Lịch Sử Nghệ Thuật- Phần 18 (Hết)

Untitled

Jesse Bryant Wilder

Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN VI: Mười Điều Tâm Niệm

 Trong phần này. . .

Tôi sẽ để nghị với các bạn các phương tiện mở rộng kiến thức của mình về nghệ thuật và lịch sử nghệ thuật. Cách duy nhất để chiêm ngưỡng trực tiếp hầu hết những tác phẩm được đề cập trong sách này  là vào thăm các viện bảo tàng. Tôi liệt kê mười viện bảo tàng tốt nhất và cho bạn một cái nhìn về bộ sưu tập của chúng.

Ai có thể giải thích nghệ thuật và kiến trúc tốt hơn người nghệ sĩ và kiến trúc sư có kỹ năng viết lách? (không phải ai cũng có thể viết hay những gì mình biết!) Trong phần này, tôi giới thiệu với bạn mười quyển sách tốt nhất về nghệ thuật do chính các nghệ sĩ chấp bút, từ Leonardo da Vinci đến Hundertwasser. Trong nhiều phương diện,  những tác phẩm này cũng là những công trình nghệ thuật!

Tôi kết thúc hành trình của mình bằng cách xem xét các nét cọ __ mười kỹ thuật vẽ hấp dẫn nhất và cách mạng nhất trong lịch sử.

Chương 27

Mười Viện Bảo Tàng Phải Viếng Thăm

 

Nếu bạn muốn thu gọn số nơi tối thiểu cần thăm viếng,  thế thì các bảo tàng dưới đây là những nơi chốn phải đi đến. Tôi tuyển chọn chúng vì chúng cống hiến cho ta nhiều chất  nghệ thuật trên mỗi mét vuông diện tích nhiều hơn bất kỳ nơi đâu trên hành tinh.

Bảo tàng Louvre (Paris)

Đi một tua trong Louvre cũng như đi xe đạp qua hàng mẩu đất nghệ thuật. Đôi khi bức tường treo quá nhiều tranh đến nổi bạn không thể tiêu hóa hết.

Louvre, có thể cho là  viện bảo tàng lớn nhất thế giới, tự hào chứa một kho tàng choáng ngợp các tuyệt tác. Họa phẩm lừng lẫy nhất thế giới,  bức Mona Lisa (xem Chương 11),  chế ngự cả một  gian phòng; bốn bức tranh khác của Leonardoda Vinci, kể cả bức The Virgin of the Rocks nguyên gốc,  được treo gần đó, như một sự nhớ lại. Bảo tàng cũng sở hữu một số bức tượng nổi tiếng nhất từng được điêu khắc: Dying Slave (Người Nô Lệ Hấp Hối) Rebellious (Người Nô Lệ Nổi Loạn) của Michelangelo và những tuyệt tác Nike of Samothrace Venus of Milo (xem Chương 7).

Nếu bạn thích xác ướp, Louvre có cả một kho cất giữ có thể chứa đầy một nghĩa địa. Bộ sưu tập Ai cập chắc chắn là bộ sưu tập quý giá nhất và lớn nhất trên thế giới nhờ vào thói cướp bóc các báu vật nghệ thuật của Napoleon từ những xứ mà ông xâm lược.

Bảo tàng Uffizi (Florence)

Uffizi là thiên đường  thời Phục hưng. Các tòa nhà do Giorgio Vasari (xem Chương 28) thiết kế. Uffizi chứa bộ sưu tập khủng của gia đình Medici (dòng họ cai trị Florence) trong nhiều thế kỷ. Hai tuyệt tác vĩ đại nhất của Sandro Botticelli __ The Birth of Venus (Sự Ra Đời của Venus)  Primavera __ được treo tại đây. Uffizi cũng sở hữu (Holy Family with Mary Magdalen (Gia Đình Thần Thánh với Mary Magdalen) của Michelangelo; Madonna with a Goldfinch của Raphael; Venus of Urbino của Titian (xem Chương 12); Bacchus của Caravaggio; các tác phẩm của Giovanni Bellini, Giorgione,  Agnolo Bronzino,  Filippo Lippi, Paolo Uccello, Masaccio, Peter Paul Ruben,  Albrecht Durer,  Lucas Cranach và Rembrandt; cũng như tác phẩm còn dang dở Adoration of the Magi của da Vinci.

Bảo tàng Vatican (La mã)

Các bảo tàng Vatican cùng chiếm 13 mẩu đất với giáo hoàng và triều đình của ông. Phức hợp bảo tàng bao gồm Nhà nguyện Sistine do Michelangelo vẽ; Cappella di Nicholas V do Fra Angelico trang hoàng; Stanze de Raffaello do Raphael vẽ; và Stanze della Segnatura nơi bức bích họa vĩ đại nhất School of Athens do Raphael vẽ trên tường (xem Chương 11) và cũng là nơi ông vẽ The Disputa (được in trên bìa trước của sách này). Bảo tàng Vatican cũng bao gồm Pinacoteca nơi trưng bày các tác phẩm của Giotto di Bondone,  Fra Angelico, Leonardo da Vinci, Filippo Lippi,  và Raphael. Các bảo tàng này sở hữu một số tượng lừng danh của thế giới La Hy bao gồm Apollo Belvedere Laocoon anh His Sons  (xem Chương 7).

