Chiến tranh trăm năm giữa Pháp và Anh- bài 1

biên dịch: hongsonvh  

Vi đây là cuộc chiến kéo dài đến gần 120 năm lúc đánh lúc nghỉ giữa Anh và Pháp cùng các đồng minh của họ nên để cho bạn đọc dễ hiểu người sưu tầm sẽ lập bố cục như sau:

-Giới thiệu tổng quát về chiến tranh trăm năm ( nguyên nhân, diễn biến chính, nội bộ hoàng tộc các phe …)
-Tóm tắt diễn biến của chiến tranh trăm năm theo dòng lịch sử
-Giới thiệu về vũ khí, trang bị, chiến thuật của các bên tham chiến
-Giới thiệu chi tiết những trận đánh lớn, những danh tướng trong chiến tranh trăm năm

Vì cách bố cục như vậy nên không tránh khỏi việc các sự kiện sẽ bị lặp đi lặp lại, mong các bạn đón đọc và góp ý

Giới thiệu tổng quát về chiến tranh trăm năm

Chiến tranh trăm nămlà một loạt các trận chiến diễn ra từ năm 1337-1453 giữa Nhà Valois và Nhà Plantagenet-vốn còn được gọi là Nhà Anjou ( đến từ vùng Anjou nước Pháp), để tranh giành ngôi nước Phá lúc này bị bỏ trống sau khi chi nhánh trưởng của dòng Capetian-dòng Hoàng tộc của vua Pháp bị tuyệt tự. Nhà Valois tuyên bố kế thừa ngai vị Vua của Pháp, trong khi Nhà Plantagenet cũng tuyên bố đòi hỏi này. Các vị vua Nhà Plantagenet là những người cai trị Vương quốc Anh từ thế kỷ 12 và có nguồn gốc từ các vùng Anjou và Normandy của Pháp.

Cuộc xung đột kéo dài 116 năm nhưng vẫn được điểm vào bởi một số thời kỳ hòa bình, trước khi cuối cùng nó kết thúc với việc trục xuất Nhà Plantagenets ra khỏi nước Pháp (ngoại trừ hạt Calais). Cuộc chiến cuối cùng là một chiến thắng cho nhà Valois, những người đã thành công trong việc chiếm lấy quyền kiểm soát mà nhà Plantagenet nắm giữ lúc ban đầu và trục xuất phần lớn người Anh ra khỏi nước Pháp vào những năm của thập kỷ 1450. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh đã làm nhà Valoi gần như kiệt quệ trong khi nhà Plantagenet lại làm giàu cho bản thân họ bằng cách có được những số tiền rất lớn cướp bóc được từ lục địa. Còn bản thân người Pháp thì lại bị thiệt hại nghiêm trọng từ cuộc chiến bởi vì hầu hết các cuộc xung đột đều xảy ra trên lục địa và chính xác hơn là ở trên lãnh thổ nước Pháp.

“Chiến tranh trăm năm” trong thực tế là một loạt các cuộc xung đột và thường được chia thành ba hoặc bốn giai đoạn: Cuộc chiến của Nhà Edward (1337-1360), Cuộc chiến của Nhà Caroline (1369-1389), Cuộc chiến của Nhà Lancaster (1415-1429), và sự suy giảm vận may của Nhà Plantagenet sau khi có sự xuất hiện của Joan of Arc (1412-1431). Một số cuộc xung đột khác tại thời đó ở châu Âu cũng đã có trực tiếp liên quan đến cuộc xung đột này: Chiến tranh thừa kế Breton, Nội chiến Castilian, Cuộc chiến của hai Peters và cuộc Khủng hoảng 1383-1385. Thuật ngữ ” chiến tranh Trăm năm” “là một thuật ngữ sau này được phát minh bởi các nhà sử học hiện đại để miêu tả sự kiện này.

Cuộc chiến tranh còn có ý nghĩa lịch sử của nó ở một số yếu tố. Mặc dù nó là một cuộc xung đột chủ yếu ở các triều đại, chiến tranh cũng tạo động lực cho ý thức hệ dân tộc của cả người Pháp và người Anh. Về mặt Quân sự, nó cũng đã thấy sự ra đời của những loại vũ khí mới và những chiến thuật mới-những loại vũ khí và chiến thuật mới này đã bào mòn hệ thống quân đội kiểu cũ của phong kiến mà lực lượng kỵ binh hạng nặng chiếm ưu thế và cũng bắt đầu đánh bại sự thống trị của kỵ binh hạng nặng ở Tây Âu. Lần đầu tiên quân đội thường trực được sử dụng trong chiến tranh ở Tây Âu kể từ thời điểm Đế quốc La Mã phương Tây sụp đổ, do đó nó đã thay đổi vai trò của nông dân. Bởi tất cả những đặc điểm này, cũng như khoảng thời gian kéo quá dài của nó, nó thường được xem là một trong những cuộc xung đột quan trọng nhất trong lịch sử chiến tranh thời Trung cổ. Ở Pháp các quốc nạn như nội chiến, dịch bệnh, nạn đói và các đội quân cướp bóc … đã làm giảm dân số của nước Pháp xuống khoảng một nửa.

Nguyên nhân của cuộc xung đột có thể bắt đầu từ năm 1066, khi William, Công tước xứ Normandy, Dẫn đầu cuộc xâm lược vào nước Anh. Ông đã đánh bại quân đội Anh dưới sự chỉ huy của Vua Harold II tại Trận Hastings ( mời các bác quay lại trang 7 cùng toppic để tham khảo chi tiết ) và đã tự mình lên ngôi vua của nước Anh. Trong khi đó với chức danh Công tước của Normandy, ông vẫn là một chư hầu của vua Pháp và được yêu cầu phải thề trung thành lời thề với vua Pháp thay mặt cho vùng đất của mình tại Pháp, đối với một vị vua phải thề trung thành với một vị vua khác được coi là một điều nhục nhã, và các vị vua Anh người gốc Norman đã thường cố gắng để tránh phải làm việc này. Về phía Pháp, những vị quốc vương dòng Capetian luôn cảm thấy bực bội vì một vị vua nước láng giềng đang nắm giữ quá nhiều đất đai ( các vùng đất của Anh tại Pháp là Aquitani, Normandy, Angevin, Brittany… ) trong vùng lãnh thổ riêng của họ và họ tìm cách để hóa giải các mối đe dọa mà nước Anh đã áp đặt vào nước Pháp.

Sau khoảng thời gian lâm vào nội chiến và bất ổn ở Anh vốn được biết đến như Thời Anarchy (1135-1154), triều đại Anglo-Norman đã được kế thừa bởi các vị vua dòng Angevin. Ở đỉnh cao quyền lực Công tước xứ Angevin kiểm soát vùng Normandy và Anh quốc cùng với các vùng đất khác như Maine, Anjou,Touraine, Poitou, Gascony, Saintonge và Aquitaine (Tập hợp của những vùng đất này đôi khi còn được gọi là Đế quốc Angevin). Vua của nước Anh trực tiếp cai trị nhiều vùng lãnh thổ trên lục địa châu Âu hơn so với bản thân vua của nước Pháp. Tình trạng này – trong đó các vị vua nhà Angevin phải nợ tình trạng lệ thuộc trước một nhà cai trị ( vua Pháp ) mà trên thực tế người này yếu hơn họ rất nhiều – là một nguyên nhân của cuộc xung đột liên tục. Vua John của Anhquốc thừa kế đã thừa kế những tài sản rất lớn từ Vua Richard I ( Risa Sư tử tâm ). Tuy nhiên, vua Philip II của Pháp đã có những hành động dứt khoát để khai thác những điểm yếu của vua John cả trên mặt pháp lý và quân sự, và vào năm 1204 ông ta đã thành công trong việc giành giật từ tay nhà nhà Angevin quyền kiểm soát hầu hết các vùng đất thuộc Anh ở trên lục địa Âu châu. Những trận chiến tiếp theo như Trận Bouvines (1214), cùng với trận chiến Saintonge (1242) và cuối cùng là Chiến tranh Saint-Sardos (1324), đã lấy đi toàn bộ những vùng đất mà nhà Angevin đang nắm giữ trên lục địa này chỉ trừ một số lãnh đại nhỏ xíu ở xứ Gascony và thậm chí toàn bộ lãnh địa công tước xứ Normandy đã rơi vào tay vua Pháp.

Đến thế kỷ 14, rất nhiều người trong giới quý tộc Anh vẫn còn nhớ có một thời gian các bậc tiền bối đời trước của họ đã kiểm soát những vùng giàu có ở tại lục địa châu Âu, chẳng hạn như Normandy-nơi mà họ luôn luôn coi là quê hương của tổ tiên của họ. Họ coi đó là động lực để giành lại quyền sở hữu vùng lãnh thổ này.

Khủng hoảng trong Triều đình Pháp: 1314-1328

Các sự kiện cụ thể là nguyên nhân để dẫn đến chiến tranh đã xảy ra ở Pháp, nơi mà những người con trai trưởng thuộc dòng Trực hệ của Nhà Capetian đã liên tục kế thừa lẫn nhau trong nhiều thế kỷ. Đó là triều đại dài nhất liên tục nhất trong thời trung cổ ở châu Âu. Năm 1314, vua Philip IV trực hệ trưởng của Nhà Capetian đã qua đời để lại ba người thừa kế nam: Louis X, Philip V và Charles IV. Isabella-người con thứ tư của vua Phillip IV đã kết hôn với Edward II của Anh và năm 1312 bà này đã sinh hạ một cậu con trai được đặt tên là Edward Windsor-đây là người thừa kế tiềm năng cho ngai vàng của Anh quốc ( qua người cha của ông) và Pháp quốc (qua ông nội của ông).

Louis X-con trai trưởng và là người thừa kế của Philip IV đã chết trong năm 1316, chỉ để lại di chúc truyền ngôi cho John I-người con trai được sinh ra sau khi ông mất nhưng rồi cậu bé mới đã được sinh ra cũng đã chết cùng năm đó và một con gái được đặt tên là Joan-mặc dù ông này không công nhận cô bé.

Khi xảy ra cái chết của Louis X và John I thì Philip V-người con trai thứ hai của Philip IV, tìm cách chiếm ngai vàng cho mình bằng cách tung những tin đồn rằng cô cháu gái Joan là một kết quả của một cuộc ngoại tình của mẹ cô (và do đó bị cấm không được kế vị). Một viện chứng hỗ trợ cho đòi hỏi của ông này là điều luật Salic, nó khẳng định rằng phụ nữ không thể kế thừa ngôi vua Pháp. Khi chính Philip V chết trong năm 1322 thì con gái của ông cũng bị gạt sang một bên và quyền đòi hỏi ngai vàng lại được lọt vào tay người chú-Charles IV-người con trai thứ ba của Philip IV.

Năm 1324, Charles IV của Pháp và Edward II của Anh quốc-anh rể của ông đã chiến đấu với nhau trong một trận chiến ngắn Saint-Sardos ở Gascony. Sự kiện chính của cuộc chiến là cuộc vây hãm ngắn gọn pháo đài La Réole của Anh ở Garonne. Quân đội Anh được chỉ huy bởi Edmund của Woodstock, Bá tước xứ Kent đã bị buộc phải đầu hàng sau một tháng bị bắn phá từ các khẩu pháo công thành của quân Pháp sau khi ông này không thấy có quân tiếp viện. Cuộc chiến là một thất bại hoàn toàn cho quân Anh và chỉ còn Bordeaux và một dải hẹp ven biển thuộc lãnh địa công tước Aquitaine là vẫn nằm trong tay người Anh.

Thu hồi lại những vùng đất đã bị mất này đã trở thành một tâm điểm của nền ngoại giao của người Anh. Cuộc chiến thất bại cũng đã càng làm mất uy tín của vua Edward II trước các quý tộc Anh ( ông này cũng là người đã thua te tua trước người Scotland ở trận Bannockburn năm 1314) và đã dẫn đến việc ông này bị lật đổ khỏi ngôi vị vào năm 1327và con trai của ông-Edward of Windsor đã trở thành vua Edward III của Anh quốc. Charles IV qua đời năm vào 1328 chỉ để lại một người con gái và một đứa trẻ chưa sinh-người cũng đã được xác định là một bé gái. Do đó chi trưởng của Triều đại Capetian đã kết thúc và tạo ra một cuộc khủng hoảng trong kế thừa ngôi vị vua Pháp.


Bản đồ thể hiện mối quan hệ họ hàng giữa Philip VI-vua Pháp và Edward III-vua Anh

Trong khi đó tại Anh, Hoàng tử Edward Windsor trẻ tuổi đã trở thành vua Edward III của Anh năm 1327. Cũng là cháu trai của Charles IV của Pháp quốc, Edward là người gần gũi nhất của Charles và là hậu duệ duy nhất còn sống nam của Philip IV. Bằng kiến giải luật phong kiến theo kiểu Anh thì Edward III là người thừa kế ngai vàng hợp pháp của nước Pháp.

Tuy nhiên các quý tộc Pháp lại cảm thấy ngần ngại trước viễn cảnh phải có một vị vua người nước ngoài-đặc biệt người đó lại chính là vua của nước Anh. Họ khẳng định, dựa trên giải thích của họ về Luật Salic cổ xưa thì thừa kế của hoàng tộc không thể truyền cho phụ nữ hoặc cho con cái của họ. Do đó, nam giới cao tuổi nhất của nhà triều đại Capetian sau Charles IV là Philip Valois-cháu nội của Philip III của Pháp quốc sẽ là người thừa kế hợp pháp trong con mắt của người Pháp. Ông đã đảm nhận chức vụ nhiếp chính sau cái chết của Charles IV và được phép lên ngôi sau khi người vợ góa của Charles sinh con gái. Philip Valois đã lên ngôi như Philip VI-vị vua đầu tiên của Nhà Valois-nhánh thứ của nhà Capetian.

Joan II của Navarre-con gái của Louis X, cũng có một yêu cầu về tính pháp lý cho việc thừa kế ngôi vua Pháp nhưng không đủ sức mạnh để biến nó thành hiện thực. Vương quốc Navarre cũng không có tiền lệ nhà cầm quyền là phụ nữ (Nhà Capettian thừa hưởng nó qua Joan I của Navarre-bà của bà này) và như vậy theo hiệp ước bà và chồng-Philip của Évreux, được cho phép để thừa kế vương quốc này, tuy nhiên cùng vẫn hiệp ước này buộc Joan và chồng phải chấp nhận việc Philip VI nối ngôi tại Pháp và phải bỏ quyền thừa kế vùng lãnh địa Champagne và Brie cho vua Pháp để đổi lấy những lãnh địa kém hơn. Joan và Philip của Évreux sau đó đã sinh ra một người con trai-Charles II của Navarre năm 1332, sau đó Charles thay thế Edward III làm người thừa kế nam của Philip IV và là họ hàng gần với Louis X, mặc dù Edward vẫn là người thừa kế nam có họ hàng gần với Saint Louis, Philip IV và Charles IV.

Vào đêm trước của cuộc chiến tranh: năm 1328-1337

Sau khi Philip VI kế thừa ngai vàng thì người Anh vẫn kiểm soát vùng Gascony. Vùng này sản xuất các loại hàng quan trọng là muối và rượu vang và có lợi nhuận rất cao. Đó là một vùng đất phong riêng biệt nằm lọt thỏm vào vùng đất của vương quốc Pháp hơn là một lãnh thổ của nước Anh. Sở hữu của vùng đất này là một tranh chấp quyết liệt giữa hai vị vua. Philip VI thì muốn Edward công nhận chủ quyền của mình, Edward lại muốn chiếm lại những vùng đất đã bị mất bởi cha. Một thỏa hiệp ” homage ” đã không làm hài lòng không bên nào đã được ký kết vào năm 1329, nhưng trong năm 1331 vì phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng ở quê nhà, Edward đã chấp nhận Philip là Vua của Pháp quốc và từ bỏ tuyên bố của ông về ngôi vua Pháp. Trong thực tế người Anh vẫn giữ vùng Gascony, đổi lại Edward từ bỏ tuyên bố của ông như là một vị vua hợp pháp của nước Pháp.


