Tên người và tên Kiếm của các nước Sở, Ngô, Việt

Bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn

Bảo kiếm của Việt Vương Câu Tiễn

Trần Vy

A .Nậu Ô Đồ:

Theo Bình Nguyên Lộc, Guy Moréchand(1) hoàn toàn sai khi cho rằng dân nước Sở gồm đủ thứ man di. Một trong những chứng cứ cụ đưa ra là tên vị tướng nước Sở họ Đấu. Tương truyền, vị tướng này được cọp nuôi khi còn là hài nhi nên gắn liền với hỗn danh kỳ lạ Nậu Ô Đồ. Xin tóm lược ý kiến của tác giả “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” như dưới đây:

Tiếng nước Sở do người Tàu ký âm: Nậu Ô Đồ
Tiếng Việt Nam: Bú Vú Cọp
Tiếng Mã Lai đợt II: Mâu Sú Sú
Âm Quan Thoại: Nù Ú Tù

Bình Nguyên Lộc khẳng định dân nước Sở là người Mã Lai đợt II, nói thứ tiếng giống như tiếng Chàm hay Nam Dương, tức ngôn ngữ Nam Đảo. Theo ông, Nậu tương đương Hari Mâu của Mã Lai có nghĩa Ông Cọp, Ô Đồ tương đương Sú Sú có nghĩa Bú Vú. Như vậy Nậu Ô ĐồCọp Bú Vú.

Dù không có chữ Hán kèm theo nên không tra được âm cổ của Nậu Ô Đồ nhưng chúng tôi thấy ngay đó là ba âm Mon-Khmer quen thuộc. Ba từ được liệt kê không theo trật tự Việt Nam Bú Vú Cọp mà theo trật tự của  thứ tiếng Mon-Khmer ảnh hưởng Hán-Tạng: Bú Cọp Vú. Chủ ngữ ẩn chính là ông tướng.

Nậu = Bú:

Proto Mon-Khmer (South Bahnaric, Palaungic, Central & South Aslian, Nicobaric): /*ɲuuʔ/ (nhuuh) = bú, uống.
Proto Pong (Vietic): /ɲu:/ (nhuu) = bú
Temoq (Aslian): /ɲuʔ/ (nhuh) = bú.
Riang [Sak] (Palaungic): /ɲuak/ (nhuak) = bú.

Âm /ɲu:/ vốn có nghĩa “nhậu” = “uống” trong tiếng Việt nhưng nhiều sắc tộc khác dùng /ɲu:/ để diễn tả hành vi hoặc nút.

Ô = Cọp:

Tonga [Tean Ean] (Aslian): /?iaw/ (hiau) = cọp.
Katu [An Diem] (Katuic): /kɔːʔ/ (kooh) = cọp.
Nyah Kur [Tha Pong] (Monic): /khoh/ (khôh) = cọp.
Lawa [Ban Saam] (Palaungic): /ʔvuɛ/ (hvue) = cọp

Đồ = Vú:

Proto Bahnaric: /*toh/ (tôh) = vú.
Proto Katuic: /*toh/ (tôh) = vú.
Mon (Monic): /tɔh/ (toh) = vú.
Semelai (Aslian): /tuh/ (tuh) = vú.

Như vậy, nếu người Aslian biết vị tướng Nậu Ô Đồ, họ sẽ gọi tên ông như Nhuh Hiau Tuh, khá gần âm quan thoại.

B. Các thanh kiếm của thợ rèn Ngô Việt:

Theo Việt Tuyệt Thư, Việt vương ra lệnh cho Âu Dã Tử chế tạo năm bảo kiếm. Chúng được đặt tên là Ngư Trường, Trạm Lư, Cự Khuyết, Thắng Tà và Thuần Quân.  

Các tên gọi đều có nghĩa trong tiếng Hán.

  1. Ngư Trường 魚腸: Ruột Cá.
    Âm Hán cổ: /*ŋa//*l’aŋ/ (nga lang) [Zhengzhang]
    Âm Hán trung cổ: /ŋiɔ//ȡiaŋ/ (nghio chiang) [Li Rong]

Ngư trường

Ngư Trường thuộc dạng kiếm ngắn (chủy thủ), nó nổi tiếng do được Công tử Quang dùng làm vũ khí ám sát Ngô vương Liêu (trị vì nước Ngô từ 526 TCN đến 515 TCN). Nhân lúc quân Ngô khốn đốn bên đất Sở, Quang mở tiệc rượu mời vua đến nhà. Ông cho dấu kiếm vào bụng một con cá nướng sau đó sai Chuyên Chư dâng món ăn lên Ngô vương. Khi mở bụng cá, Chuyên Chư thuận tay hành thích nhà vua. Mũi đoản kiếm xuyên ba lần giáp khiến Liêu chết ngay, Chuyên Chư cũng bị thị vệ giết. Tình thế hỗn loạn, Công tử Quang cho phục binh diệt sạch quân hầu ngự rồi tự lập làm quốc quân.(2)

Tên vũ khí phải có trước biến cố chính trị nên Ngư Trường không hẳn là tiếng Hoa với nghĩa “ruột cá”. Ngư Trường chỉ gợi mở câu chuyện về sau, bản thân nó là một tên địa phương có nghĩa “sấm” mà hiện nay hai cộng đồng nói tiếng AA và AN đều còn sử dụng.

Proto Mon-Khmer (Khmer, North Bahnaric, South Aslian): /*grəŋ/ (grơng) = nổi sấm
Khmer (Khmeric): /krɛ̀əŋ-krɛ̀əŋ/ (kreơng-kreơng) = nổi sấm
Proto Austronesian (Paiwan, Ami): /*gərəŋ/ = trời gầm
Proto-Western Malayo-Polynesian: /*quRuŋ/ = tiếng trời gầm

Phụ âm đầu hoặc phụ âm của âm tiết đầu của các từ liệt kê bên trên thuộc Hán cổ, Proto Nam Á hay Proto Nam Đảo đều có âm vòm mềm (velar) g, k, ng. Phụ âm thứ nhì trong tổ hợp phụ âm đầu hoặc phụ âm đầu của âm tiết thứ hai đều có âm chân răng r, l (alveolar). Tất cả các từ đều kết thúc bằng phụ âm ng. “Nga lang” chính là ký âm của “g-rơng”. Nó mang nghĩa bóng bảy như “vũ khí của thiên lôi” hay “phán quyết của trời”.

Trong nhiều ngôn ngữ Austroasiatic “sấm” cũng có nghĩa “bén” như /k’rɨm/ (khrưm) của Ngeq (Katuic), /krɨ̀m/ (krưm) của Bru (Katuic), /karɨm/ (karưm) của Alak (Bahnaric), /krɨm/ (krưm) của Brao (Bahnaric). Các âm này đều là biến thể của /*grəŋ/ (grơng).

  1. Trạm Lư 湛盧: Sắc Đen Thẫm” hoặc Sắc Đen Bóng.
    Âm Hán cổ: /*r’uːmʔ//*b·raː/ (ruumh bra) [Zhengzhang]
    Âm Hán trung cổ: /ɖˠɛmX//luo/ (điemkh luô) [Zhengzhang]

Bảo kiếm thường được tán dương bởi ánh xanh biếc hoặc vẻ trong suốt như tảng băng. Chúng luôn sáng choang nên sắc đen ở đây có vẻ ngượng nghịu dù thẫm hay bóng đều đẹp. Trạm Lư là tên gọi rất thú vị, xin đi vào chi tiết dưới đây:

Proto Mon Khmer (Khmer, Palaungic): /*[r]lam/ (rlam) = bén, nhọn
Proto Mon Khmer (Khmer, Katuic): /*[r]laim/ (rlaim) = bén, nhọn
Proto Wa-Lawa: /*lɒm/ (laom) = bén
Khmer (Khmeric): /rəlɔ̀əm/ (rơloơm) = rất bén, rất nhọn
Semelai (Aslian): /?əluh/ (hơluh) = bén
Halang (Bahnaric): /luh/ (luh) = bén
Khmer (Khmeric): /crɔlɔɔm/ (chroloom) = bén
Mang (Mangic): /lɔm/ (lom) = bén
Wa [Bible] (Palaungic): /lawm/ (laum) = bén
Kuy (Katuic): /slɛːm/ (sleem) = sắc lẻm

Có thể lý giải Trạm Lư theo hai cách.

  1. Cách thứ nhất:

Hãy xét từ proto Mon-Khmer rlam. Nếu được phát âm chậm rãi thì ta sẽ có âm tương tự âm Khmer /rəlɔ̀əm/ (rơloơm): rơ-lam. Nếu tiếp tục hoán vị âm (nói lái) thì chúng ta sẽ được ram-lơ. Ta thấy âm Semelai /?əluh/ (hơluh) đi theo trật tự này. Ram-lơ là âm thể hiện nghĩa bén, nhọn của những bộ tộc nói tiếng Proto Nam Á hay Nam Á sinh sống tại Sở, Ngô, Việt thời cổ, là cơ sở để trí thức Trung nguyên ghi nhận lại thành “Trạm Lư” (ruumh bra).

