Những chuyện ít người biết về Chiến tranh Triều Tiên

1

Sevgei Alpha / @nclsgroup

  • Zhang Taofang (1931 – 2007) là một lính bắn tỉa Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên, được cho là đã tiêu diệt 214 người với 442 phát súng trong 33 ngày bằng súng trường không có ống ngắm.

269948904_301821611994932_5775366318345383898_n

Vào ngày 11/1/1953, Zhang, người mới nhập ngũ chưa được hai năm và cùng với các binh sĩ của đại đội 8, trung đoàn 214, quân đoàn 24, được điều đến Triangle Hill (đồi tam giác), nằm ở Sanggamryong, miền trung Triều Tiên. Ông được trang bị một khẩu Mosin – Nagant không có ống ngắm.

Trận chiến trên đồi Tam giác (14/10 – 25/11/1952) là trận chiến lớn nhất và đẫm máu nhất năm 1952. Sau 42 ngày chiến đấu ác liệt, Tập đoàn quân số 8 của Mỹ đã không chiếm được ngọn đồi. Mặt khác, đối với Chí nguyện quân Trung Quốc, không chỉ Quân đoàn 15 ngăn chặn các cuộc tấn công của lính Liên hợp quốc tại Đồi Tam giác, các cuộc tấn công do Sư đoàn 44 thực hiện trên mặt trận Pyonggang cũng dẫn đến việc chiếm được điểm cao Jackson vào ngày 30/11. Mặc dù Trung Quốc thương vong 11.500 người với nhiều đơn vị bị tổn thất rất nặng trong trận chiến, nhưng khả năng chịu đựng những tổn thất đó đã khiến Tập đoàn quân số 8 dần cạn kiệt trong hơn hai tháng tiêu hao. Bộ Tư lệnh tối cao Trung Quốc coi chiến thắng là minh chứng rằng tiêu hao là một chiến lược hiệu quả chống lại lực lượng Liên hợp quốc, trong khi họ trở nên hung hăng hơn trong các cuộc đàm phán đình chiến và trên chiến trường.

Thương vong cao của Liên hợp quốc buộc tướng Mark Wayne Clark phải đình chỉ bất kỳ hoạt động tấn công liên quan đến nhiều hơn một tiểu đoàn, ngăn chặn bất kỳ cuộc tấn công lớn nào của Liên hợp quốc trong phần còn lại của cuộc chiến. Clark và Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman sau đó đã tâm sự rằng trận chiến là một đòn giáng nghiêm trọng vào tinh thần của Liên Hợp Quốc. Về phía Hàn Quốc, chiến thắng tại Sniper Ridge đã thuyết phục rằng giờ đây họ có khả năng tiến hành các hoạt động tấn công độc lập, mặc dù các cố vấn Mỹ không mấy ấn tượng với màn trình diễn của họ trong suốt trận chiến.

Bất chấp tác động và quy mô của nó, Trận chiến ở đồi Tam giác là một trong những trận ít được biết đến nhất của Chiến tranh Triều Tiên trong giới truyền thông phương Tây. Đối với người Trung Quốc, chiến thắng đắt giá là cơ hội để phát huy giá trị của sự bền bỉ và hy sinh. Sự dũng cảm của những người lính Trung Quốc tại Đồi Tam giác đã nhiều lần được tôn vinh dưới nhiều hình thức truyền thông khác nhau. Qin Jiwei (Tần Cơ Vĩ) được tôn vinh là anh hùng của trận chiến và cuối cùng vươn lên trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Quân đoàn 15 trở thành một trong những đơn vị có uy tín nhất trong quân đội và Quân đoàn 15 trở thành quân đoàn dù đầu tiên của Trung Quốc vào năm 1961. Nó vẫn là đơn vị quy mô quân đoàn tinh nhuệ nhất ở Trung Quốc ngày nay.

Sau 18 ngày chờ đợi tại vị trí của mình, Zhang phát hiện ra kẻ thù và ngay lập tức nhắm bắn và bắn 12 phát đạn, nhưng trượt tất cả. Hành động này đã thu hút hỏa lực của kẻ thù, khiến ông suýt chút nữa bỏ mạng. Sau đó, ông cẩn thận phân tích lý do tại sao mình thất bại và tìm ra kỹ thuật để cải thiện khả năng bắn của mình. Ông đã bắn hạ một người vào ngày hôm sau. Vào ngày 15/2, ông đã bắn trúng 7 người với 9 viên đạn, vượt qua tỷ lệ của nhiều tay súng bắn tỉa có kinh nghiệm.

Theo số thứ tám của Báo ảnh Quân đội Giải phóng Nhân dân năm 2002, Zhang Taofang bắt đầu làm lính bắn tỉa từ ngày 29/1/1953 đến ngày 25/5, kéo dài 3 tháng 26 ngày. Cùng năm đó, ông được trao tặng anh danh hiệu “Anh hùng bắn tỉa hạng hai” và sau đó được Ủy ban Thường vụ Hội đồng Nhân dân Tối cao của Triều Tiên tặng “Huân chương Quốc kỳ hạng Nhất”.

Sau chiến tranh, ông đã được chỉ định vào chương trình đào tạo phi công. Năm 1954, Zhang vào Trường Dự bị Hàng không số 5 Từ Châu và Trung đoàn 1 của Trường Hàng không số 5 Tế Nam, và trở thành phi công của Lực lượng Không quân. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1956. Từng là phi công chiến đấu tại Căn cứ Huấn luyện Gaomi số 1 của Lực lượng Không quân, lái máy bay tiêm kích MiG-15.

Tuy nhiên, cơ thể ông không thích nghi được với tình trạng thiếu oxy do sự thay đổi của các mẫu máy bay chiến đấu, Zhang Taofang trở thành một thành viên của lực lượng phòng không và giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng của một đơn vị nhất định của lực lượng phòng không. Sau đó, ông làm giáo viên của Đại đội An ninh Căn cứ Không quân Duy Phường, học viên Trường Chính trị Không quân Thượng Hải, giảng viên của Đại đội An ninh Căn cứ Quận Sơn Đông Ngụy, Phó tham mưu trưởng Trung đoàn 9 thuộc Trung đoàn Tên lửa SHORAD và Phó Tư lệnh Mặt đất số 9 – Trung đoàn Tên lửa Phòng không.

Tháng 6/1985, ông nghỉ hưu. Năm 2003, Zhang là chủ đề của một bộ phim tài liệu của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc. Ngày 29/10/2007, ông qua đời tại Duy Phường, tỉnh Sơn Đông.

  • Cuộc sống của 14000 binh sĩ Trung Quốc không chịu về nước sau chiến tranh Triều Tiên (bài viết năm 1964)

C

1/ Yu Tse-tsai trở thành một người lính khi 19 tuổi và là một chủ nhà hàng ở Đài Loan ở tuổi 37. Yu đến từ một ngôi làng đẹp như tranh vẽ ở tỉnh Tứ Xuyên thịnh vượng. Gia đình anh khá giả và cha anh đã hy vọng biến anh thành một nông dân, như tất cả những gì tổ tiên anh từng làm. Nếu không có cuộc xâm lược của Nhật Bản, Yu sẽ bằng lòng với công việc trên cánh đồng, đã kết hôn với một cô gái hàng xóm và sống cuộc sống bận rộn nhưng yên bình của một người nông dân.

Khi được tin quân Nhật xâm lược gần vùng núi Tứ Xuyên, Yu rời nhà và gia nhập Đội quân Thanh niên, các thành viên trong đó là những thanh niên yêu nước hăng hái bảo vệ tổ quốc. Trước khi tiếp xúc với kẻ thù, Nhật Bản đã đầu hàng và chiến tranh kết thúc. Young Yu quyết định ở lại quân đội.

Khi quân của Mao Trạch Đông đi qua, đơn vị của ông đã rời đi. Yu đã gia nhập quân đội đó và thừa nhận rằng khi đó anh còn trẻ và thiếu hiểu biết, và không quan tâm lắm. Ngay sau đó anh đã nhận ra có sự khác biệt. Dưới thời chính phủ quốc dân đảng, anh được trả lương thấp, nhưng anh ta có thể suy nghĩ và hành động cho bản thân và quá khứ của anh không bao giờ bị đặt dấu hỏi. Ngay sau khi những người Cộng sản lên nắm quyền, ông đã bị chọn là “tư sản”, bị buộc tội là “phần tử giai cấp xấu”, và bị nhiều lần điều tra, buộc tội. Tất cả những điều này bởi vì gia đình ông sở hữu một vài mẫu đất.

Khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra năm 1950, Yu ở trong một trại cải tạo lao động ở Chengtu (Thành Đô), Tứ Xuyên. Những người trong trại đã được gọi vào một đêm để lắng nghe chính ủy của họ: Các đồng chí, đế quốc Mỹ đang xâm lược đồng minh lớn của chúng ta là Triều Tiên. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giúp bạn bè kháng chiến. Tôi đã báo cáo với cấp trên là các đồng chí xung phong giúp đỡ người Triều Tiên. Có phản đối gì không?. Không ai dám hé răng nửa lời. Vì vậy, họ đã băng qua sông Áp Lục vào tháng 4/1952, đối diện cái lạnh buốt giá của miền bắc Triều Tiên. Trong nhiều ngày, họ không có gì để ăn ngoại trừ bột gạo nấu chín và các loại cây dại.

Sau khi họ vượt sông Hàn, máy bay Mỹ bắt đầu tấn công họ, bắn vào xe tăng và nhiều người đã thiệt mạng. Người chết, người bị thương và người bệnh rải rác trên đường. Chẳng bao lâu sau gần một nửa trung đoàn đã biến mất. Mệt mỏi và sợ hãi, Yu cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều khi họ tiếp xúc với người Mỹ. Anh vứt bỏ khẩu súng trường của mình, giơ tay lên và bị bắt làm tù binh.

Sau nhiều tháng trong các trại tù binh chiến tranh ở Taegu và Keju và sau đó tại Panmunjom, sức khỏe của Yu bị suy giảm nghiêm trọng bởi điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh và các trại tù binh. Anh ta đã được sơ tán đến Đài Loan bằng máy bay và bỏ lỡ sự chào đón nồng nhiệt mà các đồng đội dành cho mình. Được đưa đến Bệnh viện Đa khoa đầu tiên ở Peitou (Bắc Đầu, một quận của Đài Loan), anh ta ở đó gần một năm và bình phục hoàn toàn. Việc chăm sóc đã được miễn phí. Anh vẫn cảm ơn chính phủ đã phục hồi sức khỏe cho mình.

Sau khi rời bệnh viện, dưới sự hướng dẫn của Ủy ban Hỗ trợ Nghề nghiệp cho các Quân nhân về hưu, anh dành sáu tháng huấn luyện và được đưa vào một Trang trại Hợp tác dành cho Cựu chiến binh ở miền đông Đài Loan. Anh tiết kiệm được khoảng 2.000 Đài tệ (50 đô la Mỹ) và quyết định bắt đầu kinh doanh riêng. Bạn bè cho anh vay 8.000 Đài tệ, và anh mở một nhà hàng nhỏ ở Chinmei, ngoại ô Đài Bắc. Anh ấy chuyên về đồ ăn Tứ Xuyên. Khi còn là một cậu bé, anh đã học được nhiều công thức nấu ăn từ đầu bếp của gia đình. Kinh doanh rất tốt. Mọi người đều thích thưởng thức các món ăn như cá sốt ớt cay, thịt lợn nấu chín và đậu que tẩm gia vị. Trong tám năm, anh ta đã trả hết nợ và hiện sở hữu một nhà hàng ba phòng và là ngôi nhà của mình.

Yu kết hôn với một cô gái gốc Đài Loan cách đây 3 năm rưỡi. Anh gặp vợ qua một người mai mối. Họ có một cô con gái hai tuổi và vợ anh đang mong chờ một em bé nữa vào mùa xuân năm sau. Sau một ngày bận rộn nấu nướng, Yu thư giãn với gia đình, đọc báo, nghe đài, chơi với con gái hoặc thăm bạn bè cũ từ Hàn Quốc. Bốn người đồng đội cũ của anh ta cũng sống ở Chinmei, ba người trong số họ bán rau và thịt. Yu mua thực phẩm từ họ với giá ưu đãi.

Anh nói: Hiện tại tôi đang sống thoải mái. Tuy nhiên, tôi không coi nơi này là quê hương lâu dài của mình. Một khi chính phủ phát động phản công, tôi sẽ không ngần ngại cầm vũ khí một lần nữa. Tôi sẽ đưa vợ và con tôi về quê hương Tứ Xuyên của tôi, nơi cha mẹ già của tôi đang chờ đợi tôi. Vợ anh cũng gật đầu tán thành quyết tâm của chồng.

2/ Chang Hun-chun đã đào ngũ vì ông không thể chịu đựng được sự tàn ác của Trung Quốc khi giết thương binh khi rút lui. Tại Đài Loan, anh đang thực hiện công việc cứu người của mình với tư cách là một bác sĩ y khoa. Chang không bị Trung Quốc đối xử tệ bạc. Một bác sĩ quân đội trước khi Trung Quốc tiếp quản nói anh được chào đón bởi “chính phủ nhân dân”, nơi đang rất cần những người làm nghề y. Tuy nhiên, anh bị đưa vào trại cải tạo lao động trong một tháng để lát đường, đào mương, xẻ đá. Sau đó, anh được vào một bệnh viện quân đội và được thăng cấp thiếu tá.

Khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Chang được khuyến khích “tình nguyện”. Anh đóng quân tại một bệnh viện dã chiến ở Mingyuli. Như anh nhớ lại, số lượng binh lính bị bệnh tật, suy dinh dưỡng nhiều hơn là bị thương. Anh nói, những người khoẻ mạnh thậm chí còn không cố gắng cứu những người lính bị thương nặng. Sau khoảng ba tháng, lực lượng Liên Hợp Quốc phản công. Các lệnh rút lui đã được đưa ra và những người lính khoẻ mạnh được yêu cầu tự tìm đường rút, không đả động đến 400 thương binh. Hoang mang, Chang đến gặp chính uỷ để hỏi chuyện, nhưng được cho biết hãy quan tâm đến việc của mình. Ngay sau đó một trung đội công binh đến. Chang đã bị sốc khi biết họ đặt thuốc nổ trong bệnh viện.

Quá bất lực, Chang quyết định đào ngũ. Cùng với hai y tá nam, anh chạy trốn về phía nam. Họ trốn trong một hầm trú ẩn bị không kích trong hai ngày đêm, sau đó bị quân đội Hàn Quốc bắt làm tù binh. Khi ở trong các trại tù, anh chăm sóc những người bị bệnh và bị thương. Anh được các nhà chức trách Liên Hợp Quốc đối xử tốt và được các bạn tù kính trọng. Chang không quan tâm nhiều đến chính trị, nhưng khi Trung Quốc cố gắng kêu gọi anh quay trở lại và đe dọa tính mạng của cha mẹ anh, những người vẫn đang cư trú tại quê hương ở Tứ Xuyên, anh đã từ chối. Anh là một trong những người cuối cùng được đến Đài Loan. Anh ta chỉ được thả sau khi trại đóng cửa và không cần chăm sóc y tế nữa.

Ở Đài Loan, anh được chỉ định đến Trung tâm Chiến tranh Tâm lý với tư cách là nhân viên y tế. Nhận thấy việc đào tạo y tế ở đại lục của mình không phù hợp với công việc trong một bệnh xá hiện đại, anh đã yêu cầu và được đào tạo một năm tại Trường Cao đẳng Y tế Quốc phòng. Chang đã phục vụ tại các bệnh viện quân đội khác nhau trên Đài Loan. Anh cũng làm việc trên các hòn đảo ngoài khơi Kim Môn và Mã Tổ, chữa trị cho binh lính và người dân bị thương do các cuộc bắn phá của Trung Quốc.

Chang nói sự khác biệt lớn là cách đánh giá khác nhau của họ về cuộc sống con người: Chính phủ Đài Loan đối xử với con người như một con người, và thường chi nhiều tiền và nỗ lực để cố gắng cứu lấy cuộc sống một con người, ngược lại bên kia không bao giờ ngần ngại hy sinh hàng trăm mạng sống để đạt được mục đích cuối cùng.