Bản đồ nước Pháp năm 1328 cho thấy vùng Guyene vẫn còn nằm trong tay người Anh

Năm 1333, Edward III tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại David II của Scotland, Một đồng minh thuộc Auld Alliance Pháp, và bắt đầu cuộc chiến tranh giành độc lập lần Thứ hai của Scotland ( thời Trung cổ người Scotland luôn đứng về phía người Pháp để chống lại người Anh, thậm chí vua Philip XII đã từng thành lập một đội ngự lâm quân toàn người Scotland). Philip nhìn thấy cơ hội để đòi lại vùng Gascony trong khi nước Anh đang tập trung sự chú ý về phía bắc. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này ít nhất ban đầu lại là một thành công nhanh chóng cho quân Anh và vua David đã buộc phải chạy trốn sang Pháp sau khi bị đánh bại bởi vua Edward và Edward Balliol tại Trận Hill Halidon vào tháng Bảy. Năm 1336, Philip đã lên kế hoạch cho một chuyến chinh phạt để khôi phục David lên ngôi Scotland và cũng để chiếm lấy vùng Gascony.

Chiến tranh trăm năm giai đoạn của nhà Edward năm 1337-1360

Chiến tranh của nhà Edward là giai đoạn đầu tiên của chiến tranh Trăm năm, nó kéo dài từ năm 1337-1360, từ khi bùng nổ chiến tranh cho đến khi ký kết Hiệp ước Brétigny. Thời kỳ 23 năm này được đánh dấu bằng những chiến thắng cực kỳ đáng kinh ngạc của Edward III của Anh quốc và Hoàng tử Đen-con trai của ông, đó là hai Trận đánh Crécy và Poitiers. Trong trận chiến cuối cùng, vua John II của nước Pháp đã bị bắt tù binh và trong những năm sau đó nước Pháp đã gần như hoàn toàn lâm vào hoàn cảnh vô chính phủ và nội chiến. Kết quả là, nước Pháp đã bị buộc phải ký một hiệp ước hòa bình nhục nhã. Hòa bình chỉ kéo dài chín năm cho đến giai đoạn thứ hai của cuộc chiến trăm năm nổ ra đó là cuộc chiến của nhà Caroline.

Vùng đất thấp năm 1337-1341

Trong khi nước Pháp trong đầu thế kỷ 14 ngày càng chở nên là một vương quốc phong kiến tập quyền, Các tiểu bang Đức của Đế quốc La Mã Thần thánh đã trở thành bị phân tán ( quyền lực thực tế ở trong các vương hầu của từng bang, không còn nằm trong tay Hoàng đế nữa ). Điều này có nghĩa rằng là các thành bang Vùng đất thấp lúc này trên thực tế trở thành có chủ quyền, các vương hầu của họ có sức mạnh ngang ngửa với nhà vua Pháp. Trong tháng 8 năm 1337, phần lớn trong số họ đã ký một hiệp ước liên minh với nước Anh. Đổi lại cho sự phục vụ của phong kiến họ, Edward III đã hứa sẽ trả các khoản phí lớn. Một tiểu bang láng giềng là quận quốc Flander, một thái ấp nằm lọt vào trong Vương quốc Pháp, có những khó khăn của riêng nó-ngành công nghiệp dệt vải lớn của nó hoàn toàn phụ thuộc vào bông nhập khẩu từ Anh. Nhưng thương mại (giữa Flander và Anh) đã bị cấm vận bởi chính phủ Anh năm 1336 và vào tháng 12 tình hình đã trở nên quá nghiêm trọng đến mức những người thợ thủ công đã nổi loạn. Vị bá tước đã bị buộc phải trốn và một chính phủ mới được thành lập tại Ghent do thương nhân Jacob van Artevelde cầm đầu. Philip VI đã buộc phải chấp nhận tình trạng trung lập của Flanders.

Do những khó khăn liên tiếp về quản lý hành chính và tài chính, Edward đã không thể vượt qua Channel để đến Antwerp trước khi tháng 7 năm 1338. Vào lúc đó thì Kho bạc của người Anh đã trống rỗng. Để nộp phí đã hứa với đồng minh của mình, Edward đã bị buộc phải vay mượn rất nhiều từ các nhà ngân hàng lớn Bardi và Peruzzi và nhiều nhà cho vay nặng lại địa phương. Những nỗ lực này đã buộc Edward phải một lần nữa trì hoãn cuộc xâm lược của ông vào Pháp.

Vì sự đe dọa của cuộc xâm lược của quân Anh đã tạm thời qua đi, chính phủ Pháp có thể chi dùng tài nguyên của nó ở nơi khác. Trong khi người Anh còn thiếu một hạm đội có tổ chức và thay vào đó họ phải sử dụng tàu buôn cồng kềnh, thì người Pháp đã thuê tầu Galley từ Genoa, Và với hạm đội này họ đã có thể tấn công hầu như bất cứ lúc nào vào bờ biển nước Anh. Portsmouth đã bị đột kích, Southampton đã bị bao vây và Guernsey đã bị chiếm giữ. Trong tháng 12 năm 1338 xứ Gascony đã xâm lược. Oliver Ingham-quan trấn thủ của xứ Gascony là một chỉ huy có năng lực nhưng hầu như không nhận được sự giúp đỡ từ nước Anh nên ông đã bị buộc phải chấp nhận phòng ngự thụ động. Trong tháng 4 năm 1339 lâu đài quan trọng của Penne ở Agenais và hai thành phố Blaye và Bour ở Garonne rơi vào tay Pháp, mở ra một hướng tấn công vào công quốc từ phía Bắc.

Các chiến dịch của Pháp trên biển được tiếp tục vào mùa xuân năm 1339, nhưng với ít thành công hơn nhiều so với năm trước. Trên bờ biển Anh, lính nghĩa vụ ở các quận đã được huy động với những chi phí rất lớn và những kẻ cướp đã bị đánh đuổi ra khỏi bờ biển nước Anh trước khi kịp gây nhiều thiệt hại. Trong tháng 8 đã có những cãi về các khoản chi trả trong đội ngũ Genovese-> kết quả là một cuộc binh biến và hầu hết các tầu Galley đã quay trở lại Italy.

Mặc dù thực tế thì các cuộc tấn của Pháp chỉ gây ít thiệt hại nhưng nó có tác dụng kéo nguồn tài nguyên cuảngười Anh ra khỏi vùng biên giới khác của nó và tình hình của người Anh tại Scotland đã ngày càng trở nên xấu đi. Trong tháng 8 người Scotland chiếm lại Perth, một trong những cứ điểm mạnh nhất của người Anh mới được xây dựng ở phía bắc Firth of Forth. Vào lúc này vua Edward III đã không còn được cho vay bởi các chủ ngân hàng Ý. Nhưng thay vào đó ông đã nhận được khoản cho vay khổng lồ từ William Pole, vương miện của Edward đã được mang đi thế chấp và một số người bạn của ông cũng đã được gửi đi làm con tin như là một sự bảo đảm. Lãi suất cao chưa từng có là đến 50% năm.

Sợ rằng kế hoạch của ông sẽ bị sụp đổ ngay, Edward rất cần có một số kết quả quân sự tích cực. Cuối cùng vào tháng 9, ông đã phát động một cuộc xâm lược vào nước Pháp, cùng với các đồng minh mới của ông. Người Anh tấn công dữ dội vào Cambrésis và Thiérache, Nhưng không chiếm được bất cứ nơi nào có giá trị. Hết lương thực, Edward III thách người Pháp đánh trận tại La Chapelle ngay 23 tháng 10 năm 1339, nhưng Philip VI, người đã thân chinh chỉ huy quân Pháp, đã từ chối giao chiến và quân đội Anh-Đức đã được phép rút lui qua biên giới.

Trong năm 1339, quan hệ Anh-Flemish ngày càng trở nên thân thiện hơn khi Jacob van Artevelde đã củng cố được vị trí của mình ở Flanders. Đến tháng 12 Flemings đã sẵn sàng để chính thức gia nhập liên minh chống Pháp. Tuy nhiên, ở đỉnh cao của thời trung cổ, nổi loạn chống lại nhà vua mở hợp pháp của mình là một trong những trọng tội. Vì vậy, để bảo đảm sự liên minh với Flanders, và để loại bỏ các tội lỗi của những người nổi loạn ra khỏi cuộc chiến của ông, vào ngày 26 tháng 1 năm 1340 Edward tự xưng làm vua của nước Pháp ở quảng trường chợ chính ở thành phố Ghent. Ngay sau đó, ông đã bỏ đến nước Anh và để lại một sự lo lắng sâu sắc cho Quốc-hội.

Năm 1340 tình hình trên biển đã xoay chiều. Ở Genoa, người Anh đã ngoại giao để thuyết phục các viên thuyền trưởng nhận tiền và ở lại cảng và vào tháng Giêng, một hạm đội nhỏ của Anh đã đột kích vào Boulogne và đốt cháy hạm đội tầu Galley của Pháp đang đóng ở trong cảng. Vì đã cháy sạch các tầu Galley của mình, người Pháp đã bị buộc phải trưng dụng các tàu buôn. Để chuẩn bị cho cuộc xâm lược tiếp vào Anh, hạm đội Pháp đã tập trung ở bờ biển Flanders. Ngày 24 tháng 6, hai hạm đội đã gặp nhau trong Trận Sluys. Kết quả là trận này đã kết thúc với chiến thắng thuộc về người Anh và họ đã phá hủy gần như toàn bộ hạm đội Pháp. Có thể có đến 18.000 người Pháp đã thiệt mạng và 190 tàu bị bắt. Đây là một đòn đánh đặc biệt mạnh vào vùng Normandy-nơi đã cung cấp phần lớn tàu bè và thủy thủ cho quân Pháp. Sau đó người Anh đã thống trị English Channel cho đến hết phần còn lại của cuộc chiến để ngăn chặn một cuộc xâm lược của người Pháp.

Những nguy cơ nghiêm trọng trong hệ thống phòng thủ của Gascony cũng được giảm bớt trong một thời gian. Hai trong ba quý tộc gốc Pháp ở phía tây nam, Bá tước Armagnac và Bá tước Foix từ lâu đã là những kẻ thù truyền kiếp. Lúc này mối hận thù đã bùng nổ thành chiến tranh. Người thứ ba-Bertrand-Aiz Albret, công khai đào thoát sang phía người Anh, kéo theo một số rất lớn các bạn bè của ông, những người chịu ảnh hưởng và các chư hầu. Quân nổi loạn (pro Anh) đã không thành công trong việc chiếm bất kỳ nơi nào có tầm quan trọng thực sự, nhưng các cuộc xung đột này đã lan sang cả các tỉnh trước đó chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến.

Vào mùa xuân năm 1340, Philip VI lên kế hoạch để phá vỡ liên minh chống Pháp bằng cách tấn công vào các đồng minh của Edward III. Quân đội Pháp xâm lược Hainaut vào tháng 5. Nhưng khi nghe được tin tức về thảm họa tại Sluys, ông đã chuyển sự chú ý của mình vào mối đe dọa mới. Edward III chia quân đội của mình thành hai đạo. Đạo quân đầu tiên do Robert của Artois-một quý tộc Pháp lưu vong chỉ huy, xâm lược Artois. Nhưng trong một trận chiến với các đơn vị đồn trú ở Saint-Omer ngày 26 tháng 6, hầu hết đội quân này đã bị tiêu diệt và Robert đã bị buộc phải rút lui. Cùng ngày Edward III đã xuất hiện trước các bức tường của thành phố Tournai-một trong những thành phố lớn nhất của Pháp. Cuộc bao vây kéo dài và trong tháng 9 Philip VI đã xuất hiện cùng với quân đội lớn của Pháp. Philip VI lại một lần nữa từ chối không chịu chiến đấu với quân Anh trong một trận chiến mở. Với các đồng minh của ông lúc này ở trong tình trạng bên bờ vực thẳm, Edward chẳng có thể làm gì nhiều ngoài việc thương lượng. Trong thỏa thuận ngừng bắn Esplechin, Ngày 25 tháng 9 năm 1340 các bên đã nhất trí một thỏa thuận ngừng bắn trong 9 tháng.

Thỏa thuận ngừng bắn đã đánh dấu sự kết thúc của một liên minh lớn chống lại vương quốc Pháp. Tất cả các Hoàng thân Đức đã nhất trí với hiệp ước này, chỉ có các thị dân của Flanders là không chịu chấp nhận. Đổi lại cho việc chi ra một số tiền lớn, Edward III đã chẳng đạt được một mục tiêu nào có giá trị về quân sự, ở Anh đã có những thế lực quay ra chống lại ông và nhất là cuộc chiến ở Scotland đã về cơ bản lại bị thất bại. Gần như chở nên phá sản, Edward bị buộc phải cắt lỗ- Edward was forced to cut his losses ( ờ chắc cũng giống như chơi chứng vậy). Đối với những người ủng hộ, ông không thể đủ khả năng để thanh toán những khoản họ đã ứng trước ( ứng ra để chi cho quân khí, tầu bè vv). Các sử gia đương thời đã tuyên bố rằng các ngân hàng lớn như Bardi và Peruzzi ở Florence nằm trong số những ngân hàng đã bác bỏ các khoản vay của ông, dựa vào các bức thư của Giovani Villanni xứ Florentine. ( Giovani Villanni là một đại tài phiệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng của xứ Florence)

Tuy nhiên, vấn đề này đơn giản chỉ là Villanni không phải là một nguồn tài chính độc lập, anh trai của ông là một thành viên của ngân hàng Peruzzi. Villanni nói rằng Edward nợ ngân hàng Bardi 900,000 đồng florin vàng (£ 135,000) và Peruzzi 600.000 đồng florin vàng (£ 90,000) . Tuy nhiên, hồ sơ của nhà Peruzzis cho thấy rằng họ chưa bao giờ có nhiều tiền đến vậy để cho Edward III vay. Edward đã không có khả năng thanh toán đối với tất cả các khoản vay của ông và lại vẫn phải trả lại một khoản tiền mặt hoặc bằng những thứ có giá khác cho khoản len mà Hoàng gia đã mua, một nguyên tắc xuất khẩu của nền kinh tế Anh vào thời điểm đó.

Hơn nữa, lúc này xứ Florence lại đang trải qua một thời gian tranh chấp nội bộ và Acciaiuoli-công ty tài chính lớn thứ ba cũng đã bị phá sản và họ không có tiền để cho Edward vay. Những khoản mà Edward III đã vay nhưng không thể thanh toán này chỉ góp phần vào làm trầm trọng thêm cho những vấn đề tài chính của xứ Florence chứ không phải là nguyên nhân làm họ phá sản. ( thời Trung cổ các thành phố của nước Ý rất nổi danh trong làm dịch vụ, đây nhá Milan sản xuất áo giáp, vũ khí bán khắp châu Âu, Genoa cho thuê lính bắn nỏ và tầu chiến còn Florence cho thuê tài chính ).

