Lịch Sử Nghệ Thuật- Phần 10

Untitled

Jesse Bryant Wilder

Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN IV: Cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ và sự Chuyển Giao Nghệ Thuật: 1760-1900

 Trong phần này. . .

Cuộc Cánh Mạng Kỹ Nghệ đã thay đổi việc làm của nhiều người, cách thức các thành phố nhìn và ngửi, và cách thức các nghệ sĩ làm nghệ thuật. Tất cả những biến đổi này đều liên kết với nhau. Trong phần này, bạn sẽ thấy bằng cách nào nghệ thuật đã phản ánh những biến đổi đó, có bao nhiêu nghệ sĩ cố bắt chước hay thách thức những tiến bộ của xã hội, một số bằng cách rút lui về quá khứ (những ngày trước khi bị ô nhiễm), một số bằng cách bẻ lái cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ theo chiều hướng nhân bản hơn và thi vị hơn, và số khác bằng cách cố gắng tạo cảm hứng cho những cuộc cách mạng dân chủ và xã hội. 

Chương 16

Mọi Con Đường Đều Đưa Đến La mã và Hy Lạp: Nghệ Thuật Tân Cổ Điển

Trong Chương Này

  • Tìm hiểu cách thức Thời Kỳ Khai Sáng ảnh hưởng đến nghệ thuật
  • Liên kết hội họa với chính trị
  • Đọc giữa các nét cọ

Các triết gia thởi Khai Sáng ở thế kỷ 18 nghĩ rằng mình đã tìm lại được ánh sáng đã tắt ngấm khi La mã thất thủ. Lý trí, chứ không phải niềm tin, là ngọn đuốc soi đường  của họ. Nó sẽ chiếu sáng lộ trình của nhân loại đến những cải cách chính trị và xã hội, khám phá những bí ẩn của tự nhiên, và làm sáng tỏ chương trình của Thượng đế __ nếu ông ta tồn tại.

Các tư tưởng gia thời Khai Sáng nhìn chiến tranh giữa các tôn giáo trong thời Cải Cách (trong thế kỷ 16 và 17) với vẻ kinh hoàng, chiến tranh đã tàn phá cả châu Âu. Họ chứng kiến những chủ nghĩa tình cảm và thành kiến phi lý trong những ngày đó, chính chúng đã dẫn đến những căm thù tôn giáo, sự nghèo đói, bất công, và sự kiểm soát các tư tưởng mới trong  hầu hết các xứ. Đây là lúc để quả lắc quay từ trái tim đến bộ não, từ niềm tin tới lý trí.

Triết gia Khai Sáng Đức là Immanuel Kant đã nói:

Khai sáng là sự tiến lên của con người từ sự non nớt bản thân. Non nớt là không có khả năng sử dụng sự hiểu biết của mình nếu không có sự hướng dẫn của người khác. Sự non nớt này là do mình tự áp đặt khi nó không đến từ sự thiếu hiểu biết, mà là từ sự thiếu cương quyết và can đảm dám sử dụng trí tuệ của mình mà không cần sự hướng dẩn bên ngoài. Dám tìm hiểu __ là khẩu hiệu của thời Khai Sáng.

Một trăm năm mươi năm trước Galileo Galilei đã nói giống như trên:

Tôi không thấy mình có bổn phận phải tin tưởng là chính ông Thượng đế đã ban tặng chúng ta giác quan, lý trí, và trí năng lại cũng là ông cấm chúng ta sử dụng chúng.  .  .

Tòa án Thánh đã quản thúc Galileo tại tư gia trong chín năm cuối đời vì đã sử dụng lý trí của mình để đi ngược lại quan điểm địa tâm về vũ trụ của Nhà Thờ (thuyết địa tâm cho rằng mặt trời, hành tinh, mặt trăng, và các vì sao đều quay chung quanh Trái đất). Các nhà tư tưởng Khai Sáng là một nhóm người lạc quan. Mặc dù những gì xảy ra cho Galileo và nhiều người khác bị kiểm duyệt, lưu đày, và tống vào ngục thất, hầu hết họ đều tin rằng con người có thể giải quyết bài toán của mình bằng sự lý luận tỉnh táo. Ngày nay khi bạn yêu cầu ai đó phải “Hãy bình tĩnh và suy nghĩ lại” hay “Hãy nhìn trước khi bạn nhảy,” đó là bạn xử sự theo phong cách Khai Sáng __ cho dù bạn biết hay không. Trong số những nhà tư tưởng Khai Sáng vĩ đại nhất và có ảnh hưởng nhất là John Locke, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, Denis Diderot, Montesquieu, Benjamin Franklin, Thomas Paine, Immanuel Kant và David Hume. Nhiều gương mặt nầy chịu ảnh hưởng của nhà luận lý học vĩ đại thế kỷ 17 là Rene Descartes và Isaac Newton.

Voltaire tuyên giảng tự do tôn giáo và tách nhà thờ ra khỏi nhà nước, quyền được xét xử công bình và được hưởng các tự do dân sự. John Locke nói “một chính quyền chỉ hợp pháp nếu có sự đồng thuận của người bị trị” và chỉ nếu nó bảo đảm “các quyền tự do tự nhiên của cuộc sống, tự do, và tài sản.” Montesquieu chủ trương tam quyền phân lập. Những nhà tư tưởng Khai Sáng này và những người khác đã tạo cảm hứng cho các cuộc Cách mạng Pháp và Hoa Kỳ, Đạo Luật Nhân Quyền của Hợp Chủng Quốc, các Quyền Con Người của Pháp, cũng như các hiến pháp của Mỹ và Pháp. Họ tạo cảm hứng cho các phong trào đòi độc lập và dân chủ từ Venezuela đến Hy Lạp, và họ tạo ra các “ông vua được Khai Sáng” như Catherine the Great và Hoàng đế La mã Joseph II,  những  người đã thiết lập nên những cải cách nhân bản như hủy bỏ chế độ nông nô và xây dựng trường công (đem khai sáng đến với mọi người).

Rousseau kêu gọi thứ nghệ thuật mô phạm (nghệ thuật nhằm dạy những lý tưởng được khai sáng) và quay trở về chủ nghĩa cổ điển cao thượng (nghệ thuật đẹp, lý tưởng hóa, nhằm đề cao con người). Ông kết án những gì ông coi là nghệ thuật phù phiếm, nhất là những bức họa đầy dục tính của Francois Boucher.

Những lý tưởng khai sáng cho ra đời phong cách nghệ thuật Tân cổ điển, mà lúc đầu được gọi là “phong cách chân thực,” tương phản với sự giả tạo của nghệ thuật Rococo, được ưa chuộng là thời thượng cho đến khoảng năm 1760.

