Nước Mỹ và Đông Dương 1940 -1945 (Phần 2)

USprepares-7_19400922-Japan_invades_French_Indochina

Lính Nhật xâm lược Đông Dương. Nguồn ảnh

Trích dịch chương 4 cuốn Việt Nam 1945 của David Marr

Người dịch Nguyễn Tuấn Anh

Trong khi đó, Tướng Wedemeyer, thay mặt Tưởng Giới Thạch, tiếp tục nhấn mạnh rằng Đông Dương hoàn toàn nằm trong Mặt trận Trung Hoa cho đến tận khi có quyết định của Potsdam vào cuối tháng Bảy. Trong hoàn cảnh đó, không có gì ngạc nhiên khi nhiều nhân viên Mỹ ở Mặt trận Trung Hoa có nhiệm vụ liên quan đến Đông Dương tiếp tục cho rằng không nên hỗ trợ người Pháp giành lại thuộc địa của họ.

Hoạt động biên giới

Với cuộc đảo chính của Nhật vào đầu tháng 3, cả hai mạng lưới tình báo Gaullist và GBT đều bị phá vỡ. Lo sợ các cuộc tấn công tiếp theo của Nhật vào nam Vân Nam hoặc tây Quảng Tây, tổng hành dinh Mặt trận Trung Hoa đã thúc ép tất cả các cơ quan tình báo Đồng minh phải nhanh chóng xác định những gì đang xảy ra bên trong Đông Dương. Mặc dù đã bắt đầu các nỗ lực để móc nối lại với các nguồn thông tin cũ, nhưng rõ ràng là các điều kiện đã thay đổi đáng kể, đòi hỏi các phương pháp tiếp cận khác. Vào ngày 20 tháng 3, Mặt trận Trung Hoa cho phép OSS sử dụng “bất kỳ nhóm kháng chiến nào”, một sự khác biệt rõ ràng với chỉ thị tháng 10 năm 1944 của Tổng thống Roosevelt đối với OSS là ‘không làm gì’ liên quan đến các nhóm kháng chiến Đông Dương, dù do người Pháp hay người bản xứ lãnh đạo.152 OSS cử các sĩ quan vào Đông Dương để liên lạc với các đơn vị Pháp đang rút chạy, nhưng nhận thấy họ mệt mỏi và tinh thần xuống thấp đến mức vứt bỏ thiết bị dọc đường mà không thèm phá hủy. Đồng thời, đơn vị OSS ở Côn Minh đã tiếp xúc không chính thức với Hồ Chí Minh, đại diện cho ‘Việt Minh,’ (n/v: ‘League for the Independence of Indochina’) theo đó tổ chức này – trên tinh thần hợp tác chống Nhật – sẽ cung cấp thông tin về tình hình chiến trận.153 Bất chấp sự khởi đầu khiêm tốn, trong vòng chưa đầy bốn tháng, một nhóm OSS đã vào sâu bên trong Bắc Kỳ huấn luyện và trang bị cho một trăm thành viên của Việt minh để thực hiện các nhiệm vụ phá hoại đáng kể.

Hồ Chí Minh đã thu hút sự quan tâm của người Mỹ từ cuối năm 1942, khi Đại sứ quán Mỹ tại Trùng Khánh thông báo về việc ông bị bắt ở Quảng Tây. Trong hai năm tiếp theo, đại sứ quán và tổng lãnh sự quán ở Côn Minh duy trì theo dõi tóm lược về chính trị ‘An Nam’ nói chung. Vào giữa năm 1943, đại sứ quán đã cố gắng không mấy thành công trong việc thăm dò mối quan hệ giữa các tổ chức khác nhau của chính phủ Trung Hoa và Việt kiều.154 Như William Langdon, tổng lãnh sự tại Côn Minh, đã thừa nhận với cấp trên của mình ở Washington vào tháng 6 năm 1944, tất cả thông tin tình báo mà ông thu được đều là “đồ cũ và được tô vẽ bởi sự quan tâm khác nhau về Đông Dương của từng nguồn”, dù đó là quân đội Pháp, Anh, Mỹ (mục tiêu ném bom), Trung Hoa hay Annam. Tuy nhiên, Langdon tìm thấy lý do để lập luận rằng Quốc Dân Đảng Trung Hoa đã bắt nạt những người An Nam để thành lập “Việt Cách” (* n/v: Revolutionary Alliance), và ông tán thành trích dẫn lời một “quý ông An Nam địa phương”, coi việc quay trở lại chế độ cai trị của Pháp là lựa chọn ít bị phản đối nhất.155 Có rất nhiều thông tin sai lạc, như khi lãnh sự Mỹ ở Kweilin gửi một báo cáo chi tiết từ một nguồn tin Trung Hoa về ‘Đảng Dân chủ Đông Dương’ do Hsieh Yueh, một luật sư có bố mẹ là người Quảng Đông và An Nam, lãnh đạo, người này tuyên bố có một lực lượng dân quân vũ trang hai trăm nghìn người ở mười ba địa điểm nằm dọc biên giới.156 Hầu hết các nhà quan sát ngoại giao Mỹ cho rằng cư dân Đông Dương không có khả năng tự quản lý, điều này khiến họ phải lựa chọn giữa chính quyền Pháp và sự ủy trị của Liên hợp quốc. Trong ngắn hạn, những nhóm người Đông Dương thù địch với người Nhật được coi là nội bộ quá chia rẽ nên không có ích lợi gì nhiều cho Đồng minh.157

Vào mùa hè năm 1944, nhân viên của Trương Phát Khuê đã cho phép Hồ Chí Minh tự do đi lại. Ông đã dành thời gian say mê đọc các tài liệu báo chí về cuộc chiến và trò chuyện với những người Mỹ ở Văn Phòng Thông tin Chiến tranh Mỹ địa phương. Điều này đã thúc đẩy một nỗ lực nghiêm túc của OWI nhằm xin thị thực cho Hồ C.M. đến San Francisco, nơi ông sẽ phát tin tức bằng tiếng Việt. Tại Bộ Ngoại giao, phòng châu Âu phản đối, trong khi phòng Viễn Đông ủng hộ sáng kiến này. Đáp lại những lời chỉ trích, OWI nói rằng ‘Các hoạt động của Hồ sẽ được kiểm soát kỹ lưỡng và về bản chất chỉ là công cụ.’158 Thị thực đã không được cấp, có lẽ vì sợ chọc giận người Pháp.159 Trong khi đó, Hồ dường như không biết về các mối quan tâm của người Mỹ với mình, ông đã lên đường về biên giới Đông Dương vào cuối tháng Tám.

Sau khi Hồ Chí Minh ra đi, một nhóm các nhà hoạt động Việt Minh ở Côn Minh tiếp tục tranh thủ tình cảm các sĩ quan OWI và OSS, thậm chí đến mức được họ đảm bảo hỗ trợ soạn thảo một lá thư gửi cho đại sứ Mỹ cầu xin một cơ hội chiến đấu cùng với Đồng minh và tìm kiếm sự trợ giúp của Mỹ trong cuộc đấu tranh giành độc lập của họ.160 Tuy nhiên, William Powell, liên lạc viên hàng không của OWI ở Côn Minh, và là một trong những nhà tư vấn thân thiện của nhóm, đánh giá trong báo cáo chính thức của mình rằng người Đông Dương chưa sẵn sàng cho ”độc lập hoàn toàn”, có lẽ cần phải có “khá nhiều sự kèm cặp trước khi họ hoàn toàn có thể tự điều hành đất nước của mình một cách có trách nhiệm như một chính phủ hiện đại thời hậu chiến phải được điều hành. Không nói thẳng ra, nhưng Powell rõ ràng ủng hộ sự giám hộ của Mỹ, vì người Pháp chỉ đơn thuần là ‘quay trở lại chính sách trước đây của họ là “chủ nghĩa tự do lừa phỉnh ”. . . và bóp chết bất kỳ nỗ lực tự trị nào của người Đông Dương’, trong khi người Trung Hoa có ‘thiết kế lãnh thổ xác định trên ít nhất một phần của Đông Dương (Bắc Kỳ), và nuôi hy vọng ít nhất thực hiện quyền thống trị [sic] ảnh hưởng trên cả nước.’ Powell cũng trích dẫn một đoạn dài từ một phân tích tháng 6 năm 1944 của một người An Nam giấu tên, rất có thể là Hồ Chí Minh, người đã tiên đoán rằng quân Nhật sẽ chiếm hoàn toàn Đông Dương, quân Pháp sẽ chỉ kháng cự yếu ớt, và một chính phủ bù nhìn An Nam sẽ thành lập, có lẽ do Bảo Đại đứng đầu. Sau chiến tranh, nguồn tin địa phương này vẫn tiếp tục, người An Nam sở hữu đủ nhân sự cho chính phủ, nhưng họ sẽ cần sự hỗ trợ và bảo vệ của phương Tây – tốt nhất là từ Mỹ, hoặc nếu điều này không khả thi, thì “một số kiểu thịnh vượng chung” với Pháp.161