Xứ Brittany năm 1341-1345

Ngày 30 tháng 4 năm 1341 John III, Công tước xứ Brittany chết mà không có con, dẫn đến Chiến tranh thừa kế vùng Breton. Quyền thừa kế vùng này bị tranh chấp giữa John de Montfort và Charles de Blois, với hầu hết các quý tộc đều ủng hộ Charles de Blois. John de Montfort phải ra tay hành động và nhanh chóng Nantes-thủ phủ của vùng này và sau đó đánh chiếm ngân khố của công quốc ở tại Limoges. Đến giữa tháng 8, John de Montfort đã chiếm hầu hết toàn bộ các vùng đất của công quốc, bao gồm cả ba thành phố chính, Nantes, Rennes và Vannes. Tính đến thời điểm này, cuộc khủng hoảng về thừa kế chỉ là một công việc hoàn toàn trong nội bộ công quốc, nhưng sau đó những tin đồn đến được tai Philip VI của nước Pháp rằng John de Montfort đã nhận được các tác nhân hỗ trợ từ nước Anh. Thế là Charles de Blois lại trở thành ứng cử viên chính thức của người Pháp. Dù ban đầu không dự định như vậy nhưng lúc này John de Montfort bị bắt buộc phải nhận sự hỗ trợ từ Edward III.

Thỏa thuận ngừng bắn đã được gia hạn cho đến tháng 6 năm 1342, vào khi đó Edward III đã có đủ khả năng ngăn chặn từ bất kỳ hành động tấn công nào từ Pháp. Không gì có thể cản trở nước Pháp khuất phục một chư hầu nổi loạn. Vào tháng 11, sau một cuộc bao vây ngắn, John de Montfort đã bị buộc phải đầu hàng tại Nantes bởi các công dân của thành phố. Đây chắc chắn phải là một cuộc xung đột đẫm máu. Ông đã được mời chào những điều kiện an toàn để giải quyết bằng thương lượng với Charles de Blois, nhưng khi khi sự kiện này xảy ra thì đơn giản ông chỉ bị ném vào tù.

Vào lúc này thì Joanna của Flanders-vợ của John de Montford lại đứng lên nắm quyền chỉ huy những người ủng hộ nhà Montfort. Cho rằng vùng đất của bà ở phía đông là không tiện cho việc phòng thủ, bà cho thành lập trụ sở tại Hennebont ở miền tây Brettany. Trong khi đó ở Paris người ta sợ rằng Edward III sẽ đổ bộ xuống Calais một khi hiệp ước ngưng bắn hết hạn. Do đó lực lượng chính của quân đội Pháp bị thu hồi và Charles de Blois bị bỏ lại để theo đuổi yêu cầu của ông bằng lực lượng riêng của mình. Charles đã sớm chứng tỏ mình hoàn toàn có khả năng về quân sự, Rennes và Vannes đã bị công phá và rất nhiều chỉ huy của nhà Montfort đã phải đào thoát.

Trong xứ Gascony chiến tranh đã trở thành hàng loạt các cuộc xung đột trong giới quý tộc Gascon. Bất chấp thỏa thuận ngừng bắn chính thức ở trong năm 1341, các trận chiến đã không bao giờ được chấm dứt. Sự vi phạm trắng trợn nhất là người Anh chiếm lại thành phố Bourg mùa xuân 1342, Pháp thành công trong việc tái chiếm lại nhiều vùng đất của Anh chỉ để rồi hầu hết trong số này đã rơi trở lại vào bàn tay của người Anh vào năm sau.

Trong cuối tháng 11, Edward III đã xuất hiện với đội quân của ông tại pháo đài Brest. Ông gần như cùng một lúc hành quân để tấn công vào Vannes. Cuộc bao vây kéo dài và một quân đội Pháp đã được tập hợp để giao chiến với quân của ông, nhưng ngày 19 tháng 1 năm 1343, trước khi có thể xảy ra bất kỳ trận chiến lớn nào, hai vị vua đã thoả thuận một cuộc ngưng bắn mới. Thỏa thuận ngừng bắn mới này kéo dài cho đến tháng 9 năm 1346. Vannes đã được ủy quyền cho Giáo hoàng. Về phần John de Montfort-ông này vẫn ngồi trong tù, con trai của ông mới chỉ là một trẻ sơ sinh và gần lúc đó vợ của ông đã phát điên, những vùng lãnh thổ dưới sự kiểm soát của nhà Montfort trong thực tế được quản lý từ London với một đơn vị đồn trú thường trực lớn đóng tại Brest.

Thỏa thuận ngừng bắn Malestroit năm 1343-1345

Lý do chính thức cho cuộc ngưng bắn dài như vậy là để cho phép có thời gian chuẩn bị cho một hội nghị hòa bình và đàm phán về một nền hòa bình lâu dài bởi vì cả hai vương quốc đều bị kiệt sức vì chiến tranh. Ở Anh gánh nặng thuế má đã trở nên quá tải và ngoài việc việc buôn bán lông cừu đã gặp rất nhiều khó khăn ( cho ngành dệt len ). Edward III đã phải dành nhiều năm tiếp theo trả chậm hết các khoản nợ to lớn của mình.

Tại Pháp, Philip VI đã có những khó khăn tài chính của chính mình. Pháp đã không có một hệ thống quản lý và cơ quan thuế vụ các cấp trong cả nước (như ta là Tổng cục thuế và Sở thuế hê hê như vậy là ta văn minh hơn nước Pháp vào thế kỷ 14 nhiều các bác ạ). Thay vào đó, Hoàng gia đã phải đàm phán với các hội đồng tỉnh khác nhau. Theo quy định của tập quán phong kiến ​​cổ điển, hầu hết trong số họ đã từ chối trả tiền thuế trong thời gian có thỏa thuận ngừng bắn. Thay vào đó Philip VI phải sử dụng đến việc in ấn thêm tiền kim loại và các biện pháp không phổ biến khác. Ngoài ra giới quý tộc Pháp đã không có ấn tượng tốt cuộc chiến đã nổ ra (nước Pháp cũng chẳng chiếm được nhiều đất đai mà còn thua trỏng vó ở trận Sluys). Trong mắt họ, Edward III đã cư xử như một vị vua thực sự gan góc trong chiến trường, trong khi Philip VI đã tỏ ra hèn nhát và luôn lẩn tránh cuộc chiến ( nhưng đây lại là cái may của người Pháp vì nếu có đánh trận thực sự thì gần như toàn bộ giới Đại quý tộc Pháp sẽ hoặc bị giết hoặc ngồi tù ở Anh). Nhiều quý tộc Pháp đã bị phá sản vì phải bỏ tiền ra trang bị các dụng cụ chiến tranh tốn kém ( chỉ khi nào thắng trận thì nhà vua mới có tiền để trả lại cho họ-tình huống của người Anh cũng tương tự). Trong một cuộc chiến tranh mang nặng mầu sắc phòng thủ sẽ không có cướp bóc, không có những trận chiến mà có thể sẽ mang lại những khoản tiền chuộc lớn.

Năm 1343 Oliver Ingham được gọi trở lại Anh và Nicholas Beche được bổ nhiệm làm quan Tổng trấn xữ Gascony thay ông kia. Ông này cố duy trì cuộc ngưng bắn lâu nhất có thể. Không có chiến dịch quân sự lớn nào, nhưng ông cũng không thành công trong việc khôi phục lại hòa bình và chấm dứt nội chiến. Các quý tộc Gascon luôn tin rằng chiến tranh là một đặc quyền cổ xưa ( các nhà quý tộc chỉ biết khua gươm, múa kiếm, trong hòa bình không ai thuê họ cả -> khả năng chết đói cao hê hê) và khi tình hình tài chính của nước Pháp bị suy thoái thì chiến tranh luôn kết hợp với cướp bóc. Các băng nhóm routiers đầu tiên ( lính đánh thuê tự do ) bắt đầu xuất hiện vào lúc này. Đây là những băng nhóm lớn gồm các chiến binh chỉ trên danh nghĩa dưới sự kiểm soát của người Anh. Thông thường, họ sẽ bất ngờ chiếm một thị trấn hoặc một lâu đài có tầm quan trọng chiến lược của địa phương. Từ căn cứ này, họ sẽ cướp bóc các khu vực xung quanh cho đến khi không có thứ gì có giá trị còn lại và sau đó họ lại chuyển sang vị trí khác mầu mỡ hơn. Lực lượng này không chỉ hoàn toàn tàn phá vùng đất nơi họ đã đi qua, mà còn làm cho dân chúng địa phương phải tập trung nguồn lực của họ vào phòng thủ ở cấp độ địa phương và do đó các khoản tài chính nộp lên chính quyền trung ương ở Paris ngày càng ít đi và càng làm cho tình hình tài chính của Pháp càng suy xụp.

Người Anh chiến thắng vào năm 1345-1351

Ngày 05 tháng 7 năm 1346, Edward III dong buồm từ Portsmouth với khoảng 750 tàu và 7,000-10,000 lính bắt đầu một cuộc tấn công lớn từ Englis Channel. Đi cùng với ông là Edward, Hoàng tử đen (Edward của Woodstock)-con trai của ông mới gần 16 tuổi, gần đây đã được phong làm Hoàng tử xứ Wales. Ngày 12 tháng 7, Edward đã đổ bộ xuống Hague trong Bán đảo Cotentin của vùng Normandy. Jean Froissart đã viết trong quấn biên niên sử của ông như sau:

Khi nhà vua Anh đến Saint-Vaast Hogue, nhà vua bước ra khỏi con tàu của mình, và đặt bước chân đầu tiên của ông ta lên mặt đất, ông đã bước hụt và ngã một cú rất nặng làm ông bị giập và chảy máu mũi. Các hiệp sĩ đã xốc ông lên và nói: “. Thưa Chúa công, Chúa đã lắc con tàu của ngài, dường như hôm nay không phải là một ngày tốt lành mà có vẻ như đây là một dấu hiệu xấu đối với chúng ta” Sau đó nhà vua nhanh chóng trả lời “Vậy sao? đây là một dấu hiệu tốt đối với ta, vì các vùng đất mà ta muốn có”. Những câu trả lời của ông làm cho tất cả người của ông đã cảm thấy vui trở lại. Sau đó trong ngày và đêm sau nhà vua cho dựng một ngôi lều trên cát và trong khi chờ đợi những con tàu chở ngựa và hành lý khác của họ. Nhà vua đã phong chức cho hai Thống Chế, một là lãnh chúa Godfrey của Harcourt và người kia là Bá tước của Warwick và Bá tước Arundel giữ chức nguyên soái . Và ông giao cho Bá tước Huntingdon nhiệm vụ bảo vệ hạm đội tàu của mình với một trăm kị sỹ và bốn trăm cung thủ: số binh sỹ còn lại được ông biên chế thành 3 chiến đoàn ( từ nguyên văn là three battles, vua Edward có từ 7-> 10 nghìn lính đem chia 3, nếu gọi là trung đoàn, tiểu đoàn là quá nhiều-tạm dịch chiến đoàn hoặc đạo binh) Một chiến đoàn hành quân bên phải ông, sát với bờ biển, một chiến đoàn khác ở bên trái và nhà vua thì đi cùng với chiến đoàn ở giữa và đêm đến tất cả lại cùng hạ trại ở một chỗ.

Quân Anh hành quân xuyên qua Normandy. Philip đã tập hợp một đội quân lớn để chống lại ông ta và Edward đã chọn để hành quân về vùng đất thấp phía bắc, tiến hành cướp bóc những vùng ông đã đi qua hơn là cố gắng để chiếm và giữ các vùng lãnh thổ. Trong thời gian này, ông đã có hai trận chiến thành công, đó là trận đột kích vào Caen và Trận Blanchetaque. Cuối cùng không thể lẩn tránh mãi đội quân của Philip, Edward đã bố trí lực lượng của mình cho trận chiến và Philip đã tấn công vào của quân đội ông tại Trận Crécy nổi tiếng. Lực lượng quân đội Pháp với số lượng lớn hơn rất nhiều lần đã thực hiện một loạt các cuộc tấn công từng phần vào bộ binh Anh và cung thủ trường cung xứ Wales, và tất cả các cuộc tấn công đã bị đánh tan tác với tổn thất nặng nề cho đến khi người Pháp buộc phải rút lui. Crécy là một thất bại tan nát đối với người Pháp.

Edward hành quân tiến về phía Bắc mà không bị cản trở và tiến hành bao vây Calais-thành phố ven biển trên English Channel, ông chiếm giữ nó trong năm 1347. Một chiến thắng của Anh trước người Scotland trong Trận Cross of Neville đã dẫn đến việc bắt giữ vua David II của Scotland và làm giảm rất nhiều mối đe dọa từ Scotland. (như vậy là người Anh đã chiến thắng trên cả hai mặt trận Scotland ở phía Bắc và Pháp ở phía Nam).

Năm 1348, bệnh dịch hạch Black Death đã bắt đầu quét qua châu Âu và ở cả Anh và Pháp đều phải chịu hậu quả rất lớn. Sự kiện này ngăn cản nước Anh tài trợ và phát động bất kỳ cuộc tấn công lớn nào vào nước Pháp. Tại Pháp, Philip VI qua đời năm vào 1350 và được thay thế bởi John II (“John the Good”)-con trai ông.

Sự sụp đổ của chính phủ Pháp năm 1351-1360

Các cuộc xung đột lẻ tẻ với giữa người Pháp với Anh vẫn tiếp tục, trong đó có sự kiện mang tính mã thượng đáng chú ý chẳng hạn như Trận chiến Ba mươi trong năm 1351, trong đó Chateau Josselin đã chọn ra 30 hiệp sĩ nổi tiếng nhất của Pháp để đánh bại 30 hiệp sĩ của người Anh ( người Pháp luôn thua người Anh ở lực lượng cung thủ bắn trường cung-những bình dân người xứ Wales, còn các Hiệp sỹ Pháp luôn đánh thắng và trên phân Hiệp sỹ Anh ). Để phù hợp với truyền thống mã thượng, người Pháp đã cho chuộc lại rất nhiều hiệp sỹ Anh vốn bị đánh bại, bao gồm cả những người như Robert Knolles và Hugh Calveley-những người sau này tiếp tục chiến đấu chống người Pháp một cách thành công hơn.

Sau khi bệnh dịch Cái chết đen đã qua đi và người Anh đã có thể phục hồi tình hình tài chính, Edward Hoàng tử đen-con trai của Edward III đã xâm lược nước Pháp vào năm 1356 tại xứ Gascony và giành một chiến thắng lớn trong Trận Poitiers, nơi mà các cung thủ Anh lặp lại cùng một chiến thuật đã được sử dụng tại Crécy và vị quý tộc xứ Gascon-Captal de Buch ( lúc này ở xứ Gascon các quý tộc rất hăng hái làm lính đánh thuê cho người Anh) đã chỉ huy một đợt phản công thành công bằng kị binh và bắt tù binh John II của Pháp quốc-nhà vua mới của nhà Valois cùng với rất nhiều quý tộc của Pháp. John đã buộc phải ký một thỏa thuận ngừng bắn với Edward và trong khi ông vắng mặt thì chính phủ Pháp đã bắt đầu sụp đổ. Tiền chuộc John được đề ra là hai triệu Ecu (đọc là Equy), nhưng John tin rằng ông ta phải có giá trị nhiều hơn thế và nhấn mạnh rằng tiền chuộc của ông phải được nâng lên thành bốn triệu đồng Equy (đúng là bác này được mệnh danh là the Good có khác).

Cuối năm đó (1356) Hiệp ước London lần thứ 2 đã được ký kết, trong đó khoản tiền chuộc bốn triệu Ecu được bảo đảm bằng việc các thành viên trong hoàng tộc của gia đình Valois đến London và ở lại làm con tin trong khi John trở về Pháp để huy động khoản tiền chuộc bản thân mình. Theo một phần của hiệp ước thì người Anh được sở hữu các vùng Normandy, Brittany, Anjou, Maine và tất cả những bờ biển từ Flanders cho Tây Ban Nha, do đó khôi phục lại nguyên trạng của Đế quốc Angevin (đất tổ tiên của nhà Plantagenet). Bởi là những con tin thuộc hoàng tộc-họ hoàn toàn được quyền tự do đi lại và khi vua John đã quay về nước Pháp, một số các con tin đã nhanh chóng tìm cách trốn thoát trở về Pháp. John the Good là người nghĩa hiệp và cực kỳ giữ chữ tín, đã sợ rằng từ danh dự của ông sẽ bị mất đi và quay trở lại Anh để chịu tù đầy, cuối cùng ông đã chết ở Anh như một tù nhân vào năm 1364 và đã được đưa tang trong một đám tang long trọng và được tôn vinh như là một người đàn ông tuyệt vời bởi nhà Plantagenet (bỏ qua sự ngốc nghếch và tí gàn dở, cám hấp thì ông đúng là một người đàn ông tuyệt vời).

