Người Ai Cập cổ đại- Phần 2

THE ANCIENT EGYPTIAN

Charlotte Booth

Trần Quang Nghĩa dịch

Phần 2

Quay Ngược Thời Gian

Lịch sử của cổ Ai Cập biến hóa và đầy màu sắc, và phần này sẽ đưa bạn vào một hành trình biên niên sử từ thời khởi đầu tiền triều của văn minh Ai Cập đến khi sụp đổ sau cái chết của nữ hoàng Cleopatra.

Trong phần này tôi đề cập các trận đánh của Thutmosis III khi binh sĩ đáng lẽ chiến đấu lại quay ra cướp bóc, và việc dồn quân địch vào thế bí một cách ngoạn mục của Ramses II ở Kadesh mà ông chọn ghi vào sử sách như một chiến tích vĩ đại.

Tất cả các ông vua ra trận này đều được một số lớn các bà, gồm vợ, mẹ, và con gái ủng hộ, một số trong đó đã làm nên lịch sử khi nắm quyền bính như Hatshepsut và Cleopatra trị vì Ai Cập mà không cần đàn ông trợ giúp.

Buồn thay, do cứ xâm lược liên tục, và các thảm họa sinh thái và kinh tế, nền văn minh Ai Cập từ từ suy thoái cho đến khi cuối cùng bị La mã nuốt chững và sau đó biến mất vào thế kỷ thứ tư

Chương 3

Xây Dựng nền Văn Minh bằng Sức Mạnh Quân Sự

 

Trong Chương Này

⮚ Dõi theo các vì vua và các thành tựu của họ

⮚ Lần theo sự thăng trầm của các triều đại

⮚ Tập dượt với binh sĩ

⮚ Ghi chép chiến tích

Để tóm tắt hơn 3,000 năm lịch sử cổ Ai Cập, phải cần đến một biên niên sử các nhà cai trị và những biến cố xảy ra. Một nơi hình như hợp lý để tìm ra biên niên sử này là các ghi chép về các vì vua và những thành tựu của họ.

Một số các ông vua có soạn ra danh sách các đời vua. Các danh sách này ghi lại tên và tước hiệu các vì vua theo thứ tự, cùng với thời gian trị vì và những biến cố quan trọng hoặc thành tựu xảy ra trong mỗi thời gian trị vì. Khổ thay, các danh sách này được tạo ra để kết nối ông vua đó với những vì vua đời trước và do đó được tuyển chọn, chỉ kê ra những vị vua ‘tốt’. Bất cứ vị vua nào lật đổ tình trạng cân bằng, hoặc chỉ cai trị một xứ Ai Cập bị chia cắt đều bị loại bỏ khỏi danh sách. Hơn nữa, người Ai Cập không có bộ lịch tập trung. Những niên đại được biên niên trong danh sách các vì vua đều dựa vào số năm trị vì của vị vua đương thời (chẳng hạn, năm thứ 12 đời vua Ramses II). Việc này cũng chính xác trừ khi bạn không biết nhà vua trị vì bao lâu và khi nào ông ta lên ngôi.

Chương này sẽ dõi theo sự thăng trầm hàng thế kỷ trong nền cai trị của Ai Cập và sự biến đổi, phân chia dòng văn minh thành những thời kỳ và những kỷ nguyên dễ tra cứu.

Chương này cũng tìm hiểu sự phát triển của đội quân thường trực Ai Cập, sẽ tác động mạnh mẽ đến lịch sử sau này của cổ Ai Cập.

Đi Theo Hành Trình Văn Minh Ai Cập

Dựa vào danh sách các vì vua và tài liệu lịch sử và  đồ tạo tác, các sử gia phân chia lịch sử cổ Ai Cập ra thành các thời kỳ chính:

✔ Thời kỳ Tiền triều

✔ Thời kỳ triều đại cổ

✔ Vương quốc Cổ

✔ Thời kỳ trung gian thứ nhất

✔ Trung Vương quốc

✔ Thời kỳ trung gian thứ hai

✔ Tân Vương quốc

✔ Thời kỳ trung gian thứ ba

✔ Thời kỳ cuối

✔ Thời kỳ Hy La

Các tiết mục sau đây đề cập đến lịch sử Ai Cập từ thời kỳ tiền triều qua thời kỳ trung gian thứ nhất. Chương 4 tìm hiểu Tân Vương quốc, một trong những kỷ nguyên năng động nhất của cổ Ai Cập.

Thời kỳ tiền triều

Thời kỳ tiền triều từ khoảng 5500 B. C. đến 3100 B. C. và kết thúc bằng việc thống nhất Ai Cập.

Trong thời kỳ này, Ai Cập được phân chia thành hai nền văn hóa rất khác biệt: một ở Thượng Ai Cập và một ở Hạ Ai Cập. Nói kiểu khảo cổ, các địa điểm nghĩa trang tọa lạc chủ yếu ở Thượng Ai Cập còn địa điểm định cư thì ở Hạ Ai Cập.

So sánh sự khác biệt giữa Thượng và Hạ Ai Cập

Trong nhiều năm, các nhà khảo cổ cho rằng các nền văn hóa ở Thượng và Hạ Ai Cập đều hoàn toàn khác biệt với văn hóa Ai Cập sau này. Flinders Petrie (xem Chương 19) còn cho rằng các văn hóa tiền triều hoàn toàn là những nền văn hóa ngoại bang do sự xâm lăng của châu Á. Các nghiên cứu gần đây giờ đây cho thấy sự tiến hóa chậm chạp từ các yếu tố văn hóa tương phản này đến nền văn minh Ai Cập được biết đến nhiều hơn.

Văn hóa của cả hai miền đều rất khác với nền văn hóa có tính truyền thống hơn mà hầu hết nhà nghiên cứu đều gán cho cổ Ai Cập. Tuy nhiên, có vài điểm chung tiếp tục tồn tại suốt thời kỳ Hy La vẫn thấy xuất hiện trong nghệ thuật của các nền văn hóa Ai Cập sớm sủa nhất này, bao gồm:

Cảnh đánh đập, hoặc các hình ảnh trong đó vua được mô tả đang đập chết kẻ thù của mình. Ví dụ được biết xưa nhất đến từ lăng mộ 100 tại Hierakonpolis có niên đại 3500-3200 B.C.

Các hình ảnh về sự sùng bái gia súc, mà sau này phát triển thành việc sùng bái nữ thần Hathor (xem Chương 9).

Vương miện đỏ của Hạ Ai Cập, biểu tượng vương quyền trong vùng này. Hình ảnh sớm nhất về vương miện đỏ của Hạ Ai Cập có niên đại khoảng 3500 B. C. từ một mảnh gốm hiện lưu giữ tại Bảo Tàng Ashmolean, Oxford.

Thống nhất đất nước Ai Cập

Văn minh Ai Cập được biết ngày nay bắt đầu trong thời trị vì của Vua Narmer (triều đại 0) vào khoảng 3100 BC. Ngay từ lúc Vua Narmer bắt đầu trị vì, Ai Cập được phân chia thành những miền do địa phương tự trị, nhưng tại một thời điểm nào đó Narmer có công thống nhất các miền này dưới sự cai trị của một người duy nhất là chính ông.

Các sử gia không chắc về việc thống nhất này có phải là kết quả của một số trận đánh nhỏ hay chỉ do một trận đánh lớn quyết định, mặc dù giả thiết trên có phần chắc hơn.

Sự thống nhất được ghi lại trên Bia Ký Narmer, một phiến đá tưởng niệm ở Hierakonpolis và hiện giờ ở Bảo Tàng Cairo. Bia có khắc một cảnh đánh nhau xưa nhất từ cổ Ai Cập cũng như một số mô típ hình ảnh vẫn tiếp tục được sử dụng trong 3,000 năm tiếp theo, như:

✔ Nhà vua đập đầu một kẻ thù bại trận bằng chùy.

✔ Nhà vua đội vương miện của Thượng và Hạ Ai Cập

✔ Nhà vua là con bò mộng dẫm đạp tù binh

Hình ảnh biểu tượng trên bia đá củng cố ý kiến cho rằng nhà vua nghiểm nhiên là người đứng đầu của một nhà nước duy nhất. Hình ảnh là khởi đầu của một ý thức hệ vương quyền quy định Ai Cập sẽ không bao giờ bị phân chia. Từ giờ trở đi, một vì vua phải cố gắng theo đuổi lý tưởng này và tất cả phải nỗ lực để cai trị một Ai Cập thống nhất.

Thời kỳ triều đại cổ

Thời kỳ triều đại cổ chỉ kéo dài hai triều đại đầu tiên. Thời kỳ này là thời kỳ chuyển giao giữa văn hóa thời tiền triều và Vương quốc Cổ. Một số sử gia chắc chắn rằng Narmer thống nhất Ai Cập và mở màn thời kỳ triều đại sớm sủa nhất của Ai Cập, trong khi những sử gia khác tin rằng tiến trình chậm hơn và biến đổi dần dần.

Chứng cứ lâu đời nhất về chữ viết đến từ thời kỳ này dưới dạng

✔ Bia đá (phần trên uốn cong được sử dụng để khắc ghi lời tưởng niệm)

✔ Bản ngà và gỗ (chắc chắn được kèm theo các vật dụng an táng trong mộ phần)

✔ Bình sứ

✔ Dấu niêm hình trụ bằng đất sét (dùng để niêm phong hộp, cửa, và có thể thư từ, tài liệu).

Vào cuối thời kỳ triều đại cổ, nhà nước được hình thành hoàn toàn, và các vì vua bắt đầu cho xây các lăng mộ ngầm rộng lớn (xem Chương 13) với các vật dụng an táng đắt giá và tinh xảo để biểu lộ sự giàu có mà họ đã tóm thu được.

Vương quốc Cổ

Vương quốc Cổ (2686-2333 BC) chủ yếu là thời gian mà hoàng gia giàu có lên, kinh tế phát triển và kéo dài từ triều đại thứ ba đến thứ sáu. Đây là thời kỳ được biết nhiều nhất vì công trình xây dựng kim tự tháp đã lên đến đỉnh cao.

 Tòa tháp đá đầu tiên và kim tự tháp đầu tiên được xây dựng là Kim Tự Tháp Bậc Thang ở Saqqara vào triều đại thứ ba (xem chi tiết ở Chương 3). Vua Djoser xây kiến trúc này như một hình thức kết nối giữa lăng mộ truyền thống và đền tưởng niệm bậc thang. Sự tiến hóa của kim tự tháp tiếp tục trong suốt thời Vương quốc Cổ cho đến đỉnh cao nhất là Đại Kim Tự Tháp của Vua Khufu ở Giza, xây dựng từ 2589 đến 2566.

Về cuối thời Vương quốc Cổ (triều đại thứ năm), Văn bản Kim Tự Tháp được soạn thảo. Những tài liệu này cung cấp một số thông tin sớm sủa nhất về tín ngưỡng  an táng của người Ai Cập cổ. Những văn bản này, cùng với những văn bản tiểu sử tìm thấy trong lăng mộ, cung cấp cho sử gia những lô thông tin về chế độ quan lại và tổ chức hành chính của Vương quốc Cổ.

Triều đại thứ sáu chứng kiến sự thay đổi kinh tế của Ai Cập, với tầng lớp quý tốc trở nên lớn mạnh và sau đó giàu có hơn cả vua. Tài sản và quyền lực này được phản ảnh qua lăng mộ của các hoàng tộc và quý tộc; lăng mộ của giới quý tộc sắc sảo hơn nhiều. Mỉa mai thay, sự di chuyển quyền lực này có lẽ là do các cận thần được nhà vua sủng ái nên được miễn trừ thuế quá nhiều.

Sự sụp đổ của Vương quốc Cổ là do nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất là một loạt các trận lũ lụt khiến mùa màng thất bát, gây ra đói kém và sau đó là bệnh tật.

Thời kỳ trung gian thứ nhất

Thời kỳ trung gian thứ nhất (2180-2140 BC) là thời kỳ của những rối ren chính trị theo sau giai đoạn kết thúc của Vương quốc Cổ.

Sau khi Vương quốc Cổ sụp đổ, tầng lớp nghèo, quẩn bách vì đói kém và bệnh tật, vùng lên chống lại các nhà cai trị  và giai cấp ăn trên ngồi trước. Những cuộc nổi loạn này được mô tả trong một văn bản dài có tên là ‘Lời cảnh cáo của Ipuwer’:

Người giàu có đang than khóc. Người nghèo đói tràn ngập niềm vui. Mọi thành phố đều lên tiếng: chúng ta hãy đập tan bọn quyền thế đè đầu chúng ta. Người gác cửa nói, ”Chúng ta hãy ra ngoài cướp bóc.’ Một người đàn ông nhìn con trai mình như kẻ thù. Bọn càn quấy ở khắp mọi nơi . . . bọn cướp bóc ở khắp mọi nơi. Tên ăn trộm thành người giàu có, người giàu có thành kẻ cướp bóc. Những người bắt chim đứng dàn hàng chiến đấu và các nông dân ra ngoài cày bừa bằng chiếc khiên của mình. 

Văn bản này vẽ lên một bầu không khí khủng khiếp, trong đó tình trạng vô chính phủ ngự trị và dân chúng sống trong nổi sợ chết triền miên. Thời kỳ trung gian thứ nhất là minh chứng cho câu ngạn ngữ ‘nền văn minh chỉ cách tình trạng vô chính phủ đúng ba bữa ăn’.

Sự điều hành Ai Cập lại lần nữa phân chia, với triều đại thứ tám cai trị ở miền Memphite, mặc dù quyền lực của nó bị giới hạn trong phạm vi cục bộ. Các thủ lĩnh cò con đua nhau nắm quyền kiểm soát các thị trấn và tỉnh lỵ và cai trị phần còn lại của Ai Cập.

Khi triều đại thứ tám sụp đổ, triều đại thứ chín nắm quyền kiểm soát Herakleopolis. Triều đại này có thể đã kiểm soát toàn bộ Ai Cập ít ra trong một thời gian ngắn. Triều đại thứ mười chứng kiến sự chia cắt Ai Cập lần nữa, với triều đại cai trị từ miền Herakleopolis, và khuynh hướng này tiếp tục với triều đại thứ 11 cai trị từ Thebes.

 Trung Vương quốc

Cuối cùng triều đại 11 kiểm soát toàn bộ Ai Cập, thống nhất nó và bắt đầu thời kỳ gọi là Trung Vương quốc. Sự thống nhất xảy ra trong thời trị vì của vì vua thứ tư, Mentuhotep (2125-2055 BC).

Trong triều đại 11, các tổng trấn gia tăng quyền lực, và mặc dù đất nước bây giờ chỉ do một ông vua cai trị, nhưng ông vua này phụ thuộc vào các tổng trấn. Do đó nhà vua cần phải kêu gọi họ giúp đỡ việc thành lập quân đội, với mỗi trấn tuyển mộ một số trai tráng cho chiến dịch quân sự, hộ tống việc viễn thương, hoặc tuần tra biên giới.

Tuy nhiên, vào cuối thời trị vì của Senwosret III (triều đại 12), nhà vua đã lấy lại đủ quyền kiểm soát để thành lập quân đội riêng mà không cần sự hổ trợ của các tổng trấn.

Các vì vua thời Trung Vương quốc coi trọng việc bành trướng đất nước Ai Cập, dần dần mở rộng về Nubia. Mỗi lần tiến chiếm thành công, họ lại củng cố phần đất xâm chiếm bằng cách xây dựng đồn lũy. Chẳng hạn:

✔ Amanemhat I của triều đại 12 xây dựng một hàng đồn lũy ở vùng Châu thổ đông bắc để bảo vệ biên giới khỏi những cuộc xâm lấn từ châu Á.

✔ Giữa các đời vua Senwosret I và III, một chuỗi 17 đồn lũy ở Nubia __ mười cái gần thác nước thứ hai của sông Nile vượt qua biên giới giữa Ai Cập và Nubia __ được dựng lên để ngăn cản sự thâm nhập của người Nubia cũng như để kiểm soát việc buôn bán từ các mỏ vàng và mỏ đá trong vùng.

Đôi khi những đồn lũy này quá lớn, vừa là minh chứng cho thấy các vua Trung Vương quốc là các triều đại ưa chinh chiến vừa để cho người Nubia biết rằng người Ai Cập muốn dừng lại ở đó.

Mười đồn lũy gần thác nước thứ hai có chung những đặc điểm kiến trúc như: 

Các pháo đài (nhô ra từ các vách thành từ đó binh lính có thể bắn pháo vào kẻ thù.

Các bức tường thành bằng gạch bùn dựng trên nền đá lớn. Bức tường dày có lối đi bên trên để binh lính có thể tuần tra chung quanh.

Hào bao chung quanh tường thành tạo ra trở ngại cho bất cứ ai muốn lọt vào bên trong thành lũy. Hào được sơn trắng để bất kỳ ai băng qua đều có thể bị phát hiện từ tường thành.

Cầu thang có bao tường chạy đến sông Nile để lấy lương thảo chở đến và là nơi từ đó có thể đột kích kẻ thù bằng đường thủy. Cầu thang là chốn an toàn nhất của thành lũy.

Những thành lũy khác củng cố thị trấn và đền thờ được xây dựng gần đó. Thành Buhen có những khe bắn tên xây cao trên tường thành, cho thấy bắn cung là phương pháp phòng thủ chính.

Ngoài việc là biểu tượng của sức mạnh Ai Cập, những thành lũy này cũng cung cấp phần lớn thông tin về cuộc sống các binh sĩ, gồm tiền lương, khí tài, áo giáp, và lương thảo (xem‘Thành lập quân đội: Chìa khóa đến Tân Vương quốc’ ở mục sau của chương này).

Thời kỳ trung gian thứ hai

Trung Vương quốc sụp đổ khoảng 1782 BC theo cách tương tự như Vương quốc Cổ, có lẽ do lũ lụt và nạn mất mùa liên tiếp. Nhiều sử gia quả quyết là những mô tả về điều kiện sống kinh khủng trong ‘Cảnh cáo của Ipuwer’ (xem lại ‘Thời kỳ trung gian thứ nhất’, ở phần trước của chương này) cũng áp dụng được cho thời kỳ trung gian thứ hai.

Vì một lý do nào đó, vào cuối thời Trung Vương quốc, một làn sóng người từ vùng Palestine và Syria (mà người Ai Cập gọi là người châu Á) tràn đến vùng này. Đây không phải là cuộc xâm lấn, mà là cuộc di cư trên diện nhỏ. Một số sử gia tin rằng nhà nước Ai  Cập có thể đã mời người Palestine vào vì chuộng tay nghề đóng thuyền của họ. Sau đó những di dân này được cho cư trú trên vùng Châu thổ, nơi có nhiều cảng lớn và những trung tâm thương mại. Sự di dân này không chắc là nguyên nhân gây ra sự sụp đổ của Trung Vương quốc, nhưng di dân và những thay đổi họ mang lại thúc đẩy thời kỳ Hyksos đến nhanh hơn.

Thời kỳ Hyksos

Vào cuối thời kỳ trung gian thứ hai (1663-1555 BC), Ai Cập trải qua một thời kỳ cai trị phân ly, với triều đại 15 cai trị ở phương bắc từ vùng Châu thổ của Avaris còn triều đại 17 cai trị từ Thebes ở phía nam:

✔ Các ông vua của triều đại 15 được biết dưới tên Hyksos và vươn lên nắm quyền từ cộng đồng dân Palestine-Syria sống ở vùng Châu thổ trong thời Trung Vương quốc.

✔ Các ông vua của triều đại 17 có nguồn gốc Ai Cập, nhưng có thể đã là những ông vua chư hầu của triều đại 15, điều này có nghĩa là họ chỉ được phép cai trị vì họ nghe lời và không gây rắc rối.

Các nhà cai trị Hyksos thường được cho là xâm lăng Ai Cập từ Palestine dùng chiến mã xa, lúc đó Ai Cập chưa biết đến. Đúng ra các vua Hyksos đến từ cộng đồng Á châu bản địa trong vùng Châu thổ. Những cộng đồng này đã sinh sống ở đó hơn 100 năm trước khi thời kỳ Hyksos bắt đầu.

Đánh đuổi người Hyksos

Gần cuối thời kỳ Hyksos (khoảng 1640 BC), vua Hyksos đã kiểm soát toàn bộ Ai Cập, hành xử như những vì vua đương nhiên của Thượng và Hạ Ai Cập.

Tuy nhiên, các thành viên của triều đại 17 ở Thebes không chấp nhận việc các vua Hyksos xen vào những vấn đề bản địa. Vì thế Seqenenre Tao II, một vị vua của triều đại 17, đem quân chống lại vua Hyksos là Apophis.

Cuộc chiến không dễ dàng như Seqenenre nghĩ lúc đầu, và ông tử trận. Xác ướp của ông có nhiều vết thương trên đầu, cho thấy đây là một trận đánh tàn khốc. Con trai ông Kamose mang bao tay sắt, tiếp tục trận đánh. Kamose thành công hơn một chút và xoay xở lấy lại được gần hết Ai Cập, đẩy lùi Apopis trở về kinh đô Avaris của người Hyksos.

Kamose chết trẻ, nhưng các sử gia không biết chắc vì lý do gì. Em của Kamose là Ahmose I thay anh chỉ huy cuộc chiến và đạt được nhiều thành công hơn anh mình, đánh đuổi được người Hyksos ra khỏi Ai Cập hoàn toàn. Ahmose tiếp tục truy đuổi người Hyksos đến tận Sa mạc Hegev giữa Rafah và Gaza, cướp bóc làng mạc trên đường tiến quân.

Sau đó Ahmose thu quân về Ai Cập và củng cố biên giới phía đông bằng sự hiện diện của một đạo quân hùng mạnh để bảo đảm bọn người Hyksos không dám bén mảng đến xứ sở ông một lần nữa. Vị vua lẫy lừng này là vị vua đầu tiên của triều đại 18 và là vị vua mở đường vào Tân Vương quốc.

Xây Dựng Quân Đội: Chìa Khóa Mở vào Tân Vương quốc

Bắt đầu Tân Vương quốc (1555 BC) chứng kiến một số thay đổi trong quản lý và tổ chức chính quyền. Nhưng thay đổi chính __ và thành công nhất __ là việc thành lập một quânđội chính quy thường trực. Trước thời Tân Vương quốc, khi nhà vua cần quân đội, các tổng trấn địa phương được triệu tập để gọi các thanh niên khỏe mạnh đăng lính trong địa phương mình. Ahmose, tuy nhiên, thấy được khuyết điểm của thủ tục này, liền đưa vào thể chế quân đội chính quy toàn thời gian.

