Nhật Bản và cuộc Thế chiến thứ hai

4_ch05_13

Nguyễn Nam Trân 

I – Chiến tranh Nhật Trung bột phát và hoá thành bãi lầy:

1.1 Mưu toan cắt Hoa Bắc khỏi Trung Quốc:

Từ sau Biến cố Mãn Châu, Nhật đã chuốc lấy sự khinh ghét của thế giới. Họ lập được Mãn Châu Quốc đấy nhưng rốt cuộc nước này chẳng được quốc gia nào trong Hội Quốc Liên nhìn nhận. Nhật Bản cáu kỉnh bực bội, đến tháng 3 năm 1933 (Shôwa 8) thì chính thức ra tuyên bố rút khỏi liên minh quốc tế này. Thế rồi, một mặt họ quyết định tiếp tục hành động quân sự, mặt khác, cai trị Mãn Châu theo phương pháp đặc biệt của mình.

Trong tình thế như vậy, Tưởng Giới Thạch và chính phủ Dân quốc bắt đầu thấy cần phải đi đến một hành động thỏa hiệp để ngăn không cho Nhật Bản mở rộng can thiệp quân sự. Do đó, vào tháng 5 năm 1933, hai bên đã ký kết với nhau một hiệp định đình chiến Nhật Trung có tên là Hiệp định đình chiến Đường Cô (Tankuu), và như thế, Trung Quốc vô hình trung nhìn nhận có một Mãn Châu Quốc!

Tại sao lại phải đi đến chỗ ký hiệp định này? Lý do là chính phủ Dân quốc thấy rằng không những Nhật không thuận theo quyết nghị của Hội Quốc Liên (điều mà họ hằng mong đợi) và hiện thời họ đang phải đối đầu với lực lượng quân sự của Đảng Cộng Sản đang bành trướng thế lực trong nước. Đang ở trong một tình trạng phải gọi là nội chiến khốc liệt như vậy, họ cảm thấy không đủ sức để gánh thêm một kẻ địch khác là quân Quan Đông.

Hiệp định đình chiến Đường Cô ấn định việc vạch ra một khu vực phi quân sự giữa Trung Quốc và Mãn Châu Quốc nằm ở phía nam khu vực Trường thành. Quân Nhật sẽ không có quyền vượt khỏi vùng phi quân sự đó để gây hấn. Hiệp ước đình chiến này cũng kết thúc những vấn đề đẻ ra từ cuộc Biến cố Mãn Châu. Trên thực tế, nó đã có tác dụng cắt Mãn Châu ra khỏi Trung Quốc và đặt lãnh thổ này dưới quyền kiểm soát của quân Nhật.

Thế nhưng, trên thực tế, quân Nhật vẫn chưa thỏa mãn. Họ còn muốn tiến xuống sâu hơn trong đại lục và âm mưu chia cắt vùng Hoa Bắc. Điều đó có nghĩa là họ muốn chiếm luôn năm tỉnh nằm tiếp giáp Mãn Châu Quốc: Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, Tuy Viễn và Chahar (Sát Cáp Nhĩ) [1] rồi đặt chúng dưới sự kiểm soát của mình, tương tự trường hợp Mãn Châu Quốc. Về cách thức châm ngòi thuốc súng, họ định tạo một biến cố y như Biến cố Mãn Châu, còn cai quản thì họ sẽ dựng lên một chính phủ bù nhìn như chính phủ Mãn Châu Quốc.

Trước tiên, vào tháng 6 năm 1935 (Shôwa 10), Nhật Bản ký kết với chính phủ Dân Quốc một văn bản có tên là Hiệp định Umedzu – Hà Ứng Khâm. Umedzu tức Umedzu Yoshijirô (Mai Tân, Mỹ Thứ Lang, viên tư lệnh quân Nhật đồn trú trên đất Trung Quốc), còn Hà Ứng Khâm là tướng lãnh trong quân đội Dân Quốc. Hiệp định này giúp Nhật loại trừ những thế lực của quân đội Quốc Dân Đảng có tinh thần bài Nhật ra khỏi tỉnh Hà Bắc nhưng bên trong nhằm đặt toàn vùng Hà Bắc dưới ảnh hưởng của quân đội Nhật. Vào cuối tháng đó, lại có Hiệp định Doihara – Tần Đắc Thuần với nội dung tương tự cũng được ký giữa Doihara Kenji (Thổ Tỉnh Nguyên, Hiền Nhị) đại diện quân Quan Đông và Tần Đắc Thuần đại diện Quốc Dân Đảng. Lần này, mục đích của Nhật là quét sạch lực lượng Quốc Dân Đảng nằm trong tỉnh Chahar.

Được như thế rồi, quân Nhật bèn tung ra một nhân vật thân Nhật tên Ân Nhữ Canh và cho ông ta lập một đoàn thể có tên Ký Đông phòng Cộng tự trị ủy viên hội (sau đổi tên thành Ký Đông phòng Cộng tự trị chính phủ) làm bù nhìn cho mình. Tổ chức này bèn ra tuyên ngôn xem Hà Bắc là một khu tự trị.

Xin nói thêm chữ Ký trong Ký Đông là để ám chỉ tỉnh Hà Bắc. Ký Đông có nghĩa khu vực phía đông Ký châu tức Hà Bắc.Phòng Cộng có nghĩa là ngăn ngừa Cộng Sản.

Hành động của quân Nhật khiến cho chính phủ Dân Quốc cảm thấy nguy đến nơi nên đã cử một nhân vật tên là Tống Triết Nguyên lên Bắc Bình (tức Bắc Kinh) dựng nên một cơ quan nhà nước có tên Ký Sát chính vụ ủy viên hội và giao cho nó một ít quyền tự trị. Họ nhắm dùng tổ chức hành chánh này để kềm kẹp âm mưu của người Nhật muốn mau chóng biến Hoa Bắc thành vùng đất thuộc địa mới.

Sát trong cụm từ Ký Sát có nghĩa là Sát Cáp Nhĩ, phiên âm Hán chữ Chahar.

Việc quân Nhật nới rộng vùng ảnh hưởng của mình trên đất Hoa Bắc khiến cho bên trong chính phủ Dân Quốc có những tiếng nói mạnh mẽ, đặt vấn đề xem có nên tiếp tục cuộc nội chiến để tiểu trừ quân Cộng Sản hay không.

Dân chúng Trung Quốc cũng tỏ ra giận dữ trước âm mưu chia cắt để chiếm đoạt vùng Hoa Bắc, quá lộ liễu, quá trắng trợn dưới mắt họ. Những cuộc biểu tình chống Nhật bắt đầu được tổ chức khắp nơi, gây nên một phong trào vận động kháng Nhật cứu quốc.

Vừa lúc dó thì xảy ra Biến cố Tây An (The Shian Incident).

Tướng Trương Học Lương (1901-2001, con trai tướng quân phiệt Mãn Châu là Trương Tác Lâm, người đã bị quân Quan Đông cho nổ bom sát hại), sau khi về hàng Tưởng Giới Thạch, được giao nhiệm vụ tiểu trừ quân Cộng Sản và đồn binh ở Tây An. Lợi dụng một chuyến viếng thăm thành phố này của Tưởng Giới Thạch với mục đích cổ vũ Trương phải ra sức diệt Cộng hơn nữa, Trương đã bắt cóc Tưởng và tạm giam cầm để thuyết phục Tưởng phải đình chỉ cuộc nội chiến Quốc – Cộng giữa người Trung Quốc với nhau, thay vào đó, chung sức kháng chiến chống Nhật.

Rốt cuộc, Tưởng đành phải nghe theo lời Trương. Vụ này được gọi là Biến cố Tây An, xảy ra vào tháng 12 năm 1936 (Shôwa 11). Nhân đấy, chính phủ Dân Quốc đình chỉ nội chiến và chuyển qua thực hiện phương sách chống Nhật.

1.2 Vụ Lư Câu Kiều và Chiến tranh Trung Nhật:

Sau Biến cố Tây An, chính phủ Dân Quốc đã thay đổi lập trường một cách nhanh chóng. Họ không những yêu cầu Nhật dẹp bỏ Ký Đông phòng Cộng tự trị chính phủ mà còn lôi ra lại vấn đề tranh chấp về Mãn Châu.

Giữa lúc đó thì xảy ra một vụ xung đột khác giữa hai bên mà lịch sử được biết tới như vụ Lư Câu Kiều (hay Lô Câu Kiều) nhằm ngày 7 tháng 7 năm 1937 (Shôwa 12).

Đó là một địa điểm cách Bắc Bình (Bắc Kinh) khoảng 20 cây số về hướng Nam Tây (gần Nam hơn Tây). Lư Câu Kiều vốn là tên một chiếc cầu đá cổ xưa bắt qua một cái ngòi (câu), tương truyền cầu hoàn thành vào năm 1189.

Đêm 7 tháng 7, quân Nhật đồn trú ở Trung Quốc (mà họ gọi là Chi Na) đang diễn tập quân sự ở vùng phụ cận Lư Câu Kiều thì bỗng không biết từ đâu có vài phát đạn bắn tới. Quân Nhật tức khắc tập họp lính lại để điểm danh nhưng thấy thiếu mất một người. Có kẻ hô hoán “Không chừng anh ta đã bị bọn lính Trung Quốc ra tay rồi?” làm cho cả bọn đinh ninh như vậy nên đi kiếm chuyện với lính Trung Quốc. Cuối cùng cuộc chiến đấu giữa hai bên đã diễn ra. Người lính mất tích tối hôm trước thì lại trở về bình yên vô sự ngay hôm sau!

Tuy vậy, cuộc giao tranh giữa hai bên vẫn tiếp tục. Chẳng bao lâu, một hiệp định đình chiến được ký kết. Nếu chính phủ Nhật sau đó không hành động thì có lẽ một sự cố nhỏ bé này đã chẳng biến thành một cuộc chiến tranh Nhật Trung toàn diện. Thế nhưng chính phủ Nhật đã quyết định gửi quân qua.

Nội các đương thời do Thủ tướng Konoe Fumimaro (Cận Vệ, Văn Lữ, 1891-1945) [2] lãnh đạo, mới tổ chức xong không lâu.

Tháng 1 năm 1937 (Shôwa 12), sau khi Nội các Hirota Kôki tổng từ chức và tướng Ugaki Kazushige thất bại trong việc thành lập nội các mới, nhân vật tên Hayashi Senjuurô (Lâm, Tiên Thập Lang, 1876-1943) [3], một đại tướng lục quân, đã thành công.

Trong thời gian Biến cố Mãn châu, tướng Hayashi đang giữ chức tư lệnh quân đội ở Triều Tiên. Nhân vì ông quyết định độc đoán, không đợi sắc dụ mà đơn phương đem quân đóng ở Triều Tiên vượt biên giới tiến vào Mãn Châu nên có cái hỗn danh là “ông tướng vượt biên” (ekkyô shôgun = việt cảnh tướng quân). Sau đo, về nước, ông đã giữ nhiệm vụ tổng trưởng lục quân.

Hayashi chủ trương “chính trị đi đôi với tín ngưỡng” (tế chính nhất trí), thường đề ra những khẩu hiệu có màu sắc thần bí. Ông lại bổ nhiệm Yuuki Toyotarô (Kết Thành, Phong Thái Lang) người được lòng giới kinh tài vào chức Tổng trưởng tài chính để làm cầu nối giữa quân phiệt và tài phiệt. Chính sách kết hợp hai thành phần đó có tên là gunzai hôgô (quân tài bão hợp).

Chỉ riêng việc trong nội các của Hayashi không có lấy một bóng người xuất thân từ chính đảng, cho thấy nó là một nội các đậm chất quân phiệt. Nhưng cũng chính vì thái độ muốn loại trừ chính đảng ra khỏi chính trị mà Thủ tướng Hayashi bị quốc hội phản đối. Nhân quốc hội cứ liên miên làm khó dễ, rốt cuộc ông bèn cho giải tán nó và tổ chức tổng tuyển cử mới.

Để chuẩn bị cho cuộc tuyển cử, ông đã thành lập một chính đảng lớn thân quân đội. Nào ngờ điều đó chỉ gieo ác cảm cho dân chúng vốn thấy đất nước mình đang tiến trên con đường quân quốc chủ nghĩa. Kết quả cuộc bầu cử đã đem thắng lợi lớn cho phía các chính đảng. Nội các Hayashi thấy chính sách của họ không được dân ủng hộ, mất tự tin và tổng từ chức. Nó chỉ kéo dài vỏn vẹn 4 tháng. Và như đã nói, người kế tiếp tướng Hayashi trong chức vụ thủ tướng là Công tước Konoe Fumimaro.

Konoe xuất thân quí tộc, con cháu một gia đình đứng đầu trong 5 gia đình nhiếp chính ngày xưa. Ông lịch sự, thanh nhã, ăn nói duyên dáng, mới có 47 tuổi, lại đề xướng cải cách cho nên mọi người rất mến. Ông được xem như một ngôi sao đang lên trong chính trường và người ta kỳ vọng nhiều nơi ông. Tuy là chuyện bên lề nhưng cũng xin cho biết Konoe chính là tổ phụ của một nhân vật nổi tiếng gần đây: Hosokawa Morihiro (Tế Xuyên, Hộ Hi), nguyên chủ tịch Nihon Shintô (Nhật Bản Tân Đảng) và là thủ tướng vào tháng 8/1993. Hai ông cháu vừa có gương mặt giống nhau, cách ăn nói và hành động lại có nhiều điểm chung.

4_ch05_01KonoeFumimaro

Thủ tướng Konoe Fumimaro

Nội các Konoe lần thứ nhất (ông làm thủ tướng đến 3 lần) đã tuyển dụng cả thành viên các chính đảng ra làm việc. Nội các của ông có tính cách đoàn kết tất cả các phe nhóm. Thế nhưng chẳng may, khi nội các vừa mới bắt tay vào việc được một tháng thì vụ Lư Câu Kiều đã xảy ra.

Ban đầu, Nội các Konoe chủ trương không xé ra to. Ngay cả bộ tham mưu quân đội và bộ lục quân cũng chưa nhất trí có nên phái binh qua Trung Quốc hay không. Tuy nhiên, dần dần phái chủ chiến (đòi phái binh) đã chiếm ưu thế. Hai cơ quan nói trên đều yêu cầu nội các cho xuất quân.

Những kẻ đòi phái binh lập luận: “Trong khi Trung Quốc đông đến 40 vạn, lính Nhật tại chỗ chỉ có 5 nghìn! Nếu cuộc chiến lan rộng thì lấy ai bảo vệ 1 vạn 2 nghìn kiều dân. Không những thế, lính Nhật có thể đại bại và bị tiêu diệt. Để kềm không cho việc này xảy ra, chi bằng phái binh”. Nghe theo lời họ, Tổng trưởng lục quân Sugiyama Hajime (Sam Sơn, Nguyên, 1880-1945) [4] đã đốc thúc các thành viên nội các chấp thuận giải pháp này. Nội các Konoe đành thay đổi lập trường, quyết định gửi quân qua Trung Quốc, dù một hai vẫn căn dặn chớ để chiến tranh mở rộng, và yêu cầu giải quyết vấn đề tại chỗ. Có lẽ quyết định này đến từ việc họ e ngại nếu tướng Sugiyama từ chức thì cả nội các lại phải từ chức theo.

Tuy nhiên, quyết định nói trên là quyết định sai lầm to lớn nhất của Nhật Bản. Nghe Nhật Bản gửi quân qua, chính phủ Dân Quốc bèn đổi qua thái độ cứng rắn. Tướng Tưởng Giới Thạch đã đọc diễn văn: “Nếu quân Nhật qua đây, chúng ta sẽ triệt để kháng cự!”

Như thế, cuộc xung đột Nhật Trung đã trở thành chiến tranh toàn diện.

Hai bên đánh nhau kể từ thời điểm đó cho đến tận tháng 8 năm 1945 (Shôwa 20), khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc và quân đội Nhật đầu hàng lực lượng Đồng Minh. Cuộc chiến được mệnh danh là Chiến tranh Trung Nhật (1937-1945) nhưng theo lối mệnh danh của người Nhật thì nó chỉ là Biến cố Bắc Chi (Hokushi Jihen).

Dĩ nhiên Bắc Chi có nghĩa là miền Bắc của Chi-na tức vùng Hoa Bắc, nhưng lúc ấy, lửa chiến tranh đã lan sang cả Hoa Trung rồi. Tuy hai bên chưa hề tuyên chiến với nhau, cuộc chiến đã triển khai một cách toàn diện. Người Nhật nhân đấy đổi lối gọi từ Biến cố Bắc Chi sang Biến cố Chi-na.