Năm 1358, một cuộc khởi nghĩa nông dân ở Pháp được gọi là Jacquerie ( hội người đi giày cỏ ) đã nổ ra. Nó có nguyên nhân một phần bởi những thiệt hại của người dân ở nông thôn do chiến tranh và thù hận của họ với giới quý tộc địa phương. Được lãnh đạo bởi Guillaume Kale (Carle hoặc Cale), họ được gia nhập lực lượng bởi nông dân ở các làng khác và bắt đầu trong vùng Beauvais ở phía Bắc Paris, họ đã có những hành động tàn bạo chống lại các quý tộc và phá hủy nhiều lâu đài trong vùng. Toàn bộ các nhóm nổi dậy đã bị đánh bại vào mùa hè sau đó tại trận chiến Mello và sự trả thù là cực kỳ khủng khiếp.


Bản đồ nước Pháp sau Hòa ướcBrétigny, lãnh của Pháp màu xanh, lãnh thổ của Anh mầu đỏ, lãng thổ Anh kiểm soát 90% mầu hồng, lãnh thổ Anh kiểm soát 70 % có mầu trắng

Edward III đã tiến hành xâm lược nước Pháp với hy vọng lợi dụng sự bất mãn của người dân Pháp để chiếm ngôi vua, nhưng mặc dù quân đội Pháp đã không chống nổi ông ta ở những vùng này, ông cũng đã không thể chiếm nổi Paris hoặc Rheims từ Charles V Dauphin ( nhà Valoi có gia huy là một chú cá heo nên có biệt hiệu là Dauphin ) và ông này đã phải chấp nhận thương thảo Hiệp ước Brétigny. Theo Hiệp ước này thì Edward chấp nhận từ bỏ đòi hỏi ngôi vua nước Pháp nhưng lại mở rộng được lãnh thổ của ông ta ở Aquitani và khẳng định chủ quyền của Anh ở Calair.

Hiệp ước Brétigny

Hiệp ước Brétigny là một Hiệp ước quốc tế được ký ngày 08 tháng 5 năm 1360, giữa Vua Edward III của Anh quốc và Vua John II (the good) của nước Pháp. Nó đã được làm chi tiết bởi Hiệp ước Calais ký ngày 24 tháng 10 cùng năm. Hiệp ước này đã được ký kết tại Brétigny-một ngôi làng ở gần Chartres và đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn đầu tiên của chiến tranh Trăm năm (1337–1453), cũng như đỉnh cao của quyền bá chủ của người Anh ở trên Lục địa. Hiệp ước đã được ký kết vài năm sau khi vau John bị bắt làm tù binh chiến tranh tại Trận Poitiers ( ngày 19 tháng 9 năm 1356). Các cuộc xung đột tiếp theo ở Paris giữa Étienne Marcel và nhà Dauphin (một nhánh của nhà Valoi-sau này Vua Charles V) và sự bùng phát của cuộc khởi nghĩa nông dân Jacquerie làm suy yếu sức mạnh thương lượng của Pháp. Hiệp ước đã không dẫn đến hòa bình lâu dài, nhưng nó đã tạo ra khoảng thời gian chín năm nghỉ ngơi trong chiến tranh năm trăm. Trong những năm sau đó, lực lượng Pháp lại tham gia vào những trận chiến chống lại liên minh Anglo -Navarrais (Nguyên soái Pháp – Bertrand du Guesclin đã chiến thắng tại Cocherel vào ngày 16 tháng 5 năm 1364) và Bretons.

Các đòi hỏi lớn của người Anh, những người muốn mang lại càng nhiều càng tốt những lợi thế trong tuyên bố chủ quyền của họ trong Hiệp ước London năm trước, đã tạo khó khăn trong các cuộc đàm phán và các cuộc thảo luận cho các điều khoản của hiệp ước đã được bắt đầu sớm trong tháng 4 và kéo dài hơn một tháng. Theo điều khoản của hiệp ước này Edward III đã thu được Guyenne và Gascony, Poitou, Saintonge, Aunis, Agenais, Périgord, Limousin, Quercy, Bigorre, lãnh thổ công tước của Gauré, Angoumois, Rouergue, Montreuil-sur-Mer, Ponthieu, Calais, Sangatte, Han và Guînes. Nhà vua Anh được nắm giữ những vùng đất này một cách rõ ràng, không phải trả tiền và cũng không phải làm nghĩa vụ chư hầu vì chúng. Ngoài ra hiệp ước này còn quy định rằng danh hiệu vua của tất cả các hòn đảo mà nhà vua Anh sau đó nắm giữ sẽ không còn thuộc Quyền bá chủ của nhà vua nước Pháp nữa.

Về phía mình, nhà vua nước Anh phải từ bỏ công quốc Touraine, các lãnh địa công quốc Anjou và Maine và quyền bá chủ đối với xứ Brittany và Flanders. Ông cũng phải từ bỏ tất cả các tuyên bố lên ngôi vua Pháp. Các điều khoản của Hiệp ước Brétigny có ý nghĩa để gở rốI những trách nhiệm phong kiến mà chúng đã gây ra rất nhiều cuộc xung đột và sâu xa hơn thì người Anh quan tâm đến lãnh thổ Anh ở Pháp sẽ tập trung vào một phiên bản mở rộng của vùng Aquitaine.

John II đã phải trả ba triệu đồng Ecu vàng để trả tiền chuộc của mình và sẽ được thả tự do sau khi ông đã trả một triệu. Đây cũng là lần đầu tiên đồng frăng được đúc ra và nó tương đương với một phần năm đồng Livre. Như là một sự đảm bảo cho việc thanh toán tiền chuộc bản thân mình, John đã hai con trai của ông, một số hoàng tử và quý tộc, bốn cư dân của Paris, và hai công dân từ một trong 19 thị trấn chính của nước Pháp. Hiệp ước này được phê chuẩn và hai vị vua cùng con trai của họ đã tuyên thệ vào ngày 24 tháng 10 năm 1360 tại Calais. Đồng thời các điều kiện đặc biệt liên quan đến mỗi chương quan trọng của hiệp ước và các điều khoản từ bỏ trong đó các vị vua từ bỏ quyền của họ trên các lãnh thổ mà họ đã trao đổi cho nhau đã được ký kết. Cuối cùng thì Edward III đã quay lại Anh và nghỉ ngơi. ( Ông này không bao giờ còn tham chiến với người Pháp nữa ).

Khi Louis I-Công tước xứ Anjou-con trai yêu của John II (Một trong những con tin) đã trốn thoát khỏi Anh năm 1362, John II đã tự đến một mình để làm tù nhân (sự việc này đã đề cập ở trang trước). Ông qua đời năm 1364 trong khi bị giam cầm và Charles V đã kế nhiệm ông làm vua của nước Pháp. Năm 1369 với lý do rằng Edward III đã không tuân thủ các điều khoản của hiệp ước Brétigny, vua Pháp lại tuyên chiến một lần nữa.

Vào thời gian vua Edward III của Anh quốc qua đời trong năm 1377, quân đội Anh đã bị đẩy lui trở lại vào sâu lãnh thổ của họ ở phía tây nam của Bordeaux.

Chiến tranh kế vị xứ Castile

Cuộc nội chiến xứ Castile đầu tiên kéo dài ba năm kể từ năm 1366 đến 1369. Nó trở thành một phần của cuộc xung đột lớn hơn dữ dội hơn sau đó giữa Vương quốc Anh và Vương quốc của Pháp trong chiến tranh trăm năm. Các trận chiến chủ yếu diễn ra ở Vương quốc Castile và các vùng biển ven đất liền giữa lực lượng địa phương và lực lượng liên quân của Peter-nhà vua trị đang vì với lực lượng của Henry của Trastámara-anh trai ngoài giá thú của ông ta về quyền vương của Castile.


Tranh vẽ trận chiến Najera Froissart trong nội chiến xứ Castile, phe của Perter ở bân trái và được người Anh hỗ trợ, phe của Henry ở bên phải và được người Pháp hỗ trợ

Nguyên nhân

Peter đã được gọi là người ủng hộ ông là “ Quan tòa” và bởi kẻ dèm pha ông là “ Gã thô thiển”. Đối với giới quý tộc có địa vị xã hội cao cấp thì ông là một bạo chúa. Ông đã mở rộng quyền lực của hoàng tộc và đã tham gia vào một cuộc chiến tranh với xứ Aragon (Còn gọi là “Cuộc chiến của hai Peters” vì vua của xứ Aragon cũng tên là Peter).

Henry-người anh em ngoài giá thú của ông nhanh chóng thu được sự hỗ trợ của giới quý tộc không chỉ ở địa phương mà còn ở Pháp, Aragon và Giáo hoàng. Năm 1366, ông chính thức lật đổ người anh trai vốn là vua của Castile, León, Toledo và Seville rồi tự xưng làm vua tại tu viện Las Huelgas.

Xung đột

Peter đã trốn sang Bayonne, Một thành phố ở xứ Gascony nằm trong quyền quản lý của Anh. Ở đó, ông đã yêu cầu Edward, Hoàng tử đen, chi viện để đổi lấy đất ở Castile và đã được ông kia chấp nhận. Với đội quân do vị hoàng tử Anh chỉ huy, ông trở quay trở lại Castile và tái khẳng định quyền lực của mình trong năm 1367 và buộc Henry phải quay trở về Pháp sau khi Peter chiến thắng trong Trận Najera (Navarette). Nhưng Henry đã từ chối, tuy nhiên tài ngoại giao rất xuất sắc của ông đã làm cho người Anh và đồng minh của họ-bao gồm cả bản thân Hoàng tử xứ Wales đã rút quân. Trong năm 1368, Henry và Charles của Pháp đã ký Hiệp ước Toledo theo đó Castile chi viện cho Pháp một hạm đội tại Vịnh Biscay để đổi lấy viện trợ quân sự của Pháp trên bộ.

Henry đã trở lại xứ Castile vào năm 1369 và đã giết chết Peter tại Trận Campo de Montiel. Ông được tôn xưng làm Henry II và ngay lập tức củng cố cai trị của mình bằng cách loại bỏ những người Người Do Thái ra khỏi những chức vụ cao cấp trong triều đình. Tại thời điểm này Castile trở thành một đồng minh một đồng minh trung kiên của người Pháp trong cuộc chiến tranh đang tiếp diễn của họ.

Cuộc chiến của nhà Karoline năm 1369 -> 1389

Cuộc chiến của nhà Caroline là giai đoạn thứ hai của chiến tranh Trăm năm giữa Pháp và Anh sau cuộc chiến của nhà Edward. Cuộc chiến này được đặt theo tên Charles V của nước Pháp ( Charles còn được viết là Karles sau đó biến đổi thành Karoline), người đã nối lại cuộc chiến trăm năm sau khi Hiệp ước Brétigny ký năm 1360 đã kết thúc. Trong tháng 5 năm 1369, Hoàng tử Đen-con trai của Edward III của Anh quốc đã từ chối một giấy triệu tập không hợp lệ từ nhà vua Pháp ( thực ra là để tạo cớ) yêu cầu ông đến Paris và Charles phản ứng bằng cách tuyên bố chiến tranh. Ông ngay lập tức đảo ngược được những thiệt hại về mặt lãnh thổ tại vùng Brétigny và ông đã thành công trong phần lớn cuộc đời của mình. Charles VI-người kế nhiệm ông vốn là một người ít có năng lực, đã ký kết hòa bình với Richard II-cũng lại là người con trai ít có năng lực của Hoàng tử đen trong năm 1389. Thỏa thuận ngừng bắn này đã được kéo dài nhiều lần cho đến khi chiến tranh được nối lại trong năm 1415.

Triều đại của Charles V đã thấy cảnh người Anh bị đẩy lùi trở lại. Mặc dù John de Montfort người yêu cầu quyền thừa kế Lãnh địa công tước Brittany vốn được người Anh hậu thuẫn đã đánh bại và giết chết Charles của Blois-người mà nước Pháp hậu thuẫn trong Trận Auray trong năm 1364, nhưng cuối cùng John và người thừa kế của ông đã vẫn phải hòa giải với vua Pháp. Chiến tranh Kế vị Breton đã kết thúc trong thắng lợi của người Anh, nhưng đã không mang đến cho họ những lợi thế lớn. Trong thực tế, người Pháp nhận được lợi thế từ việc cải thiện chiến thuật chiến tranh từ người chỉ huy đến từ xứ Breton-Bertrand du Guesclin-Nguyên soái của nước Pháp, người đã bỏ đi khỏi xứ Breton và phục vụ cho nhà vua Charles và trở thành một trong những vị tướng thành công nhất của ông.

Vào khoảng thời gian đó, một cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha đã làm phân tán những nguồn lực của Hoàng tử đen từ năm 1366. Cuộc nội chiến Castile vốn là cuộc đọ sức giữa Pedro the Cruel, người có con gái là Constance và Isabella đã kết hôn với John của Gaunt và Edmund của Langley vốn là anh em của Hoàng tử đen, để chống lại Henry của Trastámara. Trong năm 1369 với sự hỗ trợ của Du Guesclin, Henry đã lật đổ Pedro để trở thành Henry II của Castile. Sau đó ông này đã tuyên chiến với nước Anh vốn liên minh với người Bồ Đào Nha.

Chiến tranh hai mươi năm

Ngay đầu năm 1370 John Chandos-quan trấn thủ người Anh ở Poitou đã bị giết chết tại một chiếc cầu ở Château Lussac. Cái chết của vị chỉ huy này là một đòn đáng kể giáng vào người Anh. Jean de Grailly III, Đại úy de Buch …cũng bị bắt và bị tống giam bởi Charles-người không cảm thấy bị ràng buộc bởi những quy định về tinh thần mã thượng “lỗi thời”. Du Guesclin tiếp tục tiến hành một loạt các chiến dịch được lên kế hoạch cẩn thận, tránh những nơi có lực lượng Anh mạnh mẽ đang chiếm đóng và ông chiếm lại hết thành phố này đến thành phố khác, bao gồm cả Poitiers trong năm 1372 và Bergerac trong năm 1377. Du Guesclin-người mà theo sử gia Jean Froissart cho biết, đã khuyên nhà vua Pháp không nên tấn công trực diện vào người Anh trong vùng này và ông đã thành công với chiến thuật Fabian ( tránh tấn công đối diện, tăng cường tấn công quấy rối, nhỏ và lẻ tẻ ) Mặc dù trong hai trận đánh lớn duy nhất mà ông đã tham gia chiến đấu, trận Auray (1364) và trận Najera (1367), ông đều bị đánh bại và bị bắt tù binh bởi Hoàng tử Đen ( sau đó nhà vua Pháp lại bỏ tiền chuộc ông về ). Phản ứng của người Anh đối với chiến thuật của Du Guesclin là họ khởi động một loạt các cuộc tấn công phá hoại của các đội quân chinh phạt được gọi là Chevauchées, nhằm một nỗ lực tạo nên một cuộc chiến tranh Tổng lực để xóa sổ vùng nông thôn và đất canh tác của Pháp ( trong nội chiến Hoa kỳ phe miền Bắc mặc dù mạnh hơn nhưng cũng phải chơi bửn như vậy mới thắng được phe miền Nam ). Nhưng Du Guesclin luôn từ chối để bị lôi kéo vào những trận chiến mở. Ông tiếp tục gặt hái được những thành công và tiếp tục chỉ huy quân đội Pháp cho đến khi qua đời vào năm 1380.