Bảo tàng Quốc gia (London)

Bảo tàng Quốc gia (National Gallery) London hoành tráng trưng bày các tác phẩm từ năm 1250 đến năm 1900. Trong số các tác phẩm vĩ đại có bức Arnolfini Wedding (Đám Cưới  Arnofini) nổi tiếng  (xem Chương 12) và Man in a Red Turban (Người Đàn Ông đội Khăn Xếp Đỏ) của Jan van Eyck, bức Entombment còn dang dở của Michelangelo, phiên bản thứ hai Virgin of the Rocks của Leonardo da Vinci,  Pope Julius II của Raphael,  và Supper at Emmaus của Caravaggio. Nó cũng trưng bày các tác phẩm của Diego Velasquer,  Rembrandt, J.M. Turner,  và Johannes Vermeer. Và nó cũng có bộ sưu tập xuất sắc các tác phẩm phái Ấn tượng và Hậu- Ấn tượng, bao gồm Bathers at Asnieres của Georges-Pierre Seurat và Sunflowers (Hoa Hướng Dương) của Vincent van Gogh.                  

Bảo tàng Metropolitan (New York)

Met là bảo tàng lớn nhất ở Tây bán cầu. Nó chứa một bộ sưu tập đa dạng và đáng kinh ngạc về nghệ thuật Ai cập,  Mesopotamia, Cổ Hy lạp,  La mã, Byzantine,  Hồi giáo, Phi châu,  Âu châu,  và Mỹ. Bộ sưu tập nghệ thuật Viễn đông của nó là lớn nhất không kể Trung quốc và Nhật. Nó sở hữu 37 tranh Monet, 21 Cezanne,  và 5 Vermeer. Gần đây nó mua lại bức Madonna and Child với giá 45 triệu đô.

Bộ sưu tập trung cổ của Met có thể cạnh tranh với Bảo tàng Quốc gia về Trung Cổ ở Paris. Đừng bỏ qua nó khi bạn đến thăm New York.

Bảo tàng Prado (Madrid)

Prado cất giữ bộ sưu tập Hoàng gia Tây Ban Nha, đặc biệt là nghệ thuật thế kỷ 14 và 19. Trong số đó có các tác phẩm vĩ đại của Velasquer,  Ribera, Murrilo,  Greco,  Goya, Titian,  Raphael, Rubens, Caravaggio,  Veronese,  và Rembrandt, cũng như Self-Portrait at Age 26 (Chân Dung Tự Họa ở Tuổi 26) của Durer (xem Chương 12),  The Garden of Earthly Delights (Ngôi Vườn của những Niềm Vui Trần Thế) của Bosch,  và tuyệt phẩm Descent from the Cross (Mang Chúa xuống Thập Giá) của Weyden.

Bảo tàng Hermitage (St. Petersburg)

Bảo tàng Hermitage chứa bộ sưu tập hoành tráng của các Nga hoàng,  bắt đầu từ thời Catherine the Great năm 1764. Bao gồm Madonna Litta của  Leonardo da Vinci,  2 Raphael, 8 Titian,  40 Rembrandt. Hermitage chỉ kém có Louvre đối với bộ sưu tập các họa phẩm Pháp,  với các tác phẩm của Poussin, Lorraine,  Watteau,  Ingres,  Delacroix,  Coror,  và Courbet,  cũng như một bộ sưu tập ấn tượng của trường phái Ấn tượng và Hậu-Ấn tượng.

Bảo tàng Rijksmuseum (Amsterdam)

Rijksmuseum là bảo tàng lớn nhất của Hà lan. Những tác phẩm nổi tiếng của Rembrandt  Night Watch (Tuần Đêm),  The Jewish Bride (Cô Dâu Do thá), The Denial of St. Peter( Sự Khước Từ của Thánh Peter) đều có ở đây.  Cũng như bức The Merry Drinker (Người Uống Rượu Vui Vẻ) của Hals và bốn bức của Vermeer,  trong đó có The Love Letter (Thư Tình)  The Kitchen Maid (Người Hầu Bếp).

 

Bảo tàng British (London)

British Museum chứa đầy những đồ cướp bóc nghệ thuật, lấy đi từ các thuộc địa của Anh trong lịch sử 300 năm của đế quốc Anh. Chỉ cần sở hữu các tranh điêu khắc đá  Elgin là bảo tàng này vẫn còn trụ được  trong danh sách này của tôi. Các bức điêu khắc đá này được thiết kế  và có thể do tay Phidias,  nhà điêu khắc vĩ đại nhất của Hy lạp cổ, chạm khắc. Bạn có thể nhìn ngắm các tuyệt phẩm Elgin này hàng giờ mà không thấy chán __ sự đa dạng của hình ảnh như vô hạn. Bức tường đá chế ngự vài gian phòng rộng.

