Tình yêu với Thiên Quốc của La Hiếu Toàn- Bài 1

thai binh (11).jpg

 Trích từ  “Thiên Quốc này chẳng thái bình

Tác giả Đào Đoản Phòng

Đỗ Trung Thành chuyển ngữ 

Từ năm 1853 đến năm 1864, Hồng Tú Toàn ở lì trong cung điện tại thành Thiên Kinh không bước chân ra ngoài, làm Thái Bình thiên tử 12 năm. Ông bị Thanh đình chửi rủa là “theo phiên”, cũng chính là “ngụy Thiên Vương Hồng nghịch” cấu kết với người Tây dương, kỳ thực trong 12 năm đó, người Tây dương chân chính được gặp ông chỉ có một người: thầy truyền giáo Cơ đốc trước khi ông “phát tích”, giáo sĩ truyền giáo người Mỹ La Hiếu Toàn.

La Hiếu Toàn e rằng là điều bí ẩn và xấu hổ nhất trong lịch sử ngoại giao của Thái Bình Thiên Quốc: trước khởi nghĩa Kim Điền, các nhân vật lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa đã say sưa kể về “tấm chân thành” của “người huynh đệ Tây dương” này; Hồng Tú Toàn còn chưa vào thành Nam Kinh đã vội vã viết thư cho La Hiếu Toàn mà La Hiếu toàn cũng tràn đầy nhiệt tình viết thư gửi các báo Tây phương, nói những lời tốt đẹp cho quân Thái Bình, còn năm lần bảy lượt không tiếc toàn bộ chi phí muốn đến Thiên Kinh. Tuy nhiên giai đoạn thân mật giữa hai người dường như là “ảo tưởng tan vỡ” – cực kỳ khó khăn mới đến được Thiên Kinh, 15 tháng nhậm chức ở Thái Bình Thiên Quốc, La Hiếu Toàn cuối cùng lại trong ngày sinh nhật của Hồng Tú Toàn không từ mà biệt, và lập tức trở thành người lên án Thái Bình Thiên Quốc mạnh mẽ nhất. 

Lai lịch của La Hiếu Toàn.

La Hiếu Toàn (Issachar Jacox Robert), sinh ngày 17 tháng 2 năm 1802 tại Sumner County, Tennessee, nước Mỹ, năm 1827 vào tu ở tu viện Nam Carolina, năm sau được phong làm mục sư.

Lúc này đạo Cơ đốc vẫn bị cấm tuyên truyền ở trong nội địa Trung Quốc, nhưng giáo sĩ người Phổ Karl Friedrich August Gutzlaff lại sử dụng một phương pháp là dùng người Trung Quốc đảm nhận chức mục sư, dùng người Trung Quốc hiểu rõ điển cố truyền thống để viết ra cuốn sách nhỏ truyền giáo, đã xâm nhập thành công vào rất nhiều châu huyện ở phía nam Trung Quốc. La Hiếu Toàn thuộc “Nam Baptist” nước Mỹ, thuộc đạo Tin Lành, có thể coi là “đồng môn” của Gutzlaff trên nghĩa rộng. Theo ông ta, những điều mà Gutzlaff làm có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, Gutzlaff có thể làm được thì La Hiếu Toàn ông cũng có thể làm được.

Năm 1837, ông cùng vợ vượt biển tới Macao, nhưng ở Macao sự nghiệp truyền giáo của ông bị cản trở, mà việc bị cản trở ngoài ý muốn lại đến từ Tây phương – thực dân Bồ Đào Nha, những kẻ tín thờ Thiên chúa giáo La Mã chẳng chút khách khí áp chế các giáo sĩ Tin Lành, ép bức khiến 5 năm sau ông phải rời Ma Cao đến Hương Cảng.

Lúc này cuộc chiến tranh nha phiến đã kết thúc, tại “5 cửa thông thương” Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba và Thượng Hải, việc truyền đạo tuy vẫn là phi pháp, nhưng căn cứ vào “điều ước Trung Mỹ ký tại Vọng Hạ” năm 1844, người Mỹ có thể xây dựng giáo đường ở những nơi đó, La Hiếu Toàn dựa vào điều này, ngày 15 tháng 5 năm 1844 tới Quảng Châu, ngày 26 tháng 7, xây dựng giáo đường ở Đông Thạch Giác, bến Quan Thiên Tự ở nam Quảng Châu, bắt đầu sự nghiệp truyền giáo.