Chiến tuyến dần dần kéo dài từ Bắc xuống Nam. Thế rồi một vùng Thượng Hải đã trở thành bãi chiến trường chính. Hai bên địch thủ giao tranh qua lại kịch liệt. Quân chính phủ Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch đến tháng 9 năm 1937 (Shôwa 12) đã kết hợp được với quân đội Cộng Sản (gọi là Đệ nhị thứ Quốc Cộng hợp tác). Một Mặt trận thống nhất kháng Nhật đã ra đời.

Tại thành phố Thượng Hải, quân Nhật khổ chiến trong khi quân đội Trung Quốc hăng hái chiến đấu như vừa nhận được một luồng sinh khí mới. Tuy phải chịu nhiều thương vong nhưng rốt cuộc vào tháng 11 năm ấy, quân Nhật cũng đã khống chế được thành phố (gọi là Đệ nhị thứ Thượng Hải sự kiện). Rồi theo đà, họ tiến quân lên chiếm thành phố Nam Kinh, thủ đô của chính phủ Dân Quốc, nằm cách Thượng Hải khoảng 300 cây số. Chính phủ Dân Quốc phải rút về Hán Khẩu, rồi dời đô về Trùng Khánh, một thành phố nằm sâu hơn trong nội địa. Họ tiếp tục kháng chiến bền bĩ. Phía Nhật cũng phái binh tăng viện nhiều lần, thế nhưng vẫn không sao khuất phục được đối phương.

Trong giai đoạn Chiến tranh Trung Nhật, lính Nhật đã có những hành vi tàn ngược khắp nơi nhưng đặc biệt khi áp chế Nam Kinh, họ đã giết hại rất nhiều người kể cả những thường dân không tham gia chiến đấu. Lúc đó cơ sự chưa vỡ lỡ, chỉ đến khi có phiên tòa ở Tôkyô xử tội phạm chiến tranh thì mọi việc mới phơi bày ra ánh sáng. Vụ đó được biết dưới cái tên Nam Kinh sự kiện (The Nankin Incident). Tuy việc giết hại thì đã rõ ràng, các nhà viết sử hãy còn tranh cãi về qui mô của nó, nhất là con số nạn nhân.

Như thế, cuộc Chiến tranh Trung Nhật đã kéo dài hơn dự tưởng. Hai bên vẫn không có dấu hiệu tìm cách giảng hòa thực sự. Viên đại sứ Đức tại Trung Quốc là O.P. Trautmann muốn đóng góp vai trò trung gian của mình vào việc hòa giải nhưng cố gắng của ông chẳng đưa đến một thành quả nào. Dĩ nhiên đó là vì điều kiện của hai bên đặt ra quá đỗi đối nghịch.

Thế rồi, Chính phủ Konoe ra tuyên ngôn số 1 (Konoe seimei 1) : ” Chính phủ đế quốc (ý nói Nhật Bản) từ rày về sau sẽ không xem chính phủ Dân Quốc (của Tưởng Giới Thạch) như kẻ đáng nói chuyện”, ý muốn cho rằng việc thương thuyết đã trở thành bế tắc, chỉ còn có cách tiếp tục giải quyết bằng vũ lực. Đó là tuyên ngôn tuyệt giao của Nhật ra ngày 16 tháng 1 năm 1938 (Shôwa 13).

Hai hôm sau khi Konoe đưa ra tuyên ngôn số 1 xem chính phủ Dân Quốc như những kẻ không đáng nói chuyện, ông lại đổ thêm dầu vào lửa khi có lời bình cho biết câu nói đó phản ánh sự miệt thị của ông. Thái độ này chỉ làm cho việc cố gắng chấm dứt chiến tranh bằng hòa đàm trở thành không tưởng.

1.3 Ban bố thể chế thời chiến:

Khi chiến tranh Nhật Trung trở thành dai dẳng, chính phủ bèn nghĩ đến việc áp dụng một thể chế thời chiến đồng thời trong các lãnh vực chính trị, quân sự lẫn kinh tế, dùng quyền lực nhà nước cưỡng chế quốc dân phải tuân theo.

Nội các Konoe Fumimaro đưa ra 3 khẩu hiệu: “Cử quốc nhất trí, tận trung báo quốc, kiên nhẫn trì cửu” nghĩa là cả nước đoàn kết một lòng, nhẫn nại không ngừng, đem hết tâm lực phục vụ nhà vua và đất nước. Như thế, chính phủ muốn động viên tinh thần toàn thể quốc dân để phục vụ cho nỗ lực chiến tranh.

Đồng thời, trong hai ngày 3 tháng 11 và 22 tháng 12 năm 1938 (Shôwa 13), Thủ tướng Konoe trước sau đều tuyên bố: “Cuộc chiến tranh này có mục đích giải phóng châu Á thoát khỏi chủ nghĩa đế quốc Âu Mỹ và cũng để đạp đổ chủ nghĩa Cộng Sản, liên kết 3 nước Nhật, Mãn, Hoa nhằm thành lập một trật tự mới ở vùng Đông Á”. Qua lời tuyên bố ấy, mục tiêu chiến tranh đặt ra thật là cao đẹp. Ông còn lên tiếng với quốc dân: “Đây là một cuộc chiến tranh có chính nghĩa” và tỏ ra vô cùng tin tưởng vào kết quả của nó. Không những biện minh trước quốc dân Nhật Bản, ông còn muốn kêu gọi cả với thế giới.

Trước đây, ở Nhật đã có một tổ chức nửa quan nửa dân tên là Kyôchôkai (Hiệp điệu hội). Đó là cơ quan hòa giải giới chủ nhân và giới lao động. Nay với thể chế thời chiến, chính phủ đã kêu gọi các đoàn thể tư bản và các công đoàn làm việc với nhau để đến năm 1938 (Shôwa 13) thì họ đẻ ra được một tổ chức gọi là Sangyô hôkoku renmei (Sản nghiệp báo quốc liên minh). Những thành viên trong đoàn thể làm kỹ nghệ vì mục đích “yêu nước” này, bất luận chủ hay thợ, đều phải hợp tác để phục vụ chiến tranh.

Ở các hãng xưởng, rất nhiều công đoàn cứ giữ nguyên hình thức như thế mà biến thành các “sản nghiệp báo quốc hội”. Dần dần con số hội viên tăng lên. Đến năm 1940 (Shôwa 15) thì con số các chi nhánh của Đại Nhật Bản sản nghiệp báo quốc hội đã lên đến 7 vạn đơn vị, qui tụ 418 vạn người. Cũng nên nhắc rằng khi Đại Nhật Bản báo quốc hội đã thành hình rồi thì các công đoàn bị cưỡng chế phải giải tán.

Để tiếp tục cuộc chiến, chính phủ đã nắm trọn kinh tế trong tay. Năm 1937 (Shôwa 12) với việc ban hành 2 đạo luật “lâm thời” (bất thường), một về cho vay vốn (Lâm thời tư kim điều chỉnh pháp), một về về xuất nhập khẩu (Du xuất nhập phẩm lâm thời thố trí pháp), họ dành cho các ngành kỹ nghệ quân nhu quân dụng ưu tiên vay vốn làm ăn và đặt mậu dịch vật tư dưới sự kiểm soát của nhà nước. Như thế họ đã tích cực tập trung vốn liếng quốc gia vào việc sản xuất những nhu yếu dùng trong chiến tranh.

Những đại xí nghiệp của nhóm tư bản truyền thống cũng góp sức vào việc chế tạo quân nhu, đúng như đòi hỏi mà quốc sách đã đề ra.

Cũng trong vòng năm đó, chính phủ thiết lập Kikakuin (Kế hoạch viện), đặt chương trình cung cấp vật tư sao cho đúng với đòi hỏi của cuộc chiến.Theo đó thì kể từ năm sau, để có thể tiếp tục chiến đấu, phải ưu tiên cho việc nhập cảng quân nhu quân dụng, và như thế, giảm bớt việc nhập khẩu nhu yếu phẩm dân sự. Với thời gian, khuynh hướng ấy càng rõ.

Cũng vậy, chính phủ còn đặt kế hoạch mở rộng sản xuất để dốc toàn lực vào cuộc chiến. Do đó, trong nước lại đặt ưu tiên cho việc sản xuất vật tư cho quân đội. Mức sản xuất những mặt hàng như máy móc và kim loại ngoài thép (non ferrous metals, ý nói đồng, chì, sắt, nhôm, thiếc và bạch kim) đã vọt lên hẳn trong năm 1944 (Shôwa 19). Việc sản xuất nhu yếu phẩm cho dân chúng bị hạn chế và việc xuất khẩu hàng hoá cũng giảm đi. Các trung tiểu xí nghiệp bị nhà nước bắt buộc tổ chức lại làm cho một số lớn đã đi đến chỗ khánh tận.

Cũng nhắc lại là vào năm 1938 (Shôwa 13), nhà nước đã ban hành một đạo luật về việc quản lý điện lực. Họ cho thành lập một công ty điều hành việc phân phối điện (tống điện = sôden) để quản lý việc kinh doanh của các công ty điện lực. Như thế chính phủ càng can thiệp mạnh mẽ hơn vào việc kinh doanh của giới dân sự.

Vào tháng 4 năm ấy, chính phủ ban hành Lệnh “quốc gia tổng động viên”. Nhân danh nhu cầu quốc phòng thời chiến, cho dù không có sự phê chuẩn của quốc hội, chính phủ vẫn có thể, thông qua các sắc lệnh, kiểm soát toàn thể các nguồn nhân lực cũng như tài lực trong và ngoài nước (Đó là các điều 1, 4 và 8 của Kokka sôdôin hô = Quốc gia tổng động viên pháp).

Thế rồi đến tháng 7 năm sau (1939), dựa trên một sắc lệnh theo tinh thần của bộ luật nói trên, chính phủ đã đưa ra Lệnh trưng dụng quốc dân (Kokumin chôyôrei), cưỡng chế dân chúng đi lao động ở các công xưỡng chế tạo quân nhu.

Bằng những phương pháp như thế, chính phủ nắm trọn được nền kinh tế, bắt nó chạy theo mục đích phục vụ chiến tranh, làm cho sinh hoạt của dân chúng Nhật Bản chẳng mấy chốc trở nên vô cùng cực khổ và bi đát.

Vậy mà chính phủ vẫn chưa tha. Dương cao khẩu hiệu “Xa xỉ là địch”, họ còn đưa ra những đòi hỏi ép xác mới, siết chặt gọng kềm đối với người dân.

Vì đồ tiêu dùng không đủ, vật giá tăng lên. Tháng 10 năm 1939 (Shôwa 14), chính phủ phải ban hành lệnh kiểm soát giá cả. Lệnh này cấm không cho tăng giá. Lại nữa, cũng vào năm ấy, có lệnh không chế tạo hàng vải với mục đích tiêu dùng trong quốc nội. Thế rồi kể từ năm 1940 (Shôwa 15), dân chúng nếu muốn mua đường, diêm quẹt, than củi… tức là những vật dụng thường ngày, bắt buộc phải có vé (kippu). Sang đến năm sau, mua quần áo cũng cần vé. Còn như gạo là món ăn chính của người Nhật, từ đó muốn mua cũng không được nữa, phải đợi được chia. Nhìn chung, dân chúng không còn có thể mua bán tự do. Thời đại thiếu trước hụt sau đã đến với họ.

Hòm thư bưu điện, ghế sắt công viên và những vật dụng kim loại khác đều bị thu hồi để chế tạo vũ khí. Nhiều món đồ dùng thay dùng tạm đã được sản xuất. Chẳng hạn vì lý do cần nhiều da, người Nhật không còn được đi giày mà phải đi dép gỗ. Xe buýt không còn chạy bằng dầu xăng mà bằng than củi. Muổng sắt được thanh thế bằng muổng tre. Vào năm 1939 (Shôwa 14), người ta không dùng bê tông cốt sắt mà dùng bê tông cốt tre trong việc xây dựng. Hết kiệm ước tới thắt lưng buộc bụng, lúc nào dân chúng cũng bị trói buộc, nói chung họ phải sống hết sức khốn khổ.

Năm 1940 (Shôwa 15), ở nông thôn lại đẻ ra một chế độ mới là cung cấp thóc gạo. Gạo sản xuất xong, nhà nông bị bắt buộc đem bán cho chính phủ với giá rẻ. Những người có sức lao động thì đã bị chính phủ bắt đi lính hết rồi, phân bón hay những vật tư dùng vào việc sản xuất lại quá thiếu thốn. Do đó, vào năm 1939 (Shôwa 14), sức sản xuất lương thực trong nước trở nên vô cùng tồi tệ. Tình trạng kinh tế nông thôn cực kỳ khó khăn và nạn thiếu thốn lương thực không còn cách nào che dấu được nữa.

Sự kiểm soát kinh tế trong thời chiến

Tháng 7/1937 Vụ Lư Câu Kiều bùng nổ. Xung đột Trung Nhật lan rộng.
Tháng 9/1937 Công bố đạo luật lâm thời về việc điều chỉnh vốn đầu tư.
  Công bố đạo luật lâm thời về việc quản lý xuất nhập khẩu
Tháng 10/1937 Thành lập Kikakuin (Viện kế hoạch)
Tháng 4/1938 Công bố luật tổng động viên và luật quản lý nguồn điện.
Tháng 7/1939 Công bố luật trưng dụng quốc dân.
Tháng 10/1939 Công bố lệnh kiểm soát vật giá.
Tháng 10/1940 Chế độ cung cấp gạo (buộc nông dân bán gạo cho nhà nước)
Tháng 11/1940 Ban hành chế độ mua hàng (đường, diêm quẹt) bằng vé.
Tháng 4/1941 Chế độ phân phối gạo.

Chúng ta đã biết trong thập niên 1920 – với trào lưu thế giới, chủ nghĩa Mác đã lôi cuốn được giới trí thức và lan truyền rộng rãi. Thế nhưng trước sự đàn áp của nhà cầm quyền cũng như sự đối kháng của các lực lượng theo chủ nghĩa quốc túy, nó dần dần suy yếu. Một số người bỏ hàng ngũ (tenkô = chuyển hướng) vì không chịu nổi áp lực. Sang đến thập niên 1930 thì khuynh hướng này càng rõ rệt. Chính phủ thắt vòng vây chung quanh những người có ý kiến khác mình, bóp chặt tự do ngôn luận đối cả kẻ theo chủ nghĩa tự do lẫn cộng sản.

Năm 1937 (Shôwa 12), Bộ Giáo Dục phát hành Kokutai no hongi (Quốc thể bản nghĩa) nói về đường lối của quốc gia và năm 1941 (Shôwa 16), lại in ra Shinmin no dô (Thần dân chi đạo) với mục đích giáo hóa dân chúng theo phương châm đạo đức của họ. Cùng năm, họ đề xướng cuộc tổng động viên tinh thần toàn dân để cổ xúy cho chủ nghĩa quân sự, chủ nghĩa quốc gia và dĩ nhiên quan niệm kokutai (quốc thể). Năm 1940 (Shôwa 15), họ lập Naikaku jôhôkyoku (Nội các tình báo cục) tức Cục thông tin của nội các với mục đích kiểm duyệt tất cả các hình thức thông tin và nghệ thuật từ báo chí, xuất bản, điện ảnh cho đến kịch nghệ. Gọng kìm đối với văn hoá vô cùng chặt chẽ.

Về giáo dục, năm 1941 (Shôwa 16), các trường tiểu học được đổi tên thành kokumin gakkô (quốc dân học hiệu) để dạy dỗ trẻ em trỏ thành con dân của thiên hoàng (kômin = hoàng dân). Chỉ sách kôminka (hoàng dân hóa) này còn được thực hiện đồng loạt ở cả các vùng đất thực dân như Triều Tiên và Đài Loan (với chế độ giáo dục Nhật ngữ và thay tên đổi họ theo lối Nhật như đã nói bên trên). Như thế việc dạy dỗ theo khuynh hương dân chủ tự do từ lúc đó trở đi hầu như không thể thực hiện được.

Về mặt sử học thì từ lúc đầu nghĩa là cuối thập niên 1920 sang đầu thập niên 1930, đã có Yoshino Sakuzô và Osa Taketakeshi nghiên cứu văn hoá Meiji và chính trị hiến chính, phái Kôza (Giảng Tòa) và phái Rônô (Lao Nông) tranh luận về sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Nhật và bản chất của cuộc Duy Tân Meiji theo lập trường của chủ nghĩa Mác. Nhưng chẳng bao lâu họ đã bị phong trào nghiên cứu sử dưới nhãn quan của chủ nghĩa quốc túy, gọi là “hoàng quốc sử học” vốn lấy thiên hoàng làm trung tâm, phản pháo. Nhân vật nổi bật của phong trào này là Hiraìzumi Hiroshi ( 1895-1984). Mục đích của họ là dùng phương tiện này vào việc giáo dục dân chúng theo đường lối của nhà nước.

