Sài Gòn-Gia Định và chúa Nguyễn Ánh

vi-tri-thanh-phien-an-thanh-quy-va-thanh-gia-dinh-thanh-phung-xua-va-nay-81-1456128610

Cao Tự Thanh

I. Sài Gòn Gia Định thời Đàng Trong

Bản_Đồ_Xứ_Gia_Định_Hậu_Bản_XVIII.png

Hoàn cảnh lịch sử mà Sài Gòn xuất hiện trên bản đồ Việt Nam

Dưới thời các chúa Nguyễn Đàng Trong, công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam được đẩy mạnh. Năm 1611, lập dinh Phú Yên. Năm 1693, lập dinh Bình Thuận. Đến 1698, chúa Nguyễn Phước Châu sai Chưởng cơ Trấn thủ dinh Bình Khang Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất đem quân vào kinh lược Chân Lạp, lấy đất Đông Phố đặt phủ Gia Định, chia vạch ranh giới, lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên, lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn. Mở đất được ngàn dặm, dân hơn bốn vạn hộ, chiêu mộ lưu dân từ Bố Chính trở vào Nam tới ở, thiết lập xã thôn phường ấp, khẩn đất hoang, định tô thuế, lập sổ đinh. Sài Gòn chính thức xuất hiện trên bản đồ Việt Nam từ đó, trong một bối cảnh lịch sử có những nét đặc biệt góp phần quy định nhiều đặc điểm của tiến trình văn hóa Việt Nam ở địa phương về sau.

Từ 1744, quân Thanh vượt Sơn Hải quan vào chiếm Yên Kinh (Bắc Kinh), bắt đầu cai trị Trung Quốc, ra sức đàn áp các di thần nhà Minh. Các lực lượng chống Thanh lùi dần về Hoa Nam. Năm 1678, Ngô Tam Quế chết. Năm 1681, Trịnh Kinh, con Trịnh Thành Công chết. Năm 1683 nhà Thanh đánh bại Trịnh Khắc Sảng, con Trịnh Kinh, bình định xong Đài Loan là chiến lũy kháng Thanh cuối cùng. Năm 1689, vua Khang Hy nhà Thanh Nam tuần, làm tiêu tan ý chí của những người kháng Thanh ở Hoa Nam. Nhiều di thần nhà Minh ở vùng này đem hết bộ thuộc, gia đình, tài sản lần lượt di cư về phía Nam, làm thành nhiều đợt sóng di cư tỵ nạn chính trị xuống dãy đất ven biển Nam Hải: Việt Nam, Chân Lạp, Xiêm La, Indonésia, Malaysia… Năm 1679, Tổng binh Cao Châu, Lôi Châu, Liêm Châu Trần Thượng Xuyên và Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch đem 50 chiến thuyền và 3.000 người vào Quảng Nam xin quy phục chúa Nguyễn. Chính quyền Đàng Trong tiếp nhận, cho Thượng Xuyên tới Biên Hòa, Ngạn Địch tới Mỹ Tho. Với kinh nghiệm hải hành và truyền thống buôn bán lâu đời, những người Hoa tỵ nạn chính trị này đã “vỡ đất hoang, lập phố xá”, thu hút thương nhân các nơi tới buôn bán, góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất ban đầu cho quá trình khai thác Nam Bộ của cộng đồng Việt Nam ở Đàng Trong. Trên phương diện giao lưu văn hóa, các đợt nhập cư với quy mô lớn của người Hoa như thế còn dẫn tới việc du nhập nhiều yếu tố văn hóa Hoa Nam vào Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII. Cùng với sự tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa của các tộc người khác như Chăm, Khmer, sự giao tiếp với các thương nhân Nhật Bản, phương Tây…, tình hình nói trên làm hình thành trong xã hội Việt Nam ở Sài Gòn một màu sắc đa dân tộc có kết cấu mở kiểu Đông Nam Á với phương thức phát triển hội tụ, liên tục đổi mới, năng động và trẻ trung.

Đặc biệt, cần nhấn mạnh rằng người Việt tiến vào đồng bằng Nam Bộ lúc hoạt động ngoại thương ở khu vực Đông Nam Á đang khởi sắc. Ngoài thương cảng Hội An nổi tiếng từ thế kỷ XVI, các trung tâm thương nghiệp như Hà Tiên, Vũng Tàu cũng khá phát triển, nên sau khi chính thức xuất hiện trên bản đồ Việt Nam, Sài Gòn cũng mau chóng trở thành một thương cảng lớn. Theo thời gian, thương cảng này cũng phát triển thành một trung tâm thương nghiệp trong khu vực, xuất khẩu không chỉ nông sản hàng hóa của đồng bằng Nam Bộ mà còn là đầu mối xuất khẩu nhiều lâm thổ sản của Campuchia. Tình hình nói trên cùng với mạng lưới sông rạch dày đặc ở Nam Bộ đã khiến Sài Gòn cũng đồng thời trở thành một trung tâm văn hóa và hành chính quan trọng, một đô thị lớn sánh ngang với Thăng Long và Phú Xuân. Song khác với Thăng Long và Phú Xuân vốn là trung tâm chính trị mở rộng thành trung tâm kinh tế, Sài Gòn – Gia Định là trung tâm kinh tế (thương nghiệp, thủ công nghiệp) trước rồi mới trở thành trung tâm chính trị – văn hóa: thành phố này đã hình thành theo quy luật của các đô thị tiền tư bản, tức yếu tố “thị” có trước rồi phát triển thành yếu tố “thành” chứ không phải như các đô thị phong kiến ở đó yếu tố “thành” có trước rồi mở rộng thêm yếu tố “thị”.

Khái niệm Đàng Trong

“Đàng Trong” là một thuật ngữ địa – chính trị, chỉ khu vực phía nam sông Gianh dưới quyền cai trị độc lập của các chúa Nguyễn trên đường hướng cát cứ, đối lập với chính quyền Lê Trịnh ở Đàng Ngoài. Quá trình dẫn tới việc cát cứ Đàng Trong của các chúa Nguyễn là một diễn tiến phức tạp, nên trước nay nhiều người vẫn lầm trong việc phân kỳ lịch sử, coi việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 là cái mốc đầu tiên của lịch sử Đàng Trong. Thật ra không phải như vậy.

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê. Một số bề tôi của nhà Lê do Nguyễn Kim đứng đầu rút vào Nghệ An, năm 1533 lập Lê Trung tông là con cháu nhà Lê lên ngôi vu
a, đóng đô ở Lam Kinh còn gọi là Tây Đô, đánh nhau với nhà Mạc ở Thăng Long tức Đông Đô, sử gọi là chiến tranh Nam Bắc triều. Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất hạ độc giết chết, các con của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng đều còn nhỏ nên vua Lê giao binh quyền cho Trịnh Kiểm, con rể Nguyễn Kim. Về sau Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng lớn lên, đều có tài năng, Trịnh Kiểm ghen ghét nên ám hại Nguyễn Uông. Nguyễn Hoàng sợ, nhờ chị là Ngọc Tú xin với Trịnh Kiểm cho mình vào trấn thủ Thuận Hóa. Năm 1558, Kiểm tâu với vua Lê cho Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, cũng có ý đồ bớt đi một cái gai trong triều đình Tây Đô đồng thời mượn tay quân Mạc giết Hoàng. Nhưng Hoàng giỏi cầm quân, được lòng dân nên giữ vững được Thuận Hóa. Năm 1670, lúc Trịnh Kiểm ốm nặng, Nguyễn Hoàng ra Tây Đô yết kiến vua Lê, cũng có ý “lấy lại” quyền hành từ tay Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm nhượng bộ, tâu với vua Lê cho Nguyễn Hoàng trấn thủ cả Thuận Hóa và Quảng Nam, Nguyễn Hoàng bèn đem quân về trấn.

Đến 1593, Trịnh Tùng con Trịnh Kiểm đánh chiếm được Thăng Long, Nguyễn Hoàng đem quân ra giúp, cùng đánh dẹp quân Mạc. Nhưng Trịnh Tùng sợ Nguyễn Hoàng chiếm mất địa vị của mình, nên cũng có ý lấn át. Thấy không thể tranh giành quyền bính với họ Trịnh ở cung đình, năm 1600 Nguyễn Hoàng lặng lẽ đem binh thuyền về Thuận Hóa. Trịnh Tùng hoảng sợ đưa vua Lê về giữ Thanh Hoa, để mặc quân Mạc trở lại Thăng Long, mấy tháng sau mới dám tiến chiếm lại Đông Đô. Lợi dụng tình thế Lê Trịnh phải tập trung đối phó với quân Mạc, Nguyễn Hoàng ráo riết xây dựng lực lượng trên đường hướng ly khai chính quyền trung ương. Năm 1613 Nguyễn Hoàng chết, trước khi chết trăn trối lại với con là Nguyễn Phước Nguyên rằng phải cố gắng giữ gìn đất đai Thuận Quảng để chống cự với họ Trịnh mà xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Phước Nguyên nối chí cha, ngầm nuôi ý cát cứ, không nộp thuế ra Bắc nữa. Năm 1627, Trịnh Tráng đã nhân danh vua Lê gởi một sắc dụ răn đe họ Nguyễn lỗi đạo thần tử “Mệnh lệnh triều đình, đạo làm tôi phải nên tuân thủ, Thuế má phủ huyện, tướng ngoài cõi không được tự chuyên”, còn trả lời một lá thư đe dọa của Trịnh Tráng trước đó, năm 1625 Nguyễn Phước Nguyên cũng từng gởi một lá thư lên án họ Trịnh lấn át vua Lê “Sương nghiêm dinh Liễu, tai từng nghe mệnh lệnh Tướng quân, Mây thẳm đền Phong, mắt nào thấy chiếu thư Thiên tử”. Một bên khuynh loát triều đình, một bên ly khai trung ương, nhưng đều chống đối nhau bằng cùng một khẩu hiệu chính trị tôn Lê. Năm 1627 Trịnh Tráng đưa vua Lê đem quân đánh Nguyễn, Phước Nguyên dàn quân trên sông Nhật Lệ chống lại, quân Trịnh không thắng được phải rút lui. Phước Nguyên lại theo kế của Đào Duy Từ đắp lũy Trường Dục làm phòng tuyến ngăn chặn quân Trịnh, từ đó cục diện Đàng Trong – Đàng Ngoài chính thức định hình.

Sau trận đánh năm 1627, đôi bên Trịnh Nguyễn còn liên tiếp mở sáu chiến dịch lớn tấn công đối phương vào các năm 1630, 1635, 1648, 1655, 1661, 1672, nhưng những nỗ lực quân sự để thống nhất đất nước ấy đều không thành công. Cho nên sau trận đánh năm 1672, đôi bên nghỉ binh, lấy sông Gianh làm ranh giới. Cục diện Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài đến thế kỷ XVIII. Năm 1771 Tây Sơn khởi nghĩa, năm 1774 tướng Trịnh Hoàng Ngũ Phúc nhân cơ hội vượt sông Gianh, hạ Lũy Thầy, chúa Nguyễn Phước Thuần chạy vào Quảng Nam rồi Gia Định, đến 1777 bị Tây Sơn bắt giết. Nhưng Nguyễn Ánh may mắn thoát được, qua năm sau chiêu mộ quân sĩ chiếm lại Sài Gòn, mở ra cục diện chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kéo dài đến 1802.

Tóm lại, mặc dù năm 1627 Nguyễn Phước Nguyên mới chính thức ra mặt chống lại Lê Trịnh, cát cứ Đàng Trong, nhưng xu thế cát cứ phương Nam của họ Nguyễn đã hình thành sau khi Nguyễn Hoàng trở về Thuận Quảng năm 1600. Cho nên có thể coi lịch sử Đàng Trong bắt đầu từ 1600 và kết thúc năm 1777.

Các chúa Nguyễn Đàng Trong

Từ 1600 trở đi, chính quyền Đàng Trong có tất cả chín đời chúa, sau đây nêu tóm tắt về tên họ, miếu hiệu, thụy hiệu, đạo hiệu và năm sinh, năm lên ngôi, năm mất… của từng người:

Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), vào Nam làm Trấn thủ Thuận Hóa năm 1558, được thăng làm Trấn thủ Thuận Quảng năm 1570, năm 1593 ra Bắc tham gia đánh Mạc, năm 1600 về Nam, tước Đoan quốc công, hiệu là chúa Tiên, năm 1744 được truy tôn là Gia Dụ Thái vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Gia Dụ hoàng đế, miếu hiệu là Thái tổ. Dưới đời Nguyễn Hoàng, địa bàn Đàng Trong mở rộng tới Phú Yên.

Nguyễn Phước Nguyên (1563 – 1635), lên ngôi chúa năm 1613, tước Thụy quận công, hiệu là chúa Sãi, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Văn vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Văn hoàng đế, miếu hiệu là Hy tông. Năm 1629 Lưu thủ Phú Yên Văn Phong làm phản, Phước Nguyên sai Mạc Cảnh Vinh đem quân đánh dẹp, mở đất tới phía nam Phú Yên, phía bắc Khánh Hòa, đầu tiên gọi là phủ Thái Khang, đến 1690 đổi gọi là Bình Khang.

Nguyễn Phước Lan (1601 – 1648), lên ngôi chúa năm 1635, tước Nhân quận công, hiệu là chúa Thượng, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Chiêu vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Chiêu hoàng đế, miếu hiệu là Thần tông.

Nguyễn Phước Tần (1620 – 1687), lên ngôi chúa năm 1648, tước Dũng quận công, hiệu là chúa Hiền, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Triết vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Triết hoàng đế, miếu hiệu là Thái tông. Phước Tần là người tiếp nhận nhóm Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch vào khai phá Biên Hòa và Mỹ Tho năm 1679, đặt nền móng cho việc mở mang lãnh thổ tới Nam Bộ thời Đàng Trong.

Nguyễn Phước Thái (1649 – 1691), lên ngôi chúa năm 1687, tước Hoằng quốc công, hiệu là chúa Nghĩa, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Nghĩa vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Nghĩa hoàng đế, miếu hiệu là Anh tông.

Nguyễn Phước Châu (1675 – 1725), lên ngôi chúa năm 1691, tước Tộ quốc công, hiệu là Quốc chúa, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Minh vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Minh hoàng đế, đạo hiệu là Thiên Túng đạo nhân, miếu hiệu là Hiển tông. Ngoài việc lập dinh Bình Thuận năm 1693, Phước Châu là người cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược Đông Phố, lập phủ Gia Định, mở dinh Phiên Trấn tức khu vực Sài Gòn năm 1698 và cũng là người tiếp nhận nhóm Mạc Cửu đem trấn Hà Tiên quy phụ năm 1708.

Nguyễn Phước Thụ (1696 – 1738), lên ngôi chúa năm 1725, tước Đỉnh quốc công, năm 1744 được truy tôn là Hiếu Ninh vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Ninh hoàng đế, đạo hiệu là Vân Tuyền đạo nhân, miếu hiệu là Túc tông. Dưới đời Phước Thụ, địa bàn Đàng Trong mở rộng thêm dinh Long Hồ tức Vĩnh Long (1732).

Nguyễn Phước Hoạt (1714 – 1765), lên ngôi chúa năm 1738, tước Hiểu quốc công, năm 1744 tự xưng là Vũ vương, năm 1765 được truy tôn là Hiếu Vũ vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Vũ hoàng đế, đạo hiệu là Từ Tế đạo nhân, miếu hiệu là Thế tông. Phước Hoạt là người cử Nguyễn Cư Trinh vào làm Tham mưu Ngũ dinh Gia Định để phối hợp với Đô đốc Hà Tiên Mạc Thiên Tích mở mang vùng An Giang nối liền với trấn Hà Tiên (1757), xác lập bản đồ Việt Nam ở phía nam.

Nguyễn Phước Thuần (1754 – 1777), lên ngôi chúa năm 1765, năm 1778 được truy tôn là Hiếu Định vương, năm 1806 được triều Nguyễn truy tôn là Hiếu Định hoàng đế, đạo hiệu là Khánh Phủ đạo nhân, miếu hiệu là Duệ tông. Phước Thuần lên ngôi lúc còn nhỏ tuổi, bị quyền thần là Quốc phó Trương Phước Loan lấn át, chỉ biết vui chơi, không hiểu gì về chính sự. Năm 1771 Tây Sơn khởi nghĩa, năm 1774 tướng Trịnh Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh, hạ Lũy Thầy, qua 1775 Phước Thuần chạy vào Quảng Nam rồi Gia Định, bị Lý Tài đạo Hòa Nghĩa ép phải nhường ngôi cho Đông cung Phước Dương tức Tân chính vương, lấy danh hiệu là Thái thượng vương. Năm 1777 Tây Sơn đánh vào Gia Định, truy kích Phước Thuần tới Long Xuyên thì bắt được, đem về Gia Định hành quyết ở chùa Kim Chương.

Ngoài ra, cần kể thêm một nhân vật khác là Nguyễn Phước Dương. Thế tông Phước Hoạt có 18 con trai, con thứ chín là Hạo được lập làm thế tử nhưng chết sớm, có con là Dương lúc ấy còn nhỏ, được gọi là Hoàng tôn. Năm 1775 khi Duệ tông Phước Thuần chạy vào Quảng Nam, các bề tôi đi theo xin Duệ tông lập Dương làm thế tử, gọi là Đông cung. Kế Phước Dương bị Tập Đình đạo Trung Nghĩa và Lý Tài đạo Hòa Nghĩa người Hoa trong quân Tây Sơn bắt đưa về Hội An, Nguyễn Nhạc cũng muốn mượn Dương làm chiêu bài chính trị để chống quân Trịnh và gây chia rẽ trong nội bộ chính quyền Đàng Trong nên không giết. Sau Phước Dương trốn được vào Gia Định, lúc bấy giờ Lý Tài đã theo hàng quân Nguyễn nhưng lại làm phản đem quân Hòa Nghĩa chiếm giữ núi Châu Thới chống lại quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn, Phước Dương bèn xin Duệ tông cho tới chiêu dụ. Lý Tài nhân đó làm việc phế lập, ép Duệ tông phải nhường ngôi cho Phước Dương. Đến 1777 Tây Sơn vào Gia Định, truy kích tới Vĩnh Long, bắt được Phước Dương mang về Sài Gòn hành quyết. Năm 1809 triều Nguyễn truy tặng Phước Dương là Mục vương.

Sau khi chiếm lại được Gia Định lần cuối năm 1788, Nguyễn Ánh cho xây miếu thờ các chúa Nguyễn và lăng Duệ tông. Sau khi đánh thắng Tây Sơn năm 1802, năm 1804 Nguyễn Ánh cho dời miếu các chúa Nguyễn ở Gia Định ra Huế, đến 1806 cử hành lễ truy tặng tôn hiệu rất trọng thể theo những miếu hiệu đã kể ở trên.

Các tên gọi Sài Gòn, Sài Côn, Phiên Trấn, Tân Bình, Gia Định, Phiên An…

Khi đề cập tới Sài Gòn, các thư tịch cổ có khi gọi là Sài Gòn – Sài Côn, có khi gọi là Phiên Trấn, Tân Bình, Gia Định, Phiên An… Đây là một tình hình phức tạp, nên phải căn cứ vào tính chất để phân loại các địa danh nói trên.

Sài Gòn là tên gọi một khu vực địa lý, việc tên gọi này không có ý nghĩa trong tiếng Việt cho thấy nó có nguồn gốc bản địa nhưng được Việt hóa. Sài Côn là một tên phái sinh của địa danh Sài Gòn, chỉ xuất hiện trong thư tịch chữ Hán, nhưng đó chỉ là một địa danh ảo vì Côn ở đây là một mã chữ Nôm chứ không phải mã chữ Hán, không thể đọc là Côn mà phải đọc là Gòn. Hiện tượng phụ âm đầu K/ C trong âm Việt Hán chuyển thành G/ Gh trong âm thuần Việt là một quy luật phổ biến, nên trong những trường hợp loại này, các mã chữ Hán loại Kê, Ký, Cận, Côn… đã trở thành mã chữ Nôm để ghi âm các từ Gà, Ghi, Gần, Gòn. Địa danh Sài Gòn xuất hiện từ cuối thế kỷ XVII, đại thể chỉ chung vùng đất nằm giữa cửa Cần Giờ và cửa Ba Rai lên tới biên giới Việt Nam – Campuchia hiện nay. Ngoài ra từ đầu thế kỷ XIX trong bộ phận người Hoa ở địa phương còn lưu truyền một cách ghi âm từ Sài Gòn theo âm Hoa Hán giọng Quảng Đông là Thầy Ngòn, với hai mã chữ Hán đọc theo âm Việt Hán là Đề Ngạn. Có thể coi đây là một hiện tượng tiêu biểu cho hệ thống “chữ Nôm của người Hoa” dùng ghi âm các địa danh thuần Việt, giống như “Thủ Long Mộc” để ghi âm Thủ Dầu Một, “Ná Điều” để ghi âm Lái Thiêu… Tương tự, từ Đồng Nai vốn chỉ khu vực phía nam Bình Thuận, phía bắc cửa biển Cần Giờ lên tới biên giới Việt Nam – Campuchia, có một tên phái sinh Việt Hán hóa là Lộc Dã (Dã = Đồng, Lộc = Nai) và một tên đọc theo âm Hoa Hán là Nông Nại. Năm 1799 có lần quân Tây Sơn ở Bình Định đang đêm kéo tới định đánh úp quân Nguyễn, có một con nai trong rừng chạy ra, toán đi đầu kêu lên “Nai”, toán đi kế giật mình gọi chuyền về phía sau là “Quân Đồng Nai”, những người phía sau tưởng bị quân Nguyễn phục kích hoảng sợ chạy tán loạn, không bị đánh mà tự tan vỡ, câu chuyện trên cho thấy từ Đồng Nai cũng có khi được dùng để chỉ chung cả vùng Nam Bộ.

Phiên Trấn là tên gọi một đơn vị quân sự, từ 1698 là tên một dinh (doanh) ở Nam Bộ. Từ 1744 Đàng Trong được chia làm 12 dinh và 1 trấn là Dinh Cũ (Cựu dinh) ở Ái Tử, dinh Quảng Bình ở An Trạch, dinh Lưu Đồn ở Võ Xá, dinh Bố Chính ở Thổ Ngõa, Dinh Chính (Chính dinh) ở Phú Xuân, dinh Quảng Nam ở Quảng Nam, dinh Phú Yên ở Phú Yên, dinh Bình Khang ở Diên Khánh Bình Khang, dinh Bình Thuận ở Bình Thuận, dinh Trấn Biên ở Phước Long, dinh Phiên Trấn ở Tân Bình, dinh Long Hồ ở Định Viễn và 1 trấn tức Hà Tiên. Theo định nghĩa duy danh, dinh là một phần của trấn, theo quy chế nhà Thanh ở Trung Quốc đều là đơn vị quân đội, dinh có quân số tương đương trung đoàn, trấn có quân số tương đương sư đoàn hiện nay. Nhưng như đã nói ở trên, từ thời Lê trung hưng đến đầu thời Nguyễn, các chính quyền phong kiến Việt Nam đều tổ chức theo kiểu quân chính. Cho nên có thể hiểu dinh Trấn Biên, dinh Phiên Trấn… thời Đàng Trong là các đơn vị hành chính – quân sự, các tiểu quân khu mà viên võ tướng đứng đầu cũng đồng thời là người nắm quyền tối cao về hành chính ở các địa phương.

Tân Bình, Gia Định là hai địa danh hành chính, từ 1698 Tân Bình là một huyện thuộc phủ Gia Định. Cuối thời Đàng Trong vùng Thuận Quảng được gọi là hai xứ tức hai đạo Thừa tuyên theo thể chế nhà Lê, trong đó xứ Thuận Hóa gồm hai phủ Triệu Phong, Quảng Bình, xứ Quảng Nam gồm hai phủ Điện Bàn, Thăng Hoa kiêm quản hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn, trở vào Nam còn có bốn phủ Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Gia Định và trấn Hà Tiên. Đối chiếu thì thấy rõ bốn phủ Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Gia Định có sáu dinh, trong đó riêng phủ Gia Định có ba dinh, tức tuy chỉ có hai huyện (Phước Long, Tân Bình) và một châu (Định Viễn) nhưng được tổ chức thành ba tiểu quân khu Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ.

Đến nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ 1778 trở đi, phủ Gia Định đặt thêm dinh Trấn Định, dinh Long Hồ đổi tên thành dinh Vĩnh Trấn. Đến 1800, phủ Gia Định được đổi làm trấn, gọi là Gia Định trấn, lãnh bốn dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Long Hồ thì huyện Tân Bình cũng được thăng làm phủ Tân Bình. Đến 1808 trấn Gia Định được đổi làm thành, gọi là Gia Định thành tổng trấn, các dinh được thăng làm trấn và đổi tên, dinh Trấn Biên đổi là Biên Hòa ở phủ Phước Long, dinh Phiên Trấn đổi là Phiên An ở phủ Tân Bình, dinh Trấn Định đổi là Định Tường ở phủ Kiến An, dinh Vĩnh Trấn đổi là Vĩnh Thanh ở phủ Định Viễn, tất cả có năm trấn kể cả trấn Hà Tiên đến lúc ấy đã không còn được hưởng quy chế tự trị và thế tập như dưới thời Đàng Trong nữa. Cụm từ “Gia Định thành” trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chính được dùng với ý nghĩa này. Trong thực tế cho đến 1833 Gia Định thành là đại quân khu Nam Bộ của triều Nguyễn, trong đó viên Tổng trấn – Tư lệnh nổi tiếng nhất là Chưởng Tả quân Lê Văn Duyệt.

Sau khi Lê Văn Duyệt chết năm 1832, năm 1833 Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, chia Nam Bộ làm sáu tỉnh Biên Hòa, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long (tức Vĩnh Thanh đổi tên), Hà Tiên và đặt thêm tỉnh An Giang, xóa bỏ đơn vị thành để tập trung quyền lực vào tay chính quyền trung ương, bãi bỏ chế độ quân chính mà đưa văn quan vào vị trí đứng đầu bộ máy hành chính từ trung ương tới địa phương, nhưng lại có những hành động đe dọa một số tướng sĩ thân tín của Lê Văn Duyệt nên đã trực tiếp gây ra vụ binh biến của Lê Văn Khôi. Năm 1835, quân triều đình đàn áp được quân Lê Văn Khôi, phá thành Phiên An, xây thành Gia Định nhỏ hơn trước, lại đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Từ đó trở đi, Gia Định từ chỗ là tên gọi chung của toàn vùng Nam Bộ trở thành tên gọi hành chính chính thức của một trong Lục tỉnh Nam Kỳ, tình hình này kéo dài đến cuối thế kỷ XIX. Qua thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa Pháp thành lập tỉnh (province) Gia Định và thành phố Chợ Lớn bên cạnh thành phố Sài Gòn, làm hình thành cụm Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định trên bản đồ hành chính Nam Kỳ thuộc địa cho đến Cách mạng Tháng Tám 1945.

Chính sách cai trị của chúa Nguyễn ở Gia Định trước khi Tây Sơn khởi nghĩa.

Sau bảy chiến dịch lớn từ 1627 đến 1672 mà không bên nào giành được ưu thế, đôi bên Trịnh Nguyễn cùng nghỉ binh. Tình trạng tương đối hòa bình suốt một trăm năm trước khi Tây Sơn khởi nghĩa đã tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng Việt Nam ở Đàng Trong tiến hành việc khai thác phương Nam. Từ 1679 với việc tiếp nhận nhóm Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch vào khai phá Biên Hòa và Mỹ Tho, chính quyền Đàng Trong đã đặt nền móng cho việc mở mang lãnh thổ tới vùng Nam Bộ. Sau khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định năm 1698, việc khai phá Gia Định càng được được đẩy mạnh. Đến khoảng 1776 huyện Tân Bình đã có hơn 15.000 đinh và 350 thôn, ngoài ra còn lực lượng thuộc binh, tạm binh hình thành từ chính sách “mộ quân gọi dân, chia ruộng chứa thóc” của chính quyền Đàng Trong. Đây là một thành tựu phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa, tổ chức xã hội, bảo vệ biên cương lớn trong hoàn cảnh đương thời, thành tựu này có một phần nguyên nhân là chính sách cai trị phù hợp của các chúa Nguyễn Đàng Trong ở Gia Định.

Về kinh tế, các chúa Nguyễn đều chủ trương khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp nên có chính sách quản lý dễ dãi, thuế má nhẹ nhàng nhằm đẩy mạnh việc khai khẩn đất hoang. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép “Buổi quốc sơ đất Gia Định còn là nơi nhiều rừng rú đầm lầy, mộ dân tới ở, cho tùy tiện lập ấp vỡ hoang (có nơi ở Phiên Trấn mà đánh thuế làm đất Trấn Biên, cũng có nơi ở về Trấn Biên mà đánh thuế làm đất Phiên Trấn), các thửa ruộng đất chỉ ước tính số lượng đại khái, không chia ra hạng tốt hạng xấu”. Ngoài ra hoàn cảnh hoạt động ngoại thương nhộn nhịp trong khu vực đương thời cũng kích thích thương nghiệp ở Nam Bộ trong đó có Gia Định phát triển mau lẹ, và nói chung các chúa Nguyễn đều không có hoạt động nào nhằm hạn chế thương nghiệp hay nắm độc quyền ngoại thương.

Về văn hóa – xã hội, nhằm đạt tới sự thống nhất chính trị và văn hóa ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã chọn lựa hệ thống chuẩn mực xã hội Nho giáo. Năm 1726 Túc tông Phước Thụ ban Huấn điều trên “toàn quốc” kèm theo lệnh cho các phủ huyện phải phổ biến rộng rãi để dân biết dân làm với nội dung kêu gọi tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tuân thủ luật pháp và chống tiêu cực – lành mạnh hóa môi trường xã hội theo lề lối Khổng môn “Đường sá không xa, tua mũ sao che được khó nhọc, thóc tiền hằng có, áo tơi mong chăm việc cấy cày. Khuynh gia bại sản, không còn canh đỏ canh đen, nay rượu mai chè, chớ lại chén anh chén chú. Nay bảo khắp cha con vợ chồng, phải noi theo luân thường Nghiêu Thuấn, chớ trái ta khuyên răn dạy bảo, mà sa vào lưới pháp Thành Thang”, còn năm 1744 Thế tông Phước Hoạt xưng vương hiệu cũng ra lệnh cải cách y phục, thay đổi phong tục trong ý hướng tạo ra sự thống nhất mới về văn hóa ở Đàng Trong mà khẳng định thêm thế đối lập về chính trị với Đàng Ngoài, và các yếu tố chuẩn mực lối sống mới nói trên đã được bài Khuyến tiến biểu của Nguyễn Đăng Thịnh dọn đường bằng các phạm trù lịch sử quan Nho giáo “Chính danh phận ư nhất quốc duy tân chi thủy, Hưng lễ nhạc ư bách niên tích đức chi dư” (Chính danh phận lúc cả nước duy tân, Dấy lễ nhạc sau trăm năm chứa đức). Cần nhấn mạnh rằng Nho giáo về cơ bản mang tính chất “vô thần”, nên thiết chế Nho giáo vô hình trung trở thành mô hình tổ chức xã hội tối ưu cho con người Việt Nam ở Đàng Trong liên tục nhất hóa chứ không đồng hóa nhiều tộc người có tôn giáo – tín ngưỡng khác nhau thành một cộng đồng thống nhất. Điều này đã tác động tích cực tới sự hình thành cộng đồng Việt Nam ở Gia Định, trong đó ngoài người Việt, các tộc người Chăm, Khmer và đặc biệt là người Hoa Minh Hương đã mau chóng hòa nhập thành một cộng đồng chung.

Về tôn giáo, các chúa Nguyễn đều là người mộ đạo Phật, nhưng cũng có những người như Minh Đức vương Thái phi vợ Nguyễn Hoàng theo đạo Thiên chúa. Năm 1699, Hiển tông Phước Châu cấm đạo Thiên chúa, ra lệnh đốt sách đạo, trục xuất giáo sĩ phương Tây và buộc giáo dân người Việt phải bỏ đạo. Năm 1724 lại có lệnh cấm đạo nhưng không kéo dài vì Túc tông Phước Thụ lên ngôi năm 1725 dung nạp đạo Thiên chúa. Đến 1750 dưới đời Thế tông Phước Hoạt, chính quyền lại ra lệnh cấm đạo, phá hủy nhà thờ…, việc cấm đạo này vẫn còn tiếp tục kéo dài dưới đời Duệ tông Phước Thuần, lên ngôi năm 1765. Trong những thời kỳ cấm đạo nói trên, nhiều giáo dân người Việt để giữ đạo mà tránh bị đàn áp, đã tìm vào sống ở vùng đất phía nam vì nhìn chung chính quyền các địa phương ở Nam Bộ trong đó có Gia Định thi hành lệnh cấm đạo rất lỏng lẻo, một phần vì bối cảnh xã hội đa dân tộc ở vùng này tự thân nó cũng ít nhiều là một môi trường mang tính chất tự do tín ngưỡng, một phần cũng vì nhu cầu về nhân lực trong việc khai phá vùng Nam Bộ đất rộng người thưa.

Bộ máy cai trị của chúa Nguyễn ở Gia Định trước khi Tây Sơn khởi nghĩa

Thời Đàng Trong, chính quyền của các chúa Nguyễn được tổ chức theo kiểu quân chính. Đây cũng là mô hình tổ chức chung của các chính quyền ở Việt Nam từ chiến tranh Lê Mạc đến đầu thời Nguyễn, theo đó lực lượng võ tướng nắm giữ binh quyền cũng đồng thời là người đứng đầu hệ thống chính trị – hành chính từ trung ương tới địa phương. Nói rộng ra, mô hình này còn khá phổ biến ở các quốc gia Đông Á, chẳng hạn ở Nhật Bản từ thế kỷ XIV thì các Tướng quân (Shogun) mới thực sự là người cầm quyền, Thiên hoàng chỉ là làm vì. Ở Trung Quốc do nhà Thanh vừa thay nhà Minh cai trị nên quyền lực nhà vua có khác, nhưng bộ máy hành chính cũng tổ chức theo mô hình quân chính với phiên chế Bát kỳ (Bát kỳ người Mãn, Bát kỳ người Hán và Bát kỳ người Mông Cổ). Ở Việt Nam thì các chúa Trịnh từ Trịnh Tùng trở đi đều tự xưng là Đại Nguyên soái Thống quốc chính, còn các chúa Nguyễn từ Hy tông Phước Nguyên trở đi đều tự xưng là Tiết chế thủy bộ chư dinh…, tóm lại đều nắm cả quyền coi quân trị dân.

Sau khi Nguyễn Hữu Cảnh xác lập bộ máy chính quyền Việt Nam ở Gia Định năm 1698, năm 1731 chúa Nguyễn đặt thêm chức Điều khiển thống nhiếp việc binh ở phủ Gia Định, lúc bấy giờ gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, đến 1732 có thêm dinh Long Hồ. Dinh Phiên Trấn đại khái nằm trên khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An hiện nay. Theo quy chế chung của chính quyền Đàng Trong, các dinh đều có võ tướng làm Trấn thủ hay Lưu thủ, ngoài ra dinh Phiên Trấn đặt quan Ký lục, Cai án, Cai bạ mỗi chức 1 viên, sở thuộc có Ty Tướng thần lại gồm 2 viên Câu kê, 3 viên Cai hợp, 7 viên Thủ hợp và 10 người lại viên. Năm 1744 Thế tông Phước Hoạt xưng vương, chia Đàng Trong thành 12 dinh và 1 trấn, vẫn giao cho các võ tướng trấn thủ.

Năm 1748 vua Chân Lạp Nặc Tha (Thomo Reachea II Angk Êm) bị Nặc Nguyên (Angk Snguon) là con của vua cũ Nặc Thâm (Ramatlipadey – Raeah Angk Tong) đem quân Xiêm về đánh đuổi. Nặc Tha thua, chạy qua Gia Định rồi chết ở đó. Nặc Nguyên lên ngôi, xưng là Chey Chetta V. Năm 1750, Nặc Nguyên đem binh lấn hiếp người Côn Man (tức người Chiêm Thành cũ) ở biên giới Đàng Trong – Chân Lạp, phía Bắc lại thông sứ với chúa Trịnh Doanh, hình thành một liên minh đe dọa chúa Nguyễn. Thế tông Phước Hoạt tức giận, năm 1753 sai Cai đội Thiện Chính làm Thống suất, Ký lục dinh Bố Chánh Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu, đem tướng sĩ năm dinh Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ đánh Chân Lạp. Từ đó trở đi phủ Gia Định tuy chỉ có ba dinh nhưng lại thống thuộc việc binh của cả hai dinh Bình Thuận, Bình Khang. Danh hiệu Ngũ dinh ra đời từ đó. Nhờ được mở rộng quyền lực – tăng cường thực lực như vậy nên từ 1753 trở đi các viên Điều khiển, Tham mưu Gia Định từ Thiện Chính, Nguyễn Cư Trinh, Trương Phước Du đã có đủ điều kiện để thực hiện thông suốt chủ trương tàm thực (tằm ăn dâu) trong việc khai thác phương Nam. Năm 1756, tiếp thu đất Tầm Bôn (khu vực từ Cái Bè lên Hồng Ngự, giữa Tiền Giang và Đồng Tháp Mười), Lôi Lạp (khu vực từ cửa biển Soài Rạp qua Gò Công, Bến Tre lên phía nam Đồng Tháp Mười ven Tiền Giang). Năm 1757, tiếp thu đất Tầm Phong Long (vùng An Giang) nối liền với trấn Hà Tiên phía tây sông Hậu, chính thức xác lập bản đồ Việt Nam ở Đàng Trong gần như hiện nay.

Từ chức Điều khiển Gia Định năm 1731 tới chức Điều khiển Ngũ dinh năm 1753, bộ máy cai trị của chúa Nguyễn ở Gia Định trong thực tế là cơ quan đứng đầu bộ máy hành chính – quân sự Việt Nam ở đồng bằng Nam Bộ, chỉ trừ trấn Hà Tiên lúc bấy giờ do cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích nối nhau cai trị theo quy chế tự trị. Chính trên cơ sở này mà sau khi Tây Sơn khởi nghĩa, năm 1775 Duệ tông Phước Thuần chạy vào Nam đã đóng lại ở đây, khiến Gia Định trở thành đại bản doanh, đất tranh chiếm quyết liệt của cả hai bên trong chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn đến 1777 rồi Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ 1778 trở đi.

Nhiệm vụ của Điều khiển Gia Định và Điều khiển Ngũ dinh

Xác lập bộ máy cai trị ở đồng bằng Nam Bộ, chính quyền Đàng Trong cũng phải hành xử các nhiệm vụ ngoại giao trực tiếp liên quan tới quyền lợi của mình ở khu vực này. Tuy nhiên trong hoàn cảnh giao thông liên lạc thời bấy giờ, việc chỉ đạo của triều đình Đàng Trong rất khó tiến hành được một cách kịp thời vì khoảng cách về không gian giữa Phú Xuân với vùng Nam Bộ. Cho nên trong nhiều trường hợp, hệ thống chính quyền của chúa Nguyễn ở Nam Bộ (ở phủ Gia Định và trấn Hà Tiên) phải đảm trách luôn nhiệm vụ ngoại giao với chính quyền Xiêm La và Chân Lạp. Năm 1714 khi Chân Lạp có nội loạn, vua Chân Lạp Nặc Yêm cầu viện hai dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Đô đốc Phiên Trấn Trần Thượng Xuyên và Phó tướng Trấn thủ Trấn Biên Nguyễn Cửu Phú sai người mang thư về tâu, Hiển tông Phước Châu cho phép hai người “tùy nghi xử trí”. Tiền lệ này đưa tới tình hình là ngoài Tổng binh Mạc Cửu từ 1708 đến Đô đốc Mạc Thiên Tích từ 1736 ở trấn Hà Tiên được hưởng quy chế tự trị nên dĩ nhiên phải đảm nhiệm các hoạt động ngoại giao cần thiết, các viên Điều khiển Gia Định từ 1731 rồi Điều khiển Ngũ dinh từ 1753 cũng trở thành một loại Khâm sứ có toàn quyền thay mặt chúa Nguyễn trong hoạt động ngoại giao với các quốc gia lân bang phía nam. Cho nên trong thời gian trước 1775 mức độ phối hợp giữa các tướng lĩnh Đàng Trong ở Hà Tiên và Gia Định là yếu tố quyết định những thắng lợi hay thất bại trên các phương diện cả ngoại giao lẫn quân sự của triều đình Phú Xuân với Ch��n Lạp và Xiêm La.

Năm 1753 Thế tông Phước Hoạt sai Thiện Chánh làm Điều khiển Ngũ dinh, Nguyễn Cư Trinh làm Tham mưu vào Nam đánh Nặc Nguyên vua Chân Lạp gây hấn ở biên cương. Nặc Nguyên thua to, xin hiến đất hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp và nộp bù lệ cống còn thiếu ba năm trước để chuộc tội. Nguyễn Cư Trinh tâu lên, Thế tông Phước Hoạt ưng thuận. Qua 1757 Nặc Nguyên chết, Nặc Nhuận lên làm vua Chân Lạp nhưng bị con rể là Nặc Hinh giết chết cướp ngôi, con Nhuận là Nặc Tôn chạy qua Hà Tiên nương nhờ Mạc Thiên Tích. Điều khiển Ngũ dinh Trương Phước Du thừa thế tiến đánh, Hinh thua chạy rồi bị giết. Trương Phước Du, Nguyễn Cư Trinh và Mạc Thiên Tích tâu lên, Thế tông Phước Hoạt sai Mạc Thiên Tích và tướng sĩ Ngũ dinh đưa Nặc Tôn về nước. Nặc Tôn bèn dâng đất Tầm Phong Long cho chúa Nguyễn, lại nhận Thiên Tích làm cha nuôi, cắt đất năm phủ để tạ ơn, Thế tông Phước Hoạt cho trấn Hà Tiên nhận năm phủ ấy, xác lập bản đồ Việt Nam ở Đàng Trong gần như hiện nay. Nhưng đến 1765 Duệ tông Phước Thuần lên ngôi, triệu Nguyễn Cư Trinh về Phú Xuân, lấy Tống Văn Khôi làm Điều khiển Ngũ dinh thì quan hệ giữa Đô đốc Hà Tiên với Điều khiển Ngũ dinh không còn được như trước nữa. Trong khi đó sau nhiều lần xung đột với vua Xiêm Trịnh Tân, binh lực của Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên dần dần suy yếu. Năm 1771 được tin Trịnh Tân định đánh Hà Tiên, Mạc Thiên Tích phi báo với Điều khiển Ngũ dinh ở Gia Định thì Tống Văn Khôi chần chừ không chịu phát binh cứu viện, cuối năm ấy quân Xiêm tới đánh, Hà Tiên thất thủ. Mạc Thiên Tích chạy qua Kiên Giang rồi tới Trấn Giang (Cần Thơ). Tướng Xiêm là Trần Liên đem thủy quân truy kích, bị Lưu thủ dinh Long Hồ Tống Phước Hiệp chặn đánh, phải bỏ hết chiến thuyền lên bờ chạy bộ, lại bị Cai đội đạo Đông Khẩu (Sa Đéc) Nguyễn Hữu Nhân đón đánh giết mất quá nửa, phải rút về giữ Hà Tiên. Năm 1773 bị quân Việt đánh bại ở Phnom Penh, Trịnh Tân xin giảng hòa, trả lại Hà Tiên nhưng quan hệ bang giao giữa chính quyền Đàng Trong ở Gia Định với chính quyền Trịnh Tân ở Bangkok từ 1775 vẫn rất căng thẳng, tình hình này kéo dài đến khi Rama I lên ngôi vua Xiêm năm 1782.

Kinh tế nông nghiệp ở Gia Định thời Đàng Trong

Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục hoàn thành năm 1777 từng viết “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Đại, cửa Tiểu toàn là rừng rậm hàng mấy nghìn dặm, họ Nguyễn trước đánh nhau với Cao Miên mà lấy được, mới chiêu mộ những dân có vật lực ở các phủ Điện Bàn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn xứ Quảng Nam cho dời tới ở đó, phát chặt mở mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa (…). Người giàu ở các địa phương hoặc bốn năm mươi nhà, hoặc hai ba mươi nhà, mỗi nhà điền nô có khi tới năm sáu mươi người, trâu bò có khi tới ba bốn trăm con, cày bừa cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng 10 tháng 12 thường giã thành gạo bán lấy tiền để ăn tết. Từ sau tháng giêng trở đi là không làm việc xay giã. Bình thời chỉ bán ra Phú Xuân để đổi lấy hàng Bắc, lụa lĩnh trừu đoạn, áo quần tốt đẹp, ít có vải bô (…). Từ cửa biển đến đầu nguồn đi sáu bảy ngày, hết thảy là đồng ruộng, nhìn bát ngát, rộng phẳng như thế đấy, trồng lúa rất hợp, lúa nếp lúa tẻ gạo đều trắng dẻo (…). Các giống lúa đều tháng 5 gieo mạ, mùa thu tháng 7 thì cấy, tháng 11 thì gặt, đến tháng giêng mới xong, tháng 2 làm thóc. Gia Định rất nhiều cau. Ngạn ngữ nói “Gia Định nhất thóc nhì cau”, dân địa phương thường bỏ không thu, cau già lấy hạt bán cho người Tàu”. Cũng trong Phủ biên tạp lục Lê Quý Đôn có ghi lại lời một thương nhân người Bố Chính kể rằng ông ta từng vào buôn bán ở phủ Gia Định hơn mười chuyến (tức từ trước 1767), “thường đi vào tháng 9 tháng 10, về vào tháng 4 tháng 5, thuận gió không quá mười ngày đêm là tới. Mỗi chuyến đi thường qua cửa biển Nhật Lệ, trình trấn quan, vào cửa Eo, trình quan Tào vận, lĩnh giấy phép ra biển, đến xứ Vũng Tàu ở đầu cõi Gia Định là chỗ hải đảo, có dân cư, hạ buồm đậu vào, hỏi thăm nơi nào được mùa nơi nào mất mùa, biết nơi nào được mùa mới đến ở. Trên thì có cửa biển Cần Giờ, ở giữa thì vào cửa biển Soài Rạp (…). Đến chỗ nào cũng là thuyền buồm tụ họp, mặc cả thành giá thì người bán hàng tự sai người nhà khuân hàng xuống thuyền. Một quan tiền quý (360 đồng) mua được 16 đấu thóc, mỗi đấu bằng 3 bát bằng miệng của Hộ phiên, thành 30 bát quan đồng. Một quan tiền được 300 bát quan đồng. Giá thóc rẻ, chưa nơi nào được như thế. Gạo nếp gạo tẻ đều trắng dẻo, tôm cá rất to, béo ăn không hết, dân địa phương thường nấu qua rồi phơi khô để bán”, theo đó có thể thấy kinh tế nông nghiệp ở Gia Định đã mang tính chất sản xuất hàng hóa từ rất sớm.

Bắt đầu từ con số 40.000 hộ (khoảng trên dưới 200.000 người kể cả nam phụ lão ấu) năm 1698, vào năm 1775 cộng đồng Việt Nam ở ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ (không kể trấn Hà Tiên) đã có khoảng 42.500 đinh với hơn 1.300 thôn chính thức chịu thuế của chính quyền, ngoài ra còn khoảng 45.000 quân là lực lượng thuộc binh, tạm binh trong đó dinh Phiên Trấn có 26.000 đinh với 650 thôn và hơn 9.000 quân. Lực lượng nhân lực tương đối đông đảo và điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy khiến đến nửa đầu thế kỷ XVIII vùng Nam Bộ trong đó có Gia Định đã trở thành một vựa lúa lớn của Đàng Trong. Phủ biên tạp lục cho biết trước khi quân Trịnh vào Thuận Hóa “sự buôn bán với Đồng Nai được thông suốt, gạo ở Phú Xuân 10 thưng tức 1 hộc (20 bát quan đồng) chỉ giá 3 tiền, có thể đủ cho một người ăn một tháng”.

Về tình hình chiếm hữu ruộng đất, ngoài các hình thức sở hữu ruộng đất của tư nhân (tư điền), của cộng đồng làng xã (công điền), của chùa chiền (tự điền), sở hữu của nhà nước (quan điền)… thông thường thời phong kiến, nhiều tài liệu cho biết ở Gia Định thế kỷ XVII – XVIII còn có một số hình thức sở hữu trung gian, ví dụ ruộng Châu Phê của Nguyễn Cửu Triêm được Hiển tông Phước Châu đích thân phê chuẩn cho làm quan điền ăn riêng, tức ruộng riêng nhưng được miễn thuế giống như ruộng nhà nước. Nhìn chung việc các tướng lĩnh, quan lại chiếm hữu ruộng đất với quy mô lớn đã khiến việc chiếm hữu ruộng đất ở vùng Nam Bộ thời Đàng Trong có những yếu tố của hình thức lãnh địa, theo đó người nông dân làm thuê cho địa chủ không những bị phụ thuộc về kinh tế mà còn ít nhiều về cả nhân thân. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cũng viết “Lại bắt trai gái người Mọi ở các đầu nguồn, đem bán làm nô tỳ (người đen tóc quăn là người Mọi thực thì giá 20 quan, hơi trắng thì giá chỉ hơn 10 quan), cho tự lấy nhau, sinh đẻ nuôi nấng thành người, cày ruộng làm nghề nghiệp, do đó mà thóc rất nhiều”.

Kinh tế thương nghiệp ở Gia Định thời Đàng Trong

Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn cho biết các điền chủ lớn vùng Gia Định thường bán thóc gạo ra Thuận Quảng, một số tư liệu khác cũng cho thấy từ cuối thế kỷ XVII vùng Gia Định – Hà Tiên đã là một vựa lúa lớn không chỉ ở Đàng Trong mà còn của cả vùng Đông Nam Á, có thể nói là có một nền nông nghiệp sản xuất lương thực hàng hóa tiền tư bản khá phát triển. Sử triều Nguyễn chép sau khi được tiếp nhận cho vào tỵ nạn chính trị ở Đàng Trong năm 1679, Dương Ngạn Địch đem binh thuyền vào cửa Soài Rạp tới đóng lại ở Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên đem binh thuyền vào cửa Cần Giờ tới đóng lại ở Biên Hòa. Sử chép những người Hoa này “vỡ đất hoang, lập phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Đồ Bà (Java) đi lại tấp nập”, theo đó đủ biết từ cuối thế kỷ XVII vùng Gia Định đã có quan hệ ngoại thương khá rộng rãi với nước ngoài.

Năm 1757 chính quyền Đàng Trong định mức thuế cho thuyền buôn nước ngoài “Thuyền Thượng Hải mới tới nộp 3.000 quan, khi về nộp 300 quan, thuyền Quảng Đông mới tới nộp 3.000 quan, khi về nộp 300 quan, thuyền Phúc Kiến mới tới nộp 2.000 quan, khi về nộp 200 quan, thuyền Hải Đông mới tới nộp 500 quan, khi về nộp 50 quan, thuyền Tây Dương mới tới nộp 8.000 quan, khi về nộp 800 quan, thuyền Ma Cao, Nhật Bản mới tới nộp 4.000 quan, khi về nộp 400 quan, thuyền Xiêm La, Lữ Tống (Singapore) mới tới nộp 2.000 quan, khi về nộp 200 quan. Thuyền nào giấu giếm hàng hóa thì có tội, tịch thu cả thuyền lẫn hàng sung công. Thuyền không có hàng hóa thì không cho vào cửa biển”. Trước khi người Việt tiến vào đồng bằng Nam Bộ thì ở Quảng Nam đã có thương cảng Hội An rất phồn vinh và chắc chắn cũng phải có hệ thống thuế vụ khá hoàn chỉnh, nên bảng thuế nói trên rõ ràng đã được ban hành nhằm đáp ứng tình hình ngoại thương mới sau khi lãnh thổ Đàng Trong mở ra tới vùng Nam Bộ. Những tài liệu hiện có chưa cho phép xác định trong thời gian trước khi Tây Sơn khởi nghĩa thương cảng Gia Định đã tiếp đón bao nhiêu thuyền buôn nước ngoài tới buôn bán, song danh sách nói trên cũng cho người ta một ý niệm về các quốc gia và khu vực có quan hệ buôn bán với Gia Định đương thời. Hơn thế nữa, các thương cảng Cù lao Phố, Gia Định đương thời còn là các trạm trung chuyển quan trọng xuất khẩu không chỉ hàng hóa của Gia Định mà còn cả của Campuchia. Trong bài thơ Thu nhật khách trung tác sáng tác năm 1784 ở Campuchia, Trịnh Hoài Đức có viết “Kê ngân Đường cổ hoán lang đầu” (Bạc Miên chú Khách trút mua cau), theo đó đủ thấy thương nhân người Hoa lên Campuchia thu mua hạt cau khô chuyển về Gia Định rồi chở qua Trung Quốc. Đến cuối thời Đàng Trong, Gia Định đã là một đô thị – thương cảng lớn có hoạt động thương nghiệp khá phồn vinh, xuất khẩu không chỉ các sản phẩm nội địa của riêng vùng Nam Bộ. Đặc biệt, đời sống xã hội đa dân tộc tại địa phương đương thời còn góp phần làm hình thành ở đây các hệ thống hoạt động kinh tế theo tộc người trong đó nổi bật là hệ thống thương nghiệp của người Hoa, một hệ thống đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập diện mạo kinh tế của cộng đồng Việt Nam ở địa phương. Theo những tư liệu hiện có thì có thể xác quyết hệ thống này đã hình thành ở Gia Định từ cuối thời Đàng Trong. Năm 1782 khi Hộ giá Phạm Ngạn của Tây Sơn bị tướng Trần Công Chương quân Hòa Nghĩa giết chết, Nguyễn Nhạc căm hận ra lệnh tàn sát tất cả người Hoa “không kể mới cũ” ở Sài Gòn để trả thù thì số người Hoa bị giết đã lên tới hàng vạn. Có thể nói thêm rằng chính lối hành động theo cảm tính mang tính chất hủy diệt xã hội này cũng là một lý do khiến Tây Sơn không tạo được cơ sở quần chúng của mình ở Nam Bộ trong đó có Gia Định – ngoài hàng tướng Đông Sơn Đỗ Nhàn Trập, hầu như không có người Nam Bộ nào khác được xếp vào hàng các danh tướng, đại tướng của Tây Sơn…

Tiền tệ ở Đàng Trong

Ngoài tiền giấy chỉ có trong đời Hồ Quý Ly, thời phong kiến Việt Nam dùng tiền kim loại hình tròn có lỗ vuông (trong vuông ngoài tròn – tượng trưng trời tròn đất vuông) như Trung Quốc. Tuy nhiên vào khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII do có kinh tế ngoại thương phát triển nên Đàng Trong thu hút khá nhiều loại tiền từ Đàng Ngoài cũng như Trung Quốc, Nhật Bản, Chân Lạp, thậm chí cả tiền tệ của một số nước phương Tây. Hệ thống tiền tệ thời Đàng Trong do đó rất phức tạp, ở đây chỉ giới thiệu đại lược.

Căn cứ vào Lịch đại cổ tiền đồ thuyết (Đinh Phúc Bảo biên soạn, Đái Bảo Bình tham gia giám định, Thượng Hải thư điếm, 1940, được Thượng Hải thư quán ảnh ấn tái bản năm 1985) thu thập 3.131 loại tiền cổ của nhiều nước như Triều Tiên (Lưu Cầu), Nhật Bản, An Nam (Việt Nam), có thể nói ngoài các loại tiền của nhà Mạc và nhà Lê trung hưng như Quang Bảo thông bảo, Sùng Minh thông bảo, Nguyên Chính thông bảo, Khai Tiến thông bảo, Vĩnh Định thông bảo (đúc trong đời Mạc Phúc Nguyên), Nguyên Hòa thông bảo (đúc trong đời Lê Trang tông), Gia Thái thông bảo (đúc trong đời Lê Thế tông), Vĩnh Thọ thông bảo (đúc trong đời Lê Thần tông), Vĩnh Thịnh thông bảo, Bảo Thái thông bảo (đúc trong đời Lê Dụ tông) lưu hành ở Thuận Quảng thế kỷ XVI rồi Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII, ở Đàng Trong còn có các loại tiền Thái Bình thông bảo đúc từ đời Thái tổ Nguyễn Hoàng, An Pháp nguyên bảo đúc từ đời Túc tông Phước Thụ (về sau Đô đốc trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tích cũng được chúa Nguyễn cho đúc tiền này), Thiên Minh thông bảo (tiền kẽm) đúc trong đời Thế tông Phước Hoạt. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết các chúa Nguyễn Đàng Trong có lệ khi mới lên ngôi thì theo kiểu tiền Thái Bình của nhà Mạc mà đúc tiền gián (tức mỗi quan có 600 đồng) nhỏ, trên có chữ Thái Bình. Hiện nay có tới hàng chục loại tiền Thái Bình bằng đồng và kẽm với nhiều mẫu mã, kích thước khác nhau. Vì Đàng Trong không có mỏ đồng, nên chính quyền Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII phải thu mua đồng đỏ mà các tàu buôn Nhật Bản chở tới, vào thế kỷ XVIII giá khoảng 45 quan/ 100 cân. Các tàu buôn từ Trung Quốc tới nếu có chở đồng đỏ cũng phải khai báo để chính quyền theo giá thu mua, mua không hết mới được bán cho dân gian. Mặc dù đã dùng nhiều biện pháp song vẫn không khắc phục được tình trạng thiếu nguyên liệu đúc tiền, nên các chúa Nguyễn lại cho mua các loại tiền cổ ở Trung Quốc để sử dụng. Tiền thời Đường có Khai Nguyên thông bảo, Càn Nguyên trọng bảo, các loại tiền Bắc Tống (960 – 1161), Nam Tống (1163 – 1282), tiền thời Nguyên (1271 – 1367), tiền thời Minh (1368 – 1643) số lượng không nhiều ở Trung Quốc nhưng cũng có mặt ở Đàng Trong, trong số này cũng có tiền của các nước Kim, Liêu. Các thương nhân Trung Quốc cũng đưa tới Đàng Trong các loại tiền thời Thanh như Thuận Trị, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long…, thương nhân Nhật Bản thì đưa tới Đàng Trong tiền Khoan Vĩnh (Nhật Bản), tiền Thường Bình (Triều Tiên). Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cũng viết “Từ năm Canh thân (1740) về trước, ở bốn trấn (Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây chung quanh Thăng Long) tiền ấy còn nhiều, từ năm Quý hợi (1743), Giáp tý (1744) về sau thì ít thấy. Năm Giáp ngọ (1774) quân nhà vua (tức quân Trịnh) vào Thuận Hóa, kê biên kho tàng thấy hơn 30 vạn quan xâu bằng mây, đều là tiền tốt, một đồng không lẫn, mới biết từ trước đều do thuyền buôn chở vào đấy (…). Họ Mạc đúc tiền gián nhỏ, có mấy chữ “Thái Bình an pháp” (gọi là tiền gián), cũng vì thuyền chở mà chạy cả vào Thuận Hóa”. Ngoài ra từ thế kỷ XVIII, các lái buôn Bồ Đào Nha đã đem nhiều loại tiền bằng bạc phương Tây sang Đàng Trong, đến 1746 một người Pháp tên là Pièrre de la Poivre lại đề nghị chúa Nguyễn cho lưu hành đồng tiền bằng bạc của Công ty Đông Ấn đúc. Họ đã đưa qua hai loại bạc, một loại hình tròn trị giá 780 tiền, một loại hình vuông trị giá 768 tiền, nhưng dân Việt không thích hai loại bạc này vì pha nhiều tạp chất. Nhìn chung ở Đàng Trong phổ biến lưu hành hai loại tiền đồng và kẽm với nhiều hiệu tiền của nhiều triều đại, nhiều quốc gia. Nếu so sánh thì tiền của nước ngoài nhiều hơn trong nước, tiền giả nhiều hơn tiền thật, tiền kẽm nhiều hơn tiền đồng.

Qua thế kỷ XVIII, vì Đàng Trong cấm mang tiền đồng xuất cảnh nên thương nhân người Hoa tới Đàng Trong hay phá tiền đồng đúc tượng Phật, lư hương… mang về Trung Quốc nấu chảy rồi pha thêm chì thiếc đúc tiền đồng giả đưa qua lại, tiền đồng cổ ngày một ít, nên năm 1725 lúc Túc tông Phước Thụ vừa lên ngôi đã phải cho đúc thêm tiền đồng. Từ đời Thế tông Phước Hoạt bắt đầu mua kẽm của Hà Lan để đúc tiền, “vành và nét chữ theo dáng tiền Tường Phù thời Tống”. Lúc mới đúc tiền rất cứng dày, nhưng về sau các nhà giàu có thần thế tranh nhau xin đúc thêm, gọi là tiền Thiên Minh thông bảo, trộn cả chì vào, tiền ngày càng nhỏ mỏng, có thể bẻ gãy được. Dân gian chê tiền xấu, mua bán không thông, thuyền buôn nước ngoài cũng không lấy. Nhà giàu chứa cất tiền không dùng được, không chịu bán thóc ra, vì thế giá gạo cao vọt. Lê Quý Đôn ghi nhận về tình hình lạm phát nói trên như sau “Họ Nguyễn trong khoảng ba năm Bính dần (1756), Đinh mão (1757), Mậu thân (1758) đúc tiền kẽm cộng 72.396 quan”, theo đó đủ biết số tiền kẽm được đúc ra còn nhiều hơn. Số lượng kẽm của Hòa Lan nhập vào quá lớn, việc mở lò đúc tiền là nguồn lợi, mà đúc tiền lại là công việc dễ dàng, ai cũng làm được. Theo P. Poivre, cứ một tạ kẽm giá 14 quan nếu đúc ra tiền thì được từ 40 đến 50 quan, nghĩa là vốn một lãi hai. Chúa Nguyễn lại thả nổi việc đúc tiền, cho tư nhân tự do mở lò, nên không kiểm soát được số lượng tiền kẽm lưu hành. Sai lầm này trong chính sách tài chính của chính quyền đã dẫn tới việc lạm phát tiền tệ ở cấp vĩ mô, và sự đình đốn của kinh tế thương nghiệp đã tác động tiêu cực tới các ngành sản xuất vật chất khác như nông nghiệp, thủ công nghiệp và khai thác nguồn lợi tự nhiên, phá hoại nền tảng kinh tế của xã hội Đàng Trong từ giữa thế kỷ XVIII. Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ này đã dẫn tới các biến động xã hội to lớn mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Tổng quan về sinh hoạt văn hóa – xã hội ở Gia Định thời Đàng Trong

Tìm hiểu sinh hoạt văn hóa – xã hội ở Gia Định thời Đàng Trong, dễ nhận thấy ở đây có hai hệ thống chủ yếu, tức các yếu tố kiểu Việt truyền thống và các yếu tố đang được Việt hóa. Sự đan xen giữa các yếu tố này với nhiều kiểu thức và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau tạo ra một bức tranh văn hóa – xã hội nhiều màu nhiều vẻ trong đó có những chỗ chỉ mới là những nét phác họa. Bức tranh ấy sẽ trở nên rõ ràng hơn mặc dù chưa hẳn là hoàn chỉnh hay đẹp đẽ sau khi nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc năm 1802.

Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cho biết ở Gia Định phong tục gồm đủ lễ quan hôn tang tế, việc cưới gả thì tầng lớp nho sĩ làm đủ sáu lễ (nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, định thân), còn dân gian cũng có tục tới nhà gái làm rể trước rồi sau mới cưới… Về tang tế thường theo nghi thức Nho giáo hay Phật giáo. Có người cư tang theo đạo Phật, cúng cơm chay 49 ngày mới thôi. Cũng có người tin thầy địa lý, quàn quan tài có khi cả năm chờ tìm ngôi đất tốt, tục lệ này là chịu ảnh hưởng của người Hoa. Phong tục nhà có người sinh thì lấy một đoạn củi đã tắt lửa, bẻ cây cau buộc củi ngang lại dựng ngay trước cửa, như sinh con trai thì trở đầu củi đã tắt lửa vô trong nhà, sinh con gái thì trở đầu củi ra ngoài ngõ, để làm dấu hiệu ngăn chặn. Những người có vía không tốt như sản nạn không nuôi con được, mắc các bệnh huyết vựng (xây xẩm), nhi chẩm (tục gọi máu nhà con) hay có hung táng vân vân… đều không cho vào. Sản phụ nằm trên giường, bên dưới để lửa than đỏ ngày đêm không dứt, lại lấy nồi lửa để chận hơ trên bụng mỗi ngày một hai lần, ăn những thức cay mặn khô táo, uống nước thì tùy theo hương tục gia tục, có khi quen dùng thuốc nam lấy rễ cây vằm nhỏ nấu nước uống thường. Khi đầy tháng ra ngoài thì dùng củ nghệ thoa khắp người để ngăn gió, đầy tháng làm bánh trôi nước cúng tạ Mười hai bà mụ, con trai thì lui một ngày, con gái thì lui hai ngày làm lễ đầy tháng. Trẻ được đầy năm thì làm lễ tôi tôi như tục Trung Hoa. Nhìn chung hệ thống các phong tục nói trên thể hiện quan niệm hoàn chỉnh về vòng đời (sinh lão bệnh tử) của con người địa phương, đây cũng không phải là chuyện gì lạ đối với một tập thể đã có hàng ngàn năm lịch sử như người Việt. Điều đáng chú ý là quan niệm ấy được vật thể hóa qua một hệ thống phong tục có nội dung khoa học và trình tự nghi thức phong phú mà không thuần nhất, ví dụ truyền thống y tế dân gian qua việc bảo vệ sản phụ mới sinh “nước uống thì tùy theo hương tục gia tục” hay trong tang tế “thường theo nghi thức Nho giáo hay Phật giáo”. Ngoài ra cũng còn các phong tục như ăn Tết âm lịch phản ảnh quan niệm về chu kỳ thời gian hay thờ cúng ông bà phản ảnh quan niệm về gia đình gia tộc…

Vùng Gia Định khi mới khai thác có lưu dân người Việt, người Hoa, người phương Tây, Khmer, Java tới sinh sống, y phục vật dùng đều theo tập tục riêng. Tuy nhiên theo thời gian thì các hệ thống văn hóa tộc người này cũng đan xen vào nhau, tạo ra nhiều phức thể song ngữ và song văn hóa. Trên nhiều phương diện văn hóa tinh thần như phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tình hình này lại càng rõ nét. Cùng với sự phát triển của kinh tế thương nghiệp, tình hình nói trên tạo ra diện mạo đô thị khá đậm nét trong trong sinh hoạt xã hội ở vùng này.

Về tôn giáo, giống như phần lớn nhân dân Đàng Trong, cư dân người Việt và người Hoa ở Gia Định chủ yếu theo Phật giáo (đại thừa). Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép năm 1744 có một người Minh Hương tên Lý Thoại Long quyên tiền xây chùa Giác Lâm (tức chùa Cẩm Sơn) và năm 1755 có một nhà sư du phương là Đạt Bổn từ Quy Nhơn vào lập chùa Kim Chương, chùa này được Thế tông Phước Hoạt ban cho tấm biển đề “Kim Chương tự”. Ngoài ra, theo những mục lục do các giáo sĩ Rivoal, Graaff và Philippe de la Conception lập, hiện được lưu giữ tại Văn khố Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris (Archives des Missions Etrangères de Paris – A.M.E) thì trong thời gian này cư dân ở “Provincia Raigon” (tỉnh Sài Gòn, đây chỉ Nam Bộ) cũng có nhiều người theo đạo Thiên chúa, và theo G. Taboulet, La geste Francaise en Indochine, Andrien Maisonneuves, Paris, 1955, thì trước 1771, giáo đoàn Thiên chúa tại Nam Bộ có khoảng 100.000 giáo dân.

Về giáo dục học hành, thì người Gia Định thời Đàng Trong chủ yếu theo cái học Nho giáo, cũng học các kinh sử loạiTứ thư Ngũ kinh, Tư trị thông giám… Các tài liệu còn lại đến nay cho biết trước khi Duệ tông Phước Thuần chạy vào Gia Định, ở đây đã có những người như Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật mở trường dạy học trò, trong đó Võ Trường Toản uẩn súc về Kinh học, nổi tiếng với cái học tri ngôn dưỡng khí, còn Đặng Đức Thuật nổi tiếng hay thơ, được người đương thời tôn xưng là “Đặng gia sử phái”, ngoài ra còn có những nhà nho như Phạm Đăng Long (cha Phạm Đăng Hưng) học rộng kinh sử, được tôn xưng là Kiến Hòa tiên sinh. Nhưng tầng lớp nho sĩ ở Gia Định hình thành khá muộn, đến sau khi Duệ tông Phước Thuần chạy vào Nam mới chính thức định hình như một tầng lớp có những sinh hoạ
t văn hóa – xã hội độc lập.

Tình hình người Hoa tới cư trú ở Nam Bộ thời Đàng Trong

Sau những đợt di trú tỵ nạn chính trị của các di thần phản Thanh phục Minh cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, người Hoa vẫn tiếp tục di trú xuống vùng Đông Nam Á trong thời gian sau đó. Nhiều người trong số này đã dừng lại ở Việt Nam mà đặc biệt là Nam Bộ, khu vực có kinh tế thương nghiệp khá phát triển và cũng là một địa chỉ văn hóa quen thuộc, một xứ sở “đồng văn”. Dĩ nhiên trong dòng di dân nhập cư vì lý do kinh tế này có đủ mọi hạng người như ghi chép trong các sử sách cho thấy, chẳng hạn gã khách thương phiêu lưu Lý Văn Quang tự xưng Đông Phố đại vương họp bọn nổi loạn ở dinh Trấn Biên năm 1744, tên cướp biển Hoắc Nhiên tung hoành trong vịnh Thái Lan toan đánh cướp trấn Hà Tiên năm 1765, toán Hòa Nghĩa quân vốn là khách thương người Hoa dưới quyền Lý Tài sau khi ly khai Tây Sơn vào Nam Bộ tôn lập Nguyễn Phước Dương thì thổ phỉ hóa, lộng hành tới mức công nhiên mổ bụng người ta lấy gan uống rượu năm 1776, hay rộng ra có thể kể thêm đám hải tặc dư đảng Bạch Liên giáo Tứ Xuyên dưới quyền Hà Hỷ Văn trước khi quy phục Nguyễn Ánh năm 1787… Sau khi chiếm lại Gia Định lần cuối năm 1788, Nguyễn Ánh chủ trương dùng thương nghiệp làm phương tiện biến sức mạnh kinh tế của đồng bằng Nam Bộ thành trang bị kỹ thuật cho quân đội để chống Tây Sơn nên có chính sách dễ dãi với thương nhân nước ngoài, điều này cũng thu hút thương nhân Trung Quốc tới Gia Định làm ăn buôn bán, thậm chí năm 1798 Ngô Nhơn Tịnh thừa lệnh Nguyễn Ánh mang “quốc thư” của chính quyền Gia Định qua Quảng Đông thăm dò tin tức Lê Chiêu Thống cũng là quá giang thuyền buôn Hoa Nam. Cho nên có thể chia người Hoa ở Nam Bộ thành hai bộ phận chính tương ứng với thời điểm và lý do di trú: bộ phận thứ nhất bao gồm những người Hoa phản Thanh phục Minh qua Việt Nam tỵ nạn chính trị cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII như Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu và hậu duệ của họ vẫn được gọi chung là Minh Hương, bộ phận thứ hai bao gồm những người Hoa qua Việt Nam làm ăn sinh sống từ giữa thế kỷ XVIII trở đi. Quá trình Việt hóa của hai bộ phận này vì vậy cũng khác nhau về tính chất: nếu những người như Phụ quốc Đô đốc Trần Thượng Xuyên, Tổng binh Mạc Cửu và hậu duệ của họ như Trần Đại Định, Mạc Thiên Tích… đã hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam trước hết theo con đường chính trị thì bộ phận thứ hai lại từng bước Việt hóa theo con đường kinh tế – xã hội, hai con đường này để lại dấu vết của chúng khá rõ ràng trong sinh hoạt văn hóa của người Hoa ở Nam Bộ trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Chẳng hạn người Hoa Minh Hương ở Nam Bộ các thế kỷ trước được tổ chức thành đơn vị “xã” như Thanh Hà xã, Minh Hương xã nên xã Minh Hương ở Gia Định có đình (đình Minh Hương Gia Thạnh) còn các nhóm người Hoa thuộc bộ phận thứ hai được tổ chức thành đơn vị “phủ” rồi “bang” như phủ Phước Châu, phủ Chương Châu, phủ Triều Châu, phủ Ninh Ba rồi bang Phúc Kiến, bang Triều Châu, bang Hải Nam…, hoàn toàn không có đình nhưng hoặc chung hoặc riêng đều có hội quán.

Nhìn chung việc các nhóm di dân người Hoa nhập cư với quy mô lớn như vậy đã ảnh hưởng đáng kể tới diện mạo văn hóa của cộng đồng Việt Nam ở Nam Bộ trong đó có Gia Định, chẳng hạn trên phương diện ngôn ngữ họ đã đưa vào Đàng Trong cách đọc Huỳnh, Phước, Võ theo Minh âm, Thanh âm thay thế cách đọc Hoàng, Phúc, Vũ theo Đường âm mà nhiều người vẫn ngộ nhận là do kiêng húy, hay hệ công cụ sản xuất và sinh hoạt cũng như nhiều phong tục quan hôn tang tế có nguồn gốc Hoa Nam du nhập đã góp phần làm phong phú thêm sinh hoạt vật chất và tinh thần của cộng đồng Việt Nam ở địa phương…

Tín ngưỡng ở Gia Định thời Đàng Trong

Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí cho biết người Gia Định hay chuộng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần như Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Hỏa Tinh, Cô Hồng, Cô Hạnh… Việc thờ cúng nữ thần là một đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á vốn bước ra khỏi xã hội thị tộc mẫu hệ muộn hơn văn hóa Đông Á, nên tình hình nói trên ít nhiều cho thấy màu sắc Đông Nam Á khá đậm nét trong văn hóa Việt Nam ở Gia Định thời Đàng Trong. Màu sắc này còn thể hiện qua các hoạt động ma thuật bùa ngãi như Trịnh Hoài Đức miêu tả “Người ở thôn dã có việc thù hiềm nhau thì tới chỗ miếu xưa hoặc chỗ ngã ba đường chặt cây chuối trồng ngược đầu lại rồi xé con gà để lên trên, đem tên họ của người thù thầm đọc thần chú, người ấy có khi ngẫu nhiên đau ốm hoặc bị tai ách, ấy là bắt chước theo Man tục xấu xa”. Sự pha trộn tín ngưỡng của nhiều nhóm cư dân như thế ít nhiều thể hiện qua hệ thống đền miếu ở Gia Định trước 1802. Trong Gia Định thành thông chí Trịnh Hoài Đức có ghi nhận về miếu Hải thần thờ Nam Hải tứ vị tôn thần đưa thêm Hà bá Thủy quan Ngọc lân ở sông Phước Bình vào phối tự ở cửa biển Cần Giờ trấn Phiên An, miếu Thành hoàng thờ thần Thành hoàng trong trấn, miếu Hỏa Tinh cạnh chợ Điều khiển thờ Hỏa Tinh nương nương, dân gian quen gọi là Bà Hỏa. Ở dinh Trấn Biên ngoài miếu Hỏa Tinh còn có Văn miếu thờ Khổng Tử, được xây dựng năm 1715 dưới đời Hiển tông Phước Ch��u, miếu Quan Đế ở phía nam cù lao Phố dựng năm 1694, đền Long Vương phía nam sông Phước Giang do Thống suất Nguyễn Cửu Vân dựng dưới đời Hiển tông Phước Châu, đền Ngũ công (Năm Ông) ở đầu nguồn Băng Bột thờ cúng Tà Mã quốc công, Tà Môn quận công, Tà Nông quận công, Tà Việt quận công, Tà Khuông quận công, là lấy tên năm ngọn thác hiểm theo tiếng dân tộc ít người mà đặt ra. Ngoài ra còn phải kể tới các đền miếu thờ một số văn thần võ tướng thời Đàng Trong được dân gian thần linh hóa và thờ phụng như đền Giáp công thờ Giáp lãnh hầu, đền Diên công thờ Diên lộc hầu Nguyễn Diên, đền Lễ công thờ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh…

Thời Đàng Trong ở Gia Định còn có tục thờ cá voi. Tương truyền cá voi tính từ thiện biết cứu giúp người, thường đuổi các loài cá khác vào lưới dân chài, nếu gặp thuyền đi biển bị chìm thì đưa người vào bờ, ngư dân Việt Nam từ miền Trung trở vào Nam rất tôn kính, gọi là cá ông, gặp cá voi chết là góp tiền mua vải và quan tài chôn cất, dựng miếu để thờ, còn cử ra người “trưởng nam” lo việc cúng tế. Tập tục dân gian này chi phối điển lễ nhà nước tới mức chính quyền phong kiến cũng phong cá voi làm Nam Hải tướng quân.

Sau thời Đàng Trong, đời sống tín ngưỡng ở Gia Định phát triển trong một hoàn cảnh phức tạp hơn. Vào cuối thế kỷ XVIII, ở địa phương xuất hiện ngày càng nhiều các yếu tố tín ngưỡng “cung đình” với những chế định của giai cấp thống trị và tầng lớp trên. Năm 1791 chính quyền Nguyễn Ánh định lệ lễ ở Văn miếu và các miếu dự tự điển (được đưa vào điển lễ thờ cúng của quốc gia), năm 1795 cho dựng miếu Hội đồng ở Gia Định để thờ “Âm dương thượng trung hạ tam đẳng chư linh thần”. Sự pha trộn nhiều hệ thống tín ngưỡng khác nhau như vậy có lúc cũng đưa tới những tình huống kỳ quái, chẳng hạn năm 1791 gặp lúc hạn hán Nguyễn Ánh đã sai quan ra không những các đền linh thần, đền Long vương mà cả Văn miếu để làm lễ cầu mưa, tóm lại ngay cả Khổng Tử có khi cũng bị điều động đi làm những việc ngoài chức năng giáo dục… Tương tự, trong Gia Định thành thông chí hoàn thành đầu thế kỷ XIX Trịnh Hoài Đức từng viết rằng mỡ cá voi có thể làm thuốc “trị đậu mùa, phong nhiệt và đỏ mắt”, xem ra vị Nam Hải tướng quân dự tự điển này có lúc cũng chỉ được coi như một loại động vật hoang dã có thể cung cấp dược liệu như mật gấu lộc nhung… Mặt khác do tác động của chiến tranh, cuối thế kỷ XVIII trong con người địa phương cũng xuất hiện một khuynh hướng tâm lý phi tín ngưỡng coi thường cả ma quỷ lẫn thánh thần…

Tương truyền thời Đàng Trong ở Gia Định có cô gái nhà giàu hâm mộ một người học trò nhưng không dám nói ra, người học trò biết tình ý cũng ái mộ nàng nhưng vì nhà nghèo không dám đánh tiếng mai mối. Cô gái tương tư mắc bệnh chết, cha mẹ thương con quàn lại không chôn, người học trò tới lều quàn quan tài khóc lóc rồi thắt cổ chết theo, người ta bèn quàn cả hai ở đó. Về sau cha mẹ cô gái chết, không ai cúng tế, quanh lều cỏ dại mọc dày, âm khí ngưng kết, lâu ngày hai người thành ma hiện hình phá phách, cư dân quanh vùng rất khổ, nhân gọi con rạch gần đó là rạch Đôi Ma (rạch này nay thuộc tỉnh Long An). Nhưng có lần quân Tây Sơn đi ngang qua, nghe chuyện ấy phát ghét bèn chĩa đại bác trên chiến thuyền bắn luôn mấy phát rồi phóng hỏa đốt cháy cả lều lẫn quan tài, từ đó ma quỷ tuyệt tích.

Năm 1780, Nguyễn Ánh sai Đỗ Thanh Nhơn đem quân lên Quang Hóa (Tây Ninh) lấy gỗ sao đóng chiến thuyền. Ở đó có một cây sao lâu năm, ban đêm thường có lửa sáng như hai ngọn đèn, người trong vùng đều kính sợ tránh xa, nên cây ấy cao lớn không cây nào bằng. Lúc ấy quan quân vào tới, ai vung rìu đốn thì lập tức bị thổ huyết mà chết, khiếp sợ truyền nhau kiêng cữ. Đỗ Thanh Nhơn nghe báo bèn đem lệnh tiễn tới ra lệnh “Quân sĩ kẻ nào lẩn tránh phải xử theo quân pháp”. Quan quân sợ tướng lệnh đành xúm vào đốn, chợt có ánh lửa như dải lụa từ thân cây xẹt ra vang thành tiếng rồi bay đi, thân cây có nhựa chảy ra dầm dề đỏ như máu, từ đó hạ gỗ không bị trở ngại nữa.

Trước Tết âl. năm Tân dậu 1801, Ty Chiêm hậu dâng sớ nói “Tháng giêng đầu năm có lệ chọn ngày tốt ra quân, xét từ ngày 15 (sinh nhật của Nguyễn Ánh) trở về trước chỉ có ngày Kỷ mùi mùng 6 là tốt nhất, nhưng hiềm có Lục hại nên chưa dám quyết”. Nguyễn Ánh lúc ấy đang đóng quân ở Quy Nhơn được sớ bèn truyền dụ cho Lưu trấn thần ở Gia Định rằng “Việc xuất quân rất quan trọng, nếu chưa xuất quân thì ngày khánh tiết Vạn thọ không dám nổ súng, như thế sao cho thành lễ. Vả lại trong Lục hại thì Tý hại Mùi, nay Đông cung làm chủ tướng, tướng mệnh ở Tý (Cảnh sinh năm Canh tý 1780) thì có hại gì. Cứ dùng ngày ấy ra quân, đừng câu nệ quá”. Lối biện bác Đông cung Cảnh mạng Tý có thể hại Mùi chứ không bị hại để tiện việc tổ chức sinh nhật có bắn đại bác cho thêm phần long trọng của Ánh kể cũng khôn ngoan, có điều ngẫu nhiên là không may sau Tết âl. hơn một tháng thì Cảnh mắc bệnh đậu mùa rồi chết, hưởng dương 21 tuổi!

Sinh hoạt văn nghệ ở Gia Định trước 1802

Trong điều kiện tư liệu hiện nay rất khó tìm hiểu cụ thể về sinh hoạt văn nghệ của người Việt thế kỷ XVIII, nhưng một số ghi chép rải rác trong các thư tịch cổ cũng có thể cho người ta được một ý niệm về sinh hoạt văn nghệ ở Gia Định trước 1802.

Về sinh hoạt văn nghệ trong cung đình, từ cuối thế kỷ XVII nhà sư Trung Hoa Thạch Liêm đã được Hiển tông Phước Châu sai đội Tiểu hầu biểu diễn văn nghệ chiêu đãi hai lần, một lần xem ca vũ nhạc trong đó các nghệ nhân cung nữ múa khúc Thái liên (Hái sen), một lần xem diễn kịch (tuồng), rõ ràng đó là lực lượng “quan kỹ” tức các nghệ nhân làm việc biểu diễn phục vụ vua quan trong biên chế cung đình. Năm 1769 Duệ tông Phước Thuần lại sai các châu huyện lập bạn Du xuân, mỗi bạn 15 người (Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép mỗi bạn 50 người, có lẽ văn bản bị lầm từ “thập ngũ” thành “ngũ thập”, đây theo Đại Nam Thực lục Tiền biên), tiền thuế mỗi người 1 quan, xem ra cũng là một loại quan kỹ nhưng có hoạt động biểu diễn rộng rãi hơn, không chỉ giới hạn trong phạm vi phục vụ cho chính quyền. Tình hình này cũng lặp lại trong thời gian 1788 – 1802, chẳng hạn năm 1791, khi chính quyền Gia Định định nghi thức tiết Vạn thọ (tức sinh nhật của Nguyễn Ánh, vào ngày 15 tháng giêng âm lịch) thì có tiết mục “Tiểu hầu hát múa”, và cuối năm 1790, chính quyền Gia Định cũng “đặt ra mười bạn Du xuân biệt nạp, sai Cai cơ Ngô Công Quý cai quản (mỗi bạn 15 người, nộp tiền sưu 600 quan, thuế thân cũng như quân hạng)”, tức ngoài thuế thân, 150 người này phải nộp thuế thu nhập 4 quan/ người/ năm, cao gấp bốn lần so với thời Đàng Trong.

Về sinh hoạt văn nghệ trong dân gian, ngoài những hình thức hò hát vui chơi dân dã cũng có các hình thức biểu diễn ca múa nhạc và kịch (tuồng) của những người kinh doanh biểu diễn nghệ thuật. Việc Thế tông Phước Hoạt ra lệnh “cấm ca xướng trong một trăm ngày” ở Phú Xuân lúc hoàng tử thứ chín là Nguyễn Phước Hạo chết tháng 2 năm Canh thìn 1760, sự kiện Ký lục Trấn Biên Đặng Đại Độ giết chết hai viên Cai đội hầu cận cậy thế ra chợ Trấn Biên “bắt ca nhi, làm nhiều điều bậy bạ” sau 1761 chép trong Đại Nam Liệt truyện Tiền biên hay bài thơ Manh kỹ tả một người ca nhi mù ở Sài Gòn của Trịnh Hoài Đức năm 1786 cho thấy đến thế kỷ XVIII ở các khu vực đô thị ở Đàng Trong lực lượng nghệ nhân sinh sống bằng việc kinh doanh biểu diễn nghệ thuật đã rất phổ biến. Ngoài ra căn cứ vào câu Đông cung Cảnh nói với Ngô Tòng Châu “Người xưa chế nhạc để cảm động trời đất quỷ thần, nay thì cúng tế ở đình miếu lại theo tục lệ dùng bọn nữ nhạc phường tuồng, rất là vô vị”, có thể thấy từ cuối thế kỷ XVIII, hoạt động biểu diễn văn nghệ đã trở thành một hạng mục nghi thức trong các dịp lễ hội cúng đình tế miếu trong dân gian.

Bên cạnh đó, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức còn chép phong tục ở Gia Định khi cầu khấn được như nguyện đều mở cuộc diễn hý (hát xướng) để tạ ơn thần. Nhưng đáng nói là vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX hoạt động này đã làm nảy sinh một loại luật tục mang tính thương nghiệp trong sinh hoạt của con người địa phương. Như nhà Giáp sắp khởi cuộc hát xướng ắt trước tiên mổ heo chia tặng cho những người quen biết, báo rõ ngày tháng mời tới xem hát chơi, gọi là Phiếu lễ, đến hôm ấy người được mời tùy tình hậu bạc đem tiền tới mừng, xem hát ăn uống rồi về. Sau đó nếu người quen ấy mở cuộc hát cũng đưa Phiếu lễ tới Giáp, thì Giáp thế nào cũng phải đi, như Ất trước đi mừng Giáp một quan, thì nay Giáp phải mừng lại hai quan, sau Giáp có việc mừng nữa thì Ất qua phải mừng ba quan, qua lại cứ thế tới lên tới hàng trăm quan, đến nỗi có người phải cầm cố vay mượn để trả Phiếu lễ, có người nhà nghèo không báo đáp được đủ số thì người làm Phiếu lễ tới hạch hỏi, có khi thành chuyện kiện cáo. Đến thời Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí thì hủ tục mang tính chất một biến thái méo mó của kinh tế hàng hóa ấy đã bị nghiêm cấm, tuy nhiên chắc chắn những ban hát được mời trong các cuộc hát này đều gồm những nghệ nhân làm việc kinh doanh biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, vì Phiếu lễ chính là cái mà hiện nay gọi là vé (phiếu = vé), chẳng qua người phân phối “vé mời” là người đứng ra mời ban hát. Nhìn từ một góc độ khác thì nhu cầu thưởng thức văn nghệ phổ biến như thế chính là chỉ báo về một xã hội thị dân.

Tính cách của con người Gia Định thời Đàng Trong

Thời Đàng Trong vùng Nam Bộ đất rộng người thưa, nguồn lợi thiên nhiên phong phú nên cư dân ít phải lo đói rét, đồng thời lại có nền kinh tế thương nghiệp khá phát triển nên hàng tiêu dùng cũng tương đối đầy đủ. Gia Định thành thông chí viết “Gia Định ở Nam Việt, đất đai rộng cái ăn nhiều, không lo đói rét nên dân ít dành dụm, tập tục xa hoa”. Phần đông lại là dân nghèo tha phương kiếm sống, gặp được nhau thì tuy không phải cùng quê hương cũng thường là cùng cảnh ngộ, dễ nảy sinh tình cảm thân thiết. Không phải ngẫu nhiên mà vùng Nam Bộ hoàn toàn không có sự phân biệt “dân ngụ cư” với “dân chính tịch”, cũng như trong các hình thức sở hữu ruộng đất ở đây ít có loại công điền để điều tiết mức độ chiếm hữu ruộng đất như vùng Trung Bắc. Tâm lý hiếu khách, trọng nghĩa khinh tài của con người vùng này chính hình thành trên tiền đề vật chất ấy. Gia Định thành thông chí viết “Ở Gia Định có khách tới nhà trước tiên gia chủ phải dâng trầu cau, sau mời cơm bánh, tiếp đãi trọng hậu, không kể người thân sơ quen lạ, tung tích ở đâu cũng đều thu nạp khoản đãi, nên người đi chơi không cần đem tiền gạo theo, mà có nhiều người trốn xâu lậu thuế tới xứ này trốn lánh, bởi vì có chỗ dung dưỡng vậy”. Thời Đàng Trong vùng Gia Định lại có đời sống xã hội đa dân tộc và cơ cấu văn hóa mang màu sắc phức hợp Đông Nam Á, thiết chế xã hội mở này khiến con người địa phương dễ chấp nhận những yếu tố văn hóa có nguồn gốc bên ngoài đưa tới, từ đó có một đời sống tinh thần phóng khoáng, một phong cách đô thị trong lối sống cũng như phương thức tư duy. Nhưng trước đây có ý kiến cho rằng sở dĩ con người Nam Bộ có tâm lý phóng khoáng, tính khí ngang tàng là vì phần đông lưu dân người Việt đầu tiên vào sinh sống ở vùng này là loại trộm cướp tù đày, trốn xâu lậu thuế, tâm lý và tính khí ấy đã di truyền lại cho hậu duệ của họ về sau, đó chỉ là một lối giải thích cảm tính nếu không nói là bậy bạ.

Trước thế kỷ XX các lưu dân người Việt tiến vào Nam Bộ đều hoặc theo đường biển hoặc theo đường bộ mà trong điều kiện kỹ thuật đương thời còn rất nhiều hiểm nguy bất trắc, nên nói chung chỉ những ai có thể chất khỏe mạnh, khả năng ứng biến, ý chí kiên định, tinh thần đoàn kết mới có thể tới đích và sống còn được sau đó. Con đường Nam tiến của các lưu dân người Việt thế kỷ XVIII – XIX vì vậy cũng ít nhiều là một quá trình chọn lọc nòi giống, và việc những nhóm người ưu tú nhất ở nhiều địa phương trong đất nước gặp gỡ nhau rồi chung lưng đấu cật khai phá vùng đất còn hoang vu này như vậy tự nó cũng quy định một phong khí xã hội cởi mở, một lề thói tư duy phóng khoáng khó tìm thấy nơi những thôn xóm hàng trăm năm im ỉm sau lũy tre làng. Cho nên dòng di dân từ Thuận Quảng thế kỷ XVII – XVIII và từ Trung Bắc thế kỷ XIX đổ vào đã tạo ra trên bản đồ văn hóa Việt Nam một vùng Nam Bộ, nhưng vùng lịch sử văn hóa này với quá trình hình thành và phát triển của nó cũng tạo ra những nét mới trong tính cách Việt Nam. Thời Đàng Trong nói riêng và trước thời Pháp thuộc nói chung nông dân Nam Bộ cũng phải bán sức lao động để sống, nhưng lúc ấy đất hoang còn nhiều, chính quyền và địa chủ cần nhân lực để khai phá, nên họ được tự do hơn trong việc bán sức lao động cho ai, và vì vậy cũng tự do hơn. Và như trong một phản ứng dây chuyền, tâm lý ấy của nông dân cũng tác động tới đời sống tinh thần của tầng lớp địa chủ ở Nam Bộ – nếu chỉ biết tính toán tủn mủn kiểu đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành thì cho dù có tiền cũng khó mà chiêu mộ được tá điền để làm địa chủ. Trên phương diện này, có thể coi trường hợp Võ Thủ Hoằng trước khi Tây Sơn vào Nam Bộ là một điển hình.

Về tiểu sử Võ Thủ Hoằng, truyền thuyết trong dân gian và thư tịch có nhiều sai biệt, nhưng đại thể nhân vật này là một địa chủ kiêm thương nhân lớn ở Gia Định thời Đàng Trong. Gia Định thành thông chí chép cửa Tam Giang Nhà Bè có sông Phước Long phía nam và sông Tân Bình phía bắc tới hợp lưu thành sông Phước Bình chảy ra cửa Tam Giang, là dòng sông duy nhất chảy ra cửa Cần Giờ. Khi mới đặt hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, đường bộ qua quán Bình Đồng chưa mở, hành khách qua lại hai nơi phải đáp đò dài. Đầu bến đò phía bắc ở rạch Cát dinh Trấn Biên, đầu bến đò phía nam ở cầu Độ Đầu tổng Tân Long (tục danh Cầu Đò, ở địa phận thôn Tân Hương). Đò khởi trình ở Trấn Biên phải đợi khi nước ròng tới cửa Tam Giang qua sông Tân Bình, tới đó gặp nước ngược phải cắm thuyền đợi nước lên mới thuận dòng đi tiếp. Đò khởi trình ở Cầu Đò phía nam cũng phải lựa thế đi như vậy. Buổi ấy dân cư thưa thớt, hàng quán hiếm hoi, ghe đò hẹp nhỏ, hành khách thổi cơm nấu nước rất khổ. Người phú hộ ở thôn Tân Chánh là Võ Thủ Hoằng thấy thế bèn cho cột tre làm bè, trên lợp mái che, dưới ngăn phòng riêng, cụ bị đủ nồi bếp củi gạo và thức ăn cho khách đi đường dùng không phải trả tiền. Kế đó những người buôn bán nhỏ cũng kết bè nổi bán thức ăn vật dùng, có tới hai ba mươi chỗ họp thành chợ trên sông, nhân thế thành địa danh “Nhà Bè”. Về sau Tây Sơn vào Gia Định, Nhà Bè bị binh lửa phá hủy, qua thế kỷ XIX cũng không dựng lại nhưng địa danh vẫn còn lưu truyền đến nay. Truyền thuyết trong dân gian thì ngoài chi tiết Thủ Hoằng từng ra tới tận Quảng Yên ở miền Bắc buôn bán còn có một kết thúc ly kỳ hơn, kể là Hoàng tử Ngung Viêm con vua Càn Long nhà Thanh (tức vua Gia Khánh về sau) lúc sinh ra tay phải có hai chữ Gia Định, tay trái có hai chữ Thủ Hoằng, ghép lại là Gia Định Thủ Hoằng (Thủ Hoằng ở Gia Định), ngờ đó là tiền thân của mình nên sau 1802 sai sứ giả qua Việt Nam hỏi thăm, người Việt Nam mới biết Võ Thủ Hoằng nhờ công đức ấy nên sau khi chết được đầu thai làm vua Trung Quốc, bấy nhiêu đủ cho thấy con người Gia Định trước kia rất tôn trọng loại người trọng nghĩa khinh tài, tóm lại là có phong cách “anh Hai”…

Những mâu thuẫn xã hội dẫn tới cuộc khởi nghĩa Tây Sơn

Trước nay, nhiều người vẫn coi Tây Sơn là một phong trào khởi nghĩa nông dân. Không ai phủ nhận vai trò của nông dân trong các cuộc khởi nghĩa thời phong kiến, nhưng không phải cứ có nhiều nông dân tham gia thì đó là phong trào nông dân. Phong trào Tây Sơn là một trường hợp tiêu biểu về điều này.

Trước hết, trong thời gian trước khi Tây Sơn khởi nghĩa xã hội Đàng Trong vẫn tồn tại trên căn bản sản xuất nông nghiệp truyền thống, nhưng với một cơ cấu kinh tế không phải thuần nông nghiệp như ở Đàng Ngoài. Việc khai thác nguồn lợi tự nhiên (lâm sản, khoáng sản, thủy hải sản…) cũng như sản xuất thủ công nghiệp (nghề rèn, nghề đúc, nấu đường…) và nhất là thương nghiệp chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong thu nhập kinh tế của cả nhân dân lẫn chính quyền Đàng Trong, đồng thời từ cuối thế kỷ XVII với việc tiến vào đồng bằng Nam Bộ mà diện tích đất hoang còn rất mênh mông, cộng đồng Việt Nam ở Đàng Trong gần như không phải đối diện với mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ về mặt chiếm hữu ruộng đất. Trong gần hai thế kỷ trước khi Tây Sơn khởi nghĩa, chính quyền Đàng Trong hoàn toàn không phải đối phó với cuộc khởi nghĩa nông dân nào. Cho nên phải tìm kiếm nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn từ những lý do kinh tế – xã hội khác.

Như đã nói ở trên, thời Đàng Trong kinh tế thương nghiệp trong đó có ngoại thương rất phát triển, đây là cột trụ của cả thiết chế kinh tế lẫn tổ chức xã hội Việt Nam ở Đàng Trong. Cho nên sự yếu kém của chính quyền Đàng Trong trong việc điều hành kinh tế mà cụ thể là việc phát hành tiền Thiên minh thông bảo rồi tiền kẽm nhưng không ngăn chặn được nạn đúc tiền giả dẫn tới lạm phát sau đó đã xô đổ cột trụ quan trọng này. Phong trào Tây Sơn nổ ra đúng vào lúc cái loạn tiền kẽm đang làm đảo lộn toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội ở Đàng Trong: những rối loạn trong cơ cấu tài chính ở đây dẫn tới tình trạng hỗn loạn trong hoạt động kinh tế rồi sự sụp đổ không sao cứu vãn của hệ thống chính trị. Phong trào Tây Sơn do đó là phản ứng của kinh tế hàng hóa tiền tư bản đối với sai lầm trong chính sách tài chính – tiền tệ của chính quyền phong kiến, phản ứng này thể hiện khá rõ nét qua sự hình thành và phát triển buổi đầu của lực lượng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa này là một đầu nậu buôn trầu, còn quân đội Tây Sơn thì có các đạo Trung Nghĩa quân, Hòa Nghĩa quân gồm các khách thương người Hoa bên cạnh những tướng lĩnh vốn làm nghề đi buôn như Châu Văn Tiếp… Tính chất quần chúng cũng như vai trò thương nhân trong phong trào Tây Sơn ở thời kỳ đầu hình thành và phát triển ấy đã được một tác giả chống Tây Sơn đương thời là Hoàng Quang ghi nhận:

Trong non khói lửa đen sì,
Cờ thì treo áo, binh thì rút cây.
Rủ nhau chuột lũ cáo bầy,
Vuốt nanh khách khứa, cánh vai buôn bè.
Hoài Nam ca khúc

Ngoài ra trong Truyện nước An Nam Đàng Trong, tài liệu viết tay bằng chữ quốc ngữ latinh năm 1822, đoạn thứ 71 (Xứ Đàng Trong loạn lạc), tr. 657 – 658, Philiphê Bỉnh có viết một chi tiết rất đáng chú ý về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn “Năm (… thiếu một chữ) là năm có một cái sao dài như tấm vóc đại hồng, mà nằm mắc ngang ở trên trời, là khi Trương Quốc phó dậy lên, mà dân đem tin ra xin các cậu Đàng Ngoài vào cứu, thì nhà Trịnh liền sai quân vào mà lấy Phú Xuân, vì dân mở cửa cho, chẳng phải là tài năng như những kẻ ấy nói. Vì khi ấy mạn rừng thì hai anh em Thái Đức cùng Quang Trung cũng dậy lên, cha nó là bổn đạo, song dạy con chẳng được, vì tối sớm khi cha mẹ nó đọc kinh lần hạt, mà gọi nó, thì nó những trốn, mà chẳng chịu đọc kinh lần hạt với cha mẹ mình, mà khi cha mẹ quở phạt, thì anh em nó liền đem nhau lên rừng mà làm nghề trộm cướp. Đến khi nó họp được nhiều người, liền kéo xuống đồng bằng, mà mở cờ làm giặc, cho nên người gọi nó là quân Tây Sơn, vì ở trên rừng trên núi mạn bên tây mà xuống”. Gác qua một bên những lời lẽ bôi nhọ Tây Sơn theo quan điểm “chính thống” của một bộ phận nhân dân và trí thức đương thời, thì chi tiết cha mẹ của anh em Tây Sơn là tín đồ Thiên chúa giáo ở đây là điều rất đáng lưu ý, nó cho thấy phong trào này còn có thể ít nhiều liên quan với chính sách cấm đạo của chính quyền Đàng Trong từ 1750 trở đi.

Dĩ nhiên, theo với diễn tiến lịch sử mà trung tâm là cuộc nội chiến cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam, phong trào Tây Sơn cũng dần dần chuyển hóa về tính chất khi bước vào cương vị quản lý xã hội của một chính quyền phong kiến. Tình hình phân tán quyền lực chính trị trên lãnh thổ cùng với sự thoái bộ về tư tưởng trong quá trình phong kiến hóa đã đẩy Tây Sơn xuống địa vị một phong trào nông dân, con đường phong kiến hóa này cũng song hành với con đường thoái hóa về năng lực thực tiễn, nên sau cái chết của Quang Trung Nguyễn Huệ, vương triều Tây Sơn ngày càng tách rời với trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam. Trong lịch sử khi các yếu tố con người và đương đại lui lại thì các yếu tố địa lý và truyền thống thường nổi lên, nên với truyền thống thương nghiệp và sức trẻ của một vùng đất mới, Nam Bộ mà Sài Gòn – Gia Định là trung tâm đã từng bước trở thành khu vực quyết định sự thống nhất đất nước, sự thống nhất đưa tới cho con người Việt Nam một thị trường dân tộc rộng lớn hơn từ 1802.

II . Gia Định thời kỳ 1777 – 1802 

Tổng quan về chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn đến 1777

Năm 1771 Tây Sơn khởi nghĩa, năm 1773 đánh xuống Quy Nhơn, nêu khẩu hiệu tôn phù Hoàng tôn Dương để chia rẽ nội bộ chính quyền Đàng Trong. Quân Nguyễn không đàn áp được, nên quân khởi nghĩa đánh ra tới Quảng Nam. Lúc bấy giờ cái loạn tiền kẽm đang tàn phá kinh tế Đàng Trong, Thuận Hóa đói lớn, ngoài đường có kẻ chết đói, trong nhà có người ăn thịt nhau. Được tin Đàng Trong có loạn, năm 1774 Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc cầm quân vượt sông Gianh, hạ Lũy Thầy. Khi tới Truông nhà Hồ, Hoàng Ngũ Phúc phát hịch tuyên truyền là vào nam giúp họ ngoại trừ diệt Phước Loan, dẹp loạn Tây Sơn “Diệt kẻ tàn bạo để giúp nạn họ hàng, nối giữ mối giềng để bảo tồn dòng dõi. Giúp nạn thật do nghĩa cử, không phải lòng tham thừa nguy”. Lúc bấy giờ ở Đàng Trong yên ổn đã lâu, tướng hèn binh nhát, triều đình Đàng Trong phải bắt Quốc phó Trương Phước Loan nộp cho quân Trịnh làm kế hoãn binh nhưng quân Trịnh vẫn không lui, ngày 28 Tết năm Giáp ngọ (30. 1. 1775) đánh chiếm đô thành Phú Xuân, Duệ tông Phước Thuần chạy vào Quảng Nam. Trên con đường lưu vong này, triều đình Đàng Trong bắt đầu chia rẽ: bị các quan lại chống đối Trương Phước Loan ép buộc, Duệ tông Phước Thuần phải phong Hoàng tôn Dương làm Đông cung trấn thủ Quảng Nam, sau đó tiếp tục chạy vào Gia Định. Qua 1776 Tây Sơn truy kích theo vào, mở ra cục diện chiến tranh dằng dai hơn mười năm trong đó Gia Định vừa là đại bản doanh vừa là mục tiêu tranh chiếm của các bên tham chiến. Cuộc chiến tranh này trong thực tế gồm hai giai đoạn là chiến tranh giữa Tây Sơn với chúa Nguyễn và chiến tranh giữa Tây Sơn với Nguyễn Ánh.

Chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn ở Gia Định kéo dài trong hai năm, là dư ba của chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn trước đó. Sau khi quân Trịnh vào Thuận Hóa, Tây Sơn bị đặt vào thế lưỡng đầu thụ địch, nên Nguyễn Nhạc đã dùng sách lược hòa hoãn với đối phương phía bắc, giả hàng quân Trịnh, xin làm tiền khu. Hoàng Ngũ Phúc nhận hàng, phong Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu Tráng tiết tướng quân, sau đó còn phong Nguyễn Huệ làm Tây Sơn hiệu tiền phong tướng quân. Rảnh tay phía bắc, Tây Sơn dốc sức đánh quân Nguyễn phía nam, liên tiếp phá quân Tống Phước Hiệp ở Phú Yên, quân Nguyễn Phước Quyền, Nguyễn Phước Xuân (con thứ mười bốn và thứ mười tám của Thế tông Phước Hoạt) ở Quảng Nam, năm 1776 đánh vào Gia Định. Duệ tông triệu Tống Phước Hiệp từ Bình Khang vào cứu viện, lại sai Đỗ Thanh Nhơn mộ quân cần vương được 3.000 người từ Ba Giồng (Mỹ Tho) kéo về Sài Gòn đánh Nguyễn Lữ. Nguyễn Lữ thua trận, chở hơn 200 thuyền thóc trong kho Gia Định chạy về Quy Nhơn. Qua 1777, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lại đem quân vào Gia Định, chiếm Sài Gòn, truy kích Đông cung Phước Dương qua Trà Lọt (Mỹ Tho) tới Ba Vát (Vĩnh Long), bắt được Phước Dương. Duệ tông Phước Thuần thì chạy qua Cần Thơ họp quân với Mạc Thiên Tích rồi qua Long Xuyên. Tây Sơn đánh tới Long Xuyên, bắt được Phước Thuần đưa về Sài Gòn hành quyết. Kế Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ để Tổng đốc Chu, Hổ tướng Hãn, Tư khấu Oai, Điều khiển Hòa, Cai cơ Chấn chia giữ các dinh rồi đem quân về Quy Nhơn. Qua 1778 Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức. Chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn kết thúc từ đó. Nhưng Nguyễn Ánh may mắn thoát được, qua 1778 đánh chiếm lại Sài Gòn, mở ra cục diện nội chiến mới kéo dài đến 1802.

Tổng quan về chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh thời gian 1778 – 1802

Sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn năm 1778, quân Tây Sơn có thêm Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào phản công nhưng không thắng phải rút lui. Năm 1780 Nguyễn Ánh xưng vương. Năm 1782, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đem quân vào đánh Ánh, Ánh thua chạy ra Phú Quốc. Anh em Nhạc Huệ rút quân về, để hàng tướng Đông Sơn Đỗ Nhàn Trập ở lại giữ Sài Gòn. Cuối năm ấy Châu Văn Tiếp từ Phú Yên vào cứu viện, đánh bại Đỗ Nhàn Trập, sai người ra Phú Quốc đón Ánh về. Năm 1783, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lại đem quân vào đánh, Ánh thua, lại chạy ra Phú Quốc. Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ rút quân, để Phò mã Trương Văn Đa và Chưởng tiền Bảo ở lại giữ Gia Định. Năm 1784, Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện, vua Xiêm Rama I giúp cho 20.000 quân và 300 chiến thuyền, thế quân hơi mạnh, nhưng đánh tới Long Hồ thì Châu Văn Tiếp chết đổi mạng với Chưởng tiền Bảo của Tây Sơn. Quân Xiêm lại rất tàn bạo, tới đâu cũng cướp bóc nhân dân, rất thất nhân tâm. Đầu năm 1785 Nguyễn Huệ đem quân vào phá tan quân Xiêm ở Rạch Gầm, Ánh lại chạy qua Xiêm. Nguyễn Huệ rút quân về, để Đô úy Đặng Văn Trấn (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép là Nguyễn Trấn) ở lại giữ Gia Định. Năm 1785 Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Xuân, quân Trịnh rút về phía bắc Quảng Bình. Nguyễn Nhạc cho xây lại Lũy Thầy nhưng Nguyễn Huệ theo lời Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc, đánh tan quân Trịnh, chúa Trịnh Khải bị bắt, tự sát mà chết. Nguyễn Hữu Chỉnh bày kế cho Nguyễn Huệ lấy tiếng phù Lê vào yết kiến, Lê Hiển tông phong Huệ làm Uy quốc công, gả con gái là công chúa Ngọc Hân cho. Kế Lê Hiển tông chết, nhà Lê lập Duy Kỳ làm vua, lấy niên hiệu là Chiêu Thống. Nguyễn Nhạc ngờ Nguyễn Huệ có ý tự lập, vội ra Bắc bắt Huệ về. Sau đó anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bất hòa, Huệ đem quân vây thành Quy Nhơn, Nhạc gọi Đặng Văn Trấn ở Gia Định về cứu viện nhưng bị Nguyễn Huệ đánh tan. Nhạc phải lên thành khóc lóc xin giảng hòa, sau đó anh em Tây Sơn chia ba Việt Nam, Nguyễn Nhạc làm Trung ương hoàng đế cai trị phần đất từ Quảng Ngãi tới Bình Thuận, Nguyễn Huệ là Bắc Bình vương quản lý vùng đất từ Quảng Nam trở ra Bắc, Nguyễn Lữ là Đông Định vương trấn thủ Nam Bộ. Nhân cơ hội ấy, năm 1787 Nguyễn Ánh từ Xiêm về chiếm lại Gia Định, Nguyễn Lữ chạy ra Quy Nhơn, để Thái bảo Phạm Văn Sâm ở lại giữ Gia Định. Năm 1788, Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, kế hội quân vây chặt Phạm Văn Sâm ở Ba Thắc không cho chạy về Quy Nhơn, năm 1789 Sâm cùng đường phải đầu hàng, Ánh kiểm soát được toàn bộ đồng bằng Nam Bộ.

Từ đó trở đi, Nguyễn Ánh ráo riết xây dựng lực lượng tấn công Tây Sơn. Lợi dụng sự chia rẽ giữa Nguyễn Huệ – Nguyễn Nhạc rồi Nguyễn Quang Toản với Nguyễn Nhạc – Nguyễn Bảo, quân Nguyễn Ánh liên tiếp đánh ra miền Trung. Năm 1790 chiếm được Bình Thuận, năm 1793 chiếm được Diên Khánh, năm 1799 chiếm được Quy Nhơn. Năm 1801, nhân lúc các đại tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tập trung toàn lực bao vây Võ Tánh ở thành Quy Nhơn, Ánh đem quân đánh chiếm Phú Xuân ngày 3. 5. 1801. Vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn là Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc. Qua năm sau Nguyễn Ánh đem quân ra Bắc, đến ngày 20. 7. 1802 vào thành Thăng Long, đặt dấu chấm hết cho hơn ba trăm năm phân tranh và nội chiến ở Việt Nam.

Nhìn chung chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn và Tây Sơn – Nguyễn Ánh là hai cuộc chiến khác nhau về tính chất. Chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn do phía Tây Sơn phát động nhằm lật đổ kẻ thống trị cũ, còn chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh do phía Nguyễn Ánh phát động nhằm chống lại một đối phương vừa là đối thủ chính trị vừa là kẻ thù giai cấp để khôi phục ngai vàng. Tuy nhiên tất cả các cuộc chiến tranh ở Việt Nam cuối thế kỷ XVIII dù mang tính chất chính trị thế nào cũng đều bị chi phối bởi trào lưu thống nhất đất nước đương thời, trào lưu đã manh nha từ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và định hình sau khi tướng Trịnh Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh, trào lưu xuất phát từ các nhu cầu cũng như điều kiện đương thời của lịch sử Việt Nam nhằm hướng tới xác lập một thị trường dân tộc thống nhất trong một quốc gia Việt Nam thống nhất.

Sự chia rẽ nội bộ trong triều đình Đàng Trong ở Gia Định

Sau khi quân Trịnh vượt sông Gianh, chính quyền Đàng Trong rơi vào một tình thế rất nhiều khó khăn trong đó nổi bật là các mâu thuẫn trong nội bộ triều đình. Để đưa Duệ tông Phước Thuần mới 11 tuổi lên ngôi nhằm dễ bề thao túng triều đình Đàng Trong, Trương Phước Loan đã giết hại, giam cầm, gạt bỏ nhiều quan lại và cả một số người thuộc tông tộc họ Nguyễn Đàng Trong, điều này gây ra nhiều mâu thuẫn âm ỉ kéo dài trong nội bộ triều đình, những mâu thuẫn ấy đã bộc phát vào lúc chính quyền Đàng Trong suy yếu, đặc biệt là sau khi Phú Xuân thất thủ năm 1775.

Sau khi vào tới Quảng Nam năm 1775, Duệ tông Phước Thuần triệu Tả quân Nguyễn Cửu Dật tới hành tại. Cửu Dật cùng bọn quan lại đi theo là Ngoại tả Tôn Thất Tĩnh, Chưởng dinh Tôn Thất Kính (con Tôn Thất Tứ), Chưởng cơ Tôn Thất Chí, Nội Đội trưởng Nguyễn Cửu Thận, Đỗ Thanh Nhơn, Đội trưởng Trương Phước Dĩnh dâng sớ nói “Hoàng tôn Dương vốn có đức hiền, trong ngoài đều trông mong, xin sớm đặt làm trừ nhị để mưu đồ khôi phục”. Duệ tông Phước Thuần bèn lập Hoàng tôn Dương làm Đông cung, cho trấn phủ Quảng Nam, tổng lý các việc trong ngoài. Ba người Tôn Thất Tĩnh, Tôn Thất Chí, Tôn Thất Kính đều trong tông tộc họ Nguyễn và ít nhiều đều có thù hận với Trương Phước Loan: Tôn Thất Tĩnh là cháu nội Anh tông Phước Thái, theo thế thứ thuộc hàng ông Duệ tông Phước Thuần, có anh là Tôn Thất Dục bị Trương Phước Loan vu cáo là mưu phản, còn Tôn Thất Chí là con thứ sáu, Tôn Thất Kính là con thứ bảy của Thế tông Phước Hoạt, đều là anh cùng cha khác mẹ với Duệ tông Phước Thuần và chắc chắn đều ít nhiều bị Trương Phước Loan lấn lướt, đe dọa lúc lập Phước Thuần lên ngôi. Ngoài ra trong bốn người còn lại thì Nguyễn Cửu Thận, Nguyễn Cửu Dật đều là con Nguyễn Cửu Pháp, lúc Trương Phước Loan chuyên quyền Pháp thường chống lại nhưng không được, và vào năm 1775 Cửu Pháp chính là người góp phần bắt giải Trương Phước Loan tới nộp cho quân Trịnh. Bấy nhiêu nhân vật cột trụ như thế ép buộc Duệ tông Phước Thuần phải lập Hoàng tôn Dương làm người nối ngôi tương lai cho thấy nhiều triều thần trong chính quyền Đàng Trong không ưa Duệ tông, có điều lối giải quyết mâu thuẫn nội bộ một cách “có tình có lý” như vậy (Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn chép Duệ tông Phước Thuần “có bệnh không gần đàn bà được, thường sai người con hát yêu dâm loạn với cung nữ để làm vui”, còn Hoàng tôn Dương là con trưởng của Thế tử Phước Hạo) tuy có lợi trong hoàn cảnh phải đối phó với Tây Sơn nhưng vẫn không triệt để, nên mâu thuẫn này sẽ nổ ra lần thứ hai ở Gia Định năm 1776 với nhiều hậu quả nặng nề hơn.

Cuối 1776 Đông cung Phước Dương trốn thoát vào Gia Định, lúc ấy Lý Tài vừa đem quân Hòa Nghĩa làm phản, đánh bại quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn. Phước Dương bèn xin
đi chiêu dụ Lý Tài, dĩ nhiên để chống Tây Sơn song có lẽ cũng muốn có một lực lượng mạnh làm vây cánh. Phần Lý Tài thì vì căm giận Đỗ Thanh Nhơn chửi mình là heo chó mà làm phản chứ cũng không có hùng tâm tráng chí gì, đang không biết làm sao cho có danh nghĩa đường hoàng thì gặp Phước Dương “phụng mệnh chiêu an”, tự nhiên là mừng rỡ như điên, kéo luôn vào Sài Gòn ép Duệ tông phải “nhường ngôi”. Gia Định thành thông chí chép lúc ấy binh tướng Đông Sơn ở Sài Gòn thấy quân Hòa Nghĩa kéo vào đều chạy tan, chỉ có vài mươi quan triều hộ giá Duệ tông Phước Thuần ở lại hành tại Bến Nghé mà thôi. Lý Tài bèn tôn Phước Dương làm Tân chính vương, Duệ tông làm Thái thượng vương, được Phước Dương phong làm Bảo giá đại tướng quân. Sử chép lúc ấy Nguyễn Ánh xin đi Ba Giồng chiêu tập quân Đông Sơn, Lý Tài được tin bèn đem quân ép đón Duệ tông Phước Thuần lên Thủ Dầu Một, Phước Dương không ngăn được phải sai Trương Phước Dĩnh theo hộ giá, theo đó đủ biết viên Bảo giá đại tướng quân thổ phỉ hóa này chỉ coi Phước Dương như một bảng hiệu chính trị để tiện tác uy tác phúc mà thôi. Nhưng việc phân chia quyền lực như vậy không những hạn chế khả năng của chính quyền Đàng Trong trong việc quy tụ các lực lượng chống Tây Sơn ở Nam Bộ mà còn làm suy yếu sức mạnh của quân Nguyễn trong cả các hoạt động quân sự chống Tây Sơn. Năm 1777 Nguyễn Huệ đem quân vào đánh, quân Hòa Nghĩa đang cầm cự với Tây Sơn ở Hóc Môn thì Trương Phước Thận đem quân từ Cần Giuộc tới cứu viện, quân Hòa Nghĩa tưởng quân Đông Sơn tới đánh úp nên tự tan vỡ, bị quân Tây Sơn đánh tan tác, Phước Dương được quân Trương Phước Thận bèn lui về giữ rạch Chanh. Nhưng lúc ấy Duệ tông Phước Thuần được Nguyễn Ánh đem 4.000 quân Đông Sơn tới ứng viện lại đem quân qua đóng ở Giồng Tài, nói với Phước Dương “Mặt sau rạch Chanh vương tự đảm đương, mặt trước giồng Tài thì ta cáng đáng”, kết cục cả hai cánh quân đều bị đánh tan, hai người nối nhau bị Tây Sơn bắt giết.

Sự phân hóa của lực lượng chống Tây Sơn ở Nam Bộ sau 1777

Với việc bắt giết cả Duệ tông Phước Thuần lẫn Đông cung Phước Dương, Tây Sơn vô hình trung đã giúp kẻ quốc thù phía nam của mình loại trừ mâu thuẫn phe phái kéo dài suốt mấy năm từ Quảng Nam vào Gia Định, khiến Nguyễn Ánh với tư cách là người thừa kế hợp pháp của họ Nguyễn Đàng Trong có điều kiện thuận lợi hơn trong việc quy tụ các lực lượng phù Nguyễn chống Tây Sơn. Tuy nhiên trong thời gian đầu Ánh lại không có đủ thực lực để làm việc đó: quân đội thì vá víu từ nhiều nguồn, chắp vá về trang bị kỹ thuật cũng như không đồng đều về trình độ chiến thuật và do đó tuy có được tiền đề chính trị để quy tụ nhưng chưa đủ thực lực quân sự làm hạt nhân mà hợp nhất các lực lượng chống Tây Sơn. Trong khi đó kinh tế Gia Định lại đang bị tàn phá nghiêm trọng, Ánh đã không đủ sức mạnh để tổ chức bộ máy hành chính mà quản lý xã hội thì cũng không thể xây dựng được cơ sở xã hội để phát triển lực lượng của mình. Tây Sơn lại đang trong lúc anh em đoàn kết, tướng sĩ một lòng, tuy có một số hạn chế này khác nhưng vẫn là lực lượng có triển vọng nhất trong trào lưu thống nhất đất nước đương thời, điều này cũng đưa tới nhiều trở ngại cho việc xây dựng lực lượng của Nguyễn Ánh. Hơn thế nữa dư âm của sự tranh giành quyền lực giữa hai phe Duệ tông Phước Thuần và Đông cung Phước Dương trước đó còn làm manh nha những mầm mống phản bội hay ly khai để tự lập, xưng hùng, nên trong một thời gian dài Ánh vẫn phải hao quân tổn tướng để thanh trừng nội bộ. Năm 1781 Ánh giết Đỗ Thanh Nhơn, sau đó trấn áp thuộc tướng của Thanh Nhơn là Võ Nhàn, Đỗ Bảng bị mất Thống binh Cai cơ Tống Văn Phước, mà đến 1784 vẫn phải sai Nguyễn Văn Thành lên Bát Chiên, Quang Hóa chiêu dụ dư chúng Đông Sơn là bọn Đặng Triệu. Năm 1783, Chưởng Thủy dinh Tôn Thất Cốc giết Điều khiển Trần Đĩnh của đạo Hòa Nghĩa vì tội bất tuân thượng lệnh, Tổng binh Trần Hưng, Lâm Húc quân Hòa Nghĩa chiếm giữ Hà Tiên làm phản, Nguyễn Ánh đem binh thuyền tới trấn áp được nhưng đám này cũng đã giết chết Chưởng cơ Tổng đốc đạo Hữu quân Nguyễn Kim Phẩm và Thái trưởng công chúa Ngọc Đảo. Ngoài ra sử sách cũng chép về một số nhân vật họp quân nổi dậy chống Tây Sơn trước 1788 như Nguyễn Văn Nghĩa, Nguyễn Văn Tuyết ở Trấn Biên, Lê Công Trấn, Phạm Điền ở Sài Gòn, thậm chí có thể kể thêm Võ Tánh với quân Kiến Hòa hàng vạn người chiếm cứ Gò Công. Nếu Nguyễn Ánh không may mắn sống sót thì có thể lịch sử Nam Bộ đã chứng kiến một cuộc nội chiến khác gồm nhiều lực lượng địa phương chống Tây Sơn và chống nhau tham dự. Bởi vì mặc dù tiêu diệt được cái phần còn sót lại của chính quyền Đàng Trong chạy vào Gia Định, chính quyền Tây Sơn ở Nam Bộ trước 1788 vẫn chưa tự thể hiện được mình như một lực lượng có những hành động vượt khỏi ảnh hưởng của tâm lý địa phương để bước vào không gian của ý thức quốc gia.

Tuy nhiên, sau khi Tây Sơn đã mở rộng phạm vi hoạt động ra địa bàn phía bắc sông Gianh và phải chịu một phản ứng dội ngược gây ra sự nứt rạn nội bộ tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh trở về Gia Định năm 1787 thì sự phân hóa của các lực lượng chống Tây Sơn ở Nam Bộ cũng bắt đầu chấm dứt. Việc Võ Tánh đem quân Kiến Hòa về quy phục không những bổ sung cho quân đội của Nguyễn Ánh hàng vạn quân sinh lực có kỷ luật và thiện chiến mà còn tạo ra cho Ánh một uy thế chính trị mới để thống nhất các lực lượng chống Tây Sơn ở Nam Bộ, vì Tánh vốn là em ruột thuộc tướng Đông Sơn Võ Nhàn từng bị Ánh giết năm 1782. Không lạ gì mà Ánh đã mừng rỡ gả ngay chị gái là Trưởng công chúa Ngọc Du cho Tánh và sau đó phong Tánh hàm Tham thặng. Theo nghĩa đen, Tham thặng có nghĩa là ngồi cùng xe với vua – đối với người anh rể hào kiệt này Ánh muốn tỏ ra có biệt nhãn nên không dùng từ Phò mã, vốn có nghĩa đen là cưỡi ngựa theo hầu vua trong đội tùy tùng…

Ãnh hưởng của chiến tranh đối với đời sống kinh tế ở Gia Định thời gian 1776 – 1788

Sau gần một thế kỷ xây dựng, Nam Bộ từ khu vực Tiền Giang trở lên đã bắt đầu trở thành một khu vực tương đối trù phú, nhưng chiến tranh trong thời gian 1776 – 1788 đã tàn phá nghiêm trọng nền sản xuất vật chất ở khu vực này.

Theo Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, Thành trì chí thì Cù lao Phố thời Đàng Trong “Mái ngói tường vôi, lầu cao quán rộng, dọc theo bờ sông kéo dài tới 5 dặm, chia vạch làm ba loại đường, đường lớn lót đá trắng, đường ngang lát đá ong, đường nhỏ lót gạch xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập, ghe sông thuyền biển tránh gió tới đậu, thuyền bè nối nhau làm thành một đại đô hội, những nhà buôn lớn ở đó đông nhất”. Nhưng năm 1776, Tây Sơn vào Cù lao Phố đã “dỡ lấy phòng ốc gạch đá tài vật chở về Quy Nhơn, từ đó nơi ấy trở thành gò hoang, sau khi trung hưng (1788) tuy người ta có trở về nhưng số dân không bằng được một phần trăm ngày trước”. Coi tài sản của các thương nhân vô tội như một loại chiến lợi phẩm có thể tùy ý tước đoạt, quân đội Tây Sơn trong trường hợp này đã tự thể hiện như một lực lượng phá hoại các thành tựu phát triển kinh tế ở địa phương. Trong một dáng vẻ cực đoan hơn, năm 1782 sau khi Hộ giá Phạm Ngạn của Tây Sơn bị quân Hòa Nghĩa giết chết, Nguyễn Nhạc tức giận đã ra lệnh tàn sát hết người Hoa ở Sài Gòn. Trịnh Hoài Đức mô tả “Từ Bến Nghé tới Sài Gòn xác chết ngổn ngang, vứt cả xuống sông, nước sông không chảy được nữa, cách hai ba tháng sau người ta vẫn không dám ăn tôm cá. Những hàng Tàu như the lụa trà thuốc hương giấy và tất cả vật dùng trong nhà người Tàu cũng đều ném cả ra đường, không ai dám nhặt, qua năm sau trà xấu lên tới 8 quan một cân, kim khâu giá tới 1 tiền một chiếc, những hàng hóa khác cũng tăng giá, mọi người đều khổ sở”. Ngoài ra trong những lúc chiến sự căng thẳng, sản xuất đình đốn, giao thông trở ngại thì cư dân Sài Gòn cũng phải chịu nhiều khó khăn trong sinh hoạt vật chất thường nhật. Chẳng hạn sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn năm 1778 nhưng thủy quân Tây Sơn còn qua lại dọc theo đường sông vùng Biên Hòa, Sài Gòn và Mỹ Tho để chống đánh, lại được Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào tiếp viện, đôi bên giằng co đến 1779, thì sinh hoạt kinh tế ở Gia Định vô cùng căng thẳng, thực phẩm hiếm hoi, vật giá tăng cao, nhân dân điêu đứng. Trịnh Hoài Đức tường thuật “Từ khi giao binh vào tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm này đường thủy lục bị trở ngại, thức ăn vật dùng trong dân gian đều cạn kiệt, không được kế tiếp. Trong chợ chỉ bán mắm nhái lạt, bánh đậu và tương, dùng lá dâu, lá khế làm trà uống, rễ cây bồ quỳ, cây chà là thay cau, ngoài ra những chuyện tệ nạn, gian dối, đánh tráo càng không thể kể xiết. Một chén nhỏ muối hạt khoảng 3 lượng giá tới 5 tiền mà cũng không có nhiều, nên nhiều người mang muối theo trong người như vật quý. Một phương gạo giá 2 quan, quan dân đều khổ”.