Winckelmann, nhà lịch sử nghệ thuật Đức và người thành lập phong trào Phục sinh Hy Lạp trong nghệ thuật, cho rằng “nghệ thuật chân thực” phải có tính “giản dị cao quý và vĩ đại trầm tĩnh.” Mặc dù ông muốn làm sống lại nghệ thuật Hy Lạp, ông đả phá sự sao chép nguyên xi. Thay vào đó, ông khuyến khích trang bị lại tinh thần thuở xưa. Ông tin rằng điều này sẽ làm sinh ra một phiên bản cách tân của nghệ thuật Hy Lạp, một cuộc hôn phối giữa phong cách cổ điển với lối suy nghĩ Khai Sáng __ Tân cổ điển.

Trong chương này, ta sẽ xem xét nghệ thuật thế kỷ 18, nghệ thuật đã phản ánh những lý tưởng Khai Sáng.

Jacques_Louis David: Ông Vua của Chủ Nghĩa Tân Cổ Điển

Jacques Louis David (1748-1825), hoạ sĩ Tân cổ điển vĩ đại nhất, là người chịu nhiều ảnh hưởng của Winckeimann. Tuyệt tác phẩm đầu tiên của David, Lời Thề của Horatii, minh họa “tính giản dị cao quý và vĩ đại trầm tĩnh” mà Winckelmann cổ vũ.

Vua Louis XVI (mà bản án tử hình cho ông sau này có chữ ký của Jacques-Louis David trong thời Cách mạng) giao cho David công việc đầu tiên của ông là hoạ sĩ. Đúng ra, giám đốc nghệ thuật và xây dựng của nhà vua, Bá tước vùng Angivillier, giới thiệu David thực hiện những ủy thác theo lệnh nhà vua. Bá tước quyết địng rằng nước Pháp cần những bức họa lịch sử  với chủ đề cao cả nhằm kích thích lòng ái quốc. (Tiếng xao động của cuôc cách mạng đã có thể nghe thấy.) Bá tước thuê David vẽ một bức tranh lịch sử (nghệ sĩ phải chọn đề tài) nhằm nâng cao lòng ái quốc kiên định vì sự hăm dọa của cách mạng đang lớn dần.

David chọn minh họa câu chuyện kỳ lạ về một cuộc chiến xưa giữa La mã và một bang hiềm khích, Alba. Thay vì những quân đoàn xáp chiến nhau, “chiến tranh” chỉ đơn giản là một màn trình diễn giữa hai nhóm anh em: ba chàng trai dòng họ Horatti, sống ở La mã, và anh em họ của họ là nhà Curiatti cư trú tại Alba. Ông đặt tựa cho bức tranh là Lời Thề của Horatti. Trong bức tranh, cha của anh em Horatti trao cho họ những thanh gươm. Các phụ nữ than khóc ở bên phải đều có ràng buộc với cả hai nhóm thanh niên  __  những thanh niên chúng ta thấy được trong tranh và những thanh niên Curatti ở ngoài bức tranh. Một phụ nữ trong số là người thuộc họ Horatti đã đính hôn với một người Curatti. Một phụ nữ khác thuộc dòng họ Curatti đã kết hôn với một người Horatti. Nó tương tự như câu chuyện Romeo và Juliet. Nhưng tinh thần của câu chuyện không phải tình yêu chinh phục tất cả mà lòng ái quốc vượt trên tình yêu

1

Lời Thề của Horatti diễn tả ý nghĩa hình học, hợp lý của trật tự và sự hy sinh hoàn toàn cho đất nước, không có tình cảm lôi thôi có thể  bóp méo các tỷ lệ cổ điển của nhân vật hay hậu cảnh.

Ba cung vòm cổ điển nằm trên các cột Doric Hy Lạp đóng khung hành động đang diễn ra. Không có gì đổ tràn ra ngoài các lề của bức tranh được bố cục hoàn hảo này. Nếu không, nó sẽ vướng bận đến tình cảm, sẽ loãng, và không cổ điển. David đúng là có thêm một chút tình cảm, nhưng cảm xúc đó được kềm hảm __ một sự sầu muộn cổ điển, được làm dịu đi và đè nén để nó không làm hại đến vẻ đẹp  của các bà.

Chú ý là dáng điệu mềm mại, uyển chuyển của các phụ nữ than khóc tương phản với ba thanh gươm lóe sáng và những người đàn ông sắt đá, làm cân bằng bức tranh về hình ảnh cũng như về cảm xúc.

Trong Luận về Hội Họa (1765), Diderot nói, “Ta thấy có những tư thế cao cả không lời hùng biện nào có thể diễn tả được.” Ông cổ vũ các hoạ sĩ nên cho vào tranh “những tư thế cao cả” để dạy ta những thông điệp luân lý. Trong Lời Thề của Horatti, David hoàn thành mục tiêu của Diderot. Ông mô tả sự “cao cả” bằng một ngôn ngữ hình thể Tân Cổ điển giản dị. “Lời thề”chính là dáng điệu mạnh mẽ nhất trong bức tranh. Các chàng trai Horatti không khoan nhượng đã chào cha mình theo kiểu chào của Phát xít Đức để khẳng định lòng ái quốc đứng trên mọi tình cảm cá nhân.

Kẻ tuyên truyền cho mọi bên

Trong Cách mạng Pháp, David bỏ vẽ những bức tranh tuyên truyền cho Vua Louis XVI và  gia nhập đảng Jacobin cực đoan muốn lật đỗ nhà vua. David rất thần tượng người lãnh đạo đảng Jacobin là Robespierre, kiến trúc sư của thời kỳ Cai trị Kinh hoàng. David cũng ký tên vào bản án tử hình nhà vua vào năm 1792 cùng với hầu hết người Jacobin.

2

Hình 16-1

Thời kỳ Cai trị Kinh Hoàng là thời thanh trừng kéo dài 11 tháng của cái gọi là bọn phản cách mạng trong thời Cách mạng Pháp. Trong thời kỳ này, từ 18,000 đến 40,000 người bị chặt đầu hoặc bị đám đông đánh đến chết.

Một trong những họa phẩm nổi tiếng nhất của David là bức vẽ người bạn và đồng chí Jacobin của ông là Jean-Pail Marat, bị ám sát khi đang ngâm mình trong bồn tắm bởi một người ôn hòa chính trị Charlotte Corday (xem Hình 16-1). Corday tìm cách vào được phòng tắm của Marat bằng cách đóng giả người đưa tin. Cô ta tiết lộ là mình có được danh sách những tên cách mạng nửa vời (ôn hòa như chính cô), bọn người mà Marat chở họ ra đoạn đầu đài như cơm bữa. Khi ông ta viêt nguệch ngoạc tên của chúng, cô ta rút dao ra và đâm ông. Trong bức họa của David, Marat vẫn còn giữ bức thư của Corday trong bàn tay trái; còn bàn tay phải nắm chặt cây viết. Con dao đẫm máu nằm cách ông vài phân, một vũ khí ghê gớm hơn cây viết “đẫm máu” của Marat đã đưa bao nhiêu người đến đoạn đầu đài.