Bộ môn triết học chỉ thấy mỗi Nishida Kitarô (1870-1945) là có ảnh hưởng lớn trong giới trí thức vốn bị giới hạn tầm nhìn về khoa học xã hội. Nishida đã đào xới triết học Tân-Kant (Neo-Kantianism) của Đức để xây dựng nền tảng một tinh thần luận (ideology) cho triết học Nhật Bản.

Dù bị đàn áp nhưng không phải mọi nghiên cứu đều tê liệt và mọi phát biểu hoàn toàn im bặt. Lâu lâu cũng có người như Yanaihara Tadao (1893-1961) lên tiếng phê phán chế độ thực dân ở Đài Loan và bị buộc phải từ chức giáo sư Đại học Tôkyô (1937). Cũng vậy, các giáo sư Ôuchi Hyôe (1888-1980), Arisawa Hiromi (1896-1988) đã họp thành Mặt trận nhân dân (Jinmin sensen, 1938) để chống đối chính phủ nên bị kết tội phá rối trị an. Học giả kinh tế khuynh hướng tự do là Kawai Eijirô (1891-1944) bi cấm lưu hành trước tác nhan đề “Phê phán chủ nghĩa phát xít” (Fashizumu no hihan) và ngoài ra ông còn bị cho nghỉ việc, 1937-38). Giáo sư Tsuda Sôkichi nghiên cứu lịch sử cổ đại, nghi ngờ tính chính thống của thiên hoàng qua Kojiki và Nihonshoki cũng bị tịch thu sách vì tôị khi quân phạm thượng.

Về văn học, thời gian hậu bán thập niên 1920, có nhiều nhà văn khuynh hướng vô sản (Proletariat) đăng đàn nhưng bước qua những năm 1930 thì vì do sự đàn áp, họ phải giã từ lý tưởng đã đeo đuổi. Mặt khác, đối kháng với họ còn có phong trào văn học của phái Shin Kankaku (Tân cảm giác, Modernism). Trong bọn họ, được biết đến hơn cả là Yokomitsu Riichi (1898-1947), Kawabata Yasunari (1899-1972). Ngoài ra Tanizaki Jun.ichirô, Tokuda Shuusei, Shimazaki Tôson, Shiga Naoya… đều là những nhà văn có giá trị không thể chối cả nhưng đường hướng chính trị và số phận thì khác nhau. Nếu tính cả thời chiến tranh Trung Nhật thì chúng ta còn phải nói đến Hino Ashihei (1907-1960), Ishikawa Tatsuzô (1905-1985, giải thưởng Akutagawa đầu tiên).

Về kịch nghệ thì có các đoàn kịch như Shinkyô và Shin Tsukiji tiếp nối được phong trào kịch mới của Nhóm Liên Hiệp Kịch Vô Sản (Puroretaria Gekijô Dômei). Sân khấu cải lương (Shinpa) một thời suy thoái nhưng cũng được phục hồi và đến năm 1937 (Shôwa 12), họ kết hợp thành nhóm Tân Sinh (Shinsei Shinpa) chuyên diễn về vấn đề thời sự hoặc chuyện tình ái xóm lầu xanh. Kabuki được xem trọng vì là sân khấu cổ điển nhưng trong nội bộ cũng phải đổi mới cho hợp thời. Vì thế , năm 1931 Shôwa 6), rạp Tân Tiến (Zenshinza) đã ra đời. Về kịch đại chúng thì các vở nhẹ nhàng và hợp với các cô gái trẻ có chiều hướng phát triển. Riêng điện ảnh, khoảng năm 1931-32, phim lồng tiếng (talkies) đã ra mắt và sau đó, trở thành một bộ môn nghệ thuật quan trọng.

Hội họa thời này khá chịu ảnh hưởng của Tây phương. Hội họa truyền thống (Nihonga) vào thập niên 1930 cũng dần dần tiến hoá nhưng ít thấy có bức tranh nào đáng lưu ý. Trong chiến tranh Nhật Trung, tranh tuyên truyền cổ động để ủng hộ cho quốc sách thì nhiều, nhất là khi các nghệ sĩ phải lên đường tòng quân. Tính tự phát của nghệ thuật không còn nữa.

Nói về sinh hoạt của dân chúng thì trong giai đoạn Taishô bước qua Shôwa, cái ăn cái ở cái mặc của người Nhật đã đậm màu sắc Tây phương nhưng vì tình hình khủng hoảng trên thế giới nên nói chung, cuộc sống của họ cùng quẩn, tỷ lệ thất nghiệp cao, tranh chấp lao động và ruộng đất xảy ra thường xuyên. Kẻ có tiền một chút thì đâm đầu vào cuộc sống hưởng lạc, đồi trụy. Do đó, cũng có thể gọi chung là một thời đại chạy theo vật dục và cái vô nghĩa, ero guro nansensu ( erotic, grostesque, non sense) như cách người ta tóm tắt khi nói về thời đó. Quán cà phê, tiệm nhảy làm ăn thịnh vượng, thiên hạ yêu chuông nhạc lưu hành (kayôkyoku) và nhạc jazz.

Tuy vậy, đùng một cái, từ năm 1937 ( Shôwa 12), khi có chủ trương động viên tinh thần quốc dân thì chính phủ bắt đầu hạn chế họ chi dụng, quốc dân phải thắt lưng buộc bụng, để dành tiền. Những năm 1939-41, về mặt phong tục, nam nữ không còn được để tóc dài, chải đầu láng. Ban đêm, dân chúng không được dùng tín hiệu quảng cáo bằng đèn neon, các tiệm nhảy (dance hall) đều phải đóng cửa. Giới trẻ được chỉ thị học tập nếp sống kham khổ cho quen. Ở các trường đại học, sinh viên bị bắt buộc theo các khóa huấn luyện quân sự. Từ năm 1938 (Shôwa 13), có lệnh thành lập khắp nơi những tổ khu phố (chônaikai), tổ láng giềng (tonarigumi) để quốc dân tự kiểm soát lẫn nhau xem tất cả mọi người có theo đúng “quốc sách” hay không.

Nữ sinh trung học bị trưng dụng phục vụ kỹ nghệ chiến tranh

II – Thế chiến thứ hai và Nhật Bản:

2.1 Thế chiến thứ hai bùng nổ:

Cuộc đại khủng hoàng kinh tế thế giới đã làm cho sự hòa hợp của xã hội quốc tế mang tên Thể chế Versailles -Washington băng hoại. Như đã trình bày, các nước chiếm nhiều thuộc địa với lãnh thổ rộng lớn như trường hợp Anh, Pháp, Mỹ đã tạo nên những khối kinh tế mà nước họ nắm vai trò chủ đạo nhằm bảo vệ quyền lợi kinh tế của riêng mình.

Những nước chống lại khuynh hướng đó là các thế lực mới nổi và chậm chân trong cuộc chia chác bản đồ thế giới, nghĩa là Đức, Ý và Nhật. Các thế lực này bèn tăng cường sức mạnh quân sự, rút ra khỏi Hội Quốc Liên tức là tổ chức mà liệt cường có mặt sẳn đang điều khiển. Một mặt kêu gào phải chia lại thuộc địa, những thế lực mới này mang quân đi xâm lấn các nước khác.

Năm 1922 (Taishô 11), nhà độc tài người Ý là Benito Mussolini (1883-1945) đã thống lãnh Đảng Phát Xít đoạt lấy chính quyền. Đảng này là một đảng độc nhất và chuyên chính, chủ trương tăng cường binh bị. Năm 1935 (Shôwa 10), Phát Xít Ý đã xâm lăng Ethiopia.

Lại nữa, vào năm 1933 (Shôwa 8), đảng Nazi dưới sự chỉ đạo của Adolf Hitler 1889-1945) đã giành được chính quyền ở Đức, triệt bỏ hiến pháp Weimar vốn có tính dân chủ, hô hào chống lại Hòa ước Versailles, ly khai Hội Quốc Liên. Đến năm 1935 (Shôwa 10), tự mình ra tuyên ngôn tái vũ trang và thi hành một chính sách độc tài.

Hai nước Đức và Ý vào năm 1936, nhân thấy nước Tây Ban Nha đang xảy ra nội loạn, mới lấy lập trường ủng hộ nhóm phản loạn hữu phái do tướng Francisco Franco (1892-1975) cầm đầu, hòng lập một trận tuyến chung, một thế lực trung tâm gọi là phe Trục (Axis powers) ở Âu châu.

Phải nói rằng lúc đó tuy ở Tây Ban Nha có nội chiến nhưng Pháp và Anh lại chủ trương bất ban thiệp. Còn như Liên Xô – quốc gia Cộng Sản – thì chịu chi viện cho chính phủ liên kết các lực lượng tả phái trong dân chúng (Republicans) để đối đầu với Franco.

Lúc đó, cả ba nước Đức, Nhật, Ý đều đều ly khai với Hội Quốc Liên nhưng ngược lại, Liên Xô đã gia nhập vào năm 1934 (Shôwa 9) và từ đó, sẽ đóng một vai trò quan trọng trên trường chính trị quốc tế. Trước sự bành trướng thế lực của Liên Xô, Nhật tỏ ra quan ngại. Theo yêu cầu mạnh mẽ của quân đội, năm 1936 (Shôwa 11), chính phủ đã ký một hiệp ước với Đức để chống lại sự bành trướng của thế lực Cộng Sản (Nhật Độc phòng Cộng hiệp định). Năm sau Ý cũng theo chân tham gia nên hiệp ước lại có tên Nhật Độc Ý tam quốc phòng Cộng hiệp định (trong tiếng Nhật, Độc có nghĩa là nước Đức). Nhật càng ngày càng gắn bó sâu đậm với Đức, Ý và cuối cùng đã trở thành một thành viên của phe Trục Phát Xít.

Bên cạnh 3 nước phe Trục thì có nhóm 3 nước theo chủ nghĩa tự do gồm có Anh, Pháp, Mỹ và một lực lượng thứ ba vốn theo chủ nghĩa Cộng sản là Liên Xô. Ba thế lực này đối lập lẫn nhau.

Tuy nhiên, với đường lối ngoại giao Shidehara thì đến lúc đó, Nhật vẫn có những mối quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự gần gủi với Anh Mỹ cho nên dù lượng mậu dịch giữa họ có bớt dần đi nhưng vẫn còn đi lại. Đặc biệt, Nhật hãy còn nhập cảng nhiều mặt hàng cần thiết đến từ Mỹ. Đối với ba nước, nhất là Mỹ, chưa thấy có dấu hiệu họ sẽ cắt đứt quan hệ hoàn toàn.

Thế mà chuyện đó đã xảy ra. Không phải Nhật nhưng chính Mỹ đã yêu cầu cắt đứt. Năm 1939 (Shôwa 14), chính phủ Mỹ thông báo là Hiệp định thông thương và hàng hải ký giữa hai nước ký từ xưa sẽ không còn hiệu lực kể từ năm sau (1940). Chính vì Mỹ không thể nào nhẫn nhục với Nhật hơn nữa.

Bởi lẽ lúc đó quân Quan Đông một mình một chợ, muốn làm gì cũng được và cả nước Nhật đang ở trên con đường quân quốc chủ nghĩa. Nội các cũng đã ngả về phía quân đội, nhìn nhận Mãn Châu Quốc và đang tiến hành cuộc chiến tranh toàn diện đối với Trung Quốc ngay trên đại lục. Trước thái độ ngoại giao ương ngạnh của Nhật, một nước có lý tưởng bảo vệ quyền dân tộc tự quyết và nền hoà bình thế giới (như Woodrow Wilson, nhà lãnh đạo của họ từng tuyên bố trong điều 5 của Hòa ước Versailles 1919) thì chẳng lẽ điềm nhiên tọa thị.

Dù vậy, chính phủ Nhật đã có một phản ứng với hiệu quả ngược lại khi bị Mỹ ra thông báo chấm dứt hiệp ước. Họ thầm nghĩ: “Trong trường hợp nguồn vật tư phải mua của Mỹ cho đến nay bị gián đoạn, Nhật Bản sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với Trung Quốc. Chỉ còn có cách đánh lấn xuống phương Nam”. Thế nhưng họ không thể nói trắng ra rằng: “Để đánh nhau với Trung Quốc, chúng tôi cần dầu hỏa và bâu-xít (nguyên liệu để chế nhôm), cao su, vậy chúng tôi phải tiến quân xuống miền Nam kiếm nó! Họ bèn dùng những lời hoa mỹ như: “Chúng tôi muốn xây dựng một Khu vục thịnh vượng chung Đại Đông Á (Daitôa Kyôeiken = Đại Đông Á cộng vinh quyển).

Chữ Đại Đông Á cộng vinh quyển lần đầu tiên được nhắc đến là vào ngày 1 tháng 8 năm 1940 (Shôwa 15). Ngoại trưởng Matsuoka Yôsuke của chính phủ Konoe 2 (ra đời vào tháng 7 cùng năm) trong khi trình bày cương yếu của quốc sách mà chính phủ ông đề ra, đã giải thích thêm về từ ngữ “trật tự mới Đại Đông Á” nhắc đến trong đó. Theo ông thì trật tự này không chỉ áp dụng cho 3 nước Nhật, Trung, Triều mà còn bao trùm lên cả một khu vực rộng lớn gồm cả Đông Nam Á, gọi là “Khu vực thịnh vượng chung Đại Đông Á”. Rồi từ hôm ấy, cách gọi này đã được chính thức phổ biến trong dư luận Nhật Bản. Đặc biệt quân đội Nhật, bên trong cũng như bên ngoài, lúc nào cũng tuyên bố: “Với tư cách là kẻ lãnh đạo vùng Đông Á, Nhật sẽ thiết lập một nền kinh tế và một nền văn hoá lớn cho cả khu vực, để mọi thành viên có thể sống cộng tồn cộng vinh trong sự tự cung tự cấp”. Qua cách nói đó, họ đã chính thức hoá việc xua quân tiến chiếm phương Nam (Nanshin).

Trong bản cương yếu về quốc sách chính phủ Konoe đề ra, có nói rõ: “Hiện nay trên thế giới đã chia ra thành nhiều khối (cụm quốc gia), trong mỗi khối, có các thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa đang thành hình” và dự đoán rằng Đại Đông Á [5] mà họ cấu tưởng cũng sẽ là một khối như thế.

Qui mô khối Đại Đông Á

Vùng đất Diện tích (km2) Dân số (vạn người)
Nhật Bản 38,26 7.142,0
Triều Tiên 22,08 2.432,6
Đài Loan 3,60 587,2
Đảo Hoa Thái (Sakhalin) 3,60 41,5
Châu Quan Đông 0,35 136,7
Các đảo vùng biển Nam 0,25 13,1
Trung Quốc
(Mãn Châu Quốc) 130,31 4.320,3
(Khu tự trị Mông Cổ) 61,54 550,8
(Đất chính phủ lâm thời TQ) 60,27 11.630,6
(Đất chính phủ duy tân TQ) 35,01 7.864,4
Đông Nam Á
(Thái) 62,00 1.571,8
(Đông Dương thuộc Pháp) 63,00 2.385,4
(Mã Lai thuộc Anh) 13,60 533,0
(Borneo thuộc Anh) 21,13 93,1
(Miến Điện (Burma) 60,50 1.611,9
Ấn thuộc Hà Lan (Indies) 190,43 6.072,7
Phi Luật Tân 29,63 1.600,0
Tổng cộng 795,52 48.587,0

Nói về qui mô kinh tế của khối Đại Đông Á này, Jean Lequiller [6] cho biết nó có trử lượng 95%% cao su thiên nhiên, 90% luá gạo, 66% thiếc, 90% đay gai và 90% cây ký ninh (thuốc trị sốt rét) trên toàn thế giới.Đó là chưa kể việc Mãn Châu, Trung Quốc rất giàu than đá.

Mới nhìn vào, người ta tưởng tượng ra một cấu trúc hoành tráng và vĩ đại. Thế nhưng nếu điềm tĩnh suy nghĩ thì mới biết đó chẳng qua là một hình nộm mà Nhật Bản tùy ý nhào nặn. Những vùng đất được Nhật đem đặt vào trong đó phải chịu nhiều tai ương đau khổ. Trên thực tế thì kể từ năm 1941 (Shôwa 16) trở đi, với chiêu bài xây dựng khối thịnh vượng chung cho mình để đối kháng đế quốc chủ nghĩa Âu Mỹ, Nhật đã nhảy vào Chiến tranh Thái Bình Dương, chiếm đóng một khu vực bao la trên đó. Thế rồi ở khắp nơi trong khu vực, họ đã lập chính quyền quân sự do mình điều khiển. Họ đã bóc lột cả người lẫn của, để lại tình cảm bất mãn sâu sắc trong lòng dân chúng.

