Thời đại khai sáng và cách mạng kinh tế (P3)

Tác giả: Tôn Thất Thông

Adam Smith đặt nền móng cho kinh tế học cổ điển

Người ta có thể nói về Adam Smith mà không sợ bị phản đối, rằng với một tác phẩm duy nhất, người Tô Cách Lan cô đơn này đã đóng góp cho phúc lợi loài người nhiều hơn tất cả những lãnh đạo quốc gia và những nhà lập pháp tên tuổi mà lịch sử đã ghi nhận trước đây[1].

Sử gia Anh Henry Thomas Buckle

***

Ghi chú: Trong hai phần đầu (xem P1 ở đây và P2 ở đây), chúng ta đã duyệt qua lịch sử kinh tế tiến triển thế nào trong hai thế kỷ 17 và 18, trong đó Adam Smith vươn lên với vai trò là vị tổ phụ của một học thuyết kinh tế mới mẻ. Phần 3, cũng là phần cuối của loạt bài này, chúng ta xem thử động lực nào đã thúc đẩy Smith bỏ ra hơn 12 năm để nghiên cứu, triển khai và hoàn tất hệ thống lý thuyết của mình, để lại một công trình đáng giá ngàn vàng cho hậu thế.

***

Tiếp thu những tư tưởng tiên phong của các học giả Pháp, Anh và Tô Cách Lan, Adam Smith đã bỏ ra 12 năm để thu thập dữ liệu, quan sát hoạt động sản xuất trong các nhà máy đang phát triển, tranh luận với những người bạn trong tầng lớp cai trị đương thời, du lịch và trao đổi với bạn bè trong giới học giả tại Tô Cách Lan, Anh và Pháp. Từ đó Adam Smith hệ thống hóa nhiều vấn đề kinh tế của thời đại trong một tác phẩm đồ sộ hơn 1000 trang. Đó là tác phẩm “Khảo sát bản chất và nguồn gốc sự phồn vinh của các quốc gia[2]”, viết gọn lại là “Phồn vinh của các quốc gia”, một tác phẩm có một không hai, không chỉ riêng trong thế kỷ 18, mà kể cả cho đến vài thế kỷ sau.

Công lao thì nhiều, nhưng phần thưởng cũng vô cùng lớn lao. Ngày hôm nay, người ta không nhất thiết phải đọc tác phẩm của Adam Smith để có thể trở thành kinh tế gia giỏi. Những vấn đề cốt lõi của tác phẩm “Phồn vinh của các quốc gia” đã được phổ biến rộng rãi qua các bài giảng kinh tế và vô vàn sách báo tài liệu. Gần 250 năm sau khi xuất bản lần đầu, những luận đề cơ bản của Adam Smith vẫn còn giá trị cao và mang tính thời sự như mới ngày hôm qua.

Smith xây dựng hệ thống lý thuyết của mình vào hậu bán thế kỷ 18, lúc nền sản xuất công nghiệp Anh bắt đầu phát huy tác dụng và dẫn đầu thế giới nhờ những khám phá kỹ thuật mới mẻ. Máy móc bắt đầu được sử dụng để làm những công việc phức tạp mà con người khó lòng thực hiện được với sự chính xác cao và tốc độ sản xuất nhanh chóng. Nhưng trong bối cảnh phát triển hỗn loạn, mạnh ai nấy làm giàu, những bất cập của xã hội Anh và sự bất lực của guồng máy nhà nước cũng bộc lộ một cách rõ rệt. Chỉ một số ít người có nhiều tiền, có thể mua máy móc đắt tiền để đầu tư vào sản xuất và nhanh chóng chiếm thế độc quyền tuyệt đối (Monopol) hoặc độc quyền tương đối[3] (Oligopol) là có thể thống trị thị trường, còn lại người lao động và giới tiêu thụ nhỏ thì bị bòn rút của cải với đồng lương thấp so với giá cả độc quyền cao ngất ngưỡng. Đó là chưa kể guồng máy nhà nước tham ô còn cấu kết với các nhóm lợi ích để thao túng nền kinh tế quốc gia. 