Chang đã nghỉ việc vào tháng 1/1960. Anh hành nghề tại thị trấn nhỏ ở miền bắc Đài Loan. Là bác sĩ duy nhất trong làng, anh khám cho khoảng 10 bệnh nhân mỗi ngày. Sau khi thanh toán chi phí sinh hoạt, anh ấy có thể tiết kiệm được 1.000 Đài tệ (25 đô la Mỹ) một tháng. Chang cũng điều hành một hiệu thuốc và có một phòng phẫu thuật nhỏ của riêng mình. Anh kết hôn với một cô gái địa phương vào năm 1961 và họ có một con gái. Các đồng đội cũ thường tìm đến bác sĩ Chang để được chăm sóc và tư vấn. Anh hiếm khi có thời gian đến thăm họ — nhưng họ biết anh đang ở đâu và họ được chào đón.

3/ Wang Shu-ching cảm thấy mình đã sai lầm khi gia nhập hàng ngũ quân đội Trung Quốc và đang cố gắng sửa đổi bằng cách vạch trần mặt trái của Trung Quốc. Kể từ khi đến được Đài Loan, anh đã tham gia giảng dạy một khóa học về Tuyên truyền chính trị của quân đội Trung Quốc tại Trường Cao đẳng Cán bộ Chính trị và đã viết ba cuốn sách.

Wang, 39 tuổi, đến từ tỉnh Hà Nam, là một quân nhân kỳ cựu và tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoàng Phố. Ông từng là trung úy trong quân đội khi nội chiến diễn ra. Cả sư đoàn của anh đầu hàng. Wang không còn lựa chọn nào khác ngoài việc gia nhập quân đội Trung Quốc. Anh nói: Tôi đã rất đau khổ. Có lần tôi từ chối bôi nhọ chính phủ cũ tại cái gọi là ‘cuộc biểu tình tố cáo’, và là nạn nhân của ‘cuộc đấu tranh’ trong hai tuần.” Cuộc họp chính trị hàng ngày đặc biệt làm anh phật ý. Wang đã được nói rằng đây là “tẩy não hàng ngày”, và “mọi người nên rửa não hàng ngày giống như khi họ rửa mặt.”

Vì “tình trạng chính trị không ổn định” của mình, anh là một trong những người đầu tiên được chuyển đến Hàn Quốc “để chống lại những kẻ xâm lược đế quốc.” Anh ấy đã đào ngũ ngay từ cơ hội đầu tiên. Sau khi đến Đài Loan, anh được điều trị vết thương, sau đó trở thành trung úy trong quân đội. Wang tình nguyện nói với đơn vị của mình về các phương pháp chính trị của Trung Quốc. Anh học giỏi đến nỗi, chẳng mấy chốc đã được tuyển dụng vào giảng dạy trong Trường Cao đẳng Cán bộ Chính trị. Một trong những cuốn sách của Wang, Giới thiệu tóm tắt về Công tác Chính trị Trung Quốc ở cấp sư đoàn, là một cuốn sách giáo khoa trong Trường Cao đẳng Cán bộ Chính trị.

Cơ thể của Wang mang ba hình xăm. Trên ngực anh ta có dòng chữ: “Đổ máu của tôi để sống theo chỉ thị của Tổng thống, nỗ lực hết mình để tôn vinh tinh thần của Học viện Hoàng Phố.” Trên cánh tay trái của ông là: “Quyết tâm trở về đất liền; phản công để tái thiết quốc gia.” Trên cánh tay phải của ông: “Có trách nhiệm, trung thành; sống danh dự, chết xứng đáng.”

4/ Chang Shih-chin, 38 tuổi, đến từ Thành Đô ở Tứ Xuyên, làm việc cho chính phủ cũ khi đó với tư cách là thư ký tại Văn phòng quận Meng khi tốt nghiệp trung học cơ sở. Cuối năm 1949, Trung Quốc chiến thắng tại Tứ Xuyên và tiêu diệt hàng chục ngàn địa chủ và nông dân giàu có. Cha anh là một bác sĩ phẫu thuật bị buộc tội điều trị những người theo quốc dân đảng và tư bản, bị đưa ra xét xử công khai.

Chang Shih-chin bị bắt nhập ngũ. Trong khi được huấn luyện và “cải tạo tư tưởng”, anh được biết cha mình đã chết vì ảnh hưởng của các cuộc tra tấn. Tài sản của gia đình, thậm chí cả đồ đạc cũng bị tịch thu. Năm 1950, Chang trở thành giảng viên văn hóa Trung đoàn 540, Sư đoàn 108, Quân đoàn 60, quân hàm Thiếu úy. Sau khi được huấn luyện đặc biệt, đơn vị của anh đã vượt sông Áp Lục ngày 27/3/1951 và tham gia Chiến tranh Triều Tiên. Hai tháng sau, anh và khoảng 3.000 người khác chiếm một đỉnh đồi và treo trên cây mọi thứ họ có màu trắng. Sự đầu hàng của họ nhanh chóng được chấp nhận.

Tại trại tù của mình, Chang Shih-chin trở thành một người hướng dẫn chịu trách nhiệm báo cáo và phân tích tin tức. Anh đã giúp chống lại các tin đồn và các báo cáo sai lệch của các điệp viên Trung Quốc, đồng thời kêu gọi các bạn tù tin tưởng vào lời hứa tự nguyện hồi hương của các lực lượng Liên Hợp Quốc. Vào tháng 10/1953, các tù binh Trung Quốc bị đưa đến Bàn Môn Điếm để thẩm vấn bởi những người Trung Quốc. Chang Shi-chin cho biết anh nhận thấy quân đội của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ Ấn Độ thân thiện với tù binh Trung Quốc và thậm chí chống Cộng sản, mặc dù chính phủ Ấn Độ đang theo đuổi các chính sách thân thiết Trung Quốc. Anh kết thân với một thông dịch viên người Ấn Độ, người này là một bác sĩ chuyên khoa về y học Trung Quốc, và trao đổi những bài thơ tiếng Trung với anh ta. Một trong những bài thơ của Chang như sau:

Ở Hàn Quốc, tôi đã qua một số mùa thu xám xịt,

Vào những ngày lễ hội, tôi cảm thấy buồn và lạc lõng hơn,

Tôi đã nghĩ về nhà và cha mẹ cách xa hàng dặm,

Và rơi những giọt nước mắt thầm lặng của tôi mỗi đêm và ngày.

Khi những người thẩm vấn của Trung Quốc nói với Chang Shih-chin rằng Trung Quốc thịnh vượng, rằng nếu anh ấy trở về sẽ được ban thưởng dồi dào, và rằng mẹ anh ấy rất nhớ anh ấy và cần anh ấy chăm sóc, Chang nói với họ rằng anh ấy muốn đến Đài Loan và không có gì có thể buộc anh ta quay trở lại. Anh thậm chí còn cố gắng thuyết phục những người thẩm vấn của mình đào tẩu, và nói với họ rằng họ sẽ phải đối mặt với sự đàn áp nếu quay trở lại Trung Quốc.

Trong năm đầu tiên ở Đài Loan, Chang làm việc tại Trung tâm tâm lý chiến tranh. Anh đã đi tham quan Đài Loan, kể cho mọi người nghe những sự thật nghiệt ngã về Trung Quốc và những thử thách cũng như chiến thắng cuối cùng của anh ấy trong việc tìm kiếm tự do. Anh cũng thực hiện các chương trình phát thanh về Trung Quốc, kêu gọi người dân tìm kiếm tự do ở mọi cơ hội. Anh đã dành một năm tiếp theo để viết hai cuốn sách: Câu chuyện thành công của các tù nhân Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và Phong trào chống Cộng sản ở Tứ Xuyên. Anh cũng đóng góp một truyện ngắn cho Tác phẩm chọn lọc của những tù nhân Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên. Một số cuốn sách của anh đã được phát sóng tới Trung Quốc.

Trong vài năm gần đây, anh đã đánh giá thông tin tình báo của đại lục và đưa ra các biện pháp đối phó trong Bộ phận thứ sáu của Quốc dân đảng. Năm 1959, Xưởng phim Trung Quốc ở nước ngoài bắt đầu quan tâm đến câu chuyện của các tù binh chiến tranh Triều Tiên. Chang Shih-chin đã giúp viết kịch bản và đóng một vai trong phim “14.000 nhân chứng”, bộ phim ăn khách ở Đài Loan. Bộ phim cũng được chiếu tại khoảng 50 đại sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc trên khắp thế giới. Đầu năm 1963, Chang Shih-chin kết hôn. Mặc dù hạnh phúc và thịnh vượng, anh vẫn chờ đợi được trở lại một Trung Quốc đại lục đã được khôi phục tự do.

5/ Wang Fu-tien, 43 tuổi, đến từ tỉnh Hà Bắc. Là con trai của một gia đình nông dân, anh được học trung cấp. Năm 1938, khi cuộc chiến tranh với Nhật Bản bước sang năm thứ hai, Đội quân số 8 của Cộng sản đã thuyết phục Vương và hai người anh của mình tình nguyện “bảo vệ tổ quốc”. Anh sớm phát hiện ra rằng Đội quân số 8 không làm gì để bảo vệ đất nước, mà đi từ làng này sang làng khác để tiến hành thanh trừng địa chủ và nông dân khá giả. Tài sản bị quân đội tịch thu.

Thời gian trôi qua, Wang trở nên căm ghét sự dối trá, nhưng ngay cả sau Ngày chiến thắng năm 1945, vẫn không có lối thoát. Tập đoàn quân số 8 tiến lên phía bắc để giải phóng các tỉnh Mãn Châu. Kiểm soát được thắt chặt. Cứ ba người của quân đội tạo thành một nhóm, và mỗi người chịu trách nhiệm về lòng trung thành và hạnh kiểm của hai người còn lại. Thư đã được kiểm duyệt. Không ai được phép đi xa hơn 200 thước từ doanh trại của mình.

Mỗi buổi tối, các sĩ quan và binh lính bị buộc phải chỉ trích bản thân và những người khác. Sự im lặng đã bị cấm. Một lần Wang Fu-tien mua một ít đậu phộng và ăn chúng một mình. Anh bị buộc tội “thiếu tình anh em” vì không chia sẻ. Để trừng phạt “hành động tư bản” của mình, anh phải dọn dẹp nhà tiêu.

Wang Fu-tien đã cùng nhóm quân đầu tiên của Trung Quốc tiến vào Triều Tiên. Ngay khi chạm trán với lực lượng LHQ, Wang và 203 người khác đã đầu hàng. Anh ta là một tù nhân trong ba năm, nhưng quyết tâm giành tự do của anh ta không bao giờ suy yếu. Anh đã trở thành một Giáo hội Trưởng lão, một nhánh Kháng Cách có nguồn gốc từ đảo Anh, đặc biệt là Scotland trong nhà thờ đó. Anh nói: Thà sống như một tù nhân chiến tranh ở Triều Tiên hơn là một người bình thường ở Trung Quốc.

Khi đến Đài Loan, anh được bổ nhiệm vào Trung tâm Tâm lý chiến tranh với cấp bậc Thiếu tá. Năm 1954, anh là một trong sáu cựu tù nhân đến thăm Nhật Bản. Trong một tháng, anh nói với người Nhật về sự tàn bạo của Trung Quốc và cuộc đấu tranh giành tự do của cá nhân. Năm 1957, anh thực hiện một chuyến đi tương tự đến Thái Lan, lần này kéo dài sáu tháng, thăm tất cả 71 tỉnh.

Khi trở về, anh nhận làm việc trong đơn vị tuyên truyền của chính phủ. Kết hôn với cô Huang Hsiu-chin, một y tá tại bệnh viện Mackay Memorial, vào năm 1958, hiện anh có một con trai và một con gái. Anh nhận thấy cuộc sống gia đình là một trong những điều tương phản rõ rệt nhất. Ở Đài Loan, anh và vợ đi xem phim 2 lần / tuần. Vào Chủ nhật, họ đến nhà thờ và đi dã ngoại. Anh nói: Không thể có cuộc sống hạnh phúc gia đình. Ở đó, đàn ông và vợ chỉ là cỗ máy sinh sản. Họ không thể yêu và tin tưởng nhau như một con người. Ngay cả khi làm vậy, họ không dám nói chuyện với nhau một cách thoải mái vì sợ ai đó nghe thấy. Họ không dám nấu những món ăn yêu thích của mình vì sợ bị buộc tội hoặc bị thẩm vấn về nguồn thu nhập của mình. Thật là một điều tuyệt vời khi có được quyền tự do không làm hoặc nói bất cứ điều gì trái với ý muốn của mình và tự do hoạch định tương lai của chính mình và làm việc để thực hiện tham vọng của chính mình. Người ta luôn có hy vọng khi người ta có tự do, và người ta có hạnh phúc khi người ta có hy vọng.

6/ Ku Chu-san, 36 tuổi, vẫn đang ở Trung tâm Tâm lý chiến tranh. Ku Chu-san gia nhập quân đội khi còn ở tuổi thiếu niên để chống lại quân xâm lược Nhật Bản. Khi nội chiến diễn ra, Ku là một trung đội trưởng và đơn vị của anh đóng tại Quý Châu, quê hương của anh. Đơn vị được lệnh di tản sang biên giới Miến Điện nhưng bị chặn đánh. Lực lượng này trở thành du kích ở khu vực ngã ba của các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu và Vân Nam. Tháng 7 năm 1950, Ku Chu-san bị bắt làm tù binh. Sau một tháng cải tạo bằng lao động và một tháng học tập chính trị, Ku được yêu cầu chuộc tội bằng cách gia nhập chí nguyện quân.

Ngày 1/3/1951, anh vượt sông Áp Lục. Đồng hồ, cây bút và một chiếc nhẫn vàng của anh ta đã bị lấy đi và được đặt trong “sự quản thúc của người dân”. Một ngày nọ, Ku nhặt được một tờ rơi trên máy bay của Liên Hợp Quốc về đảm bảo an toàn cho những người đầu hàng. Ở cơ hội đầu tiên, anh bắt đầu đi về phía nam và được một chiếc xe tăng Mỹ đón. Tại Trung tâm tâm lý chiến tranh, anh đã thiết kế nhiều tờ rơi và thực hiện nhiều chương trình phát thanh. Cấp bậc của anh là đại tá. Kết hôn với Hoa hậu Lai Chuen-hwa vào năm 1960, anh có hai con trai. Cuối năm 1963, cả hai đã xây một ngôi nhà của riêng họ gần Trung tâm Tâm lý chiến tranh.

7/ Keo Yung-fei, 35 tuổi, là kỹ sư trưởng của doanh nghiệp riêng của mình, Công ty Tái thiết Chung Yee. Chung Yee có nghĩa là trung thành trong tiếng Trung Quốc. Keo nói điều này là để nhắc nhở anh ấy về sự tận tâm của anh ấy trong phản công đại lục. Keo thành lập công ty cách đây hai năm với số vốn 15.000 USD mà anh tiết kiệm được từ năm 1954. Văn phòng của anh nằm trên đường Chung Cheng, một trong những con phố sầm uất nhất ở Đài Bắc. Anh có hai kỹ sư, sáu nhân viên, và 250 công nhân, tất cả đều là tù binh trong chiến tranh Triều Tiên.

Theo tiêu chuẩn của Đài Loan, lương ở mức trung bình, nhưng Keo tin rằng nó quá thấp. Anh nói: Tôi đã không kiếm được lợi nhuận trong hai năm qua và không hy vọng sẽ kiếm được bất kỳ lợi nhuận nào trong ba năm tiếp theo. Nhưng đây mới chỉ là bước khởi đầu. Tôi sẽ tạo ra lợi nhuận tốt trong năm năm thứ hai và sau đó sẽ trả nhiều hơn cho đồng bào của tôi. Keo rất tin tưởng rằng các dự án xây dựng của mình sẽ mang lại lợi ích cho đất nước. Anh ấy có khoảng 20 dự án đang được triển khai ở nhiều vùng khác nhau của hòn đảo và thường xuyên đến thăm chúng.