Vào đầu tháng 9 năm 1944, Tổng lãnh sự Langdon đồng ý gặp phái đoàn của ”Đông Dương Độc lập Hội” (n/v ‘‘League for the Independence of Indochina” ND: Trong tiếng Anh từ Việt Nam trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội thường được viết là Indochina (Đông Dương)) đây là cụm từ tiếng Anh thường dùng để gọi  Việt Minh. Langdon chắc chắn không khuyến khích. Mặc dù thừa nhận mối quan tâm chung của Mỹ đối với ”phúc lợi chính trị và sự tiến bộ của các dân tộc bị áp bức ở Phương Đông,” ông nói thẳng với họ rằng người An Nam là “công dân của nước Pháp”, và sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu “Nước Mỹ một tay bỏ ra những chi phí lớn về sinh mạng và tài sản để cứu nước Pháp khỏi ách nô lệ của Đức và tay kia lại phá hoại Đế chế của nó.” Khi trưởng phái đoàn, Phạm Viết Tú, cố gắng gác lại vấn đề Pháp và tập trung vào nhu cầu vũ khí để chống lại quân Nhật, Langdon cắt ngang và nói rằng đó là vấn đề quân sự, Hội phải giải quyết với người có thẩm quyền của quân đội Đồng minh.162 Do đó, Hội chủ yếu tập trung vào quân đội Mỹ và OSS, nhưng không đạt được nhiều thành công. Một báo cáo tháng 12 của OSS từ Côn Minh đã tán thành ý kiến của các nguồn tin Pháp được phỏng vấn gần đây rằng Hội thiếu sự ủng hộ rộng rãi; đúng hơn, đó là “tổng quan là bề ngoài, bao gồm một số lượng tương đối nhỏ trí thức Đông Dương và những phần tử bất mãn khác trong thuộc địa.”163. Vào tháng 2 năm 1945, Hồ Chí Minh vượt biên giới và trở lại Côn Minh, tìm cách gặp Tướng Chennault, một phần dựa trên cơ sở là Việt Minh đã giải cứu và đưa một phi công Mỹ bị bắn rơi trở về an toàn. Yêu cầu của ông đã bị từ chối một cách lịch sự.164

Tuy nhiên, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật, các chuyên gia xác định mục tiêu của Không Lực 14, OSS và Bộ phận cứu trợ hàng không (AGAS), chịu trách nhiệm giải cứu các phi công bị bắn rơi, đã chia sẻ nhu cầu cấp thiết là có được thông tin đáng tin cậy từ bất kỳ nguồn nào, bất kể nguyện vọng chính trị sau chiến tranh của họ. Charles Fenn, một nhân viên OSS được chỉ định làm việc với nhóm GBT, đã nghe AGAS kể về “một người An Nam cũ”, người đã không chỉ giúp một phi công bị bắn rơi trốn thoát mà còn có liên hệ với một “nhóm chính trị lớn”. Đôi khi người ta có thể tìm thấy người đàn ông này tại văn phòng OWI, nơi anh ta “đọc mọi thứ từ tạp chí từ Time đến Bách khoa toàn thư Americana.”165 Vào ngày 19 tháng 3, bằng một ngôn ngữ đầy màu sắc đặc trưng, Hồ Chí Minh khẳng định với những người quen ở Mỹ rằng “con sói đế quốc Pháp cuối cùng [sẽ bị] linh cẩu phát xít Nhật nuốt chửng,” rồi chuyển sang

phương pháp ẩn dụ lập luận rằng Đông Dương giống như cổ của con rắn kẻ thù kéo dài suốt từ Tokyo đến New Guinea, do đó cần phải bị Đồng minh tấn công để ngăn chặn bất kỳ cuộc rút lui chiến lược nào.166 Sau ba lần gặp gỡ với Hồ C.M, kiểm tra hồ sơ về Việt Minh và tham khảo ý kiến của các thành viên GBT, Fenn đã yêu cầu và nhận được sự cho phép của AGAS Trùng Khánh thiết lập một mạng lưới vô tuyến tập trung tại trụ sở Việt Minh ở Bắc Kỳ. Vào ngày 29 tháng 3, Fenn và Harry Bernard hộ tống Hồ C.M đến gặp Tướng Chennault, người rất vui vì Hồ biết chi tiết về Đội bay Con cọp và sẵn sàng đồng ý với yêu cầu của Hồ về một bức ảnh có chữ ký. Vài ngày sau, ngay trước khi bay đến Chinghsi cùng người vận hành điện đài Trung Hoa, Hồ đã yêu cầu Fenn sáu khẩu súng lục tự động Colt. 45 mới tinh chưa bóc tem, mà Fenn lấy được từ kho của OSS. Sau đó, Hồ trưng bày bức ảnh như một bằng chứng về sự thừa nhận của Đồng minh và phân phát những khẩu súng lục cho những người thuộc cấp được chọn như biểu tượng của quyền lực.167 Fenn tự tin xếp “Ho Tchih Ming” (biệt danh Old Man Ho, mật danh Lucius) vào danh sách 53 đặc vụ làm việc cho anh ta.168

Vào giữa tháng 4, người đứng đầu chi nhánh Tình báo Bí mật (Secret Intelligence – SI) của OSS tại Trung Hoa, Đại tá Paul Helliwell, đã ủy quyền cho cấp phó mới đến Đông Dương, Đại úy Archimedes Patti, khảo sát việc thành lập một mạng lưới tình báo dựa vào Việt Minh, với mục đích vượt xa hơn việc bận tâm giải cứu phi công của AGAS. Patti đã kịp gặp Hồ Chí Minh gần Chinghsi trước khi ông bắt đầu chuyến đi bộ khó khăn trở về Pắc Bó, và sau một buổi tối thảo luận dài do trung gian cộng sản Trung Hoa sắp xếp, Patti đã ấn tượng sâu sắc bởi tài hùng biện, sự chân thành và không cường điệu năng lực Việt Minh của Hồ C.M. Không giống như các thủ lĩnh của các nhóm hoạt động ngầm mà Patti đã từng giao dịch ở châu Âu, Hồ C.M. không đòi tiền để đổi lấy thông tin hoặc giả vờ thiếu súng như một mưu kế để có được lượng lớn vũ khí từ OSS cho các hoạt động trong nước thời hậu chiến.169 Vào cuối tháng 4, Frank Tan ở Pắc Bó đại diện cho AGAS, nhưng dường như cũng gửi báo cáo tình báo thường xuyên cho OSS Côn Minh. Một số thành viên Việt Minh đã được GBT hoặc AGAS chấp nhận đào tạo về điện đài.170 Vào tháng 5, Tan và nhân viên điện đài của mình, Mac Shin, đã cùng Hồ Chí Minh thực hiện chuyến đi đầy khó khăn từ Pắc Bó đến Tân Trào (Kim Long). Bốn mươi bốn người có vũ trang hộ tống họ và khoảng 25 người khuân vác. súng Sten, tiểu liên Thompson, carbine, đạn dược, thuốc men và thiết bị liên lạc có được từ các tổ chức tình báo Đồng minh khác nhau. Hồ Chí Minh đã nhận Tân về dưới trướng  mình (under his wing) như con nuôi, và Tan đã đáp lại bằng sự tin tưởng và tình cảm.171 Laurence Gordon, trở về Côn Minh sau nhiều tháng ở Washington cố gắng ngăn chặn sự kiểm soát của OSS đối với các hoạt động của GBT, khăng khăng yêu cầu Tan rút lui, nhưng điều này đã không xảy ra cho đến sau khi Nhật đầu hàng vào tháng 8. Trong khi đó, vào cuối tháng 5 Trung úy Dan Phelan, người của AGAS, đã nhảy dù xuống và đã gửi lại các báo cáo sinh động về Việt Minh. Tiếp theo, một vụ thả dù gồm bộ đàm, thuốc men và vũ khí đã gây cảm kích đối với người Việt Nam tại Tân Trào. Các toán Việt Minh đã làm một đường băng nhỏ giữa rừng phù hợp với máy bay quan sát L-5.172

