người Ả Rập. Những người khác bên ngoài Israel không đồng ý.

Năm 1972, Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger đã đưa ra một sáng kiến ​​ngoại giao bí mật nhằm đạt được một hiệp định hòa bình, hoặc ít nhất là một hiệp ước không gây hấn, giữa Israel và Ai Cập. Ông nhận ra rằng chừng nào Israel còn giữ được các vùng lãnh thổ Ai Cập đã chinh phục vào năm 1967, thì Ai Cập sẽ làm bất cứ điều gì có thể để tái chiếm chúng, và cuộc hỗn chiến tiếp theo ở Trung Đông sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Đỉnh cao của sáng kiến ​​này được đưa ra trong các cuộc gặp đầy kịch tính tại một ngôi nhà bí mật  của CIA ở Armonk, New York, vào ngày 25 và 26 tháng 2 năm 1973, giữa Kissinger và một phái viên Ai Cập. Phái viên tuyên bố rằng Ai Cập sẵn sàng ký một hiệp ước hòa bình với Israel, các điều khoản trong đó – Israel công nhận chủ quyền của Ai Cập đối với Bán đảo Sinai, nhưng vẫn giữ các lực lượng Israel ở đó, sau này sẽ  rút quân hoàn toàn để đổi lấy việc thiết lập quan hệ ngoại giao  giữa hai nước – là thuận lợi chưa từng có đối với Israel. Tuy nhiên Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat cũng cảnh báo rằng nếu lời đề nghị của ông không được chấp thuận vào tháng 9, ông sẽ tuyên chiến.

Meir từ chối. Meir nói với Kissinger: “Chúng tôi từ khuoc giải pháp này.”

Dayan đồng tình. “Tôi thích Sharm el-Sheikh (một thành phố ở Sinai) không có hòa bình,” ông nói, “hơn là hòa bình mà không có Sharm el-Sheikh.”

Vào thời điểm này, Ai Cập và Syria đã sốt sắng tham gia vào việc chuẩn bị lực lượng vũ trang cho chiến tranh: chuyển quân ồ ạt về phía chiến tuyến rồi sau đó rời khỏi chiến tuyến; các cuộc tập trận không quân kết hợp với các hệ thống tên lửa đất đối không tiên tiến mà Liên Xô đã cung cấp cho họ; huấn luyện lực lượng biệt kích sử dụng tên lửa chống tăng Sagger; và các cuộc diễn tập rộng lớn để chuẩn bị vượt qua Kênh đào Suez với lực lượng quy mô. Tất cả đều là sự chuẩn bị rõ ràng cho chiến tranh, nhưng không có bất kỳ thông tin tình báo nào xác nhận rõ ràng sự thật đó, cơ sở quốc phòng Israel đã coi chúng như một trò chơi chiến tranh đơn thuần.

Elazar đã tin rằng Mossad và AMAN sẽ có thể cảnh báo cho Israel ít nhất bốn mươi tám giờ trước khi chiến tranh bùng nổ, đủ thời gian để huy động quân dự bị. Trong mọi trường hợp, ông và các đồng nghiệp của mình không lo lắng nhiều, tin tưởng rằng người Ả Rập đang sợ hãi Israel và sẽ không dám nổ ra chiến tranh. Nếu họ làm vậy, người Israel chắc chắn rằng “chúng tôi sẽ bẻ gãy xương của họ” trong thời gian ngắn.

Họ đã nhầm.

Vào ngày 6 tháng 10, lúc 2 giờ chiều, quân đội Ai Cập và Syria đã tiến hành các cuộc tấn công bất ngờ quy mô lớn nhằm vào Israel. Đó là Yom Kippur, Ngày Lễ Chuộc tội của người Do Thái, khi người Israel, ngay cả những người không theo tôn giáo, nhịn ăn và đến  giáo đường Do Thái hoặc ở nhà, vì vậy các lực lượng ở mặt trận bị dàn trải mỏng. Người Ai Cập đã tung 2.200 xe tăng, 2.900  xe bọc thép chở quân, 2.400 khẩu pháo, một lượng lớn vũ khí phòng không và chống tăng, cùng hàng trăm nghìn lính bộ binh và biệt kích vào trận chiến, phần lớn trong số đó qua Kênh đào Suez. Trên Cao nguyên Golan, người Syria đã xâm chiếm lãnh thổ Israel với 60.000 quân, 1.400 xe tăng và 800 khẩu súng. Cả hai cũng kích hoạt phần lớn lực lượng không quân và hải quân của họ. Các đơn vị Israel đối mặt với họ chỉ gồm vài trăm người, hầu hết là quân dự bị đã được giữ ở đó để cho phép các lực lượng chính quy về nhà trong ngày lễ thánh.

Trong vài ngày đầu tiên, quân đội Ả Rập đã ghi được những chiến thắng đáng chú ý trước người Israel, họ ngoài việc bị bất ngờ, còn đọc sai chiến thuật của bên kia. Người Ai Cập đã thiết lập một đầu cầu đáng sợ  ở bờ biển phía Sinai của con kênh, và người Syria đã thọc  sâu vào Cao nguyên Golan và đe dọa quét xuống Thung lũng Jordan và Galilê.

Tuy nhiên, bằng nỗ lực và hy sinh to lớn, người Israel đã ngăn chặn được các cuộc xâm lược và sau mười chín ngày phản công, đã lật ngược thế cờ đối phương. Quân Ai Cập đã bị trục xuất gần như toàn bộ khỏi bãi biển. Các đơn vị Israel băng qua kênh đào và sau khi bao vây quân địch ở phía tây của tuyến đường thủy, tiến về phía Cairo, đến điểm chỉ cách thủ đô Ai Cập 60 dặm. Người Syria đã bị đánh đuổi khỏi Cao nguyên Golan, và các lực lượng Israel tiến lên cho đến khi họ ở trong tầm bắn của pháo binh Damascus.

Nhưng chiến thắng đã phải trả giá đắt. Hơn 2.300 binh sĩ Israel đã tử trận trong Chiến tranh Yom Kippur, một cuộc chiến có thể được ngăn chặn thông qua đàm phán, hoặc ít nhất là được chuẩn bị trước với đầy đủ thông tin tình báo.

Một làn sóng phản đối tràn qua xã hội Israel, dẫn đến việc thành lập một ủy ban điều tra và buộc tham mưu trưởng Elazar và giám đốc AMAN Zeira, cùng với các sĩ quan cấp cao khác từ chức. Chiến tranh đã xua tan, ít nhất là tạm thời, ý thức vượt trội của quân đội và  điệp vụ Israel và do đó, nhận thức về an ninh của họ. Mặc dù ban hội thẩm không quy trách nhiệm rõ ràng cho Meir hay Dayan, nhưng do áp lực của dư luận quá lớn, thủ tướng đã xin từ chức vào ngày 11 tháng 4.

__

MỘT THÁNG SAU, vào khoảng 4:30 sáng, vào sáng ngày 13 tháng 5 năm 1974, ba thành viên của Mặt trận Dân chủ Giải phóng Palestine (DFLP), một nhóm nhỏ của PLO không có liên hệ với PFLP, đã lẻn qua biên giới Lebanon vào Israel. Họ trốn trong một hang động cho đến khi màn đêm buông xuống. Một đội tuần tra của Cảnh sát Biên giới Israel phát hiện dấu chân chúng nhưng không tìm ra được chúng. Trong bóng tối bao trùm, cả ba bắt đầu tiến về Maalot, một thị trấn cách biên giới khoảng sáu dặm với dân cư chủ yếu là những người nhập cư mới. Trên đường đi, chúng phục kích một chiếc xe chở phụ nữ trên đường đi làm về, giết chết một người và làm bị thương một người khác. Quân đội IDF được gọi đến hiện trường nhưng không bắt được bọn khủng bố.