Hàng chữ đậm vẽ trong tranh là “Gởi tặng Marat, David,” gợi ý bức tranh là tặng vật cho bạn ông. Ánh sáng rơi trên Marat qua khung cửa sổ làm ông ta có vẻ thần thánh, như một vị thánh tử đạo. Ông ta được mệnh danh là một trong ba vị thần của Cách Mạng Pháp. Khi Robespierre tháo xiềng cho một giai đoạn bài trừ thánh tượng của cách mạng chống lại nhà thờ Thiên chúa, các tượng bán thân của Marat thường được đặt thay thế các hình ảnh của Christ.

Sau khi Robespierre thất bại và bị hành hình, David bị tống giam một thời gian ngắn. Nhưng ông sống sót để đổi sang phe phái khác. Người từng theo đảng Cộng Hòa cực đoan trước kia nay trở thành người ủng hộ một Napoleon Bonaparte tham quyền, cho dù sau đó Bonaparte tự phong mình là hoàng đế. David hình như có mặt tại nơi đâu có quyền lực. Có lần ông tán tụng  Napoleon Bonaparte “là một người mà nếu vào ngày xưa người ta đã đưa lên bệ thờ.”

Jean Auguste Dominique Ingres: Ông Hoàng của Chân Dung Tân Cổ Điển

Ingres (1780 -1867) là học trò vĩ đại nhất của David. Ông cố theo sau bước chân thầy như là một hoạ sĩ lịch sử nhưng không thành. Ông tuyệt vời nhất ở những tranh cận cảnh, cảm xúc, gần gũi, chứ không thích hợp cho những cảnh hoành tráng có tính chất tư liệu. Ingres là một nhà vẽ chân dung nhạy cảm, xuất sắc, mặc dù những tác phẩm vĩ đại nhất của ông thường là vẽ các bà khỏa thân trong một bối cảnh xa lạ.

Khi ông đầu tiên trưng bày bức Người hầu gái  vào năm 1819, các nhà phê bình và công chúng kịch liệt phản đối. Nhưng sau cái sốc đầu tiên, dư luận bắt đầu dịu dần. Mười năm sau, nó trở thành niềm vinh quang. Nhưng lúc đó, Ingres đã rời nước Pháp để lên đường  sang La mã học tập và vẽ tranh, nơi đó ông vẽ chân dung để kiếm sống. Công cuộc làm ăn quá phát đạt đến nổi ông phải lựa chọn thân chủ mình thích vẽ. Sau đó, ông chuyển đến Florence, tại đó ông nhận một số ít hợp đồng và sống vừa đủ ăn với bà vợ. Trở lại Pháp năm 1826, Ingres mới biết rằng mình nổi tiếng.

Mặc dù bức họa là một tuyệt tác Tân cổ điển, Người hầu gái không phải là một ví dụ của một sự hoàn hảo cổ điển. Dóc váng cô ta như thuộc kiểu Mannerism: Hông quá rộng; cổ và đường  vai quá dài. Tỷ lệ của cô nằm trong những số đo mà người xem lúc đầu chỉ trích. Nhưng sự quá trớn này là cố ý; nó khiến bức tranh xa hoa hơn và uể oải hơn. Vẻ đẹp gần như cổ điển của nhân vật được pha trộn với một vẻ nhục cảm bơ phờ, mát mẻ mà nghệ thuật cổ điển chưa bao giờ có và ghi dấu tác phẩm này là Tân cổ điển.

3

Ingres trưng bày Người Hầu Gái, mời mọc mắt người xem mơn trớn qua da thịt nàng. Vậy mà đôi mắt nàng như giữ một khoảng cách với họ. Cô nàng cũng là một người nhìn trộm __không nhìn người xem mà nhìn ông chủ của mình.    

Chiếc gối mềm và khăn trải giường nhăn nhúm là một sự mời mọc đến khoái lạc, nhưng người hầu gái vẫn giữ thái độ kháng cự nhẹ nhàng. Cô nàng e lệ che hờ đùi bằng một chiếc khăn choàng, như thể nàng không muốn che đậy nhiều hơn. Nàng quay thân hình đi còn gương mặt nhìn về phía ông chủ mình. Màu xanh mát của khăn trải giường và ghế dài, tương phản gay gắt với nước da hồng mịn, càng làm tăng nét đa sầu đa cảm của nàng.

Elizabeth-Louise Vigee-Le Brun: Tươi Tắn và Tự Nhiên

Thay vì tham gia vào hay lấy cảm hứng từ Cách Mạng Pháp, Vigee Le Brun (1755-1842) lại tránh xa nó. Bà là một hoạ sĩ xuất chúng, một trong số ít các phụ nữ được nhận vào Hàn Lâm Viện Hoàng Gia Pháp và là hoạ sĩ chân dung cho hoàng hậu Marie Antoinette, mà bà vẽ đến 30 lần.

Các nghệ sĩ nữ thường được mời vẽ chỉ phụ nữ, trẻ con, và hoa. Phần lớn tranh của Vigee Le Brun có đề tài phụ nữ, mặc dù bà có  hơn 200 tranh phong cảnh. Chân dung của bà không chỉ đẹp mà chúng còn nắm bắt tính cách của người mẫu. Bức chân dung tự họa của bà cùng với con gái nhỏ của mình cho thấy mối liên hệ dịu dàng, gần gũi giữa mẹ và con (xem Hình 16-2). Bé gái, Julie, e lệ, còn Vigee Le Brun biểu lộ một nét phức tạp hơn. Bà không thích mang bầu vì nó làm bà phải ngưng vẽ. Ngay cả vào ngày cuối của thời kỳ mang thai, bà còn vội vã chạy đến khung vẽ và tiếp tục làm việc giữa hai cơn đau đẻ, khiến bà nổi cáu. Hình như bà đã nhớ chuyện này trong bức chân dung và tỏ vẻ ngạc nhiên với niềm vui bất ngờ khi được làm mẹ. Tư thế Đức Mẹ-Chúa hài đồng làm tăng thêm nét duyên dáng nhất là đứa con là bé gái.

4

Hình 16-2

Bức tranh cuối cùng mà bà vẽ hoàng hậu Marie Antoinette là vẽ bà với bốn đứa con bao quanh. Khi vua Louis XVI ngắm nó, ông bảo nghệ sĩ , “Tôi không biết gì về hội họa, nhưng cô khiến tôi thích nó.” Cách mạng Pháp bùng nổ một năm sau.

Canova và Houdon: Duyên dáng Hy Lạp và Điêu khắc Tân Cổ điển

Trong nhiều trường hợp, các bức tượng Tân cổ điển trông giống Hy Lạp nhiều hơn tranh Tân cổ điển. Nhiều tác phẩm của họ, nhất là của Canova, có bố cục, tỷ lệ, và nét duyên dáng cổ điển. Vậy mà các bức tượng Tân cổ điển trông như mới đúc, ngay cả tận hôm nay.