Chính vì nhiều bất cập hiển lộ rõ ràng đó mà Adam Smith đã đưa con người, nhất là những người tiêu thụ yếu thế, vào vị trí trung tâm của học thuyết mới. Và trên quan điểm của một triết gia đạo đức học, Smith đòi hỏi rằng, mọi chính sách kinh tế phải đặt trên nền tảng tự do toàn diện của từng người trong xã hội. Trong tác phẩm Phồn vinh của các quốc gia, người ta tìm thấy hàng trăm lần thuật ngữ “tự do tư nhiên” (natural liberty), bao gồm nhiều quyền tự do căn bản của con người, tất nhiên kể cả quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu tài sản và quyền sử dụng tài sản đó cho mục tiêu cá nhân.

Ngoài ra, Adam Smith cũng không quên đề cao vai trò của doanh nhân trong tiến trình phát triển xã hội. Không phải ông đề cao kỹ năng kinh doanh của họ, mà ông chú ý đến sự đóng góp một cách vô thức của họ vào phúc lợi xã hội. Ông viết rằng, người doanh nhân trong hoạt động kinh tế của mình “thường không hỗ trợ một cách có ý thức cho lợi ích cộng đồng, cũng không hề biết phần đóng góp của mình cao bao nhiêu. […] Khi doanh nhân tạo công ăn việc làm, cung ứng sản phẩm cho xã hội, anh ta chỉ được thúc đẩy bởi lợi ích riêng tư. Tuy nhiên, anh ta được hướng dẫn bởi một bàn tay vô hình để hỗ trợ cho một mục đích tốt đẹp, vốn dĩ không hề nằm trong dự tính trước đó của anh ta[4]”. Chúng ta sẽ trở lại đề tài “bàn tay vô hình” khi bàn về tư tưởng cốt lõi của Adam Smith.

Sở dĩ lý thuyết kinh tế của Adam Smith được đón nhận nồng nhiệt trong giới học giả đương thời, một phần cũng nhờ phong cách từ đâu ông thiết kế nền tảng lý thuyết mới, một phong cách hiện đại vốn dĩ được ưa chuộng và đánh giá cao trong thời đại khai sáng: Smith hoàn toàn dựa vào quan sát và chiêm nghiệm những diễn biến trong thế giới thực và loại trừ hoàn toàn những cân nhắc về thế giới thần quyền. Ông không phải là triết gia chính trị, cũng không phải là nhà thần học, mà là một triết gia xã hội[5]. Và ông cũng được xem là một trong những gương mặt sáng giá có công thiết lập nền triết học xã hội hiện đại của thế kỷ 18. Người ta thường làm một so sánh lịch sử rằng, để kiến tạo nền triết học xã hội thì David Hume đối với Smith cũng giống như Galilei đối với Newton.

1 Thông thường, người doanh nhân không có ý định hỗ trợ một cách có ý thức cho lợi ích cộng đồng, cũng không hề biết phần đóng góp của mình lớn thế nào.[…] Khi doanh nhân tạo công ăn việc làm, cung ứng sản phẩm cho xã hội, anh ta chỉ được thúc đẩy bởi lợi ích riêng tư. Tuy nhiên, anh ta được hướng dẫn bởi một bàn tay vô hình để hỗ trợ cho một mục đích tốt đẹp, vốn dĩ không hề nằm trong dự tính trước đó của anh ta[6].

Hình []: Adam Smith (1723-1790). Nguồn: James Tassie 1787. Tải từ wikipedia, vùng công cộng

Để hoàn tất lý thuyết kinh tế mới, Adam Smith không có ý định bỏ ra 12 năm nghiên cứu với nhiều công sức như thế chỉ để cho độc giả nâng cao kiến thức. Ông tự đặt cho mình một trọng trách lớn hơn, là thực hiện viễn kiến về một thế giới hiện đại, trong đó mục đích trên cùng của hoạt động kinh tế là nhằm bảo đảm sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ một cách tự do, từ đó của cải được tích lũy và đưa đến tay mọi người, từ tầng lớp doanh nhân cho đến tầng lớp lao động thấp nhất trong xã hội. Để đạt mục đích đó, Smith tự đặt cho mình ba nhiệm vụ: Trước hết, Adam Smith muốn đả phá những tư tưởng kinh tế lỗi thời của trường phái trọng thương, vốn đã được sinh ra từ nhiều thế kỷ trước và vẫn còn ảnh hưởng đến xã hội ông đang sống. Thứ hai, Adam Smith muốn thuyết phục giới tinh hoa chấp nhận triết lý xã hội và phương thức hoạt động kinh tế mà ông đã dày công nghiên cứu và thông qua họ, ảnh hưởng rộng rãi đến từng người trong xã hội. Thứ ba, Adam Smith muốn thuyết phục giới vua chúa quý tộc cải cách guồng máy nhà nước và đi theo con đường mới phù hợp với nhận thức của thời đại.