Keo phục vụ trong quân đội sau khi đến Đài Loan. Nghỉ hưu vào năm 1956, anh làm việc cho các công ty kỹ thuật khác nhau để chuẩn bị thành lập doanh nghiệp của riêng mình. Kinh nghiệm của anh bao gồm công việc trên đập Shihmen, một trong những đập lớn nhất ở Viễn Đông.

Keo vẫn chưa lập gia đình vì không có thời gian. Nhưng anh có một người bạn gái ở Cao Hùng và hy vọng sẽ kết hôn trong vài năm nữa. Sở thích của anh ấy là đọc và trao đổi thư từ. Anh đã kết bạn với nhiều người bạn nước ngoài khi ở Hàn Quốc. Là người gốc ở tỉnh Lan Châu, anh được học tại một trường dạy nghề, chuyên về kỹ thuật cơ khí. Năm 15 tuổi, gia nhập Lực lượng Không quân Quốc dân với tư cách thợ máy.

Sau khi kết thúc nội chiến, Keo tham gia du kích ở phía tây bắc. Bị bắt, anh bị buộc phải gia nhập quân đội và được gửi đến Hàn Quốc 9 tháng sau đó. Anh ta bỏ trốn gần Kaesong sau nửa năm. Cha mẹ Keo, ba người em trai và một người chị gái vẫn ở trên Trung Quốc. Anh rất mong được đoàn tụ với gia đình.

8/ Li Ting-wen trở thành một người lính ở tuổi 14. Hai mươi năm sau, anh sở hữu một cửa hàng tạp hóa tại bến xe buýt đường cao tốc ở Bắc Đầu gần Đài Bắc. Li bắt đầu kinh doanh vào năm 1959, ngay sau khi giải ngũ. Anh đã tiết kiệm được một số tiền và có thêm vốn từ bạn bè. Với lợi nhuận và một khoản lương hưu nhỏ từ chính phủ, thu nhập của anh ấy vượt qua 50 đô la Mỹ một tháng, trên mức trung bình của Đài Loan.

Li kết hôn năm 1960 và có một con trai và một con gái. Anh làm việc chăm chỉ nhưng coi cuộc sống của mình là tốt. Có đủ tiền để mua thức ăn, quần áo và thậm chí là giải trí. Trái ngược với đại lục, Li nói, anh ấy sống một cuộc sống dư dả. Với mong muốn mở rộng cửa hàng của mình, anh cũng có kế hoạch cho các con mình học hành nâng cao.

Li là người gốc Tứ Xuyên. Anh 19 tuổi và chỉ có trình độ tiểu học khi nội chiến kết thúc. Điều này khiến anh trở nên “đáng tin cậy về mặt chính trị” trong mắt chính quyền mới, và anh được cử đến Hàn Quốc với tư cách là một chính ủy. Một đêm sau một trận chiến, anh ấy đang giúp sơ tán những người lính bị thương và tận dụng cơ hội để đào tẩu.

9/ Kao Win-jium, 33 tuổi, là sinh viên năm thứ 5 của Đại học Soochow ở Đài Bắc, chuyên ngành luật và hy vọng sẽ đi du học sau khi tốt nghiệp vào mùa hè năm sau. Là một sinh viên xuất sắc nhất, anh cũng là chủ tịch của Hiệp hội Sinh viên Nội trú. Anh nhận được học bổng học phí và thanh toán các chi phí khác của mình từ thu nhập bán thời gian.

Kao là thành viên của phái đoàn thiện chí gồm 5 người là các cựu tù binh Triều Tiên đã đi Mỹ, Canada, Cuba, Jamaica, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan và Hongkong vào năm 1954. Anh nói rằng anh ấy có thể chỉ nói được một chút tiếng Anh vào thời điểm đó và quyết tâm học tập khi trở về. Trong thời gian phục vụ trong quân đội, anh đã học ở trường ban đêm và hiện nói tiếng Anh thành thạo. Anh giải ngũ năm 1958 nhưng nói: Tôi sẵn sàng cầm vũ khí trở lại bất cứ khi nào đất nước cần tôi.

Kao sẽ làm bài kiểm tra của Bộ Giáo dục vào mùa hè năm sau cho các học sinh đi nước ngoài. Nếu đậu, anh sẽ sang Mỹ ba năm, sau đó trở về làm việc là trở thành một luật sư. Kao vẫn chưa kết hôn. Anh nói: Mục đích của tôi không phải là lập nghiệp trên hòn đảo này mà là cùng người dân nơi đây chiến đấu trở về Trung Quốc.

Sinh ra trong một gia đình khá giả ở Thẩm Dương, anh đã chạy trốn ngay sau khi học xong cấp hai. Sau khi Tứ Xuyên được giải phóng, anh đã thấy nhiều người bị giết hại và thường tự hỏi khi nào thì đến lượt mình. Anh được tha vì tuổi còn trẻ và sau đó bị buộc phải tham gia quân đội với tư cách là một chính ủy. Anh cho biết mình không được đào tạo gì cả, nhưng đã được “cải tạo” trước khi được cử sang Hàn Quốc vào tháng 2/1951.

Kao đã nghĩ đến việc đào tẩu ngay khi đến Hàn Quốc. Ông nói rằng quân đội đã giết một số binh sĩ để làm một ví dụ cho nhiều người đang nghĩ đến việc đào ngũ. Khi Trung Quốc bị đánh bại trong một trận chiến ở phía bắc Seoul, quân đội đã rút lui. Anh và một số người bạn bắt đầu đi theo hướng khác. Họ biết cơ hội là khi đó hoặc không bao giờ.

Link:

  • Câu chuyện về những binh sĩ Trung Quốc đến Đài Loan

266366677_359277945864539_3847401708274326593_n

Vào thời điểm cuộc xung đột kéo dài 33 tháng kết thúc, hơn 400.000 binh sĩ Trung Quốc đã thiệt mạng hoặc bị thương. Khoảng 25.600 người mất tích, bao gồm 21.300 người đã trở thành tù nhân chiến tranh. Nhiều binh lính Trung Quốc bị bắt giữ trong Chiến tranh Triều Tiên quyết định không hồi hương về Trung Quốc, thay vào đó hướng đến Đài Loan để phục vụ Quốc Dân Đảng.

Sau hơn hai năm trong trại tù binh trên đảo Jeju của Hàn Quốc ngày nay, Lee Mao-jen nhớ lại khoảnh khắc ông được tự do. Nhóm 30 người của ông bước ra khỏi hàng rào thép gai và chụp ảnh chung. Lee nói trong một cuốn sách lịch sử được xuất bản bởi Academia Historica: Họ nói với chúng tôi rằng hãy đi sang phải nếu chúng tôi muốn đến Đài Loan và bên trái nếu chúng tôi muốn đi nơi khác. Đó không phải là một quyết định khó khăn. Từng là một người lính Quốc Dân Đảng, Lee đã bị những người cộng sản bắt giữ vào cuối cuộc Nội chiến Trung Quốc và buộc phải phục vụ trong quân đội. Chỉ một năm sau, ông được lệnh hỗ trợ những người cộng sản Triều Tiên trong Chiến tranh Triều Tiên, nơi ông trở thành một trong khoảng 21.300 binh sĩ Trung Quốc bị đưa vào các trại tù binh. Ông nghĩ về điều gì sẽ xảy ra với mình nếu chọn Trung Quốc. Từ ngày 23 tháng 1 đến ngày 27 tháng 1 năm 1954, khoảng 14.000 tù nhân Trung Quốc, bao gồm cả Lee, đã xuống cảng Keelung. Ngày 23 tháng 1 đã được coi là Ngày Tự do Thế giới ở Đài Loan và Hàn Quốc kể từ đó.

Phần lớn các cuộc đàm phán hòa bình sau khi ngừng bắn tập trung vào các tù nhân chiến tranh, vì Mỳ và LHQ đã bắt được nhiều hơn kẻ thù của họ. Nhà sử học Chou Hsiu-huan viết: Người Mỹ muốn cho các tù nhân lựa chọn nơi đi vì tôn trọng sự lựa chọn cá nhân, gia tăng lực lượng quân sự của Trung Hoa Dân Quốc và ngăn những người này trở thành nạn nhân của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ cũng tin rằng chiến thuật này sẽ là động cơ thúc đẩy kẻ thù đầu hàng trong tương lai.

Sau hai năm đàm phán, Mỹ đã tìm được cách của mình. Khoảng 7.000 tù nhân quyết định trở về Trung Quốc, trong khi số còn lại quyết định về Đài Loan. Chou viết rằng khoảng hai phần ba số người đến là những người lính Quốc Dân Đảng bị bỏ lại ở Trung Quốc, và xung đột thường nổ ra trong các trại giữa những người lính ủng hộ cộng sản và chống cộng sản.

Lý do khiến nhiều người quyết định chọn Đài Loan không phải là một câu hỏi dễ trả lời và tùy thuộc vào người bạn nói chuyện. Phiên bản chính thức của KMT nói họ chạy về phía tự do. Một số người nói rằng họ không hài lòng về việc bị quân đội Trung Quốc đối xử và tin rằng Đài Loan mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một số người nói rằng nhiều người quyết định quay trở lại Trung Quốc hoặc là những người lính tình nguyện chưa từng chiến đấu cho Quốc Dân Đảng, hoặc những thanh thiếu niên muốn trở về với gia đình của họ.

Hầu hết các tù nhân đều có hình xăm chống cộng trên cơ thể để thể hiện lòng trung thành với chính phủ mới của họ, nhưng các báo cáo cũng cho thấy một số trong số họ đã bị các tù nhân chống cộng cưỡng bức xăm mình trong các cuộc xung đột và không có lựa chọn nào khác ngoài việc chọn Đài Loan.

Tất nhiên, phía Trung Quốc cho rằng việc kẻ thù “cải tạo” các tù nhân với nội dung tuyên truyền chống cộng sản – đó không phải là một lời buộc tội suông. Chang Pu-ting, một cựu tù nhân, nhớ lại việc phải tham gia “các lớp giáo dục chính trị” do những người hướng dẫn từ Đài Loan giảng dạy, cùng với các buổi học Kinh thánh bắt buộc.

Vào ngày 6 tháng 8 năm 1953, Quốc Dân Đảng tuyên bố rằng công dân nên gọi những tù nhân này là “những liệt sĩ chống cộng đáng kính”, “những chiến binh chống cộng” và “những người đồng hương thân yêu của chúng tôi”. Thuật ngữ đầu tiên sau đó sẽ được áp dụng cho những người lính Trung Quốc đào tẩu sang Đài Loan.

Tung Hsiang-lung, bộ trưởng của Hội đồng các vấn đề cựu chiến binh và cựu đô đốc hải quân, đã tóm tắt tầm quan trọng của những “liệt sĩ” này đối với chính phủ vào thời điểm đó trong một ấn phẩm kỷ niệm 60 năm. Họ giống như một động lực cho trái tim trong thời kỳ bất ổn của đất nước vào đầu những năm 1950. Họ đã cho chúng tôi niềm tin, hy vọng và cơ hội để cộng đồng quốc tế hiểu lại và chấp nhận chúng tôi. Tinh thần của họ lựa chọn dân chủ trên chế độ độc tài và chết vì tự do vẫn là động lực hướng dẫn trong xã hội loài người ngày nay, và chúng ta không nên quên những người này.

Câu chuyện của họ đã được dựng thành phim vào năm 1961, và những người lính được ca ngợi rộng rãi như những anh hùng và tấm gương của những công dân chính nghĩa. Một cuốn sách gồm các bài tiểu luận của những người lính được xuất bản vào năm 1986, chủ yếu mô tả chi tiết về cuộc sống mới và tình yêu tự do của họ. Hầu hết trong số họ tiếp tục là những người lính ở Đài Loan cho đến khi họ nghỉ hưu.

Link:
  • Liên Xô đã giúp đỡ Trung Quốc thế nào trong Chiến tranh Triều Tiên?

1

Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, quân đội Mỹ đã trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến và nhanh chóng đẩy quân Triều Tiên tới sông Áp Lục (giáp Trung Quốc). Sau khi Bộ Chính trị ĐCS Trung Quốc, quyết định đưa quân đến Triều Tiên làm nhiệm vụ “Viện Triều – kháng Mỹ”, Trung Quốc ngay lập tức tiến hành chuẩn bị vũ khí và trang bị.

Ngày 10/10/1950, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai và Tư lệnh Lâm Bưu đến Moscow, sau đó bay đến Biển Đen để hội đàm với nhà lãnh đạo Liên Xô Stalin, yêu cầu Liên Xô hỗ trợ. Đây là cuộc gặp của lãnh đạo cấp cao đầu tiên giữa Trung Quốc và Liên Xô, sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/1949). Ngày 7/11/1950, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông gọi điện cho Stalin, yêu cầu Liên Xô cung cấp cho Trung Quốc vũ khí và trang bị bộ binh cho 12 quân đoàn (tương đương 36 sư đoàn độc lập) sử dụng, trong các chiến dịch tại chiến trường Triều Tiên trong vòng ba tháng.

Một danh sách cung cấp được phía Trung Quốc đề nghị phía Liên Xô giúp đỡ bao gồm: 140.000 khẩu súng trường K44 với 58 triệu viên đạn; 26.000 súng tiểu liên PPSh-41 cùng 80 triệu viên đạn; 7.000 khẩu súng máy DP‎ cùng 37 triệu viên; 2.000 súng máy hạng nặng 12,7 mm DShK cùng 20 triệu viên đạn; 1.000 khẩu súng ngắn TT-33 và 100.000 viên đạn, 1.000 tấn thuốc nổ TNT.

Ngày 1/2/1951, Thủ tướng Chu Ân Lai và Tướng Shakharov, Tổng cố vấn Liên Xô tại Trung Quốc, thay mặt cho chính phủ Trung Quốc và Liên Xô, ký một thỏa thuận tại Bắc Kinh về việc Liên Xô cung cấp các khoản vay quân sự cho chính phủ Trung Quốc. Thỏa thuận xác định rằng, Liên Xô sẽ cung cấp cho Trung Quốc khoản vay 1,235 tỷ rúp, để mua thiết bị quân sự, đạn dược và thiết bị đường sắt mà Trung Quốc cần trong cuộc “Kháng Mỹ viện Triều”.

Sau khi “Chí nguyện quân (Quân tình nguyện Trung Quốc)” Trung Quốc đến Triều Tiên, Liên Xô đã thực hiện lời hứa hỗ trợ vũ khí và trang thiết bị, bảo đảm cho Chí nguyện quân Trung Quốc có thể “trụ vững” trước những đợt tiến công của Mỹ và liên quân. Từ năm 1950 đến năm 1951, Trung Quốc đã được Liên Xô trang bị cho 12 sư đoàn không quân và 36 tàu phóng lôi. Từ năm 1951 đến năm 1954, Trung Quốc đã nhập khẩu vũ khí và trang bị đủ cho 60 sư đoàn bộ binh và vũ khí hạng nhẹ cho 36 sư đoàn bộ binh từ Liên Xô.

Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc chiến tranh hiện đại, lực lượng “Liên hợp quốc” do Mỹ lãnh đạo, được trang bị vũ khí tối tân; việc Quân đội Trung Quốc tiếp tục sử dụng vũ khí và trang bị cũ từ nhiều nguồn, rất bất lợi cho các hoạt động của “Chí nguyện quân”. Do đó, trong hoàn cảnh Trung Quốc vừa bước ra khỏi cuộc nội chiến, có nền công nghiệp cực kỳ yếu kém, nên sự trợ giúp về vũ khí của Liên Xô, thực sự là một trợ giúp rất quý báu.

Không chỉ yêu cầu viện trợ vũ khí, trang bị; khi Trung Quốc yêu cầu Liên Xô hỗ trợ quân sự, họ luôn coi việc hỗ trợ không quân là điều kiện quan trọng. Các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của ưu thế trên không và hứa sẽ cung cấp hợp tác không chiến cho Quân chí nguyện Trung Quốc.