Antonia Canova: Điêu khắc gia xuất sắc thế kỷ 18

Antonia Canova (1757-1822) là nhà điêu khắc Tân cổ điển vĩ đại nhất và nhà điêu khắc vĩ đại nhất của thế kỷ 18. Mặc dù ông sinh ra tại Venice, ông phát triển phong cách mình tại La mã, bằng cách học tập và sao chép các bức tượng và tranh chạm nổi La mã Cổ Đại. Ông cũng chịu ảnh hưởng của Johann Joachim Winkelmann ở La mã .

Các tượng sao chép của Canova quá ấn tượng đến nổi chính quyền thành phố La mã giao ông một công việc lâu dài lương cao chuyên làm bản sao. Mặc dù lúc ấy ông chỉ mới 20 tuổi, Canova vẫn từ chối, nói nếu ông cứ mãi làm bản sao, ông không bao giờ trở thành một nghệ sĩ lớn.

Thay vào đó, ông hấp thụ và rồi mở rộng phong cách Hy Lạp Cổ đại. Chẳng hạn, Canova cho các thân hình của Cupid và Psyche những tỷ lệ cổ điển hoàn hảo. Nhưng những cử chỉ nồng nhiệt và dịu dàng của chúng không hợp thời trên Điện Parthenon hay trong điện thở La mã. Các người La mã và Hy Lạp giữ nguyên các biểu lộ tình cảm đó phía sau cánh cửa khép kín; biểu lộ quá nhiều cảm xúc là một dấu hiệu của yếu đuối hay điên rồ.

Diderot khuyên các nghệ sĩ Tân cổ điển sử dụng cử chỉ, như kịch sĩ trên sân khấu, để diễn đạt câm những sự thật luân lý. Tượng Cupid và Psyche diễn đạt một thông điệp luân lý: Tình yêu có thể chiến thắng cái chết. Cupid làm sống lại Psyche hấp hối bằng một nụ hôn.         

5

Jean-Antoine Houdon: Bằng đá sống

Jean- Antoine Houdon (1741-1828), như Canova, lấy cảm hứng từ Winkelmann và thực hiện một chuyến đi đến Ý để học tập điêu khắc cổ. Ông chuyên về chân dung điêu khắc, chưa hề có  ai vượt trội. Các bức tượng của ông quá hiện thực đến nổi chúng hình như sẽ bắt đầu đọc diễn văn hay viết ra các đạo luật mới. Ông kết hợp chủ nghĩa hiện thực do quan sát sâu sát với sự tiết chế Tân cổ điển nâng cao. Ông làm những tượng bán thân của nhiều danh nhân thời Khai Sáng như Voltaire, Rousseau, Diderot, Lafayette, Benjamin Franklin, George Washington, và Thomas Jefferson. Những tượng này không chỉ giữ lại các đặc điểm của họ mà còn những cá tính của họ cho hậu thế.

Đôi khi Houdon cho các nhân vật của mình ăn vận như các nghị sỹ hay tổng tài La mã (xem hình dưới). Ông cho Voltaire mặc áo choàng La mã khi vẽ chỉ một vài tuần trước khi Voltaire mất vào năm 1781. Houdon làm tượng Washington khoảng giữa năm 1785 và 1788 và tượng bán thân của Jefferson vào năm 1789. Cả hai đều ăn vận lịch lảm, tư thế của họ có vẻ tổng thống và khai sáng (xem hình dưới).

67

8

Chủ nghĩa hiện thực ảnh hưởng đến Houdon nhiều đến nổi ông phải nhảy lên tàu đi đến Mỹ để nghiên cứu tận nơi tính cách của Washigton và Jefferson. Tương tự, khi ông nghe Rousseau đã qua đời, ông vội vã đến nơi và làm khuôn đúc mặt người chết. Không lâu sau đó, ông điêu khắc một bức tượng bán thân của Rousseau từ khuôn đúc ấy (hình nhỏ trên).

Chương 17

Trường Phái Lãng Mạn: Đi Đến Bên Trong và Vươn Ra Ngoài

Trong Chương Này

  • Định nghĩa chủ nghĩa Lãng mạn
  • Thăm khám bên trong
  • Tìm hiểu giáo phái chăm chút
  • Khám phá điều chung giữa chủ nghĩa Lãng mạn và cách mạng
  • Lần theo nơi giao thoa giữa chủ nghĩa Lãng mạn và tính dân chủ

 Nhiều sử gia nghệ thuật sẽ nói với bạn là chủ nghĩa Lãng mạn lướt qua kẻ tay bạn khi bạn cố định nghĩa nó. Một phần vì các nghệ sĩ Lãng mạn không có phong cách duy nhất như nghệ sĩ Ấn tượng hay Biểu hiên. Phong trào không chỉ cắm rễ ở Pháp và Ý, mà lan truyền gần khắp châu Âu và sau đó đến Mỹ. Chủ nghĩa Lãng mạn không chỉ là phong trào cho nghệ thuật thị giác __ nó còn bao gồm thi ca, tiểu thuyết và âm nhạc. Còn có cả triết gia Lãng mạn nữa! Sự kiện mà chủ nghĩa Lãng mạn quá lan rộng và đa loại như thế làm nó khó gom thành một định nghĩa duy nhất.

Trong chương này, tôi định nghĩa chủ nghĩa Lãng mạn từng phần bằng cách bảo với các bạn cái gì là không Lãng mạn, và sau đó bằng cách khám phá nghệ thuật Lãng mạn quan trọng nhất ở Pháp, Anh, và Đức.

Hôn không phải là lãng mạn, nhưng có tấm lòng mới là lãng mạn

Chủ nghĩa Lãng mạn không có nghĩa là nằm dài mơ mộng nhìn mây bay, hay bâng khuâng nhìn vào mắt người yêu. Chủ nghĩa Lãng mạn có nghĩa là một chủ nghĩa cá nhân vững chải, tin tưởng vào quyền của cá nhân khác, và biểu lộ những tình cảm cao thượng, sâu sắc, và mãnh liệt __ như Beethoven (ông được mệnh danh là nhà soạn nhạc “cổ điển”, nhưng tinh thần của ông Lãng mạn đến xương tủy). Thường thường, nhưng không luôn luôn, nó có nghĩa một mối liên hệ tinh thần, sâu sắc đối với tự nhiên. “Tự nhiên không bao giờ phản bội trái tim yêu quý nó,” thi sĩ Lãng mạn Anh William Wordsworth đã viết như thế trong Tintern Abbey.

Các tác phẩm Lãng mạn lừng danh nhất không phải họa phẩm, thi ca, hay nhạc giao hưởng, mà là ba cuốn tiểu thuyết: Thằng Gù Nhà Thờ Đức BàNhững Kẻ Khốn Cùng đều của nhà văn Pháp Victor Hugo và Frankenstein của tiểu thuyết gia Anh 18 tuổi là Mary Shelley. Tất cả bộ ba này là tiếng kêu thống thiết chống lại sự nhẫn tâm đối với con người. Để đạt được điểm này, các tác giả phóng đại tính nhẫn tâm để chúng ta có thể nhìn tường tận. Họ làm điều này bằng cách hướng sự bất nhân đối với những người bị xã hội ruồng bỏ: một thằng gù, một tên cựu tội phạm, và một con quỹ do người tạo ra. Người nào càng đi xa lề xã hội, người đó càng bị xã hội lạm dụng.