Phê phán học thuyết trọng thương

 Adam Smith dùng nguyên Quyển IV với hơn 100 trang trong chín chương[7] để phê phán tư tưởng trọng thương và những hệ lụy về kinh tế và đạo đức của nó. Adam Smith nhận xét rằng, phái trọng thương xem số lượng vàng bạc quốc gia đang có là biểu tượng của phồn vinh. Từ đó nảy sinh tư tưởng trọng tiền hay vàng bạc với chức năng kép: vừa là công cụ của thương mại, vừa là thước đo giá trị. Hậu quả tất yếu của tư tưởng đó là[8]: thứ nhất với chức năng là công cụ của thương mại, tiền có thể giúp người sở hữu nó mua được bất cứ món gì dễ dàng hơn mọi phương tiện khác. Mọi nỗ lực đều hướng đến việc kiếm tiền, tức là thu nhặt vàng bạc. Nỗ lực nâng cao lượng sản phẩm cho người tiêu thụ không quan trọng bằng việc thu nhặt thật nhiều vàng bạc. Thứ hai, với chức năng là thước đo giá trị, mọi sản phẩm đều được quy ra lượng vàng bạc tương ứng. Người ta chỉ thích giao tiếp trao đổi với nhà giàu có nhiều vàng bạc. Kẻ nghèo thì ít ai quan tâm đến.

Vì xem vàng bạc là biểu tượng phồn vinh của quốc gia, trong lúc kỹ thuật khai thác kim loại quý chưa phát triển, phái trọng thương chủ trương xâm chiếm đất đai để cướp đoạt vàng bạc châu báu, gia vị quý hiếm và tài nguyên không có trong nước của họ. Phái trọng thương, cũng là lực lượng con buôn chính trị đương thời, cho rằng kinh tế thế giới đã đứng yên và tổng số của cải cũng không thay đổi, cho nên sự phồn vinh của quốc gia chỉ có thể được nâng lên bằng cách bắt những nước khác phải nộp kinh phí[9]. Thám hiểm xuyên lục địa, nạn xâm chiếm đất đai, chủ nghĩa thực dân cũng xuất phát từ đây. Ở trên, chúng ta đã thấy rằng, người khai sinh học thuyết trọng thương, Jean-Baptiste Colbert cũng chính là kiến trúc sư của chính sách thuộc địa Pháp trong thời gian trị vì của vua Louis XIV.

Chúng ta không phủ nhận công lao khám phá đất mới của những nhân vật huyền thoại như Cristoforo Colombo[10] hoặc James Cook, nhưng những người này đi khám phá không chỉ vì ham thích cuộc đời phiêu lưu lãng mạn, mà họ giong buồm ra khơi cả năm trường với một khế ước rõ ràng với nhà vua: mang về nước thật nhiều vàng bạc và sản vật quý hiếm. Các vùng đất mà họ vừa khám phá phải trả giá vô tận: Không những của cải bị cướp đoạt, mà nhiều nền văn hóa bị hủy diệt, nhiều dân tộc bản địa bị diệt chủng hoặc bị đồng hóa.  

Về ngoại thương, Adam Smith dùng cả Chương VIII của Quyển IV để trình bày về chính sách co cụm của phái trọng thương[11]. Do quan niệm sự phồn vinh của quốc gia được đo bằng lượng vàng bạc của cải, nên nhà nước không muốn của cải đó giảm xuống. Họ đặt ra nhiều quy định để lập rào cản thương mại, khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu với mục đích là gom góp thêm vàng bạc do xuất siêu mang lại.