Vào 13 tháng 5, người đứng đầu OSS Trung Hoa, Đại tá Richard Heppner, đã triệu tập một cuộc họp tại Côn Minh để thảo luận về các nhiệm vụ du kích và phá hoại trong tương lai kết hợp với các đơn vị Trung Hoa tiến về Biển Đông. Người ta đã đồng ý tiếp cận Tướng Gabriel Sabattier tại Trùng Khánh với đề xuất phối hợp đưa một số quân Pháp vào các chiến dịch do Mỹ trực tiếp chỉ đạo. Đồng thời, Đại úy Patti được phép mở rộng liên lạc với những người cộng sản Việt Nam, miễn là anh ta hoạt động một cách lặng lẽ và “tránh xa chính trị’. Mặc dù ‘Phái đoàn Dixie’ của Mỹ đến trụ sở của Mao Trạch Đông ở Yenan đưa ra một tiền lệ hiển nhiên, Heppner nhận thức sâu sắc về những phức tạp nảy sinh trên mặt trận đó với Đại sứ Hurley và Bộ Ngoại giao. Bằng cách nào đó, Patti kỳ vọng sẽ che dấu được các mối quan hệ của ông ta với Hồ Chí Minh khỏi người Pháp và mạng lưới gián điệp của Tướng Tai Li.173 Vào ngày 18 tháng 5, có lẽ thất vọng vì bị OSS chiêu trò, Tổng lãnh sự Langdon thẳng thừng hỏi Bộ Ngoại giao: “Tôi … có thể được thông báo về chính sách của chúng ta đối với Đông Dương hiện nay là gì không? Liệu Tổng thống quá cố có đóng băng nó vào trạng thái mañana*, hay nếu ông còn sống ông đang làm gì với nó?”174

Điều đáng hỏi là tại sao OSS không liên kết tốt với những người ủng hộ Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Cách. Mặc dù các nguồn này không đặc biệt hữu ích, nhưng có vẻ như OSS ở Nam Trung Hoa coi các nhóm này chỉ là tay chân của các đơn vị Trung Hoa, ít có mối liên hệ bên trong Đông Dương. Hơn nữa, những kinh nghiệm tiêu cực trước đây với tổ chức của Tai Li và giả định rằng các nhóm người Việt Nam này sẽ bị [Trung Hoa] thâm nhập sâu, nên có thể các nhân viên OSS đã có những lý do thực tế để né tránh. Có lẽ trong tâm trí họ vẫn còn nhớ sự cản trở trước đây của Tai Li đối với các nỗ lực của Mỹ ở Thái Lan, đã gây ra sự chậm trễ đáng kể và tổn thất về nhân mạng.175 Cuối cùng, Bộ Ngoại giao có thể đã không chia sẻ với OSS thông tin của họ về Quốc dân Đảng và Việt Cách. Mặc dù rõ ràng là các quan chức lãnh sự ở miền nam Trung Hoa có sẵn các tài liệu này.

Chuyển sang tuyển dụng người Pháp, OSS phát hiện ra rằng không có chuỗi chỉ huy rõ ràng nào tồn tại giữa tàn dư quân đội thuộc địa ở Nam Trung Hoa và chính phủ ở Paris. Nghiêm trọng hơn, việc Tướng Wedemeyer khăng khăng rằng tất cả các hoạt động liên quan đến Đông Dương đều thuộc quyền tài phán của Mặt trận Trung Hoa và tỏ ra không chấp nhận đối với đại diện mới tại Trung Hoa của Chỉ huy bí mật DGER, Thiếu tá Jean Sainteny, người được Tướng de Gaulle hậu thuẫn.176 Sau đó, khi Đại úy Patti phỏng vấn những người Pháp di tản để phục vụ cho các nhiệm vụ tình báo có thể xảy ra trong tương lai, ông nhận thấy họ lạc lõng với thực tế, lo lắng khôi phục quyền kiểm soát trước chiến tranh, khinh thường khả năng chính trị của người An Nam và nghi ngờ ý định của Mỹ.177 Các sĩ quan OSS khác được thấy làm việc với người Pháp ít nặng nề hơn. Vào đầu tháng 6, một nhiệm vụ hải quân và tuần duyên chung ở khu vực lân cận eo biển Hải Nam đã đạt được thành công bước đầu. Vào cuối tháng 7, Đại úy Lucien Conein của OSS dẫn đầu một đơn vị Pháp – Việt tiêu diệt các cơ sở của quân Nhật ở khu vực Lạng Sơn, mang về hai tù nhân và một số tài liệu.178 Tuy nhiên, một hoạt động tham vọng hơn dọc theo bờ Biển Đông đã bị trì hoãn bởi OSS bảo lưu về mức độ kiểm soát của Mỹ.179

Vào cuối tháng 5, Thiếu tá Allison Thomas dẫn đầu một đội “Hoạt động đặc biệt” nhỏ của OSS đến các trại ở Poseh và Chinghsi để chuẩn bị cho các nhiệm vụ phá hoại đường bộ và đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn. Ban đầu, tướng Trương Phát Khuê giao cho Thomas hai đại đội tuần tra biên giới Trung Hoa, sau đó giao cho một trăm quân thuộc địa Pháp và An Nam. Vào đầu tháng 6, các đơn vị Trung Hoa được tái chỉ định, trong khi việc huấn luyện người Pháp và người An Nam bị hoãn lại do tranh cãi về lương và khẩu phần ăn. Trong khi đó, Thomas nhận được các báo cáo tình báo đáng lo ngại rằng anh ta có thể bị người bản địa bắn, hoặc từ chối cung cấp thực phẩm nếu đi cùng với lính Pháp. Từ Côn Minh, Patti đề nghị anh ta lựa chọn gạt người Pháp sang một bên hoàn toàn dựa vào những người theo Hồ Chí Minh. Quyết định tìm hiểu trước, Thomas nhảy dù xuống trụ sở mới của Hồ gần làng Kim Long (Tân Trào), cách thị xã Tuyên Quang hai mươi bảy km về phía đông, vào ngày 16 tháng 7. Thomas đã rơi thẳng vào cây đa lớn của làng, những người còn lại trong nhóm tiếp đất xa hơn về phía thung lũng. Ngoài hai người của OSS, Thomas còn mang theo Trung úy Montfort, một sĩ quan Pháp mặc quân phục Mỹ, cũng như một trung sĩ lai tên Logos và một trung sĩ An Nam tên Phac.180

Thomas được chào đón tại khu vực nhảy dù bởi Trung úy Phelan, Frank Tan, và một đội người Việt được trang bị vũ khí tốt. Khi sáu người của đội OSS “Con Nai” tập hợp lại dưới gốc cây đa, họ chính thức gặp đơn vị chủ lực của Việt Minh, được bố trí theo đội hình gần đó, sau đó đi bộ vài km đến một khu trại ngụy trang. Khi đến nơi, cả đội được hộ tống qua một cổng chào “Chào mừng những người bạn Mỹ của chúng ta”, được Hồ Chí Minh ốm yếu đón tiếp, được dẫn vào nghỉ trong những căn lán tre mới được xây dựng, và sau đó bữa tối gồm thịt bò tươi, cơm, măng và bia thu được. Sáng hôm sau, khi xác định Montfort là một sĩ quan đã từng phục vụ tại Cao Bằng, Hồ C.M. nói thẳng với Thomas rằng không có nhân viên Pháp nào được chào đón.181 Các NCO người lai và Việt Nam có thể ở lại, mặc dù Hồ không thích như vậy. Ấn tượng sâu sắc về những gì đã thấy và nghe, Thomas ngay lập tức chuẩn bị đề nghị cấp trên thả dù thêm người của OSS và thiết bị để bắt đầu huấn luyện Việt Minh, hãy ‘Quên Ông ba bị (Bogy) Cộng sản,’ và ‘loại bỏ tất cả người Pháp và người An Nam’ tại trại biên giới Poseh.182 Montfort và hai NCO gia nhập nhóm 20 người Pháp, những người tị nạn từ Tam Đảo, đi chuyến đi dài ngày sang Trung Hoa. Các thành viên khác của OSS nhảy dù xuống vào ngày 29 tháng 7, trong đó có một nam y tá, người này nhanh chóng chẩn đoán Hồ Chí Minh mắc bệnh nghiêm trọng kết hợp của bệnh sốt rét, kiết lỵ và các biến chứng nhiệt đới khác, và đã tiêm thuốc quinine và sulfa cho ông.183

