Chính phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim từ 17/4 đến 25/8 năm 1945 – Phần 1

chinh phu tran trong kim

Người dịch Nguyễn Tuấn Anh

Phần 1 (P1 từ 17/4 đến 30/7/1945) bài này trích dịch Chương 2 cuốn Việt Nam 1945 của David Marr. Tuy chỉ cầm quyền trong thời gia hơn 4 tháng và có nhiều hạn chế, nhưng chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã làm được một số việc đáng ghi nhận. Nhan đề do người dịch đặt.

 

Nhật Bản và Bảo Đại

Bảo Đại đang du học ở Pháp khi cha ông, vua Khải Định, qua đời năm 1925. Về nước để lên ngôi năm 13 tuổi, Bảo Đại sau đó được gửi trở lại mẫu quốc dưới sự giám sát của một vị cựu Khâm sứ trong sáu năm nữa. Năm 1932, được phép trở lại Huế và được Toàn quyền hứa bằng miệng rằng ông sẽ cai trị như một vị vua thực thụ, Bảo Đại sớm phát hiện ra rằng cả Khâm sứ và các bộ trưởng Việt Nam đều không muốn nhượng bộ cho ông bất kỳ quyền hành nào. Bực bội vì các nghi lễ triều đình vô vị, nhưng lại được các thành viên lớn tuổi trong hoàng tộc cảnh báo rằng bất kỳ sự hiếu chiến nào của ông sẽ khiến người Pháp hạ bệ ông như hai vị hoàng đế trước đó, Bảo Đại sớm chuyển sự thông minh của mình sang đánh bạc và tổ chức các cuộc thám hiểm các vùng núi lân cận, tìm kiếm các trò chơi hoang dã. Khâm sứ E. Grandjean và Bộ trưởng Nội vụ Phạm Quỳnh độc quyền về các công việc hành chính của An Nam. Việc Yokoyama đột ngột thay thế Grandjean vào ngày 10 tháng 3 ít nhất đã cho Bảo Đại một cơ hội để kiểm tra xem, người Nhật có giống như người Pháp ngăn cản ông đưa ra chỉ thị bằng văn bản của riêng mình hay không.

Tuyên bố độc lập. Mặc dù Tổng lãnh sự Yokoyama đã thúc giục Bảo Đại tuyên bố độc lập cho vương quốc của mình, và Bảo Đại hăng hái tuân theo, tình hình hiến pháp vẫn ảm đạm. Quan trọng nhất, Tokyo chỉ tuyên bố rằng họ không có thiết kế lãnh thổ nào đối với vương quốc của Bảo Đại và tán thành mong muốn độc lập của ông. Khi Đài phát thanh Tokyo nói, ”Nhiệm vụ của Nhật là thực hiện như một người mẹ đỡ đầu trong việc thành lập một quốc gia độc lập”, điều không rõ là “đứa trẻ’’ phải mất bao lâu để lớn lên. Ngoài ra, vì người Nhật tiếp tục coi Bảo Đại là người cai trị “An Nam”, nói chung thường tránh sử dụng thuật ngữ ‘’Việt Nam ’’. Vẫn chưa rõ liệu họ có thừa nhận quyền hành trên danh nghĩa của ông ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ hay không. Vấn đề trở nên phức tạp hơn, khi mặc dù ngày 11 tháng 3 tuyên bố độc lập đơn phương bãi bỏ hiệp ước 1884 công nhận sự bảo hộ của Pháp đối với An Nam và Bắc Kỳ, nó không đề cập đến các hiệp ước nhượng Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà nẵng. Cuối cùng, không có dấu hiệu nào trong các tuyên bố của triều đình Nhật và Việt Nam về việc các thể chế trên toàn Đông Dương do người Pháp thành lập sẽ vẫn nằm trong sự kiểm soát của Nhật vô thời hạn hay bị chia tách và chuyển về các khu vực liên quan. Vì các tổ chức này chịu trách nhiệm về quốc phòng, an ninh, thuế, thương mại, giáo dục và thông tin nên câu hỏi rất quan trọng. Tóm lại, nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ ‘’Việt Nam” của Bảo Đại vẫn còn phải chứng minh. Nhiều người Việt Nam có suy nghĩ tự hỏi liệu, để đổi lấy những minh chứng cụ thể về lòng trung thành với chính nghĩa Nhật, họ đang bị áp dụng chính xác cùng một chiến thuật mà người Pháp sử dụng vào năm 1914-18 và một lần nữa vào năm 1940-44. Như để xác nhận điều này, Tướng Tsuchihashi tuyên bố vào ngày 11 tháng 4 ra lệnh cho mọi người gác lại những tình cảm cá nhân và lòng trung thành đối với nhóm của mình, ”hòa thành một khối thống nhất để theo đuổi nhiệm vụ của họ, theo trật tự tổ chức và phân cấp hiện tại.” Những ai không làm vậy sẽ “bị trừng phạt nghiêm khắc theo kỷ luật quân đội”.

Tuy nhiên, nhiều người Việt Nam sắc sảo về chính trị vẫn coi thời kỳ bị Nhật kiểm soát là cơ hội vô song để tiến tới độc lập. Để đạt được mục tiêu này, nhiều nhà hoạt động, nhà giáo dục, nhà văn và chuyên gia đã tiếp cận các chỉ huy, nhà ngoại giao và nhà báo Nhật để xác định điều gì là khả thi về mặt pháp lý. Đặc biệt, các hướng dẫn kiểm duyệt mới đã tạo điều kiện cho các nhà văn vạch trần những tệ nạn của thực dân Pháp và tung hô những nhân vật chống thực dân như Phan Đình Phùng, Đề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và Nguyễn Thái Học. Nhiều sự chú ý cũng tập trung vào việc lựa chọn một nội các hoàng gia để thay thế người đứng đầu là Phạm Quỳnh, người đã từ chức vào ngày 19 tháng 3. Như chúng ta đã thấy, hầu hết mọi người đều cho rằng người Nhật sẽ chọn Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Tuy nhiên, Tướng Tsuchihashi dường như chưa bao giờ tán thành ý kiến đó, có lẽ lưu tâm đến tính cách không dễ khuất phục của Diệm, hoặc biết rằng Diệm sẽ thúc đẩy việc thay thế Bảo Đại bởi Hoàng tử Cường Để. Không ai trong số các trí thức thuộc Đảng Đại Việt hoặc Đảng Ái Quốc từng cộng tác chặt chẽ với Nhật trong những năm trước đó nhận được cái gật đầu, có thể vì họ thiếu tầm vóc quần chúng và khó có được sự tôn trọng của các quan chức triều đình hoặc quản lý cấp tỉnh. Thư ký riêng của Bảo Đại, Phạm Khắc Hòe, đã cố gắng thuyết phục Huỳnh Thúc Kháng đứng đầu chính phủ, nhưng Kháng thậm chí từ chối gặp nhà vua trừ khi ông thể hiện ý định tốt của mình bằng cách “tha thuế năm nay” (1945). Trong mọi trường hợp, Huỳnh Thúc Kháng nghi ngờ rằng người Nhật sẽ không cho phép nội các mới của Việt Nam bất kỳ sự tự do hành động nào. Ngay cả một số người sẵn sàng hợp tác với người Nhật cũng cho rằng có thể là không khôn ngoan khi tập hợp quá nhiều nhân vật nổi tiếng như Kháng vào nội các. Mặt khác, một số tham gia như một phần của nỗ lực rộng lớn hơn nhằm thuyết phục người Nhật sa thải những nhân viên Pháp còn lại, đồng thời truy quét những phần tử thân Nhật hung bạo đang tìm kiếm địa vị. Không ai nghi ngờ rằng Nhật sẽ buộc phải đầu hàng trong thời gian chỉ năm tháng.