Ngôi giáo đường này có tên gọi là “Yue Dong Baptist Church”, ngay từ đầu đã mang màu sắc địa phương tươi mới: trong 6 người ký tên trong chương trình, chỉ có La Hiếu Toàn là người Âu, 4 trong 5 người là giáo đồ Trung Quốc, phỏng theo quy tắc của Trung Quốc, đều mang theo một chữ “đạo”, thể hiện vai vế trong Tân giáo (Lam Đạo Anh, Chu Đạo Hành, Tăng Đạo Tân, Hoàng Đạo Khiêm, còn có một người tên là Ôn Đức Tường). Giáo đường có 4 vị trưởng lão, lần lượt đến từ 3 quốc gia: La Hiếu Toàn, Tỉ Trị Văn (Elijah C. Bridgeman) người Mỹ, W. Gillespie người Anh và Lương Phát người Trung Quốc.

Dường như là điều hoàn toàn ngẫu nhiên, trong 4 trưởng lão này, ngoại trừ Gillespie thì 3 người kia đều có ngọn nguồn với Thái Bình Thiên Quốc.

Bridgeman là mục sư người Mỹ đầu tiên, là mục sư Tin Lành thứ 2 tới nội địa Trung Quốc truyền giáo (người đầu tiên là Robert Morrison người Anh). Từ năm 1830, ông ta đã tới Quảng Châu, đã chứng kiến việc tiêu hủy thuốc phiện tại Hổ Môn và cảnh cáo Lâm Tắc Từ “Trung Quốc đánh không lại nước Anh”, có tham gia hoạch định đàm phán “điều ước Trung Mỹ Vọng Hạ”. Năm 1854, ông theo công sứ Mỹ đóng ở Trung Quốc Robert Milligan McLane tới thăm Thiên Kinh, việc này sớm hơn La Hiếu Toàn 6 năm. Ông đã viết “báo cáo khảo sát” khu vực quản lý của Thái Bình Thiên Quốc, còn dựa vào lời thuật của lính đào ngũ Ireland Kennedy để cùng người khác hợp soạn cuốn “Ghi chép về mâu thuẫn nội bộ giữa Đông Vương và Bắc Vương trong Thái Bình Thiên Quốc”. Trong các giáo sĩ truyền giáo Tin Lành phương Tây, ông là nhân vật tương đối sớm phủ định Thái Bình Thiên Quốc, cho rằng Thái Bình Thiên Quốc là “ngụy Cơ đốc giáo”.

Lương Phát trái lại chưa từng tới khu vực quản lý của Thái Bình Thiên Quốc, dường như cũng chưa chắc quen biết Hồng Tú Toàn, nhưng ông ta có ý nghĩa rất quan trọng với Thái Bình Thiên Quốc, thậm chí còn quan trọng cả La Hiếu Toàn: Hồng Tú Toàn sở dĩ từ một anh học trò ngoan cố khoa bảng nhiều lần thi rớt biến thành một lãnh tụ tôn giáo, tiếp đó lại trở thành “Thái Bình Thiên Vương”, mấu chốt là vào năm 1837 trong cơn bạo bệnh, ông ta mơ một giấc mơ kỳ quái, và giấc mơ kỳ quái này 6 năm sau đã có được kiểm chứng bởi cuốn sách truyền giáo “Khuyến thế lương ngôn” mà ông tình cờ có được ở bên ngoài cống viện Quảng Châu, Hồng Tú Toàn, Phùng Vân Sơn truyền giáo khắp nơi, Phùng Vân Sơn sáng lập Hội Bái Thượng đế, tất cả các cơ sở lý luận, sớm nhất đểu từ cuốn sách mỏng này, thậm chí trong những trước tác ban đầu của Hồng Tú Toàn thường xuyên viện dẫn truyền thuyết cổ đại Trung Quốc, và hoàn toàn không nói tới Jesu, đều có liên quan đến cuốn sách này (xuyên suốt cuốn “Khuyến thế lương ngôn” đều dùng những truyền thuyết dân gian Trung Quốc làm ví dụ, mà không biết vì sao lại không một chút nào nhắc đến Jesu); Mà tác giả cuốn sách này, chính là Lương Phát, người xuất thân từ công nhân in, mục sư Cơ đốc giáo Trung Quốc sớm nhất.