Việc OSS đến trụ sở của Hồ Chí Minh và các thành viên OSS được hộ tống đi khắp các vùng quê gần đó, đã nâng cao đáng kể uy tín của Việt Minh. Các thành viên dân tộc Tày trong khu vực cho rằng Hồ Chí Minh đã “làm nên một điều kỳ diệu” khi ông bảo họ đến một bãi đất trống đặc biệt và chờ những người “từ trên trời rơi xuống.”184 Các lãnh đạo Việt Nam đến từ miền xuôi bị cuốn hút bởi những chiếc dù lụa treo quanh trại, phong cách lạ lùng của người Mỹ, những chiếc kẹo GI (G.I. viết tắt để chỉ các binh sĩ, phi công Mỹ và nói chung cho trang thiết bị của quân đội Mỹ) mà họ mời khách.185 Bất kể người Mỹ từ chối sự can dự chính trị, Mỹ được tất cả những người Việt Nam đến và đi đều xem là tích cực đào tạo, trang bị và hỗ trợ về mặt đạo đức cho cả chính nghĩa chống thực dân và chống Nhật. Trong hai tuần đầu tiên, Thiếu tá Thomas dành phần lớn thời gian cho các chuyến trinh sát theo bốn hướng khác nhau, cùng với các thông dịch viên và hướng dẫn viên của Việt Minh. Tại mỗi xóm, Thomas được chào đón bằng trái cây, trứng, bài phát biểu và bài hát, mặc dù người dân rõ ràng là nghèo khổ và quần áo của họ trong tình trạng ‘‘khủng khiếp”. Trở lại trụ sở ngày 1 tháng 8, toàn bộ Đội Con Nai dự lễ khai mạc nhà văn hóa xã, với các bài hát Việt Minh tiểu phẩm, diễn văn về độc lập và quyền phụ nữ, và uống nước hoa hồi.186 Với tài tuyên truyền hiệu nghiệm của mình, Hồ Chí Minh đã chính thức gọi đội ngũ sắp đang được Đội Con Nai huấn luyện là ‘’Bộ đội Việt Mỹ”.187

1

Hình 21. Đội Con Nai OSS cùng với Hồ Chí Minh và các thành viên Việt Minh. Đứng từ trái qua: Phan Dinh Huy (Hong Viet), René Defourneaux, Hồ Chí Minh, Allison Thomas, Võ Nguyên Giáp, Henry Prunier, Đàm Quang Trung, Nguyen Quy, and Paul Hoagland. Quỳ từ trái qua: Lawrence Vogt, Allan Squires và Thai Bach (Thai Ba Chi). Bức ảnh này được chụp tại một cuộc hội ngộ ở Hà Nội vào tháng 9 năm 1945, ngay trước khi nhóm OSS trở về Trung Hoa. Được phép của Allison K. Thomas.

Bất cứ khi nào rảnh rỗi, Hồ Chí Minh đều trò chuyện với người Mỹ, cố gắng tìm hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra bên ngoài Đông Dương, để đánh giá triển vọng hợp tác Việt – Mỹ sau khi quân Nhật thất bại, và tất nhiên là tác động đến các báo cáo qua điện đài của họ theo cách có lợi. Trung úy Phelan, người vào tháng 5 đã miễn cưỡng thực hiện nhiệm vụ đặc biệt này, vì anh ta nghe nói Hồ là một người cộng sản, đã sớm gửi những lời tường thuật nồng nhiệt về sự tiếp đón của ông ta và khẳng định rằng Việt Minh “không chống Pháp chỉ đơn thuần là những người yêu nước đáng được hoàn toàn tin tưởng và ủng hộ.”188 Henry Prunier, người từng học tại trường Việt ngữ Quân đội (lúc đó nằm trong khuôn viên Berkeley của Đại học California), đã bị ấn tượng bởi mức độ thường xuyên mà Hồ muốn nói về Mỹ – lịch sử, lý tưởng chính trị và sự ủng hộ chính thức của họ cho ‘các chính phủ tự do, thuộc về nhân dân trên toàn thế giới.’189 René Defourneaux, một người Mỹ gốc Pháp đến từ New York, sau này nhớ lại Hồ đã lập luận bằng tiếng Anh hơi rời rạc:

Các chính khách của các bạn thực hiện các bài phát biểu hùng hồn về việc giúp đỡ những người có khả năng tự quyết định. Chúng tôi tự quyết định. Tại sao không giúp chúng tôi? Tôi có khác gì [nhà dân tộc chủ nghĩa Ấn Độ Jawaharlal] Nehru, [nhà lãnh đạo Philippines Manuel] Quezon, thậm chí cả George Washington của bạn không? Washington không được coi là một nhà cách mạng? Tôi cũng muốn giải phóng người của mình.190

Thiếu tá Thomas trở nên không chắc chắn về tình trạng không cộng sản của Hồ C.M., nhưng khi bắt đầu hỏi han một cách thận trọng với ông ta, ông ta thường nói: “Bây giờ tất cả chúng ta cần đoàn kết, chúng ta sẽ thảo luận về chính trị sau.”191

Không ai trong số những người Mỹ nói chuyện với Hồ Chí Minh tỏ ra thắc mắc tại sao ông ta gọi tổ chức của mình là “League for the Independence

of Indochina” [Liên đoàn vì Độc lập Đông Dương] bằng tiếng Anh, trong khi gọi nó bằng tiếng Việt là “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội”. Có lẽ họ cho rằng Hồ chỉ đơn giản là tính đến việc người nước ngoài không quen với cái tên ‘’Việt Nam”. (Họ biết rằng ông ta từ chối sử dụng các thuật ngữ “An Nam” hoặc “người An Nam” vì hàm ý của chủ nghĩa thực dân.) Tuy nhiên, rất có thể, sự lựa chọn của Hồ về “Đông Dương” thể hiện nhiều hơn một sự gật đầu thuận theo cách nói của nước ngoài. Ông có lẽ muốn truyền đạt ấn tượng ông đại diện cho lợi ích hoặc ít nhất là nguyện vọng của nhân dân Campuchia và Lào cũng như người Việt Nam. Đó vẫn là ý định của Đảng Cộng sản Đông Dương, mặc dù tất nhiên điểm này không được đưa ra trong các cuộc nói chuyện với người Mỹ. Tại Tân Trào vào cuối tháng 7, không ai biết chuyện gì đang xảy ra ở Campuchia hay Lào, nhưng những nỗ lực đang được tiến hành để khắc phục tình trạng thiếu hụt này, trước hết dựa vào các mối liên hệ với thiểu số Việt Nam có số lượng đáng kể ở cả hai nơi. Một tháng sau, Hồ Chí Minh gác lại mọi ý nghĩ về việc thành lập một nhà nước Đông Dương mà ủng hộ một “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” giới hạn trong các lãnh thổ Bắc Kỳ, An Nam và Nam Kỳ. Tuy nhiên, ông và những người phò tá sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến các sự kiện ở Campuchia và Lào thông qua các kênh bí mật của Việt Minh và ICP.