Trong năm 1372 sự thống trị trên biển của người Anh vốn đã được duy trì từ sau Trận Sluys, đã bị đảo chiều ít nhất là ở trong Vịnh Biscay, sau khi hạm đội Anh đã bị thất bại thảm hại trước một hạm đội liên quân Pháp-Castile tại Trận La Rochelle. Thất bại này làm suy yếu tuyến đường thương mại và nguồn cung cấp trên biển của người Anh cũng như đe dọa vào lãnh địa của họ ở xứ Gascon.

Trong năm 1376, Hoàng tử đen đã chết trẻ ( ở tuổi 36 ) và trong tháng 4 năm 1377, vua Edward III của Anh gửi Adam Houghton-Quan chưởng ấ́n đến để đàm phán hòa bình với Charles V của Pháp, nhưng rồi vào tháng 6 bản thân Edward cũng đã chết, Houghton đã bị gọi về Anh. Richard của Bordeaux-người vốn không được kính trọng đã được kế thừa và lên ngôi vua của Anh quốc. Không phải cho đến khi Richard bị lật đổ bởi người anh em họ của ông-Henry Bolingbroke vốn gốc Nhà Lancaster, thì người Anh mới nối lại yêu cầu của họ về ngôi vua nước Pháp ( và sự kiện Nhà Lancaster cướp ngôi vua chính là nguyên nhân của cuộc nội chiến kéo dài đến hơn 30 năm ở Anh quốc vào thế kỷ 15) dù gì thì cuộc chiến vẫn được tiếp tục cho đến khi điều ước hòa binh đầu tiên của một loạt các điều ước đã được ký kết vào năm 1389.

Charles V cũng chết trong tháng 9 năm 1380 và được kế vị bởi Charles VI-người con trai vị thành niên của ông, và vị vua trẻ đã bị điều hành bởi các quan nhiếp chính vốn là ba người chú của ông. Khi nằm trên giường bệnh Charles V đã cho bãi bỏ sắc thuế mà triều đình cần để tài trợ cho những nỗ lực chiến tranh. Khi các quan nhiếp chính đã cố gắng để áp đặt lại sắc thuế này thì một cuộc nổi dậy của dân chúng được gọi là Harelle đã nổ ra ở Rouen. Khi sắc thuế này đến được các thành phố khác của Pháp thì cuộc nổi dậy lây lan rộng khắp và bạo lực đã nổ ra ở Paris và hầu hết các thành phố khác của Pháp ở phía Bắc. Các quan nhiếp chính đã buộc phải bãi bỏ sắc thuế này để chấn an dân chúng. ( thế là chả còn tiền để uýnh nhau nữa ).

Thời kỳ hòa bình thứ 2 năm 1398 ->1415

Nội chiến giữa phe phái Armagnac–Burgundy

Cuộc nội chiến Armagnac-Burgundy là một cuộc nội chiến xảy ra ở nước Pháp giữa phe Armagnac và phe Burgundian từ năm 1407->1435 AD. Nó xảy ra trong khi nước Pháp đang bị tàn phá bởi “ Chiến tranh Trăm năm” với người Anh và cuộc chiến tranh xung quanh sự ly khai ở vùng phía Tây khỏi Đức giáo hoàng ( một phần của chiến tranh tôn giáo).

Nguyên nhân của nội chiến

Nguyên nhân của cuộc chiến tranh bắt nguồn từ thời trị vì của Charles VI của Pháp và cuộc đối đầu giữa hai hệ thống nền kinh tế, xã hội và tôn giáo khác nhau. Một mặt là nước Pháp-rất mạnh mẽ trong nông nghiệp, với một hệ thống phong kiến và tôn giáo mạnh mẽ và phía kia là Anh-một đất nước có khí hậu mưa nhiều với những đồng cỏ và chăn nuôi cừu và nơi mà các nghệ nhân, các tầng lớp trung lưu, thành phố đã ngày càng có vị trí quan trọng. Nhà Burgundy được hưởng lợi từ mô hình của người Anh ( một số vùng của xứ Flanders thuộc quyền kiểm soát của công quốc Burgundy, có buôn bán và sản xuất vải len là những thị trường chính cho len của Anh)trong khi nhà Armagnac lại bảo vệ mô hình của Pháp. Trong cùng một cách, sự ly khai của giáo phái phương Tây ( the Western Schism) đã hậu thuẫn cho phong trào chống lại Giáo hoàng Clement VII-vốn có trụ sở ở Armagnac tại Avignon, bị phản đối bởi người Anh vốn ủng hộ Giáo hoàng Urban VI ở Rome.

Từ 1393 năm Charles VI của Pháp bị điên, Nữ hoàng Isabeau của Bavaria chủ trì một Hội đồng nhiếp chính-bao gồm những quý tộc quan trọng của vương quốc. Philip Bold, Công tước xứ Burgundy-bác của Charles VI-là người đóng vai trò nhiếp chính trong thời gian vua còn nhỏ tuổi (1380-1388) là một người có ảnh hưởng lớn đến hoàng hậu (ông đã tổ chức các cuộc hôn nhân hoàng gia trong thời gian làm nhiếp chính). Ảnh hưởng này dần dần chuyển sang Louis I de Valois, Công tước của Orléans-anh trai của nhà vua và người ta nghi ngờ rằng ông này là tình nhân của nữ hoàng. Sau cái chết của Philip Bold, John the Fearless-con trai của ông này làm công tước xứ Burgundy (ông là người ít liên quan đến Isabeau) một lần nữa bị mất ảnh hưởng tại Triều đình. Những người chú bác khác của Charles VI có ít nhiều ảnh hưởng trong thời gian nhiếp chính này là Louis II của Napoli và John, Công tước của Berry – những người từng đứng ra hòa giải giữa phe Orléans (sau này trở thành Armagnac) và phe Burgundy. Sự tranh dành ảnh hưởng cứ tăng dần dần và cuối cùng kết quả là tạo ra một cuộc nội chiến thực sự.

Để phản đối việc mở rộng lãnh thổ của Công tước của Burgundy (bao gồm lãnh địa ở Flanders), công tước xứ Orléans mua đã bỏ tiền ra mua vùng Luxembourg trong năm 1402.

Trong khi Louis của Orléans nhận được 90% thu nhập của ông ta từ kho bạc của hoàng gia, để đi mua đất đai và các pháo đài ở vùng đệm miền đông của vương quốc mà người Burgundy luôn coi đó là vùng đất săn bắn của họ, John the Fearless (người không có uy tín cao như cha của ông) thấy rằng ngân khố của hoàng gia quá keo kiệt với mình (Philip nhận được 200.000 đồng Livre / năm, nhưng bản thân John phải thỏa mãn với 37.000 đồng Livre / năm).

Công tước của Orléans là con rể của John Galéas Visconti và dù nhiều hay ít ông vẫn giữ danh hiệu sở hữu thái ấp phong kiến vùng bán đảo này-Orléans, muốn Charles VI can thiệp quân sự để ủng hộ của mình. Hơn nữa, có vẻ như ông còn muốn cho vua Pháp phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn với Anh, thậm chí cho đến lúc đó còn cố gây chiến với Henry IV của Anh, điều mà John the Fearless không cho phép bởi vì ngành công nghiệp ở xứ Flemish phụ thuộc hoàn toàn vào len nhập khẩu từ Anh và (nền công nghiệp này) sẽ bị hủy hoại bởi một lệnh cấm vận đối với hàng hoá từ Anh.

Louis của Orléans-người em của nhà vua là “người cứ hí lên như một con ngựa đực khi ở bên cạnh gần như tất cả các phụ nữ xinh đẹp”, ông này bị cáo buộc muốn dụ dỗ hoặc tệ hơn là “dê cụ” với Margaret của Bayern-nữ công tước của Burgundy. Hơn nữa và thậm chí có tin đồn rằng ông này cũng “dê cụ” với cả nữ hoàng và–như phe Burgundy tuyên truyền-là người cha thực sự của hoàng tử Charles, người thừa kế ngai vang (vua Charles VII tương lai). chắc chắn Louis đã được gần gũi nữ hoàng và được hưởng lợi từ lòng nhân từ của nhà vua-người em trai, nên ông đã thành công trong việc lật đổ Công tước xứ Burgundy trong hội đồng nhiếp chính.

Bị lật đổ khỏi quyền lực và bị giễu cợt bởi Louis là quá nặng nề với John the Fearless. Lợi dụng sự giận dữ ngày càng tăng lên trong số những người phải nộp thuế-luôn luôn phải chịu áp lực trong thời bình và ông này lưu ý rằng các khoản thuế của họ để tài trợ cho những khoản chi lễ hội phục vụ cho Triều đình ( cho giới quý tộc ăn chơi trác táng chứ không phải quốc kế dân sinh hoặc gìn giữ quốc gia), John bắt đầu chiến dịch để hỗ trợ, tài trợ cho chính sách mị dân của mình (ví dụ: hứa hẹn cắt giảm thuế và cải cách nhà nước-một chế độ quân chủ có giới hạn). Do đó ông đã thu được ủng hộ từ giới thương gia, người dân nghèo và các trường đại học.

John đã đe dọa Paris trong năm 1405 bằng một cuộc biểu dương lực lượng của mình, nhưng ngay cả điều này cũng không đủ để chứng minh và khôi phục lại ảnh hưởng của ông. Do đó ông quyết định loại bỏ đối thủ của mình-người làm ông tức giận, Louis của Orléans bị sát hại ở trên phố Vieille du Temple ở Paris ngày 23 tháng 11, năm 1407, trong khi ông ta đến chỗ ở của nữ hoàng tại Hôtel Barbette sau khi bà ta sinh con. Sau đó Thomas de Courteheuse tin nhắn từ nhà vua tới Louis rằng Charles VI của Pháp rất muốn ông ta đến khách sạn Saint-Paul. Khi rời khỏi Hôtel Barbette, Louis đã bị đâm chết bởi mười lăm tay sát thủ đeo mặt nạ do Raoulet d’Anquetonville-một thuộc cấp của công tước Burgundy thuê mướn. Lực lượng hộ tống và các đầy tớ của Louis đã vô dụng trong việc bảo vệ ông. John có sự hỗ trợ của đông đảo người dân Paris và sinh viên của các trường đại học, những người mà ông đã giành được sự ủng hộ của họ bằng cách hứa hẹn việc ra một sắc lệnh tương tự như của năm 1357. Đến lúc lấy lại được quyền lực, ông cũng công khai thừa nhận vụ ám sát-chứ không phải che dấu nó, ông đã công bố nó trong một bài hát ca ngợi việc hành thích một bạo chúa được sáng tác bởi Jean Petit-nhà thần học của đại học Sorbonne. Do đó cuối cùng vụ ám sát đã châm ngòi một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm.

Diễn biến của cuộc nội chiến phe phái

Với ý định trả thù cho cha mình, Charles của Orléans ủng hộ kẻ thù của các công tước nhà Burgundy bất cứ nơi nào ông ta có thể nhưng ngay cả như vậy, trong 1409, một hiệp ước hòa bình được ký kết tại Chartres dường như để chấm dứt xung đột. Tuy nhiên, vào ngày 15 tháng 4 năm 1410, tại đám cưới của Charles (Con trai của Louis d’Orléans) và Bonne d’Armagnac tại Gien, Công tước của Orléans và cha vợ mới của ông và các Đại quý tộc của Pháp thành lập một liên minh chống lại John của Burgundy và người ủng hộ ông ta. Cuộc hôn nhân làm cho phe Orleans có một thủ lĩnh mới để thay thế Louis (Bernard VII, Bá tước của Armagnac-cha vợ mới của Charles , người bảo trợ mới cho Công tước và cũng trở thành người bảo trợ của mẹ ông ta-Valentina Visconti) và tạo ra một cái tên mới cho phe này (phe Armagnac). Các thành viên khác của phe này bao gồm các công tước của Bourbon, Berry và Brittany, cũng như các côngtước của Alençon và Clermont.

Bernard VII-cha vợ của Charles d’Orléans tuyển dụng những binh lính ở Midi- những Écorcheur (quân lột da), vốn chiến đấu với sự tàn bạo chưa từng có. Với lực lượng này làm quân xung kích họ, ông đã tàn phá các vùng lân cận của Paris và tiến vào khu ngoại ô Saint-Marcel. Một hiệp ước mới được ký kết tại Bicêtre ngày 02 tháng 11 năm 1410 đã đình chỉ được chiến sự, nhưng cả hai bên đã lại huy động quân đội một lần nữa vào đầu mùa xuân năm 1411. Tháng 10 năm 1411, với quân đội hùng mạnh lên đến 60.000 người công tước xứ Burgundy tiến vào Paris và tấn công quân của công tước Bretons vốn liên minh với nhà Armagnacs, người đã bị chặn tại La Chapelle. Cuối cùng ông ta (công tước xứ Burgundy) đã phải rút, nhưng trong đêm ngày 09 tháng 11, ông rời qua Porte Saint-Jacques và cho quân của mình tuần hành trên khắp Saint-Cloud và quyết tâm đánh bại đội quân Écorcheur của nhà Armagnacs. Sau đó, John the Fearless truy đuổi hoàng thân Orléans và các đồng minh của họ đến tận Bourges, rồi công tước Orléans đã bị bao vây, nhưng sau đó quân đội hoàng gia xuất hiện trước mặt thành phố vào ngày 11 tháng 6 năm 1412. Một hòa bình đã được ký kết tại Bourges trong ngày 15 tháng 7 năm 1412 và được xác nhận tại Auxerre ngày 22 tháng 8.

Người Anh đã lợi dụng tình hình bằng cách hứa hẹn hỗ trợ cho cả hai phe hoặc mua sự trung lập của họ. Phe Armagnac đã ký kết một hiệp ước với Henry V của Anh quốc trong năm 1412, để ngăn chặn một liên minh Anh-Burgundy, vì vậy họ đã nộp Guyenne với ông ta (Henry V của Anh quốc) và đã công nhận chủ quyền của ông ta ở Poitou, Angoulême và Périgord. Tất cả cùng, John the Fearless cũng thương thuyết với người Anh, kể từ khi một lệnh cấm vận xuất khẩu len của Anh có thể hủy hoại nền thương mại vải len của Flanders.

Năm 1413, John the Fearless hỗ trợ cho cuộc nổi loạn Cabochien và do đó đã nổ ra một cuộc tàn sát tại Paris. Dân Paris quá sợ hãi đã kêu gọi phe Armagnacs chi viện. Quân đội của họ chiếm lại thành phố vào năm 1414. Khi Henry V của Anh quốc nối lại chiến sự trong năm 1415, công tước xứ Burgundy vẫn giữ thái độ trung lập đối với ông ta (Henry V), để Henry có thể đánh bại toàn diện quân đội Pháp (chủ yếu cónòng cốt từ nhà Armagnacs) tại trận Agincourt vào tháng 10 năm 1415.

John the Fearless-công tước xứ Burgundy, ông cũng bị ám sát để trả thù cho cái chết của Công tước d’Orléans, việc ông bị ám sát đã đẩy hẳn xứ Burgundy về phía người Anh và làm cho người Pháp càng đuối thế.

