L’affaire Dreyfus: scandal làm lung lay nền Cộng Hoà Pháp

Untitled

Minh Hoàng Phúc

Vào cuối thế kỷ 19, nền Cộng hoà Pháp non trẻ, sinh ra từ cuộc thất bại thảm hại trong Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, đã chịu nhiều cuộc khủng hoảng nghiêm trọng khi phe Cộng hoà và Vô chính phủ đánh nhau để giành quyền lực và ảnh hưởng. Nền cộng hoà vừa may mắn thoát được cuộc đảo chính của Tướng Georges Boulanger năm 1882 thì lại phải trải qua một scandal tham nhũng lớn nhất thế kỷ 19, Scandal Panama năm 1892. Nhưng nền Đệ tam Cộng hoà sau đó đã phải tiếp tục đối mặt với một vụ scandal lớn hơn nữa, một scandal đã làm chấn động toàn bộ xã hội nước Pháp trong hơn một thập kỷ: l’affaire Dreyfus, vụ án Dreyfus!

Tháng 9 năm 1894, cơ quan tình báo quốc phòng của Pháp, lúc đó mang tên Service de renseignement hay SR, được một cô giúp việc họ thuê để làm gián điệp trong Đại sứ quán Đức ở Paris đưa cho một lá thư mà cô trộm được từ tay Đức. Lá thư, sau này được gọi là “Le Bordereau,” bị rách thành sáu mảnh, không có chữ ký người viết hay đề ngày tháng, được gửi cho tuỳ viên quân sự của Đại sứ Đức, Max von Schwartzkoppen. Trong thư nói rằng những tài liệu tuyệt mật về loại pháo cỡ đạn 120 mm đời mới sẽ được gửi đến cho ông. Ai đó đang trao đổi thông tin bí mật đe doạ đến an ninh quốc gia Pháp.
Vụ việc này được đệ trình lên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Pháp, Tướng Auguste Mercier, người bị báo chí khắp đất nước liên tục tấn công, tố cáo ông là người bất tài. Qua vụ việc này, ông hy vọng lấy lại được hình ảnh của mình trong mắt công chúng và rồi mở cuộc điều tra bí mật. Tuy nhiên, vì gần như không có bất kỳ chứng cứ nào, cuộc điều tra buộc phải dựa vào những suy diễn cực kỳ thô thiển và vô lý, rồi họ nhanh chóng tìm ra được một nghi phạm, một cựu sinh viên bách khoa hiện là sĩ quan pháo binh tên Alfred Dreyfus.
Đại uý Dreyfus bị nghi ngờ do ông không chỉ là người Do Thái mà còn quê ở Alsace; sau cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, quân đội Pháp ghét bất cứ thứ gì liên quan đến Đức. Hơn nữa, Dreyfus được thăng quan tiến chức nhờ sự giúp đỡ của phe Cộng hoà trong chính phủ, một điều đáng khinh bỉ đối với quân đội lúc bấy giờ vẫn trung thành với vua. Ngoài ra, xét về tính cách, Dreyfus còn là một người khó gần và tọc mạch, mặc dù những điều này có thể là do bên điều tra tự bịa ra để thêm phần thuyết phục mọi người tin vào một vụ án không còn bằng chứng gì hơn. Sự lệch lạc và vô lý này, dẫn dắt bởi sự cố chấp và mong muốn sớm đưa ra câu trả lời, sẽ là một xu hướng trải dài xuyên suốt scandal này.
Bằng chứng duy nhất mà quân đội có là bức thư “Le Bordereau” và vì vậy họ kết luận rằng nó phải trùng khớp với chữ viết của ông. Lúc này, Đại uý Armand du Paty de Clam xuất hiện, tự nhận mình là chuyên gia về chữ viết tay và ngay lập tức kết luận rằng chữ viết trên lá thư hoàn toàn khớp với Dreyfus, và rồi du Paty được bổ nhiệm làm sĩ quan cảnh sát tư pháp để lãnh đạo cuộc điều tra. Sau đó, một chuyên gia thật sự tên Alfred Gobert đến và tuyên bố ngược lại, ông chỉ ra nhiều điểm khác biệt rõ rệt giữa hai bản chữ viết. Mercier, thay vì xem lại kết luận của mình, quyết định tìm các chuyên gia khác để làm chứng cho đến khi ông tìm ra một người đồng ý với ông, tất nhiên là dưới sự đe doạ của quân đội.