4_ch05_05HoiNghiDaiDongA

Tướng Tôjô Hideki và các đại biểu tham dự Hội Nghị Đại Đông Á năm 1943

Lịch sử thời Đại Đông Á hãy còn ghi lại những chiêu bài tốt đẹp như “Nhật Mãn nhất thể”, “Nam Tiến” “Nội Tiên nhất thể” (Quốc nội và Triều Tiên là một), “cộng tồn cộng vinh”, “độc lập thân hòa” … với mục đích kết hợp dân chúng trong khu vực cho mục đích chiến tranh (nhiều người Mãn Châu, Triều Tiên và Đài Loan đã tòng quân trong quân đội đế quốc) nhưng bên cạnh lại có những chính sách đồng hoá như thần đạo hoá khu vực (lập thần xã mọi nơi), sáng thị cải danh (thay tên đổi họ theo lối Nhật), dao bái hoàng cung (vái chào hoàng cung Tôkyô từ xa), bắt thề thốt trung thành với thiên hoàng,… Họ còn cưỡng chế liên hành (đưa người Triều Tiên qua Nhật làm phu dịch), cưỡng bách dân công xây đắp cầu đường, bắt trồng trọt các giống cây cần thiết phục vụ quân đội gây nên nạn đói vì thiếu thóc gạo như hồi năm Ất Dậu, thành lập những đoàn phụ nữ phục vụ sinh lý cho quân đội … Tất cả những hành động đó đã làm cho người trong khu vực thấy không thể nào chấp nhận Nhật Bản như minh chủ. Đại nghĩa danh phận “dành lại độc lập cho người Á châu” mà họ đề ra sự thực chỉ là bánh vẽ. Hội nghị Đại Đông Á lần thứ nhất tổ chức vào ngày 5 và 6 tháng 11 năm 1943 qui tụ không ai khác ngoài các thủ lãnh của những chính quyền bù nhìn do Nhật đưa ra: Uông Tinh Vệ (Trung Quốc), Trương Cảnh Huệ (Mãn Châu), Jose P. Laurel (Phi Luật Tân), Ba Mau (Miến Điện), Chandra Bos (Ấn Độ). Vài nước giữ khoảng cách bằng cách cho người đại diện tới dự như trường hợp của Thái. Song song nhưng trong một chiều hướng đối nghịch, ở mọi nơi đều có những phong trào kháng chiến chống Nhật (Việt Nam, Mãn Châu, Thái, Miến) [7].

2.2 Thể chế mới. Phe trục Đức Ý Nhật 3 nước thành hình:

Năm 1938 (Shôwa 13), giữa khi Chiến tranh Trung Nhật trường kỳ hóa thì ở Âu châu, Đức thôn tính Áo rồi biến Tiệp Khắc thành quốc gia bảo hộ, mở rộng nhanh chóng khu vực ảnh hưởng.

4_ch05_06BichChuongPheTruc

Bích chương tuyên truyền của phe Trục vào thời chiến

Cũng nước Đức vào tháng 1 năm sau đã nhắn với Nhật là: “Chúng ta hãy thành lập quan hệ đồng minh với nhau để cùng chống một số quốc gia thù nghịch” nhưng lần này không những ám chỉ Liên Xô mà thôi, họ còm ám chỉ Anh và Pháp như những kẻ địch tiềm ẩn. Lục quân tỏ ra rất phấn khởi và muốn chấp nhận ngay đề nghị này. Thế nhưng Nội các Hiranuma Kiichirô (Bình Chiểu, Kỳ Nhất Lang, 1867-1952) [8] từ khước lời mời vì họ đánh giá rằng “trong khi Chiến tranh Nhật Trung còn đang nhùng nhằng chưa ngã ngũ, nếu liên kết đồng minh quân sự với Đức để gánh thêm hai kẻ địch mới là Anh và Pháp rồi sẽ đến lúc có thêm cả Mỹ nữa thì làm sao đương cự cho nổi! Vậy hãy cứ xem kẻ thù tiềm ẩn duy nhất của Nhật là Liên Xô và phải tìm cách đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh chống Cộng”.

Việc Hiranuma muốn tăng cường hiệp định phòng chống Cộng Sản sẳn có vì ông ta có lý do riêng.Thực ra, trong cuộc chiến giữa Nhật và Liên Xô lúc đó, đôi khi Nhật Bản bị đối phương đánh bại.

Sau khi cuộc hợp tác Quốc Cộng lần thứ hai được thực hiện ở Trung Quốc, Liên Xô đã gửi giúp quân đội Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch một số lớn quân nhu quân dụng. Đồng thời, khi thấy quân đội Nhật đang bị khốn khó lao đao, người Nga bèn gửi quân thêm đến những vùng đất tuy thuộc Mãn Châu Quốc nhưng tiếp giáp với lãnh thổ mình. Hễ thấy có khe hở là họ không ngần ngại đem quân sang.

Thế rồi hai bên bắt đầu đi đến vũ lực. Tháng 7 năm 1938 (Shôwa 13), xảy ra một cuộc xung đột vũ trang nhỏ giữa lực lượng cảnh sát tuần biên của hai bên (Mãn Châu Quốc và Liên Xô) và nhân đó lực lượng Liên Xô và Nhật đã tiến dần đến đụng độ lớn.

Quân Nhật lúc ấy đã tiến vào lãnh thổ Liên Xô, chiếm ngọn núi Trương Cổ Phong [9]. Quân Liên Xô liền phản kích, đoạt lại ngọn núi đó (Biến cố Trương Cổ Phong). Quân Nhật hoàn toàn thua trận. Sau biến cố đó thì hòa bình được thành lập trở lại nhưng tháng 5 năm sau, hai bên Xô Nhật lại tiếp tục giao chiến như cũ.

Lần này, quân Mông Cổ ở sát nách Mãn châu quốc thỉnh thoảng đem quân vượt biên giới tiến vào bên trong đất Mãn châu. Khi quân Quan Đông đánh đuổi họ đi thì đến lượt quân Liên Xô lại vượt qua biên giới mà vào. Liên Xô vốn có ký một điều ước chi viện lẫn nhau đối với Mông Cổ. Những cuộc đụng độ giữa quân Nhật với Liên Xô xảy ra thường xuyên hơn, nhưng lần này cũng vậy, quân Nhật lại nếm mùi thất bại.

Trong trận đó, quân số 15 nghìn người của Nhật thì đã có đến 30% tử trận và kể cả những người này thì 70% lính Nhật đã bị loại ra ngoài vòng chiến. Có thể nói là lực lượng Nhật hầu như bị tiêu diệt. Vụ xung đột nói trên có tên là Biến cố Nomonhan, gọi theo tên vùng đất gần biên giới Mãn Châu, dọc theo bờ sông Nomonhan ở vùng Đông Bắc Trung Quốc. Người Nhật cũng không ngờ lúc đó quân đội Liên Xô đã được cận đại hoá và cơ giới hoá đến mức độ như thế.

Từ khi biến cố ấy xảy ra, Nội các Hiranuma càng có thêm quyết tâm là phải để hết tâm huyết vào việc, cùng với Đức, phòng chống Cộng Sản.

Tuy nhiên, có một việc người Nhật không ngờ tới! Họ đã hết sức ngạc nhiên khi vào tháng 8 năm 1939 (Shôwa 14), Liên Xô bỗng nhiên ký kết với Đức một hiệp ước không xâm phạm lãnh thổ của nhau (non aggression pact).

Đối với Nội các Hiranuma, đây là một sự kiện kinh hoàng. Nó được xem như một hành động tráo trở lật lọng của Đức, người bạn đồng minh. Nghe được tin này, Thủ tướng Hiranuma đã rụng rời thốt lên; “Bên trời Âu vừa xảy ra một chuyện phức tạp và kỳ quái, thật không tài nào hiểu nổi”. Thế rồi cả nội các cùng nhau từ chức.

Chức vụ thủ tướng lần này về tay một quân nhân, đại tướng lục quân Abe Nobuyuki (A Bộ, Tín Hành, 1875-1953) [10]. Tháng 9 năm 1939, bất chợt Đức tuyên chiến với Ba Lan và xâm lấn nước này. Anh và Pháp trả đủa tức khắc bằng cách tuyên chiến với Đức và như thế, trận Thế chiến thứ hai đã thực sự bắt đầu.

Cùng một nhịp điệu, khi Đức tấn công Ba Lan từ phía Tây thì Liên Xô cũng xâm nhập lãnh thổ Ba Lan từ hướng Đông. Chỉ trong vòng một tháng, đất nước Ba Lan đã bị trấn áp, chia làm hai mảnh lọt vào tay hai cường quốc.

Nội các Abe bèn đưa một chính trị gia thân Mỹ là Nomura Kichisaburô [11] vào chức Ngoại trưởng để cải thiện mối bang giao với Mỹ. Đặc biệt nội các này muốn gìn giữ bằng đủ mọi cách Hiệp định hàng hải và thông thương Nhật Mỹ mà chính phủ Mỹ đã ra thông cáo là sẽ hủy bỏ. Dĩ nhiên để thực hiện điều đó thì Nhật không được liên minh quân sự với Đức.Thế nhưng chính sách của Abe không được sự ủng hộ của Quốc hội. Ra đời mới có 3 tháng, nội các ông đã phải từ chức một lượt.

Tiếp đến là Nội các Yonai Mitsumasa (Mễ Nội, Quang Chính, 1880-1948) [12]. Ông thành lập chính phủ vào tháng 1 năm 1940 (Shôwa 15). Nội các Yonai cũng có màu sắc thân Anh Mỹ như nội các Abe, chủ trương không can thiệp vào cuộc chiến đang xảy ra ở Âu châu và có thái độ tiêu cực trong việc thành lập quan hệ đồng minh với Đức.

Mặt khác, lúc ấy ở Trung Quốc, trong thời kỳ Nội các Yonai, một chính phủ Dân quốc mới đã ra đời ở Nam Kinh. Người lãnh đạo của nó là Uông Triệu Minh (Wang Zaoming, 1883-1944) [13]. Nhân vật này nguyên đứng ở vị trí thứ hai trong số những người có thực quyền trong Quốc Dân Đảng, chỉ sau Tưởng Giới Thạch. Ông là người có thái độ thân Nhật. Tháng 12 năm 1938 (Shôwa 13), ông hưởng ứng lời kêu gọi của giới chức Nhật, bỏ chính phủ kháng chiến đang đóng ở Trùng Khánh mà trốn về Nam Kinh. Người Nhật lập cho Uông một chính phủ thân Nhật có sức mạnh lớn với chủ ý mở cuộc hòa nghị để kết thúc chiến tranh Trung Nhật trong chiều hướng có lợi cho mình. Thế nhưng mưu toan ấy không thành tựu được vì người Trung Quốc các địa phương trên toàn quốc chẳng mấy ai chịu gửi đại biểu về tham dự chính quyền này. Chính quyền bù nhìn và yếu ớt của Uông vì thế không làm được chuyện gì để kết thúc chiến tranh.

Trong khoảng thời gian ấy, trên lục địa châu Âu, Đức đã tổ chức những cuộc hành quân chớp nhoáng, đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác.Tháng 6 cùng năm (1938), Đức đã chiếm được thủ đô Paris của Pháp. Lục quân Nhật có vẻ cảm kích vì những chiến thắng vũ bão của Đức nên đã mạnh dạn chủ trương: “Dù có phải đánh nhau với Anh Mỹ thì cũng chẳng sao. Hãy lập đồng minh quân sự với Đức và tích cực tiến xuống phương Nam”. Quốc dân Nhật Bản lúc đó hầu như đều có khuynh hướng ủng hộ lập trường đó.

Cũng trong vòng tháng ấy, cựu thủ tướng Konoe Fumimaro từ chức Chủ tịch Xu mật viện và ra tuyên ngôn: “Phải thành lập cho được một đảng chính trị mạnh như Đảng Nazi của Đức hay Đảng Cộng Sản của Liên Xô, xong hẵn hay. Dưới sự lãnh đạo của đảng đó, chúng ta sẽ xây dựng một thể chế chính trị mới”. Thế rồi, ông ta đi vận động quần chúng để đạt cái mục đích.

Nhiều đoàn thể và chính đảng tỏ ra đồng điệu với lời kêu gọi của Konoe nên đã tích cực giải tán tổ chức riêng của mình để hòa đồng vào cái khung của tổ chức mới mà Konoe nghĩ ra. Quốc dân cũng tỏ ra ủng hộ cuộc vận động cho thể chế mới này và chờ đợi một chính quyền có năng lực đổi mới . Nhờ đó, Konoe đã được đưa về cái ghế Thủ tướng. Ngay cả quân đội cũng kỳ vọng nơi ông.Vì muốn để ông thành lập nội các mà họ đã đồng ý cho Tổng trưởng lục quân Hata Shinroku [14] từ chức, rồi sử dụng khả năng của quân đội “bổ nhiệm các tổng trưởng phụ trách quốc phòng từ những võ quan cao cấp hiện dịch” mà cố tình không đưa ai ra thế vào chỗ ông ấy. Bị quân đội cản mũi, nội các Yonai lâm vào thế bí, chỉ có nước từ chức, mở đường cho Konoe trở lại. Và như thế, Nội các Konoe 2 đã được thành lập vào tháng 7 năm 1940 (Shôwa 15) trong sự đón chào của các ngành, các giới.

Trước khi Nội các Konoe ra đời thì những nhân vật trên nguyên tắc sẽ điền vào những chức vụ thủ tướng cũng như tổng trưởng của các bộ hải, lục quân và ngoại giao đã họp trước để hoạch định những nét chính của chính sách mới mà họ muốn thi hành. Phương kế đề ra lúc đó là: “Thay đổi đối với nguyên tắc bất can thiệp vào cuộc đại chiến đang diễn ra tại châu Âu. Củng cố sự liên kết với Đức, Ý và Liên Xô.Tích cực tiến về phương Nam”. Rõ ràng là họ chủ trương đi ngược với đường lối của Nội các Yonai trước đây không lâu.

Tháng 9 năm đó, họ thực hiện ngay chính sách đã đồng ý với nhau.

Nhân vì nhận thấy việc chính quốc Pháp và Hà Lan đang bị quân Đức chiếm đóng tạo nên một cơ hội tốt cho mình, họ đẩy mạnh việc đi tìm tài nguyên vật tư ở các đảo Lan Ấn (East Indies, thuộc địa Đông Ấn của Hà Lan) và Vùng Phật Ấn (Indochina, hay Ấn Độ Chi Na, thuộc địa và đất bảo hộ của Pháp). Một là đồn trú, hai là uy hiếp. Việc đồn trú này vừa có mục đích tìm kiếm vật tư nhưng cũng có ý nghĩa chiến lược là cắt đường tiếp viện của địch, trong trường hợp này là Tưởng Giới Thạch, như điều họ làm ở vùng Phật Ấn (Ấn Độ Chi Na, còn gọi là Đông Dương).

Nói về con đường tiếp viện cho Tưởng Giới Thạch thì đó là mạng lưới giao thông mà Anh Mỹ và đồng minh đã lập ra để cung cấp vật tư cho chính phủ Dân Quốc của họ Tưởng ở Trùng Khánh, thủ đô kháng chiến. Gọi là “mạng lưới” vì nó không phải chỉ là một nhưng nhiều con đường: đường qua ngã Myanmar (Miến Điện), đường Hong kong, đường Vân Nam, đường Tây Bắc vv… Đường Bắc bộ Phật Ấn (hay Đông Dương, phía Bắc Việt Nam và Lào) là một tuyến đường rất quan trọng. Do đó, nếu quân Nhật chế ngự được con đường này thì có thể làm yếu đi lực lượng của quân Tưởng, những kẻ đang triệt để ngăn chặn bước tiến của họ.

4_ch05_07CauSongKwai

Cảnh tù binh Anh, Úc…xây cầu sông Kwai cho Nhật trên con đường vận chuyển Miến Thái

Trong cùng tháng đó, liên minh quân sự giữa 3 nước Đức, Ý, Nhật đã hình thành. Người Nhật mệnh danh nó là Nichi.doku.i sangoku dômei (Nhật-Độc-Ý tam quốc đồng minh). Nội dung của nó như sau: “Nhật nhìn nhận địa vị lãnh đạo của Đức và Ý trên các phần đất ở Âu châu. Ngược lại Đức và Ý cũng nhìn nhận địa vị lãnh đạo của Nhật trên các phần đất ở Á châu. Giữa ba nước thì ngoại trừ những nước đang có chiến tranh với họ, nếu có thêm một “nước thứ ba” nào tấn công 1 trong 3 thì ba nước sẽ chi viện về chính trị và kinh tế cho nhau. Đây là một sự đồng minh có tính cách “công thủ”.

“Nước thứ ba” được nói bóng gió ở đây là Mỹ chứ không ai khác.