Ngày 29 tháng 5, năm 1418, nhờ sự phản bộị của Perrinet Leclerc và sự hỗ trợ của các thợ thủ công và trường đại học, Paris đã được bàn giao cho Jean de Villiers de L’Isle-Adam, đại úy của một đội quân ủng hộ công tước xứ Burgundy. Sau đó vào ngày 12 tháng 6 Bernard VII và những người nhà Armagnacs khác đã bị tàn sát bởi một đám đông. Do đó John đã trở thành chủ nhân của Paris lại một lần nữa và ông tham gia vào các cuộc đàm phán với người Anh, dường như ông có vẻ sẵn sàng chào đón tuyên bố của nhà vua nước Anh về ngai vàng Pháp. Tình huống trở nên bắt buộc đối với nhà Dauphin (Hoàng tộc Pháp) để thương lượng tìm kiếm một sự xích lại gần với người Burgundy một lần nữa để tránh một liên minh Anh-Burgundy. Về phần mình, John the Fearless đã trở thành chủ nhân của một phần lớn vương quốc sau khi ông ta chiếm được Paris, nhưng tình hình tài chính của ông đã cạn kiệt. John đã phải buộc tiến hành một cuộc họp với Charles VII của Pháp-nhà Dauphin để ký kết một nền hòa bình có lợi, do đó một vài cuộc hội họp đã được tổ chức.

John the Fearless-Công tước xứ Burgundy đã bị ám sát trên cầu Montereau trong ngày 10 tháng 9 năm 1419 trong một cuộc họp với nhà Dauphin của Pháp (vua Charles VII tương lai của Pháp), Thủ phạm là tay chân của phe Armagnac-những người sợ rằng Charles có thể ngả theo quan điểm chính trị của phe Burgundy. Sự kiện này ngăn chặn tất cả các hành động hòa giải và do đó cho quân đội Anh tiếp tục thành công trên chiến trướng.


Phần lãnh thổ ở Pháp mà người Anh và của họ đồng minh là người Burgundy trong năm 1435

Hiệp ước Troyes và Hậu quả của nó

Sau đó Philip the Good-Công tước mới của Burgundy, đã gia nhập vào một liên minh với người Anh (đây là điều mà người cha của ông đã luôn luôn tránh) kết quả tạo ra hiệp ước Troyes. Hiệp ước này đã công bố rằng Charles VII là một người con hoang của Louis d’Orléans chứ không phải là người thừa kế của Charles VI, do đó làm cho Charles VI không có người thừa kế nam hợp pháp và Catherine của Valois-con gái của Charles VI đã kết hôn với Henry V-vua của nước Anh vì thế ông này muốn đòi vương miện của Pháp và Charles VI đã được trả lại quyền lực trong năm 1392, ngay trước khi ông này bị điên. Hiệp ước yêu cầu Henry trở thành nhiếp chính thay mặt Charles VI cho những vùng đất ở phía đông nam nước Pháp cho đến khi Charles qua đời. Người cháu hợp pháp trong tương lai của ông ( Charles VI) sẽ có quyền sở hữu của cả Pháp và Anh. Như đã biết trước, hiệp ước này đã bị lên án bởi nhà Armagnacs-những người lý luận rằng “vương miện thuộc về nhà vua chứ không phải ngược lại”. Tuy nhiên Henry V đã chết bất đắc kỳ tử ở đầu tháng 8 năm 1422 và sự can thiệp của Joan d’Arc là cần thiết để Charles VII được hợp pháp bởi một hành động thiêng liêng và đăng quang tại Reims vào ngày 17 tháng 7 năm 1429, sớm hơn một năm trước sự đăng quang của người kế nhiệm của Henry V (Henry VI của Anh mới chín tuổi) vào ngày 16 tháng 12 năm 1430 tại Notre Dame de Paris.

Kết thúc cuộc nội chiến giữa các phe phái

Để tái chiếm lại các lãnh thổ của Pháp vốn bị người Anh chiếm đóng, Charles VII muốn cô lập và chia rẽ người Anh với người Burgundy. Năm 1435, ông đã ký kết hiệp ước Arras với Philip the Good và công nhận nền độc lập của Burgundy. Thỏa thuận này chính thức chấm dứt chiến tranh và cho phép Charles VII trên thực tế chiếm lại tất cả các lãnh địa của người Anh ở trên lục địa châu Âu và chỉ để lại cho họ mỗi hạt Calais vào.năm 1453.

Chiến tranh trăm năm, cuộc chiến của nhà Lancaster năm 1415->1429

Cuộc chiến của nhà Lancaster là giai đoạn thứ ba của chiến tranh trăm năm giữa Anh và Pháp. Nó kéo dài từ năm 1415, khi Henry V của Anh xâm lược Normandy, đến năm 1429 khi thành công của người Anh đã bị đảo chiều bởi sự xuất hiện của Joan of Arc. Cuộc chiến này bắt đầu sau một thời gian dài hòa bình từ 1389 ở cuối cuộc chiến của nhà Caroline. Nó được gọi là cuộc chiến của nhà Lancaster bởi vì nó được khởi đầu theo kế hoạch của Henry IV-người đầu tiên của Nhà Lancaster ngồi lên trên ngai vàng của nước Anh. Mặc dù kế hoạch của ông không bao giờ trở thành hiện thực trong triều đại của ông, nhưng người con trai thiện chiến của ông ( Henry V ) đã hồi sinh cho nó và đã đạt đến đỉnh cao quyền lực cho Nhà Lancaster tại Pháp với việc một vị vua Anh lên ngôi vua Pháp tại Paris.

Anh chiến thắng tại trân Agincourt và khoảng thời gian sau đó

Henry V chối đề nghị của phe Armagnac trong năm 1414 để khôi phục lại biên giới năm 1369, mà ông này yêu cầu quay trở lại với các vùng lãnh thổ đầy đủ của Henry II. Trong tháng 8 năm 1415, ông đã cùng với quân đội của mình đổ bộ xuống thành phố Harfleur trong vùng Normandy và chiếm giữ thành phố. Mặc dù bị cám dỗ về việc tiến trực tiếp vào Paris, ông đã chọn cách tiến hành một chiến dịch hành quân đột kích trên toàn nước Pháp rồi sau đó chiến Calais trên kênh English Channel. Trong một gợi nhớ đến chiến dịch của Crécy, ông tự cảm thấy mình rõ ràng giỏi hơn các bậc tiền bối và có ít vật tư chiến tranh hơn nhưng phải đứng lên chống lại một đội quân Pháp lớn hơn nhiều tại Trận Agincourt ở phía bắc sông Somme. Bất chấp những bất lợi của ông, chiến thắng của ông là hoàn toàn và thất bại của người Pháp đã trở thành một thảm họa với việc họ đã bị mất (bị giết hoặc bị bỏ tù) rất nhiều thủ lĩnh của phe Armagnac.

Một đội quân của Pháp, ước tính khoảng 6.000 người, cũng bị đánh tan bởi lực lượng quân Anh tại trận Valmont nhỏ hơn nhiều ở gần Harfleur vào tháng 3 năm 1416. Trong chiến dịch tiếp theo sau một chiến thắng hải quân đáng kể của Hải quân Anh Trên sông Seine (dưới sự chỉ huy của Bedford-em trai của Henry,) vào tháng 8 năm 1416, Henry đã chiếm nhiều vùng ở Normandy, kể cả Caen trong năm 1417 và Rouen vào ngày 19 tháng 1 năm 1419, đặt Normandy dưới sự cai trị của Anh sau hơn 200 năm nằm dưới sự kiểm soát của người Pháp.


Tranh vẽ Trận Agincourt, bức tranh có điểm không chính xác đó là quân Pháp chỉ có các tay nỏ chứ không có cung thủ bắn trường cung như quân Anh.

Liên minh Anh-Burgundy dẫn đến Hiệp ước Troyes

Henry V của Anh đã chính thức liên minh với Philip the Good-Công tước xứ Burgundy, người đã chiếm được Paris, sau khi nhà Armagnac ám sát John Burgundy trong năm 1419. Họ cùng nhau ép Charles VI-nhà vua điên đã ký Hiệp ước Troyes và Henry cưới Catherine của Valois-con gái của Charles và Henry sẽ là người thừa kế ngai vàng nước Pháp. Charles VII-Dauphin bị tuyên bố là bất hợp pháp. Henry chính thức tiến vào Paris một năm sau đó và thỏa thuận này đã được phê duyệt bởi General Estates of France ( Quốc-Hội Pháp). Đầu năm đó một đội quân Anh dưới quyền chỉ huy của Bá tước Salisbury, một người lính có năng lực cao, đã phục kích và tiêu diệt một lực lượng liên minh Pháp-Scotland ngay ở Fresnay, 20 dặm về phía bắc của Le Mans (tháng 3 năm 1420) – theo một sử gia quân liên minh đã mất 3.000 người cùng toàn bộ đồ đạc doanh trại của họ và bao gồm cả két bạc của người Scotland.


Tranh vẽ trận Baugé, một chiến thắng hiếm hoi của liên quân Pháp-Scotland trong năm 1421

Năm 1421, một đội quân Anh khoảng 10.000 người đã bị đánh bại bởi một đội liên quân Pháp-Scotland khoảng 6.000 người tại Trận Baugé trong đó Thomas of Lancaster, Công tước của Clarence và cũng là anh trai của Henry V đã bị giết.

Quân đội Anh-Burgundy gây áp lực vào phe Armagnac và Thái tử Charles

Sau cái chết sớm của Henry V tại năm 1422, gần như đồng thời bố vợ của ông ( Charles VI của nước Pháp ), con trai con của ông (Henry V) lên ngôi vua và thành Henry VI của Anh quốc và cũng là vua của nước Pháp, nhưng phe Armagnac vẫn trung thành với Charles Dauphin-con trai của Charles VI và chiến tranh tiếp tục nổ ra ở miền trung nước Pháp. Sau cái chết của Henry V, quân đội Anh tiếp tục làm chủ chiến trường bởi tính hiệu quả cao về chiến thuật quân sự của họ.


Tranh vẽ liên quân Pháp-Scotland bị đại bại tại trận Cravant năm 1423


Tranh vẽ trận Verneuil, trận này có thể được coi là một trận “Agincourt thứ hai“, quân đội Hải ngoại Scotland tại Pháp gần như hoàn toàn bị xóa sổ

Năm 1423, Bá tước của Salisbury, có lẽ là chỉ huy Anh xuất sắc nhất, hoàn toàn đánh bại một lực lượng Pháp-Scotland tại Cravant trên bờ Sông Yonne. Ông đích thân dẫn đầu quân đội vượt sông và của đối phương tấn công thành công một vị trí rất mạnh mẽ và trong trận chiến quân Scotland đã bị thiệt hại rất nặng nề, quân đội hải ngoại Scotland tại Pháp không còn tồn tại. Cùng năm đó quân Pháp lại thắng một trận ở La Brossinière.

Trong năm sau Bedford đã có một chiến thắng được mô tả như là một “Agincourt thứ hai“ tại Verneuil khi quân đội của ông đã phá hủy một đội quân liên quân Pháp-Scotland ước tính khoảng 16.000 lính. Đây không phải là một chiến thắng của các tay cung, mà là của những tiến bộ trong những chiếc áo giáp bọc thép tấm đã tạo cho kỵ binh một phương tiện bảo vệ lớn hơn nhiều, điều này có nghĩa là các cung thủ không thể bắn xuyên nổi áo giáp của họ, đã dẫn đến các cung thủ đóng ở bên sườn sẽ bị cuốn phăng đi. Tuy nhiên, tuy nhiên kỵ binh Anh vẫn đứng vững và tấn công dữ dội vào kẻ thù của họ, sự hỗ trợ của một cuộc tấn công của các cung thủ từ bên cánh khác của quân Anh đã phá hủy quân liên minh. Người Scotland đã bị bao vây trên chiến trường và bị tiêu diệt hầu như đến người cuối cùng – khoảng 6.500 lính Scotland đã chết ở đó bao gồm tất cả các chỉ huy của họ. Kết quả là không còn một lực lượng Scotland quy mô lớn đổ bộ vào nước Pháp một lần nữa. Người Pháp cũng đã bị trừng phạt nặng nề, tất cả các chỉ huy của họ trong trận này cũng đều bị giết hoặc bị bắt làm tù binh.

Sự xuất hiện của Joan of Arc


Tranh vẽ trận Herrings, quân Pháp-Scotland tấn công một đoàn xe chở cá trích của Anh, nhưng họ đã bị các tay cung của Anh bắn tan nát đội hình sau đó là các kị sỹ Anh xông lên làm thịt nốt những người không kịp chạy trốn

Hơn nữa, trong tháng 2 năm 1429, Sir John Fastolf-người đã chỉ huy một đoàn xe chở đồ cung cấp cho quân Anh đang bao vây thành phố Orléans, đã bị tấn công bởi một đội quân Pháp cùng với một nhóm nhỏ quân Scotland (Đa phần lính Scotland đã tử trận trong các trận đánh trước đó). Fastolf có có khoảng 1000 quân cung kỵ (cung kỵ của Tây Âu không có khả năng vừa phi vừa bắn tên như của người du mục mà thường họ phải xuống ngựa để lập đội hình chiến đấu) và một lực lượng nhỏ kị sỹ, họ tạo thành một đội hình vòng tròn xung quanh đoàn xe chở đồ cung cấp của mình. Ít hơn đối phương rất nhiều, nhưng lực lượng Anh đã đánh bại cuộc tấn công của quân Pháp trong một trận đánh được gọi là Battle of the Herrings -Trận Cá trích vì đoàn xe trở cá trích đến cho quân Anh. Trước khi bị quân Anh phản công, quân Pháp và Scotland đã bị đánh bại và bỏ chạy. Các vở kịch của Shakespeare thường đã không công bằng khi mô tả Sir John Fastolf trong vai phản diện và hèn nhát và. Trận chiến này đã thuyết phụcRobert de Baudricourt đồng ý với yêu cầu của Joan of Arc và cho một hộ tống nàng đến Triều đình Pháp ở Chinon.

Nhà Valois chiến thắng, giai đoạn từ năm 1429 -> 1453

Năm 1424, các chú bác của Henry VI đã bắt đầu tranh cãi về quyền nhiếp chính và Humphrey, Công tước của Gloucester đã kết hôn Jacqueline-Nữ bá tước của Hainaut và ông này quyết định xâm lược Hà Lan để lấy lại lãnh địa cũ của mình, sự kiện này đưa ông ta vào một cuộc xung đột trực tiếp với Philip III, Công tước của Burgundy.

Năm 1428, người Anh đã sẵn sàng để theo đuổi cuộc chiến tranh một lần nữa và họ tiến hành bao vây thành phố Orléans. Lực lượng của họ không đủ để bao vây toàn bộ thành phố, nhưng vẫn làm cho một lực lượng quân đội Pháp đông hơn lâm vào thế bị động. Năm 1429, Joan of Arc đã thuyết phục được nhàDauphin gửi nàng đến thành phố bị bao vây vì nàng nói rằng đã nhận được lới nhắn của Thiên Chúa-cho biết rằng nàng sẽ đẩy lui được người Anh. Sự có mặt của nàng đã có tác dụng nâng cao tinh thần chiến đấu của quân đội Pháp và họ đã tấn công vào vị trí cố thủ của quân Anh và buộc người Anh phải huy bỏ cuộc bao vây. Lấy cảm hứng từ Joan, người Pháp đã tấn công vào nhiều cứ điểm mạnh mẽ của quân Anh ở bên bờ sông Loire. Ngay sau đó, một đội quân Pháp khoảng 8000 binh sỹ trang bị đầy đủ đã đánh bại một lực lượng lớn cung thủ Anh tại trận Patay bằng đội kỵ binh hạng nặng làm tiên phong gồm 1500 tay thương, rồi sau đó lại đánh bại một quân đội mạnh gồm 3000 tay cung dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf và John Talbot, Bá tước của Shrewsbury. Chiến thắng này đã mở đường cho nhà Dauphin đi đến Reims để làm lễ đăng quang và lên ngôi vua Pháp với tên hiệu là Charles VII.