Lúc 3:30 sáng, cả ba đến một ngôi nhà ở ngoại ô thị trấn. Hai người trong số chúng là dân bản xứ của Haifa và có thể nói tiếng Do Thái. Chúng nói với những người trong nhà rằng mình là cảnh sát đang truy lùng bọn khủng bố. Khi cánh cửa mở ra, chúng xông vào bên trong và sát hại Yosef và Fortuna Cohen cùng cậu con trai bốn tuổi, Moshe, và làm bị thương con gái, Bibi. Họ không phát hiện bé Yitzhak mười sáu tháng tuổi, bị câm điếc không phát ra âm thanh. Khi chúng rời khỏi nhà, nhóm Palestine tình cờ gặp Yaakov Kadosh, một nhân viên của chính quyền địa phương, và yêu cầu anh ta chỉ cho chúng đường đến trường học. Anh ta đã làm theo và sau đó chúng bắn anh bị thương.

Cả ba đến trường Netiv Meir, định nằm chờ bọn trẻ đến vào buổi sáng. Chúng không ngờ mình tìm thấy đến 85 thiếu niên, từ mười lăm đến mười bảy tuổi, và 10 người lớn đã ngủ ở đó. Những thiếu niên đến từ một trường tôn giáo ở Safed, và họ đang trên một chuyến đi thực tế và qua đêm ở vùng Maalot. Khi lực lượng an ninh đến hiện trường, bọn khủng bố hét lên rằng nếu 20 đồng đội của chúng trong các nhà tù Israel không được thả vào lúc 6 giờ sáng, chúng sẽ giết tất cả con tin.

Golda Meir bình thường rất gây hấn, người vẫn chưa được thay thế làm thủ tướng, sẵn sàng chấp nhận yêu cầu của bọn khủng bố. Sau cú sốc của Cuộc chiến Yom Kippur, kết luận của ban điều tra, và các cuộc biểu tình phản đối giận dữ chống lại bà, Meir không muốn hành động cuối cùng của minh ở tư cách thủ tướng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của trẻ em. Nội các đã tán thành đề xuất của bà ấy. Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Dayan, người cũng sắp được thay thế, không đồng tình với quan điểm này. Hậu quả từ Cuộc chiến Yom Kippur đã tác động ngược trở lại với ông: Sau khi hàng nghìn người biểu tình ở Tel Aviv yêu cầu ông từ chức, Dayan nhìn thấy sự nghiệp chính trị của mình trên bờ vực của một kết cục bẽ bàng, và ông muốn thể hiện quyết tâm và quyền lực. “Cách duy nhất để xử lý bọn khủng bố là không cho chúng thứ chúng muốn và không để chúng thoát khỏi đây còn sống. Chúng ta phải giết chúng, ”ông thúc giục thủ tướng. Cuối cùng, Meir đã đồng ý. Vào lúc 5:15 sáng, Sayeret Matkal được lệnh đột nhập vào trường.

Lần này, Sayeret tỏ ra không đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ. Tay súng bắn tỉa đã bắn phát súng đầu tiên chỉ làm mục tiêu bị thương nhẹ, và một lực lượng do Amiram Levin chỉ huy đã vào nhầm phòng ở nhầm tầng. Bọn khủng bố đáp trả bằng cách bắn và ném lựu đạn vào lớp học nơi các con tin đang bị giam giữ. Vì các con tin sùng đạo nên họ ngồi riêng biệt – những chàng trai dọc theo bức tường và những cô gái ở giữa – vì vậy hầu hết các cô gái đều hứng hỏa lực. Trong ba mươi giây trước khi Sayeret tiếp cận các tên khủng bố và giết chúng, 22 thiếu niên – 18 trong số là con gái – 4 con tin người lớn và 1 người lính đã bị giết chết. 68 người bị thương, bao gồm mọi con tin còn sống.

Đó là một kết thúc ảm đạm cho sự nghiệp chính trị của Meir. Vào ngày 3 tháng 6 năm 1974, bà bị thay thế bởi Yitzhak Rabin, tham mưu trưởng Chiến tranh Sáu ngày và cựu đại sứ tại Hoa Kỳ. Rabin 52 tuổi, là người trẻ nhất giữ chức thủ tướng vào thời điểm đó, và là chiến mã đầu tiên sinh ra ở Israel nắm vị trí đó. Ông ấy cũng hoàn toàn khác với Meir ở điểm, trong khi bà ấy gần như hoàn toàn không can thiệp vào các đề xuất của các cố vấn quân sự và tình báo của mình, thì Rabin đích thân tham gia vào những chi tiết nhỏ nhất của mọi hoạt động quân sự và chống khủng bố.

Và đã có nhiều hoạt động như vậy xảy ra.

__

VỤ THẢM SÁT  MAALOT LÀ mốc khởi đầu của một đợt kinh hoàng mới, một tiếng vang khác từ Chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ.

PLO đã trải qua một số thay đổi về tổ chức và cơ cấu sau cái chết của ba nhà lãnh đạo của họ ở Beirut. Mossad tin rằng hoạt động đã gây ra một hiệu ứng lạnh. Shimshon Yitzhaki nói: “Nó truyền cho họ nỗi sợ hãi lớn.”

Harari nói thêm: “Nó buộc họ phải trốn và chạy. Chúng tôi đã phá vỡ được họ. Chẳng phải là vô cớ khi Arafat không dám ngủ cùng giường hai đêm liên tiếp. “

Mặt khác, Mùa xuân Tuổi trẻ cũng củng cố bàn tay của Abu Jihad. Hầu hết các đối thủ nội bộ của ông đã bị giết sạch, nhờ vào nỗ lực của Israel. Sau Mùa xuân Tuổi trẻ, Arafat và Abu Jihad quyết định chấm dứt các hoạt động của Tháng Chín Đen và ngừng các cuộc tấn công vào các mục tiêu bên ngoài Israel và các vùng đất bị chiếm đóng. Một số nhà báo và nhà sử học, bao gồm cả những người Palestine nổi tiếng, tin rằng họ làm như vậy vì họ nhận ra rằng những hành động khủng bố chống lại người Israel hoặc người Do Thái ở các nước phương Tây cuối cùng lại gây hại cho chính nghĩa của người Palestine hơn là giúp ích cho họ. Không nghi ngờ gì nữa, họ cũng nhận ra rằng thời gian họ thực hiện hành động khủng bố ở châu Âu, họ đã ban tính hợp pháp cho các hoạt động giết người có mục tiêu của Israel chống lại chính người dân của họ trên lục địa đó, khiến cho mỗi vụ tấn công khủng bố phải trả giá rất cao.

Những người khác ghi nhận thực tế là vào năm 1974, PLO đã có được vị thế quốc tế khi Arafat được mời phát biểu trước Đại hội đồng LHQ. Sự thật có lẽ đâu đó ở giữa.

Dù bằng cách nào, với tư cách là người đứng đầu Hội đồng Quân sự Tối cao của PLO, Abu Jihad đã ra lệnh cho tất cả các cuộc tấn công khủng bố từ giờ phải nhắm vào bên trong “đất mẹ bị chiếm đóng”. Các chiến binh đã tràn vào Israel thông qua các sân bay và cảng biển từ châu Âu, đến biên giới Jordan hoặc, giống như ba kẻ khủng bố đã tấn công Maalot, tiến hành các cuộc đột kích từ Lebanon.

Cuộc tấn công Maalot, do DFLP dàn dựng, phản ánh chiến lược của Abu Jihad. Đây là cuộc tấn công gây chết người nhất của  Palestine kể từ Munich và là cuộc tấn công tồi tệ nhất từng được phóng qua biên giới vào lãnh thổ Israel. Nhưng nó không phải là cuối cùng, chỉ đơn thuần là một dấu hiệu cho thấy những gì sắp xảy ra.

Vào khoảng 11 giờ tối. vào ngày 5 tháng 3 năm 1975, tám người của Abu Jihad đi thuyền vào vùng biển của Israel trên một con tàu được cải trang thành tàu buôn Ai Cập. Dưới bóng tối của một đêm không trăng, những kẻ khủng bố leo lên một chiếc xuồng cao su và đổ bộ xuống một bãi biển ở Tel Aviv. Chúng đi qua bãi cát về phía đường phố, sau đó khai hỏa vào công viên bờ biển Herbert Samuel.