Đương nhiên, Mỹ tỏ ra rất giận dữ trước sự ra đời của minh ước này nên đã đưa ra những biện pháp kinh tế cứng rắn. Chẳng hạn, họ hạ lệnh ngưng ngay việc xuất khẩu sang Nhật các sản phẩm như sắt vụn và dầu xăng dành cho phi cơ. Tình hình Mỹ Nhật từ khi ấy đã xấu đi rất nhiều.

Để kết thúc phần này, thiết tưởng cũng nên nói đến kết quả cuộc vận động chính trị cho một thể chế mới do Thủ tướng Konoe Fumimaru đề xướng. Thực ra, cuộc vận động ấy có liên quan đến việc thành lập của Taisei yokusankai (Đại chính dực tán hội) vào tháng 10 năm 1940 (Shôwa 15). Thế nhưng Taisei yokusankai không phải là một mô hình chính đảng như Đảng Nazi hay Đảng Cộng Sản mà Konoe đã cấu tưởng lúc đầu. Nó chỉ là một tổ chức chủ trương người chủ tịch của đảng sẽ ra làm thủ tướng còn các viên chi bộ trưởng sẽ gánh vác vai trò tỉnh trưởng trong hệ thống hành chánh tỉnh-phủ-huyện. Dưới họ sẽ có những thôn xã, xóm, tổ khu vực…theo một quan chế “thượng ý hạ đạt”, trên bảo dưới nghe. Dĩ nhiên “thượng ý hạ đạt” chỉ là hệ thống thông tin một chiều.

Hội “Dực tán” (có nghĩa là phò tá nhà vua) sau đó bao trùm lên cả một chuỗi tổ chức nào là Hội kỹ nghệ báo quốc Đại Nhật Bản, Hội phụ nữ Đại Nhật Bản, Hội thanh thiếu niên Đại Nhật Bản và không biết bao nhiêu đoàn thể có tính “báo quốc” khác trong nước. Họ đã đóng vai trò động viên đồng thời kiểm soát quốc dân, xô đẩy tất cả vào trong nỗ lực chiến tranh.

III – Chiến tranh Thái Bình Dương:

3.1 Hai bên Nhật Mỹ, từ đàm phán đến khai chiến:

Từ khi quân đội Nhật Bản đến chiếm đóng Bắc bộ Phật Ấn (từ đây xin gọi là phiá bắc Đông Dương) và câu kết với Đức Ý trong một liên hệ đồng minh 3 nước thì Mỹ gia tăng những biện pháp chế tài kinh tế đối với Nhật và quan hệ Nhật Mỹ trượt dốc thấy rõ. Đó là những điều chúng ta đã đề cập.

Lo lắng cho viễn tượng tương lai của hai nước, một số nhân vật dân sự Nhật Mỹ đã muốn làm một cánh cửa sổ, một nhịp cầu nối để giải tỏa tình trạng căng thẳng có thể dẫn đến chiến tranh giữa hai bên. Từ cuối năm 1940 (Shôwa 15) trở đi, họ không ngừng liên lạc, tiếp xúc cho nên đã dàn xếp được những cuộc thương thuyết Nhật Mỹ dưới hình thức bán chính thức. Bước qua năm sau (1941), việc thương thuyết vẫn được duy trì, rồi đến tháng 4 cùng năm thì nó đã phát triển qua đường dây ngoại giao.

Đại biểu phía Nhật là Nomura Kichisaburô, đại sứ ở Mỹ.Ta còn nhớ ông là một ngoại trưởng có khuynh hướng thân Anh Mỹ. Mặt khác, đại diện cho Mỹ là Cordell Hull, ngoại trưởng trong chính quyền F.D.Roosevelt. Tuy trong Nội các Konoe có một khuynh hướng muốn đối xử nhũn nhặn với Mỹ nhưng có khuynh hướng khác lại muốn hợp tác với Nga để khuất phục Mỹ. Người theo khuynh hướng thứ hai là Tổng trưởng ngoại giao Matsuoka Yôsuke. Tháng 4 năm ấy, ngay trước khi cuộc thảo luận Nhật Mỹ mở màn, ông ta đã đột ngột bay sang Nga, ký kết Hiệp ước trung lập Nhật Nga rồi về.

Trong quân đội cũng không phải là đoàn kết nhất trí. Lục quân hăng hái muốn đánh nhau với Anh Mỹ trong khi người của hải quân thì ngược lại. Họ suy luận: “Xưa kia, hải quân Nhật được thành lập đường lối của Anh, xem họ như thầy. Có lẽ nào mình lại đánh và thắng ông thầy cho được”. Hải quân như thế có khuynh hướng phản đối việc xung đột với Anh Mỹ. Giữa khi ấy thì vào tháng 6 cùng năm, đột nhiên quân đội Đức tấn công vào lãnh thổ Liên Xô.

Nhật mới vừa ký chưa ráo mực Hiệp ước trung lập Nhật Xô mà nay quốc gia đồng minh của mình là Đức lại tấn công Liên Xô, làm họ rất ư bối rối. Cuộc chiến tranh Đức Xô kỳ này cũng giống như việc ký kết bất khả xâm của hai bên trước đây, đều làm cho chính phủ Nhật không còn biết phải xử trí làm sao.

Để phản ứng cho kịp thời, tháng 7 năm đó, Nhật đã có một cuộc họp cao cấp với sự có mặt của thiên hoàng (gọi là gozen kaigi = ngự tiền hội nghị). Lúc đó, lục quân cương quyết chủ trương tiến đánh xuống phương Nam cho dù có phải gây ra một cuộc chiến tranh với Anh Mỹ. Hội nghị rốt cuộc đã chấp nhận ý kiến đó.

Duy, phương kế thương thuyết ngoại giao với Mỹ thì vẫn được duy trì. Thủ tướng Konoe vì muốn loại trừ ảnh hưởng chống Mỹ của Ngoại trưởng Matsuoka Yôsuke khỏi nội các cho nên đã tổng từ chức. Sau đó, ông ta đã lập một nội các mới, Nội các Konoe 3. Thế nhưng đến đây thì tình hình trở nên vô cùng phức tạp, chỉ xin kể lại một cách giản lược.

Vừa muốn tiến quân xuống phương Nam, lại vừa muốn tránh đánh nhau với Anh Mỹ thì quả là điều cực kỳ mâu thuẫn, nếu không nói là không tưởng. Và chính phủ Konoe 3 đã điều khiển đất nước trong khi đeo theo bên mình cái mâu thuẫn to lớn ấy.

Trong cuộc hội nghị cao cấp (ngự tiền hội nghị) trước đây, người Nhật đã đồng ý với nhau rằng trong trường hợp Đức thắng thế trước Liên Xô và tình thế chuyển thành thuận lợi cho mình thì Nhật sẽ nhảy vào đánh hôi Liên Xô. Thực tế cho thấy lục quân cũng đã dựng lên kịch bản trong đó họ sẽ chiếm đóng Liên Xô. Một lực lượng khổng lồ của Nhật lên đến 70 vạn người đã có lần tạm thời tập kết ở Mãn Châu. Họ chẩn bị cho một sự kiện mang tên ” Cuộc thao diễn đặc biệt của các bộ đội quân Quan Đông (Kantokuen = Quan đặc diễn)”. Nhân vì vào tháng 7 – sớm hơn dự tưởng – họ phải điều binh xuống miền Nam (chiếm đóng miền Nam Đông Dương) cho nên kế hoạch thao diễn đã bị đình chỉ vào tháng 8.

Tháng 4 năm 1941 (Shôwa 16), cuộc thương thuyết lại bắt đầu giữa Nhật và Mỹ. Hai bên có một lúc đã đưa ra phương án giải quyết dưới cái tên Nichibei ryôkaian (Nhật Mỹ lường giải án) làm như họ đã thấu hiểu (lường giải) chủ trương của nhau và đang đi đến một thỏa thuận tốt đẹp nào đó thì vì quân đội và Matsuoka Yôsuke gây áp lực cũng như lên tiếng chỉ trích cho nên việc thỏa hiệp đâm khó khăn ra.

Đến lượt quốc dân Nhật Bản tỏ ra phấn khích trước những thành công của Hitler và bắt đầu ca ngợi Đức. Dư luận nghiêng về phía chủ chiến đối với Anh Mỹ. Phía Mỹ thì sức chịu đựng của họ cũng đã đụng tới đáy. Họ nghĩ rằng đánh nhau với Nhật là chuyện chẳng đặng đừng. Hai bên đều xem như sẳn sàng giao chiến.

Thế rồi như chúng ta vừa mới nói, tháng 7 năm đó (1941) Nhật đã tiến binh xuống đồn trú ở miền Nam bán đảo Đông Dương.

Trước hành động này, Mỹ bèn đưa ra biện pháp cấm xuất khẩu dầu khí sang Nhật. Họ còn kêu gọi các nước bạn phải đẩy mạnh những biện pháp chế tài kinh tế đối với Nhật để chận đứng chính sách bành trướng của nước này. Bốn quốc gia Mỹ, Anh,Trung Quốc và Hà Lan đã dựng nên một mạng lưới phong tỏa kinh tế Nhật Bản. Tên của nó là ABCD, lấy chữ cái đứng ở đầu tên mỗi nước (America, Britian, China, Dutch).

Lại nữa, trong cuộc thương thuyết đang diễn ra giữa hai bên, Mỹ luôn luôn đốc thúc Nhật “phải triệt thoái quân đội một cách toàn diện khỏi Trung Quốc trừ khu vực Mãn châu. Và hãy coi liên minh với Đức Ý như một tờ giấy lộn!” Lúc ấy, có thể nói Mỹ đã ý thức rằng chuyện chiến tranh với Nhật quả là khó lòng tránh khỏi.

Một mặt, trong cuộc họp cao cấp (ngự tiền) ngày 6 tháng 9 năm 1941 (Shôwa 16), Nhật đã đi đến quyết định:”Nếu đến thượng tuần tháng 10, việc thương thuyết với Mỹ vẫn bế tắc thì sẽ khai chiến”.

Kết cuộc, vào thượng tuần tháng 10, hội nghị vẫn chưa đi đến một thỏa ước. Tuy chính phủ Konoe vẫn còn muốn tiếp tục thương lượng với Mỹ – một điều đi ngược lại với những gì hội nghị ngày 6 tháng 9 đã quyết định – nhưng các nhân vật chủ chiến như tướng Tôjô Hideki, Tổng trưởng lục quân, vẫn không chịu nhún. “Phải ngưng thương thuyết mà khai chiến đi thôi!” Chính phủ không biết làm gì hơn, đành tổng từ chức.

Người thay thế Konoe để thành lập nội các chính là tướng Tôjô Hideki (Đông Điều, Anh Cơ, 1884-1948) [15] này, do lời tiến cử của chức Nội đại thần bên cạnh Thiên hoàng là Kido Kôichi (Mộc Hộ, Hạnh Nhất). Có điều khi Kido đề nghị Tôjô, ông có căn dặn: “Phải trở lại tình trạng trước ngày 6 tháng 9” tức trước khi có hội nghị cao cấp với sự hiện diện của thiên hoàng.

Khi Nội các Tôjô ra đời, ông có cho tái thẩm tra quyết định của hội nghị ngày 6 tháng 9 đấy, nhưng như chúng ta thừa biết đó chỉ là hình thức vì không ai chịu thay đổi đường lối chủ chiến. Khi ấy, vào cuối tháng 11, trên bàn hội nghị Nhật Mỹ, phía Mỹ đã trao cho Nhật “Hull note” tức văn thư ghi lại những đòi hỏi của Đặc sứ Cordell Hull. Nội dung viết: “Nhật phải hoàn toàn triệt thoái quân đội ra khỏi Trung Quốc kể cả Mãn Châu, Cũng phải rút khỏi bán đảo Đông Dương và giải tán chính phủ Uông Tinh Vệ. Ngoài ra, còn phải phủ nhận liên minh 3 nước Đức-Ý-Nhật.”

Cordell Hull và Nomura Kichisaburô đã thất bại trong việc cứu vãn hòa bình

Thông điệp này có những điều kiện gay go hơn những lần trước. Dĩ nhiên Nhật không thể nào nuốt nổi những điều Mỹ đưa ra. Như thế, cuộc thương thuyết giữa hai bên thực sự đổ vỡ. Tại hội nghị ngự tiền ngày 1 tháng 12 năm 1941 (Shôwa 16), quyết định khai chiến đã được ban ra.

Ngày 8 tháng 12, Nhật thông báo cho Mỹ là họ chấm dứt cuộc thương thuyết. Cùng trong một ngày, họ đưa quân đổ bộ lên bán đảo Mã Lai lúc đó đang ở dưới quyền kiểm soát của quân Anh, đồng thời đột ngột tập kích Pearl Harbor (Trân Châu Cảng), quân cảng quan trọng của Mỹ trên đảo Hawaii. Chiến tranh Thái Bình Dương như thế đã mở màn.

Cuộc tập kích này của Nhật bị Mỹ xem như một cú cắn trộm đánh lén và họ tuyên bố sẽ không bao giờ tha thứ. “Remember Pearl Harbor!” (Hãy nhớ lấy Pearl Harbor!) là câu nói đã trở thành khẩu hiệu bắt dân chúng Mỹ vốn tiêu cực không muốn đánh nhau với Nhật phải nhớ lấy và trả mối thù này.

 

3.2 Chiến cuộc triển khai và cảnh khốn cùng của người dân:

Tuy Chiến tranh Thái Bình Dương đã xảy ra nhưng tới lúc đó, người Nhật không gọi nó với cái tên như vậy. Họ gọi là Chiến tranh Đại Đông Á và tính nó đã bắt đầu từ ngày có Biến cố Chi-na (Chiến tranh Nhật Trung, 07/07/1937). Theo họ, đó là cuộc chiến tranh với mục đích xây dựng Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á!

Quân đội Nhật Bản sau khi giáng một đòn trí mạng cho hải quân Mỹ qua cuộc tấn công bất ngờ ở Trân Châu Cảng cũng như tiêu diệt hoàn toàn hạm đội phương Đông của Anh ngoài khơi biển Mã Lai, đã lần lượt chiến thắng ở các trận Hongkong, Manila và Singapore. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, họ hầu như đã cai quản được một vùng Nam Thái Bình Dương bao la.

Trận Trân Châu Cảng

Ngày 7 tháng 12 năm 1941 vào khoảng 8 giờ giờ Hawai, đoàn phi cơ thuộc Hải quân Nhật gồm 353 chiếc chiến đấu cơ, phóng pháo và phóng ngư lôi cất cánh từ 6 hàng không mẫu hạm đã bất ngờ tấn công căn cứ Pearl Harbor của Mỹ trên quần đảo Hawai. Chiến hạm Arizona và 17 chiếc đang cắm neo trong vịnh bị đánh chìm. Những chiếc khác còn ở ngoài khơi nên thoát nạn. Chiếc Arizona đóng xong năm 1916, dài 180m, với sức đẩy nước là 31.000 tấn, đã nằm ngủ dưới đáy biển với 1.177 thủy thủ không thoát thân kịp. Số nạn nhân tử thương lên đến 3.500 người. Phiá Nhật Bản chỉ thiệt hại nhẹ. Tướng Husband Kimmel, người chỉ huy căn cứ, bị qui trách nhiệm và sang năm sau mất chức và bắt buộc giã từ quân đội.

Sáng hôm định mệnh đó, vào lúc 7h49, trung tá hải quân Tabuchi đã ra lệnh cho phi đoàn mình tấn công bằng cách phóng thanh âm To liên tục và chỉ 3 phút sau , tín hiệu Toratoratora vang ra, báo tin nhiệm vụ đã thành công.

Vô tình hay cố ý, bức điện tuyên chiến của các nhà ngoại giao Nhật Bản đã đến chậm trễ và phía Mỹ không đủ cảnh giác. Cho đến bây giờ người Mỹ vẫn không cho đấy là một hành động anh hùng mã thượng của các samurai dù Nhật vẫn bào chữa.

Quang cảnh cuộc không kích Trân Châu Cảng (Pearl Harbor)

Trong khi quân đội Nhật Bản đang thắng lợi rầm rộ trên các chiến trường thì trong nước đã tổ chức cuộc tổng tuyển cử vào tháng 4 năm 1942 (Shôwa 17). Nó có tên là Yokusan senkyô (Dực tán tuyển cử) hay Tuyển cử để tỏ ý chí phù bật thiên hoàng nhưng chính ra là ủng hộ nỗ lực chiến tranh..

Điều đó có nghĩa là các ứng cử viên được chính phủ đề bạt đều được số phiếu tuyệt đối. Một tổ chức mang tên Yokusan seijikai (Dực tán chính trị hội = Hội chính trị phù bật thiên hoàng) mà các nghị sĩ đắc cử là những thành viên nồng cốt đã được lập nên .