Tranh vẽ Joan of Arc chỉ huy quân Pháp tấn công vào chiến lũy của Anh vốn được lập lên để bao vây thành phố Orléans. Nàng luôn cầm cờ và đứng ở tuyến đầu nên các binh sỹ Pháp sẽ cảm thấy xấu hổ nếu họ không dám xông lên


Tranh vẽ Joan of Arc không đội mũ và dẫn đầu quân Pháp tấn công, thường thì các tranh đều vẽ nàng cưỡi ngựa, thực tế hiếm người nào lại có thể mặc giáp nặng như vậy ( trên 30 kg) mà còn chạy bộ được


Tranh vẽ Joan of Arc trong buổi lễ đăng quang cho thái tử Charles Dounphine làm vua Charles VII của nước Pháp tại Reim

Sau khi Joan bị bắt bởi người Burgundy vào năm 1430 và sau đó bị bán cho người Anh, nàng đã bị kết tội là phù thủy tại một Tòa án Tôn giáo và bị hành hình, các cuộc tiến quân của người Pháp bị đình trệ bởi các cuộc đàm phán. Tuy nhiên, năm 1435, người Burgundy dưới sự lãnh đạo của Philip III chuyển phe và ký Hiệp ước Arras và trả lại Paris cho vua Pháp. Mặc dù lòng trung thành của người Burgundy vẫn còn hay thay đổi, nhưng họ tập trung chỉ tập trung vào các cuộc chiến ở vùng đất thấp ( Hà lan ngày nay) và không có đủ lực lượng để can thiệp vào nước Pháp. Hòa ước với người Burgundy kéo dài đánh dấu sự thay đổi trong chiến tranh cũng đã cho Charles thời gian để tổ chức lại quân đội và chính phủ của ông, ông đã tiến hành thay thế đội quân theo kiểu phong kiến ​​của mình bằng một quân đội chuyên nghiệp hiện đại hơn để có thể tận dụng triệt để được ưu thế vượt trội của mình và tập trung hóa trong việc quản lyd các vùng của nước Pháp.

Vào năm 1449, người Pháp đã chiếm lại Rouen và trong năm 1450 Bá tước Clermont và Arthur de Richemont-Bá tước của Richmond của gia đình Montfort ( Arthur III, Công tước xứ Brittany tương lai) đã chộp được một quân đội Anh trong khi nó đang cố gắng để giải vây cho Caen tại Trận Formigny và đánh bại nó, quân Anh đã bị tấn công từ bên cánh và phía sau bởi lực lượng của Richemont chỉ khi họ đang áp sát đội quân của Clermont. Người Pháp đã chiếm lại được Caen vào ngày 6 tháng 7 năm 1450 cùng với Bordeaux và Bayonne trong năm 1451. Các nỗ lực của Sir Talbot để chiếm lại vùng Gascony, mặc dù ban đầu được sự hoan nghênh của người dân địa phương nhưng cuối cùng đã bị nghiền nát bởi Jean Bureau và các khẩu pháo của ông tại Trận Castillon năm 1453, nơi Talbot đã dẫn đầu một lực lượng nhỏ của Anh-Gascon trong một cuộc tấn công trực diện vào một doanh trại cố thủ của Pháp. Đây được xem là trận chiến cuối cùng của cuộc Chiến tranh Trăm năm.

Ý nghĩa của chiến tranh trăm năm

Chiến tranh năm trăm là một khoảng thời gian để tiến hóa về lĩnh vực quân sự. Tất cả vũ khí, chiến thuật, cấu trúc quân đội và ý nghĩa xã hội của chiến tranh đều đã thay đổi, một phần là để đáp ứng cho nhu cầu của cuộc chiến, một phần qua các tiến bộ trong công nghệ, KHKT và một phần thông qua các bài học trong chiến tranh.

Anh có thể được coi là một nhà nước hiện đại hơn so với Pháp. Nó có một Quốc-hội và cơ quan thuế thuế tập trung hóa. Khi nhà văn quân đội-đại tá Alfred Burne ghi chú, nước Anh đã cách mạng hóa hệ thống tuyển dụng của nó trong việc dùng một đội quân được trả lương để thay thế cho một đội quân được tuyển ra từ những người làm nghĩa vụ phong kiến. Các đội trưởng/ đại úy chuyên nghiệp đã được bổ nhiệm làm người tuyển dụng quân đội trong một thời gian được chỉ định (về mặt lý thuyết thì ngắn). Ở một mức độ nào đó, đây là một điều cần thiết vì nhiều đại quý tộc đã từ chối để tham gia vào một chiến dịch ở nước ngoài vì làm nghĩa vụ phong kiến ​​được cho là chỉ để bảo vệ vương quốc.

Trước khi nổ ra Chiến tranh Trăm năm, Lực lượng kỵ binh hạng nặng được xem là binh chủng mạnh nhất trong quân đội. Nhưng vào lúc chiến tranh kết thúc, niềm tin này đã thay đổi. Ngựa dù được thiết giáp hạng nặng ngày càng bị phủ nhận do việc sử dụng lực lượng trường cung (và sau này là súng tay-một loại vũ khí có tầm sát thương xa hơn) và các kị sỹ chiến đấu ở các vị trí phòng thủ cố định, chiến thuật này đã giúp người Anh chiến thắng ở Crécy và Agincourt. Học tập từ người Scotland, người Anh bắt đầu sử dụng những đội kỵ binh được thiết giáp hạng nhẹ-sau này gọi là dragon (Kỵ binh Đầu rồng)-Những người sẽ xuống ngựa để chiến đấu trong trận chiến. Đến cuối Cuộc chiến Trăm năm, chiến thuật này có ý nghĩa làm mờ dần vai trò của lực lượng kỵ binh hạng nặng vốn được trang bị và đào tạo đắt tiền và cuối cùng kết thúc vai trò của người hiệp sĩ bọc thép như là một lực lượng quân sự và vai trò của giới quý tộc như là một lực lượng chính trị.

Mặc dù người Anh có một lợi thế về chiến thuật, “tuy nhiên diện tích của nước Pháp là quá lớn và không đủ quân thường trực để chiếm đóng” như một nhà văn quân đội-tướng Fuller nói. Với một diện tích lớn hơn nhiều so với nước Anh (lúc này chưa có liên hiệp Anh và người Scotland luôn tỏ ra thù địch với người Anh) và có dân số đông gấp bốn lần dân số của nước Anh, nước Pháp tạo ra khó khăn cho người Anh khi muốn chiếm đóng nó.

Một vấn đề không thể giải quyết nổi đối với các chỉ huy người Anh là, trong thời đại của chiến tranh vây hãm, các có nhiều thêm lãnh thổ bị chiếm đóng thì lại càng yêu cầu nhiều đơn vị đồn trú hơn nữa. Điều này đã làm giảm đi sức mạnh tấn công của quân đội Anh khi thời gian trôi về phía cuối của cuộc chiến (người Scotland đã giải quyết vấn đề này bằng một giải pháp khôn ngoan là phá huy các thành trì -> không cần quân đồn trú mà đối phương cũng không sử dụng được sau khi tái chiếm được chúng). Quân đội của Salisbury tại Orleans chỉ bao gồm có 5.000 người, không những không đủ chỉ để bao vây thành phố mà còn có số lượng kém hơn so với lực lượng Pháp đóng trong và ngoài thành phố. Người Pháp chỉ cần phục hồi lại được một phần của sự tự tin đã bị tan vỡ (sau những trận thua mất mặt) của họ thì kết quả thất bại của quân Anh là điều trở thành không thể tránh khỏi. Tại Orleans họ đã được hỗ trợ bởi cái chết của Salisbury qua một phát đạn pháo may mắn và do cảm hứng được truyền tới bởi Joan of Arc.

Hơn nữa, sự kết thúc của liên minh với Burgundy đã đặt dấu chấm hết cho những nỗ lực của Anh tại Pháp, bất chấp các chiến dịch tích cực của John-Lord Talbot và các lực lượng của ông để trì hoãn một thất bại không thể tránh khỏi.

Tranh vẽ cái chết John Talbot-một dũng tướng của Anh trong trận Castillon đã kết thúc chiến tranh trăm năm với thắng lợi hoàn toàn thuộc về người Pháp

Cuộc chiến cũng kích thích tình cảm dân tộc. Nó đã tàn phá nhiều vùng của nước Pháp thành bình địa, nhưng nó cũng đánh thức chủ nghĩa dân tộc của người Pháp. Chiến tranh trăm cũng có tác dụng tăng tốc quá trình chuyển đổi nước Pháp phong kiến phân quyền sang một chế độ quân chủ tập quyền. Cuộc xung đột đã trở thành không chỉ là một cuộc xung đột của vua Anh với vua Pháp mà đã trở thành cuộc chiến của người Anh với người Pháp dân tộc. Có tin đồn liên tiếp tại Anh rằng người Pháp có ý định xâm chiếm và hủy diệt ngôn ngữ của người Anh. Chủ nghĩa quốc gia đã xuất hiện trong những tin đồn như vậy để thống nhất người Pháp và người Anh vào những trận chiến trong thời gian lâu hơn nữa. Chiến tranh Trăm năm về cơ bản đã làm biến mất những từ gốc Pháp trong tiếngAnh, vốn đã là ngôn ngữ của giai cấp cầm quyền và tầng lớp thương gia từ thời các cuộc chinh phục của người Norman cho đến năm 1362.

Giai đoạn sau của cuộc chiến đã cho thấy sự xuất hiện của công tước Burgundy đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực chính trị và nó khuyến khích người Anh tham gia liên minh với vùng đất ở miền nam Hà Lan trong suốt cuộc xung đột (Bây giờ là nước Bỉ-một trung tâm sản xuất vải len phong phú ​​vào thời điểm đó), để phát triển ngành công nghiệp dệt len của chính họ và ở thị trường nước ngoài. ( xứ Burgundy quay về với nước Pháp cũng chính là vì dân ở vùng này-thuộc địa của Burgundy lại tỏ ra quá thân thiện với người Anh)

Vũ khí

Cây trường cung

Loại vũ khí được tán dương nhất của người Anh là cây trường cung của những người nông dân ( nguyên gốc Yeomen-chủ đất nhỏ): nó không phải là loại vũ khí mới vào thời điểm đó, nó đóng một vai trò đặc biệt trong suốt cuộc chiến, tạo lợi thế chiến thuật cho người Anh trong một số các trận đánh chính – mặc dù vũ khí này đòi hỏi phải có tay nghề cao và quân đội Anh vốn trang bị nhẹ hơn đã chứng minh là nó (lực lượng trường cung) là một nhân tố quyết định đến kết quả cuối cùng của cuộc chiến. Người Pháp chủ yếu là dựa vào nỏ, thường được sử dụng bởi lính đánh thuê người Genova, chỉ có những người có tay nghề cao và được đào tạo tốt mới khai thác được những điểm yếu của vũ khí của đối phương bằng những trang thiết bị đặc biệt. Cây nỏ được sử dụng bởi vì nó yêu cầu rất ít đào tạo và do đó có thể nhanh chóng tuyển một lính bắn nỏ mới từ người làm nghĩa vụ quân sự và nó có một sức công phá khủng khiếp ở tầm gần đối với cả áo giáp chuỗi và áo giáp lưới. Tuy nhiên, nó có đặc điểm là nạp tên chậm, nặng nề và dễ bị thiệt hại mưa to. Cây trường cung là một loại vũ khí rất khó sử dụng và các cung thủ Anh đã phải đã thực hành từ khi còn nhỏ để trở nên thành thạo. Nó cũng đòi hỏi phải có sức mạnh lớn để sử dụng, với lực kéo thường vào khoảng 620-670 Newton (140–150 lbf) và có thể lên đến 800 N (180 lbf). Cây trưởng cung có thể bắn volley (rót dầu) tương đối chính xác, mặc dù khả năng này là đặc điểm của bất kỳ loại cung nào. Nó được sử dụng rộng rãi trong quần đảo Anh và điều này đã cho phép người Anh sử dụng nó như một vũ khí. Cây trường cung đã được phát triển thành vũ khí tầm chiến lược. Người Anh trong những trận chiến của họ với người xứ Wales và Scotland, đã học được cách sử dụng những cung thủ xuống ngựa và dựa vào địa hình của các vị trí cố định để có thể đánh bại lực lượng kỵ binh nặng từ xa. Từ khi các mũi tên bắn từ một cung có thể giết hoặc loại khỏi vòng chiến một con ngựa không được thiết giáp, một cuộc tấn công cuả lực lượng kỵ binh có thể bị chặn đứng trước khi họ tới được chỗ cuả lực lượng phòng thủ (một hiệu ứng tương đương với pháo binh của thời sau). Các cung cho phép quân đội trang bị nhẹ hơn và cơ động hơn của người Anh chọn và củng cố vị trí chiến đấu và đẩy quân đội đối phương vào một trận đánh theo kiểu bao vây. Vào thời gian chiến tranh Trăm năm sắp kết thúc, số lượng cung thủ trường cung giảm mạnh. Bởi khó khăn trong việc đào tạo một số lượng lớn các cung thủ có tay nghề cao để thay thế số thương vong đáng kể của các cung thủ trường cung tại các trận Verneuil (1424) và Patay (1429) là đáng kể. Việc cây cung ngày càng trở nên khó sử dụng và không có đủ người để sử dụng chúng. Ngoài ra, những cải tiến trong áo giáp phiến từ thế kỷ 15 có nghĩa là trong khi áo giáp được thực tế chứng minh là không bị xuyên thủng bởi các mũi tên, các cung lại vẫn là một vũ khí tĩnh và không hiệu quả. Chỉ có những cây cung mạnh nhất ở tầm gần có thể có cơ hội xuyên thủng các tấm áo giáp.

Một loạt các loại vũ khí mới cũng được bắt đầu đưa vào sử dụng trong cuộc Chiến tranh Trăm năm như: Thuốc nổ cho súng tay và pháo đã đóng vai trò quan trọng vào đầu năm 1375. Trận Castillon-trận chiến cuối cùng của cuộc chiến trăm năm, là trận đánh đầu tiên trong lịch sử châu Âu mà ở đó pháo binh là yếu tố quyết định.

Chiến tranh và xã hội

Hậu quả của các loại vũ khí mới có nghĩa là giới quý tộc không còn là yếu tố quyết định trong trận chiến; nông dân trang bị trường cung hoặc súng tay có thể dành được chiến thắng, phần thưởng và có được uy tín vốn chỉ dành cho những hiệp sĩ-những người được thiết giáp kín mít. Thành phần của quân đội đã thay đổi, từ các lãnh chúa phong kiến những người có thể hoặc không thể bỏ trốn khi chúa tể của họ triệu tập, những lính đánh thuê được trả tiền. Đến cuối chiến tranh, cả Pháp và Anh đã huy động đủ tiền qua các sắc thuế để tạo ra một đội quân thường trực, lần đầu tiên kể từ sự sụp đổ của Đế quốc La Mã phương Tây mà người ta lại thấy các đội quân thường trực ở Tây hoặc Trung Âu (không kể Đế quốc Đông La Mã). Quân đội thường trực đại diện cho một hình thức hoàn toàn mới của quyền lực của nhà vua. Quân đội này không chỉ có thể bảo vệ vương quốc của họ từ những kẻ xâm lược, mà còn có thể bảo vệ nhà vua từ các mối đe dọa nội bộ và cũng để giữ cho dân chúng trong vòng kiểm soát. Đó là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển ban đầu đối với quốc gia tập quyền và nó cũng làm xói mòn các tập quán của thời trung cổ.