Dĩ nhiên,  British Museum còn chứa nhiều đồ nghệ thuật cướp bóc khác, kể cả Rosetta Stone (xem Chương 6) tịch thu được từ người Pháp đã phát hiện ra nó trong cuộc chinh phạt của Napoleon ở Ai cập. Hiện vật về Ai cập của bảo tàng rất phong phú và bộ sưu tập các tượng La mã chắc phải làm Caesar phải trố mắt.

Bảo tàng Kunsthistorisches (Áo)

Bảo tàng có tên nghĩa là Bảo tàng Nghệ thuật Lịch sử là bảo tàng lớn nhất ở Trung Âu. Phòng Marie de ‘ Medici,  với sáu bức tranh của Rubens,  chào mừng cuộc hôn nhân giữa Marie de Medici với Vua Henry IV của Pháp. Những bộ sưu tập nổi bật khác là của Bruegel,  Weyden,  Vermeer,Titian,  Durer, Jan van Eyck, Giorgione,  Caravaggio. .  .

             

Chương 28

Mười Quyển Sách Vĩ Đại của Mười nghệ sĩ Vĩ Đại

                                               

Phần nhiều sách viết về nghệ thuật là do những người không phải nghệ sĩ viết ra; từ đó sinh ra mọi sự hiểu lầm.                                                                          __ Eugene Delacroix

 

Rất ít có hoạ sĩ lớn nào cũng là nhà văn lớn. Mười quyển sách trong chương này đều được chấp bút bởi những nghệ sĩ tên tuổi. Đọc những lời họ viết ra và nhìn ngắm các tác phẩm của họ sẽ cho bạn một cái nhìn bao quát hơn về nghệ thuật của họ và am hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa của chúng.

Bàn Về Hội Họa (On Painting),  của Leonardo da Vinci

Bạn có thể gọi Bàn Về Hội Họa của da Vinci là quyển sách về bộ mặt khoa học của nghệ thuật. Leonardo thích pha trộn các ngành học thuật còn nhiều hơn là thích trộn màu. Vì thế Về Hội Họa vừa là sách nghệ thuật vừa là sách khoa học. Nếu bạn sử dụng cả hai bán cầu não đều đặn như da Vinci (bạn không chỉ là con người kỹ thuật mà cũng là con người sáng tạo),  thế thì Bàn Về Hội Họa có thể là quyển sách dành cho bạn. Ngoài ra,  bước lên bên trong một bộ óc phức tạp như của Leonardo và để cho chạy ăn khớp với bộ óc của ông là cách tập aerobic trí tuệ tuyệt vời. Giống như chạy bộ bên cạnh một vân động viên chạy bộ Olympic.

Cuộc đời của những hoạ sĩ,  điêu khắc gia và kiến trúc sư  lừng danh nhất (Lives of the Most Eminent Painters,  Scuptors, and Architects),  của Giorgio Vasari

Quyển sách này là mỏ vàng chứa những thông tin về nghệ thuật và nghệ sĩ thời Phục hưng. Ông đề cập đến khoảng 31 hoạ sĩ, điêu khắc gia,  và kiến trúc sư, trong đó có Giotto,  Ghiberti,  Masaccio,  Brunelleschi,  Donatello,  Angelico,  Lippi,  Bellini,  Botticelli,  da Vinci,  Michelangelo, Raphael, và Titian. Tác phẩm của Vasari chứa đầy những giai thoại đầy màu sắc về các nghệ sĩ, một số là bạn thân của ông,  như Michelangelo và Titian.

Thơ Toàn Tập và Thư Tuyển Chọn (Complete Poems and SelectedLetters) của Michelangelo

Các bài thơ và những lá thư của Michelangelo cho ta nhìn sâu vào nhân vật này và giúp bạn hiểu được họa phẩm và điêu khắc của ông đầy đủ hơn. Mặc dù Michelangelo không được biết đến như một thi sỹ lớn,  nhiều bài thơ của ông cũng khá hay. Hàng trăm bài thơ đều là thơ tình,  đa số là thơ về tình yêu đồng tính lặng thầm. Nhiều bài thơ ông viết về cuối đời nói về những nổi đau.

Ghi Chép (Journals) của Eugene Delacroix

Tác phẩm này mang người đọc đi xa trong cuộc hành trình đầy cảm hứng qua tâm trí của một nghệ sĩ lớn. Ghi Chép một phần là tiểu sử,  một phần là sự tự khám phá,  một phần là phê phán nghệ thuật, và một phần là triết lý. Delacroix cũng viết về tình bạn của mình với nhạc sỹ Chopin và nữ văn hào George Sand, về những khao khát và sợ hãi,  về tình cảm nồng nàn đối với một số người mẫu của mình. Ghi Chép chứa đầy những nhận thức tinh tế về cuộc đời,  về nghệ thuật, và tiến trình sáng tạo.