Như với hầu hết thứ bậc ở Ai Cập, các cấp bậc quân sự được cha truyền con nối. Tuy nhiên, dựa vào các hồ sơ thăng chức trong quân ngũ, các thanh niên Ai Cập, cho dù không được học hành, có thể trở thành những người lính và thăng tiến cấp bậc. Trước khi có quân đội chính qui, người Ai Cập có thể nắm được quyền lực chính trị hoặc lên ngai vàng chỉ bằng con đường quan lại hoặc làm tu sĩ

Đăng lính

Luyện tập trong quân ngũ bắt đầu ngay từ tuổi lên 5, mặc dù làm  chiến binh chuyên nghiệp chỉ bắt đầu khi được 20. Những người được tuyển mộ lớn tuổi hơn có thể gia nhập quân đội theo lệnh động viên cưỡng bách phục vụ trong quân ngũ ít nhất một năm trước khi được giải ngũ trở về làng. Tuy nhiên, sau khi được huấn luyện họ có thể bị  gọi vào lính bất cứ lúc nào.

Cũng giống như ngày nay, những người mới được tuyển mộ phải được cắt tóc. Hình ảnh minh chứng cho việc này đã được phát hiện trong các lăng mộ. Việc cắt tóc tạo ra tính kỹ luật, hợp nhất của quân đội.

Các văn bản còn sót lại cũng mô tả những ngày đầu của một người được tuyển mộ vào lính. Họ nhận được ‘cú chào sân nhừ tử’ như một biện pháp khiến họ mất tinh thần, và trở nên riu ríu và biết vâng lệnh. Chế độ huấn luyện rất khắc nghiệt, bao gồm:

✔ Nâng tạ, dùng bao cát thay tạ

✔ Vật lộn

✔ Đánh bốc

✔ Ném dao vào bia gỗ

✔ Đánh kiếm, dùng gậy khi thực tập

✔ Cởi chiến mã xa

✔ Thực tập bắn cung khi đứng trên chiến mã xa đang phi (xem Hình 3-1)

Những luyện tập này rõ ràng là nghiệt ngã đối với bất kỳ ai, nhưng thử tưởng tượng phải tập luyện dưới cái nắng hơn 38 độ. Không lấy gì làm lạ khi quân đội Ai Cập đặc biệt tinh nhuệ khiến nhiều kẻ thù khiếp sợ.

1

Hình 3-1: Thực tập bắn bia đồng trên chiến mã xa

Tổ chức quân đội

Quân đội gồm phần lớn là bộ binh được chia ra thành những sư đoàn gồm 5,000 người. Mỗi sư đoàn được đặt tên theo tên một vị thần và sư đoàn trưởng là một người trong hoàng tộc. (Một số hoàng tử giữ chức vị này chỉ là những đứa trẻ, cho thấy đây chỉ là tước vị vinh dự.) Các sư đoàn bao gồm một nhóm các chiến mã xa, cung thủ, lính sử dụng giáo,  và những binh lính đánh thuê nước ngoài.

Để dễ kiểm soát hơn, quân số được chia nhỏ hơn:

✔ Tiểu đoàn gồm 500 người (ít nhất hai đại đội)

✔ Đại đội có 250 người (gồm năm trung đội).

✔ Trung đội có 50 người (gồm năm tiểu đội).

✔ Tiểu đội có 10 người.

Hậu cần

Theo chân người lính, quân đội tổ chức những đoàn hậu bị quan trọng khác, như:

Đội quân nhạc: Kèn và trống được sử dụng để thúc giục binh sĩ hăng hái tiến quân kịp thời, cũng như ra hiệu kệnh những thay đổi chiến thuật và điều động tác chiến.

Đội quân kỳ: Đội quân kỳ là một thành phần quan trọng của trận đánh, vì quan sát được vị trí của quân ta trên chiến trường là điều sinh tử. Quân kỳ cũng là nguồn cổ vũ niềm kiêu hảnh cho đoàn quân.

Thư ký chiến trường: Mọi sự kiện trong trận đánh cần được ghi chép, và thư ký chiến trường đồng hành cùng đoàn quân ra bãi chiến trường. Họ có nhiệm vụ đếm những bộ phần cơ thể bị đứt lìa sau trận đánh (một phương pháp đếm xác kẻ thù), cũng như ghi chép số lượng chiến lợi phẩm và số tù binh bị bắt.

Đoàn hậu cần: Một số cá nhân khác đi theo làm vệ sinh các lều trại của sỉ quan, mang nước, và nấu ăn. Những cá nhân này thường có cả các trẻ em, mà sau này sẽ được huấn luyện thành chiến binh.

Thi hành những trách vụ không tác chiến

Ngoài việc phải đánh nhau, các binh lính có trách vụ thi hành một số công việc buồn tẻ hoặc khó khăn sau:

✔ Một trong những công việc tẻ nhạt nhất là canh gác con đường giao thương qua sa mạc lên đến 20 ngày một lượt. Một số tranh tường tại những cứ điểm trên sa mạc cho thấy những người lính đang làm nhiệm vụ buồn chán đến phát điên, đếm từng ngày để được về với thế giới văn minh.

✔ Các binh lính cũng được sung vào đội quân vận chuyển những khối đá khủng để xây những quan tài bằng đá hoặc các đài tưởng niệm. Công việc cần hàng trăm thanh niên cường tráng và binh sĩ là lực lượng lý tưởng.

✔ Vì có sức khỏe, binh lính cũng được sung vào lực lượng thu hoạch mùa màng để bảo đảm việc gặt hái được nhanh và gọn. Ta không biết rõ hoặc họ phải đi về làng mạc của mình để phụ giúp các nông dân hoặc được phân công đến những khu vực thiếu nhân lực nhất, nhưng các binh sĩ chắc chắn được sử dụng vào công việc hàng năm quan trọng này.

Trên đường hành quân

Khi các binh lính được điều động trong một chiến dịch quân sự, họ chắc chắn mơ ước được phân công làm nhiệm vụ canh gác nhàn hạ. Đường ra chiến trường thì thường xa xôi và gian khổ __ đôi khi cũng nguy hiểm như lâm chiến.

Chẳng hạn, lộ trình từ Memphis đến Thebes, nếu đi dường sông ban ngày, sẽ mất từ 12 đến 20 ngày. (Ngày nay chỉ mất 9 giờ nếu đi tàu hỏa hoặc khoảng 1 giờ nếu bằng máy bay.) Đường thủy đầy những rủi ro, đụng các con tàu khác, mắc cạn, và gặp hà mã.

Các sử gia không biết được quân đội Ai Cập hành quân nhanh cỡ nào, nhưng các ghi chép từ quân đội của Alexander Đại Đế (khoảng 336-323 BC) cho thấy quân đoàn của ông vượt trung bình 13 dặm một ngày, được nghỉ ngơi sau năm đến sáu ngày trong những cuộc hành quân đường xa. Trong những chiến dịch ngắn hơn, quân đoàn vượt được 15 dặm một ngày. Trước khi giáp chiến binh sĩ cũng được nghỉ ngơi một thời gian sau khi đến nơi.

Ăn uống như binh lính:

Khẩu phần quân đội

Người lính thường phải mang theo khẩu phần ăn của mình, khiến quân trang càng nặng nề. Alexander Đại Đế ghi chép rằng quân đoàn 10,000 người và 2,000 con ngựa của ông tiêu thụ mỗi ngày

✔ 14 tấn ngủ cốc

✔ 18 tấn cỏ

✔ 90,000 lít nước

Người lính được phát ít hơn mười ổ bánh mì mỗi ngày, và y phải mang trong túi và giỏ. Bánh mì này có thể lên mốc, là một dạng kháng sinh tự nhiên mà người Ai Cập không biết.

Binh lính cũng mang theo chất liệu để làm bánh mì nếu họ có thể tìm được lò nướng trên đường hành quân hoặc có thời gian làm lò từ đất sét khi hạ trại.

Những loại thực phẩm khác người lính Ai Cập thường mang theo vì dể cất giữ và nhẹ nhàng là củ hành, đậu, trái sung, chà là, cá, và thịt. Nhiều loại trái cây và thịt được sấy khô, nhưng binh lính cũng bắt cá. Gia súc của kẻ thù là nguồn thịt của binh sĩ. Bia có thể đã được ủ trong chiến dịch vì nó không giữ được lâu. Nước uống là nước lấy từ giếng. Binh lính phải mang hoặc ăn cắp rượu vang để uống trong bữa ăn.

Vì số lượng quân lương dành cho quân đội là khổng lồ nên quân đội chắc chắn cất giữ lương tại những đồn lũy khác nhau dọc đường hành quân. Các quân đoàn cũng sử dụng kho lương trong thị trấn hoặc làng mạc doc đường. Đúng ra, các làng xã có trách vụ giúp đỡ các quân đoàn khi đi hành quân qua. Dĩ nhiên, nuôi ăn cho 10,000 người và đàn ngựa đông đúc ngay một lúc có thể làm khánh tận một số thị trấn nghèo.

Đợi ngày trả lương

Lương thực mà quân đội cần để sinh sống tạo thành phần lớn lương bổng của họ, vì chỉ đến thời của Alexander Đại Đế mới xuất hiện tiền tệ. Trong chiến dịch, số lương này chỉ dành để ăn, trong khi ở doang trại chúng có thể được trao đổi với những sản phẩm khác.

Ngoài lương chính thức, binh lính có thể cướp bóc để kiếm thêm của cải. Việc cướp bóc dưới hình thức vàng bạc, gia súc, và thậm chí phụ nữ được tiến hành trong doanh trại kẻ thù sau khi thành phố bị cướp phá và bị chinh phục. Các sĩ quan dĩ nhiên được phần lớn hơn và tốt hơn, nhưng các  bộ binh bình thường cũng trở về nhà nặng túi.

Một hệ thống chính thức các phần thưởng cũng dành để tuyên dương những chiến binh chiến đấu dũng cảm nhất. Những phần thưởng này gồm ruồi vàng (tượng trưng cho tính kiên cường), vòng cổ vàng cho lòng dũng cảm, vỏ sò vàng, và thậm chí của cải. Không chỉ người lính giàu có thêm nhờ những phần thưởng này, mà họ còn được cộng đồng Ai Cập ghi nhận chiến tích của mình.

Trang bị khi tác chiến

Người lính Ai Cập được cung cấp vũ khí, trang bị, áo giáp, và thậm chí hình tượng tôn giáo khi lên đường ra trận.

Trang bị đến tận răng

Vũ khí trong quân đội Ai Cập khá đa dạng và có nhiều. Người lính không luôn luôn sỡ hữu vũ khí của mình, và theo các ghi chép từ Medinet Habu, Ramses III duyệt sự bố trí vũ khí trong trận đánh với Dân Biển (xem Chương 4). Vũ khí được chất thành đống, mỗi đống một loại: kiếm, cung, tên. Vũ khí từ đơn giản đến phức tạp đến khó ưa:

Gậy và đá: Gậy rất tiện khi cận chiến. Đá để ném từ xa.

Chùy: Miếng đá cứng và bén này cắm vào một cán gỗ được sử dụng để búa vào đầu kẻ địch. Vào thời Tân Vương quốc, nó lại được gắn thêm một lưỡi dao cong bằng đồng để vừa búa vừa chém quân thù.

Ná: Gốc là sử dụng khi đi săn, giờ cải tiến để đánh giặc. Đá cuội để bắn thì lúc nào cũng có sẵn, còn ná thì mang theo gọn nhẹ.

Gậy ném: Thường được sử dụng khi săn chim, nhưng cũng là vũ khí lợi hại.

Cung tên: Quân đội Ai Cập có một binh chủng bắn cung hùng hậu dùng để bảo vệ bộ binh tiến đánh từ khoảng xa vì tên có thể bắn đến 200 mét đến 300 mét. Cung thủ dùng cả hai loại cung, cung đơn làm bằng một miếng gỗ duy nhất hoặc cung ghép bằng một số miếng gỗ dán dính vào nhau.

Giáo: Nhiều bộ binh được trang bị bằng giáo dài đến 2 mét, lưỡi bằng kim loại. Giáo có thể được phóng đi, nhưng nếu phóng thì không còn vũ khí chiến đấu, nên được sử dụng để đâm.

Rìu, dao găm, và kiếm: Những vũ khí này được sử dụng khi cận chiến và được làm bằng đồng, sắt, hoặc đá (đối với rìu).

Kiếm Khepesh: Vũ khí này xuất hiện vào thời Tân Vương quốc thường được

hoàng tộc sử dụng có lưỡi kiếm cong.

Khiên: Khiên dùng để che chắn thân thể thay cho áo giáp. Chúng cao khoảng 1 đến 1.5 mét và làm bằng gỗ. Thường làm bằng một khung gỗ bọc da bò. Ở mặt sau khiên có một tay cầm với dây choàng để máng vào vai khi hành quân.

Sự vận chuyển có chọn lựa

Một khí tài quân sự có tính chất sống còn là chiến mã xa, được đưa vào trong thời Hyksos. Văn bản giấy cói Anastasi I từ triều đại 19 mô tả cuộc phiêu lưu của một tay chiến mã xa ở Canaan, trong đó có việc đến thăm một tiệm sửa chiến mã xa ở Joppa:

Bạn lách đi vào cửa tiệm, vũ khí, thợ rèn, thợ thuộc da quây quần quanh bạn. Họ làm tất cả việc bạn muốn. Họ xem xét xe bạn, sửa chữa cho nó hoạt động trở lại. Trục xe được tạo dáng mới. Họ bọc da chỗ ngồi. Họ sửa ách. Họ gắn kim loại và buộc dây vào roi bạn. Bạn sẽ sẵn sàng lên đường quyết đấu trên chiến trường rộng mở, để hoàn thành chiến công của một chiến binh dũng cảm.

Chiến mã xa điển hình của Ai Cập có khung gỗ nhẹ hình bán nguyệt, phía sau hở và một trục xe có hai bánh với bốn hoặc sáu căm nan. Những bánh xe được làm từ những mãnh gỗ ghép lại với nhau bằng dây da ướt rồi để khô dây thun lại xiết cứng thành bánh xe. Một cột dài bắt vào trục xe làm ách cho hai ngựa (xem hình).

207495969_2647558545537095_4724291409406210360_n

Mỗi chiến mã xa có một người điều khiển và một người trang bị giáo, khiên, hoặc cung tên. Chiếc xe nhỏ, nhanh cho phép truy kích quân địch một cách mau lẹ, đồng thời một trận mưa tên lao xuống đầu giặc. Các nhà khảo cổ chỉ phát hiện được 11 chiến mã xa, bốn chiếc từ lăng mộ Tutankhamun, hai từ lăng mộ của Yuya và Tuya (cha mẹ của Hoàng hậu Tiye), và một chiếc thuộc về Thutmose IV.

Trong suốt thời Tân Vương quốc, tất cả con trai của hoàng tộc đều được huấn luyện điều khiển chiến mã xa và bắn tên khi xe đang phi nhanh. Những tranh khắc chạm về trận đánh thường thường minh họa nhà vua một thân một mình trên chiến mã xa, kéo bởi bốn ngựa thay vì hai như thường lệ, để phô trương tài điều khiển ngựa phi phàm của ông.

Ăn vận để giết

Trong thời Tân Vương quốc, vũ khí bằng đồng được đưa vào dẫn đến yêu cầu phải có áo giáp. Áo giáp chắc chắn chỉ dành riêng cho các thành viên ưu tú của quân đội chứ không cho đám bộ binh, và bao gồm:

Các vảy đồng hoặc da cứng. Chúng được cố định và chồng lắp lên một áo chẽn vải lanh hoặc áo da.

sắt: Những nón này thường được các lính đánh thuê Sherden đội (đó là một nhóm người nước ngoài tạo thành một phần của dân cư vùng biển. Mũ có sừng nhỏ quái dị và một đĩa tròn phía trên chóp.

Người lính bình thường chắc chỉ có mái tóc để che chở đầu. Một số binh lính thời Trung Vương quốc uốn tóc quăn và thoa dầu thật ướt để khi giáp chiến kẻ thù khó có thể túm tóc mình.

Vương miện đánh trận: Vương miện màu xanh của các vì vua thời Tân Vương quốc được coi là một kiểu nón sắt đánh trận của hoàng tộc, chắc hẳn làm bằng da, với các đĩa bạc hoặc hợp kim gắn chặt lên đó. Tuy nhiên, không có vương miện hoàng gia nào được phát hiện, vì thế không ai biết liệu các vương miện đánh trận có được mang theo không.

Bao tay: Do khí hậu nóng bức thường chỉ có người đánh chiến mã xa cao cấp mới mang. Bao tay làm bằng da hoặc vải lanh dày, ngăn cho dây cương không tuột khỏi bàn tay.

Váy: Hầu hết quân nhân đều mặc một miếng vải lanh hình tam giác gấp thành váy. Một số tranh khắc chạm cho thấy mặt trước của váy có thể được làm cứng để che chở thêm cho phần dưới của cơ thể. Một hình mẫu bằng gỗ, được phát hiện trong một nhà mồ, mô tả một đơn vị cung thủ Nubian, cho thấy họ mặc một mảnh xanh hay đỏ ngang thắt lưng, có thể làm bằng da để che chắn thêm. Các binh sĩ vận một miếng da vắt qua váy bằng vải lanh thường. Những miếng da này thường là nguyên một bộ da linh dương được rạch nhiều đường cho nó mềm dẽo hơn. Một tấm da cứng vắt ngang mông để ngồi cho êm.

Mặc dù những hình chạm nổi có tô màu chỉ cho thấy những bộ y phục cơ bản này, các binh lính chắc hẳn phải mặc nhiều hơn, nhất là vào những đêm mùa đông. Các hình nổi trong nhà mồ thường cho thấy người lính trong ‘quân phục chỉn chu’ hơn là mô tả một cách chân thật trong trang phục ở chiến trường. Cũng vậy, trong lúc tác chiến, các binh sĩ có thể ăn mặc nhẹ như có thể; khí hậu nóng bức, và quần áo rộng sẽ tạo cơ hội cho kẻ thù túm lấy. Bất kỳ vết thương nào trên một y phục dài rộng cũng dễ bị nhiễm trùng do các sợi vải lấm lem chạm phải.

Sự hộ trì của thần linh

Ngoài những trang bị và vũ khí mà binh lính Ai Cập mang theo (giáo, khiên, dao găm, cung, tên), các hình chạm về trận đánh và các ghi chép khảo cổ cho thấy binh sĩ không chỉ nhờ cậy vào khiên, áo giáp mà còn vào những hình tượng tín ngưỡng để hộ trì.

Hình tượng nổi bật nhất là cặp cánh hộ trì mà nhà vua mặc. Cánh thuộc về thần Horus và được bọc quanh ngực nhà vua cho thấy ông được thần linh che chở. Một cặp cánh này được phát hiện trong lăng mộ Tutankhamun. (Thật ra, chúng làm bằng vải len, và do đó chỉ là che chở về mặt tôn giáo.)

Đồ châu báu vừa có chức năng trang trí vừa có chức năng che chắn. Một mảnh châu báu cũng được tìm thấy trong mộ Tutankhamun, gồm một vòng cổ lớn đính với một miếng dày những vảy vàng che chắn cho ngực của nhà vua. Vòng cổ được tạo hình cảnh nhà vua đập chết kẻ thù dưới sự hiện diện của thần linh. Tuy nhiên, vàng mềm có che chắn được bao nhiêu trước mũi giáo làn tên, và nhà vua chắc hẳn chỉ mang vòng cổ này trong cuộc duyệt binh trước hoặc sau trận đánh.

Các binh sĩ thường chắc không có những bảo hộ tôn giáo đắt tiền loại này và có thể chỉ trông cậy vào sự hộ trì của bùa chú mang theo.

 

Ghi chép chiến tích

Người Ai Cập rất chú trọng đến những ghi chép chiến trường như một phương tiện tuyên truyền. Các thư lại quân sự đi theo đoàn quân trong chiến dịch sẽ đảm nhận việc ghi chép này. Những ghi chép dưới hình thức báo cáo chính thức và có cả những bài thơ và những hình ảnh rất chi tiết. Các ghi chép chiến trường thường nêm rất nhiều ‘mắm muối’ vì chúng được viết với mục đích tuyên truyền nhiều hơn thứ gì khác. Tất cả báo cáo chiến trường đều viết không có lính Ai Cập nào tử thương trong trận đánh vì nhiều lý do:

✔ Họ là những chiến binh thiện chiến.

✔ Mọi kẻ thù đều khiếp sợ họ.

✔ Mọi quân địch đều là lũ hèn nhát chưa đánh đã chạy.

Các chứng cứ khảo cổ cho thấy điều này là không đúng, vì có nhiều xác ướp mang nhiều vết thương chiến trường. Như vậy các thư ký chiến trường chỉ cốt làm nức lòng binh sĩ bằng cách thuyết phục bên mình là đội quân vô địch.

Nghiên cứu niên giám quân sự

Nhiều vua cho soạn ra những niên giám ghi lại những chiến dịch quân sự của họ. Tuy nhiên, chỉ có hai niên giám còn sống sót __ Bia đá Palermo và niên giám Thutmose III (cũng khắc vào đá). Bia Palermo chỉ là những mảnh vỡ nằm trong Bảo tàng Khảo cổ Palermo ở Sicily, Bảo tàng Ai Cập ở Cairo và Bảo tàng Petrie ở Luân đôn. Niên giám Thutmosis III nằm ở Đền Karnak.

Bia Palermo ghi lại nhiều sự kiện của các vì vua đời trước, kể cả những trận đánh, mực nước lũ, và lễ hội heb sed (xem Chương 9). Niên giám Thutmose III tập trung vào những thành tựu quân sự của ông vì ông là một pha-ra-ông chiến binh và là người xây dựng đế chế đầu tiên ở Ai Cập.

Những ghi chép khác mô tả các chiến dịch gồm có

✔ Hình vẽ các lộ trình chiến dịch

✔ Các văn bản tự thuật của những quân nhân trong các nhà mồ

✔ Các mô tả và hình ảnh về đền thờ

Mỗi tấm hình kể lại một câu chuyện

Những hình vẽ chiến trận đầy chất nghệ thuật khắc trong đền thờ không biến đổi nhiều qua 3,000 năm của lịch sử Ai Cập __ là một cảnh báo rõ ràng là không nên quá tin vào những hình ảnh này.