Dĩ nhiên, Tây Sơn cũng có một số hoạt động quản lý xã hội trên phương diện kinh tế nhưng vì nhiều lý do, các hoạt động ấy đều lấy việc phục vụ hoạt động quân sự làm mục tiêu. Chẳng hạn Gia Định thành thông chí chép khu vực Cầu Sơn trên có gò cao, giữa trải ra gò bằng, dưới giáp ruộng cạn, rạch nhỏ xuyên qua, địa thế rộng rãi, chu vi ước hơn trăm dặm, bốn mặt có sông ngăn cản, có thể đóng quân. Khoảng 1784 – 1785 Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Trấn đóng giữ Gia Định, sợ bị các lực lượng chống Tây Sơn tập kích bèn dời trung tâm Sài Gòn tới đó, đóng dinh trên gò cao, lập chợ phố ở gò bằng, dời hết dân buôn bán ở Sài Gòn tới. Nhưng nơi ấy nước mặn mà lầy lội, sinh hoạt bất tiện, những người buôn bán vì sợ Tây Sơn mà phải miễn cưỡng dời tới ở nên qua mấy năm vẫn không thành được thôn ấp. Sự can thiệp không hợp lý vào việc phát triển kinh tế như vậy đã dẫn tới sự bất mãn của nhiều tầng lớp xã hội ở địa phương đối với chính sách quản lý cũng như hệ thống chính trị của Tây Sơn…

Ãnh hưởng của chiến tranh đối với đời sống văn hóa – xã hội ở Gia Định thời gian 1776 – 1788

Sau khi Tây Sơn vào Nam Bộ lần đầu năm 1776, xã hội Việt Nam ở Nam Bộ trong đó có Gia Định được đặt vào một hoàn cảnh phát triển mới với nhiều vấn đề khác trước. Trở thành kinh đô tạm thời của các lực lượng phù Nguyễn chống Tây Sơn từ 1775, Gia Định cũng trở thành đại bản doanh và mục tiêu tranh chấp đầu tiên của cả hai bên tham chiến trên chiến trường Nam Bộ đến 1788. Những tổn thất tất yếu mà chiến tranh gây ra đã hạn chế rất lớn việc xây dựng kinh tế ở địa phương, song trên phương diện tổ chức xã hội
và phát triển văn hóa thì tình hình có khác. Quá trình phát triển trong những điều kiện đặc thù trước đó khiến xã hội Việt Nam ở Gia Định chưa có được một tổ chức đồng bộ và hoàn chỉnh, song từ 1775 điều đó lại kích thích nó cố kết lại trong một loạt phản ứng thích nghi để tồn tại giữa chiến tranh. Có thể nói đối với sự phát triển văn hóa – xã hội ở Gia Định, chiến tranh từ 1776 đến 1802 vừa là yếu tố kích thích – động lực vừa là yếu tố giới hạn – điều kiện, trong đó thời gian 1776 – 1788 là một khoảng chuyển tiếp đặc biệt. Sống trên đất tranh chiếm quyết liệt trong hơn mười năm chiến tranh, con người Gia Định sống với nhịp độ nhanh hơn trước, đồng thời sự giao lưu trong chiến tranh cũng tích tụ lại những khả năng phát triển mới và kích thích những khả năng phát triển vốn có của văn hóa Việt Nam ở khu vực này, trong đó nổi bật là sự định hình của tầng lớp nho sĩ bên cạnh hệ thống quản lý xã hội theo mô hình Nho giáo.

Bị hút vào cuộc chiến tranh quyết định một định chế thống nhất cho toàn quốc và hoàn chỉnh hơn cho nó, xã hội Việt Nam ở Gia Định từ 1776 trở đi đòi hỏi một mô hình quản lý phù hợp có thể thống nhất các nhóm xã hội nhằm góp phần kết thúc chiến tranh. Sự hoàn chỉnh hệ thống quản lý xã hội ở Nam Bộ trong hoàn cảnh ấy vì vậy là một nhu cầu khách quan và cấp thiết của lịch sử. Nhưng trên đường hướng và với quán tính mà quá trình khai thác phương Nam trước đó tạo ra, nhìn chung nhân dân Gia Định lại không tìm được khả năng phát triển cũng như hoàn chỉnh tổ chức xã hội của mình nơi hoạt động quản lý của lực lượng Tây Sơn rồi từ 1787 trở đi là của bộ phận dưới quyền Đông Định vương Nguyễn Lữ. Trong khi đó, với ý thức phục thù ở một kẻ sẽ khôi phục được chiếc ngai vàng của dòng họ, sau khi chiếm lại được Gia Định lần thứ nhất năm 1778, Nguyễn Ánh đã bắt tay vào việc tổ chức cai trị Nam Bộ như tái lập bộ máy quan lại ở các dinh trấn, sắp xếp lại các khu vực hành chính, thậm chí còn xây lăng Duệ tông, dựng nhà Tôn miếu (miếu thờ các chúa Nguyễn)… để khẳng định vị trí chính thống – tính chất chính nghĩa của mình trong nỗ lực và hy vọng phục thù. Cần lưu ý rằng từ 1775, nhiều quan lại, tướng lĩnh và quân sĩ người Thuận Quảng đã theo Duệ tông Phước Thuần chạy vào Nam, ngoài ra một số trí thức và nhân dân tránh chiến tranh ở miền Trung cũng tìm vào sống ở đồng bằng Nam Bộ. Một bộ phận trong số này tới cư trú quanh khu vực Gia Định, vô hình trung góp phần vào sự phát triển văn hóa ở địa phương. Đặc biệt, việc xuất hiện thi xã Gia Định Sơn hội khoảng 1780 với các nhà thơ Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhơn Tịnh, Hối Sơn Huỳnh Ngọc Uẩn, Phục Sơn Vương Kế Sinh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng… ngoài việc đánh dấu sự ra đời chính thức của văn học viết Việt Nam ở địa phương còn cho thấy trong thời gian 1777 – 1788 vùng Gia Định đã bắt đầu sản sinh được một đội ngũ trí thức – nhà nho tại chỗ. Được kích thích bởi chiến tranh, những tiềm năng văn hóa – xã hội hình thành qua hàng trăm năm khai phá đồng bằng Nam Bộ đã chính thức bộc lộ tuy chưa hoàn chỉnh, và sự phát triển đột biến ấy sẽ trình hiện qua việc hàng loạt nhà nho Gia Định tham gia chính quyền Nguyễn Ánh từ 1788 trở đi.

Tổng quan về sự hình thành và phát triển của Nho giáo ở Gia Định cho đến 1802

Thời Đàng Trong, Nho giáo ở Gia Định đang trong giai đoạn hình thành, vai trò của nho sĩ trong sinh hoạt xã hội ở địa phương chưa được khẳng định, thậm chí ngay lực lượng nho sĩ cũng còn thưa thớt, chưa tách hẳn ra thành một tầng lớp có những sinh hoạt văn hóa – xã hội độc lập. Những bậc danh nho như Võ Trường Toản “uẩn súc về Kinh học”, Đặng Đức Thuật nổi danh “Đặng gia sử phái”… nhìn chung vẫn còn là hiện tượng cá biệt. Cho nên Nho giáo ở Gia Định thời Đàng Trong có hệ thống chuẩn mực xã hội (tam cương ngũ thường) đi trước hệ thống học thuật – lý luận (Nho học), và phát triển trong môi trường ý thức nhân dân, hệ thống chuẩn mực này cũng ít nhiều sai lệch so với Nho giáo chính thống. Chặng đường nhân dân hóa nối tiếp chặng đường dân tộc hóa của Nho giáo Việt Nam ở Đàng Trong lại diễn ra trong bối cảnh kinh tế hàng hóa tiền tư bản khá phát triển, tình hình này đưa tới sự manh nha của bộ phận Nho giáo thương nhân mà đặc biệt là trên địa bàn Gia Định – Hà Tiên. Nhưng dưới thời Đàng Trong, chế độ quân chính của các chúa Nguyễn lại quy định địa vị thứ yếu của tầng lớp nho sĩ trong chính quyền. Năm 1751 Tuần phủ Quảng Ngãi Nguyễn Cư Trinh, một danh nho Đàng Trong từng dâng sớ tâu với Thế tông Phước Hoạt xin chấn chỉnh tệ đoan về quan lại địa phương, trong đó điều thứ nhất là “Phủ huyện là chức trị dân mà gần đây không giao trách nhiệm làm việc, chỉ cho khám hỏi kiện tụng. Xin từ nay trở đi các thứ thuế ruộng và thuế sai dư hết thảy giao cho Tri huyện biên thu rồi chuyển nộp cho quan Quảng Nam, để bớt phiền nhiễu”, theo đó đủ thấy chế độ quân chính đã hạn chế rất lớn quyền hạn của các quan lại là trí thức – nho sĩ. Nhưng tình hình này đã thay đổi sau khi Tây Sơn vào Nam Bộ năm 1776, vì chiến tranh đã đưa nhanh nhiều yếu tố trong thiết chế văn hóa – xã hội Việt Nam vào vùng đất mới. Những thay đổi về điều kiện phát triển ở đây tất yếu dẫn tới sự hình thành nhu cầu về một mô hình tổ chức và quản lý khác trước, nhu cầu này dẫn tới sự phát triển mang tính chất đột biến của tầng lớp nhà nho nói riêng và Nho giáo ở Gia Định nói chung.

Sau khi Tây Sơn vào Nam Bộ năm 1776, xã hội Việt Nam ở địa phương được đặt vào một bối cảnh mới trong đó nó vừa phải nỗ lực cố kết lại để tồn tại giữa chiến tranh vừa phải tích cực hòa nhập vào với trào lưu thống nhất đất nước. Điều này trở nên cấp thiết đối với chính quyền Nguyễn Ánh từ 1788, vì để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho cuộc chiến tranh phong kiến chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh vừa phải có chính sách phát triển kinh tế mau lẹ vừa phải có cách thức quản lý xã hội phù hợp để đẩy mạnh tốc độ đồng thời lợi dụng tối đa kết quả phát triển ấy. Chính trong hoàn cảnh ấy mà Nho giáo với thiết chế xã hội “vô thần” của nó đã nổi bật lên như phương án tối ưu. Sau khi chiếm lại được Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh lại có chủ trương tích cực sử dụng và nỗ lực đào tạo trí thức, điều này một mặt kích thích tầng lớp nho sĩ địa phương phát triển nhanh hơn, một mặt thúc đẩy họ nhất hóa lý tưởng tế thế kinh bang vào với việc phục vụ cho chính quyền Gia Định. Bên cạnh đó, việc nhiều nhà nho Trung Bắc chống Tây Sơn tìm vào Nam theo Nguyễn Ánh sau 1788 cũng đưa tới cho Nho giáo ở Gia Định những nguồn lực phát triển mới trên cả hai phương diện trình độ Nho học và số lượng nho sĩ. Khi nhà nho nổi tiếng đất Gia Định Võ Trường Toản chết năm 1792, chính quyền Gia Định đã viếng một đôi liễn trong đó vế đầu là “Triều hữu huân danh, bán thuộc Hà Phần cựu học” (Bề tôi có tiếng trong triều, nửa là trò cũ), theo đó đủ thấy địa vị của tầng lớp nho sĩ trong hệ thống chính trị của triều đình Gia Định đương thời. Bước phát triển mang tính chất đột biến này cũng hàm chứa những hạn chế về lịch sử và chính trị, song nét nổi bật của Nho giáo ở địa phương trước 1802 là nó hình thành trên cơ sở một đội ngũ nho sĩ thương nhân – thị dân có thể coi là lực lượng tinh hoa của bộ phận Nho giáo nhân dân hóa trong quốc gia Đại Việt cuối thế kỷ XVIII, nên cũng mau chóng hòa nhập được vào với trào lưu thống nhất đất nước đương thời. Chính trong hoàn cảnh ấy mà với vai trò là hệ thống chuẩn mực xã hội gắn liền với những mục tiêu quản lý cụ thể của chính quyền, Nho giáo ở Gia Định cũng đồng thời hiện diện như hệ thống học thuật – lý luận phục vụ cho các lợi ích chính trị xác định của tập đoàn Nguyễn Ánh.

Những đặc điểm của Nho giáo ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Chính thức định hình lúc quốc gia Đại Việt đang chuyển qua một giai đoạn phát triển mới trong hoàn cảnh nền kinh tế hàng hóa tiền tư bản đang đòi hỏi xác lập một thị trường dân tộc rộng lớn và thống nhất hơn, Nho giáo ở Gia Định thời gian 1788 – 1802 đã phát triển một cách đột biến. Xuất hiện đúng vào lúc xã hội địa phương bị hút vào một cuộc chiến tranh chấm dứt ba trăm năm phân tranh và nội chiến, Nho giáo ở Gia Định thời gian này cũng mang nhiều đặc điểm khác với các thời kỳ sau.

Có thể nói sự phát triển của Nho giáo ở Việt Nam là một quá trình gồm hai giai đoạn mang hai nội dung chủ yếu. Giai đoạn đầu là quá trình dân tộc hóa từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, chủ yếu là về chính trị và pháp quyền, giai đoạn sau là quá trình nhân dân hóa từ thế kỷ XVI, chủ yếu là về văn hóa và xã hội. Tình hình nói trên cùng với việc mở rộng về phía nam của bản đồ Đại Việt, sự phát triển của kinh tế thương nghiệp… từ thế kỷ XVI đã làm hình thành trong Nho giáo ở Việt Nam hai hệ thống Nho giáo khác nhau là Nho giáo quan phương và Nho giáo nhân dân hóa. Nhưng từ thời Lê trung hưng trở đi tình trạng nội chiến triền miên đã đẩy Nho giáo quan phương ở Đàng Ngoài vào một cuộc khủng hoảng ở đó tinh thần chính thống của Nho giáo bị phủ nhận trong thực tế, chẳng hạn bộ máy quan liêu lồng vào tổ chức quân chính với thiết chế “đã có vua lại có chúa” quái gở của chính quyền Lê Trịnh đã thật sự là một báng bổ đối với chuẩn mực chính trị Nho gia. Nhưng trên địa bàn Đàng Trong từ thế kỷ XVII trở đi thì tình hình có khác. Được kích thích bởi kinh tế ngoại thương, văn hóa Đông Nam Á đương thời đã phát triển theo một quỹ đạo ngày càng xa lạ với mô hình Đông Á. Cho nên sau khi bước vào môi trường văn hóa Đông Nam Á trong hoàn cảnh biệt lập về chính trị với Đàng Ngoài, chính quyền Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII đã tiến tới thiết chế văn hóa – tư tưởng “Nho Thích song hành”, một thiết chế khá gần gũi với mô hình “chính trị – tôn giáo hợp nhất” phổ biến ở nhiều quốc gia trong khu vực đương thời nhưng lại có tác dụng kích thích sự phát triển của hệ thống Nho giáo nhân dân hóa. Sự phát triển của hệ thống này trong những điều kiện cụ thể ở địa phương đã đưa tới những đặc điểm của Nho giáo ở Gia Định thời gian 1788 – 1802.

Thứ nhất, trên phương diện tầng lớp nho sĩ thì tương tự nho sĩ ở Trung Quốc thời Minh Thanh cư trú ở đô thị nhiều hơn là nông thôn, nho sĩ ở Nam Bộ thời Đàng Trong tiếp xúc với kinh tế hàng hóa thường xuyên hơn và do đó cũng mang phong cách thị dân rõ nét hơn. Nam Bộ lại là vùng đất mới, tầng lớp nho sĩ hình thành muộn và còn gần gũi với sinh hoạt dân dã, chẳng hạn Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh đều là con nhà thương nhân, hay Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu từ miền Trung vào Nam đều phải vất vả lo toan sinh kế. Nhìn chung cuối thế kỷ XVIII ở Nam Bộ chưa có các gia tộc nhiều đời đỗ đạt kiểu họ Ngô Tả Thanh Oai, họ Nguyễn Tiên Điền ở Đàng Ngoài, học phong vì thế chưa đi vào lối mòn tầm chương trích cú. Đặc biệt, từ 1775 nhiều quan lại, nhà nho Đàng Trong như Bạch Doãn Triều, Nguyễn Thái Nguyên đã lặn lội vào Nam theo “cựu chủ”, và sau cái chết của Quang Trung năm 1792 thì nhiều nhà nho miền Bắc chống Tây Sơn như Đặng Trần Thường, Nguyễn Gia Cát cũng nối nhau vượt biển vào Gia Định kiếm “minh quân”. Sự quy tụ nhi�
��u nho sĩ có lai lịch học nghiệp khác nhau như vậy làm phong phú thêm diện mạo của tầng lớp nho sĩ ở Gia Định sau 1788, và vì vậy cũng ít nhiều có tác động tích cực tới Nho học ở vùng này.

Thứ hai, trên phương diện Nho học thì trong thời gian 1788 – 1802 tầng lớp nho sĩ Gia Định mà đặc biệt là các nhà nho Minh Hương có một căn bản học vấn không chỉ giới hạn trong khuôn khổ kinh sử tử tập, như Lê Quang Định, Ngô Nhơn Tịnh, Trịnh Hoài Đức giỏi cả cầm kỳ thư họa, hay Phạm Đăng Hưng “thông hiểu cả lễ nhạc chức chưởng, lịch pháp binh thư”. Đầu thế kỷ XIX vẫn còn những người như Trương Hảo Hiệp giỏi vẽ tranh trên quạt (phiến phổ), chính là bắt nguồn từ truyền thống phong lưu tài tử này. Mặt khác việc chính quyền Nguyễn Ánh mở cửa buôn bán với nước ngoài và sử dụng nhiều người phương Tây cũng ít nhiều tác động tới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, từ đó bổ sung thêm cho Nho học ở Gia Định cuối thế kỷ XVIII nhiều yếu tố khoa học kỹ thuật phương Tây. Việc Trần Văn Học giỏi về kỹ thuật kiến trúc và trắc địa châu Âu hay Lê Quang Định trong Hoàng Việt Nhất thống dư địa chísau 1802 ghi chép về sự rộng hẹp khác nhau tùy theo lúc nước lớn nước ròng của các cửa sông khá tường tận… là những ví dụ tiêu biểu.

Sau cùng, trên phương diện Nho phong thì khác với phần lớn nho sĩ Đàng Ngoài vốn tích lũy được nhiều kinh nghiệm ứng xử độc đáo trong hoàn cảnh “đã có vua lại có chúa” suốt hai trăm năm, tầng lớp nho sĩ ở Gia Định thời Đàng Trong chỉ biết có họ Nguyễn như vương triều chính thống. Sự hiện diện của Tây Sơn từ 1776 đến 1788 lại không đủ gây ra một phân hóa về chính trị trong tầng lớp nho sĩ Gia Định, nên với tâm lý cứng cỏi mà phóng khoáng kế thừa từ các thế hệ tiền nhân đi đầu khai cương thác thổ, họ đã nhất hóa lý tưởng kinh bang tế thế và đạo đức quân tử vào với việc phục vụ và ủng hộ chính quyền Nguyễn Ánh từ 1788 trở đi. Ngô Tòng Châu từng đề nghị Nguyễn Ánh bỏ bài vị của Tham tri bộ Hộ Trần Văn Mỹ ra khỏi đền Hiển trung Gia Định vì ông này lúc sống có tật ăn hối lộ, và giữa những thăng trầm của một thời loạn lạc, hoàng gia họ Nguyễn Đàng Trong từ Duệ tông Phước Thuần, Đông cung Phước Dương tới Nguyễn Ánh cũng không một ai rủi ro như Đoan Nam vương Trịnh Khải bị Nguyễn Trang bắt nộp cho Tây Sơn ngay trước mặt thầy học là Thiêm sai Tri Lại phiên Lý Trần Quán với lập luận “Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân” …

Ai thống nhất đất nước, Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh?

Có ý kiến cho rằng Nguyễn Huệ là người thống nhất đất nước, có ý kiến lại cho rằng Nguyễn Ánh mới là người thống nhất đất nước, nhưng so với thực tế thì cả hai ý kiến nói trên đều không đúng. Tây Sơn mà nổi bật là bộ phận dưới quyền Nguyễn Huệ đã lật đổ ách thống trị của hai tập đoàn phong kiến Lê Trịnh phía bắc và Nguyễn ở phía nam, tuy nhiên chính Tây Sơn lại chia ba đất nước sau vụ xung đột giữa anh em Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ năm 1786. Nguyễn Ánh thì bắt đầu từ mục tiêu giành lại chiếc ngai vàng của dòng họ mà phát động chiến tranh chống Tây Sơn, nên việc thống nhất đất nước năm 1802 chỉ là một kết quả khách quan không xuất phát từ động cơ của Nguyễn Ánh. Cũng đã có ý kiến dung hòa, cho rằng quá trình thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX gồm hai giai đoạn, giai đoạn đầu là xóa bỏ tình trạng cát cứ thì công lao thuộc về Quang Trung Nguyễn Huệ, giai đoạn sau là tiến hành thống nhất trở lại thì công lao thuộc về Gia Long Nguyễn Ánh. Nhưng cách đặt vấn đề “Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh là người thống nhất đất nước?” cũng như lối giải thích phân chia công trạng như trên về cơ bản đều xuất phát từ quan niệm coi lịch sử như kết quả hành động và ý chí của một số cá nhân, và do đó hoàn toàn không phù hợp với cả nội dung vận động lẫn thực tế phát triển của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

Nhìn lại lịch sử Việt Nam thời gian 1771 – 1802, có thể thấy đây là giai đoạn kết thúc gần 300 năm phân tranh và nội chiến đồng thời mở ra một giai đoạn phát triển mới trong đó Việt Nam bắt đầu thực sự là một quốc gia thống nhất nối liền từ Lạng Sơn tới Cà Mau. Rõ ràng đây là một giai đoạn lịch sử có những động lực cụ thể và động thái riêng biệt khác hẳn với trong tất cả những giai đoạn trước và sau nó. Nếu nhớ lại rằng trong suốt 45 năm từ 1627 đến 1672, đôi bên Trịnh Nguyễn cũng đã nỗ lực trong các hoạt động quân sự để thống nhất đất nước nhưng vì đều không đạt kết quả nên đành phải chấp nhận “giới tuyến” sông Gianh, người ta sẽ thấy ngoài những nguyện vọng cá nhân thì việc thống nhất quốc gia còn phải có các điều kiện xã hội. Các điều kiện ấy đã bắt đầu hình thành với nền kinh tế thương nghiệp ở Đàng Trong tuy chưa đầy đủ, nhưng chiến tranh đã thúc hối lịch sử – sau phản ứng sinh tồn của nó trước cái loạn tiền kẽm ở Đàng Trong, kinh tế hàng hóa tiền tư bản đã từng bước tiến tới nhu cầu về một thị trường dân tộc rộng lớn và thống nhất hơn trước. Cho nên tuy phải trải qua một con đường quanh co mới tới được năm 1802, trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII vẫn đã dấy lên như sự đáp ứng của lịch sử đối với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của dân tộc đương thời với một sức mạnh nhấn chìm tất cả các lực lượng và cá nhân chống lại hoặc không đủ khả năng ghép mình vào với nó. Lê Trịnh dừng lại ở Thuận Quảng thì Nguyễn Huệ tới Thăng Long, Tây Sơn chia ba đất Việt Nam thì Nguyễn Ánh về Gia Định. Mặt khác, vận động trên cơ sở sự phát triển và đấu tranh giữa các lực lượng chính trị nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển của riêng xã hội Việt Nam, trào lưu này cũng cần có những điều kiện cần thiết để về tới đích. Không phải ngẫu nhiên mà cả 2 vạn quân Xiêm can thiệp lẫn 29 vạn quân Thanh xâm lược đều mau chóng bị đánh tan tành – trào lưu thống nhất đất nước đương thời phủ nhận tất cả các lực lượng bên ngoài đe dọa nền độc lập dân tộc là điều kiện chính trị cơ bản nhất cho sự tồn tại của nó.

Từ cách nhìn nhận như trên về nội chiến 1771 – 1802, có thể thấy các lực lượng chính trị từ Lê Trịnh tới Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn Ánh đều bị chi phối bởi trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam, và nhờ những điều kiện khách quan trong đó có sự thoái bộ về cả tư tưởng, chính trị lẫn tổ chức của vương triều Tây Sơn mà Nguyễn Ánh đã ngẫu nhiên ghép mình được vào với trào lưu ấy và giành được thắng lợi. Dĩ nhiên trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII phải vận động trên cơ sở những lực lượng và quan hệ vốn có trong tổ chức và ý thức hệ xã hội đương thời, nên nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh không thể vượt khỏi giới hạn một cuộc chiến tranh giành quyền thống trị giữa hai tập đoàn phong kiến. Nhưng khác với thời chiến tranh Nam Bắc triều hay Trịnh Nguyễn phân tranh trước kia, cuộc chiến tranh này phải dẫn tới sự hình thành một hệ thống chính trị có cơ cấu thống nhất và quyền lực tập trung mới có thể đáp ứng nhu cầu xác lập một thị trường không chia cắt của kinh tế hàng hóa. Chính vì vậy mà mặc dù vẫn mang tính chất một cuộc chiến tranh phong kiến, nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh lại hàm chứa cả nội dung của một cuộc đấu tranh thống nhất quốc gia. Tình hình không trùng khớp giữa nội dung và tính chất nói trên thể hiện đặc biệt rõ nét qua khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả hoạt động của bên kết thúc chiến tranh là tập đoàn Nguyễn Ánh. Mặc dù có những hoạt động ngẫu nhiên phù hợp với yêu cầu xã hội và hoàn cảnh đất nước đương thời, tập đoàn này cũng chỉ tiến hành chiến tranh với ý thức phục thù nhằm chống lại một đối phương vừa là kẻ thù giai cấp vừa là đối thủ chính trị mà khôi phục ngai vàng, và trên đường hướng này, nó đã thực hiện việc thống nhất quốc gia như một công cụ vô thức của lịch sử.

Nội dung của trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam

Khác với thời chiến tranh Nam Bắc triều hay Trịnh Nguyễn phân tranh, nội chiến 1771 – 1802 diễn ra vào lúc đất nước và xã hội đã tích lũy được những khả năng vật chất và tinh thần cho phép con người Việt Nam tiến tới việc thống nhất quốc gia trên một căn bản điều kiện phát triển hơn và từ một thực tế nhu cầu tiến bộ hơn so với trước. Điều kiện ấy là trình độ phân công lao động xã hội cao hơn của nền sản xuất vật chất thể hiện qua sự phát triển vượt bậc của thủ công nghiệp và nhất là thương nghiệp, còn nhu cầu ấy là đòi hỏi tất yếu về việc xóa bỏ ranh giới chính trị – kinh tế cũ để xác lập một thị trường dân tộc rộng lớn hơn. Dĩ nhiên, nhu cầu nói trên không xuất hiện một cách trọn vẹn và ngay lập tức trong đời sống xã hội đương thời, mà đã hình thành trong quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa kinh tế hàng hóa tiền tư bản với hệ thống chính trị trong hoàn cảnh quốc gia phong kiến Việt Nam lúc ấy, quá trình này chính thức bắt đầu với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn năm 1771 ở Đàng Trong. Và sau khi Hoàng Ngũ Phúc tiến vào Thuận Hóa, mâu thuẫn giữa kinh tế thương nghiệp với chính quyền phong kiến nói trên cũng dần dần phát triển đồng thời chuyển hóa về cả tính chất lẫn hình thức chính trị trong quá trình lan ra trên địa bàn phía bắc sông Gianh. Mâu thuẫn giữa kinh tế thương nghiệp với hệ thống chính trị trong quốc gia phong kiến đến đây không chỉ còn là vấn đề xã hội ở địa bàn Đàng Trong, điều này làm định hình nhu cầu về việc xác lập một thị trường dân tộc thống nhất hơn song song với sự khẳng định yêu cầu về việc giải quyết mâu thuẫn nói trên qua một hệ thống chính trị thống nhất và trên cơ sở một quốc gia thống nhất. Có thể nói sự kết hợp giữa kinh tế hàng hóa tiền tư bản với truyền thống thống nhất của dân tộc đã trở thành động lực lịch sử và động thái văn hóa của tiến trình xã hội cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam. Thông qua biểu hiện tư tưởng và hình thức chính trị là trào lưu thống nhất đất nước đương thời, động lực và động thái này đã quy định cả tính chất lẫn nội dung cũng như chi phối cả diễn biến lẫn kết quả của nội chiến 1771 – 1802.

Hội tụ đồng thời thể hiện các đặc điểm cũng như quy luật của kinh tế hàng hóa và truyền thống dân tộc, trào lưu thống nhất đất nước cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam mang trong nó một nội dung phức hợp. Chẳng hạn, việc tập đoàn Nguyễn Ánh mở cửa về ngoại thương và ngoại giao nhằm tranh thủ kỹ thuật quân sự phương Tây mặc dù mang tính chất thực dụng vẫn là một biến thái chiến tranh của hoạt động giao lưu, và sự tiếp xúc rộng rãi với nước ngoài trên cơ sở quan hệ thị trường như vậy phù hợp với xu thế cũng như khả năng của hoạt động giao tiếp trong nội bộ dân tộc. Tương tự, không phải ngẫu nhiên mà một số hoạt động của hai lực lượng tham gia nội chiến 1771 – 1802 lại mang một dáng vẻ đồng nhất: Tây Sơn trọng dụng các văn thần Lê Trịnh như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích còn Gia Định tiếp nhận các sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Gia Cát, Đặng Trần Thường, Quang Trung thu dụng đám cướp biển Tề Ngôi Trung Quốc còn Nguyễn Ánh chiêu nạp bọn người phiêu lưu đánh thuê Tây phương, quân Tây Sơn thu hút nhân dân các dân tộc ít người vùng Tây Nguyên thì quân Nguyễn Ánh cũng phiên chế người Khmer Nam Bộ và người Chăm ở Nam Trung Bộ… Cần lưu ý rằng quá trình hoàn chỉnh ý thức dân tộc – quốc gia, quá trình định hình việc giao lưu văn hóa – khoa học với nước ngoài, quá trình phát triển của hệ thống chuẩn mực xã hội và tư duy chính trị theo hướng cởi mở hơn, quá trình phổ biến đồng thời hoàn thiện hơn của chủ nghĩa nhân đạo… trên toàn quốc thời gian này đều ít nhiều thể hiện và phản ảnh các đặc điểm cũng như quy luật của kinh tế hàng hóa. Đây chính là những yếu tố thúc đẩy văn hóa truyền thống trở thành một lực lượng thực sự và trực tiếp tham gia vào nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh, và với động thái phát triển là sự hội nhập với các xu thế xã hội của kinh tế hàng hóa, nó đã góp phần đưa con người Việt Nam đi tới chỗ kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước vào năm 1802.

Thái độ của nhân dân và trí thức Nam Bộ đối với Tây Sơn

Vào lúc Tây Sơn khởi nghĩa thì xã hội Đàng Trong với sự tiếp sức của kinh tế thương nghiệp vẫn chưa rơi vào quỹ đạo suy thoái, mặt khác đồng bằng Nam Bộ đất rộng người thưa vô hình trung đã trở thành nơi giải quyết một cách tạm thời và tự phát những mâu thuẫn kinh tế và xã hội về mặt chiếm hữu ruộng đất không chỉ dưới thời Đàng Trong mà còn cả dưới thời Nguyễn sau 1802. Cho nên suốt thời phong kiến vùng này hầu như không có phong trào khởi nghĩa nông dân, đây là nguyên nhân lịch sử khiến phần đông trí thức và nhân dân Nam Bộ cuối thế kỷ XVIII không nhiệt tình ủng hộ Tây Sơn chống họ Nguyễn. Nói rộng ra thì trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam mâu thuẫn kinh tế chủ yếu ở vùng này không phải là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân về mặt chiếm hữu ruộng đất mà là giữa tầng lớp chủ ruộng với chính quyền trong việc tiêu thụ lương thực hàng hóa. Chính vì vậy mà khi Tây Sơn tàn phá Cù lao Phố năm 1776, tàn sát người Hoa ở Sài Gòn năm 1783 khiến kinh tế thương nghiệp ở Nam Bộ đình đốn thì địa chủ và thương nhân Nam Bộ ủng hộ Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, còn khi triều Nguyễn trọng nông ức thương thì địa chủ và thương nhân vùng này lại ủng hộ Lê Văn Khôi đứng lên chống triều Nguyễn. Dễ hiểu vì sao trong hơn mười năm ra vào Nam Bộ Tây Sơn vẫn không được đông đảo nhân dân vùng này ủng hộ – tầng lớp trí thức thì phản đối Tây Sơn từ góc độ lịch sử quan và ý thức hệ, các tầng lớp xã hội khác thì phản đối Tây Sơn vì những lý do quyền lợi. Trong bài Đề Lễ công từ viết trên tường đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh tại Biên Hòa sau khi Tây Sơn cướp phá Cù lao Phố, nhà nho Lâm Tấn đã viết “Bình sinh nhất trích tầm thường lệ, Bất khốc trung thần khốc loạn thần” (Than khóc loạn thần làm hại nước, Trung thần đâu phải khóc thương nhau), đặt Tây Sơn vào thế đối lập với quá trình xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, tổ chức xã hội, bảo vệ đất nước hàng trăm năm của cộng đồng Việt Nam ở Nam Bộ. Đại Nam Chính biên Liệt truyện chép Võ Văn Lượng người Tân Hòa, cha là Trung giàu có, quân Tây Sơn tới cướp, cá mắm nhiều quá không sao chở hết bèn vứt bỏ vương vãi, lại ỉa vào đó, khiến Lượng căm giận nói với cha “Tây Sơn coi mình như chó, xin dấy nghĩa quân giết giặc để rửa hận”, sau đó Trung chết, Lượng bèn cùng Võ Tánh dấy quân chiếm Gò Công chống lại Tây Sơn.

Cũng phải kể tới những nguyên nhân khác. Trước khi đánh vào Nam Bộ Tây Sơn gặp một khó khăn về mặt chính trị, đó là không tìm được cho mình một danh nghĩa nhất quán để có được chính nghĩa mà chống lại tâm lý tôn phù chính thống đối với họ Nguyễn của một bộ phận nhân dân Nam Bộ đương thời. Cho nên sau khi vứt bỏ chiêu bài tôn phù Hoàng tôn Dương, họ đã mất một viên đại tướng là Châu Văn Tiếp. Nhưng quan trọng hơn là ngay cả sau khi đánh vào Nam Bộ lực lượng này vẫn chưa có một cương lĩnh chính trị rõ ràng, bằng chứng là ngoài việc tàn phá các trung tâm thương nghiệp, trong thời gian kiểm soát đồng bằng Nam Bộ trước 1788 họ vẫn không coi đây là một vùng đất mà mình phải quản lý trên cương vị của một chính quyền, thậm chí trong một số trường hợp còn cướp bóc, tàn hại nhân dân. Rõ ràng trong những ngày đầu vào tới Nam Bộ Tây Sơn vẫn là một lực lượng mà ý thức quốc gia chưa lấn át được tâm lý địa phương, nên đã có những hoạt động khiến họ trở thành một lực lượng phá hoại quá trình xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa trong con mắt của nhiều tầng lớp nhân dân Nam Bộ. Có thể nói trước khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất thì nhiều tướng lãnh Tây Sơn, đặc biệt là bộ phận dưới quyền Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ vẫn chỉ coi Nam Bộ như khu vực ngoại vi sở dĩ phải quản lý chỉ vì nhu cầu quân sự. Khi đề cập tới các chiến dịch của Tây Sơn đánh vào Nam Bộ, sử quan triều Nguyễn về sau thường dùng từ “nhập khấu” (vào cướp), tuy mang hàm ý bôi nhọ nhưng cũng ít nhiều phù hợp với thực trạng nói trên.

Hoạt động quản lý xã hội của Tây Sơn ở Gia Định thời gian 1777 – 1788.

Các tài liệu còn lại đến nay không cung cấp được bao nhiêu thông tin về vấn đề này, nhưng trong hơn mười năm tranh chiếm quyết liệt với Nguyễn Ánh, không phải Tây Sơn không có những hoạt động quản lý xã hội ở Nam Bộ trên các phương diện hoạt động quản lý hộ tịch, hoạt động tư pháp và hoạt động giữ gìn trật tự trị an. Hiện nay ở hội quán Minh Hương Vĩnh Long vẫn còn lưu giữ một số tờ khai về số lượng nhân đinh, ghe thuyền của xã Minh Hương Vĩnh Long có đóng dấu xác nhận của chính quyền Tây Sơn đề niên hiệu Thái Đức, Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷcũng có nhắc tới “những người lão hạng lão nhiêu trong hộ tịch của Tây Sơn”, tuy nhiên việc kiểm kê và lập sổ sách đăng ký ấy nhằm đáp ứng nhu cầu thu thuế và giữ gìn trật tự trị an trong thời chiến chứ không nhằm vào việc phát triển kinh tế. Tương tự, năm 1785 Đô đốc Nguyễn Trấn của Tây Sơn cũng cho đào Rạch Mới sông Tranh nhưng chủ yếu để trấn áp dư chúng Đông Sơn, thậm chí việc dời chợ Sài Gòn tới Cầu Sơn làm đình đốn hoạt động thương nghiệp ở địa phương cũng xuất phát từ mục đích quân sự. Cho nên ở đây cần nhìn lại căn bản nhận thức và tư tưởng đã quyết định chính sách của Tây Sơn trong các hoạt động quản lý xã hội ở Nam Bộ đến 1788, bởi vì rõ ràng họ hoàn toàn không có một chính sách toàn diện và lâu dài đủ để tạo được cơ sở xã hội của mình ở khu vực này.

Hình thành trên cơ sở một lực lượng phức tạp bao gồm nhiều nhóm xã hội cả nông dân, thương nhân, nho sĩ, cả người Việt, người Hoa, người các dân tộc Tây Nguyên, người Chăm… trong một phản ứng tự phát của kinh tế thương nghiệp trước hậu quả nghiêm trọng bắt nguồn từ chủ trương tài chính sai lầm của chính quyền, Tây Sơn trong thời gian đầu lại hiện diện như một phong trào không thuần nhất về tư tưởng và chính trị. Sau khẩu hiệu tôn phù Hoàng tôn Dương, chống Trương Phước Loan, họ lại nhận danh hiệu “Tây Sơn hiệu…” như một đạo tiên phong độc lập của quân Trịnh phía nam đèo Hải Vân. Cho nên trong hoàn cảnh xã hội đương thời thì sự phát triển về quân sự của Tây Sơn tự nó đã gắn liền với sự phân hóa về chính trị, nhất là khi lực lượng này phải đối đầu với một đối phương vốn có truyền thống gần hai trăm năm. Tờ chiếu đại xá của Thế tông Phước Hoạt lúc xưng vương năm 1744 có câu “Nay ta tuổi trẻ, vâng nối nghiệp xưa. Mới cầm quyền chính bảy năm, chưa có oai quân tháng sáu. Thầm nghĩ nước chưa thống nhất, giặc chưa dẹp yên, vẫn gắng noi theo tiên tổ. Ngờ đâu người đều đồng tâm, thần báo điềm tốt, ân cần khuyên giục xưng vương”, nghĩa là lúc đã tiến thêm một bước trên con đường cát cứ phương Nam vẫn không quên tỏ ra quan tâm tới sự nghiệp thống nhất đất nước. Ý thức chính trị ấy là kết tinh của những tri thức và kinh nghiệm tích tụ lại sau hàng trăm năm thống trị, những tri thức và kinh nghiệm chưa có ở những người lãnh đạo Tây Sơn. Cho nên đúng như K. Marx đã nhận định “Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải trong những điều kiện họ muốn, mà là trong những điều kiện có thật, đã cho sẵn và do quá khứ để lại”, trong một thời gian dài chính quyền Tây Sơn cũng phải tiến hành quản lý xã hội trong những điều kiện “do quá khứ để lại” ấy, mà trước hết là mô hình tổ chức chính quyền kiểu quân chính, tức thiết chế trong đó quân đội và võ tướng nắm quyền lực hành chính đã có từ thời Đàng Trong. Mô hình này tự thân nó dễ dẫn tới sự lạm dụng quyền lực cá nhân, nên kết hợp với tâm lý địa phương ở nhiều tướng lãnh Tây Sơn nói trên, nó rất dễ khiến Tây Sơn trở thành một lực lượng có những hành động mang tính chất phá hoại kinh tế, hủy diệt xã hội đối với một khu vực chỉ được họ coi là địa bàn ngoại vi như vùng Nam Bộ.

Sự chia rẽ trong nội bộ Tây Sơn

Cho đến trước chiến thắng Kỷ dậu 1789 tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, Tây Sơn vẫn là một lực lượng không có danh phận chính thống trong sinh hoạt chính trị Việt Nam thế kỷ XVIII. Mặc dù Nguyễn Nhạc đã lên ngôi hoàng đế năm 1778, Tây Sơn ở Quy Nhơn vẫn bị coi là một vương triều soán đoạt, một chính quyền tiếm nghịch, vì ở Gia Định vẫn còn Nguyễn Ánh, và phía bắc Quảng Nam thì Lê Trịnh vẫn còn đóng giữ Phú Xuân. Nhưng người đánh chiếm Phú Xuân năm 1785 lại là Nguyễn Huệ, và con người kiêu hùng vốn trẻ tuổi và có tài hơn Nguyễn Nhạc rất nhiều này lại không cam lòng giới hạn hoạt động của mình trên địa bàn Đàng Trong cũ mà theo quan niệm phổ biến trong nội bộ Tây Sơn đương thời rất dễ được coi như vương quốc của anh ông. Cho nên sau khi đánh chiếm Phú Xuân, Nguyễn Huệ đã theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc. Sợ Nguyễn Huệ chuyên quyền, Nguyễn Nhạc vội vã ra Bắc bắt Huệ rút quân về, lại hỏi lấy những vàng bạc mà Huệ lấy được của chúa Trịnh. Huệ không chịu, Nhạc tức giận cưỡng hiếp cả vợ Huệ để hả giận. Mâu thuẫn giữa đôi bên lên tới đỉnh điểm, Nguyễn Huệ đem quân vây thành Đồ Bàn, Nguyễn Nhạc lên thành khóc lóc xin giảng hòa, Tây Sơn lại chia ba Việt Nam, theo đó Nguyễn Nhạc làm Trung ương hoàng đế cai trị phần đất từ Quảng Ngãi tới Bình Thuận, Nguyễn Huệ là Bắc Bình vương quản lý vùng đất từ Quảng Nam trở ra Bắc, Nguyễn Lữ là Đông Định vương trấn thủ Nam Bộ. Quá trình chia rẽ của Tây Sơn chính thức bắt đầu từ đó, với những hậu quả sẽ đưa tới sự sụp đổ của vương triều năm 1802.

Ngay sau khi vừa chia ba Việt Nam, nhân vật bất tài nhất trong ba anh em Tây Sơn là Nguyễn Lữ đã để phần quả thực của mình lọt vào tay Nguyễn Ánh. Cho nên trong thời gian 1788 – 1802, mâu thuẫn trong nội bộ Tây Sơn chủ yếu chỉ là giữa Phú Xuân của cha con Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản với Quy Nhơn của cha con Nguyễn Nhạc, Nguyễn Bảo. Thật ra những chiến thắng của Nguyễn Ánh trong thời gian từ 1788 đến 1792 trở đi cũng khiến anh em Nhạc, Huệ có lần phải tính chuyện liên kết để tiêu diệt kẻ “quốc thù” phía nam này, chẳng hạn sau chiến dịch tháng 7. 1792 trong đó quân Nguyễn Ánh mất thời gian cả đi lẫn về chưa đầy nửa tháng nhưng phá được căn cứ thủy quân của Tây Sơn ở Thi Nại, lấy được 5 chiếc đại hiệu thuyền, 30 chiếc hải đạo thuyền và 40 chiếc sai thuyền thì ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5 (27. 8. 1792) Nguyễn Huệ đã gởi hịch cho quân dân hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn nói Phú Xuân sẽ đem hết quân thủy bộ vào đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định “theo lệnh vua anh”. Tuy nhiên hai mươi ngày sau, Quang Trung đột ngột băng hà. Nguyễn Nhạc ra Phú Xuân điếu tang nhưng tới Quảng Nam thì bị tướng lĩnh dưới quyền Nguyễn Quang Toản ngăn chặn đành phải quay về, từ đó đôi bên không còn nghĩ gì tới chuyện liên kết chống Nguyễn Ánh nữa. Tuy nhiên không những giữa Phú Xuân với Quy Nhơn nghi kỵ nhau, mà giữa anh em Cảnh Thịnh Quang Toản và Khang công Tiết chế Bắc Thành Quang Thùy cũng có chuyện bằng mặt không bằng lòng, đây là chưa nói tới chuyện Tư khấu Võ Văn Dũng giết Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu ruột của Đô đốc Bùi Thị Xuân vợ Thiếu phó Trần Quang Diệu gây ra vụ đôi bên đem quân bản bộ đánh nhau ở Phú Xuân năm 1795, khiến Quang Toản phải sai Phan Huy Ích viết bài Dụ nhị súy quốc âm hiểu văn tới giảng hòa.

Năm 1793 quân Nguyễn Ánh vây Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc bị bệnh nặng sai đưa thư tới Phú Xuân cáo cấp. Nguyễn Quang Toản sai Thái úy Phạm Công Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại Tư lệ Lê Trung, Đại Tư mã Ngô Văn Sở đem 17.000 quân bộ, 80 voi và 30 chiến thuyền vào cứu viện, nhân đó chiếm giữ luôn Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc tức giận thổ huyết mà chết. Quang Toản phong Nguyễn Bảo con Nguyễn Nhạc làm Hiếu công ăn lộc huyện Phù Ly (sử gọi là Tiểu triều), để các tướng lại giúp đỡ nhưng thật ra là khống chế Bảo. Bảo uất hận nên có ý muốn hàng Nguyễn Ánh. Năm 1798 Lê Trung nghe tin Trần Quang Diệu bất hòa với các tướng Tây Sơn ở Phú Xuân bèn mang quân về giúp, để tướng là Uyên thành hầu ở lại. Bảo bắt giam Uyên thành hầu, sai tướng giữ Phú Yên, đưa biểu tới Nguyễn Ánh xin cứu viện. Ánh sai Nguyễn Văn Thành đem quân tới cứu, nhưng Thành chưa tới kịp thì Quang Toản đã đem quân đánh gấp bắt giết được Nguyễn Bảo, giữ được Quy Nhơn. Nhưng sau đó Quang T
oản lại nghi ngờ giết luôn tướng tâm phúc của Trần Quang Diệu là Lê Trung, khiến Đại Đô đốc Lê Chất con rể Trung sợ liên lụy bỏ trốn, sau về hàng Nguyễn Ánh làm quan tới chức Chưởng Hậu quân, Tổng trấn Bắc Thành… Sự chia rẽ giữa Thuận Hóa và Quy Nhơn của Tây Sơn từ 1786 đã kích thích sự hội tụ ở Gia Định, nên sau cái chết của Quang Trung Nguyễn Huệ, Gia Định của Nguyễn Ánh cũng trở thành nơi quy tụ các lực lượng chống Tây Sơn trên toàn quốc, khiến cuộc chiến tranh chống Tây Sơn của tập đoàn Nguyễn Ánh dần dần mang tính chất cuộc phản kích của toàn bộ giai cấp phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đối với phong trào khởi nghĩa nông dân.

Hoạt động quản lý xã hội của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1778 – 1788

Khác với Tây Sơn chỉ coi Nam Bộ chủ yếu như một khu vực ngoại vi phải tiến hành các hoạt động quân sự mà bảo vệ Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đã sớm xác định đây là địa bàn để xây dựng cơ sở mà khôi phục ngai vàng của dòng họ. Cho nên ngay sau khi vừa chiếm lại được Gia Định năm 1778, Ánh đã tiến hành các hoạt động xây dựng chính quyền như đặt công đường ở ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ, “đóng chiến thuyền, chứa quân lương để mưu đồ khôi phục”, thậm chí còn cố gắng duy trì ảnh hưởng ở Chân Lạp với trận dùng quân của Đỗ Thanh Nhơn và chức Bảo hộ của Hồ Văn Lân. Ngoài ra bên cạnh việc xây lăng Duệ tông Phước Thuần và phần mộ của Tân chính vương Phước Dương, Ánh còn cho dựng nhà Tôn miếu theo thể chế của các vương triều phong kiến. Ngoài chi tiết Chưởng cơ Trần Xuân Trạch người Giao Thủy Nam Định “coi việc binh dân ở Phiên Trấn”, hiện không có tư liệu đủ để tìm hiểu bộ máy chính quyền địa phương và hoạt động quản lý xã hội của Nguyễn Ánh ở Gia Định trước khi chạy qua Xiêm. Tuy nhiên có thể nói rằng ngay từ 1778 với kinh nghiệm thống trị gần hai trăm năm của tổ tiên, Nguyễn Ánh đã tiến hành cuộc chiến tranh chống Tây Sơn một cách toàn diện, và do đó về khách quan cũng đã tạo ra một số thay đổi tích cực trên vùng Nam Bộ mà tổ chức xã hội còn lỏng lẻo và tiềm năng kinh tế chưa được khai thác hết.

Về kinh tế, cuối năm 1778, Nguyễn Ánh “xem đồ bản các dinh đất Gia Định, chia vạch địa giới ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ khiến cho liên lạc nhau”, trong đó dinh Phiên Trấn lãnh một huyện là Tân Bình, có bốn tổng Bình Dương, Tân Long (khu vực Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay), Phước Lộc (khu vực Cần Đước, Cần Giuộc tỉnh Long An hiện nay) và Bình Thuận (khu vực huyện Bến Lức và Châu Thành tỉnh Long An hiện nay). Thời Đàng Trong việc quản lý hộ khẩu ruộng đất ở Gia Định rất lỏng lẻo, có nơi ở Phiên Trấn mà đánh thuế làm đất Trấn Biên, cũng có nơi ở Trấn Biên mà đánh thuế làm đất Phiên Trấn, ruộng đất chỉ nắm con số đại khái, không chia ra hạng tốt, hạng xấu, đặt chín khố trường nạp riêng (các kho Quy An, Quy Hóa, Cảnh Dương, Thiên Mụ, Giản Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạch, Bả Canh, Tân Thạnh) để thu thuế, đến lúc ấy mới định rõ ranh giới, bỏ chín khố trường, sai các dinh châm chước lệ cũ về thuế điền thổ mà điều chỉnh lại.

Về tổ chức chính quyền, ngoài bộ máy cai trị thiết lập ở các dinh trấn phủ huyện, Ánh còn xây dựng “chính quyền trung ương” theo thể chế thời Đàng Trong, tức cũng đặt tứ trụ đại thần gồm các viên Ngoại hữu, Ngoại tả, Nội hữu, Nội tả và các bộ Lại Hộ Lễ Binh Hình (chưa thấy bộ Công). Cuối năm ấy Ánh ban lịch Vạn toàn cho năm sau, chưa rõ đã có cơ quan Ty Chiêm hậu (tương tự Khâm thiên giám về sau) chưa, nhưng năm 1782 khi Nguyễn Đô từ Phú Xuân vào yết kiến thì được Ánh phong làm Thị giảng, rõ ràng đã có cơ quan Hàn lâm viện chuyên phụ trách soạn thảo công văn của triều đình. Cơ quan Nội viện cũng đã được thành lập vào thời gian này, vì trong thư gởi Jacques Liot ngày 15 tháng 1 năm Cảnh Hưng thứ 49 (21. 2. 1788) tức trước khi chiếm lại được Gia Định lần cuối, Nguyễn Ánh đã nhắc tới một nhân viên của cơ quan này “Nay có Nội viện thuyền chủ Huấn Đức hầu là tôi tâm trường…”. Năm 1780 Ánh xưng vương, văn thư đưa xuống gọi là Chỉ truyền, văn thư sai phái gọi là Chỉ sai, đều đóng ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chủ vĩnh trấn chi bảo” do Hiển tông Phước Châu cho đúc năm 1710, vẫn dùng niên hiệu nhà Lê, biểu chương của quần thần thì gọi là Bẩm, quy chế ít nhiều đã có khác so với thời Đàng Trong.

Hoạt động đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1778 – 1788

Trước 1788 Nguyễn Ánh chỉ trụ được ở Gia Định chủ yếu từ 1778 đến 1782, vì thế chỉ trong mấy năm này mới có được các hoạt động đối ngoại đúng nghĩa của một chính quyền. Trong thời gian ngắn ngủi ấy hoạt động đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh về cơ bản vẫn khá cứng rắn theo quán tính thời Đàng Trong. Năm 1778, sau khi chiếm lại được Gia Định lần thứ nhất, Nguyễn Ánh sai Đỗ Thanh Nhơn, Hồ Văn Lân và Dương Công Trừng đem quân đi đánh Chân Lạp. Chân Lạp từ khi Nặc Vinh giết Nặc Thâm thì Nặc Tôn buồn rầu mà chết. Bề tôi là Chiêu Chùy Mô và Đê Đô Luyện giữ Phong Xuy để chống Nặc Vinh, Vị Bôn Xuy giữ Lovek để hưởng ứng, qua dinh Long Hồ xin cứu viện. Ánh sai Đỗ Thanh Nhơn đi đánh, bắt giết Nặc Vinh, lập con Nặc Tôn là Nặc Ấn làm vua, lưu Hồ Văn Lân ở lại bảo hộ. Nhưng đến cuối 1783 đầu 1784, khi Ánh đã bị Tây Sơn đánh bại phải liên tiếp qua lại trốn lánh trong vịnh Thái Lan, sức đã không thể giữ mình thì cũng không thể tiếp tục duy trì ảnh hưởng ở Chân Lạp nữa, ngay em rể Ánh là Nguyễn Hữu Thoại cùng Nguyễn Xuân Trạch, Cao Phúc Trí qua Xiêm cầu viện năm 1782 bị người Chân Lạp ngầm giúp đỡ Tây Sơn giết chết mà Ánh cũng không làm gì được, thậm chí phải nhờ vả cả đối thủ cũ là phong kiến Xiêm La.

Sau khi Duệ tông Phước Thuần bị Tây Sơn bắt giết năm 1777, Mạc Thiên Tích phải qua Bangkok nương nhờ vua Xiêm Trịnh Tân, Nguyễn Phước Xuân (con thứ mười tám của Thế tông Phước Hoạt) cũng tới đó. Năm 1778 Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, sai sứ giả là Cai cơ Sâm và Cai cơ Tĩnh qua giao hiếu với Xiêm và thăm dò tin tức Thiên Tích. Lúc ấy có thuyền buôn của Xiêm về ngang Hà Tiên bị Lưu thủ Thăng đánh cướp, giết người đoạt hàng, lại thêm Tây Sơn dùng kế ly gián sai người nói với Trịnh Tân là Nguyễn Phước Xuân, Mạc Thiên Tích làm nội ứng cho Nguyễn Ánh định đánh úp Bangkok. Trịnh Tân tức giận giết chết bọn Sâm, Tĩnh và Nguyễn Phước Xuân, Mạc Thiên Tích nuốt vàng tự sát. Hơn nửa tháng sau, ngày 24 tháng 10 năm Canh tý 1780, tại pháp trường Bangkok, tất cả 53 tùy tùng của Nguyễn Phước Xuân và Mạc Thiên Tích đều bị Trịnh Tân ra lệnh hành hình.

Cuối 1781 vua Xiêm Trịnh Tân sai tướng là bọn Chất Tri, Sô Si xâm lấn Chân Lạp, Nặc Ấn báo tin, đầu 1782 Nguyễn Ánh sai Chưởng cơ Giám quân Trung dinh Nguyễn Hữu Thoại đem binh thuyền cùng Hồ Văn Lân qua cứu viện. Nhưng quân Nguyễn vừa tới Lovek thì Trịnh Tân mắc bệnh điên bắt giam hết vợ con bọn Chất Tri, Sô Si, nên hai người mưu phản Trịnh Tân, sai người tới dinh quân Nguyễn xin giảng hòa, mời Nguyễn Hữu Thoại qua hội ước, khoản đãi rất hậu, uống rượu xong bẻ mũi tên để thề. Lúc ấy ở Koral nước Xiêm có loạn, Trịnh Tân sai Phi Nhã Oan Sản đi đánh, nhưng có lẽ vì điên nên quên mất người cầm đầu cuộc nổi loạn ấy chính là em ruột của Oan Sản. Oan Sản bèn họp quân đánh Bangkok, bắt giam Trịnh Tân, gọi Chất Tri về. Chất Tri về tới Bangkok liền sai người giết Trịnh Tân, đổ tội cho Oan Sản, lại kết tội Oan Sản làm loạn giết đi, tự lập làm vua, xưng hiệu là Phật vương, tức Rama I của Xiêm. Vì đã có thề ước với Hữu Thoại nên từ đó trở đi vua Xiêm hòa hiếu với chính quyền Nguyễn Ánh, quan hệ bang giao đôi bên bắt đầu thay đổi. Hơn thế nữa, sau cuộc chiến ngắn ngủi với Tây Sơn ở Phom Penh từ tháng 12. 1783 đến tháng 1. 1784, dường như Rama I đã quyết định nghiêng về Nguyễn Ánh, một người không còn thực lực để tranh giành ảnh hưởng với mình ở Chân Lạp như Tây Sơn.

Năm 1783 bị Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh chạy ra Phú Quốc rồi qua Xiêm. Trước đó Châu Văn Tiếp qua Bangkok cầu viện nên vua Xiêm sai tướng tới Long Xuyên đón Ánh, sau đó sai hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 20.000 thủy quân, 300 chiến thuyền đưa Ánh về Gia Định. Nhưng quân Xiêm tàn bạo, tới đâu cũng cướp bóc giết người, rất mất lòng dân, nên về sau tuy vẫn ráo riết vận động Xiêm liên kết với các nước Nam Chưởng, Vạn Tượng theo đường thượng đạo phối hợp tấn công Tây Sơn từ Nghệ An trở ra Bắc song Ánh không còn thiết tha với việc cầu viện quân Xiêm qua Gia Định đánh Tây Sơn nữa. Sau trận Rạch Gầm năm 1784 Ánh lại qua Xiêm, vua Xiêm đề nghị giúp quân lần nữa nhưng Ánh từ chối, xin ra trú ngoài thành Bangkok làm ruộng lấy lương thực, cho quân ra hải đảo đóng chiến thuyền, lại sai người lén về Gia Định mộ quân chờ cơ hội. Đầu năm 1786, quân Diến Điện chia ba đường đánh Xiêm, vua Xiêm đích thân đem quân chống cự, bàn kế với Ánh. Ánh bàn nên đánh gấp, vua Xiêm liền tiến quân. Ánh cũng đem quân trợ chiến, sai Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành làm tiên phong, đánh bại quân Diến Điện, vua Xiêm rất phục. Kế đó lại có quân Tà Ni đánh Xiêm, Ánh sai Lê Văn Quân đem thủy quân đánh giúp, lại thắng. Liên minh Nguyễn Ánh – Rama I như vậy tuy lỏng lẻo nhưng cũng đã bắt đầu hình thành, một quan hệ có lợi cho Ánh lúc chiếm lại được Gia Định về sau.

Từ 1778, Nguyễn Ánh đã có ý cầu viện phương Tây, và khi qua Pháp năm 1786, Pigneau đã đưa ra một giấy ủy nhiệm của chính quyền Gia Định đề ngày 10 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 43 (18. 8. 1782). Nhưng cuối 1784, Ánh mới giao hoàng tử Cảnh cho Pigneau cùng Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm đưa qua Pháp cầu viện. Việc giao thiệp với phương Tây của chính quyền Nguyễn Ánh chính thức bắt đầu từ đó, với hàng loạt hệ quả có ảnh hưởng sâu xa tới lịch sử Việt Nam cả sau 1802 còn đương thời thì gây ra khá nhiều ồn ào trong chính giới phương Tây. Nước Anh cho người tới Pondichéry nài nỉ Pigneau “nhượng lại” hoàng tử Cảnh, ngoài ra ngày 8. 7. 1785 Pigneau cũng phải gởi một lá thư cho Nghị viện Ma Cao để “dân Bồ Đào Nha đừng quấy rầy các phái đoàn”.

Khoảng giữa 1785, lúc Pigneau còn ở Pondichéry thì một viên Cai tàu Ma Cao tên Anbert de Souza ghé vào Bangkok và gặp Nguyễn Ánh, Ánh nhờ người này chuyển một lá thư cho To�
�n quyền Goa (thuộc địa của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ). Nhưng ngày 23. 10. 1786 khi Antonio Vincente de Rosa người Bồ Đào Nha đem quốc thư tới Bangkok gặp Ánh, nói hoàng tử Cảnh tới xin giúp quân, hiện đã chuẩn bị 56 chiến thuyền ở Goa, lại xin vua Xiêm cho đón Ánh qua, thì vì vua Xiêm thấy người Bồ Đào Nha giúp Ánh rất không bằng lòng, nên Ánh đành từ chối, bảo Antonio cứ trở về, tuy nhiên cũng vớt vát bằng cách “sai Khiêm hòa hầu, Thiệm mẫn hầu” đi theo Antonio để làm rõ chuyện ấy. Chắc hai người này đã mang dự thảo thỏa ước với Bồ Đào Nha của Nguyễn Ánh đi Ma Cao cầu viện, nhưng có lẽ đúng như Pigneau đã khinh bỉ “Tôi biết Ma Cao không có một tên quân”, nên vụ cầu viện Bồ Đào Nha đã không đi tới đâu.

Năm 1787 được tin anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bất hòa đem quân đánh nhau, Ánh để thư lại cảm ơn vua Xiêm, nhân đêm lẳng lặng ra biển về Hòn Tre, qua Cổ Cốt rồi tới Long Xuyên, chấm dứt quãng đời làm một ông vua lưu vong ăn nhờ ở đậu, phụ thuộc lân bang. Nhưng những tủi nhục ấy cũng ít nhiều dạy cho Ánh cách thức mềm mỏng mà có phong thể hơn trong quan hệ đối ngoại và đáng nói là đã biết nhìn ra thế giới để chọn lựa phương tiện tối ưu cho cuộc chiến chống Tây Sơn…

Bộ phận người Hoa trong quân đội của Nguyễn Ánh

Ngoài số quân Hòa Nghĩa còn lại sau khi Lý Tài chết, trong quân Nguyễn Ánh sau 1778 có một lực lượng người Hoa đáng kể, trong đó nổi bật là đám hải tặc dư đảng Bạch Liên giáo do Hà Hỷ Văn cầm đầu.

Sử chép Hà Hỷ Văn người Tứ Xuyên Trung Quốc, là dư đảng Bạch Liên giáo, đầu tiên tụ họp bè lũ ngoài biển, đi cướp bóc ở khoảng Mân (Phúc Kiến) Việt (Quảng Đông), có lẽ bị quan quân nhà Thanh truy tiễu nên chạy qua Đàng Trong. Mùa xuân năm 1786, Hỷ Văn đỗ thuyền ở đảo Côn Lôn, nghe Nguyễn Ánh sang trú chân ở Bangkok, có ý quy thuận, bèn sai bộ thuộc là bọn Lương Văn Anh, Chu Viễn Quyền và Huỳnh Trung Đồng nộp tờ xin quy phụ, được Ánh thu nhận. Năm 1787, Ánh từ Xiêm trở về tới đảo Cổ Cốt, sai Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Thái Nguyên tới chiêu dụ. Hỷ Văn đem thuộc hạ về theo, được bổ làm Thống binh, Tổng binh, Phi kỵ úy có thứ bậc khác nhau. Năm 1795 Hỷ Văn đem chiến thuyền vượt Quy Nhơn qua Thuận Hóa tới Bắc Hà thăm dò tình hình Tây Sơn, rồi đi Liêm Châu chiêu dụ bọn cướp biển Tề Ngôi được 23 thuyền về quy thuận. Năm 1792 Hỷ Văn theo Nguyễn Ánh đánh ra Quy Nhơn, nhiều lần lập công. Đến cuối 1801 ốm chết trong quân, Ánh rất thương tiếc, sai chôn cất rất hậu, năm 1804 đưa vào thờ ở đền Hiển trung Gia Định, năm 1807 tặng Chiêu nghị tướng quân Thủy quân Thống chế Thượng Hộ quân. Thuộc hạ của Hỷ Văn là Lương Văn Anh, Chu Viễn Quyền và Huỳnh Trung Đồng đều làm quan tới chức Tuần hải Phó Đô dinh. Trong đời Minh Mạng Trung Đồng có tội bị miễn chức, rồi lại được khởi phục làm Tuần hải Chánh Đô dinh.