Vào cuối tháng 3, sự chú ý tập trung vào Trần Trọng Kim, một thanh tra giáo dục đã nghỉ hưu và là một nhà văn đáng kính, người đã bị buộc phải tìm kiếm sự bảo vệ của Nhật khỏi Mật thám vào năm 1943. Một trung úy quân đội Nhật được cử đi đón Kim ở Bangkok, và vào ngày 7 tháng 4. Ông Kim đã diện kiến với Bảo Đại. Đầu tiên ông Kim thúc giục nhà vua điện cho Diệm một lần nữa, nhưng nhiều ngày trôi qua mà không có hồi âm, ông đồng ý nhận trách nhiệm thành lập nội các. Ngày 17 tháng 4, ông đề nghị Bảo Đại danh sách mười một người được đề cử, trong đó có bốn luật sư, bốn thầy thuốc, hai giáo viên và một kỹ sư. Bảo Đại đồng ý. Yokoyama, người cũng có mặt, yêu cầu được xem danh sách và khen ngợi Kim về sự lựa chọn của ông. Rõ ràng là theo thỏa thuận chung, không có Bộ quốc phòng trong danh mục [các Bộ] được thành lập.

Trần Trọng Kim dường như được chọn đứng đầu nội các hoàng gia phần lớn là do quan điểm bảo thủ được biết đến rộng rãi của ông. Sách giáo khoa đạo đức của ông đã được sử dụng rộng rãi trong các trường học thuộc địa, [cuốn] Việt Nam Sử Lược của ông đã cho một thế hệ mới tiếp cận các biên niên sử truyền thống, và [cuốn] Nho giáo của ông đã tạo nên một cuộc luận chiến trí thức quan trọng vào những năm 1930. Giống như hầu hết những người khác trong nội các mới, ông chỉ có kinh nghiệm hành chính hạn chế. Không có quan lại nào được đưa vào nội các, có lẽ vì trong mắt công chúng, họ đã nhúng chàm tham nhũng và cộng tác lâu dài với người Pháp. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hơn, vì không người Việt Nam nào được phép thực hiện quyền hoạch định chính sách từ những năm 1880, điểm yếu của nội các là chung chung, không cụ thể.

Chính sách Nội các Trần Trọng Kim

Do giao thông khó khăn nên đến ngày 4 tháng 5, toàn bộ nội các mới được triệu tập. Tuyên bố chính sách đầu tiên của mình, được Trần Trọng Kim đọc cho một nhóm nhỏ các chức sắc bốn ngày sau đó, nhấn mạnh rằng Việt Nam ‘không thể nghĩ tới sự chiến tranh với ai,’ mặc dù cần phải ‘thành thực hợp tác với nước Đại Nhật Bản trong sự kiến thiết nền Đại Đông Á.’ Chính phủ hứa sẽ tôn vinh những anh hùng yêu nước trong quá khứ, trả tự do cho các tù nhân chính trị, cứu trợ nạn nhân đói kém, chuẩn hóa hệ thống thuế và khuyến khích thanh niên “bảo vệ nền độc lập đương xây.” Nhanh nhất là Phan Anh, Bộ trưởng Thanh niên, người dường như đã dành ít thời gian làm việc trong văn phòng của mình, thay vào đó đi từ thị trấn này sang thị trấn khác, hô hào khích lệ bất cứ ai nghe lời thành lập các nhóm bán quân sự, thực hành tuần hành, nâng cao nhận thức lòng yêu nước của mọi người và đóng vai trò là gương mẫu cho công dân nói chung. Mặc dù thời gian khá ngắn nhưng giọng trầm ấm, phong thái mạnh mẽ và cách dùng nắm đấm để nhấn mạnh của Phan Anh chắc hẳn đã gây được ấn tượng đáng kể với khán giả thành thị. Cộng sự thân cận của Bộ trưởng Thanh niên, Tạ Quang Bửu, đã đi vận động các tổ chức hiện có, đặc biệt là mạng lưới của Ducoroy và Hội Nam Hướng đạo, thúc giục họ đóng vai trò nòng cốt kỷ luật lớn hơn cho phong trào thanh niên. Trở lại Huế, các kế hoạch đã được tiến hành cho một trường Tiền tuyến Thanh niên, được thiết kế để đào tạo các sĩ quan dự bị cho quân đội Việt Nam trong tương lai. Các ứng cử viên phải là nam, cao ít nhất 1,63 mét, chưa kết hôn và có bằng tú tài hạng nhất, điều này cố gắng thể hiện một sắc thái tinh hoa đặc biệt. Sau khi gia nhập, sinh viên đặc biệt thích thú vì được huấn luyện với súng thật, ngay cả khi họ phải trả chúng lại kho vũ khí vào cuối mỗi buổi học.

Ngoại trừ Phan Anh, các thành viên nội các dường như đã dành nhiều thời gian để thảo luận về các vấn đề hiến pháp và các vấn đề mang tính biểu tượng chính trị quốc gia. Về hiến pháp yêu cầu có các cuộc thảo luận kéo dài với Yokoyama và các quan chức Nhật Bản khác, nhưng vấn đề sau có thể được tự quyết đơn phương. Do đó, tên nước đã được khẳng định lại là “Việt Nam”; tất cả các tài liệu nội bộ của chính phủ phải được đóng dấu Việt Nam Đế Quốc. Quốc kỳ là ký hiệu (quẻ ly) màu đỏ từ cuốn sách cổ đại Kinh Dịch, biểu thị phía nam, lửa và nền văn minh, trên một nền màu vàng vương giả. Quốc ca là bài ‘Đăng Đàn’ trang nghiêm. Khi giới thiệu bản thân một cách nghi lễ với Quốc vương, nội các quyết định mặc áo dài khăn đóng truyền thống của Việt Nam, nhưng cũng giữ lại bộ quần áo và giày Tây. Phạm Khắc Hòe cam đoan với họ rằng không cần phải quỳ lạy; tất cả những gì họ cần làm chỉ đơn giản là chắp tay và cúi chào một cách tôn trọng.

 

Thay đổi các địa danh tiếng Pháp. Vào ngày 23 tháng 5, để tượng trưng cho sự kết thúc của sự phụ thuộc thuộc địa, và chiếu theo thông lệ của Nho giáo về việc ”chính danh”, Bộ Nội vụ ra lệnh cho các tỉnh trưởng loại bỏ tất cả các tên địa danh tiếng Pháp. Mặc dù chắc chắn là một sáng kiến nhân dân, vì nó có nghĩa là loại bỏ khỏi các biển báo đường phố và công viên tên của những người Pháp đã chủ mưu cuộc xâm lược và bình định Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX – ví dụ, Francis Garnier, Henri Riviere – việc lựa chọn các tên thay thế phù hợp của Việt Nam là một vấn đề phức tạp và có khả năng gây chia rẽ. Các ủy ban địa phương được thành lập, bản đồ được lập và tiểu sử được biên soạn về những cá nhân đó, tên của các cá nhân địa phương có thể không được biết đến bởi các quan chức cấp cao hơn, những người đã cẩn thận giữ quyền từ chối các đề xuất. Hầu hết các tỉnh đều có xu hướng đề xuất tên các nhà lãnh đạo quân sự trong lịch sử như hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt…, cũng như những người chống chế độ thực dân Pháp nổi tiếng như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Để thể hiện mối quan hệ của mình với ‘đế chế’ trung ương ở Huế, một số tỉnh cũng đặt tên đường theo các vị vua triều Nguyễn, bắt đầu từ Gia Long. Tuy nhiên, vấn đề khó xử nảy sinh khi các địa phương đề xuất loại bỏ không chỉ những địa danh Pháp mà còn cả một số địa danh Việt, đặc biệt là tên của những cá nhân từng cộng tác với thực dân. Nổi bật trong số này là Vua Đồng Khánh và vua Khải Định, cha của Bảo Đại. Ngày 22 tháng 6, các nhà quản lý tại Hà Nội đã gửi thư đến tất cả các tỉnh phía Bắc phàn nàn rằng việc thay đổi tên không được suy nghĩ kỹ lưỡng, và đặc biệt đề nghị họ giữ lại tất cả các tên địa danh không phải là tiếng Pháp. Thật đáng kinh ngạc, ngay cả trong tháng 8 đầy biến động, Văn phòng Khâm Sai miền Bắc và các quan chức địa phương vẫn tiếp tục gửi đi gửi lại các tài liệu địa danh.