  1. Cách thứ hai:

Rlam cũng có thể chuyển thành laum, lom, lam như thể hiện trong các thứ tiếng Ngõa, Mãng và Việt. Hiện nay, mảnh thép nhỏ vô cùng bén dùng để cạo râu người Việt vẫn gọi là “lưỡi lam/dao lam” tức “lưỡi rất sắc”. Vậy âm cổ /*r’uːmʔ/ (ruumh) có thể mang nghĩa trần trụi là “sắc, bén”.

Về âm Hán cổ /*b·raː/ (braa), chúng ta xét kỹ hơn các từ dưới đây:

Proto Wa-Lawa (Palaungic): /pre?/ (prêh) = bén
Mnong [Rolom] (Bahnaric): /bri?/ (brih) = bén
Laven [Houeikong] (Bahnaric): /pla/ (pla) = bén
Brao [Laveh] (Bahnaric): /pla:/ (plaa) = bén
Katang [Raviang] (Katuic): /blaa/ (blaa) = bén
Bru [TS] (Katuic): /pala:/ (palaa) = làm cho bén bằng cách rèn
Lawa [Umphai] (Palaungic): /pre?/ (prêh) = bén

Vậy “Lư” cũng mang nghĩa “bén”, Trạm Lư (ruumh bra) là cách láy đi láy lại đặc tính (laom prêh) của thanh gươm: “sắc bén”.

Tương truyền, Việt vương đã dâng Trạm Lư cho vua Ngô. Theo Ngô Việt Xuân Thu, Trạm Lư vì vua Ngô vô đạo nên bỏ theo Chiêu vương nước Sở (trị vì 515 TCN – 489 TCN). Ngô Hạp Lư (trị vì 514 TCN – 496 TCN) biết tin, cử binh đánh Sở. Lần đầu, chiếm được đất Lục, Tiềm. Lần hai, phá quân Sở ở Dự Chương và Sào, bắt công tử Phồn. Lần ba, hợp binh với hai nước Đường, Thái tiến vào kinh đô Dĩnh.

  1. Cự Khuyết 巨闕: Cửa Cung Lớn, Cung Điện Lớn hoặc Khuyết Điểm Lớn.
    Âm Hán cổ: /*ga?//*kʰod/ (gah khod) [Zhengzhang]
    Âm Hán trung cổ: /ɡɨʌX//kʰʉɐt̚/ (gưăh khuat) [Zhengzhang]

“Cung điện lớn” thì chẳng liên quan gì đến kiếm quý, cho nên mới lưu truyền câu chuyện kể bởi đồ đệ của Âu Dã Tử rằng chất liệu Cự Khuyết chưa hoàn hảo vì vàng và đồng không hòa hợp với nhau trong quá trình rèn kiếm. Quan niệm đó rõ là từ bên ngoài của khách bàng quan chỉ hiểu chữ “khuyết” chứ chẳng hiểu nghề rèn. Người rèn kiếm khi sản phẩm chưa hoàn hảo thì họ làm lại, đặc biệt khi vua đặt hàng, chứ không ai đặt tên công trình của mình là “khuyết”. Do vậy, Cự Khuyết là tên Ư Việt, chỉ người Ư Việt mới hiểu đích xác tinh thần của nó.

Chúng ta xét các âm dưới đây:

Proto Mon-Khmer (Khmer, Katuic, Palaungic): /*gwaat/ (guaat) = cào, cạo
Proto Mon-Khmer (Khmer, Katuic, South Behnaric, Palaungic, North Aslian): /*gwaac/ (guaach) = cào, cạo
Semai (Aslian): /kʌkɔs/ (kăkos) = cạo
Tampuan (Bahnaric): /kakwaac/ (kakuaach) = cào
Alak (Bahnaric): /kwat/ (kuat) = cào
Katu [An Diem] (Bahnaric): /kakruok/ (kakruôk) = cào
Khmer (Khmeric): /khakhət/ (khakhơt) = cào
Khmer (Khmeric): /kaoh kos/ (kaoh kos) = cạo

Bên trên là động từ chỉ thao tác sử dụng bất kỳ vật nhọn, bén nào để cào-cạo, có thể nhỏ như móng tay hay lớn như đao kiếm. Âm Hán cổ /*ga?//*kʰod/ (gah khod) khá gần gũi với âm Mon-Khmer cổ (g-uaat) và rất gần gũi với âm hiện đại của Khmer (kaoh kos) hoặc Semai (kăkos). Có thể đoán rằng Cự Khuyết là thanh gươm có cạnh sắc dùng để chém hơn là mũi nhọn dùng để đâm. Cũng có thể hiểu Cự Khuyết chỉ đơn giản là “cực bén” như ngày nay ta nói “sắc như dao cạo”.

  1. Thắng Tà 勝邪: Khắc Chế Tà Ác”.
    Âm Hán cổ: /*hljɯŋ//*ljia:/ (hlyưng-lyiaa) [Zhengzhang]
    Âm Hán trung cổ: /ɕiəŋ//zia/ (shiơng zia) [Li Rong]

Với thanh gươm của vương giả, ý nghĩa chiến thắng tà ác thật chí lý. Tuy nhiên, khi tìm lại âm Hán cổ, thật kinh ngạc khi thấy phụ âm đầu của “thắng tà” (hlyưng-lyiaa) lại là “hl” và “l”. Nó gợi mở ý tứ khác. Chúng ta hãy xem các âm Mon-Khmer dưới đây:

Proto Mon-Khmer A: /*laik luk/ (laik luk) = sét, chớp
Ta’Oi [Sekong] (Katuic): /lalaaj?/ (lalaayh) = chớp
Pacoh (Katuic): /lilaaj?/ (lilaayh) = chớp
Khasi (Khasic): /leileih/ (lêilêih) = sét
Paluang (Paluangic): /ləlo?/ (lơlôh) = sét
Car (Nicobaric): /haɲa:lə/ (hanhaalơ) = sét

Như thế, tên kiếm hàm nghĩa ban đầu là “lưỡi tầm sét”, “vũ khí thần thánh”, “sự trừng phạt của thượng đế”… Về sau, các ngôn ngữ Austroasiatic còn giữ được âm gần như nguyên thủy, riêng ngôn ngữ Sinitic biến thiên theo quy luật riêng nên đánh mất hầu hết âm thanh và thần thái cổ kính. 

  1. Thuần Quân 純鈞: Thanh Điệu Tinh Khiết”.
    Âm Hán cổ: /*djun//*kʷin/ (đyun-kuin) [Zhengzhang]
    Âm Hán trung cổ: /d͡ʑiuɪn//kiuɪn/ (chiuin-kiuin) [Zhengzhang-Shangfang]

Huyền thoại về kiếm của Ngô Việt đều đẫm máu người nên gán âm nhạc tinh khiết cho kiếm thật quá khó hình dung. Thực tế, Thuần Quân là hai chữ cực kỳ mãnh liệt và trần tục.

Khmer Surin (Khmeric): /pdʊːl/ (pdưưl) = chém gục
Khmer (Khmeric): /pdəl/ (pđơl) = chém phăng
Mlabri (Khmuic): /dɛl/ (đel) = chém, hạ cây
Palaung (Palaungic): /ruən/ (ruơn) = cắt thành dăm bào
Bahnar [Pleiku] (Bahnaric): /cwəŋ/ (chu-ơng) = chém ngọt
Halang (Bahnaric): /cə:ŋ/ (chơng) = chém, cắt làm đôi

Vậy Thuần là cú chém dữ dội.

Chúng ta xét đến Quân /*kʷin/ (kuin) trong tiếng Mon-Khmer dưới đây:

Proto Mon-Khmer C: /*kun/ (kun) = cong người xuống
Proto Mon-Khmer D: /*dkuun/ (dkuun) = cong người, bị cong người
Proto West-Bahnaric: /*ko:n/ (koon) = cong
Proto Katuic: /*kuut/ (kuut) = cong, gập, gục
Proto Khasic: /*khun/ (khun) = cong
Sre [Koho] (Bahnaric): /kun/ (kun) = rơi, ngả cong người
Bahnar (Bahnaric): /ku:ɲ/ (kuunh) = rũ xuống

Vậy Quân chỉ sự gục ngã.

Kết nối theo ngôn ngữ Bahnaric, /cwəŋ//ku:ɲ/ (chu-ơng kuunh) Thuần Quân có nghĩa “chém gục”. Đó chính là thần lực của bảo kiếm. Nói theo ngôn ngữ điện ảnh ngày nay thì Thuần Quân = Kẻ Hủy Diệt.

Người sành kiếm nước Tần là Tiết Chúc chê bai Cự Khuyết vì chất kim còn thô, ngược lại, ông đánh giá Thuần Quân cao nhất trong số gươm quý Việt vương Câu Tiễn (trị vì 496 TCN – 465 TCN) có được. Do giai thoại này mà hiện nay có người xem kiếm Câu Tiễn đang trưng bày tại Bảo tàng Hồ Bắc chính là thanh Thuần Quân.