Trong số nghị sĩ đắc cử thì có 381 là ứng cử viên được chính phủ đề bạt, 85 người không được đề bạt. Dĩ nhiên là số ứng cử viên được đề bạt đã nắm lấy phần thắng lợi. Quốc hội lúc ấy chỉ toàn là những nhân vật đứng về phe chính phủ và quân đội. Họ chỉ đến hội trường để bày tỏ sự đồng ý của mình với chính sách nhà nước. Những ứng cử viên không được đề bạt như Hatoyama Ichirô (lên làm thủ tướng năm 1954, sau chiến tranh), Ozaki Yukio (thị trưởng Tôkyô, tổng trưởng tư pháp Nội các Ôkuma), Ashida Hitoshi (thủ tướng năm 1948), Katayama Tetsu (thủ tướng năm 1947)… thì khỏi phải nói. Trong kỳ tuyển cử mà mục đích là tìm người phù bật thiên hoàng này, họ đã bị nhà đương cục quấy rối đủ điều.

Tuy nhiên, tình hình chiến cuộc thì vào tháng 6 năm đó (1942), khi đợt tuyển cử vừa chấm dứt, đã có những chuyển biến lớn.Trong trận Midway, hải quân Nhật Bản đã bị hải quân Mỹ cho nếm mùi thất bại. Bộ đội cơ động chủ lực của họ mà trung tâm là những hàng không mẫu hạm (tàu sân bay) hầu như bị đánh tan tành. Kể từ đó, hải quân Nhật Bản yếu thế hẳn đi.

Như vậy, họ đã bị hải quân Mỹ tước mất quyền chế ngự mặt biển. Những vùng đất họ chiếm được trước sau đều bị lấy lại một cách nhanh chóng. Chiến cuộc trở thành khó khăn cho họ.

So sánh binh lực Nhật và Mỹ (1941-1943)

  Binh lính
(vạn người)
Máy bay
(trăm chiếc)
Tàu chiến
(vạn tấn)
1941 Nhật
1941 Mỹ
210 lục + 32 hải
152 lục + 36 hải
   
1943 Nhật
1943 Mỹ
290 lục + 68 hải
699 lục + 221 hải
   
1941 Nhật
1941 Mỹ
  15 lục + 33 hải
87 lục + 35 hải
 
1943 Nhật
1943 Mỹ
  20 lục + 71 hải
87 lục + 35 hải
 
1941 Nhật
1941 Mỹ
    148
131
1943 Nhật
1943 Mỹ
    140
280

(Tư liệu sử hiện đại Nxb Misuzu Shobô)

Về cục diện chiến tranh trên lục địa và trên mặt biển, xin tham khảo 2 bản đồ đính kèm.

4_ch05_124_ch05_13

Để có thể vãn hồi từ thế yếu của mình, chính phủ bèn tạo ra cơ hội để cho các xứ thuộc địa của Âu Mỹ trong vùng Đông Nam Á có thể đứng lên giành lấy “độc lập”. Tháng 11 năm 1943 (Shôwa 18), những chính phủ các nước đạt được nguyện vọng đó đã tụ họp với nhau trong một hội nghị có tên là Daitôa Kaigi (Đại Đông Á hội nghị) và lúc đó, dĩ nhiên các đại biểu đã ca ngợi việc mình đã giành lại được chính quyền từ thực dân Âu Mỹ. Chỉ có một điều, mang tiếng là độc lập nhưng quân đội Nhật vẫn đồn trú tại đó như cũ và thi hành quyền kiểm soát quân sự hành chính (quân chính). Hơn nữa, chiến tranh vẫn còn kéo dài nên bọn họ vẫn thu đoạt tài nguyên thiên nhiên và cưỡng bách lao động dân chúng sống trong những vùng đó.

Thế rồi, từ năm 1937 (Shôwa 12) cho đến năm 1939 (Shôwa 14), chính phủ đã cưỡng ép người Triều Tiên ở thuộc địa phải vái lạy đền Thần đạo (jinja) và dùng tiếng Nhật trong đời sống hằng ngày.Tên tuổi của họ cũng phải đổi thành tên Nhật. Chính sách đó gọi là Kôminka (Hoàng dân hóa) vì nó nhằm biến người dân Triều Tiên thành hoàng dân (kômin) tức thần dân của thiên hoàng. Làm như vậy, họ có ý hợp nhất Triều Tiên và nội địa Nhật Bản thành một khối. Chính sách này đã làm tổn thương danh dự của người Triều Tiên rất nhiều.

Trong thời kỳ Chiến tranh Thái Bình Dương, không những chỉ làm như vậy đối với người Triều Tiên, quân đội Nhật Bản còn sử dụng y nguyên bài bản như thế với các dân tộc ở vùng Đông Nam Á. Coi thường lịch sử và truyền thống của người địa phương, họ cũng cưỡng ép dân sở tại phải vái lạy đền Thần đạo và bắt học tiếng Nhật.

Từ Singapore cũng như các vùng khác, quân đội Nhật đã có những hành vi tàn ngược và đó là một sự thực khó lòng chối cãi. Do đó mà khi thế lực quân sự của Nhật bắt đầu suy yếu thì ở các địa phương, dân chúng đã nổi lên chống cự, làm cho họ khổ tâm không ít.

Vừa lúc Hội nghị Đại Đông Á được mở ra (1943), thủ lĩnh các nước thuộc khối tự do chủ nghĩa như Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt, Thủ tướng Anh Winston Churchill và Chủ tịch chính phủ Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã họp tay ba tại Cairo (Ai Cập) (Hội đàm Cairo) và đưa ra một tuyên ngôn (Tuyên ngôn Cairo). Theo đó, họ đồng ý với nhau là sẽ ” tổng tấn công quân Nhật, giành lại những vùng biển đảo ở phương Nam đã ủy quyền cho Nhật trông coi cho đến nay. Các vùng Mãn Châu, quần đảo Bành Hồ, Đài Loan đều phải trả về cho Trung Quốc. Còn Triều Tiên thì sẽ được độc lập”.

Thế rồi từ ngày đó, chiến cuộc càng ngày càng bất lợi cho Nhật Bản [16]. Họ mất đảo Guadalcanal ở Nam Thái Bình Dương, đảo Attu (trong chùm đảo Aleutians) [17] ở biển Bering. Không những thất bại trong tác chiến Imphal [18] để mưu toan xâm nhập Miến Điện từ Ấn Độ, hải quân của họ dã bị thiệt hại nặng nề trong trận hải chiến ngoài khơi Mariana gần quần đảo Saipan.

Thế rồi vào tháng 7 năm 1944 (Shôwa 19), đến lượt Saipan bị Mỹ chiếm. Quân Mỹ đã có thể dùng đảo này làm căn cứ để tổ chức những cuộc dội bom trực tiếp bằng “pháo đài bay” vào nội địa Nhật Bản. Cũng trong vòng tháng đó, Nội các Tôjô nhận trách nhiệm về sự thất bại đang xảy ra và đã tổng từ chức.

Người đứng ra tổ chức nội các kế tiếp là đại tướng lục quân Koiso Kuniaki (Tiểu Cơ, Quốc Chiêu, 1880-1950). [19]

Chiến sự Thái Bình Dương

Năm Tháng Sự kiện
1941
(Shôwa 16)
12 ngày 8
 12 ngày 9
Quân Nhật đổ bộ lên bán đảo Mã Lai. Đột ngột tấn công Pearl Harbor (Hawai). Tuyên chiến với Anh Mỹ Hà Lan.Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tuyên chiến với Nhật.
1942
(Shôwa 17)
12

3

4

5

6

Quân Nhật chiếm thành phố Manila.Quân Nhật chiếm Singapore.

Người Hà Lan ở Java đầu hàng.

Không đội B25 của Mỹ lần đầu bỏ bom nội địa Nhật.

Quân Mỹ trên đảo Korehidoru đầu hàng.

Quân Nhật thua trong trận hải chiến đảo Midway.

1943
(Shôwa 18)
25

9

11

Quân Nhật triệt thoái khỏi đảo Guadalcanal.Quân Nhật phòng thủ đảo Attu hoàn toàn bị tiêu diệt.

Nước Ý đầu hàng vô điều kiện.

Đại hội Đại Đông Á được tổ chức tại Tokyô.

1944
(Shôwa 19)
67
 

10

10 ngày 25

11 ngày 25

Quân Nhật thua trong trận hải chiến Mariana.Đình chỉ tác chiến Inparu. Quân Nhật ở Saipan bị tiêu diệt.

Hải quân Nhật thua lớn ngoài khơi Leyte (Phi luật tân).

Các đơn vị đặc công Kamikaze (Thần phong) lâm trận.

Pháo đài bay B29 của Mỹ lần đầu oanh kích Tôkyô.

1945
(Shôwa 20)
3
 5

8 ngày 5

8 ngày 6

8 ngày 8

8 ngày 9

8 ngày 14

8 ngày 15

Quân Nhật ở Iôjima (Lưu hoàng đảo) hoàn toàn bị tiêu diệt. Tôkyô bị bỏ bom tới tấp (Tôkyô daikuushuu).Mỹ đổ bộ và chiếm đóng (ngày 23 tháng 6) Okinawa.

Đức đầu hàng.

Bom nguyên tử thả xuống Hiroshima.

Liên Xô nhảy vào tuyên chiến với Nhật.

Bom nguyên tử thả xuống Nagasaki. 

Nhật chấp nhận Tuyên ngôn Postdam.

Thiên hoàng cho phóng thanh sắc chiếu ngưng chiến đấu.

 

Nội các Koiso bắt đầu vào tháng 7 năm 1944 (Shôwa 19) và tại chức cho đến tháng 4 năm 1945 (Shôwa 20). Nội các này rất đặc biệt. Người Nhật gọi là “nội các đóng kịch” (haragei naikaku) vì ngoài mặt và trong bụng (hara) không giống nhau. Một mặt họ hô hào dân chúng hãy giương cao tinh thần kháng chiến qua khẩu hiệu đại ý : “Trăm triệu người cùng chết vinh hơn sống nhục. Sẽ chiến đấu trên quê hương” (Nhật ức tổng ngọc toái. Bản thổ chiến đấu). Ngọc toái nghĩa là “ngọc nát” dùng trong thành ngữ “ngọc nát còn hơn ngói lành” [20]. Mặt khác, biết rằng không có cách nào thắng nổi Anh Mỹ, họ bí mật nhờ Liên Xô của Stalin làm môi giới xúc tiến việc thương lượng hòa bình.

Áp-phích tuyên truyền của Nhật Bản trong Chiến tranh Thái Bình Dương

Quốc dân thừa biết là không có khả năng giảng hòa cho nên đã chuẩn bị một cuộc đối đầu quyết liệt ngay trên quần đảo. Họ bắt đầu huấn luyện quân sự với những ngọn giáo chế bằng cây trúc (takeyari) như thể người Việt Nam ta đánh Tây với tầm vông vạt nhọn. Sở dĩ có chuyện khó tin như vậy là vì lúc đó Nhật Bản đã kiệt quệ về vật tư. Dân chúng không còn được cung cấp đầy đủ đao kiếm chứ đừng nói chi đến súng ống. Như thế, họ hình dung ra rằng sẽ chiến đấu chống trả với phi cơ và chiến xa của địch bằng loại võ khí thô sơ này. Thế nhưng suy nghĩ như vậy quả thực là điên cuồng và vô vọng.

Sở dĩ quốc dân có khi phải làm ra vẻ như hết sức ra công luyện tập vì lúc đó, nếu tỏ ra lơi là một chút thì sẽ bị kết tội là phường bán nước hay tay sai cho giặc. Cảnh sát đặc biệt gọi là tokkô (đặc cao = đặc biệt cao đẳng cảnh sát) sẽ đến lôi đầu đi ngay. Sự đàn áp tư tưởng thời ấy rất trắng trợn.

Sau năm 1943 (Shôwa 18), khi tin tức chiến trường càng ngày càng xấu đi cho Nhật Bản thì hoàn cảnh sinh hoạt của dân chúng đã đi đến chỗ cùng cực, phá sản.

Nhìn lại việc cũ thì hồi Chiến tranh Thái Bình Dương mới bắt đầu, chính phủ đã bắt các hãng xưởng dân sự phải trở thành nơi sản xuất quân nhu quân dụng. Với danh nghĩa động viên dân công tại chỗ (kinrô dôin), họ bắt cả sinh viên, học sinh tham gia sản xuất những vật tư phục vụ cho chiến trường cùng với người lớn. Phụ nữ chưa lập gia đình thì tham gia vào các đoàn đội phụ nữ dấn thân (joshi teishintai) cũng với mục đích bắt họ đi lao động sản xuất.

Về người Triều Tiên cũng như người Trung Quốc trong những vùng chiếm đóng thì số phận còn bi đát hơn nhiều. Hàng chục vạn người đã bị lôi kéo về Nhật và cưỡng chế lao động nặng nề trong những hầm mỏ. Đàn bà bị đem ra ngoài chiến trường để sung vào các trại giải khuây (ian shisetsu), ép buộc đem thân xác làm món đồ mua vui cho binh lính.

Kể từ năm 1943 (Shôwa 18) khi cuộc chiến hầu như sắp hạ màn, quân đội Nhật có vấn đề bổ túc quân số. Bèn có lệnh bắt các sinh viên học sinh khoa văn của các đại học và cao đẳng chuyên môn trong lứa tuổi trưng binh phải đi lính nhằm thỏa mãn nhu cầu của chiến trường. Việc này được gọi dưới cái tên “học trò ra trận” (gakuto shutsujin = học đồ xuất trận). Sinh viên ban khoa học sở dĩ được miễn ra trận vì nhờ có vốn liếng kỹ thuật, họ có thể phục vụ trong các công binh xưởng trong nước. (Nhưng cũng nhờ đó mà họ còn sống sót để đưa nước Nhật hậu chiến đi lên trở lại bằng kiến thức thời chiến của mình).

Cảnh tiễn đưa sinh viên học sinh ra chiến trường

Lúc đó, vật tư nhập khẩu từ Âu Mỹ coi như không có. Quyền kiểm soát mặt biển đã bị quân Đồng Minh tước đoạt, sản phẩm hay nhiên liệu từ vùng biển phương Nam cũng không đem về được tới nơi. Trong nước nguyên liệu thiếu thốn vô cùng. Về việc chế tạo vũ khí thì Nhật còn ráng kéo cho đến năm 1944 (Shôwa 19) chứ mọi ngành kỹ nghệ khác đều đã bị đình đốn từ lâu. Chúng ta đã có lần nhắc đến việc áp dụng chế độ thẻ, tem phiếu (haikyuu sei do = phối cấp chế độ) trong thời chiến. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, cho dù có thẻ và tem phiếu đi nữa cũng không đào đâu ra sản phẩm tiêu dùng. Việc thiếu thốn là chuyện cơm bữa. Ngay cả việc phân phối gạo cũng vậy. Nhật phải bắt đầu chế độ ăn độn với những thức ăn thay thế (daiyôhin) như khoai chẳng hạn. Nhiều người đã phải ăn khoai và ăn liên tiếp nhiều hôm như thế.

Để thoát ra khỏi tình trạng đó, phải có tiền. Điều này mang tính qui luật. Các nơi đều có loại chợ đen (yami.ichi), ngoài vòng kiểm soát của chính phủ hay được chính phủ làm ngơ. Ở đây, rủng rỉnh tiền thì cái gì cũng có. Vì vậy, người dân đã trả bằng giá cao ở chợ đen để có thức ăn và đồ tiêu dùng thường nhật. Số hàng mua được ở chợ đen chiếm 1/2 tổng số cá thịt tươi, rau quả và đồ ăn chế biến cũng như khoảng 1/3 số thóc gạo.

Dù vậy, tiền bạc cũng có lúc cạn. Người thường dân không thể nương dựa vào hệ thống chợ đen mãi mãi. Do đó, nếu vào năm 1942 (Shôwa 17) số năng lượng tính theo calories mà một người Nhật tiếp thu mỗi ngày là dưới mức 2.000 calories thì qua đến năm 1945 (Shôwa 20) còn số đó hãy còn ở dưới mức độ 1.730 calories.
Xã hội Nhật Bản trong thời chiến

3.2 Đi đến cảnh chiến bại:

Cuối năm 1944 (Shôwa 19), những đoàn phi cơ Mỹ xuất phát từ căn cứ không quân trên đảo Saipan đã bắt đầu bay thẳng vào nội địa Nhật Bản và trút bom. Bắt đầu họ nhắm các quân cảng và không cảng, cơ xưởng quân nhu quân dụng là những đối tượng thuần quân sự, dần dần họ ném bom khắp mọi nơi không phân biệt là quân hay dân sự nữa. Các thành phố cỡ nhỡ và cỡ nhỏ của Nhật lần lượt trở thành đích nhắm làm cho vô số thường dân Nhật Bản phải thiệt mạng.