Ngoài nhóm Hà Hỷ Văn, còn có Trần Công Dẫn người Phúc Kiến Trung Quốc, qua Nam xin quy thuận Nguyễn Ánh. Khoảng 1788 theo Ánh đánh trận có công, được phong làm Khâm sai Chưởng cơ dinh Trung quân, coi đạo Toàn Dũng, được giao quản quân dân người Thanh mới cũ, cũng là một nhân vật đáng chú ý trong số quân tướng người Hoa theo Nguyễn Ánh trước 1802. Đặc biệt, năm 1791 Nguyễn Ánh sai Thuộc nội Cai cơ Tăng Đức Thần sức cho người Thanh cũ mới ai mộ được 25 hay 30 người thì cho lập thành một đội, coi một chiếc thuyền ô, có việc thì tòng quân, không việc thì buôn bán mà sống, cho miễn dao dịch, xem ra dường như ít nhiều có biệt nhãn với bộ phận Hoa kiều này.

Nhìn chung các nhóm người Hoa gia nhập quân đội Nguyễn Ánh thời gian 1778 – 1802 có hai con đường tương ứng với hai thời kỳ. Một là con đường của các toán cướp biển loại Hà Hỷ Văn quy phụ Nguyễn Ánh trước 1788, hai là con đường của “các nhóm người Thanh mới cũ” dưới quyền Trần Công Dẫn sau 1788. Người ta cũng thấy 200 bộ chúng của Vinh Ma Ly người Xiêm quy phụ Nguyễn Ánh năm 1783 là theo con đường thứ nhất, còn số quân Xiêm trong đồn Xiêm binh dưới quyền Nguyễn Văn Tồn sau khi Nguyễn Ánh trở về Gia Định năm 1788 là theo con đường thứ hai. Cho nên có thể nói thêm rằng chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh đã tác động tới cả tình hình an ninh trong khu vực vịnh Thái Lan cuối thế kỷ XVIII. Trước 1788, quân Nguyễn Ánh trốn lánh Tây Sơn trong vịnh Thái Lan nhiều khi đói quá cũng phải đánh cướp các thuyền buôn qua lại (chẳng hạn Nguyễn Văn Thành từng bị thương vì cướp gạo của thuyền buôn Singapore), nghĩa là trong thực tế đã trở thành lực lượng mạnh nhất trong đám cướp biển hoạt động ở khu vực này, và việc một lực lượng quân đội chuyên nghiệp làm việc cướp bóc kiểu nghiệp dư thôn tính được các toán cướp biển chuyên nghiệp như Hà Hỷ Văn, Vinh Ma Ly theo một hình thức hòa bình như vậy cũng là điều tất yếu…

Bộ phận người Khmer và người Xiêm trong quân đội của Nguyễn Ánh

Sử sách ghi nhận sau khi Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định đánh tan thủy quân Nguyễn Ánh đầu năm 1783, quân Nguyễn Ánh lại tụ họp ở giồng Tuyên Tự (nay thuộc huyện Bình Chánh), thì có một cánh quân Chân Lạp (có lẽ chủ yếu là người Khmer Nam Bộ) do Nguyễn Huỳnh Đức cai quản làm hậu ứng. Truyện Nguyễn Huỳnh Đứctrong Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập chép trong trận này, Đức cùng 500 thuộc hạ đều bị bắt, con số trên có thể không thật chính xác nhưng cũng cho thấy từ trước 1788 trong quân Nguyễn Ánh đã có không ít người Khmer. Đến 1787 khi Nguyễn Ánh từ Xiêm về, trong đám tướng sĩ về theo có một người Khmer là Nguyễn Văn Tồn được sai đi chiêu tập người Khmer ở Trà Vinh, Mân Thít được vài ngàn người dồn bổ làm binh, gọi là đồn Xiêm binh, Tồn làm Thống quản.

Cuối 1793 khi Ánh rút quân về Gia Định, sai Đông cung Cảnh ra giữ Diên Khánh thì gọi Nguyễn Huỳnh Đức về, nhưng sai lưu những quân Chân Lạp, Chà Và dưới quyền Đức ở lại Diên Khánh để sai phái, qua 1794 sửa đắp thành Diên Khánh xong mới “cho quân Xiêm về. Sắc cho lưu trấn thần Gia Định phát 1.000 quan tiền kho cấp cho họ”.

Đến 1795 Nguyễn Văn Tồn xin lập Phiên binh phủ Trà Vinh làm một chi năm hiệu, Phiên binh xứ Mân Thít làm đạo Tiền du, đặt các chức Chánh Phó Trưởng chi, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng để cai quản. Nguyễn Ánh ưng thuận, lấy Ốc nha Diệp và Ốc nha Oa làm Chánh Phó Trưởng chi quản các hiệu đội Phiên binh 1.500 người, theo Nguyễn Văn Tồn ra Bà Rịa chịu sai phái trong quân. Đầu năm 1800 khi đang đánh ra Quy Nhơn, Ánh lại ra lệnh trưng tập 5.000 quân người Khmer, hẹn ngày họp đủ để theo việc quân.

Năm 1797 sai Khâm sai Đô đốc Hiệu úy Tiền chi dinh Trung quân Nguyễn Công Thái điều bát quân voi các đạo và quân Xiêm dẹp loạn Ba phủ.

Sau 1802 Gia Long cho Nguyễn Văn Tồn đem bộ thuộc về quê nghỉ ngơi, kế đặt đồn ở bảo Trà Ôn thuộc Trấn Giang để canh giữ, kiêm quản cả hai phủ Trà Vinh, Mân Thít lệ thuộc dinh Vĩnh Trấn. Năm 1810 đổi tên đồn Xiêm binh là đồn Uy Viễn, cho Tồn làm Thống đồn trông coi, năm 1811 thăng Tồn làm Thống chế vẫn coi đồn ấy. Sau đó Tồn còn đem quân đi đóng thú ở Phnom Penh, đào sông Vĩnh Tế. Qua 1820 Tồn chết, Minh Mạng sai người dụ tế, cho hai cây gấm Trung Quốc, 20 tấm vải, 100 quan tiền, cấp cho 7 người phu coi mộ. Con Tồn là Vi, làm Cai đội coi cơ Tịnh Biên (đồn Uy Đại), năm 1833 Lê Văn Khôi làm binh biến, có người tố cáo Vi ngầm giao thông với Khôi, rồi sau Vi chết, triều Nguyễn cũng không xét tới nữa, nhưng có lẽ từ đó đồn Uy Viễn cũng giải thể.

Ngoài Nguyễn Văn Tồn, trước 1802 còn có một người Khmer mang tên Việt là Diệp Mậu, đầu tiên đầu quân làm Trưởng chi, theo quân Nguyễn Ánh đánh trận, lại xuất của nhà giúp việc quân phí, năm 1804 được thăng làm Khâm sai Cai cơ coi phủ Trà Vinh.

Về bộ phận người Xiêm, thì trước 1788 trong quân Nguyễn Ánh có Vinh Ma Ly người Xiêm, đầu tiên tránh loạn Oan Sản đem quân ra chiếm giữ đảo Cổ Long. Năm 1783 Tây Sơn vào đánh, Ánh chạy ra Hà Tiên, Vinh Ma Ly đem quân bộ thuộc hơn 200 người và hơn 10 chiến thuyền tới xin theo, Ánh ưng thuận. Nhưng chỉ vài tháng sau quân Tây Sơn đánh tới hòn Đá Chồng, Vinh Ma Ly và Tôn Thất Cốc, Lê Phúc Điển đều bị bắt giết. Từ đó trở đi không thấy tài liệu nào nói tới việc quân Nguyễn Ánh tuyển mộ người Xiêm, nhưng năm 1788 khi Lưu thủ Hà Tiên là Tham tướng Mạc Tử Sanh chết thì Ánh lấy Khâm sai Cai cơ Ngô Ma người Xiêm tạm quản trấn vụ Hà Tiên, chi tiết này cho thấy đương thời trong quân Nguyễn Ánh vẫn có người Xiêm. Hơn thế nữa, năm 1793 khi chiếm được Bình Khang, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cấm ngặt quan quân không được vào làng xóm quấy nhiễu, nhưng vẫn còn sợ vì trong quân “có quân người Thanh, người Tây, người Xiêm La tính tình hung hãn, khi say rượu thì khó ngăn giữ”, nên cấm các hàng quán chợ búa vùng Nha Trang không được bán rượu, ai trái lệnh phạt 50 roi. Cần lưu ý rằng mấy ngàn quân mà Nguyễn Văn Tồn chiêu mộ được ở Trà Vinh Mân Thít sau 1788 có tên là đồn Xiêm binh, nên rất có thể có một số lượng đáng kể là người Xiêm. Tình hình này cũng dễ giải thích, vì cuối thế kỷ XVIII Xiêm La thường xuyên có giặc giã loạn lạc, đói kém mất mùa, nên việc một bộ phận cư dân người Xiêm dời qua cư trú ở Chân Lạp, Hà Tiên rồi ứng mộ vào quân Nguyễn Ánh là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Bộ phận người Chăm trong quân đội của Nguyễn Ánh

Từ thời Đàng Trong, người Chăm ở Nam Trung Bộ đã từng bước hòa nhập và trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam. Năm 1691 Hiển tông Phước Châu lập trấn Thuận Thành như một khu tự trị của người Chăm, năm 1712 Phiên vương Thuận Thành Kế Bà Tử xin định luật lệ cho xứ ấy. Hiển tông sai văn thần bàn định ban cho năm điều, trong đó điều thứ hai “Phàm dân Việt (Kinh) kiện nhau hoặc kiện với dân Thuận Thành (Chăm) thì do Phiên vương và Cai bạ Ký lục xử đoán, dân Thuận Thành kiện nhau thì một mình Phiên vương xử đoán” và điều thứ năm “Dân Thuận Thành xiêu tán tới dinh Phiên Trấn, đều đã thả về cho làm ăn, nên để lòng thương yêu, đừng nên bóc lột hà khắc, cho dân ở yên” cho thấy chính quyền Đàng Trong một mặt vẫn áp dụng chính sách sử dụng quan lại người Chăm đồng thời dành ra một không gian tự trị cần thiết phù hợp với truyền thống văn hóa của họ, nhưng mặt khác cũng không cho phép họ nhân danh chế độ tự trị hay tập tục truyền thống để tùy ý bóc lột hà hiếp “con đỏ của triều đình”.

Năm 1789, Lê Văn Quân đem quân ra đánh Tây Sơn ở Bình Thuận, có Môn Lai Phù Tử con Phiên vương người Chăm cũ đem quân theo giúp, sau khi thắng trận quan lại người Chăm cùng xin cho Môn Lai Phù Tử lãnh việc trấn. Bọn Lê Văn Quân tâu lên, cuối 1790 Nguyễn Ánh ban cho Môn Lai Phù Tử tên Việt là Nguyễn Văn Chiêu, phong làm Khâm sai Chưởng cơ quản các việc quan và dân người Chăm ở vùng Bình Thuận Ninh Thuận, lại phong hai viên quan người Chăm là Bô Cà Đáo và Thôn Ba Hú làm Khâm sai Thống binh Cai cơ giúp việc cho Chiêu, cũng ban cho tên Việt, Bô Cà Đáo là Nguyễn Văn Chấn, Thôn Ba Hú là Nguyễn Văn Hào. Về sau Chiêu làm phản theo Tây Sơn bị giết, Ánh lấy bọn Chấn, Hào thay Chiêu coi việc binh dân trấn Thuận Thành.

Năm 1797, khi dẹp loạn Ba phủ Nguyễn Ánh sai Khâm sai Đô đốc Hiệu úy Tiền chi dinh Trung quân Nguyễn Công Thái điều bát quân voi các đạo và quân Xiêm từ Ma Ly đánh tới Phố Châm thì cũng sai bọn Chưởng cơ trấn Thuận Thành Nguyễn Văn Hào, Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn đem quân từ Đàn Linh tiến lên phối hợp, trong số quân Thuận Thành này chắc chắn có không ít người Chăm. Đến 1799 Nguyễn Văn Hào chết, Nguyễn Ánh sai ban cho 200 quan tiền, 1 cây gấm để chôn cất.

Nhìn chung vùng Nam Trung Bộ có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, dễ lấy mà khó giữ nên không phải là mục tiêu quan trọng trong hoạt động quân sự của cả hai bên Tây Sơn và Nguyễn Ánh cuối thế kỷ XVIII, vai trò của bộ phận người Chăm trong quân đội Nguyễn Ánh ở vùng này vì vậy cũng tương đối mờ nhạt. Tuy nhiên là cửa ngõ đánh ra miền Trung của bộ binh Nguyễn Ánh, đây lại là nơi quân đội Gia Định bước đầu làm quen với một hệ thống địa hình cũng như phương tiện kỹ thuật – chiến thuật khác. Năm 1795 Nguyễn Ánh sai Chưởng cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào và Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn theo ngạch cũ lập cơ An tượng 20 người để bắt voi hiến nộp, qua 1796 hai người hiến 20 thớt voi – quá trình hình thành binh chủng Tượng quân trong quân đội Gia Định cuối thế kỷ XVIII rõ ràng có phần đóng góp quan trọng của người Chăm.

Pigneau de Béhaine

Pigneau de Béhaine, tên trong thư tịch Việt Hán là Bi Nhu hay Bá Đa Lộc, sinh ngày 2. 11. 1741 tại làng Origny tỉnh Aisne miền bắc nước Pháp. Lúc nhỏ học Chủng viện ở quê, sau học tiếp trong Chủng viện của Hội Truyền giáo Nước ngoài ở Paris, năm 1765 nhận chức Linh mục và sau đó qua Đàng Trong truyền giáo.

Tháng 3. 1767 Pigneau tới Đàng Trong, đầu tiên được bổ nhiệm làm giáo sư rồi ngay sau đó được bổ nhiệm làm Giám đốc Chủng viện Hòn Đất ở Hà Tiên. Đầu năm 1770, vì Hà Tiên có chiến tranh, Chủng viện Hòn Đất dời sang Pondichéry, Ấn Độ. Pigneau ở đó đến tháng 7. 1774 thì được tấn phong Giám mục, sau đó qua Ma Cao rồi vào Đàng Trong nhận chức Đại diện Tông tòa, đến ngày 24. 2. 1774 được tấn phong làm Giám mục hiệu tòa Adran.

Giữa tháng 3. 1775, Pigneau về tới Hà Tiên. Nhưng đến 1778 nhìn chung Pigneau chỉ mới qua lại vùng Hà Tiên giáp giới Campuchia. Khi Nguyễn Ánh vừa trở thành người thừa kế cái ngai vàng rệu rã của họ Nguyễn Đàng Trong với danh hiệu Đại Nguyên soái Nhiếp quốc chính và chiếm lại Gia Định năm 1778, Pigneau mới tới Chủng viện Tân Triều phía bắc thành phố Biên Hòa hiện nay.

Tháng 4. 1782, Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đem quân vào Gia Định, Nguyễn Ánh thua chạy, Pigneau và Chủng viện Tân Triều cũng lánh sang Campuchia. Cuối tháng 10. 1782, sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, Pigneau đưa Chủng viện về Mạc Bắc (Vĩnh Long) nhưng tháng 3. 1783, nghe tin quân Tây Sơn trở lại, Pigneau đã đem hoàng tử Cảnh con Nguyễn Ánh đi Pondichéry rồi qua Pháp cầu viện. Ngày 28. 11. 1787 thay mặt Nguyễn Ánh, Pigneau ký Hiệp ước Versailles với triều đình Louis XVI, nhưng sau đó vì nhiều lý do, Hiệp ước này đã không được thực hiện. Tuy nhiên bằng phương tiện và quan hệ cá nhân, Pigneau đã huy động được một số võ khí chiến thuyền và chiêu mộ nhiều người phiêu lưu đánh thuê phương Tây tới phục vụ trong quân đội của Nguyễn Ánh. Tháng 7. 1789, sau khi Ánh đã chiếm lại được Gia Định lần cuối, Pigneau đưa hoàng tử Cảnh về Gia Định, được Ánh phong là Điều chế chiến tào Thủy bộ viện binh Giám mục Thượng sư. Từ đó trở đi với chức vụ này Pigneau đã đóng vai trò cố vấn quân sự và ngoại giao của triều đình Gia Định, thậm chí còn nhiều lần theo quân Nguyễn Ánh ra đánh Tây Sơn ở vùng Nam Trung Bộ. Sự lựa chọn chính trị đầy màu sắc thế tục này của Pigneau đã khiến Tòa Thánh có không ít lời dị nghị, nhưng được Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris ủng hộ, vị Giám mục này đã không bị Bộ Truyền giáo của Roma khiển trách. Hơn thế nữa, đối với một số giáo sĩ dưới quyền Pigneau, điều đó dường như lại là hoàn toàn chính đáng. Trong một bức thư đề ngày 25. 4. 1797, thừa sai Le Labousse đã giải thích “Chắc chắn rằng tất cả những gì ngài đã làm và đang làm cho nhà vua, nếu không nhằm đem lại cho xứ sở Đàng Trong một Clovis hay một Constantin (Clovis là vua Pháp, theo đạo Thiên chúa năm 496, Constantin là hoàng đế La Mã, theo đạo Thiên chúa năm 323) thì quả là vô ích, nhưng bao giờ ngài cũng chỉ muốn cho các thừa sai được tự do, và hôm nay ngài còn ở lại bên cạnh nhà vua cũng chỉ là để ngăn chặn nhà vua bằng uy tín của người, bởi vì nếu người ra đi thì chắc chắn là gây thiệt hại. Hơn nữa nhà vua còn hơn quân phiến loạn (chỉ Tây Sơn) và chắc là nhà vua sẽ không đi tới chỗ bách hại chúng ta cho đến khi nào vị Giám mục tốt lành của chúng ta còn ở đây”.

Ngày 9. 10. 1799, Pigneau chết ở Quy Nhơn, thi hài được đưa về Gia Định, được chính quyền Nguyễn Ánh truy tặng Thái tử Thái phó Bi Nhu quận công, đặt tên thụy là Trung Ý (trung thành nhu thuận) và tổ chức an táng trọng thể theo nghi thức nửa Công giáo nửa Nho giáo, xây mộ rất khang trang ở Sài Gòn, dân gian vẫn gọi là Lăng Cha Cả.

Nội dung Hiệp ước Versailles

Cuối 1784, Pigneau de Béhaine đưa hoàng tử Cảnh cùng Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm xuống tàu qua Ấn Độ Dương vào Pondichéry ở Ấn Độ, ở lại gần 20 tháng, đến đầu 1787 mới vào cửa Lorient nước Pháp. Pigneau đưa Cảnh vào yết kiến vua Pháp Louis XVI, vua Pháp lấy vương lễ tiếp đãi Cảnh và giao cho Thượng thư Bộ Ngoại giao là Bá tước De Montmorin bàn việc sang giúp Nguyễn Ánh.

Đến ngày 28. 11. 1787 thì hiệp ước Versailles được ký kết giữa bá tước De Montmorin, đại diện Louis XVI và Pigneau, đại diện Nguyễn Ánh. Hiệp ước Versailles gồm 10 điều khoản và hai Phụ lục, là một hiệp ước có lợi cho Pháp. Nguyễn Ánh chỉ được Pháp giúp 4 tàu chiến và 1.600 binh lính với khí giới đạn dược “để chiếm lại và thừa hưởng các tỉnh thành của mình” (điều 1 và 2). Toàn bộ kinh phí của sự viện trợ này khoảng 100.000 tới 200.000 đồng bạc theo ước tính của Pigneau và triều đình Pháp. Để bù lại, nước Pháp được trọn quyền sở hữu hòn đảo trước cảng Đà Nẵng (điều 3) và đảo Poulo Condor (điều 5). Ngoài ra vua Pháp cùng vua Đàng Trong đồng sở hữu cảng Đà Nẵng và người Pháp được thiết lập các cơ sở trên đất liền để giao lưu buôn bán hoặc sửa chữa và đóng mới tàu thuyền (điều 4). “Thần dân của vua nước Pháp được hoàn toàn tự do độc quyền buôn bán trong các tỉnh thành của vua Đàng Trong, tất cả các người châu Âu khác không được dự phần, họ được tự do đi lại và cư trú để buôn bán không bị cản trở và không phải đóng bất cứ một thứ thuế liên quan đến bản thân họ, miễn là họ mang theo thông hành do quan chỉ huy đảo Hội Nam (sic) cấp. Họ được quyền nhập khẩu tất cả các hàng hóa từ châu Âu và từ các nước khác trên thế giới, ngoại trừ những hàng hóa bị luật pháp trong nước cấm. Họ cũng được xuất khẩu tất cả các hàng hóa của xứ này và các xứ lân cận không có loại trừ nào, họ cũng chỉ trả những thứ thuế xuất nhập mà người bản xứ đang phải trả và các thứ thuế này không bao giờ được tăng với bất kỳ lý do nào. Cũng quy định rằng tất cả các tàu thuyền nước ngoài, tàu buôn cũng như tàu chiến, chỉ được phép vào các tỉnh thành của vua Đàng Trong dưới màu cờ và với thông hành Pháp” (điều 6). Khi vua nước Pháp bị tấn công hay lâm chiến, thì vua Đàng Trong “phải trợ giúp bằng binh lính, thủy thủ, lương thực và tàu thuyền, các trợ giúp này phải được thực hiện ba tháng sau khi có yêu cầu, và chỉ được sử dụng không quá các đảo Moluques và La Santé bên vùng eo biển Malacca. Vua Đàng Trong phải chịu các chi phí của viện binh này” (điều 8). Trái lại, khi vua Đàng Trong gặp biến loạn, thì vua nước Pháp cũng sẽ trợ giúp, tùy theo mức độ cần thiết của hoàn cảnh, “nhưng các trợ giúp này không bao giờ vượt quá các khoản được nêu trong điều 2 của hiệp ước này” (điều 9). Hơn nữa trong một bản tuyên bố về việc xây cất các cơ sở của Pháp tại đảo Hội Nam (sic) và đảo Poulo Condor hay trên đất liền của Đàng Trong, Pigneau còn cam kết là vua Đàng Trong sẽ chịu các chi phí thiết lập đầu tiên bằng vật liệu hoặc tiền bạc theo ước tính sau này… Cần nói thêm rằng Đại Nam Hoàng triều Bi Nhu quận công phương tích lụcdo Trương Vĩnh Ký khảo hiệu, bản in chữ Hán, Nhà in Nazareth, Hương Cảng, 1897 chép lúc Nguyễn Ánh giao hoàng tử Cảnh cho Pigneau đem qua Pháp cầu viện đã “đưa quốc thư và Điều ước gồm mười bốn khoản do các bề tôi bàn bạc dự thảo cho Pigneau mang theo, tùy nghi bàn bạc thêm bớt” (Tức thân thủ quốc thư tịnh chư thần dị nghị thập tứ khoản điều ước đới hành, tùy nghi chiếu biện tăng tổn xuất nhập), chưa rõ hiệp ước Versailles giữ lại bao nhiêu trong mười bốn điều khoản trên.

Hiệp ước ký xong, Louis XVI giao cho Bá tước De Conway, Tổng trấn Pondichéry ở Ấn Độ thu xếp việc phái quân sang giúp Nguyễn Ánh. Ngày 8. 12. 1787, Pigneau vào bái tạ Louis XVI, rồi đem hoàng tử Cảnh xuống tàu về Pondichéry. Nhưng vì bất hòa với Pigneau nên Bá tước De Conway tìm cách cản trở việc thi hành Hiệp ước, kế tâu lên vua Pháp xin bãi việc ấy đi, với lý do là việc giúp đỡ Nguyễn Ánh rất khó khăn mà không có lợi gì. Triều đình Pháp thấy sớ của Bá tước De Conway cũng chán nản, vả lại lúc bấy giờ còn phải đối phó với phong trào cách mạng đang nhen nhóm khắp nơi, nên cũng bỏ luôn việc ấy. Song mặc dù không được thực thi, giống như việc cầu viện quân Xiêm năm 1783, Hiệp ước Versailles vẫn là một vết nhơ trong lịch sử đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh trước 1802.

Tuy không được thực hiện trong thực tế, Hiệp ước Versailles vẫn có một chi tiết rất đáng quan tâm, đó là nó hoàn toàn không có điều khoản nào nói tới việc tự do truyền giáo của người Pháp ở Việt Nam, trong khi lẽ ra đây phải là mối quan tâm hàng đầu của Pigneau với tư cách là Đại diện Tông tòa Đàng Trong. Trong khi đó, như người ta đã biết, điều 2 trong dự thảo hiệp ước giữa Nguyễn Ánh và Bồ Đào Nha năm 1786 có nói “Vua Đàng Trong sẽ cho đạo Kitô được tự do xây cất nhà thờ ở bất cứ nơi nào cần thiết”. Có người đã đưa ra hai giả thuyết để giải thích điểm bất thường này. Một là vì Pigneau sợ phản ứng của các tôn giáo khác ở Đàng Trong nên không đưa vấn đề truyền giáo vào, hai là vì tin chắc rằng mình sẽ thành công trong toan tính Công giáo hóa chính quyền Gia Định nên thấy một điều khoản như vậy là không cần thiết.

Vai trò của Pigneau trong chính quyền Nguyễn Ánh sau 1788

Với chức vụ Điều chế chiến tào Thủy bộ viện binh Giám mục Thượng sư được phong năm 1789, vai trò của Pigneau de Béhaine trong chính quyền Nguyễn Ánh sau khi từ Pháp trở về Gia Định hoàn toàn là một vị trí thế tục. Thất bại trong việc biến Hiệp ước Versailles thành hiện thực, Pigneau đã nỗ lực tận dụng các quan hệ cá nhân để quyên góp tiền bạc mua súng đạn tàu chiến, chiêu mộ các thủy thủ và binh lính đào ngũ người phương Tây giúp Nguyễn Ánh huấn luyện quân đội và sử dụng binh khí kỹ thuật phương Tây.

Các tài liệu phương Tây được viết bởi A. Faure, E. Louvet, Boisseran, Bouillevaux, Chaigneau… đều khẳng định Pigneau đã dùng tiền riêng mua súng đạn tàu chiến cho Nguyễn Ánh, mặc dù có rất nhiều điểm mâu thuẫn hay không rõ ràng. Tuy nhiên trong một lá thư viết vào tháng 7. 1789, Pigneau có nói “Tôi vừa tới Đàng Trong… Tôi đã thỏa thuận với vua Đàng Trong… Tôi đang chờ các tàu buôn từ Pondichéry tới trong ít hôm nữa. Nếu các tàu đó tới, sẽ thay thế dễ dàng cho các tàu chiến…”, còn một bài Văn tế đức Thượng sư của triều đình Gia Định về sau cũng có câu “Đoàn thiết tử tán hoa ngân, giúp vận nước nhà khi thiếu thốn”, bấy nhiêu cho phép khẳng định rằng không nhiều thì ít Pigneau cũng đã có những giúp đỡ vật chất cho Nguyễn Ánh trong việc mua sắm trang bị kỹ thuật quân sự để chống Tây Sơn.

Về ngoại giao, từ 1790 trở đi Nguyễn Ánh có nhiều thư từ qua lại với vua các nước Anh, Đan Mạch. Lời lẽ trong các thư từ ngoại giao ấy có nhiều nét Tây phương và hiện đại, nên có người cho rằng có lẽ Pigneau hay các thừa sai dưới quyền như Le Labousse, Boisserand đã giúp đỡ Ánh trong các hoạt động này.

Về quân sự thì De Labissachère cho biết Pigneau đã dịch nhiều tài liệu quân sự bằng tiếng Pháp cho Nguyễn Ánh đọc, hơn thế nữa còn rất quan tâm tới hoạt động quân sự của Ánh, thúc giục Ánh tích cực tấn công Tây Sơn, thậm chí còn nhiều lần dọa bỏ về châu Âu để làm áp lực. Ngoài ra Pigneau còn vài lần theo quân của hoàng tử Cảnh ra Nam Trung Bộ, như một bài Văn tế đức Thượng sư của triều đình Gia Định sau này ca ngợi “Mấy thu trấn biên thành Diên Khánh, tặc đảng đà mất vía kinh hồn”. Thừa sai Lavoué, một trong những người có mặt trong thành Nha Trang khi bị quân đội Tây Sơn bao vây tháng 5. 1794 kể lại trong một bức thư đề ngày 29. 5. 1794 rằng “Tất cả mọi người đều thừa nhận là nếu không có Đức Giám mục trong thành, thì quân Tây Sơn nhất định đã chiếm được thành và điều này là rất chắc chắn, bởi vì quân địch tới đã làm mọi người hoảng sợ. Người ta đưa mắt nhìn lên Đức Giám mục, người ta an tâm khi thấy người với một vẻ bình tĩnh cổ vũ các quan và chế giễu những người run sợ…”. Năm 1799, khi Nguyễn Ánh vây thành Quy Nhơn, Pigneau cũng có mặt. Tuy gần một tháng sau khi Pigneau chết Nguyễn Ánh mới chiếm được thành, nhưng theo nhận định của thừa sai Le Labousse “Cuộc chiếm thành lừng lẫy này cũng như những chiến công vang dội trước đó là kết quả từ những ý kiến khôn ngoan của Đức Giám mục chúng ta. Nếu người không ở Quy Nhơn, thì quân Tây Sơn ngạo nghễ vẫn còn ở đó…”.

Gạt ra một bên các mâu thuẫn vì lý do tôn giáo, có thể nói trong thời gian sau 1788 Pigneau đã chiếm một vị trí rất cao trong triều đình Gia Định. Trong đám tang Pigneau ở Sài Gòn cuối năm 1799, người ta đã ghi nhận sự có mặt của cả các hậu phi của Nguyễn Ánh. Không phải ngẫu nhiên mà trong La geste Francaise en Indochine, G. Taboulet đã xưng tụng Pigneau như “linh hồn của cuộc đấu tranh chống bọn thoán đoạt Tây Sơn” đối với cá nhân Nguyễn Ánh, còn trong bài văn bia trên mộ Pigneau ở Lăng Cha Cả, chính quyền Gia Định cũng công khai thừa nhận “…Nước ta dần dần tới được chỗ có thế trung hưng là nhờ sức thầy nhiều”.

Các giáo sĩ dưới quyền Pigneau de Béhaine

Diễn ra vào lúc châu Âu đang nỗ lực mở rộng hoạt động ngoại thương và truyền giáo ra các nước châu Á và châu Phi, nội chiến Tây Sơn – Nguyễn Ánh cuối thế kỷ XVIII cũng mang trong nó nhiều yếu tố thời đại mà cụ thể là sự tham gia ở nhiều mức độ khác nhau của chính giới, thương nhân và giáo sĩ phương Tây. Chẳng hạn Lãnh sự Pháp ở Ma Cao là De Guignes đã làm trung gian mua nhiều tàu cho Nguyễn Ánh, hay trong hội nghị ở Port Louis ngày 3. 9. 1788, nhà cầm quyền ở các đảo Ile de France, Bourbon đã ra tuyên ngôn xin tự do giao thương với Cochinchine. Một tờ trình gởi Quốc hội Pháp ngày 2. 12. 1790 của đảo này đã nói “Ở đây có những người tình nguyện, những người Cafres và tàu bè khí giới cho cuộc viễn chinh. Nhiều nhà buôn yêu nước của thuộc địa này đã hiến cho Giám mục Adran tài sản của họ để giúp ông thi hành một dự tính thật có lợi cho nước Pháp”. Các giáo sĩ dĩ nhiên cũng không chịu thua kém đồng bào mình về lòng yêu nước, trong đó tiêu biểu là Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong Pigneau de Béhaine mà sau này trong quyểnLa gestte Francaise en Indochine, G. Taboulet sẽ đề cao như “người sáng lập ra một Đông Dương hiện đại – một Đông Dương thuộc Pháp”. Hơn thế nữa dường như Pigneau còn thuyết phục được các thừa sai dưới quyền về công thức hai vế Truyền giáo để làm chính trị và Làm chính trị để truyền giáo, nên mặc dù bị Bộ Truyền giáo của Roma đương thời cấm ngặt không cho phép tham gia vào hoạt động chính trị của xứ sở mà họ tới truyền giáo, nhiều giáo sĩ phương Tây ở Nam Bộ vẫn nhiệt tình giúp đỡ Nguyễn Ánh chống Tây Sơn. Trong thời gian sau 1788, họ đã đóng vai trò người trung gian chủ yếu giúp Ánh trong các hoạt động mộ quân mua súng, giao thiệp với thương nhân và liên lạc với chính giới phương Tây đồng thời là các điệp viên đắc lực trong việc do thám tình hình chính trị, quân sự và ngoại giao của Tây Sơn ở vùng Trung Bắc. Chẳng hạn trong thư gởi Letondal ở Ma Cao ngày 15. 7. 1789 hỏi thăm về trận Đống Đa, Olivier viết “Chính vì muốn biết những chi tiết mới nhất về trận đánh ấy mà hôm qua hoàng thượng đã bảo tôi viết thư cho cha, nhờ viên thuyền trưởng Antonio Vincenti…”, và như người ta đã thấy, phần lớn thư từ ngoại giao với phương Tây của Nguyễn Ánh có thể đã được chấp bút bởi các giáo sĩ Le Labousse, Boisserand, Jacques Liot… Tuy nhiên không chỉ sau 1788, mà ngay từ khi Ánh vừa được tôn là Đại Nguyên soái Nhiếp quốc chính năm 1778 thì một số trong Lớp người Phiêu lưu của Chúa và của Lòng Bác ái này đã có nhiều hành động giúp Ánh chống Tây Sơn. Đầu năm 1783 lúc chạy ra Phú Quốc, Ánh đã nhờ linh mục Ginestar và thầy giảng Emmanuel đem thư đi Manille cầu viện, còn trong suốt thời gian chống chọi và trốn lánh Tây Sơn trước 1788 Ánh cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ từ phía các giáo sĩ phương Tây. Sau đây là nguyên văn một lá thư của Nguyễn Ánh lúc ở đảo Thổ Châu cuối năm 1783 gởi Jacques Liot nhờ chuyển thư cho Pigneau và thu mua gạo rồi sai giáo dân chở tới cho mình, tóm lại đã giao cho vị giáo sĩ này chức trách của một viên Cục trưởng Hậu cần lâm thời. Jacques Liot (1751 – 1811) là một giáo sĩ thuộc Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris, tới Sài Gòn năm 1779, năm 1780 coi Chủng viện Hà Tiên, đến 1784 theo trường qua Chantaboun, đến 1791 theo trường về Lái Thiêu. Nguyên bản lá thư này viết bằng chữ Nôm, là bản sao do Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành cấp cho các giáo sĩ Pháp ngày 25 tháng 5 năm Minh Mạng thứ 8 (19. 6. 1827) nên có đóng dấu Tả quân, được L. Cadière công bố trong Les Francaise au service de Gia Long – Nguyễn Ánh et la Mission – Documents innédits, Bulletin des Amis du Vieux Huế, Janv – Mars 1926:

“Tờ vu thầy Cai trường ngỏ hay: nay vừa tiếp thấy người trong bổn đạo thầy cho đem mật tín cùng các lý mới tường để sự. Lại như trên này quan quân theo thậm nhiều nhưng mà lương hướng còn mười hai ngày nữa, vậy nên sai Thuộc nội Cai đội Sung đức hầu lãnh tờ nhị phong cùng thập liêm bảy lượng theo người bổn đạo đem xuống. Kíp sai người tâm phúc đem Sung đức hầu cùng tờ xuống trình qua Thượng sư ngõ tường cơ sự, còn thập liêm thời sở cậy thầy cùng bổn đạo lấy vật ấy mà biện mãi lương mễ trợ khi nguy cấp, bằng mua được bao nhiêu, đa đa ích thiện càng tốt. Như mua rồi cậy bổn đạo trang tải lương ấy điệu hồi giao nạp, tiện ư cấp phát. Nay tờ.

Ngày 22 tháng 11 năm Cảnh Hưng thứ 44 (15. 12. 1783)”.

(Có đóng dấu “Tả quân”)

Những người phương Tây tham gia quân đội Nguyễn Ánh trước 1802

Mặc dù gây ra những tổn thất mang tính hủy diệt đối với đời sống xã hội, chiến tranh vẫn phải vận hành trên cơ sở các lực lượng và phương tiện của xã hội, và trong ý nghĩa này, nó cũng là sự kế thừa truyền thống mặc dù một cách không toàn diện. Cho nên trên phương diện thành phần tộc người, sự phát triển của quân đội Nguyễn Ánh cũng phản ảnh và tiếp nối truyền thống phát triển đời sống xã hội mang màu sắc đa dân tộc đã định hình ở Gia Định từ thời Đàng Trong, trong đó ngoài các tộc người Việt, Hoa và Khmer… ở Việt Nam còn có cả người Chân Lạp, Xiêm La, Trung Quốc, ngoài người các quốc gia Đông Nam Á còn có cả người nhiều nước phương Tây như Pháp, Anh, Irlandais…

Từ trước 1788, trong quân Nguyễn Ánh đã có một số người phương Tây, trong đó có Manuel (Mạn Hòe). Đại Nam Chính biên liệt truyện chép nhân vật này là “đồ đệ” của Pigneau, được Pigneau giới thiệu nên Nguyễn Ánh phong làm Khâm sai Thuộc nội Cai cơ quản đội Trung khuông, sau khi chết được truy tặng Hiệu nghĩa công thần Phụ quốc thượng tướng quân. Trong trận đánh ở sông Ngã Bảy năm 1782, thủy quân Tây Sơn nhân gió mạnh tràn lên, quân Nguyễn Ánh tan chạy, chỉ còn một mình Manuel cưỡi tàu Tây đánh rất lâu, quân Tây Sơn xúm lại vây chặt, ném hỏa khí đốt tàu mới giết được Manuel. Nhưng từ 1788 trở đi số lượng người phương Tây trong quân Nguyễn Ánh mới thực sự trở nên đông đảo. Thất bại trong việc biến Hiệp ước Versailles thành hiện thực, Pigneau đã đứng ra mộ người, mua tàu bè súng đạn đem về giúp Nguyễn Ánh, và Nguyễn Ánh cũng có cả một chủ trương sử dụng đám người phiêu lưu đánh thuê này. Phần lớn đám này là thủy thủ các tàu buôn và binh lính phương Tây đào ngũ, hy vọng làm giàu mau lẹ nên tình nguyện phục vụ “vua Nam Hà”. Căn cứ danh sách thủy thủ của các tàu thuyền qua lại trong khu vực thời gian 1789 – 1791, A. Faure đã kết luận “Số thủy thủ người Pháp bỏ trốn khỏi tàu lên tới 359 người và phần lớn nếu không phải là tất cả số này đã theo vua Nam Hà và là linh hồn lục quân và thủy quân của nhà vua”. Trong thư ngày 18. 7. 1794, Pigneau cũng cho biết là có ít nhất 40 người châu Âu trong bộ binh và một số người nữa trong thủy quân. Đám này kẻ trước người sau tới rồi đi, trong đó một số được sử thần triều Nguyễn đề cập tới nhiều nhất như Jean Marie Dayot (Trí lược hầu Nguyễn Văn Trí – Đa Đột), Alexis Olivier de Puynamel (Nguyễn Văn Tín), Jean Baptites Chaigneau (Thắng toàn hầu Nguyễn Văn Thắng, chúa tàu Long), De Forcan (Lê Văn Lăng), Laurent Barizy (Thành trí hầu), Philippe Vannier (Chấn vũ hầu Nguyễn Văn Chấn, chúa tàu Phụng), Le Brun (Thạch oai hầu)… đều được phong quan chức, trở thành lực lượng hạt nhân trong việc huấn luyện chiến thuật, chế tạo võ khí phương Tây cho quân đội Nguyễn Ánh. Họ kế tiếp nhau kẻ tới người đi, đến khoảng 1793 – 1794 thì rút đi gần hết, chủ yếu vì thất vọng về chính sách đãi ngộ của chính quyền Gia Định. Năm 1793 Olivier từng than phiền rằng họ siêng năng phục vụ mà không giàu có thêm chút nào, đây là biểu hiện tâm lý điển hình của bọn người phiêu lưu đánh thuê phương Tây tham gia vào cuộc nội chiến cuối thế kỷ XVIII ở Việt Nam. Dĩ nhiên họ cũng được phép buôn bán riêng thu lợi mà không phải đóng thuế. Năm 1800 Despiau mua được của Chưởng dinh Hữu quân (Nguyễn Huỳnh Đức?) một chiếc thuyền, mua muối và gạo chở qua bán ở Ấn Độ, còn trước đó, năm 1799 Olivier đi Malacca bán một thuyền cau lãi được 3.000 đồng… Cũng có người như Barizy đi khoảng giữa năm 1800, Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép “Thả cho thuyền trưởng người Hồng Mao là Ba La Di về nước, cho một chiếc chiến thuyền”, có lẽ là một thuyền hàng. Hai người nổi tiếng nhất trong số này là Jean Baptites Chaigneau và Philippe Vannier vẫn còn ở lại Việt Nam đến đầu đời Minh Mạng mới về Pháp, riêng Jean Baptites Chaigneau có một người vợ người Việt tên Thị Sen, sau Hòa ước 1862 sứ bộ Phan Thanh Giản qua Pháp thì bà vẫn còn sống và có tới ra mắt sứ bộ. Hai người sinh được một con trai, đặt tên nửa Pháp nửa Việt là Michel Đức Chaigneau, ông này về sau có phiên âm – phiên dịch Thơ Nam KỳThơ tiếp theo Thơ Nam Kỳ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ latinh và chữ Pháp, xuất bản năm 1876 ở Paris.

Nhìn chung trước 1802, những người phương Tây này không đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tác chiến, nhưng ở một mức độ đáng kể họ đã tác động tích cực tới việc hiện đại hóa quân đội của Nguyễn Ánh về kỹ thuật và chiến thuật mà đặc biệt là trong lực lượng thủy quân, đây là lý do khiến một số sử gia thực dân đầu thế kỷ XX có xu hướng thổi phồng vai trò của họ. Nhưng sau 1802 triều Nguyễn bế quan tỏa cảng không muốn nhắc tới những kỷ niệm thời mở cửa ấy, nên truyện của những người phương Tây trong Đại Nam Chính biên liệt truyện chỉ được chép phụ vàoTruyện Bá Đa Lộc, với tư thế một loại “Di Địch” tự nguyện làm bề tôi của Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long… Có thể ít nhiều thấy được cách nhìn này qua bài Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây của Hồ Huân Nghiệp năm 1864 “Vả xưa kia Tây đã cúi đầu, Đến nay lại Tây nào trở mặt” hay bài Nhị nguyệt nhị thập thất nhật mộng tùng đại giá thân chinh tận phục Nam Kỳ cố địa… của Tùng Thiện vương Miên Thẩm viết năm 1869 “Thắng giả Chấn giả vi tiền du” (Tên Thắng tên Chấn làm tiền khu).

Thái độ của các văn thần võ tướng dưới quyền Nguyễn Ánh đối với Pigneau

Ra mặt giúp đỡ Nguyễn Ánh chống Tây Sơn trên cương vị là Giám mục đại diện Tông tòa Đàng Trong rồi sau đó là người đại diện vua Pháp trong Hiệp ước Versailles, Pigneau đã đóng vai trò vừa là khách vừa là thầy trong chính quyền Gia Định. Nhưng một quan hệ chính trị như vậy phải chịu tác động của tình hình chính trị mà cụ thể ở đây là sự thay đổi tương quan lực lượng giữa tập đoàn Nguyễn Ánh với vương triều Tây Sơn. Trước 1788, Nguyễn Ánh cũng như đám văn thần võ tướng dưới quyền nói chung đều tôn kính Pigneau mặc dù vị giáo sĩ này từng có lần toan bắt cá hai tay như thái độ “trung lập” trong vụ Đỗ Thanh Nhơn ít nhiều cho thấy, nhưng từ 1788 trở đi thì tình hình đã khác. Nguyễn Ánh đã chiếm lại được Gia Định không phải bằng quân đội và khí giới của Hiệp ước Versailles, và sau đó thì tin tức về Cách mạng Pháp 1789 theo các tàu buôn phương Tây tới Sài Gòn cũng thủ tiêu luôn hy vọng nhờ cậy phương Tây của chính quyền Gia Định. Nhưng mặc dù từng bước thất vọng về khả năng thực tế của Pigneau, họ cũng không quên hình ảnh một người nước ngoài từng cùng nhau “ra Thổ Châu vào Phú Quốc” trong những ngày trốn lánh Tây Sơn trước kia nếu vị Giám mục này và các giáo sĩ dưới quyền không quá kiêu căng vì những công lao và ơn nghĩa cũ, và nhất là ngạo mạn với đức tin Thiên Chúa trong tham vọng Công giáo hóa chính quyền dẫn tới vụ xung đột với các nhà nho – văn thần dưới quyền Nguyễn Ánh. Cần nhắc lại rằng trong một thời gian dài Pigneau đã nuôi nấng dạy bảo hoàng tử Cảnh, người kế vị tương lai của Nguyễn Ánh và nhờ vậy cũng đã bước đầu hướng được Cảnh theo đức tin Thiên Chúa: khi từ Pháp về tới Gia Định năm 1789, Cảnh đã nhất định không chịu lạy bàn thờ tổ tiên với lý do trên đó chỉ là “những con quỷ sứ” và sau đó còn có lần vạch hai dấu chữ thập lên tượng Phật của mẹ tức bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu, thậm chí còn chỉ cách cho bà này lấy phân bò bôi lên tượng Thích Ca! Hơn thế nữa, sự hiện diện của Pigneau trong triều đình còn đi đôi với việc tuyên truyền đức tin Thiên Chúa cho nhiều người khác, chẳng hạn năm 1794 ông ta đã khuyên được một người vốn chống đối Thiên chúa giáo kịch liệt nhất là Giám quân Trung dinh Tống Phước Đạm theo đạo, vụ này làm cả triều đình Gia Định chấn động. Qua 1795, mười chín viên quan, trong đó có hai người có vai vế cao trong hoàng tộc đã họp lại đề nghị Nguyễn Ánh phải lập tức cắt đứt mối liên hệ giữa Pigneau với Đông cung Cảnh, và họ tuyên bố sẽ “tống cổ” Thầy Cả đi nếu đề nghị này không được Nguyễn Ánh chuẩn y. Theo Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771 – 1802), Văn Sử học, Sài Gòn, 1973 thì một trong hai người thuộc hoàng tộc tham gia vụ kiến nghị này là Quốc thúc Tôn Thất Thăng, ngoài ra trong 18 người còn lại có Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức trong đó Nguyễn Huỳnh Đức không phải là một nhà nho. Tuy nhiên các nhà nho – văn thần dưới quyền Nguyễn Ánh chống Pigneau như một đối thủ tư tưởng chứ không phải như một kẻ thù chính trị, còn bọn võ tướng thì khác, hầu như người nào ghét Pigneau cũng muốn giết ông ta. Chẳng hạn đầu năm 1799 viên Phó tướng Tả quân Tống Viết Phước ở thành Diên Khánh cứ những lúc tức giận là mắng nhiếc sỉ nhục Pigneau, khiến Ánh sợ Pigneau mất lòng phải triệu Phước về và ban dụ quở trách Đông cung Cảnh “Ngươi làm Nguyên soái giữ Diên Khánh, công việc ngoài cửa khổn đều được tự quyết đoán, thế mà Viết Phước vô lễ với sư phó mà ngươi cũng một niềm nín nhịn, há chẳng phải quá nhân từ ư?”. Trong một dáng cách quyết liệt hơn, viên Thuộc nội Cai đội Vệ úy Trần Đại Luật còn có lần dâng sớ xin chém Pigneau. Đại Nam Chính biên Liệt truyện chép Luật người Quảng Bình, đầu 1785 theo Nguyễn Ánh qua Xiêm, đến 1788 Ánh về chiếm lại Gia Định được bổ chức Hàn lâm viện Chế cáo, dâng biểu xin đổi qua làm quan võ, được phong làm Thuộc nội Cai đội Phó Vệ úy. Sau khi ra coi quân, thấy Pigneau de Béhaine kiêu ngạo, bèn dâng sớ nói “Cái hại Phật Lão tệ hơn Dương Mặc, mà cái hại Da tô còn tệ hơn Phật Lão, nên trị mối dị đoan thì thánh nhân răn về hại ấy, giữ về tà đạo thì tiên vương nói ắt phải giết, là vì ghét sự loạn chính dối dân để họa về sau. Nay Bá Đa Lộc mang đạo Chúa Trời lừa dối dân ngu, không có tình thân cha con, nghĩa lớn vua tôi, lại cậy mình bảo hộ Đông cung có chút công lao, sinh lòng kiêu ngạo, không sợ hãi gì, nay đã như thế, ngày sau sẽ thế nào, kẻ ấy mà không giết, sao gọi là pháp luật được. Thần xin được thanh gươm vua dùng để chém đầu y treo ở cửa chợ, tạ người trong nước mà trừ bỏ sự mê hoặc của mọi người”. Sớ dâng vào, Ánh rất khen ngợi nhưng sợ Pigneau thù Luật bèn cạo bỏ chỗ tên họ người dâng biểu rồi cất đi, lại triệu Luật vào nói “Ngươi có lời nói thẳng, không phải trẫm không tin, nhưng nay còn phải đánh dẹp, đang lúc cần người, kẻ gian người ngu cũng đều nên dùng, đừng tỏ ra hẹp hòi, chuyện cứ tạm để đó”.

Nhìn chung, có thể khái quát thái độ đối với Pigneau của các văn thần võ tướng dưới quyền Nguyễn Ánh bằng lời tóm tắt của G. Taboulet trong La geste francaise en Indochine “Không phải các quan lại đều đồng tình trong việc chống đối Giám mục Adran… Nhưng đa số các nhà nho chống lại Thầy Cả một cách gần như bản năng”.

Cuộc xung đột giữa Pigneau de Béhaine với các nho sĩ trong chính quyền Gia Định

Với cuộc nội chiến cuối thế kỷ XVIII, xã hội Việt Nam ở Gia Định cũng vượt ra khỏi không gian văn hóa Đàng Trong mà hội nhập toàn diện hơn vào với Việt Nam, và lịch sử đã quy định cho nó cái hình thức chính trị là ngọn cờ phục thù của tập đoàn Nguyễn Ánh. Nhưng để trở lại Phú Xuân rồi tiến tới Thăng Long, tập đoàn Nguyễn Ánh đã dùng những phương tiện thời đại mà cụ thể là kỹ thuật phương Tây, và vì thế phải chấp nhận sự có mặt của các giáo sĩ mà đứng đầu là Pigneau trong chính quyền của họ. Đối với các giáo sĩ thì đương nhiên đây là một cơ hội bằng vàng để bước vào triều đình Gia Định, vì trong cuộc đời truyền giáo của họ không phải ai cũng gặp may như Pigneau mà trở thành người ơn của một ông vua giữa lúc bôn ba chiếm lại ngai vàng, và hơn thế nữa, còn được giao cả một vị hoàng tử mang �
�i làm món đặt cọc – vật thế chân mà mượn quân xin súng. Cho nên tin tức về quan hệ giữa Pigneau và Nguyễn Ánh loan truyền khắp nơi đã được các giáo sĩ tiếp nhận một cách vui mừng trong hy vọng mở mang nước Chúa. Trong thư ngày 21. 6. 1793 gởi các cô Mesnard ở Lorient – những người từng đón tiếp hoàng tử Cảnh lúc Cảnh theo Pigneau sang Pháp -, giáo sĩ La Mothe ở địa phận Kẻ Vinh (Nam Định) đã viết “Tôi không chắc rằng một ngày nào đó, khi vua Nam Hà, cha của vị hoàng tử mà các cô đã từng đón tiếp lên ngôi vua Bắc Hà…, tôi không chắc rằng lúc đó chúng ta sẽ được lợi nhiều trừ khi ông nhường ngôi lại cho người con theo Da-tô giáo của ông”. Dĩ nhiên về chuyện “cải giáo” của hoàng tử Cảnh thì những thành công đầu tiên của Pigneau đã được thổi phồng, nhưng quả thật trong những ngày đầu tiên từ Pháp về tới Sài Gòn, Cảnh đã bộc lộ đức tin Thiên Chúa theo một cung cách ngây thơ mà cực đoan khiến Nguyễn Ánh và đông đảo triều thần Gia Định lo ngại. Với tâm nguyện “Tôi muốn sống và chết như một tín đồ Thiên chúa giáo” (Je veux vivre et mourir chrétien), Cảnh hứa sẽ chỉ lấy một vợ theo đúng giáo luật về hôn nhân của đạo Thiên chúa, và hơn thế nữa còn hiên ngang tuyên bố “Tôi không muốn làm vua và nếu không định làm cho cả dân tôi theo đạo thì tôi đã trở lại Pháp ngay rồi”. Việc hướng về một tín ngưỡng xa lạ như vậy báo hiệu việc thực thi một lối sống xa lạ, và ở một ông vua tương lai, điều đó đe dọa lề lối tổ chức và hoạt động hiện hành của triều đình, đe dọa hệ thống các quan hệ xã hội truyền thống trên đó vương quyền và chính quyền tồn tại, và cố nhiên cũng đe dọa cả quyền lợi của các nhà nho vốn mang tâm nguyện tu tề trị bình khác với tinh thần Phúc âm. Khuynh hướng tôn giáo của Cảnh ở đây vì thế không chỉ đơn thuần là vấn đề tín ngưỡng, mà đã trở thành vấn nạn đối với tương lai chính trị của triều Nguyễn “trung hưng”. Sự đe dọa ấy đã làm dấy lên trong triều đình Gia Định một chiến dịch chống Pigneau mà mục tiêu đầu tiên là giành lại hoàng tử Cảnh. Cuộc xung đột giữa các giáo sĩ mà đứng đầu là Pigneau với các nhà nho – văn thần trong triều đình Gia Định manh nha từ đó, lúc ngấm ngầm lúc sôi sục nhưng đều gây ra những tác động và ảnh hưởng kéo dài suốt nhiều năm sau.

Tuy nhiên, sau cùng thì các giáo sĩ mà đứng đầu là Pigneau cũng phải thất bại trong ý đồ nắm lấy người kế vị tương lai của Nguyễn Ánh để áp đặt các chuẩn mực Thiên chúa giáo lên xã hội thông qua chính quyền. Đức tin Thiên Chúa mà Cảnh tập nhiễm một cách tự nhiên trong tuổi ấu thơ sống với Pigneau không đủ mạnh để vô hiệu hóa những tác động từ triều đình ngoại đạo Gia Định. Sau khi được chính thức phong làm Đông cung Thái tử với lời sắc văn “Học thì lo cầu văn chương lễ nhạc, gần theo những bậc hiền lương, đạo thì lo tìm tâm pháp thánh hiền, nhờ cậy các quan sư phó…” ngày 30. 4. 1793, chung quanh Nguyên soái Cảnh quận công đã có một hàng rào chống Thiên chúa giáo được dựng lên với các viên Đông cung Phụ đạo, Hàn lâm viện Thị học, Quốc tử giám Thị học và đặc biệt là hai viên Đông cung Thị giảng Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định – hai nhà nho bác thông kinh sử bậc nhất trong chính quyền Gia Định trực tiếp kèm cặp dạy bảo hai buổi mỗi ngày. Được giáo dục bởi “các Thượng thư Satan” (Ministres de Satan theo như cách nói hằn học của giáo sĩ Le Labousse) này, Cảnh cũng dần dần rời bỏ các chuẩn mực Thiên chúa giáo cũng như có một cái nhìn khác trước về Giám mục Thượng sư. Mùa xuân năm 1797 Cảnh lấy ba vợ bất chấp giáo luật về hôn nhân của đạo Thiên chúa, đến 1798 thì tỏ ra tán thành lời bài bác đạo Phật đạo Lão đầy ẩn ý làm chạm nọc Giám mục Adran của viên Lễ bộ kiêm Đông cung Phụ đạo Ngô Tòng Châu, rồi qua 1799 lại “một niềm nín nhịn” trước những lời lẽ hỗn láo với sư phó Pigneau của viên Phó tướng Tả quân Tống Viết Phước. Lúc còn sống Pigneau đã không còn gì để hy vọng ở Đông cung Cảnh, và sau khi chết thì được các văn thần trong chính quyền Gia Định soạn cho bài văn bia ở Lăng Cha Cả đề cao như một công thần ngoại quốc của Nguyễn triều, một thứ “nhà nho người Pháp” chứ hoàn toàn không phải như một giáo sĩ Thiên chúa giáo có công trong việc truyền đạo ở Việt Nam…

Như một hình ảnh thu nhỏ mà sắc nét đợt xâm lăng bằng Thiên chúa giáo đầu tiên của phương Tây vào Gia Định cuối thế kỷ XVIII, ý đồ Công giáo hóa chính quyền Nguyễn Ánh của Pigneau đã đưa tới cho bộ phận văn hóa Việt Nam non trẻ ở địa phương lúc bấy giờ một nguy cơ bị hủy diệt. Cho nên ngoài ý nghĩa là sự đánh dấu bước trưởng thành đầu tiên của tầng lớp nhà nho ở địa phương, thắng lợi của các văn thần dưới quyền Nguyễn Ánh trong cuộc đấu tranh chống Pigneau còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa và lịch sử quan trọng. Bị hút vào một cuộc nội chiến quyết định chặng đường phát triển tiếp theo của mình, xã hội Việt Nam ở Gia Định cuối thế kỷ XVIII cho thấy nó đã có đủ sức mạnh để vượt qua những khúc quanh tha hóa. Riêng với tập đoàn Nguyễn Ánh thì thắng lợi nói trên còn giúp nó củng cố được sự thống nhất về tư tưởng và chính trị, một sự thống nhất tuy vẫn trong khuôn khổ truyền thống nhưng lại là điều kiện tiên quyết trong việc tập đoàn phong kiến phục thù này về lại Phú Xuân rồi tiến tới Thăng Long.

Thái độ của Nguyễn Ánh đối với cuộc xung đột giữa giáo sĩ và nho sĩ trong chính quyền Gia Định cuối thế kỷ XVIII

Có thể nói riêng với cá nhân Pigneau, Nguyễn Ánh có một tình thương mến sâu đậm và lòng biết ơn sâu sắc. Bài văn tế Pigneau của Ánh năm 1799 với những câu “Giọt đồng long ô yết dễ dừng, Lệ lạp chúc sụt sùi khôn ráo. Trăng tối chợt ngờ nhan sắc, mở rèm đợi khách gia tân, Mây chiều ngẩn tưởng phong nghi, đặt ghế mong người cố lão” (Văn tế đức Thượng ) ít nhiều cho thấy điều đó. Nhưng những tình cảm ấy chỉ là một ngoại lệ đồng thời có mức độ, vì nói chung thì trong thâm tâm Nguyễn Ánh chẳng quý trọng gì cả người Âu lẫn đạo Thiên chúa – sau này người ta sẽ có dịp nghe Gia Long khuyến cáo Minh Mạng về hiểm họa của sự can thiệp từ châu Âu “Hãy biết ơn người Pháp, nhưng đừng bao giờ để họ đặt chân vào triều đình của con” và sẽ được đọc trong tờ Chiếu định điều lệ hương đảng cho các xã dân ở Bắc Thành năm 1804 những câu như “Đạo Da-tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường địa ngục khiến kẻ ngu phu ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen, mê mà không biết”. Đồng thời mặc dù bắt đầu từ những ơn nghĩa cá nhân, quan hệ giữa Ánh với Pigneau vẫn là một quan hệ chính trị, và đôi bên đều biết khá rõ về mục đích của nhau – Nguyễn Ánh thì lợi dụng quốc tịch và quan hệ của Pigneau mà xây dựng lực lượng chống Tây Sơn, Pigneau thì lợi dụng quyền lực và tình thế của Nguyễn Ánh mà mở rộng biên cương cho nước Chúa. Nhưng trong vụ hùn hạp này, Pigneau lại là một kẻ góp vốn ít mà muốn chia lãi nhiều, và vì vậy đã trực tiếp gây ra cuộc xung đột quanh vấn đề đức tin của Hoàng tử Cảnh đồng thời trở thành đối tượng trước mắt của lực lượng chống Thiên chúa giáo mà đứng đầu là các nho sĩ trong chính quyền Gia Định. Tuy nhiên sau 1788 mặc dù từng bước thất vọng về khả năng mượn quân xin súng của Pigneau, Nguyễn Ánh vẫn buộc phải giữ gìn thể diện cho ông ta, vì ơn nghĩa đã qua cũng có mà vì lợi ích trước mắt cũng có. Quân đội Gia Định phải chiến đấu trên căn bản kinh tế trong nước nhưng bằng trang bị kỹ thuật nước ngoài, nên để giữ được các quan hệ ngoại giao và ngoại thương cần thiết mà mua võ khí phương Tây, Ánh cần có ít ra là sự hiện diện của những người châu Âu, đặc biệt là các giáo sĩ ở Gia Định. “Vua phải liệu có vài người Âu bên cạnh để cho các nước tin tưởng” – nhận xét ấy của Olivier quả cũng là lời tóm tắt về sách lược đối ngoại với châu Âu của Gia Định cho đến 1802. Không lạ gì mà năm 1793, khi phong hoàng tử Cảnh làm Đông cung, Nguyễn Ánh vẫn bảo Cảnh lạy Pigneau và đối đãi như bậc sư phó với lời dặn dò “Thầy còn là bậc trên cả ta là cha của con” (Le Maitre est plus ton père que moi) vừa giữ thể diện cho Thầy Cả vừa xoa dịu đám văn thần bằng thứ bậc Quân, Sư, Phụ của Nho giáo, và tang lễ của Pigneau do triều đình Gia Định đứng ra tổ chức cuối năm 1799 có lẽ là một trong những đám tang trọng thể nhất ở Sài Gòn cuối thế kỷ XVIII, với 12.000 quân và 120 voi đưa Thái tử Thái phó Bi Nhu quận công về nơi yên nghỉ cuối cùng. Tóm lại trong một thời gian dài, Nguyễn Ánh đã cố gắng đóng vai trò một người ngoài cuộc đối với cuộc xung đột này, hay ít nhất cũng là một người trọng tài không thiên vị để lấy lòng cả giáo sĩ lẫn nho sĩ. Nhưng khi chính quyền Gia Định ngày càng được bổ sung nhiều hơn bằng số trí thức – nhà nho tuyển từ các khoa thi 1791, 1796 mà đầu bài lấy trong kinh sử thánh hiền, khi quân đội Gia Định tự nó mở được các chiến dịch lớn tấn công vào phần đất của Tây Sơn và danh hiệu đại diện vua Pháp trong Hiệp ước Versailles của Pigneau đã trở thành hư hàm thì Nguyễn Ánh cũng dần dần ra mặt đứng về phía các nhà nho, một phần cũng vì “sợ các quan lại bỏ rơi”, nhưng chủ yếu là vì đã thấy không bị phụ thuộc vào sự giúp đỡ của Pigneau nhiều như trước nữa. Sau khi hoàng tử Cảnh không chịu lạy bàn thờ tổ tiên, Ánh tìm gặp Pigneau phàn nàn về việc đạo Thiên chúa “dạy người ta quên ông bà”, nghĩa là chỉ dám phản ứng khá nhẹ nhàng với Pigneau, nhưng khi Pigneau từ chối lời đề nghị theo quân Đông cung Cảnh ra Diên Khánh năm 1797, Ánh đã gây sức ép với Giám mục Thượng sư bằng cách đòi xem xét lại vấn đề tự do truyền đạo và trắng trợn hơn, còn bắt một viên quan theo đạo Thiên chúa lạy bàn thờ các tiên vương với câu hăm dọa “Ngươi có muốn ta gởi ngươi sang Xiêm cho Phật vương bắt lạy Phật không?”. Nếu nhớ lại rằng lúc thúc giục Nguyễn Ánh đánh Diên Khánh để mình có cơ hội ra thăm thú các giáo xứ ở miền Trung khoảng 1790 – 1791 Pigneau cũng từng giở thủ đoạn dọa bỏ về châu Âu để làm áp lực, có thể thấy Nguyễn Ánh cũng rất thực dụng trong việc xử sự với Pigneau…

III. Quân đội của Nguyễn Ánh

Quân đội của Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh chia quân Đông Sơn thành bốn quân Tiền Hậu Tả Hữu, là tiền thân của các đơn vị bộ binh lớn được gọi là dinh tức Tiền quân, Hậu quân, Tả quân, Hữu quân về sau, lại lấy Tôn Thất Dụ làm Chưởng Trung quân tiết chế chư đạo bộ binh, theo đó đủ thấy trước 1788 quân đội Gia Định đã được chia làm năm dinh Tiền Hậu Trung Tả Hữu. Từ 1788 trở đi theo với diễn tiến của cuộc chiến tranh chống Tây Sơn, quân đội của Nguyễn Ánh đã phát triển trên tất cả các mặt số lượng và tổ chức, trang bị kỹ thuật và trình độ chiến thuật, trở thành một quân đội hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á sau 1802.

Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép lúc chiếm lại Gia Định lần thứ nhất năm 1778, quân đội của Nguyễn Ánh có không dưới 30.000 người và 80 thuyền đi biển, 2 chiến thuyền lớn, 2 chiếc tàu Tây dương. Theo thời gian và nhu cầu của chiến tranh, con số này cũng tăng dần, đến đầu thế kỷ XIX theo ghi chép của John Barrow được G. Taboulet dẫn lại trong La geste francaise en Indochine thì quân đội Gia Định đã có tới 113.000 bộ binh (24 đội kỵ binh gồm 6.000 người, 16 đại đội tượng quân với 200 voi và 8.000 người, 30 đại đội pháo binh gồm 15.000 người, 25 liên đội trang bị súng tay gồm 30.000 người, khinh binh trang bị gươm giáo và súng cò đá lửa gồm 42.000 người, cận vệ được tập luyện chiến thuật Tây phương tức quân Thần sách gồm 12.000 người) và 26.800 thủy binh (chế tạo thuốc đạn trong Xưởng Chu sư 8.000 người, trên các tàu trong cửa biển gồm 8.000 người, trên các tàu kiểu châu Âu gồm 1.200 người, trên các ghe bầu gồm 1.600 người, trên các thuyền chiến có chèo gồm 8.000 người), tổng cộng 139.800 người. Số lượng bộ binh được trang bị hỏa khí kể cả quân Thần sách chắc chắn phải được trang bị những vũ khí tốt nhất có khoảng 84.000 người, nếu tính thêm pháo binh là 99.000 người, trong bối cảnh kỹ thuật đương thời rõ ràng là một quân đội được hiện đại hóa ở trình độ khá cao. Trước 1788, quân đội Nguyễn Ánh đã có chiến thuyền phương Tây tức chiếc “Tây dương quả đồng đại thuyền” với lựu đạn của Manuel gây nhiều tổn thất cho quân Tây Sơn ở sông Ngã Bảy năm 1782. Ngoài ra, vào đầu thế kỷ XX, Linh mục Cadière còn tìm thấy trong văn phòng Nội các của triều Nguyễn một tấm bản đồ về công sự với một loại súng của pháo binh vẽ từ một quyển sách về công sự Vauban, xuất bản năm 1773.

Sử chép lúc vây thành Quy Nhơn năm 1793 Nguyễn Ánh đã định “dùng phép thả diều phóng lửa của nước Tây” để đánh, nhưng lại sợ dân trong thành bị họa lây nên thôi, sai các quân không nên đánh gấp, để dân tự ra. Tuy nhiên từ trận Trấn Ninh năm 1672, quân Trịnh đã dùng diều giấy mang hỏa dược trộn dầu rái lựa chiều gió thả vào đốt lũy, quân Nguyễn có người bị diều rơi trúng đốt cháy không sao dập tắt bằng nước, nên “phép thả diều phóng lửa của nước Tây” này chắc phải có khác. Căn cứ vào lịch sử phát minh khinh khí cầu (năm 1783, hai anh em Montgolfier chế tạo ra khinh khí cầu dùng hơi nóng để bay lên), có thể nghĩ phép thả diều phóng lửa mà Nguyễn Ánh định dùng chính là khinh khí cầu kiểu phương Tây chứ không phải loại diều truyền thống như quân Trịnh đã dùng năm 1672.

Năm 1789 sai các dinh kén quân chiến tâm, số quân chiến tâm này được dồn bổ vào vệ Thần sách, về sau trở thành dinh Thần sách quân. Năm 1795 có lệnh Chánh Phó Vệ úy các vệ quân Thần sách đều thêm hai chữ “Thuộc nội”, theo đó có thể thấy quân Thần sách được coi như thân quân của Nguyễn Ánh.

Quân Nguyễn Ánh chia làm nhiều quân đoàn lớn gọi là dinh, như Tiên phong dinh, Hậu quân dinh, mỗi dinh chia làm nhiều đồn, mỗi đồn chia làm nhiều chi. Căn cứ vào điều 16 trong 32 điều quân chính ban bố trong quân Nguyễn Ánh đầu năm 1799 “Ra trận mà lùi chạy thì chém. Những chi, hiệu, đội, thập, ngũ nào mà lui chạy thì người Trưởng chi, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng, Ngũ trưởng đều bị chém đầu để răn mọi người. Nếu Trưởng chi bị thất lạc thì các Trưởng hiệu cùng thuộc viên trong chi phải chịu đồng tội, Trưởng hiệu, Cai đội, Đội trưởng, Ngũ trưởng bị thất lạc thì Cai đội trong hiệu, Đội trưởng trong đội, Ngũ trưởng trong thập, binh đinh trong ngũ đều chịu đồng tội. Bị tên đạn mà chết thì không kể”, có thể biết bộ binh trong quân Nguyễn Ánh được chia thành dinh, đồn, chi, hiệu, đội, thập, ngũ, tức một chi có nhiều hiệu, một hiệu có nhiều đội, một đội có nhiều thập, một thập có ít nhất hai ngũ, một ngũ có lẽ có năm người. Người đứng đầu một dinh tức Chưởng dinh hay Quản dinh, đứng đầu một đồn là Chánh thống đồn, đứng đầu một chi là Trưởng chi, đứng đầu một đội là Cai đội, còn người đứng đầu một thập thì không gọi là Thập trưởng mà gọi là Đội trưởng. Thủy quân cũng tổ chức tương tự, nhưng các đồn được gọi là dinh.

Đến đầu 1802, sau nhiều lần thay đổi về tổ chức, phiên hiệu, tướng soái, toàn bộ quân đội Nguyễn Ánh được chia thành bảy dinh lớn là Tiền quân, Trung quân, Tả quân, Hữu quân, Hậu quân, Thần võ quân, Chấn võ quân (được cấp ấn son), ngoài ra còn các dinh nhỏ như Tiên phong dinh, Tượng dinh, Thần sách quân. Trung quân chủ yếu là thủy quân, là lực lượng cơ động nhất trong hoàn cảnh giao thông thời bấy giờ. Tượng dinh, Trung quân dinh vừa là hai quân đoàn vừa là hai binh chủng.

Thủy quân của Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Trong gần hai trăm năm trước khi Tây Sơn khởi nghĩa, quân đội Đàng Trong phát triển trong điều kiện địa hình bờ biển kéo dài ở miền Trung và sông rạch chằng chịt ở miền Nam nên có lực lượng thủy quân đặc biệt tinh nhuệ, đầu thế kỷ XVII từng đánh bại cả hạm đội của Hà Lan. Cuối thế kỷ XVII, với việc tiếp nhận các di thần phản Thanh phục Minh Trung Hoa và khai thác phương Nam, thủy quân Đàng Trong lại tiếp thu thêm kỹ thuật thủy chiến Hoa Nam cũng như Đông Nam Á, sự thích ứng tích cực ấy khiến nó trở thành lực lượng thủy quân thiện chiến bậc nhất trong khu vực đồng thời chiếm địa vị lực lượng chủ lực trong quân đội Đàng Trong. Không phải ngẫu nhiên mà biên chế thủy quân Đàng Trong có đơn vị thuyền (tương đương đội trong bộ binh). Có thể nói thủy quân của Nguyễn Ánh từ 1778 trở đi đã kế thừa truyền thống thủy quân Đàng Trong trên các phương diện tổ chức, trang bị kỹ thuật và chiến thuật nhưng theo thời gian cũng có nhiều nét cách tân.

Về tổ chức, năm 1796 đặt năm dinh Thủy quân. Trước chỉ có ba dinh Trung thủy, Tiền thủy, Hậu thủy, lúc ấy đặt thêm hai dinh Tả thủy, Hữu thủy. Mỗi dinh lại chia thành ba chi tức Trung chi, Tiền chi, Hậu chi, Chánh quản dinh thống lĩnh toàn dinh, Phó quản dinh thống lĩnh Trung chi. Đây là đợt cải cách tổ chức lớn trong thủy quân của Nguyễn Ánh. Về sau thủy quân trong quân Nguyễn Ánh tập trung vào Trung quân, tức Trung quân vừa là một quân đoàn vừa là một binh chủng.

Về chiến thuyền, trong thư viết từ Chợ Quán ngày 4. 3. 1790, Linh mục Jean de Jesus Maria ghi nhận Ánh có khoảng 10 chiếc tàu Bồ Đào Nha và 1 tàu Pháp, tuy là tàu buôn nhưng có đủ khí giới. Song số tàu phương Tây mua được chỉ có hạn, nên từ 1788 trở đi Nguyễn Ánh rất quan tâm tới việc chế tạo chiến thuyền.

Năm 1789 sai các quân đóng chiến thuyền lớn hơn 40 chiếc, thuyền đi biển hơn 100 chiếc, lại sai các nha văn võ cùng các đạo thủ thuộc các dinh Trấn Biên, Trấn Định và Vĩnh Trấn đi lấy ván gỗ để nộp. Những dân phu lũy, sái phu và cục tượng các dinh, các đội nậu biệt nạp, thuộc binh các nha, cứ 40 người thì nộp ván đóng một chiếc thuyền, các đạo thủ thì Long Xuyên nộp 10 chiếc, Kiên Giang nộp 3 chiếc, Trấn Giang nộp 5 chiếc, Phú Quốc nộp 8 chiếc.

Năm 1791 lại đóng hơn 100 chiến thuyền, sai Tri Tào vụ Lê Đăng Trung và Khâm sai Cai cơ Nguyễn Ngọc Tốt đem lính thợ chia nhau lên Quang Hóa và Campuchia tìm gỗ.

Năm 1792 đóng năm đại hiệu thuyền Hoàng long, Xích nhạn, Thanh tước, Bạch yến, Huyền hạc (đặt tên theo năm màu vàng đỏ xanh trắng đen). Năm 1802 sứ bộ Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Huỳnh Ngọc Uẩn qua Trung Quốc đã đi hai chiếc Bạch yến, Huyền hạc trong năm đại hiệu thuyền này.

Năm 1793 đóng thêm các thuyền Long ngự, Long thượng, Long hưng, Long phi, Bằng phi, Phượng phi, Hồng phi, Loan phi, Ưng phi.

Năm 1796 đóng 15 đại hiệu thuyền chữ Gia xếp theo tam tài và thập nhị chi, gồm thuyền Gia hưng hiệu chữ Thiên, thuyền Gia khánh hiệu chữ Địa, thuyền Gia nguyên hiệu chữ Nhân, thuyền Gia hạnh hiệu chữ Tý, thuyền Gia trinh hiệu chữ Sửu, thuyền Gia tường hiệu chữ Dần, thuyền Gia minh hiệu chữ Mão, thuyền Gia hòa hiệu chữ Thìn, thuyền Gia trị hiệu chữ Tỵ, thuyền Gia thịnh hiệu chữ Ngọ, thuyền Gia vĩnh hiệu chữ Mùi, thuyền Gia hựu hiệu chữ Thân, thuyền Gia hy hiệu chữ Dậu, thuyền Gia hội hiệu chữ Tuất, thuyền Gia thiện hiệu chữ Hợi, đặt 15 Tĩnh hải úy chia nhau cai quản. Qua 1797 lại thấy sai bọn Chánh Phó Phi kỵ Tuần hải đô dinh là Hoàng Trung Đồng, La Á Lục chia nhau quản 19 đại hiệu thuyền Long ngự, Long hưng, Long thượng, Long đại, Long nhất, Long nhị, Long tam, Phượng đại, Phượng nhị, Hồng đại, Hồng nhị, Hồng tam, Loan đại, Loan nhất, Loan nhị, Long tam, Bằng đại, Bằng nhất, Bằng nhị, Bằng tam.

Cuối 1797 sai các quân đóng thêm 50 thuyền đi biển, 100 thuyền sai và 200 thuyền chiến. Đầu 1798 sai các đội Mộc đĩnh ở Chính dinh đi Quang Hóa (Tây Ninh) tìm ván gỗ để đóng thuyền chiến lớn và thuyền kiểu Tây dương.

Cuối 1799 đóng thêm 100 chiến thuyền, sai tinh binh thuộc quân lạc tòng và các nha văn võ, quản quân các đạo lấy gỗ để nộp (cứ 50 người phải nộp một chiếc).

Năm 1801, sai Hữu Tham tri bộ Công Nguyễn Khắc Thiệu đem hai cơ Kiên Châu và Thiện Châu cùng hơn 390 thợ thuộc Công bộ về Gia Định đóng 200 thuyền ô, thuyền sai và thuyền chiến. Sau khi chiếm Phú Xuân, Nguyễn Ánh vẫn sai Gia Định đóng chiến thuyền, tất cả 10 chiếc có hiệu là Anh, Vũ, Thước, Nga, Quyên, Phu, Lộ, Diên, Chiên, Ly (đều đặt tên chim, theo thứ tự là ác mó, vẹt, quạ, ngỗng, cuốc, vịt trời, cò, diều hâu, chim cắt, chim oanh).

Trang bị của thủy quân Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Về trang bị kỹ thuật, sự phát triển thủy quân của Nguyễn Ánh trước 1802 đánh dấu một bước phát triển của thủy quân Việt Nam thời phong kiến. Gia Định thành thông chí chép năm 1778, Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, nhưng Tổng đốc Châu, hổ tướng Hãn và Tư khấu Oai của Tây Sơn còn dùng thủy binh qua lại dọc theo đường sông vùng Biên Hòa, Sài Gòn và Mỹ Tho để chống đánh, lại được Hộ giá Tây Sơn Phạm Ngạn từ Quy Nhơn vào tiếp viện, đôi bên giằng co. Quân Nguyễn Ánh đắp lũy từ bờ tây Bến Nghé tới bến sông An Thông, các cửa rạch đều cắm cọc gỗ để chống giữ, Lê Văn Quân lại ngầm đóng 50 chiến thuyền ở sông nhỏ Thị Tính trong sông An Thông, loại thuyền ấy “đầu nhọn, thân và đầu thuyền có gác ba tấm ván giống như kiểu tàu Tây dương treo giăng mặt lưới, tên là Long lân thuyền (thuyền vảy rồng)”, đêm 19 tháng 6 âl. ra sông lớn Bình Dương đánh úp thủy quân Tây Sơn, chém được Tư khấu Oai, quân Tây Sơn chạy về Quy Nhơn. Loại “thuyền vảy rồng” này thấy Đại Nam Liệt truyện Tiền biên, Truyện Nguyễn Cửu Dật nhắc tới, rõ ràng là một loại chiến thuyền của quân đội Đàng Trong.

Đến 1780, Ốc nha Suất ở Trà Vinh làm phản, tháng 4 âl. Nguyễn Ánh sai Đỗ Thanh Nhơn, Dương Công Trừng đi đánh thì chiến thuyền của quân Nguyễn Ánh bắt đầu được cải tiến. Lúc ấy quân của Suất dựa vào rừng sâu chằm lớn, dùng nỏ cứng làm võ khí sở trường, quân Nguyễn đánh không được. Dương Công Trừng sai quân dùng vòng sắt móc liền các chiến thuyền với nhau, bắc sàn ở trên, kèm dựng cây chuối để đỡ tên đạn, nhân nước thủy triều lên cho thuyền đến sát lũy để đánh. Quân của Suất mất thế hiểm vỡ chạy. Cải tiến kết hợp binh khí kỹ thuật với chiến thuật kiểu này được phát triển thêm ngay sau đó. Tháng 7 âl. năm ấy Nguyễn Ánh sai quân lên Quang Hóa Tây Ninh lấy gỗ sao đóng chiến thuyền. Gia Định thành thông chí mô tả loại chiến thuyền này có hai bánh lái, bánh lái dài phía sau dùng đi biển, bánh lái tròn phía trước dùng đi sông, gọi là thuyền hai bánh lái, trên thuyền gác sàn, hai bên có phên tre che cho thủy binh ở dưới chuyên lực chèo chống, trên thì đặt bộ binh để xung trận, nhờ đó kỹ thuật thủy chiến càng tinh vi. Loại thuyền này qua đầu thế kỷ XIX vẫn còn được thủy quân triều Nguyễn sử dụng.

Ngoài việc được trang bị binh khí kỹ thuật phương Tây từ trước 1788, thủy quân Nguyễn Ánh còn có nhiều yếu tố trang bị kỹ thuật Hoa Nam. Sử chép năm 1785 Tuần hải đô dinh Hà Hỷ Văn của Nguyễn Ánh (vốn là cướp biển người Hoa trong vịnh Thái Lan theo hàng) đã đem binh thuyền bản bộ đi Liêm Châu chiêu dụ được 23 thuyền cướp biển Tề Ngôi về theo. Cần nói thêm rằng quân Tề Ngôi có kỹ thuật thủy chiến rất tinh vi, Quang Trung từng mua chuộc sai họ cướp phá quấy nhiễu vùng duyên hải phía nam Trung Quốc, và đến 1794 người ta đã thấy sự hiện diện của chiến thuyền Tề Ngôi trong thủy quân Tây Sơn.

Về chiến thuật, hiện không có tài liệu nào cho biết cụ thể, song căn cứ vào Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ trong đó miêu tả cặn kẽ về các khí cụ thủy chiến như câu liêm, tên lửa…, có thể thấy thủy quân thời Đàng Trong vẫn tiến hành chiến đấu tương tự bộ binh, nghĩa là dùng tên có chất dẫn lửa bắn cháy để kìm chế tốc độ, kế dùng câu liêm móc giữ thuyền đối phương rồi nhảy qua cận chiến để giải quyết chiến trường. Nhưng đến cuối thế kỷ XVIII thì chiến thuật của thủy quân Nguyễn Ánh đã từng bước hiện đại hóa theo với sự hiện đại hóa về binh khí kỹ thuật mà cụ thể là tốc độ và độ bền của chiến thuyền, tầm bắn và mức độ chính xác của đại bác. Dĩ nhiên cái gọi là “hiện đại hóa” ở đây là so với hoàn cảnh kỹ thu���t đương thời, mặt khác cũng có sự đan xen giữa các loại binh khí kỹ thuật khác nhau dẫn tới sự phối hợp nhiều chiến thuật tương ứng khác nhau.

Các viên Chưởng Tiền phong dinh trong quân Nguyễn Ánh

Trước 1788 không thấy trong quân Nguyễn Ánh có dinh Tiên phong, nhưng giữa 1788, khi Ánh từ Xiêm về Gia Định, Võ Tánh đem quân Kiến Hòa về theo thì được Ánh phong làm Khâm sai Tổng nhung Chưởng cơ dinh Tiên phong, rõ ràng dinh Tiên phong đã hình thành trên cơ sở quân bản bộ của Võ Tánh. Năm 1790 Tánh bị giáng làm Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, nhưng vẫn quản dinh Tiên phong. Năm 1791 Nguyễn Ánh lấy Chưởng Hậu quân dinh Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân dinh, Cai cơ Tiên phong dinh Võ Tánh quản Hậu quân dinh, Hiệu úy Tiền chi Trung quân dinh Nguyễn Văn Thành quản Tiên phong dinh. Đến 1793, phong Chưởng Tiền quân dinh Tôn Thất Hội làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân, quản Hậu quân dinh Võ Tánh làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây Tham thặng tướng quân, quản Hữu quân dinh Nguyễn Huỳnh Đức làm Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân… Cuối 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân, lấy Phó tướng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh quản Tiên phong dinh. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Võ Tánh, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Tánh lần lượt giữ chức Chưởng Tiên phong dinh.

Nguyễn Văn Tánh người Long Thành Biên Hòa, lúc đầu theo Châu Văn Tiếp làm quan tới chức Khâm sai Tổng nhung Cai cơ, theo Tiếp sang Bangkok. Khi Tánh về Tiếp đã chết, Ánh cho theo Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân, năm 1788 giữ đạo Đồng Môn, đến 1793 làm Lưu thủ Bình Thuận. Năm 1795 theo Nguyễn Ánh giải vây thành Diên Khánh, được thăng Phó tướng Tiên phong dinh, đến 1798 được thăng quản Tiên phong dinh. Năm 1803 được thăng làm Khâm sai Chưởng Tiên phong dinh, Án trấn thành Diên Khánh, thống quản các dinh Bình Khang, Diên Khánh, Bình Thuận, năm 1805 chết ở nơi làm quan.

Tánh là người can đảm nơi trận mạc nhưng nhút nhát trong triều đình, năm 1800 đóng quân ở Phú Yên giữ nhau với quân Tây Sơn, mắc bệnh thổ huyết không coi quân được, Nguyễn Văn Thành phải dâng biểu xin lấy Tôn Thọ Vinh (ông nội Tôn Thọ Tường) tạm lãnh quân để Tánh dưỡng bệnh. Gặp lúc Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa quân Chân Lạp từ Gia Định tới, ghé Phú Yên thăm Tánh rồi tới nói với Nguyễn Ánh là thấy Tánh đi đứng bình thường, không có vẻ gì là ốm nặng, nói thổ huyết có khi là dối, chỉ là uống tiết vịt thôi. Tánh nghe tin sợ lắm, vội gởi thư cho Lại bộ Nguyễn Bảo Trí nhờ biện bạch giúp, đến khi khỏi bệnh tới yết kiến Nguyễn Ánh vẫn còn sợ sệt, Ánh phải an ủi mãi mới yên tâm, xem ra con người này không phải kẻ tâm cơ sâu sắc đủ để đứng trong chính trường, mà chỉ có thể cúc cung tận tụy làm tròn chức phận võ thần thời loạn mà thôi.

Các viên Chưởng Tiền quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Lê Văn Quân làm Chưởng Tiền quân. Đến 1792 Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, lấy Chưởng Hậu quân Tôn Thất Hội làm Chưởng Tiền quân. Cuối năm 1798 Tôn Thất Hội chết, lấy Chưởng Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành làm Chưởng Tiền quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Nguyễn Văn Thành lần lượt giữ chức Chưởng Tiền quân, trong đó Nguyễn Văn Thành là người nổi tiếng nhất.

Lê Văn Quân người Kiến Hưng Định Tường, dũng cảm đánh giỏi, buổi đầu theo Châu Văn Tiếp, được Tiếp gả em gái là Chu Muội nương cho, sau theo Đỗ Thanh Nhơn vào Gia Định, năm 1782 được phong làm Chưởng Tiền quân, nhiều lần lập công. Lúc theo Nguyễn Ánh qua Bangkok, từng được Ánh sai giúp vua Xiêm đánh quân Diến Điện, Đồ Bà đều thắng, người Xiêm rất phục. Năm 1787 theo Ánh về Gia Định, năm 1788 Ánh chiếm được Sài Gòn, phong Quân làm Bình Tây Đô đốc coi dinh Tiền quân, tước quận công. Nhưng Quân là người bất học vô thuật, trong khoảng vua tôi có khi thiếu lễ, lại thấy Võ Tánh mới về theo Ánh mà chức tước ngang mình, có ý ganh ghét, nhiều lần cãi cọ tới mức suýt ẩu đả với nhau, nên Ánh cũng không ưa. Năm 1789 Quân đem Võ Tánh và Nguyễn Văn Thành đánh ra Nam Trung Bộ, chiếm được Bình Thuận, kế Quân bị Tây Sơn đánh bại ở Phan Rang, nhờ Nguyễn Văn Thành ra cứu mới rút về được Bà Rịa, từ đó xấu hổ xưng bệnh, Ánh gọi mấy lần, đến 1791 mới chịu về Sài Gòn. Ánh giao cho đình thần nghị xử, đều nói “Tội Quân nên giết”. Ánh không nỡ giết, chỉ cách hết quan chức, cũng có ý sẽ lại bổ dụng, nhưng Quân hổ thẹn uống thuốc độc tự tử. Ánh được tin tới tận nhà khóc lóc, đánh vào quan tài 100 roi, cấp cho 8 người phu giữ mộ, cho con Quân là Chính được miễn dao dịch trọn đời. Vợ Quân là em gái Châu Văn Tiếp sinh được một con gái bên Xiêm, nhân đặt tên là Xiêm. Sau Xiêm lấy chồng sinh ra được Nguyễn Văn Hóa, năm Tự Đức thứ 5 (1852) Hóa được ban hàm Tòng cửu phẩm Bá hộ để trông coi đền thờ Châu Văn Tiếp.

Tôn Thất Hội theo Đại Nam Chính biên Liệt truyện là con thứ ba của Cai đội Tôn Thất Thắng, trước 1787 thấy làm Chưởng cơ, theo Nguyễn Ánh bôn ba lưu lạc khắp nơi, có lẽ lúc Ánh từ Xiêm về Gia Định năm 1787 mới được phong làm Chưởng Hậu quân, đến 1792 đổi làm Chưởng Tiền quân, năm 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh, quận công, cầm quân ra đánh Tây Sơn ở miền Trung nhiều lần lập công. Năm 1797 Nguyễn Ánh cầm quân ra Quy Nhơn, để Hội ở lại giữ Gia Định, đến cuối 1798 Hội bệnh chết, được tặng Nguyên phụ công thần Đặc tiến Thượng trụ quốc Chưởng dinh, đến 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong Lạng Giang quận công. Hội tính nghiêm trang trì trọng, kính cẩn giữ lễ, lúc triều nghị thường ăn mặc như nhà nho, các tướng đều kính mà sợ. Nguyễn Ánh có lần cùng Lê Văn Duyệt bàn luận chỗ hay kém của các tướng, Duyệt nói Tống Viết Phước dũng mà ít mưu, Nguyễn Văn Thành mưu mà ít dũng, chỉ có Tôn Thất Hội trí dũng kiêm toàn, quả là bậc danh tướng.

Nguyễn Văn Thành tổ tiên người Quảng Điền Thừa Thiên, đời tằng tổ là Toán dời vào Gia Định, đến đời ông nội là Tính dời ra Phú Yên, đến đời cha là Hiền lại dời vào Gia Định. Hiền theo Tống Phước Hiệp làm quan tới chức Cai đội, đánh nhau với Tây Sơn chết trận. Thành thích đọc sách, giỏi võ nghệ, từ nhỏ theo cha đánh trận đã nhiều lần lập công, năm 1789 được Nguyễn Ánh phong làm Trung quân Tiền chi Tổng nhung Cai cơ, năm 1792 được thăng làm quản Tiên phong dinh, qua 1793 được phong làm Khâm sai Bình Tây Tiền tướng quân, năm 1798 đổi làm Chưởng Tiền quân, đến 1801 được phong làm Khâm sai Chưởng Tiền quân Bình Tây đại tướng quân điều bát chư đạo bộ binh. Sau khi diệt nhà Tây Sơn, năm 1802 Gia Long sai Thành làm Tổng trấn Bắc Thành, coi hết việc quân dân ở 11 trấn miền Bắc, thăng giáng quan lại, xử quyết hình án đều cho tùy nghi làm việc, đến 1811 được đổi làm Chưởng Trung quân thay Nguyễn Văn Trương ốm chết, vào tướng văn ra tướng võ, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đời Gia Long. Nhưng Thành cậy công ngạo nghễ, lại tâu xin lập hoàng tôn Đán (con Đông cung Cảnh) nối ngôi khiến Gia Long ngờ sợ là lập vua nhỏ để ngày sau dễ chuyên quyền nên bị cô lập trong triều đình, sau cùng vì vụ án bài thơ phản của con là Nguyễn Văn Thuyên nên đến 1816 bị cách hết chức tước, qua 1817 bị bắt giam để thẩm vấn, phẫn uất uống thuốc độc tự tử.

Thành là bậc nho tướng, dùng người hiền tài, lo việc tài chính, giao thiệp ngoại bang, biên soạn hình luật không gì không làm được, giỏi văn chương, chơi thân với Ngô Nhơn Tịnh, có thơ tặng đáp với Lê Quang Định, nhưng thơ văn phần nhiều không thấy hành thế, nay chỉ còn vài tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là bài Văn tế tướng sĩ Tiền quân viết bằng chữ Nôm.

Các viên Chưởng Trung quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh lấy Tôn Thất Dụ làm Chưởng Trung quân, tiết chế chư đạo bộ binh. Năm 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, thăng Dụ làm Khâm sai Ngoại hữu Chưởng dinh lãnh Đại Tư nông, qua 1783 Dụ chết. Không rõ sau đó ai giữ chức Chưởng Trung quân, nhưng đến 1789 Ánh giao Nguyễn Huỳnh Đức làm Giám quân Trung dinh, đến 1790 thì đổi Đức qua quản Hữu quân dinh, giao cho Nguyễn Văn Trương giữ chức ấy. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người là Tôn Thất Dụ, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Trương lần lượt giữ chức Chưởng Trung quân, trong đó Nguyễn Văn Trương là người nổi tiếng nhất.

Nguyễn Văn Trương người Lễ Dương tỉnh Quảng Nam, sau dời vào Gia Định. Lúc nhỏ nhà nghèo, phải chăn trâu cho người ta, từng cùng bọn trẻ chăn trâu chơi đùa chia đội bày trận, tự xưng là đại tướng, ra hiệu lệnh chỉ huy bọn trẻ đánh nhau làm vui. Sau khi Tây Sơn vào Gia Định, Trương theo Tây Sơn làm quan tới chức Chưởng cơ giữ đạo Long Xuyên. Năm 1787 Nguyễn Ánh từ Xiêm về, Trương đón ở Long Xuyên xin hàng, Ánh mừng lắm, phong làm Khâm sai Chưởng cơ, quản đạo tiên phong Thủy dinh Trung quân. Từ đó đến 1789 Trương liên tiếp phá quân Tây Sơn ở Trà Ôn, Mỹ Lồng, Nước Xoáy, giúp Ánh tiến chiếm Sài Gòn, kế cùng Lê Văn Quân đánh ép bức Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Sâm chạy tới sông Cổ Cò, Hàm Luông, rồi cùng Tôn Thất Hội, Võ Tánh hội quân vây Sâm ở cù lao Hổ, Sâm phải đầu hàng. Năm 1790 được thăng làm Giám quân Trung dinh. Năm 1792 Nguyễn Ánh thử thuyền Tây dương, đóng ở Cần Giờ, Trương theo hộ giá, nhân lúc gió thuận tiến ra Thi Nại, lợi dụng lúc Tây Sơn không đề phòng, Trương đốc thúc Long thuyền, Nguyễn Văn Thành đốc thúc Phượng thuyền đi trước xông vào, các quân kế tiếp tiến tới, đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn, cướp được chiến thuyền rồi rút về, từ lúc ra quân đến lúc khải hoàn chưa đầy nửa tháng, đương thời có người xưng tụng là thần binh.

Trương giỏi thủy chiến, tới đâu là thủy quân Tây Sơn chạy tới đó, thường nói với nhau “Bộ chiến thì Tiên phong (Nguyễn Văn Thành) chậm, thủy chiến thì Trung quân (Nguyễn Văn Trương) hăng”, ý nói Thành mưu trí nhưng chậm, Trương hăng hái mà nhanh. Từ 1790 trở đi Trương tham dự tất cả các chiến dịch lớn của quân Nguyễn Ánh như trận Thi Nại 1792, trận Quy Nhơn 1797, trận Quy Nhơn 1799, trận Thi Nại 1801, trong trận Phú Xuân 1801 hộ giá Nguyễn Ánh vào cửa biển Tư Dung phá tan thủy đồn của quân Tây Sơn rồi theo sông Hương tiến vào chiếm Phú Xuân, được phong làm Khâm sai Chưởng Trung quân Bình Tây đại tướng quân quận công. Trong trận Trấn Ninh đầu năm 1802, Trương đánh tan thủy quân Tây Sơn ngoài biển rồi đổ bộ đánh tập hậu Đô đốc Tây Sơn Bùi Thị Xuân đang vây Nguyễn Ánh trên núi Đâu Mâu, khiến Bùi Thị Xuân sắp bắt được Ánh mà phải rút lui. Tháng 6 âl. năm ấy Nguyễn Ánh đánh ra Bắc, Trương đem thủy quân đi trước, phá tan thủy quân Tây Sơn ở cửa Ròn (Nghệ An), chiếm dinh Hà Trung, tiến vào cửa Hội Thống (Nam Định), đánh thẳng tới Sơn Nam Hạ. Năm 1802 quyền giữ ấn Tổng trấn Bắc Thành thay Nguyễn Văn Thành đi kinh lược các trấn, năm 1804 cùng Lê Chất coi việc xây thành Phú Xuân, đến 1805 vào Nam làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1808 theo lệnh Gia Long triệu về Phú Xuân, đến 1810 ốm chết, Gia Long rất thương tiếc, tặng Thái bảo quận công. Năm 1817 làm danh sách công thần Vọng Các, Gia Long nói với Phạm Đăng Hưng tuy Trương không tòng vong qua Xiêm nhưng có công lớn, nên cũng cho dự vào danh sách công thần Vọng Các. Năm 1831 truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo, phong Đoan Hùng quận công.

Trong các đại tướng của Nguyễn Ánh, chỉ có Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt là hai người cầm quân không thua trận nào. Nhưng Duyệt ra trận dũng mãnh, nhiều lần phải liều chết mà thắng, còn Trương tới đâu quân Tây Sơn cũng thường nghe tiếng là rút chạy, ít phải giết người mà cũng không hao binh tổn tướng. Có lần Nguyễn Ánh bình phẩm về các đại tướng dưới quyền, nói “Dũng tướng không bằng trí tướng, trí tướng không bằng phúc tướng”, dũng tướng là chỉ Lê Văn Duyệt, phúc tướng là chỉ Nguyễn Văn Trương. Sử thần triều Nguyễn cũng chép Trương tính nhân hậu, không muốn giết người, lúc còn làm tướng Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn Ánh, tàn quân Nguyễn Ánh lội qua sông chạy, quân Tây Sơn xúm lại đâm, Trương ngăn lại nói “Nhân lúc người ta gặp nguy mà đâm, không phải là dũng”. Trương lại cẩn thận giữ phép, không cậy công khoe tài, nên tuy xuất thân là hàng tướng mà trước sau được Gia Long tin cậy, ít người sánh bằng.

Các viên Chưởng Tả quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Tống Phước Lương coi Tả quân, nhưng khi đánh dẹp bọn thuộc tướng Đông Sơn là Võ Nhàn làm phản, Phước Lương thua trận nên bị bãi chức. Chưa rõ sau đó ai giữ chức này, nhưng khi Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm năm 1784 thì Chưởng Tả quân là Tôn Thất Huy. Qua 1792 Huy chết, đến 1793 Ánh phong hoàng tử Cảnh làm Đông cung, cho Cảnh làm Nguyên soái lãnh dinh Tả quân. Đầu năm 1801 Cảnh mắc bệnh đậu mùa chết, chức Chưởng Tả quân để khuyết một thời gian, trước khi đem quân ra Bắc năm 1802 Nguyễn Ánh đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh, lấy Tả dinh quân Thần sách làm Tả quân, phong Đô Thống chế quản dinh này là Lê Văn Duyệt làm Chưởng Tả quân. Đây là viên Chưởng Tả quân nổi tiếng nhất trong quân đội Nguyễn Ánh đầu thế kỷ XIX.

Tôn Thất Huy là con thứ hai của Tôn Thất Dục, Dục là em cùng mẹ với Nguyễn Phước Luân cha Ánh, tức theo thế thứ Huy là em con chú của Ánh. Sử chép Huy giỏi thao lược, khéo dùng binh, từng theo Ánh bôn ba lưu lạc qua Xiêm, rất được Ánh tin dùng. Năm 1792 chết, được tặng Dực vận Tá mệnh tôn thần đặc tiến Thượng trụ quốc Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự Thái phó quận công, năm 1831 được truy tặng Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính Đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, phong An Tây công.

Lê Văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa Quảng Ngãi, cha là Toại dời tới ở dinh Vĩnh Trấn, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra không có ngọc hoàn, thân thể thấp nhỏ, có tài lực. Năm 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn mà không dựng được cờ đại tướng, chép công danh vào sách sử không phải là trượng phu. Năm 1780 Nguyễn Ánh xưng vương, Duyệt 17 tuổi được tuyển làm Thái giám, đổi bổ làm Thuộc nội Cai đội, theo đánh dẹp từng cùng các tướng bàn việc binh, Ánh thấy là người lạ bèn hỏi “Ngươi cầm quân được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh lại hỏi “Ngươi làm tướng được không?”, Duyệt thưa “Được”. Ánh nói “Dùng binh là việc lớn, ngươi sao nói dễ thế?”. Duyệt nói “Tây Sơn vô đạo, không bao lâu sẽ tự diệt vong. Ta lấy nhân thay bạo, thế dễ như chẻ tre, quả thật tôi không thấy có gì là khó”, nhân xin mộ binh lệ thuộc theo Tả quân, Ánh ưng thuận. Năm 1797 thăng làm Vệ úy vệ Điều Vũ, kế đổi làm Chánh thống Tả đồn quân Thần sách, trấn thủ thành Diên Khánh. Năm 1801 Ánh định đánh thủy trại Tây Sơn ở Thi Nại, chọn tướng cầm quân. Tống Viết Phước xin đi, Ánh nghĩ Phước dũng mà vô mưu nên không cho, mật triệu Duyệt về. Kế sai Nguyễn Văn Trương, Tống Phước Lương đem thuyền nhỏ đi trước lẻn vào đốt thủy đồn Tây Sơn ở Tam Tòa, Duyệt cùng Vũ Di Nguy đem thuyền lớn xếp hàng một nối theo xông vào. Quân Tây Sơn giữ đồn trên núi bắn xuống, đạn bay như mưa, Di Nguy trúng đạn chết, Duyệt càng đánh hăng. Nguyễn Ánh xót vì tướng sĩ thương vong quá nhiều, sai thuyền tiểu sai tới truyền dụ tạm lui, Duyệt thề tử chiến, nói chỉ tiến chứ không lui, chỉ vào chứ không ra, thúc quân đánh gấp qua được cửa biển thuận gió phóng hỏa đốt hết chiến thuyền Tây Sơn, sử thần triều Nguyễn chép trận này là võ công đệ nhất thời trung hưng. Hôm ấy là ngày 16 tháng giêng âl., quân Nguyễn Ánh đánh từ giờ Dần (từ 3 đến 5 giờ sáng) đến giờ Dậu (từ 7 đến 9 giờ tối) mới vào được cửa Thi Nại, thương vong rất nhiều. Sau 1802, năm nào đến ngày ấy Duyệt cũng bày lễ cúng tế các tướng sĩ chết trận, đích thân vào tế, khóc lóc rất đau thương.

Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Duyệt làm Khâm sai Chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân cùng Chưởng Hậu quân Lê Chất thống lĩnh bộ binh đi trước, tới đâu quân Tây Sơn tan vỡ tới đó, tiến vào Thăng Long. Từ đó trở đi Duyệt cầm quân ra Bắc vào Nam, liên tiếp phá quân Đá Vách ở Quảng Ngãi, trấn áp Xiêm Lạp, kinh lược Thanh Nghệ, hai lần làm Tổng trấn Gia Định thành, oai vọng lừng lẫy, Xiêm La Diến Điện đều nghe danh, có thể nói là viên trọng thần bậc nhất của triều Nguyễn đầu đời Minh Mạng, cả Minh Mạng cũng phải e dè. Đầu năm 1832 Duyệt nghe tin Bắc Thành đã chia hạt đặt quan thôi không đặt trấn, bèn xin nghỉ việc Gia Định thành để triều đình chia đặt tỉnh hạt theo lệ, Minh Mạng vẫn chưa dám nhận lời, ban chỉ sai Duyệt cứ giữ chức đợi lệnh sau. Cuối năm ấy Duyệt ốm chết, được tặng Thái bảo. Qua 1833 Minh Mạng giải thể Gia Định thành, nhưng vì trước đó Lê Văn Duyệt vuốt mặt không nể mũi thẳng tay chém đầu Phó Tổng trấn Gia Định thành Hoàng Công Lý vốn là cha vợ Minh Mạng, nên Minh Mạng để bụng căm hận sai Bố chánh Phiên An Bạch Xuân Nguyên bới móc những việc sai trái của Duyệt lúc sinh tiền, bắt giam các thuộc hạ thân tín cũ của Duyệt, dẫn tới việc Lê Văn Khôi làm binh biến ở thành Phiên An thời gian 1833 – 1835. Sau khi đàn áp được cuộc binh biến Lê Văn Khôi, Minh Mạng sai đình thần bàn định, kết án Lê Văn Duyệt có bảy tội đáng xử chém, hai tội đáng xử thắt cổ, một tội đáng xử sung quân, nhưng “còn cái xương khô trong mả không thèm gia hình” nên chỉ sai san phẳng nấm mộ, dựng bia đề tám chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Nơi tên hoạn quan chuyên quyền Lê Văn Duyệt chịu tội). Thật ra với tính khí của Minh Mạng thì khó mà độ lượng như vậy, nên đó chỉ là bắt không được tha làm phước, bởi ngôi mộ thật của Lê Văn Duyệt đã được vợ là Đỗ Thị Phẫn dời đi khỏi chỗ từ lâu…

Các viên Chưởng Hữu quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Võ Doãn Triêm coi Hữu quân. Đến 1782 quân Tây Sơn vào đánh, Võ Doãn Triêm bị bắt giải về Quy Nhơn rồi bệnh chết, Nguyễn Ánh lấy Nguyễn Kim Phẩm làm Tổng đốc đạo Hữu quân. Năm 1783 Phẩm bị quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, chưa rõ sau đó người nào coi Hữu quân, nhưng đến 1790 Ánh lấy Chưởng cơ giám quân Trung dinh Nguyễn Huỳnh Đức quản Hữu quân dinh, đến giữa 1793 thăng làm Khâm sai Chưởng Hữu quân dinh, từ đó Nguyễn Huỳnh Đức liên tục giữ chức này đến 1802.

Nguyễn Kim Phẩm người huyện Thượng Nguyên trấn Sơn Nam Hạ. Cha là Tích làm Hiệu úy nhà Lê, lãnh chức Án trấn Sơn Tây. Phẩm có sức khỏe, giỏi võ nghệ, đầu tiên cùng Trần Xuân Trạch và ba người anh là Trân, An, Thắng họp bọn 300 người ngoài biển, sau khi Quang Trung phá quân Thanh năm 1789 thì vượt biển vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, Ánh sai huấn luyện võ nghệ cho quân sĩ các dinh, ra trận nhiều lần lập công, được phong Chưởng cơ Tổng đốc đạo Hữu quân đại tướng quân quận công. Năm 1782 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh chạy xuống giồng Lữ lập đồn chống cự, Đô đốc Tây Sơn là Học đem quân ùa tới, Phẩm đem quân đón đánh chém Học trước trận, Ánh rất khen ngợi, thưởng cho 30 lượng vàng. Qua 1793 Tây Sơn vào đánh, Nguyễn Ánh thua trận chạy ra Phú Quốc, Phẩm cùng anh là Trân vào Hà Tiên thu lương, bị bọn Trần Hưng, Lâm Húc trong quân Hòa Nghĩa làm phản ở Hà Tiên giết chết, đầu đời Gia Long được truy tặng Chưởng dinh quận công.

Nguyễn Huỳnh Đức người Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, nguyên họ Huỳnh, được ban quốc tính nên gọi là họ Nguyễn Huỳnh. Đức trạng mạo hùng dũng, khỏe mạnh hơn người, người ta gọi là hổ tướng. Đầu tiên theo Đỗ Thanh Nhơn, sau Thanh Nhơn bị giết, Đức riêng được Nguyễn Ánh tin dùng. Năm 1782, Tây Sơn vào đánh, trong trận đánh ở sông Ngã Tư quân Nguyễn thua chạy, ngựa Nguyễn Ánh sa xuống bãi lầy, Đức đưa Ánh lên bờ rồi kéo ngựa ra khỏi bãi lầy, ngựa không đi nổi, Đức chạy bộ bên cạnh nắm quyền đánh cho ngựa chạy, quân Tây Sơn đuổi theo không kịp. Có lần trốn tránh Tây Sơn, Ánh nằm trong thuyền mệt quá, gối đầu vào đùi Đức mà ngủ, Đức xua muỗi suốt đêm, không hề chợp mắt. Trong trận đánh ��� giồng Tuyên Tự, Đức cùng 500 thuộc hạ đều bị bắt, Nguyễn Huệ yêu vì khỏe mạnh nên không giết mà thu dùng. Đức muốn trốn về nhưng chưa có cơ hội, có đêm ngủ trong trại quân Tây Sơn nói mơ chửi Huệ, tướng Tây Sơn định giết, nhưng Huệ nói đó là lời ngủ mơ nên không bắt tội, lại hậu đãi để lấy lòng. Năm 1786 Đức theo Nguyễn Huệ ra Thăng Long, khi Huệ trở về lưu Đức lại ở Nghệ An, trấn thủ Nghệ An Nguyễn Văn Duệ vốn là tướng của Nguyễn Nhạc nên không thích Huệ, Đức lừa xúi Duệ theo đường thượng đạo về Quy Nhơn theo Nhạc. Duệ theo lời đem 5.000 quân vào Nam, sai Đức đem 500 thuộc hạ đi trước, Đức nhân đó theo Lạc Hoàn vòng qua Vạn Tượng tới Xiêm, lúc hết lương chỉ hái lá cây mà ăn. Các bộ lạc Man nghe tiếng Đức, giúp cho lương khô, năm 1788 Đức tới được Xiêm thì Nguyễn Ánh đã về Gia Định. Vua Xiêm muốn lưu Đức lại, Đức lấy cái chết tự thề, kể lại nỗi gian nan tìm chúa, khí uất bốc lên thổ ra một cục máu, vua Xiêm thấy không ép được rất kính trọng, sau Ánh được tin bèn sai người nói với vua Xiêm cho mượn thuyền đưa Đức về Gia Định.

Năm 1789 Đức về tới vào yết kiến, Nguyễn Ánh khen ngợi yên ủi, phong làm Khâm sai Chưởng cơ giám quân Trung dinh. Năm 1790 đổi làm quản Hữu quân dinh, đến 1793 được phong là Khâm sai Chưởng Hữu quân Bình Tây Phó tướng quân dưới quyền Tôn Thất Hội, từ đó đến 1802 nhiều lần cầm quân qua lại giao chiến với Tây Sơn ở Quy Nhơn, Phú Yên. Năm 1794 Đức cùng Nguyễn Văn Thành và 17 người bọn Tôn Thất Thăng dâng biểu xin cắt đứt mối liên hệ giữa Pigneau và Đông cung Cảnh khiến Pigneau rất tức giận. Nhân dịp hai người đem quân ra Phan Rí bị Tư lệ Tây Sơn Lê Trung chống đánh không tiến được phải rút về Bà Rịa năm 1795, Ánh bèn kết tội hèn nhát bắt giam một tháng để xoa dịu Pigneau rồi tha, cho lãnh quân như cũ. Năm 1802 hạ được thành Quy Nhơn, Đức được phong quận công, trấn thủ Quy Nhơn. Năm 1808 được triệu về kinh, sai cùng Lê Chất coi đắp các đường quan lộ từ Quảng Nam tới Phú Yên. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Đức được lấy làm Tổng trấn Bắc Thành, hiệu lệnh nghiêm chỉnh, sĩ phu Bắc Hà đều sợ phục. Năm 1812 được triệu về kinh, đổi làm Khâm sai Chưởng Tiền quân lĩnh thành như cũ. Năm 1816 thay Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1819 chết, được tặng Suy trung Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc Thái phó quận công, ban cho gấm đoạn và tiền, sai quan trấn Định Tường dụ tế. Năm 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kiến Xương quận công. Phần mộ của ông hiện vẫn còn ở Thị xã Long An.

Các viên Chưởng Hậu quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau khi giết Đỗ Thanh Nhơn năm 1781, Nguyễn Ánh sai Trương Văn Bác coi Hậu quân. Sử sách không nói sau khi Tây Sơn vào Gia Định năm 1782 thì Trương Văn Bác kết cục ra sao, nhưng khoảng 1787 khi Nguyễn Ánh từ Xiêm trở về Gia Định thì người giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội. Đến 1792 Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân có tội bị cách chức rồi tự sát, Ánh lấy Tôn Thất Hội thay làm Chưởng Tiền quân, quản Tiên phong dinh Võ Tánh làm Chưởng Hậu quân. Sau khi Thiếu phó Tây Sơn Trần Quang Diệu hạ được thành Bình Định, Võ Tánh tự thiêu năm 1801, Hậu quân của Nguyễn Ánh về cơ bản đã hoàn toàn tan vỡ. Đầu năm 1802, Ánh dồn phần còn sót lại của dinh này làm Thần võ quân giao cho Phạm Văn Nhân quản lãnh, đổi Tả đồn quân Ngự lâm làm Hậu quân, phong Lê Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân. Tựu trung đến 1802 quân Nguyễn Ánh có ba người nối nhau giữ chức Chưởng Hậu quân là Tôn Thất Hội, Võ Tánh và Lê Chất.

Năm 1799 quân Nguyễn chiếm được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh đổi tên là thành Bình Định, sai Võ Tánh cùng Ngô Tòng Châu đóng giữ. Cuối năm ấy tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đem hết quân thủy bộ vào vây, đánh lùi tất cả các cánh quân của Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tới cứu viện. Đầu năm 1801 Nguyễn Ánh đem quân đốt phá tan tành thủy trại Tây Sơn dưới quyền Võ Văn Dũng ở Thi Nại, nhưng Dũng lại gom góp tàn quân kéo về giúp Diệu vây Tánh. Lúc bấy giờ Phú Xuân trống rỗng, Ánh dùng nước cờ thí xe bắt tướng, cuối tháng 4 âl. năm ấy không cứu Võ Tánh mà mang quân đánh úp chiếm được Phú Xuân. Cuối tháng 5 âl. thành Bình Định bị vây lâu hết lương, Tánh sai người đem khẩu súng của mình đưa Trần Quang Diệu để “gởi gắm tướng sĩ”, ý là nhắn Diệu đừng giết tướng sĩ của mình rồi phóng hỏa tự thiêu, qua 1802 được tặng Dực vận công thần đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân Thái úy quốc công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ đại tướng quân Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái sư, phong Hoài quốc công.

Lê Chất người Phù Mỹ Quy Nhơn, đầu tiên theo Tây Sơn làm Đô đốc dưới quyền Tư lệ Lê Trung. Trung yêu vì có tài nên gả con gái cho. Chất là người thiện chiến, các tướng của Nguyễn Ánh đánh nhau với Chất thường thua. Năm 1797, quản Tiên phong dinh Nguyễn Văn Tánh giữ Diên Khánh, Chất thấy Tây Sơn nội bộ chia lìa thế ắt bại vong, nhiều lần khuyên Trung hàng, Trung dùng dằng không quyết, Chất bèn sai người đưa thư cho Tánh xin làm nội ứng muốn bắt Trung. Tánh tâu lên, Ánh nói Chất là người giảo hoạt, lời xin ấy chưa chắc là thật, sau Trung biết mưu của Chất, trách hỏi tận mặt. Chất vì việc đã lộ, đành bỏ ý ấy. Năm 1798 nổ ra vụ Tiểu triều Nguyễn Bảo, Nguyễn Quang Toản ngờ Trung cũng dự mưu bắt Trung giết đi, sai bắt cả Chất. Chất đem người ở mặt giống mình cho uống thuốc độc, giả làm tự tử, Tây Sơn cũng tưởng Chất đã chết. Chất ngầm đem mẹ và vợ con vào ở trong núi Trà Đồng, sau có người bạn Chất nói với Tổng quản Tây Sơn Lê Văn Thanh rằng Chất có tài làm tướng sao không dùng, Thanh vốn trọng tài Chất, nói “Chất đã chết rồi, còn đâu mà dùng”, người ấy nói “Dùng thì Chất sống, không dùng thì Chất mới chết”, Thanh hỏi kỹ lại, người ấy nói thật rồi đưa Chất tới gặp, Thanh cầm tay dắt vào chỗ ngồi cùng uống rượu, lưu lại dưới trướng cho coi quân.

Năm 1799, quân Nguyễn Ánh đánh thành Quy Nhơn, Chất đem thuộc binh hơn 200 người tới quân Võ Tánh xin hàng, Nguyễn Ánh sai đưa mẹ và vợ con Chất về Gia Định nuôi dưỡng. Cuối năm ấy đặt năm đồn quân Ngự lâm, lấy các hàng tướng hàng binh Tây Sơn sung vào, phong Lê Chất làm Đô thống chế Chánh thống Tả đồn, theo Võ Tánh giữ thành. Sau đó Chất theo quân Nguyễn Ánh đánh ra Quảng Nam rồi Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản chạy ra Bắc, Chất đuổi theo không kịp, các tướng cũ của Ánh nói Quang Toản chạy thoát được là bởi người chứ không phải bởi trời. Về sau khi Chất được phong làm Bình Tây tướng quân quận công thì Đặng Trần Thường cũng mỉa mai “Chất bình Tây thì ai bình Chất, Chất mà quận công thì ta phải mười quận công”. Chất vốn là hàng tướng mới về theo mà quan cao chức trọng nên bị nhiều người ganh ghét, đây là mầm mống của những tai họa sẽ xảy ra với ông về sau.

Năm 1802, Gia Long đem quân ra Bắc, thăng Chất làm Khâm sai Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân cùng Lê Văn Duyệt thống lĩnh bộ binh đi trước, thế như chẻ tre, chiếm được Thăng Long. Năm 1810 Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành có tang mẹ về nghỉ, Gia Long sai Nguyễn Huỳnh Đức thay làm Tổng trấn Bắc Thành, lấy Chất làm Phó Tổng trấn, đến 1813 đặt Cục Bảo Tuyền (đúc tiền) ở Bắc Thành, sai Chất kiêm chức Giám đốc. Năm 1819 Nguyễn Huỳnh Đức chết, Gia Long sai Chất làm Tổng trấn Bắc Thành, Chất dâng sớ từ chối nhưng Gia Long không cho. Đến 1826 Chất bệnh nặng, dâng sớ xin về quê chịu tang mẹ, Minh Mạng ưng thuận, lúc Chất về tới kinh ban thưởng cho rất hậu, kế Chất về tới Bình Định thì chết, được tặng Thiếu phó.

Chất lúc mới hàng Nguyễn Ánh chơi thân với Lê Văn Duyệt, về sau lúc làm Tổng trấn Bắc Thành thì Lê Văn Phong em Duyệt lại là Phó Tổng trấn Bắc Thành, giao tình càng thân thiết, nên sau khi Lê Văn Khôi con nuôi Duyệt làm vụ binh biến thành Phiên An, triều đình Minh Mạng trị tội Duyệt thì Chất cũng bị liên lụy. Theo lời bàn của đình thần, Minh Mạng sai truy thu hết cáo sắc phong tặng, đào mộ Chất phá quan tài chém xác bêu đầu, sung công tài sản, vợ Chất là Lê Thị Sa bị giải về nguyên quán làm nô tỳ, các con trai ngoài Lê Hậu lấy Trưởng công chúa Ngọc Cửu đã chết năm 1830 thì bốn người còn lại là Cận, Thương, Trường, Cơ đều bị xử chém năm 1838, con gái Chất tiến cung sinh ra Quỳ Châu quận công Miên Liêu thì bị giam đến chết đói.

Các viên Chưởng Thần sách quân trong quân Nguyễn Ánh

Đầu năm 1789, Thần sách chỉ là một vệ thuộc dinh Trung quân, gồm bốn đội Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu, đến cuối năm ấy sau khi kén quân chiến tâm thấy đặt thêm hai đội Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu thuộc vệ Thần sách, xem ra lúc đầu là một loại cận vệ có chức năng bảo vệ Nguyễn Ánh, nhưng đến giữa 1790 sau khi sai Chưởng Tiền quân Lê Văn Quân và Chưởng Tiên phong dinh Võ Tánh ra đánh Bình Thuận thì thấy hai đội Ban trực Tả Hữu do Phạm Văn Nhân và Tôn Thất Huyên được điều ra đóng giữ Bà Rịa, tức đã trở thành một loại thân quân do Nguyễn Ánh trực tiếp điều động. Theo thời gian, các đội thuộc vệ Thần sách cũng tăng lên, có đủ Ban trực Tiền, Hậu, Tả, Hữu và Ban trực tuyển phong Tiền, Hậu, Tả, Hữu. Đến cuối 1793 vệ Thần sách được đổi làm quân Thần sách, đổi đội làm vệ, đặt thêm vệ Hùng uy, nhưng chỉ thấy có các viên Vệ úy như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Đức Xuyên chứ chưa thấy đặt chức Giám quân. Đến đầu 1798 mới bắt đầu đặt năm đồn quân Thần sách. Mỗi đồn đặt một Chánh thống và một Phó thống, Chánh thống thống quản bốn vệ, Phó thống quản vệ mình và kiêm ba vệ khác, theo Chánh thống sai khiến. Lấy Khâm sai Thuộc nội Cai cơ hành Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân làm Chưởng cơ giám quân Thần sách, quản tướng sĩ năm đồn kiêm Tri Tượng chính Mã chính và các đội Bả cái, Tiểu hầu. Đây là viên Chưởng Thần sách quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.

Phạm Văn Nhân tổ tiên là người Quý huyện Thanh Hoa theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Đời Thế tông Phước Hoạt đầu quân, làm quan tới chức Thuộc nội Cai đội. Năm 1774 quân Trịnh vào đánh, Nhân ra trận bị trúng đạn vào chân, không theo Duệ tông Phước Thuần được, đến 1778 mới lẻn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh, được phong Phó Vệ úy vệ Đằng giao. Đến 1783 Ánh thua trận chạy qua Xiêm, giao con là hoàng tử Cảnh cho Pigneau de Béhaine đưa qua Pháp cầu viện, Nhân cũng đi theo nhưng chỉ tới Pondichéry thì ở lại, sau đó trở về Bangkok. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, Nhân nhiều lần lập công, năm 1793 được thăng Phó tướng Tả quân, năm 1795 lúc Ánh ra giải vây Diên Khánh được giao giúp đỡ Đông cung Cảnh giữ Gia Định. Đến 1798 được phong làm Khâm sai Chưởng cơ Giám quân Thần sách quân, đến tháng 3 âl. năm Nhâm tuất 1802 đem quân hạ thành Bình Định, đánh bại tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, được thăng làm Khâm sai Chưởng Thần võ quân (Hậu quân cũ) kiêm giám Thần sách quân, quận công. Năm 1811 đổi Thần võ quân làm Hữu quân, Nhân được phong làm Khâm sai Chưởng Hữu quân vẫn coi quân Thần sách. Năm 1815 Nhân ốm chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái phó quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Tiên Hưng quận công.

Các viên Chưởng Chấn võ quân trong quân Nguyễn Ánh

Năm 1801 Nguyên soái lãnh dinh Tả quân Cảnh quận công tức Đông cung Cảnh chết, qua 1802 Gia Long chuẩn bị tiến quân ra Bắc, đổi Tả quân cũ làm Chấn võ quân, giao cho Nguyễn Văn Nhơn quản lãnh. Đây là viên Chưởng Chấn võ quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước khi Gia Long đánh bại Tây Sơn.

Nguyễn Văn Nhơn người Vĩnh An (An Giang), năm 1774 quân Tây Sơn lấn tới Xích Lam (Trấn Biên), Lưu thủ Long Hồ Tống Phước Hiệp mộ quân cần vương, năm ấy Nhơn 21 tuổi ra ứng mộ, được phong làm Đội trưởng, theo Hiệp ra Phú Yên, sau theo Cai cơ Tống Phước Hòa giữ Ô Cam, năm 1776 theo Hòa vào Gia Định cứu viện cho Duệ tông Phước Thuần, được phong chức Cai đội. Năm 1777 Hòa bị Tây Sơn bao vây tự tử chết ở Ba Vát, Nhơn trốn thoát, cuối năm ấy lại theo Dương Công Trừng dấy quân chống Tây Sơn ở Sa Đéc, qua 1778 được thăng Cai cơ giữ đạo Cường Thành. Đến 1782 Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định, Nhơn theo Dương Công Trừng về đóng ở Thủ Thiêm, sau đó Tây Sơn vào đánh, Nhơn bị bắt, được Tây Sơn phong là Hữu Toán quân, đến 1785 trốn qua Xiêm theo Nguyễn Ánh. Năm 1787 Ánh từ Xiêm về lại Gia Định, Nhơn theo Tôn Thất Huy đánh trận, được thăng làm Khâm sai Thuộc nội Cai cơ vệ Thần sách theo Tôn Thất Hội sai phái. Qua 1788 Nguyễn Ánh chiếm được Sài Gòn, Nhơn được thăng Vệ úy, sau thăng làm Hiệu úy quản Hữu chi dinh Trung quân, Lưu thủ Trấn Biên, lúc ấy mới đón thầy dạy học, đến 1792 đổi làm Phó quản dinh Trung thủy Trung quân. Từ 1793 Nhơn nhiều lần theo quân Nguyễn Ánh ra miền Trung, qua lại đánh nhau với Tây Sơn ở Quảng Ngãi, Phú Yên, Diên Khánh. Năm 1799 Nguyễn Ánh đem quân ra Quy Nhơn, thăng Nhơn làm Chưởng cơ, sai giúp hoàng tử Hy ở lại giữ Gia Định, vỗ về quân dân, khuyến khích sản xuất, vận tải quân lương có nhiều công lao, qua 1802 được thăng Chưởng Chấn võ quân, quận công. Năm 1805 theo lệnh triệu về kinh, năm 1808 thay Nguyễn Văn Trương giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, đến 1812 theo lệnh triệu về kinh. Năm 1816 được điều bổ Chưởng Hữu quân thay Phạm Văn Nhân ốm chết rồi kiêm thự Trung quân ấn vụ thay Nguyễn Văn Thành bị giải chức, qua 1819 lại lãnh Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1821 sung Tổng tài Sử quán, qua 1822 chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái bảo quận công, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Kinh Môn quận công.

Các viên Chưởng Tượng quân trong quân Nguyễn Ánh

Sau 1788, quân đội của Nguyễn Ánh ở Gia Định tổ chức thành nhiều quân đoàn lớn mang tính chất hỗn hợp về binh chủng gồm bộ binh, thủy binh, pháo binh…, song vùng Nam Bộ ít voi nên căn bản không có tượng quân như Tây Sơn. Nhưng qua nhiều năm đánh nhau ở miền Trung, quân Gia Định buộc phải có sự thích ứng với Tây Sơn về kỹ thuật cũng như chiến thuật, điều này dẫn tới việc thành lập lực lượng tượng quân như một binh chủng trong quân Nguyễn Ánh. Năm 1789, thấy Nguyễn Ánh sai Cai cơ Tri Tượng chính Trương Văn Giao kiêm quản Trường đà, năm 1795 lại sai quản Tiểu sai đội Tri Tượng chính Trương Phước Luật kiêm quản ba vệ Ban trực tả, Ban trực hữu, Tuyển phong tiền quân Thần sách đem binh thuyền đi trước ra Bình Thuận đánh giặc. Tuy nhiên chức Tri Tượng chính này chỉ là quản lý về voi như một phương tiện đi lại của Nguyễn Ánh và một số tướng lãnh cao cấp, chứ chưa phải là người đứng đầu một binh chủng riêng. Đến cuối 1792 thấy sai Khâm sai Đốc chiến Cai cơ Vũ Công Bảo, Khâm sai Cai cơ Đoàn Văn Trí dinh Tả quân đem quân đi bắt voi ở Đồng Nai, Bà Rịa và Hỗn Thủy để nộp, có lẽ vào thời điểm này Nguyễn Ánh đã bắt đầu có ý định xây dựng Tượng quân.