Vài chủ đề cứ lặp đi lặp lại trong những cảnh tượng còn sống sót này:

2

Bia đá Palermo (trên) và Niên giám Thutmose III (dưới)

✔ Những cảnh tượng thường cho thấy nhà vua túm tóc kẻ thù như chực đập họ bằng chùy. (Xem bia đá Narmer năm 3100 BC nói ở Chương 1.) Dù cho nhà vua đang cởi chiến mã xa lao qua chiến trường, hay ngồi trên ngai vàng, kẻ thù lúc nào cũng ngả chồng chất dưới chân ông, cho thấy quyền lực của ông đang trấn áp họ.

✔ Các thần linh thường được biểu thị đóng một vai trò chủ yếu trong các trận đánh của nhà vua. Trong thời Tân Vương quốc, đặc biệt, nhà vua được thần Amun cố vấn cách đánh và trao cho thanh gươm chiến thắng. Sau trận đánh, nhà vua thường được mô tả duyệt qua chiến lợi phẩm và đám tù binh trước mặt thần Amun như đểtạ ơn sự hộ trì của thần trong trận đánh.

3

 

Chương 4

Xây Dựng Đế Chế: Những Vinh Quang của Tân Vương quốc

 Trong Chương Này

⮚ Gặp gỡ các nhà xây dựng đế chế

⮚ Phòng thủ biên cương

⮚ Nhìn lại những nghi thức tôn giáo Ai Cập

⮚ Lấp kín những khe nứt

Việc đẩy lùi người Hyksos (xem Chương 3) chứng kiến sự cáo chung của thời kỳ trung gian thứ hai và khởi đầu thời kỳ Tân Vương quốc. Thời kỳ này (1570-1070 BC) là một trong những thời kỳ nổi tiếng nhất, với các triều đại 18-19 và tất cả những vì vua quen thuộc, như Tutankamun, Akhenaten, và Ramses II.

Khởi đầu triều đại 18 chứng kiến sự ra đời của đội quân thường trực (xem Chương 3) cũng như sự thay đổi trong bang giao quốc tế. Ý thức hệ quân vương cũng vượt khỏi biên giới của Ai Cập. Điều này có nghĩa mỗi nhà vua mới đều nỗ lực chiếm cứ nhiều đất đai hơn vua cha, cho đến khi cuối cùng một vùng rộng lớn của Viễn Đông nằm dưới sự kiểm soát của Ai Cập, với các vua chư hầu nguyện trung thành với Ai Cập, được dựng lên trong những thị trấn ngoại quốc.

Tân Vương quốc là một thời điểm cách tân và xây dựng đế chế do một số các vì vua hùng mạnh nhất thực hiện. Chương này tập trung vào dân tộc và những nhân vật làm nên thời đại vẻ vang này.

Gặp Gỡ Napoleon của Ai Cập: Thutmosis III

Người xây dựng đế chế thực sự đầu tiên của Tân Vương quốc là Thutmosis III (1504-1450) của triều đại 18, chồng và con ghẻ của Hatshepsut (xem Chương 5).

Thutmosis III, con trai của Thutmosis II và người vợ thứ hai tên Isis, vẫn còn là một đứa trẻ khi lên ngôi sau khi vua cha băng hà. Khi lên ngôi, ông kết hôn với vợ góa của Thutmosis II, cũng là mẹ ghẻ và dì ông, Hatshepsut. Trong hơn 20 năm, Hapshepsut và Thutmosis III cai trị một cách chính thức như các đồng nhiếp chính, mặc dù phần lớn thời kỳ này chính Hatshepsut mới cai trị Ai Cập như một pha-ra-ông thực thụ, đẩy chàng trai trẻ Thutmosis III sang một bên.

Thutmosis III trải qua thời niên thiếu và thành niên rèn luyện trong trại lính cho đến khi Hatshepsut mất sau khi cai trị được 22 năm. Lúc này ông tiếp nhận ngai vàng như một người đã trưởng thành và là nhà chỉ huy quân đội và tiếp tục cai trị Ai Cập một mình trong hơn 20 năm nữa. Hình 4-1 cho thấy ông đang ở đỉnh vinh quang.

4

Các nhà Ai Cập học thường ví Thutmosis III như là Napoleon của Ai Cập vì ông trải qua thời trưởng thành trong chinh chiến và xâm chiếm đất đai về cho Ai Cập. Ông để lại một số ghi chép quân sự rất tỉ mỉ trong Phòng Niên Giám tại đền Karnak, kể lại những kỳ công ở Syria đã làm nên tiếng tăm ông.

Trận đánh ở Megiddo

Cuộc chiến lừng lẫy nhất của Thutmosis III xảy ra tại Megiddo ở Syria, trong năm đầu trị vì một mình của ông (khoảng 1476 BC). Vua vùng Kadesh ở Syria từ từ thu phục một số thành phố Palestine cùng liên minh với ông mưu đồ tấn công qua biên giới của Ai Cập, vì ông ta không đủ sức đánh một mình. Đội quân này đánh chiếm thị trấn quan trọng và kiên cố của Syria là Megiddo (ngày này là Israel), một vị trí chiến lược cho việc buôn bán và phòng thủ.

Megiddo là địa điểm đã từng xảy ra nhiều cuộc chiến trong thời cổ. Chữ ‘Armageddon’ trong kinh thánh thật ra có nghĩa là ‘núi vùng Megiddo’ trong tiếng Hebrew (thường sử dụng để chỉ một trận quyết chiến giữa thiện và ác) và ám chỉ một trận đánh đặc biệt ở đây.

Thutmosis III và quân đoàn Ai Cập xuất binh từ vùng Châu thổ, qua Sinai, và đến Megiddo. Họ vây hảm một số cứ điểm dọc theo đường tiến quân để bảo vệ và kiểm soát tuyến đường liên lạc (và có thể bảo toàn lực lượng phòng khi rút quân về Ai Cập).

Có ba đường đi dẫn đến Megiddo, và Thutmosis phải quyết định chọn một. Hai đường dài hơn rất khó phòng thủ, trong khi con đường ngắn hơn và trực tiếp hơn có nguy cơ bị kẻ thù đột kích vì nó hẹp buộc đoàn quân phải đi hàng một.

Thutmosis được khuyên nên đi con đường dài hơn, nhưng ông quyết định chọn con đường ngắn nhất. May cho ông ta, quân Ai Cập vượt qua mà không gặp khó khăn gì và chẳng bao lâu đã áp sát thị trấn được phòng thủ vững chắc. Ông ra lệnh hạ trại đợi hậu quân đến đầy đủ.

Thời điểm tấn công

Sau khi quân đoàn Ai Cập bắt đầu tiến về Megiddo, quân địch đã bố trí việc phòng thủ kiên cố. Sáng hôm sau, quân đoàn Ai Cập diễu binh để biểu dương lực lượng, nhằm làm kẻ thù mất tinh thần.

Thutmosis III dẫn đầu mũi tấn công trên chiếc chiến mã xa bằng vàng và bạc, với một phần ba  quân số. Các ghi chép chiến trường viết rằng quân đội Ai Cập bị áp đảo về quân số vì quân Syria có hơn 330 ông vua và ‘Hàng triệu người, và hàng trăm ngàn các tù trưởng của mọi vùng đất, uy nghi trên chiến mã xa.’

Mặc dù bị áp đảo về quân số, Thutmosis III rất dũng cảm:

 Nhà vua dần đầu đoàn quân, lao đi như ngọn lửa, dơ cao thanh gươm. Người xốc tới, không ai sánh đặng, tàn sát kẻ thù mọi rợ, đập đánh bọn Retenu (dân Á châu), bắt sống các ông hoàng của họ, tịch thu những chiến mã xa của chúng cẩn vàng ròng.

Lực lượng Ai Cập quá mạnh đối với đạo quân yếu ớt phòng thủ ngọn núi Megiddo. Đạo quân ở Megiddo nhanh chóng tan rã, bỏ lại hết vũ khí, xe ngựa, và tài sản. Quân Ai Cập đuổi theo bén gót, binh sĩ giữ cửa thành không dám mở cửa cho đoàn quân chạy về vì sợ quân Ai Cập thừa cơ xông vào thành. Quân lính trong thành phải lấy vải màn thắt nút thả xuống và kéo những người giàu có và có vai vế lên, đưa vào trong thành.

Cơ hội vuột mất

Sau khi quân Syria tháo chạy khỏi núi Megiddo, quân Ai Cập có một cơ hội tấn công ồ ạt trước khi bọn Syria có thời gian thu thập tàn quân và chuẩn bị phản công từ trong thành lũy. Tuy nhiên, thay vì tấn công ngay, các binh sĩ Ai Cập chóa mắt vì của cải mà bại binh Syria bỏ lại, nên quay sang tranh giành chiến lợi phẩm. Họ mất cơ hội trước người Syria, nhưng bù lại túi đầy ắp của cải.

Thutmosis kiểm soát lại tình hình __ có vẻ như quá trễ __ và tổ chức đắp lũy đào hào quanh Megiddo chuẩn bị một cuộc bao vây lâu dài. Đối với Ai Cập, chiếm lấy thị trấn là việc quan trọng để biểu dương sức mạnh. Nhờ đó họ có thể phòng thủ làm khiếp sợ những bộ tộc khác nhau từ những thị trấn chung quanh lúc nào cũng hăm he gây khó dễ cho người Ai Cập và làm suy yếu sự kiểm soát đế quốc của họ. Cuộc bao vây kéo dài bảy tháng trước khi Megiddo cuối cùng rơi vào tay người Ai Cập.

Thay đổi Tôn Giáo: Akhenaten

Một vị vua triều đại 18 khác cũng lừng lẫy tiếng tăm trong hàng ngàn năm là ông vua ngoại giáo, Akhenaten (1350-1333 BC). Ông bị tai tiếng vì đã thay đổi tôn giáo của cổ Ai Cập từ việc thờ phượng hàng trăm thần linh sang chỉ thờ một vị thần duy nhất __ thần Aten hay đĩa mặt trời. Hình 4-2 là tượng bán thân của Akhenaten.

Mặc dù Aten được nâng lên vị trí độc tôn, chỉ có Akhnaten và hoàng gia mới có thể thờ phượng thần mặt trời. Akhenaten cũng tự mình nâng cấp thành một vị thần đầy đủ lông cánh, thiêng liêng hơn bất cứ vị vua nào khác __ và mọi người khác đều phải tôn thờ Akhenaten! Vậy là trong hệ thống Akhenaten, không có độc thần mà là nhị thần.

5

Gặp gỡ gia đình

Akhenaten là con trai nhỏ nhất của Amenhotep III và Hoàng hậu Tiye. Ông sinh ra dưới tên Amenhotep và chỉ sau này mới đổi tên là Akhenaten khi ông càng ngày càng sùng bái vị thần. Mẹ của Akhenaten, Tiye, thuộc gia đình quí tộc, nhưng không thuộc hoàng gia. Một số hình ảnh cho thấy bà có vẻ là một người đàn bà hay khống chế và làm người ta khiếp sợ. Bà lúc nào cũng thấy đứng bên cạnh chồng trong một vị trí bổ sung hơn là thấp kém và có khi được miêu tả một mình không có chồng bên cạnh, một ngoại lệ chưa từng nghe nói đến trong lịch sử Ai Cập thời trước. 

Akhenaten có một anh trai, Thutmosis, nhưng chết trước khi lên ngôi và có ba chị em gái: Beketaten, Sitamun, và Isis. Hai người sau kết hôn với cha họ, Amenhotep III.

Kết hôn với một nhân vật bí ẩn

Akhenaten lấy vợ sớm, trước khi lên ngôi, và ông kết hôn với một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất cổ Ai Cập __ Nefertiti, một người trầm lặng và bí ẩn. không ai thực sự biết xuất thân của bà từ đâu, cha mẹ bà là ai, và thật ra bà là ai. Nhưng phần đông nhà Ai cập học đều tin rằng bà là con gái của Ay, anh của Hoàng hậu Tiye. Vợ của Ay làm vú nuôi cho Nefertiti, cho thấy bà không phải là mẹ ruột mà là mẹ ghẻ của Nefertiti.

Nefertiti và Akhenaten có sáu con gái, người đầu tiên sinh ra trước khi Akhenaten lên ngôi được một năm. Các cô gái thường được mô tả đứng cạnh vua và hoàng hậu (xem hình chạm khắc bên dưới). Tên của họ là

✔ Meritaten

✔ Meketaten

✔ Ankhesenepaten

✔ Neferneferuaten

✔ Neferneferure

✔ Setepenre

6

Mặc dù không có chứng cứ trực tiếp, có thể Tutankhamun cũng là con trai của Akhenaten và người vợ thứ hai Kiya. Một số học giả cũng tin rằng Smenkhkare, vị vua bí mật lên ngôi sau Akhenaten trong một thời gian ngắn, cũng là con trai của Akhenaten; người khác cho rằng ông ta là con của Amenhotep III, còn một số học giả khác lại tin rằng Amenkhkare và Nefertiti là cùng một người. Nếu các học giả tiếng tăm mà không còn nhứt trí thì chúng ta biết sao bây giờ?

Ca tụng thần mặt trời

Tiêu điểm chính trong thời trị vì của Akhenaten là cuộc cánh mạng tôn giáo của ông, xảy ra trong một thời gian rất ngắn. Akhenaten chỉ trị vì 17 năm, và cuộc cách mạng hoàn tất vào năm thứ 9 trong triều đại ông. Mặc dù cuộc cách mạng chỉ trải qua một thời gian ngắn, nhưng thời kỳ này được các nhà viết sử hiện đại viết nhiều nhất trong lịch sử cổ Ai Cậpập.

Lạ hơn nữa, có 12 năm Akhenaten chắc hẳn đồng cai trị với vua cha của mình Amenhotep III, vua cha cai trị từ Thebes và Akhenaten cai trị từ thành phố mới mở ở Amarna ngay  giữa Ai Cập.

Thần Aten là một nhân tố cốt lõi trong thời vua Akhenaten trị vì. Aten không phải là một vị thần mới: Ông ta luôn luôn là một phần của chu kỳ thái dương rộng lớn hơn và xuất hiện như hiện thân của ánh sáng toả ra từ đĩa mặt trời. Ánh sáng này được miêu tả trong hình chạm khắc trên đây, vẽ bằng những bàn tày tỏa ra từ đĩa mặt trời, mỗi tia sáng kết thúc với bàn tay nhỏ bé dâng biểu tượng ankh, biểu tượng của cuộc sống vĩnh hằng, cho gia đình nhà vua (xem hình chạm khắc ở trên). Toàn bộ hình ảnh nói lên vai trò của mặt trời là nuôi dưỡng cuộc sống. Tất cả điều Akhenaten làm là nâng vai trò này của mặt trời lên thành vai trò là thần mặt trời duy nhất.

Sự ưu ái thần Aten lên trên những vị thần khác bắt đầu vào thời trị vì của Amenhotep III như một phần trong chiến dịch nhằm giới hạn quyền lực của giới tu sĩ thờ thần Amun ở Karnak, mà vào thời điểm đó hầu như có quyền lực ngang với nhà vua. Tuy nhiên, Akhenaten đi xa hơn và bắt đầu thay thế tất cả những vị thần chính bằng thần Aten, mặc dù ông chỉ đóng cửa tất cả đền thờ khác vào năm trị vì thứ chín, khi đó ông dồn hết thu nhập cho các đền mới thờ thần Aten.

Vào năm 12, Akhenaten bắt đầu một chiến dịch thù hằn chống lại dòng tu Amun. Ông cho đục bỏ tất cả tên Amun ở mọi chỗ nó xuất hiện __ ngay cả trong tên của vua cha, Amenhotep. Việc này chưa từng có tiền lệ ở Ai Cập. Các ông vua thường xóa bỏ tên những vị vua khác mà mình không ưa vì lý do cá nhân, nhưng chưa từng có nhà vua xóa bỏ tên của thần linh. Hành động của Akhenaten chắc phải gây hoang mang cho nhiều người.

Gặp một kết cục bất hạnh

Mặc dù có nhiều kẻ thù, Akhenaten hình như chưa từng bị mưu sát. Tuy nhiên, việc kết thúc trị vì của ông mơ hồ và không được ghi chép lại, vì thế các sử gia chỉ có thể phỏng đoán qua những sự kiện thực sự xảy ra.

Một chuỗi những tai họa trong cuộc đời ông xảy ra trước khi ông chết và sự sụp đổ của thời đại Amarna:

✔ Năm trị vì 12 của Akhenaten, vua cha Amenhotep III mất.

✔ Năm trị vì 13, Nefertiti biến mất trong các văn tự chạm khắc, như vậy có thể bà cũng đã mất, mặc dù một số học giả cho rằng bà đã đổi tên và đồng cai trị với chồng.

✔ Năm trị vì 14, con gái Meketaten của Amenhotep qua đời khi sinh nở.

✔ Năm trị vì 14, mẹ của Akhenaten, Tiye, mất.

Một chuỗi chết chóc này thường được gán cho nguyên nhân một bệnh dịch được gọi là ‘cơn bệnh châu Á’ quét qua Amarna; dịch bệnh này có thể là dịch hạch. Bệnh dịch này được dân chúng xem là sự trừng phạt của những vị thần linh bị bạc đãi __ khiến người ta quay ra thờ cúng trở lại những vị thần truyền thống.

Akhenaten mất vào năm trị vì 17 khi vào thập niên 30. Ông không có con trai thừa kế mà ta biết, có lẽ chỉ trừ Smenkhkare, một nhân vật bí ẩn đồng trị vì bên cạnh Akhenaten trong ba năm. Một số người tin rằng Smenkhkare chính là Nefertiti, mặc dù chứng cứ chưa mấy thuyết phục. Sau đó Smenkhkare cai trị một mình trong một vài tháng rồi cũng mất, chắc cũng do dịch bệnh. (Bạn chắc không muốn là thành viên của gia đình ma ám này, phải không?)

Sau khi Smenkhkare chết, chỉ còn duy nhất một người thừa kế thích hợp, Tutankhamun lừng lẫy __ một thằng nhóc chỉ mới lên 7 hay 8.

Một Vì Vua Mới Lớn: Tutankhamun

Tutankhamun là cái tên gợi lên hình ảnh của vàng bạc và của cải, nhờ lăng mộ lộng lẫy của ông được phát hiện. Trước khi lăng mộ được phát hiện, ta biết rất ít về ông vua này __ mà nói thật, sau khi lăng mộ được khai quật, thế giới cũng không mở mắt được nhiều lắm.

Có nhiều lỗ hổng trong cuộc đời của Tutankhamun, và hầu hết những nghiên cứu đều tập trung vào kho báu trong lăng mộ ông. Nhiều bảo vật được chế tác để an táng và có thể không phản ánh gì cuộc đời của nhà vua. Tuy nhiên, những bí ẩn xoay quanh vị vua này vẫn tiếp tục gây tò mò kể từ khi lăng mộ được phát hiện năm 1922. Chắc chắn Tut sẽ tiếp tục hấp dẫn người ta thêm 100 năm nữa.

Giữ kín chuyện nhà

Các sử gia nghĩ rằng Tutankhamun ra đời trong khoảng từ năm trị vì 7 đến năm trị vì 9 của Akhenaten, có lẽ ở Amarna. Lúc đầu gọi là Tutankhaten (‘hình ảnh sống của thần Aten’), sau khi lên ngôi đổi thành Tutankhamun.

Các nhà Ai Cập học còn không thể nhất trí việc ai là cha mẹ của Tutankhamun. Có nhiều giả thuyết:

✔ Akhenaten và Kiya (vợ thứ)

✔ Akhenaten và Tadukhipa (công chúa xứ Mitan)

✔ Amehotep III và Tiye (như vậy Tutankamun là em của Akhenaten)

✔ Amenhotep III và Sitamun (em gái của Akhenaten)

Giả thuyết đầu ngày nay được nhiều nhà Ai Cập học ủng hộ. Khi mới lên ngôi, Tutankhamun kết hôn với Ankhesenepaten, sau đó đổi tên thành Ankhesenamun. Tùy thuộc ai là cha mẹ của Tutankhamun, Ankhesenamun hoặc là em một cha khác mẹ hoặc là cháu gái của ông. Họ chắc chắn thích quây quần với gia đình. Ankhesenamun lớn hơn Tutankhamun một vài tuổi, và có thể họ đã được nuôi dưỡng cùng nhau trong hoàng cung ở Amarna.

Buồn thay, dù họ còn trẻ và trị vì đến mười năm, Tutankhamun và Ankhesenamun không có con nào sống được. Chôn cùng với lăng mộ Tutankhamun trong một hộp gỗ trắng đơn giản là hai bào thai nữ, một vừa mới sinh và một chỉ sống một thời gian ngắn trước khi chết. Những bào thai này có thể là con cái của Tutankhamun, cho thấy cặp đôi trẻ này đã trải qua một thời khắc khó khăn nỗ lực kiếm một người kế vị ngai vàng.

Phục hồi tín ngưỡng

Nhiệm vụ chính trong thời trị vì của Tutankhamun là phục hồi tôn giáo Ai Cập __ nhất là để chỉnh đốn mọi sự thay đổi mà Akhenaten đã cổ xúy. Việc đầu tiên là ông bỏ kinh đô mới ở Armana và sử dụng Memphis và Thebes là các kinh thành của Ai Cập, như truyền thống từ xưa và được nhân dân mong đợi. Vì Tutankamun còn trẻ, có thể ông được nhiếp chính bởi các quan lại của mình: Horemheb (tướng và cánh tay phải của vua) và tể tướng, là cậu Ay của Tutankhamun.

Tại đền Karnak, Tutankhamun cho dựng Bia Ký Phục Dựng, tóm tắt một số kế hoạch để tái thiết việc thờ cúng và truyền thống của Ai Cập.

Nhà vua phục dựng mọi thứ đã bị tàn phá, để được đời sau tưởng nhớ mãi mãi. Ông đã khắc phục sự hỗn loạn trên mọi miền đất nước và đã dựng lại thần Maat (thần của trật tự) trở về chốn cũ. Ngài đã tuyên bố nói dối là một tội ác, và toàn xứ sở đã trở về như thời sáng thế.

Lúc ngài mới lên ngôi các đền thờ và tài sản của thần và nữ thần từ Elephantine cho đến tận vùng đầm lầy ở Hạ Ai Cập chỉ là đống đổ nát. Các điện thờ của thần linh đã sụp đổ, biến thành đống gạch vụn và cỏ dại mọc đầy . . . Các đền thờ của thần linh đã trở thành các đường mòn. Thế giới lâm vào cơn hổn độn và thần linh đã quay lưng lại mảnh đất này

. . . Nếu bạn cầu khấn thần xin một lời khuyên, thần chỉ im lặng, nếu ai van vái nữ thần, nữ thần cũng im lặng. Con tim chỉ còn thoi thóp trong lồng ngực vì mọi thứ trước đây từng có mặt, đã bị phá hủy.