Thời kỳ Lãng mạn là thời kỳ đầu tiên trong lịch sử mà nghệ thuật tập trung vào việc dạy con người biết chăm lo đến người khác. Theo nghĩa này, chủ nghĩa Lãng mạn là “nghệ thuật của tấm lòng.” Các nghệ sĩ Lãng mạn cũng quan tâm đến việc xiển dương tự do của con người, chấm dứt chế độ nô lệ, và cổ vũ các phong trào dân chủ và độc lập, như cuộc chiến Hy Lạp giành độc lập từ tay người Thổ và phong trào yêu nước ở Ý. Để xiển dương dân chủ ở Anh, thi sĩ Lãng mạn Percy Bysshe Shelley (chồng của Mary) nói với đồng bào của mình trong “Bài ca gởi đến nhân dân Anh”:

Hỡi nhân dân Anh, tại sao ta phải cày bừa cho những chúa đất đã coi rẻ mình? Tại sao ta phải dệt bằng sự chăm chút nhọc nhằn những quần áo xa hoa cho những tên độc tài của mình mặc?

 hoạ sĩ Pháp Delacroix dùng cọ vẽ để kêu gọi sự ủng hộ cho cuộc chiến đấu giành độc lập của người Hy Lạp thoát khỏi Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Bức họa Vụ Tàn Sát tại Chios loan truyền cái giá khủng khiếp mà người Hy Lạp phải trả trong cuộc đấu tranh giành tự do (năm 1822 người Thổ đã tàn sát 42,000 dân chúng của đảo Chios và bán khoảng 50,000 người dân coi như nô lệ cho Bắc Mỹ), làm cảm động nhiều người Âu hướng tình cảm về chính nghĩa của Hy Lạp. thi sĩ Lãng mạn Anh Lord Byron đặt bút viết những dòng thơ để nâng đỡ họ. Ông mất tại Hy Lạp sau cơn sốt năm 1824. Ngày nay, Byron  là một anh hùng của Hy Lạp.

NGoài việc nỗ lực cải thiện điều kiện chính trị và xã hội, nhiều nhà Lãng mạn tiếp tục quán xét nội tâm để tìm ra và biểu diễn một thực tại chân thật hơn, cao hơn cái thực tại đang đối mặt chúng ta ngày qua ngày. Những hoạ sĩ và thi sĩ này trở thành nhà tiên tri của một tinh thần Lãng mạn mới. Trong “Bảo vệ Thi ca,” Shelley viết:

Bí ẩn lớn lao của đạo lý là Tình Yêu; hay sự chối bỏ bản chất của chính chúng ta . . . Một người, muốn thật tốt . . . phải tự đặt mình vào vị trí một người khác và nhiều người khác; nỗi đau và niềm vui của những chủng loài phải trở thành nổi đau và niềm vui của chúng ta.

Nhiều nhà Lãng mạn tin rằng có một tính bản thiện nơi con người dưới các lớp vỏ bọc xã hội hóa. Ý tưởng này phát sinh trong đầu óc của Jean Jacques Rousseau. Trong tác phẩm có ảnh hưởng của mình Khế Ước Xã Hội, ông viết, “Con người mới sinh ra thì tự do, và ở mọi nơi khác thì bị xiềng xích.”

Rousseau cho rằng “nhân chi sơ tính bản thiện” (ngây thơ như bé sơ sinh) và xã hội đã làm băng hoại nó. Khế Ước Xã Hội dấy lên phong trào “trở về Vườn Địa Đàng”, và nhiều người Lãng mạn lên đường. Các tư tưởng của Rousseau khuyến khích sự sùng bái mẫu người hoang dã cao quý (Tarzan là một ví dụ của đầu thế kỷ 20), một con người tự nhiên, sinh ra nơi hoang dã và không bị xã hội làm nhiễm độc. Người hoang dã cao quý hồn nhiên, tốt bụng, lương thiện, và tự do __  đúng như Tarzan và Mowgli trong Quyển Sách Rừng Xanh.

 Về nguồn gốc, Lãng mạn cũng có nghĩa đối nghịch với cổ điển. Cổ điển là trầm tĩnh, trật tự, và ngay cả quang đãng như Venus de Milo (xem Chương 7) . Lãng mạn thì hoang dã __một bức tranh hay bài thơ nổ tung tại đường khâu với năng lượng, ý nghĩa, và thường thường với gợi ý một điều gì đó thuộc tinh thần.

Lật trong ra ngoài: Caspar David Friedrich

Hoạ sĩ Lãng mạn Đức Caspar David Friedrich (1774-1840) quen đứng trước mặt khung vải toan trống trơn và đợi cho bức tranh xuất hiện trong đầu mình. Ông ta bảo một nghệ sĩ bạn mình, “Nhắm mắt bạn để bạn có thể nhìn thấy bức tranh của mình đầu tiên bằng cặp mắt tinh thần. Rồi sau đó mang những gì bạn thấy trong bóng tối đến ánh sáng ngày để nó phản ứng với thực tại bên ngoài.”

Tranh phong cảnh của Friedrich là những cây cầu thị giác giữa nội tâm và ngoại giới. Giữa hai thế giới này có sự căng thẳng đầy kịch tính. Nhưng dù có kịch tính, không có gì xảy ra trong bức tranh __ không có hành động vật lý nào xảy ra. Trong Kẻ Lang Thang Trên Đỉnh Sương Mù (xem hình sau), một nhân vật cô độc đang định bước về phía một cảnh tượng lộng gió, tuyết giá phần nào như biểu tượng của tâm hồn y. Như thể y đang bước đi vào nội tâm mình, vào cõi tâm linh  của mình, nhưng y đang do dự. Y ràng buộc với cảnh vật lạnh buốt, nhưng sự hấp dẫn không đủ mạnh để y thực hiện một bước đi định mệnh. Kẻ lang thang hình như đối đầu với một biên giới tâm linh lạnh giá và hoang liêu như cái chết.

9

Trong Tu Sĩ Đứng Trước Biển, Friedrich mô tả chủ đề tương tự. Một nhà tu cô độc đứng trên bờ biển ngắm nhìn biển đen ban đêm. Một bức màn sương mù đen tối trùm xuống một cách đe dọa trên mặt  nước. Như nhân vật trong Kẻ Lang Thang Trên Đỉnh Sương Mù, nhà tu quay lưng về phía người xem, đắm chìm trước cảnh tượng hùng vĩ nhưng không thân thiện. Vẻ đẹp hoang sơ lôi cuốn ông và hình như báo trước cái chết, có thể là cái chết của mình.

Friedrich trải qua một  chuổi thảm kịch đau lòng trong thời trẻ. Mẹ ông mất khi ông chỉ mới 7 tuổi. Sáu năm sau, anh ông bị chết đuối vì cố cứu sống Friedrich, khi ông té xuống qua lớp băng trong khi đang trượt tuyết. Bốn năm sau một người em gái của ông chết vì viêm phổi, và một người em gái khác mất sau đó vài năm. Cái chết bao vây lấy Friedrich ngay từ thời trẻ, và nó ám ảnh ông trong nghệ thuật.