Theo Việt Tuyệt Thư (khoảng năm 50 – 70), Âu Dã Tử và Can Tương còn chế tạo ba bảo kiếm khác dành cho Sở Chiêu vương, được đặt tên là Long Uyên, Thái A và Công Bố.

  1. Long Uyên 龍渊: Vực Rồng.

Theo quan niệm phổ biến hiện nay tại Trung quốc, Long Uyên là thanh kiếm đầu tiên được rèn từ sắt bởi người thợ huyền thoại Âu Dã Tử. Truyền thuyết cho rằng vân kim loại trên thân kiếm loáng thoáng hình dạng một con rồng cuộn nên tuyệt phẩm được gọi là Long Uyên. Kiếm được trang trí bảy ngôi sao thuộc nhóm Bắc Đẩu vốn là hình thế của bảy hồ nước đặc biệt từ đó nước được sử dụng để luyện kiếm, vì thế, nó còn được mệnh danh “Thất tinh kiếm”.

Ngô Việt Xuân Thu còn lưu một đoạn văn vừa bi thảm vừa siêu thực  về “Kiếm bảy vì sao”. Truyện kể rằng Ngũ Tử Tư bỏ nước Sở lưu lạc sang các nước Tống, Tấn, Trịnh, Ngô (khoảng năm 521 TCN) để tìm cách trả thù cho cha anh, quân truy bắt đuổi theo gần đến thì được một ngư ông cho quá giang và đãi ăn. Tử Tư tạ bằng thanh kiếm thất tinh nhưng vị ân nhân từ chối. Theo lão đánh cá thì ông giúp Tử Tư không vì lợi bởi phần thưởng của triều đình dành cho người bắt kẻ chạy trốn có giá trị cao hơn thanh kiếm. Họ Ngũ nhờ ông lão xóa dấu vết giao lưu với mình rồi rời đi. Khi ngoái lại không ngờ lão chài đã tự lật thuyền mà chết. Sau đó Tử Tư lại gặp một phụ nữ đập bông bên bờ sông, cô chưa có gia đình nhưng vẫn gượng tiếp Tử Tư tử tế và cũng cho ăn uống. Họ Ngũ nhờ cô xóa dấu vết giao lưu với mình rồi rời đi. Khi ngoái lại không ngờ cô đập bông đã nhảy xuống sông mà chết. Triệu Diệp đẩy sự việc đến mức cùng cực vô lý khiến độc giả phải hiểu rằng chính Tử Tư đã giết hai người ơn để che dấu tung tích. Họ Ngũ có nhu cầu ẩn thân, hai vị kia thì không. Họ Ngũ có vũ khí, hai vị kia thì không. Sát nhân rồi hướng duyên do gây chết người về phía nạn nhân vốn là nghề nghiệp chung của mọi loại “quân tử” thuộc mọi thời.

Đến đời Đường, do kỵ húy Đường Cao tổ Lý Uyên nên tên vốn có được gọi trại đi thành Long Tuyền. Vùng đất sản sinh ra kiếm cũng mang tên Long Tuyền, nay thuộc tỉnh Chiết Giang. Thị trấn nổi tiếng đến mức tên Long Tuyền thường được dùng rộng rãi để xưng tụng các loại gươm quý.

Nhà thơ Đường Lý Bạch và nhà thơ Hậu Trần Đặng Dung đều sở hữu gươm mang tên Long Tuyền. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từng tặng kiếm sản xuất ở Long Tuyền cho hai vị quốc khách nổi tiếng là Richard Nixon và Vladimir Putin.

Long Uyên có thực là vực rồng không? Chưa chắc thế! Chúng ta so sánh âm Hán cổ và các âm Mon-Khmer dưới đây:

Long Uyên 龍渊:
Hán thượng cổ /*[mə]-roŋ//*[ʔ]ʷˁi[ŋ]/ (mơ-rông hwi[ng]) [Baxter-Sagart]
Hán trung cổ: /lioŋ//?uen/ (liông huên) [Li Rong]

Các âm Mon-Khmer:
Proto Mon-Khmer B: /*t2luəɲ/ (tluơnh) = mũi nhọn
Proto Khasic: /*-lɔɲ/ (-lonh) = nhọn
Proto North-Bahnaric: /*lɔːɲ/ (loonh) = mũi nhọn
Khasi (Khasic): /shluiñ/ (shluinh) = nhọn
Khmer (Khmeric): /looɲ/ (lôônh) = tròn và nhọn
Halang (Bahnaric): /loan/ (lôan) = mũi nhọn

Nếu tách hai âm tiết ra chúng ta sẽ thấy tlu-ơnh, lo-onh, shlu-inh, lô-an… rất gần với liông huên. Như vậy Long Uyên nguyên thủy có thể mang nghĩa “mũi nhọn”, nghĩa này giúp chúng ta suy đoán rằng kiếm được dùng để đâm hơn để chém.
 
7. Thái A 泰阿: Ngọn Núi Lớn.

Các tên gọi bảo kiếm ghi nhận bởi trí thức Hoa Hạ đều có nghĩa trong tiếng Hán, tuy nhiên, nghĩa đó hầu như chẳng liên quan gì đến chất lượng hay vai trò của kiếm. Nếu nhìn lại nghĩa gốc, chúng ta sẽ phát hiện các tên kiếm đều hàm nghĩa bén, nhọn, sấm, sét, cú đánh… Thái A cũng không nằm ngoài nội dung đó, nó có nghĩa là ánh chớp hoặc lóe sáng. Hãy xét các âm dưới đây:

Thái A 泰阿
Âm Hán cổ: /*tʰaːds//*qaːl/ (thaads qaal) [Zhengzhang]
Âm Hán trung cổ: /tʰɑiH//?a/ (thaih ha) [Li Rong]

Các âm Mon-Khmer tương ứng:
Proto Pearic: /*tɛ(h)/ (teh) = chớp (sét)
Proto Khasic: /*cʰiaʔ/ (chiah) = chiếu sáng  
Bahnar (Bahnaric): /tajh/ (tayh) = (sét) đánh
Sedang (Bahnaric): /tɛ̰ə/ (teơ) = chiếu sáng
Palaung (Palaungic): /tɛh/ (teh) = (sét) đánh, (súng) nổ
Lawa [Mae Sariang] (Palaungic): /toih/ (tôih) = chớp (sét)

Tách đôi vài âm Mon-Khmer bên trên thành te-h, chia-ah, tay-h, te-ơ ta thấy chúng rất gần gụi với âm Hán trung cổ thaih ha.

Hình ảnh thanh kiếm gắn liền với tia chớp hiện nay vẫn rất phổ biến, nó được dùng làm phù hiệu cho các đơn vị quân đội trên khắp thế giới.

  1. Công Bố 工布: Trình Bày Tinh Xảo

Công 工: có nghĩa cầm, nắm, giữ.

Âm Hán cổ 工: /*ko:ŋ/ (kôông) [Zhengzhang]
Âm Hán trung cổ: /kuŋ/ (kung) [Li Rong]

Proto Mon-Khmer [A]: /*kuəm/ (kuơm) = nắm chặt, cầm
Proto Khmuic: /*kum/ (kum) = nắm chặt, cầm
Proto Monic: /*guŋ/ (gung) = nắm chặt, cầm
Proto Palaungic: /*kəm/ (kơm) = cầm, giữ
Mnong [Rölöm] (Bahnaric): /kɔːŋ/ (koong) = giữ trong tay
T’in [Thin] (Khmuic): /kɔŋ/ (kong) = giữ, cầm 
Palaung (Palaungic): /kɔŋ/ (kong) = cầm, nắm (trong tay)

Bố 布: nếu là động từ, có nghĩa đâm; là danh từ, có nghĩa giáo, thương, mũi nhọn.

Âm Hán cổ 布: /*pa:s/ (paas) [Zhengzhang]
Âm Hán trung cổ: /poH/ (pôh) [Li Rong]

Các âm Mon-Khmer:
Proto Wa-Lawa: /*mbok/ (mbôk) = đâm
Laven [Jru’] (Bahnaric): /pɔh/ (poh) = đâm
Chong [of Kompong Som]: /boh/ (bôh) = đâm
Nyaheun (Bahnaric): /pɔh/ (poh) = giáo, thương
Khmu [Cuang] (Khmuic): /pɔh/ (poh) = gậy nhọn để bẫy thú
Laven (Bahnaric): /pɔh/ (poh) = giáo, thương
La (Palaungic): /piao/ (piao) = giáo

Như thế Công Bố nghĩa là “cầm vật để đâm” hay “cầm ngọn giáo”. Cấu trúc nhị thức này tương tự cấu trúc của Ư Việt (có rìu), Câu Ngô (nắm quyền ban lệnh). Tư thế “cầm ngọn giáo” thể hiện vai trò của thủ lĩnh quân sự mà chúng ta có thể thấy qua nhiều tác phẩm văn học Việt-Hoa.