Các báo cáo nhận được từ các nhóm OSS ở Đông Dương đã giúp thúc đẩy cuộc tranh luận ở Côn Minh và Trùng Khánh về cách liên hệ với cả người Pháp và người An Nam. Do đó, một bản ghi nhớ của OSS đã chuyển tiếp mà không có bình luận về đánh giá của một đặc vụ Pháp: “người An Nam đã không phát triển tham vọng giành độc lập,” nhận định rằng họ chưa sẵn sàng cho chế độ tự trị, và hiểu rằng ”diễn biến bình thường của các sự kiện” sẽ mang lại chính phủ tự trị  “trong tương lai xa.”192 Điều này đã gây ra sự phản bác gay gắt từ “một quan sát viên người Mỹ” với kinh nghiệm mười tám năm ở Đông Dương:

“Những thực dân” Pháp quả thật nổi tiếng vì họ thích tự huyễn hoặc bản thân khi nghĩ chỉ vì những người bản xứ đã thất bại trong việc đánh đuổi họ trong một số nỗ lực nổi dậy lẻ tẻ và thiếu phối hợp, khi mà họ thiếu vũ khí, huấn luyện và lãnh đạo, và điều đó [khiến] dân chúng yêu mến họ và hoàn toàn bằng lòng với tình trạng bị sỉ nhục và khuất phục dưới các chủ nhân ngoại bang trên chính đất của mình. [Một] thái độ tự phụ như vậy … có phải thật lố bịch, thảm hại. 193

Nguồn tin này còn nghi ngờ rằng Pháp từng có ý định nới lỏng quyền kiểm soát chặt chẽ đối với Đông Dương, hoặc cho phép người bản xứ giành độc lập, bất chấp lời hứa của Tướng de Gaulle về “chế độ quốc gia”.

Những người trong OSS lên án thái độ và hành vi của Pháp biết rằng họ có ít người ủng hộ tại Đại sứ quán Mỹ ở Trùng Khánh, nơi được cho là cung cấp hướng dẫn về chính sách ngoại giao hiện tại. Đại sứ Hurley là người theo chủ nghĩa chống thực dân thẳng thắn, nhưng tính cách cá nhân lập dị và thiếu kiến thức chuyên môn phù hợp khiến ông trở thành một người hướng dẫn đáng nghi ngờ. Ngay cả những người có thiện cảm với Pháp hoặc trung lập cũng thích được làm rõ chính sách thông qua đường dây chỉ huy quân sự hoặc trực tiếp từ trụ sở của OSS ở Washington. Vào đầu năm 1945, OSS, do Tướng “Wild Bill” Donovan đứng đầu, một ‘Henry Ford của Cơ quan Mật vụ’, có một động lực quốc tế (international momentum) không dễ gì thay đổi. 194 Với mối quan hệ đặc biệt trong thời chiến của OSS với Tổng thống Roosevelt, người ta có thể tưởng tượng rằng nhiều thành viên muốn tiếp tục thúc đẩy các chính sách quốc tế của Roosevelt trừ khi tổng thống mới hoặc tướng Donovan yêu cầu từ bỏ. Một số người thậm chí có thể đã biết về ý định xâm lược Đông Dương của Roosevelt, coi đó như một ý nguyện của người sắp chết. Mặc dù giấc mơ ủy trị của Roosevelt đã cam chịu kết cục đau buồn tại Yalta, nhưng điều này OSS ở Trung Hoa không được biết. Như đã đề cập ở trên, vào giữa tháng 6, Đại tá Heppner đã được cho xem một câu trả lời không rõ ràng của Bộ Ngoại giao cho Đại sứ Hurley.195 Nếu đọc ẩn ý giữa các dòng chữ, có thể giả định rằng Washington hiện đã chấp nhận trách nhiệm tương lai của Pháp đối với Đông Dương, nhưng không muốn các quyết định quân sự của Mỹ được đưa ra trên cơ sở đó. Do đó, OSS có thể làm việc với bất kỳ nhóm nào, bao gồm cả Việt Minh, điều này đã đóng góp một chút gì đó cho nỗ lực chiến tranh tại địa phương. Không lâu sau khi Nhật đầu hàng, các chỉ thị đến từ Washington đã thay đổi sâu sắc các quy tắc cơ bản.

Dư luận công chúng Mỹ

Bất chấp sự chú ý đáng kể một cách bí mật của giới chức Mỹ, cả dân sự và quân sự, đối với Đông Dương, rất ít thông tin được công khai. Thi thoảng, OWI thông cáo báo chí về các hoạt động ném bom của Đồng minh hoặc đề cập đến Đông Dương như một ứng viên được ủy trị. Với tinh thần tự mãn về chủ nghĩa chống thực dân và Hiến chương Đại Tây Dương lúc đó, các nhà báo Mỹ thường lướt qua hồ sơ của Pháp ở Đông Dương và cho rằng Mỹ sẽ đảm bảo cho người bản xứ nhận được một thỏa thuận tốt hơn sau chiến tranh.196 Tuy nhiên, tình trạng coi tin tức về Đông Dương là không quan trọng được phản ánh trong việc New York Times chỉ chọn đăng một bài về Đông Dương vào năm 1942, bảy bài năm 1943 và bốn bài năm 1944.197

Từ tháng 8 năm 1944 trở đi, chính phủ de Gaulle điều hành một phái bộ báo chí ở New York, như một phần của mục tiêu tổng thể là quảng bá hình ảnh của “nước Pháp mới”, công khai các kế hoạch cải cách thuộc địa thời hậu chiến, đồng thời cố gắng bác bỏ những ấn tượng đang phổ biến của người Mỹ về cuộc khai thác của Pháp trước chiến tranh. Do đó, một tập sách mỏng có tiêu đề ‘Nước Pháp Trường tồn – Ủy ban đấu tranh của Pháp tại Mỹ,’ do Jean de la Roche, trưởng phái bộ viết, đã tóm tắt những “thành tựu to lớn” của Pháp ở Đông Dương, khẳng định rằng đa số người Pháp và người Đông Dương là những người ủng hộ Đồng minh và đưa ra những hứa hẹn mơ hồ về những cải cách tự do trong tương lai.198 Vào tháng 10 năm 1944, có lẽ được khuyến khích bởi de la Roche, tạp chí Ngoại giao có ảnh hưởng của Mỹ đã đăng một bài báo của Gaston Rueff, một doanh nhân Pháp cư trú tại Mỹ, trong đó chỉ trích gay gắt Washington vì đã không giúp Toàn quyền Catroux chống lại áp lực của Nhật vào năm 1940. Trích lời Công nhận năm 1942 của Quyền Ngoại trưởng Welles về chủ quyền của Pháp, và hứa khá vội vàng rằng cộng đồng người Pháp và các quan chức Pháp ở Đông Dương sẽ hỗ trợ lực lượng Đồng minh lật đổ sự thống trị của Nhật. Theo Rueff, sự cai trị của Pháp trước đây đã mang lại “hòa bình và một mức độ nhất định về văn hóa, sức khỏe và thịnh vượng” cho Đông Dương. Tuy nhiên, Pháp nhận thức được rằng đã mắc phải những sai lầm và đặc biệt là chính sách kinh tế cần phải được thay đổi ”mạnh mẽ”. Rõ ràng là nhằm hướng đến độc giả Mỹ của mình, Rueff đề xuất tách Đông Dương ra khỏi hệ thống hải quan của Pháp, thiết lập ”Chính sách Mở cửa cho tư bản nước ngoài” và thành lập một số cơ quan quốc tế hoặc khu vực để giám sát các nỗ lực chuẩn bị cho tất cả người bản xứ Tây Nam Thái Bình Dương cuối cùng có chính phủ tự trị.199

Vào tháng 1 năm 1945, người Pháp tiến hành chiến dịch của họ ở Hội nghị lần thứ chín của Viện Quan hệ Thái Bình Dương, ở Hot Springs, Virginia. Jean de la Roche đưa ra ba bài báo, nhấn mạnh ý định của chính phủ Pháp trong việc phát triển kinh tế Đông Dương thời hậu chiến, tách biệt khỏi áp lực từ Mẫu quốc, cam kết cải thiện điều kiện sống và giảm chênh lệch thu nhập, và kế hoạch củng cố 5 chính quyền khu vực (Bắc Kỳ, An Nam, Nam Kỳ, Campuchia và Lào), trong khi vẫn giữ toàn quyền như hiện thân của chủ quyền của Pháp. Tuy nhiên, trong một bài báo của mình, Roche kết luận với trích dẫn của Phạm Quỳnh, lúc đó vẫn còn là bộ trưởng thứ nhất của Bảo Đại ở Huế, về mong muốn cư dân Đông Dương được ‘‘kết hợp mãi mãi trong Cộng đồng Pháp.’’200 Gaston Rueff đã trình bày một bài báo khuyến khích các nhà đầu tư Mỹ xem xét các cơ hội khai thác và công nghiệp ở Đông Dương, đề xuất một cảng tự do để cung cấp giao thông đến và đi từ Trung Hoa, và ủng hộ trao thêm quyền cho chính quyền Đông Dương từ Mẫu quốc, ngoại trừ các vấn đề “quốc phòng, an ninh tập thể và quan hệ với nước ngoài.”201 Pierre Gourou, một học giả về phương thức kinh tế nông thôn trước chiến tranh ở Đông Dương, đã vạch ra một số cách để cải thiện điều kiện sống cho nông dân sinh sống quá đông đúc ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng thời cảnh báo rằng không nên nêu ra những “hy vọng hão huyền”.202