Ngày 13 tháng 10, mặc dù không có bất kỳ bằng chứng rõ ràng nào, Tướng Mercier ra lệnh triệu tập Đại uý Dreyfus với hy vọng ép được ông tự thú. Du Paty chịu trách nhiệm thẩm vấn, và dù làm cách nào đi nữa, ông cũng không buộc được Dreyfus nhận tội. Du Paty còn gợi ý cho Dreyfus tự sát bằng cách để một khẩu súng trên bàn trước mặt ông, nhưng Dreyfus từ chối và nói rằng ông muốn sống để chứng minh cho sự vô tội của mình. Mặc dù vậy, du Paty tuyên bố ông bị buộc tội thông đồng với kẻ thù và nói rằng ông sẽ bị đưa lên toà án quân sự. Bất chấp pháp luật, Dreyfus bị tạm giam một thời gian dài, và du Paty phỏng vấn ông ngày này qua ngày khác, đêm này qua đêm khác để có lời tự thú, nhưng Dreyfus vẫn quả quyết rằng mình vô tội. Vợ ông chỉ được thông báo về việc chồng mình bị bắt vào lúc cảnh sát đến căn hộ của họ lục tìm bằng chứng. Du Paty lệnh cho bà giữ im lặng việc này, bịa chuyện rằng nếu để lộ ra ngoài sẽ dẫn đến chiến tranh giữa các nước châu Âu.
Mặc dù thế, tin tức về vụ án này nhanh chóng được truyền ra ngoài vào ngày 29 tháng 10 khi tờ La Libre Parole, một tờ báo chuyên bài trừ Do Thái, do lãnh đạo “Ligue antisémitique de France” (Liên đoàn Chống Do Thái ở Pháp) là Édouard Drumont thành lập, xuất bản một tờ báo với tựa đề trên bìa: “La Trahison du Juif Dreyfus!” (Sự phản quốc của tên Do Thái Dreyfus!). Tất nhiên là người viết rất kịch liệt chống Do Thái, và rồi sau đó nhiều tờ báo bài Do Thái khác cũng theo sau, các tờ báo như l’Autorité, le Temps và le Petit Journalđều đồng loạt mở chiến dịch lên án Alfred Dreyfus.
Phiên toà xét xử bắt đầu vào ngày 19 tháng 12 năm 1894, cả báo chí lẫn người dân đều không được tham dự để quân đội giữ kín chuyện họ có rất ít bằng chứng buộc tội Dreyfus. Lúc đầu, phiên toà diễn ra theo hướng có lợi cho Dreyfus vì bên quân đội không thuyết phục được thẩm phán về việc trùng chữ viết trong lá thư và cũng không đưa ra được động cơ vì cấp trên của Dreyfus làm chứng rằng ông rất yêu nước. Tuy nhiên, mọi chuyện dần thay đổi khi Alphonse Bertillon, cha đẻ của khoa học pháp y được đưa ra toà làm chứng, mặc dù không phải là một chuyên gia về chữ viết, ông lại đưa ra một giả thiết rằng Dreyfus có thể giả chữ viết bằng một loại dụng cụ nào đó. Mặc dù cũng không có bằng chứng và bản thân chuyên ngành của Bertillon không phải về chữ viết, lời nói của ông lại được các thẩm phán xem xét rất kỹ, đơn giản vì ông là một học giả nổi tiếng ở Pháp lúc bấy giờ. Cuối cùng, ngày 22 tháng 12, sau nhiều giờ nghị án, cả 7 thẩm phán nhất chí buộc Dreyfus tội danh phản quốc, cấu kết với chính phủ nước khác và tiết lộ bí mật quốc gia, ông bị kết án chung thân và bị đuổi khỏi quân đội. Ông không bị tử hình do tội danh này đã được bãi bỏ đối với tù nhân chính trị từ năm 1848.
Đối với phía báo chí, cả cánh hữu lẫn cánh tả, những nghi ngờ của họ đối với việc này nhanh chóng xua tan, mọi người đều đã tin rằng Dreyfus thật sự có tội. Cả hai phe cánh chính trị đều lên án các thẩm phán là quá nương tay cho tên phản quốc, và đòi tử hình Alfred Dreyfus. Phong trào chống Do Thái ở cả nước Pháp đã lên đến đỉnh điểm.