Tác giả Việt Tuyệt Thư, sống sau Câu Tiễn gần 500 năm, hiểu tên kiếm theo cách khác, có lẽ vì ngôn ngữ địa phương đã mai một nhiều. Ngô Bình (hoặc các vị biên tập) trình bày cách hiểu ý nghĩa các danh xưng qua đoạn đối thoại sau:

Sở vương nói: Tại sao gọi là Long Uyên, Thái A, Công Bố?

Phong Hồ Tử đáp: muốn hiểu Long Uyên, hãy quan sát hình dạng của nó, như lên núi cao nhìn xuống vực sâu; muốn biết Thái A, hãy xem vẻ phô ra của nó, lồng lộng mà nghiêm cẩn, giống như sóng của dòng nước chảy; muốn hiểu Công Bố, hãy theo hoa văn trỗi dậy đến sống kiếm mới dừng, tựa hạt châu không thể ngừng lóng lánh, đường vân miên man như luồng nước vô tận.(3)

Các âm Long Uyên, Thái A, Công Bố gần với âm Hán trung cổ hơn Hán thượng cổ, nên có thể suy luận rằng ba tên kiếm này được đặt ra sau năm tên kiếm Ngư Trường, Trạm Lư, Cự Khuyết, Thắng Tà và Thuần Quân.

  1. Chúc Lũ 屬鏤: Loại thép cứng

Ngũ Tử Tư trách Ngô vương nghe sàm nịnh, cấm lời trung. Vua Ngô ngược lại cho rằng Tử Tư đi quá phận, muốn khuynh loát triều chính. Tử Tư oán hận, ví chủ như Kiệt Trụ. Phù Sai ban cho họ Ngũ kiếm Chúc Lũ, buộc phải tự sát (năm 485 TCN).

Câu Tiễn cho rằng Văn Chủng bày cho ông chín thuật binh pháp, chỉ dùng mới ba đã diệt được nước Ngô. Do sáu thuật chưa dùng thật sự nguy hiểm nên vua gợi ý Tướng quốc sớm theo tiên vương để giúp các ngài sử dụng chúng. Việt vương sau đó ban cho Văn Chủng thanh kiếm cũng tên Chúc Lũ (năm 467 TCN).

Chúc Lũ tương tự với seppuku (thiết phúc) của Nhật Bản, nghĩa là “mổ bụng”. Đặc ân tử hình này chỉ dành cho tầng lớp trên.    

Chúc屬:
Âm Hán cổ  /*djog/ (dyôg) [Zhengzhang]
Âm Hán trung cổ: /ʑiok̚/ (ziôk) [Li Rong]

Các âm Mon-Khmer:
Proto Mon-Khmer [B]: /*cuət/ (chuơt) = đâm, chọc
Proto Mon-Khmer [C]: /*tcuut/ (tchuut) = đâm, chọc
Proto West Bahnaric: /cu:h/ (chuuh) = đâm
Proto Katuic: /cɔɔt/ (choot) = đâm
Semai (Aslian): /cɔk/ (chok) = đâm
Khmer (Khmeric): /cak/ (chak) = đâm, chọc
Chong (Pearic): /chɔɔk/ (chook) = đâm

Lũ 鏤:
Âm Hán cổ: /*ro:s/ (roos) [Zhengzhang]
Âm Hán trung cổ: /lio/ [Li Rong]

Proto Mon-Khmer [A]: /*ruuc/ (ruuch) = ruột
Proto Semai: /*noos/ (nôôs) = trái tim
Proto Bahnaric: /*nuːs/ (nuus) = trái tim
Proto Katuic: /*rɔɔc/ (rooch) = ruột
Proto Monic: /*kruuc/ (kruuch) = ruột
Sre (Bahnaric): /nus/ = tim
Ngeq (Katuic): /rɔc/ (roch) = tim, bụng
Ir (Katuic): /roj?/ (royh) = ruột

Xét bảng đối chiếu bên trên, ta thấy tiếng Hán có biến chuyển giữa r l, các thứ tiếng Mon-Khmer có biến chuyển giữa r n. Hiện tượng biến âm giữa r-l-n xảy ra phổ biến trong rất nhiều ngôn ngữ gồm cả tiếng Việt. Giả sử người Katuic xưa cũng có hình phạt tự sát, họ sẽ phát âm “chúc lũ/dyôg roos” là “choot rooch”. Tiếng Việt Nam “chọc ruột” hoàn toàn tương đương với “Chúc Lũ”.

C. Những đặc thù phương nam trong Ngô Việt Xuân Thu:

  1. Vai trò của cá:

Ngô vương Liêu thích món cá nướng. Để thực hiện kế hoạch ám sát Liêu trong một bữa tiệc, thích khách Chuyên Chư đã tới vùng Thái hồ để học cách nướng cá trong ba tháng. Công tử Quang (Ngô Hạp Lư) sau đó bố trí cho Chuyên Chư ra tay khi dâng món cá nướng lên nhà vua.

Ngô vương Hạp Lư cùng phu nhân và con gái tên Đằng Ngọc cùng ngồi ăn cá hấp bàn mưu đánh nước Sở. Nhà vua ăn trước nửa con cá sau đó mới để con gái ăn. Đằng Ngọc lấy thế làm nhục nên tự sát. Hạp Lư thương tiếc, an táng nàng trọng thể, ngoài nhiều bảo vật, ông còn chôn theo con gái nhiều người sống. Hành động này khiến dân chúng oán thán, bảo kiếm Trạm Lư cũng cho vua là vô đạo nên bỏ sang nước Sở.

Ba tướng Ngũ Tử Tư, Tôn Vũ, Bá Phỉ đánh Sở trở về, Hạp Lư làm sẵn món gỏi cá để thết đãi. Ba người về muộn, thức ăn sống qua đêm đã ươn, nhà vua cho làm lại gỏi mới hương vị như cũ. Triệu Diệp cho rằng món gỏi cá bắt đầu từ Hạp Lư.    

Khác với vua Trụ phương bắc hưởng thụ cuộc sống trong rừng thịt hoặc trên ao rượu, quý tộc phương nam thưởng thức cá qua nhiều hình thức chuẩn bị khác nhau: nướng, hấp và ăn sống.

Nhiều phần trong Ngô Việt Xuân Thu tuy đã mất nhưng lại được trích dẫn ở các sách khác, trong đó có đoạn Phạm Lãi nói về hai ao cá trên núi Cối Kê. Theo ông, có thể nuôi cá trong hai ao này, ao trên dành cho vua, ao dưới dành cho quan và dân. Chỉ trong ba năm nguồn lợi phong phú sẽ khiến cho nước Việt giàu mạnh. Kế hoạch của Phạm Lãi cho thấy một trong những nguồn thu nhập quan trọng của nước Việt là từ cá, mặt khác, cũng cho thấy qui mô dân số Ư Việt đương thời rất bé nhỏ so với các cường quốc Tần, Sở, Tấn, Tề.

  1. Vai trò đáng chú ý của phụ nữ:

Ngô Hạp Lư bàn việc hệ trọng không chỉ với triều thần mà còn với vợ và con gái, đặc biệt qua bữa ăn. Vua chưa giữ vị trí thiên tử nên chưa phải ngự thiện một mình như các hoàng đế thuộc những triều đại phong kiến về sau. Thậm chí, thức ăn chưa được dọn riêng cho vua, phu nhân và công nữ mà cả gia đình nhà vương vẫn ăn uống chung mâm như nhà dân dã. Việc Đằng Ngọc nghĩ rằng mình bị vũ nhục vì ăn đồ thừa của cha đến nỗi phải tự tử có lẽ là tưởng tượng của Triệu Diệp nhưng sinh hoạt gia đình gần gũi dù trong tầng lớp cao nhiều khả năng là thực, việc con gái làm nũng với cha có vẻ là sinh hoạt bình thường của các gia đình Ngô Việt vốn chưa bị nhiễm độc bởi khái niệm trọng nam khinh nữ. 

Chuyên Chư là trường hợp rất kỳ cục dưới con mắt Hoa hóa của người Sở Ngũ Tử Tư. Họ Ngũ kinh ngạc khi chứng kiến cảnh Chuyên Chư nhập cuộc đấu võ với khí thế đằng đằng, nhưng chỉ cần vợ đến gọi một tiếng thì vị đấu sĩ hùng hổ lập tức theo về. Tử Tư hỏi Chư vì sao phong độ áp đảo chợt tắt ngấm theo lời của một phụ nhân như thế. Chuyên Chư chê Tử Tư quê mùa, không hiểu rằng Chư chỉ chịu dưới một người, tức vợ ông, nhưng vượt trên vạn người. “Quê mùa” ở đây có nghĩa như “không hiểu biết” những nền văn hóa khác. Tử Tư thấy lạ nhưng công chúng chẳng lạ lùng gì, họ thuộc về các bộ tộc theo mẫu hệ, hoặc quá quen thuộc với những cộng đồng theo mẫu hệ. Rất thú vị là Chuyên Chư ứng xử không khác gì bọn tráng sĩ Sài Gòn thời hiện đại khi họ chợt thấy bạn đời hiện ra bên bàn rượu.