Rõ ràng chỉ có một người Mỹ, Virginia Thompson, trình bày một bài báo về Đông Dương tại hội nghị Hot Spring. Bài báo chỉ trích người Pháp về sự bóc lột lao động tàn nhẫn trước chiến tranh, nhưng hoàn toàn tránh bình luận về các vấn đề hiện tại.203 Tuy nhiên, các vấn đề thuộc địa đã gây ra tranh cãi đáng kể trong các cuộc thảo luận tại phòng họp. Các đại biểu Mỹ nhấn mạnh rằng đất nước của họ không chiến đấu với Nhật để phục hồi các đế chế thuộc địa phương Tây. Một đại biểu người Anh, được người Hà Lan và người Pháp ủng hộ phản đối: “Chúng ta sẽ không cho phép mình bị đẩy ra khỏi quá trình tiến hóa cách mạng.”204

Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đầu tháng 3, giới truyền thông Mỹ đã phản ứng một cách thận trọng trước những lời kêu gọi của Tướng de Gaulle nhằm cung cấp hỗ trợ quân sự cho người Pháp ở Đông Dương. Một bài xã luận của New York Times thừa nhận sự kháng cự vũ trang của Pháp, nhưng đặt câu hỏi về mức độ hỗ trợ của người bản xứ, và kết luận:

Cho dù trên cơ sở ủy trị quốc tế hay không, tình trạng của các quốc gia châu Á sẽ không giống như trước đây. Một trong những thành quả của chiến thắng trước Nhật mà người dân phương Tây sẽ đòi hỏi là sự mở rộng của chính quyền tự chủ, nhanh chóng nếu hoàn cảnh cho phép, cho người dân phương Đông.205

Hiệp hội Chính sách Đối ngoại có uy tín đã in một bài phân tích của chuyên gia Viễn Đông của Hiệp hội, Lawrence Rosinger, lên án những nỗ lực cơ hội ngu xuẩn của Toàn quyền Decoux “đứng về phía chiến thắng trong cuộc chiến – bất kể là bên nào”. Đáng ngạc nhiên, Rosinger hoàn toàn bỏ qua viện trợ cho các phần tử Gaullist, thay vào đó tập trung vào sự sẵn sàng hợp tác với các lực lượng Đồng minh của Việt Minh. Liệu những lời hứa của de Gaulle về một địa vị chính trị mới cho Đông Dương có làm hài lòng Việt Minh và những người theo chủ nghĩa dân tộc khác hay không cần được xem xét. Tuy nhiên, Rosinger đã nhìn thấy những thời điểm khó khăn ở phía trước: “Rõ ràng là ở châu Á, cũng như ở châu Âu, việc giải phóng khỏi kẻ thù sẽ đi kèm với nhiều vấn đề, những vấn đề này đã có từ nhiều thập kỷ trước chiến tranh, nhưng được khơi dậy sự quan tâm bởi những trải nghiệm dưới gót chân của phe Trục – Kẻ chinh phục.” 206. Một bài báo sau đó của Rosinger thúc giục Pháp ‘khắc phục sự yếu kém phát sinh từ thất bại bằng cách hợp tác với Đông Dương để tiến tới tự chủ đầy đủ và cuối cùng là độc lập hoàn toàn [cho Đông Dương].’207 Mặt khác, Eleanor Lattimore cho rằng khái niệm của de Gaulle về Liên hiệp Pháp đại diện cho ‘‘cuộc cách mạng thoát khỏi chính sách ‘đồng hóa’ các thuộc địa truyền thống của Pháp, hoặc liên kết chúng với Pháp trong một đế chế tập trung quyền lực cao độ”. Bà dự đoán rằng người Đông Dương “có lẽ đã có đủ kinh nghiệm về sự ‘độc lập’ của Nhật trong thời chiến tranh để thực hiện đánh đổi nó một cách không miễn cưỡng với ‘địa vị thống trị’ của Pháp.”208

Công chúng Mỹ có rất ít hoặc không có cơ sở để đánh giá những quan điểm như vậy. Họ cũng không mong muốn [làm điều đó]. Chiến tranh đã nuôi dưỡng bầu không khí bí mật xâm nhập khắp nơi, niềm tin vào sự lãnh đạo của tổng thống và sự tôn trọng đối với các chỉ huy quân sự, đến mức các cuộc tranh luận cởi mở về các vấn đề chiến lược hay chính sách đối ngoại được coi là không yêu nước. Những vấn đề quan trọng hơn nhiều so với Đông Dương  đã không được phổ biến vào năm 1945. Một số ít nhà báo và học giả bên ngoài chính phủ tò mò tự hỏi liệu quân đội Pháp có dấn thân vào Đông Dương hay không, mặt trận quân sự nào chịu trách nhiệm hành động, và liệu nguyên tắc tự trị có bị chính quyền Truman bãi bỏ hay không. Vào cuối tháng 6, Nhà Trắng mời Tướng de Gaulle thăm Washington vào cuối mùa hè, có lẽ là dấu hiệu quan trọng nhất, nhưng hầu như không được chú ý, của sự hòa giải đối với Pháp và chấp nhận các kế hoạch của chính phủ Pháp đối với Đông Dương.209

Nghịch lý chính sách

Đông Dương có thể từng là một vũng ao tù (backwater) về chiến lược trong phần lớn Thế chiến II, tuy nhiên, như chúng ta đã thấy, nó nhận được sự quan tâm đáng kể từ các nhà hoạch định chính sách và chỉ huy Trung Hoa và Mỹ. Đối với các nhà lãnh đạo Trung Hoa, về nhiều mặt, Đông Dương là một phần mở rộng của việc vận hành quyền lực phức tạp ở Quảng Tây và Vân Nam, cũng như là một nguồn thu nhập cho những người có thể khai thác thương mại xuyên biên giới. Sự hiện diện của lực lượng Nhật ở Đông Dương được lợi dụng để có thêm nguồn cung cấp và thiết bị từ Mỹ, đồng thời tránh bất kỳ hành động nào có thể dẫn đến một cuộc tấn công của Quân đội Đế quốc Nhật. Vì các lý do chính trị, quân sự và thương mại, việc tài trợ cho nhiều tổ chức người Việt khác nhau và cải thiện các mối liên hệ tại Bắc Kỳ là rất hữu ích, mặc dù tốt hơn là không đến mức để những người này có thể hành động độc lập. Đến tháng 7 năm 1945, các chỉ huy khu vực của Trung Hoa có lẽ đã chuẩn bị để thách thức sự kiểm soát của Nhật tại miền bắc Đông Dương, nhưng họ đã bị chính quyền trung ương Trùng Khánh kiềm chế.