Ngày 5 tháng 1 năm 1895, buổi lễ tước quân hàm của Đại tá Alfred Dreyfus, ông bị áp giải đến Trường quân sự Paris và bị tước bỏ huy hiệu cũng như nhiều thứ khác, trong khi ông hét lớn với những binh lính có mặt ở đó tham dự buổi lễ “Soldats, on dégrade un innocent! Soldats, on déshonore un innocent! Vive la France! Vive l’armée” (Hỡi binh lính, chúng đang tước quân hàm một người vô tội! Hỡi binh lính, chúng đang sỉ nhục một người vô tội! Nước Pháp muốn năm! Quân đội muôn năm!) Cuối cùng, thanh gươm của ông bị người thi hành án bẻ gãy làm đôi và Dreyfus được đưa đến nhà tù.
Dưới sự chỉ thị của Tướng Mercier, trại giam ở Đảo Quỷ, một trong các quần đảo của Pháp ở Nam Mỹ, được tái mở cửa và Dreyfus được áp giải đến đấy, vì ông cho rằng các trại giam ở chính quốc Pháp quá nhẹ nhàng với tội danh của Dreyfus. Cùng với người canh gác của mình, Dreyfus là cư dân duy nhất trên đảo, trong một buồng giam vuông bằng đá mỗi chiều 4 mét. Do lo sợ tù nhân vượt ngục… trên đảo, viên cai ngục ở đây đối sử rất tệ với Dreyfus. Ông nhanh chóng ngả bệnh và bị dày vò bởi cơn sốt trầm trọng hơn mỗi năm. Nằm trên giường bệnh, ông đau đớn dưới cái nóng, muỗi chích và suy nghĩ kinh khủng rằng mình sẽ mắc kẹt lại trên hòn đảo kinh khủng này đến cuối đời.
Và có lẽ vụ án đã khép lại từ đây, nếu không nhờ có sự quyết tâm anh trai ông, Mathieu Dreyfus, người không bao giờ nghi ngờ sự vô tội của ông. Quyết tâm giải cứu em trai mình, ông đã trở thành lãnh đạo của một nhóm nhỏ những người ủng hộ Dreyfus. Do phần lớn Pháp lúc này đang phản đối Dreyfus, đây là một thử thách rất gian truân, nhưng từng chút từng chút một, ông dần thuyết phục được những người trung lập và những người ít cực đoan hơn. Bất ngờ thay, một trong những người đó lại là lãnh đạo mới của cơ quan tình báo quốc phòng hay SR, Georges Picquart. Picquart đã theo dõi vụ án Dreyfus, nhưng vị trí của ông cho phép ông tiếp cận với các chứng cứ, nói đúng hơn là cũng chả có chứng cứ gì buộc tội Dreyfus để tiếp cận.
Như vậy, ông quyết định tự mình mở cuộc điều tra riêng, không cần sự đồng thuận từ cấp trên. Nhanh chóng, ông tìm được một nghi phạm mới, thiếu tá Walsin Esterhazy, người mà SR gần đây đã bắt gặp ông trao đổi thư từ với von Schwartzkoppen. Từ đó, tội danh của Esterhazy dần trở nên rõ ràng hơn, Picquart so sánh chữ viết của ông với lá thư “Le Bordereau,” và rất bất ngờ khi hai chữ viết hoàn toàn giống nhau. Khác với Dreyfus, quân hàm của Esterhazy cho phép ông có thể tiếp cận với những thông tin bí mật được nhắc đến trong lá thư, và trên hết ông có động cơ thực hiện việc này vì lúc bấy giờ ông đang trong tình trạng nợ nần chồng chất, ông cũng từng là cựu thành viên của SR. Sau nhiều cuộc điều tra khác, Picquart đã chắc chắn rằng Dreyfus vô tội và kẻ phản quốc thực sự là Esterhazy.