Những Bức Thư của Van Gogh (Van Gogh’s Letters)

Những thư này van Gogh viết cho em ông Theo là một trong số những bức thư vĩ đại nhất từng được viết ra bởi một nghệ sĩ, và đến nay chúng vẫn giữ được nét tươi tắn như ngày nào. Trong những lá thư thân tình này,  van Gogh giải thích nhiều lựa chọn của mình về hội họa, các quyết định về bố cục, ảnh hưởng,  và nguồn gốc những niềm cảm hứng. Ông cũng khám phá cuộc sống một cách đầy ý thức và trung thực.

Rodin Bàn về Nghệ Thuật (Rodin on Art),  của Paul Gsell

Nghệ Thuật của Rodin là cuộc phỏng vấn với nhà điêu khắc vĩ đại Auguste Rodin. Những lời lẽ của Rodin cũng hùng hồn và uy lực như nghệ thuật của ông. Những hiểu biết sâu sắc và đáng nể của ông về nghệ thuật phun ra từ miệng ông như thể ông là một nguồn suối của sự tinh thông nghệ thuật.

Niên Giám Kỵ Sỹ Xanh (Der Blauer Reiter Almanac) của Wassily Kandinsky và Franz Marc

Quyển sách tiểu luận đầy tầm nhìn nầy giải thích những mục tiêu của hai nhà Biểu hiện lớn trong phong trào Kỵ Sĩ Xanh. Kandinsky,  lãnh tụ của Kỵ Sĩ Xanh,  tin rằng màu sắc,  đường  nét,  và hình thể tương cận với giai điệu và nhịp điệu trong âm nhạc. Ông nỗ lực vẽ nên những hài hòa màu sắc và giao hưởng màu sắc,  mà ông tin sẽ nâng cao tâm hồn con người, tẩy sạch chúng khỏi chủ nghĩa vật chất. Niên giám Kỵ Sĩ Xanh,  khởi sự là một loạt tập san trước khi tập hợp thành tác phẩm này, là chương trình hành động của cuộc thanh tẩy tâm linh qua một trào lưu nghệ thuật mới.

Niên Giám Kỵ Sĩ Xanh nói về nhiều bộ môn; trong đó có tiểu luận, tranh vẽ,  tổng phổ âm nhạc và một  vở kịch. Kandinsky không chỉ tích hợp hội họa và âm nhạc,  mà cũng mang các nghệ sĩ thuộc đủ mọi ngành (nhà văn,  kịch sĩ,  nhạc sĩ,  hoạ sĩ) vào trong phong trào. Ngay cả nhà soạn nhạc nổi tiếng Arnold Schoenberg cũng đóng góp một bài viết xuất sắc về mối liên hệ giữa âm nhạc và ngôn ngữ.

Bàn Về Tính Tâm Linh trong Nghệ Thuật (Concerning the Spiritual in Art) by Wassily Kandinsky

Quyển sách này khó đọc nhưng rất đáng đọc. Nó giúp bạn hiểu được một số những động lực của nghệ thuật hiện đại. Quan trọng hơn,  nó giải thích vai trò tâm linh mà Kandinsky,  cũng như nhiều nghệ sĩ khác,  gán ghép cho nghệ thuật. Kandinsky tin rằng con người phản ứng với màu sắc theo cách họ phản ứng với âm nhạc,  nhất là nếu màu sắc được sắp xếp như những nốt nhạc với kiểu dạng và sự đa dạng như kính vạn hoa. Ông tin rằng nghệ thuật màu sắc có thể làm thức tỉnh một chiều kích tâm linh đang ngáy ngủ nằm ẩn bên trong chúng ta. Kandinsky cho xuất bản quyển sách này cùng năm ông với Franz Marc cho in Niên Giám Kỵ Sỹ Xanh.

 Kandinsky nhắm đến một hình dạng mới của nghệ thuật sẽ gởi đến giới bình dân một thông điệp tức thì,  một nghệ thuật không tạo ra vì tiền hay chỉ để gây sốc,  mà vì một khao khát được chạm đến và thức tỉnh tâm hồn người xem,  một mong mỏi được hát bằng màu sắc vượt lên cao hơn hình dạng và thế giới vật chất mà hình dạng diễn tả. Chuyện hơi phức tạp,  phải không?

Nhật Ký của Frida Kahlo (The Diary of Frida Kahlo): Một chân dung tự họa thân tình.

Nhật ký của Kahlo đem người đọc đến với cuộc hành trình thi vị qua tâm trí dày vò của mình. Nhật ký chứa nhiều bài thơ tình gởi đến Diego Rivera,  người chồng và thi thần của mình, người thường bỏ bà đi với những phụ nữ khác nhưng luôn trở về. Trong những bài thơ, bà sử dụng ngôn ngữ hội họa (màu sắc và những hình thể hữu cơ và hình học) để chuyển tải cùng một thứ cảm xúc và ý tưởng mà bà bày tỏ trong nghệ thuật của mình. Nhật ký chứa đầy những phác họa và những  tranh màu nước mà những hình ảnh và ý nghĩa của chúng là  khuôn đúc  các bài thơ của bà.