Các Nhà Lãng mạn cách mạng Pháp: Gericault và Delacroix

Những họa phẩm trang trọng và mạnh mẽ của Theodore Gericault và Eugene Delacroix, hai trong số các nghệ sĩ Lãng mạn vĩ đại nhất, có  liên hệ với cơn sốt cách mạng. Gericault là cha đẻ của trường phái Lãng mạn Pháp, trong khi Delacroix là người thực hiện vĩ đại nhất.

Thedore Gericault

Gericault (1791-1824) là hoạ sĩ Lãng mạn  đầu tiên của Pháp. Ông vẽ tác phẩm nổi tiếng nhất Con Bè Medusa (xem Hình 17-2) vào năm 1819, khi thời đại thứ hai của các thi sĩ Lãng mạn Anh (Byron, Shelley, và Keats) đang viết những  kiệt tác của họ. Như họ, ông ra đời trong khoảng 1788 và 1795, và như họ, ông chết sớm.

Con Bè Medusa là loại tranh tài liệu sau một vụ đắm tàu, với tất cả bi kịch dồn nén trong một cảnh duy nhất. Chiếc tàu Pháp Medusa chìm ngoài khơi Senegal vào ngày 17/6/1816. Thuyền trưởng và sĩ quan mang theo sáu thuyền cứu hộ cho họ và cột theo con bè làm bằng cột buồm cho thủy thủ và hành khách. Các thuyền cứu hộ kéo theo chiếc bè được một lúc, nhưng vì nó làm thuyền đi chậm nên họ cắt dây buộc bỏ mặc nó. Mặc dù bè chỉ cách bờ biển 4 dặm, mà mãi đến 13 ngày sau mới có tàu cứu hộ đến cứu. Lúc đó thì chỉ còn 15 trong số 130 người còn sống sót. Một số phải ăn thịt người để sống còn!

Viên thuyền trưởng là một nhà quý tộc của triều đình Bourbon được phục hồi (1815-1830). Đối với nhiều người dân Pháp, sự thiếu trách nhiệm của y đối với hành khách hình như là sự trở lại thái độ “sống chết mặc bây” của giới quý tộc thời tiền cách mạng. Bức họa của Gericault đã xúi giục cách mạng vì nó minh họa tính anh hùng của giai cấp thứ dân đang chịu cùng khổ đối mặt với sự đối xử bất công của giới quý tộc và cái chết.

Mặc dù sự cùng quẫn bầm nát gương mặt và thân hình của những người trên bè, Gericault đã trộn lẫn nổi thống khổ của họ với niềm hy vọng. Ánh sáng lãng mạn mạ vàng thân thể oằn oại của họ và nhuộm vàng bầu trời xa. Người da đen trên cao (Jean Charles) ra hiệu một cách tuyệt vọng con tàu hiện ra ở xa qua cơn bão. Gericault đã biến anh là người hùng. Mặc dù xuất thân từ tầng lớp hạ cấp trong xã hội, anh được đặt ở vị trí cao nhất trong bức tranh. Ông là biểu hiện của người hùng Lãng mạn lý tưởng, đã giải phóng khỏi xiềng xích của giai cấp để cứu giúp các anh em mình. Jean Charles chết chỉ ít ngày sau khi được cứu  thoát.

      10

Bức tranh dài 23 bộ (gần 8 mét) đã làm nhiều người bị sốc. Lời chỉ trích lớn nhất là của hoạ sĩ Tân cổ điển Jean Auguste Ingres (xem Chương 16). Ingres đòi hạ bức tranh xuống khỏi bức tường Louvre để nó không  “làm hư khiếu  thẫm mỹ của công chúng vốn chỉ nên tiếp xúc với cái Mỹ. . . Nghệ thuật không làm gì khác ngoài cái Mỹ và dạy ta không gì khác ngoài cái Mỹ.” Việc Ingres không ưa tuyệt tác của Gericault đã bùng phát thành việc công chúng không ưa thích hội họa Lãng mạn và châm ngòi cho cuộc chiến nghệ thuật giữa Tân cổ điển và Lãng mạn. Sau khi Gericault mất sớm ở tuổi 32, Ingres tập trung tấn công của mình vào người kế tục của Gericault, Eugene Delacroix.

Eugene Delacroix

Năm năm sau khi vẽ Con Bè Medusa, Gericault mất trong một tai nạn lưu thông. Delacroix, người thần tượng ông, trở thành người lãnh tụ mới của phong trào Lãng mạn Pháp. Delacroix thực sự đã làm mẫu cho Gericault trong bức Con Bè Medusa __ ông là người nằm chết mặt úp xuống ở phía trước và trung tâm bức tranh.

Hai trong số tuyệt tác sớm của Delacroix, Cái Chết của Sardanapalus Tự Do Dẫn Dắt Nhân Dân (xem Hình 17-3), gây bão tố trong thế giới nghệ thuật và chứng tỏ một  ánh sáng mới đã bừng lên trong nền nghệ thuật châu Âu.          

 Trong Tự Do Dẫn Dắt Nhân Dân, Tự Do được nhân cách hóa bằng một người nữ triệu tập quần chúng tranh đấu cho công lý trong cuộc cách mạng ba ngày vào năm 1830. Delacroix vẽ bức Tự Do một ít tháng sau Cuộc Cách Mạng Tháng Bảy chống lại nền quân chủ Bourbon được phục hồi. Trong khi vẽ, ông nhắn em mình trong một bức thư, “Nếu anh không chiến đấu cho xứ sở mình, ít nhất anh sẽ chiến đấu bằng cọ vẽ

11

Hình 17-3

 Mặc dù Delacroix là một người tô màu nổi tiếng, sắc thái trong bức tranh là buồn và phẳng, khiến nó trông như được phủ bụi và khói súng của chiến trường. So sánh màu sắc mờ mịt của Tự Do Dẫn Dắt Nhân Dân với màu sắc da thịt rực rỡ và màu cam và đỏ đầy đặn trong Cái Chết của Sardanapalus. Nhưng các màu nâu là hoàn hảo đối với Tư Do. Chúng là màu của quần chúng. Hầu như mọi màu sắc trong bức tranh hình như đều bị hút vào lá cờ và cặp môi đỏ của cô gái biểu thị của Tự Do tên là Marianne.

Tự Do Dẫn Dắt Nhân Dân đã trở thành một biểu tượng của Pháp và tự do của Pháp __ như Tượng Nữ Thần Tự Do là biểu tượng của Mỹ, vốn là một quà tặng của Pháp. Bức tranh quá khích động trong thế kỷ 19 đầy bão tố cách mạng đến nổi nó được treo lên rỗi gỡ xuống nhiều hơn một lần. Nó không được trưng bày thường xuyên tại Bảo Tàng Louvre cho đến năm 1874. Khi đó, khói bụi của cách mạng Pháp cuối cùng đã lắng xuống.