Nhưng nếu chỉ như thế thì cũng không đến nỗi nào. Ở đây rào cản thương mại không chỉ là quy định thuế suất mà còn bao gồm nhiều điều luật nếu ai không tuân thủ sẽ bị phạt tiền và tù tội: cấm xuất khẩu nguyên vật liệu, cấm bán ra nước ngoài máy móc phục vụ cho sản xuất, cấm cả việc xuất khẩu bông, sợi, len, tơ lụa, cấm huấn luyện nghề nghiệp cho dân nước khác v.v… Về mặt nhập khẩu thì chỉ khuyến khích nhập nguyên vật liệu. Việc nhập phương tiện sản xuất thì bị hạn chế và ràng buộc bởi nhiều quy định. Còn hàng tiêu dùng thì bị cấm nhập khẩu. Adam Smith đặt câu hỏi về một trường hợp thực tế ở nước ông: Nếu rượu vang Tô Cách Lan với chất lượng thấp còn đắt hơn rượu Pháp với chất lượng cao, thì tại sao lại cấm nhập?

Quan sát nhiều hiện tượng kinh tế và xem xét những quy định phi lý về xuất nhập khẩu, Adam Smith kết luận: “Cũng không khó để phát hiện ai là tác giả của hệ thống trọng thương này; chắc chắn không phải giới tiêu thụ mà quyền lợi hoàn toàn bị lãng quên, nhưng là những nhà sản xuất có quyền lợi được đặc biệt quan tâm. Và cũng chính tầng lớp thương nhân và kỹ nghệ gia này là những kiến trúc sư chủ yếu [của chính sách kinh tế][12]”. Được phục vụ không phải là những người tiêu thụ riêng lẻ, mà là các nhà sản xuất.

Khoa học về chính sách kinh tế

 Rất nhiều vấn đề được trình bày trong tác phẩm „Phồn vinh của các quốc gia“ thí dụ như tiền tệ, ngân sách, giá cả thị trường, tiền lương, tăng trưởng, phân công lao động, tích lũy tư bản và cả những vấn đề về nhà nước như quân đội, cảnh sát, tư pháp, giáo dục, thuế khóa, chiến tranh, thuộc địa v.v… Trong khuôn khổ này, chúng ta khó đề cập hết các vấn đề ấy, nhưng chúng ta thấy nổi bật ba câu hỏi quan trọng có thể làm sườn cho việc cải thiện chính sách kinh tế của nhà nước đương thời: 1) Đâu là nguồn gốc của phồn vinh? 2) Làm thế nào để nâng cao sản lượng quốc gia? 3) Đâu là bí quyết để mang thịnh vượng đến mọi người bình thường trong xã hội?

Đâu là nguồn gốc của phồn vinh?

Khác với tư tưởng trọng thương xem vàng bạc là sự phồn vinh, Adam Smith cho rằng “phồn vinh của một quốc gia không chỉ bao gồm vàng bạc, mà cả đất đai, nhà cửa và hàng hóa khả dụng đủ các loại[13]”. Và nếu phái trọng thương cho rằng tích lũy nhiều vàng bạc là nâng cao sự phồn vinh, thì theo quan niệm của Adam Smith, phải không ngừng nâng cao khối lượng hàng hóa khả dụng của quốc gia. Đây là khởi điểm của khái niệm hàng hóa trong học thuyết kinh tế của Adam Smith.

Gắn liền với việc tăng khối lượng hàng hóa là việc tăng thu nhập cho giới lao động, vì chỉ khi nào thu nhập tăng lên, họ mới có điều kiện để tiêu thụ hàng hóa. Adam Smith phát hiện thêm: “Tiền đề để nâng cao thu nhập giới lao động không phải là mức độ phồn vinh hiện tại của quốc gia mà là sự tăng trưởng không ngừng của nó[14]”. Như vậy, giữa việc tăng thu nhập của từng người và sự tăng trưởng phồn vinh quốc gia có một quan hệ hữu cơ khắng khít, mỗi nhân tố vừa là hậu quả vừa là nguyên nhân của nhân tố kia. Đấy là triết lý mới trong hoạt động kinh tế: Adam Smith đặt từng người tiêu thụ riêng lẻ vào vị trí trung tâm của chính sách kinh tế. Họ vừa là lao động sản xuất ra hàng hóa trong một lĩnh vực nào đó, vừa là giới tiêu thụ kích thích sản xuất toàn xã hội bằng sức mua được tạo ra qua lao động của chính họ.

Làm thế nào để nâng cao sản lượng quốc gia?

Trong xã hội, khi tổng lượng lao động không thay đổi[15] thì câu hỏi đặt ra là làm thế nào để nâng cao sản lượng quốc gia? Adam Smith trả lời rằng “đó là một phép nhân tuyệt vời của việc sản xuất tất cả các mặt hàng được cải thiện, kết quả của nghệ thuật quản lý và phân công lao động [trong các doanh nghiệp riêng lẻ], từ đó sẽ sinh ra sự phồn vinh chung đến với từng người ở tầng lớp thấp nhất nếu xã hội được quản lý tốt[16]”.