Kiến trúc Hundertwasser: Vì một nền kiến trúc nhân bản hơn hài hòa với Tự nhiên (Hundertwasser Architecture): For a More Human Architecture in Harmony with Nature) của Hundertwasser

Hundertwasser,  một nhà Hiện thực Lập dị Áo,  tuyên chiến với đường  thằng. Tại sao? Vì không có đường  thẳng nào trong tự nhiên, theo Hundertwasser. Ứng dụng ý tưởng này vào kiến trúc, Hundertwasser sáng tạo phong cách  kiến trúc hữu cơ với những bức tường và sàn nhà dợn sóng và  vườn cây trên sân thượng __ tất cả đều có màu sắc rực rỡ. Hundertwasser tin rằng kiến trúc hiện đại tách ra khỏi tự nhiên,  như được lắp đặt thêm vào tự nhiên. Ông muốn xây dựng những công trình trông như mọc ra từ tự nhiên. Quyển sách được minh họa phong phú này giải thích những lý thuyết thú vị của Hundertwasser.

Chương 29

Mười Nét Cọ Làm Rung Chuyển Thế Giới

Mặc dù nhiều hoạ sĩ ký tên vào tác phẩm của mình, những nét đi cọ của họ cũng là chữ ký xác định nhất. Một số chữ ký khoa trương,  và một số khác hầu như không thấy được. Các nhà thưởng ngoạn có thể nhận diện được tác giả chỉ bằng nhìn vào nét đi cọ. Trong chương này,  tôi sẽ đề cập với bạn những nét cọ đã làm thay đổi bộ mặt của nền hội họa.

Người Tạo  Xu Thế cho Sơn Dầu: Jan van Eyck

Trước Jan van Eyck,  hầu hết hoạ sĩ vẽ bằng tempera __ một hổn hợp của phẩm màu và lòng đỏ trứng gà hoặc một chất keo nào đó. Tempera có một số bất lợi:

  • Vì lòng đỏ khô quá nhanh, các hoạ sĩ phải vẽ cho nhanh.
  • Các màu tempera khó pha trộn __ các hoạ sĩ phải dùng những mẹo để khiến màu sắc hòa trộn được.
  • Nét cọ hiện rõ trong tempera và điều đó không phải lúc nào cũng được các hoạ sĩ muốn có.
  • Bức tranh hoàn tất có một vẻ mờ đục, muốn bức tranh được bóng bẩy,  các hoạ sĩ phải làm bóng chúng.

Một số hoạ sĩ thực nghiệm việc trộn dầu với tempera,  nhưng kết quả không khả quan lắm. Thế rồi Jan van Eyck đến. Ông khám phá ra cách hòa trộn đúng đắn giữa dầu và phẩm màu và làm sửng sốt thế giới nghệ thuật với các họa phẩm làng mướt của mình. Hiển nhiên là nét cọ không nhìn ra được. Đối với các hoạ sĩ đương thời,  các bức họa của Jan van Eyck bóng loáng đến nổi khi van Eyck vẽ một tấm gương ở hậu cảnh __ như ông đã  làm trong bức Đám Cưới của Arnolfini (xem Chương 12) __ người xem cảm thấy là mình có thể thấy ảnh phản chiếu của mình trong gương.

Vì van Eyck đã tìm phương pháp pha trộn dầu-phẩm màu,  người ta gọi ông là “Cha Đẻ của Tranh Sơn Dầu,“ Nhưng ông không sáng chế sơn dầu __ ông chỉ đơn thuần làm nó hiệu quả hơn.

Phong cách mới lập tức lan truyền khắp Hà lan,  rồi vào Pháp,  và cuối cùng đến Ý. Những nghệ sĩ Ý đầu tiên làm chủ vẽ sơn dầu là Messina và Bellini (xem Chương 12).

Sương Khói Đó là Gì Vậy? Leonardo da Vinci

Một trong những cách Leonardo da Vinci vẽ ra gương mặt của Mona Lisa đầy sức sống là bằng cách làm bóng gò má, cằm,  và trán nàng một cách tự nhiên (xem chương 11). Nếu bạn nhìn vào một bức vẽ chì một quả cầu, bạn sẽ nhìn ra cách thức ông đã làm. Để biến một hình tròn thành một quả cầu, nghệ sĩ dùng phương pháp đánh bóng. Quả cầu được vẽ sáng hơn phía trước và dần dần tối hơn khi lùi ra sau để tạo ra dáng vẻ của hình khối.

Leonardo da Vinci làm tương tự ít nhiều bằng màu sắc. Ông sơn những lớp màu trong suốt chồng lên nhau. Điều này làm ông có thể hòa trộn mịn màng những sắc độ da thịt sao cho chúng dần dần tối hơn hay sáng hơn hay hồng hơn khi ông sơn tròn một bề mặt. (Những miền tối hơn có nhiều lớp hơn.) Đường viền nơi hai màu lẫn vào nhau,  trên má trái của Mona Lisa chẳng hạn,  có một vẻ mờ nhòe hay sương khói,  thay vì một đoạn rõ nét. Leonardo sử dụng thuật ngữ sfumato để mô tả hiệu ứng “sương khói” này.