Nhưng khi ông đưa bằng chứng này lên cho cấp trên, họ mặc kệ và nói rằng vụ án này đã được giải quyết rồi. Phía quân đội cũng phản đối kịch liệt do không muốn nhận mình sai và sợ rằng công chúng sẽ bắt đầu biết chuyện nên cử Thiếu tá Hubert-Joseph Henry dẫn đầu cuộc điều tra để tìm thêm bằng chứng. Tuy nhiên, Henry không thể tìm thêm được gì, và sợ rằng Dreyfus sẽ bị phán vô tội, ông quyết định tự mình làm giả một lá thư để buộc tội Dreyfus, ngày nay lá thư ấy được gọi là “Faux Henry.” Việc làm giả này khá thô thiển, nhưng quân đội cũng không quan tâm họ quyết định bảo vệ Esterhazy và kết tội Picquart, ông này sau đó bị trục xuất đến Tunisia và bị điều tra.
Nhưng đã quá trễ để quân đội che đậy vụ việc này vì cũng trong tháng đó, gia đình Dreyfus công bố “Le Bordereau” và những điều tra về Esterhazy của Picquart trên tờ Le Figaro, lần đầu tiên đưa vụ việc này ra trước công chúng. Mathieu Dreyfus, người chiến đấu một mình trong suốt nhiều năm nay, giờ đây được hỗ trợ bởi những tên tuổi trí thức, hoạ sĩ và nhà báo nổi tiếng, ở cả cánh hữu lẫn cánh trả, như nhà hoạt động vô chính phủ Bernard Lezare, hoạ sĩ Claude Monet, tác giả Émily Zola và Marcel Proust, lãnh đạo phe xã hội Jean Jaurés và nhiều người khác. Tất cả họ đều đồng lòng nhất trí đòi một thứ: mở một phiên tái thẩm.
Vụ điều tra Dreyfus giờ đây đã trở thành l’Affaire Dreyfus.
Ngày 10 tháng 1 năm 1898, phiên toà xét xử Esterhazy được mở, và nếu gọi đây là một sự xúc phạm thì vẫn không đủ. Phiên toà do quân đội tổ chức và lại một lần nữa người dân không được tham dự. Mặc dù tình nhân của Esterhazy công bố các lá thư trong đó cho thấy Esterhazy ghét cay đắng nước Pháp và quân đội, nhiều người dân vẫn còn ủng hộ ông và trên đường đi đến phiên toà, ông được trào đón như một vị vua trong khi bất cứ nhân chứng nào chống lại ông đều bị người dân chặn đánh. Có thể nói phiên toà thực sự xét xử Picquart chứ không phải Esterhazy. Ngày hôm sau, chỉ sau 3 phút thảo luận, phiên toà tuyên bố Esterhazy vô tội. Khi bước ra khỏi toà án, hơn 1500 người dân đứng ở ngoài chờ đợi chào đón, chúc mừng ông.
Tun tức về phán quyết của toà dẫn đến một nhiều cuộc bạo loạn, biểu tình chống Do Thái lan khắp nước Pháp, các hình nộm Mathieu Dreyfus được treo lên cây và đốt. Nhưng chiến thắng này của phe chống Dreyfus cuối cùng lại phản tác dụng khi nhiều người phe Cộng hoà trung lập thấy rằng phiên toà này là một sự xâm phạm nghiêm trọng đến những giá trị cốt lõi của học. Không chỉ vậy, giờ đây phe ủng hộ Dreyfus còn chống đối kịch liệt hơn nữa. Một nhà báo tên Émile Zola đã đưa một lá thư của mình lên báo với tựa đề nổi tiếng: “J’Accuse!” Lá thư 4500 từ này được viết để gửi đến chính Tổng thống Cộng hoà Pháp Félix Faure, là một bản tóm tắt vụ án trong đó lên án tất cả những ai chống lại Dreyfus. Ảnh hưởng của nó như một quả bom với 30,000 bản in được bán trong một ngày, gấp 10 lần một tờ báo thông thường. Thành công của nó, cả trên cấp độ quốc gia lẫn quốc tế, khiến cuộc tái thẩm là không thể tránh khỏi, nhưng nó cũng dẫn đến việc quân đội bắt nhốt Zola, một điều ông hoàn toàn muốn để khiến vụ việc đáng chú ý hơn nữa. Zola bị toà án xử 1 năm tù và bị nộp phạt 3000 đồng franc, nhưng nó chả là gì so với nhưng sự sỉ vả, quấy rối và bạo lực từ phe phản đối Dreyfus làm lên ông do dám viết lên lá thư tố cáo. Thực tế thì phiên toà xét xử Zola có tội do lo sợ nếu tha bổng cho ông thì làn sóng biểu tình chống Do Thái sẽ tiếp tục một lần nữa lan rộng khắp nước Pháp. May mắn là Zola đã đào tẩu trốn sang Anh, nhưng Picquart không được may mắn như vậy, và ông bị tống vào trại giam.