Vì nội địa bị oanh tạc càng ngày càng dữ dội, Nhật phải sơ tán các quân xưởng về địa phương. Để đề phòng hậu quả do hỏa tai, họ cưỡng ép dân chúng phá hũy nhà cửa thành thử ra mọi người, nhất là ông bà già và phụ nữ phải lánh nạn về miền quê, nương náu nơi thân quyến. Đến khoảng tháng 7 cùng năm ấy (1944), lại có lệnh bắt các thiếu niên học sinh các trường cấp 3 nhà nước sơ tán về miền quê, gọi là gakuto shuudan sokai (học đồ tập đoàn sơ khai = sơ tán tập thể học sinh).

Tháng 10 năm 1944 (Shôwa 19), Phi Luật Tân bị rơi vào tay quân Mỹ. Đến tháng 2 năm 1945 (Shôwa 20) thì đến lượt đảo Iôjima (Lưu Hoàng đảo) thất thủ.Tháng 4 cùng năm, quân Mỹ đã đổ bộ lên được Okinawa và cuộc chiến tranh công thủ ác liệt đã kéo dài 3 tháng. Không những quân đội mà cả dân sự cũng tham gia vào cuộc kháng cự. Học trò trung học, các nữ sinh tổ chức thành đoàn lũ, nào là thiết huyết cần hoàng đội (tetketsu kinnôtai) phía học trò con trai, học đồ đội (gakutotai ) phía học trò con gái. Rất nhiều người trẻ đã bỏ mình trong khi chống cự lại lực lượng Mỹ. Chỉ một trận Okinawa này thôi mà quân đội Nhật đã chết hết 9 vạn lính. Còn số thương vong của thường dân thì phải lên đến 10 vạn. Trong bầu không khí hoảng loạn và nhiều khi do sức ép, đã xảy ra những vụ tự sát tập thể.

4_ch05_19MacArthur

“I’ll be back” , nguyên soái Douglas MacArthur trở lại Phi Luật Tân (lên đảo Leyte)

Khi nghe tin quân Mỹ sắp đổ bộ lên Okinawa, người Nhật biết ngày tàn của họ đã đến gần. Bên Âu châu thì từ năm 1943 (Shôwa 18), các lực lượng Đức và Ý bắt đầu yếu thế. Tháng 9 năm đó, Ý đã phải tuyên bố đầu hàng quân Đồng Minh. Khi chiến cuộc ở Okinawa mở màn thì việc Đức đầu hàng chỉ còn là vấn đề thời gian.

Kamikaze và Kaiten: những lá bài tuyệt vọng

Khi người Đức sắp sửa thua trong Thế chiến thứ 2, họ tung cả những thiếu niên còn măng sữa vào chiến trường. Ở Nhật, Byakkotai (Bạch hổ đội) của phiên Aidzu hời chiến tranh Bôshin ngày xưa là một ví dụ khác. Đó là những lá bài tuyệt vọng.

Tháng 6 năm 1944, sau khi Nhật bị đánh bại liên tiếp trong những trận hải chiến ở ngoài khơi Mariana để cố thủ đảo Saipan, và tháng 10, lúc quân Mỹ đã đổ bộ lên đảo Leyte ở Phi Luật Tân, thì hy vọng đánh bật quân Mỹ không còn nữa. Viên tư lệnh đệ nhất hàng không hạm đội đóng ở Manila là trung tướng Ônishi Takiji đã ra lệnh lập một phi đoàn cảm tử gắn bom vào máy bay để đâm đầu xuống chiến hạm địch. Đó là Shinpuu tokkôtai (Thần phong đặc công đội) mà ngày nay người ta thường gọi nôm na là Kamikaze. Theo con số ghi chép lại, trên chiến trường Phi Luật Tân đã có 200 cuộc oanh kích như thế. Nhật tổn thất 260 phi công, còn mất thêm 130 phi cơ hỗ trợ. Một số phi công lão luyện có thành tích chiến đấu cũng bỏ mình. Sau hải quân, lục quân đã áp dụng chiến pháp tương tự.

Lúc bắt đầu, Mỹ bị thiệt hại vì không ngờ và có nao núng. Sau đó họ đã tìm ra cách đối phó làm cho kế hoạch Kamikaze không đem lại kết quả mong muốn.Thế nhưng Nhật Bản xem như đây là giải pháp cuối cùng nên vẫn tiếp tục ở khắp nơi nhất là trong trận công thủ Okinawa, mệnh danh là Tác chiến Kikusui. Nhiều đoàn phi cơ Nhật đã rời các căn cứ ở Kyuushuu để tiến kích tàu Mỹ. Lúc đầu Bộ tham mưu còn cho các phi công tình nguyện, sau đó thì đi đến cưỡng ép.

Trên không có Kamikaze (Thần phong) thì dưới nước có Kaiten (Hồi thiên, xoay trời). Đó là những tiềm thủy đỉnh cá nhân gắn ngư lôi. Năm 1943, khi chiến cuộc trở nên bất lợi, Nhật đã cho chế tạo những tiềm thủy đỉnh đó và đến tháng 2 năm 1944 thì lệnh sử dụng nó trong tác chiến được ban bố. Tiềm thủy đỉnh dài khoảng 15m, trọng lượng 8 tấn, có thể đủ nhiên liệu để di chuyển với tốc độ 30 knot trong một cự ly 230 km, đầu gắn ngư lôi 1,6 tấn thuốc nổ tức là lượng gấp 3 lần ngư lôi thường. Tiềm thủy đỉnh mẹ sẽ mang chúng đến gần chiến hạm địch và sau đó, chúng sẽ được thả ra để tấn công. Đội Kikusui bắt đầu lâm trận từ tháng 11/1944 nhưng chỉ đến tháng 7 năm 1945 thì mới có một trận đánh tập trung cỡ lớn của đội Tamon ở Okinawa với 100 chiếc Kaiten tham gia. Tuy nhiên, trong trận đó, 106 đội viên đã tử trận. Tiềm thủy đỉnh mẹ cũng bị quân Mỹ đánh chìm 10 chiếc, làm hơn 800 thủy thủ bị thiệt mạng.

4_ch05_17TienDua

Nữ sinh tiễn đưa phi công lên đường

4_ch05_21PhiVuThanPhong

Phi vụ Thần Phong trên chiến hạm Mỹ

Các đội viên Kamikaze lẫn Kaiten đều là những sĩ quan trẻ cấp thiếu úy, trung úy hay sinh viên các trường huấn luyện tuổi từ 18 đến 23. Kamikaze khiến người Mỹ khiếp sợ hơn là Kaiten nên được họ nhớ đến nhiều. Có khoảng 30 chiến hạm Mỹ đã bị đánh chìm vì các phi vụ đặc công này.

Ngoài Kamikaze và Kaiten, Nhật Bản còn có những bộ đội cảm tử như Ôka (Anh hoa) tức những đặc công buộc trái phá vào đầu, Shinyô (Chấn dương), đặc công sử dụng thuyền máy (motor boat) để tấn công địch. Họ đều là là những kẻ ra đi không có ngày về. Người ta còn ghi lại trên phim ảnh những bữa cơm cuối cùng, những cảnh ly biệt, những bài thơ tuyệt mệnh và di vật (tóc, móng tay…) họ để lại. Tổng số tử trận lên tới 4.400 người. Qua đó, ta thấy trách nhiệm những sĩ quan cao cấp đến bước đường cùng vẫn không chịu nhìn nhận cuộc chiến tranh mình chỉ đạo đã hoàn toàn thất bại thật là trọng đại. [21]

Nhật Bản cũng muốn làm sao để kết thúc chiến tranh cho sớm sủa cho nên đã cho Nội các Koiso rút lui và trao trách nhiệm tìm phương kế giảng hòa cho thủ tướng mới nhậm chức, Suzuki Kantarô (Linh Mộc, Quán Thái Lang, 1867-1948) [22]

Tháng 5 năm 1945 (Shôwa 20), rốt cuộc ngay cả Đức cũng phải đầu hàng vô điều kiện. Trong 3 nước phe Trục, chỉ còn lẻ loi mỗi Nhật.

Ngay cả vào thời điểm này, quân đội hãy còn chủ trương phải tiếp tục chiến đấu ở nội địa. Thế nhưng Suzuki thì nghiêm chỉnh nghĩ đến việc giảng hòa với Mỹ cho nên đã nhờ Liên Xô môi giới trong việc thực hành kế hoạch đó. Riêng thái độ của Liên Xô rất ởm ờ, chẳng nói muốn làm và cũng chẳng nói không. Trước sự nhờ vả của Nhật, họ chỉ ngon ngọt để câu giờ. Cũng có thể họ đang ở trong cái thế không làm chi khác được (xem lý do trong đoạn sau).

Tháng 2 năm 1945, tại thành phố Yalta trên bán bán đảo Crimea, Tổng thgống F.D. Roosevelt của Mỹ, Thủ tướng W.Churchill của Anh và nhà lãnh đạo J.Stalin của Liên Xô đã mở một cuộc hội đàm (Hội nghị Yalta) bàn với nhau về vấn đề nước Đức. Lúc đó, có một điều khoản bí mật như sau: “Khi Đức đã đầu hàng được 2, 3 tháng rồi Liên Xô sẽ góp sức tấn công Nhật”.Và để trả lễ lại công khó đó của Nga, Anh Mỹ đồng ý cho Nga lấy lại phiá Nam đảo Shakhalin (Hoa Thái đảo) và sẽ bắt Nhật nhường cho Nga quần đảo Chishima (Thiên đảo).

Chính vì không muốn tiết lộ mật ước này giữa họ với Anh Mỹ mà Nga tỏ ra không sốt sắng cho lắm với đề nghị của Nhật chăng? Nhưng họ cũng không thể từ chối thẳng thừng vì như thế dễ làm cho Nhật sinh nghi. Còn nếu họ nghe lời Nhật mà đi làm môi giới thì thành ra mâu thuẫn với nội dung của mật ước Yalta. Dù sao, vì đã chịu ký Điều ước trung lập Nhật Xô trước đây, cho nên có thể nói trong việc này, Nga đi sai nguyên tắc.

Tháng 7 cùng năm (1945), lần này 3 nguyên thủ là H.Truman của Mỹ, W. Churchill của Anh (sau đó thay thế bởi Attlee [23]) và J. Staline của Nga đã họp nhau tại thành phố Postdam, ngoại ô Berlin để giải quyết vấn đề nước Đức. Họ cũng nhân đó bàn trước việc giải quyết vấn đề hậu chiến của Nhật Bản và cùng đưa ra tuyên ngôn khuyến cáo Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện..

Nội dung Tuyên ngôn Postdam

Điều 10: Chúng tôi không hề muốn bắt dân tộc Nhật Bản trở thành nô lệ và cũng không có ý đồ tiêu diệt dân tộc Nhật. Chúng tôi chỉ nhất thiết nghiêm trị các phạm nhân gây chiến, kể cả những kẻ đã ngược đãi người của chúng tôi khi họ bị bắt làm tù binh. Chính phủ Nhật Bản phải trừ khử tất cả mọi chướng ngại, giúp cho khuynh hướng dân chủ chủ nghĩa trong vòng quốc dân Nhật Bản được sống lại và phát triển mạnh.Phải xác định lại quyền tự do, ngôn luận, tôn giáo và tư tưởng cũng như sự tôn trọng những quyền cơ bản của con người.

Điều 13: Chúng tôi yêu cầu chính phủ Nhật Bản phải tuyên bố là quân đội Nhật đầu hàng vô điều kiện và yêu cầu chính phủ này phải trưng ra những bằng chứng cho thấy mình đã thực hiện đầy đủ và thích đáng điều nói trên với tất cả thành ý. Nếu chính phủ Nhật không chọn con đường như chúng tôi mong muốn thì sẽ bị hũy diệt một cách hoàn toàn và nhanh chóng.

(Trong Niên biểu văn thư ngoại giao chính thức Nhật Bản)

Ngoài ra còn có những điều khoản quan trọng khác như Điều 8 nói đến việc cắt bớt lãnh thổ Nhật Bản, Điều 9 nói về việc giải tán quân đội Nhật, Điều 11 qui định chỉ duy trì lãnh vực kỹ nghệ phục vụ hòa bình (nghĩa là ngoài kỹ nghệ quân sự) và đồng ý cho Nhật Bản được tham gia vào việc trao đổi mậu dịch trong tương lai.

Một điều chúng ta cần chú ý là tuy ở Hội nghị Postdam chỉ có đại diện 3 nước Mỹ, Anh và Liên Xô nhưng khi ra Tuyên ngôn Postdam thì bên cạnh Anh, Mỹ lại có Trung Quốc, 3 nước này mà thôi. Lý do là giữa Nhật và Liên Xô lúc đó, điều ước giữ trung lập hãy còn hiệu lực và hai bên không có quan hệ chiến tranh.

Chính phủ Nhật Bản khi nghe khuyến cáo đầu hàng vô điều kiện ấy thì dĩ nhiên rất dao động nhưng không trả lời dứt khoát là mình có chấp nhận hay không. Họ quyết định giữ một thái độ im lặng.

Thế rồi Mỹ đã cho thả quả bom nguyên tử đầu tiên vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 xuống thành phố Hiroshima. Ngày 8 tháng 8, giữa khi Điều ước trung lập Nhật Xô hãy còn hiệu lực, quân Liên Xô đã bố cáo việc tuyên chiến với Nhật và xua quân vào Mãn Châu Quốc cũng như bán đảo Triều Tiên. Đến hôm sau, ngày 9 tháng 8, lần này thì thành phố Nagasaki hứng trái bom nguyên tử thứ hai.

Hiroshima và Nagasaki

Không phải chỉ có Mỹ mới nghiên cứu bom nguyên tử. Đức, Nga, Anh, Nhật đều như thế cả nhưng Mỹ nhờ có nhiều nhà bác học ưu tú hơn và chịu bỏ kinh phí lớn nên đã thành công trước.

Một hôm trước (vào ngày 16/7) khi Truman, Churchill và Stalin gặp nhau để hội đàm ở Postdam ( 17/7 – 2/8/1945) thì Truman nhận được điện báo từ Washington cho biết “Đứa bé vừa mới ra đời”, ám chỉ việc thí nghiệm thành công bom nguyên tử theo Kế hoạch Manhattan. Ngày 26 tháng 7, tuyên ngôn Postdam đòi hỏi Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Thủ tướng đương nhiệm Suzuki Kantarô trả lời là ông “làm lơ” (ignore) nhưng báo chí Mỹ đã dịch ra là “từ khước” (reject) nghĩa là với ngữ điệu mạnh hơn. Dù trả lời nhẹ hay nặng, ngày 6 tháng 8, quả bom đầu tiên đã được thả xuống trung tâm thành phố Hiroshima làm bốc lên một cái nấm trắng khổng lồ với sức công phá mãnh liệt, không những giết trực tiếp tại chỗ và còn di họa phóng xạ gây bệnh hoại huyết lâu dài về sau. Số người chết ở Hiroshima ước tính là 14 vạn. Ngày 9 tháng 8, quả bom thứ hai được thả xuống Nagasaki, theo Mỹ là vẫn mang mục đích cứu bớt sinh linh sẽ phải hy sinh vì chiến tranh nếu có một cuộc đổ bộ, nhưng người ta tự hỏi quả bom này có cần thiết hay không?

Bom nguyên tử ở Hiroshima và hậu quả của nó

Trong một tời gian dài, GHQ đã không cho phép người Nhật phê phán việc ném bom. Nhà báo người Anh Burchett vì hô hào với thế giới “No more Hiroshima!” mà bị họ không cho phép đến các bệnh viện phỏng vấn các nạn nhân sống sót nữa. Từ đó GHQ đã áp dụng một chính sách kiểm duyệt chặt chẽ nhưng vẫn không ngăn được tiếng nói của dư luận trong và ngoài nước.

Năm 1950, nhà bác học Pháp Joliot Curie đã ra Tuyên ngôn Stockholm xem việc ném bom nguyên tử klà tội ác chiến tranh. Cuộc vận động xin chữ ký chống bom hạt nhân đã thu lượm được 500 triệu chữ ký chỉ trong vòng năm ấy.