Ý tưởng của Tổng thống Roosevelt về việc thành lập một cơ quan ủy trị cho Đông Dương có liên quan đến tầm nhìn của ông về một châu Á thời hậu chiến không có thuộc địa, sự chán ghét đặc biệt của ông đối với hành vi của Pháp và sự nhiệt tình của ông trong việc thúc đẩy Trung Hoa trở thành thành viên nhóm Bốn nước lớn. (n/v Big Four trước đây thường được dịch theo tiếng Hán là Tứ Cường tức 4 nước mạnh). Tuy nhiên, không có mối quan tâm nào trong số này đủ quan trọng để ngăn trở việc theo đuổi cuộc chiến chống Đức và Nhật. Cụ thể, Roosevelt không để những khác biệt về Đông Dương gây nguy hiểm cho mối quan hệ làm việc quan trọng của ông với Thủ tướng Churchill, và ông cũng không phản bác quan điểm của Bộ Tham mưu Kế hoạch Liên quân Mỹ về các cuộc đổ bộ lên đảo Hải Nam và bờ biển Bắc Bộ sẽ chứng tỏ vô cùng lãng phí tài nguyên, làm trì hoãn các cuộc tấn công vào Okinawa và Kuyshu khoảng sáu tháng. Vào đầu năm 1945, Roosevelt hẳn đã cảm thấy rằng kỳ vọng của ông về Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch là không thực tế, nhưng ông vẫn chưa sẵn sàng tung khăn nhận thua. (n/v to throw in the towel – ý nói chấp nhận thua. Cụm từ này bắt nguồn từ quyền anh, trong đó huấn luyện viên của một võ sĩ biểu thị nhận thua bằng cách ném khăn vào võ đài.) Do đó, ông ta có vẻ ủng hộ việc quân đội Trung Hoa chiếm đóng Đông Dương bất cứ khi nào điều kiện cho phép thì sẽ ít tốn kém hơn, điều này giúp giải thích việc Tướng Wedemeyer cương quyết từ chối nhượng lãnh thổ cho Mặt trận của Lord Mountbatten. Trong khi đó, ở Đông Dương, các cuộc không kích của Mỹ vẫn tiếp tục không ngừng vào các mục tiêu khi có cơ hội, và OSS mở rộng các hoạt động xuyên biên giới. Tình hình thêm khẩn trương bởi sự tiếp quản của Nhật và quân đội Trung Hoa tiến về phía đông nam qua Kwangsi. Trớ trêu thay, vào đúng thời điểm Đông Dương được cho rằng có tầm quan trọng lớn hơn đối với mặt trận, thì Tổng thống Truman từ bỏ những giới hạn còn sót lại của Roosevelt về việc Pháp trở lại thuộc địa của mình. Truman lẽ ra muốn thay đổi chính sách một cách kín đáo, nhưng thông điệp quyết liệt của Đại sứ Hurley vào tháng 5 đã trói tay ông ta.( n/v forced his hand – ý nói ép ông ta phải làm điều gì đó mà ông ta có thể không muốn.) Tuy nhiên, kế hoạch mặt trận đã được lập trước đó cho phép Trung Hoa vào Đông Dương, ít nhất là đến vĩ tuyến 16, và điều này đã được Đồng minh phê chuẩn tổng thể tại Potsdam vào cuối tháng 7. Do đó, sân khấu đã được thiết lập cho cả OSS và Trung Hoa tham gia  vào các sự kiện trong tháng Tám – Chín.