Con tàu của họ được chế tạo để trông giống Ai Cập vì những kẻ khủng bố muốn phá hoại chuyến thăm sắp tới đến khu vực của Ngoại trưởng Henry Kissinger, người đã không từ bỏ nỗ lực mang lại hòa bình giữa Israel và Ai Cập.

Bọn khủng bố chiếm Khách sạn Savoy Hotel, cách bãi biển một dãy nhà. Chúng xông vào sảnh, giết nhân viên lễ tân và dồn tất cả những vị khách mà họ tìm thấy vào một phòng.

Đây là “lần đầu tiên những kẻ khủng bố thành công trong việc đưa một biệt đội vào trung tâm đất nước”, một báo cáo quân sự bí mật cho biết về vụ việc ngay sau khi nó kết thúc. Bọn khủng bố ở rất gần khu nhà Kirya, cơ ngơi trước đây của Templer, nơi đặt trụ sở chính của quân đội và tình báo Israel, đến nỗi một viên đạn lạc từ khẩu AK-47 bay qua cửa sổ và rơi xuống một phòng họp, nơi hội họp các chỉ huy hàng đầu của IDF.

Bên trong Savoy, tám tên khủng bố được trang bị súng trường tấn công AK-47 và súng phóng lựu, đặt một loạt thiết bị nổ xung quanh căn phòng nơi chúng đang giam giữ 11 con tin. (8 khách thường dân khác đang trốn ở nơi khác trong khách sạn.) Chúng đe dọa sẽ giết tất cả trừ khi 20 tù nhân Palestine được thả trong vòng bốn giờ.

Ngoài ra, mặc dù đã gần hai năm trôi qua, người Palestine tuyên bố rằng cuộc tấn công của chúng là để trả đũa cho Chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ.

Đàm phán tiếp tục diễn ra suốt đêm, được thực hiện thông qua một trong những con tin, một phụ nữ trẻ nói tiếng Ả Rập tháo vát tên là Kochava Levy, người đã cung cấp cho người Israel nhiều thông tin có giá trị về những gì đang xảy ra bên trong khách sạn. Cô cũng thuyết phục những tên khủng bố cho phép cô đưa một du khách người Đức bị thương nặng, người đã bị mất một chân trong cuộc trao đổi hỏa lực và đang nằm trong sảnh khách sạn, ra ngoài tòa nhà, và mặc dù có thể lợi dụng ở lại luôn bên ngoài, nhưng cô ấy đã dũng cảm quay lại để hỗ trợ cuộc đàm phán.

Nhưng Israel chưa bao giờ có ý định thả các tù nhân Palestine. Thay vào đó, trong khi nhà đàm phán Israel đang kéo dài  thời gian, một lực lượng Sayeret Matkal đã âm mưu tiến hành một chiến dịch giải cứu. Vào lúc 5:16 sáng, 44 lính biệt kích ập vào khách sạn. Họ đã giết 7 trong số các tên khủng bố và sau đó đã bắt được một tên. Nhưng chỉ có 11 người trong số các con tin được giải cứu. 8 thường dân đã thiệt mạng khi bọn khủng bố nhận ra họ đang bị tấn công và cho nổ mìn. Ba binh sĩ cũng thiệt mạng, trong đó có một sĩ quan tham mưu nguyên là chỉ huy của đơn vị và đã theo nhóm đột kích vào khách sạn.

Đây được coi là một thất bại đáng kể khác trong một chu kỳ dường như vô tận. “Đó là một khoảng thời gian khủng khiếp,” Omer Bar-Lev, một người lính Sayeret Matkal, người đã tham gia cuộc đột kích vào khách sạn và trở thành chỉ huy của đơn vị, cho biết. “Cứ vài tuần chúng tôi lại nhốn nháo vào nửa đêm, sầm sập leo lên trực thăng bay đến hiện trường của một vụ tấn công khủng bố khác. Bạn biết rằng trong vài giờ trước bình minh, bạn phải giải quyết xong vấn đề. Mặc dù tất cả đều diễn ra bên trong Israel, bản chất của các hoạt động khác với những gì đơn vị đã quen thuộc- mọi thế chủ động, mọi yếu tố bất ngờ, mọi kế hoạch đều là của phía bên kia. Đáng sợ kinh khủng ”.

__

Với nhịp điệu tấn công khủng bố vẫn tiếp tục không suy giảm, rõ ràng là Israel cần phải nỗ lực gấp đôi để loại bỏ giới lãnh đạo PLO. Nhưng ngay cả lúc Lưỡi Lê  đang hoạt động hết công suất, Mossad vẫn gặp khó khăn khi hoạt động ở các quốc gia mục tiêu như Lebanon, nơi những kẻ đứng đầu tổ chức khủng bố Palestine sinh sống. Hơn nữa, các biện pháp phòng ngừa an ninh đã được thắt chặt đáng kể sau Chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ. Việc sử dụng các đặc nhiệm Mossad để loại bỏ ban lãnh đạo PLO hiện được coi là không thực tế, nếu không muốn nói là không thể.

Thay vào đó, Israel chuyển sang sử dụng lực lượng không quân của mình. Vào giữa tháng 8 năm 1975, một điệp viên Mossad nằm bên trong Fatah báo cáo rằng PLO đang lên kế hoạch cho một cuộc biểu tình tại một sân vận động, Al-Madina al- Riyadiyyah, ở nam Beirut, vào ngày 1 tháng 10, và một giờ trước cuộc biểu tình đó, toàn bộ ban lãnh đạo Fatah sẽ họp ở một văn phòng gần đó. Đây được coi là cơ hội lý tưởng để tống khứ Yasser Arafat, Khalil al-Wazir (Abu Jihad), Farouk Kaddoumi, Hani al-Hassan, Wadie Haddad và nhiều quan chức cấp cao khác cùng một lúc. Thủ tướng Yitzhak Rabin đã ra lệnh lập một kế hoạch ngay lập tức.

Trong khi tổng tham mưu trưởng và lực lượng không quân ủng hộ một cuộc tấn công, thì người đứng đầu AMAN, Tướng Shlomo Gazit, đã phản đối quyết liệt. “Tôi đã nói với Bộ trưởng Quốc phòng Shimon Peres rằng chúng ta không được tham gia vào một thứ công khai như thế này. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để chống lại khủng bố với toàn bộ lực lượng, nhưng chỉ trong các hoạt động bí mật không để lại thẻ gọi điện thoại. Có một số người Israel không hề xấu hổ về những vụ giết người có mục tiêu. Thái độ của tôi ngược lại: Tôi xấu hổ. Tôi ngồi yên lặng và không khoe khoang về chúng.”

Sự phản đối của ông ta đã bị bác bỏ, và kế hoạch bắt đầu. Thiếu tá Aviem Sella, khi đó là một ngôi sao đang lên trong lực lượng không quân, được chỉ định để điều phối hoạt động. Tám máy bay cường kích A-4 Skyhawk và một máy bay chiến đấu-ném bom F-4 Phantom đã được lên kế hoạch tham gia. Máy bay trực thăng đã sẵn sàng trong trường hợp bất kỳ phi cơ nào bị bắn rơi và cần được cứu hộ. Mọi thứ đã diễn ra theo đúng kế hoạch.

Sau đó, vào buổi sáng hành động, bản tin thời tiết đến. Dự báo là  mây mù u ám trên Beirut. Bởi vì bom của Israel vào thời điểm đó thiếu cơ chế dẫn đường chính xác, phù hợp với mọi thời tiết, nên không chắc chắn sẽ đánh trúng mục tiêu. “Nhưng nó rất hấp dẫn, chỉ có một lần trong đời,” Thiếu tá Sella nói. “Và tất cả những sự chuẩn bị rộng lớn đó — một phần lớn lực lượng không quân đang trên đà hoạt động. Chúng tôi quyết định thử. Tôi nói với Benny [Peled, chỉ huy lực lượng không quân], “Nào, hãy chớp lấy cơ hội — gửi máy bay lên và có thể điều kỳ diệu sẽ xảy ra.”