 Tutankhamun cần tìm nhóm cộng sự thân tín làm việc trong các đền thờ và điện thờ mới xây dựng. Ông tuyển mộ các thanh niên và phụ nữ từ các gia đình quyền quí trung thành với vì vua già, Amenhotep III, bảo đảm họ sẽ vực dậy truyền thống của thời đại ông.

Cái chết

Trong nhiều năm, giả thuyết quanh cái chết của Tutankhamun đã tốn biết bao nhiêu giấy mực. Ông mất khi còn rất trẻ __ chỉ độ 18 hay 19 tuổi. Hình 4-3 cho thấy gương mặt nổi tiếng của Tutankhamun.

Trong nhiều năm, các sử gia nghĩ rằng Tutankhamun đã chết vì một cú đánh sau đầu, vì người ta tìm thấy trong hộp sọ của ông có một mảnh xương nhỏ rơi ra. Tuy nhiên, vào năm 2005, khi xác ướp của ông được chụp CT, cho thấy mảnh xương này xuất hiện sau khi ông chết, chắc hẳn do Howard Carter và nhóm khai quật của ông gây ra khi cố gỡ mặt nạ bằng vàng ra khỏi đầu ông. Chứng cứ chụp CT cũng cho thấy những vết nứt khác nhau và những chỗ xương gãy trên cơ thể của Tutankamun có thể đã xảy ra trước khi ông chết và chắc hẳn là nguyên nhân cái chết của ông. Một giả thuyết mới cho rằng ông chết vì bị tai nạn khi lái chiến mã xa.

7

Hình 4-3

 

Tái Thiết Đế Chế: Sety I

Dù nguyên nhấn cái chết của Tutankhamun là gì, việc ra đi của ông ta đúng là một cơn ác mộng thực sự cho Ai Cập. Ông không để lại người kế vị, vì thế người nối ngôi không được biết rõ.

✔ Ay (có thể là cậu của Tutankhamun) lên làm vua, cho dù viên tướng quân đội của Tutankhamun là Horemheb đang là cánh tay phải của nhà vua. Tuy vậy, Ay đã ngoài lục tuần khi lên kế vị ngai vàng, và ông chỉ trị vì bốn năm trước khi qua đời.

✔ Horemheb kế vị Ay và cai trị hơn 30 năm. Ông tiếp tục công việc phục hồi của Tutankhamun.

Hành động quan trọng nhất của Horemheb là chỉ định Pirameses, một vị tướng trong quân đội của ông là người kế nhiệm ông. Horemheb có thể được coi là người thành lập triều đại thứ 19 vì chính ông là người đã nhìn ra và đề bạt Pirameses (sau này khi lên ngôi lấy vương hiệu là Ramses I) trong số đám võ biền bất trị của ông.

Tutankhamun, Ay, và Horemheb bắt đầu tái thiết biên giới Ai Cập, nhưng công cuộc này cần được nối tiếp. Ramses I khi lên ngôi đã luống tuổi nên chỉ trị vì một thời gian ngắn (1293-1291 BC).

Đọc thêm: Những lá thư chết người và bi kịch hoàng gia

Khi Tutamkhamun mất, viên tể tướng già cả của ông, Ay, kế vị ngai vàng. Người vợ góa của Tatankhamun Ankhesenamun, lúc ấy vẫn còn là một phụ nữ trẻ tuổi, có lẽ chỉ 21 tuổi, và rõ ràng không muốn từ bỏ vị trí hoàng hậu của mình và quyền lực đi kèm. Bà không tha thiết lấy Ay, ứng viên tiềm năng duy nhất cho hôn nhân.

Hoàng hậu háo hức muốn kết hôn với một hoàng tử xứ Hittite, gởi sứ giả đến vua xứ Hittite mang theo một bức thư khác. Các ghi chép cho thấy sứ giả, Hani, đã nói dùm bà:

Tâu bệ hạ! Đây là nổi nhục quốc thể! Nếu hoàng đế thần có con trai nối dõi, thần làm gì lặn lội đến đây cầu xin một quân vương cho xứ sở thần Nibhururiya, vua thần, vừa mất mà không có được một con trai nối dõi. Hoàng hậu thần giờ đây gối chiếc. Thần dân chúng tôi mong có một hoàng tử của bệ hạ đến làm vua xứ Ai cập, và cho hoàng hậu chúng thần một tấm chồng! Hơn nữa, chúng thần chỉ đến đây cầu xin bệ hạ, mà không đi đến xứ nào khác! Thưa bệ hạ, hãy cho chúng thần một hoàng tử của người.

Nhiều học giả tin rằng Akhesenamun đã viết một bức thư cho vua xứ Hittite

Suppiluliumas, thỉnh cầu ông ta gởi một người con trai cho bà, để bà có thể kết hôn với y và phong y làm vua xứ Ai Cập. Trong một bức thư do Akhesenamun viết, bà nói rõ là bà không muốn ‘cưới một kẻ dưới’, ý bà ám chỉ cuộc hôn nhân tiềm năng với lão già Ay.

 Chồng tôi đã mất. Tôi không có con trai. Nhưng họ nói ngài thì có nhiều con trai. Nếu ngài gởi một người con trai của ngài đến đây, anh ta sẽ là chồng tôi. Không bao giờ tôi chịu lấy một kẻ dưới mình làm chồng . . . Tôi sợ.

Lời thỉnh cầu như thế từ một hoàng hậu Ai Cập là điều rất bất thường, và nhà vua xứ Hittite không tin rằng đó là lời thỉnh cầu chân thật. Tuy nhiên, sau đó ông ta bị thuyết phục bởi lời lẽ của sứ giả và cuối cùng gởi hoàng tử Zenmanza đến Ai Cập.

Rủi thay, hoàng tử bị mưu sát trước khi đến được biên giới Ai Cập __ có lẽ do lệnh của Ay, người không bao lâu sau đã cưới Ankhesenamun.

Vua xứ Hittite dĩ nhiên đâm nghi và phái một sứ thần đến Ai Cập để tìm hiểu tình hình chính trị. Sứ thần trở về và báo cáo lên vua xứ Hittite tình hình đúng như hoàng hậu đã giải bày.

Quyết chiến ở Kadesh, Phần I

Trong thời gian trị vì của con trai Sety của Ramses I (1291-1278 BC) xảy ra một số rối ren chính trị, kéo dài suốt thời trị vì của Ramses II và Ramses III.

Khi vừa lên ngôi, Sety I cho mở một chuỗi chiến dịch nhằm tái thiết biên giới của đế quốc Ai Cập đã vỡ vụn, đã bị bỏ phế trong thời cai trị của Akhenaten và Smenkhkare. Trong năm đầu tiên nắm quyền, Sety mở một chiến dịch băng qua Syria tấn công kẻ thù Shasu theo lời khuyên của các quân sư.

Trong cuộc hành quân đến Palestine, các tộc trưởng đột kích Sety nhưng may thay quân đội Ai Cập đẩy lui dễ dàng. Những trận đột kích này chỉ có tính quấy rối hơn là đe dọa nhà vua, nhưng chúng cũng cần được dẹp tan để bảo vệ an toàn con đường giao thương mà Ai Cập đang cần đến.

Năm sau, Sety hành quân xa hơn về phương bắc đến Kadesh, một thị trấn thành lũy ở Syria bao quanh bởi hai vòng hào dẫn nước từ sông Orontes, do người Hittite kiểm soát. Nhưng lúc ấy người Hittite đang đóng quân tại biên giới Syria, buông lỏng Kadesh. Quân Ai Cập chiếm thị trấn không gặp nhiều khó khăn, và Sety tuyên bố kẻ thù ‘thây chất thành gò’.

Dù chiến thắng, Sety không đủ tiềm năng quân sự để gây áp lực với người Hittite nhằm chiếm thế thượng phong ở Syria. Người Ai Cập chỉ giữ Kadesh một thời gian ngắn rồi rút quân về, trả lại đất đai cho người Hittite mà không có một động thái quân sự nào nữa.

Sau khi Sety trở về Ai Cập, người Hittite dần dần mở rộng vùng đất kiểm soát, tiến sát gần hơn đến Ai Cập.

Một xong . . . còn bao nhiêu người nữa?

Sau khi giải quyết bài toán ở Kadesh, Sety I không ngủ yên trên chiến thắng. Các ghi chép chiến trường tại đền Karnak cho thấy sau đó ông khuất phục người Lybia lăm le vượt qua biên giới vùng Châu thổ và đập tan cuộc nổi dậy của người Nubia chống lại sự đô hộ của người Ai Cập.

Chữ Lybia người Ai Cập sử dụng để chỉ những bộ lạc Bedouin của Tây Sa Mạc hơn là dân cư của Lybia ngày nay.

Sety và đạo quân của ông đánh đuổi người Lybia xâm lược, và tranh chạm khắc ở Karnak cho thấy Sety chém tộc trưởng Lybia bằng một thanh mã tấu. Đó là cách bảo đảm hoàn hảo y sẽ không bao giờ trở lại. Tuy nhiên, trong những năm sau đó, người Lybia vẫn quay lại và trở thành cái gai trong mắt của Ramses III.

Hình chạm khắc Sety ở Karnak cho thấy những thị trấn thành lũy của Syria thất thủ, và kẻ thù bôn tẩu đến các thị trấn khác hoặc đến những chỗ cao hơn để thoát khỏi sự truy bức của quân đoàn Ai Cập. Sety đương nhiên là dẫn đầu đại quân, và trong một cảnh ở Karnak, ông cặp cổ các tù trưởng bị bắt làm tù binh, mỗi tù trưởng một tay, cho thấy sự can trường của ông trên chiến trường.

Chiến Đấu : Ramses II

Người kế vị Sety I là con trai ông Ramses II (1279-1212 BC). Ramses II có nhiều tên và chức vị được người đời sau phong tặng qua nhiều thế kỷ, trong đó có

✔ ‘Sese’ do các bạn bè và bầy tôi trung thành gọi.

✔ ‘Ramses Vĩ Đại’ do các nhà khám phá của thế kỷ 18, 19 gọi.

Trở thành hoàng tộc

Ramses II là con của Sety I và Muttuya, ra đời 1304 BC. Ramses II không mang dòng máu hoàng tộc vì ông nội ông, Ramses I, là do Horemheb chọn lên làm vua. Ramses có ít nhất hai em gái, Tia và Hunetmire, và một em trai mà tên tuổi đã bị thất lạc.

Trong những năm sau, Ramses cưới ít nhất một trong hai người em gái làm vợ, Hunetmire. Vì Hunetmire và Ramses không thuộc hoàng tộc khi ra đời, bổng nhiên việc họ lấy nhau chỉ vì vị thế gia đình của họ thay đổi là điều kỳ lạ. May thay cho Hunetmire, bà không có con với Ramses; cuộc hôn nhân của họ có thể chỉ là một cuôc hôn nhân vì thuận lợi hơn là một cuộc hôn nhân đúng nghĩa.

Hôn nhân và gia đình (và nhiều gia đình hơn)

Trong những năm trị vì về sau, Sety đã phong cho Ramses quyền đồng nhiếp chính và để đánh dấu sự kiện này ông lập cho Ramses một hậu cung của riêng mình gồm toàn những phụ nữ xinh đẹp thuộc hoàng tộc, những bông hoa đẹp nhất của cung điện; theo tôi nghĩ đó là một món quà tuy hấp dẫn nhưng cũng đầy cám dỗ đối với một chàng trai còn độ tuổi thiếu niên.

Ramses duy trì hậu cung này trong suốt 67 năm trị vì, và không nghi ngờ gì hẳn ông lấy làm mãn nguyện. Nhưng hai bà vợ mà ông ưng ý nhất là Nefertari, người ông cưới trước khi lên ngôi, và Isetnofret, người ông cưới trong những năm đầu trị vì.

Mặc dù Nefertari và Isetnofret là những người vợ ưng ý, hậu cung của ông nổi tiếng vì chứa hơn 300 bà, sinh cho ông hơn 150 con trai và 70 con gái. Danh sách các con cái của Ramses được ghi chép ở Karmak theo thứ tự ra đời __ mặc dù con số này có thể được phóng đại để cho thấy ông mắn con ra sao.

Thực tế, Ramses II có tối đa 46 con trai và 55 con gái. Vâng, con số này thấp hơn con số ghi chép chính thức, nhưng như vậy cũng là quá nhiều rồi! Ramses và Nefertari có nhiều con, ít nhất mười đứa đã được ghi nhận, nhưng buồn thay tất cả đều chết trước Ramses. Các con của ông với Nefertari là:

Amenhirwenemef (con trưởng) ở trong quân đội và giữ chức tổng tư lệnh.

Prehirmenemef (con trai thứ ba) là cựu binh thanh thiếu niên của mặt trận

Kadesh lần hai và được tưởng thưởng tước vị ‘đệ nhất chiến mã binh của nhà

vua’ và ‘chiến binh đệ nhất hào kiệt’.

Meriamun (con trai thứ 16).

Meritamun (con gái thứ hai) là thứ phi của Ramses vào năm 24 và hành xử như người đại diện cho mẹ đang lâm bệnh.

Baketmut (con gái thứ ba) được tin là chết trẻ, mặc dù lăng mộ của bà chưa

được phát hiện.

Nefertari II (con gái thứ tư) hiện diện trên mặt tiền của đền thờ Abu Simbel.

Nebettawi (con gái thứ năm) là thứ phi thay thế Meritamun sau khi bà này mất. Bà được an táng trong lô QV60, sau đó được sử dụng là nhà nguyện trong thời Cơ đốc giáo.

Henoutawi (con gái thứ bảy) được miêu tả trong đền thờ Nefertari ở Abu Simbel, cho thấy bà là con gái của Nefertari, mặc dù bà mất trước khi đền thờ được thờ cúng.

Isetnofret, vợ thứ hai của Ramses, có ít nhất sáu người con:

Ramses (con trai thứ hai) là một vị tướng trong quân đội và được phong thái tử sau cái chết của ông anh cùng cha khác mẹ Amenhirkhepshef.

Bintanath (trưởng nữ) kết hôn với cha mình.

Khaemwaset (con trai thứ tư) được phong thái tử khi anh mình Ramses đã chết. Khaemwaset là người con của Ramses II được dẫn chứng nhiều nhất. Lúc lên 5, 6 ông đi cùng vua cha và người anh cùng cha khác mẹ Amenhirwenemef chinh chiến trong chiến dịch ở Nubia. Khaemwaset sau đó trở thành trưởng tế của Ptah, một vị thần trong các đền thờ an táng.

Merenptah (con trai thứ 13) kế vị Ramses II lên nối ngôi. Trong 12 năm trị vì cuối cùng, Merenptah cai trị Ai Cập như một đồng nhiếp chính và sau đó lên ngôi sau khi vua cha qua đời.

Isetnofret II cưới anh trai Merenptah của mình.

Các người con khác của Ramses cũng được ghi chép, mặc dù mẹ của họ không được biết; chắc hẳn họ là con của những vợ thứ hoặc thứ phi.

Ngai vàng sau đó về tay Merenptah, con trai tứ 13 của Ramses do Isetnofret sinh hạ.

Theo bước chân vua cha: Kadesh Phần II

Ramses II có tiếng tăm vì có nhiều thành tích, nhưng đặc biệt ông được tưởng nhớ nhờ trận đánh ngoạn mục ở Kadesh chống lại bọn Hittite trong năm trị vì thứ năm. Mặc dù trước đây Sety đã đánh thắng tại Kadesh một lần, nhưng lực lượng quân sự của Ai Cập không đủ mạnh khiến người Hittite trở lại khuấy nhiễu vùng biên giới Ai Cập. Ramses II cần ngăn chận một cách dứt khoát trước khi người Hittite tiến xa hơn. Lần đầu tiên trong lịch sử Ai Cập, Ai Cập là người ra đòn tấn công trong một cuộc chiến.

Vua Hittite đã tiên liệu cuộc tấn công nên tập hợp một đạo quân hùng mạnh bằng cách liên minh với 16 tỉnh lỵ lân cận, gồm tất cả:

✔ 2,500 chiến mã xa, mỗi xe có ba người

✔ Hai quân đoàn kỵ binh tổng cộng lên đến 18,000 đến 19,000 người

Quân số Ai Cập chỉ có 20,000 thua xa quân số kẻ thù là 26,000. Có lúc, các ghi chép cho biết quân số Ai Cập chỉ bằng một phần ba quân số của người Hittite.

Cả hai bên đối địch đều dùng nhiều loại vũ khí giống nhau, nhưng chiến thuật tấn công thì khác nhau:

✔ Người Hittite sử dụng vũ khí bằng sắt cứng trong khi người Ai Cập chủ yếu dùng vũ khí bằng đồng.

✔ Chiến mã xa Ai Cập chở theo hai người (một người điều khiển và một người chiến đấu), trong khi chiến mã xa Hittite chở theo ba người (một người lái, một người ném giáo hay cung thủ, và một người mang khiên che chắn hai người kia). Trong khi chiến mã xa Ai Cập nhẹ hơn và linh hoạt hơn, thì chiến mã xa Hittite cho phép họ chở theo nhiều quân số hơn.

✔ Quân đội Ai Cập cũng sử dụng bộ binh chạy theo để bao vây chiến mã xa địch khi họ  xông vào trung tâm quân địch giữa làn mưa tên Ai Cập. Sau đó bộ binh tấn công từ mặt đất trong khi kẻ thù vừa hoàn hồn sau trận mưa tên tới tấp.

 

Trận chiến

Quân đoàn của Ramses II tiến đến Levant (ngày nay là Israel, Jordan, Lebanon, và tây Syria) và cứ điểm Kadesh, qua dảy Gaza, với bốn sư đoàn lấy tên các thần Ptah, Ra, Seth, và Amun (Ramses II chỉ huy sư đoàn Amun).

Quân đoàn Ai Cập lội qua sông Orontes cách Kadesh 20 km về phía thượng lưu, phong tỏa đường phía bắc trước khi tiến vào một khu rừng gần đó. Quân đoàn dàn trận trên một khu vực rộng lớn, bốn sư đoàn tách xa nhau. Các thám báo Ai Cập sau đó bắt được hai tên Hittite khai báo một số mật tin:

 Rồi hai tên Shosu của bộ lạc Shosu tâu với nhà vua rằng, “Những người anh em của thần là tù trưởng vốn có tư thù với Khatti [Thủ lĩnh Hittite] đã phái chúng thần đến để thưa với bệ hạ là chúng tôi muốn sẵn sàng bỏ hàng ngũ của Khatti về làm tôi tớ cho bệ hạ.’ Nhà vua hỏi họ, ‘người anh em của nhà ngươi hiện giờ ở đâu?’ và họ trả lời đức vua, ‘Họ hiện

đang ở cùng với Thủ lĩnh Khatti ở vùng Khaleb phía bắc Tunip, hắn sợ bệ hạ sẽ tiến về hướng nam khi hắn nghe tin bệ hạ đã tiến về hướng bắc.’ Nhưng cả hai tên Shosu đều báo với đức vua những điều sai sự thật.

Ramses tin rằng người Hittite đóng quân xa về hướng bắc hơn ông kỳ vọng. Quân Ai Cập tiếp tục tiến về hướng bắc đến thành phố, với sư đoàn Amun hoàn toàn tin chắc sẽ hạ thành không mấy khó khăn, nên tiến đến mục tiêu trước. Khi sư đoàn Amun đến gần thành phố, thêm hai thám báo của địch bị bắt và họ khai là thật ra người Hittite hiện giờ ở ngay hướng bắc của Kadesh và chuẩn bị công kích.

Ramses gởi một tin báo khẩn cấp đến sư đoàn Ra ngay sau lưng ông, cách xa 8 km. Quân Hittite phái 2,500 chiến mã xa đến phía nam doanh trại Ai Cập, bên dưới những tán lá che giấu, rồi thình lình tấn công họ từ phía sau. Nhưng thay vì đột kích quân Ai Cập một cách bất ngờ, quân Hittite đến đối mặt với sư đoàn Ra, đang chầm chậm tiến gần mục tiêu từ phía nam. Cả hai bên đều rất bất ngờ, và khi các chiến mã xa Hittite tháo chạy qua sông, làm sông tắt nghẽn, và những quân Hittite phía sau không có nơi để rút trừ phải quay ra đối đầu với quân Ai Cập.

Quân Hittite xông thẳng qua sư đoàn Ra, binh lính Ai Cập tháo chạy (một số trở vào rừng, một số chạy lên đồi, và một số về hướng sư đoàn Amun). Cả hai sư đoàn Ra và quân Hittite đều nhắm thẳng vào sư đoàn Amun cùng một lúc. Sư đoàn Amun chưa sẵn sàng ứng phó chắc hẳn vì quá bất ngờ. Giống như sư đoàn Ra, Amun bắt đầu phân tán và tháo chạy khi quân Hittite xông thẳng qua đội quân phòng vệ thưa thớt của doanh trại tạm thời của quân Ai Cập.

Ramses hình như là người duy nhất còn bình tĩnh trong suốt cuộc chiến. Sau khi nhanh nhẩu khấn cầu thần Amun, ông tập hợp các chiến mã xa và bộ binh gần nhất và tổ chức phản công cuộc đột kích của quân Hittite. Các văn bản cho biết Ramses một mình chiến  đấu với toàn quân Hittite, một sự kiện hình như là không chắc chắn lắm __ nhưng thôi, vua Ai Cập là một vị thần mà.

Muộn còn hơn không

May mắn cho Ramses, sư đoàn thứ ba của Ai Cập, đang hành quân dọc theo bờ biển, đến vừa kịp lúc. Mặc dù vẫn còn bị áp đảo về mặt quân số, nhưng quân Ai Cập tìm cách đẩy lùi bọn Hittite. (Tuy nhiên, trong thực tế, người Hittite chỉ sử dụng một phần nhỏ trong quân số của họ và vì một lý do nào đó không chịu triển khai đội quân còn lại. Nếu không thì trận đánh này chắc hẳn đã kết liễu đời của Ramses Đại Đế.

Khi người Hittite biết chắc là tình thế đã bất lợi cho họ, họ tháo chạy vào trong thành lũy Kadesh. Người Ai Cập thu gom những binh sĩ bị thương, cắt bàn tay những binh lính Hittite đã tử trận để làm sổ sách chiến trường, và rút quân về tuyên bố mình đã thắng trận vẻ vang!