Lực lượng Không quân Liên Xô tham gia chiến tranh Triều Tiên là Quân đoàn Không quân chiến đấu độc lập số 64 khá bí ẩn. Tiền thân của Quân đoàn không quân chiến đấu 64 là Sư đoàn Không quân Số 5 của Quân khu Mátxcơva, đến vùng đông bắc Trung Quốc, tiếp đó là Sư đoàn Không quân tiêm kích số 28 và 50. Bộ chỉ huy lục quân được đặt tại Thẩm Dương của Trung Quốc.

Một nhiệm vụ chiến đấu quan trọng khác của Quân đoàn không quân chiến đấu 64 là hỗ trợ Lực lượng Không quân non trẻ Trung Quốc trong chiến đấu. Ngày 20/9/1951, Lực lượng Không quân Trung Quốc được trang bị tiêm kích MiG-15, chính thức ra quân chiến đấu.

Để lực lượng Không quân Trung Quốc có thể chiến đấu và trưởng thành nhanh nhất có thể, khi đối đầu với những chiếc máy bay chiến đấu phản lực F-86 hiện đại nhất của Mỹ, các phi công Liên Xô đảm nhiệm tiến công chủ yếu, các phi công của Không quân Trung Quốc có nhiệm vụ tiếp viện.

Trên thực tế, với tư cách là một nước láng giềng gần gũi của Triều Tiên và là “anh cả” của phe xã hội chủ nghĩa, Liên Xô trực tiếp không tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên, nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho liên quân Trung – Triều chiến đấu; đồng thời góp phần quan trọng trong giúp Quân đội Trung Quốc phát triển hùng mạnh như ngày nay.

  • Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) dưới góc độ trật tự quan hệ quốc tế

Trong quá khứ, bán đảo Triều Tiên đặt dưới ách đô hộ của đế quốc Nhật, từ năm 1910 đến 1945. Khi Thế chiến thứ 2 kết thúc và nước Nhật đầu hàng quân đội đồng minh, Liên Xô và Mỹ đã tiến vào bán đảo Triều Tiên để giải giáp quân đội Nhật. Thực hiện thỏa ước với các nước trong khối Đồng minh được đưa ra trong Hội nghị Yalta (tháng 2/1945) và sau đó là Hội nghị Potsdam (tháng 7 và 8/1945), lãnh đạo liên minh chống PX cùng quyết định: sau khi đánh bại Đệ tam đế chế khoảng 2-3 tháng, Liên Xô sẽ tuyên chiến với quân phiệt Nhật. Đầu tháng 4/1945, chính phủ Liên Xô tuyên bố xóa bỏ hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Liên Xô và Nhật Bản; từ tháng 5 đến tháng 6 năm đó, Liên Xô đưa quân đội và vũ khí đến Viễn Đông với mục tiêu hoàn thành hai nhiệm vụ: Giải phóng Triều Tiên khỏi ách thống trị của đế quốc Nhật; đánh đuổi quân đội và chính quyền do Nhật dựng lên trên đất Triều Tiên và vùng lãnh thổ tiếp giáp Trung Quốc.

Ngày 8/8/1945, Liên Xô thực hiện nghĩa vụ đồng minh tuyên chiến với Nhật. Hướng tấn công chủ yếu của quân đội Liên Xô gồm Đông Bắc Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Sakhalinsk và quần đảo Kuril. Bộ chỉ huy quân đội Liên Xô điều một lực lượng tinh nhuệ, tàu chiến và lực lượng không quân của hạm đội Thái Bình Dương, phương diện quân thứ nhất Viễn Đông đến Bắc Triều Tiên. Ngày 12/8, thành phố cảng Unggi và Rajin của Triều Tiên gần với biên giới Liên Xô được giải phóng. Ngày 13/8, hai bên đã giao tranh quyết liệt để giành Chongjin.

Ngày 14/8/1945, Nhật hoàng đã ban hành sắc lệnh đình chiến, thông tin này ngày thứ hai mới được chuyển đến Triều Tiên. Tuy nhiên, quân đội Nhật đóng tại Triều Tiên không phục tùng mệnh lệnh, đến ngày 18/8 mới dừng hẳn những hành động kháng cự. Thậm chí quân đội Nhật đóng tại cảng Wonsan – cảng lớn nhất nằm ở bờ biển phía Đông Triều Tiên – đến ngày 22/8 mới đầu hàng quân đội Liên Xô. Để tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật, ngày 24/8, lực lượng đổ bộ đường không của quân đội Liên Xô đã nhảy dù xuống Bình Nhưỡng và Hamhung. Ngày 25/8, quân đội Nhật ở khu vực phía Bắc Triều Tiên mới hoàn toàn giải giáp

Theo thỏa thuận của Hội nghị Moscow 1945, hai cường quốc này sẽ thực hiện chế độ quân quản trên bán đảo Triều Tiên với thời gian ủy trị 5 năm, Liên Xô ở miền Bắc, còn Mỹ ở miền Nam, sau thời hạn 5 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước Triều Tiên. Đất nước Triều Tiên tạm thời bị chia cắt dọc theo vĩ tuyến 38. Một tháng trước đó, sử dụng một bản đồ của Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ để tham khảo, hai đại tá Dean Rusk và Bonesteel đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Chính phủ Mỹ đến lúc này không biết chắc là phía Liên Xô có tôn trọng lời đề nghị đã được mình đưa ra trước đó hay không. Dean Rusk, sau này là Ngoại trưởng Mỹ viện dẫn, quân đội Mỹ lúc đó phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt quân nhu, thực phẩm được cung cấp tại chỗ cũng như gặp phải các yếu tố bất lợi về thời gian và vị trí địa lý khiến họ khó có thể tiến nhanh về phía bắc nhanh chóng trước khi quân đội Liên Xô tiến vào khu vực này. Phía Liên Xô đồng ý lấy vĩ tuyến 38 làm đường phân giới tạm thời giữa hai vùng chiếm đóng trên bán đảo Triều Tiên, một phần vì họ muốn có vị thế tốt hơn để thương thuyết với Đồng minh về kế hoạch tiếp quản các nước Đông Âu từng sống dưới ách chiếm đóng của Đức.

Lúc này, do có nhiều lợi ích mâu thuẫn, cả Mỹ và Liên Xô đều can dự ở những mức độ khác nhau vào việc giải quyết các vấn đề quốc tế. Riêng về mặt quân sự, lúc thì nước này ra mặt, lúc thì nước kia ra mặt. Song, phương châm chung là cả Mỹ và Liên Xô đều tối kị đụng đầu trực tiếp. Cả Mỹ và Liên Xô đều không muốn để đối thủ của mình nắm trọn vẹn bán đảo Triều Tiên. Chính vì thế, ngay từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc thì Triều Tiên đã được các nước lớn đưa lên bàn cân. Tiếp đó, cả Mỹ và Liên Xô đều có những hoạt động để biến bán đảo Triều Tiên đi theo một quỹ đạo do mình đạo diễn; nếu không được, thì ít nhất cũng phải biến vùng lãnh thổ do mình kiểm soát không thể phát triển theo chiều hướng ngược lại.

Khi đó ở 2 miền Triều Tiên quần chúng đã tự hình thành các “ủy ban nhân dân” nhằm chuẩn bị tiếp quản nước Triều Tiên sau khi được giải phóng. Từng quằn quại dưới sự cai trị hà khắc của đế quốc Nhật nên nhân dân 2 miền Triều Tiên đều rất khát khao độc lập. Ở miền Bắc, các “ủy ban nhân dân” nói trên có thái độ thân thiện với lực lượng quân quản Liên Xô. Tuy nhiên, tình hình ở miền Nam thì lại khác. Chế độ quân quản của Mỹ nhận thấy các yếu tố cánh tả trong các “ủy ban nhân dân” do quần chúng lập nên, và đã ra sắc lệnh giải tán các tổ chức này. Thay vào đó, Mỹ đã chủ động xây dựng ở đây 1 chính quyền lâm thời do Lý Thừa Vãn đứng đầu. Quần chúng lập tức tiến hành biểu tình hoặc vũ trang nổi dậy chống lại chế độ quân quản của Mỹ và chính quyền lâm thời Lý Thừa Vãn. Lực lượng của Mỹ và của ông Lý Thừa Vãn đã nhanh chóng trấn áp các cuộc biểu tình và nổi dậy này.

Lý Thừa Vãn và nhóm của ông này cho rằng, 35 năm cai trị của Nhật Bản là đủ lắm rồi và không muốn có thêm một thời kỳ chiếm đóng nào nữa của nước ngoài. Do đó họ phản đối chính chế độ ủy trị do Mỹ thực hiện. Kết quả là Mỹ nhất trí rút ngắn thời hạn ủy trị và tiến hành tổng tuyển cử ở miền Nam Triều Tiên vào năm 1948. Liên Xô đã phản đối và tẩy chay cuộc bầu cử này, cho rằng Mỹ phải tôn trọng thỏa thuận tại Hội nghị Moscow 1945.

Bất chấp sự tẩy chay của lực lượng cánh tả địa phương, cuộc bầu cử quốc hội đã diễn ra ở Nam Triều Tiên vào tháng 5/1948. Quốc hội này bầu ra Tổng thống vào tháng 7/1948 (Lý Thừa Vãn đắc cử vào vị trí này). Đến tháng 8/1948 thì Đại Hàn Dân quốc (Hàn Quốc) chính thức ra đời. Trước diễn biến trên, miền Bắc Triều Tiên đã đáp lại bằng 1 cuộc bầu cử quốc hội, và vào tháng 9/1948, CHDCND Triều Tiên tuyên bố thành lập, do lãnh tụ Kim Nhật Thành đứng đầu (CHDCND Triều Tiên tuyên bố cuộc bầu cử quốc hội của nước này không chỉ diễn ra công khai ở miền Bắc mà còn được tiến hành bí mật ở cả miền Nam). Trong năm 1948, các lực lượng Liên Xô rút khỏi Triều Tiên. Sang năm 1949, Mỹ rút quân khỏi bán đảo này.

Cả ông Lý Thừa Vãn và Kim Nhật Thành đều có mong muốn cháy bỏng thống nhất bán đảo Triều Tiên. Các xung đột vũ trang nhỏ lẻ đã diễn ra dọc giới tuyến quân sự giữa quân đội 2 miền. Ngày 25/6/1950, Quân đội Nhân dân Triều Tiên (tức quân đội của CHDCND Triều Tiên) vượt vĩ tuyến 38 tiến đánh Hàn Quốc. Với hỏa lực mạnh, sức cơ động cao, và lực lượng đông hơn, quân đội Triều Tiên đã nhanh chóng đột kích, chiếm gọn thủ đô Seoul của Hàn Quốc chỉ sau vài ngày khai chiến. Đến ngày 10/9/1950, quân đội Triều Tiên đã gần như tràn ngập toàn bộ lãnh thổ Hàn Quốc và dồn quân đội Hàn Quốc cùng với 1 lực lượng nhỏ của Mỹ về khu vực Busan nằm ở cực nam bán đảo Triều Tiên.

Trước tình hình Hàn Quốc nguy ngập, Mỹ đã can thiệp một cách quyết tâm. Một mặt, Mỹ muốn bảo vệ đồng minh của mình tại đây. Mặt khác Mỹ lo phong trào XHCN sẽ lan rộng sang các nước khác, đặc biệt là nước Nhật gần đó mà Mỹ muốn sử dụng làm đối trọng với Liên Xô trong chiến lược toàn cầu của mình. Ngày 25/6/1950, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết 82 lên án CHDCND Triều Tiên xâm lược Hàn Quốc và kêu gọi Triều Tiên rút quân ngay lập tức. (Liên Xô lúc đấy đã không thể phủ quyết nghị quyết này do Liên Xô tẩy chay Hội đồng Bảo an từ đầu năm 1950 để phản đối việc Đài Loan chứ không phải Trung Quốc được giữ ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an).

Tiếp đó, Hội đồng này vào ngày 27/6/1950 ra tiếp nghị quyết 83, cho phép hỗ trợ (bao gồm cả hỗ trợ quân sự) cho Hàn Quốc đẩy lui quân Triều Tiên. Sang đầu tháng 7/1950, Nghị quyết 84 của Hội đồng Bảo an được ban ra, khuyến nghị tập hợp các lực lượng và nguồn lực trợ giúp dưới 1 bộ chỉ huy thống nhất do Hoa Kỳ lãnh đạo. Kết quả, dưới danh nghĩa Liên Hợp Quốc, Mỹ đã lôi kéo được 21 nước khác tham gia cùng mình tại chiến trường Triều Tiên. Trong tổng số 22 nước này, ngoài Mỹ và Hàn Quốc thì có tới 15 nước thành viên Liên Hợp Quốc gửi quân sang trực tiếp chiến đấu tại Triều Tiên, số còn lại cung cấp trợ giúp nhân đạo. Tuy nhiên quân số của Mỹ và Hàn Quốc vẫn là chủ đạo.

Liên Xô bề ngoài tỏ ra không đếm xỉa gì đến vấn đề Triều Tiên, coi đó là công việc nội bộ của Triều Tiên. Song trên thực tế Liên Xô luôn tìm mọi cách để xác lập vị thế của mình trên bán đảo Triều Tiên. Biểu hiện trước hết là, cuối năm 1948, khi cho rút hết quân đội của mình về nước, thì Liên Xô vẫn để lại rất nhiều xe tăng và vũ khí đạn dược cho quân đội Bắc Triều Tiên. Đồng thời Liên Xô tích cực xây dựng một lực lượng quân đội mạnh cho Bắc Triều Tiên để đề phòng nguy cơ tấn công từ phía Nam Triều Tiên. Tới tháng 9/1949, quân đội Bắc Triều Tiên đã có khoảng 90.000 người, trang bị đầy đủ các loại vũ khí nặng, nhẹ. Liên Xô cũng không ngừng “bật đèn xanh” cho Kim Nhật Thành tấn công Nam Triều Tiên khi thời cơ thuận lợi.

Ngày 5 và 12/1/1950, Tổng thống Mỹ Truman tuyên bố vành đai an toàn của Mỹ không bao gồm Nam Triều Tiên và Đài Loan, Mỹ sẽ không dùng hành động quân sự trực tiếp bảo vệ khu vực này, thì Liên Xô đã coi đây là điều kiện thuận lợi để thống nhất Triều Tiên. Liên Xô đã tăng nguồn viện trợ quân sự cho Triều Tiên lên tới 300 triệu rúp và đánh động Bắc Triều Tiên chuẩn bị tiến hành thống nhất lãnh thổ. Tuy thế, Stalin vẫn thận trọng nhắc Kim Nhật Thành chỉ được dùng hình thức phản công khi Nam Triều Tiên tấn công trước.

Đến đầu năm 1950, trước khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Liên Xô đã viện trợ thêm vũ khí và cử hơn 3.000 cố vấn quân sự sang giúp Bắc Triều Tiên (tính ra trung bình cứ 45 lính Bắc Triều Tiên có 1 cố vấn quân sự Liên Xô). Trung tướng Nikolai Alekseevich Vasilev dẫn đầu đoàn cố vấn quân sự Liên Xô đã lập kế hoạch tác chiến, trong đó dự định trong vòng từ ngày 22 đến 27/6/1950 sẽ chiếm xong Nam Triều Tiên. Trong các bức điện ngày 1 và 6/7, Stalin viết: Liên Xô sẽ “hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của Bắc Triều Tiên về vận chuyển vũ khí và các trang bị quân sự khác”, “sẽ cung cấp toàn diện các loại vũ khí, xe tăng v.v…”.

Viện trợ quân sự của Liên Xô trong năm 1950 lên tới kỷ lục 870 triệu rúp. Nhờ vậy quân đội Bắc Triều Tiên nhanh chóng chiếm gần hết Nam Triều Tiên, trừ khi tới mỏm Pusan tận cùng phía nam mới gặp kháng cự đáng kể. Tuy vậy, Stalin không muốn công khai việc Liên Xô giúp Bắc Triều Tiên về quân sự. Ông cấm các cố vấn quân sự Liên Xô vượt vĩ tuyến 38 với lý do “không muốn để lại chứng cứ để người ta tố cáo Liên Xô tham dự cuộc chiến tranh này, đây là việc của Kim Nhật Thành”. Vì vậy, khi quân Bắc Triều Tiên bị sa lầy ở Nam Triều Tiên (tháng 7/1950) cần sự cố vấn của chuyên gia quân sự Liên Xô, thì một số cố vấn Liên Xô đã phải cải trang thành các phóng viên để vượt vĩ tuyến 38 xuống giúp Bộ tham mưu mặt trận quân Bắc Triều Tiên.