Để có được kết luận đó, Adam Smith quan sát hai xí nghiệp sản xuất kim, một xí nghiệp của người thợ lành nghề, và xí nghiệp kia có 10 người thợ không chuyên nghiệp[17]. Quy trình sản xuất cả hai xí nghiệp giống nhau: kéo dây, làm thẳng, cắt, dập đầu kim, khoan lỗ, mài kim v.v…Trong lúc xí nghiệp của người thợ lành nghề chỉ sản xuất được vài trăm kim mỗi ngày thì xí nghiệp có 10 người thợ được phân công hợp lý chế biến 12 pounds dây thép, ra ước chừng 48.000 kim mỗi ngày, tức bình quân mỗi người sản xuất được 4.800 kim trong ngày. Từ sự quan sát thực tế sản xuất trong hai nhà máy tiêu biểu đó, Adam Smith tìm ra một phương pháp mới về quản lý sản xuất và phân công lao động trong xí nghiệp để đạt kết quả tối ưu, tức là đạt số lượng sản phẩm nhiều nhất trong một đơn vị thời gian. Adam Smith cho rằng phân công lao động là cốt lõi của việc tăng năng suất. Và nếu mỗi xí nghiệp riêng lẻ có thể sản xuất nhiều hơn với một đơn vị lao động trong một đơn vị thời gian, thì sản lượng quốc gia tất yếu sẽ tăng lên. Lý thuyết về phân công lao động của Adam Smith cũng là điểm xuất phát của phương pháp sản xuất dây chuyền mà người nổi danh nhất sau này là Henry Ford người Mỹ đã thực hiện thành công trong lĩnh vực sản xuất xe hơi. 

Với việc tăng năng suất sản xuất trên mỗi đầu người thợ nhờ áp dụng phương pháp phân công lao động trong giây chuyền sản xuất, Henry Ford đã làm một quyết định có tính cách mạng trong kỹ nghệ xe hơi vào năm 1914: ông giảm thời gian làm việc từ chín giờ mỗi ngày xuống còn tám, đồng thời tăng lương gấp đôi với viễn kiến rằng, khi sức mua của người thợ được tăng lên gấp đôi, thì sẽ đến một lúc, mỗi nhân viên của ông có thể sở hữu một chiếc xe Ford trong tương lai.

Để nâng cao hiệu suất kinh doanh của tư nhân, Smith có sáng kiến phải bãi bỏ phường hội cưỡng bách, hoặc nơi nào chưa bỏ được thì tìm cách hạn chế đến mức tối đa, để tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nhân độc lập và hội viên của các phường hội. Sáng kiến này tỏ ra có hiệu quả rất tích cực lên quá trình công nghiệp hóa, đặc biệt là sự thành hình các phát minh sáng chế tại Anh trong hậu bán thế kỷ 18.

Làm thế nào để mang thịnh vượng đến mọi người?

Trở lại hai câu hỏi ở trên: Nếu câu hỏi thứ nhất dẫn đến lý giải về nguồn gốc của sự phồn vinh, câu hỏi thứ hai dẫn đến phương pháp nâng cao phồn vinh quốc gia là tiền đề để nâng cao thu nhập của giới lao động, thì việc trả lời câu hỏi thứ ba này mới làm sáng tỏ tư tưởng chủ đạo của Adam Smith: phục vụ cho tự do tự nhiên[18] của con người. Là hậu bối trung thành của John Locke, bạn thâm giao của David Hume và thành viên sáng giá của trào lưu khai sáng Tô Cách Lan, Adam Smith luôn luôn cổ vũ cho một nền tự do toàn diện bao gồm tự do chính trị và tự do kinh tế.

Làm thế nào để tối ưu hóa hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa, nhằm nâng cao thịnh vượng cho mọi người và cải thiện năng suất lao động? Adam Smith trả lời rõ ràng: hãy cho họ quyền tự do kinh tế[19]. Khi bàn về tự do của từng con người riêng lẻ trong quan hệ với lợi ích chung của xã hội, Adam Smith đòi hỏi: “Mọi người, nếu không vi phạm quy định luật pháp, đều có quyền tự do tuyệt đối để thực hiện mối quan tâm và bằng cách riêng của mình, họ có quyền tuyệt đối sử dụng phương tiện sản xuất và vốn liếng của mình để cạnh tranh với người khác hoặc nhóm người khác[20]”.  