Thành Quảng Châu lúc đó, rất không hoan nghênh Cơ đốc giáo. Tuy rằng từ năm 1845, việc truyền giáo đã là hợp pháp, nhưng thành Quảng Châu đã dấy lên phong trào quần chúng phản đối người Tây vào thành, sự đối lập giữa người Hoa và người Tây dương là rất kịch liệt, giáo đường của La Hiếu Toàn đã hai lần bị phóng hỏa. Cho dù ông truyền giáo bất kể ngày đêm, còn miễn phí khám bệnh cho người bản địa, nhưng người Trung Quốc tới rửa tội cũng chẳng được bao nhiêu, rất nhiều đã chịu rửa tội còn khẩn cầu giáo đường giữ bí mật giùm họ. Phần lớn những người chịu rửa tội là cu-li, hoặc cũng giống như Lương Phát, người làm việc cho giáo đường (Lương Phát giúp Robert Morrison khắc in “Thánh kinh” bản tiếng Hoa), “người tầng lớp trên” hoặc phần tử tri thức thì hầu như không có.

Trong hoàn cảnh như vậy, lại có hai thư sinh chủ động chạy tới giáo đường của ông, nói mình sùng bái Thượng đế, đồng thời đã phát triển được rất nhiều tín đồ ở Quảng Đông, Quảng Tây, điều này sao có thể không khiến La Hiếu Toàn phấn khởi cho được?

Năm 1844, Hồng Tú Toàn sau khi chia tay với Phùng Vân Sơn ở Quảng Tây đã quay về quê nhà huyện Hoa Quảng Đông, cùng với Hồng Nhân Can tại quê nhà một mặt tiếp tục ôn tập chuẩn bị thi khoa cử, một mặt chuyên tâm biên soạn sổ tay truyền giáo. Trong nửa cuối năm 1846, bọn họ nghe nói có La tiên sinh người Tây dương cũng đang truyền giáo, đồng thời cũng nghe đồn kiến thức vô cùng uyên thâm, bèn viết phong thư gửi Chu Đạo Hành, người chấp sự của “La tiên sinh”, hi vọng có thể đến đó học tập.

Đương thiếu nhân viên, La Hiếu Toàn đương nhiên mong còn chả được, ông bảo Chu Đạo Hành viết thư mời hai thanh niên tới giáo đường của mình “trợ giúp tuyên giáo”. Tháng 3 năm 1847, Hồng Tú Toàn, Hồng Nhân Can tới Quảng Châu, vào học tập trong giáo đường của La Hiếu Toàn.

Theo như hồi ức của La Hiếu Toàn vào năm 1856, ông và Hồng Tú Toàn nói chuyện rất lâu, lắng nghe về giấc mơ kỳ lạ đó và đưa ra những đánh giá rất tích cực, cho rằng đây rõ ràng là Thượng đế đã cảm hóa Hồng Tú Toàn, hướng dẫn ông đến tìm “chân lý”, đồng thời giấc mơ kỳ lạ này “đều đến tự “Thánh kinh”, cho dù bản thân người nằm mơ cũng không hoàn toàn hiểu rõ. Rất hiển nhiên, giấc mơ kỳ lạ của Hồng Tú Toàn khi đó còn ở dạng nguyên thủy, đã không có nhân tố tạo phản, càng không thể có những chuyện kỳ quái kiểu như “con thứ của Thượng đế”, “em ruột của Jesu”, “Thiên ma Thiên tẩu”, nếu không một người hết mực tin theo Cơ đốc giáo chính thống như La Hiếu Toàn chắc chắn sẽ coi gã Trung Quốc xa lạ kia bị điên hoặc là thứ ma quỷ.

Vậy là Hồng Tú Toàn ở liền trong giáo đường của La Hiếu Toàn ba tháng rưỡi, thời gian đó ông chăm chỉ học tập, nhiệt tình truyền giáo, khiến La Hiếu Toàn cảm thấy “ông ta đúng là hậu lễ mà Thượng đế gửi tới”. Không lâu sau, Hồng Tú Toàn yêu cầu được rửa tội và ở lại giáo đường làm việc, điều này càng khiến La Hiếu Toàn cảm động: phải biết rằng khi đó làm “nhị mao tử” (từ ngữ thời Thanh mạt chỉ những người Trung Quốc theo Thiên chúa giáo hoặc làm việc cho người Tây dương) ở Quảng Châu là ngày ngày phải dính trứng gà thối.

La Hiếu Toàn là người cẩn thận, đặc biệt cử hai người Chu Đạo Hành, Tăng Đạo Tân về quê của Hồng Tú Toàn để điều tra, có được kết quả hài lòng mới đồng ý, thế là chuẩn bị rửa tội cho Hồng Tú Toàn.

Lúc này đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn: ở trong lễ rửa tội, Hồng Tú Toàn đột nhiên đề xuất, vì lí do kinh tế, hi vọng La Hiếu Toàn có thể trả lương để ông có thể toàn tâm toàn ý phục vụ Thượng đế và giáo đường.