Đánh mất đi và tìm được trong  bóng tối của Rembrandt

Rembrandt làm mờ ánh sáng trong các bức hoạ, khiến hậu cảnh trông bí ẩn,  sâu hút.  Bóng tối này tác dụng đến ánh sáng, khiến nó quý giá hơn,  như ngọn đuốc trong hang động hoặc ánh sáng của que diêm cuối cùng. Ánh sáng trên gương mặt của nhân vật ông __ thường tỏa sáng một màu vàng __ cho ta cảm giác ánh sáng thân thương của lò sưởi mà bạn có thể như sưởi ấm bàn tay mình. Ánh sáng như của nến này giúp tranh của ông mang tính nhân bản,  có lòng trắc ẩn ấm áp. Bảng màu giới hạn của sắc độ đất mà ông sử dụng làm thăng hoa tính nhân bản này và dáng vẻ người của các nhân vật ông.

Thực nghiệm của Rembrandt với sáng và tối rất nổi tiếng. Cũng như nét cọ của ông. Khi phong cách của ông chín mùi, bức tranh của ông càng dày hơn. Ông trải sơn dầu bằng dao trộn màu từng lớp như lớp kem trên bánh. Kỹ thuật này gọi là impasto (vẽ đắp). Năm mươi năm trước Titian cũng chuyển sang chiều hướng này nhưng Rembrandt theo một phong cách xa hơn. Nhìn gần,  các đặc điểm trên gương mặt hầu như không thể nhận ra. Nhưng bước lùi chúng sẽ hiện ra rõ nét. Độ dày của sơn khiến chúng trông thực hơn vì bức tranh có thêm chiều sâu. Trên gương mặt của những người già trong tranh ông,  bạn sẽ cảm thấy như là mình có thể nhìn thấy được những lớp lang của cuộc sống bên dưới lớp da (như các giai tầng của sự hình thành lớp đá cổ).

Jan van Eyck che dấu nét cọ của mình; còn Rembrandt phô trương nó với sự bay bướm táo bạo. Bạn có thể cảm nhận được niềm vui của ông khi múa cọ trên mặt toan. Kỹ thuật này khiến cho tranh ông cá tính __ mang tính cách mạng trong nghệ thuật vào thời đại ấy.

Gã kia có cần kính không? Monet và trường phái Ấn tượng

Claude Monet làm việc ngoài trời và nắm bắt những hiệu ứng không khí và sự thay đổi màu sắc. Ông làm được điều này bằng cách đắp những đốm màu trên toan khi nhìn từ xa chúng sẽ pha trộn nhau. Nhưng vì chúng còn là những đốm màu,  chúng tạo một hiệu ứng lấp lánh __ như ánh nắng lấp lánh trên mặt nước. 

Monet nghiên cứu cách ánh sáng phân tán,  hay cách thức chiếc áo xanh của phụ nữ nhuộm những vật chung quanh nó bằng một thứ ánh sáng xanh dịu dàng. Thay vì một gương mặt hay y phục, Monet vẽ những mảng màu và mảng ánh sáng tạo nên gương mặt hay y phục ấy. Khi ông vẽ,  những mảng màu tạo thành những cụm màu lớn hơn,  tạo thành tay, nón,  hay nước lấp lánh của một ao sen. Sản phẩm cuối cùng là một bức tranh trông phóng khoáng hơn. Trong một số bức tranh,  các nhân vật hình như sắp sửa tan biến vào phong cảnh.

Phong cách điểm màu của Seurat

Seurat vẽ ánh sáng vỡ tan trên vật thể, như những mãnh kính vỡ nát __ theo một lối cách điệu hóa. Thay vì vẽ những đốm màu (như Monet),  Seurat vẽ những điểm màu. Ngày nay,  người ta có thể nói ông đã “số hóa” những hình vẽ của mình, tạo bức tranh từ hàng ngàn pixel màu. Các sử gia nghệ thuật gọi phong cách độc đáo này là trường phái điểm màu.  Tại sao phải chịu mất công vẽ một bức tranh rộng lớn chỉ bằng những điểm màu li ti? Seurat đã nghiên cứu khoa học về màu sắc và ứng dụng nó vào tranh mình. Ông biết rằng những sắc màu đứng cạnh nhau sẽ tô màu cho nhau. Một khăn ăn đỏ nằm trên bàn ăn có trải khăn vàng sẽ ném một ít màu đỏ của nó lên mặt bàn. Tương tự, một chút màu vàng sẽ bắn lên khăn ăn đỏ.