 

Sử dụng tiếng Việt. Có ý nghĩa lâu dài hơn là cam kết chắc chắn của nội các Trần Trọng Kim trong việc sử dụng tiếng Việt thay cho tiếng Pháp trong giao tiếp chính thức. Nhìn vào hồ sơ của chính phủ nhiều năm sau các sự kiện, sự thay đổi đột ngột trong ngôn ngữ vẫn khiến người ta sửng sốt. Ví dụ, nhật ký thư từ gửi đến Văn phòng thứ hai của Phủ Khâm sai phía Bắc, đã chuyển từ tiếng Pháp sang tiếng Việt vào thứ Ba, ngày 22 tháng 5. Hồ sơ lưu trữ cho thấy những nhân viên phủ Khâm Sai không gặp khó khăn gì khi soạn những bức thư gửi đi bằng tiếng Việt. Tất cả, trừ một số ít các quan chức cấp tỉnh và cấp huyện đã thực hiện quá trình chuyển đổi với sự tinh tế như nhau. Các nhân viên Hà Nội vui mừng ra lệnh cho công nhân sơn lên các bảng hiệu tiếng Pháp bên trong mỗi tòa nhà và thay thế chúng bằng tiếng Việt Nam. Trong khi đó, tại Sài Gòn, các luật sư Việt Nam đã yêu cầu và được Nhật Bản cho phép tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự bằng tiếng bản xứ.

Các luật sư Pháp đã giảm bớt việc yêu cầu một cách thô bạo các bản dịch tóm tắt, điều này khiến các đồng nghiệp Việt Nam của họ thích thú. Người ta tự hỏi làm thế nào mọi người thích ứng. Có lẽ sự chuyển dịch tương đối suôn sẻ phản ánh sự tham gia tích cực của nhiều nhà chức trách vào xuất bản không chính thức của Việt Nam trong hai thập kỷ trước. Khi tiếng Việt lan rộng trong hệ thống hành chính, bộ trưởng bộ giáo dục quốc gia Hoàng Xuân Hãn đã kêu gọi mọi người nắm vững một quy ước viết chữ, bỏ hoàn toàn các dấu thay bằng các chữ cái ở cuối từ. Đây không phải là một ý tưởng mới, nó đã được sử dụng trong một số năm trên các máy điện báo thời thuộc địa, nhưng Hãn hiện đề xuất rằng nó được mở rộng sang máy đánh chữ văn phòng (chỉ có các dấu tiếng Pháp), và thậm chí có thể chỉnh sửa các ấn phẩm in và chữ viết tay. Đến tháng 7 và tháng 8, một số thư từ đã được đánh máy theo cách này, một đổi mới được Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giữ lại. Tiếng Pháp không thể bị loại bỏ hoàn toàn. Quan trọng nhất, các quan chức Nhật đã trao đổi với các cơ quan chính phủ bằng tiếng Pháp và mong muốn các báo cáo và thông điệp quan trọng bằng tiếng Việt sẽ được dịch sang tiếng Pháp vì lợi ích của họ. Do đó, vào ngày 2 tháng 6, Phủ Khâm Sai phía Bắc đã chỉ thị cho các thành viên của Ty Kinh tế Địa phương bổ sung các bản dịch tiếng Pháp vào các tài liệu tiếng Việt để tạo điều kiện thuận lợi cho kiểm tra viên tài chính Nhật kiểm tra. Tuy nhiên, không có văn phòng nào bận tâm đến việc dịch phần lớn các tài liệu của họ, một số tài liệu khá nhạy cảm, và không có gì lạ khi các bản dịch tiếng Pháp cố tình khác với bản gốc tiếng Việt. Có lẽ, người Nhật biết rằng họ [người Việt Nam] tuân thủ chưa đầy đủ, nhưng đã lờ đi không quan tâm đến vấn đề này. Trong khi đó, vì lý do chính xác về mặt khoa học, các quan chức y tế chính phủ và các bác sĩ tiếp tục sử dụng tiếng Pháp làm phương tiện trao đổi chính yếu, mặc dù đôi khi những bức thư chính thức đã được dịch sang tiếng Việt trước khi gửi. Thư từ chính phủ gửi các công ty do Trung Hoa và Pháp sở hữu vẫn được viết bằng tiếng Pháp.

Mặc dù bị Việt Minh dán nhãn một cách vô căn cứ là bù nhìn của Nhật, Các quan chức Việt Nam sau đảo chính, trên thực tế, rất đa dạng. Một số tiếp tục chỉ biết đến sự nô lệ. Các quan chức của hai làng ở tỉnh Bắc Giang, ở xa về phía bắc, đã nhanh chóng học cách hùng biện mới, cảm ơn Quân đội Nhật đã đánh đổ Pháp và “giải phóng Việt Nam độc lập.” Tuy nhiên, điều họ thực sự muốn là việc hủy bỏ quyết định năm 1940 của Pháp, khoanh vùng đặt [làng] họ vào ranh giới thuộc thị trấn Phủ Lạng Thương. Cung Đình Vận, Tuần phủ Thái Nguyên một tỉnh lân cận, với mong muốn ủng hộ “tiếp tục chiến đấu để tái lập nền độc lập của đất nước”, đã xin phép chỉ huy quân đội Đế quốc địa phương lập bàn thờ Phật để cầu nguyện cho linh hồn của những người lính Nhật thiệt mạng ở Đông Dương, gửi bánh, trái cây và hoa cho những người bị thương nhập viện ở Hà Nội, và cắm cờ Nhật ở đầu đoàn rước được lên kế hoạch của thanh niên Việt Nam. Một số quan chức đã sử dụng các liên hệ cá nhân với các chỉ huy địa phương của Nhật để cố gắng tác động đến các quyết định của cấp trên có lợi cho họ. Tuy nhiên, trong ít nhất hai trường hợp, chiến thuật này đã phản tác dụng, khi Khâm Sai kiên quyết với quyết định thuyên chuyển các quan lại được sự hậu thuẫn của các ‘cố vấn Nhật’.

Một trường hợp khác đồng thời chứng minh chính phủ hoàng gia không muốn làm mất lòng người Nhật và mong muốn khẳng định quyền tài phán hành chính. Trong thời gian tiếp quản, khi tuần phủ đương nhiệm của tỉnh Bắc Ninh bỏ nhiệm sở, Quân đội Nhật đã bố trí một trong những cộng sự Việt Nam của họ, Nguyễn Văn Sỹ, người này vẫn giữ chức phó sau khi viên Tuần phủ mắc lỗi trở về. Vào ngày 14 tháng 7, Khâm Sai yêu cầu Trần Trọng Kim xác nhận việc bổ nhiệm Sỹ, nói thêm rằng việc này sẽ giúp xóa tan sự khó chịu có thể có của Nhật vì ba người được ủng hộ khác bị điều đi tỉnh Bắc Giang và Móng Cái, điều đó chứng tỏ rằng chính phủ [việt Nam] không có chính sách sa thải tất cả người được Quân đội Đế quốc chỉ định. Ông kết luận: “Việc bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Sỹ chỉ là một người tạm thời trong thời kỳ độc lập mới bắt đầu”. Tuy nhiên, vào cuối tháng, việc từ chức của Sỹ đã được Thủ tướng chấp nhận, với một lá thư chính thức cảm ơn vì sự phục vụ của ông ta.

Những sự cố đặc biệt đôi khi làm xấu đi mối quan hệ giữa các cơ quan chức năng Việt Nam và Nhật. Như trường hợp, các đơn vị Quân đội Nhật đi qua Ninh Bình đã quyết định tự đóng quân trong các văn phòng chính phủ, phá hỏng các kho lưu trữ của tỉnh khi đóng quân và quấy rầy các nhân viên tại bàn làm việc của họ. Tại Hòa Bình, sĩ quan Nhật lệnh cho một quan tri phủ huy động hàng trăm người dân trong làng chặt và đóng cọc tre để làm chuồng ngựa dài một trăm mét – rồi thu dọn đồ đạc và chuyển đi nơi khác mà không trả bất cứ khoản nào. Đội quân xuất phát bị thiếu ít nhất bảy con ngựa, được cho là bị hổ giết và ăn thịt, nhưng có thể bị tiêu thụ bởi dân làng đói ăn. Các binh lính ở Lạng Sơn khi rút đi mang theo các tài sản thuộc về Sở Hải quan, cụ thể, bao gồm cả két sắt cất giữ tiền buôn lậu, thuốc phiện và súng. Tại bệnh viện thần kinh ở Bắc Giang, viên chỉ huy địa phương của Nhật quyết định tịch thu toàn bộ chất độc ‘như một biện pháp phòng ngừa,’ khiến Sở Y tế Bắc Kỳ phản đối. Tại Hà Nội, một lính canh Nhật Bản tại Sở Khí tượng Đông Dương đã tát và đe dọa chặt đầu một nhân viên Việt Nam của Văn phòng Nông nghiệp, người đến lấy dữ liệu thời tiết. Rõ ràng là người lính đã canh gác ở đó đề phòng thông tin thời tiết được bí mật truyền đến các đơn vị không quân Đồng minh, trong khi nhân viên đang tìm kiếm thông tin liên quan đến việc chọn ngày gieo cấy và trồng cây. Tình tiết này đã kích thích một cuộc phản đối chính thức từ Văn phòng Nông nghiệp tới Khâm Sai, cho rằng danh dự của chính phủ đang bị đe dọa.