Đàm phán hòa bình

Mười sáu năm sau trận chiến Kadesh thứ hai, người Ai Cập và Hittite cuối cùng chấm dứt hận thù. Một thỏa hiệp hòa bình được soạn thảo, và đây là tài liệu hoàn chỉnh duy nhất thuộc loại này được phát hiện ở Ai Cập:

Sẽ không bao giờ còn hận thù giữa họ: Thủ Lĩnh Vĩ Đại của Kheta [Hittite] sẽ không bao giờ xâm nhập đất đai Ai Cập, không chiếm đoạt bất cứ thứ gì từ đó. Ramses Meriamun [con cưng của thần Amun] nhà cai trị Ai Cập sẽ không bao giờ vượt qua đất đai của Kheta và chiếm đoạt bất cứ thứ gì từ đó.

 Ngoài một phiên bản Ai Cập của thỏa hiệp hòa bình này, một bản sao Hittite cũng được phát hiện tại thủ đô Hattushash của Hittite nay là Thổ Nhĩ Kỳ.

Dĩ nhiên, như bao thỏa hiệp hòa bình khác, thỏa hiệp này chỉ kéo dài khi hai người ký nó còn sống, có nghĩa là rồi đây chiến tranh sẽ lặp lại lần nữa với những đời vua sau.

Tấn công ồ ạt biên cương: Merentah

Người lên kế vị ngai vàng của Ramses là con trai thứ 13 của ông: Merenptah (1212-1202 BC). Thời trị vì của Merenptah chứng kiến trở lại vấn đề Lybia, vấn đề từng xảy ra dưới triều vua Sety I. Chiến tranh với người Lybia được ghi chép trên một bản chạm khắc tại Karnak cũng như nhiều bia ký khác.

Trong năm trị vì thứ năm của Merenptah, người Lybia liên minh với nhiều bộ tộc khác nhau. Quân số lên đến 25,000 người, lực lượng này thường được biết dưới tên Dân Miền Biển. Họ đủ mạnh để xâm nhập những pháo đài dọc theo vùng Châu thổ phía tây và tràn ngập đội quân phòng thủ của Ai Cập. Dân Miền Biển rõ ràng di chuyển đến Ai Cập với âm mưu xâm chiếm nó, vì nhiều người mang cả gia quyến đi theo và tất cả đồ tế nhuyển được chất đống lên xe bò.

Merenptah hành quân đến vùng Châu thổ với một quân đội tuyển chọn, chủ yếu là cung thủ. Nhờ vậy họ có thể tiến sát quân địch để bắn một trận mưa tên trước khi quân địch có thể tiến gần đánh cận chiến tay đôi, vốn là điểm mạnh của quân Lybia.

Cuối cùng, chiến thắng thuộc về người Ai Cập. Ghi chép của họ cho thấy họ đã giết 6,000 quân Lybia, bắt được 9,000 tù binh, kể cả vợ và con của thủ lĩnh.

Chiến thắng này giúp người Ai Cập sống trong hòa bình thêm một lần nữa. Các ghi chép xác nhận rằng người Ai Cập bây giờ có thể ‘bước đi tự do trên đường’ và ‘ngồi xuống chuyện trò mà không lo sơ’.

Dĩ nhiên, buồn thay hòa bình không được lâu dài, khi con trai Ramses III của Merenptah chẳng mấy chốc phát hiện ra điều đó.

 

Dong Buồm đến Chiến Thắng: Ramses III

Thời trị vi của Ramses III (1182-1151 BC) là một thời kỳ khó khăn, hứng chịu nhiều cuộc xâm lược, mà quan trọng nhất là cuộc tấn công lần nữa của người Lybia và Dân Miền Biển.

Lại đánh thắng Dân Miền Biển

Cuộc tấn công của người Lybia vào năm trị vì thứ năm của Ramses III rất giống với trận đánh mà Merenptah giải quyết. Một đạo quân 30,000 người gồm người Lybia và Dân Miền Biển đối đầu với Ramses III. Các ghi chép nói rằng Ramses III giết được 12,535 người và bắt được 1,000 tù binh __ một chiến thắng dòn dã, nếu ghi chép là thật.

Tuy nhiên, trong thực tế, Dân Miền Biển là đội quân đầu tiên đủ hùng mạnh để đánh thắng được quân Hittite, nhờ đó kiểm soát con đường giao thương vào Cận Đông trên biển và trên bộ. Trên đất, Dân Miền Biển chiến đấu theo cách tương tự như người Hittite với chiến mã xa ba người. Nhưng các chiến thuyền của họ nhỏ hơn chiến thuyền Ai Cập,

và không có tay chèo riêng. Thay vào đó, Dân Miền Biển vừa chèo thuyền vừa chiến đấu. Điều này đúng là bất lợi so với chiến thuyền Ai Cập, trong đó có 24 tay chèo chuyên nghiệp, có bờ thuyền cao che chắn, thêm các chiến binh đi kèm.

Ramses III đối đầu Dân Miền Biển trên biển và trên bộ và chiến thắng trên cả hai mặt trận. Trận hải chiến của ông là một trong những trận hải chiến xưa nhất được ghi lại trong lịch sử. Đội thuyền Ai Cập đi theo đội thuyền Dân Miền Biển vào cửa sông của Châu thổ, ép chúng vào bờ, nơi các cung thủ Ai Cập đang chực sẵn và bắn ra trận mưa tên. Dân Miền Biển liền vỡ trận.

Binh lính Ai Cập dùng tên lửa bắn vào chiến thuyền địch và giết hầu hết quân địch. Chiến thuyền Ai Cập sau đó dùng mũi thuyền đâm vào thuyền địch, rồi quăng móc sắc tóm lấy thuyền địch và nhào lên đánh cận chiến. Chiến thuật này đã làm Dân Miền Biển vỡ trận hoàn toàn. Ai Cập lại có hòa bình một lần nữa.

Bọn Lybia quấy nhiễu lại đến

Vào năm trị vì 11 của Ramses III, bọn Lybia cho rằng đã đến thời cơ vượt biên giới Ai Cập lần nữa. Lần này, ghi chép cho thấy Ramses đã giết 2,175 quân địch và bắt làm tù binh hơn 2,000 người. Sau đó ông truy kích kẻ thù 11 dặm vào tận Tây Sa Mạc để bảo đảm chúng không quay lại quấy rối.

Vào cuối thời trị vì của Ramses III vinh quang của đế chế Ai Cập kết thúc. Ramses III là vị vua cuối cùng cai trị đúng phong cách truyền thống. Những thời kỳ sau này Ai Cập bị vây bủa bởi những cuộc xâm lấn, đất đai bị chia cắt, nền kinh tế sụp đổ. Đế chế mà Thutmosis III xây dựng và Sety I và Ramses III bảo tồn dần dần biến mất __ và nền văn minh Ai Cập cũng tan biến theo cùng với nó.

Chương 5

Nhìn Vào Quyền Lực Phía Sau Ngai Vàng: Các Phụ Nữ trong Hoàng Tộc

 

Trong Chương Này

⮚ Khám phá vai trò các phụ nữ trong hoàng tộc

⮚ Hậu cung của hoàng hậu

⮚ Nhận diện những nhà nữ quyền đầu tiên

 Có lần tôi bị hố, khi được giới thiệu với một cô gái, và buột miệng hỏi, ‘Cô là bạn gái của Toby, đúng không?’ Và được cô ta đáp lại, ‘Không! Tôi là Clare.’

Đối với các phụ nữ hiện đại, được biết đến thông qua mối liên hệ của họ với chồng, anh em, hoặc cha rõ ràng là không được chấp nhận. Trong thời cổ Ai Cập, đây đúng là cách mà người phụ nữ __ nhất là phụ nữ thuộc hoàng gia __ được nhận diện. Chương này bóc trần cuộc sống không mấy hấp dẫn của những bà mẹ, người vợ, và chị em gái thời cổ xưa này. (Chương 2 đã bàn về cuộc sống của những phụ nữ bình thường.)

Xem Xét Vai Trò của Phụ Nữ trong Hoàng Gia

Vài trò của phụ nữ hoàng gia chỉ được xác định bằng mối liên hệ của họ đối với nhà vua. Mối liên hệ này được nhận diện bằng một số tước vị xuất hiện trong các đền thờ, lăng mộ, và tư liệu của thời kỳ đó. Hãy xem qua những tước vị của các phụ nữ thuộc hoàng tộc:

✔ Vợ Chính của vua

✔ Vợ vua

✔ Mẹ vua

✔ Con gái vua

Không có vua, người phụ nữ thuộc hoàng tộc không có vai vế hoặc vai trò gì trong cung cấm, và hiển nhiên quyền lực gắn liền với mỗi vai trò tăng lên khi mối liên hệ với nhà vua trở nên gần gũi hơn. Mỗi tước vị cho các phụ nữ những quyền lực và cơ hội khác nhau, mặc dù làm nhà vua hạnh phúc là việc quan trọng nhất.

Đám cưới hoàng gia: Anh và em gái

Trong nhiều năm, các nhà Ai Cập học tin rằng việc truyền ngôi là qua các phụ nữ. Do đó nhà vua cần cưới một người nữ thừa kế ngai vàng để hợp pháp hóa vương quyền của mình. Lý thuyết này phát triển như một cách giải thích những cuộc hôn nhân giữa anh em trai-chị em gái (thường xảy ra trong hoàng gia, mặc dù là điều cấm kỵ đối với dân thường). Tuy nhiên, nhiều ông vua không cưới những phụ nữ thuộc hoàng tộc, lý thuyết này đã bị loại bỏ và rõ ràng là ngai vàng được truyền qua nam giới __ từ cha đến con trai.

Mặc dù vương miện không được chuyển qua gia đình quý bà, các công chúa cũng phải lấy chồng. Dù ngai vàng truyền theo đường nam giới, nhưng nếu người thừa kế nam không có thì sao? Trong trường hợp này, chẳng may công chúa kết hôn với một người ngoài hoàng tộc, người này có đủ lý do lên nối ngôi. Qua những cuộc hôn nhân loạn luân, mọi công nương đều nên kết hôn sớm như có thể để ngăn cản những người ngoài hoàng tộc lên nối ngôi. Công chúa có thể kết hôn với anh trai, cha ruột, hay thậm chí ông nội mình như một biện pháp đề phòng. Đôi khi gặp may mắn, họ được vua cha gả cho một viên tướng được tin dùng __ nhưng chỉ khi nhà vua đã có một người con trai nối dõi. Tập quán này phân biệt hoàng gia với dân thường; các hôn nhân loạn luân chỉ xảy ra trong hoàng gia và giới thần linh, điều này chỉ ra rằng hoàng gia cũng là thần thánh.

Tuy nhiên, nếu được vua cho phép, Em Gái Vua (quận chúa) có thể cưới một người ngoài hoàng tộc nếu người này được chấp nhận và thuộc dòng dõi quý tộc nhưng không thuộc hoàng tộc (chẳng hạn, một quan văn hay quan võ của triều đình). Ramses II, chẳng hạn, cho phép em gái mình Tia cưới một viên chức, cũng tên Tia, một cựu quân nhân và rất được tin dùng.

Để vấn đề thêm phần rắc rối, tước vị Em Gái Vua thường được phong cho một người vợ. Từ ‘em gái’ chưa hẳn là em gái ruột của nhà vua. Trong thời cổ Ai Cập, ‘em gái’ được sử dụng để chỉ sự trìu mến đối với người ta yêu quý, cho dù người đó không có họ hàng máu mủ. Rắc rối chứ hả?

Vợ Chính của Vua và những người khác

Là Vợ Vua __ có khi là em gái ruột hoặc không __ không oách như ta tưởng. Vợ không có quyền, và có khi hàng trăm bà được nhận tước vị này. Hoàng hậu có quyền duy nhất là Vợ Chính của Vua, tương đương với ‘Đệ nhất Phu nhân’ bây giờ. (Mặc dù thường thì vua chỉ có một bà vợ chính, Ramses II có đến hai: Nefertari và Isetnofret.)

Trong Vương quốc Cổ, Vợ Chính của Vua được quyền có kim tự tháp của riêng mình, và trong Tân Vương quốc, tên bà được viết trong một cartouche như nhà vua (xem hình bên và Chương 11 về cartouche).

Cho dù Vợ Chính của Vua có địa vị quan trọng, tước vị này cũng không phải là cố định. Nhà vua có thể phong một bà vợ khác lên địa vị này nếu bà ta làm vừa lòng mình __ thường là sinh cho vua một con trai nối dõi nếu Vợ Chính của Vua không có con trai hoặc qua đời.

Hơn nữa, Vợ Chính cũng chỉ có đồng hành với nhà vua cho có đôi, chứ không tham gia vào các lễ thờ cúng hoặc nghi thức của hoàng gia mà nhà vua làm chủ. Về lý thuyết, các con trai của Vợ Chính có vai vế hơn các  con trai  các bà vợ thứ, và người con trai cả sẽ là người thừa kế ngai vàng.

Mẹ  Vua: Hoàng thái hậu

Mẹ Vua là một tước vị quan trọng đặc biệt. Một người đàn bà có thể giữ tước vị này cùng với những tước vị đã có trước khi con trai mình lên ngôi. Trường hợp ly tưởng là Mẹ Vua (mẹ của vì vua đương thời) cũng là Vợ Chính của Vua (vợ chính của vua cha đã băng hà, cũng là cha ruột của vì vua đương thời), hoặc là Vợ của Thần Amun (xem mục sau ‘Kết hôn với Amun’). Nếu bà không có những tước vị này trước khi con trai mình lên ngôi, người con trai thường phong tặng những tước vị đó cho bà như những tước vị danh dự sau khi ông ta lên ngôi, để tỏ lòng tôn kính và củng cố tính thần thánh cũng như vị thế của mình bằng cách chứng tỏ mình xuất thân từ dòng dõi vua chúa.

Như Vợ Chính của Vua, Mẹ Vua là một tước vị bán thần thánh và biểu thị của vương quyền trong lãnh vực nữ giới. Cả hai tước vị Vợ Chính của Vua và Mẹ Vua đồng hành với nhà vua trong những lễ cúng bái thần thánh, mặc dù họ không trực tiếp điều hành.

Con gái của cha: Con Gái Vua

Tước hiệu Con Gái Vua không bao giờ được phong như một tước hiệu danh dự, mặc dù nó được sử dụng bởi con gái lẫn cháu nội của vua. Con Gái Vua đôi khi cũng là Vợ Vua do những cuộc hôn nhân thực sự hoặc chính trị. Con Gái Vua không giữ quyền bính nào thực sự khác hơn là do gần gũi với nhà vua.

Một số những cuộc hôn nhân giữa cha-con gái và ông nội-cháu nội cũng sinh ra con cái, cho thấy một số dàn xếp tưởng là hình thức hóa ra cũng là những hôn nhân theo đúng nghĩa.

Các cuộc hôn nhân vì chính trị

Đối với những phụ nữ Ai Cập, kết hôn không hề đơn giản __ và chắc chắn không hề lãng mạn. Phụ nữ có ít hoặc không có ý kiến về việc mình lấy ai và khi nào lấy, và đơn giản chỉ là những con cờ trên bàn cờ chính trị. Các thử thách có nhiều, như những mục sau sẽ trình bày.

Hôn nhân như chính sách trong quan hệ quốc tế

Hầu hết những vì vua thời Tân Vương quốc có những cuộc hôn nhân ngoại giao để gắn kết những liên minh giữa hai quốc gia. Những cuộc hôn nhân chính trị không có dính dáng gì với tình yêu và lãng mạn. Một số bức thư đã được phát hiện mô tả hai loại hôn nhân ngoại giao:

✔ Nếu vua nước ngoài ngang hàng với vua Ai Cập, hai bên sẽ coi nhau như anh em, và các cuộc dàn xếp hôn nhân trên tinh thần bình đẳng.

✔ Nếu nước ngoài là chư hầu, vua Ai Cập được thưa gởi là ‘bệ hạ’. Những nàng dâu này được coi như chiến lợi phẩm.

Sau khi những cô dâu ngoại giao này đi vào Ai Cập với đoàn tùy tùng đôi khi đông hơn 300 người, họ không còn được phép liên lạc với gia đình vì sợ sẽ báo tin mật về cho nước mình. Cụ thể, một lá thư từ vua Hittite gởi vua Ramses II hỏi thăm tin tức con gái ông, sau khi được gả cho Ramses trong một cuộc hôn nhân ngoại giao, cho thấy là cô dâu không hề có liên lạc gì với gia đình mình. (Hittite là một đế quốc rộng lớn, có kinh đô nằm trong Thổ nhĩ kỳ.

Mặc dù các vua Ai Cập lấy các công chúa ngoại bang, các công chúa Ai Cập không hề lấy các vua chúa ngoại quốc. Sự phân biệt này được làm rõ trong một bức thư ngoại giao mà Amenhotep III đáp lại lời thỉnh cầu của vua xứ Babylon xin cưới một công chúa Ai Cập. Vua Babylon được trả lời như sau:

Từ xa xưa, con gái của vua Ai Cập chưa bao giờ được gả theo ý ai cả.

Phát biểu này chắc hẳn là điều sỉ nhục đối với vua Babylon, bởi vì em gái ông ta đã là một thành viên của hậu cung Ai Cập.

Những bà vợ biến mất

Vấn đề biến mất của các bà vợ xảy ra rất thường trong thời Tân Vương quốc __ mặc dù nó không phải do các nguyên nhân siêu nhiên hay tai ách gì. Các phụ nữ thường được đưa về hậu cung ở Faiyum (xem mục sau), sau đó nhà vua hay gia đình họ không bao giờ được nghe tin tức gì về họ nữa.

Cưới thần Amun

Cũng như cưới vua, các bà thuộc hoàng tộc cũng có thể cưới thần Amun. Amun là vị thần tạo ra mặt trời được tôn thờ chủ yếu ở Thebes tại đền thờ Karnak. Từ vương triều 18 trở đi, tước vị Vợ Thần Amun rất quan trọng và chỉ do phụ nữ trong hoàng gia nắm giữ.

Đảm đương trách nhiệm

Ahmose I đưa vào tước vị Vợ Thần Amun như là một cách vinh danh mẹ Ahhotep của mình. Ông ta phong vợ ông Ahmose-Nefertari tước vị Tiên Tri Thứ Hai của Amun, vốn là một tước vị thường dành cho nam giới. Là Tiên Tri Thứ Hai của Amun, Nefertari hoạt động như một người đại diện của Ahhotep, chứng tỏ rằng bà thừa hưởng vai trò đó.

Tước vị Vợ Thần Amun lúc đầu là mẹ truyền con gái nối, nhưng vào vương triều thứ 23 và thời trị vì của Osorkon III, những công nương này bị buộc phải sống độc thân và phải nhận con gái nuôi để thừa kế tước vị.

Vợ Thần Amun là một vị trí có nhiều quyền lực, đặc biệt trong đền thờ Karnak. Vào vương triều 19 và 20, tước vị này có đặc quyền sánh ngang với các Trưởng Tế.

Mặc dù ta biết được một số tên các Vợ Thần Amun, nhiệm vụ chính xác của họ vẫn không được rõ. Từ vương triều 21 (khoảng 1080 BC), các sử gia biết rằng các Vợ Thần Amun đảm đương một số trách vụ gắn liền mật thiết với vương quyền, phản ảnh quyền hạn của vai trò. Đặc biệt, họ

✔ Có quyền viết tên họ trên các cartouche (xem Chương 11 về cartouche)

✔ Có quyền nhận đế hiệu (một đặc quyền thường dành riêng cho nhà vua)

✔ Được vẽ trong các nhà nguyện của họ cảnh họ được nữ thần Hathor cho bú, chứng tỏ họ thuộc dòng dõi thần linh.

✔ Được tôi tớ xưng là ‘tâu lệnh bà’

Từ thời trị vì của Osorkon III (vương triều 23), Vợ Thần Amun có quyền hạn phía sau ngai vàng. Osorkon bắt Trưởng Tế đền thờ Amun phải hiến tặng tất cả tài sản của họ cho Vợ Thần, nhằm làm giảm quyền lực của y. Vì Vợ Thần Amun là họ hàng với nhà vua, bà ta nằm dưới quyền của ông ta, do đó quyền lực của bà lại giao về ông __ thật là mưu trí.

 

Hưởng thụ đặc quyền

Khi một hoàng hậu nhận được tước vị Vợ Thần Amun, bà ta cũng nhận được tài sản đất đai và nhân lực. Qua những tài nguyên này, bà có thể tạo ra lợi tức đến suốt đời, mà bà có thể sử dụng làm của riêng hay hối lộ các viên chức sở tại.

Quyền lực gắn liền với tước vị Vợ Thần Amun tiếp tục cho đến kiếp sau. Những phụ nữ này được chôn cất trong những nhà nguyện dành riêng cho họ ở Medinet Habu. Các phần mộ của họ nằm bên dưới nhà nguyện cùng với biết bao vật dụng an táng tương xứng với địa vị của họ. Linh hồn của họ được nuôi dưỡng bằng những thức ăn và thức uống được thờ cúng trong nhà nguyện nhiều năm liền sau khi họ qua đời.

Vợ Thần Amun cũng xây dựng những nhà tưởng niệm riêng cho mình ở đền thờ Karnak, đây là điều đặc biệt vì phụ nữ, thuộc hoàng tộc hay không, không có nhà tưởng niệm riêng của mình. (Phụ nữ thường được miêu tả trên các bức tường của lăng mộ và trên các hình chạm khắc của chồng mình.) Nhưng ở Karnak, các nhà nguyện của Vợ Thần Amun cho thấy các bà đứng trước hình thần Amun, cũng như tiến hành các nghi thức tôn giáo mà thường chỉ do nhà vua đảm đương.

 

Sống với nhà vua

Nhiều phụ nữ trong hoàng gia, hoặc là anh em, vợ, hoặc con cái hiếm khi __ hoặc không bao giờ trông thấy nhà vua. Nhà vua sống hầu hết thời gian trong cung điện của ông ở kinh thành hoặc đây đó khắp nơi, dừng chân nghỉ tại các cung điện trên đường. Ngược lại, các mệnh phụ thường không đi cùng với nhà vua và sống tại một trong các hậu cung rải rác khắp xứ.

Hậu cung là những tòa nhà an toàn cho các phụ nữ thuộc hoàng gia và thuộc thành phần ưu tú chưa chồng. Mỗi hậu cung là một gia trang tự cung tự cấp với đất đai, gia súc, và một số nam nhân phục dịch (không phải là hoạn quan). Các con cái hoàng gia sống trong một khu của hậu cung. Hậu cung chắc chắn là một nơi xa hoa nhưng các mệnh phụ phải sống trong chốn kính cổng cao tường, không có mấy tự do.