Seurat cũng biết một điều gì đó ít hiển nhiên hơn: Những màu sắc tương tác nhau không chỉ ném bóng tối màu sắc lên nhau. Mỗi màu cũng ném ra màu khác,  ít mong đợi hơn,  màu phụ của nó nằm đối diện với nó trên bánh xe màu. Vì thế khăn ăn đỏ không chỉ ném ra bóng tối màu đỏ, mà cũng bóng tối màu xanh lá (xanh lá là màu phụ của đỏ.) Chiếc khăn trải bàn vàng ném ra một ít màu phụ của nó,  màu tím. Vì thế bạn nhìn những vệt màu vàng và tím trên chiếc khăn ăn màu đỏ và những vệt màu đỏ và xanh lá trên chiếc khăn trải bàn vàng! Seurat trộn lẫn những điểm màu của ông để nhấn mạnh những hiệu ứng này và khiến những màu sắc ông sử dụng hình như linh động hơn trong mắt người xem. Nhưng hiệu ứng không hoàn toàn có tác dụng vì những điểm màu của ông cách nhau quá xa không thể ném bóng tối màu sắc lên nhau (xem the Circus của Seurat trong Chương 20). Nhưng hiệu ứng chúng gây ra vẫn còn như là ma thuật.

Nét cọ điên cuồng: Van Gogh

Những hình dạng trong các tác phẩm của van Gogh không trộn lẫn vào nhau như trong tranh Monet, vậy mà một năng lượng tỏa khắp, liên kết chúng,  trộn lẫn chúng “đằng sau những cảnh vật.”

Van Gogh tin có một sinh lực phổ quát, và đó là những gì ông vẽ trong một đa dạng cách biểu lộ. Đôi khi ông dường như đang săn đuổi năng lượng này bằng cây cọ của mình. Ở những lần khác ông nắm bắt nó bằng những nét cọ dày, xoáy tròn hoặc bằng những phết màu nhanh gọn trông như một trận mưa màu (xem Người Gieo Mạ The Sower của ông). Các họa phẩm của ông cho ta một cảm xúc khải huyền; những hình dạng hình như trên bờ vực sụp đổ và biến mất vào trong một biển cuồn cuộn của năng lượng thuần túy. Van Gogh thành tựu được điều này với nét cọ mạnh mẽ và với màu sắc rực rỡ bùng nổ mà cũng thô mộc.

   

Vẽ cho xanh: Picasso

Picasso có thể là hoạ sĩ thể nghiệm nhiều nhất của mọi thời. Ông không bao giờ dừng lại một phong cách nào quá lâu. Ông thay đổi phong cách như thay thời trang hoặc thời kỳ. Ông trưởng thành qua Thời kỳ Xanh __ khi mọi thứ ông chạm đến đều hóa xanh __ Thời kỳ Hồng,  thời kỳ Lập thể, và cứ thế. Picasso không bao giờ cho mình chìm vào sự giống nhau. Ông không bao giờ ngừng trưởng thành. 

Nhưng đằng sau mọi sự thay đổi là có một sợi chỉ xuyên suốt: sự giản lược. Picasso giản lược mọi thứ đến những hình dạng đơn giản nhất bên dưới. Ông có thể vẽ đến 14 phiên bản của một con bò mộng. Con bò đầu tiên trông giống con bò mà bạn không muốn vây vào; và con cuối cùng như thứ gì đó bạn có thể móc áo khoác mình lên. Vậy mà sự giản lược vẫn còn chứa những chất liệu tinh túy của một con bò mộng Tây Ban Nha.

Picasso có thể vẽ chì rất tuyệt,  và ông thích pha trộn kỹ năng đó với nét cọ nồng nàn. Có khi trong một số tác phẩm đầu tiên của mình, ông còn để cho sơn nhểu lên mặt toan như thể chiếc cọ cũng có cuộc sống của riêng chúng.

Vẽ màu sắc có nhạc điệu: Kandinsky

Kandinsky loại bỏ các đường,  quay lưng lại với hình dạng để tập trung vào màu sắc. Ông tin rằng màu sắc thuần túy __ nhất là màu xanh __ là bệ phóng cho sự thức tỉnh tâm linh. Kandinsky cảm thấy rằng bằng cách giải phóng màu sắc khỏi hình dạng,  ông có thể giải phóng con người khỏi ám ảnh về những vật thể ngoại giới. Hình dạng chỉ là vật liệu đầu tiên phải ném ra cửa sổ __ phần còn lại sẽ theo sau. Như người bạn Nga của ông là Malevich, Kandinsky là một trong những hoạ sĩ hoàn toàn trừu tượng đầu tiên,  một nhà tiên phong đã giải phóng hội họa khỏi hình dạng.

Kandinsky dùng những vạt màu rộng,  thường làm mờ nhòe những đường  biên nơi các màu sắc gặp nhau và hòa hợp nhau. Ông thay hình dạng hiện thực bằng hình thể hình học. Không có những hình dạng ở thế giới thực để đóng khung màu sắc và giữ những sự vật cách biệt hoặc phân thành từng ngăn,  những hình thể của ông có thể tự do tương tác với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau.