Các phi công đã cất cánh, hy vọng rằng bầu trời sẽ quang đãng. Bầu trời vẫn không thay đổi, và những đám mây mù vẫn bao phủ Beirut khi họ đến thành phố.

Nhưng Sella “đã không tính đến động cơ của các phi công,” như ông thừa nhận sau này. Các phi công đã được lệnh không thả bom nếu họ không thể nhìn thấy mục tiêu, nhưng điều đó vẫn khiến họ có nhiều quyền quyết định. Họ biết bản chất của mục tiêu và hiểu rõ tầm quan trọng của việc loại bỏ giới lãnh đạo PLO đối với đất nước.

Các phi công đã chúc xuống dưới lớp mây che phủ ở độ cao thấp hơn lệnh cho phép. Khi thấy đã ở bên trên mục tiêu, họ thả bom. Các quả bom được gắn thiết bị nổ được vận hành bằng dây cáp kết nối với máy bay. Nhưng vì họ bay thấp hơn dự kiến, ngòi nổ không cháy được, và bom rơi xuống đất và nóc các tòa nhà mà không nổ, “giống như ném xuống một mẻ trứng”, theo lời của Sella.

Chỉ người lái xe của Abu Jihad bị thiệt mạng trong cuộc không kích, do bị nghiền nát bởi một quả bom chưa nổ. Ngày hôm sau, một tờ báo ở Beirut đăng một tranh biếm họa vẽ một cậu bé Palestine đi tiểu vào một quả bom của Israel. Abu Jihad đã ra lệnh điều tra để tìm ra kẻ đã tiết lộ thông tin về cuộc họp. Ba tháng sau, một đặc vụ Mossad khác bị bại lộ và bị hành quyết.

__

KHI FATAH BÂY GIỜ tập trung các hoạt động khủng bố bên trong Israel, Mặt trận Giải phóng Palestine tiếp tục các cuộc tấn công giết người nhằm vào các mục tiêu Do Thái và Israel ở nước ngoài, đặc biệt là ở châu Âu. PFLP đã ném bom các giáo đường Do Thái, các quân đoàn của Israel và các văn phòng của El Al. Các chiến binh của nó đã cướp máy bay bay đến Israel, một kỹ thuật mà họ đã phát triển khá thuần thục.

George Habash vẫn là lãnh đạo của PFLP, nhưng bộ óc hoạt động sáng suốt nhất của tổ chức thuộc về phó của Habash, Wadie Haddad.

Ilan Mizrahi, người điều hành các đặc vụ bên trong tổ chức của Haddad cho biết: “Hắn ta có tài vận chuyển bí mật chất nổ đến địa điểm tiến hành tấn công và cất giấu chúng ở đó. Shimshon Yitzhaki, trưởng bộ phận chống khủng bố của Mossad cho biết: “Hắn thích các hoạt động chất lượng, đôi khi ở xa, sau khi lập kế hoạch cẩn thận.“ Cuộc huấn luyện mà hắn dành cho người của mình tại một căn cứ ở Nam Yemen thuộc một cấp độ khác với những gì chúng tôi đã quen thuộc.”

Những người khác cũng ngưỡng mộ tính chuyên nghiệp của Haddad. KGB, cơ quan đặt cho hắn mật danh Nhà Dân tộc Chủ nghĩa, đã trợ giúp hắn hào phóng nhằm “đạt được một số mục tiêu của chính chúng ta thông qua các hoạt động của PLFP trong khi vẫn duy trì sự bí mật cần thiết,” như người đứng đầu cơ quan đó, Yuri Andropov, đã viết cho nhà lãnh đạo Liên Xô, Leonid Brezhnev, vào năm 1969. Haddad trừ khử những kẻ đào thoát Liên Xô và tấn công các mục tiêu có liên hệ với CIA, và đổi lại ông nhận được tài trợ, đào tạo, vũ khí tiên tiến và thông tin tình báo từ KGB và Stasi.

Haddad độc lập và kiên quyết. Khi Habash thông báo nội bộ rằng ông ta đang cân nhắc việc tuân thủ, “dù chỉ là tạm thời”, với yêu cầu của Arafat rằng các hành động khủng bố bên ngoài Trung Đông phải được tạm hoãn, thì Haddad tuyên bố rằng Habash có thể làm theo ý ông ta nhưng hắn và người của hắn sẽ tiếp tục theo cách riêng của mình

Trong nhiều năm dài, Haddad đã lên kế hoạch cho một cuộc tấn công lớn, một cuộc tấn công có thể gây chấn động thế giới. Hắn đã đầu tư nhiều thời gian vào việc lập kế hoạch và thu thập thông tin tình báo nhưng vẫn tiếp tục trì hoãn vì những rắc rối hoạt động khác nhau. Một trong những thách thức khó khăn nhất là hắn cần tìm những đặc vụ có vẻ ngoài giống người châu Âu. Vào giữa năm 1975, giải pháp xuất hiện.

PLO có quan hệ tuyệt vời với một số tổ chức cánh tả cực đoan ở châu Âu và thậm chí đã thiết lập các trại huấn luyện cho họ ở Lebanon và Nam Yemen, những tổ chức có quan hệ chặt chẽ với Liên Xô và có đường lối cực đoan chống Israel.

Haddad có quan hệ đặc biệt tốt với Đảng phái Hồng quân của Tây Đức (RAF), còn được gọi là Bọn Baader-Meinhof. Các thành viên của nó tán thành hệ tư tưởng Mác-xít vô chính phủ và thực hành các chiến thuật du kích đô thị chống lại lực lượng thực thi pháp luật và các doanh nghiệp lớn của Đức. Họ nhìn thấy ở Israel, với sự áp bức của nó đối với người Palestine, như một mặt trận khác trong cuộc chiến chống lại những điều ác của chủ nghĩa đế quốc.

Hai thành viên RAF, Thomas Reuter và Brigitte Schulz, người vừa mới mãn hạn tù, đã trốn khỏi Đức và đến trại huấn luyện PFLP gần Aden, nơi họ tham gia cùng các đồng chí RAF khác. Đây là những người phương Tây mà Haddad cần.

Ba trong số tên PFLP được lệnh đợi bên ngoài sân bay ở Nairobi, Kenya, chờ một chiếc máy bay El Al đến trong khi hai người Đức theo dõi quầy của hãng hàng không trong nhà ga để xác định thời gian đến cuối cùng của chuyến bay và báo động cho đội đang chờ bên ngoài.

Ngay lập tức khi chiếc máy bay bay trên đầu họ, bọn đặc nhiệm PFLP sẽ bắn hạ nó bằng tên lửa vác vai Strela SAM 7.

Trong hai tháng trước khi hành  động, các tên khủng bố đã thực tập bắn Strelas và nghiên cứu các bản phác thảo của sân bay Nairobi do các đặc nhiệm PFLP thực hiện, sau những tiến hành trinh sát sơ bộ. Cùng nhau, họ xác định một khu vực bên ngoài và hơi chếch về phía tây của sân bay, với những cụm cây cao và xương rồng, giữa Đường Mombasa và hàng rào của Công viên Quốc gia Nairobi. Từ vị trí này, có thể quan sát rõ ràng đường băng của sân bay.

Một tuần trước khi hành động diễn ra, hai khẩu Strelas do KGB cung cấp cho Haddad đã được nhập lậu vào Kenya. Tám thành viên của biệt đội đã đến Kenya riêng biệt, với hộ chiếu giả, chín ngày trước đó, và họ đăng ký vào một khách sạn ở trung tâm thành phố.

Mọi thứ đã sẵn sàng cho cuộc tấn công, nhưng Mossad đã nắm được thông tin về âm mưu thông qua đặc vụ Nỗi buồn của Junction.