Các vấn đề khó khắc phục

Mặc dù nội các Trần Trọng Kim đã thảo luận về nạn đói vẫn hoành hành ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam, nhưng không thể đạt được nhiều thành tựu  trước vụ thu hoạch tháng Sáu, vụ thu hoạch đã ngay lập tức giảm bớt cơn khủng hoảng, khiến giá gạo chợ đen giảm 65% trong vài tuần. Tuy nhiên, chính phủ có lý do để lo sợ về một nạn đói khác vào tháng 9 hoặc tháng 10, vì vụ thu hoạch tháng 6 được cho là giảm 150.000 tấn so với năm 1944, và việc vận chuyển lượng dư thừa từ Sài Gòn vẫn không đủ. Người Nhật đã làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi đã in số lượng lớn tiền đồng (piastre). Từ tháng 3 đến đầu tháng 8 năm 1945, khoảng 770 triệu đồng đã được các lực lượng vũ trang đế quốc sử dụng, nhiều hơn mức mà Toàn quyền Decoux đã phát hành trong 53 tháng trước đó. Bất lực trong việc ngăn chặn sự thái quá của Nhật Bản, chính phủ hoàng gia đã đưa ra các quy định mới để khuyến khích vận chuyển ngũ cốc, trừng phạt việc tích trữ và đảm bảo khẩu phần ăn tối thiểu cho những người nghèo nhất. Các kế hoạch được lập để sửa chữa hệ thống đê sông Hồng, bị hư hỏng trong trận bão năm 1944. 220. Để giảm bớt áp lực cho những công dân nghèo khó, một sắc lệnh của triều đình ngày 23 tháng 5 cho phép hoãn trả các khoản vay tư nhân cho đến khi có thông báo mới. Giảm thuế thân đã được áp dụng đối với các hộ gia đình có thu nhập thấp nhất.

Tuy nhiên, mối quan tâm trực tiếp nhất đối với nông dân là việc bán gạo bắt buộc và thu thóc để nộp thuế đất. Ngay từ ngày 23 tháng 4, quan chức tỉnh Vĩnh Yên đã đưa vụ việc một người thu thóc ở địa phương bị bắn chết để cảnh báo Nishimura về việc phản đối sự áp đặt của chính quyền trong tương lai. Tại các làng, vị quan này nói thêm, những sự kiện bạo lực như vậy đã tạo ra “sự hài lòng nhất định cho hầu hết các tiểu chủ, bị đói nghèo và không ngừng bị khấu trừ thóc trước đó, khiến họ rất dễ mắc phải những âm mưu cực đoan.” Mặc dù chính phủ đã được Nhật đồng ý chấm dứt các quy định của thực dân về việc bán bắt buộc, các quan chức Việt Nam ở Hà Nội vẫn ra lệnh cho nông dân sở hữu đất trồng lúa từ 3 mẫu (1,08 ha) trở lên bán cho nhà nước với giá thấp hơn một nửa giá chợ đen. Theo một tính toán nội bộ của chính phủ, người Nhật dự định thu 35.000 tấn thóc thu hoạch tháng 6 ở Bắc Kỳ bằng cách này hay cách khác, và thực tế thu được khoảng 11.500 tấn.

Trong khi đó, việc chính phủ từ chối hoãn hoặc giảm thuế đất đã dẫn đến rắc rối nghiêm trọng ở nông thôn. Vào đầu tháng 7, các quan lại tỉnh đã báo cáo sự thiếu hụt đáng kể trong việc thu thuế, trong một số trường hợp là do cuộc kháng chiến được Việt Minh tổ chức. Thân Trọng Hậu, quan đầu tỉnh Bắc Ninh, ngay phía bắc Hà Nội, tiết lộ rằng chỉ có một trong số mười quan huyện đạt chỉ tiêu thu thuế của ông, và ông ta xứng đáng được thăng chức ngay lập tức. Theo ý kiến của Hậu, 4 người khác cần phải bãi chức vì không báo cáo bất kỳ khoản thu nào. Tuần phủ Hưng Yên lên án quan huyện Ân Thi, Lê Văn Hiến là ”vô cùng mềm lòng” vì không thu thuế gì, và đề nghị thay thế ông ngay lập tức. Chưa đầy hai tuần sau, Hà Nội ra lệnh thuyên chuyển Hiến. Khi tỉnh trưởng Hà Nam báo cáo đã thu được 1.088.759,11 tiền thuế đất, hơn một nửa so với dự kiến, ông lo lắng đổ lỗi cho việc thiếu hụt do điều kiện khí hậu kém và các vấn đề giao thông hơn là thừa nhận do “tuyên truyền chống nộp thuế” tại địa phương, điều mà ông nhấn mạnh đã không dẫn đến bạo lực. Tuy nhiên, khi các quan chức ở Hà Nội cố gắng ước tính doanh thu tổng thể, họ buộc phải thừa nhận rằng toàn bộ ngân sách của miền Bắc Việt Nam có thể bị đe dọa nghiêm trọng bởi “một phong trào chống thuế lan rộng và gia tăng nhanh chóng.”

Là một phần trong mối quan tâm chung để thiết lập một giọng điệu chân thành, tận tụy và liêm khiết trong chính quyền, Trần Trọng Kim nhấn mạnh rằng phải thu thập thông tin về các quan lại tham nhũng, và có các biện pháp để loại bỏ và trừng phạt họ. Vào ngày 22 tháng 5, các quan chức Việt Nam tại Hà Nội đã báo cáo việc cách chức 5 tuần phủ với lý do không đủ tư cách, bất tài và bắt giữ 6 tri huyện về tội tham nhũng, lên công sứ Nishimura. Không chịu thua kém, Bộ Nội vụ ở Huế đã cảnh báo tất cả các cấp chính phủ về kế hoạch sa thải những quan chức tham nhũng hoặc tàn ác. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Trịnh Đình Thảo bãi bỏ các quy định loại trừ các thành viên trong hoàng tộc khỏi bị bắt và truy tố trước tòa. Như một lời cảnh cáo có chủ đích, Thảo sau đó đã tạm giữ một thời gian ngắn một hoàng tử đặc biệt nổi tiếng nhờ mánh khóe bảo kê cờ bạc của mình. Những hành động ban đầu này đã dẫn tới một loạt các cáo buộc từ bên dưới chỉ trích các cá nhân quan chức. Ví dụ, tỉnh trưởng Hưng Yên đã chuyển những lời phàn nàn của công chúng liên quan đến 4 tri huyện và một phiên dịch cao cấp, nói thêm rằng ông đã cố gắng để họ thay đổi cách làm của mình từ lâu nhưng không thành công. Những lá thư tương tự đến từ các tỉnh trưởng Hải Dương và Hòa Bình. Sau khi một chánh tổng ở Sơn Tây bị tố cáo vì tội thụt két, tỉnh trưởng đề nghị cách chức và tước bỏ mọi danh hiệu. Các tổ chức thanh niên địa phương đã dám trực tiếp kiến nghị với chính quyền ở Huế và Hà Nội. Tại Hưng Yên, một nhóm thanh niên tố cáo một quan chức nghiện thuốc phiện và đòi hối lộ. Khi bị Hà Nội thẩm vấn, cấp trên trực tiếp của viên chức thừa nhận rằng có lẽ anh ta đã hút thuốc phiện, nhưng cho rằng ‘bằng chứng đòi hối lộ không mạnh.’  Một nhà hoạt động trẻ người Ninh Bình đã lên án cảnh sát trưởng thị trấn vì tội mua bán chợ đen và lấp đầy văn phòng của ông ta bằng những người họ hàng. Người đứng đầu tổ chức thanh niên của Hải Dương, Vũ Ngọc Cừ, đã chuyển tiếp một bản cáo trạng dài bốn trang về thẩm phán thẩm tra của tỉnh, Trần Đức Tạo, vì bị cáo buộc cưỡng hiếp, quấy rối tình dục và ngược đãi nhiều phụ nữ trong khu vực.