Người huấn luyện quân đội Câu Tiễn sử dụng kiếm kích thay vì là võ sư hay tướng lĩnh, lại là một cô gái. Cô được Việt vương ban danh “Việt Nữ”. Có thể xem Việt Nữ là thần chiến tranh, biểu trưng cho nghệ thuật chiến đấu của Ư Việt. Hình ảnh đẫm màu sắc huyền thoại của cô mang lại cảm hứng cho nhiều thế hệ.

  1. Lối sống khác:

Tử Cống, học trò Khổng Tử, muốn kích động nước Ngô đánh Tề nhằm giúp Lỗ tránh nạn Tề uy hiếp. Khi đó,  Phù Sai còn chần chừ vì e ngại nước Việt đang mưu báo thù. Tử Cống liền sang Việt chỉ vẽ cho Câu Tiễn cách náu hình để vua Ngô vững tâm tiến công Tề. Ông gợi ý rằng dẫu diệt được hai nước Tề-Tấn ắt Ngô vẫn phải suy yếu và đó là cơ hội cho Việt vương. Câu Tiễn đãi ngộ Tử Cống hết sức cung kính, sau đó thực thi nhiều hành động khiến Phù Sai yên chí cất binh. Trao đổi với Tử Cống, Việt vương nhận rằng nước ông hẻo lánh bé nhỏ, dân chúng đều là Man Di.

Sau khi chiếm lĩnh địa vị bá chủ, dời đô đến Lang Da, Câu Tiễn trưng cầu hiền sĩ. Khổng Tử cùng học trò kéo nhau sang nước Việt với ý định giới thiệu lễ nhạc Trung nguyên (năm 467 TCN). Việt vương phản ứng rất ngộ nghĩnh. Ông dàn 300 tinh binh tại biên giới, bản thân mặc áo giáp Đường Di, đeo kiếm Bộ Quang, cầm mâu Khuất Lư để chào đón vị triết gia.(4) Yết kiến nhà vua, Khổng Tử ngỏ ý muốn truyền đạo của Ngũ đế-Tam vương vào nước Việt. Câu Tiễn trả lời như sau:

Người Việt tính khinh bạc mà ngu muội, sống trên núi, đi đường thủy, xem thuyền như xe, xem mái chèo như ngựa, đến nhanh chóng, đi ắt khó theo, thích chiến tranh, dám liều chết, ấy là thói thường của Việt vậy. Không biết phu tử có điều chi muốn dạy bảo?(5)

Khổng Tử im lặng cáo biệt. Ông khó thể truyền vương đạo cho một quân trưởng chủ trương bá đạo. Có lẽ Trọng Ni cảm thấy công việc Hoa hóa một tập đoàn, dưới mắt ông, còn hoang dã, là nằm ngoài khả năng.

Từ phía Câu Tiễn, tự nhận man di, ngu muội chỉ là khiêm xưng. Ông hãnh diện về lối sống thuận tự nhiên cũng như truyền thống thượng võ của đồng tộc và muốn bảo toàn nền văn hóa đó. Từ lúc công nghệ luyện kim mới mẻ xâm nhập các nước ngoại vi như Ngô-Việt-Sở, ba nước với các đạo quân tác chiến hiệu quả khác thường đã lần lượt thay nhau xưng bá, lất át khu vực Trung nguyên. Trên thế đứng bá chủ, hẳn Câu Tiễn hiểu ưu thế của mình. Ông nhìn họ Khổng có lẽ cũng như Chuyên Chư nhìn họ Ngũ, những đối tượng, dưới mắt người Ư Việt, chưa đủ sức thoát khỏi tâm thức “quê mùa”(6) để hiểu được một phương thức sống và kiếm tìm hạnh phúc khác.


Chú thích:

(1) Guy Moréchand (1903 – 2002): nhà dân tộc học người Pháp, từng nghiên cứu các sắc tộc Hmong, Jarai, Bahnar tại Đông Dương.
(2) Xem Tư Mã Thiên, Sử Ký, Phạm Hồng dịch, Nxb Văn Học, trang 685.
(3) Nguyên văn: 「欲知龍淵,觀其狀,如登高山,臨深淵;欲知泰阿,觀其釽,巍巍翼翼,如流水之波;欲知工布,釽從文起,至脊而止,如珠不可衽,文若流水不絕。」”Dục tri Long Uyên, quan kỳ trạng, như đăng cao sơn, lâm thâm uyên; dục tri Thái A, quan kỳ tịch, nguy nguy dực dực, như lưu thuỷ chi ba; dục tri Công Bố, tịch tòng văn khởi, chí tích nhi chỉ, như châu bất khả nhẫm, văn nhược lưu thuỷ bất tuyệt”. Xem bản điện tử https://ctext.org/yue-jue-shu/wai-zhuan-ji-bao-jian
(4) Tiếp đón Khổng Tử, người lính Câu Tiễn trang bị toàn hàng hiệu. Tên gọi các quân dụng này cũng đều có gốc Mon-Khmer, chúng ta sẽ phân tích vào một dịp khác.
(5)  Nguyên văn: 「越性脆而愚,水行山處,以船為車,以楫為馬,往若飄然,去則難從,悅兵敢死,越之常也。夫子何說而欲教之?」“Việt tính thúy nhi ngu, thuỷ hành sơn xứ, dĩ thuyền vi xa, dĩ tiếp vi mã, vãng nhược phiêu nhiên, khứ tắc nan tòng, duyệt binh cảm tử, việt chi thường dã. Phu tử hà thuyết nhi dục giáo chi?” Xem  bản điện tử https://ctext.org/wu-yue-chun-qiu/gou-jian-er-shi-wu-nian
(6) Quê mùa: Ngô Trần Trung Nghĩa dùng “quê mùa” để dịch chữ “bỉ 鄙” trong câu Chuyên Chư nhận xét lời nói của Ngũ Tư Tư 何言之鄙也?“Hà ngôn chi bỉ dã? Sao lại nói ra những lời quê mùa ấy?” Ngoài nghĩa quê mùa (chỉ vùng biên giới, hoặc xa ngoài khu vực đô thành) còn có nghĩa đê tiện, hèn mọn, khinh thường.


Tài liệu tham khảo:

吳越春秋, https://ctext.org/wu-yue-chun-qiu

Triệu Diệp, Ngô Việt Xuân Thu, Ngô Trần Trung Nghĩa dịch, Nxb Văn Học (2020).

越絕書, https://ctext.org/yue-jue-shu

Ghi chú:

– Các dữ liệu về ngôn ngữ được truy xuất từ http://sealang.net; http://zdic.net; http://en.wiktionary.org/wiki; http://www.trussel2.com/ACD/

3 thoughts on “Tên người và tên Kiếm của các nước Sở, Ngô, Việt

  1. Tả truyện (左傳) [Chiến quốc – Tả Khâu Minh soạn]

    (初,若敖娶於鄖,生斗伯比。若敖卒,從其母畜於鄖,淫於鄖子之女,生子文焉。鄖夫人使棄諸夢中,虎乳之。鄖子田,見之,懼而歸。夫人以告,遂使收之。楚人謂乳谷,謂虎於菟,故命之曰斗谷於菟。以其女妻伯比。實為令尹子文。)

    Trước đây, Nhược Ngao (若敖) lấy người con gái nước Vân (鄖) sinh ra Đấu Bá Tỷ (斗伯比). Sau khi Nhược Ngao chết, Đấu Bá Tỷ theo mẹ mình về ở nước Vân, nhân đó thông dâm với con gái của vua nước Vân, sinh ra Tử Văn (子文). Con gái của vua nước Vân sai người vứt Tử Văn ở trong đầm Vân Mộng (雲夢), may được con hổ mẹ cho bú mớm mới sống được. Bấy giờ vua nước Vân đi săn, thấy cảnh ấy, sợ hãi mà chạy về. Con gái của vua nước Vân kể lại chuyện của mình, vua nước Vân bèn sai người đem Tử Văn về, người nước Sở (楚) gọi bú mớm là cốc (谷), gọi hổ là ô đồ (於菟), cho nên gọi Tử Văn là Đấu Cốc Ô Đồ (斗谷於菟). Vua nước Vân bèn gả con gái của mình cho Đấu Bá Tỷ. Đấu Cốc Ô Đồ sau làm đến chức Lệnh doãn (令尹), tên hiệu là Tử Văn (子文) vậy.

    __________

    Đấu Cốc Ô Đồ (斗谷於菟) gọi tắt là Cốc Ô Đồ (谷於菟), chữ Hán ghi âm còn chép là Cấu Ô Đồ (㝅於菟).