Một cuộc tranh cãi nổ ra bên trong cơ quan, với người đứng đầu Junction, Shmuel Goren, muốn hơn bất cứ điều gì khác để bảo vệ Nỗi buồn và lo sợ rằng nếu Mossad tiết lộ chi tiết về cuộc tấn công đã lên kế hoạch cho chính quyền Kenya và hỗ trợ họ ngăn chặn nó, nhóm Haddad sẽ nhận ra rằng Mossad đang sở hữu  một đặc vụ có quyền truy cập vào bí mật của mình. Điều đó có thể báo hiệu sự kết thúc của Nỗi buồn. Goren đề xuất xây dựng kịch bản bằng cách sử dụng “lao động Do Thái” — tức là, nhắm mục tiêu giết thủ phạm bởi Lưỡi Lê  — “mà không chia sẻ nó với lực lượng phương.”

Ở phía bên kia, người đứng đầu bộ phận quan hệ đối ngoại của Mossad, Nahum Admoni, người đã phụ trách các hoạt động ở châu Phi của cơ quan này trong một thời gian dài và biết rõ Tổng thống Jomo Kenyatta của Kenya và các giám đốc tình báo của ông, đã mạnh mẽ phản đối việc thực hiện hành động như vậy ngay trước mũi của “nhà cầm quyền địa phương.”

Ngoài ra còn có những cân nhắc về hoạt động: Lưỡi Lê  chỉ mới bắt đầu tổ chức lại sau vụ Lillehammer thảm khốc, và “chúng tôi cảm thấy cần phải xử lý nhiều người cùng lúc, trong khi họ đang cầm tên lửa trong tay, có thể quá phức tạp, ”cựu quan chức Mossad Eliezer Tsafrir nói.

Yitzhak Hofi, một cựu tướng lĩnh,  lãnh đạo Mossad từ tay Zamir vào năm 1974, đến thăm các đối tác CIA của mình tại Langley và được thông báo về những diễn biến ở Kenya. Ông ta gửi một thông điệp được mã hóa cho Rabin với khuyến cáo: cộng tác với chính quyền Kenya và không sử dụng Lưỡi Lê .

Yitzhaki nói: “Nguyên tắc vẫn không thay đổi — nếu ai đó giết một người Do Thái, thì máu của người đó sẽ đổ lên đầu y.“ Nhưng không phải lúc nào cũng khử được mục tiêu. Các vụ giết người có mục tiêu dẫn đến rủi ro nghiêm trọng cho chính người dân  và nguy cơ làm rạn nứt mối quan hệ với quốc gia nơi bạn thực hiện chúng — trong trường hợp này là Kenya. Trong hoạt động, quy tắc là không làm những việc không cần thiết. Bạn có một mục tiêu, hãy thực hiện một lựa chọn sạch sẽ. Quên mọi thứ khác đi. Mục tiêu tối cao của chúng tôi là đảm bảo sẽ không có chuyện gì xảy ra với máy bay El Al, đồng thời bảo vệ an ninh nguồn tin của chúng tôi một cách đầy đủ nhất có thể ”.

Vì vậy, thay vì cố gắng tiêu diệt đội khủng bố, người Israel đã tranh thủ sự giúp đỡ của lực lượng an ninh Kenya. Vào đêm muộn thứ sáu, ngày 23 tháng 1 năm 1976, một toán mười bảy người Israel bay ra khỏi Căn cứ Không quân Israel 27, hướng đến Nairobi. Chiến dịch có mật danh là Heartburn (Chứng ợ nóng). Tsafrir, một thành viên của đội trên máy bay, nhớ lại: “Tôi rất lo lắng. “Rất nhiều sinh mạng đang bị đe dọa, phụ thuộc vào chúng tôi và sự thành công của chiến dịch.”

Ngay sau khi đội Israel hạ cánh, Admoni đã gặp các sĩ quan cơ quan tình báo Kenya để thông báo cho họ về cuộc tấn công sắp xảy ra. Người Kenya đã bị sốc. Tổng thống Kenyatta đặc biệt xúc động khi biết rằng Somalia có liên quan. Người Kenya sẵn sàng đồng ý hợp tác — họ hài lòng vì Mossad không tự hành động trước mũi họ. Họ khăng khăng muốn biết danh tính các nguồn của Mossad, để chắc chắn rằng họ chuẩn bị hành động dựa trên thông tin đáng tin cậy, nhưng Admoni lịch sự từ chối.

Một đội kết hợp Mossad-Kenya nhanh chóng xác định được vị trí của người Đức và người Palestine và đặt họ dưới sự giám sát chặt chẽ. Họ cũng xác định vị trí của chiếc xe buýt nhỏ màu trắng, với biển số KPR338, trong đó tên lửa đã được ký gửi. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã theo chân ba người Palestine khi họ lái xe ra ngoài để trinh sát địa điểm phóng rốc két.

Vào ngày 25 tháng 1, chuyến bay LY512 của El Al cất cánh từ Johannesburg trên đường đến Tel Aviv. Máy bay, một chiếc Boeing 707 với khoảng 150 người trên khoang, dự kiến ​​sẽ dừng ở Nairobi lúc 5 giờ chiều. Không lâu trước đó, ba người Palestine và hai người Đức khởi hành trên chiếc xe buýt nhỏ màu trắng của họ và một chiếc xe cho thuê khác. Điểm dừng đầu tiên của họ là thả quân Đức tại nhà ga. Sau đó, họ rời sân bay và ra đường chính, trước khi rẽ phải vào đường mòn theo hướng địa điểm phóng rốc két dự kiến. Nhưng trước khi họ có thể đến được đó, các mật vụ Kenya đã tấn công nhóm khủng bố; ngay sau đó, họ đón hai người Đức ở gần quầy đến của El Al trong nhà ga. Cả năm đều đầu hàng mà không có một cuộc đấu súng nào.

Cho đến lúc đó, người Kenya đã hoàn toàn hợp tác với người Israel, nhưng họ không muốn bất cứ điều gì được công khai vì sợ áp lực nặng nề của người Ả Rập mà họ phải đối mặt tại các diễn đàn Thế giới thứ ba và châu Phi nếu vụ việc được đưa ra ánh sáng. Họ đề xuất hai giải pháp: “Hoặc chúng tôi đưa chúng đến sa mạc và cho linh cẩu ăn trưa,” hoặc người Israel có thể lãnh chúng, với điều kiện rằng người Israel sẽ không bao giờ được tiết lộ các tù nhân đã từng nằm trong tay họ.

Người Israel hy vọng mình có thể khai thác thêm thông tin từ các tù nhân về Haddad và các hoạt động của hắn, vì vậy họ đã chọn phương án thứ hai: “làm biến mất” một cách hiệu quả những kẻ khủng bố bằng cách đưa chúng đến Israel, nơi chúng bị giam giữ cách ly trong điều kiện khắc nghiệt và sau đó phải đối mặt trước một phiên tòa bí mật. Đây có lẽ là trường hợp đầu tiên phương Tây tham gia vào một hoạt động mà sau ngày 11/9, CIA sẽ gọi là “bàn giao” – việc chuyển giao nghi phạm bí mật, không có giấy tờ, không hợp pháp từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Các nhân viên thẩm vấn từ Đơn vị 504 của AMAN và nhân viên y tế của đơn vị đã bay đến Nairobi. Năm tù nhân bị trói vào cáng và tiêm thuốc an thần trước khi lên chuyến bay kéo dài 6 giờ đến Israel.

Trong khi đó, tại Tel Aviv, một số người đã xem xét liệu có khôn ngoan khi đưa các tù nhân đến  Israel hay không. Tướng Rehavam Zeevi, cố vấn tình báo và chống khủng bố của thủ tướng, đã đề xuất một giải pháp thay thế cho Yitzhak Rabin: “Hãy thả năm linh hồn công chính xuống Biển Đỏ và phủi sạch vấn đề,” ông nói. “Người Kenya đã giữ im lặng về toàn bộ câu chuyện. Không ai biết họ đã bị bắt. Chúng tôi có thông tin cho biết Wadie Haddad đã hứa với họ rằng nếu họ bị bắt, hắn sẽ cướp một chiếc máy bay và dùng nó để  mặc cả cho họ được thả ra. Nếu chúng tôi đưa họ đến Israel và việc này rò rỉ ra ngoài, nó sẽ kích hoạt một làn sóng khủng bố khác chống lại chúng ta. Hãy kết thúc nó ngay bây giờ. “

Rabin nhìn Zeevi và im lặng một lúc lâu. Sau đó, ông bảo một phụ tá triệu tập một cuộc họp nội các khẩn cấp về các vụ giết người có mục tiêu.