Sang năm 1951, trước việc quân đội Triều – Trung gặp khó khăn khi phải chống đỡ với không quân Mỹ, Liên Xô đã tiến thêm một bước bằng việc chi viện không quân cho Bắc Triều Tiên. Tuy vậy, Moskva vẫn tìm mọi cách tránh nảy sinh xung đột công khai với Washington. Liên Xô đã cử những phi công ưu tú giả làm khách du lịch và đi tàu sang Trung Quốc. Các phi công Liên Xô được chọn đều mang một tấm thẻ, bên trên in tên Trung Quốc của mình cũng như những từ ngữ chuyên dùng khi bay bằng tiếng Hán và tiếng Triều Tiên. Ngoài ra, nhằm tránh bị lộ chân tướng, trong quá trình tác chiến, khi liên lạc qua vô tuyến điện, các phi công Liên Xô phải sử dụng tiếng Hán hoặc tiếng Triều Tiên. Không quân Liên Xô dưới vỏ bọc không quân Trung Quốc đã gây nhiều tổn thất cho không quân Mỹ ở Triều Tiên.

Đặc biệt là trận giao chiến ngày 12/4/1951 đã trở thành ngày “Thứ 5 đen tối” trong lịch sử không quân Mỹ. Một vấn đề đặt ra là người Mỹ có biết quân đội Liên Xô đã tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên? Câu trả lời là có. Ngay từ cuối năm 1950, qua các nguồn tin tình báo, Lầu Năm Góc đã kết luận quân Liên Xô đã tham chiến. Các đài chặn thu sóng vô tuyến điện của Mỹ đã ghi lại được nhiều đoạn đối thoại bằng tiếng Nga của các phi công Liên Xô khi tác chiến trên chiến trường Triều Tiên. Phi công Mỹ cũng nhiều lần nhìn thấy những khuôn mặt da trắng trong buồng lái của máy bay quân chí nguyện. Tuy nhiên, Washington không một lần đề cập tới việc tham chiến của Liên Xô. Bởi Nhà Trắng biết rằng nếu công bố, nhân dân Mỹ sẽ yêu cầu họ phải có hành động trong khi họ không muốn đẩy những cuộc đụng độ với Kremlin tới bờ vực nguy hiểm của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba.

Sự tham chiến của lực lượng Liên Hợp Quốc đã làm thay đổi cục diện chiến trường. Quân Liên Hợp Quốc do Mỹ chỉ huy đã phản công đẩy lui quân đội Triều Tiên về phía Bắc vĩ tuyến 38 và gây thiệt hại nặng cho lực lượng quân sự Triều Tiên. Trước thắng lợi này, phía Hàn Quốc lại mơ về khả năng thống nhất toàn bán đảo Triều Tiên và đã cùng với quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38 tiến đánh CHDCND Triều Tiên. Quân Liên Hợp Quốc sau đó đã chiếm được thủ đô Bình Nhưỡng và đẩy quân đội của ông Kim Nhật Thành về sát sông Áp Lục, ranh giới tự nhiên giữa Triều Tiên và Trung Quốc.

Trước thực tế đó, Trung Quốc dù mới thành lập nước vào năm 1949, đã quyết định tung hàng trăm ngàn “chí nguyện quân” (lực lượng quân tình nguyện) sang Triều Tiên để thực hiện “kháng Mỹ viện Triều” – đây là điều khá bất ngờ đối với Mỹ. Sử dụng một số chiến thuật hợp lý và có lợi thế quân đông, Trung Quốc đã giúp Triều Tiên đẩy lùi quân Liên Hợp Quốc về vĩ tuyến 38. Thừa thắng, liên quân Trung-Triều đã vượt vĩ tuyến 38, tái chiếm Seoul. Có thể nói, Chiến tranh Triều Tiên là 1 cuộc chiến diễn ra với tốc độ nhanh, với quyền kiểm soát lãnh thổ thay đổi liên tục giữa đôi bên (riêng Seoul đã đổi chủ tới 4 lần). Đến đây, quân Liên Hợp Quốc thay đổi một số chiến thuật, tăng cường thêm vũ khí mạnh, và nỗ lực cao để đẩy quân đội Triều Tiên và Trung Quốc trở lại vĩ tuyến 38. Chiến sự sau đó giằng co quanh khu vực giới tuyến quân sự, và Hiệp định đình chiến (chứ không phải hòa ước) đã được ký kết giữa các bên vào ngày 27/7/1953. Riêng Lý Thừa Vãn – Tổng thống Hàn Quốc khi ấy – đã khước từ ký vào Hiệp định này.

Chiến tranh Triều Tiên còn có 1 đặc điểm đáng lưu ý là đã suýt dẫn tới khả năng đụng độ lớn bằng vũ khí hạt nhân. Khi phía Mỹ bị thương vong lớn, bị đẩy lùi hoặc không đạt được mục tiêu tái chiếm trong trận chiến này, cả tướng lĩnh và Tổng thống Mỹ đã nhiều lần tính đến phương án sử dụng bom hạt nhân (cấp chiến thuật) để giáng trả quân đội Triều Tiên và Trung Quốc. Nhưng cuối cùng Mỹ đã kiềm chế không sử dụng vũ khí hạt nhân do lo ngại xảy ra chiến tranh tổng lực với Trung Quốc và chiến tranh hạt nhân với Liên Xô, cũng như lo sợ áp lực của quốc tế. Ở Mỹ và một số nước phương Tây, Chiến tranh Triều Tiên được nhắc đến với cái tên “Cuộc chiến tranh bị lãng quên” do nó xảy ra ngay sau Thế chiến thứ 2 và trước Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, đây vẫn là một cuộc chiến tàn khốc, đẫm máu khi có một lực lượng lớn quân sự tham chiến với quyết tâm rất cao.

b

Hình : Hàng trăm nghìn người Hàn Quốc chạy trốn xuống phía nam vào giữa năm 1950 sau khi quân đội Triều Tiên tấn công.

  • Triều Tiên là một trong những nước thiết lập quan hệ ngoại giao sớm nhất với Việt Nam

cc

Hình : Báo Nhân Dân đưa tin về cuộc chiến bán đảo Triều Tiên.

Vào năm 1950, chỉ sau Trung Quốc và Liên Xô. Vào thập niên 1950 và 1960, Triều Tiên và Việt Nam có quan hệ thân thiết do có nhiều điểm tương đồng. Cả hai nước vào thời điểm này đều bị chia cắt, cùng đang chiến đấu chống Mỹ và nhận được sự ủng hộ từ các nước như Trung Quốc và Liên Xô.

Mối quan hệ Việt – Triều được củng cố trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, khi Triều Tiên cử gần 100 phi công trẻ và sĩ quan sang học tập, huấn luyện cùng các phi công chiến đấu Việt Nam và còn trực tiếp tham chiến. Thiếu tướng Phan Khắc Hy, nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân, cho biết: Có hai đợt quân đội Triều Tiên sang Việt Nam học hỏi kỹ thuật sử dụng máy bay. Sau khi nắm được kỹ thuật, một số người lính Triều Tiên đề nghị ta cho thực hành, ra trận chiến đấu như không quân Việt Nam. Trong giai đoạn 1966-1969, các phi công Triều Tiên tham gia chiến đấu chủ yếu trên vùng trời ven Hà Nội như Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hưng Yên, bắn hạ 26 máy bay Mỹ. Những phi công Triều Tiên đã góp xương máu của mình vào cuộc chiến, khi 14 người hy sinh và được mai táng ở nghĩa trang tỉnh Bắc Giang. Đến năm 2002, Triều Tiên tổ chức cất bốc các hài cốt các liệt sĩ về nước. Sau đó tỉnh Bắc Giang đầu tư, tôn tạo nơi đây thành khu tưởng niệm các liệt sĩ quân đội Triều Tiên, các ngôi mộ chỉ còn là mộ gió tượng trưng.
Ngoài ra, Triều Tiên cũng giúp Việt Nam đào tạo hàng trăm sinh viên những năm 1960 và 1970 và viện trợ xi măng, thép, vải, thuốc men, phân bón. Giá trị khối lượng trợ giúp trong những năm 1966-1969 lên đến 20 triệu rup mỗi năm. Đây là khoản tiền đáng kể đối với một nước nhỏ như Triều Tiên. Ngoài ra, còn phải kể đến số lượng sinh viên Việt Nam sang Triều Tiên du học – khoảng 2.500 sinh viên vào năm 1968 – và trở thành những nhân tố chủ đạo cho mối quan hệ song phương.
Năm 1957, quan hệ Việt – Triều chứng kiến dấu mốc quan trọng khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm Triều Tiên. Người dân Bình Nhưỡng đứng dọc hai bên đường chào đón khi chiếc xe chở Chủ tịch Hồ Chí Minh đi qua. Trong chuyến thăm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã họp với Thủ tướng Kim Nhật Thành, thăm nông trường Gochang ở tỉnh Pyongan Nam và trường học ở Bình Nhưỡng. Một năm sau, Thủ tướng Kim Nhật Thành thăm Việt Nam. Nhiều người dân Hà Nội đổ ra đường vẫy cờ hai nước và vỗ tay chào mừng ông. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ông đến khu nghỉ Hồ Tây, nhà máy dệt Nam Định và thăm huyện Từ Liêm, nơi có dự án hữu nghị Việt – Triều. Ông Kim Nhật Thành còn đến thăm trường Sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây và bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Tháng 6/1961, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm chính thức Triều Tiên. Ba năm sau, ông Kim Nhật Thành trở lại Việt Nam vào tháng 11/1964. Lần này ông và đoàn đại biểu đã đến thăm Vịnh Hạ Long.
Sự trợ giúp của Triều Tiên giảm dần vào đầu thập niên 1970 và ngừng lại vào năm 1973 sau khi hiệp định Paris được ký kết. Quan hệ giữa Việt Nam và Triều Tiên xấu đi do bất đồng về cuộc chiến Campuchia (1967-1975). Bình Nhưỡng ủng hộ đề xuất của Bắc Kinh về việc thành lập một mặt trận thống nhất gồm 5 nước châu Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Lào, Campuchia), trong khi Việt Nam và Liên Xô lại tỏ ra dè chừng về ý tưởng này. Cần lưu ý là trong bối cảnh Trung Quốc và Liên Xô bị chia rẽ, Hà Nội đã không ngả về phía Bắc Kinh.
Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam đi theo con đường khác với Triều Tiên. Khi đó, Triều Tiên ủng hộ chế độ Khmer Đỏ. Quốc Vương Norodom Sihanouk thường xuyên đến Bình Nhưỡng, nơi ông được xây tặng một cung điện và có vệ sĩ riêng. Năm 1979, quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Bình Nhưỡng xấu đi nghiêm trọng sau khi Triều Tiên lên án Việt Nam can thiệp vào Campuchia, đồng thời từ chối công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Kampuchea mới. Tình hình được cải thiện hơn sau khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia vào năm 1989. Một ủy ban liên chính phủ Việt Nam- Triều Tiên đã được thành lập cùng năm nhằm tạo điều kiện cho hợp tác kinh tế, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, thỏa thuận hợp tác này bị đình chỉ khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc ngày 22/12/1992.
Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Mỹ vào năm 1995. Công cuộc Đổi Mới được Việt Nam khởi xướng vào năm 1986 đã thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp xuất khẩu tăng 70%, với các cải cách như chấm dứt kiểm soát giá cả và khuyến khích thành lập doanh nghiệp tư nhân. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất Đông Nam Á. Trong khi đó, sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Triều Tiên gặp nhiều khó khăn, nhất là về năng lượng và lương thực. Triều Tiên vẫn khép kín với phần còn lại của thế giới và căng thẳng với Mỹ, Hàn chưa tiêu tan.
Việt Nam đã nhiều lần hỗ trợ gạo cho Triều Tiên. Khi nạn đói nghiêm trọng xảy ra ở Triều Tiên năm 1994-1998, Việt Nam viện trợ 100 tấn gạo năm 1995 và 13.000 tấn gạo năm 1997. Giai đoạn 2000-2012, Việt Nam hỗ trợ Triều Tiên 22.700 tấn gạo, 5 tấn cao su nguyên liệu và 50.000 USD. Triều Tiên và Việt Nam năm 1993 đầu tư chung vào nhà máy ươm tơ tằm khoảng 3,5 triệu USD ở Hải Dương, với nguyên liệu do Việt Nam cung cấp và máy móc (nhập từ Nhật) do Triều Tiên cung cấp. Năm 1994, Việt Nam rút khỏi liên doanh và Triều Tiên kinh doanh độc lập. Năm 2001, Triều Tiên bán lại nhà máy cho Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Triều Tiên năm 2015 đạt 11,6 triệu USD. Năm 2017, Việt Nam xuất siêu sang Triều Tiên 7,322 triệu USD, chủ yếu là thực phẩm, bánh kẹo và không có số liệu nhập khẩu từ Triều Tiên. Giao dịch thương mại giữa hai nước chủ yếu được thực hiện thông qua trung gian Trung Quốc, quy mô giao dịch nhỏ, không ổn định. Điểm sáng trong quan hệ hai nước là trường mẫu giáo Việt Triều Hữu nghị tại Hà Nội và trường mầm non Việt – Triều hữu nghị Kyongsang tại Bình Nhưỡng. Ngôi trường ở Hà Nội được thành lập vào năm 1978 với sự tài trợ của Triều Tiên, hiện được coi là một trong những trường mẫu giáo hàng đầu tại Hà Nội. Tháng 6/2012, vào dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của ông Kim Nhật Thành, quan chức Triều Tiên đã đến thăm trường mẫu giáo ở Hà Nội với 6 giáo viên và 13 học sinh từ Kyongsang. Trường nhận Huân chương Hữu nghị hạng nhất từ Triều Tiên và Huân chương Lao động hạng nhất của Việt Nam.
Quan hệ ngoại giao giữa Hà Nội và Bình Nhưỡng được tăng cường đáng kể từ cuối những năm 2000 với những chuyến công du như chuyến thăm Triều Tiên của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh năm 2007, nguyên Bộ trưởng Công an Lê Hồng Anh năm 2008. Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Kim Yong Nam và Thủ tướng nội các Triều Tiên Kim Yong Il lần lượt thăm Việt Nam năm 2001 và 2007. Hà Nội ủng hộ Triều Tiên trở thành thành viên của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và đã đón tiếp một số phái đoàn từ Triều Tiên tới tham quan và học hỏi kinh nghiệm.

Trong chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Triều Tiên Ri Yong-ho tháng 11/2018, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định Việt Nam sẵn sàng chia sẻ với Triều Tiên kinh nghiệm xây dựng đất nước, phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế trên cơ sở các đề nghị của Triều Tiên. Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đã thăm chính thức Triều Tiên ngày 12-14/2/2019. Trong cuộc gặp, ông Ri cảm ơn lập trường và những nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy tiến trình đối thoại vì hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trên bán đảo Triều Tiên.