    Thuyết văn giải tự (說文解字) [Hán – Hứa Thận soạn]

    (㝅,乳也。从子㱿聲。一曰㝅瞀也。古候切。)
    Cấu (㝅) là cho bú mớm vậy. Theo bộ tử (子), đọc theo âm khác (㱿). Đọc phiên thiết là cổ hậu (古候).

    Khang Hy tự điển (康熙字典) [Thanh – Nhóm học sĩ chủ biên]

    【唐韻】【集韻】【韻會】【正韻】居候切,音遘。【說文】乳也。从子㱿聲。【徐鍇曰】楚人謂乳曰㝅,故名子文曰㝅放菟。通作穀。又㝅瞀也,謂怐瞀無知識也。又【玉篇】奴豆切【集韻】乃后切,音耨。義同。
    Đường vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận đều chép đọc phiên thiết là cư hậu (居候), đọc là cấu (遘)… Ngọc thiên chép đọc phiên thiết là nô đậu (奴豆), Tập vận chép đọc phiên thiết là nãi hậu (乃后), đọc là nậu (耨), nghĩa cũng giống như vậy.

    Vậy thì Cấu Ô Đồ (㝅於菟) cũng có thể đọc là Nậu Ô Đồ là không sai.

    Có lẽ thời xưa từ chữ cấu (㝅) giọng địa phương cũng đọc là nậu.

    https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR-OtlfX3VWgkStoyOFEYvfL23LTne4TrW8OQ&usqp=CAU

  2. Việt thuyệt thư (越絕書) – Ngoại truyện ký bảo kiếm (外傳記寶劍)

    [Hán (漢) – Ngô Bình (吳平) soạn]

    昔者,越王句踐有寶劍五,聞於天下。客有能相劍者,名薛燭。王召而問之,曰:「吾有寶劍五,請以示之。」薛燭對曰:「愚理不足以言,大王請,不得已。」乃召掌者,王使取毫曹。薛燭對曰:「毫曹,非寶劍也。夫寶劍,五色並見,莫能相勝。毫曹已擅名矣,非寶劍也。」王曰:「取巨闕。」薛燭曰:「非寶劍也。寶劍者,金錫和銅而不離。今巨闕已離矣,非寶劍也。」王曰:「然巨闕初成之時,吾坐於露壇之上,宮人有四駕白鹿而過者,車奔鹿驚,吾引劍而指之,四駕上飛揚,不知其絕也。穿銅釜,絕鐵締,胥中決如粢米,故曰巨闕。」王取純鈞,薛燭聞之,忽如敗。有頃,懼如悟。下階而深惟,簡衣而坐望之。手振拂揚,其華捽如芙蓉始出。觀其釽,爛如列星之行;觀其光,渾渾如水之溢於塘;觀其斷,巖巖如瑣石;觀其才,煥煥如冰釋。「此所謂純鈞耶?」王曰:「是也。客有直之者,有市之鄉二,駿馬千疋,千戶之都二,可乎?」薛燭對曰:「不可。當造此劍之時,赤堇之山,破而出錫;若耶之溪,涸而出銅;雨師掃灑,雷公擊橐;蛟龍捧鑪,天帝裝炭;太一下觀,天精下之。歐冶乃因天之精神,悉其伎巧,造為大刑三、小刑二:一曰湛盧,二曰純鈞,三曰勝邪,四曰魚腸,五曰巨闕。吳王闔廬之時,得其勝邪、魚腸、湛盧。闔廬無道,子女死,殺生以送之。湛盧之劍,去之如水,行秦過楚,楚王臥而寤,得吳王湛盧之劍,將首魁漂而存焉。秦王聞而求之,不得,興師擊楚,曰:『與我湛盧之劍,還師去汝。』楚王不與。時闔廬又以魚腸之劍刺吳王僚,使披腸夷之甲三事。闔廬使專諸為奏炙魚者,引劍而刺之,遂弒王僚。此其小試於敵邦,未見其大用於天下也。今赤堇之山已合,若耶溪深而不測。群神不下,歐冶子即死。雖復傾城量金,珠玉竭河,猶不能得此一物,有市之鄉二、駿馬千疋、千戶之都二,何足言哉!」

    楚王召風胡子而問之曰:「寡人聞吳有干將,越有歐冶子,此二人甲世而生,天下未嘗有。精誠上通天,下為烈士。寡人願齎邦之重寶,皆以奉子,因吳王請此二人作鐵劍,可乎?」風胡子曰:「善。」於是乃令風胡子之吳,見歐冶子、干將,使之作鐵劍。歐冶子、干將鑿茨山,洩其溪,取鐵英,作為鐵劍三枚:一曰龍淵,二曰泰阿,三曰工布。畢成,風胡子奏之楚王。楚王見此三劍之精神,大悅風胡子,問之曰:「此三劍何物所象?其名為何?」風胡子對曰:「一曰龍淵,二曰泰阿,三曰工布。」楚王曰:「何謂龍淵、泰阿、工布?」風胡子對曰:「欲知龍淵,觀其狀,如登高山,臨深淵;欲知泰阿,觀其釽,巍巍翼翼,如流水之波;欲知工布,釽從文起,至脊而止,如珠不可衽,文若流水不絕。」

    晉鄭王聞而求之,不得,興師圍楚之城,三年不解。倉穀粟索,庫無兵革。左右群臣、賢士,莫能禁止。於是楚王聞之,引泰阿之劍,登城而麾之。三軍破敗,士卒迷惑,流血千里,猛獸歐瞻,江水折揚,晉鄭之頭畢白。楚王於是大悅,曰:「此劍威耶?寡人力耶?」風胡子對曰:「劍之威也,因大王之神。」楚王曰:「夫劍,鐵耳,固能有精神若此乎?」風胡子對曰:「時各有使然。軒轅、神農、赫胥之時,以石為兵,斷樹木為宮室,死而龍臧。夫神聖主使然。至黃帝之時,以玉為兵,以伐樹木為宮室,鑿地。夫玉,亦神物也,又遇聖主使然,死而龍臧。禹穴之時,以銅為兵,以鑿伊闕,通龍門,決江導河,東注於東海。天下通平,治為宮室,豈非聖主之力哉?當此之時,作鐵兵,威服三軍。天下聞之,莫敢不服。此亦鐵兵之神,大王有聖德。」楚王曰:「寡人聞命矣。」  

    Ngày xưa vua Việt Vương (越) là Câu Tiễn (勾踐) có năm cây kiếm báu nổi danh ở thiên hạ. Bấy giờ có kẻ biết xem tướng kiếm tên là Tiết Chúc (薛燭), vua gọi mà hỏi hắn rằng:

    – “Tôi có năm cây kiếm báu, xin đem ra cho ông xem.”

    Tiết Chúc đáp nói:

    – “Kẻ ngu này không đáng để nói lý, nhà vua đã mời thì tôi bất đắc dĩ xem thử.”

    Vua bèn gọi người mang kiếm báu ra, cho cầm cây Hào Tào (毫曹). Tiết Chúc đáp rằng:

    – “Hào Tào không phải là kiếm báu. Kiếm báu thì năm màu cùng hiện rõ, không màu nào hơn nhau. Hào Tào đã mạo danh rồi, không đáng xem là kiếm báu.”

    Vua nói:

    – “Hãy cầm lấy cây Cự Khuyết (巨闕).”

    Tiết Chúc nói:

    – “Cũng không phải là kiếm báu. Kiếm báu thì chất vàng-thiếc và đồng phải không rời nhau. Nay các chất của Cự Khuyết đã rời nhau, nên không phải là kiếm báu.”

    Vua nói:

    – “Thế mà lúc mới làm xong cây Cự Khuyết, tôi đang ngồi ở trên đàn hóng sương sớm thì đúng dịp có người trong cung ngồi cỗ xe bốn con hươu trắng kéo đi qua, chợt hươu lồng lên xe chạy nhanh, tôi vung cây kiếm này mà ném tới đó, cỗ xe bốn con hươu kéo vọt bay thẳng lên phía trước, không biết rằng đã bị chém đứt gãy rồi. Tôi lại thử cây kiếm này đâm thủng được chảo đồng, chém đứt được xích sắt, vết chém trúng đều sứt mẻ như xay gạo, cho nên gọi là Cự Khuyết.”

    Rồi vua cầm cây Thuần Quân (純鈞), Tiết Chúc thấy cây kiếm ấy liền chợt rùng mình lảo đảo. Chốc lát mới đứng vững được, bèn cầm kiếm bước xuống thềm mà xem kỹ, vén vạt áo lên mà ngồi nhìn, tay cầm cây kiếm mà ve vẩy, ánh kiếm lấp loáng ngư cánh hoa phù dung mới nở. Xem đường vân của nó kìa, lấp lánh như sao trời di chuyển. Nhìn ánh sáng của nó kìa, chói chang như nước tràn bờ đê. Xem đầu lưỡi của nó kìa, nhọn hoắt như đá ngạnh. Xem sắc thân của nó kìa, lạnh lùng như băng tan. Tiết Chúc kinh ngạc thốt lên rằng:

    – “Đây là cây kiếm mà được gọi là Thuần Quân sao?”