“Các ông có ý kiến gì?” Rabin đã hỏi các bộ trưởng đang tập hợp sau khi họ lắng nghe đề xuất của Zeevi. Tất cả đều đồng ý rằng việc đưa năm tù nhân đến Israel sẽ gây nguy hiểm cho du khách Israel ở khắp mọi nơi trên thế giới. Haddad là một không tặc dày dạn kinh nghiệm, hắn sẽ làm những gì có thể để giải phóng đồng bọn của mình. Rabin cũng đồng ý với đánh giá này nhưng tuy nhiên từ chối ký tên vào việc hành quyết các tù nhân đang “dùng” thuốc an thần “trừ khi tổng chưởng lý cũng đồng ý,” ông nói. “Gọi cho Aharon ngay bây giờ.”

Aharon Barak, người sau này trở thành chánh án Tòa án tối cao của Israel và là luật gia nổi tiếng nhất của đất nước, ngồi im lặng lắng nghe mô tả về hoạt động bí mật và về đề xuất thả hung thủ xuống biển. “Ông nói xong chưa?” ông ta  hỏi Zeevi sau khi cuộc giải trình  kết thúc. “Tốt thôi,” ông ta giận dữ nói, “bởi vì tôi nghĩ rằng chắc ông bạn đã mất trí. Đây là hai công dân Đức mà ông muốn giết trong khi họ bị trói và thấm thuốc an thần trên một máy bay quân sự của Israel. Tôi không thể chấp thuận điều này bằng bất cứ cách nào ”.

Ba người Palestine và hai người Đức đã hạ cánh an toàn xuống Israel và được đưa đến cơ sở thẩm vấn bí mật của Đơn vị 504 trong một căn cứ có tên mã là Stalk, phía đông nam Tel Aviv. Họ được đặt trong những phòng giam tối với những bức tường trần, suốt thời gian ngủ mê vì liều thuốc an thần. Khi họ bắt đầu tỉnh dậy, “chúng tôi quyết định chơi trò chơi ma với họ”, người đứng đầu bộ phận thẩm vấn Shin Bet, Arieh Hadar cho biết. “Chúng tôi đeo mặt nạ và than khóc khi họ tỉnh dậy, như thể họ đã chết và đang ở thế giới bên kia .”

Người Israel rất háo hức tìm hiểu càng nhiều càng tốt về cấu trúc và phương pháp của PFLP, và thậm chí có thể là điều gì đó về nơi có thể tìm thấy Wadie Haddad.

Nhân viên thẩm vấn cấp cao của 504, Y., một sĩ quan có cấp bậc trung tá, đội mũ chỏm của người Do Thái Chính thống và được biết là một người cánh hữu, đã được giao phụ trách ba người Palestine. Y. là người đã điều hành các cuộc khổ luyện tù binh cho lực lượng đặc nhiệm của IDF, với việc mô phỏng các điều kiện bị giam cầm và tra tấn khắc nghiệt của họ. Không lâu trước khi năm Nairobi đến nơi, ông ta đã gây ra chấn thương cột sống vĩnh viễn cho một nhân viên Sayeret Matkal bằng cách tấn công anh ta bằng dùi cui. Vài tháng sau đó, một tên Palestine đang bị Y. thẩm vấn bỗng gục xuống và qua đời tại bệnh viện.

“Y. không giết hắn. Ông ta không giết hắn. Hắn đã chết ”, Yigal Simon, chỉ huy của 504 vào thời điểm đó cho biết. “Đó là một cuộc thẩm vấn dài. Rất dài. Hắn bị đánh đập, nhưng cái chết của hắn không liên quan đến việc này. Việc khám nghiệm tử thi đã chứng minh điều đó ”.

Khi ba đặc vụ Ả Rập được đưa đến từ Kenya, Y. “đã làm việc rất chăm chỉ”, theo một điều hành viên của Shin Bet. Một người trong số họ bị thương nặng và cũng phải nhập viện, nhưng y đã bình phục.

Các tù nhân Đức được đối xử hoàn toàn khác biệt và được tra hỏi một cách lịch sự bởi nhân viên Shin Bet. Chỉ huy trưởng AMAN Shlomo Gazit đã đến thăm cơ sở thẩm vấn. “Người phụ nữ [Schulz] đã gây ấn tượng nổi bật,” ông nói. “Một người phụ nữ rất mạnh mẽ, kiểm soát bản thân và môi trường xung quanh bằng bàn tay sắt. Còn anh chàng là một người khó chịu. ” Cuối cùng, Hadar, người tiến hành cuộc thẩm vấn theo cách lầm lì, xảo quyệt của mình, đã chinh phục Schulz nhờ giọng nói nhẹ nhàng và vẻ ngoài vô thưởng vô phạt.

Hai người Đức đã thú thật, nhận tội và cung cấp thông tin về Haddad. Hadar nói: “Họ đã nói với chúng tôi rất nhiều, bao gồm cả kế hoạch cho các cuộc tấn công khủng bố trong tương lai. “Toàn bộ  thời gian này, người phụ nữ từ Mossad [thông dịch viên tiếng Đức-Do Thái] ngồi đó và nói với tôi bằng tiếng Do Thái,” Tôi muốn giết ả ta. “

“Trước khi chúng tôi chia tay, tôi nắm tay Schulz và hỏi,” Brigitte, giả sử rằng một ngày nào đó bạn trở lại Đức và bạn bè nói với bạn rằng bạn phải giết Harry “- tên tôi cho cô ấy biết. “Bạn sẽ làm gì?” Và cô ấy trả lời không chớp mắt, “Tôi không thể giết bạn, Harry, sau tất cả những gì bạn đã làm cho tôi.”

“Tôi rất vui. Tôi nghĩ rằng có lẽ ít nhất điều gì đó ở cô ấy đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Nhưng sau đó cô ấy nói thêm, “Tôi sẽ yêu cầu người khác bắn bạn.”

__

VÀO NGÀY  27 THÁNG 6 NĂM 1976, sáu tháng sau khi cuộc tấn công ở Kenya bị ngăn chặn, Rabin và nội các của ông đã triệu tập một cuộc họp tại văn phòng thủ tướng, tại Kirya-Sarona ở Tel Aviv.

Các bộ trưởng đang thảo luận về đề xuất của Bộ trưởng Quốc phòng Shimon Peres về việc tăng lương cho các binh sĩ IDF thì lúc 1 giờ 45 chiều, thư ký quân sự bước vào phòng và đưa cho Rabin một bức thư. Đột nhiên ông bỗng nghiêm sắc mặt. Ông ấy hắng giọng để thu hút sự chú ý của mọi người. “Trước khi chúng ta tiếp tục, tôi có một việc cần thông báo,” ông nói. “Một máy bay của Air France cất cánh từ Lod lúc 9h50 đã mất liên lạc. Rõ ràng là bị không tặc. Rõ ràng là bay theo hướng khác. Trên máy bay có khoảng tám mươi ba người Israel ”.

Phụ tá quân sự, Efraim Poran, nói với Rabin rằng các cơ quan tình báo vẫn chưa biết ai đã gây ra vụ không tặc và sẽ cập nhật cho ông ta khi có thêm thông tin.

Có một khoảnh khắc, Rabin tâm sự với một cộng sự sau đó, khi ông ta hối hận vì đã không cho phép ném năm tên Nairobi xuống biển.

“Quên nó đi,” Rabin nói với Poran. “Tôi biết. Đó là Wadie Haddad. ”

Có bốn tên không tặc — hai tên từ PFLP và hai tên cực đoan cánh tả Đức. Họ đã lên chiếc máy bay đến Paris trong một chặng dừng ở Athens, và sau khi cất cánh, họ đứng dậy, rút ​​súng và xông vào buồng lái, ra lệnh cho phi công bay trước đến Benghazi, để tiếp nhiên liệu và đón thêm ba tên khủng bố, và sau đó đến Entebbe, Uganda.