Trong tác phẩm Phồn vinh của các quốc gia, người đọc tìm thấy hơn 100 lần hai khái niệm tự do tự nhiên[21]tự do kinh doanh[22] và hầu như trong mỗi chương đều có lý giải về chúng. Ở đây, chúng ta quan tâm trước hết đến quyền tự do kinh doanh của mọi người. Về phía người cung ứng, quyền này bao gồm quyền sản xuất những gì luật pháp không cấm, quyền đem sản phẩm đến bất kỳ thị trường nào trong hoặc ngoài nước để bán với giá nào họ muốn, quyền sử dụng tiền bạc tài sản cho bất kỳ mục đích nào và tại đâu v.v… Về phía người tiêu thụ riêng lẻ tức là giới làm công, đấy là quyền mua bán trao đổi với bất kỳ ai những sản phẩm làm họ hài lòng, quyền hợp tác qua hợp đồng nào họ mong muốn, quyền đòi hỏi thù lao tương xứng v.v… Vì thế, thịnh vượng không chỉ có nghĩa là làm tăng thêm của cải vật chất mà còn là sự đối xử công bằng và nhân bản với từng người[23]. Smith lập luận rằng, các nguyên lý về quyền tự do nói trên là yếu tố quan trọng hàng đầu để tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa người lao động, nhà tư bản và hệ thống quyền lực nhà nước. 

Mặt trái của phồn vinh

Dù với tư tưởng tốt đẹp như thế, chủ nghĩa tư bản đã trở thành tồi tệ đến độ tàn bạo trong thế kỷ 19. Đời sống xã hội là một bức tranh vô cùng tương phản, một bên là những tập đoàn lớn với mức tập trung cao độ và quyền lực kinh tế mênh mông, bên kia là đông đảo quần chúng nghèo đói, thất nghiệp hàng loạt, lương không đủ sống, điều kiện lao động mất nhân phẩm. Nhưng có phải lý thuyết của Adam Smith đã dẫn đến tình trạng đó, hay đấy là sản phẩm của chính sách kinh tế của nhà nước đương thời? Đúng thế, “Adam Smith ít coi trọng những người được ưu đãi và các thế lực kinh tế. Ông giành nhiều cảm tình cho những công dân bình thường bị lợi dụng và thua thiệt trong suốt nhiều thế kỷ. Bây giờ họ phải được giải phóng khỏi chế độ lao động mỗi-ngày-16-giờ với đồng lương không đủ sống và một cuộc đời ngắn ngủi[24]”.

Điều thiếu sót của Adam Smith trong tác phẩm Phồn vinh của các quốc gia là, mặc dù thấy trước và nhiều lần cảnh báo về hoạt động khống chế thị trường bất chính của các nhà tư bản, nhưng ông đã không đưa ra một giải pháp nào để giúp cho nhà nước định hướng chính sách. Và cũng chính vì thiếu sót này mà chủ nghĩa tư bản tưởng chừng đã sụp đổ trong thập niên 1930. May mắn thay, chính những hậu bối trung thành của Adam Smith đã cứu vãn chủ nghĩa tư bản trong thế kỷ 20 bằng những biện pháp phù hợp về vai trò của nhà nước trong kinh tế. Tư tưởng tự do của Adam Smith vẫn còn được ưa chuộng, chủ nghĩa tư bản không dãy chết như nhiều người dự đoán mà vẫn còn sống sót và ngày càng tươi tốt. Tuy nhiên, với mức độ chênh lệch giàu nghèo trong xã hội ngày càng cao, chưa biết diễn tiến trong thế kỷ 21 sẽ thế nào.

Nhưng bất chấp thiếu sót to lớn đó, chúng ta cũng có thể nói một cách công bằng rằng, Adam Smith và các kinh tế gia cổ điển thế kỷ 18/19 “tuy không phát minh ra kinh tế thị trường nhưng đã khám phá ra nó và công trạng bất tử của họ là đã vén màn bí mật của trật tự [kinh tế thị trường], đã giải thích được mối quan hệ giữa những hoạt động quan trọng nhất trong kinh tế thị trường và đã biến nó thành ý thức chính trị sống động[25]”.