Pollock Ném Sơn

Pollock thích ném sơn vào mặt toan. Ông không cần cọ vẽ,  mặc dù ông cũng thường dùng một cây cọ,  nhưng lông cọ hầu như không hề chạm đến mặt tranh. Thay vào đó,  ông để sơn nhểu xuống,  hay dùng cọ để vẩy và bắn sơn. Sau đó,  ông sẽ vạch và quậy vũng sơn bằng một chiếc gậy. Kết quả trông như pháo hoa giấy bắn ra hay phần kết thúc của một màn pháo hoa (xem Vô Đề của Pollock ở chương 23). Những tác phẩm khác nhắc tôi nhớ đến những hộp tơ màu đổ tuôn ra. Tất cả những họa phẩm của ông dự đoán sự loạn cuồng và điên đảo của thập niên 1960. (Polloch chết trong một tai nạn ô tô vào năm 1956, năm Elvis Presley phát hành “Chó Săn.”)

Nghệ thuật của Pollock __ trường phái Biểu hiện Trừu tượng __ không chỉ nói về những gì mình vẽ,  mà còn cách thức mình vẽ. Thay vì phối màu trên bảng màu,  ông phối màu ngay trên mặt toan. Hành động vẽ trở thành phần cốt lõi của nghệ thuật ông (người tiên phong của nghệ thuật trình diễn). Những bức tranh đã hoàn tất cho thấy những di chuyển và sinh lực của ông khi ông đi vòng quanh khung vẽ,  đổ, nhễu,  bắn tung tóe,  và khuấy sơn. Cách tiếp cận toàn thân của ông được gọi là hội họa hành động. Cọ hay gậy,  sơn văng bắn,  và thân hình ông họp làm một.

Đối với Pollock,  sự luộm thuộm là quan trọng. Ông muốn tranh mình có dáng của y phục lấm lem sơn. Nhưng đó là một sự luộm thuộm được bố cục cẩn thận mà ông gọi là ”hài hòa.”

Vẽ bằng nùi cao su và Richter

Gerhard Richter,  hoạ sĩ còn sống duy nhất trong danh sách này,  khởi nghiệp vẽ từ ảnh chụp. Ông không phải là người đầu tiên làm việc này: Trong thập niên 1969 các nhà hiện thực nhiếp ảnh dùng ảnh chụp thay vì người mẫu. (Xem Chương 24) Nhưng Richter không hài lòng khi chỉ sao chép ảnh chụp. Ông xem ảnh chụp như một hậu cảnh trung tính để ông có thể xây dựng tác phẩm. Ông không muốn đặt chủ thể của ảnh chụp làm nền tảng cho họa phẩm của mình. Đối với Richter,  chủ thể thực sự là sơn dầu,  là  sự quét sơn trong mọi khả năng dày,  mỏng, mềm mại,  mờ nhạt.

Trong cuối thập niên 1960,  Richter ít nhiều rời bỏ màu sắc, vẽ một loạt những tranh màu xám để khám phá những kết cấu của sơn dầu và những cảm xúc và ý tưởng mà những kết cấu khác nhau gợi lên. Từ đó, ông trở lại với màu sắc. Đôi khi ông bắt đầu bằng một ảnh chụp, và đôi khi ảnh hậu cảnh không thể nhận ra được __ chỉ là những lớp sơn dày.

Richter thường dùng nùi cao su (cần gạt dùng để lau chùi) thay cho cọ sơn. Công cụ này khiến cho nhiều tranh ông trông bóng mượt nước sơn dầu. Nếu bạn chưa từng trông thấy một tranh như thế,  hãy ném một số hộp sơn lên kính xe rồi dùng cần gạt nước mưa quét qua lại. Dĩ nhiên,  có nhiều hơn như thế. Các vệt quét là “nét cọ”ưa thích của Richter.

Nét cọ ưa thích thứ hai của Richter là làm nhòe. Richter không chỉ quét và làm nhòe một bức tranh chỉ một lần. Ông vẽ hết lớp này đến lớp khác những vết quét và làm nhòe. Bạn có thể nghĩ về mỗi lớp như một nền văn minh đang chết khi ông vẽ nó. Khi ông hoàn tất,  tác phẩm đã biến thành một địa điểm khảo cổ gồm những  nền văn minh được xếp lớp. Công việc của người xem: Khai quật bức tranh.

Cũng vậy,  các tranh của Richter ghi lại sự sáng tạo riêng của chúng. Mặc dù ông liên tục cải thiện tác phẩm của mình, sự chỉnh sửa của ông không thay thế những sai phạm đã mắc phải__ chúng vẫn còn lưu lại với những chỉnh sửa mới thêm vào. Không có gì biến mất hoàn toàn. Nó như quay một cuốn phim tài liệu về một bộ phim khi nó đang được quay. Bạn sẽ gồm luôn thước phim thô,  những đoạn nẩy giật,  những cú cắt và quay lại. Nó là  một phần của lịch sử cuốn phim,  cái thực tại nằm bên dưới.

               


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s