Đầu năm 1795, Nguyễn Ánh đặt năm Tượng cơ Trung Tả Tiền Hữu Hậu, chính thức thành lập binh chủng tượng quân của quân đội Gia Định. Kế Xiêm sai sứ qua hiến 20 thớt voi đực, giữa năm ấy lại sai sứ qua hiến voi đực, Chân Lạp cũng hiến 2 thớt voi đực. Lại sai Chưởng cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào và Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn theo ngạch cũ lập cơ An tượng 20 người, sai bắt voi hiến nộp, qua 1796 hai người hiến 20 thớt voi. Sau đó lại sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn đi Phnom Penh và Bắc Tầm Bôn chọn mua voi đực. Đến 1799 trong tang lễ của Pigneau, chính quyền Gia Định đã huy động 120 voi bên cạnh 12.000 quân hộ tống, số lượng voi chiến xem ra đã rất khả quan. Cuối 1799 bổ ba vệ Hùng võ, Hùng uy, Phấn uy quân Thần sách làm Tượng đồn, do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Đầu 1800 lại biên các tướng sĩ mới hàng của năm tượng cơ dinh Quảng Nam làm năm Tượng chi Trung Tả Tiền Hữu Hậu, đều do Nguyễn Đức Xuyên quản lãnh. Binh chủng này được thành lập muộn, về cơ bản lại chỉ là một đồn đặc biệt trong quân Thần sách nên viên Chưởng Tượng quân duy nhất của quân đội Nguyễn Ánh trước 1802 là Nguyễn Đức Xuyên.

Nguyễn Đức Xuyên người Phú Vang phủ Thừa Thiên, cha là Quảng dời vào ở Gia Định, làm quan tới chức Cai cơ, anh là Thái làm quan tới chức Khâm sai Cai cơ. Xuyên là người trí dũng, đầu tiên làm Đội trưởng quân Nội hầu. Sau trận Rạch Gầm năm 1784 Nguyễn Ánh chạy xuống Hà Tiên, Xuyên theo hầu. Ánh qua một ngày một đêm chưa được ăn, Xuyên vào nhà dân xin cơm, người dân hỏi Xuyên người đi cáng phía trước là vua cũ phải không? Xuyên nói dối rằng “Không phải”, người dân nói “Tôi nhìn trộm rồi, không giấu được đâu, thôi đi ra đi, lúc nào cơm chín tôi sẽ đem dâng”. Xuyên trở ra, người ấy lập tức bọc cơm đem dâng. Ánh sai hỏi họ tên người ấy, Xuyên đã lả đi không nói được. Năm 1787 Nguyễn Ánh về Gia Định, thăng Xuyên làm Thuộc nội Cai đội. Năm 1796, giặc Đồ Bà đóng ở biển Hà Tiên cướp bóc, làm trở ngại đường biển. Gặp khi sứ Xiêm về nước, Nguyễn Ánh sai Xuyên đem hơn mười chiến thuyền đưa ra khỏi địa phận. Xuyên tới Phú Quốc dò biết chỗ thuyền giặc đậu bèn chia quân làm ba đường tới đánh tan. Chợt gặp tướng Xiêm đang đem thủy quân đi bắt giặc, tới thì giặc đã tan, bèn đón sứ bộ về. Từ đấy giặc Đồ Bà trốn xa, người Xiêm cũng sợ tiếng Xuyên. Năm 1799 được sai kiêm quản năm Tượng cơ, theo Ánh ra đánh Quy Nhơn, trong trận Tháp Cát trúng đạn bị thương ở trán lại bọc vết thương lại đánh, phá tan quân Tây Sơn, bắt được hơn 20 thớt voi trận. Năm 1800 Xuyên được thăng Tri Tượng chính Đô Thống chế quân Thần sách, đem quân theo Nguyễn Ánh ra cứu Bình Định. Mùa đông năm ấy được cai quản mười Tượng cơ. Năm 1802 theo Nguyễn Ánh ra Bắc, tới Thanh Hoa được sai ở lại làm Đốc trấn, ban tước quận công. Năm 1803 lại giữ chức Chưởng Tượng chính kiêm việc Tào vận. Năm 1808 được phong là Khâm sai Chưởng Tượng quân vẫn lãnh Tượn
g chính Cai Tào vụ. Năm 1819 Xuyên tâu nói trong nước tuy yên nhưng không nên bỏ việc đánh trận, xin sai các thành dinh trấn hàng năm cứ tháng giêng tháng bảy diễn tập trận voi ba ngày, Gia Long theo lời.

Xuyên tính hào phóng, chi phí rất rộng, lập ra ban tuồng có bộ nam bộ nữ, vợ lẽ nàng hầu xen lẫn ở trong nữ bộ, có lần kẹt tiền vào tâu với Minh Mạng xin tạm ứng lương bổng năm sau. Minh Mạng ban cho 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo, dụ rằng “Nếu không đủ thì cứ lại vào tâu với trẫm, nhà nước đối với ngươi không tiếc gì đâu”, bấy nhiêu đủ cho thấy triều Nguyễn ưu ái viên Chưởng Tượng quân này tới mức nào. Năm 1824 Xuyên bệnh, Minh Mạng sai trung sứ tới thăm hỏi mỗi ngày vài lần, đến mùa đông thì chết, được tặng Dực vận đồng đức công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tả trụ quốc Thái phó, đến 1831 được truy tặng Tá vận công thần đặc tiến Tráng vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó, phong Khoái Châu quận công.

Hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Với việc chiếm lại được Gia Định lần cuối năm 1788, chính quyền Nguyễn Ánh dần dần trở thành hạt nhân quy tụ các lực lượng chống Tây Sơn trên toàn quốc, trong khi sau cái chết của Quang Trung năm 1792 thì chính quyền Tây Sơn ngày càng sa lầy vào tình trạng chia rẽ nội bộ. Các hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802 diễn ra trong bối cảnh nói trên.

Thật ra trước khi chiếm lại được Gia Định lần cuối năm 1788, Nguyễn Ánh đã có những phái viên phụ trách hoạt động tình báo và địch vận. Đại Nam Chính biên Liệt truyện có chép truyện Tham mưu dinh Trung quân Nguyễn Văn Nhơn, mùa đông năm Đinh mùi 1787 vâng lệnh tới Sài Gòn do thám tình hình Tây Sơn, cùng Trương Cái bàn mưu trà trộn vào quân Tây Sơn làm thích khách, việc tiết lộ bị giết. Song phải từ 1789 trở đi các hoạt động này của Nguyễn Ánh mới dần dần trở thành có hệ thống và mang tính chất một chủ trương với quy mô ngày càng mở rộng tương ứng với diễn tiến chiến tranh và sự nứt rạn trong nội bộ Tây Sơn. Khi chép về việc lấy Nguyễn Đàn làm Hàn lâm viện Chế cáo, Lê Đại Nghĩa làm Hàn lâm viện năm 1791, sử quan triều Nguyễn chép thêm “Nguyên là vua từng mật sai người tháo vát cùng những người cẩn thận thân tín trong các nhà buôn lẻn đi từ Bình Thuận trở ra Bắc tới Thuận Hóa, vâng mật chỉ kêu gọi các hào kiệt, lúc bấy giờ có người từ xa lặn lội tìm tới, có người khởi nghĩa hưởng ứng, cũng có người ở trong lòng giặc mà ngấm ngầm quy thuận. Gián điệp qua lại luôn, tin tức không ngớt, Tây Sơn động tĩnh thế nào không gì không biết”. Nhìn chung có thể chia hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh theo ba khu vực, một là từ Bình Thuận tới Quảng Nam, hai là Phú Xuân – kinh đô của nhà Tây Sơn và ba là vùng đất từ Nghệ An trở ra Bắc tức địa bàn Đàng Ngoài cũ.

Trên địa bàn Đàng Ngoài cũ, hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh chủ yếu dựa vào những cá nhân mang lập trường chính trị chống Tây Sơn. Năm 1791 sai Cai cơ Nguyễn Đình Đắc đi dò xét tình hình miền Bắc. Đắc là người Chân Lộc Nghệ An, năm 1787 vượt biển vào Gia Định theo Nguyễn Ánh. Mùa hạ năm 1789, Ánh nghe tin nhà Thanh đem quân Lưỡng Quảng đánh Tây Sơn bèn sai sứ thần là bọn Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân, nhưng gặp bão đắm ở biển lâu không nghe tin tức. Đến lúc ấy nghe tin quân Thanh bị Tây Sơn đánh bại, đã không đánh lại mà còn phong vương cho Nguyễn Huệ, nên sai Đình Đắc đi dò tin tức vua Lê, nhân tiện chiêu dụ những nhân sĩ chống đối Tây Sơn ở miền Bắc. Đến 1797 lại lấy Vũ Nguyên Lượng làm Khâm sai Chiêu thảo sứ. Lượng là người Đông Thành Nghệ An, đầu tiên vào Gia Định theo Nguyễn Ánh được trao chức Nạp ngôn, lúc ấy sai cùng Tham mưu Trần Trung Bình ra miền Bắc chiêu dụ hào kiệt, bị Tây Sơn phát hiện được bắt giết. Vợ Lượng là Hoàng Thị Hân lẻn tới Gia Định báo cáo về tình hình Tây Sơn rồi lại xin về Bắc dò xét, việc lộ ra, bị Nguyễn Quang Thùy (em Cảnh Thịnh) bắt giết.

Trên địa bàn từ Bình Thuận tới Quảng Nam, hoạt động tình báo và địch vận của quân đội Nguyễn Ánh chủ yếu dựa vào những người quê ở Đàng Trong. Năm 1795 cho Khâm sai Cai đội Đỗ Văn Huy làm Khâm sai Đô thống Chiêu thảo sứ, sai cùng bọn Tuyên úy sứ Phan Văn Loan, Phan Văn Phụng, Phạm Văn Tuy, Tham hiệp Đỗ Văn Chân, Trần Văn Phú lẻn về các phủ Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thuận Hóa chiêu mộ nghĩa binh. Năm 1796 lại lấy Tống Hữu Xuân làm Khâm sai Chiêu thảo sứ, sai đi bí mật do thám vùng Quy Nhơn và Thuận Hóa để chiêu mộ nghĩa binh. Năm 1797 Nguyễn Ánh còn sai người bí mật nói với Tham tán Tây Sơn Từ Văn Tú dụ Tiểu triều Nguyễn Bảo con Nguyễn Nhạc đầu hàng.

Riêng trên địa bàn Phú Xuân, hoạt động tình báo và địch
vận của quân đội Nguyễn Ánh được chỉ huy bởi một phụ nữ là Thái trưởng công chúa Nguyễn Ngọc Huyên, con Thế tông Phước Hoạt, tức theo thế thứ là cô Nguyễn Ánh. Bà được gả cho Tiết chế Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống, trong biến loạn năm 1774 Thống chết, bà ở lại Vân Dương huyện Hương Thủy, xuống tóc làm ni, người ta gọi là ni cô Vân Dương. Năm 1791 bà sai một người thân tín là Thiện đáp thuyền buôn vào Gia Định báo cáo tình hình Tây Sơn. Nguyễn Ánh được tin rất mừng, nhân đó mật sai người ra vào thám thính, đều ẩn náu ở nhà bà. Bà lại bỏ gia tài cấp cho con rể là Nguyễn Đức Tuấn chiêu dụ những người chống Tây Sơn. Ánh sai người đem mật dụ cùng chỉ lệnh để trống ra cho, để bà tùy nghi viết lời Chỉ sai, Chỉ truyền ra lệnh cho họ. Sau việc bị lộ, Đô đốc Tây Sơn là Miễn đem quân vây nhà bà, gặp lúc những người được bí mật sai ra không có ở đó, lục soát không thấy gì đành phải trở về. Năm 1798 Cảnh Thịnh giết Tiểu triều Nguyễn Bảo kéo theo việc thanh trừng hàng loạt trong nội bộ Tây Sơn, Đại Đô đốc Tây Sơn Lê Chất sợ liên lụy giả chết trốn tránh trong núi Trà Đồng ở Quy Nhơn, bà biết tin bèn sai người thân tín là Hậu tới dụ Chất về hàng Nguyễn Ánh. Bà lại dò xét biết được Tây Sơn sẽ đem hết quân vào vây Võ Tánh ở Bình Định, Phú Xuân bỏ trống, bèn vẽ bản đồ hình thế đồn trại của Tây Sơn ở các cửa biển Tư Hiền, Thuận An, mật sai Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Khả Bằng theo đường thượng đạo đem vào Thi Nại dâng cho Nguyễn Ánh, góp phần không nhỏ vào nước cờ thí xe bắt tướng của Ánh trong việc không giải vây Bình Định mà đem quân cường tập đánh chiếm Phú Xuân năm 1801.

Những tướng lĩnh, quan lại của Tây Sơn theo Nguyễn Ánh từ 1788 trở đi

Khác với Lê Chất vốn có tài cầm quân nên đều được đôi bên cả Tây Sơn lẫn Nguyễn Ánh coi trọng và do đó cũng dễ do dự trong việc chọn lựa, nhiều tướng lĩnh, quan lại của Tây Sơn có một thái độ thực tế hơn, nhất là khi quá trình phong kiến hóa của Tây Sơn lại đi liền với sự liên tục chia rẽ về nội bộ và suy yếu về lực lượng. Cho nên theo diễn tiến của chiến tranh trong đó phần thắng dần dần nghiêng về Nguyễn Ánh, từ 1788 trở đi cũng có không ít tướng lĩnh, quan lại của Tây Sơn theo hàng Ánh vì nhiều động cơ cụ thể khác nhau. Dĩ nhiên có những trường hợp như Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Sâm bất đắc dĩ phải đầu hàng nhưng toan quay về với Tây Sơn năm 1789, hay Đại Đô đốc Tây Sơn Từ Văn Chiêu tư thông với vợ lẽ của Nguyễn Nhạc, đắc tội với Tây Sơn phải trốn vào Gia Định đầu hàng, được phong là Khâm sai Thuộc nội Cai cơ trong quân Thần sách nhưng thường bị Chánh thống Hậu đồn quân Thần sách Tống Viết Phước ma cũ bắt nạt ma mới chửi mắng là hàng tướng nên căm hận, đến 1799 tuy được thăng Thống chế Hữu đồn quân Ngự lâm nhưng qua 1800 vẫn mang 500 quân trong đồn trở về với Tây Sơn, sau đó phục quân giết chết Tống Viết Phước ở Hang Dơi (Bình Định) năm 1801. Song nhìn chung việc các tướng lĩnh, quan lại Tây Sơn theo hàng Nguyễn Ánh sau 1788 là điều dễ hiểu. Ngoài Lê Chất, Đại Nam Liệt truyện Chính biên sơ tập còn chép lại tiểu sử của một số trong những người này, sau đây giới thiệu tóm tắt.

Nguyễn Tử Châu người Bình Sơn Quảng Ngãi, theo Tây Sơn làm quan tới chức Thái thường, năm 1790 theo hàng, năm 1808 được phong Thượng thư bộ Hình, năm 1811 bệnh chết, được tặng Tham chính.

Đoàn Trọng Viễn người Bình Dương Gia Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Tham mưu, năm 1790 theo hàng, sau 1802 làm quan tới chức Hữu Tham tri bộ Lại kiêm Phó Đốc học Quốc tử giám.

Hoàng Công Thành, Nguyễn Văn Phát đều là người Phù Cát Bình Định, Thành theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, Phát làm tới chức Chỉ huy. Năm 1793 hai người vào Gia Định đầu hàng, đều làm quan tới chức Vệ úy. Năm 1799 Nguyễn Ánh lập năm đồn quân Ngự lâm, phong Thành làm Thống chế quản Tiền đồn, Phát làm Thống chế quản Hậu đồn. Về sau hai người theo Võ Tánh giữ Bình Định, ốm chết trong quân.

Nguyễn Văn Tứ người Tuy Viễn Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Chưởng cơ, năm 1793 theo hàng, năm 1804 được phong Chánh vệ trong Hữu quân rồi xin về hưu.

Nguyễn Công Thái người Đồng Xuân Phú Yên, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1793 theo hàng, được bổ làm Khâm sai Đô đốc, năm 1806 được thăng làm Phó tướng Chấn võ quân, xin về hưu rồi chết.

Hoàng Đăng Lý người Tuy Phước Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Cai cơ, năm 1793 theo hàng, năm 1804 ra làm Trấn thủ Sơn Tây, bị bệnh xin từ chức, năm 1820 vào Gia Định thành giúp việc quân cho Lê Văn Duyệt, đến 1826 vì già xin về hưu, kế chết.

Đào Văn Lương người Phù Cát Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Chỉ huy, năm 1793 theo hàng, năm 1816 làm tới chức Đô Thống chế Thủy dinh, năm 1820 có tội bị bãi chức, nhân xin về hưu, năm 1827 vào chầu Minh Mạng, kế chết.

Đoàn Văn Cát người Bình Sơn Quảng Ngãi, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đại Đô đốc. Năm 1798 Tiểu triều Nguyễn Bảo chống lại Cảnh Thịnh, sai Cát giữ Phú Yên, đưa biểu vào Gia Định xin cứu viện. Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thành tới cứu, Thành chưa tới kịp thì Quang Toản đã bắt giết Bảo, Cát chạy tới Diên Khánh xin hàng. Năm 1799 Nguyễn Ánh lập năm đồn quân Ngự lâm, phong Cát làm Đô Thống chế quản Tiền đồn. Về sau theo Võ Tánh giữ Bình Định, ốm chết trong quân.

Vũ Đình Giai người Phù Cát Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đại Đô đốc, năm 1799 theo hàng, được phong làm Thống chế quản Tả đồn quân Ngự lâm thay Từ Văn Chiêu làm phản về theo Tây Sơn, theo Lê Chất đánh trận chết trong quân.

Vũ Đình Duyên là em họ Vũ Đình Giai, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1799 theo hàng, đến 1801 được phong làm Đô Thống chế quản Tả đồn quân Ngự lâm, sau thăng Phó tướng Hậu quân.

Lê Văn Niệm người Phù Cát Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1799 theo hàng, sau 1802 làm quan tới chức Trấn thủ Thái Nguyên.

Trần Hữu Thiện người Bình Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Tá phụng nghị, năm 1799 theo hàng, làm quan tới chức Tham tri bộ Hộ, đầu đời Gia Long vì già xin về hưu.

Lê Văn Hoan người Hòa Vang Quảng Nam, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1799 theo hàng, năm 1827 làm quan tới chức Thống chế Tượng quân, năm 1828 chết.

Nguyễn Văn Trí người Tân Long Gia Định, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1799 theo hàng, năm 1818 được thăng Phó Đô Thống chế trong Tả quân, năm 1827 chết.

Trần Văn Trạc người Duy Xuyên Quảng Nam sau dời qua Bình Định, là con Binh bộ Đàng Trong Trần Văn Tuấn, đầu tiên theo Đông cung Phước Dương ở Quảng Nam, sau bị Tây Sơn bắt, theo Tây Sơn làm quan tới chức Thị lang, năm 1799 theo hàng, năm 1809 được phong Thượng thư bộ Lại, năm 1813 bệnh chết, được tặng Tham chính.

Trần Văn Thái người Hà Đông Quảng Nam, theo Tây Sơn làm quan tới chức Cai bạ kiêm Công bộ, năm 1799 theo hàng, giỏi việc chế tạo, năm 1809 được phong Thượng thư bộ Công, kế chết, được tặng Tham chính.

Nguyễn Gia Cát người Yên Giang Kinh Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm 1787 đời Lê Chiêu Thống, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đốc học Quy Nhơn, năm 1799 theo hàng, năm 1802 lấy hàm Cần Chánh điện học sĩ sung Ất Phó sứ trong sứ bộ Lê Quang Định qua Trung Quốc cầu phong, lúc về được phong Tả Tham tri bộ Lễ, năm 1811 vì tội mạo cấp sắc thần bị cách hết chức tước, kế chết.

Nguyễn Văn Xuân người Chương Nghĩa Quảng Ngãi, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đại Đô đốc, năm 1801 tới quân thứ Thanh Hảo hàng Lê Văn Duyệt, đời Minh Mạng làm quan tới chức Chưởng Hữu quân, Tổng đốc An Tĩnh, năm 1835 được phong tước Hiệu Thuận bá, chết năm 1837.

Trương Phước Phượng là dòng dõi công thần Đàng Trong Hữu phủ Đô đốc Quận công Trương Phước Thức, năm 1775 cùng cha là Ý theo Duệ tông Phước Thuần vào Gia Định, sau bị Tây Sơn bắt, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đô đốc, năm 1801 theo hàng Lê Văn Duyệt, năm 1810 làm quan tới chức Trấn thủ Sơn Tây, kế chết.

Nguyễn Văn Toàn người Bình Sơn Quảng Ngãi, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đại Đô đốc, năm 1801 theo hàng, được bổ làm Lưu thủ Quảng Ngãi, đến 1809 vì già xin về hưu, năm 1820 vào chầu Minh Mạng, kế chết.

Nguyễn Hữu Thận người Hải Lăng Thừa Thiên, theo Tây Sơn làm quan tới chức Thị lang, năm 1801 theo hàng, giỏi thiên văn, năm 1827 được phong Hiệp biện đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Lại kiêm quản Khâm thiên giám, kế bị giáng làm Tham tri, năm 1831 ốm chết, được tặng hàm Thượng thư bộ Lại.

Ngô Đình Giới người Phong Đăng Quảng Bình, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đồng nghị, năm 1801 theo hàng, năm 1820 làm quan tới chức Cần chánh điện đại học sĩ, Hữu Tham tri bộ Hình, Minh Mạng rất kính trọng, gọi là Ngô tiên sinh, năm 1825 về hưu, năm 1827 chết, được tặng hàm Thượng thư bộ Binh.

Nguyễn Viết Ưng người Hương Trà Thừa Thiên, theo Tây Sơn làm quan tới chức Đồng nghị, năm 1801 theo hàng, năm 1808 làm quan tới chức Chánh Đốc học, năm 1809 vì già xin về hưu, kế chết.

Ngoài những người như Nguyễn Tử Châu, Đoàn Trọng Viễn theo hàng từ 1790 hay Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Hữu Thận theo hàng năm 1801, rất nhiều trong những người nói trên đã theo hàng Nguyễn Ánh vào hai thời điểm 1793 và 1799. Điều này không phải ngẫu nhiên, vì đối với nhiều quan lại tướng lãnh của Tây Sơn thì việc vua Quang Trung qua đời năm 1792 đã khơi lên dự cảm về một tương lai u ám, còn việc Cảnh Thịnh giết Tiểu triều Nguyễn Bảo năm 1798 rõ ràng là dấu hiệu về sự bại vong.

Những cá nhân chống Tây Sơn ở Đàng Ngoài cũ vào Nam theo Nguyễn Ánh từ 1788 trở đi

Ngoài những người như Nguyễn Kim Phẩm, Trần Xuân Trạch, Nguyễn Đình Đắc theo Nguyễn Ánh khá sớm, từ 1788 trở đi cũng có không ít cá nhân chống Tây Sơn ở miền Bắc tìm vào Gia Định theo triều Nguyễn “trung hưng”. Nhìn chung những người này gồm hai loại, loại đầu có quyền lợi ít nhiều gắn bó với nhà Lê, một sớm dâu bể đổi dời thì nghiệp nhà rơi rụng, do đó căm hận Tây Sơn. Loại thứ hai phần nhiều là bọn anh hùng thảo dã gặp thời loạn đứng lên, nhưng có nhãn quan chính trị nên cũng có ý chọn chủ mà thờ để được lưu danh sử sách. Đại Nam Liệt truyện Chính biên sơ tập còn chép lại tiểu sử của một số trong những người này, sau đây giới thiệu tóm tắt.

Vũ Nguyên Lượng người Công Thành Nghệ An, làm quan với nhà Lê tới chức Câu kê, năm 1794 theo đường biển vào Gia Định, được phong làm Chiêu thảo sứ, năm 1797 vâng lệnh ra Bắc chiêu dụ những người hào kiệt đánh úp Tây Sơn, bị Nguyễn Quang Thùy bắt giết.

Đinh Đạt Biểu người Tống Sơn Thanh Hoa, năm 1794 vào Gia Định, được phong làm Chiêu thảo sứ, năm 1800 vâng lệnh theo đường thượng đạo về Thanh Nghệ, Sơn Nam chiêu tập nghĩa dũng đợi quân Gia Định ra. Biểu ra tới miền Bắc họp quân, bị Tây Sơn phát giác đem quân vây đánh, bị giết chết.

Vũ Bá Diên người Vạn Ninh Quảng Yên, năm 1794 vào Gia Định, được phong làm Khâm sai Tham tán quân cơ dinh Trung quân, năm 1800 vâng lệnh theo đường thượng đạo ra Bắc chiêu dụ hào kiệt, khi về tới Nghệ An bị Tây Sơn bắt giết.

Nguyễn Bá Xuyến người Thanh Oai Sơn Nam Thượng, năm 1793 cùng Đặng Trần Thường vượt biển vào Gia Định, được Nguyễn Ánh phong làm Vệ úy, đánh trận với Tây Sơn bị trúng đạn gãy tay trái, sau 1802 được thăng Án phủ sứ Hoài Đức, kế đổi làm Trấn thủ Cao Bằng rồi Trấn thủ Sơn Nam Thượng. Cùng vào Nam với Xuyến có Nguyễn Trí Thái người Đông Sơn Thanh Hoa, Hồ Sĩ Thù người Quỳnh Lưu Nghệ An, đều làm quan tới chức Tham luận.

Nguyễn Duy Hàn người Từ Sơn Kinh Bắc, sau khi Tây Sơn thay thế nhà Lê cùng Đỗ Thành Lâm, Ngô Đức Tuấn vào Gia Định, được phong làm Hàn lâm rồi đổi làm Tham quân Tiền đồn quân Thần sách, sau chết trận.

Đỗ Thành Lâm người Yên Phong Kinh Bắc, lúc đầu vào Gia Định được phong làm Hàn lâm, can đảm giỏi binh pháp nên chuyển qua làm võ quan, đến 1798 được phong Vệ úy.

Ngô Đức Tuấn người Đông Ngàn Kinh Bắc, lúc đầu vào Gia Định được phong làm Hàn lâm, làm quan tới chức Tham quân Tả đồn quân Thần sách. Năm 1801 được phong làm Bắc Hà Chiêu thảo sứ ra Bắc chiêu dụ hào mục các nơi. Tuấn ra tới miền Bắc, cùng bọn Nguyễn Đình Hiệu họp vài ngàn quân đóng ở Biện Sơn, chặn đánh thuyền vận tải của Tây Sơn đoạt được 20 chiến thuyền, 15.000 phương gạo, kế đem binh thuyền về sông Gianh. Sau khi chiếm được Thăng Long, Gia Long bổ Tuấn làm Hiệp trấn Hải Dương.

Nguyễn Quang Lâm người Quý huyện Thanh Hoa, năm 1794 vào Diên Khánh theo Nguyễn Ánh, làm quan tới chức Chánh Vệ úy, năm 1802 theo quân Nguyễn Ánh đánh ra Thăng Long, chết trận ở Dinh Cầu.

Nguyễn Viên người Hoằng Nghĩa Thanh Hoa, là cháu Hương cống nhà Lê Nguyễn Quỳnh, thi đỗ Giải nguyên, lúc nhà Lê mất muốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh nhưng nghẽn đường không đi được, đến 1801 theo Chiêu thảo sứ Trương Công Vĩ tới ra mắt Ánh, được phong làm Cần Chánh điện học sĩ kiêm Thái thường khanh.

Đặng Trần Thường người Chương Đức Sơn Nam, ông cha nhiều đời làm quan với nhà Lê. Thường học rộng có tài, cuối thời Lê thi đỗ Sinh đồ, sau khi Tây Sơn thay thế nhà Lê, quan nhà Lê phần nhiều ra làm quan với triều mới. Thường có quen Thượng thư bộ Binh Tây Sơn Ngô Thì Nhậm, nhân tới gặp gỡ trò chuyện, Nhậm nói “Người quân tử quý ở chỗ biết thông biến mới có thể làm nên công nghiệp, chứ kẻ thất phu chỉ biết tự tin vào mình, rồi có ích gì”, tỏ vẻ cậy thế lấn lướt. Thường căm tức bỏ về, từ đó có ý đi xa. Mùa đông năm 1793 gặp Nguyễn Đình Đắc từ Gia Định ra chiêu dụ, Thường bèn cùng bọn Nguyễn Bá Xuyến vượt biển vào Nam. Khi tới Diên Khánh vào ra mắt Đông cung Cảnh, chỉ vái mà nói chưa ra mắt vua nên chưa dám lạy, Cảnh ban cho rất hậu. Mùa xuân năm 1794 tới Cần Giờ, sai người dâng biểu trước, Ánh xem biểu lấy làm lạ, gọi vào ra mắt ngay. Năm ấy được phong làm Khâm sai Tán lý binh vụ, lần lượt theo giúp các đại tướng của Nguyễn Ánh như Nguyễn Văn Tánh, Tôn Thất Hội, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Trương đánh nhau với Tây Sơn ở miền Trung. Sau khi Gia Long diệt nhà Tây Sơn, phong Thường làm Binh bộ ở lại giữ Bắc Thành, đến 1809 triệu về kinh, phong làm Thượng thư bộ Binh. Trước kia lúc Lê Chất được phong làm Chưởng Hậu quân Bình Tây tướng quân thì Thường buông lời mỉa mai, Chất vì thế rất căm hận, lúc làm Tổng trấn Bắc Thành bới móc phát giác ra Thường từng phạm tội mạo cấp sắc thần và lấn chiếm ruộng vườn tâu lên, đến 1816 Thường bị kết tội xử giảo, gia sản bị sung công.

IV. Chính quyền của Nguyễn Ánh

Trong thời gian 1778 – 1782 bộ máy trung ương của chính quyền Nguyễn Ánh (Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ gọi là Chính dinh, tức đóng ở Sài Gòn nhưng biệt lập với bộ máy cai trị ở dinh Phiên Trấn) vẫn theo thể chế thời Đàng Trong, nhưng từ 1788 trở đi đã có nhiều cải cách về hệ thống cũng như chức danh, nhiệm vụ… Quá trình thay đổi chức danh, nhiệm vụ của các chức vụ trong bộ máy trung ương có nguồn gốc từ thời Đàng Trong này khá rắc rối, ở đây chỉ giới thiệu đại lược.

Thời Đàng Trong, bộ máy chính quyền trung ương của các chúa Nguyễn ở Phú Xuân cũng được gọi là Chính dinh, ngoài tứ trụ đại thần gồm các chức Ngoại hữu, Ngoại tả, Nội hữu, Nội tả có Đô tri, Ký lục mỗi chức 1 viên coi Xá sai ty (giữ việc từ tụng văn án), Cai bạ 1 viên coi Tướng thần lại ty (giữ việc thu tiền sai dư và thóc tô ruộng từ Phú Xuân trở ra Bắc), Nha úy 1 viên coi Lệnh sử ty (giữ việc trông coi lễ tiết), gọi là Tam ty. Ngoài ra còn có ty Nội lệnh sử (giữ việc thu các thứ thuế), ty Lệnh sử Đồ gia (giữ việc thu phát nguyên vật liệu cho các cục làm khí giới thuyền bè, sửa sang tường thành nhà cửa, giữ các hàng hóa và kho quân khí), nhân viên trong các ty có các chức Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp, lại viên. Đến 1744 Thế tông Phước Hoạt xưng vương đổi Ký lục làm Lại bộ, Đô tri làm Hình bộ, Cai bạ Phó đoán sự làm Hộ bộ, Nha úy làm Lễ bộ, đặt thêm hai bộ Binh và Công, tuy nhiên Ký lục, Cai bạ, Tri bạ, Cai án ở các dinh trấn vẫn gọi theo tên cũ. Tam ty và ty Nội lệnh sử ở Chính dinh nếu khuyết người thì lấy học trò hoa văn bổ sung, cũng có khi cho người nộp bạc giữ chức, còn ở các dinh trấn thì cho Trấn thủ tùy ý lựa chọn bổ nhiệm. Đến thời gian 1788 – 1802 bộ máy trung ương của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định đã bỏ các viên tứ trụ đại thần, chỉ đặt bộ ty cục viện, bộc lộ xu thế tập trung quyền lực vào một mình nhà vua. Từ 1788 đặt thự công đồng làm nơi các đại thần văn võ họp hành, phàm các văn bản nhân danh Nguyễn Ánh truyền thị và sai phái đều viết là “Công đồng truyền”, có đóng dấu “Thiêm ngôn doãn hiệp”.

Một trong những cơ quan hành chính trung ương được Nguyễn Ánh tái lập ngay từ 1788 là Hàn lâm viện, qua 1789 thêm Thị thư viện, đến 1790 lấy người trong Thị thư viện sung chức Khởi cư chú (chức quan lo việc ghi chép tất cả việc làm lời lẽ của nhà vua). Cũng trong năm 1788, các ty Xá sai, Tướng thần lại, Lệnh sử, Nội lệnh sử, Lệnh sử tàu thuộc Chính dinh được tái lập, qua tháng 3 âl. năm 1789 công việc của nhân viên các ty này bắt đầu được quy chế hóa (chia phiên trực ở công thự, mỗi ty hai người, sáng sớm lên trực, qua một ngày một đêm thì đổi phiên), đến tháng 9 âl. năm ấy lại ra lệnh cho các nha trong ngoài từ nay chương sớ tâu lên thì bản sớ dùng hai phong, một phong bản chính, một phong bản phó, duy việc cơ mật thì dùng một phong, đều phải đưa qua Lại bộ (tức bộ phận dưới quyền Ký lục trong ty Xá sai) trước rồi sau mới tâu lên. Sau đó lại đặt thêm hai ty Lệnh sử Binh bộ và Chiêm hậu (coi việc dự báo khí hậu và thời tiết, tức cơ quan Khâm thiên giám về sau). Cần lưu ý rằng ở đây có tới bốn ty Lệnh sử, so với thời Đàng Trong thì thêm hai ty Lệnh sử tàu (theo tên gọi có lẽ chuyên thu thuế các thuyền buôn nước ngoài) và Lệnh sử Binh bộ (có lẽ phụ trách thu thuế trong quân đội), bộc lộ một chính sách thuế má tận thu. Bên cạnh đó cơ quan Đồ gia (Nhà đồ) cũng được tái lập với chức vụ Tri Đồ gia đứng đầu, có nhiệm vụ quản lý kho tàng, phụ trách xây dựng và coi sóc việc chế tạo. Cuối năm 1791, Đồ gia đã quản lý tới 62 ty thợ, thu hút một lực lượng đáng kể thợ giỏi trong các ngành thủ công nghiệp ở Nam Bộ đương thời. Bên cạnh đó có cơ quan Điền tuấn gồm 12 đặc phái viên là các viên Hàn lâm viện Chế cáo Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh do chính quyền trung ương cử về địa phương khuyến khích nhân dân làm ruộng, cơ quan này thành lập năm 1789.

Một cơ quan khác ít được chú ý là Nội viện, cơ quan này có ít nhất hai bộ phận thực hiện các công tác buôn bán và chế tác phục vụ cho triều đình và sinh hoạt của hoàng gia. Các nhân viên thuộc bộ phận buôn bán chủ yếu là người Hoa, hầu như năm nào cũng xuất dương mua hàng hóa. Các nhân viên thuộc bộ phận chế tác gồm những người thợ thủ công có tay nghề cao. Cuối tấm bia ở mộ Pigneau de Béhaine được sao lại trong Đại Nam Hoàng triều Bi Nhu quận công phương tích lục do Trương Vĩnh Ký khảo hiệu có ghi tên bốn người: Nguyễn Gia Cát tức người soạn văn bia (phụng soạn), Lê Quang Định tức người viết chữ (phụng thư), ngoài ra còn hai người “phụng khắc” là “Nội viện Tài công Thạch tượng đội Đội trưởng thần Phan Văn Quận” và “Nội viện Tài công Thạch tượng đội Cai cơ thần Huỳnh Bá Trường”, theo đó đủ thấy hai viên Cai cơ, Đội trưởng trong Đội Thợ đá thuộc Nội viện này là hai người thợ chạm khắc đá giỏi được phong quân hàm như một loại lính thợ phục vụ việc chế tác của triều đình và hoàng gia.

Về biên chế phục vụ triều đình, thấy có chức Giám thành sứ đặt ra cuối 1794, có nhiệm vụ quản suất quan viên tuần thành phòng giữ trong ngoài kinh thành (tức thành Gia Định ở thôn Tân Khai). Dĩ nhiên Nguyễn Ánh cũng có các đội thị vệ hầu cận như Nội hầu, Trung hầu, Hữu hầu, Tả hầu phụ trách thuyền bè, đội Bả cái phụ trách cờ lọng, đội Thủ kiệu phụ trách xe kiệu, đội Nội mã phụ trách ngựa, đội Tiểu hầu phụ trách biểu diễn văn nghệ… thành lập khoảng 1788 – 1789, Thái y viện phụ trách việc chữa bệnh thành lập cuối 1790.

Ngoài ra, vào năm 1789, nhân việc cấm phù thủy đồng bóng “tả đạo lừa dân”, Nguyễn Ánh cũng “ra lệnh cho bốn dinh bãi bỏ những nhân viên ở hai ty Pháp lục và Đạo sĩ cho sung bổ vào hai ty Xá sai và Tướng thần lại”. Không thấy sử sách nói tới cơ quan tương đương hai ty này ở cấp trung ương, nhưng có lẽ trước đó cũng phải có. Theo tên xét nghĩa, có lẽ ty Pháp lục chuyên phụ trách các nghi thức lễ lạc Phật giáo, còn ty Đạo sĩ chuyên phụ trách các nghi thức lễ lạc Đạo giáo.

Các nghi thức trong triều đình Gia Định thời gian 1788 – 1802

Trong xã hội phong kiến mà một đặc trưng là sự phân chia đẳng cấp, nghi lễ là một loại hệ thống chuẩn mực xã hội được đặc biệt coi trọng, nhất là đối với những kẻ thống trị vì đó là một phương tiện để họ thể hiện giá trị và khẳng định địa vị của mình. Không lạ gì mà khi thấy có thể đứng vững chân ở Nam Bộ khi đã chiếm lại Gia Định lần cuối, từ 1790 chính quyền Nguyễn Ánh bắt đầu xây dựng hệ thống nghi lễ – nghi thức trước hết trong triều đình, nhằm khẳng định địa vị chính thống của mình và thông qua đó xác lập tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống Tây Sơn.

Tháng 3 âl. năm 1790, dựng Hậu điện để phụng sự quốc mẫu (mẹ Nguyễn Ánh), lại dựng Phương điện, điện Kim Ấn, điện Kim Hoa và gác Triêu Dương. Cũng trong tháng này Ánh cho định lễ tiết Chính đán và Đoan dương (Đoan ngọ), trình tự nghi thức là hôm ấy “Vua tới Thái miếu làm lễ rồi tới Hậu điện chúc mừng quốc mẫu, lễ xong ra ngự ở điện, các quan văn võ chúc mừng”.

Trước tết âl. Tân hợi 1791, sai hữu ty bàn định việc dâng lễ mừng tiết Chạp và các tiết lễ Ban lịch, Phong bảo, Khai bảo. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép lại các nghi thức này như sau:

“Lễ mừng tiết Chạp. Hàng năm cứ giờ Thìn ngày 22 tháng 12, vua đem các quan tới Hậu điện tiến lễ mừng cho quốc mẫu, làm lễ mừng rồi, vua trở về cung, đổi áo chầu, ngự gác Triêu Dương, các quan rảo bước tới sân tiến lễ mừng, cùng lạy. Lễ xong, vua ngự vào Nội điện. Các quan lại đến Hậu điện, hậu cung, phủ hoàng tử làm lễ tiến mừng.

Lễ Phong bảo. Đầu giờ Dần ngày 28 tháng 12, quan Thái giám bưng hòm bảo ấn đệ giao cho quan Lại bộ và quan Tả vệ cùng bưng đến gác Triêu Dương, đặt ở trên án ở gian chính giữa rồi bước ra, lễ bốn lạy. Ty tướng thần lại làm việc lau rửa ấn rồi quan Thái giám cùng với quan Lại bộ và quan Tả vệ kính bưng hòm bảo ấn tiến vào Nội điện.

Lễ Ban lịch. Đến cuối giờ Dần, dâng lịch ở Thái miếu, dâng lịch vào Nội. Đầu giờ Thìn, vua ngự ở gác Triêu Dương. Quan Hộ bộ đến trước quỳ tâu rằng “Năm mới ban lịch, chúc mừng hoàng thượng muôn tuổi”. Lễ bốn lạy, vái, đứng dậy ra. Phụng chỉ truyền ban lịch. Hộ bộ truyền cho Đội Thuyền kiệu Thủy quân bưng hai tráp lịch đặt ở trên án gian chính giữa. Quan Hộ bộ quỳ tâu rằng “Phụng chỉ ban lịch năm mới cho các văn võ thần liêu”. Lễ bốn lạy, vái, đứng dậy lui ra. Hoàng tử và các quan văn võ đến trước lễ bốn lạy. Lễ xong, vua ngự vào Nội, các quan đều lui ra.

Lễ Khai bảo. Đêm mùng 5 tháng giêng năm mới, Ty Chiêm hậu đợi đến lúc trước khắc chính quý một nấc thì gởi tâu, Thái giám bưng hòm ấn ra, đội Túc trực đủ nghi trượng hộ vệ, quan Lại bộ theo ra, do cửa bên tả đến trước cửa chính. Ty Tướng thần lại cùng quan Hộ bộ cùng bưng ra, để ở trên án gian bên hữu gác Triêu Dương. Quan Hộ bộ và quan Lại bộ đến trước lễ bốn lạy, lại đến đứng ở bên hữu. Đợi khi Thái giám mở hòm, quan Hộ bộ hầu dùng ấn xong, quan Thái giám lại phong khóa, ty Tướng thần lại phụng dán bảng văn lên bảng. Quan hai bộ Lại Hộ kính đệ hòm ấn, do quan Thái giám tiến vào Nội. Thái giám gởi tấu: Làm việc ở ngoài. Vua ngự ở gác Triêu Dương. Quan Hộ bộ đến trước quỳ tâu rằng “Năm mới khai bảo, đã kính dùng đóng ở bảng văn rồi, lạy mừng hoàng thượng muôn tuổi”. Lễ bốn lạy, bước ra. Có chỉ truyền treo bảng văn. Quan Hộ bộ quỳ tâu rằng “Vâng chỉ truyền cho bọn thần treo bảng văn, lạy mừng hoàng thượng muôn tuổi”. Lễ bốn lạy, bước ra. Truyền đội Bả cái treo bảng. Xong, quan Hộ bộ rảo vào phục mệnh, quỳ tâu rằng “Bọn thần đã treo bảng ở cửa Vệ môn”. Lễ bốn lạy, bước ra. Bấy giờ hai ban văn võ bước vào, một viên đại thần đứng trước tâu rằng “Năm mới hoàng thượng ngự triều khai bảo, các thần liêu văn võ chúc mừng hoàng thượng muôn muôn tuổi”. Lễ bốn lạy, lễ xong, vua ngự vào Nội, các quan đều lui”.

Qua 1791, Nguyễn Ánh lấy ngày thánh đản (sinh nhật vua, đây là ngày 15 tháng giêng) làm tiết Vạn thọ, lại sai hữu ty bàn định nghi thức. Theo Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ thì “Trước một hôm vua đến Thái miếu kính cáo. Lễ xong các quan cùng vào lạy. Vua lại đem bầy tôi đến Hậu điện làm lễ khánh an quốc mẫu, lễ bốn lạy. Lễ xong, vua trở về cung. Cho các quan vào Phương điện ăn yến. Đến ngày lễ, đầu giờ Sửu các quan chỉnh tề mũ áo đứng chờ. Giờ Dần vua ngự ở Phương điện, bầy tôi làm lễ khánh hạ, chia ban đứng chầu. Tiểu hầu hát múa xong, Trung hầu và Hữu hầu bắn đại bác mừng bảy phát. Vua trở vào nội, cho các quan ăn yến một lần. Đến ngày lễ, vua ngự ở Phương điện, bầy tôi làm lễ mừng xong, cho ăn yến”.

Về các nghi thức loại này, sử quan triều Nguyễn về sau tóm tắt “Vua từ khi lấy lại được Gia Định, thường lưu ý kinh dinh quy hoạch, sửa quân chế, định quan chế, nêu phép cấm, chính triều nghi, quy mô mở nước đại lược đã định”, tức các nghi thức trong triều đình được coi là một trong bốn nội dung lớn của hoạt động tổ chức chính quyền.

Hoạt động quản lý xã hội của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Tài liệu về vấn đề này rất tản mác, không thành hệ thống, tuy nhiên theo ghi chép trong các sử sách hiện có thì có thể quy hoạt động quản lý xã hội của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802 vào ba nội dung lớn là hoạt động quản lý hộ tịch, hoạt động tư pháp và hoạt động giữ gìn trật tự trị an.

Hoạt động quản lý hộ tịch của chính quyền Nguyễn Ánh bao gồm kiểm tra và phân loại dân số (chủ yếu là dân đinh – tức nam giới từ 16 đến 60 tuổi) theo lứa tuổi và sức khỏe (đinh, tráng, lão, tật) và tài sản (cùng, đào), nắm danh sách quân đội và quan lại trong bộ máy hành chính. Sau 1788 tình hình dân số ở Nam Bộ lại khá phức tạp: có người nghèo khổ hay bị chiến tranh làm xiêu dạt, có người là quân Tây Sơn cũ lạc ngũ trốn tránh trong dân gian, cũng có người là quân của Nguyễn Ánh đào ngũ, sổ sách cũ của cả chính quyền Nguyễn Ánh lẫn Tây Sơn trước đó thì một mặt bị mất mát, mặt khác cũng không phản ảnh được thực trạng hộ tịch ở địa phương đương thời nữa. Song Nguyễn Ánh rất quan tâm tới hoạt động này, nên theo thời gian xã hội Nam Bộ trong đó có Gia Định cuối thế kỷ XVIII dần dần đi vào chỗ có tổ chức chặt chẽ, dĩ nhiên nhằm phục vụ chủ trương kinh tế tận dụng nhân lực và cưỡng bức nhân công của Nguyễn Ánh. Tháng 8 âl. năm Mậu thân 1788 vừa chiếm được Sài Gòn, Ánh đã “ra lệnh cho các tổng xã thôn phường phàm có dân lậu ngụ cư và tàn tốt của Tây Sơn trốn về đều đăng hết vào sổ bộ, kẻ không có tài sản thì cho làm hạng cùng cố, cho miễn thị nạp, duy dao dịch thì chịu như dân. Còn như người Đường mới hay cũ đều do Cai phủ làm sổ riêng nộp lên”. Nhưng việc thực hiện có nhiều tiêu cực, nên đến giữa 1789 lại định rõ lệ tố giác việc lậu đinh để chấn chỉnh. Cuối 1789 hạ lệnh các hàng quan lại, biền binh, thợ thuyền theo quê quán mà ghi vào sổ, văn từ sáu bộ tới công đường bốn dinh, võ từ Chưởng cơ, Trưởng chi, Trưởng hiệu, Chánh Phó Vệ úy, hoặc chánh quán hoặc ngụ quán, ở thôn ấp nào đều có tờ truyền, ty lại và biền binh thì do người sở quản cấp bằng, đều phải chua rõ tên tuổi quê quán gởi về cho hương trưởng sở tại chép vào sổ dân (Phàm biền binh các quân dinh thì do Chưởng dinh cấp, các thuyền ty đội nậu tinh binh thuộc bốn dinh thì do quan công đường cấp, Văn giáp, Võ giáp, các hầu thuyền Trung hầu, Tả hầu, Hữu hầu, các thuyền ty đội nậu Bả cái, Thủ kiệu, Tả mã, Nội mã, Hữu mã, Nội phủ, công tôn, công tử, tông thuộc, triều hạ, Thuyền bàn, Mộc đĩnh thì do Binh bộ cấp, Hàn lâm Chế cáo, Thị thư, Tri bạ tào, Chiếm hậu ty lại, lão thuyền, đội Tiểu hầu thì do Hộ bộ cấp, tượng ty các cục ở Chính dinh do quan Tri Đồ gia cấp, còn những người không điền sản và không cha mẹ anh em vợ con mà mạo ghi quê quán thì cho hương trưởng chua rõ trong đơn, kẻ nào trốn thì miễn bắt, nếu có kẻ lậu sổ thì nã bắt giải trị tội). Đến đầu 1790 sai bốn dinh sửa lại sổ hộ tịch (trong sổ liệt đủ họ tên, tuổi, quê quán các hạng dân, quan quân thì ghi riêng sau sổ). Lại ra lệnh cho Hoa kiều thuộc các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam, Triều Châu, Thượng Hải ngụ ở trong hạt, mỗi tỉnh đặt 1 Cai phủ, 1 Ký phủ rồi chiếu theo số hiện tại hoặc làm binh hoặc làm dân, làm thành hai sổ do Binh bộ và Hộ bộ phê chữ làm bằng. Kế lại ra lệnh cho quan công đường bốn dinh phàm các tổng xã thôn phường trong hạt cứ dân số từ 40 người trở lên thì chọn đặt 1 Xã trưởng, cấp bằng phê chữ son, lại cấp cho một người khinh phu. Cuối 1790 đặt lại phép duyệt tuyển (tức kiểm tra đinh số), phép này đã có từ thời Đàng Trong, cứ ba năm một lần duyệt tuyển nhỏ, sáu năm một lần duyệt tuyển lớn, đại khái dân đinh đến tuổi thì biên thêm vào sổ, già yếu tàn tật thì thải ra…

Đặc biệt, từ 1796 chính quyền Nguyễn Ánh còn bổ sung thêm một biện pháp quản lý riêng đối với quân sĩ và thợ. Sử chép lúc ấy Nguyễn Ánh thấy quân và dân lẫn lộn, danh thực hỗn tạp, có kẻ giả mạo làm cấm vệ đi cướp của, có kẻ trốn khỏi thôn xóm để tránh dao dịch bèn ra lệnh kiểm điểm các vệ đội thuyền chi hiệu thủy bộ trong ngoài của dinh Trung quân, cùng thuộc binh tinh binh và quân lạc tòng các vệ các dinh và các ty cục thuộc Đồ gia, cấp cho thẻ hợp phù mà đeo để xét thực giả.

Nhìn chung việc quản lý hộ tịch với hệ thống sổ sách thống nhất từ trên xuống dưới như vậy đã giúp Nguyễn Ánh mau chóng xây dựng được cơ sở xã hội cho hoạt động chống Tây Sơn sau 1788: có thể nói từ 1792 trở đi về cơ bản toàn bộ đồng bằng Nam Bộ đã được tổ chức thành một trại lính, trong đó hoạt động của lực lượng lao động chính được huy động tối đa vào việc phục vụ chiến tranh.

Hoạt động tư pháp của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Về vấn đề này sử sách ghi chép rất ít, song có thể khẳng định rằng trên đường hướng xây dựng một hệ thống chuẩn mực xã hội thời chiến, chính quyền Gia Định cuối thế kỷ XVIII không muốn dân gian có chuyện kiện tụng lôi thôi… Cho nên ngay sau khi chiếm lại được Sài Gòn năm 1788, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cấm kêu thay và kêu vượt “Phàm nhân dân có oan khuất gì thì cho tự mình đi kêu, nếu đem tiền của ỷ thác người khác hay đi kêu thay cho ai, việc phát giác đều bị xử 100 roi và sung làm dịch phu một tháng. Lại đầu đơn kêu thì không được vượt bậc, binh thì do quản quan và đại viên thống lĩnh, dân thì do quan công đường sở tại xét đoán, nếu xét đoán không thỏa đáng thì kêu ở sở công đồng, nếu vẫn còn chưa phục tình thì mới được đón kêu khi vua đi, làm trái thì bị tội”. Có thể nói đây là nguyên tắc cao nhất trong tổ chức và hoạt động tư pháp của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802, một nguyên tắc có xu hướng giảm thiểu tối đa các vụ tranh chấp, kiện tụng dân sự. Tuy nhiên việc kiện tụng bị hạn chế thì thư tố cáo và vu cáo tăng lên, nên cuối năm ấy Nguyễn Ánh phải cho đặt một cái hòm ở dưới cửa khuyết, để ai có chuyện gì oan ức muốn bày tỏ thì làm đơn bỏ vào. Đến 1798 Ánh thấy dân Phiên Trấn nhiều người hay kiện vượt bậc lại ra lệnh từ nay phàm kiện tụng phải do quan công đường xét xử, nếu còn có oan uổng chưa phục tình thì mới cho tới Hình bộ xin xử lại. Chi tiết này cho thấy ngoài Tòa án quân sự dành riêng cho quân đội, hệ thống tư pháp của chính quyền Gia Định thời bấy giờ có hai cấp là Tòa án địa phương (công đường các dinh) và Tòa án tối cao (Hình bộ của chính quyền trung ương). Thật ra với hệ thống pháp luật thời chiến thì Tòa án trung ương ở đây cũng không khác Tòa án quân sự bao nhiêu, chẳng hạn năm 1795, bọn Cai cơ thuộc dinh Tiền quân là Nguyễn Văn Triệu, Ngô Văn Bình, Nguyễn Văn Đại thác bệnh không theo quân ra miền Trung đánh Tây Sơn mà ở lại Nam Bộ họp đảng ăn cướp, bị các dinh Trấn Định và Vĩnh Trấn bắt được giải nộp, Nguyễn Ánh bèn ra lệnh chém bêu đầu để cáo thị.

Chưa rõ các điều khoản pháp luật mà chính quyền Gia Định áp dụng trong hoạt động tư pháp thời gian này cụ thể ra sao, song chắc chắn đó là một hệ thống nặng về trừng trị và có thủ tục tố tụng, xét xử nhanh gọn. Không lạ gì mà năm 1791, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cho các dinh phải xét xong những việc hình ngục, không được để tồn đọng “Nay ta nghe ở dinh kiện tụng chồng chất, liên lụy đến người vô tội, cần đem ngay những kẻ phạm xét hỏi, tội đáng chết thì dâng biểu xin quyết định, tội đáng đồ thì đưa sung dịch phu. Những kẻ mới phạm lầm lỗi và oan uổng thì tha đi, không được để đọng trệ”. Dĩ nhiên đó là một lối hành xử tư pháp nhằm ổn định sinh hoạt xã hội để phục vụ chiến tranh, nhưng cũng chính vì vậy mà việc xử lý kiện tụng ở đây khá dứt khoát. Năm 1798 nhiều người Khmer ở vùng Hậu Giang dinh Vĩnh Trấn bị dân Việt xâm chiếm vườn đất, thưa kiện lên quan. Nguyễn Ánh sai Khâm sai Chưởng cơ Hồ Văn Lân hội đồng với Cai bạ Phạm Ngọc Uẩn đi khám, nơi nào người Khmer đã trồng trọt thì sai trả lại cho họ làm ăn, đất còn bỏ hoang thì cho người Việt lập làm vườn tược, đều chia vạch ranh giới để chấm dứt việc tranh giành. Việc xử lý như vậy không phải không công bằng, có điều đáng chú ý là viên Trưởng ban thanh tra đi điều tra giải quyết khiếu kiện về đất đai này là một viên Khâm sai Chưởng cơ, tức hệ thống tư pháp cũng mang tính chất quân chính. Ngoài ra quy định trừng phạt trong các lệnh cấm cũng mang tính thực dụng rất đậm nét. Chẳng hạn năm 1789 ra lệnh cấm chọn tiền, thì điều khoản trừng phạt là “quan, quân, dân phạm cấm đều đánh 50 roi, quan thì xử biếm bãi, quân thì sung hỏa đầu (làm bếp) một năm, dân thì đóng xiềng sung dịch phu một năm, phụ nữ thì sung phường giã gạo một năm”, huy động tối đa các nguồn sức lao động không phải trả lương để phục vụ chính quyền.

Hoạt động giữ gìn trật tự trị an của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802.

Là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý xã hội, hoạt động giữ gìn trật tự trị an của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802 cũng mang rõ tính chất phục vụ chiến tranh, tức việc quản lý xã hội trên phương diện này không coi trị an xã hội là mục tiêu phấn đấu chủ yếu và trật tự xã hội là đối tượng điều tiết chủ yếu, mà cơ bản là nhằm hướng tới xây dựng một xã hội nằm trong khuôn khổ để tiện thu thuế lấy quân. Điều này thể hiện rất rõ qua các lệnh cấm dày đặc của chính quyền ban hành từ 1788 đến 1802.

Trên phương diện chống tệ nạn xã hội và các hoạt động phạm pháp, chính quyền Nguyễn Ánh tỏ ra rất kiên quyết. Là một thương cảng lớn, khu vực Sài Gòn thời Đàng Trong đã có đời sống xã hội mang màu sắc đô thị khá rõ nét, nên cũng có nhiều tệ nạn xã hội như cờ bạc, trộm cướp, thuốc phiện, gái điếm… Tuy nhiên ngoài các tệ nạn gái điếm, hút thuốc phiện, ăn mày dường như không đất dung thân trong những xã hội có sinh hoạt vật chất khắc khổ và hệ thống quản lý hộ tịch chặt chẽ, cuối thế kỷ XVIII ở Gia Định có hai tệ nạn xã hội tương đối nổi bật là cờ bạc và trộm cướp. Năm 1788 vừa chiếm được Sài Gòn, Nguyễn Ánh đã ra lệnh cấm đánh bạc, chính quyền không những không thừa nhận các văn khế nợ nần vì đánh bạc trong dân gian trước đó mà còn cấm mở sòng bạc, ai đánh bạc thì bị đánh 100 roi và sung dịch phu 3 năm, chủ sòng thì tài sản bị sung công, người tố giác được thưởng tất cả tiền mặt trong sòng và bắt mỗi người đánh bạc phải nộp thêm 10 lượng bạc để thưởng. Qua 1790 lại bổ sung lệnh cấm đánh bạc. Phàm quan quân dân thứ, ai phạm cấm thì cho hương trưởng sở tại bắt giải trị tội, cấp thưởng như lệ. Nếu vì tình mà dung túng bị người ta tố giác thì hương trưởng bị đánh 50 roi, sung dịch phu 6 tháng, lại thu 50 quan tiền để thưởng cho người tố giác. Đầu năm 1802 lại định rõ lệnh cấm cờ bạc ở Gia Định, ai đá gà chọi cá cũng phải tội.

Năm 1789 cấm phù thủy và đồng bóng, với lý do đó là tả đạo lừa dân. Kẻ nào phạm cấm, phù thủy thì xử 100 roi và sung dịch phu 6 tháng, cô đồng thì xử 100 roi và sung giã gạo 6 tháng. Lại ra lệnh cho bốn dinh bãi bỏ những nhân viên ở hai ty Pháp lục và Đạo sĩ cho sung bổ vào hai ty Xá sai và Tướng thần lại.

Năm 1789, định lệ cấm kẻ cướp. Ánh nghe trong dân gian có nhiều trộm cướp, quan quân cũng có người phạm tội ấy, dụ rằng “Từ nay kẻ nào phạm tội ăn cướp, hễ là quan quân thì không kể thủ phạm hay tòng phạm đều xử chém, cha mẹ vợ con cũng đều phải tội chết. Lại bắt tội đến người quản suất, xử 100 roi và xiềng sung dịch phu. Dân thì chỉ giết kẻ chính phạm, hương trưởng và oa chủ đều bị tội liên can như tội quản suất”, trừng trị kẻ cướp là quan quân nặng hơn dân một bậc. Đáng chú ý là những người như hương trưởng phải chịu trách nhiệm về nhân dân trong thôn mình, võ quan quản suất phải chịu trách nhiệm về quân sĩ dưới quyền mình, người tố giác lại được thưởng rất hậu, tóm lại là một cách thức quản lý theo kiểu liên đới chịu trách nhiệm khiến mọi người bất kể là quân hay dân đều phải kiểm soát lẫn nhau.

Năm 1790 định lệnh bắt trộm cướp, ra lệnh nếu dân bị trộm cướp thì quan công đường các dinh trong hai tháng phải bắt được bọn gian giải trị, truy thu tang vật trả dân, ngoài hạn đó mà không bắt được thì phải đền, kế ra lệnh cấm quân dân mang binh khí riêng. Năm 1793 định lệ thưởng người bắt trộm cướp, bắt được kẻ cướp thưởng tiền 100 quan, bắt được kẻ trộm thưởng tiền 50 quan, bắt được kẻ cắp thưởng tiền 25 quan.

Năm 1797 lại định lệnh bắt trộm cướp. Gia Định có nhiều bọn côn đồ vô lại cướp bóc trên bộ dưới nước, cũng có kẻ là quan quân. Nguyễn Ánh sai Tôn Thất Hội và Võ Tánh mật sai quan quân đêm đi tuần từ Cái Ngang đến rạch Thị Nghè, phàm bắt được trộm cướp và kẻ cắp có tang vật rõ ràng đều cho chém bêu đầu tại chỗ, không cần tâu bẩm. Kẻ phạm tội bị bắt thuộc chi hiệu nào thì người cai quản bị liên can.

Năm 1799, định rõ điều lệ phòng lửa và bắt trộm trong dân gian, trong đó quy định mỗi thôn phải lập một điếm canh dự bị những đồ cứu hỏa, không kể ngày đêm, nghe mõ báo hiệu thì phải giục nhau đi cứu. Người chủ nhà cháy thì giải lên quan trừng trị. Nếu có kẻ vì thù hằn mà đốt nhà thì lập tức đón bắt giải nộp, bắt được một tên phạm thì thưởng tiền 50 quan. Kẻ phạm thì chém bêu đầu (điều 1). Nếu có người bị cướp hô hoán, trưởng thôn phải lập tức đánh mõ đem dân tới bắt, bắt được cướp giải lên quan rồi chém ngay. Nếu không đến cứu, để nhà bị cướp mất của thì trưởng thôn và những nhà lân cận đều bị xử 90 roi, mà phải bồi thường cho chủ (điều 2). Trong thôn bị mất trộm, trưởng thôn đem dân bắt được thì kẻ phạm cũng bị chém bêu đầu, cũng thưởng như lệ. Nếu tha để nó lại đi ăn trộm, bị người ta bắt, thì nhà chứa chấp phải xử tội nặng, trưởng thôn xử 70 roi (điều 3). Trong thôn có họ hàng đến thăm phải trình trưởng thôn biết, đêm có việc báo động, người ấy phải tới điếm canh để điểm diện, nếu thiếu thì giải quan, tùy nặng nhẹ trị tội (điều 4). Các võ quan có nhà riêng trong thôn, nếu trong thôn bị cướp phải lập tức đem quân tới cứu, bắt được kẻ phạm thì thưởng theo lệ, nếu không tới cứu thì phải đo từ nhà mất cướp đến nhà riêng của viên võ quan ấy, nếu cách 10 thước trở lại thì phải đền của cải bị mất (điều 5). Quan quân hết phiên về quê, quân lính cùng ở với quản quan một nhà hay một ấp mà thả cho trộm cướp bị trưởng thôn bắt được giải quan, thì quản quan cũng bị tội lây (điều 6). Quân lính ban đêm đi việc công phải có tờ trát của quản quan, nếu có việc riêng khẩn cấp chỉ được đi một hai người, phải có đèn đuốc, qua thôn ấp phải tới điếm canh trình báo (điều 7). Quan quân ở làng từ Phó đội tới binh lính, ban đêm cũng phải tới điếm canh để điểm mục. Nếu xảy ra việc báo động, hễ nghe tiếng mõ, cũng đến điểm diện, ai thiếu thì cho trưởng thôn bắt nộp (điều 8).

Nhìn chung, việc giữ gìn trật tự trị an ở Gia Định thời gian 1788 – 1802 được chính quyền Nguyễn Ánh tiến hành khá nghiêm ngặt, không phân biệt quan quân dân thứ. Thậm chí năm 1789 còn có lệnh cấm quân sĩ làm bếp ở Nội trù và các nha không được cậy thế mua hiếp hàng hóa ở chợ búa, ai làm trái thì trưởng chợ bắt nộp, xử 100 roi và làm dịch phu 3 tháng.