Cái Chết của Sardanapalus phỏng theo vở kịch Thảm Kịch Sardanapalus của Byron, mà Delacroix ngưỡng mộ. Trong tranh này, Vua Sardanapalus của nước Assyria nhận ra rằng sự thảm bại và cái chết đang đến gần trong một cuộc bao vây của người Ba Tư, bèn quyết định tàn sát tất cả tùy tùng và thê thiếp của mình để khỏi bị người Ba Tư ra tay, rồi sau đó tự sát. Trong vở kịch, Byron mô tả Sardanapalus là một ông vua ẻo lả, xa hoa, biếng nhác. Nhưng nhà vua không ra lệnh tàn sát tùy tùng và thê thiếp mình mà giải phóng họ. Cuộc tàn sát đẫm máu là hư cấu của Delacroix. Các nhà Lãng mạn không sao chép __ họ dùng nguồn tham khảo văn học và biến cố lịch sử để làm bệ phóng cho cái nhìn cá nhân.

Trong bức tranh, Sardanapalus đứng nhìn trận tàn sát như thể ông đang ngắm một bức tranh vẽ nó; một cảnh tượng nhục dục trong hậu cung biến thành một cuộc truy hoan của bạo lực. Dĩ nhiên, ông biết sẽ đến lượt mình. Mặc dù bức tranh có năng lượng quay cuồng của một bức tranh Rubens hùng vĩ (Delacroix lấy cảm hứng từ Rubens __ xem Chương 14), bản giao hưởng quay cuồng của những cảm xúc xung đột, mãnh liệt là thuộc chủ nghĩa Lãng mạn. Các thân thể trần truồng, gợi cảm của phụ nữ làm nổi bật  tính yếu đuối của họ, cũng như sự tàn nhẫn của hành động “gia ân” của nhà vua. Những kẻ bao vây ắt hẳn còn bạo tàn hơn nữa. Năng lượng sôi nổi và dữ dội của bức tranh được tăng cường bằng chiếc khăn trải giường màu đỏ buông xuống như một con suối máu chảy từ đầu giường ở góc trái trên __ nơi nhà vua chống tay lên gối quan sát cuộc tàn sát __ đến cô gái trần truồng bị giết tại chân giường ở góc phải dưới.          

12

Cái Chết của Sardanapalus

 Sự ưa thích của Delacroix đối với các chủ đề xa lạ, phương Đông (đầu tiên rút ra từ văn chương) càng mạnh mẽ hơn sau chuyến thăm của ông đến Bắc Phi và Tây Ban Nha vào năm 1832. Chuyến đi ảnh hưởng đến nét đi cọ và cách sử dụng màu của ông, càng trở nên biểu cảm hơn và nóng bỏng hơn, như trong Cuộc Chiến giữa Giaour và Pasha.  Dần dần, cảm xúc hội họa lấn áp hình dạng chính xác được phác họa (như trong trường phái Biểu hiện chịu ảnh hưởng của Delacroix __ xem Chương 21). Delacroix bắt đầu làm mờ nhòe đường biên giữa các nhân vật và vùng bao quanh chúng sao cho cảm xúc của họ như tràn ra đến ngoại cảnh và không gian. Ông đạt được hiệu ứng này với nét cọ nạp đầy năng lượng, mỗi nét là một ghi chép của cảm xúc thuần túy. Ông không còn nương tựa hoàn toàn vào bố cục và màu sắc để tạo ra một cảm giác náo động (như trong Cái Chết của Sardanapalus); bây giờ nét cọ của ông cũng phát ra năng lượng, như trong Săn Sư Tử và phiên bản 1846 của Vụ Bắt Cóc Rebecca. Trong Vụ Bắt Cóc của Rebecco ở hình dưới (dựa theo một cảnh trong cuốn tiểu thuyết Lãng mạn Ivanhoe của Sir Walter Scott), tất cả màu sắc, hành động, và cảm xúc mãnh liệt hình như bị tóm gọn trong một cơn lốc tạo ra bởi nét cọ xung động, sẽ ảnh hưởng đến các hoạ sĩ phái Ấn tượng sau này (xem Chương 19).

13

Quốc Kỳ Pháp

Sau cuộc Cách mạng 1830, cờ tam sắc thay thế cờ trắng của chế độ quân chủ Bourbon làm quốc kỳ của nước Pháp. Nó từng là quốc kỳ của Pháp từ năm 1794 cho đến  khi  vua Louis XVIII chết vào năm 1824. Nhưng người em của  Louis lên kế vị vốn không có tinh thần dân chủ, cho phục hồi chế độ quân chủ chuyên chính và thay cờ tam sắc bằng lá cờ trắng truyền thống của các vua Pháp.

Bức họa Tự  Do Dẫn Dắt Nhân Dân của Delacroix vinh danh sự trở lại của cờ tam sắc, biểu thị sự trở lại của tư do đã giành được trong cuộc cách mạng 1789. Nhưng cách mạng 1830  không mang lại nhiều sự thay đổi như nhân dân mong đợi. Sau khi khói lửa tan biến, quyền bầu cử chỉ mở rộng  đến tầng lớp trên cùng của xã hội __  chỉ có 200,000 nam công dân giàu có được đi bầu. Pháp lại trở thành một quốc gia quân chủ lập hiến. Quyền phổ thông đầu phiếu chỉ đến sau cuộc cách mạng tiếp theo, vào năm 1848. 

Francisco Goya

Goya (1746-1828), hoạ sĩ Tây Ban Nha vĩ đại nhất kể từ Velaswuer, trưởng thành trong thời trị vì của Charles III (1759-1788). Charles III là một  trong những ông vua mệnh danh là được “Khai Sáng,” đã thông qua nhiều cuộc cải cách nhằm cải thiện điều kiện cho quần chúng nhân dân. Ông cũng dẹp bỏ những thừa mứa của các Tòa án Phán xét Tây ban nha. Goya lớn lên hấp thu những lý tưởng Khai Sáng được tuồn từ Pháp và Anh vào Tây Ban Nha. Khi Charles III qua đời, người con trai chưa được “khai sáng”, Charles IV, không đếm xỉa gì đến cải cách.

Goya, khi đó đã là một người theo chủ nghĩa tự do chín mùi, tấn công chế độ mới và tòa phán xét quá ư nhạy cảm bằng một chuổi 80 tranh khắc gỗ có  tên Sự Thất Thường. Tranh bao gồm hình ảnh những người bị tòa phán xét tra tấn với những lời chú thích mỉa mai giải thích những tội nhỏ nhặt của nạn nhân: “Vì tội sinh ra là người Do thái, “Vì tội nói tiếng ngoại quốc,” “Vì tội quá nhạy cảm.”