  • Vụ đào tẩu của phi công Triều Tiên

ee

Trong Chiến tranh Triều Tiên, sự xuất hiện của tiêm kích MiG-15 trong biên chế không quân Triều Tiên trở thành nỗi ám ảnh đối với các phi công Mỹ. Ngay trong lần đầu tham chiến, loại tiêm kích mới do Liên Xô chế tạo này đã bắn hạ nhiều máy bay Mỹ và gần như bất khả chiến bại trong các cuộc không chiến.
Trong một trận chiến năm 1951, phi đội 30 tiêm kích MiG-15 Triều Tiên đã vượt qua đội hình 100 chiến đấu cơ hộ tống của Mỹ, bắn hạ 12 chiếc máy bay ném bom B-29 rồi thoát ly an toàn trong sự bất lực của các tiêm kích hộ tống Mỹ. Hoảng sợ trước sức mạnh của MiG-15, các tướng lĩnh Mỹ ra lệnh dừng mọi hoạt động không kích trên lãnh thổ Triều Tiên.
Các tướng Mỹ hiểu rằng họ phải tìm ra cách đánh bại tiêm kích MiG-15, nhưng để làm được điều đó, họ cần một chiếc tiêm kích nguyên vẹn để nghiên cứu. Đây được coi là nhiệm vụ bất khả thi đối với tình báo Mỹ khi đó.
Năm 1952, bộ phận chiến tranh tâm lý Mỹ lên kế hoạch thực hiện chiến dịch tâm lý chiến mang tên Moolah để lôi kéo phi công Triều Tiên, Trung Quốc đào tẩu cùng tiêm kích MiG-15. Họ hứa hẹn trả 100.000 USD tiền mặt, cho phép phi công đào tẩu được tị nạn chính trị và trở thành công dân của bất kỳ nước phương Tây nào.
Từ tháng 4/1953, Lầu Năm Góc tiến hành chiến dịch Moolah bằng việc phát sóng qua radio và rải hơn một triệu tờ rơi ở các căn cứ không quân Trung Quốc và Triều Tiên gần sông biên giới Áp Lục. Nhưng kết quả hết sức thất vọng, không có phi công nào đào thoát cho đến khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc ba tháng sau đó.
Trong lúc chiến dịch Moolah rơi vào bế tắc, vận may bất ngờ đến với Mỹ. Ngày 21/9/1953, gần hai tháng sau khi hiệp định đình chiến được ký, một tiêm kích MiG-15 hạ cánh bất ngờ ở sân bay Kimpo gần thủ đô Seoul, Hàn Quốc.
Sáng hôm đó, trung úy phi công Triều Tiên 21 tuổi No Kum-sok nhận nhiệm vụ trinh sát trên tiêm kích MiG-15 và nhận thấy đây là cơ hội để bỏ trốn. Xuất phát từ một đường băng gần Bình Nhưỡng, trung úy No biết rõ cách để đến Kimpo cũng như nhiên liệu cần thiết cho hành trình đào thoát.
Phi công này hướng về khu giới tuyến phi quân sự (DMZ) với vận tốc 965 km/h. Sau 17 phút, chiếc MiG-15 vượt qua khu vực biên giới phòng thủ nghiêm ngặt và hạ cánh xuống căn cứ không quân Kimpo mà không bị không quân Triều Tiên truy đuổi hay lực lượng phòng không Hàn Quốc bắn hạ.
Điều trùng hợp là vào buổi sáng ngày trung úy No đào tẩu, radar ở căn cứ Kimpo bị ngắt để bảo dưỡng, nên Mỹ không phát hiện sớm được chiếc MiG-15 để đánh chặn. Một số phi công Mỹ lái chiến đấu cơ trên căn cứ Kimpo còn nhìn thấy chiếc MiG-15 hạ cánh, nhưng không coi đó là máy bay địch, bởi không ai được thông báo về kế hoạch bay hoặc kiểm soát chuyến bay.
Do không biết quy trình hạ cánh của sân bay này, trung úy No cho chiếc MiG-15 di chuyển sai đường băng và gần như đâm vào một chiếc F-86 đang hạ cánh bên cạnh.
Đại úy phi công Mỹ Dave William lái chiếc F-86 đã phải cố tránh để không xảy ra va chạm, đồng thời thông báo qua radio về sự xuất hiện bất ngờ của chiếc tiêm kích MiG-15 đối phương. Ngay sau đó, No Kum-sok đưa máy bay đỗ vào khoảng trống giữa hai chiếc F-86, mở cửa buồng lái trèo ra ngoài và đầu hàng trước sự sửng sốt của người Mỹ.
Hóa ra, nếu phi công No bay đúng hướng vào sân bay, anh ta có thể đã bị một chiếc F-86 khác phát hiện và bắn hạ. Ngạc nhiên hơn nữa là phi công Triều Tiên không biết về khoản tiền thưởng cho hành động đào tẩu của mình. Sau khi biết được việc này, anh ta cũng không quan tâm nhiều tới khoản tiền thưởng 100.000 USD bởi không biết giá trị của đồng USD.
Chiếc MiG-15 ngay sau đó được chuyển tới căn cứ không quân Kadena, Nhật Bản. Mỹ lập tức điều những phi công thử nghiệm giỏi nhất tới đây để tìm hiểu công nghệ trên chiếc tiêm kích đáng gờm này.
Các chuyến bay thử của phi công Mỹ cho thấy hiệu suất đáng nể của MiG-15, nhưng họ cũng khám phá nhiều điểm hạn chế của nó. “Chiếc MiG-15 có xu hướng xoay tròn mất kiểm soát và không thể phục hồi. Có một vệt sơn trắng dọc bảng điều khiển giúp phi công giữ cần lái ở vị trí trung tâm khi cố gắng khôi phục đường bay trong trường hợp bị xoay tròn”, phi công thử nghiệm Harold Collins cho hay.
Các chuyến bay thử sau đó cho thấy tốc độ tối đa của MiG-15 là 1.127 km/h, nhưng nó rất khó thực hiện động tác bổ nhào hoặc chuyển hướng ở góc hẹp. Trong những lần không chiến trên bầu trời Triều Tiên, phi công Mỹ đã chứng kiến cảnh tiêm kích MiG-15 bị tròng trành hoặc rụng cánh khi tăng tốc đột ngột ở tốc độ cao.
Dù quân đội Mỹ đã có được MiG-15 để nghiên cứu, tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower tỏ ra không hài lòng và không muốn trả tiền thưởng cho phi công No. Eisenhower không muốn chiếc tiêm kích này, lo sợ việc đánh cắp nó sẽ hủy hoại thỏa thuận ngừng bắn mong manh với Triều Tiên, nên ông tin rằng chiếc MiG-15 cần được trả lại cho đối phương càng sớm càng tốt.
Để khiến các phi công Triều Tiên có ý đào tẩu nản chí, ông cũng muốn hủy chiến dịch Moolah, đồng thời gây sức ép buộc trung úy No từ chối khoản tiền thưởng 100.000 USD.

Tuy nhiên, No Kum-sok cuối cùng cũng nhận được khoản tiền thưởng, sau đó nhập quốc tịch Mỹ, trở thành một giáo sư đại học và viết một cuốn sách về hành trình đào tẩu của mình. Sau vài lần tìm cách trả lại chiếc MiG-15 cho Triều Tiên bất thành, Mỹ từ bỏ ý định và đem nó trưng bày ở Bảo tàng quốc gia không quân Mỹ ở Dayton, bang Ohio.

  • Lu Min (12/11/1926 – 21/12/2000)

a

Lu Min là một phi công MiG-15 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sinh ra ở Long Khẩu, tỉnh Sơn Đông.

Tháng 9 năm 1945, Lu Min vào Đại học Sơn Đông ở vùng giải phóng để học. Gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8 năm 1946 và được điều động về Đông Bắc Trung Quốc . Sau đó, ông gia nhập quân đội và thi vào trường hàng không, liên tiếp theo học lớp cán bộ của Trường Hàng không Mẫu Đơn Giang và Trường Hàng không số 3 Cẩm Châu.
Sau khi tốt nghiệp trường hàng không vào tháng 3 năm 1951, ông được biên chế vào Lữ đoàn 1 thuộc Trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 12 thuộc Lực lượng Phòng không Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Tháng 3 năm 1952, Lu Min tham gia Cuộc chiến ở Triều Tiên . Tháng 7 cùng năm, ông giữ chức đứng đầu kiểm tra kỹ thuật Sư đoàn 12 thuộc Lực lượng Phòng không Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc . Trong cuộc chiến Lu Min đã bắn rơi 8 máy bay và được trao giải thưởng “Anh hùng nhân dân đặc biệt” của Không quân Lãnh đạo Quân tình nguyện nhân dân Trung Quốc. Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên đã trao tặng ông Huân chương Tự do và Độc lập hạng hai.
Tháng 12 năm 1953, Lu Min giữ chức Phó tư lệnh trung đoàn 36 thuộc Sư đoàn 12 của Lực lượng Phòng không Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 3 năm 1955, ông giữ chức quyền Tư lệnh kiêm Chỉ huy trưởng Trung đoàn 34 thuộc Sư đoàn 12 thuộc Lực lượng Phòng không Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Tháng 2 năm 1959, Lu Min giữ chức Phó tư lệnh Sư đoàn 12 của Lực lượng Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Tháng 3 năm 1962, ông giữ chức Thứ trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Cục Huấn luyện Không quân Quân khu Nam Kinh . Mùa đông năm 1968, ông giữ chức Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Không quân Quân khu Nam Kinh. Năm 1969, ông giữ chức vụ Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tư lệnh Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Lin Liguo, con trai Lâm Bưu từng là Phó chủ nhiệm Văn phòng Đảng ủy Không quân kiêm Phó Cục trưởng Cục tác chiến).
Vào tối ngày 11 tháng 9 năm 1971, Lu Min, Cục trưởng Cục Tác chiến của Bộ Tư lệnh Không quân, được gọi vào căn nhà gỗ ở sân bay Bắc Kinh. Lin Liguo , Zhou Yuchi (nguyên Phó Tư lệnh Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) và Jiang Tengjiao (tướng lĩnh cấp cao của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) đã sắp xếp một âm mưu ám sát Mao Trạch Đông cho Lu Min.
Trong phiên tòa xét xử vụ án nhóm phản cách mạng của Lâm Bưu và Giang Thanh , cáo trạng của Viện kiểm sát đặc biệt của Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào ngày 2 tháng 11 năm 1980 nêu rõ: năm 1971, Lin Liguo và Zhou Yuchi liên tiếp báo cáo với Liu Peifeng, Jiang Tengjiao, Wang Fei, Li Weixin tại các căn cứ bí mật của Học viện Không quân và Sân bay Xijiao. Lu Min, giám đốc của Cục Tác chiến Bộ Tư lệnh Không quân, Liu Shiying, Phó giám đốc Văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân, và Cheng Hongzhen, thư ký. Lệnh cho một cuộc đảo chính vũ trang do Guan Guanglie , chính ủy đơn vị 190 gửi , được lên kế hoạch cụ thể và triển khai việc giết chết Chủ tịch Mao Trạch Đông và bổ nhiệm Jiang Tengjiao làm chỉ huy tuyến đầu ở khu vực Thượng Hải , âm mưu sử dụng súng phun lửa và 40 bệ phóng tên lửa để bắn vào đoàn tàu của Mao Trạch Đông; sử dụng chất nổ gần cầu Shuofang ; cho máy bay ném bom tàu ​​hỏa ở Thượng Hải.
Ngày 9 tháng 5 năm 1980, Tòa án quân sự Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc kết án Lu Min 10 năm tù và 2 năm tước quyền chính trị vì tội tham gia tích cực vào nhóm phản cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền. Việc thi hành án bắt đầu từ thời điểm tạm giữ. Vào ngày 21 tháng 12 năm 2000, Lu Min qua đời.