Có một niềm tin phổ biến rằng sau Trận Crécy-trận chiến lớn đầu tiên của chiến tranh, , Thời đại “ hiệp sỹ mã thượng “ đã đi vào kết thúc khi các đợt tấn công của lực lượng kỵ binh hạng nặng không còn có ý nghĩa quyết định trong trận đánh Đồng thời, có một sự hồi sinh trong các tập tục của tinh thần mã thượng, đó tầm quan trọng cao nhất của việc chiến đấu cho ai và chết để làm gì, trong một cách thượng mã nhất có thể. Khái niệm về tinh thần thượng mã bị ảnh hưởng mạnh bởi các sử thi lãng mạn của thế kỷ 12 và hãy tưởng tượng các hiệp sĩ tái hiện những câu chuyện này trên chiến trường.. Có người đã kể rằng Bertrand Du Guesclin bước vào trận chiến với một mắt nhắm và một mắt mở và tuyên bố ” Tôi sẽ không mở con mắt còn lại vì danh dự của người phụ nữ của tôi cho đến khi tôi sẽ giết được ba người Anh.” Các Hiệp sĩ thường mang màu sắc ( tóc, áo?) của người phụ nữ của họ vào trận chiến.

Tại Pháp, trong thời gian Vua John II bị giam cầm, the Estates General (Hội hiệp thương) cố đoạt lấy quyền lực của nhà vua. Hội hiệp thương là một cơ quan đại diện của ba nhóm người theo truyền thống có quyền tư vấn tại Pháp: giáo sĩ, quý tộc và thị dân. Lần đầu tiên dưới thời Philip IV ” the Fair “, Hội hiệp thương có quyền xác nhận hoặc không đồng ý với các sắc thuế chính mà các vị vua của nước Pháp dùng để huy động tiền. Dưới sự lãnh đạo của một thương gia tên là Etienne Marcel, Hội hiệp thương đã cố gắng để buộc nền quân chủ phải chấp nhận một cái gọi là thỏa thuận Đại Pháp lệnh (the Great Ordinance). Giống như thỏa thuận Magna Carta của người Anh, Đại Pháp lệnh cho rằng Hội hiệp thương cần giám sát việc thu, chi số tiền thuế thu được, quyết định một cách độc lập trước các yêu cầu của nhà vua, có quyền hạn nhất định về mặt tư pháp và thường đóng một vai trò lớn hơn trong chính phủ. Các quý tộc đã đóng một vai trò quyết định trong Hội hiệp thương, tuy nhiên trong năm 1358 đã nổ ra một cuộc nổi dậy của nông dân được gọi là Jacquerie. Nông dân tức giận về thuế cao của quý tộc và chính sách lao động cưỡng bức đã nổi lên giết chóc và đốt phá ở phía bắc nước Pháp. Một trong những nạn nhân của họ đã được chứng minh lại chính là Etienne Marcel và không có sự lãnh đạo của ông Hội hiệp thương đã bị chia rẽ.

Nước Anh và Chiến tranh Trăm năm

Những ảnh hưởng của cuộc Chiến tranh Trăm năm ở Anh cũng đưa ra một số câu hỏi về mức độ của chính quyền hoàng gia. Giống như người Pháp, người Anh đã trải qua một cuộc nổi loạn nghiêm trọng chống lại nhà vua trong một khoảng thời gian tiếp sau cái chết của Edward III khi người cháu trai của ông vẫn chưa đến tuổi trưởng thành. Được gọi là phong trào Nông dân nổi dậy hay còn là cuộc nổi dậy của Wat Tyler, cuộc nổi dậy năm 1381 đã cho thấy một số lượng lên đến 100.000 nông dân tiến vào London để phản đối việc nộp thuế quá cao để tài trợ cho chiến tranh và nỗ lực của giới quý tộc để bần cùng hoá thân phận của người nông dân Anh. Đám đông đã sát hại các quan chức chính phủ và người thu thuế và đốt cháy nhà của họ. Nhà vua trẻ-Richard II, gặp những người nông dân ở bên ngoài lâu đài của mình, xoa dịu sự bạo lực của họ bằng cách hứa hẹn sẽ đáp ứng nhu cầu của họ. Đồng thời, các điệp viên của nhà vua đã giết chết Wat Tyler, một nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc nổi dậy và Richard II đã đuổi những người nông dân trở lại nhà của họ ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, sau khi họ về nhà ông này đã không giữ lời hứa của mình và vẫn giữ mức thuế cao.

Ban đầu thành công của các chiến dịch mang lại sự giàu có cho bản thân giới quý tộc và triều đình Anh. Khi chiến tranh tiếp diễn, chi phí để bảo vệ và duy trì vùng chiếm đóng tỏ ra quá nặng nề và Hoàng gia Anh về cơ bản bị phá sản, ngược lại sự giàu có làm cho nước Pháp liên tục tập hợp lại được các quý tộc và quân đội của họ. Khi triều đình Anh bắt đầu có một cách tiếp cận hợp lý hơn đối với nước Pháp, nhiều quý tộc người Anh đã đang nắm giữ các vùng đất tại lục địa châu Âu và đã bị bỏ rơi trong quá trình này liền đã bị vỡ ảo tưởng với Hoàng gia Anh. Những bất đồng này đã trở thành một trong những yếu tố chính góp phần vào Cuộc chiến của Hoa Hồng.

Vào cuối cuộc chiến, nước Anh đã phải quay lại quốc đảo, ngoại trừ Calais. Hoàn toàn ở rìa của châu Âu, tương lai của nó dường như là rất tối tăm. Tuy nhiên, việc châu Âu khám phá ra Tân thế giới ở bên ngoài ranh giới phía tây của bờ biển Đại Tây Dương vào năm 1492 có nghĩa là quốc gia trên biển cả như nước Anh đã rất phù hợp để tận dụng cơ hội mới cho nền thương mại và phiêu lưu vùng chinh phục những vùng đất mới

Những trận đánh lớn

  • Năm 1337, tháng 11-Trận Cadsand: Khởi đầu các hành động thù địch. Quân phòng thủ người Flemish của hòn đảo Cadsand đã bị làm cho rối loạn do đầu tiên các cây trường cung của Anh được sử dụng trên Lục địa châu Âu.
  • Năm 1340, 24 tháng 6 -Trận Sluys: Edward III đã phá hủy hạm đội Pháp-Genova của Philip VI ở ngoài khơi bờ biển Flanders, nước Anh được đảm bảo sẽ không bị xâm chiếm và rằng phần lớn các trận chiến sẽ nổ ra ở đất Pháp.
  • 1345, Ngày 21 tháng 10 -Trận Auberoche: Một chiến thắng của các tay cung của Henry-Bá tước của Derby khi chống lại một đội quân Pháp tại Auberoche thuộc xứ Gascony.
  • 1346, 26 tháng 8 -Trận Crécy: Cung thủ trường cung người Anh đánh bại hoàn toàn đội kỵ binh Pháp ở gần sông Somme vùng Picardy. Những người chết bao gồm:Năm 1346, Tháng chín 4-1347, 03 Tháng Tám -Cuộc bao vây Calais: Calais nằm dưới sự kiểm soát của người Anh.
    • Vua John của Bohemia
    • Công tước của Lorraine
    • Bá tước của Flanders
    • Công tước Alençon
    • Bá tước của Blois
    • Nam tước Rohan
    • Lord của Laval
    • Lord của Chateaubriant
    • Lord của Dinan
    • Lord của Redon
    • 1.542 Hiệp sĩ thiệt mạng
    • 2.300 tay nỏ người Genova tử trận
    • 10.000 bộ binh thiệt mạng
  • Năm 1350, 29 tháng 8 –tại Les sur Mer Espagnols: Người Anh đánh bại hạm đội hạm đội Castile trong một trận cận chiến.
  • Năm 1351, ngày 26 tháng 3 Trận chiến Ba mươi: Ba mươi Hiệp sỹ Breton từ Chateau Josselin đã được Beaumanoir chọn ra và đánh bại ba mươi Hiệp sĩ người Anh và người Breton dưới quyền Pembroke và Sir Robert Bramborough, Bramborough đã bị giết.
  • Quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của De Nesle đã bị đánh bại bởi quân Anh dưới sự chỉ huy của Bentley tại Mauron Anh, De Nesle đã thiệt mạng.
  • Năm 1356, Ngày 19 tháng 9 -Trận Poitiers: Edward-Hoàng tử đen đã bắt tù binh vua John II của Pháp, quân đội Pháp rơi vào hỗn loạn. Những người bị bắt và giết ở phía Pháp:
    • 2.500 bị giết và bị thương
    • 2.000 bị bắt, bao gồm
      • John II
      • 17 lãnh chúa
      • 13 Bá tước
      • 5 Nam tước
      • 100 + hiệp sĩ
  • Năm 1364, Ngày 29 tháng 9 -Trận Auray: Kết thúc Chiến tranh thừa kế BretonNăm 1367, 03 tháng 4 -Trận Najera: Hoàng tử đen đã đánh bại một đội quân người Castile và Pháp trong trận Najera ở Castile.
    • Bị giết: Charles của Blois, Công tước xứ Brittany
    • Bị bắt: Bá tước của Auxerre & Du Guesclin
  • Năm 1370, tháng 3 -Trận Pontvallain: Bertrand du Guesclin đánh bại một đội quân đột kích của người Anh, kết thúc danh hiệu vô địch của người Anh trong trận đánh mở.
  • Năm 1372, ngày 22 tháng 6 -Trận La Rochelle: hạm đội Castilian-Pháp đánh bại hạm đội Anh, dẫn đến mất ưu thế tại các cuộc tấn công và cướp biển và ven biển của Pháp.Năm 1380, Fernando Sánchez de Tovar chỉ huy của hạm đội Castilian bao vây và đánh phá các thành phố cảng của người Anh.
    • Bị bắt: John của Hastings, Bá tước Pembroke, 400 hiệp sĩ và 8.000 binh lính
  • 1385 -Trận Aljubarrota: Nuno Alvares Pereira, Chỉ huy một đội quân nhỏ của Bồ Đào Nha-Anh, đánh bại lực lượng Castile-Pháp tại Bồ Đào Nha.
  • 1385 -Jean de Vienne, thành công trong việc tăng cường hải quân Pháp, đổ bộ một đội quân lên Scotland, nhưng rồi lại buộc phải rút lui.
  • Năm 1415, ngày 25 tháng 10 -Trận Agincourt: cung thủ trường cung Anh dưới sự chỉ huy của Henry V đã đánh bại quân Pháp dưới sự chỉ huy của Charles d’Albret.Năm 1416, Anh đánh bại số lượng lớn quân đội Pháp tại Valmont gần Harfleur
    • Các chỉ huy Pháp bị bắt gồm:
      • Thống chế Pháp Jean Le Maingre
      • Charles, Công tước d’Orléans
      • John I, Công tước của Bourbon
      • Louis, Bá tước của Vendôme
    • Các chỉ huy Pháp thiệt mạng gồm:
      • Antoine của Burgundy, Công tước Brabant và Limburg
      • Philip của Burgundy, Công tước của Nevers và Rethel
      • Charles I d’Albret, Công tước của Dreux, Nguyên soái của Pháp
      • John II, Bá tước của Bethune
      • John I, Công tước Alençon
      • Frederick của Lorraine, Bá tước của Vaudemont (Sinh 1371)
      • Robert, Bá tước của Marles và Soissons
      • Edward III của Bar ( Đất công tước Bar mất đi sự độc lập của nó như là một hệ quả của cái chết của ông)
      • John VI, Bá tước của Roucy
      • Jean I de Croÿ và hai con trai của ông
      • Waleran III của Luxembourg, Bá tước của Ligny
      • Jan I van Brederode
      • George Edward Stewart III, Lãnh chúa Shetland – Scotland
      • 7,000-10,000 thương vong (chủ yếu bị giết) và khoảng 1.500 tù binh quý tộc
    • Anh thiệt mạng:
      • Edward của Norwich, 2 Công tước xứ York
      • Michael de la Pole, 3 Bá tước Suffolk
      • Ít nhất 112 người chết, không rõ người bị thương
  • Năm 1417, Hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Bedford chiến thắng trên sông Seine.
  • Năm 1418, tháng bảy 31-1419, tháng 19 -Cuộc bao vây Rouen: Henry V của Anh giành được một chỗ đứng chân ở Normandy.
  • 1419 -Trận La Rochelle: hạm đội Pháp-Castile đánh bại hạm đội Anh-Hanseatic.
  • Năm 1421, ngày 22 tháng 3 -Trận Bauge: Lực lượng Pháp và Scotland dưới sự chỉ huy của Bá tước Buchan đánh bại một lực lượng rõ ràng đông hơn của người Anh dưới sự chỉ huy của Công tước của Clarence.
    • Chỉ huy Anh bị bắt tù binh:
      • John Beaufort, 3 Bá tước Somerset
      • Thomas Beaufort, Bá tước Perche
      • John Holland, 2 Công tước của Exeter
      • Lord Fitz Walter
    • Chỉ huy Anh thiệt mạng:
      • Thomas của Lancaster, 1 Công tước của Clarence
      • John Grey, Bá tước 1 Tankerville
      • John de Ros, 8 Baron de Ros
      • Sir Gilbert de Umfraville
  • Năm 1423, tháng bảy 31 -Trận Cravant: Quân đội Pháp và Scotland bị đánh bại tại Cravant trên bờ của dòng sông Yonne.
    • Pháp thiệt mạng: 6.000
    • Pháp bị bắt: 2.000 bao gồm
      • John Stewart, 2 Earl của Buchan
      • Louis, Bá tước của Vendôme
  • Năm 1424, 17 tháng 8 -Trận Vernuil: Các lực lượng Pháp-Scots là đánh bại.Năm 1426, 06 tháng 3 -quân đội Pháp đang bao vây dưới sự chỉ huy của Arthur de Richemont bị phân tán bởi một lực lượng nhỏ sự chỉ huy của Sir Thomas Rempstone có biệt hiệu “The Rout của St James” của Anh.
    • Scotland thiệt mạng: 4.000 bao gồm
      • John Stewart, 2 Earl của Buchan
      • Archibald Douglas, 4 Earl của Douglas
  • Năm 1428, October 12-1429, tháng 8 -Cuộc vây hãm Orléans: lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Bá tước Salisbury, Bá tước Suffolk, và Talbot ( Bá tước của Shrewsbury) bao vây Orleans và bị buộc phải rút lui sau khi quân đội tăng viện đi kèm với Joan of Arc đến thành phố này.
  • Năm 1429, 12 tháng 2 -: Trận Herrings quân Anh dưới sự chỉ huy của Sir John Fastolf đánh bại quân đội Pháp và Scotland.
  • Năm 1429, ngày 17 tháng 7 -Trận Patay: một trận đánh đảo ngược của trận Agincourt và Crécy, một đội quân Pháp dưới sự chỉ huy của La Hire, Richemont, Joan of Arc, và các chỉ huy khác đã đánh tan các cung thủ Anh dưới sự chỉ huy của Lord Talbot và sau đó đã truy kích và tấn công vào các phần khác của quân Anh, giết hoặc bắt tù binh một nửa (2.200) số quân của họ. John Talbot, 1 Bá tước của Shrewsbury và Walter, Lord Hungerford bị bắt tù binh.
  • 1435 -Trận Gerbevoy: La Hire đánh bại một lực lượng Anh dưới sự chỉ huy của Arundel.
  • 1435: Quân đội Pháp chiếm lại Paris.
  • 1450, ngày 15 tháng 4 -Trận Formigny: Một đội quân Pháp dưới sự chỉ huy của Comte de Clermont đánh bại một lực lượng quân Anh dưới sự chỉ huy của Thomas Kyriell.
  • 1451: quân Pháp đánh chiếm Gascony.

1453, ngày 17 tháng 7 -Trận Castillon: Jean Bureau đánh bại Talbot để kết thúc cuộc Chiến tranh Trăm năm. Đây cũng là trận đánh đầu tiên trong lịch sử châu Âu mà việc sử dụng pháo là một yếu tố quan trọng trong việc xác định người chiến thắng. John Talbot, 1 Bá tước Shrewsbury đã thiệt mạng trong trận chiến.

 
Advertisements

One thought on “Chiến tranh trăm năm giữa Pháp và Anh- bài 1

  1. Pingback: Chiến tranh trăm năm giữa Pháp và Anh | Văn Ngọc Thành

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s