Đích thực mục sư của Tin lành là có lương, lúc đó mức lương ở giáo đường của La Hiếu Toàn là 8 đồng đại dương một tháng. Nhưng con người La Hiếu Toàn có tính cách, tức là nếu như ông cảm thấy cần thiết thì sẽ chủ động trả lương, nhưng ghét nhất người khác đòi hỏi tiền lương, ông ta cho rằng nếu như vì tiền mới đi truyền giáo thì tuyệt đối là kẻ không có tâm hồn tốt đẹp. Nếu đổi lại là người khác, trong khi làm lễ rửa tội thì La Hiếu Toàn chắc chắn sẽ úp cái chậu rửa mặt lên trán, tiếp đó chửi mắng cho một trận rồi đuổi khỏi giáo đường. Nhưng Hồng Tú Toàn là người ông ta rất coi trọng, ấn tượng trước giờ rất tốt, ông chỉ tạm thời hoãn việc rửa tội lại, để Hồng Tú Toàn về suy nghĩ lại, rốt cuộc là vì lẽ gì đến rửa tội, truyền giáo, nghĩ cho kỹ rồi hẵng quay lại.

Vậy là Hồng Tú Toàn rời khỏi giáo đường của La Hiếu Toàn, sau đó dường như cũng không quay lại nữa, nhưng ông ta và Chu Đạo Hành vẫn duy trì liên lạc. Năm 1848, Hồng Tú Toàn có quay lại Quảng Châu một lần, tìm Chu Đạo Hành nhờ cứu Phùng Vân Sơn, nhưng dường như không gặp La Hiếu Toàn, cũng không có ghi lại La Hiếu Toàn có giúp đỡ hay không.

Theo như giáo sĩ truyền giáo người Thụy Điển Hàn Sơn Văn (Theodore Hamberg) dẫn lại lời thuật của Hồng Nhân Can, Hồng Tú Toàn đột nhiên đề xuất việc có lương là bị hai người tranh chấp chức vị Hoàng Ái, Hoàng Can lừa gạt. Hai người này trà trộn trong giáo đường của La Hiếu Toàn đã lâu. Biết được tính tình của giáo sĩ người Mỹ này, bọn họ gợi ý cho Hồng Tú Toàn đề xuất chuyện trả lương, Hồng Tú Toàn sẽ cho rằng đó là lòng hảo tâm còn La Hiếu Toàn chắc chắn sẽ nhảy dựng lên.    

Bất kể thế nào thì Hồng Tú Toàn có được ở chỗ của La Hiếu Toàn quả thực là rất nhiều.

Đầu tiên, ông ta cuối cùng biết được là có Jesu. Nếu không phải là đến chỗ của La Hiếu Toàn học tập, hội Bái Thượng đế sẽ chỉ có thể “Bái Thượng đế” mà sẽ không có “Thiên huynh”, đương nhiên Tiêu Triều Quý cũng chẳng thể đóng giả Thiên huynh hạ phàm.

Thứ nữa, bộ “Hiến pháp đại cương” sớm nhất của Thái Bình Thiên Quốc là “Thiên điều thư”. Hiện này một cuốn thư tịch Thái Bình Thiên Quốc được đóng thành quyển sớm nhất được phát hiện chính là cuốn sách viết tay “Thiên điều thư” này, là khi quân Thái Bình vẫn chiến đấu ở vùng núi Quảng Tây, bị tiểu tốt quân Thanh nhặt được trên đường truy kích. Thậm chí sớm từ ngày 30 tháng 5 năm 1848, tức là 2 năm rưỡi trước khi bùng phát cuộc khởi nghĩa Kim Điền, Phùng Vân Sơn đương chịu kiện cáo ở huyện Quế Bình đã dẫn thuật “Thiên điều” trong sách để biện hộ. “Thiên điều” này còn được gọi là “Thập Thiên điều”, thực chất chính là mười điều răn của Moses, mười điều răn này không có trong “Khuyến thế lương ngôn”, Hồng Tú Toàn học được từ cuốn sách nhỏ do La Hiếu Toàn biên soạn. Rất nhiều quy chế chế độ của Thái Bình Thiên Quốc sau này đều có thể truy ngược đến cuốn “Thiên điều thư” này.