Wadie Haddad đã một lần nữa chứng minh rằng ông là chiến lược gia giỏi nhất trong thế giới khủng bố. Ông ta đã học được từ những sai lầm của chính mình và của những người khác và đã thực hiện một hoạt động quy mô lớn dựa trên thông tin tình báo chính xác, sự chuẩn bị tỉ mỉ và phối hợp với ít nhất hai kẻ độc tài, Muammar Qaddafi của Libya và Idi Amin của Uganda, cả hai đều đã mở rộng hỗ trợ hậu cần và tị nạn cho những kẻ không tặc, xa tầm với của Israel.

Amin, một cựu võ sĩ quyền Anh và một trung sĩ trong Quân đội Anh, đã giành quyền kiểm soát Uganda với sự hỗ trợ của Mossad và Bộ Quốc phòng Israel, những cơ quan duy trì quan hệ bí mật với nước này. Để đổi lấy số tiền hối lộ mà Amin nhận được trong những chiếc vali có đáy đôi, ông ta trao cho Israel những hợp đồng quân sự và dân sự béo bở và cho Mossad rảnh tay ở Uganda.

Nhưng tính khát máu và tàn ác của Amin chỉ so bì được với tính tham muốn tiền bạc, nên vào năm 1972, khi Qaddafi bắt đầu đưa cho ông ta những khoản hối lộ lớn hơn Israel, ông ta đã trục xuất những đại diện của Israel và trở thành kẻ thù không đội trời chung của nó. Ông đồng ý tiếp đón những tên không tặc và con tin của chúng tại Entebbe, cách Israel 2.200 dặm.

Haddad tin rằng Israel sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc đàm phán với hắn. Tại Entebbe, các đặc nhiệm của hắn đã thả 209 hành khách không phải người Israel và không phải người Do Thái và phi hành đoàn 12 người của Air France, nhưng phi hành đoàn, trong một hành động đoàn kết can đảm, nhất quyết ở lại với 85 hành khách Israel và 8 hành khách Do Thái không phải người Israel. Bọn không tặc sau đó yêu cầu thả 53 “chiến binh vì tự do” để đổi lấy con tin người Israel và Do Thái. Yêu cầu này đến từ Idi Amin, người đã liên hệ qua điện thoại với Israel. Danh sách “những chiến binh vì tự do” bao gồm Tổng Giám mục Hilarion Capucci, một người đàn ông mặc áo vải đã sử dụng địa vị ngoại giao của mình để tuồn một lô hàng vũ khí lớn trên chiếc Mercedes đến các tổ Fatah ở Jerusalem; Kozo Okamoto, một trong những thủ phạm của vụ thảm sát sân bay Lod năm 1972; và 5 tên khủng bố từng tham gia nhiệm vụ ở Nairobi, kẻ mà Haddad tin chắc đang nằm trong tay người Kenya hoặc Israel.

Mossad rơi vào tình trạng hỗn loạn. Giờ đây, nhiều người tiếc nuối rằng năm Nairobi đã không bị trút xuống biển. Tại một cuộc họp chỉ huy, Tsafrir nói, “Họ muốn năm người? Rất vui lòng. Hãy đưa chúng đến Uganda và thả chúng từ máy bay xuống nóc nhà ga để Haddad nhận ra rằng đó là tất cả những gì hắn ta sẽ nhận được từ chúng ta “

Trong khi đó, IDF đã lên kế hoạch cho một chiến dịch giải cứu với sự tham gia của một lực lượng khổng lồ sẽ đổ bộ vào khu vực Hồ Victoria, sau đó bảo vệ toàn bộ sân bay và một vùng đất rộng xung quanh nó. Rabin càng nghe trình bày kế hoạch, càng tức giận hơn.

“Trong thời gian cần thiết để bảo vệ toàn bộ khu vực, bọn không tặc sẽ  tàn sát tất cả các con tin, và Idi Amin sẽ có thời gian để đưa quân tiếp viện,” ông nói.

“Rabin nói với IDF rằng ông ấy muốn nghe một kế hoạch trong đó không quá ba phút sẽ trôi qua kể từ thời điểm lực lượng hạ cánh cho đến khi chiến dịch cứu hộ bắt đầu,” tổng giám đốc văn phòng thủ tướng, Amos Eiran cho biết. Nhưng từ một khoảng cách xa như vậy, và không có bất kỳ thông tin tình báo nào, đây dường như là một yêu cầu bất khả thi.

Thiếu bất kỳ lựa chọn thay thế khả thi nào, Rabin có xu hướng tuân theo yêu cầu của bọn không tặc. Mặc dù ghét ý tưởng này, nhưng ông không còn cách nào khác để cứu sống hơn hàng trăm người vô tội. Nhưng hành động này sẽ vi phạm luật sắt do Golda Meir đặt ra và sau đó được chấp nhận là chính sách của Israel: không đàm phán với kẻ khủng bố. Giám đốc Shin Bet, Avraham Ahituv, yêu cầu rằng, nếu thực sự không còn cách nào khác, thì ít nhất, không có tù nhân nào “có máu trên tay chúng” – một cụm từ đã được nhắc đi nhắc lại trong các tình huống tương tự – sẽ được đổi lấy con tin. Nói cách khác, chỉ những thành phần cơ sở của PLO, những người không liên quan trực tiếp đến việc làm đổ máu Israel, mới có thể được xem xét trả tự do. Ahituv nói: “Bất cứ ai đã giết người Do Thái, hoặc phải bị loại bỏ hoặc chết trong nhà tù Israel sau khi bị kết án chung thân.”

Trong bốn ngày, cuộc tranh luận vẫn tiếp tục. Các cuộc biểu tình của người thân các con tin đã diễn ra rầm rộ bên ngoài cổng vào Kirya, trong tầm tai của văn phòng Rabin. Con gái của giám đốc lò phản ứng hạt nhân chính của Israel là một trong những con tin. Ông ta đã tiếp cận Rabin và gây áp lực nặng nề để ông ta đạt được thỏa hiệp với bọn khủng bố.

Nếu tất cả những điều đó vẫn chưa đủ, Rabin sau đó nhận được một báo cáo bí mật từ Cục Kiểm duyệt Quân sự rằng họ đã cấm in, trên một tờ báo hàng ngày của Israel, một câu chuyện bao gồm tất cả các chi tiết của Chiến dịch Heartburn. Ahituv thông báo với Rabin rằng mình đã ra lệnh nghe trộm điện thoại của phóng viên nhưng vẫn chưa xác định được nguồn rò rỉ. Rabin đã rất tức giận: “Tôi thực sự bị sốc… [rằng] ở đất nước này không thể bắt một phóng viên quân sự nhốt anh ta lại và tra hỏi anh ta lấy được tin từ đâu…. [Rò rỉ thông tin] này sẽ là một thảm họa cho chúng ta. ”

Rabin hiểu rằng việc phá vỡ lời hứa hoàn toàn giữ bí mật của Israel với Kenyatta về năm tên Nairobi sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng trong mối quan hệ của họ với Kenya. Quan trọng hơn, việc tiết lộ vụ việc có thể vẽ nên Israel, quốc gia hiện đang yêu cầu sự hỗ trợ của thế giới chống lại bọn không tặc, là một quốc gia cướp biển sử dụng các phương pháp giống như khủng bố. Mặt khác, làm thế nào Israel có thể thương lượng với bọn khủng bố khi cả họ và Kenya đều phủ nhận không biết gì về nơi ở của chúng?

Cuối cùng, Caesarea đã đưa ra một giải pháp không yêu cầu hoán đổi con tin lấy tù nhân. Năm năm trước, Harari đã quyết định rằng ông ấy cần một đặc nhiệm có thể đóng vai một phi công. Chính xác là tại sao? “Bởi vì có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ cần đến anh ta ” là câu trả lời thông thường của ông cho bất kỳ câu hỏi nào về việc chuẩn bị một việc mà không có lý do ngay lúc đó. Ông thuyết phục Zamir đầu tư tài chính, và một đặc vụ có mật danh là David đã trải qua khóa đào tạo dài hạn ở Israel và châu Âu.