Việc toà án tha bổng cho Esterhazy, quân đội bắt giữ Zola và Picquart, và việc tiếp tục giam giữ Dreyfus khiến danh tiếng và uy tín của Pháp giảm sút mạnh trên trường quốc tế. Cả châu Âu giờ coi Pháp là một quốc gia độc đoán, vi phạm nghiêm trọng đến khẩu hiệu “Liberté, égalité, fraternité” (Tự do, bình đẳng, bác ái) của chính nó. Hơn nữa, phong trào chống Do Thái ở Pháp đang lên đến đỉnh điểm, năm 1898 số lượng biểu tình, bạo loạn cực hữu phản đối Do Thái tăng đột biến.
Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mới của Pháp, Godefroy Cavaignac, quyết tâm chấm dứt vụ việc này bằng cách tìm ra bằng chứng chứng minh Dreyfus có tội. Buổi chiều ngày 13 tháng 8 năm 1898, Louis Cuignet, cấp dưới của ông được giao nhiệm vụ chỉ đạo cuộc, đang làm việc dưới ánh đèn vàng thì phát hiện màu sắc phản chiếu ánh đèm của phần đầu và phần cuối bức thư “Faux Henry” hoàn toàn khác nhau. Ai đó đã dán hai bức thư khác nhau thành 1 để vu tội cho Dreyfus. Cuignet trình báo khám phá này của mình lên cho Cavaignac, mặc dù ông này hoàn toàn tin Dreyfus có tội nhưng vẫn khá sửng sốt và đòi làm rõ chuyện này. Sau một giờ bị chính Cavaignac thẩm vấn, Thiếu tá Henry đã thừa nhậm mình làm giả lá thư. Bằng chứng chắc chắn nhất mà quân đội có được chống lại Dreyfus giờ đây đã không còn nữa. Henry bị tống giam và ngày hôm sau ông tự sát. Tuy vậy, ông vẫn trở thành người hùng đối với những người kịch liệt chống Dreyfus.
Đối với phe ủng hộ Dreyfus, điều này có nghĩa là họ có thể đệ trình vụ án lên Toà án Tối cao của Pháp. Mặc cho hàng loạt những quấy rối từ phe chống Dreyfus, những người làm mọi cách để ngăn phiên toà tái thẩm diễn ra, đi xa đến mức tổ chức một cuộc đảo chính trong đám tang Tổng thống Pháp Félix Faure, nhưng làn sóng ủng hộ Dreyfus vẫn càng ngày càng lớn mạnh. Ngày 3 tháng 6 năm 1899, Toà án Tối cao huỷ bỏ phán quyết năm 1894 và yêu cầu tái thẩm tại toà án quan sự ở Rennes. Hai ngày sau đó, Dreyfus được thông báo quyết định của Toà án Tối cao. Ông hoàn toàn không biết bất cứ sự kiện gì bên ngoài trong thời gian bị nhốt ở trại giam và hoàn toàn bất ngờ khi cả nước Pháp chia rẽ vì vụ án của ông, với nhiều người ủng hộ đồng thời cũng có nhiều người phản đối ông như vậy.
Ngày 9 tháng 6, ông cuối cùng cũng rời Đảo Quỷ và lên đường trở về Pháp để một lần nữa ngồi lên ghế bị cáo của phiên toà, ông sẽ được bào chữa bởi hai luật sư là Edgar Demange và Fernand Labori. Họ vô cùng tự tin do chỉ mới 2 ngày trước, Esterhazy cuối cùng cũng thú nhận rằng ông là người viết là thư “Le Bordereau” trước khi trốn sang Anh. Phiên toà mở ra trong không khí cực kỳ căng thẳng bởi cả thành phố đang chịu áp lực dữ dội giữa hai phe ủng hộ và chống Dreyfus, những người tham dự phiên tái thẩm đều hiểu rằng sẽ có một cuộc bạo động lớn dù kết quả có ra sao đi nữa. Khi Dreyfus xuất hiện trước công chúng, vẻ ngoài của ông đã khiến cả hai bên bị sốc. Maurice Barrès, một nhà văn chống Do Thái kịch liệt cũng phải mô tả ông: “Một dòng suối nhỏ đau đớn. Như một trái bóng… bị giành giựt giữa hai đội… Và như thể sáu năm nay… không một phút nào… y được yên nghỉ.” Dreyfus đã quá mệt mỏi và đau đớn với tất cả những chuyện này. Suốt quá trình phiên toà xét xử, bạo lực và xung đột giữa hai bên nổ ra khắp thành phố, càng lúc tình hình càng tệ hơn, cho tới khi luật sư biện hộ của Dreyfus là Labori bị một kẻ cực đoan bắn, may mắn là vết thương không quá nặng.