Hồng Tú Toàn vốn có thái độ ôn hòa với kinh điển Nho gia, tuy rằng không bái tượng thờ, nhưng cũng chỉ là vứt bỏ bài vị Khổng Tử, không viết văn tế cho những thần tiên dân gian dạng như ông Táo mà thôi. Kể từ lúc kết thúc lớp học cấp tốc của La Hiếu Toàn, ông ta bỗng trở nên quan tâm tới việc phá miếu đập tượng; Điển cố nho giáo trong văn chương cũng ngày càng ít đi, điều này cũng bị ảnh hưởng bởi La Hiếu Toàn – vị giáo sĩ người Mỹ cố chấp này luôn chủ trương, đối với “tượng thờ dị giáo và truyền thống” đó là có phá lối xưa mới có con đường mới, không phá không được, không phá bỏ thì không có cách nào truyền giáo.

La Hiếu Toàn không có quyền lực để phá miếu đốt sách, chỉ có thể kêu mấy tiếng để giải tỏa, nhưng Hồng Tú Toàn thì không thế, phàm là nơi nào ông ta đi qua, miếu chùa lớn nhỏ dường như chẳng ngôi nào thoát. Mấy trăm ngôi chùa miếu, các lộ thần tiên ở Vũ Xương phần lớn đều bị phá sạch, chỉ có miếu Khổng Tử được Dương Tú Thanh dùng phương pháp đích thân tới bái yết để cưỡng ép giữ lại. Chùa miếu trong thành Trấn Giang, chỉ có chùa Định Huệ ở núi Tiêu do trụ trì            giương lá cờ “có ảnh hưởng lớn đến long mạch của Kim Lăng”, dưới sự bảo hộ của La Đại Cương, người vốn không phải xuất thân từ hội Bái Thượng đế nên may mắn giữ được, những nơi khác đều bị phá sạch. Trong thành Thiên Kinh thì ngay cả giáo đường Thiên Chúa giáo của nước Pháp cũng bị đốt, vì Thượng đế mà bọn quỷ nước Pháp bái, dường như không giống với “hoàng thượng đế”.                                     

Thời kỳ trăng mật đầu tiên của La Hiếu Toàn với Hồng Tú Toàn dường như đã kết thúc như vậy. Với La Hiếu Toàn thì người thanh niên có chút kỳ quái Hồng Tú Toàn bất quá chỉ là một đoạn nhạc đệm, những mảnh vụn trong kinh nghiệm truyền giáo nước ngoài đầy phong phú của mình mà thôi, ông tình cờ nhớ lại lại ngay cả tên của Hồng Tú Toàn, hay việc người này tới giáo đường vào năm 1846 hay năm 1847 thì cũng chẳng nhớ chính xác.

Thế nhưng sự kiện La Hiếu Toàn gặp Hồng Tú Toàn, đối với La mà nói thì chí ít khi đó vẫn cho rằng là một chuyện nhỏ nhưng đối với Hồng thì tuyệt đối là chuyện lớn. Ngày 13 tháng 2 năm 1849, Hồng Tú Toàn đương lẩn trốn khắp nơi, chuẩn bị khởi nghĩa Kim Điền vẫn đặc biệt hỏi Tiêu Triều Quý, người đóng giả “Thiên huynh”, La Hiếu Toàn có phải là người mình không; Lúc đó công việc chuẩn bị khởi nghĩa bận tới mức hai chân lở loét nhưng Tiêu Triều Quý cũng trịnh trọng khẳng định rằng La “là người thật lòng, là người có liên quan”. Đoạn ghi chép được in trong “Thiên huynh thánh chỉ”, một trước tác đầy quyền uy của Thái Bình Thiên Quốc, có thể thấy địa vị La Hiếu Toàn trong lòng Hồng Tú Toàn. 

Thời gian đầu của cuộc khởi nghĩa Kim Điền, Hồng Tú Toàn từng nhiều lần nói với thuộc hạ rằng nếu như không giải quyết được cục diện ở Quảng Tây thì phá vây huyện Hoa Quảng Đông; Vẫn không được thì đi “đầu quân cho nước Anh”. Trong một khoảng thời gian rất dài Hồng Tú Toàn không phân rõ được nước Anh và nước Mỹ, cũng chẳng làm rõ được La Hiếu Toàn rốt cuộc là người Anh hay là người Mỹ, cách nói này của ông ta chứng minh, sự kỳ vọng mà ông đối với La Hiếu Toàn là rất bức thiết, vì ông ta đâu có biết người ngoại quốc nào khác.

Điều thú vị là, đối với những kỳ vọng bức thiết này, bản thân La Hiếu Toàn trước khi quân Thái Bình đánh tới Nam Kinh lại chẳng hề biết một tí gì.

(còn tiếp)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s