Hoạt động tuyên truyền của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Giống như mọi vua chúa lúc gian nan “phục quốc”, Nguyễn Ánh rất có ý thức trong việc tuyên truyền vận động nhân dân. Việc tuyên truyền này nhìn chung gồm mấy nội dung chủ yếu là đề cao chính nghĩa của mình trong cuộc chiến chống Tây Sơn, kêu gọi nhân dân hết lòng trung nghĩa – ra sức cần vương và sau cùng là khẳng định tương lai tất thắng của triều Nguyễn “trung hưng”. Tất cả những lời kêu gọi của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định từ 1788 trở đi đều mang rõ ba nội dung ấy, ở đây giới thiệu vài trường hợp được ghi lại trong Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ.

Năm 1792, Nguyễn Ánh ra lệnh truy lục các tướng sĩ trận vong từ 1773 đến 1786, ban lời dụ rằng “Giúp vua đánh giặc là lúc thần tử lập công, nêu hiệu rạng danh là lệ triều đình báo đức. Kể từ buổi Tây Sơn nổi loạn, vận nước khó khăn, các tướng sĩ bỏ mình vì nước, kể biết bao người. Trước đây lập đền Hiển trung, phàm từ năm Đinh mùi (1787) xa giá trở về, như các tướng sĩ trận vong ở Mỹ Tho, Mỹ Lồng, Nước Xoáy, Bát Tiên, Giồng Sao, Giồng Triệu, Trấn Định, Ba Thắc thì đã liệt vào tự điển. Song nghĩ từ năm Quý tỵ (1773) về sau, năm Bính ngọ (1786) về trước, hoặc có kẻ ra trận mà mất, hoặc có người bị bắt mà chết, lúc bấy giờ ta còn tuổi trẻ, mới lên nối ngôi, việc nước hãy còn có chỗ chưa rõ, mà những bề tôi ra trận, sổ ghi công lại không khảo được, nếu nay không truy lục thì chẳng là phụ các trung thần ấy sao? Hỡi các thần liêu văn võ và tướng sĩ các dinh, trong khoảng trước sau mười bốn năm ấy ai có thể nhớ được trận đánh nào, ai chết về việc gì, không kể thân quyến bộ khúc, bè bạn cố cựu, cho được cứ thực ghi hết đưa lên bộ để bàn bao tặng, liệt thờ ở đền Hiển trung, ngõ hầu nêu được thịnh điển nhớ công”, thông qua đó khơi gợi lòng căm thù của gia quyến những tướng sĩ bị Tây Sơn giết chết, thôi thúc họ ra sức “cần vương”.

Trên đường hướng tập trung các lực lượng và tiềm năng xã hội cho cuộc chiến chống Tây Sơn, lời sắc văn ban hành nhân dịp Tết âl. năm 1793 lại kêu gọi quan quân dân thứ ở Gia Định làm tròn chức trách, dốc lòng trung nghĩa “Đạo trời một âm một dương, đạo người lúc loạn lúc trị. Nay vận nước nhân trời giúp, nguyện vọng hợp người theo, chính nghĩ như nhà Hạ khôi phục nghiệp cũ, nên đang mùa xuân ban bố mấy điều: Quan văn thì ở miếu đường mà mưu dẹp giặc, không cần đánh mà thắng được người, quan võ đem sức can thành mà chống giặc, ngăn chặn không cho giặc tiến lên, đều nên kính giữ quan châm, chớ sai quân pháp. Quân thủy gõ chèo quét giặc, gắng tập hơn nơi Côn Minh, quân bộ uốn cung bắn tài, phải luyện hơn đời Hiển Đức. Đó là quân thì mạnh khỏe thư thế, còn dân đông đúc thì sĩ nông công thương chuyên việc không nên biếng, ngư tiều canh mục chăm nghề mà phải siêng. Có của thường, có lòng thường, không ăn chơi, không lêu lổng. Phàm chơi là vô ích, sao hăng đánh cờ đánh bạc không chuyển làm hăng rửa thẹn trả thù? Chớ chơi đến quá lạm, sao cuộc chọi gà chọi cá không đổi làm cuộc đánh giặc giúp vua? Sắc dụ phải nghe, chớ sa lưới tội”, hướng tới xây dựng các chuẩn mực lối sống phục vụ tối đa cho lợi ích của chính quyền.

Ngày 26 tháng 3 năm Canh thân (19. 04. 1800), Nguyễn Ánh đại duyệt tướng sĩ ở đồng Tập Trận, ban chỉ dụ có đoạn “Mới đây ta lấy lại được Bình Định, cũng muốn xếp giáp nghỉ quân. Nhưng vì giặc l���i tới vây thành, không thể không đánh tan ngay đi. Ta sắp thân đem sáu quân, tiễu trừ đảng giặc, tướng sĩ đều nên cùng lòng gắng sức, đánh giặc lập công, để trên thì thỏa hồn tổ tiên, dưới thì hả giận dân chúng…”. Vào thời điểm này tương quan lực lượng giữa Nguyễn Ánh với Tây Sơn đã khác nhiều so với trước, nên Ánh đã có thể công khai nêu rõ mục đích phục thù của mình “trên thì thỏa hồn tổ tiên”. Cần lưu ý rằng bản chữ Hán của tờ chỉ dụ này trong Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chỉ là bản dịch tóm lược nguyên bản chữ Nôm, nên rất có thể nhiều chỉ dụ sắc lệnh khác của chính quyền Gia Định cũng được viết bằng chữ Nôm mới dễ đạt hiệu quả tuyên truyền đối với phần đông nhân dân ít học. Sau đây là đoạn nguyên văn tương ứng của đoạn trích nói trên, theo bản phiên âm của Phan Trần Chúc, Văn chương quốc âm về thế kỷ XIX, Khai Trí, Sài Gòn, 1960:

Vậy năm ngoái thu thành Bình Định, rất đỗi cần lao; Tưởng năm nay nghỉ chốn Đồng Nai, yên bề hưu đức.

Song liệu chừng thế nó, tướng phẫn binh tàn, hạ lăng thượng phế, dù chẳng đánh cũng lui; Nhân tính lại việc ta, đồn quân tích hướng, trữ súng tăng thuyền, phải sắm thêm mới mạnh.
Nên nỗi: Theo đường phú liễm; Nặng việc công sưu.

Dân thời cung cống lương tiền, nhịn mặc nhịn ăn, gian khổ ta đâu chẳng rõ; Quân thời tân cần chinh dịch, gắng công gắng sức, huân lao ta vốn không quên.
Trước tuy nhật xúc kinh doanh; Rày đã sẵn rồi chiến cụ.

Cũng muốn dưỡng uy súc nhuệ, trời Gia Định nghỉ ngơi cho khỏe, ngỡ chư quân đều được lạc sinh; Nào ngờ cùng khấu xương cuồng, lũy Bàn Xà vào vây, đời nghịch tặc tự lai tống tử.
Huống nó em phản anh, tôi phản chúa, lại thêm ngoại viện tăng vi, trường thành thất hiểm, tai phần sào đã quyết từ nay; Mà ta lương thì đủ, quân thì ròng, sẵn có tướng tài quy phụ, chư quốc liên binh, thế phá trúc chờ bao thủa nữa.

Cứ ấy: Vội vàng trục Bắc; Hăm hở bình Tây.

Trước là lo tôn xã mà phục thù, lăng tẩm một trời man mác; Sau là vị thần dân mà tiết phẫn, kẻo thương sanh khắp chốn than van.

Chính sách nông nghiệp của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất – kỹ thuật cho chiến tranh, trong thời gian 1788 – 1802 chính quyền Nguyễn Ánh đã bóc lột triệt để nhân dân Nam Bộ thông qua một chủ trương kinh tế cưỡng bức nông nghiệp và kiểm soát ngoại thương riết róng và chặt chẽ. Từ 1788, chính sách nông nghiệp cưỡng bức nhân công (kiểm tra dân số, cứ hai tráng đinh chọn một sung vào phủ binh, không việc thì làm ruộng, có việc thì làm binh) đã được thi hành ở Phiên Trấn. Năm 1789 đặt quan Điền tuấn, lấy 12 viên Hàn lâm viện Chế cáo là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh chuyên coi việc điền tuấn, chia đi bốn dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định khuyên bảo nông dân, cứ theo sổ đinh, từ phủ binh cho đến hạng cùng cố, đều phải gắng sức làm ruộng. Ai không làm ruộng thì sung thay chân phủ binh. Đến khi lúa chín, xét số thu hoạch, người nào cấy ruộng cỏ được 100 thúng thóc, cấy ruộng núi được 70 thúng thóc trở lên, phủ binh thì miễn một năm tòng chinh, dân đinh thì miễn một năm dao dịch. Không đạt số ấy thì không được hưởng lệ miễn. Lại mộ dân ngoại tịch lập làm điền tốt, thuộc về quan Điền tuấn, cấp cho ruộng hoang, trâu cày và nông cụ, nếu không đủ thì chính quyền cho vay, sau mùa gặt thì nộp thóc để trả nợ. Kết hợp với chính sách ngụ binh ư nông, chủ trương phát triển nông nghiệp vừa cưỡng bức vừa khuyến khích này trong thực tế cũng ít nhiều đẩy mạnh việc khai khẩn đất hoang ở đồng bằng Nam Bộ.

Năm 1790 định rõ lệnh khuyến nông, dụ rằng “Việc gốc của thiên hạ là làm ruộng, không thể hoãn được. Nay giặc giã mới yên, thuế má chưa đủ, quan công đường các dinh nên khuyên bảo các phủ binh và dân làng trong hạt hết sức chăm nom ruộng nương, đừng nên lười biếng. Người siêng năng làm ruộng thì dao dịch đều miễn, nếu quan quản suất và xã trưởng dám bắt người làm việc riêng thì có tội. Ngày lúa chín, quan Điền tuấn đến khám số thu hoạch, so với năm trước thêm bớt thế nào thì tâu lên”. Năm 1796 lại ra lệnh khuyến nông, dụ quan công đường các dinh rằng “Nghề nông là gốc của nước, ăn có đủ thì quân mới mạnh, cho nên người xưa đi thăm dân cày, đi thăm dân gặt, là cốt khuyên dân biết chăm việc gốc. Nay đang mùa làm ruộng, nên dụ bảo cho quân dân trong hạt, hết sức chăm việc làm ruộng, ai không ruộng thì mướn ruộng mà cày. Lý dịch sở tại đều phải biên sổ, đợi khám để phân biệt kẻ siêng người lười”. Năm 1799 ra lệnh cho các dinh ở Gia Định khuyến khích việc làm ruộng, dụ rằng “Nghề nông là gốc của nước, sự ăn trọng nhất của dân. Gần đây đã nhiều lần có lệnh khuyến nông, nhưng nhiều người còn thích theo đuổi nghề ngọn mà chưa chăm nghề gốc. Những dân ăn chơi chưa chịu về hết làm ruộng. Vậy hạ lệnh cho các dinh thần đi khắp các huyện và làng ấp mà thân hành khuyến khích, khiến mọi người siêng năng làm việc, đừng tiếc công làm cỏ, để có thể hát mừng thóc lúa đầy kho”. Phương thức bóc lột đẩy nhanh sự kết thành phương thức sản xuất tương ứng, điều này ít nhiều có tác động tốt tới sự cố kết xã hội người Việt ở Nam Bộ, song trên phương diện kinh tế thì chủ trương khuyến nông nói trên cho thấy Nguyễn Ánh muốn sự cố kết ấy chỉ đặt nền tảng trên hoạt động sản xuất nông nghiệp, chứ không muốn nhân dân “theo đuổi nghề ngọn” mà chia sẻ các lợi ích thương nghiệp với chính quyền.

Không thấy tư liệu nào đề cập tới việc chính quyền chỉ đạo về giống lúa, nhưng việc bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp thời gian trước 1802 rất được chính quyền Nguyễn Ánh coi trọng. Năm 1789 ra lệnh cấm giết trâu, kẻ nào phạm lệnh cấm, quan thì bãi chức, dân thì xử 100 roi và sung dịch phu. Đến 1799 lại nêu rõ lệnh cấm giết trâu, dụ rằng “Nhân dân cày bừa ruộng nương, nhà nước chứa cất kho tàng, đều nhờ sức trâu. Trước đã có lệnh nghiêm cấm mà thói quen vẫn chưa trừ, cứ mượn tiếng cúng tế hát xướng để giết trâu cầu lợi, đó là điều người nhân giả rất thương. Nay lại nêu rõ lệnh cấm, phàm quan văn từ Lục bộ đến công đường các dinh, quan võ từ Chánh Phó dinh đến Thống đồn, Chánh vệ, Trưởng chi, hễ có lễ lớn cần dùng thái lao thì phải bẩm trước, còn đều cấm hết, ai phạm cấm thì trị nặng. Đến như nơi chợ búa ở dân gian có phạm thì xử 70 trượng và thu tiền 10 quan thưởng cho người tố cáo. Quan sở tại không xét biết cũng bị tội lây”.

Ngoài ra từ 1789, Nguyễn Ánh đã có ý định thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông”, tức tổ chức sản xuất nông nghiệp theo kỷ luật quân sự, theo đó một số nông dân được ghi tên vào binh tịch, có việc thì đánh trận, không có việc thì làm ruộng. Sử chép giữa năm ấy, sai nhân viên và quân lính các chi hiệu đội thuyền thuộc các dinh quân thủy bộ, do quan sở quản kén lựa cho tinh từ Trưởng chi đến Đội trưởng để định làm thực số, người nào không được kén thì cùng với thuộc binh các nha mà biệt tinh biệt nạp (tính riêng nộp riêng), bổ hết về các địa phận để liên lạc với nhau, lại sai quan chia đi kén lựa, chọn những người tinh nhanh mạnh khỏe đặt làm phủ binh bổ vào các chi hiệu đội của các dinh quân, nếu không đủ thì lấy phủ binh ngạch cũ và dân đinh sung bổ vào. Khi không việc thì về làm ruộng, mùa màng xong thì tập võ, có việc thì gọi ra (Trung quân thì ghi sổ thuộc dinh Phiên Trấn, Tả quân thuộc tổng Kiến Đăng dinh Trấn Định và tổng Bình An dinh Vĩnh Trấn, Hữu quân thuộc tổng Kiến Hưng dinh Trấn Định, Hậu quân thuộc hai tổng Bình Dương và Tân An dinh Vĩnh Trấn, dinh Tiên phong thuộc tổng Kiến Hòa dinh Trấn Định. Duy dinh Tiền quân thì lúc ấy đang giữ Bà Rịa, chưa kịp kén bổ).

Năm 1790 bắt đầu đặt đồn điền, dụ các quan văn rằng “Đạo trị nước, trước hết phải cho đủ ăn. Nếu thóc nhiều của thừa thì việc gì chẳng nên? Bốn dinh Gia Định đất đai rất rộng. Trước kia việc quân chưa xong, đói kém xảy ra luôn, đến nỗi ruộng vườn bỏ hoang, dân chưa ra sức việc nông, của nước lương quân còn chưa đầy đủ. Đồn điền là phép hay đời xưa, nay muốn cử hành mà chưa nắm được chỗ cốt yếu. Các khanh vốn có mưu xa kinh quốc, ở ngôi mình tất phải tính việc mình, đều nên điều trần quy thức, viết thành tập riêng tiến trình, trẫm sẽ chọn những điều hay mà đem thi hành”. Rồi ra lệnh cho các đội túc trực và các vệ thuyền dinh Trung quân ra vỡ ruộng ở Vàm Cỏ, đặt tên là trại Đồn Điền, cấp cho trâu bò điền khí và thóc ngô đậu giống. Đến ngày thu hoạch đem hết về kho (tức kho Trừ Tích, sau đổi làm kho Đồn Điền). Lấy Cai cơ hiệu Tiền dực là Nguyễn Bình trông coi việc ấy. Lại hạ lệnh cho các nha văn võ mộ người lập các đội nậu đồn điền, hàng năm thu thóc sưu mỗi người 6 hộc. Dân thực nạp ai mộ được mười người trở lên thì cho làm Cai trại và rút tên khỏi sổ của thôn. Biện pháp đồn điền sai quân đội làm ruộng để tận dụng nhân lực của quân đội này trong thực tế cũng đẩy nhanh tốc độ khai hoang ở Nam Bộ ngoài việc tích lũy sức mạnh kinh tế cho Nguyễn Ánh.

Chính sách thương nghiệp của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Trong thời gian 1788 – 1802, chính quyền Nguyễn Ánh thực thi một chính sách kinh tế quân quản, biến toàn bộ đồng bằng Nam Bộ thành một căn cứ quân sự khổng lồ vừa là cơ sở hậu cần vừa là trại lính, nên ngoài việc bóc lột bộ phận cư dân nông nghiệp, họ còn tiến hành nhiều biện pháp nhằm vơ vét tối đa các khoản lợi nhuận thương nghiệp để phục vụ chiến tranh. Chính sách thương nghiệp trong đó nổi bật là chính sách kiểm soát ngoại thương của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian này đã hình thành trên đường hướng ấy.

Đầu năm 1789 ra lệnh cấm thuyền buôn nước ngoài chở trộm vật cấm. Phàm thóc gạo, kỳ nam, trầm hương, ngà voi, sừng tê đều cấm, ai dám mua bán riêng các thứ ấy thì xử 100 roi và xiềng sung dịch phu 3 năm, tài sản sung công. Người được sai phái không kiểm xét ra cũng chịu tội như thế. Ai tố cáo đúng sự thật thì được thưởng 300 quan. Đến giữa năm ấy lại chuẩn định từ nay thuyền buôn của người Thanh nếu chở tới bốn thứ sắt, gang, kẽm, lưu huỳnh thì chính quyền mua hết, lại theo số hàng nhiều ít để định cấp bậc mà chước tha thuế cảng và cho đong gạo chở về nước nhiều ít khác nhau (Phàm bốn thứ ấy chở được 10 vạn cân là hạng nhất, miễn thuế cảng, cho chở gạo về 30 vạn cân, chở được 6 vạn cân là hạng nhì, cho chở gạo về 22 vạn cân, chở được 4 vạn cân thì cho chở gạo về 15 vạn cân, thuyền nào không đủ số trên thì cứ 100 cân hàng được chở gạo về 300 cân, thuế cảng vẫn nộp như thường).

Năm 1790 cấm thuyền buôn không được đi qua các đạo thủ Quang Hóa, Tuyên Uy, Thông Bình (ở Tây Ninh và khu vực Mộc Hóa, Long An hiện nay) để sang buôn ở Chân Lạp. Thủ ngự sở tại ai dám ăn hối lộ tự tiện cho qua thì xử theo quân pháp. Năm 1791, sứ bộ Chân Lạp do Ốc nha Tha La Ma và Ốc nha Sa Thi Chân Lạp dẫn đầu qua Việt Nam lợi dụng hộ chiếu ngoại giao buôn bán, đem theo 14 thuyền và hơn 170 người. Dinh thần Vĩnh Trấn báo lên. Nguyễn Ánh sai dẫn hết về Gia Định bái yết. Khi trở về, ban cho rất hậu nhưng sau đó sắc cho đạo Tân Châu “Từ nay có sứ Chân Lạp đến thì chỉ cho hai chiếc thuyền chở Chánh Phó sứ theo sông Tiền Giang tiến vào, còn bao nhiêu thì lưu hết ở thủ sở. Như có muốn sang buôn bán thì cho theo sông Hậu Giang ở Châu Đốc mà đi, không được trái vượt”.

Năm 1795 chuẩn định thuyền buôn đi Phnom Penh, Long Xuyên, Kiên Giang, Hà Tiên, Chantaboun buôn bán thì do Lại bộ Nguyễn Bảo Trí cấp bằng đóng dấu triện Thông hành thủ tín để phòng sự giả mạo.

Năm 1796 định lệ thuế cảng và lễ cho thuyền buôn của người Thanh, cũng quy định “Phàm hàng hóa trên thuyền nếu có vật gì quan hệ đến binh dụng như chì, sắt, đồng, diêm tiêu, lưu hoàng thì nộp cho quan, trả tiền đúng giá, nếu mua bán riêng thì có tội”.

Năm 1796 chuẩn định lệ thuế đối với thuyền buôn người Trung Quốc, người Anh mua ngà voi, sừng tê, đậu khấu, sa nhân (Tào vụ chiếu theo số cân và giá khai của người Minh Hương, cứ giá mua 100 quan thì chiết thu 5 quan tiền thuế). Cần lưu ý rằng mặt hàng sừ
ng tê bị cấm năm 1789 đến lúc này đã được xuất khẩu, và cơ quan Tào vụ chỉ dựa vào bảng báo giá của người Minh Hương để thu thuế, điều này ít nhiều cho thấy vai trò của bộ phận thương nhân người Hoa trong hoạt động quản lý ngoại thương của chính quyền Gia Định.

Năm 1797 chuẩn định thuyền buôn Xiêm qua buôn bán, hạng thuyền lớn phải chở 30.000 cân sắt, hạng trung 20.000 cân, hạng nhỏ 10.000 trở lên, còn diêm tiêu thì không kỳ nhiều ít, đều nộp vào quan, theo giá trả tiền rồi mới cho mua các thứ sản vật thổ nghi như tơ vải, nếu không thì cấm không cho mua.

Nhìn chung đó là một đường lối ngoại thương mở cửa ít nhiều có những tác động tốt tới sự phát triển của thương cảng Sài Gòn. Felippe do Rosario tức Philipphê Bỉnh, một giáo sĩ dòng Tên người Việt Nam đương thời từng ghi nhận trongTruyện nước An Nam Đàng Ngoài chí Đàng Trong, quyển nhị (Truyện nước An Nam Đàng Trong), tài liệu viết tay bằng chữ quốc ngữ la tinh từ 1822, hiện lưu trữ ở Văn khố Tòa Thánh Vatican – Biblioteca Apostolica Vaticana, tr. 664 – 665 rằng “… Người thành Ma Cao có kính chuộng nhà Nguyễn (chỉ Nguyễn Ánh – CTT.) cũng sang buôn bán, mà đong gạo, cùng mua cá khô nước ngọt, vì hai giống ấy thì trong Đồng Nai dư dật. Lại giống gỗ thơm, ngà voi, hồ tiêu (thiếu vài chữ), lông chim thì lắm… Chẳng những là các tàu Macao chở đầy những gạo, mà lại nhiều tàu Đại Minh (chỉ Trung Quốc) cùng nước khác cũng đến buôn bán”. Tuy nhiên, là một bộ phận của chính sách kinh tế phục vụ chiến tranh, chính sách thương nghiệp của chính quyền Nguyễn Ánh cũng thường xuyên được điều chỉnh nhằm phục vụ các hoạt động quân sự. Chẳng hạn tháng 9 âl. năm 1795 Nguyễn Ánh ra lệnh cấm thuyền buôn nước ngoài thu mua vải lụa, nói với Phạm Văn Nhân “Vải lụa là vật thổ sản của ta, rất cần cho nhân dân, nên để trao đổi với nhau trong nước mà dùng cho đủ, nếu tham lợi mà bán ra nước ngoài thì giá ngày một đắt, khiến rét không có áo, chẳng hóa ra lợi ít mà hại nhiều sao. Từ nay hễ thuyền buôn người Thanh ra khỏi cảng hễ chở tơ sống 5 cân, vải lụa 5 tấm trở lên đều cấm, làm trái thì cho tấn thủ bắt giải trị tội”, thì qua tháng 10 âl. đã có lệnh thu vải trắng của dân trại đồn điền nộp thay thuế để may áo chiến cho quân sĩ (mỗi người nộp một tấm vải trắng trị giá 2 quan 5 tiền, khấu trừ vào tiền thuế năm sau). Hay như Gia Định vốn là nơi xuất khẩu lúa gạo, nhưng đầu năm 1802 do nhu cầu quân lương tăng cao, Nguyễn Ánh sai chở 10.000 phương gạo từ Gia Định tới Thi Nại, lại sắc cho Lưu trấn thần Gia Định sai người đi mua 500 xe thóc ở Xiêm và thu 1.000 xe thóc ở Chân Lạp để chở cấp cho quân.

Hoạt động ngoại thương của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Ngoài việc quản lý xuất nhập khẩu, cuối thế kỷ XVIII chính quyền Nguyễn Ánh cũng tiến hành một số hoạt động mang tính chất độc quyền nhà nước về ngoại thương, đặc biệt là đối với một số mặt hàng được nước ngoài ưa chuộng. Có lẽ chính quyền cũng trực tiếp đứng ra mua bán những hàng hóa quý hiếm loại ngà voi, sừng tê, đậu khấu, sa nhân, yến sào, trầm hương… nhưng sử sách chỉ ghi họ kinh doanh một số mặt hàng dễ bán mà cũng dễ thu gom như thóc gạo, đường cát. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép năm 1789 sai dinh Trấn Biên đặt mua đường cát, mỗi năm lấy 10 vạn cân làm hạn, cứ số đường 100 cân thì phát trước tiền công cho 10 quan. Đến ngày nộp đường cho nhà nước thì theo giá chợ mà cấp thêm, để sẵn mà đổi cho người Tây Dương lấy binh khí. Đến 1796 lại đặt mua đường cát ở Trấn Biên, cứ 100 cân đường giá 9 quan. Dụ quan công đường rằng “Đường cát dùng để đổi mua binh khí, đang cần, không bắt sản xuất không được, cho nên phải phát vốn trước để trưng mua. Thế là công tư đều lợi, không phải vét lợi của dân mà làm lợi cho nhà nước đâu. Nên thông dụ cho các đường hộ biết”. Cần lưu ý rằng so với 1789 thì giá đường năm 1796 đã giảm ít nhất là 10%.

Đặc biệt, chính quyền Gia Định còn có một hệ thống trực tiếp làm việc mua bán với nước ngoài trực thuộc Nội viện. Bộ phận này được tổ chức thế nào thì những tài liệu hiện có đều không nói rõ, tuy nhiên nhân viên Nội viện của chính quyền Gia Định hoạt động khá sôi động, gần như năm nào cũng ra nước ngoài mua hàng hóa. Theo tên họ chép trongĐại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ có thể thấy phần đông nhân viên thuộc bộ phận này là người Hoa: Trịnh Tân Tài, Chu Văn Quan, Trần Thụy Quan, Chu Văn Yên, Trần Vũ Khách, Tăng Quang Lư, Dư Hải Quan, tóm lại là một loại “quan thương” (thương nhân của chính quyền). Song mặc dù năm nào cũng được phái đi công cán khắp vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Quảng Đông, Indonésia, Goa, Malacca, Malaysia… để mua hàng hóa, súng đạn, sách vở, những người này lại hoàn toàn không được kể tên trong mục Chư thần liệt truyện của bộ Đại Nam Chính biên Liệt truyện sơ tập. Cho nên có lẽ họ không thuộc biên chế chính thức của chính quyền mà chủ yếu là những thương nhân lớn có vốn liếng nhiều, quan hệ rộng được trưng tập nhất thời để thực hiện một số thương vụ ít nhiều mang tính chất bí mật của chính quyền hay phục vụ sinh hoạt riêng của hoàng gia. Sau đây là một số chuyến xuất dương mua hàng cho chính quyền trong đó chủ yếu là nhân viên Nội viện thực hiện được ghi lại trong Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ:

Năm 1788 sai Nội viện Trịnh Tân Tài và Chu Văn Quan đi Singapore tìm mua súng đạn và lưu hoàng, diêm tiêu để dùng vào việc binh.

Năm 1789 sai Nội viện là Trần Thụy Quan và Chu Văn Yên sang Quảng Đông mua hàng hóa.

Năm 1790 sai Nội viện Trần Vũ Khách đi Jakarta (Indonésia) tìm mua đồ binh khí.

Năm 1793 sai Cai đội Quàng Nói Vè, Đội trưởng Ba Đơ Chê (đều là người Tây) sang Goa và Malacca tìm mua binh khí.

Năm 1796 sai bọn Nội viện Chu Văn Yên sang Trung Quốc mua sách và hàng hóa, cuối năm ấy lại sai Cai đội Ba Lang Hy và Ba La Di đi Singapore mua binh khí.

Năm 1797 sai bọn Nội viện Tăng Quang Lư sang Johore (phía nam bán đảo Malaysia) tìm mua binh khí.

Năm 1798 sai Cai phủ tào Chính dinh Dư Hải Quan đi Singapore tìm mua binh khí, cũng năm ấy lại sai Khâm sai Thuộc nội Vệ úy Olivier đem thuyền Thanh tước đi Singapore tìm mua binh khí.

Năm 1796, thấy Nguyễn Ánh ban cho Tiền quân Tôn Thất Hội “ba cây gấm hoa nho sóc”, motif nho sóc này là của phương Tây, theo đó đủ biết trong những lần đi mua hàng hóa ở nước ngoài, Nội viện của Nguyễn Ánh cũng kết hợp mua một số mặt hàng tiêu dùng “cao cấp”.

Chính sách thuế má của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Giống như thời Đàng Trong, hệ thống thuế má của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802 cũng gồm hai loại là chính cung (các loại thuế đánh vào nông nghiệp, thủ công nghiệp, khai thác nguồn lợi tự nhiên, thương nghiệp, dịch vụ và thuế thân…) và thị nạp (tức các món thóc gạo, đồng thiếc, mây gỗ, hạt cau… không thuộc thuế chính cung nhưng dân phải nộp) đồng thời cũng gồm hai hình thức là thuế hiện vật và thuế tiền mặt. Tuy nhiên khác với thời Đàng Trong, đây là một chính sách thuế má tận thu, vơ vét tất cả những gì có thể vơ vét được, khiến trong thực tế đại bộ phận nhân dân cho dù có điền sản cũng chỉ là một loại người làm công cho chính quyền.

Năm 1789 định lệ thuế cho các ty biệt nạp về trừu nam, lĩnh mộc, lĩnh thâm của Nội viện (trừu nam mỗi năm thu mỗi người 1 tấm dài 30 thước quan đồng, khổ 7 tấc, nặng 1 cân, lĩnh mộc mỗi người 1 tấm dài 22 thước, khổ 7 tấc, nặng 6 lạng, lĩnh thâm mỗi người 1 tấm dài 20 thước, khổ 7 tấc, thuế sai dư mỗi người nộp 1 quan 1 tiền). Nhưng năm 1796, lúc quân Nguyễn đang ráo riết đánh ra miền Trung, quân phí tăng lên, chính quyền Gia Định lại đổi định lại lệ thuế sai dư của dân biệt nạp, đổi định mỗi người đều 3 quan.

Đầu 1790 định lệ thuế thuyền nghề cá (thuyền trong lòng rộng 6 thước trở lên là hạng nhất, tiền thuế 10 quan, 5 thước trở lên là hạng nhì, tiền thuế 7 quan 5 tiền, 3 – 4 thước trở lên là hạng ba, tiền thuế 5 quan).

Cuối 1790 sai Cai cơ Thuận Thành Nguyễn Văn Hào quản ba sách Man là Chử Châu, Trà Dương Đại, Trà Dương Tiểu để thu nộp thuế hương (trầm hương, kỳ nam). Cũng năm này định lệ phụ thu về thuế ruộng, cứ 1 hộc thóc thuế thì phụ hao thêm 1 thưng (10%).

Năm 1796 định lệ thuế cảng và lễ cho thuyền buôn của người Thanh, “thuyền Hải Nam tiền thuế 650 quan, lễ cho Cai tào sa mặc mát 6 cây, hàng tơ màu 12 tấm, tiền xem
cơm 60 quan, thuyền Triều Châu tiền thuế 1.200 quan, lễ cho Cai tào sa mặc mát 8 cây, hàng tơ màu 15 tấm, tiền xem cơm 80 quan, thuyền Quảng Đông tiền thuế 3.300 quan, lễ cho Cai tào sa mặc mát 12 cây, hàng tơ màu 25 tấm, tiền xem cơm 100 quan, thuyền Phúc Kiến tiền thuế 2.400 quan, lễ cho Cai tào sa mặc mát 10 cây, hàng tơ màu 20 tấm, tiền xem cơm 60 quan, thuyền Thượng Hải tiền thuế 3.300 quan, lễ cho Cai tào sa mặc mát 15 cây, hàng tơ màu 25 tấm, tiền xem cơm 100 quan”. Cần chú ý rằng ngoài khoản tiền thuế chính thức, ở đây còn có những khoản phụ thu lễ cho Cai tào, tiền xem cơm…, xem ra Nguyễn Ánh cũng muốn trút một phần gánh nặng lương bổng cho quan lại của mình lên lưng các thương nhân nước ngoài.

Năm 1796 định điều lệ nấu rượu, phàm lò nấu rượu bất kể lớn nhỏ thế nào hay sản xuất bao nhiêu, cứ mỗi lò một năm phải nộp 200 quan tiền thuế, các quan văn võ cấp thấp từ Cai đội, Đội trưởng, Câu kê, Cai hợp xuống tới quân dân đều được lãnh nấu, nhưng phải nộp tiền thuế trước mới được cấp bằng đóng dấu triện Dữ dân đồng lợi. Ở đây có một sự trùng hợp đáng lưu ý, là cuối thế kỷ XIX chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ cũng dùng đúng cách thức thu thuế trước cấp giấy phép sau này. Gia Định báo số 48 ra ngày 30. 12. 1882 có đăng tải một thông báo của chính quyền thuộc địa ngày 25. 11. 1882 về việc đăng ký bán rượu gạo nhan đề Cuộc rượu nếp, nội dung như sau “Những người muốn lãnh bảng lập tiệm bán rượu lớn trong kỳ ba tháng đầu năm 1883, đều phải làm đơn do nơi các người hay tiệm trữ, gởi cho trường quan thuế trước ngày mồng 10. 12. Ai lãnh được thì đóng thuế trước ngày 31. 12. Những bảng các tiệm bán rượu lẻ, cùng là những bảng các người đi bán dạo trong kỳ ba tháng đầu năm 1883, sẽ cấp phát từ ngày mồng 10 cho tới ngày 25. 12. Các người bán tiệm nhánh bây giờ, muốn lãnh giấy mới, thì phải giao giấy cũ, cùng phải đóng thuế trước. Về các tiệm mới cũng có lẽ phát giấy riêng cho”. Chưa rõ vào thế kỷ XVIII chính quyền Pháp có thi hành biện pháp này không, nhưng năm 1819, Chaigneau và Vannier từng nói với một người Anh tới Huế rằng Pigneau đã dịch nhiều đoạn của bộ Larousse và nhiều sách khác về hành chính của Pháp cho Nguyễn Ánh đọc.

Đặc biệt, Nguyễn Ánh còn thực hiện một biện pháp khá hiệu quả là thu thuế trước, chẳng hạn cuối 1794 sai bốn dinh ở Gia Định và dinh Bình Khang thu trước tô thuế của năm Ất mão 1795, cuối 1795 sai thu vải trắng của dân trại đồn điền bốn dinh ở Gia Định để may áo chiến cho quân sĩ (mỗi người nộp một tấm vải trắng trị giá 2 quan 5 tiền, trừ vào tiền thuế năm Bính thìn 1796), lại sai dinh Bình Thuận thu trước tiền thuế sai dư của năm Bính thìn 1796, cuối 1796 sai bốn dinh ở Gia Định thu trước thóc thuế của năm Đinh tỵ 1797, cuối 1798 thu trước thuế tô của năm Kỷ mùi 1799, cuối 1799 sai bốn dinh ở Gia Định và các dinh Bình Khang, Bình Thuận thu thuế trước của năm Canh thân 1800…

Chính sách tiền tệ của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Như đã nói ở trên, cuối thời Đàng Trong nạn đúc trộm tiền giả lan tràn, người đúc trộm tham lời nên pha nhiều chì, đồng tiền lại mỏng dễ bị hư hỏng, tình hình này dẫn tới hậu quả là đến 1788 vùng Nam Bộ thiếu tiền mặt nghiêm trọng. Cho nên năm 1789 chính quyền Nguyễn Ánh ra lệnh cấm chọn tiền (phàm quan thu thuế và chợ búa đổi chác, đồng tiền không kể sứt mẻ, hễ còn có thể xâu lạt được đều cho thông dụng, ai chọn bỏ thì bị tội), chính là để đối phó với tình hình nói trên.

Năm 1796 bắt đầu đúc tiền Gia Hưng thông bảo. Nhưng Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép đến 1798 chính quyền Gia Định mới định lệ đúc tiền, cứ 100 cân kẽm đúc thành 35 quan, mỗi quan nặng 1 cân 14 lượng, sai Tri Đồ gia là Cáp Văn Hiếu và Nguyễn Thành Chẩn mộ người Thanh đúc. Gia Định thành thông chí đoạn chép về chợ phố Bến Sỏi có ghi rõ đầu phía tây phố (nay tại số 1 Bến Chương Dương, quận 1) có Chú tiền cục dựng năm 1796. Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho biết tại Ba Thắc (cù lao xã Lục Sĩ Thành huyện Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long) có lò đúc tiền kẽm của người Hoa. Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong cho biết tại cù lao Cổ Chiên (tức cù lao Lương Hòa tỉnh Trà Vinh) cũng có lò đúc tiền… Vào thời gian kết thúc nội chiến, chính quyền Nguyễn Ánh cần rất nhiều quân phí, nên việc phát hành một loại tiền mới như thế rõ ràng là chấp nhận lạm phát cục bộ để thu mua lương thực, hàng tiêu dùng và binh khí cho quân đội. Đáng nói là triều Tây Sơn chỉ đúc bốn hiệu tiền là Thái Đức thông bảo (có 3 loại Thái Đức thông bảo mặt sau trơn, Thái Đức thông bảo kích thước nhỏ, vành to, chữ nhỏ, mặt sau trơn, Thái Đức thông bảo mặt sau có chữ “vạn tuế”), Quang Trung thông bảo (có 6 loại Quang Trung thông bảo mặt sau trơn, Quang Trung thông bảo kích thước nhỏ, vành to, chữ nhỏ, mặt sau trơn, Quang Trung thông bảo mặt sau có chữ “nhất”, “nhị”, “công”, Quang Trung thông bảo mặt sau có bốn hoa văn hình vành khăn trở ra hoặc trở vào, Quang Trung đại bảo với chữ “bảo” viết tắt, Quang Trung thông bảo đúc vội, hư khuôn nhưng lại tuồn ra thị trường. Hai loại sau rất ít gặp), Cảnh Thịnh thông bảo (Cảnh Thịnh thông bảo mặt sau trơn, Cảnh Thịnh thông bảo kích thước nhỏ, vành to, chữ nhỏ, mặt sau trơn. Ngoài ra Nguyễn Quang Toản còn đúc đồng Cảnh Thịnh thông bảo dùng để thưởng, mặt sau có hình rồng mây), Bảo Hưng thông bảo và chỉ đúc toàn tiền đồng (đồng thau hoặc hợp kim đồng thau), nhưng trong thực tế có tiền Thái Đức thông bảo và Cảnh Thịnh thông bảo bằng kẽm với nhiều điểm tương tự tiền Gia Hưng thông bảo. Các loại tiền kẽm Tây Sơn thường lẫn lộn với tiền kẽm Đàng Trong, hay gặp ở Nam Bộ. Do đó có nhà sưu tập nghi ngờ những đồng tiền này là do Nguyễn Ánh đúc giả. Đáng chú ý là trong thời gian Nguyễn Nhạc đúc tiền Thái Đức (1775 – 1793) thì Tây Sơn còn quyền lực tại Nam Bộ, nhưng khi Nguyễn Huệ đúc tiền Quang Trung (1788 – 1792) và Nguyễn Quang Toản đúc tiền Cảnh Thịnh (1792 – 1800) thì quyền lực Tây Sơn chỉ còn có ở vùng Trung Bắc, nhưng các loại tiền này vẫn được đưa vào Nam Bộ, sử dụng chung với tiền thời các chúa Nguyễn.

Năm 1802, Gia Long diệt nhà Tây Sơn, sau đó triều Nguyễn nhiều lần ra lệnh tiêu hủy tiền Tây Sơn, thống nhất tiền tệ, nhưng lệnh này không được thi hành triệt để, do đó đến đầu thế kỷ XX tiền Tây Sơn vẫn còn lưu hành trong dân gian.

Chính sách thủ công nghiệp của chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định thời gian 1788 – 1802

Nhìn chung về thủ công nghiệp thì chính sách của chính quyền Nguyễn Ánh cũng theo đường lối tận dụng nhân lực và cưỡng bức nhân công, đại thể bao gồm hai nội dung: một là tập trung thợ khéo thuộc các nghề nghiệp có thể phục vụ quân sự như thợ rèn, thợ súng, thợ bạc vào các ty cục để trực tiếp chế tác phục vụ chính quyền, hai là ra sức tận thu nguồn hàng hóa là sản phẩm thủ công nghiệp như vải lụa, dầu tràm, dầu rái, buồm lá để đáp ứng nhu cầu của quân đội. Một số ngành nghề khai thác nguồn lợi tự nhiên cũng bị tận dụng theo đường hướng này, chẳng hạn các đội Tân sài (lấy củi), nậu dây mây, nậu sáp ong vân vân thường được tổ chức theo kiểu biệt nạp, có lẽ chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của triều đình và hoàng gia.

Năm 1790 ra lệnh cho hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn mộ người lập các nậu biệt nạp (Nậu dầu rái mỗi người mỗi năm nộp 8 vò. Nậu dầu tràm mỗi người nộp 800 cân, đèn nến lớn mỗi người nộp 1 cây dài 4 thước, lưng tròn 1 thước 2 tấc, nến nhỏ 40 cây. Nậu mây sắt mây nước, mỗi người nộp 14.000 sợi, mỗi sợi dài 7 thước, bề ngang 3 phân. Nậu lá buôn mỗi người nộp 4.000 lá. Nậu buồm lá mỗi người nộp 80 bó, thuế thân thì nộp theo lệ thường, dao dịch đều miễn).

Năm 1793 định thuế chiếu cho các dinh Phiên Trấn và Vĩnh Trấn (thôn Tân Cơ ở Phiên Trấn, thôn An Tịch ở Vĩnh Trấn mỗi năm phải nộp chiếu các hạng 185 đôi).

Cuối năm 1791, sai Tri Đồ gia là bọn Phan Văn Tào, Trịnh Phúc Thường, Nguyễn Quang Diệu kén chọn trong 62 ty các cục tượng lấy những người tinh xảo bổ làm các chức Cai đội, Cai quan, Ty quan, Thủ hợp thứ bực khác nhau (Chính dinh: Ty thợ mộc, Ty thợ làm nhà, Ty thợ chạm bạc giỏi ở Nội viện, Ty thợ chão, Ty thợ tiện nội, Ty thợ cưa, Ty thợ bạc nội, Ty thợ bạc ở cơ Tả trung, Ty thợ bạc ở cơ Hữu trung, Ty thợ đúc, Ty thợ may nội, Ty thợ thêu nội, Ty thợ sơn nội, Ty thợ sơn, Ty thợ nhuộm nội, Ty thợ khắc ty (dệt hoa), Ty thợ vẽ, Ty thợ lọng nội, Ty thợ the, Ty thợ giày nội, Ty thợ thếp vàng ở Nội viện, Ty muội đèn thuộc Đồ gia. Dinh Vĩnh Trấn: Ty thợ mộc, đội xẻ ván nhất, đội xẻ ván nhị, Ty thợ rèn, Ty thợ sơn, Ty thợ nhuộm. Dinh Phiên Trấn: Ty thợ súng, Ty thợ Mậu tài (làm dây thép, dây đồng, kim khâu), Ty thợ đúc, Ty thợ đúc mới, Ty thợ sơn, Ty thợ nhuộm, Ty thợ giày ngoại, Ty thợ tiện, Ty thợ đắp tượng, Ty thợ thiếc, Ty thợ lược, Ty thợ mài, Ty thợ đồ ngựa, Ty thợ bút, Ty thợ gương, Ty thợ khắc chữ, Ty thợ mành, Ty thợ đồi mồi, Ty thợ lồng đèn, Ty thợ ngói mộc, Ty thợ ngõa, Ty thợ lò gạch, Ty thợ lò vôi, Ty thợ lò chạm, hai Ty thợ giấy sắc, Ty thợ giấy. Dinh Trấn Biên: Ty thợ bạc, Ty thợ đúc, Ty thợ nhuộm, Ty trường sắt, nghề trường sắt, xã trường sắt, phường thợ sắt, Ty thợ sắt). Cần lưu ý rằng trong các ty cục nói trên thì Chính dinh và dinh Phiên Trấn có nhiều hơn cả, rõ ràng từ cuối thế kỷ XVIII Sài Gòn đã trở thành trung tâm thủ công nghiệp của toàn vùng Nam Bộ.

Quy chế làm việc của các ty cục thuộc Đồ gia này được xây dựng khá sớm, từ 1790 đã có lệnh sai thợ rèn, thợ súng, thợ bạc phàm thuộc về Đồ gia thì chia làm hai phiên, thuộc về bốn dinh thì chia làm bốn phiên, mỗi tháng đổi phiên một lần. Đến cuối 1799 do nhu cầu quân sự gia tăng, Nguyễn Ánh lại sai trưng dụng thợ đúc thợ bạc ở các dinh Phú Yên, Bình Khang và Bình Thuận hợp cả về Gia Định để đúc súng ống và binh khí.

Chính sách dân tộc – tôn giáo của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Trên đường hướng ổn định xã hội để tập trung các lực lượng vật chất và tinh thần cho cuộc chiến chống Tây Sơn, vào cuối thế kỷ XVIII chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định có một chính sách dân tộc – tôn giáo khá cởi mở. Quân đội Nguyễn Ánh có đủ người Hoa, người Khmer, người Xiêm bên cạnh người Việt, chính quyền Gia Định thì dung nạp tất cả các tôn giáo kể cả đạo Thiên chúa tới từ phương Tây. Việc quản lý theo tôn giáo và dân tộc do đó vẫn được đặt ra nhưng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu phục vụ chiến tranh chứ không phải do phân biệt đối xử. Nhìn từ khía cạnh xã hội, điều này duy trì truyền thống hòa hợp giữa các nhóm cư dân có nguồn gốc dân tộc – tôn giáo khác nhau ở Nam Bộ trong đó có Gia Định cuối thế kỷ XVIII, tạo điều kiện thuận lợi cho họ bước vào chặng tiếp theo của quá trình thống nhất đất nước sau 1802.

Chính sách dân tộc thể hiện rất rõ qua bộ máy hành chính các địa phương. Năm 1789, sai Già Tri Giáp (người Chân Lạp) coi phủ Ba Thắc. Sử chép Nguyễn Ánh thấy dân Man khi phục khi phản, khó có người cai trị ngăn giữ mà Giáp vốn được quan liêu Phiên tôn phục, nên đặc cách có mệnh ấy. Cuối 1789 Giáp về Phnom Penh, các tù trưởng phản nghịch lại nổi dậy. Ánh sai Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền trấn áp dẹp yên, năm 1790 lấy Ốc nha Kê (người Chân Lạp) làm Ốc nha nhâm lịch coi phủ Ba Thắc, thu thuế hoa chi (thuế sòng bạc) của người Thanh, cho theo đạo Trấn Di chịu sai phái. Năm 1789 lấy Ốc nha Chích (người Chân Lạp) làm An phủ Trà Vinh. Năm 1791 lấy Ốc nha La (người Chân Lạp) làm An phủ Ba Thắc, cai quản người Khmer, Lâm Ngũ Quan làm Tổng phủ, cai quản người Thanh, Trương Vĩnh Quan làm Đồng khấu cai quản ruộng và nại muối, Lư Việt Quan làm Tổng phủ Trà Vinh, cai quản người Thanh. Sắc Phó tướng Hậu quân Nguyễn Văn Thư và Hàn lâm viện Tham luận Trương Tiến Lộc trông coi các việc thuế khóa kiện tụng ở hai phủ. Việc áp dụng xen kẽ chế độ thổ quan (quan lại là người địa phương) và lưu quan (quan lại do chính quyền trung ương điều động tới) đối với vùng dân tộc ít người như vậy cũng được thực hiện ở khu vực Nam Trung Bộ với trấn Thuận Thành của người Chăm.

Năm 1790, Nguyễn Ánh ra lệnh cho các tổng xã thôn phường bốn dinh, phàm tăng ni đạo đồng các chùa chiền đều phải ghi vào sổ, do quan công đường phụng nộp để biết rõ số nhiều ít. Đến 1798, có nhà sư tên Cao phạm tội, Ánh muốn giết ngay, có kẻ nói sư là người chân tu, Ánh nói “Có chân tu đi nữa thì ích gì cho nước?”. Rồi sai các dinh thần xét hết những chùa trong hạt, từ hòa thượng cho đến đạo đồng phải ghi hết số người vào sổ để dâng, rồi sai Lại bộ truyền rằng phàm tăng đồ tuổi từ 50 trở lên thì vẫn miễn dao dịch, chưa đến 50 thì phải chịu dao dịch như dân, kẻ nào trốn lánh thì bắt tội. Các quan bàn ra nói vào, nên Ánh còn chưa quyết. Lễ bộ Ngô Tòng Châu nói với Đông cung Cảnh “Nhà vua bài trừ đạo Phật ấy là việc rất hay, bầy tôi không biết tán thành lại còn rườm lời. Tôi sợ việc này mà nửa chừng bỏ thì kẻ kia lại ngông cuồng hơn trước. Tôi không ghét riêng gì nhà sư, nhưng mối hại của Phật Lão còn quá hơn Dương Mặc, không thể không nói được”. Cảnh nói “Phải đấy”. Tòng Châu liền dâng sớ chỉ trích mối tệ của nhà sư, Nguyễn Ánh bèn quyết ý. Dĩ nhiên Nguyễn Ánh không “bài trừ đạo Phật” – Ánh từng gọi một thanh gươm của mình là “gươm quy y” với ý nghĩa là cúng cho Phật để “giới sát”, đầu năm 1802 còn lập đàn chay ở chùa Thiên Mụ tế Võ Tánh, Ngô Tòng Châu và các tướng sĩ chết trận, vợ Ánh là bà Thừa Thiên Cao hoàng hậu (mẹ hoàng tử Cảnh) cũng thờ Phật, từng cúng tiền sửa chùa Thiên Trường, Nguyễn Phước Đảm em hoàng tử Cảnh sau khi trở thành Minh Mạng thì năm 1822 cũng cho dựng chùa Khải Tường ở thôn Tân Lộc Sài Gòn để kỷ niệm nơi mình sinh ra. Có điều Ngô Tòng Châu nói như thế là còn có ý khác, nên không phải ngẫu nhiên mà sau khi chép lại câu chuyện trên, sử thần triều Nguyễn còn thêm một câu “Bá Đa Lộc nghe Tòng Châu bài xích tả đạo, trong lòng cũng ghét”, chứ thật ra với câu “Có chân tu đi nữa thì ích gì cho nước?”, Nguyễn Ánh đã thể hiện một lối tư duy rất thực dụng đối với tôn giáo – khía cạnh “có ích” mới là cái chủ yếu khiến ông vua “đã trung hưng lại khai sáng” của triều Nguyễn này coi trọng, bất kể đó là Jésus hay Thích Ca…

Chính sách giáo dục của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Sau nhiều năm hình thành và phát triển, tổ chức xã hội Việt Nam ở đồng bằng Nam Bộ cuối thế kỷ XVIII đã tích lũy được nhiều tiềm năng phát triển, những tiềm năng này được kích thích và bộc lộ một cách đột biến bởi chiến tranh. Chính sách giáo dục của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802 chính đã hình thành trên cơ sở sự kết hợp nhu cầu chiến tranh và tiềm năng phát triển ấy.

Từ cuối 1788, Nguyễn Ánh đã ra lệnh miễn binh dịch và dao dịch cho học trò. Phàm ai có đơn xin theo việc học đều cho được miễn binh dao, sai gắng công học tập để đợi khoa thi. Nếu nhớ lại sự chặt chẽ trong hoạt động quản lý hộ tịch nhằm tận dụng nhân lực của Nguyễn Ánh thì không thể không thừa nhận rằng đây là một chủ trương phát triển giáo dục khá tích cực, góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho hoạt động học hành thi cử ở Nam Bộ sau 1802.

Năm 1791, mở khoa thi lấy trúng cách 12 người là bọn Nguyễn Đình Quát, Nguyễn Công Xanh, Nguyễn Hữu Thứ, Đoàn Văn Hoằng (Phép thi: Kỳ đệ nhất, chế nghĩa thì kinh truyện đều một đạo, thơ thì dùng sử dùng cảnh đều một bài, kỳ đệ nhị, chiếu chế biểu, dùng sử dùng cảnh đều ba đạo. Hạng ưu thì bổ làm Nho học Huấn đạo, phủ Lễ sinh, hạng thứ thì làm nhiêu học, chước miễn thuế thân và binh dao theo thứ bậc. Người chưa biết làm văn, đọc thuộc được hai ba quyển trong Tứ thư, hoặc hạch hỏi một chương mà trúng thì cũng được chước miễn dao dịch).

Đầu 1796 định lại phép thi. Trước đó Nguyễn Ánh định tháng 3 sang năm mở khoa thi Hội gồm ba kỳ, theo như điển lệ thời Đàng Trong. Đến lúc ấy Lễ bộ Nguyễn Thái Nguyên, Lại bộ Nguyễn Bảo Trí, Hình bộ Nguyễn Tử Châu, Binh bộ Nguyễn Đức Thiện kiến nghị xin nghĩ định phép thi: kỳ đệ nhất hai bài kinh nghĩa truyện nghĩa, hai bài thơ vịnh sử, vịnh cảnh, kỳ đệ nhị văn sử và văn tả cảnh mỗi thứ đều ba bài, kỳ đệ tam thơ và phú, vịnh sử, vịnh cảnh đều một bài. Người đỗ chia làm ba hạng Giáp Ất Bính, lượng bổ quan chức và cho được miễn binh dịch dao dịch theo thứ bực (Kỳ đệ nhất kinh nghĩa truyện nghĩa hai bài, người trúng cách hạng Giáp thì được miễn binh dịch dao dịch 6 năm, hạng Ất 5 năm, hạng Bính 4 năm, thơ sử hai đề, người trúng cách hạng Giáp miễn binh dao 4 năm, hạng Ất 3 năm, hạng Bính 2 năm. Như kinh nghĩa không trúng cách mà thơ trúng cách thì cũng không được vào kỳ đệ nhị. Vào thi kỳ đệ nhị mà trúng cách về văn sử thì hạng Giáp bổ Lễ sinh, hạng Ất làm Nhiêu học 6 năm, hạng Bính làm Nhiêu học 5 năm. Về văn cảnh trúng cách thì hạng Giáp làm Nhiêu học 6 năm, hạng Ất làm Nhiêu học 5 năm, hạng Bính làm Nhiêu học 4 năm. Người nào khoa trước đã trúng cách bổ bực gì thì thăng một cấp, nếu không trúng cách thì không được vào thi kỳ đệ tam. Vào kỳ đệ tam thi thơ phú về sử mà trúng cách thì hạng Giáp được bổ Cống sĩ, hạng Ất được bổ Huấn đạo, hạng Bính được bổ Lễ sinh, thi thơ phú về cảnh mà trúng cách thì hạng Giáp bổ Huấn đạo, hạng Ất bổ Lễ sinh, hạng Bính làm Nhiêu học suốt đời. Người nào khoa trước đã trúng cách được bổ bậc gì thì tùy bậc mà thăng một cấp). Kiến nghị dâng lên. Nguyễn Ánh nghe theo. Qua 1796 mở khoa thi lấy đỗ 273 người (14 người bọn Ngô Khắc Ninh, Phạm Đăng Hưng đỗ tam trường, 54 người bọn Trần Văn Đản, Nguyễn Văn Uyên trúng nhị trường, 205 người bọn Trần Văn Tình, Trần Lợi Trinh trúng nhất trường).

Năm 1802 trước khi đem quân ra Bắc, Nguyễn Ánh lại sai Lưu trấn thần Gia Định dùng phép thi tam trường khảo thí học trò (kỳ đệ nhất thi chế nghĩa và kinh truyện lấy đỗ 92 người, kỳ đệ nhị thi chiếu chế biểu lấy đỗ 16 người, kỳ đệ tam thi thơ phú lấy đỗ 11 người), tổng cộng 119 người.

Ngoài ra, sử sách còn chép năm 1794 chính quyền Nguyễn Ánh cho sửa lại Văn miếu Trấn Biên, sai Lễ bộ Nguyễn Đô trông coi. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép “Thể chế thì giữa là điện Đại Thành cửa Đại Thành, bên đông là Thần Khố, bên tây là điện Dục Thánh, bên trái là cửa Kim Thanh, bên phải là cửa Ngọc Chấn, phía trước dựng gác Khuê Văn, treo chuông trống ở trên, bên trái là Sùng Văn đường, bên phải là Dụy Lễ đường, chung quanh có thành vuông, trước là cửa Văn miếu và hai cửa Nghi môn tả hữu, đặt 50 người Lễ sinh và 50 người miếu phu”. Việc đề cao Nho giáo và đào tạo nho sĩ như vậy dĩ nhiên trước hết nhằm đáp ứng các nhu cầu tư tưởng – chính trị của chính quyền Nguyễn Ánh, song về khách quan cũng góp phần cố kết xã hội ở Việt Nam ở Nam Bộ cuối thế kỷ XVIII trong khuôn khổ thiết chế Nho giáo, tạo điều kiện cho nó hòa nhập một cách thuận lợi vào đời sống xã hội Việt Nam sau khi đất nước thống nhất trở lại năm 1802.

Chính sách đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802

Sau 1788, hoàn cảnh quốc tế ở khu vực đương thời cũng như kinh nghiệm hoạt động của bản thân khiến Nguyễn Ánh đánh giá rất cao tầm quan trọng của hoạt động đối ngoại. Ngay từ 1789, Ánh đã cho dựng nhà Sứ quán ở Gia Định “có hai tòa, mỗi tòa 5 gian, lính lệ 20 người, phàm sứ giả các nước Chân Lạp, Xiêm La tới đều ở đấy”. Nhìn chung chính sách đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian này có phân biệt ra sáu đối tượng khác nhau: Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng, các nước khác trong khu vực, Trung Quốc và phương Tây, trong đó hoạt động đối ngoại với Trung Quốc nhìn chung không có gì đáng chú ý vì sau trận Đống Đa nhà Thanh chủ trương hòa hiếu với Tây Sơn của Quang Trung. Hoạt động đối ngoại với phương Tây thì nổi bật là với Pháp nhưng vì Hiệp ước Versailles không được thực hiện, sau đó Cách mạng Pháp 1789 nổ ra nên Nguyễn Ánh cũng không còn gì để hy vọng, quan hệ của Gia Định với phương Tây thời gian này vì vậy chủ yếu chỉ là quan hệ ngoại thương để trang bị phương tiện kỹ thuật cho quân đội. Đối với các nước khác trong khu vực thì Nguyễn Ánh chủ trương hòa hiếu, không giúp đỡ mà cũng không gây bất hòa, nói chung tuy cũng có qua lại song không có gì đáng chú ý. Cho nên hoạt động đối ngoại của chính quyền Nguyễn Ánh thời gian 1788 – 1802 tập trung vào ba đối tượng quan trọng nhất là Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng, ba nước láng giềng mà quan hệ lịch sử và địa lý có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động chống Tây Sơn.

Mâu thuẫn Việt Xiêm trước 1777 đã ít nhiều giảm đi từ khi Nguyễn Ánh qua Xiêm nương náu năm 1784. Tuy nhiên sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Gia Định năm 1788, tham vọng của Rama I về Hà Tiên và Chân Lạp lại gây ra nhiều khó khăn trong quan hệ giữa Gia Định với Bangkok và Phnom Penh. Cho nên năm 1791, khi sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn và Cai cơ Lưu Phước Tường sung chức Chánh Phó sứ sang Xiêm giao hiếu, Nguyễn Ánh đã dặn “Chân Lạp làm tôi thờ phụng triều ta giữ chức phiên thần đã lâu, là nước môi răng của ta. Từ khi ta khôi phục đất cũ, Chiêu Chủy Biện đem lòng oán giận, chỉ muốn nhân ta có việc mà làm rối động biên cương. Ta vì cớ đó, chẳng lúc nào quên. Ngươi nên nhân cơ hội bày tỏ với vua Xiêm khiến họ để ý, nếu không giúp ta thì cũng không nên làm lo cho ta…”. Qua 1792, sau khi Nguyễn Văn Nhàn và Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng về, vua Xiêm đưa thư tới nói xin Ánh giúp quân theo đường thượng đạo đánh Tây Sơn, lại yêu cầu Ánh đem Long Xuyên Kiên Giang cho Mạc Công Bính và đem Ba Thắc cho Chân Lạp. Ánh sai viết thư trả lời, trong nói “Đến như Long Xuyên và Kiên Giang, sau khi loạn lạc dân vật tan tác, quân giặc nhòm ngó miền nam, thì đó tất là nơi phải chịu binh cách. Mạc Công Bính còn nhỏ, chưa có thể đương việc quân, nên sai quan giữ đó chứ không phải là tiếc đâu. Còn đất Ba Thắc không cho Chân Lạp là vì cớ Phụ chính Chiêu Chủy Biện. Nếu được người khác của Xiêm đến thì quả nhân nào có tiếc gì? Những việc nhỏ nhặt ấy vương bất tất phải quan tâm, cũng không phải đi lại nói nhiều làm gì”, khéo léo từ chối những yêu sách của người Xiêm về lãnh thổ, cũng kiên quyết không cho người Xiêm dựa vào ơn nghĩa riêng với Mạc Công Bính mà can thiệp vào việc nội trị của chính quyền Việt Nam ở Hà Tiên. Tuy nhiên đến 1792 Ánh cũng giao phủ Ba Thắc cho Chân Lạp, sự nhượng bộ này trong thực tế đã thúc đẩy Chân Lạp nỗ lực thoát ly khỏi ảnh hưởng của Xiêm La. Tóm lại với Xiêm La thì Nguyễn Ánh dùng chính sách ru ngủ, thường xuyên hứa hẹn việc thành lập một Liên minh quân sự Việt Xiêm nhưng không bao giờ xúc tiến trên thực tế, với Chân Lạp thì dùng chính sách vuốt ve để tách nước này ra khỏi ảnh hưởng của Xiêm La, còn với Vạn Tượng vốn có thù hận với Tây Sơn thì dùng chính sách khai thác nhằm lợi dụng về quân sự.

Nhìn chung cho đến 1802, Nguyễn Ánh đã áp dụng một chính sách đối ngoại thực dụng nhưng có hiệu quả trong việc khuếch trương thanh thế và cô lập Tây Sơn. Đến tháng 3 âl. năm 1800, tờ Chỉ dụ nhân dịp duyệt binh ở Gia Định của Ánh đã có thể viết “Huống nó em phản anh, tôi phản chúa, lại thêm ngoại viện tăng vi, trường thành thất hiểm, tai phần sào đã quyết từ nay, Mà ta lương thì đủ, quân thì ròng, sẵn có tướng tài quy phụ, chư quốc liên binh, thế phá trúc chờ bao thủa nữa”, mấy chữ “chư quốc liên binh” (các nước liên binh) chính là tuyên truyền về những thành công trong hoạt động ngoại giao theo chính sách nói trên.

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Xiêm La thời gian 1788 – 1802

Trong thời gian 1788 – 1802, sứ giả của chính quyền Nguyễn Ánh qua lại Bangkok nườm nượp như đi chợ, năm nào cũng có, thậm chí có năm có tới hai ba đoàn, điều này cho thấy Ánh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng quan hệ với Xiêm La. Các hoạt động có liên quan với Xiêm khác của Ánh đều nhằm phục vụ nhiệm vụ này. Chẳng hạn cuối 1789, Xiêm bị đói, qua Gia Định xin mua gạo. Nguyễn Ánh ra lệnh cho hơn 8.000 phương gạo, đến 1793 Xiêm lại bị đói, qua xin mua gạo ở Kiên Giang, Quản đạo Kiên Giang Nguyễn Tiến Lượng tâu lên, Ánh nói “Nước ta với Xiêm vốn có tình láng giềng tốt với nhau, dân Xiêm cũng như dân ta, sao nỡ thấy người ta đói kém mà không thương?”, ra lệnh bán gạo cho. Hay năm 1789, nước Tà Ni (biệt danh nước Chà Và) sai sứ đến hiến sản vật địa phương và xin quân giúp đánh Xiêm. Nguyễn Ánh từ chối lễ vật mà bảo về, nhân viết thư báo cho nước Xiêm. Nhưng quan hệ giữa Gia Định với Xiêm La trước 1802 còn có nhiều điểm tế nhị chung quanh các vấn đề Chân Lạp, Ba Thắc và Hà Tiên, đây chỉ giới thiệu sơ lược.