Thứ bậc nào, nơi chốn ấy

Một phụ nữ hoàng gia càng ở xa vua, thứ bậc của họ càng kém. Tầm quan trọng của mỗi hậu cung là nó ở xa chính điện của nhà vua bao xa. Vị trí thay đổi theo ý muốn của nhà vua. Một số hậu cung ở thời Tân Vương quốc được biết đến ngày nay là ở các thị trấn khác nhau:

✔ Memphis phía bắc Ai Cập

✔ Gurob ở vùng Faiyum

✔ Malkata, cung điện của Amenhotep III

✔ Bắc Cung ở Armana

✔ Pi-Ramess, thành phố thủ đô của Ramses II trong vùng châu Thổ

✔ Medinet Habu (đền thờ cúng Ramses III) ở Tây Thebes

Mỗi nhà vua cần một nơi để an bày nhiều bà vợ của mình, vì thế chắc hẳn số hậu cung phải nhiều hơn số hiện còn sót lại. Ramses II được cho là có hơn 300 bà vợ, và Amenhotep III theo lời đồn có hơn 1,000 người.

Hãy tận hưởng: Hậu cung ở Medinet Habu

Các bà vợ được sủng ái sống tại những hậu cung sát nơi vua ở__ như hậu cung Ramses III ở Medinet Habu, Thebes, trung tâm thủ đô tôn giáo của Ai Cập. Thebes là một thành phố đô hội thời Tân Vương quốc (hình dưới). Nhà vua thường sống ở đây. Các bà vợ ở Medinet Habu du hành cùng với nhà vua và dừng lại nghỉ tại các hậu cung xa hoa dọc đường.

8

Cổng vào Medinet Habu rỗng và được trang trí bằng những cảnh Ramses III âu yếm với các bà vợ của mình. Các hình chạm khắc trên trụ cổng vào không nói rõ nó được sử dụng vào việc gì, và trong nhiều năm các nhà Ai Cập học tin rằng trụ cổng là một hậu cung. Tuy nhiên, về mặt lôgic, các bà vợ vua không thể sống trong các trụ cổng, vì không an toàn và vì họ có thể bỏ trốn. Hợp lý hơn cổng vào là nhà nghỉ của họ, vì ngoài một số phòng (không có phòng nào là phòng ngủ), địa điểm này còn có một phức hợp mái che với những kiến trúc nhỏ khiến các bà có thể ngồi bên ngoài ngắm phong cảnh. Từ vị trí này, họ có thể nhìn ra ngoài, chứng kiến những đám rước và nghi lễ tôn giáo, và nói chung ngắm nhìn thế giới bên ngoài mà không bị lộ diện.

Các bà ở Medinet Habu cư ngụ thường xuyên trong các cung điện giữa các vòng tường vây quanh, với nhiều dãy phòng gồm phòng ngủ, phòng trang điểm, và phòng sinh hoạt. Phòng tiếp khách có bục cao, trên đó có ngai vàng cho Vợ Chính của Vua ngồi. Cung điện cũng có hai phòng tắm, đầy đủ ống thoát nước, và một vườn thượng uyển có hồ.

Nhà vua thường đến hậu cung này như các hình vẽ trên Giá Lâm Môn dẫn từ cung điện đến sân đầu tiên của đền thờ đã miêu tả. Nhà vua xuất hiện ở đây vào những ngày lễ hội để ban tặng các đồ trang sức bằng vàng cho các bầy tôi mà mình sủng ái __ và sau đó có thể cho các cung phi mà mình ưa thích.

Lãnh cung ở Faiyum

Các nhà Ai Cập học có nhiều ghi chép về hậu cung Faiyum thời Tân Vương quốc __ một hậu cung dành cho các phi tần ‘không vừa lòng vua’. Trong chốn xa xôi này các bà không còn dính dáng gì với nhà vua nữa và dễ dàng bị lãng quên.

Một bà phi bị thất sũng do nhiều lý do. Có thể bà ta già quá không thể có con cho vua được, hoặc bà ta là người vợ ngoại giao, hoặc đơn giản chỉ vì nhà vua chán chê bà ấy. Các phụ nữ này chắc hẳn vô cùng phiền muộn khi được gởi xuống lãnh cung Faiyum, vì họ biết là họ không bao giờ có thể ra khỏi nơi đó. Và nhà vua không chắc sẽ thân hành đến đây, cơ hội có con với vua để được sủng ái trở lại là điều hình như không thể.

Tuy nhiên, các bà ở Faiyum cũng có việc làm trong các xưởng dệt vải tại chỗ, sản xuất ra vải lanh cho các cung điện khác. Hoạt động này là phương tiện cho họ sinh tồn, cũng như giúp họ khuây khỏa. Các bà lớn tuổi chắc hẳn bận bịu với việc thêu thùa, hay các công việc vặt vãnh, cũng như chỉ dạy những người trẻ mới đến. Những phụ nữ không tham gia vào việc dệt vải thì nấu nướng, làm vườn. Chắc hẳn cuộc sống này không mấy người mới được tuyển vào cung từng tưởng tượng đến.

Hậu cung Faiyum cũng có một nghĩa trang, chắc chắn để chôn cất những người sống tại đây. Những phụ nữ này không có cơ may đến gần vua để có thể được an táng tại Thung lũng các Hoàng Hậu đầy vinh dự. Hơn nữa, các hoàng tử trẻ cũng được chôn cất ở Faiyum, cho thấy họ là những hoàng tử cấp thấp có ít hoặc không có cơ hội thừa kế ngai vàng.

 

An táng các hoàng hậu

Các bà vợ và con cái được sủng ái hơn của các vì vua thời Tân Vương quốc được ban cho một lăng mộ tại Thung lũng các Hoàng Hậu ở Luxor, rất gần Thung lũng các Vì Vua. Cách sử dụng Thung lũng thay đổi theo năm tháng, và không chỉ được  sử dụng để an táng các hoàng hậu:

✔ Từ vương triều 18, Thung lũng được dùng để chôn các con trai hoàng gia (hơn 60 phần mộ đường hầm ở đây).

✔ Từ đầu vương triều 19, các hoàng hậu được chôn ở đây, nổi tiếng nhất là Nefertiti, vợ vua Ramses II, được ban tặng một lăng mộ đầy màu sắc.

✔ Từ thời trị vì của Ramses III (triều đại 20), các hoàng tử lại lần nữa được chôn tại đây.

✔ Từ thời trung gian thứ ba, địa điểm này dành để chôn những người không thuộc hoàng gia và tiếp tục làm nghĩa trang cho đến thế kỷ thứ tư AD.

Các lăng mộ trong Thung lũng các Hoàng Hậu nhỏ hơn trong Thung lũng các Vì Vua và thiết kế ít phức tạp hơn. Các lăng mộ hoàng hậu được đục trong đá kém chất lượng, và nhiều lăng mộ bị bỏ dỡ giữa chừng trong thung lũng. Những lăng mộ hoàn tất được quét vôi và sơn chứ không được trang trí bằng tranh chạm khắc.

Nhớ các nhà nữ quyền

Hơn 3,000 năm trong lịch sử Ai Cập, không có nhiều phụ nữ nổi lên như những nhân vật mạnh mẽ hoặc đầy quyền lực, bởi vì họ lúc nào cũng bị cánh đàn ông như nhà vua lấn lướt.

Tuy nhiên, cũng có một ít phụ nữ đã nổi lên như một người không theo hệ thống một mình cầm quyền cai trị, hay những người đảm đương tiếp sức cho công việc được hoàn thành, hoặc vì nhà vua bạc nhược hoặc do tình hình chính trị.

Có lẽ ba người phụ nữ sau đây là sản phẩm của thời thế __ hoặc có lẽ họ thực sự là một số ít trong những nhà nữ quyền đầu tiên của thế giới.

Ahotep: Hoàng hậu chiến binh

Hoàng hậu Ahhotep của vương triều 17 và 18 là người phụ nữ hoàng tộc có quyền lực đầu tiên của Tân Vương quốc, mặc dù do thời thế nhiều hơn là tham vọng. Bà kết hôn với Seqenenre Tao II và có ít nhất hai con trai __ Ahmose, người thành lập vương triều 18, và Kamose. Cả chồng và con trai Kamose của bà đều mất trong trận chiến với người Hyksos (xem Chương 3), và bà sợ con trai út của mình, Ahmose, cũng theo vết xe đổ.

Trong khi các người đàn ông của mình đều ra chiến trường, Hoàng hậu Ahhotep trị vì Ai Cập đâu ra đấy từ kinh thành ở Thebes. Sau khi chồng mất và trong khi con trai Kamose còn quá nhỏ để trị vì, bà hành động như một nhiếp chính cho con. Sau khi con đầu mất, bà lại trị vì lần nữa cho đứa con thứ hai, Ahmose. Đây là vai trò không bình thường đối với một phụ nữ.

Trong thời khắc chính trị không mấy ổn định, Ahhotep đảm đương nhiều trách vụ, khôngbchỉ là việc quản trị đất nước. Một bản khắc ở Karnak cho biết vai trò của bà khi là nhiếp chính cho Ahmose:

 Bà là người thực hiện các nghi thức và chu toàn cho Ai Cập. Bà đã chu cấp và ổn định quân đội. Bà kêu gọi những người bỏ trốn và tập kết những kẻ đào ngũ. Bà bình định Thượng Ai Cập và đánh đuổi bọn phản nghịch.

Bản khắc này cho thấy Ahhotep có học hỏi về kỹ năng quân sự, điều có thể thực hiện được vì cung điện nhan nhản các binh lính và tướng lãnh. Bà chắc chắn phải điều hành quân đội vì Kamose và Ahmose còn quá nhỏ để cai trị một mình.

 

Hatshepsut: Nữ hoàng

Người phụ nữ hoàng gia tai tiếng nhất là Hatshepsut (hình dưới), hoàng hậu của vương triều 18, sau này cai trị Ai Cập như một ông vua hơn là một hoàng hậu và làm đảo lộn mọi thứ trong nước.

Khi cha mình, Thutmosis I, mất, Hatshepsut cưới ông anh cùng cha khác mẹ của mình, Thutmosis II, và họ có một con gái trước khi Thutmosis II mất. Khi ông này mất, bà cưới con trai mà chồng bà có với một người vợ khác, và người này lên ngôi là Thutmosis III. Vua không tới ba tuổi vì thế Hatshepsut trị vì thay ông cho tới khi ông đủ tuổi trị vì một mình.

Lúc đầu Hatshepsut sử dụng các tước vị truyền thống như Vợ Chính của Vua hay Vợ của Thần, nhưng bảy năm sau bà hoàn toàn bỏ hẳn các tước vị dành cho hoàng hậu và nhận lấy các tước vị của một ông vua. Trên các đài tưởng niệm bà được miêu tả trong dáng dấp nam tính của một ông vua (hình dưới).

Hatshepsut trị vì một mình với tư cách một vì vua trong 15 năm và sau đó hoàn toàn mất dấu trên các văn bản khi Thutmosis III lấy lại vị trí của mình trên ngai vàng. Xác ướp của bà chưa được tìm thấy, do đó các sử gia không rõ có phải bà chết vì tuổi già hay không (các ghi chép cuối cùng về bà là lúc bà 36 tuổi) hay bà bị mưu sát. Dù thế nào, bà cũng ghi một điểm son trong sử sách cho dù nếu các đời vua về sau có cố tình xóa hết dấu vết về sự tồn tại của bà trong tư liệu, đài tưởng niệm, và bảng danh sách các vì vua đi chăng nữa.

Chú thích: Có thể đọc Hatchepsut, Nữ Pha-ra-ông Ai Cập trong trang Nghiên Cứu Lịch Sử này.

9

Tiye: một mệnh phụ đáng sợ

Một người đàn bà thường được miêu tả như một nhân vật khống chế là hoàng hậu Tiye, mẹ của Akhnaten (hình dưới). Thực ra, các sử gia không biết liệu bà có hay khống chế hay không, chỉ biết là một nhân vật nổi bật.

Tiye kết hôn với Amenhotep III và sinh ra một số con cái, trong đó có Akhenaten. Giữ tước vị Vợ Chính của Vua,  bà trở thành một mệnh phụ hoàng tộc quan trọng nhất trong hoàng cung.

Tiye được miêu tả trong nghệ thuật thường hơn bất kỳ các bà hoàng hậu nào khác trừ con dâu bà là Nefertiti.

Trước thời bà, các hoàng hậu đóng vai trò rất mờ nhạt; họ chỉ yểm trợ chồng khi được yêu cầu, nhưng vẫn lui về phía sau. Tuy nhiên, theo những hình ảnh trong thời vua Amenhotep III trị vì, Tiye được mô tả đi bên cạnh chồng trong một vị thế phụ tá, tham gia cùng với nhà vua trong những lễ hội và nghi thức tôn giáo __ một tập quán không bình thường đối với các hoàng hậu. Bà được vẽ cùng kích cỡ với chồng mình, cho thấy bà ngang hàng với ông. Đôi khi bà cũng được mô tả không có nhà vua bên cạnh __ cũng là điều bất thường.

Tiye nổi tiếng là một phụ nữ mạnh mẽ, ghê gớm. Một số nhà Ai Cập học tin rằng bà cai trị Ai Cập trong những năm cuối của nhà vua Amenhotep III, khi ông mãi mê chốn hậu cung hơn là việc triều chính. Một số người cũng tin rằng bà có ảnh hưởng đến Akhenaten trong cuộc cách mạng tôn giáo của ông (xem Chương 4).

Ảnh hưởng của Tiye đối với chồng và con trai ta chưa được rõ, nhưng chứng cứ cho thấy Tiye có tiếng nói riêng trong việc bang giao quốc tế. Một lá thư từ một ông vua ngoại bang được gởi riêng đến bà, trong đó ông này phàn nàn là từ khi Akhenaten lên ngôi, nhà vua Ai Cập chỉ gởi đến những pho tượng thếp vàng thay vì bằng vàng ròng như đời vua Amenhotep III. Ông vua nước ngoài này kêu gọi bà hãy nhắc nhở và thuyết phục Akhenaten nên gởi quà tặng có chất lượng hơn.

Cả Tiye và Amenhotep III đều được phong thần khi còn sống và được thờ cúng ở đền Sedingan tại Nubia. Tại đây bà được thờ như nữ thần Hathor.

11

Chương 6

Lần Theo Sự Suy Thoái và Sụp Đổ của Văn Minh Ai Cập

 

Trong Chương Này

⮚ Xâm chiếm các quốc gia khác và sống sót sau những cuộc xâm lăng

⮚ Chia quyền cai trị giữa các thủ lĩnh, thành phố, và quốc gia

⮚ Gặp gỡ những nhân vật tiếng tăm: Alexander Đại đế, Cleopatra, và những người khác

 Cho đến cuối thời Tân Vương quốc, Ai Cập là một quốc gia hùng mạnh, kinh tế ổn định, kiểm soát một số lớn các vùng lãnh thổ bao quanh. Ai Cập là một cường quốc phải dè chừng. Tuy nhiên, vào cuối thời Tân Vương quốc trong triều đại 20 (1185-1070 BC), văn hóa Ai cập truyền thống bắt đầu suy thoái. Sự suy thoái này bắt đầu với sự phân chia vương quyền của Ai Cập __ từ một vua sang hai vua (và thỉnh thoàng nhiều hơn) cai trị từ những thành phố khác nhau. Một Ai Cập thống nhất dưới quyền cai trị của một vì vua là một trong những khía cạnh quan trọng của vương quyền, vì thế sự thay đổi này không thích hợp với những truyền thống cổ xưa.

Chương này có tham vọng đề cập đến hơn 1,000 năm lịch sử Ai Cập __ từ thời kỳ huy hoàng sau Ramses II và Ramses III xuống đến bi kịch của Cleopatra.

Lịch sử Ai Cập tại thời điểm này có nhiều khúc quanh __ một số các sử gia hiện đại vẫn còn đang tìm hiểu. Bạn hãy tập trung vào bức tranh rộng lớn hơn ở đây. Trong khi những tiểu tiết thì thú vị, nhưng hãy chú  nhiều hơn đến làn sóng của đổi thay và các giai đoạn trong đó quyền kiểm soát nằm trong tay những nhóm, văn hóa, và quốc gia khác nhau.

Để bạn có một cái nhìn toàn diện vào sự kết thúc của đế quốc Ai Cập cổ đại hơn một ngàn năm lẻ này có thể tóm lược như sau:

Thời kỳ Trung Gian Thứ Ba (1080-525 BC): Đặc điểm của thời kỳ này là có nhiều nhà cai trị đồng thời từ những vùng khác nhau của Ai Cập.

Thời kỳ Cuối (525-332 BC): Đặc điểm của thời kỳ này là sự xâm lăng của ngoại bang và những vương triều thay đổi liên tục.

Thời kỳ Hy lạp-La mã (332-30 BC): Bắt đầu với cuộc xâm lăng của Alexander Đại Đế và kết quả là sự thay đổi văn hóa mạnh mẽ do sự xâm nhập của người Hy lạp vào Ai Cập.

Chia Hai Vùng Đất: Ramses XI và Trở Về Sau

Sự suy tàn của đế quốc Ai Cập bắt đầu vào những năm đầu của thời trị vì của Ramses XI (1098-1070 BC). Quyền lực  nhà vua dần dần suy giảm phần lớn do những vấn đề về kinh tế. Các tăng lữ thần Amun tích lũy của cải và quyền lực. (Mỉa may thay, chính nhà vua đã góp phần vào việc này qua  quà biếu, phẩm vật, và việc xây dựng các công trình ở đền thờ Karnak tại Luxor.) Cuối cùng các thầy tu nắm được quyền lực không kém vua Ramses XI; chỉ trừ nhà vua có một lợi thế hơn là kiểm soát quân đội.

Các vấn đề xảy ra khi Tổng trấn Nubia, Panehsy, xung đột với trưởng tế đền Amun, Amenhotep. Panehsy nắm thế thượng phong trong chín tháng, ngăn thầy trưởng tế thực thi các trọng trách về tôn giáo. Cuối cùng Amenhotep quay sang cầu cứu Ramses XI.

Là một ông vua sùng đạo, Ramses tiến đánh Panehsy, khiến ông này sau đó bị lưu đày đến Nubia, và Amenhotep lấy lại vị thế trưởng tế và giữ vị trí đó một số năm trước khi Herihor kế nhiệm ông.

Herihor bổng thêm lông thêm cánh

Ramses XI vẫn giữ mối giao hảo với dòng tu Amun và phong tặng Herihor các tước vị quân sự mà trước đây Panehsy từng nắm giữ. Đây quả là một sai lầm quá lớn, vì lần đầu tiên một người giữ cả hai tước vị tôn giáo và quân sự, khiến quyền lực của Herihor vượt hơn cả nhà vua.

Herihor lợi dụng tối đa tình thế và đoạt lấy vai trò của vua trong khi Ramses XI tội nghiệp còn đang sống sờ sờ. Ramses biết rõ là Herihor đang chờ đợi mình chết để hoàn tất ý đồ. Mặc dù Herihor chết trước khi có thể trở thành hoàng đế thực sự, ông vẫn nhận một cartouche (xem Chương 11) và truyền lại chức vị cao cấp này cho con rễ là Piankhy, cũng cai trị song song với Ramses. Khi Ramses XI mất, vào năm 1070 BC, bốn năm sau khi Piankhy trị vì, Piankhy tiếp tục cai trị Thebes như một vì vua thực thụ, mặc dù chỉ được vài tháng.

Mặc dù địa vị các thầy tu dòng Amun lên cao, quyền lực của họ không vượt ra ngoài Thebes __ chắc hẳn vì họ không quan tâm.

Cai trị ở phía bắc: Các vua Tanis

Trong khi các thầy tu dòng Amun cai trị nam Ai Cập, phương bắc do Smendes (1069-1043 BC), một người không rõ xuất thân, cai trị. Ông ta cai trị từ Tanis ở đông Châu thổ, được xây dựng từ các tàn tích của thành phố của Ramse II ở Pi-Ramese. Smedes tự phong vương sau khi cưới được một con gái của Ramses XI.

 Smendes truyền ngôi cho Psusennes I (1039-991 BC), và ông này cho phép con gái mình lấy vị trưởng tế dòng Amun, Menkhepere. Cuộc hôn nhân này cho thấy mối giao hảo giữa các nhà cai trị bắc nam. Mối quan hệ nói chung tích cực này giữa hai miền nam bắc tiếp tục suốt thời trung gian thứ ba và đến đầu thời kỳ cuối. Vương triều Tanis, được biết dưới tên triều đại 21, kéo dài xấp xỉ 350 năm, là thời kỳ hưng thịnh, thương mại và kinh tế phát triển.

Nghĩa trang của các nhà vua Tanis được phát hiện vào năm 1939, bao gồm một phần mộ hoàng gia duy nhất còn nguyên vẹn ở Ai Cập. (Ngay cả lăng mộ của Tutankhamun cũng bị trộm ở thời cổ ít nhất hai lần.) Các đồ tạo tác trong lăng mộ này rất ấn tượng nhưng không được dư luận quan tâm vì lúc đó đang bắt đầu Thế Chiến II. Những phát hiện lý thú bao gồm:

Đồ tùy táng của Psusennes I. Xác ướp của Psusennes đeo một mặt nạ thần chết bằng vàng và một quan tài hình người bằng bạc ròng.

Quan tài của Sheshonq I. Quan tài rất đẹp và độc đáo hình chim ưng. Thật ra, bạc thì qu{ hơn vàng vì Ai Cập không có bạc, phải nhập từ nước ngoài.

Thống nhất ngắn ngủi hai vùng đất: Sheshonq I

Vương triều Tanis 22 (945-745 BC), nối gót vương triều 21, cũng do các vua từ Tanis cai trị. Vị vua đầu tiên của thời kỳ này là Sheshonq I (945-924 BC), tự phong vương sau khi lấy con gái của Psusennes II, vị vua cuối cùng của vương triều 21.

Sheshonq hình như là một thủ lĩnh của bộ tộc du mục Meshwesh người Lybia. Mặc dù là người Lybia, Sheshonq I thống nhất Ai Cập đang phân chia và cai trị cả Thượng và Hạ Ai Cập. Sở dĩ ông làm được điều này vì con trai ông giữ chức trưởng tế dòng Amun.