    Vua nói:

    – “Đúng vậy. Có người đánh giá nó ngang với hai ngôi làng cùng một nghìn con ngựa khỏe và hai tòa thành nghìn hộ, có được không?”

    Tiết Chúc đáp rằng:

    – “Không được (bán)! Vào lúc làm nên cây kiếm này, núi Xích Cận (赤堇) vỡ ra lòi thiếc, khe Nhược Da (若耶) cạn nước lộ đồng, thần mưa rảy nước, thần sấm bật lửa, giao long thổi lò, Thiên Đế (天帝) khơi than, Thái Nhất (太一) xuống xem, thần trời xuống ngóng, Âu Dã Tử (歐冶子) bèn dựa vào tinh hoa của thần trời, trổ hết kỹ xảo, mới làm ra được ba cây kiếm to và hai cây kiếm nhỏ, một gọi là Trạm Lư (湛盧), hai gọi là Thuần Quân (純鈞), ba gọi là Thắng Tà (勝邪), bốn gọi là Ngư Tràng (魚腸), năm gọi là Cự Khuyết (巨闕). Bấy giờ vua Ngô (吳) là Hạp Lư (闔廬) lấy được ba cây Thắng Tà-Ngư Tràng-Trạm Lư. Hạp Lư làm việc vô đạo, khi con gái chết thì giết người để chôn theo, cây kiếm Trạm Lư bèn bỏ đi như nước chảy, qua Tần (秦) rồ lại Sở (楚). Vua Sở (楚) đang nằm mà ngủ mơ có được cây kiếm Trạm Lư của vua Ngô (吳), tỉnh giấc thì thấy cây kiếm ấy đã trôi đến ở bên gối mà ở đấy rồi. Vua Tần (秦) nghe tin mà xin lại không được, bèn dấy binh đánh Sở, nói ‘Đem kiếm Trạm Lư cho tôi thì tôi rút quân rời nước ông’. Vua Sở không cho. Bấy giờ Hạp Lư cũng từng dùng kiếm Ngư Tràng đâm giết vua Ngô là Liêu (僚), sai người mặc áo giáp tràng di (腸夷) đi đâm giết ba lần, cuối cùng Lạp Lư sai Chuyên Chư (專諸) giả làm đầu bếp nướng cá người nước Tần (奏), rút kiếm trong bụng cá ra mà đâm, mới giết được vua Ngô là Liêu. Đấy là cây kiếm được dùng làm việc nhỏ ở một nước, chưa được dùng làm việc lớn ở thiên hạ. Nay núi Xích Cận đã liền, khe Nhược Da đã sâu mà không đo được, các vị thần không xuống xem nữa, Âu Dã Tử cũng đã chết. Dẫu có vét sạch vàng cả thành ra, mò hết ngọc châu khắp sông lên cũng không đổi lấy được cây kiếm ấy, còn như dùng hai ngôi làng cùng một nghìn con ngựa khỏe và hai tòa thành nghìn hộ để đổi lấy thì sao đáng nói được!”

    Vua Sở (楚) gọi Phong Hồ Tử (風胡子) mà hỏi hắn rằng:

    – “Quả nhân nghe nói nước Ngô (吳) có Can Tương (干將), nước Việt (越) có Âu Dã Tử (歐冶子), hai người ấy sinh ra mà hơn đời, thiên hạ chưa từng có. Lòng thành thấu lên trời, soi xuống dưới làm bậc liệt sĩ. Quả nhân nguyện đem nhiều vật báu của nhà nước để cho ông đi sang gặp vua Ngô xin hai người ấy làm kiếm sắt, được không?”

    Phong Hồ Tử nói:

    – “Được.”

    Do đó vua Sở bèn sai Phong Hồ Tử sang Ngô, gặp Âu Dã Tử-Can Tương, xin hai người ấy làm kiếm sắt. Âu Dã Tử-Can Tương đục núi Tì Sơn (茨山), múc nước của khe núi ấy mà rèn làm ba cây kiếm sắt, một gọi là Long Uyên (龍淵), hai gọi là Thái A (泰阿), ba gọi là Công Bố (工布). Làm xong, Phong Hồ Tử đem về cho vua Sở. Vua Sở thấy sắc vẻ của ba cây kiếm ấy, khen ngợi Phong Hồ Tử, hỏi hắn rằng:

    – “Ba cây kiếm này dựa theo vật gì? Tên nó thế nào?”

    Phong Hồ Tử đáp nói:

    – “Một gọi là Long Uyên, hai gọi là Thái A, ba gọi là Công Bố.”

    Vua Sở nói:

    – “Sao lại gọi là Long Uyên, Thái A, Công Bố?”

    Phong Hồ Tử đáp rằng:

    – “Muốn biết sao gọi là Long Uyên, hãy xem hình dáng của nó, khi vung lên như vút tận núi cao, khi chém xuống như lao vào vực sâu. Muốn biết sao gọi là Thái A, hãy xem đường vân của nó, cuồn cuộn dập dờn như sóng nước chảy. Muốn biết sao gọi là Công Bố, hãy xem đường vân nổi lên từ chuôi đến lưỡi mới dứt, như ngọc châu không thể cài vào vạt áo, hoa văn như nước chảy không thôi.”

    Vua các nước Tấn (晉)-Trịnh (鄭) nghe tin mà xin kiếm ấy, không được, bèn dấy binh vây thành ấp của nước Sở (楚), ba năm không giải vây. Thóc gạo trong kho đã cạn, binh khí trong kho cũng hết, bầy tôi tả hữu-hiền sĩ chẳng ai bày kế giúp được. Do đó vua Sở nghe chuyện ấy, bèn cầm kiếm Thái A lên thành mà chỉ huy. Quân hai nước ấy tan vỡ, binh lính rối loạn, máu chảy nghìn dặm, thú dữ rơi mật, nước sông chảy ngược, vua các nước Tấn-Trịnh sợ hãi mà đầu đều bạc. Do đó vua Sở mừng rỡ, nói:

    – “Là nhờ oai của của kiếm này hay nhờ sức của quả nhân vậy?”

    Phong Hồ Tử đáp nói:

    – “Là nhờ oai của kiếm, cũng nhờ sức thần của nhà vua.”

    Vua Sở nói:

    – “Kiếm làm bằng sắt nên mới có oai thần như vậy chăng?”

    Phong Hồ Tử đáp rằng:

    – “Mỗi thời đều có oai sức riêng nên như thế. Vào thời các vua Hiên Viên (軒轅)-Thần Nông (神農)-Hách Tư (赫胥) lấy đá làm binh khí, chặt cây gỗ làm cung thất, vua chết thì rồng giấu binh khí ấy đi. Đến thời vua Hoàng Đế (黃帝) lấy ngọc làm binh khí, cũng chặt cây gỗ làm cung thất, lại đào đất để chôn. Ngọc cũng là vật có oai thần, gặp vua hiền mới được như vậy, lúc vua chết thì rồng cũng cất giấu binh khí ấy đi. Đến thời vua Vũ (禹), lấy đồng làm binh khí, đục nên cửa Y Khuyết (伊闕), mở thông núi Long Môn (龍門), vét sông Giang (江) dẫn sông Hà (河) về phía đông đổ vào biển Đông Hải (東海). Thiên hạ đã yên, dựng làm cung thất, há chỉ có sức của vua hiền thôi sao? Vào thời ngày nay, nhà vua làm kiếm sắt, oai phục quân của hai nước, thiên hạ nghe tin thì chẳng ai không theo phục. Đấy cũng là nhờ oai thần của kiếm sắt, cũng nhờ đức lành của nhà vua vậy.”

    Vua Sở nói:

    – “Quả nhân hiểu được mệnh trời rồi.”