Đến cuối tháng 6, cán bộ của Phòng Viên chức Hà Nội nhận ra rằng chiến dịch làm sạch của chính phủ đặt ra một tình thế khó xử nghiêm trọng. Tràn ngập các báo cáo từ mọi tỉnh thành, họ đã phải tạo hồ sơ cho từng trường hợp, hy vọng xác định được lời buộc tội nào là chính xác, đâu là sản phẩm của các mối tư thù địa phương hoặc tin đồn giả mạo. Bên cạnh những vấn đề rõ ràng về thời gian và nguồn lực, mỗi cuộc điều tra ở cấp địa phương lại tạo ra nhiều tin đồn, nghi ngờ và gay gắt hơn. Mặc dù một số quan chức bổ sung đã bị bãi nhiệm vào tháng Bảy và đầu tháng Tám, hầu hết các hồ sơ dường như bị xếp lên giá, có lẽ để xem xét khi có thời gian. Nếu làm theo cách khác sẽ gây nguy hiểm cho toàn bộ hệ thống hành chính từ bên trong, khi mà nó đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có từ bên ngoài. Khó khăn của chính phủ tăng thêm do số lượng cao bất thường các quan lại xin từ nhiệm, nghỉ hưu sớm hoặc nghỉ phép dài hạn. Mặc dù những lý do được đưa ra luôn mang tính cá nhân – ví dụ như bệnh tật, ốm đau, là con trai duy nhất hoặc chịu tang cha mẹ vừa qua đời – chúng ta có thể cho rằng nhiều quan lại cảm thấy vô cùng lo âu trong hoàn cảnh chính trị mới, không thể đoán trước được. Trong mọi trường hợp, hầu hết các đề nghị này đều bị từ chối hoặc trì hoãn. Các kỳ nghỉ hè thông thường đã bị hủy bỏ, hoặc giới hạn trong một số trường hợp chỉ trong ba ngày. Một số quan chức đã rời bỏ chức vụ của họ mà không được phép, dẫn đến những cảnh báo giận dữ từ cấp trên Nhật và Việt Nam của họ.

Rắc rối hành chính

Một trong những quyết định quan trọng hơn được thực hiện sau khi Nhật tiếp quản là việc thành lập bộ máy hành chính ở Bắc Kỳ phần lớn do các bộ ở Huế tự quyết định. Trước hết, điều này có lẽ phản ánh mong muốn của Tướng Tsuchihashi là tiến hành công việc điều hành với ít phức tạp quan liêu nhất có thể: ông giao cho Tsukamoto Takeshi chịu trách nhiệm về các thể chế trên toàn Đông Dương, chủ yếu đặt trụ sở tại Hà Nội, và như chúng ta đã thấy, đã chỉ định Nishimura Kumao làm Khâm sứ Bắc Kỳ. Vào ngày 27 tháng 4, chắc chắn sau khi tham vấn với Nhật Bản, chính phủ hoàng gia tuyên bố rằng một Khâm Sai sẽ đảm nhận các chức năng của Khâm sứ, trừ trách nhiệm đối với các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, nhưng sẽ tiếp tục ‘hỏi ý kiến của cố vấn Nhật Bản ở miền bắc Việt Nam.” Ngày 2 tháng 5, Phan Kế Toại, lúc đó là Tuần phủ Thái Bình, được bổ nhiệm làm Khâm Sai. Tuy nhiên, Nishimura tiếp tục tự ký tên mình là ‘Khâm sứ’ và cũng là “cố vấn tối cao.” Tình huống khó hiểu vô vọng có thể đã được giải thoát bởi Nishimura ngày càng sẵn lòng để cho Phủ  Khâm Sai đảm nhận những trách nhiệm không ảnh hưởng đến an ninh Nhật Bản, chỉ đơn giản giữ lại quyền giám sát. Cái gọi là “cơ quan địa phương” ở Bắc Kỳ, trực thuộc “cơ quan chung” của toàn quyền và chịu trách nhiệm về tài chính, phong tục, công trình công cộng và giáo dục, cùng với những thứ khác, ngày càng nằm dưới quyền của Khâm sai.

Tuy nhiên, những quyền lực của Khâm sai như vậy, xuất phát từ những quy định lâu đời của thực dân Pháp, khiến cho Khâm sai Bắc Kỳ gần như hoàn toàn tự trị đối với chính quyền hoàng gia ở Huế, những lời tuyên bố ủng hộ của người Nhật với nhà cầm quyền Huế ở miền Bắc không thể ngang bằng như miền trung. Vào giữa tháng 6, Trần Văn Chương, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, đã làm sự không hợp thời này thu hút sự chú ý của người Nhật, khiến Yokoyama phải làm rõ bằng văn bản. Từ đó trở đi, Khâm Sai, mặc dù nắm giữ các quyền hạn trước đây được giao cho Khâm sứ, sẽ ‘‘chịu trách nhiệm trực tiếp trước chính quyền hoàng gia ở Huế thay vì toàn quyền Đông Dương.’ Các công vụ địa phương cũng sẽ trực thuộc Huế hơn là toàn quyền. Bức thư của Yokoyama tạo điều kiện cho người đứng đầu cơ quan tài chính của Khâm Sai phản bác chi tiết, về cơ bản lập luận rằng miễn là các công vụ khác nhau của Toàn quyền tồn tại song song với chính phủ hoàng gia và các bộ của nó, thì ‘các nguyên tắc’ nêu trong thư của Yokoyama có thể không được áp dụng. Mặc nhiên chấp nhận lý do này, Huế đã cố gắng thuyết phục Tướng Tsuchihashi chuyển thẩm quyền quản lý các cơ quan công vụ tổng hợp về nội các hoàng gia, và đã thu được một số thành công trên giấy tờ, nhưng không phải trên thực tế, trước khi nội các hoàng gia từ chức vào đầu tháng 8. Người Nhật luôn có thể trả lời rằng cần có thời gian để phân chia các thể chế trên toàn Đông Dương giữa ba vương quốc. Trong khi đó ở Hà Nội, Phan Kế Toại và các thuộc hạ của ông ta tự hành động theo quyền hạn của mình, dựa trên thực tế để phản ứng trước hậu quả to lớn của sự kiện đầu hàng của Nhật và Việt Minh tiến hành cướp chính quyền.