 Kết thúc thời hòa bình của Sheshonq

Mặc dù Sheshonq I nỗ lực cai trị một Ai Cập thống nhất và duy trì khả năng quân sự của quốc gia Ai Cập, vào cuối vương triều 22 xứ sở lại lâm vào cảnh rối loạn và phân chia. Mặc dù giới tu sĩ dòng Amun lúc đó nằm dưới sự kiểm soát của nhà vua phương bắc qua mối

ràng buộc gia đình, vào cuối triều đại trưởng tế mới lên kế vị không còn bị ràng buộc huyết thống, kết quả là một cuộc nội chiến kéo dài hơn một thập niên.

Sau cuộc nội chiến là giai đoạn hòa bình ngắn ngủi, tiếp theo những cuộc nổi dậy và hận thù không những gây chia rẻ nam-bắc mà còn đông-trung tâm trong vùng Châu thổ giữa các thủ lĩnh vùng Leontopolis (vùng trung tâm) và Tanis (đông). Cuộc trị vì của Sheshonq I dần dần sụp đổ trong cảnh hổn loạn.

Quá nhiều vua

Các vấn đề trong vùng Châu thổ cuối cùng chứng kiến một sự thay đổi vương quyền trong khi vị vua thứ bảy của vương triều 22, Sheshonq III còn đang trị vì từ Tanis.

Có ba vị vua cai trị 100 năm sau cho đến cuối vương triều 22, nhưng lúc bấy giờ nhiều nhà cai trị khác xuất hiện trên khắp vùng Châu thổ. Đáng kể nhất trong số này là Pedibast, một thủ lĩnh bản địa vùng Leontopolis, chiếm quyền cai trị vùng trung tâm Châu thổ và tách Ai Cập thành ba phần. Các thành viên trong gia đình Pedibast và Sheshonq (đông) đi về phương nam để gia nhập giới tu sĩ dòng Amun, bảo đảm mối liên kết hoàng tộc tồn tại với nhân tố quyền lực này.

Về cuối vương triều 23, lại xuất hiện một vương triều khác khiến sự phân chia càng sâu sắc hơn:

✔ Vua Sheshonq III ở Tanis (vương triều 22)

✔ Vua Iupet ở Leontopolis (vương triều 23)

✔ Vua Peftjauabaster ở Herakleopolis (vương triều 23)

✔ Vua Nimlot ở Hermopolis (vương triều 23)

✔ Vua Tefnakht ở Sais (vương triều 24)

Mỗi ông vua này chỉ cai trị một vùng đất nhỏ, nhưng tất cả đều xưng danh hiệu hoàng đế và viết tên mình trong các cartouche. Mỗi người hình như đều mãn nguyện với sự sắp xếp này và cùng chung sống hòa bình với nhau. Tuy nhiên, vào cuối thời kỳ (khoảng 727 BC), một mối hiểm họa lớn hơn xuất hiện chấm dứt sự phân chia thêm manh mún __ quyền lực của Nubia . Thật ra, mối hiểm họa mới này tạo động lực cho các ông vua liên minh với nhau và hợp tác cùng nhau.

Sức ép từ phương Nam: Ảnh hưởng của Nubia

Khoảng 727 BC, quyền lực và ảnh hưởng của người Nubia lan đến phía bắc từ xứ sở của họ tận miền Thebes. Nếu người Nubia tiến xa hơn lên phía bắc, họ có thể khuấy động sự bình yên của một miền bắc phân chia. Do đó các vua phương bắc của vương triều 22 (Tanis), 23 (Leontopolis, và 24 (Sais) đoàn kết lực lượng chống trả với nhóm cai trị người Nubia (vương triều 25) để chặn đứng sự bành trướng thêm của quyền lực phía nam.

Quyền lực lớn mạnh

Nubia trước đây chưa hề là hiểm họa của Ai Cập. Cho đến thời trị vì của Ramses II (xem Chương 4) vùng đất này nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của người Ai Cập. Họ bóc lột các mỏ đá và mỏ vàng của dân Nubia. Sau khi thực lực của Ramses II suy yếu, người Nubia bắt đầu tách ra khỏi Ai Cập và tìm cách thành lập kinh đô của mình ở Napata (gần thác nước thứ tư của sông Nile).

Trong thời vương quyền 21, các trưởng tế dòng Amun có ảnh hưởng lớn với Nubia và thậm chí xây dựng một đền thờ Amun bề thế ở Gebel Barkal bên trong lãnh thổ Nubia. Các thầy tu của đền thờ này cũng bành trướng quyền lực của họ ra những vùng chung quanh và cuối cùng lật đổ vương quyền của Nubia.

Các ông vua Nubia này cũng dùng các tước vị và cartouche theo kiểu các vua truyền thống của Ai Cập. Sau khi vương triều Nubia vực dậy, nó bắt đầu tiến về phía bắc đến Ai Cập, lúc đó vương triều Ai Cập đã yếu đi nhiều do phân chia manh mún. Người Nubia chụp lấy cơ hội này để xoay ngược thế cờ và kiểm soát Ai Cập.

Ai Cập là giới hạn: Piankhy

Vua Nubia Piankhy (có khi được gọi là Piye) đối đầu với bốn ông vua phương bắc của các vương triều 22-24 vào năm 727 BC và đánh bại họ. Mặc dù ông tước bỏ các vương hiệu của họ, Piankhy vẫn ban cho họ một số quyền hạn trong vai trò các tổng trấn bản địa, mà thật ra cũng không khác mấy với vai trò vua chúa manh mún của họ trước đây.

Để củng cố vị thế của mình là một hoàng đế Ai Cập, Piankhy đoạt quyền của dòng tu Amun, nắm quyền lực tối cao trên miền Thebes. Các ông vua kế vị ông vẫn duy trì mối liên hệ này với dòng tu Amun, cả ở Thebes và ở Nubia.

Mặc dù liên minh với dòng tu Amun ở Thebes, Piankhy chọn cai trị từ thủ đô Napata ở Nubia. Ông được an táng trong một kim tự tháp ở el-Kurru, bắc Gebel Barkal. Những nhà cai trị về sau cũng được an táng trong các kim tự tháp. Những kim tự tháp này rất khác với kim tự tháp Ai Cập vì chúng nhỏ mà cao và hẹp. Nhiều kim tự tháp Nubia cũng chứa các phẩm vật tùy táng, có cả đồ trang sức bằng vàng.

Người kế nghiệp Piankhy, con trai ông Shabaka, mở rộng lãnh thổ của vương triều Nubia bao gồm trọn xứ Ai Cập từ nam đến bắc tới tận biên cương của miền Sais trong vùng Châu thổ.

Chinh Phục Cận Đông: Người Assyria

Cùng lúc với ảnh hưởng của Nubia bành trướng lên Ai Cập, đế quốc Assyria cũng bành trướng khắp vùng Cận Đông. Một vài cuộc nổi dậy của người Assyria bùng nổ sát biên giới Ai Cập, nhưng các vua Nubia dập tắt được.

Tuy nhiên, vào thời pha-ra-ông Taharqa của Nubia (690-664 BC), người Assyria và người Nubia đã nhiều lần chạm trán nhau. Cả hai lần lượt nắm thế thượng phong, chứng tỏ họ kỳ phùng địch thủ. Tình thế chắc hẳn đã khiến các vương triều Nubia mới bực bội vì họ chưa hưởng được bao lâu thành quả cai trị khắp Ai Cập mà họ từng khao khát.

Vào năm 671 BC, vua Assyria, Esarhaddon, thực sự tiến vào Ai Cập, nắm quyền kiểm soát miền bắc đến tận Memphis. Điều này có nghĩa Vua Taharqa phải bôn tẩu xuống miền nam Ai Cập. Mặc dù còn duy trì quyền kiểm soát vùng Châu thổ, người Assyria bỏ đi, chỉ trở lại vào năm 669 BC. Tuy nhiên, Esarhaddon chết trên đường hành quân và con trai ông Ashurbanipal lên kế vị, cuối cùng cũng nắm quyền kiểm soát xứ Ai Cập.

Ashurbanipal cuối cùng kiểm soát được Thebes vào năm 661 BC, làm vua cả Thượng và Hạ Ai Cập. Sự kiện khiến Taharqa và những người kế vị ông phải chạy xa hơn về nam đến tận kinh đô Napata của Nubia, bên ngoài biên giới của Ai Cập, không bao giờ bén mảng đến Ai Cập lần nữa.

Thời kỳ Saite: Psamtik I và những Người Khác

Sau 665 BC, người Assyria kiểm soát toàn xứ Ai Cập __ mặc dù họ cử những người Ai Cập lên làm vua, dưới quyền sai bảo của họ, dĩ nhiên. Ai Cập giờ đây trở thành một nước chư hầu của đế quốc Assyria. Kinh đô tọa lạc tại Sais trong vùng Châu thổ, và các vua trong thời kỳ Saite tạo thành vương triều 26. (Vì vương triều 25 của Nubia vẫn còn quyền kiểm soát khi người Assyria chiếm miền bắc, hai vương triều này tồn tại song song.)

Psamtik I (664-610 BC) của vương triều 26 Saite được giao nhiệm vụ củng cố quyền kiểm soát của Assyria trên khắp Ai Cập, kể cả Thebes. Psamtik gởi con gái mình Nitocris đến đền thờ Amun ở Karnak, tại đó bà được phong tước vị Vợ Thần Amun, một vị trí khá cao trong thứ bậc giáo phẩm. Sự kết hợp quyền lực hoàng gia và tôn giáo __ cũng như sự giàu có của giáo hội __ bảo đảm miền bắc và miền nam được cai trị bởi một ông vua duy nhất. Ai Cập thống nhất kiểu này tuy vậy không vững vàng, và Psamtik bắt buộc phải xua quân đánh dẹp nhiều thủ lĩnh gây rối nổi dậy trong vùng Châu thổ. Các thủ lĩnh đều muốn chia phần kiểm soát Ai Cập, và người Assyria thì muốn chỉ có một nhà cai trị duy nhất để dễ bề chi phối.

Trở về truyền thống

Trong khoảng 50 năm cai trị, Psamtik tạo được một số thay đổi cho Ai Cập. Ông cố đưa Ai Cập trở về các truyền thống của quá khứ, nhằm tiếp nối dòng chảy văn hóa. Để thực hiện điều này, ông đưa vào một số yếu tố tôn giáo, nghệ thuật, và nghi thức từ thời Vương quốc Cũ và Mới.

Tuy nhiên, muốn là một vì vua thực sự truyền thống trong đất nước Ai Cập truyền thống thì đất nước phải thoát khỏi ảnh hưởng của ngoại bang. Việc loại trừ các ảnh hưởng bên ngoài là điều khó thực thi, nhưng Psamtik đã làm được. Năm 653, sau khi một số bất ổn nội bộ làm suy yếu quyền lực Assyria, Psamtik thoát khỏi sự kềm kẹp của Assyria và giành quyền kiểm soát Ai Cập bằng quyền lực của mình. Sự tách ra này có nghĩa là Ai Cập một lần nữa trở thành quyền lực chủ động của vùng Cận Đông.

Về hải quân

Người kế nghiệp Psantik, Nekau II, tiếp tục cải thiện vị thế của Ai Cập trong vùng Cận Đông và nắm quyền kiểm soát Syria-Palestine trở lại. Nekau thành lập lực lượng hải quân Ai Cập chính thức đầu tiên, bao gồm một số người Hy lạp vùng Ionia. Trước đây, Ai Cập chủ yếu là một quốc gia ven sông không có nhu cầu về hải quân.

Trong vương triều 26, Ai Cập gia tăng thương mại với người Hy lạp, đang có mạng lưới giao thương tăng cường nhộn nhịp. Để gia tăng quy mô giao thương ở Ai Cập, Nekau bắt đầu cho xây dựng một kênh đào nối Wadi Tumilat đến Biển Đỏ __ 2,500 năm trước khi Kênh Đào Suez được hoàn thành với cùng mục đích. Kênh đào hoàn tất đủ rộng để chứa được một đội thương thuyền đi qua và làm thay đổi mối quan hệ buôn bán của Ai Cập.

Xoa dịu đám đông

Vì mối quan hệ buôn bán gia tăng trong thời kỳ này, một số di dân người ngoại bang đến định cư tại Ai Cập, chủ yếu trong vùng Châu thổ. Lúc đó họ tương đối ôn hòa, nhưng trong suốt thời trị vì của Ahmose II (570-526 BC), nhiều cuộc nội chiến giữa những nhóm ngoại nhân khác nhau bùng lên.

Ahmose cố gắng giới hạn những xung đột này bằng cách cho ngoại nhân sống trong thị trấn Naukratis của vùng Châu thổ có quyền buôn bán đặc biệt, do đó tạo ra một loại ‘vùng tự do’ cho người di dân đến Ai Cập. Một số có thể xem hành động này hơi bất công đối với người Ai Cập bản xứ, nhưng ít nhất nhờ thế họ ngừng đánh nhau, và khuyến khích quan hệ buôn bán và nhiều di dân vào Ai Cập.

Vẫn chưa lạnh

Việc Psamtik tách ra khỏi lệ thuộc người Assyria  đưa đến sự suy thoái dần dần và cuối cùng là sự sụp đổ của đế quốc Assyria, và thêm một lần nữa, Ai Cập trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trong khu vực. Vị thế này không kéo dài lâu, vì ai cũng muốn lấp đầy khoảng trống mà người Assyria để lại. Những ông vua Assyria đã yếu đi bị tấn công từ nhiều dân tộc, bao gồm:

✔ Người Babylon dưới triều vua Naboplassar

✔ Người Medes (người Iran cổ)

✔ Scythia (người Urkrainia và người Nga phía nam)

Người Assyria thậm chí còn yêu cầu Psamtik tiếp tay chống đỡ. Dù vậy, họ cũng thua trận, và vào năm 612 BC đế quốc Assyria tan rã với sự thất thủ của kinh thành Nineveh do người Ba tư tấn công.

Người Ai Cập mừng chưa lâu khi đế quốc một thời hùng mạnh đã sụp đổ, vì người Ba tư liền sau đó tiến đánh Ai Cập, chiếm lấy ngai vàng của họ vào năm 525 BC. Ông vua thiếu kinh nghiệm Psamtik III cố gắng ngăn chận quân thù nhưng cuối cùng bị người Ba tư truy đuổi đến Memphis trước khi bị bắt và đưa đến kinh đô Ba tư như một tù binh.

Vương triều 27 của Ba tư kéo dài hơn 100 năm (525-404 BC) và được sử gia Herodotus ghi lại. Ông đã nêu ra ba lý do tiềm năng mà vua Ba tư Cambyses II khởi binh xâm lược Ai Cập ngay từ đầu, mặc dù Herodotus không chắc lắm về cách giải thích này:

✔ Cambyses muốn một thê thiếp người Ai Cập nhưng được gởi đến một bà quý tộc hạng hai thay vì lẽ ra một công chúa, vì thế ông xâm lược Ai Cập.

✔ Cambyses có thể có giòng máu nửa Ai Cập, có thể là con ngoại hôn của con gái vua Saite Apries.

✔ Cambyses ngay từ nhỏ đã thề sẽ xâm lược Ai Cập để trả thù cho mẹ mình bị người Ai Cập sỉ nhục.

Nếu Herodotus không chắc lý do Cambyses xâm lược Ai Cập, làm sao các sử gia hiện đại lại chắc chắn được? Dù với bất cứ lý do nào, cuộc xâm lược của người Ba tư là hành động xấu xa, được người Bedouin tiếp tay dẫn đường đến biên giới Ai Cập. Sau khi Bedouin và Ba tư đến, họ rất hung hản và tàn bạo, lôi xác ướp của vua Saite là Ahmose ra khỏi lăng mộ và châm lửa đốt. Biết sao được, người Ai Cập cũng đâu có kém gì.

Để trả thù cho sự phản bội của một viên tướng đánh thuê, người Ai Cập lôi hai con trai của y ra trước mặt y và quân Ba tư và cắt cổ họ. Máu được hứng trong một chậu lớn, pha với nước và rượu, rồi chia cho quân sĩ uống. Tuy nhiên, cũng giống như Herodotus không mấy chắc chắn về câu chuyện của Cambyses, có lẽ chuyện này cũng là một giai thoại quá trớn. Không có ghi chép nào về việc người Ai Cập uống máu người.

 

Cai trị Ai Cập từ xa

Mặc dù Cambyses và người Ba tư đã đánh thắng người Hy lạp và Ai Cập, nhưng họ không nghĩ đến việc chiếm đóng. Cambyses sống và được chôn cất tại Ba tư (Iran ngày nay).

Trong thời trị vì của ông (525-522 BC) ông bổ nhiệm một tổng trấn địa phương cai trị Ai Cập nhân danh ông __ mặc dù ông được biểu thị ở Ai Cập như một ông vua Ai Cập có tên khắc trên cartouche theo lối truyền thống.

Tuy nhiên, người kế vị Cambyses là Darius I (521-486 BC) lại quan tâm nhiều đến Ai Cập. Ông cho xây dựng một số đền thờ và thúc đẩy công việc trùng tu từ vùng Châu thổ đến Aswan. Darius cũng tiếp tục và hoàn tất công trình kênh đào giữa Wadi Tumilat và Biển Đỏ mà Nekau của vương triều Saite đã bắt đầu.

Vào năm 486 BC, mặc dù ảnh hưởng tích cực của Darius lớn mạnh trên Ai Cập, người Ai Cập vùng dậy. Cuộc khởi nghĩa chỉ được đè bẹp trong triều vua sau, Xerxes. Thời cai trị của ông (485-465 BC) không phải là một thời kỳ hòa bình, và vào cuối thời trị vì đó người Hy lạp xâm lược Ai Cập.

Sau một thời gian hòa hoãn, Xerxes bị ám sát giữa một cuộc nổi dậy khác của người Ai Cập. Cuộc chiến kéo dài một thời gian, và vua Ba tư bị con cháu của vương triều 26 từ miền Châu thổ đánh bại nhờ sự hổ trợ của quân đội đánh thuê người Hy lạp. Người Ai Cập cuối cùng có thể giành lại quyền kiểm soát trong thời trị vì của hai vị vua cuối

cùng của thời kỳ Ba tư, Darius II (423-403 BC) và Artaxerxes II (405-359 BC), sau đó một số rắc rối xảy ra trong hoàng tộc Ba tư khiến tiềm lực phòng ngự của họ suy yếu trước các trận công kích.

Vẫn còn nhiều vương triều nữa

Sự suy thoái của văn hóa Ai Cập thực ra trượt dài vào khoảng 400 BC, với các ông vua nắm quyền kiểm soát được chăng hay chớ và gây ra nhiều sự bất ổn. Có lẽ tình hình không gây bối rối mấy cho người cổ Ai Cập!

Vuong triều 28 (404-399 BC) chỉ gồm một vị vua ít tiếng tăm tên Amyrtaeus, người đã thành công sau sáu năm dùng du kích chiến chống lại các nhà vua Ba tư để mang lại ngai vàng cho Ai Cập. Ông chỉ nắm quyền kiểm soát toàn Ai Cập trong thời gian ngắn ngủi từ kinh đô ở Sais trong vùng Châu thổ xuống đến tận biên giới Aswan.

Vương triều 29 (399-380 BC) dời kinh đô từ Sais đến Mendes xa hơn về nam, cho thấy vùng kiểm soát của Ai Cập còn rộng. Mendes chắc chắn là nơi tốt hơn để điều hành đất nước. Hai vị vua của vương triều này chắc hẳn cũng được an táng tại đây, mặc dù lăng mộ của họ chưa được tìm thấy.

Vương triều 30 (380-343 BC) hơi có thực chất hơn, với tổng cộng ba vua. Những ông vua này bỏ phần lớn thời gian giám sát việc xây dựng theo truyền thống cổ để duy trì sự liên tục giữa triều đại của họ với triều đại các tiên vương.

Triều đại này cũng tham gia một số trận đánh bảo vệ Ai Cập trước sự xâm lược của Ba tư.

Nectanebo II được nghỉ ngơi đôi chút khi Ba tư lại nổ ra tranh chấp nội bộ và xung đột với người Hy lạp và người Levantine. Vào năm 343 BC, Nectanebo II, cùng với quân Ai Cập và 20,000 lính đánh thuê người Hy lạp, canh giữ biên giới vùng Châu thổ chống lại cuộc tấn kích dữ dội của quân Ba tư do Artaxerxes III cầm đầu. Chẳng bao lâu phòng tuyến biên giới bị chọc thủng, vùng Châu thổ và tiếp theo Memphis thất thủ rơi vào tay quân xâm lược Ba tư. Nectanebo bôn tẩu xuống Nubia, nhưng không lâu sau đó biệt tích; có thể đã chết.

Cái chết của Nectanebo II vào năm 343 là một đòn trí mạng cho Ai Cập vì một số lý do. Trước tiên, người Ai Cập lần nữa nằm dưới ách đô hộ của các vua Ba tư. Thứ hai, Nectanebo là nhà cai trị cuối cùng của Ai Cập cho đến khi Cộng hòa Ai Cập bầu được tổng thống đầu tiên của họ, Tướng Muhammad Naguib, vào năm 1953 AD. Thật là một thời kỳ quá dài dưới ách đô hộ của ngoại bang.

 

Một chu kỳ nữa dưới ách đô hộ Ba tư

Kết thúc vương triều Nectanebo II chứng kiến sự khởi đầu của thời kỳ đô hộ thứ hai của Ba tư (343-332 BC). Một lần nữa người Ba tư khá khắc nghiệt với xứ sở họ thôn tính. Các tư liệu Hy lạp mô tả tình trạng quân Ba tư làm cỏ các thành phố, cướp bóc đền thờ, giết chóc các con vật thiêng, và đánh thuế dân chúng cho đến khi họ sạch túi.

Thêm một lần nữa, các vua Ba tư cai trị qua một tổng trấn bù nhìn từ kinh đô của họ ở Ba tư. Vương triều này (mà một số sử gia xem là thứ 31) chỉ kéo dài 10 năm, với hai vị vua đầu tiên, Artaxerxes III và Arses, bị ám sát, và tên vua hèn nhát Darius III mở cửa biên giới của Ai Cập cho phép Alexander Đại Đế tiến vào Ai Cập vào năm 332.

Người Macedonia xâm lược: Alexander Đại Đế

Việc vua Macedonia là Phillip II bị ám sát vào năm 336 BC chứng kiến sự khởi đầu màn tấn công của Alexander vào đế quốc Ba tư. Alexander là con trai của Phillip, người tiếp nối xuất sắc tham vọng của cha mình. Alexander đến Ai Cập năm 332, làm suy thoái thêm nền văn hóa cổ Ai Cập. Nếu người Ba tư không chiếm đóng Ai Cập tại thời điểm này thì có thể Alexander sẽ để yên cho Ai Cập, và lịch sử sẽ thay đổi.