  • Trận chiến trên bầu trời Triều Tiên

1

Theo thống kê phía Liên Xô, đã có 1106 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có tới 170 chiếc cường kích B-29. Họ mất 335 máy bay cùng 126 phi công. Nhưng theo phía Mỹ, các phi công của họ đã hạ tổng cộng tới 792 chiếc MIG 15, và chỉ mất 78 chiến đấu cơ F86.
Khi cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào ngày 25/6/1950, không quân Bắc Triều Tiên chỉ có một ít máy bay do Liên Xô chế tạo trong Thế chiến thứ II, hầu hết đã lạc hậu. Đã vậy, đa số phi công Bắc Triều Tiên đều chưa có kinh nghiệm không chiến trong lúc phía Mỹ với những chiếc máy bay tiêm kích cánh quạt P51 Mustang, pháo đài bay B29 cùng các loại máy bay phản lực chiến đấu F-80 Shooting Star, F-84 Thunderjet và F9F Panther cùng các phi công dạn dày kinh nghiệm qua những trận đánh nhau trên trời với phi công Đức và phi công Nhật trong thế chiến thứ hai nên gần như họ đã hoàn toàn kiểm soát bầu trời.
Cao điểm nhất là ngày 16/8/1950, Không quân Mỹ huy động tới 98 chiếc máy bay ném bom chiến lược tầm xa B-29 đánh phá ác liệt các mục tiêu mặt đất trên chiến trường Triều Tiên. Nhưng máy bay B-29 mang bom thông thường đánh phá mục tiêu cố định nhỏ hẹp kiểu cầu cống rất khó trúng. Bởi B-29 khi rải bom phải bay rất cao, với loại bom thông thường dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như bị hướng gió làm rơi chệch mục tiêu cầu khá xa. Khi máy bay tiến hành chiến thuật rải thảm, thì xác suất trúng mục tiêu cũng rất thấp, mà bay thấp lại sợ lưới lửa phòng không mặt đất của đối phương. Qua thống kê rút kinh nghiệm, không quân Mỹ phát hiện, mỗi “quệt” bình quân chỉ “quẳng” được có 4 quả bom thông thường, nếu may mắn thì chỉ 1 quả rơi trúng hoặc gần cầu. Vì vậy, Không quân Mỹ bắt đầu nghĩ tới việc sử dụng loại vũ khí thông thường kiểu mới để đánh phá cầu cống.
Tháng 9/1950, Không quân Mỹ bắt đầu dùng máy bay B-29 “cõng” theo loại bom điều khiển dẫn hướng tới mục tiêu có trọng lượng tới 450kg mang tên “Lasson” lao đi đánh phá. Cánh đuôi của bom “Lasson” có thể hoạt động, khi đang rơi tự do trong không trung, nhận được chỉ lệnh sóng vô tuyến điện từ trên máy bay B-29 các cánh đuôi này sẽ mở khép như cánh cửa, điều khiển bom chuyển hướng, rơi trúng mục tiêu. Nhưng loại bom “Lasson” “đẻ thiếu tháng” này tồn tại quá nhiều thiếu sót về mặt kỹ thuật, nên hiệu quả tác chiến làm Mỹ thất vọng. Không quân Mỹ sơ kết trong giai đoạn không kích thứ nhất. “Pháo đài bay” B-29 đã ném tổng cộng 487 quả bom dẫn hướng “Lasson” thì có tới 156 quả rơi chệch mục tiêu cả trăm mét, hiệu suất phá hủy của số bom “trúng mục tiêu” cũng rất thấp, chỉ đánh sập được vài cây cầu quan trọng, còn phần lớn chỉ là “phá hỏng đáng kể”. Không quân Mỹ buộc phải cử một số chuyên gia tới chiến trường xem xét, nghiên cứu giải quyết vấn đề. Sau đó, tuy tính năng tìm mục tiêu của “Lasson” có được cải thiện đáng kể, nhưng qua đợt thực nghiệm trong giai đoạn không kích lần 2 cho hiệu quả cũng không cao, chỉ đánh sập và “phá hỏng nghiêm trọng” được 15 cây cầu, tính ra cứ quẳng 10 quả bom “Lasson” mới phá hỏng được 1 cây cầu.
Trước tình thế này, ngày 25/10/1950, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc với danh nghĩa là Chí nguyện quân, chính thức tham chiến. Bên cạnh đó, Liên Xô trong một chương trình viện trợ bí mật, đã cung cấp cho Bắc Triều Tiên loại máy bay phản lực chiến đấu Mig15 – mới được biên chế cho Không quân Liên Xô từ năm 1948 – đồng thời huấn luyện phi công Bắc Triều Tiên các kỹ năng tác chiến trên không. Phía Mỹ biết đến sự xuất hiện của các phi công Liên Xô từ khá sớm. Ngay từ cuối năm 1950, họ đã có thể xác nhận được điều đó. Một mặt là thông qua các nguồn tin tình báo. Mặt khác, các đài chặn thu sóng vô tuyến điện của Mỹ cũng từng ghi lại được nhiều đoạn đối thoại bằng tiếng Nga, từ những khoảnh khắc bất cẩn của các phi công. Hơn thế, phi công Mỹ cũng từng tận mắt nhìn thấy những khuôn mặt da trắng trong khoang lái của máy bay địch thủ. Vấn đề là, nếu công bố rộng rãi những thông tin đó, Nhà Trắng sẽ bị dư luận ép phải hành động, bởi chính họ – thông qua chủ nghĩa McCarthy – đã và đang xây dựng một tâm lý chống cộng sản cực đoan ở đất nước của mình. Hơn thế, có muốn, không lực Mỹ cũng phải mất vài năm để sẵn sàng cho một cuộc đọ sức cân bằng với không quân Liên Xô. Họ sẽ phải chuyển trọng tâm chiến lược quân sự từ châu Âu về bán đảo Triều Tiên.
Ngược lại, Liên Xô cũng không có lý do gì để thể hiện rằng mình trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến tranh này, khi là một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc. Cựu chiến binh Liên Xô Boris Abakumov, tác giả cuốn Một cuộc chiến ít người biết đến cho biết, sau khi Liên bang Xô viết đã sụp đổ, có rất ít thông tin về những trận không chiến này trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. Lý do rất đơn giản: Không ai trong số cả hai siêu cường quân sự Mỹ và Liên Xô muốn công khai thông tin, để rồi tự đẩy mình vào thế đối đầu trực tiếp và toàn diện với đối thủ mạnh nhường ấy, trong một cuộc chiến tranh cục bộ – nổi lên như một trong những điểm nóng của tổng thể Chiến tranh Lạnh. Tiếp viện cho Bắc Triều Tiên, nhiệm vụ chính đã thuộc về các đoàn Chí nguyện quân Trung Hoa. Có điều, khi quân đội Liên Hợp quốc do Mỹ dẫn đầu (hậu thuẫn cho Hàn Quốc) bắt đầu chiếm được ưu thế trên chiến trường, uy hiếp đến tận biên giới tự nhiên Trung – Triều nhờ sự vượt trội của không quân, Liên Xô không thể không có những động thái cần thiết.
Tháng 11/1950, những phi công Liên Xô ưu tú được tuyển lựa kỹ càng đặt chân xuống đất Triều Tiên. Họ phải mặc quân phục và đeo huy hiệu Chí nguyện quân Trung Hoa. Họ đã bị kiểm tra kỹ càng, để bảo đảm rằng không thể mang theo mình bất cứ vật dụng gì được sản xuất bởi Liên Xô, đặc biệt là những chiếc kèn harmonica mà binh sĩ rất ưa thích. Họ được đòi hỏi phải dùng tiếng Triều Tiên hoặc tiếng Hán, khi trao đổi với nhau qua điện đài. Và ban đầu, họ chỉ được giao nhiệm vụ chính là bảo vệ các trung tâm hành chính, trung tâm công nghiệp, đầu mối giao thông, trọng điểm kinh tế. Nhưng sau đó, khi mức độ cuộc chiến tranh trở nên mỗi ngày một ác liệt, phạm vi hoạt động của họ đã là cả bầu trời.
Ngày 1/11/1950 – trận chạm trán trên bầu trời Triều Tiên đã xảy ra khi 8 máy bay phản lực Mig15 thuộc Không đoàn 64, Không quân Liên Xô, do phi công Liên Xô cầm lái nhưng mang số hiệu của Không quân Bắc Triều Tiên, tiến hành đánh chặn 15 chiếc tiêm kích cánh quạt P51 Mustang của Không quân Mỹ khi toán này đang thực hiện một phi vụ yểm trợ mặt đất. Thiếu úy Richard Horn, lái chiếc P51 nhớ lại: Họ xuất hiện từ trong những đám mây, lao thẳng về phía chúng tôi với những luồng lửa đỏ rực thoát ra từ các họng súng máy. Kết quả là 1 chiếc P51 Mustang bị bắn rơi, thiếu úy Fiodor Chizh, phi công phụ nhảy dù thoát được còn phi công chính là thiếu úy Aaron Abercrombie bỏ mạng. Cũng trong ngày hôm đó, 3 chiếc Mig15 do phi công Liên Xô điều khiển đã tấn công 10 chiếc phản lực F80-C của Không quân Mỹ. Bằng chiến thuật ẩn náu rồi bổ nhào, họ đã bắn rơi một chiếc F80-C, giết chết trung úy Van Sickle, phi công chính và thiếu úy Semyon F. Jominich, phi công phụ. Hồ sơ đã được giải mật của Không quân Mỹ cho thấy chiếc F80-C trúng đạn bốc cháy. Cả Van Sickle Semyon F. Jominich đều không kịp nhảy dù.
Sau 2 trận thua nói trên, Bộ Chỉ huy Không quân Mỹ ở Nam Triều Tiên liên tục tổ chức những buổi họp rút kinh nghiệm cho các phi công, đồng thời xây dựng lại các phương án hợp đồng tác chiến vì phía Mỹ không tin người Bắc Triều Tiên có thể nhanh chóng điều khiển được máy bay chiến đấu phản lực, mà phải là phi công Liên Xô nhưng họ chưa có bằng chứng cụ thể. Trung úy phi công John Stockwell, lái chiếc F80-C kể: Chúng tôi buộc phải học ngày học đêm về các tính năng và yếu điểm của chiếc Mig15, đến nỗi khi ngủ tôi vẫn thấy nó hiện ra lù lù trước mắt.
Ngày 8/11/1950, không quân Liên Xô đã kịp lập công. Một chiếc MIG 15, do phi công Shegorev điều khiển, đã bắn rơi máy bay trinh sát P-51 của Mỹ trên bầu trời tỉnh An Đông (nay là Đan Đông, đông bắc Trung Quốc). Một ngày sau, thêm một chiếc F-80 và một chiếc F-47 rơi. Ngày sau đó, 10/11/1950, chiếc B-29 đầu tiên bị bắn hạ. Ngày 9/11/1950, lần đầu tiên phi công Mỹ mới bắn hạ được một chiếc Mig15. Hồ sơ giải mật của Liên Xô cũ cho thấy loạt đạn 20mm từ chiếc F9F-2B Panther do thiếu tá William T. Amen, phi công thuộc Hải quân Mỹ đã bắn trúng buồng lái của chiếc Mig15, giết chết đại úy Mikhail F. Grachev.
Tháng 11/1950, khi hơn 1 triệu quân Trung Quốc vượt sông Áp Lục tham chiến tại Triều Tiên, ông Sergey Kramarenko và 31 phi công kỳ cựu của Trung đoàn không quân cận vệ số 176 âm thầm tới vùng Viễn Đông để huấn luyện phi công Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Do yêu cầu bí mật của nhiệm vụ, cả đoàn công tác của Thiếu tướng Sergey Kramarenko đều phải giữ bí mật thông tin, kể cả đối với người thân trong gia đình. Tại Trung Quốc, các mảnh vỡ của máy bay F-86 Sabre đã được thu thập để đánh giá về khả năng chiến đấu. Các phi công Liên Xô đã phát hiện ra máy bay Mỹ có khả năng cơ động tốt hơn Mig-15, nhưng lại kém về khả năng leo cao và trần bay. Kramarenko chia sẻ: Phi công Mỹ có vẻ không được tôi luyện trong môi trường khắc nghiệt như chúng tôi và phi công Đức. Nếu như người Đức sẵn sàng lao vào cuộc chiến sinh tử, thì phi công Mỹ lại chọn cách né tránh. Trên bầu trời Triều Tiên, chúng tôi đã chứng minh cho họ thấy phi công Xô Viết không hề thua kém về khả năng chiến đấu và kỹ năng điều khiển máy bay, thậm chí còn vượt xa họ.
Mọi tuyến bay chiến đấu của không quân Mỹ dọc tuyến Áp Lục đều bị tạm đình chỉ bởi Lầu Năm Góc. Tháng 12/1950, Liên đội phi cơ F-86 của Mỹ đang trú đóng ở Nhật Bản được điều sang hỗ trợ chiến trường Triều Tiên. F-86 là chiến đấu cơ hiện đại nhất của không quân Mỹ lúc đó, nên cách đánh cũ của MIG 15 vẫn thường áp dụng với F-80 hay F-84 không hiệu quả. Cùng thời điểm đó, “Pháo đài bay” B-29 của Không quân Mỹ bắt đầu bí mật lắp loại bom khổng lồ biệt danh “Tasson” và nó cũng là loại bom có trọng lượng lớn nhất được dùng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên. “Tasson” được cải tiến từ loại bom tấn rơi tự do với biệt danh “Thằng cao kều” do Không quân Anh dùng trong Thế chiến II và được lắp đặt hệ thống tiếp nhận chỉ lệnh vô tuyến điện từ trên máy bay để lái cho bom rơi trúng mục tiêu, mang ký hiệu VB-13, dài toàn bộ 6,4m, đường kính chỗ lớn nhất gần 1m, nặng 5,4 tấn là loại bom dẫn hướng lớn nhất của Mỹ thời đó. Máy bay ném bom chiến lược B-29 có lắp 4 động cơ tua-bin, trọng lượng cất cánh lớn nhất là 54 tấn, bán kính tác chiến là hơn 5.200km, nhưng trọng tải chỉ có khoảng 9 tấn, mỗi chiếc B-29 chỉ có thể “cõng” 1 quả bom dẫn hướng “Tasson”. Khi đang “cõng” bom trên đường bay tới mục tiêu, B-29 cơ động rất nặng nề, ì ạch, nên rất dễ bị MiG-15 tiến công bắn rơi. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, biên đội “Pháo đài bay” B-29 đã ném tổng cộng 10 quả “Tasson” nhưng chỉ có 1 quả rơi về phía mục tiêu, nghĩa là tỉ lệ ném trúng đạt… 10%
Nhằm đối phó với chiếc Mig15 có tính năng vượt trội so với những chiếc P51, F80, F84 và F9, đầu năm 1951, Bộ Chỉ huy Không quân Mỹ ở Triều Tiên nhận được những chiếc máy bay tiêm kích phản lực thế hệ mới nhất là chiếc F86 Saber. Ngày 7/1/1951, trung tá Bruce H. Hinton thuộc Phi đội chiến đấu 336 dẫn đầu 4 chiếc F86 bay tuần tra dọc theo sông Áp Lục. Bruce H. Hinton nhớ lại: Nhằm đánh lừa Mig15, chúng tôi bay ở tốc độ 650km/giờ để tạo ấn tượng trên màn hình rada của Mig15 rằng máy bay của chúng tôi chỉ là loại cũ. 40 phút sau khi cất cánh, ở độ cao 9.800m, chúng tôi phát hiện 4 chiếc Mig15 bay phía dưới chúng tôi. Lập tức, Bruce H. Hinton ra lệnh cho các phi công thả thùng dầu phụ, ngoặt sang bên trái rồi lao xuống. Phi công Liên Xô – đại úy Yakov Efromeenko lái chiếc Mig15 hôm đó kể: Ngay lập tức, chúng tôi nhận ra đối thủ của chúng tôi không phải là những chiếc F80 hay F86 như trước, mà là một loại máy bay mới, bay nhanh hơn và cơ động hơn. Theo lệnh của chỉ huy, Yakov Efromeenko cùng đồng đội cho máy bay hướng về phía lãnh thổ Trung Quốc nhưng Bruce H. Hinton đã bắt kịp. Khẩu đại liên 12,7mm trên chiếc F86 của ông ta nhả ra 1.500 viên đạn, trúng vào ống xả của chiếc Mig15. Một cuộn khói bùng lên, đại úy Yakov Efromeenko nhảy dù và rơi xuống đất Trung Quốc, 16km về phía nam sông Áp Lục.
Tuy nhiên, chỉ hơn 1 tháng sau đó, các phi công Liên Xô đã nhanh chóng tìm được cách chế ngự F86. Ngày 22/2, đại úy Lawrence V. Bach lái chiếc F86 bị một chiếc Mig15 bắn rơi chỉ bằng một loạt đạn ở độ cao 9.100m. Bach nhảy dù và bị Quân đội Nhân dân Bắc Triều Tiên bắt làm tù binh. Cuối tháng 3/1951, Đơn vị trinh sát đường không số 1 (1st Radio Squadron Mobile) thuộc Không quân Mỹ đóng ở Nhật Bản đã thu được những cuộc liên lạc bằng tiếng Nga của phi công Liên Xô lái Mig15 với các đài hướng dẫn mặt đất. Kết quả phân tích cho thấy 90% máy bay Mig15 ở Bắc Triều Tiên đều do phi công Liên Xô điều khiển. Bên cạnh đó, điệp viên Nam Triều Tiên hoạt động tại những vùng do Bắc Triều Tiên kiểm soát cũng gửi về những báo cáo cho thấy tất cả những chiếc máy bay Mig đều được sơn cờ và số hiệu của Không quân Bắc Triều Tiên. Phi công Liên Xô mặc quần áo của của Không quân Bắc Triều Tiên. Trong liên lạc, chỉ có một số ít từ ngữ thông dụng được nói bằng tiếng Triều Tiên, còn các từ kỹ thuật thì hoàn toàn là tiếng Nga.