Thế kỷ của Adam Smith là thế kỷ tiền công nghiệp, cho nên ông chưa chứng kiến để lý giải sự hình thành quyền lực của những tập đoàn độc quyền vốn dĩ là nguồn gốc của mọi xáo trộn trật tự cạnh tranh và sự hủy hoại cơ chế thị trường. Nhưng lý thuyết của Adam Smith về tự do cạnh tranh, về phân công lao động, về giá cả v.v… đủ để tạo thành – dù chỉ một phần – nền tảng lý luận của kinh tế thị trường cho đến hôm nay.

Nếu tiến bộ khoa học và kỹ thuật góp phần làm cho việc chế tạo sản phẩm đạt hiệu suất cao, thì lý thuyết kinh tế của Adam Smith có vai trò là kim chỉ nam cho các nhà hoạch định chính sách kiến tạo một khung hoạt động hữu hiệu, trong đó việc sản xuất, hình thành giá cả và phân phối đến người tiêu thụ được tiến hành một cách hợp lý. Khung hoạt động đó là động lực của sự tăng trưởng kinh tế quốc gia. Tất nhiên, một nhà nước khôn ngoan phải biết điều phối thế nào để sự tăng trưởng đó được chia rộng – không nhất thiết phải chia đều – cho mọi tầng lớp dân chúng rộng rãi, những người tiêu thụ yếu thế nhất, để kiến tạo một xã hội tương đối công bằng trong đó con người có thể tương tác với nhau một cách hài hòa.

Lấy thí dụ về tác động tích cực của học thuyết kinh tế tự do ở Anh. So với các nước khác ở lục địa, nền khoa học và kỹ thuật của Anh không hơn gì, thậm chí trong một số lĩnh vực còn thua các nước khác, thí dụ về khai thác khoáng sản của Đức, hoặc kỹ thuật xây dựng hệ thống nước của Hà lan. Khi học thuyết trọng thương ngày càng bị đẩy lùi ở Anh, chính sách phát triển kinh tế ngày càng tỏ ra tự do hơn trong tinh thần tôn trọng hoạt động của tư nhân, nhờ thế Anh có thể dễ dàng hấp dẫn chuyên gia có tay nghề giỏi sang làm việc ngắn hoặc dài ngày, tạo nên một sự chuyển giao tri thức rất sống động[26].  

Tôn Thất Thông

./.

Lời cuối: Chúng tôi tạm chấm dứt loạt ba bài về lịch sử cách mạng kinh tế trong thời đại khai sáng. Để tìm hiểu sâu xa hơn lý thuyết kinh tế cổ điển của Adam Smith, chúng tôi sẽ khảo sát thêm những tư tưởng cốt lõi của Adam Smith trong một dịp khác. Trong lúc chờ đợi, xin mời độc giả tham khảo thêm tài liệu số 12 bên dưới (Walther Ziegler, đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt). Tuy sách chỉ dài 130 trang nhưng gói ghém tương đối đầy đủ những điều quan trọng nhất trong lý thuyết của Adam Smith.