Khi Chiến tranh Triều Tiên (1950-53) với sự trợ lực của chí nguyện quân Trung Quốc cho Bắc Triều làm cho cuộc chiến đi đến chỗ nhùng nhằng, phiá Mỹ cũng đã nghĩ đến khả năng can thiệp bằng vũ khí nguyên tử. Nguy cơ chiến tranh hạt nhân lại xuất hiện thêm một lần thứ hai khi Liên Xô đem đầu đạn nguyên tử đặt ở Cuba trong tầm ngắm vào nước Mỹ. Vì Tổng thống Kennedy lên truyền hình tuyên bố sẽ sẳn sàng trả lễ nên cuối cùng họ đã triệt thoái. Chưa hết, hồi chiến tranh Việt Nam, nhân gặp lúc khó khăn, đã có giả thuyết là Mỹ sẽ dùng vũ khí nguyên tử cỡ nhỏ. Hiện nay, tuy đại đa số các nước đã ký Hiệp ước NTP (Không mở rộng việc sử dụng vũ khí hạt nhân) nhưng những nước lớn vẫn còn giữ độc quyền về nó. [24]

Chủ đề bom nguyên tử đã đi vào văn học Nhật Bản với những tác phẩm lớn như Natsu no hana (Đóa hoa mùa hạ) của Hara Tamiki ( 1905-1951) hay Kuroi Ame (Mưa đen) của Ibuse Masuji (1898-1993)

Bom nguyên tử là một thứ võ khí có sức hũy diệt khủng khiếp như thế đó. Nó đã cướp đi hàng chục vạn sinh linh. Còn phía bên kia bờ biển thì quân Quan Đông trong trạng thái tinh thần hoảng loạn như vậy đã tan hàng rã đám ngay trước Hồng quân Liên Xô, làm cho một số đông đồng bào họ – những người Nhật di dân sang Mãn châu sinh sống – đã phải đón nhận lấy một kết thúc thảm thương. Một số thành phần chiến đấu lẫn phi chiến đấu phía Nhật Bản bị bắt giải về ở Siberia (Shiberia yokuryuu). Tại đây, có những người đã bị giam giữ và cưỡng bách lao động trong một thời gian dài.

Những kẻ thừa sống thiếu chết để hồi hương thì khi được bốc về nước, trên đường cũng gặp vô số khổ ải. Trong cảnh hỗn loạn như vậy, một số trẻ em con cái người Nhật đã bị mất liên lạc với bố mẹ rồi kẹt lại ở Trung Quốc như cô nhi (Trung Quốc tàn lưu cô nhi = Chuugoku zanryuu koji). Nhiều khi sợ mang con theo thì sẽ bị quân Liên Xô giết chết chùm, có bố mẹ đành gửi con ở lại cho người quen biết nuôi dạy với hy vọng sẽ có một ngày đoàn viên hay ít nhất là cho những đứa trẻ ấy một cơ hội sống còn.

Việc Mỹ thả bom nguyên tử và Liên Xô tham chiến đã làm cho chính phủ lẫn quân đội Nhật chấn động tận gốc rễ. Họ bèn mở ngay một hội nghị cấp cao và với sự phán quyết của Thiên hoàng Shôwa, chính phủ Nhật Bản đồng ý chấp nhận tinh thần của Tuyên ngôn Postdam. Thế rồi ngày 14 tháng 8, Nhật Bản thông tri quyết định ấy cho phía Đồng Minh, đến ngày 15, quốc dân lần đầu tiên được nghe tiếng nói thu âm của thiên hoàng (ngọc âm) qua đài phát thanh tuyên bố chấp nhận sự thất trận.Ngay chính cả việc thiên hoàng ra tuyên ngôn đầu hàng cũng đã gặp phải sự chống đối nhóm quân nhân hiếu chiến, vẫn không chấp nhận thất bại. Họ đã tổ chức một cuộc tìm kiếm cuốn băng từ ghi âm, lục lọi cả phòng riêng của hoàng hậu nhưng không thành công. Sự kiện này đã trở thành nguồn cảm hứng cho một cuốn phim nhan đề “Ngày dài nhất Nhật Bản”. (Nihon no ichiban nagai hi, 1967) của đạo diễn Okamoto Kihachi. Ngày 15 tháng 8, một số người đã đến trước sân hoàng cung để tự sát vì không kham nỗi sự nhục nhã.

Cuối mùa hè năm 1945, Nhật Bản chỉ còn trơ trụi và điêu tàn. Gần 200 vạn đồng bào mà một phần 3 là dân sự đã chết trong cuộc chiến tranh. Những đống gạch vụn bao trùm 40% diện tích các thành phố và dân số thành thị đã hao đi phân nữa. Kỹ nghệ trở lại điểm xuất phát đầu tiên. Nông nghiệp thiếu tất cả từ dụng cụ, thiết bị, phân bón đến nhân lực. Nhật Bản vì chạy theo giấc mộng ngông cuồng của các nhà lãnh đạo đã dồn hết tâm lực cho cuộc chiến nên đã trắng tay. Người người bơ thờ, ngơ ngác, suy dinh dưỡng. Lần đầu tiên lãnh thổ họ bị chiếm đóng. Chỉ còn cách ráng chịu đựng chuyện không thể chịu đựng được.

Ngày 2 tháng 9 năm ấy (1945), chính phủ Nhật Bản đã gửi Ngoại trưởng Shigemitsu Mamoru (Trùng Quang, Quì) và đại biểu quân đội là tham mưu trưởng Umedzu Yoshijirô (Mai Tân, Mỹ Trị Lang) hai người đến chiến hạm Missouri đang neo ngoài vịnh Tôkyô để ký vào văn bản chấp nhận sự đầu hàng. Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương kéo dài dai dẵng trên 4 năm trời (1941-1945) bây giờ mới thấy được lối ra.

Danh sách các thủ tướng thời Chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945)

Tên họ Thành viên Bắt đầu Chấm dứt Đặc điểm
Abe
Nobuyuki
Lục quân
(đại tướng)
08/1939 01/1940 Liên hiệp toàn quốc.
Tuyên bố chiến tranh
Yonai
Mitsumasa
Hải quân
(đại tướng)
01/1940 07/1940 Vô hiệu hoá hiệp ước hàng hải thông thương Nhật Mỹ.
Konoe
Fumimaro
Hoàng thân
Chủ tịch phong trào phù bật “Dực tán đại chính”.
07/1940 10/1941 Lập nội các 2 lần liên tiếp (thứ 2 và 3). Ký kết Đồng minh phe trục giữa Đức Ý Nhật.
Tôjô 
Hideki
Lục quân
(đại tướng)
10/1941 07/1944 Hải chiến Thái Bình Dương. Hội nghị Đại Đông Á.
Oiso
Kuniaki
Lục quân
(đại tướng)
07/1944 04/1945 Hội nghị Yalta mở màn. Trận Okinawa.
Suzuki Kantarô Hải quân (đại tướng), nguyên thị tùng trong hoàng cung 04/1945 08/1945 Bom nguyên tử dội xuống Hiroshima và Nagasaki. Chấp nhận Tuyên ngôn Postdam.

 

Chú thích :

[1] – Chahar còn viết là Qhar, chữ Hán là Sát Cáp Nhĩ.Thủ phủ của tỉnh là Trương Gia Khẩu. Tỉnh bị phế bỏ vào năm 1952 sau khi cùng với Khu tự trị Nội Mông hợp nhất vào hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây.

[2] – Konoe Fumimaro, chính trị gia dòng dõi công khanh, sinh ở Tôkyô. Công tước. Tốt nghiệp Đại học Kyôto. Chủ tịch Quý tộc viện (1933). Làm thủ tướng lúc cuộc chiến Nhật Trung xảy ra toàn diện (1937). Năm 1941, lại tổ chức nội các lần thứ 3. Vì thất bại trong cuộc tranh luận chính trị trước Tổng trưởng lục quân Tôjô Hideki về chủ trương khai chiến với Mỹ, phải từ chức. Sau chiến tranh, bị xem như can phạm nhưng tự sát ngay trước khi bị câu lưu.

[3] – Hayashi Senjuurô là chính trị gia và quân nhân xuất thân tỉnh Ishikawa. Trước khi làm thủ tướng đã giữ vai trò tư lệnh ở Triều Tiên và Tổng trưởng lục quân trong 2 nội các Saitô và Okada.

[4] – Sugiyama Hajime là một nguyên soái trong quân đội Nhật, quê ở Fukuoka. Tổng trưởng lục quân trong 2 nội các Hayashi và Konoe 1. Thuộc phái chủ chiến khi vụ Lư Câu Kiều xảy ra. Năm 1938, tư lệnh chiến trường Hoa Bắc, những năm 1940-44 là Tổng tham mưu quân đội rồi tổng trưởng lục quân trong nội các Koiso. Năm 1945 làm tổng tư lệnh quân đội. Tự sát sau khi Nhật Bản thất trận.

[5] – So sánh với thời Thoát Á nhập Âu (Datsya nyuuô, Meiji, 1868-1912) trong chủ thuyết của Fukuzawa Yukichi thì đây là thời Nhập Á thoát Âu (Nyuua datsuô , Shôwa 1, 1930-45) trước khi Nhật Bản đổi hướng để đi theo con đường thứ ba là Thân Mỹ nhập Á (Shinbei nyuua, từ 1960, Shôwa 2, Heisei).

[6] – Lequiller Jean, Le Japon, sđd, trang 424.

[7] – Ban biên tập báo Mainichi, Thế kỷ 20: Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á, sđd, trang 18-19.

[8] – Hiranuma Kiichirô xuất thân gia đình phiên sĩ phiên Tsuyama. Tốt nghiệp Đại học Tôkyô, từng làm thẩm phán, công tố viện nên có thế lực trong ngành tư pháp. Đã thành lập Konhonsha (Quốc bản xã), một đoàn thể thiên hữu. Năm 1936 ược cử làm Viện trưởng Xu mật viện, năm 1939, lại tổ chức nội các. Vì không tiên liệu được hiệp ước bất khả xâm phạm ký kết giữa Đức và Liên Xô nên nội các của ông phải tổng từ chức.Sau Thế chiến thứ hai, bị liệt vào loại chiến phạm hạng A và lãnh án tù chung thân.

[9] – Thêm một hành vi vô kỹ luật của quân đội Nhật lúc đó. Không có lệnh của Thiên hoàng, sư đoàn 19 của đệ nhất quân đoàn đóng ở Triều Tiên đã tiến chiếm Trương Cổ Phong nhưng sau đó bị quân Liên Xô, vốn có hỏa lực mạnh hơn, đẩy lui.

[10] – Abe Nobuyuki (1875-53) là một quân nhân gốc ở Kanazawa. Từng làm thứ trưởng cho Tổng trưởng lục quân Ugaki (trong nội các Hamaguchi Osachi, 1930-31). Năm 1939 giữ chức thủ tướng kiêm ngoại trưởng. Cũng từng là Tổng đốc Triều Tiên và Chủ tịch Yokusanseiji kai (Dực tán chính trị hội), một tổ chức chủ trương chính trị độc đảng do tướng Tôjô Hideki lập nên năm 1942 và giải tán vào tháng 3 năm 1945.

[11] – Nomura Kichisaburô (Dã Thôn, Cát Tam Lang, 1877-1964), đại tướng hải quân, người vùng Wakayama.Tổng trưởng ngoại giao trong chính phủ Abe Nobuyuki (1939). Từng là Đại sứ ở Mỹ (1940) và đại diện Nhật thương thuyết nhiều lần với Ngoại trưởng Mỹ Cordell Hull (1871-1955) cho đến ngày chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ ( 1941).

[12] – Yonai Mitsumasa là một đại tướng hải quân, người vùng Iwate.Nhiều lần làm Tổng trưởng hải quân. Ra lãnh chức vụ thủ tướng năm 1940. Sau đó đã vận động lật đổ chính phủ Tôjô để kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương (1941-1945).

[13] – Uông Triệu Minh được biết nhiều hơn dưới cái tên Uông Tinh Vệ tuy Tinh Vệ chỉ là tên tự. Ông quê ở Phiên Ngung thuộc Quảng Châu. Từng du học Nhật Bản, tốt nghiệp Đại học Hôsei. Đã hoạt động cách mạng bên cạnh Tôn Văn. Có thái độ đối lập với Tưởng Giới Thạch thời ở Vũ Hán (1927). Trong Chiến tranh Nhật Trung, chủ trương chống Cộng thân Nhật. Năm 1938, bỏ trốn khỏi Trùng Khánh về Nam Kinh lập chính phủ “ngụy Dân quốc” theo Nhật (1940). Sau chết bệnh ở Nagoya.

[14] – Hata Shinroku (“Điền”, Tuấn Lục, 1879-1962), nguyên soái trong quân đội Nhật, gốc phiên Aizu nhưng sinh ở Tôkyô. Từng giữ chức tư lệnh ở chiến trường Hoa Trung, sĩ quan thị tùng trong hoàng cung, và làm tổng trưởng lục quân trong các chính phủ Abe và Yonai. Nhân vì ủng hộ việc Konoe ra làm thủ tướng mà tự từ chức để gây rối ren cho Thủ tướng Yonai.

[15] – Tôjô Hideki, đại tướng lục quân, sinh ở Tôkyô. Ông là tham mưu trưởng quân Quan Đông, tổng trưởng lục quân trong Nội các Konoe. Năm 1941, lên làm thủ tướng, kiêm nhiệm tổng trưởng nội vụ và lục quân. Là người đã phát động Chiến tranh Thái Bình Dương vừa là tham mưu trưởng, vừa giữ bộ kỹ nghệ, quân nhu quân dụng.Từ chức năm 1944 khi tình hình trở nên bất lợi. Khi chiến tranh kết thúc, bị Tòa án đặc biệt Tôkyô xem như chiến phạm hạng A. Toan tự sát nhưng thất bại, phải xử giảo năm 1948.

[16] – Có thể là một sự tình cờ nhưng năm đó, Nhật Bản đã mất đi một viên tướng tài ba là Nguyên soái Yamamoto Isoroku (Sơn Bản, Ngũ Thập Lục,1884-1943), tổng tư lệnh hạm đội. Ông là người thứ hai sau Tôgô Heihachirô nhận chức này và cũng được quốc táng như Tôgô. Yamamoto được biết đến với chiến thắng Trân Châu Cảng (1941) và được xem như một lãnh đạo ưu tú của quân đội Nhật. Tàu bay ông di chuyển để chỉ huy tại chỗ đã bị Mỹ giải mật mã khám phá và bắn hạ trên quần đảo Solomon. Có thuyết cho biết ông là người chống cuộc chiến tranh này nhưng đã lãnh trách nhiệm vì không muốn từ chối bổn phận của một quân nhân.

[17] – Đảo Attu được xem như lãnh thổ Mỹ. Đã bị Nhật chiếm trong chiến tranh (tên Nhật là Nhiệt điền đảo). Tháng 5 năm 1943, toàn bộ quân Nhật giữ đảo đã bị Mỹ tiêu diệt.

[18] – Imphal là thành phố nhỏ thuộc vùng cực đông Ấn Độ và tiếp giáp biên giới Myanmar. Quân Nhật năm 1944 đã định đột nhập vào đất Miến bằng ngỏ đó nhưng thất bại. Năm 2001, dân số ở đó có khoảng 12 vạn người.

[19] – Koiso Kuniaki (1880-1950) quê ở Utsunomiya, gần Tôkyô. Đại tướng lục quân. Có can dự đến biến cố tháng 3 năm 1931 định đưa quân đội lên cầm quyền. Từng làm Tổng trưởng bộ khai khẩn dinh điền và Tổng đốc Triều Tiên. Sau chiến tranh, bị xem như chiến phạm hạng A và lãnh án chung thân cấm cố.

[20] – Chữ trong truyện Nguyên Cảnh An (Bắc Tề Thư), tác phẩm cổ điểnTrung Quốc: “Đại trượng phu khả ninh ngọc toái, bất năng ngõa toàn”.

[21] – Okumiya Masatake, Kamidzu Naotsugu trong Story – Nihon no rekishi, quyển 2,Yamakawa xuất bản, sách đã dẫn, trang 167-168.

[22] – Suzuki Kantarô gốc người vùng Izumi, thuộc Ôsaka, đại tưởng hải quân, nguyên tư lệnh hạm đội. Từng bị trọng thương trong vụ đảo chánh Niniroku (1936) lúc đang làm trưởng quan thị tùng bên cạnh Thiên hoàng. Năm 1944, trong khi giữ chức Viện trưởng Xu mật viện thì được gọi ra để lập nội các giảng hòa. Lúc ấy tuổi đã cao (78 tuổi). Thừa nhận Tuyên ngôn Postdam. Sau chiến tranh, trở lại chức Viện trưởng Xu Mật Viện (1945).

[23] – Clement Richard Attlee (1883-1967), đảng trưởng Đảng Lao Động Anh từ 1935 đến 1955. Sau là Thủ tướng từ 1945 đến 1951.

[24] – Ijima Sôichi, Aihara Hideji, trong Story-Nihon no Rekishi, Yamakawa xuất bản, sđd, trang 190-193.

Trích từ GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ NHẬT BẢN 

Nguồn bài đăng

 

 

 

 

 

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s