    _______________

    Thời xưa kiếm (劍) là của binh khí, cũng là thứ vua hiền để dẹp loạn trừ bạo. Dựa oai phong của kiếm, cũng nhờ tài đức của vua hiền mới được. Vua các nước Ngô-Việt một thời cậy kiếm sắc mà hoành hoành ở miền Giang-Hoài, thế nhưng rút cuộc bị Sở-Tần thôn tính, dòng dõi tản mát ở miền ven biển làm quân trưởng. Cho nên thời xưa xưng bá thiên hạ, không chỉ mỗi dựa vào kiếm sắc vậy.

    https://inews.gtimg.com/newsapp_bt/0/12883903461/641
    Hình vẽ Âu Dã Tử (歐冶子) rèn kiếm

  3. Tấn thư (晉書) – Trương Hoa (張華) liệt truyện [Đường (唐) – Phòng Huyền Linh (房玄齡) chủ biên]

    初,吳之未滅也,斗牛之間常有紫氣,道術者皆以吳方強盛,未可圖也,惟華以為不然。及吳平之後,紫氣愈明。華聞豫章人雷煥妙達緯象,乃要煥宿,屏人曰:「可共尋天文,知將來吉凶。」因登樓仰觀,煥曰:「僕察之久矣,惟斗牛之間頗有異氣。」華曰:「是何祥也?」煥曰:「寶劍之精,上徹於天耳。」華曰:「君言得之。吾少時有相者言,吾年出六十,位登三事,當得寶劍佩之。斯言豈效與!」因問曰:「在何郡?」煥曰:「在豫章豐城。」華曰:「欲屈君為宰,密共尋之,可乎?」煥許之。華大喜,即補煥為豐城令。煥到縣,掘獄屋基,入地四丈餘,得一石函,光氣非常,中有雙劍,並刻題,一曰龍泉,一曰太阿。其夕,斗牛間氣不復見焉。煥以南昌西山北巖下土以拭劍,光芒豔發。大盆盛水,置劍其上,視之者精芒炫目。遣使送一劍並土與華,留一自佩。或謂煥曰:「得兩送一,張公豈可欺乎?」煥曰:「本朝將亂,張公當受其禍。此劍當繫徐君墓樹耳。靈異之物,終當化去,不永為人服也。」華得劍,寶愛之,常置坐側。華以南昌土不如華陰赤土,報煥書曰:「詳觀劍文,乃干將也,莫邪何復不至?雖然,天生神物,終當合耳。」因以華陰土一斤致煥。煥更以拭劍,倍益精明。華誅,失劍所在。煥卒,子華為州從事,持劍行經延平津,劍忽於腰間躍出墮水,使人沒水取之,不見劍,但見兩龍各長數丈,蟠縈有文章,沒者懼而反。須臾光彩照水,波浪驚沸,於是失劍。華歎曰:「先君化去之言,張公終合之論,此其驗乎!」

    Trước đây, vào lúc nước Ngô (吳) [1] chưa bị diệt, ở giữa chòm sao Đấu (斗)-Ngưu (牛) [2] thường có luồng khí màu tía, kẻ biết đạo thuật đều cho rằng nước Ngô đang cường thịnh, chưa thể đánh lấy được, riêng Hoa cho là không phải thế. Kịp lúc sau khi đã bình được nước Ngô, luồng khí màu tía ấy lại sáng thêm. Hoa nghe nói người quận Dự Chương (豫章) là Lôi Hoán (雷煥) hiểu rõ thuật xem thiên văn, bèn đòi đến ở với Hoán, tránh tai mắt người khác, nói:

    – “Chúng ta cùng xem thiên văn để biết chuyện tốt-xấu sau này.”

    Nhân đó cùng lên lầu ngóng xem, Hoán nói:

    – “Tôi xem kỹ đã lâu, riêng ở giữa chòm sao Đấu-Ngưu có luồng khí hơi lạ.”

    Hoa nói:

    – “Là điềm báo gì?”

    Hoán nói:

    – “Là luồng khí của kiếm báu tỏa lên đến ở trời.”

    Hoa nói:

    – ” Ông nói hợp ý tôi. Tôi thủa nhỏ từng được người xem tướng bảo cho là đến lúc tôi sáu chục tuổi thì làm đến chức Tam sự (三事) [3], lúc đó cũng được đeo cây kiếm báu, lời ấy sắp đúng rồi sao!”

    Nhân đó hỏi rằng:

    – “Kiếm báu ấy ở quận nào?”

    Hoán nói:

    – “Ở huyện Phong Thành (豐城) quận Dự Chương.”

    Hoa nói:

    – “Tôi muốn đặt ông làm quan coi quản đất ấy để ngầm cùng tìm kiếm báu, được không?”

    Hoán nghe lời. Hoa mừng rỡ, liền bổ Hoán làm quan Lệnh huyện Phong Thành. Hoán đến huyện ấy, đào nền nhà ngục, xuống đất sâu hơn bốn trượng, lấy được một chiếc hộp đá, khí sáng tỏa ra khác thường, trong đó có hai cây kiếm, đều có khắc chữ, một cây khắc là Long Tuyền (龍泉) [4], một cây khắc là Thái A (太阿). Liền đêm ấy, không còn thấy luồng khí ở giữa chòm sao Đấu-Ngưu nữa. Hoán lấy đất ở dưới vách bắc núi phía tây huyện Nam Xương (南昌) để lau kiếm, lau xong tia sáng tỏa rực, đặt kiếm ở trên cái bồn dựng đầy nước, nhìn vào thì tia sáng chiếu chói mắt. Hoán sai người đem một cây kiếm và đất cho Hoa, giữ lại một cây tự đeo. Có người bảo Hoán rằng:

    – “Được hai cây mà đưa một cây, Trương Công há dễ bị lừa sao?”

    Hoán nói:

    – “Triều đình sắp loạn, ông Trương sẽ chịu họa ấy. Kiếm ấy tất treo trên cây bên mộ của vua Từ thôi. Phàm là vật linh dị thì cuối cùng tất biến đi, không chịu để người ta nắm giữ.”

    Hoa có được kiếm rồi, thường đặt ở bên chỗ ngồi, lấy làm ưa thích kiếm ấy. Hoa cho là đất ở huyện Nam Xương không bằng đất đỏ ở huyện Hoa Âm (華陰), gửi thư cho Hoán rằng:

    – “Xem kỹ lời văn khắc trên kiếm thì kiếm tôi là kiếm Can Tương (干將), còn kiếm Mạc Tà (莫邪) sao chưa đem đến? Dẫu vậy nếu trời đã sinh ra vật thần thì rút cuộc tất ghép lại thôi.”

    Nhân đó Hoa đem một cân đất ở huyện Hoa Âm đến cho Hoán. Hoán lại dùng đất ấy để lau kiếm, kiếm càng sáng thêm nữa. Kịp lúc Hoa bị khép tội chết, kiếm ấy không biết lạc mất ở đâu. Rồi thì Hoán cũng chết, con Hoán là Hoa (華) làm Tòng sự (從事) của châu, đeo kiếm đi qua bến Diên Bình [Diên Bình tân (延平津)] [5], kiếm ở giữa eo chợt nhảy ra rơi xuống sông. Hoa sai thợ lặn xuống sông tìm lấy kiếm, nhưng chỉ thấy hai con rồng trên mình có hoa văn, đều dài mấy trượng đang cuộn tròn ở dưới sông, thợ lặn sợ hãi mà quay lên. Chốc lát thì tia sáng chiếu rọi, sóng trào trỗi dậy khắp quãng sông ấy. Do đó kiếm bèn mất. Hoa than rằng:

    – “Cha tôi từng nói kiếm biến đi, ông Trương cũng từng nói kiếm ghép lại, đến nay là ứng nghiệm rồi!”

    __________

    [1] Nước Ngô (吳): Ở đây chỉ về nước Đông Ngô (東吳) thời Tam quốc, quản hạt gồm cả ba châu Dương (揚)-Kinh (荊)-Giao (交).

    [2] Chòm sao Đấu (斗)-Ngưu (牛): Là hai chòm Nam Đấu (南斗) và Khiên Ngưu (牽牛) thuộc hai mươi tám chòm sao ở trên đường hoàng đạo trên vòm trời. Theo thiên văn Trung Quốc xưa, hai chòm sao Đấu-Ngưu ứng với phân dã của đất Dương châu (揚州) hoặc đất Ngô (吳)-Việt (越) thời xưa. Mọi hiện tượng thiên văn (Ngũ tinh, sao chổi, luồng khí… di chuyển qua) xảy ra ở hai chòm sao Đấu-Ngưu thì biến cố tương ứng sẽ xảy ra ở đất Ngô-Việt. Ở đây nói có luồng khí màu tía ở giữa chòm sao Ngưu-Đẩu là do luồng khí của kiếm báu tỏa lên ở huyện Phong Thành quận Dự Chương thuộc đất Dương châu của nước Đông Ngô.

    [3] Tam sự (三事): Chỉ tên khác của Tam công (三公) là ba chức quan lớn trong triều đình thời xưa. Thời Hán-Tấn thì Tam công gồm Thái úy (太尉), Tư đồ (司徒), Tư không (司空). Bấy giờ thời Tấn thì Trương Hoa (張華) đang làm Tư không thì bị hại khép tội chết lúc sáu mươi tám tuổi.

    [4] Long Tuyền (龍泉): Vốn tên là Long Uyên (龍淵, thời Đường (唐) vì kỵ húy vua Cao Tổ là Lý Uyên (李淵) nên đổi tên ấy.

    [5] Bến Diên Bình [Diên Bình tân (延平津)]: Tức bến đò ở huyện Diên Bình (延平) thuộc quận Kiến An (建安) thuộc Dương châu, sau thuộc Giang châu (江州) thời Tấn. Bến đò Diên Bình thuộc đất tỉnh Phúc Kiến (福建) của Trung Quốc ngày nay. Nơi đây từ thời Tấn đã có truyền kỳ về hai cây kiếm hóa thành hai con rồng.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s