Đòi lại đất Nam Kỳ. Liên quan đến vấn đề đòi lại quyền tài phán của đế quốc Việt Nam đối với Nam Kỳ, Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, thì rõ ràng hơn: hoặc người Nhật chấp nhận rằng những nơi này là một phần của Việt Nam hoặc không chấp nhận. Ngày 11 tháng 6, đi qua Huế, Tướng Tsuchihashi bàn việc với Hoàng đế Bảo Đại. Trong một tuyên bố đặc biệt thẳng thừng của triều đình, được ban hành cùng ngày, Bảo Đại tiết lộ rằng ông đã có ý định tuyên bố độc lập của toàn bộ Việt Nam vào tháng 3, nhưng ‘do hoàn cảnh, tôi [Trẫm] thấy cần phải tuân theo các chỉ thị hướng dẫn.’ Ông cảm ơn các quan chức Nhật Bản đã “tạm thời giám sát” một số vùng lãnh thổ, tuyên bố họ sẵn sàng “trả lại quyền quản lý toàn bộ đất đai của Việt Nam cho Chính phủ Việt Nam,”và chỉ thị các bộ trưởng chuẩn bị cần thiết. Lời tuyên bố này, vừa thể hiện một lời xin lỗi của nhà vua đối với thần dân của mình theo phong cách Nho giáo truyền thống vừa là một lời thúc giục có chủ ý đối với người Nhật, đã cung cấp trọng tâm chính trị cho một buổi lễ công phu ở Huế để kỷ niệm một trăm bốn mươi ba ngày nhà Nguyễn lên ngôi quyền lực. Ngày 13 tháng 7, Trần Trọng Kim đến Hà Nội để thảo luận về việc thu hồi với Tsuchihashi, có lẽ đã chuẩn bị từ chức nếu không đạt được tiến triển nào. Có vẻ như Tsuchihashi đã quyết định chuyển các thành phố: trong vòng một tuần, Trần Văn Lai, một cộng sự thân cận của người Nhật, thay thế Konagaya Yutake làm thị trưởng Hà Nội. Hải Phòng và Đà Nẵng cũng sớm chứng kiến những vụ chuyển giao tương tự. Tsuchihashi ít đến Nam Kỳ hơn, có lẽ phản ánh sự miễn cưỡng của ông trong việc lật ngược các khuôn mẫu hành chính lâu đời hơn là bất kỳ thiết kế cụ thể nào của Nhật trong khu vực. Vấn đề thêm phức tạp, khi Phnom Penh đưa ra những đòi hỏi chủ quyền mới về một số tỉnh biên giới Nam Kỳ. Đầu tháng 7, có lẽ sau khi nghe tin từ đồng bào Việt Nam ở Campuchia, chi hội miền trung của Hội Công chức Việt Nam đã phản đối kịch liệt với chính quyền Huế về việc ”Campuchia yêu cầu chia lãnh thổ ”, rồi tìm cách báo động cho tổ chức anh em của mình ở Hà Nội. Theo Trần Trọng Kim, Tsuchihashi cho rằng những khẳng định của Campuchia cần phải được giải quyết trước khi Nam Kỳ có thể được trả lại. Kim thẳng thừng bác bỏ những yêu sách này của Campuchia, và sau một ngày đàm phán, ông và Tsuchihashi đồng ý rằng việc chuyển giao sẽ diễn ra tại Sài Gòn vào ngày 8 tháng 8, với sự có mặt của cả hai. Tsuchihashi đã có mặt, nhưng Kim bị vướng vào một cuộc khủng hoảng nội các ở Huế, như chúng ta sẽ thấy.

Trong vòng vài tuần sau khi tiếp quản, như đã đề cập ở trên, các quy tắc kiểm duyệt đã được thay đổi đáng kể. Tất nhiên, không thể công khai chỉ trích người Nhật hoặc ca ngợi Đồng minh, tuy nhiên việc in các bản tin ngắn của Domei — ví dụ, về cuộc xâm lược Okinawa, sự đầu hàng của Đức và cuộc ném bom dữ dội vào Tokyo — khiến nhiều người Việt Nam độc giả để kết luận rằng số phận của Nhật Bản đã kết thúc. Một tác giả cho rằng Nhật Bản đang phải đối mặt với thảm họa vì họ đã vô cớ cố gắng đạt được các mục tiêu địa lý của mình bằng vũ lực, cắt ngang ‘con đường tiến bộ của con người ’. Việt Nam có thể học hỏi từ sai lầm này và giành được độc lập trọn vẹn, ông nói thêm, bằng cách “đấu tranh trong hàng ngũ của phong trào quốc tế nhằm xóa bỏ các hệ thống thuộc địa.”

Các nhà văn được tự do lên án các hoạt động thuộc địa một cách chi tiết sinh động, công khai những người yêu nước Việt Nam đã hy sinh chống Pháp, và thảo luận chung về một Việt Nam tương lai không bị ngoại bang chiếm đóng hoặc bóc lột. Hai ý tưởng tràn ngập trên báo chí: yêu đất nước và phục sự dân tộc. Các nhà văn đã rao giảng sự đồng lòng, năng động và hy sinh. Mặc dù các nguyên tắc như vậy cũng là đặc trưng tuyên truyền theo chủ nghĩa Pê-tanh trước đó, nhưng hình ảnh vào mùa xuân và mùa hè năm 1945 rung động hơn, thông điệp hấp dẫn hơn. Sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam liên tục được tái khẳng định trên báo chí, mặc dù người Nhật vẫn không cam kết. Chẳng hạn, trong một bức thư công khai ‘Thư gửi miền Nam’, Tổng hội Sinh viên Việt Nam có trụ sở tại Hà Nội đưa ra nhiều lý do về lịch sử, kinh tế và văn hóa tại sao Việt Nam là một ”khối” duy nhất, có thể trở thành một quốc gia hiện đại nếu mọi người chú ý đến lời kêu gọi đoàn kết; Bức thư được mở đầu bằng một bức tranh minh họa cho thấy các cá nhân nối tay nhau từ Sài Gòn đến Hà Nội, với chú thích, “Không có miền Trung, miền Nam và miền Bắc, chỉ có nước Việt Nam.” Báo chí tỏ ra miễn cưỡng chỉ trích chính phủ hoàng gia, một phần vì tiếp tục kiểm duyệt, nhưng chủ yếu là vì các nhà văn không muốn vi phạm tinh thần đoàn kết trước những vấn đề lớn của quốc gia. Bên cạnh đó, một số người được chính phủ hoàng gia bổ nhiệm từ lâu đã là đồng nghiệp trong nhiều hoạt động xuất bản.

Tuy nhiên, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam, nhiều người đã cổ vũ người Nhật vào tháng Ba và ca ngợi nội các Trần Trọng Kim mới vào tháng Tư đã vô cùng thất vọng vào tháng Sáu hoặc tháng Bảy. Nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng hỗn loạn. Nỗi sợ hãi về một nạn đói khủng khiếp khác không bao giờ xa trong tâm trí của bất kỳ ai. Các sắc lệnh hoàng gia ban hành từ Huế không thể chuyển thành thực tiễn ở bất kỳ cấp độ nào. Một lệnh cấm đánh bạc của Bộ Nội vụ được ban hành vào ngày 28 tháng 5 đã mất một tháng để được Văn phòng Khâm sai sao chép, phân phát cho các quan lại miền Bắc và sau đó dường như chỉ tạo ra sự lộn xộn và tranh cãi. Các chiến binh trẻ tuổi phàn nàn rằng lệnh cấm cờ bạc đã không thể bao gồm các trò chơi bài quy mô nhỏ và mạt chược. Tuần phủ Hòa Bình đã lập luận một cách châm biếm rằng người ta quá bận tâm đến vấn đề thiếu thốn vật chất, sự tịch thu và yêu cầu lao dịch của người Nhật, họ không còn thời gian để nghĩ đến cờ bạc. Chánh văn phòng tỉnh Lạng Sơn, sau khi chỉ ra rằng một phần đáng kể ngân sách tỉnh của ông thu được từ thuế đánh vào các cơ sở kinh doanh trò chơi công cộng, đã thẳng thừng xin miễn báo cáo hàng tháng về việc thực hiện lệnh cấm. Đầu tháng 7, công an Hải Dương đột kích một phòng chơi mạt chược bắt giữ thủ quỹ tỉnh và quan phụ trách giáo dục và một số người khác. Mặc dù sự việc đã được đưa tin trên một tờ báo Hà Nội và đã có lịch xét xử những người phạm tội, cấp trên tại Phủ Khâm Sai rõ ràng đã quyết định cho hai quan chức này nghỉ việc với hình thức khiển trách và thuyên chuyển. Giữa những tranh cãi về quyền quản lý của chính phủ, Trưởng Nha Kinh tế Hà Nội, Nguyễn Mạnh Hà, đã lặng lẽ phàn nàn với Phủ Khâm Sai rằng Văn phòng Gạo của ông hiện chỉ có hai nhân viên, nhưng được cho là chịu trách nhiệm cung cấp ngũ cốc cho Người Nhật và người dân thành phố, thu mua gạo ở Sài Gòn, giám sát các giao dịch gạo thương mại, và trừng phạt những người vi phạm các sắc lệnh liên quan.