Tranh danh tiếng nhất trong Sự Thất Thường __ Lý Trí Say Ngủ Sinh Ra Quái Thú __ cho thấy điều gì xảy ra khi lý trí Khai Sáng mất đi hay bị dập tắt. Những con cú mắt lồi, ghê tởm rình rập trên hình ảnh của Lý Trí ngái ngủ, trong khi đàn dơi bay lảng vảng trên đầu y như những điềm báo của cái ác. Dù vậy, hoàng hậu vẫn giao Goya làm hoạ sĩ triều đình ngay trong năm ông cho xuất bản Sự Thất Thường (1799).

Nằm 1792, Goya lâm bệnh nặng. Một cơn sốt để lại di chứng điếc cho ông đến suốt đời. Bệnh tật cô lập người nghệ sĩ, có  lẽ khiến ông lui về ngày càng sâu vào thế giới tưởng tượng của mình.

Khi Napoleon vồ lấy Tây Ban Nha vào năm 1808, Goya và nhiều người theo chủ nghĩa tự do khác chào mừng, tin rằng binh đoàn của ông sẽ mang theo các lý tưởng của Cáng Mạng Pháp trong nòng súng của mình. Đến một mức nào đó, họ cũng làm thế. Napoleon đặt anh trai của mình, Joseph, lên ngai vàng. Joseph ban cho người Tây Ban Nha một hiến pháp mới và dẹp bỏ chế độ khủng bố của Tòa phán xét. Nhưng không lâu sau đó một tin đồn lan truyền nói rằng người Pháp âm mưu giết hại gia đình hoàng tộc (như họ đã từng làm bên xứ họ). Tin đồn lập tức bùng nổ thành cuộc nổi dậy mà binh lính Pháp dập tắt một cách dã man bằng nòng súng.

Goya không bao giờ quên cảnh tàn sát trừng phạt các công dân Tây Ban Nha. Sáu năm sau, sau khi Tây Ban Nha được phục hồi, Goya vẽ hai tranh sơn dầu tài liệu để tưởng niệm hai trận đánh trong cuộc khởi nghĩa Tây Ban Nha: Ngày Hai Tháng Năm, 1808 Ngày Ba Tháng Năm, 1808 (xem Hình !7-4). Vào đêm 3/5, quân Pháp lùa quân kháng chiến Tây Ban Nha nhốt vào một tu viện. Mờ sáng hôm sau, chúng lôi họ ra sân và xử tử họ. Bức tranh bi thảm mô tả đội hành quyết như một cỗ máy vô tri, dã man, tàn sát có hệ thống từng nhóm người một. Những nạn nhân, tuy sợ hải, nhưng thách thức không khiếp nhược, nhìn thẳng vào mắt kẻ thù. Những ánh mắt trừng lên nhìn thẳng vào nòng súng, dạy cho bọn hành quyết ý nghĩa của tự do. Nhưng, chao ôi, một cỗ máy không biết học. Khi được hỏi tại sao mình đã vẽ một tác phẩm nhẫn tâm đến vậy, Goya trả lời:”Để cảnh báo con người không bao giờ làm như thế nữa.”

14

Hình 17-4

Năm 1815, Tòa phán xét triệu tập Goya về một bức tranh khỏa thân ông vẽ cách đó 18 năm, Maja Khỏa Thân. Hiển nhiên, họ tìm cách để tóm gáy ông. Dù Tòa tha bổng ông, nhưng Goya cảm thấy chua chát và mất niềm tin vào khả năng thay đổi của nhà cầm quyền. Cách mạng và Khai sáng hình như không mấy tác dụng. Ông lui về vùng quê ở ngoại ô Madrid vào năm 1819. Một năm sau, ông trang trí các tường nhà bằng các ác mộng của mình, mà ông đặt tên là “Họa phẩm Đen.” Cú và dơi trong Lý Trí Say Ngủ Sinh Ra Quái Vật đã bò ra khỏi hậu cảnh của sự tưởng tượng của ông và bước vào tiền cảnh. Ông không còn mô tả Lý trí như đang say ngủ trong tranh __nó đã bay đi khắp thế giới.

J.M.W. Turner Phóng Hỏa Bầu Trời

Các thảm kịch gieo cảm hứng cho Turner (1775-1851). Khi ông hay tin Nghị viện Luân đôn đang bị hỏa hoạn, ông vội vã chạy đến nơi với màu nước để mong tóm bắt sự hổn loạn lên giấy vẽ. Ông cũng thích vẽ biển gầm thét, mây vần vũ, và hoàng hôn rực lửa.

Không khí và ánh sáng là chuyên môn của Turner, nhất là khi bị bão tố và gió gầm thét hoành hành. Các hoạ sĩ hàn lâm viện Anh chỉ trích ông vì bi kịch hóa cảnh tượng tự nhiên hơn là mô tả chúng một cách điềm tĩnh bằng cách nắm bắt hiện thực vững chắc của hình thể. Chỉ có nhà phê bình Anh John Ruskin thực sự đánh giá cao thiên tài của Turner. Ông ta nói tranh ông hoặc là gợi lên “thi vị của sự yên lặng và tĩnh tại hoặc “cơn quay cuồng và phẩn nộ.” Hiếm khi có mức độ trung bình.

15

Bức Con Tàu Nô Lệ (hình trên) Turner vẽ năm 1840, sáu năm sau khi Nghị viện bãi bỏ chế độ nô lệ trên khắp thuộc địa Anh, đã tiết lộ khía cạnh “cơn quay cuồng và phẩn nộ” của ông. Mặt trời lặn có vẻ phóng hỏa bầu trời (rõ là cháy  đẹp hơn Nghị viện Luân đôn). Vẻ đẹp chói lòa của bầu trời bao trùm người xem. Mây nâu đỏ và đen bên trái hình như là khói bốc ra từ đám lửa từ trời. Biển màu vàng đồng. Vẻ đẹp của bức tranh thu hút người xem bước vào. Rồi thì một thực tại ghê tởm bổng hiện ra rõ nét: từ mặt biển sôi sục những cánh tay bất lực vẫy gọi người xem. Viên thuyền trưởng ra lệnh thủy thủ ném nô lệ bị bệnh xuống biển đang dậy sóng! Giờ thì bầu trời đỏ như máu, thay vì đẹp, trông như một phản ứng của tự nhiên đối với sự nhẫn tâm của con người. (Bức tranh dựa vào một tiết mục mà Turner đã đọc trên báo về một nhà buôn nô lệ ném những nô lệ bị bệnh xuống biển để nhận được tiền bảo hiểm. Những nô lệ chết vì bệnh không được bảo hiểm.)

CHú ý là ánh sáng trắng gần trung tâm bức tranh mơ hồ trông như một thiên thần bước từ chân trời xuống biển. Điều ám chỉ mà vẻ đẹp siêu việt này mang lại đã mời gọi người xem ngắm lại bức tranh hết lần này đến lần khác, buộc họ phải thăm lại cái biến cố khủng khiếp.

Nhà phê bình John Ruskin đã mua bức họa này và treo nó trong nhà nhiều năm liền cho đến khi phải gỡ xuống vì không chịu được sự khủng khiếp.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s