Thành thần

Alexander muốn được văn hóa Ai Cập chấp nhận. Một trong những việc đầu tiên ông làm là đi tới Siwa để xin sấm truyền thần Amun chỉ dạy hầu chứng tỏ mình là con của thần linh và do đó là vì vua hợp pháp của Ai Cập.

Lể đăng quang của Alexander được tiến hành tại trung tâm truyền thống Memphis và đến một mức độ nào đó ông cai trị theo đúng phong cách truyền thống Ai Cập. Ông chứng kiến việc trùng tu đền Luxor, thêm vào hình ảnh tỉ mỉ vẽ ông dâng lễ vật cho Amun-Min.

Sau đó, Alexander rời Ai Cập để tiếp tục chinh phạt khắp miền Cận Đông. Trước khi qua đời vào năm 323 BC, Alexander đã mở rộng đế quốc Macedonia, bao gồm cả Ai Cập, suốt một mạch đến Thung lũng Indus.

Biến Ai Cập thành nhà của mình

Khi Alexander Đại Đế không bận việc xâm lấn và chinh phạt, ông tập trung vào việc điều hành Ai Cập. Đặc biệt, ông:

Đưa hệ thống tiền tệ vào Ai Cập, trước đây người Ai Cập chỉ quen buôn bán qua đổi chác. Đồng tiền Ai Cập một mặt in hình Alexander, mặt kia là hình một vị thần Ai Cập, cho thấy ông muốn ví mình là một vị thần.

Thành lập thành phố Alexandria, trở thành kinh đô của Ai Cập. Thành phố được xây dựng tại một địa điểm trước đây là vùng định cư của người cổ Ai Cập tên là Raqote, nay chỉ còn là phế tích ít ỏi. Alexander giao việc xây dựng cho kiến trúc sự của ông là Deinokrates và một viên chức tên Kleomenes.

Alexandrie là một thành phố lớn __ vào thời điểm cực thịnh dân số lên đến hơn nửa triệu người bao gồm một số lớn di dân Hy lạp và Do thái. Nó là nơi đô hội, tập trung nhiều công trình nổi tiếng, như một thư viện và viện bảo tàng buồn thay đã bị tàn phá trong thời cổ. Thành phố có nhà tắm công cộng kiểu La mã, một hí viện, và một vận động trường. Những dinh cơ bề thế trong khu định cư La mã có trang trí kiểu hình khảm mosaic theo phong cách La mã, như Hình 6-1 cho thấy.

12

Thành phố Alexandria chỉ hoàn thành dưới triều vua Ptolemy II (285-246 BC).

Ptolemy I (305-282 BC) bắt đầu xây dựng tháp hải đăng Pharos ở Alexandria, là một trong Bảy kỳ Quan của Thời Cổ và là ngọn hải đăng đầu tiên trên thế giới. Kiến trúc này đã biến mất từ lâu __ có thể nằm dưới đáy biển.

Alexander Đại Đế mất năm 323 BC sau một cơn sốt, không để lại người thừa kế đế quốc. Cái chết của ông dẫn đến sự sụp đổ dần dần đế quốc Macedonia, với nhiều vị tướng khác nhau cắt cứ những vùng mình ưa thích.

Đế Quốc Cáo Chung: Vương Triều Ptolemy

Sau cái chết của Alexander Đại Đế và quyền kiểm soát đế quốc Ba tư sụp đổ, nhiều cuộc chiến và trận đánh manh mún nổi lên do các tướng lãnh của Alexander. Ai cũng muốn giành một phần của đế quốc rộng lớn. Cuối cùng Ptolemy trở lại Ai Cập như một tổng trấn dưới triều vua Phillip Arrhidaeus (323-317 BC), người kế vị con trai Alexander IV (317-305 BC) của Alexander Đại Đế __ sinh ra

sau khi cha mất. Trong thời trị vì của Alexander IV, Ptolemy, bạn từ thời thơ ấu của ông, thực sự nắm quyền cai trị, và khi Alexander IV mất Ptolemy lên ngôi vua chính thức. Năm 301 BC Ptolemy đã nắm quyền kiểm soát Palestine và Hạ Syria, tự tạo một đế quốc nhỏ của riêng mình.

Người cai trị Ai Cập thiếu óc tưởng tượng, vì Ptolemy thành lập vương triều của mình với các nhà cai trị đều lấy tên Ptolemy (lên đến Ptolemy XV), các nữ hoàng thì tên hoặc Cleopatra (bảy nữ hoàng) hoặc Berenice (bốn nữ hoàng).

Vương triều Ptolemy là một hình mẩu của sự song hành hai nền văn hóa rất khác nhau __ cổ Ai Cập và Hy lạp. Các nhà cai trị ủng hộ tôn giáo truyền thống của Ai Cập và xây dựng nhiều đền thờ, trong đó có đền Demdera, Edfu, Philae, và Kom Ombo. Trên bức tường của các đền thờ này các vua được miêu tả trong tư thế và y phục truyền thống Ai Cập, nhưng trên đồng tiền đúc họ được trình bày theo phong cách Hy lạp truyền thống.

 

Ngủ mắt nhắm mắt mở

Những thành viên trong hoàng gia Ptolemy không phải là những người nhân hậu.Nói như thế có vẽ như vơ đũa cả nắm nhưng đúng là gia đình này bị ám ảnh bởi quyền lực và ngai vàng và họ dùng bất cứ thủ đoạn nào để chiếm đoạt chúng. Họ không bị tai tiếng khi lấy anh trai hay em gái như là một phương tiện lên ngôi hợp pháp hoặc giành ngai vàng cho gia đình mình. (Lẽ dĩ nhiên, nhiều nhà vua cổ Ai Cập cũng kết hôn với người trong một gia đình, nhưng không phải tất cả cuộc hôn nhân này đều sinh con. Các cuộc hôn nhân kiểu Ptolemy đều qua chăn gối __ một cách đều đặn.)

Mặc dù có liên hệ thân thiết, các thành viên trong gia đình Ptolemy không hề áy náy khi ‘xử’ anh em, chồng vợ của mình để giành ngôi báu __ hoặc khử đi những cá nhân không tiếng tăm hoặc không thích hợp.

Nếu là một thành viên của gia đình này, bạn phải luôn đề phòng. Một số vua và nữ hoàng cùng những quan chức đã bị mưu sát hoặc chết một cách bí mật:

✔ Phillip Arrhidaeus bị một trong những cận vệ của mình ám sát.

✔ Berenice II bị đánh thuốc độc và ‘luộc’ đến chết bởi chính con trai mình Ptolemy IV.

✔ Vợ của Ptolemy IV, Arsinoe, bị anh người vợ hai của Ptolemy đánh thuộc độc.

✔ Ptolemy VII bị cha ghẻ và cũng là chú mình giết chết.

✔ Memphites bị cha mình, Ptolemy VIII, mưu sát. Thi thể bị chặt hết tứ chi được gởi đến em gái/vợ ông, Cleopatra II, như một món quà sinh nhật.

✔ Cleopatra III có thể bị con trai nhỏ của mình, Ptolemy X, mưu sát (mặc dù, trước đây, con trai lớn của bà, Ptolemy IX, đã từng bị kết án vì tội âm mưu ám sát bà).

✔ Berenice, con gái của Ptolemy IX, bị ám sát trong vòng một tháng sau khi cưới Ptolemy XI. Ông này không ưa gì bà và muốn ngai vàng là của mình.

✔ Ptolemy XI bị xử giảo trước công chúng sau khi chỉ cai trị được 19 ngày vì Berenice được nhiều người yêu mến.

✔ Berenice (lại Benerice!), con gái của Ptolemy XII, bị người La mã ám sát vì bà nổi loạn chống cha mình để chiếm lấy ngai vàng. Ptolemy XII cầu cứu sự giúp đỡ của Julius Caesar, nhà độc tài La mã.

✔ Ptolemy XIV, anh trai và chồng của Cleopatra VII (nổi tiếng vì có Mark Antony), chắc hẳn đã bị hoàng hậu khử để bà có thể đem con trai mình Ptolemy XV lên ngôi, bảo vệ ông khỏi rơi vào tay người La mã.

Đa số những cuộc ám sát này đều dính líu đến quyền lực và ngai vàng. Tuy nhiên, trong nhiều cuộc tranh giành nội bộ này, người La mã thường được yêu cầu tiếp tay để giải quyết tranh chấp. Mặc dù sự can thiệp của người La mã luôn bảo đảm có một phe thắng, được La mã ủng hộ và đứng sau lưng, La mã không hề quên đòi món nợ giúp sức. Trong thời Cleopatra VII trị vì, các lãnh tụ La ma đến để đòi nợ __ cuối cùng đưa đến sự sụp đổ của nền văn minh Ai Cập.

Chuyện tình lịch sử: Cleopatra và Mark Antony

Câu chuyện về Cleopatra và Mark Antony là một trong những chuyện tình bi thảm nổi tiếng nhất trên thế giới. Vai chính là Cleopatra VII, sinh khoảng năm 70 BC __ con gái của Ptolemy XII và em gái ông Cleopatra V. Nghĩ cũng lạ, mẹ của Cleopatra cũng là cô và cha mình cũng là cậu mình.

Ptolemy XII không được yêu mến ở Ai Cập vì thái độ nịnh hót của ông đối với La mã. Ông cũng là một nhà cai trị bạo ngược và bạc nhược (rất hợp là thành viên của gia đình Ptolemy). Vào năm 60 BC, sự chán ghét Ptolemy XII đã lên tột đỉnh khiến y phải chạy khỏi Ai Cập tìm sự an toàn ở La mã, trong khi đó trưởng nữ của ông, Berenice, chiếm lấy ngai vàng. Sau vài năm, với sự ủng hộ của La mã, Ptolemy quay về Ai Cập và chiếm lại ngôi vua.

Ông cai trị cho đến khi mất vào 52 BC, khi Cleopatra VII, ở tuổi 19, kết hôn với người em cùng cha khác mẹ của mình là Ptolemy XIII mới lên 10, và lên ngôi.

Vì chồng mình quá trẻ, Cleopatra cai trị Ai Cập một mình và loại bỏ gương mặt của Ptolemy khỏi đồng tiền mới đúc.  Không giống cha, Cleopatra là một nhà cai trị rất được nhân dân Ai Cập yêu mến __ chắc hẳn bởi vì bà là nhà cai trị dòng Ptolemy rất chịu khó học nói tiếng Ai Cập.

13

Một đồng tiền thời Ptolemy có chạm nổi chân dung Cleopatra VII

 

Dệt mạng lưới âm mưu

Ptolemy âm mưu lợi dụng tình cảm của nhân dân đối với nữ hoàng bằng cách ban bố một lệnh mạo tên bà theo đó mọi thóc lúa phải chuyển đến Alexandria chứ không đến Trung và Thượng Ai Cập. Việc này làm dân chúng nổi giận, và quay lưng chống lại Cleopatra. Cleopatra phải cuống cuồng bôn tẩu đến Ashkelon ở Syria.

Vào năm 48 BC, Julius Caesar tiến vào Ai Cập để giải quyết mối hận thù giữa Ptolemy XIII và Cleopatra. Cùng lúc đó Cleopatra tập hợp một binh đoàn ngay tại biên giới Ai Cập để tấn kích em mình. Caesar đến Alexandria quyết định mang Cleopatra trở lại ngôi báu, cho đến khi quần thần của Ptolemy mang đến cho ông một món quà __ thủ cấp một người bạn của Caesar.

Caesar liền hành quân vào thành phố, chiếm lấy cung điện, và làm chủ tình thế. Ông ra lệnh cho Ptolemy và Cleopatra giải tán quân đội và đến gặp ông để giải quyết vụ tranh chấp của họ như một người cha xử phạt hai đứa con hư. Tuy nhiên Cleopatra không dám khinh suất, biết rằng nếu mình đến Alexandria công khai, Ptolemy sẽ hành thích bà.

Vì thế bà lẻn vào cung điện bằng cách quấn mình trong một tấm thảm mang đến phòng của Caesar. Khi tấm thảm mở ra, Cleopatra hiện ra trước mặt Caesar và Caesar ngay lập tức phải lòng bà. Họ trở thành tình nhân đêm đó và sáng hôm sau Ptolemy xông ra khỏi cung điện vì cảm thấy mình bị phản bội. Sau đó không lâu ông bị bắt, binh lính ông liền bao vây cung điện.

Caesar phải thả Ptolemy ra, nhưng cuộc bao vây tiếp tục kéo dài gần sáu tháng và chỉ chấm dứt khi Ptolemy chết đuối dưới sông Nile. Sau đó Alexandria đầu hàng Caesar.

Giờ là một góa phụ, Cleopatra cưới em mình là Ptolemy XIV, lúc đó chỉ 11, 12 tuổi. Julius Ceasar tặng họ Cyprus như một món quà cưới. Mối quan tâm của ông dành cho Cleopatra đã bị đánh thức.

 

Tận hưởng những ngày hè biếng nhác với Julius

Mối giao tình giữa Caesar và Cleopatra thêm đậm đà, và vào năm 47 BC họ ngao du một chuyến lãng mạn trên sông Nile. Cleopatra chỉ mới 23 tuổi và có mang với Caesar. Hài nhi, lấy tên là Caesarion, ra đời không lâu sau khi họ trở lại Alexandria.

14

Hình 6-2

Trong đền Hathor ở Denderah một bức chạm nổi (xem Hình 6-2) cho thấy Cleopatra dâng con trai Caesarion trình diện các thần linh và đặt tên nó là ‘Ptolemy Caesar con trai của Julius Caesar và Cleopatra’ để chứng tỏ nó sẽ là người thừa kế ngai vàng.

Năm 46 BC, Cleopatra, Ptolemy XIV, và Caesarion đi nghỉ ở La mã để thăm Julius Caesar. Họ dừng chân ở dinh thự của Caesar gần La mã khoảng hai năm. Trong thời gian đó, Caesar tặng cho Cleopatra cả tấn quà và tước vị, đồng thời dựng một pho tượng của bà trong đền thờ Venus Genetrix. Người La mã kinh tởm trước chuyện tình ái lăng nhăng này, và phần nào nó là nguyên nhân dẫn đến vụ ám sát Caesar vào 44 BC.

Cleopatra, lo sợ cho số phận mình và con trai, vội vã chạy trốn về Ai Cập. Trước hoặc trong chuyến trở về Ai Cập, chồng Cleopatra là Ptolemy XIV chết một cách bí ẩn ở tuổi 15, có lẽ bị đầu độc, bỏ lại Cleopatra tự do cưới con trai mình Caesarion và phong cho con làm đồng nhiếp chính với bà, với vương hiệu Ptolemy XV.

Mark Antony bước vào

Sau cái chết của Caesar, đế chế La mã được phân chia cho ba người: cháu của Caesar Octavian, Marcus Lepidus, và Marcus Antonius, được biết nhiều hơn với cái tên ngày nay Mark Antony.

Cleopatra đã gặp Mark Antony lúc bà 15 tuổi, khi cha bà còn sống, lúc ấy Mark Antony đi đến Ai Cập hộ tống Julius Caesar. Lần sau Cleopatra gặp lại Mark Antony, vào 42 BC, thì bà đã 28 tuổi và ông đã hơn 40 tuổi. Mark đã chiếm phần phía đông của đế quốc La mã và phải dành nhiều thời gian ở Ai Cập hơn 16 năm tiếp theo.

Sống trọn vẹn

Mối quan hệ giữa Mark Antony và Cleopatra là mối quan hệ vui tươi, như Plutarch đã ghi chép:

 Bà chơi đổ xúc sắc với ông, uống rượu với ông, đi săn với ông; và khi ông thao dượt quân đội bà ở đó xem. Ban đêm bà cùng ông đi chọc phá, quấy rầy thiên hạ, bà thì mặc như một con hầu, còn ông cũng ngụy trang làm người hầu. . . Tuy nhiên, dân chúng Alexandria nói chung cũng thích chuyện ấy, và sẵn lòng tham gia vào trò đùa cợt của ông.

Sau bốn năm qua lại, Cleopatra sinh đôi: Alexander Helios (mặt trời) và Cleopatra Selene (mặt trăng). Antony công nhận hai đứa trẻ là con mình và còn đề nghị cho Alexander cưới con gái của vua xứ Armenia để giảng hòa hai nước. Nhưng vua Armenia từ khước, và thế là Antony tấn công ông ta vào năm 34 BC. Đáng đời.

Vào 37 BC, trên đường xâm lược Parthia, Antony hẹn hò với Cleopatra, mặc dù Octavian đã cưới Antony cho em gái mình là Octavia như một cách để ngăn không cho Anthony trở về Ai Cập. Dù vậy, từ đó trở đi Alexandria vẫn là tổ ấm của Antony và Cleopatra là lẽ sống của ông. Antony cưới Cleopatra vào 36 BC tại Antioch ở Bắc Syria, trong lễ cưới ông ăn mặc như thần Osiris còn bà như nữ thần Isis.

Không lâu sau đó, bà sinh thêm một con trai, Ptolemy Philadelphus, và Anthony cũng công nhận con. Vào 34 BC, Anthony phong Alexander Helios vua xứ Armenia, Cleopatra Selene nữ hoàng Cyrenaica và Crete, và Ptolemy Philadelphus vua xứ Syria.

Bắt đầu của sự kết thúc

Antony hoàn toàn bỏ rơi bà vợ La  Mã Octavia, khiến Octavian và người La Mã nổi dóa. Sau ba năm, Octavian quyết định thống trị toàn đế chế, đem quân tiến đánh Cleopatra và Antony. Vào 31 BC, lực lượng của Antony chạm trán với quân La mã trong một trận hải chiến ngoài bờ biển Actium (bắc Hy lạp), với sự hổ trợ của Cleopatra và 60 chiến thuyền Ai Cập.

Khi Cleopatra trông thấy các chiến thuyền của Anthony cồng kềnh, xoay trở chậm chạp thất thủ trước chiến thuyền La mã nhẹ hơn, nhanh hơn, bà bỏ chạy. Antony bỏ mặc quân đoàn để chạy theo bà.

 

Tình yêu không chinh phục tất cả

Vào 30 BC, Octavian tiến đến Alexandria, và Mark Antony đón chờ y với lực lượng thủy bộ đã thưa thớt. Ngay khi trông thấy quân La Mã, các chiến thuyền của Antony dơ cao mái chèo ra chào đón và chạy đến nhập phe, liền sau đó bộ binh và kỵ binh cũng đào ngũ theo__ bỏ lại Antony một mình. Cleopatra, quá kinh hải, tự nhốt mình trong lăng mộ của chính mình và đưa tin cho Antony báo là mình đã chết!

Antony, cảm thấy có điều gì không ổn, bèn tự tử nhưng không chết ngay. Trong khi hấp hối, nghe tin Cleopatra thật ra còn sống, ông ra lệnh mang mình đến bên bà ngay lập tức.

Khi Antony đến lăng mộ, Cleopatra sợ quá không dám mở cửa. Bà và hai tì nữ buông dây thừng xuống qua cửa sổ để kéo Antony lên. Trong đau khổ, Cleopatra đặt Antony lên giường và ông chết trong vòng tay bà.

Trong lúc đó, Octavian đã xâm chiếm Alexandria và nắm quyền kiểm soát cung điện của Cleopatra, rắp tâm bắt bà trở về La Mã để kéo lê bà qua đường phố với xiềng xích.

Octavian cùng với tùy tùng đi thẳng đến lăng mộ, nhưng Cleopatra không cho y vào. Họ thương lượng với bà qua khung cửa đóng kín, bà ra yêu cầu Ai Cập phải giao lại cho các con của bà.

Trong khi Cleopatra bận mặc cả tại cửa vào, quân của Octavian bắc thang và trèo qua cửa sổ. Thấy vậy, Cleopatra cố tự sát bằng dao găm nhưng bị giải giới và bắt cùng với các con.

Octavian cho phép Cleopatra sắp xếp việc hậu sự cho Antony. Cleopatra tổ chức một tang lễ theo cung cách hoàng gia cho người yêu. Sau đám tang Cleopatra quá sầu muộn, nằm vùi trên giường.

Cleopatra cương quyết chết theo người yêu Antony. Bà sắp xếp người hầu bí mật mang vào lăng mộ một con rắn mào cực độc nằm bên dưới một giỏ đựng quả sung, để qua mắt bọn lính gác La Mã. Khi giỏ đưa đến, bà luồn tay vào đáy giỏ cho rắn cắn. Trong giây phút cuối cùng, Cleopatra cũng kịp viết bức thư cho Octavian cầu xin ông cho mình được an táng trong lăng mộ của Antony.

Octavian chạy ngay đến lăng mộ nhưng đã quá muộn __ Cleopatra đã chết.

Người duy nhất còn lại có thể ngán đường Octavian nắm quyền kiểm soát Ai Cập là Caesarion, liền nhanh chóng bị y loại bỏ. Ai Cập giờ đây nằm dưới quyền đô hộ của La mã.

Người La mã đang đến

Cái chết của Cleopatra vào 30 BC mở đường cho La mã đô hộ Ai Cập. Tuy vậy, Ai Cập không hẳn là một tỉnh lỵ của La Mã theo nghĩa đúng của từ này. Octavian (sau này là Hoàng đế Augustus) sử dụng Ai Cập như một vùng đất riêng, được một quan chức trông coi và chỉ nghe theo lệnh ông. Ai Cập trở thành một nơi cung cấp lương thực chính yếu cho đế quốc La mã và được coi như một giỏ bánh mì của La mã.

15

Các hoàng đế tiếp sau Augustus lên ngôi báu Ai Cập đã thử trị vì theo phong cách Ai Cập truyền thống, xây dựng đền thờ cho các thần linh Ai Cập, và có khi đóng vai như các vì vua Ai Cập khi thực hiện các nghi thức truyền thống.

Mặc dù văn hóa Ai Cập không thể nhận ra được sau cuộc xâm chiếm của Alexander, nhiều dòng tu Ai Cập vẫn được duy trì dưới thời La Mã trị vì. Vào 394 AD, đền thờ Philae còn được sử dụng và tại đây còn lưu lại bảng khắc cuối cùng dùng chữ tượng hình ở Ai Cập.

Phải mất 1,400 năm sau nữa trước khi có người biết đọc được nó lần nữa. (xem Chương 11).

Cái chết của Cleopatra là đề tài cho nhiều bức họa thời trước, hình trên đây là một trong số đó


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s