Một phần để đáp ứng nhu cầu đó, người Nhật đã thành lập tại Hà Nội một Trường Công chức Đông Dương. Sau khi xét đơn đăng ký và tiến hành kiểm tra y tế vào tháng Năm, các khóa học dành cho 40 học sinh nâng cao và 97 học sinh sơ cấp và đã bắt đầu vào đầu tháng Sáu, được thiết kế để kéo dài trong ba tháng. Tất cả những người đăng ký tuyên thệ nhận trách nhiệm như ”những chiến binh xây dựng một Đông Dương mới”, bao gồm kỷ luật cả thể xác và tinh thần, đoàn kết bảo vệ Tổ quốc, và ”hăng hái tiến lên trước hết để phục vụ và nâng cao đời sống dân sinh.” Khóa học này là bán quân sự, với lịch trình hàng ngày từ 07:00 đến 24:00 giờ bao gồm tập thể dục và diễn tập hành quân cũng như bảy giờ giảng dạy trong lớp học. Mỗi tuần còn có một chuyến tham quan đến một số văn phòng chính quyền trung ương hoặc tỉnh. Trong vòng một tuần, mười chín học sinh đã bỏ học, hầu hết vì lý do thể chất không phù hợp; chỗ của họ được thay thế bởi các cựu thành viên người Việt của quân đội thuộc địa. Từ hồ sơ học sinh còn sót lại, chúng ta biết rằng nhân viên Nhật theo dõi chặt chẽ việc tham gia lớp học, điểm danh hai lần một ngày, và điểm cá nhân. Trường vẫn hoạt động vào cuối tháng Tám.

Ổn định trật tự

Các hồ sơ của Khâm Sai cho thấy sự gia tăng đều đặn các vụ cướp có vũ trang và cướp phá sau tháng 4 năm 1945. Số lượng đơn kiện cá nhân phàn nàn về những tổn thất đối với bọn cướp tăng rõ rệt so với những tháng trước đó. Các quan chức cũng có thể tổ chức cướp. Vào giữa tháng 6, năm người đàn ông giả danh sĩ quan Hiến binh Kenpeitai đã lái xe đến Cục Công nghiệp và Mỏ Bắc Ninh trên chiếc ô tô hạng sang V-8, thu giữ 20.000 đồng và một lượng tài liệu, sau đó buộc cục trưởng phải đi cùng họ ra khỏi thị trấn. Tuy nhiên, những cuộc tấn công lớn hơn đã sớm khiến các nhà chức trách quan tâm. Thời gian đầu, đáng lo ngại nhất là các cuộc tấn công vào các thị trấn khai thác than ở Quảng Yên, ngay phía bắc Hải Phòng, với đỉnh điểm là cuộc tấn công vào mỏ Clothilde Louise và cơ sở bốc xếp của Cảng Redon tại Uông Bí vào một đêm tháng 6, khiến một số lính canh và thường dân Việt Nam cũng như hai người Pháp thiệt mạng. Khi những người Pháp còn lại cố gắng chạy trốn mang theo hai thi thể, họ bị chặn lại trên đường và một người nữa bị giết cùng với một phụ nữ Nhật đi cùng. Vài ngày sau, một nhóm Nhật-Pháp kết hợp trở lại Uông Bí bằng thuyền đã tìm thấy nhiều thiết bị bị phá hủy và tài sản bị mất; khi con thuyền rời đi, nó bị máy bay Đồng minh tấn công và đánh chìm. Ngay sau đó, vấn nạn ‘giặc cướp’ lan sang tỉnh Bắc Giang giáp ranh, nơi các băng cướp vũ trang tràn vào các làng, đòi tiền, và khi không có tiền thì cướp trâu bò, quần áo và các động sản khác. Đáng lo ngại nhất là đồn Bảo an An Châu bị bao vây bởi một băng cướp 400 quân do ‘’tướng’’ Lục Văn Lợi chỉ huy; 27 lính bảo an đã chống cự trong sáu giờ đồng hồ, lúc đó việc phân bổ số lượng ít ỏi mười lăm hộp đạn cho mỗi khẩu súng trường của họ đã gần hết. Một số lính canh đã dùng viên đạn cuối cùng để tự sát; những người khác bị hành quyết sau khi đầu hàng; chín người đã trốn thoát. Đến tháng 7, các báo cáo về băng cướp có từ mười đến một trăm thành viên cũng đến từ các tỉnh khác. Tỉnh trưởng Lạng Sơn đã yêu cầu sự hỗ trợ từ các đơn vị địa phương của Nhật Bản để đối phó với một nhóm ”cướp” lớn người Nùng và người gốc Tàu, mặc dù tình hình ở đây rất phức tạp do sự xuất hiện ngày càng nhiều của quân đội Tàu, trong đó có một số đã tùy ý qua lại biên giới. Ở Cao Bằng, người Nhật rõ ràng đã buộc một số quan chức địa phương và lính Việt Nam vượt biên giới với họ để truy đuổi những người phạm tội, ở đó họ bị quân Tàu giết hoặc bắt. Gần Hà Nội, quan tỉnh Bắc Ninh thông báo cho Khâm Sai về một vụ đấu súng với khoảng 20 ‘du côn’ và yêu cầu tiếp viện. Tại Hà Đông, lính bảo an đã được gọi đến hiện trường một số ngôi nhà bị cướp phá, nhưng không truy đuổi được thủ phạm vì chúng được trang bị rất tốt.

Mặc dù các báo cáo cấp huyện và cấp tỉnh trước đây thường gộp các hành động của Việt Minh cùng với “bọn cướp” và “du côn”, vào đầu tháng 6, Việt Minh được coi là một mối đe dọa riêng biệt, ngày càng nghiêm trọng. Những nỗ lực của địa phương nhằm đối phó với những thách thức của Việt Minh đã sớm mang tính chất điên cuồng. Không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chức năng tiếp giáp với biên giới Trung-Việt chịu nhiều sức ép nhất. Vì thế, tỉnh trưởng Cao Bằng đã báo cáo rằng vì ‘Đảng Việt Minh” ông ta đã không thể liên lạc với cấp dưới, ngoại trừ khi các đơn vị Nhật Bản hành quân và sẵn sàng mang [hộ] thư từ. Trong điều kiện không chắc chắn như vậy, ông nói thêm “Chính quyền địa phương sợ cuộc cách mạng sẽ gây nguy hiểm cho cuộc sống của họ.” Tỉnh trưởng Lạng Sơn đã đề nghi và Khâm sai ra lệnh cách chức tri huyện Bình Gia về việc từ chối một cuộc hành quân chung với quân Nhật nhằm trấn áp Việt Minh. Một nhóm nhân viên chính phủ và công dân tỉnh Hà Giang đã chuyển một bức thư dài 8 trang đến Khâm Sai giải thích về tình hình suy thoái trong khu vực của họ do hoạt động của Việt Minh gia tăng, mặc dù “chúng tôi dựa vào Quân đội Nhật Bản để tiêu diệt chúng”. Họ đặc biệt kiến nghị thay thế tỉnh trưởng đương nhiệm, người bị cáo buộc không làm gì khác ngoài việc ‘‘đẩy giấy tờ đi khắp nơi trong văn phòng của mình”. Tại Bắc Cạn, bảy mươi lăm dặm về phía bắc của Hà Nội, người đứng đầu tỉnh đã không hề là một nhân viên bàn giấy. Vào đầu tháng 6, với mục đích kêu gọi những người theo Việt Minh từ bỏ vũ khí, ông đã đăng một thông báo bắt đầu: ‘’Ngày nay Việt Nam của chúng ta độc lập. Mọi người phải tuân theo mệnh lệnh của chính phủ Việt Nam. Bất cứ ai không tuân theo, bất cứ ai chạy trốn hoặc chống cự khi lính Nhật hoặc Việt Nam vào làng, sẽ bị coi là quân nổi loạn. Nếu họ bị bắn và bị giết, không ai được oán giận.” Riêng ông, ông yêu cầu Hà Nội khẩn cấp bố trí thêm năm trăm lính bảo an đặt dưới sự chỉ huy của ông, bởi vì việc di chuyển qua các làng mà Việt Minh đã ‘gây áp lực’ với cha mẹ và bạn bè của những lính bảo an hiện có, dẫn đến việc đào ngũ. Một số quan chức cấp dưới của ông đã bị bắt hoặc biến mất, và những người khác giờ đã ‘‘yếu đuối và không có năng lực làm việc.” Ông đề cử hai quận trưởng giúp việc mới trên cơ sở sự hợp tác chặt chẽ của họ với Quân đội Nhật Bản và lòng dũng cảm của họ khi đối mặt với sự trả thù của kẻ thù. Ông nói thêm: “Những người chấp nhận vị trí quan lại hiện nay tự đặt mình vào rủi ro [mà] không được đền bù bởi những đặc quyền gắn liền với chức vụ của họ.”