Trong phiên toà, phía bên quân đội không có bất kỳ bằng chứng nào chống lại Dreyfus và chỉ có thể lập luận dựa trên tính cách của Dreyfus. Đối với họ, bằng chứng lá thư “Le Bordereau” không còn khả dụng nữa khi Esterhazy đã thú tội. Tuy vậy, toà án vẫn quyết Dreyfus có tội, ông bị cáo buộc tội phản quốc nhưng được giảm nhẹ hình phạt xuống còn 10 năm tù giam và một bị loại khỏi quân đội một lần nữa. Ngày hôm sau, Dreyfus quyết định kháng cáo.
Không muốn phải trải qua một cuộc xét xử lần thứ ba, với nguy cơ bạo loạn hơn nữa, Thủ tướng Pháp Pierre Waldeck-Rousseau đề nghị xá tội cho ông nếu Dreyfus chấp thuận phán quyết của toà. Quá mệt mỏi và với mong muốn được đoàn tụ với gia đình sau 6 năm, Dreyfus chấp nhận trong sự thất vọng của những người ủng hộ ông. Ngày 21 tháng 9 năm 1899, sau hơn nửa thập kỷ chiến đấu, Dreyfus cuối cùng cũng được thả tự do. Waldeck-Rousseau, hy vọng xếp lại toàn bộ vụ án này vào quá khứ, ký một sắc lệnh vào ngày 17 tháng 11 với nội dung ân xá cho tất cả các bên tham gia vụ án Dreyfus. Mặc dù điều đấy giải thoát cho Zola và Picquart, nhưng cũng giúp Esterhazy, du Paty và nhiều người vu oan cho Dreyfus khác thoát tội.
Phe ủng hộ Dreyfus kịch liệt phản đối, nhưng người dân Pháp nói chung cũng thở phào nhẹ nhõm khi bạo loạn xã hội đã kết thúc và cuộc sống bình yên đã quay trở lại. Cuối cùng, tháng 4 năm 1903, Tổng thống đảng xã hội của Pháp, Jean Jaurès, lật lại vụ án một lần nữa, khi mà tất cả mọi người đều nghĩ nó đã chôn vùi vào quá khứ. Trong một bài diễn văn ông nhắc lại những bằng chứng giả tạo và những lời cáo buộc vô lý xoay quanh vụ án Dreyfus, và trực tiếp lên án quân đội đã bắt giữ những người vô tội.
Toà án Tối cao một lần nữa được lệnh tổng thống để xem xét lại vụ án, và lần này ngày 12 tháng 7 năm 1906, sau hơn một thập kỷ từ ngày toà án phán quyết ông có tội, các thẩm phán đã đưa ra phán quyết cuối cùng: Alfred Dreyfus VÔ TỘI.
Ngày hôm sau, Dreyfus được chào đón trở lại quân đội và được thăng chức lên thiếu tá. Picquart cũng quay trở lại quân đội với quân hàm đại tá và sau này ông trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Trong khi Zola đã qua đời vì bệnh vào một năm trước. Một năm sau đó, Dreyfus về hưu sớm do sự mệt mỏi của ông trong thời gian bị giam ở Đảo Quỷ. Tuy nhiên, cả ông và con trai, Pierre Dreyfus vẫn viết đơn xin nhập ngũ để chiến đấu cho tổ quốc trong Thế chiến 1, hai cháu trai ông cũng xin tham gia cuộc chiến và đều tử trận.

Sự hy sinh của họ cùng với hàng ngàn người Do Thái khác đều góp phần dập tắt làn sóng chống đối Do Thái tại Pháp, khi giờ đây không ai có thể tuyên bố họ đã phản bội tổ quốc Pháp.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s