Tài liệu tham khảo

  1. Anikin, Andrej: Der Weise aus Schottland. ISBN 3-349-00647-7 (Vị học giả xứ Tô Cách Lan). Günter Wermusch dịch từ nguyên tác tiếng Nga.
  2. Böhm, Franz: Freiheit und Ordnung in der Marktwirtschaft. ISBN 3-7890-0492-8. (Tự do và trật tự trong kinh tế thị trường – Sưu tầm và biên tập bởi Ernst-Joachim Mestmäcker.
  3. Brinton, Crane, Christopher, John B. và Wolff, Robert Lee: A history of civilization – 1715 to the present. ISBN 0-13-389593-9. (Lịch sử văn minh – 1715 đến hôm nay).
  4. De Buhr, Hermann & Regenbrecht, Michael: Industrielle Revolution und Industriegesellschaft. ISBN 3-454-59660-2. (Cách mạng công nghiệp và xã hội công nghiệp).
  5. Guizot, François: The History of Civilization in Europe (Lịch sử Văn minh châu Âu – William Hazlitt dịch từ tiếng Pháp: Histoire Générale de la Civilisation en Europe). Penguin Books 1997.
  6. Henderson, William O.: Die industrielle Revolution in Europa 1780 – 1914. ISBN 3-217-00373-X (Cách mạng công nghiệp ờ châu Âu từ 1780 – 1914. Wolfgang Häusler dịch từ tiếng Anh: The Industrialization of Europe 1780 – 1914).
  7. Hirschberger, Johannes: Geschichte der Philosophie – Band II: Neuzeit und Gegenwart (Lịch sử triết học – Tập II: Cận và hiện đại). ISBN 3-933366-00-3). Trọn bộ tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt: Lịch sử triết học Tập I & II – Bùi Văn Nam Sơn và tập thể dịch giả – NxB Tri Thức.
  8. Hobsbawm, Eric J.: Industry and Empire. ISBN 0-1402-0898-4. (Công nghiệp và Đế quốc).
  9. Skousen, Mark: The Big Three in Economics (Ba nhân vật vĩ đại của kinh tế). ISBN 0-7656-1694-7 hoặc 978-0-7656-1694-4.
  10. Smith, Adam: An Inquiry into the nature and causes of the wealth of nations (Khảo sát bản chất và nguồn gốc sự phồn vinh của các quốc gia). ISBN 978-01-9283-546-8 hoặc 01-9283-546-7.
  11. Starbatty, Joachim: Klassiker des ökonomischen Denkens (Những tác giả kinh điển về tư tưởng kinh tế). ISBN 978-3-86820-126-0.
  12. Ziegler, Walther (SMITH): Smith trong vòng 60 phút. Nhà xuất bản Hồng Đức và Văn Lang 2019. ISBN 978-604-9948-30-5.
    Tủ sách “Những nhà tư tưởng lớn” (Tôn Thất Thông dịch từ bản tiếng Đức: Smith in 60 Minuten. ISBN 978-3-7347-8157-5).

[1] Xem A. Anikin trang 12. Câu trên trích từ tác phẩm „Lịch sử nền văn minh Anh Quốc“ của Henry Thomas Buckle (1822-1862).

[2] Adam Smith – An Inquiry into the nature and causes of the wealth of nations. Viết ngắn là “The wealth of nations”. 

[3] Độc quyền tuyệt đối (Monopol) là tình trạng chỉ có một nhà sản xuất duy nhất cho một món hàng nào đó. Độc quyền tương đối (Oligopol) xuất hiện khi có rất ít nhà sản xuất cung cấp cùng một món hàng. Cả hai loại này đều dẫn đến độc quyền giá cả và thao túng thị trường. Để đạt tình trạng cạnh tranh lành mạnh, nhà nước cần dùng luật pháp để kiến tạo một thị trường đa cực (Polypol), trong đó càng nhiều nhà sản xuất cho một món hàng càng tốt, để người tiêu thụ tự do chọn lựa.

[4] Xem A. Smith trang 291-292.

[5] Xem B. Redhead trong J. Starbatty, trang 196.

[6] Xem A. Smith trang 291-292.

[7] Xem A. Smith trang 275-392.

[8] Xem A. Smith  trang 276, Quyển IV chương I.

[9] Xem M. Skousen trang 7.

[10] Người gốc Ý nhưng thời đó làm việc cho triều đình Tây Ban Nha.

[11] Xem A. Smith  trang 374-378, Quyển IV chương VIII.

[12] Xem A. Smith  trang 378, Quyển IV chương VIII.

[13] Xem A. Smith  trang 285, Quyển IV chương II.

[14] Xem A. Smith trang 68, Quyển I chương VIII.

[15] Smith quên, hay chưa chú ý vai trò của máy móc vì trong thời đại đó, kỹ thuật sản xuất cực kỳ giản dị. Tự động hóa thì chưa ai biết là gì.

[16] Xem A. Smith trang 18, Quyển I chương II.

[17] Xem A. Smith trang 12, Quyển I chương I.

[18] Adam Smith dùng thuật ngữ “natural liberty”.

[19] Xem M. Skousen trang 10.

[20] Xem A. Smith trang 391, Quyển IV chương IX.

[21] “Natural liberty”, có lúc chỉ viết liberty.

[22] “Freedom of trade”, có lúc chỉ viết freedom.

[23] „Common humanity“, có lúc chỉ viết là humanity, chúng ta gặp rất nhiều lần trong sách của Smith.

[24] Xem M. Skousen trang 7.

[25] Xem F. Böhm trang 226.

[26] Xem thêm De Buhr trang 20-21.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s