Một số tỉnh gần Hà Nội cũng bắt đầu báo cáo các vấn đề nghiêm trọng với Việt Minh vào tháng Sáu. Tại Thái Nguyên, bốn mươi dặm về phía bắc của Hà Nội, tỉnh trưởng Cung Đình Vận, đã cảnh báo Nishimura mười tuần trước đó ”phiến quân Việt Minh và cướp hình thành các băng đảng lớn trong tỉnh để gây rối loạn,” một đơn vị Việt Minh lúc này đã chiếm được huyện lỵ Định Hóa và bắt cóc tri huyện, khiến quân Nhật phải can thiệp bằng vũ lực. Tuy nhiên, Cung Đình Vận, người nổi tiếng chống lại Việt Minh một cách tàn nhẫn, đã được điều động đến Phủ Khâm Sai trong thành phố. Người đứng đầu tỉnh Hưng Yên, ba mươi dặm về phía đông nam Hà Nội, cho biết an ninh đã bị xâm hại trong bốn huyện của ông; các kho gạo đã bị cướp phá, và tuyên truyền của Việt Minh đang gây khó khăn cho việc thu gom thêm thóc. Ngày 21 tháng 6, bộ đội Việt Minh phá được một lô cốt ở huyện lỵ Văn Lâm (Hưng Yên) và chiếm giữ 31 khẩu súng. Một biệt đội Nhật Bản lao đến hiện trường thì đụng độ một đám đông khoảng một trăm người đang diễu hành đằng sau lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh. Nổ súng, quân Nhật đã giết chết một người biểu tình, bắt giữ bốn người khác và thu hồi một số vũ khí. Trong khi đó tại tỉnh Bắc Ninh, ngay bên kia sông Hà Nội, lý trưởng làng Phú Mỹ đã bị Việt Minh giết, rõ ràng là khi đang thu thuế. Để tạo điều kiện cho việc tiếp tục thu thuế ‘‘bất chấp sự đe dọa của Việt Minh,” tỉnh trưởng Thân Trọng Hậu đề nghị lý trưởng này được thăng chức sau khi chết và gia đình ông thưởng 5.000 đồng. Vào đầu tháng Bảy, Hậu cảnh báo Hà Nội rằng trừ khi một chiến dịch phản tuyên truyền được phát động khẩn cấp khắp vùng châu thổ, việc mua gạo của chính phủ, thu thuế và bảo trì đê điều sẽ bị nguy hiểm; “HỖ TRỢ CHÚNG TÔI VÀ TƯ VẤN CHÚNG TÔI,”, thông điệp của anh ấy kết thúc bằng chữ in hoa.

Tuy nhiên, các sự kiện nhanh chóng vượt ra ngoài giới hạn bất kỳ cuộc thi đua tuyên truyền nào; cuộc đối đầu vũ trang đang diễn ra. Chính phủ hoàng gia có nhiều nhất năm mươi bảo an binh cho mỗi tỉnh lỵ và hai mươi cho một huyện, tất cả đều được trang bị súng cổ và đạn dược không đáng tin cậy.

Hơn nữa, không thể chỉ dựa vào Quân đội Nhật Bản. Tại cuộc gặp cuối tháng 7 giữa Tướng Tsuchihashi và Thủ tướng Trần Trọng Kim, đã được đề cập trước đây, đã đạt được thỏa thuận trả tự do cho các thành viên Việt Nam của Quân đội Pháp để tuyển dụng nhằm mở rộng đáng kể lực lượng Bảo an binh. Kim đã chọn Đại úy Vũ Văn Thư để soạn thảo các chương trình tái tổ chức, tuyển dụng và huấn luyện khẩn cấp, tuy nhiên, sẽ mất từ năm đến mười hai tháng để có kết quả. Trong khi đó, người Nhật đã chuẩn bị sẵn hai nghìn khẩu súng, cộng với đạn dược, để sử dụng ngay lập tức ở miền bắc. Một số thành viên khác trong nội các ở Hà Nội cùng với Thủ tướng Kim nghi ngờ liệu hai nghìn khẩu súng có đủ hay không, vì những câu chuyện mà họ được nghe từ bạn bè trong giới trí thức về việc Đồng minh giao vũ khí cho lực lượng chống Nhật ở những ngọn đồi gần đó.

Cuối tháng 6, quyết định rằng Việt Minh hoạt động ở Hà Nội và một số tỉnh, thành đã đạt đến tỷ lệ đáng lo ngại, Hiến binh tung ra một loạt các cuộc truy quét phủ đầu, bỏ tù ít nhất ba trăm nghi phạm, chủ yếu là thanh niên, sinh viên và các nhân viên chính phủ, và một số người bị thẩm vấn dã man. Hoạt động này của Nhật Bản, được biết đến trong hồ sơ là “vụ Việt Minh,” đã tạo ra sự phản đối của cả Huế, với việc Thủ tướng Trần Trọng Kim gọi điện ở Yokoyama và thêm nó vào danh sách lý do đi kinh lý miền Bắc. Rất nhiều các đơn kiện từ các gia đình của những người bị bỏ tù gửi đến Phủ Khâm Sai ở Hà Nội. Có tin đồn rằng quân Nhật đã giam giữ hàng nghìn người chứ không phải hàng trăm người. Vào giữa tháng 7, Hiến binh đã đơn phương bắt giữ thêm 22 nghi phạm Việt Minh tại Thái Bình, trong đó có một cán bộ giáo dục huyện và trưởng phòng thanh niên tỉnh, Nguyễn Công Hoan, người được biết đến nhiều hơn với tư cách là một nhà văn viết tiểu thuyết và truyện ngắn. Tỉnh trưởng phản đối rằng ông ta đã không được báo trước, và cảnh báo rằng những vụ bắt giữ như vậy “sẽ ném dân chúng vào cảnh hỗn loạn, và hơn hết là những quan chức tốt mà quyền tự do của họ bị đe dọa đã không được bảo vệ một cách hiệu quả.” Cuối tháng, người Nhật đã thả khoảng 150 người; những người khác sẽ phải chờ đợi các sự kiện vào giữa tháng Tám.

Mặc dù có sự đấu khẩu như vậy, nhưng tóm lại ở Hà Nội vẫn là nói nhiều hơn là chiến đấu. Vào đầu tháng 7, chính quyền Huế đã báo trước một Hội Nghị Từ Văn Quốc Gia và thành lập ba ủy ban soạn thảo hiến pháp và đề xuất cải cách hệ thống hành chính và giáo dục. Các trí thức nổi tiếng đã xuất bản những tiểu luận và bài báo thúc giục chính phủ hành động trên nhiều mặt trận khác nhau như kinh tế, chính trị và văn hóa. Có lẽ nhóm có ảnh hưởng nhất, bao gồm khoảng 35 nhà văn và chuyên gia tận tâm xóa bỏ mọi dấu tích của chế độ thực dân, tự gọi mình là Tân Việt Nam Hội. Tuy nhiên, phải đến ngày 30 tháng 7, chính phủ mới lựa chọn được những cá nhân mà họ muốn tham gia vào chi nhánh phía bắc của Hội đồng Tư vấn Quốc gia. Cuộc họp đầu tiên dự kiến vào ngày 17 tháng 8 tại Hà Nội.


3 thoughts on “Chính phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim từ 17/4 đến 25/8 năm 1945 – Phần 1

    • Thiệt buồn cười theo quan điểm Marxism thì đây là chính phủ bù nhìn?? Chắc chưa hề biêt tuyên bố của phe Đồng Minh coi tất cả các quốc gia do Nhật thành lập là bù nhìn của Nhật, giống như quốc gia Mãn Châu của Phổ Nghi thì cái chính phủ Trần Trọng Kim có khác gì trong mắt quân Đồng Minh?? Bằng chứng khi phe Đồng Minh bàn giải giáp quân Nhật chả hề nói gì tới chính phủ Trần Trọng Kim cả coi như không tồn tại ngang nhiên phân chia nước ta thế đấy.

      • Chính phủ bù nhìn và một chính phủ bi đồng minh không coi là cái gì là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Chính phủ VNDCCH thành lập ngày 2/9 cũng có được đồng minh nào hỏi ý kiến khi họ đổ bộ vào VN.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s