Chú thích

  1. CLI, hiện đã được đổi thành Trung đoàn Bộ binh Thuộc địa số 5, cái tên mà ngay cả người Anh cũng cho là không may mắn, cuối cùng đã khởi hành từ Algiers vào ngày 13 tháng 5, đến Ceylon mười lăm ngày sau. Dunn, ‘‘Interpretation,” ch. 2, 25. Dennis, Troubled Days, 30. Vào tháng Bảy, Tổng thống Truman đã phê duyệt việc điều động thêm các lực lượng Pháp “về nguyên tắc”, nhưng không ấn định ngày thả các tàu cần thiết. Thorne, Allies, 633.
  2. Patti, Why Viet Nam? 21, 55, 57, 59, 65.
  3. Ibid., 75, 80, 87, 100, 102.
  4. Đã dẫn, 48. Một người nào đó trong Bộ Ngoại giao đủ quan tâm để gửi một bức điện dưới tên Bộ trưởng Hull yêu cầu làm rõ.
  5. USNA, DOS special files, Record Group 59, box 10, d. 7, Langdon to Landon, 16 June 1944. Theo Langdon, nguồn tin của ông ta “bị người Pháp coi là chống Pháp và những người theo chủ nghĩa dân tộc An Nam coi là kẻ phản bội.”
  6. Đã dẫn, Arthur Ringwalt to Ambassador Gauss, 5 Aug. 1944.
  7. U.S. Opintel report, Indochina, 22 Oct. 1944.
  8. USNA, DOS special files, Record Group 59, box 7, d. 2, messages from 7 Nov. 1944.
  9. Patti, Why Viet Nam? 50-51. Có một sự phức tạp về mặt kỹ thuật là hộ chiếu Hồ Chí Minh, sẽ được đóng dấu thị thực, là Trung Hoa hay Pháp không ai trong số họ có khả năng đồng ý. Người ta không thể không tự hỏi lịch sử của Việt Nam có thể đã thay đổi như thế nào nếu Hồ Chí Minh đến San Francisco bằng giấy thông hành của Mỹ.
  10. Đã dẫn, 53. USNA, hồ sơ OSS 110208, Đại sứ quán Mỹ, Trùng Khánh, gửi ngoại trưởng, ngày 9 tháng 9 năm 1944, có mô tả về bức thư này mà không đề cập đến sự giúp đỡ của Mỹ trong việc soạn thảo nó. Có lẽ người Mỹ có thiện cảm nhất là OSS Major Austin Glass, cựu giám đốc văn phòng Hải Phòng của Standard Oil Company of New York. Glass đã thường trú ba mươi năm ở Đông Dương, thông thạo tiếng Việt và có vợ là người Việt. Ông ta chuyển về Washington vào cuối năm 1944, ở đó ông đã tường thuật cho Patti một cách đầy đủ trước khi Patti được chuyển đến Côn Minh vào đầu tháng 4 năm 1945.
  11. USNA, OSS record 110308, American Embassy, Chungking, to secretary of state, 9 Sept. 1944.
  12. Patti, Why Viet Nam? 53-54. Chúng tôi biết về ‘Phạm Viết Tú’ chỉ từ các nguồn phương Tây. Có lẽ ông ta có một tên khác trong nguồn Việt Nam. ND: là tổng bí thư mặt trận Việt Minh
  13. USNA, OSS record 110965, Research and Analysis, Kunming report 0016, 15 Dec. 1944.
  14. Charles Fenn, Ho Chi Minh: A Biographical Introduction (New York, 1973), 73-75:
  15. Đã dẫn, 75-76.
  16. Dựa trên Tonnesson, Vietnamese Revolution, 238, 337, người đã tìm thấy tài liệu này ở USNA. 19 Mar. 1945 document in the USNA.
  17. Fenn, Ho Chi Minh, 76-79, 81. Hồ Chí Minh cũng đã sắp xếp thông qua AGAS để các đồng chí ở Côn Minh thu xếp và gửi một bộ cờ Đồng minh cỡ lớn, để trưng bày trong trại vào những dịp thích hợp. Viet Nam Social Sciences (Hanoi) (1/2-1986): 217.
  18. Danh sách do Charles Fenn cung cấp vào tháng 9 năm 1993. Sử dụng bảng câu hỏi gồm 35 mục, Fenn cũng cố gắng thu thập thông tin chi tiết từ Hồ Chí Minh và những người khác về các hoạt động và thái độ của Nhật, Pháp và Việt Nam. Ví dụ, mục số 15 yêu cầu “Chi tiết về việc Nhật hoặc cộng tác viên tham gia vào cờ bạc, uống rượu, gái điếm, các hành vi khác.”
  19. Patti, Why Viet Nam? 61-63, 67-71, 82-88. Theo các nguồn tin của Pháp, Việt Minh sau đó đã nhận được ít nhất một triệu Trung Hoa tệ (500 đô la Mỹ) mỗi tháng từ OSS. AOM, INF, c. 134, d. 1229, “Agissements americains contre le rétablissement de la souveraineté francais en Indochine,” n.d., nhưng có lẽ là đầu tháng 10 năm 1945.
  20. Viet Nam Social Sciences (Hanoi) (1/2-1986): 216-17. Đến thời điểm này, những người Việt Nam tại Pác Bó hẳn đã nhận thức được rằng AGAS hầu như không giới hạn mình trong việc cứu hộ mà còn đóng vai trò ngụy trang cho các hoạt động OSS.
  21. Ho Chi Minh, “How We Travel,” Bản đánh máy dài sáu trang thuộc quyền sở hữu của Frank Tan. Cuộc phỏng vấn qua điện thoại với Frank Tan, ngày 29 tháng 6 năm 1994. Sau đó, Hồ đã tặng cho mẹ Tan một chiếc vòng tay bằng vàng nguyên khối và rượu ngâm cao hổ cốt để giảm bớt các vấn đề liên quan đến tuổi già của bà.
  22. Fenn, Ho Chi Minh, 80-82. See also Robert Shaplen, The Lost Revolution: Vietnam, 1945-1965 (London, 1966), 18-29.
  23. Patti, Why Viet Nam? 96-101.
  24. Trích dẫn trong Gardner, Approaching Vietnam, 6o.
  25. Smith, OSS, 298-305.
  26. Sabattier, Le Destin de I’Indochine, 227-30, 257-67. Sabattier xác định Sainteny là trưởng DGER ở Trung Hoa. Các nguồn khác xác định ông ta là trưởng Phái đoàn 5 (M.5) tại Côn Minh. Đây là những vị trí giống hệt nhau.
  27. Patti, Why Viet Nam? 88-95.
  28. Đã dẫn, 104-7, 113. Conein sau đó gia nhập CIA, làm liên lạc viên với các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa lật đổ và giết Ngô Đình Diệm năm 1963.
  29. Đã dẫn, 112-15.
  30. Major Allison K. Thomas, ‘‘Report on Deer Mission,’’ 17 Sept. 1945, reproduced in U.S. Congress, Senate Committee on Foreign Relations, Causes, Origins and Lessons, 251-56. Personal correspondence with Allison Thomas, 26 Apr., 5 June, and 12 Aug. 1991. Patti, Why Viet Nam? 124-27.
  31. Theo một nguồn tin Pháp, Phelan cảnh báo Montfort không được nói tiếng Pháp, nhưng dù sao một số thành viên Việt Minh cũng nhận ra ông ta. DGI, 71-72.
  32. ‘Deer Report #1,’ 17 July 1945, in U.S. Congress, Senate Committee on Foreign Relations, Causes, Origins and Lessons, 244-46. OSS đã không thông báo tóm tắt cho Thomas về Việt Minh hay Hồ Chí Minh, người mà ban đầu ông gọi là ‘‘Mr Hoe”và sau đó vào tháng 9 là “Mr C. M. Hoo”.
  33. Smith, OSS, 332, and photo on p. 323, trong đó có chú thích tuyên bố rằng bác sĩ Mỹ “đã cứu mạng Hồ”. Ngược lại, hầu hết các ấn phẩm của Hà Nội đều bỏ qua sự hỗ trợ y tế này, đôi khi coi sự phục hồi của Hồ là các biện pháp chữa bệnh bằng thảo dược truyền thống. Mãi về sau, Thiếu tá Thomas mới nhận xét: “Ông ấy [Hồ Chí Minh] bị bệnh nặng, nhưng tôi không chắc ông ấy sẽ chết nếu không có chúng tôi.” Trích trong William Broyles, Jr., Brothers in Arms: A Journey from War tới Hòa bình (New York, 1986), 104.
  34. Broyles, Brothers, 108.
  35. Trần Huy Liệu, “Đi dự Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào”, Nghiên Cứu Lịch Sử (Hà Nội), No. 17 (8-1960): 40.
  36. Nhật ký cá nhân của Thiếu tá Allison Thomas, người vui lòng cung cấp cho tôi một bản sao đánh máy sau đó.
  37. Ngoc An, “Bộ Đội Việt-Mỹ,” Tạp Chí Lịch Sử Quân Sự (Hanoi), No. 10 (Oct. 1986): 19. Đàm Quang Trung được chỉ định làm chỉ huy của đơn vị này, và Thiếu tá Thomas được xác định là tham mưu trưởng.
  38. Fenn, Hồ Chí Minh, 81.
  39. Smith, OSS, 334. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1968 với tờ báo quê hương của mình, Prunier đã mô tả thêm Hồ Chí Minh là một người trầm lặng, mãnh liệt, người biết cách ‘rút ra câu trả lời từ bạn’ và là người “lắng nghe tất cả những gì bạn nói.” Vì Prunier đến từ Massachusetts, nên Hồ cũng kể cho ông ta nghe về quãng thời gian làm bồi bàn ngắn ngủi thời trẻ của mình ở Boston. Raymond P. Girard, ‘City Man Helped to Train Guerrillas of Ho Chi Minh,” Evening Gazette (Worcester, Mass.), Ngày 14 và 15 tháng 5 năm 1968.
  40. René Defourneaux, ‘Secret Encounter with Ho Chi Minh,’ Look magazine (New York), 9 Aug. 1966, 32-33.
  41. Thư của Allison K. Thomas, ngày 10 tháng 9 năm 1986. Tại một bữa ăn tối chia tay ở Hà Nội vào tháng 9 năm 1945 do Hồ Chí Minh chủ trì, Thomas đã thẳng thừng hỏi tân Chủ tịch chính phủ lâm thời xem ông có phải là người cộng sản không. Hồ trả lời: ‘Đúng, tôi là cộng sản. Nhưng chúng ta vẫn có thể là bạn, phải không? ” Trích dẫn ở Việt Nam: Anatomy of a Conflict, ed. Wesley Fishel (Itasca, Ill., 1968), 7; được xác nhận bằng thư từ cá nhân với Thomas, ngày 5 tháng 9 năm 1990.
  42. USNA, OSS record 130333, 14 May 1945, Research and Analysis/India-Burma Theater memo D-30.
  43. USNA, OSS record XL12971, Research and Analysis/SEAC memo K-134, 26 July 1945. Nguồn có thể là Austin Glass.
  44. “Henry Ford” được gọi theo Claude Paillat, Dossier secret de l’Indochine (Paris, 1964), 41.
  45. Patti, Why Viet Nam? 120. Heppner sau đó đã tiết lộ những đoạn thích hợp của thông điệp này cho Patti và một số cấp dưới khác.
  46. Xem, e.g., Selwyn James, ‘French Want to Fight Japs for Indo-China,’ PM, 1 Oct. 1944.
  47. Ngược lại, có 25 bài báo từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1945. New York Times Index (1941-45), 564, 594, 613-614, 705. Tôi không tính các bài báo về mặt trận Viễn Đông, trong đó Đông Dương nó chung chỉ được lướt qua.
  48. AOM, INF, c. 120, d. 1089. Roche là một nhà quản lý thuộc địa với nhiều kinh nghiệm về châu Phi, dường như được biệt phái tới Agence Presse France.
  49. Gaston Rueff, ‘The Future of French Indo-China,’ Foreign Affairs 23, No. 1 (Oct. 1944): 140-46. Như chúng ta sẽ thấy, bài báo của Rueff đã bị Bộ Thuộc địa Pháp chỉ trích
  50. Jean de la Roche: ‘French Indo-China’s Prospective Economic Regime,’ French Paper No. 2; ‘A Program of Social and Cultural Activity in Indo-China,’ French Paper No. 3; and ‘Indo-China and French Colonial Policy,’ French Paper No. 5. Phiên bản vắn tắt của No. 5 in trong Pacific Affairs (Honolulu) 18, No. 1 (Mar. 1945): 62-75. Tôi cảm ơn Tiến sĩ Kristen Pelzer White đã cung cấp một bộ tài liệu của Học viện Quan hệ Thái Bình Dương.
  51. Gaston Rueff, ‘Post-War Social and Economic Problems of French IndoChina,’ Secretariat Paper No. 6. Một phiên bản sửa đổi của bài báo này xuất hiện trong Pacific Affairs 18, No. 2 (June 1945): 137-55, and ibid., No. 3 (Sept. 1945): 229—45.
  52. Pierre Gourou, ‘The Standard of Living in the Delta of the Tonkin (French Indo-China),’ French Paper No. 4.
  53. Virginia Thompson, ‘Notes on Labor Problems in Indo-China,’ Secretariat Paper No. 11.
  54. Quoted in Thorne, Allies, 541. Useful background on this Institute of Pacific Relations conference is provided in Christopher Thorne, Border Crossings: Studies in International History (Oxford, 1988), 175-92.
  55. New York Times, 17 Mar. 1945, 12.
  56. ‘Resistance Movement Fights Japanese Rule in Indo-China,’ Foreign Policy Bulletin (New York) 24, No. 22 (146 Mar. 1945): 1-2.
  57. New York Times, 21 May 1945, 3.
  58. Eleanor Lattimore, ‘Indo-China: French Union or Japanese ‘Independence,’ Far Eastern Survey (New York), 23 May 1945, 132-34.
  59. Herring, ‘Truman Administration,’ 107-8. Tướng de Gaulle đã đến thăm Washington vào tháng 7 năm 1944, tạo được ấn tượng tốt với công chúng, nhưng quan hệ với Roosevelt vẫn căng thẳng, đặc biệt là sau khi de Gaulle bị loại khỏi Yalta.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s