Ngay sau khi chiếm lại được Gia Định năm 1788, Ánh đã sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhơn và Cai đội Tống Phước Châu qua Xiêm báo tin thắng trận. Qua 1789 nhân Nguyễn Huỳnh Đức từ Xiêm về, vua Xiêm gởi giúp Ánh 50 chiến thuyền cùng lưu hoàng, diêm tiêu, súng ống.

Năm 1790 Phụ chính Chân Lạp Chiêu Chủy Biện vì Gia Định sai người giữ Ba Thắc nên oán giận, nói với vua Xiêm rằng Nguyễn Ánh có ý đánh Xiêm. Ánh bèn sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn, Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng sung Chánh Phó sứ qua Xiêm (Tặng Phật vương một đôi lồng đèn pha lê, hai tấm gương lớn, một cây hoa vàng, một cây hoa bạc, một chiếc thuyền lê lớn, cho Nhị vương một đôi lồng đèn pha lê, hai tấm gương lớn, đường cát, đường phèn, sáp ong mỗi thứ 500 cân), vua Xiêm được thư bèn thôi.

Năm 1791, vua Xiêm sai Sa Lật Vằn Tri Khôn Sĩ Thi Na đến hiến sản vật (2 con ngựa hồng và bạch, 10 cây long bào gấm, 4 chiếc chiêng đồng). Trước đó Tây Sơn đánh Vạn Tượng đòi nộp cống, Vạn Tượng không chịu, đánh bại Tây Sơn, đưa tù binh qua Xiêm. Vua Xiêm bèn sai sứ sang báo tin và đưa cả những cờ trống đã bắt được của Tây Sơn để làm tin. Khi sứ giả tới, Nguyễn Ánh hậu đãi rồi cho về, sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn và Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng cùng đi (Tặng Phật vương 30 cỗ cáng, cho Nhị vương một đôi hoa vàng bạc).

Năm 1791, đầu tiên người Xiêm đưa Mạc Công Bính (cháu nội Mạc Thiên Tích) về giữ Hà Tiên, nhưng Nguyễn Ánh sai Bính giữ đạo Long Xuyên. Đến lúc ấy người Xiêm gửi thư trách, Bính sợ, tâu với Nguyễn Ánh, lại xin về Gia Định triều kiến. Ánh dụ “Ngươi một lòng trung ái, theo được thói tốt của ông ngươi, ta há không biết sao! Nhưng từ Hà Tiên thất thủ, quyến thuộc nhà ngươi đều chạy sang Xiêm nương nhờ, dẫu không ơn lớn, cũng có ơn nhỏ. Nay hãy nín náu theo họ, trở về Hà Tiên, đợi khi mọi việc yên rồi, sẽ có cách xử trí. Cũng bất tất phải vào chầu, hoặc có kẻ nhỏ nhen, nhân đó gièm pha, lại thêm hiềm khích”, theo đó đủ biết sau chiến tranh Hà Tiên thời Đàng Trong, các chính quyền ở Xiêm từ Trịnh Tân tới Rama I đều không từ bỏ tham vọng của mình ở Hà Tiên mặc dù không dám chính thức chiếm đóng vùng này.

Năm 1793, Nhị vương nước Xiêm đem quân giúp Ánh, thủy bộ 50.000 người đóng ở Phnom Penh, chiến thuyền 500 chiếc đậu ở Hà Tiên, sai sứ mang thư tới Gia Định. Lưu trấn thần đưa sứ giả ra Quy Nhơn gặp Ánh, nhưng Ánh đã rút được bài học về việc cầu viện ngoại nhân sau trận Rạch Gầm năm 1785 nên sai trả lời nói sắp đến mùa gió bấc, đường thủy không tiện, quân Xiêm bèn rút về.

Đầu năm 1796, sai Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng và Cai cơ Nguyễn Văn Thoại sung Chánh Phó sứ sang Xiêm (Tặng Phật vương một tòa bảo tháp bằng đá trắng, một xâu đèn thủy tinh, mười lượng kỳ nam, sáp ong, đường phèn, đường hoa, đường cát mỗi thứ 500 cân). Năm 1797, sai Khâm sai Cai cơ Trần Phúc Chất mang quốc thư sang Xiêm báo việc binh, nói nghe tin Diến Điện mượn thủy quân Hồng Mao đánh Xiêm, nếu đúng thì Gia Định sẽ phát thủy quân đánh giúp. Vua Xiêm viết thư cảm tạ, hiến 10 vạn cân diêm tiêu, nói ngày nào quân Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn, nếu thiếu quân dụng sẽ xin giúp. Năm 1798, sai Phó tướng Hữu quân Nguyễn Đức Thành và Tham tri Hình bộ Nguyễn Hoài Quỳnh đi sứ qua Xiêm. Năm 1799, Xiêm La sai sứ là Khôn Sĩ Thi Na tới mừng, Nguyễn Ánh ban thưởng rất hậu cho về, lại sai Khâm sai Thuộc nội Cai cơ Tống Phước Châu và Tham tri bộ Binh Trần Phước Tri qua Xiêm đáp lễ.

Năm 1798 Diến Điện đánh Xiêm, Xiêm sai sứ qua xin giúp, Nguyễn Ánh sai Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Trương đem quân cứu viện, nhưng tới Côn Lôn thì nghe tin quân Diến Điện đã rút, Trương đem quân về, còn Đức qua Xiêm bàn việc giao hiếu.

Năm 1799, Nguyễn Ánh sai Khâm sai Thống binh Cai cơ Nguyễn Văn Thoại và Khâm sai Cai đội Lưu Phước Tường sung Chánh Phó sứ đem quốc thư qua Xiêm (tặng Phật vương một thuyền đại hiệu Phụ quốc và mười cỗ súng lớn bằng gang). Thư đại ý nói hiện Tây Sơn đang cốt nhục hại nhau, lại ngờ vực giết cả quan cũ tướng cũ, sắp đến ngày diệt vong, nên đã chỉnh đốn binh giáp, định ngày tấn công. Nếu được đại tướng của Xiêm điều động quân Chân Lạp và Vạn Tượng theo đường thượng đạo đánh xuống Nghệ An giúp thanh thế cho, thì Tây Sơn trước mặt sau lưng đều bị đánh, không rảnh mà mưu tính được, mình có thể thừa cơ hội thu phục đất cũ. Vua Xiêm bằng lòng, truyền hịch cho các sách Man ở thượng đạo chuẩn bị quân và voi để chờ lệnh.

Nhìn chung với các hoạt động kiểu này, Nguyễn Ánh đã thành công trong việc biến Xiêm La thành nước đứng đầu mặt trận ảo của mình phía tây Trường Sơn để uy hiếp Nghệ An khiến Tây Sơn phải phân tâm chia sức. Nói là mặt trận ảo vì như người ta sẽ thấy, Ánh không bao giờ để quân Xiêm đặt chân lên Việt Nam lần nữa mà tự mình liên hệ với Vạn Tượng năm 1801 trong việc liên kết tấn công Nghệ An.

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Chân Lạp thời gian 1788 – 1802

Từ 1788, cùng với việc chiếm lại được Gia Định, Nguyễn Ánh đã xác lập lại quan hệ ngoại giao với Chân Lạp giữa những phức tạp và tế nhị trong quan hệ với Xiêm La, ở đây chỉ nêu đại lược.

Năm 1788, Ốc nha nước Chân Lạp là Đầu Rồng Ong dâng hai thớt voi đực, đến 1791 Phụ chính Chân Lạp Chiêu Chủy Biện sai Ốc nha Tha La Ma và Ốc nha Sa Thi sang dâng phẩm vật. Bọn Tha La Ma nhân đó buôn bán, đem 14 thuyền và hơn 170 người đi theo. Dinh thần Vĩnh Trấn báo lên. Nguyễn Ánh sai dẫn hết về Gia Định bái yết. Khi trở về, ban cho rất hậu (cho Chiêu Chủy Biện súng điểu thương một khẩu, lồng đèn thủy tinh một đôi, đồng hồ một chiếc, đoạn hồng một tấm, vải tây trắng hai tấm, cho bọn Tha La Ma và những người đi theo chở gạo lức 240 phương).

Năm 1792, Nguyễn Ánh giao phủ Ba Thắc cho Chân Lạp. Quan Chân Lạp là Ốc nha Vu Bông Sa, Phi Miệt Bông Sa, Liên Song Liêm đem thư của vua Xiêm tới xin giao Ba Thắc cho họ giữ, thu tô thuế nộp cho vua Chân Lạp Nặc Ấn, Ánh ưng thuận, lại cho Nặc Ấn một con ngựa đực, bọn Vu Bông Sa 2.000 phương gạo, 200 quan tiền, tha hết những sưu thuế đồn điền còn thiếu. Đến 1794, người Xiêm đưa vua Chân Lạp Nặc Ấn về nước. Ấn trước bị người Chà Và đánh phải chạy qua Xiêm, Nguyễn Ánh từng sai sứ qua Xiêm xin đưa Ấn về nước, đến lúc ấy người Xiêm mới đưa Ấn về mà rút Chiêu Chủy Biện về giữ Bắc Tầm Bôn. Ấn về nước, sai sứ qua tạ ơn. Ánh sai Nguyễn Văn Nhơn đem gấm đoạn các thứ sang thưởng cấp và tuyên ban ý chỉ, lại cho 4.000 hộc thóc, 800 phương gạo. Năm 1795, Chân Lạp sai Ốc nha Phi Biệt Vọng Sa tới dâng phẩm vật địa phương (đậu khấu, sơn đen). Từ đó trở đi quan hệ Gia Định – Chân Lạp dần dần trở lại tình hình dưới thời Đàng Trong. Đầu 1796 sai Chưởng cơ Hồ Văn Lân và Tham tri bộ Hộ Nguyễn Văn Mỹ đem chỉ dụ tới cấp cho Nặc Ấn thuyền rồng và đồ đi ngựa. Năm 1797 Nặc Ấn chết, con là Nặc Chân nối ngôi. Nguyễn Ánh lại sai Chưởng cơ Tống Viết Phước và Tham tri bộ Lễ Trần Hưng Đạt sang phúng 100 cân sáp ong, 500 cân đường cát.

Dĩ nhiên, không phải với những quà tặng lặt vặt ấy mà sau 1794 Nguyễn Ánh vuốt ve được chính quyền Chân Lạp. Sử chép năm 1795 Ánh ban ấn “Ngự tứ thông hành” cho Chân Lạp. Ấn của Chân Lạp chạm khắc hình người, khó phân biệt thật giả, sợ kẻ buôn gian làm giả mạo nên cho ấn này, ra lệnh từ nay những thuyền sai của Chân Lạp chở muối gạo từ Ba Thắc tới Nam Vang, đi qua các đạo thủ Trấn Di và Châu Đốc, khám thực thì cho đi. Lại cho thuyền buôn nước ngoài đi từ Ba Thắc tới Nam Vang để buôn bán theo lời vua Chân Lạp xin. Rõ ràng trong việc tranh giành ảnh hưởng ở Chân Lạp với Xiêm La, Nguyễn Ánh đã dùng biện pháp kinh tế tức nới rộng ngoại thương để chiếm phần ưu thắng. Không lạ gì mà năm 1800 có việc Lưu thủ Phiên Trấn Tống Phước Ngoạn đưa 5.000 quân Chân Lạp tới quân thứ Thi Nại, hay đầu năm 1802 do nhu cầu quân lương tăng cao, Nguyễn Ánh đã có thể sắc cho Lưu trấn thần Gia Định “thu 1.000 xe thóc ở Chân Lạp để chở cấp cho quân”.

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Vạn Tượng thời gian 1788 – 1802

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Vạn Tượng trước 1802 được tiến hành khá muộn. Sử chép Ánh vốn có ý thông sứ với Vạn Tượng, từng sai người đến Bắc Tầm Bôn hỏi Chiêu Chủy Biện xem đường thượng đạo xa gần thế nào. Nhưng phải đến 1797, khi vua Xiêm viết thư nói với Nguyễn Ánh chọn tướng giỏi hội với bộ binh Xiêm theo đường thượng đạo thẳng tới Vạn Tượng để đánh úp Nghệ An nhằm chặn đường viện binh từ Bắc Hà đồng thời đánh vào phía sau Phú Xuân, tới đâu sẽ có người Man Lào cung ứng quân nhu tới đó, Ánh mới ráo riết xúc tiến các hoạt động ngoại giao với Vạn Tượng, chủ yếu nhằm mượn tay Vạn Tượng quấy rối quân Tây Sơn ở Nghệ An.

Tháng 4 âl. năm 1799 Nguyễn Ánh sai Nguyễn Văn Thoại làm Khâm sai thượng đạo tướng quân, Lưu Phước Tường làm Khâm sai Điển quân cùng Tham mưu Nguyễn Hoài Châu, Tham quân Lê Văn Xuân đem quân sở thuộc 150 người mang quốc thư và quan vật (các thứ nhiễu sa gấm đoạn) theo đường thượng đạo sang chiêu dụ Vạn Tượng. Bọn Thoại tới Xiêm, vua Xiêm sắp sai tướng cùng đi, chợt xảy việc với Diến Điện, bèn hiến 5 vạn cân diêm tiêu để giúp quân dụng, lại cấp cho giấy thông hành qua thượng đạo, nói “Giấy thông hành này rất đắc lực, ta sai người cầm giấy này đi, đến đâu cũng được có người cung ứng hộ tống không trở ngại gì”. Bọn Thoại về Thi Nại tâu lên. Ánh sai đi ngay, lại ban cho bọn Thoại 400 quan tiền, 1.000 đồng bạc Tây dương. Bọn Thoại lên đường, dùng người Chân Lạp là Ốc nha Bô Dịch Lạch làm hướng đạo, bắt đầu đi từ bến Tầm Bông Me (địa đầu Chân Lạp), qua Khu Khảng đến U Bôn (địa đầu Vạn Tượng), các tù trưởng Man đều hưởng ứng. Người Man Khu Khảng lại sai sứ là Khôn Thiêm Man Tôn tới cống (2 thớt voi đực, 6 tòa tê giác). Tháng 8 âl. bọn Thoại tới Viên Chăn, vua Vạn Tượng là Chiêu Ấn nghe tin có sứ thần tới, mừng rỡ dắt các quan ra lạy rước quốc thư, tiếp đãi rất hậu, sai người đưa đi hiểu dụ các sách Man ở Trấn Ninh và Thanh Nghệ.

Đầu năm 1800, Nguyễn Văn Thoại từ Vạn Tượng trở về mật tâu việc binh. Nguyễn Ánh dụ sai sang hội với Chiêu Ấn đánh Nghệ An, Thoại xin phái thêm Khâm sai Cai cơ Phan Văn Ký đem theo 150 quân để sai phái và Tham luận Trần Thái Tín theo để làm việc giấy tờ.

Đầu năm 1801, Vạn Tượng sai sứ sang cống (chiêng đồng 40 cái, sừng tê trắng 1 tòa) cùng địa đồ Nghệ An và Phú Xuân, lại dâng biểu xin định kỳ hội quân đánh Tây Sơn. Sứ giả tới Gia Định, trấn thần Gia Định đưa tới Thi Nại bái yết Nguyễn Ánh, Ánh viết thư trả lời, hậu đãi sứ giả rồi cho về (tặng quốc trưởng 4 lượng kỳ nam, 2 khẩu súng tay, chì và thiếc mỗi thứ 100 cân). Sau đó Nguyễn Văn Thoại ở Vạn Tượng tự ý trở về Gia Định, Ánh sai Trấn thần nghị tội, cho Tham quân Lê Văn Xuân thay lãnh 200 quân sở thuộc hẹn với Vạn Tượng cùng đánh Tây Sơn. Giữa năm ấy Ánh sai Lưu Phước Tường đem quân bản bộ theo đường Cam Lộ đưa thư qua Vạn Tượng và dụ các sách Man chặn giữ những chỗ hiểm yếu. Tường tới thì Lê Văn Xuân vừa ốm chết, bèn kiêm lãnh quân của Xuân, đặt làm sáu chi, hẹn với Chiêu Ấn kéo xuống đánh Tây Sơn ở Nghệ An. Cuối năm ấy, Tường đem sáu chi quân bản bộ đánh Nghệ An, Chiêu Ấn cũng sai tướng là Phá Nhã Khu Bô đem hơn 4.000 quân từ Xỉ Đa, Khâm Cát đánh tới Hương Sơn, La Sơn, phá quân Tây Sơn ở cửa Tam Thoa, lại giết Đô đốc Tây Sơn Nguyễn Văn Hiện ở thành Lục Niên huyện Thanh Chương, quân Tây Sơn ở Nghệ An rúng động, nối nhau kéo tới xin hàng. Tây Sơn bèn đốt cháy nhà dân mấy huyện làm kế đồng không nhà trống, quân Vạn Tượng hết lương đành rút lui, Tường đem binh thuyền ra cửa Sót về sông Gianh.

Đầu năm 1802, khi Nguyễn Ánh đã chiếm lại Phú Xuân, Vạn Tượng sai sứ mang quốc thư tới hành tại ở Đồng Hới bái yết, Ánh ban thưởng hậu rồi cho về (ban cho nhiễu đỏ 3 tấm, bạc 100 lượng, tiền 50 quan). Sau đó Vạn Tượng lại sai sứ dâng phẩm vật địa phương, Ánh cũng ban thưởng hậu rồi cho về. Kế Xiêm sai tướng là Ốc nha Trà Tri đem 5.000 quân theo đường thượng đạo phối hợp với quân Vạn Tượng phá quân Tây Sơn ở Sa Nam Nghệ An, sai sứ tới báo tin thắng trận, Ánh cũng sai viết thư khen ngợi.

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với các nước phương Tây thời gian 1788 – 1802

Khác với chiến tranh thời Nam Bắc triều thế kỷ XVI hay thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ XVIII, nội chiến 1771 – 1802 ở Việt Nam diễn ra trong một bối cảnh thời đại và quốc tế sôi động và phức tạp hơn mà nổi bật là sự bành trướng của tư bản thương nghiệp châu Âu ra các châu lục khác. Thương điếm châu Âu mọc lên như nấm trong cuộc chạy đua tìm kiếm “hạt tiêu và các linh hồn” khắp các bờ biển từ Ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương. Việc Nguyễn Ánh tìm kiếm viện trợ quân sự từ phương Tây trước Hiệp ước Versailles 1789 là một kết quả của tình hình nói trên. Tuy không đạt được kết quả, nhưng nhờ tranh thủ được các giáo sĩ nên Ánh xây dựng được quan hệ khá tốt với nhiều thương nhân phương Tây, từ đó nhờ họ làm cả những việc không thuộc phạm vi mua bán. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷcòn chép lại một vụ thuộc loại này “Quý sửu (1793)… Tháng 3… Sai Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng phụng sứ sang Xiêm. Trước là ở Bắc Hà nghe tin giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ chết, nơi nơi đều nổi dậy, cùng tôn Lê Duy Vạn (con Lê Hiển tông) lên làm minh chủ. Duy Vạn bèn sai thuộc hạ là bọn Cai cơ Chấn bảy người đưa thư lên hẹn ta cử binh để trong ngoài ứng nhau. Chấn mượn đường thượng đạo đi sang Xiêm, người Xiêm đưa sang ta, giữa đường bị giặc biển Chà Và bắt đem bán ở Hạ Châu (Singapore). Vua nghe tin ấy, ủy cho người Tây buôn là An Tôn Ngâm Bô chuộc về. Đến đây cho về Bắc, vì đường biển nhiều cản trở, nên sai Tiến Lượng đưa thư sang Xiêm để đưa Chấn theo đường thượng đạo mà đi”.

Từ 1790 trở đi, Nguyễn Ánh cũng có nhiều thư từ qua lại với Macao, Pháp, Anh và Đan Mạch, tuy nhiên chủ yếu cũng theo đường hướng mở cửa ngoại thương để mua võ khí. Chẳng hạn năm 1791, người Bồ Đào Nha tên là Chu Di Nô Nhi tới buôn bán, nhân đó Nguyễn Ánh gửi thư cho quốc trưởng nước ấy để mua binh khí (10.000 khẩu điểu thương, 2.000 cỗ súng gang mỗi cỗ nặng 100 cân, 2.000 viên đạn nổ, đường kính mười tấc). Năm 1798, người Anh tới hiến phương vật, đến 1801 lại sai người tới hiến phương vật và xin miễn thuế cảng cho thuyền buôn. Nguyễn Ánh hạ lệnh cho lưu trấn thần Gia Định viết thư trả lời, đánh thuế theo như lệ thuyền buôn Quảng Đông.

Hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Trung Quốc thời gian 1788 – 1802

Cho đến cuối thế kỷ XVIII, hoạt động ngoại giao của chính quyền Nguyễn Ánh với Trung Quốc nhìn chung vẫn chưa có gì đáng chú ý, điều này có hai lý do. Thứ nhất là thời Đàng Trong tuy các chúa Nguyễn từng có ý định đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc nhưng không thành công vì nhà Thanh đã thừa nhận chính quyền Lê Trịnh, không muốn có chuyện lôi thôi với Việt Nam, quan hệ ngoại giao giữa đôi bên vì vậy chưa hề có tiền lệ. Thứ hai là sau trận Đống Đa năm 1789 nhà Thanh đã thừa nhận và thậm chí còn vuốt ve chính quyền Quang Trung, nên dĩ nhiên không muốn quan hệ với một kẻ đối đầu của Tây Sơn như Nguyễn Ánh. Quan hệ ngoại giao giữa chính quyền Nguyễn Ánh với Trung Quốc cuối thế kỷ XVIII do đó chỉ mang tính chất bán chính thức, không thành hệ thống và cũng không đóng vai trò gì đáng kể trong chính sách đối ngoại của Gia Định. Tuy nhiên từ trước 1802 Nguyễn Ánh cũng đã cố gắng trong việc xác lập mối quan hệ này. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép “Mùa hạ năm Kỷ dậu (1789) vua nghe tin người Thanh đem quân Lưỡng Quảng vì nhà Lê mà đánh giặc Tây Sơn, bèn sai sứ thần là Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem theo 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân, gặp bão đắm cả ở biển không nghe tin tức”. Cần lưu ý rằng đầu năm này 29 vạn quân của Tôn Sĩ Nghị vừa bị Quang Trung đánh tan, nên việc cử sứ bộ qua Trung Quốc với một món lễ vật như vậy cũng bộc lộ ý đồ của Nguyễn Ánh – rõ ràng Ánh hy vọng tìm kiếm ở nhà Thanh một kẻ đồng cừu cùng đánh Tây Sơn. Nhưng các trí thức Bắc Hà có thừa kinh nghiệm đối ngoại với phong kiến Bắc phương như Ngô Thì Nhậm đã giúp Quang Trung mau chóng xây dựng được quan hệ hòa hiếu “khép lại quá khứ” với chính quyền Càn Long, nên phải đến 1802 Nguyễn Ánh mới có thể xây dựng quan hệ ngoại giao chính thức với nhà Thanh ở Trung Quốc.

Năm 1798, Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường dâng sớ xin thông sứ với Trung Quốc để ly gián nhà Thanh với Tây Sơn đồng thời thăm dò tin tức Lê Chiêu Thống để cùng thuyết phục Trung Quốc giúp đỡ chống Tây Sơn, tiến cử Đông cung Thị học Ngô Nhơn Tịnh, Ký lục Vĩnh Trấn Phạm Khắc Thận đi sứ. Nguyễn Ánh theo lời tâu, lấy Hàn lâm viện Thị học Ngô Nhơn Tịnh làm Tham tri bộ Binh đem quốc thư theo thuyền buôn qua Quảng Đông nghe ngóng tin tức Lê Chiêu Thống. Nhơn Tịnh tới, được tin Lê Chiêu Thống đã chết bèn trở về. Cần nói thêm rằng tác giả của chủ trương thông sứ với Trung Quốc này có lẽ là Đặng Trần Thường người Bắc Hà vào nam theo Nguyễn Ánh vốn quen coi Trung Quốc là nước lớn, nên tờ sớ nói trên có những lời lẽ khá buồn cười “Ngày nay từ khi quân ta thắng trận ở Đà Nẵng, bọn giặc biển Tàu Ô bắt được nhiều, bọn thần muốn nhân việc làm việc, soạn một bài biểu, lấy mấy chiếc thuyền giặc đem dâng để làm mối lái, tất vua Thanh phải khen nhận, không nỡ cho ta là tầm thường mà lơ”.

Sau khi chiếm được Phú Xuân năm 1801, Nguyễn Ánh sai Triệu Đại Nhậm (một thương nhân Trung Quốc bị cướp biển Tề Ngôi bắt, được thủy quân Nguyễn Ánh cứu thoát) đem thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng thông báo tình hình Việt Nam. Qua 1802, trước khi đem quân ra Bắc, Ánh sai Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh, Huỳnh Ngọc Uẩn qua Trung Quốc thông sứ. Sứ bộ tới Quảng Đông tháng 7 âl., nhưng tháng 6 năm ấy Nguyễn Ánh đã vào thành Thăng Long khiến triều đình Gia Khánh phải chờ nắm được tin tức chính xác về Việt Nam, nên phải ở lại đến tháng 10 mới được lệnh lên đường qua Quảng Tây gặp sứ bộ Lê Quang Định từ Thăng Long qua cầu phong, chính thức đặt quan hệ ngoại giao Nguyễn – Thanh.

V. Kết thúc nội chiến

Sự lục đục giữa các danh tướng dưới trướng Nguyễn Ánh trước 1802

Từ 1778 trở đi, các lực lượng chống Tây Sơn ở Nam Bộ dần dần được hợp nhất lại dưới ngọn cờ của Nguyễn Ánh. Sống trên đất tranh chiếm quyết liệt trong hơn mười năm chiến tranh, những người đứng đầu các lực lượng này đều phải có năng lực thực tiễn cao, tức ngoài phần sức khỏe và lòng can đảm trời cho đều phải giỏi võ nghệ hay có thiên tư về việc hành quân đánh trận. Các danh tướng dưới quyền Nguyễn Ánh như Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức… đều là những người như thế. Và ngoài một vài trường hợp như Nguyễn Huỳnh Đức mà sử quan triều Nguyễn chép là “Tính Đức kính cẩn, Thánh tổ (tức Minh Mạng) từng nói trong hàng võ thần chỉ có Đức là biết lễ”, phần lớn bọn họ đều là những kẻ ngang tàng cao ngạo, lại phải treo tính mạng nơi hòn tên mũi đạn để lập công danh nên ngoài sự cậy tài đều có ý cậy công, ít ai chịu phục ai. Cho nên sử quan triều Nguyễn về sau cũng chép về một số vụ lục đục tương đối nổi cộm giữa các danh tướng dưới quyền Nguyễn Ánh trước 1802, cụ thể là sự bất hòa giữa Võ Tánh với Lê Văn Quân và giữa Nguyễn Văn Thành với Lê Văn Duyệt.

Năm 1789, Ánh sai Lê Văn Quân lãnh 6.000 quân thủy bộ tiến chiếm Bình Thuận, sai Võ Tánh đem binh thuyền sở bộ làm tiên phong, Nguyễn Văn Thành làm phó. Nhưng Ánh biết Quân và Tánh không ưa nhau, sợ làm lỡ việc, nên dặn kín Thành rằng “Hai người này nếu có chuyện dị đồng nên khéo điều đình, công tội của ngươi cũng giống như của Quân đấy”. Khi đã chiếm được Bình Thuận, Quân sai Thành đánh ra Diên Khánh, Tánh đóng ở Ba Ngòi để tiếp ứng. Thành cho rằng thế chưa làm được, không chịu tuân lệnh. Quân giận nói “Trái lệnh thì chém”, Thành nói “Thành bại trong quân, Thành cũng dự phần trách nhiệm, có chết cũng không dám tuân lệnh”, Quân bất đắc dĩ phải sai Thành giữ Chợ Mơ, Tánh giữ Phan Rí, mình dẫn quân tới đóng giữ Phan Rang. Sau đó Đô đốc Tây Sơn Hồ Văn Tự đem hơn 9.000 quân thủy bộ từ Diên Khánh vào đánh, Quân ít quân địch không nổi, lui về Ỷ Na, đưa thư về Gia Định cáo cấp. Lúc ấy Nguyễn Ánh thấy đã chiếm được Bình Thuận bèn sai chia quân giữ, gọi Thành và Tánh về Gia Định. Trên đường về được tin Quân thua trận, Thành bảo Tánh cùng quay lại, nhưng Tánh không chịu, cứ đi tiếp. Đến khi Ánh được tin, vội sai Thành gấp rút đem quân quay lại cứu Quân, quân Nguyễn mới giữ được Bình Thuận. Câu chuyện trên chắc cũng khiến Nguyễn Ánh phải dở khóc dở cười: Ánh sợ Quân và Tánh lục đục nên dặn Thành can ngăn, lại giao cho Thành trách nhiệm ngang Quân để khuyến khích, nhưng Quân và Tánh chưa cãi nhau câu nào thì Thành đã cậy trách nhiệm Ánh giao để không tuân lệnh Quân sai đánh ra Diên Khánh. Và có lẽ chính vì Thành đã tạo ra tiền lệ bất tuân thượng lệnh nên Tánh cứ nhất định đem quân về chứ không chịu quay lại cứu Quân, xem ra dường như cũng có ý để mặc Tây Sơn giết Quân cho bõ ghét… Cần nói thêm là có lẽ vì vụ này của Nguyễn Văn Thành mà đến 1801 sau khi phá được thủy quân Tây Sơn ở Thi Nại rồi chuẩn bị tiến đánh Phú Xuân, để Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Đức Xuyên ở lại Bình Định, Nguyễn Ánh đã dặn riêng Xuyên “Nguyễn Văn Thành tính thích khoe khoang, nhiều khi mất lòng tướng sĩ, để ngươi ở đấy, phải sửa chữa lỗi lầm ấy, để giúp việc nước”.

Cũng trên đường hướng tự tôn tự đại nói trên, Nguyễn Văn Thành với Lê Văn Duyệt lại bất hòa vì những nguyên nhân cụ thể khác. Nguyễn Văn Thành vốn là đại tướng của quân Nguyễn Ánh, còn Lê Văn Duyệt vốn là thái giám, tuy nhiều lần lập công nhưng so với Thành vẫn là tỳ tướng. Năm 1800 Thành là Khâm sai Chưởng Tiền quân điều bát chư đạo bộ binh, còn Duyệt chỉ mới là Đô Thống chế Tả đồn quân Thần sách. Trận Thị Dã, hai người và Tống Viết Phước phối hợp với nhau phá tan quân Tây Sơn, nhưng lại bất hòa vì một chén rượu. Trong trận này Thành và Duyệt đều cắm cờ tướng trên bành voi chỉ huy quân sĩ. Thành vốn thích rượu, sắp ra trận thì đem bầu ra tự rót uống, rót một chén đưa cho Duyệt. Duyệt không chịu uống, Thành cố ép, nói “Nay trời lạnh, uống một chén cho hăng thêm”. Duyệt nói “Ai nhát mới phải mượn rượu, còn tôi thì trước mắt không thấy có giặc nào mạnh, cần gì tới rượu”. Thành xấu hổ, từ đó căm Duyệt. Đến 1815 mâu thuẫn giữa hai người lên tới đỉnh điểm, Thành sai thuộc hạ lấy trộm ấn Tả quân của Duyệt, nên trong vụ án bài thơ phản của Nguyễn Văn Thuyên con Thành, Duyệt đã ra sức khép Thành vào tội chết. Cần nhắc lại rằng Lê Văn Duyệt từng có lần nói với Nguyễn Ánh rằng Tống Viết Phước dũng mà ít mưu, Nguyễn Văn Thành mưu mà ít dũng, không rõ lời bình phẩm ấy có tới tai Thành không, nhưng trong quân Nguyễn Ánh thì quả thật Duyệt thuộc hàng dũng tướng. Sử thần triều Nguyễn về sau cũng viết “Chư tướng thời trung hưng chỉ có Duyệt cùng Nguyễn Văn Trương đánh giặc không thua trận nào”, xem ra viên thái giám kiêu dũng này quả là tinh hoa não lòng của một thời loạn lạc trong lịch sử Việt Nam.

Sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Sái Gòn trong thời gian 1788 – 1802

Trở thành kinh đô của chính quyền Nguyễn Ánh, từ 1788 đến cuối thế kỷ XVIII vùng Gia Định – Sài Gòn cũng có nhiều thay đổi trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó nổi bật là hệ thống thành lũy đồn bảo, quan thự công sở, kho tàng trại súng… của chính quyền.

Đầu 1789 dựng kho Bốn dinh (Gia Định thành thông chí chép là kho Bốn trấn), nhân nền cũ của kho Giản thảo làm thêm và mở rộng ra (thu tô thuế của bốn dinh chứa ở đó, còn tô thuế của hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang thì nộp phụ ở kho Vĩnh Trấn). Đến 1794 đổi dựng kho Trừ súc (150 gian) để chứa lương.

Năm 1789 dựng nhà Sứ quán ở thôn Tân Khai, trước sau có hai tòa nhà ngói, mỗi tòa năm gian, có lính lệ 20 người.

Tháng 3 âl. năm 1790 đắp thành Gia Định. Sử chép “Vua (tức Nguyễn Ánh) thấy thành cũ ở thôn Tân Khai chật hẹp, bàn mở rộng thêm. Bấy giờ mới huy động quân dân khởi đắp, hẹn trong mười ngày đắp xong. Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên trái dựng nhà Thái miếu, phía sau là kho tàng, bên phải đặt cục Chế tạo, chung quanh là nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên làm tòa vọng đẩu bát giác, ban ngày kéo cờ, ban đêm kéo đèn làm hiệu lệnh cho các quân. Thành xong, gọi tên là kinh thành Gia Định. Thưởng cho quân dân hơn 7.000 quan tiền (Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phía nam là cửa Càn Nguyên và cửa Ly Minh, phía bắc là cửa Khôn Hậu và cửa Cấn Chỉ, phía tây là cửa Tốn thuận và cửa Đoài duyệt. Ngang dọc có tám đường, đông sang tây dài 131 trượng 2 thước, nam sang bắc cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7 trượng 5 thước. Phía ngoài thành là hào, hào rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước, có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành là 794 trượng. Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự. Hai bên đường quan đều trồng cây, gọi là đường thiên lý)”. Nhưng đến tháng 10 âl. lại thấy “sửa lại thành Gia Định”. Thật ra trong lần đầu ba vạn dân phu và binh lính bị bắt đi đắp thành Gia Định đã nổi dậy tìm giết Olivier và Le Brun khiến Nguyễn Ánh phải tạm thời cho đình chỉ công việc này, đến tháng 10 mới làm tiếp. Về kiến trúc, thành Gia Định là sự mô phỏng công sự Vauban xuất hiện từ thế kỷ XVII. Ở đây phải kể tới vai trò viên Kiến trúc sư trưởng của chính quyền Nguyễn Ánh là Trần Văn Học. Ông này nhờ theo Pigneau qua Pháp nên tiếp thu được kỹ thuật trắc địa và kiến trúc phương Tây, và đã cùng Le Brun thiết kế thành Gia Định theo kiểu công sự Vauban có uốn nắn lại theo hình thức bát quái phương Đông với các cửa Khảm Hiểm, Ly Minh… Sử chép Học “vẽ giỏi, phàm xây đồn lũy, đo đường sá, vẽ bản đồ, cắm mốc địa giới đều do tay cả”.

Đến đầu 1791 dựng trường Hải quan ở gần nhà Sứ quán để thu thuế thuyền buôn các nước. Cũng thời gian này Nguyễn Ánh cho lập xưởng Chu sư dài hơn ba dặm từ bờ sông Tân Bình đến bờ sông Bình Trị (đầu rạch Thị Nghè) để chế tạo võ khí, đóng sửa chiến thuyền. Gia Định thành thông chí chép “(Xưởng Chu sư) ở cách phía đông thành độ một dặm, dọc theo bờ sông Tân Bình quanh theo sông Bình Trị, nhà làm gác để hải đạo thuyền (đồ thủy chiến sở trường của nước Nam) chiến hạm, ghe ô, ghe chu (phàm những thuyền đều gọi chung là ghe, dùng làm chiến cụ, ghe ấy lớn dài dày chắc, đặt nhiều mái chèo, ngoài sơn dầu đen gọi là ghe ô, sơn đỏ gọi là ghe chu) và ghe lê (ghe thuyền đều chạm trổ vẽ vời từ đầu đến đuôi gọi là ghe lê) cùng là dụng cụ thủy chiến. Xưởng dài đến ba dặm”. Chi tiết hơn, Le Labousse mô tả “Các xưởng thủy quân và quân cảng của ông (chỉ Nguyễn Ánh) làm người ngoại quốc ngạc nhiên và chắc chắn sẽ khiến cả châu Âu thán phục nếu châu Âu có thể chứng kiến. Người ta thấy một bên là các thứ súng tay, súng lớn đủ mọi cỡ, dụng cụ, giá súng, đạn… phần lớn đẹp đẽ chỉ nhường kiểu mới nhất. Một bên là vô số các thuyền chiến (galère), các chiến hạm đủ mọi cỡ, mọi hình thức, rất chắc chắn. Tất cả những cái đó là công trình của ông hoàng ưa hoạt động cũng như chăm chỉ này, được các sĩ quan người Pháp theo sát giúp đỡ vì nghệ thuật và công nghệ ấy ở xứ này còn xa mới đuổi kịp châu Âu”. Sau đó các cơ sở khác như Trại súng, Kho thuốc súng cũng lần lượt được xây dựng. Gia Định thành thông chí miêu tả Trại súng trong thành Gia Định “Có mười lăm gian lợp ngói, trên làm gác ván”.

Đời sống tinh thần của các văn thần dưới quyền Nguyễn Ánh trước 1802

Trong nội chiến cuối thế kỷ XVIII, chính quyền Nguyễn Ánh ở Gia Định tập hợp được nhiều trí thức – nho sĩ có nguồn gốc xuất thân, lai lịch học nghiệp, động cơ chính trị… khác nhau, tuy nhiên góp phần vào việc đặt dấu chấm hết cho hơn ba trăm năm phân tranh và nội chiến ở Việt Nam trên cương vị là các trí thức, phần đông những người này ngoài tài năng đều ít nhiều có tính cách độc đáo thể hiện đời sống tinh thần của họ.

Bạch Doãn Triều, người Quảng Bình, đỗ đầu khoa thi hương năm 1768, được bổ Tri huyện Đồng Xuân, năm 1775 Đông cung Phước Dương bị Nguyễn Nhạc bắt đem về Quy Nhơn, Doãn Triều tuân lệnh Trấn thủ Phú Yên Tống Phước Hiệp tới trại quân của Nguyễn Nhạc nói “Trả lại Đông cung cho ta, nếu không đại binh kéo tới sẽ không có đường chạy đâu”, Nhạc phục là can đảm, không nỡ giết hại. Năm 1776 theo Phước Hiệp vào Gia Định, được thăng Lại bộ. Năm 1784 Tây Sơn đánh vào Gia Định, Nguyễn Ánh chạy qua Xiêm, Doãn Triều mắc bệnh nặng cũng cố đi theo, Ánh nói “Ngươi mệt lắm rồi, hãy ở lại trốn tránh trong làng xóm”, Triều khóc nói “Vua phải đi thì bề tôi vì nghĩa không dám ở lại”, kế kiệt sức mà chết, Ánh ứa nước mắt cởi áo đang mặc liệm cho, sai chôn cạnh đường.

Võ Danh Sở, người Quảng Bình, lúc nhỏ chăm học, đọc rộng kinh sử, văn chương lỗi lạc, được bổ Hàn lâm viện Chế cáo, năm 1775 theo Duệ tông vào Nam, làm quan tới chức Tham mưu Tả quân, theo giúp Châu Văn Tiếp, từng làm bài hịch lên án Nguyễn Nhạc, truyền bá xa gần, Nhạc rất tức giận. Sau Sở bị bắt, Nhạc hỏi “Tờ hịch trước đây gọi ta là lang sói, là ngươi làm phải không?”, Sở quát nói “Ta chỉ biết chúa ta thôi, ngươi là cái gì chứ?”, Nhạc giận giết chết, ném xác xuống sông.

Nguyễn Thái Nguyên người Thừa Thiên, từng theo Nguyễn Ánh qua Xiêm, năm 1787 tới dụ hàng bọn Hà Hỷ Văn. Tính hay rượu, đã uống là say suốt ngày. Nguyễn Ánh quở mắng, Nguyên làm tờ cam đoan hứa bỏ rượu, nhưng sau lại uống, Ánh thương nên cũng đành thôi. Nhưng tính Nguyên thẳng thắn, có lần biết Nguyễn Ánh giận vợ bèn xin vào cung tâu việc, tâu xong ung dung khuyên giải, Ánh vui vẻ nên không giận nữa. Lúc bấy giờ các quan ai có lỗi thì bị đánh roi chứ không bị phạt bổng, Nguyên tâu “Nhà vua có lòng thể tất cho bầy tôi mà không có lễ đối đãi với bầy tôi, đánh roi ở đại đình không phải là nghĩa tôn người tôn, quý kẻ quý”, Ánh nghe theo. Có lần mở khoa thi Nguyên và Võ Tánh được sung Giám thí, cùng ngồi ở thí viện, Nguyên thấy Tánh có vẻ khệnh khạng bèn trêu ghẹo “Tham thặng kiêu với ta à? Ta mà còn trẻ như Tham thặng thì công chúa Hồ Dương không bỏ ta đâu”. Tánh giận nhưng không biết làm sao đành mách lại với Ánh, Ánh cười nói “Công chúa Hồ Dương lại chịu lấy kẻ già nua quê mùa sao?”, biết Nguyên chọc quê Tánh nên không bắt tội.

Đặng Đức Thuật không rõ quê quán, đầu tiên ở ẩn dạy học trò, kẻ học tôn xưng là “Đặng gia sử phái”. Năm 1788 Nguyễn Ánh chiếm lại Gia Định, Thuật tới ra mắt, Ánh phong làm Hàn lâm viện Thị giảng Gián nghị. Thuật tính ngay thẳng cứng cỏi, gặp việc dám nói. Thuật thấy hình phạt lúc bấy giờ quá nặng, tâu xin giảm bớt mà Ánh không nghe, bèn nghiến răng đi ra nói với mọi người rằng “Nói không thấy nghe thì gián gián nghị nghị làm cái gì!”, kế bỏ chức mà đi, Ánh phải sai Giám quân Tống Phước Đạm đuổi theo mời mới chịu về.

Trần Đại Luật người Quảng Bình, cha là Độ vào nam tới cư ngụ ở Vĩnh Long, theo Nguyễn Ánh làm quan tới chức Ký lục dinh Vĩnh Trấn. Đầu 1785 Luật theo Nguyễn Ánh qua Xiêm, đến 1788 Ánh về chiếm lại Gia Định được bổ chức Hàn lâm viện Chế cáo. Luật khi tan chầu trò chuyện với mọi người, bàn luận chuyện hăng hái nhút nhát, có viên quan võ cười nói “Bọn quan văn chưa nghe tiếng súng đã đái ra quần, đâu được nói tới chuyện chiến trận”, Luật nói “Ngươi làm sao biết được ta, chỉ biết nhìn bề ngoài mà thôi, Ban Định Viễn ngày xưa ném bút được phong hầu cũng đâu phải là quan võ, ngươi cứ đợi mà xem ta làm được hay không”. Trở về nói với người trong viện, Trịnh Hoài Đức cười nói “Ngươi hăng hái thì ngươi làm đi”. Luật bèn dâng biểu xin đổi qua làm quan võ, Nguyễn Ánh khen ngợi, phong làm Thuộc nội Cai đội Phó Vệ úy. Luật trị quân rất nghiêm, sĩ tốt sợ phục, quân dưới quyền vốn có nhiều người Nghệ An, hay kiện cáo lôi thôi, Luật lấy việc lễ nhượng dạy bảo, từ đó cũng bớt kiện cáo. Trước cha Luật là Độ coi kho Vĩnh Trấn, kho cháy bị phạt đánh roi, Luật xin chịu đòn thay cha, Ánh bèn sai Luật chịu thay 30 roi, chỉ đánh Độ 20 roi. Luật có lần dâng sớ xin chém Pigneau de Béhaine, lời lẽ thái độ thẳng thắn khiến Ánh nể trọng. Luật giỏi chữ Nôm, thường được phụng chiếu soạn thảo sắc dụ, nhiều lần xứng chỉ, khi qua làm quan võ thì mạnh mẽ có mưu trí, người ta khen là có phong độ nho tướng.

Đời sống tinh thần của các võ tướng dưới quyền Nguyễn Ánh trước 1802

Tương tự các văn thần, đám võ tướng dưới quyền Nguyễn Ánh cũng mỗi người một vẻ, đủ cả thói hay tật xấu, song tìm hiểu đời sống tinh thần của họ cũng có thể ít nhiều thấy được phong khí trong chính quyền Nguyễn Ánh thời gian trước 1802, cái phong khí cứng cỏi mà phóng khoáng ở những người dấn thân cho một sự nghiệp được họ coi là chính nghĩa. Sau đây là giai thoại về một số võ tướng dưới quyền Nguyễn Ánh.

Giám quân Tống Phước Đạm người Thừa Thiên, trầm tĩnh có cơ mưu, năm 1775 theo Duệ tông Phước Thuần vào Gia Định, nhận mật chỉ ra Quảng Ngãi mộ quân, tới Bồng Sơn bị Nguyễn Huệ đánh úp nhưng thoát được trốn về Phú Xuân. Sau được tin Nguyễn Ánh đang ở Xiêm bèn vượt biển vào theo, rồi theo Ánh về Gia Định, rất được tin dùng. Đạm tính thẳng thắn không kiêng nể người thân quý. Năm 1793 Nguyễn Ánh đem Võ Tánh ra đánh Quy Nhơn, để Đạm cùng bọn Phạm Văn Nhân giúp Đông cung Cảnh giữ Gia Định, có viên Tham luận Hậu quân là bạn cũ c���a Đạm bắt đầy tớ nhà láng giềng dâng Trưởng công chúa Ngọc Du vợ Tánh. Đạm sai quân bắt hỏi, viên Tham luận sợ đưa qua giấu trong nhà công chúa, Đạm sai phá cửa bắt được người đầy tớ ấy. Tham luận tới thú tội, Đạm mời ngồi uống rượu, rượu xong thong thả nói “Mời uống rượu là vì tình bạn cũ, giết tội nhân là để giữ pháp luật. Tham thặng đi xa, nhà công chúa không phải chỗ được vào, đầy tớ người không được tự ý bắt, ông đã phạm pháp, tội không tha được”, rồi quát lôi ra chém. Viên Tham luận xin được chết toàn thây, Đạm sai lấy cây cột trước công đường chẹn vào cổ họng giết chết, ai nghe cũng kính sợ. Đạm nói ngọng, sợ tiếng đại bác, ra trận trước tiên chỉ bảo kế sách cho tướng sĩ dưới quyền rồi lui về phía sau đào hầm ngồi núp, quân Tây Sơn rút mới chui lên, nhưng hiệu lệnh nghiêm minh, tướng sĩ sợ phục, cũng là một nhân vật hiếm có.

Phó tướng Hữu quân Võ Văn Lượng người Gò Công, trước 1788 theo Võ Tánh dấy quân chống Tây Sơn. Sau Tánh về theo Nguyễn Ánh, Lượng cũng được phong làm Tổng binh Cai cơ, theo Tánh ra trận nhiều lần lập công. Lúc ấy các tướng trước khi ra trận đều phải vào lạy chào vợ chồng Ánh theo lễ gia nhân, Lượng bất mãn nói riêng với mọi người “Đâu có chuyện làm tướng lại phải lạy lục đàn bà”, Nguyễn Ánh nghe được tức giận nói “Quân vũ phu ngạo mạn vô lễ”, hạ ngục rồi tha, giáng làm Cai đội.

Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành lúc trẻ thích đánh bạc, mắc nợ thường bị người ta đòi. Khi theo Nguyễn Ánh qua Xiêm, có lần Ánh sai đem 1.000 lượng bạc đi Chiêm Kha mua gạo, dọc đường gặp quân Việt đánh bạc thiếu tiền người Xiêm, bị níu kéo đòi nợ, Thành cùng bệnh thương nhau bèn dốc túi trả cho rồi về tâu lại, Ánh tiếc của rất bực mình nhưng cũng lấy làm lạ nên không nói gì. Cuối 1796 Thành cùng bọn văn quan võ tướng Nguyễn Văn Trương, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm, Nguyễn Thái Nguyên, Trần Phúc Tri, Lê Quang Định và bọn Cai cơ, Cai đội, Tri bạ, Tham luận thấy việc quân rỗi rãi, thường cùng nhau đánh bạc, đá gà, đá cá, được thua hàng trăm hàng ngàn, Ánh từng xuống chỉ quở trách.

Chưởng Hậu quân Tôn Thất Hội được Lê Văn Duyệt phục là trí dũng kiêm toàn nhưng tính hay rượu, có lần bị Nguyễn Ánh xuống chỉ quở trách “Ta nghe nói khanh trong quân say sưa suốt ngày”.

Có vẻ ngược lại, Chưởng Chấn võ quân Nguyễn Văn Nhơn người An Giang năm 40 tuổi làm tới chức Lưu thủ Trấn Biên mới mời thầy xin học chữ, đời Minh Mạng từng giữ chức Tổng tài Sử quán. Lại có Trần Công Hiến người Quảng Ngãi, lúc nhỏ theo nho học, năm 1793 tới Thi Nại ra mắt Nguyễn Ánh, nhiều lần lập công. Sau 1802 làm Trấn thủ Hải Dương, làm quan thanh liêm công bằng, tính thích văn học, khi việc công nhàn rỗi, tập hợp tư liệu về đường biển đường bộ từng đi qua làm thành sách Đại Việt thủy lục trình ký, lại sai các phủ huyện ghi chép về núi sông phong vật, thổ nghi nghề nghiệp trong hạt làm thành sách Hải Dương phong vật ký, lập ra nhà in Hải Học đường có nhiều đóng góp trong việc xuất bản sách vở ở Bắc Thành đầu thế kỷ XIX.

Tuy nhiên cũng có những người như Nguyễn Văn Trị. Trị người Bình Dương, theo quân Nguyễn làm Cai đội. Năm 1783 Tây Sơn vào Gia Định, Nguyễn Ánh chạy ra Phú Quốc, Trị cũng đi theo, thường theo liền bên cạnh Ánh hầu hạ, có lần Ánh thua trận chạy trốn, dọc đường mệt quá không đi nổi, Trị ghé lưng cõng Ánh chạy tiếp. Sau khi chiếm lại được Gia Định năm 1788, Ánh nghĩ tới công trước từng ban Kim bài miễn tử cho mười người, trong đó Trị là người đứng đầu. Trị tính thật thà, thô hào lười biếng nên Ánh không cho cầm quân, chỉ cho làm quân Túc vệ, thường cầm phủ việt đi trước dẹp đường, người ta gọi là Trị cầm búa, sau về hưu, tính hay rượu, cuối cùng say rượu mà chết. Đây là điển hình về một loại nông dân ở Nam Bộ ngày trước, ruột để ngoài da, ngại làm việc đầu óc, chỉ muốn làm tròn bổn phận của riêng mình chứ không thích quản lý, phải chịu trách nhiệm về người khác.

Đô Thống chế dinh Tiền quân quân Thần sách Phan Văn Triệu người Bến Tre, theo Nguyễn Ánh chống Tây Sơn, khi Ánh qua Xiêm thì Triệu vì có mẹ già nên ở lại quê, Tây Sơn bắt giam mẹ Triệu, Triệu đành ra hàng để cứu mẹ. Triệu giỏi nghề sông nước, quân Tây Sơn thường sai ngồi sau thuyền để bẻ lái, một hôm đi tuần tới đoạn sông vắng vẻ, Triệu giả trượt chân rơi xuống sông, chợt có con cá sấu trồi lên, quân Tây Sơn kinh sợ cho rằng Triệu đã bị cá sấu ăn thịt bèn bỏ đi, cũng không truy bắt nữa. Triệu nhờ thế thoát thân, về sau quân Nguyễn Ánh gọi là Triệu cá sấu, Triệu cũng cảm ơn cá sấu cứu mình nên suốt đời không ăn thịt cá sấu. Triệu lúc mới theo Nguyễn Ánh thường nói với mọi người “Ngày sau được thấy nhà vua về kinh, non sông thống nhất, mặc áo cà sa nương nhờ cửa Phật, là mong muốn của ta đấy”, có phong thái công thành thân thoái.

Phó tướng Hữu quân Nguyễn Văn Hiếu người Mỹ Tho, khi còn hàn vi phải làm thuê phát cỏ để sống. Năm 1785 theo Võ Tánh chiếm giữ Gò Công, sau Tánh theo Nguyễn Ánh, Hiếu được phong làm Tổng nhung Cai cơ, kế được phong làm Khâm sai Cai cơ, sau 1802 được thăng Phó tướng Hữu quân lãnh Trấn thủ Sơn Nam Hạ. Hiếu tính thanh liêm quả quyết, cho nhận đều không cẩu thả, nghiêm cấm người nhà không được giao thiệp với người ngoài, hàng năm tết nhất người ta biếu xén đều nhất loạt từ chối, lương bổng chỉ vừa đủ chi dùng không dành dụm được gì, có lần vợ phàn nàn, Hiếu cười nói “Phu nhân không nhớ lúc còn phát cỏ làm thuê à? Lúc ấy vợ chồng phải nhường áo cho nhau để ra ngoài, mặt trời lặn mới được ăn, lấy nay so với xưa đã là gấp mười rồi, lại muốn lấy của bất nghĩa để làm giàu sao?”, cũng là người không rơi vào vết xe đổ của những kẻ sang thì mất gốc.

Việc trả thù Tây Sơn của Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Phú Xuân

Sau khi giành được thắng lợi, Nguyễn Ánh trả thù Tây Sơn rất thảm độc. Đối tượng trả thù là những người trong gia tộc Tây Sơn và các tướng lãnh quan lại chủ chốt của vương triều Tây Sơn. Bùi Thị Xuân bị xử voi giày, Trần Quang Diệu thì vì không giết hại tướng sĩ dưới quyền Võ Tánh trong thành Bình Định nên được miễn xử cực hình, chỉ bị xử chém, Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm bị đánh đòn trong Văn miếu Bắc Thành để làm nhục, ấp Tây Sơn bị đổi tên thành ấp An Tây… Những hành động nói trên của Gia Long và hậu duệ xuất phát từ hai động cơ chính trị và tâm lý, trong đó động cơ tâm lý đã dẫn tới nhiều việc làm không cần thiết đối với gia tộc Tây Sơn.

Sau khi chiếm lại được Phú Xuân năm 1801, quân Nguyễn Ánh bắt được em vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn là Quang Cương, Quang Tự, Quang Điện và Phò mã Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Ánh liền sai đóng cũi giải Quang Cương về quân thứ Bình Định cho quân Tây Sơn biết, giải Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị về Gia Định cho quân dân biết, rồi sai giết chết. Qua đầu 1802, Nguyễn Văn Vân con Nguyễn Văn Trương bắt được ba con trai của Nguyễn Nhạc là Thanh, Hán và Dũng đem nộp, Ánh cũng sai giết hết. Cuối 1801, Nguyễn Ánh cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Huệ, bổ săng, phơi thây bêu đầu ở chợ. Con trai, con gái, họ hàng và tướng hiệu của giặc 31 người đều bị lăng trì cắt nát thây”. Nhưng đó chỉ mới mở đầu hành động trả thù của triều Nguyễn. Tháng 11 năm Nhâm tuất 1802, Gia Long “Làm lễ Hiến phù (dâng tù) ở Thái miếu, dùng cực hình năm voi xé xác Nguyễn Quang Toản và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn, đem hài cốt của Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Toản và bài vị của vợ chồng Nguyễn Huệ thì đều giam ở Ngoại Đồ gia. Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi”. Lời chiếu bố cáo về việc này có đoạn “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tán xương, để trả thù cho miếu xã…”. Việc truy nã bắt bớ gia tộc Tây Sơn vẫn tiếp tục kéo dài, đến 1831 Minh Mạng bắt được con Nguyễn Nhạc là Đức và Lương, cháu là Đâu (con Đức) đều đem chém ngang lưng, sử thần triều Nguyễn chép “bấy giờ dòng giống Tây Sơn không còn sót người nào nữa”, có lẽ đến lúc ấy việc trả thù Tây Sơn mới chấm dứt.

Nhiều người vẫn lên án Gia Long “hèn hạ”, “tàn nhẫn” trong việc trả thù Tây Sơn thảm độc như thế. Nhưng trước 1788 Nguyễn Ánh cũng từng liên tiếp chịu nhiều cái tang của các chú bác anh em bị Tây Sơn giết chết, nên đó cũng là tâm lý báo thù thường tình. Hơn thế nữa, chính Quang Trung Nguyễn Huệ cũng từng sai đào mộ cha ông của Ánh, có điều những người lên án Gia Long “hèn hạ”, “tàn nhẫn” trước nay vẫn cố ý lờ đi. Đại Nam Thực lục Chính biên đệ nhất kỷ chép “Trước kia Tây Sơn Nguyễn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu – lăng Anh tông Nguyễn Phước Thái) rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy. Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng hoàng khảo (tức mộ Nguyễn Phước Luân cha Nguyễn Ánh) ở xã Cư Hóa (tức lăng Cơ Thánh) Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa, Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay Huyên đem việc tâu lên. Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi, vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả”.

Những thuận lợi và khó khăn trong việc hòa nhập vào một Việt Nam hòa bình và thống nhất của Gia Định sau nội chiến 1778 – 1802

Bước ra khỏi nội chiến 1778 – 1802, Gia Định có một số thuận lợi như có hơn mười năm sau cùng không bị chiến tranh trực tiếp tàn phá, có cơ sở hạ tầng tuy nhằm phục vụ chiến tranh nhưng cũng phát triển hơn trước, có tổ chức xã hội gần gũi hơn với toàn quốc, có hệ thống giao tiếp xã hội không những rộng rãi hơn với nước ngoài mà còn chặt chẽ hơn với vùng Trung Bắc, có đời sống xã hội yên ổn khác với vùng Trung Bắc đang xáo trộn vì triều đại đổi thay. Bên cạnh đó triều Nguyễn của Gia Long cũng lưu ý tới việc “khoan sức dân” đối với vùng đất trung hưng của họ, chẳng hạn những sắc lệnh tha thuế, miễn giảm thuế liên tiếp ban ra cho các trấn ở Gia Định sau 1802. Tuy nhiên những thuận lợi ấy lại lần lượt bị triệt tiêu, và có thể nói những khó khăn lớn nhất trên con đường hòa nhập vào một Việt Nam hòa bình và thống nhất của Gia Định sau 1802 lại tới từ triều Nguyễn, vì họ đã hoàn tất quá trình thống nhất đất nước đầu thế kỷ XIX theo một cách thức tách rời với nhiệm vụ xây dựng quốc gia.

Trước hết, phải kể tới những khó khăn về chính trị. Thực hiện việc thống nhất quốc gia với động cơ của một kẻ phục thù, triều Nguyễn từ Gia Long trở đi có một thái độ cứng rắn trong việc kiểm soát các quá trình xã hội, mà nổi bật là việc duy trì chế độ quân chính đến 1832. Dĩ nhiên với việc cải cách hành chính của Minh Mạng năm 1833 thì triều Nguyễn đã xóa bỏ thiết chế tản quyền, giải thể Gia Định thành để thống nhất đất nước về mặt hành chính đồng thời đưa văn quan vào vị trí đứng đầu bộ máy cai trị các địa phương thay cho chế độ võ tướng trấn thủ, nhưng tính chất quân phiệt của hệ thống chính trị triều Nguyễn vẫn chỉ tăng mà không giảm, vì họ không đi theo con đường xây dựng kinh tế và phát triển xã hội mà đi theo con đường chính trị, khẳng định vương triều để thống nhất quốc gia. Chính vì vậy mà họ đã gây ra nhiều xáo trộn không đáng có ở Gia Định, từ việc cấm đạo Thiên chúa năm 1833 tới việc bới móc tội lỗi của Lê Văn Duyệt dẫn tới vụ Lê Văn Khôi làm binh biến đánh chiếm cả Nam Kỳ Lục tỉnh thời gian 1833 – 1835.

Thứ nữa và quan trọng hơn là những khó khăn về kinh tế – xã hội. Tiến hành cuộc chiến tranh chống Tây Sơn một cách tương đối toàn diện, trong thời gian 1788 – 1802 Nguyễn Ánh đã áp dụng đường lối “nông chiến” đã có suốt từ chiến tranh Lê Mạc rồi Trịnh Nguyễn, tức một mặt tập trung phát triển nông nghiệp và quản lý nông dân để thu lương lấy quân, một mặt ra sức kiểm soát thương nghiệp mà đặc biệt là ngoại thương để vơ vét tối đa các khoản lợi nhuận thủ công nghiệp và thương nghiệp. Không lạ gì mà trước 1802 kinh tế thương nghiệp ở Gia Định tuy thịnh vượng mà không phát triển, bởi chính sách kiểm soát thương nghiệp và thuế má tận thu của chính quyền Nguyễn Ánh đã hạn chế rất lớn việc tích lũy tư bản thương nghiệp của tầng lớp thương nhân. Tấm bia Trùng tu Tuệ Thành Hội quán bi ký dựng năm Canh dần Đạo Quang thứ 10 (1830) hiện còn trong Hội quán Tuệ Thành, 710 đường Nguyễn Trãi quận 5 Thành phố Hồ Chí Minh cho biết các thương nhân Quảng Đông sáng lập hội quán này đã đề ra điều lệ đóng góp mỗi người một năm 5 ly vàng, dành dụm tích góp hơn 30 năm, lại phải kêu gọi đóng góp thêm mới đủ tiền “xây dựng ba gian nối nhau và mái hiên bên trái cùng bức tường bao quanh, sửa lại hai gian có trước”, theo đó đủ thấy mức độ tích lũy nhỏ bé tới mức đáng thương của phần lớn thương nhân ở Gia Định cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Dĩ nhiên đến 1830 thì tình hình đã khác, song lúc bấy giờ kinh tế Gia Định lại phải đối đầu với những khó khăn mới vì triều Nguyễn chủ trương trọng nông ức thương. Vùng Nam Bộ trong đó có Gia Định sau 1802 vẫn còn đủ đất hoang để dung chứa quán tính nông nghiệp trong thời gian trước đó, nhưng chính điều này lại đặt ra cho nền sản xuất nông nghiệp ở địa phương vấn đề tiêu thụ số lượng lúa gạo được sản xuất ra. Không lạ gì mà cuộc binh biến Lê Văn Khôi đã thu hút được tầng lớp đại địa chủ và đông đảo thương nhân người Hoa tham gia – khác với vùng Trung Bắc, mâu thuẫn chủ yếu trong kinh tế Nam Bộ sau 1802 không phải là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân trong việc chiếm hữu ruộng đất, mà là mâu thuẫn giữa chủ ruộng và chính quyền trong việc tiêu thụ lương thực hàng hóa. Nhìn từ một khía cạnh khác thì việc hạn chế thương nghiệp như vậy còn đưa tới hậu quả tất yếu là hạn chế hoạt động giao tiếp xã hội ngay trong nội bộ dân tộc, phá hủy cơ sở kinh tế – xã hội của việc thống nhất đất nước sau 1802. Việc hòa nhập vào một Việt Nam hòa bình và thống nhất của Gia Định sau 1802 vì thế vẫn là một quá trình gian nan trắc trở, vì việc đất nước hòa bình và thống nhất trở lại chưa đưa con người vùng này thoát khỏi số phận lạc hậu và đói nghèo.

 Một trăm câu hỏi đáp về lịch sử Sài Gòn trước 1802

 Cao Tự Thanh,

 Nxb. Văn hóa Sài Gòn, 2007

Nguồn bài đăng

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s