Bây giờ khoản đầu tư đã được đền đáp, thật là nhiều.

David đã thuê một chiếc máy bay ở Kenya và đi vòng quanh các nhà ga và đường băng Entebbe, chụp ảnh từ trên không. Khi hạ cánh, anh đóng vai một thợ săn người Anh giàu có, được nuông chiều sống ở một quốc gia Trung Phi, người cần sự hỗ trợ của tháp điều khiển trong một số vấn đề. Các kiểm soát viên hàng không Uganda sẵn sàng hợp tác và thậm chí đã uống một ly với anh ta, chia sẻ ấn tượng của họ về “sự lộn xộn lớn trong vài ngày qua”, thuật ngữ của họ cho tình huống con tin ở nhà ga gần đó.

Mười hai giờ sau, khi Harari đưa báo cáo chi tiết của David và hàng trăm bức ảnh mà anh ta đã chụp cho Rabin, khuôn mặt của thủ tướng sáng lên. “Đây đúng là những gì tôi cần,” ông nói. “Đây là thông tin tình báo cho một chiến dịch.” Đặc biệt quan trọng đối với Rabin là những cảnh quay lính Uganda xung quanh nhà ga hàng không, mà theo ông ta là bằng chứng cho thấy người của Wadie Haddad đã không hề gài mìn bẫy trong tòa nhà. “Idi Amin sẽ không cho phép người của mình ở đó,” ông nói. Từ các bức ảnh cũng có thể thấy rõ là lực lượng Uganda bảo vệ nhà ga là rất nhỏ.

Sayeret Matkal đưa ra một kế hoạch ban đầu và táo bạo: Một đội quân Sayeret nhỏ sẽ hạ cánh, dưới bóng tối, trên một chiếc máy bay vận tải quân sự C-130 Hercules không được đánh dấu, sử dụng đèn đường băng được thắp sáng cho một máy bay chở hàng dân dụng dự kiến ​​hạ cánh trước đó. Lực lượng sẽ xuống xe và đi về phía nhà ga bằng một số phương tiện phía sau một chiếc Mercedes màu đen tương tự như chiếc mà Idi Amin đã sử dụng, để gây bổi rối cho các vệ binh Uganda. Gần đến nhà ga, lực lượng sẽ xuống và xông vào tòa nhà từ nhiều lối vào khác nhau, lợi dụng sự bất ngờ và lúng túng để loại bỏ bọn khủng bố. Tất cả điều này được cho là sẽ được hoàn thành trong vòng chưa đầy hai phút. Nhiều lực lượng IDF sẽ hạ cánh ngay sau đó và đối phó với tháp điều khiển, binh lính Uganda và máy bay phản lực của lực lượng không quân Uganda, để họ không thể truy đuổi máy bay Israel khi chúng cất cánh cùng con tin và binh lính trên tàu. Kenyatta đồng ý cho máy bay Israel hạ cánh xuống Nairobi để tiếp nhiên liệu trên đường trở về.

Bộ trưởng Quốc phòng Shimon Peres tin rằng kế hoạch có thể thành công, và ông đã thúc ép Rabin. Vào ngày 3 tháng 7, thủ tướng đã bật đèn xanh cho cuộc đột kích.

Những người chỉ huy chiến dịch hỏi Rabin phải làm gì nếu họ đụng độ chính Amin. “Nếu ông ta can thiệp, lệnh sẽ giết y,” Rabin nói. Bộ trưởng ngoại giao, Yigal Allon, nói thêm, “Ngay cả khi hắn ta không can thiệp.”

Lực lượng đặc nhiệm Israel lên đường thực hiện nhiệm vụ trên 4 chiếc máy bay. Mỗi binh sĩ được phát một tấm bản đồ của Uganda và một khoản tiền bằng đô la Mỹ, đề phòng trường hợp họ bị mắc kẹt và phải tự trốn thoát. “Nhưng rõ ràng với chúng tôi rằng đây chỉ là một cuộc nói chuyện đơn thuần, và thực tế đây là một hoạt động không có kế hoạch trốn thoát. Nếu có gì đó xảy ra, chúng tôi sẽ mắc kẹt ở đó và sẽ phải chiến đấu đến chết ”, Yiftach Reicher, cấp phó của Yonatan Netanyahu, anh trai của Benjamin và hiện là chỉ huy của Sayeret Matkal, cho biết.

Hercules đầu tiên hạ cánh theo kế hoạch. Reicher, người đang ở trong một chiếc Land Rovers theo sau chiếc Mercedes màu đen, nhớ lại cảnh tượng: “Hoàn toàn im lặng và bóng tối hoàn toàn, đen hơn cả màu đen, trong sân bay rộng lớn, hoang vắng. Đường băng rộng không có ai di chuyển trên đó. Tất cả những gì tôi tự nghĩ là “Mẹ ơi, điều này thật đáng sợ.”

Yếu tố bất ngờ gần như mất đi khi lực lượng này chạm trán với hai lính gác Uganda và Netanyahu quyết định nổ súng vào họ bằng khẩu súng lục có gắn ống giảm thanh để loại trừ nguy cơ. Nhưng hai tên lính không bị giết bởi những phát súng lục, vì chiến binh ngồi sau Netanyahu, cho rằng chúng vẫn còn nguy hiểm, đã bắn chúng  bằng khẩu súng trường không gắn bộ phận hãm thanh của mình.

Tiếng súng nổ đã đưa các đội quân Uganda khác đến khu vực, và một cuộc đọ súng bắt đầu. Các phương tiện của Israel đã đến ga cuối và bắt đầu xung phong, nhưng Netanyahu đã bị trúng đạn, và anh sau đó đã chết vì vết thương quá nặng. Tuy nhiên, bọn khủng bố đã bị bất ngờ khi nhóm đột kích, đứng đầu là Muki Betser, đột nhập vào nhà ga, và tiêu diệt chúng trước khi chúng kịp tổ chức. Lực lượng của Reicher đã đột nhập vào một tòa nhà liền kề do quân đội Uganda trấn giữ và giết chết họ. Một biệt đội khác chiếm giữ tháp điều khiển không lưu. Một biệt đội  khác tiêu diệt 8 phi cơ chiến đấu MiG của không quân Uganda đang đậu trên đường băng.

Tất cả tám tên không tặc đã bị giết. Ba trong số các con tin, bị kẹt trong đường đạn cũng chết. Một con tin khác, một phụ nữ Israel lớn tuổi đã được đưa đến bệnh viện vào đêm hôm trước, đã bị sát hại, theo chỉ dẫn của Amin, để trả đũa cho cuộc đột kích.

Nhưng một trăm người đã được giải cứu, và Israel không nhượng bộ. Chiến dịch đã trở thành một hình mẫu cho cách xử lý các tình huống bắt giữ con tin: không thương lượng và không thỏa hiệp với những kẻ khủng bố, nhưng kiên định sẵn sàng vượt qua những chặng đường dài phi thường và thậm chí liều mạng để giải thoát con tin.

Nhưng mặc dù cuộc đột kích vào Entebbe là một chiến thắng chiến thuật quan trọng, người đã ra lệnh cho không tặc – nhân vật mà Golda Meir đã ký lệnh giết hơn sáu năm trước đó, tên khủng bố chỉ bị thương nhẹ bởi một đòn tấn công bằng súng phóng lựu bắn xuyên qua cửa sổ văn phòng Beirut của hắn, tên cuồng tín sống sót sau khi một quả bom rơi xuống sân vận động Beirut năm 1974, người đứng đầu danh sách tiêu diệt của Israel, và là mục tiêu của một số kế hoạch ám sát vẫn còn trên bảng thiết kế, vẫn còn sống và tại đào.

Rabin nói với Mossad không nên tiếc chi tiêu ngân sách. Wadie Haddad phải chết.

Bức ảnh ga đến của sân bay Entebbe, do David, đặc vụ Mossad chụp từ máy bay tuần tra .

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s