Ngày 29/3/1951, 3 chiếc B-29 của Đại đội bay số 19 Không quân Mỹ qua mấy tháng tập luyện ráo riết lại một lần nữa “cõng” bom “Tasson” vượt quãng đường dài từ căn cứ không quân Guam tới chiến trường Triều Tiên. Theo kế hoạch lần này, 3 quả siêu bom “Tasson” dành riêng để đánh sập hoàn toàn cây cầu huyết mạch bắc qua sông Áp Lục nối giữa Trung Quốc với Bắc Triều Tiên. 3 chiếc “Pháo đài bay” B-29 ung dung bay về phía mục tiêu ở độ cao tuyệt đối an toàn, nhưng mới được nửa quãng đường bỗng một chiếc bị “trục trặc máy móc” đành phải vội quay về căn cứ; khi bay được 2/3 quãng đường, một chiếc nữa bị “trục trặc kỹ thuật” phải quay về, nhưng giữa chừng không thể bay tiếp đành phải hạ cánh khẩn cấp xuống mặt biển. Tuy nhiên, khi hạ cánh đã vấp phải xung lực quá lớn khiến chiếc B-29 nổ tung cùng trái “siêu bom”, cả phi hành đoàn tan xác cùng chiếc máy bay, chìm xuống đáy Thái Bình Dương. Chiếc B-29 thứ 3 đành lầm lũi bay về phía mục tiêu đã định. Thấy tọa độ mục tiêu xuất hiện trên màn hình, phi công vội bấm nút nhả bom rồi quay đầu bỏ chạy, kết quả là bom rơi nổ cách cầu cả trăm mét!. Thất bại quá cay đắng, nên tới mùa hè năm 1951, Không quân Mỹ lẳng lặng chấm dứt kế hoạch dùng “siêu bom” “Tasson”.
Trong khi đó, các phi công Liên Xô bắt đầu tham gia có giới hạn vào các nhiệm vụ chiến đấu trên bầu trời Triều Tiên vào năm 1951. Trận đụng độ đầu tiên với không quân Mỹ diễn ra vào ngày 1/4 cùng năm. Phi đội của phi công Sergey Kramarenko đánh chặn một máy bay trinh sát của Mỹ được hộ tống bởi 2 phi đoàn F-86 (8 máy bay). Khi tuần tra dọc sông Áp Lục, ở độ cao 7.000m, phi đội Liên Xô phát hiện mục tiêu. Phi đội trưởng Sergey Kramarenko ra lệnh chặn kích. Phi công Ivan Lazutin trong phi đội tăng tốc tiếp cận chiếc máy bay trinh sát từ phía dưới và cố bắn hạ nó. Những chiếc F-86 ngay lập tức cố gắng ngăn chặn máy bay Mig-15 của Liên Xô. Với các khẩu lệnh phối hợp chiến đấu hợp lý, phi đội của ông Sergey Kramarenko đã bắn hạ 2 chiếc F-86 và buộc nhóm máy bay Mỹ phải bỏ chạy.
Trong quá trình chiến đấu tại Triều Tiên, phi công Sergey Kramarenko đã từng đụng độ với phi công Ace của Mỹ là Glenn Eagleston, Chỉ huy Phi đội 334. Phi công này cũng từng tham giam Thế chiến 2. Phi công Glenn Eagleston bay theo đội hình 3 máy bay. Theo thường lệ, ông Sergey Kramarenko leo cao và bổ nhào tấn công. Phi công Ace của Mỹ đã hạ độ cao thoát ly thành công. Hai máy bay lao vào cuộc chiến quần vòng cách nhau khoảng 100m. Cuộc đuổi bắt giữa hai phi công Ace kéo dài khá lâu. Dù cả hai máy bay đều trúng đạn, nhưng không trúng chỗ hiểm. Cả hai máy bay sau đó rơi vào trận địa phòng không của Triều Tiên với khoảng cách 800m. Phát hiện những viên đạn phòng không phát nổ xung quanh, phi công Sergey Kramarenko quyết định tăng tốc bay xuyên qua và may mắn là không bị trúng đạn. Trong khi đó, chiếc F-86 của Glenn Eagleston không được may mắn như vậy. Nó đã trúng đạn và hạ cánh trong tình trạng hư hỏng nặng. Phi công Glenn Eagleston bị thương, phải quay về Mỹ điều trị và không bao giờ quay trở lại tham chiến ở Triều Tiên.
George Saylor là một lính đã nghỉ hưu, hiện đang sống tại thành phố Montgomery bang Yalisanna (Mỹ), từng là phi công lái máy bay chiến đấu trong chiến tranh Triều Tiên. Ông và các chiến hữu của mình đã từng lái những chiếc máy bay chiến đấu RF-86 “Wearing” thâm nhập sâu khoảng 2.000 km vào vùng đông bắc Trung Quốc và lãnh thổ Liên Xô để tiến hành trinh sát bí mật vào năm 1951. Khi đó, tướng lĩnh quân đội Mỹ và chính quyền Washington đặt ra nhiều câu hỏi: Rốt cuộc Không quân Trung Quốc có bao nhiêu máy bay chiến đấu MiG và bao nhiêu máy bay oanh tạc? Liên Xô liệu có thể chi viện quân sự cho Trung Quốc bao nhiêu nữa? Tại sao những điệp viên được phái đi đến khu vực đông bắc Trung Quốc và vùng Viễn Đông Liên Xô lại chỉ có đi mà không có về?
Các phi công thuộc Trung đội Trinh sát chiến thuật số 15 của Mỹ tại Kimpo, Nam Triều Tiên bắt đầu chú ý đến loại máy bay chiến đấu F-86 “Scorpion” với thể tích nhỏ nhưng linh hoạt và dễ dàng thoát hiểm. Sau khi tiến hành nghiên cứu kỹ loại máy bay này, các chuyên gia kỹ thuật quyết định cải tiến nó này thành máy bay trinh sát chụp hình. Sau lần bay thử nghiệm thành công, 2 chiếc F-86A cải tiến được cho lẫn vào biên đội máy bay chiến đấu F-86 thông thường, rồi nhận lệnh tiến vào khu “hành lang MiG” nổi tiếng. Khi những chiếc MiG-15 của Không quân Trung Quốc tiến hành giao chiến với các máy bay F-86 của Không lực Hoa Kỳ, thì một chiếc F-86A lặng lẽ lách qua một bên, rồi thẳng tiến đến khu trại tù binh do quân đội Trung Quốc và Bắc Triều Tiên lập nên ở vùng Viễn Đông, thế nhưng cái giá phải trả là 5 chiếc F-86 khác của Mỹ bị bắn rơi, 4 chiếc bị thương!. Cuối cùng, chiếc trinh sát cải tiến này buộc phải tìm đường chạy trốn khỏi vòng vây máy bay MiG-15 của Không quân Trung Quốc, nhưng bù lại, nó đã mang về cho trung tâm chỉ huy Không quân Mỹ những bức ảnh về trại tù binh mà quân đội nước này đang rất cần. Do đó, các tướng lĩnh Không quân Mỹ vẫn cảm thấy “thắng lợi” sau cuộc giao chiến vừa qua, sau đó nhanh chóng lệnh cho một nửa lực lượng của Trung đội Trinh sát chiến thuật số 15 (6 chiếc F-86 thông thường) cải tiến thành máy bay trinh sát chiến thuật hoàn thiện RF-86.
Thứ sáu, ngày 12/4/1951, Bộ Chỉ huy Không quân Mỹ ở Triều Tiên quyết định tung ra đòn tấn công tổng lực mà mục tiêu là 18 sân bay, căn cứ của những chiếc Mig15 nằm trong một khu vực hình thoi, giới hạn bởi 4 tỉnh Changju, Huichon, Sinanju và Sinuiju, nơi con sông Áp Lục – biên giới tự nhiên giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc – đổ ra vịnh Triều Tiên. Khu vực này được Không quân Mỹ gọi là “Mig Alley – Hành lang Mig”. Tham gia tấn công có 36 máy bay ném bom hạng nặng B29 (là loại đã ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki – Nhật Bản), được hộ tống bởi 100 chiếc phản lực tiêm kích F86 và F80. Đáp lại, Liên Xô chỉ có 30 chiếc F15 thuộc Sư đoàn không quân 303.
Thoạt đầu, khi radar Liên Xô phát hiện lực lượng hùng hậu của Không quân Mỹ đang hướng về sông Áp Lục, chỉ huy Không quân Nga ở Bắc Triều Tiên là tướng Lev Shchukin ra lệnh cho 30 chiếc F15 bay lên nghênh chiến, mục tiêu ưu tiên là những chiếc máy bay ném bom B29 nặng nề và chậm chạp, hơn 200 chiếc Mig15 còn lại thuộc hai Sư đoàn không quân là 303 và 324 lùi sâu về những sân bay giáp biên giới Trung Quốc, làm nhiệm vụ dự bị. 11 giờ 15 phút trưa ngày 12/4, 20 chiếc Mig15 từ độ cao 9.000m bổ nhào xuống những chiếc B29 trong lúc 10 chiếc còn lại thực hiện kế nghi binh, dẫn dụ những chiếc F80 và F86 ra xa. Tấn công theo phương thẳng đứng, những loạt đạn 12,7mm trên những chiếc Mig15 xé toạc khung thân của những chiếc B29. Chỉ trong 3 phút, 10 chiếc B29 bị bắn rơi. Phi công Kramarenko nhớ lại: Có những chiếc B29 bốc cháy rồi nổ tung ngay trước mắt tôi. Nhiều chiếc khác cắm đầu xuống đất rồi tiếp theo là một cuộn khói lẫn lửa bùng lên. Có chiếc bị bắn gãy cánh, mất thăng bằng, lảo đảo trên không như lá vàng trước gió, vài chiếc dù bung ra trước khi nó rơi. Ở nhóm Mig15 nghi binh, hai bên quần thảo nhau trên bầu trời. Trung úy William Osborn, lái chiếc F86 kể: Do máy bay của chúng tôi đông quá nên việc phối hợp tác chiến không hiệu quả vì sợ bắn nhầm nhau. Thiếu úy Luvchenko, lái chiếc Mig15 nói: Máy bay Mỹ nhiều đến nỗi tôi không biết phải bắn chiếc nào. Hễ có một chiếc tôi vừa định đưa nó vào tầm ngắm thì ngay lập tức, lại có một chiếc khác lướt ngang, che khuất. Kết thúc cuộc tấn công kéo dài gần 6 phút, 10 chiếc B29 bị bắn rơi, một số khác bị bắn hỏng nhưng thời điểm ấy, phía Mỹ chỉ xác nhận mất 3 chiếc B29, 7 chiếc trúng đạn và vẫn bay về được. Phía Liên Xô 30 chiếc Mig trở về đầy đủ. Không quân Mỹ gọi đây là ngày “Ngày thứ sáu ảm đạm”.
Phi công Liên Xô, thắng ít thua nhiều, vẫn thường phải cố gắng tránh đối đầu với F-86. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đặt ra là phải có được những thông số kỹ thuật tuyệt mật của F-86. Trong khi các nguồn tình báo chưa thể thành công, nhiệm vụ đó lại được hoàn tất bởi một phi công Liên Xô: Thượng tá Pepelyayev, Trung đoàn trưởng Trung đoàn không quân tiêm kích số 196. Lúc đó đã là ngày 11/7/1951. Pepelayev, bằng tốc độ của MIG 15, bất ngờ tập kích được một chiếc F-86, ép phi công nhảy dù và rơi vào tay Chí nguyện quân. Qua thẩm vấn, phía Liên Xô đã nắm được điểm yếu chí mạng của chiếc máy bay chiến đấu tối tân ấy: Nâng độ cao chậm, nếu bay cao hơn 10.000m thì mọi tính năng đều suy giảm. Và ngày 6/10/1951, 10 chiếc MIG 15 vọt lên giao chiến với 16 chiếc F-86 ở độ cao hơn 8000m. Pepelayev chủ định bắn vào khoang lái, ép phi công bỏ máy bay nhảy dù thoát thân. Xác chiếc F-86 ấy, gần như nguyên vẹn, lọt vào tay lực lượng kỹ thuật Liên Xô.
Từ đó đến ngày ký hiệp định đình chiến ở Bàn Môn Điếm, rất nhiều cuộc không chiến giữa Mig15 và F80, F86 đã diễn ra, trong đó đáng kể nhất là trân “Thứ ba đen – Black Tuesday”, 27/10/1951. Tài liệu giải mật của Không quân Mỹ cho thấy 20 máy bay ném bom hạng nặng B29 và 4 phản lực tiêm kích F86 bị Mig15 bắn rơi. Cũng kể từ đó, các phi vụ ném bom của B29 chuyển sang tiến hành vào ban đêm để đề phòng “ông kẹ” Mig 15. Trong suốt quá trình không chiến giữa phi công Mỹ và phi công Liên Xô ở chiến trường Triều Tiên, lực lượng Không quân Liên Xô đã xuất hiện nhiều “át chủ bài – Ace”, đứng đầu là Nikolai Sutyagin. Ông đã bắn hạ 21 máy bay Mỹ, trong đó có 9 chiếc F-86, 1 chiếc F-84 và 1 Gloster Meteor của Anh Quốc trong vòng chưa đầy 7 tháng. Chiến công đầu tiên của ông diễn ra ngày 19/6/1951, chiếc Mig15 đã hạ gục chiếc F-86A của Robert H. Laier chỉ bằng 1 loạt đạn, còn lần cuối cùng là ngày 11/1/1952, cũng với chiếc Mig15, Nikolai Sutyagin đã biến chiếc F86-E do Thiel M. Reeves cầm lái thành đống sắt vụn. Bên cạnh Nikolai Sutyagin, một số phi công khác của Liên Xô cũng nổi danh không kém: Yevgeni G. Pepelyayev, bắn hạ 19 máy bay Mỹ, Lev Kirilovich Shchukin, bắn hạ 17 chiếc mặc dù ông cũng bị phía Mỹ bắn rơi 2 lần. Joseph McConnel là phi công chiến đấu đáng sợ nhất của Không quân Mỹ, với việc hạ tổng cộng 16 chiếc MIG 15. Một người khác, George Andrew Davis Jr được nhận Huân chương Danh dự bởi hy sinh khi cố gắng đơn độc đối đầu với phi đội 12 chiếc MIG 15.
Tới tận ngày 17/1/1952, chiếc Mig-15 của phi công Sergey Kramarenko mới bị trúng đạn. Chiếc dù của ông Sergey Kramarenko bị máy bay Mỹ tấn công. May mắn là chiếc dù được mây mù che phủ, nên ông Sergey Kramarenko mới tiếp đất thành công và được dân quân Bắc Triều Tiên cứu thoát. Trong chiến tranh Triều Tiên, Trung đoàn không quân cận vệ số 176 đã mất 8 phi công và 12 máy bay. Để bù lại, đơn vị không quân Liên Xô bắn hạ ít nhất 50 máy bay ném bom và nhiều máy bay chiến đấu của Mỹ và đồng minh. Chỉ tính riêng phi công Sergey Kramarenko đã hạ 21 máy bay, trong đó có 8 chiếc rơi xuống biển. Ông Sergey Kramarenko cho rằng chính sự có mặt của phi công Liên Xô tại Bắc Triều Tiên đã khiến Mỹ hủy kế hoạch ném bom nguyên tử Liên Xô để đẩy thế giới vào Thế chiến 3. Theo lời ông Sergey Kramarenko, Quân đội Mỹ đình ném 300 quả bom nguyên tử xuống Liên Xô, nhưng kết quả của cuộc không chiến tại Triều Tiên đã khiến Washington hiểu rằng tốt nhất là không nên tấn công Liên Xô. Phi công Sergey Kramarenko tiếp tục phục vụ Quân đội Xô Viết cho tới khi nghỉ hưu vào năm 1982. Ông Sergey Kramarenko đã được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý của nhà nước Xô Viết; được thăng quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Phó tham mưu trưởng Tập đoàn không quân số 23.
Mùa thu năm 1953, những chiếc trinh sát cải tiến đầu tiên của Không quân Mỹ tiến vào bán đảo Triều Tiên, rồi tham gia vào các nhiệm vụ trinh sát bí mật cho tới khi cuộc chiến tranh Triều Tiên kết thúc. Để thực thi kế hoạch tuyệt mật này thì càng ít người biết càng tốt, do đó Taylor – người phụ trách kế hoạch trinh sát này đã đặt tên cho trung đội trinh sát tuyệt mật của mình là “Fentong”. Sau khi nhận được lệnh hành động tuyệt mật từ chính quyền tối cao Washington, Trung đội Trinh sát chiến thuật số 15 lập tức tuyển chọn tỉ mỉ ra 20 phi công tin cậy và giỏi kỹ thuật để thành lập tổ hành động tuyệt mật. Mỗi khi thực hiện một nhiệm vụ trinh sát bí mật, một trong những chiếc RF-86 với bề ngoài không có gì khác so với những chiếc máy bay chiến đấu được cho lẫn vào biên đội máy bay chiến đấu, khi biên đội này tiến sát tới “hành lang MiG” và tiến hành giao chiến với Không quân Trung Quốc, thì chiếc máy bay trinh sát gián điệp này sẽ thừa cơ tiến về khu đông bắc Trung Quốc, rồi tiến hành chụp ảnh các mục tiêu có thể, thậm chí, những chiếc máy bay này còn mạo hiểm thâm nhập tới tận Thẩm Dương và Khabin.
Trong thời gian chiến tranh Triều Tiên, không quân Mỹ đã vào vùng trời của Trung Quốc, thế nhưng những chiếc RF-86 thuộc Trung đội trinh sát chiến thuật số 15 trên thực tế đã không những vào nhiều lần vào lãnh thổ Trung Quốc, mà còn tiến hành chụp lén nhiều hình ảnh về các sân bay, bờ đê và nhà máy ở khu vực đông bắc Trung Quốc. Ngoài ra, còn tiến hành trinh sát cả những mục tiêu ở Siberia của Liên Xô. Khi thực hiện những nhiệm vụ trinh sát bí mật đối với các mục tiêu ở Liên Xô, Bộ Tư lệnh Không quân Mỹ tại Viễn Đông đều thông báo rằng họ sắp cho máy bay của mình đi nghiên cứu hướng gió để viện cớ thâm nhập. Những hoạt động trinh sát gián điệp của Không quân Mỹ ở Siberia đã thu được những thành công không ngờ. Taylor – phi công từng tham gia trực tiếp những lần trinh sát bí mật tại Liên Xô cho biết: Chúng tôi đã chụp được nhiều bức ảnh và thu được rất nhiều thông tin tình báo có giá trị chiến lược, trong đó lần quan trọng nhất là tôi đã phát hiện thấy một sân bay lớn mà trước đây quân đội Mỹ không biết. Lần khác, chúng tôi đã phát hiện thấy một hạm đội của Liên Xô xuất hiện tại Thái Bình Dương.
Phi công Bill Bessette kể lại trong sự tức giận: Chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ trinh sát tuyệt mật này trên những chiếc RF-86 ở độ cao trên 50.000 thước (Anh), với tốc độ khoảng 600 dặm một giờ. Chỉ huy của chúng tôi nói rằng, radar của đối phương không thể dò tìm được ở độ cao quá 38.000 thước (Anh), do đó chúng tôi hoàn toàn có thể an tâm bay ở độ cao này mà không gặp phải bất kỳ nguy hiểm gì. Mãi về sau này tôi mới biết đây là một lời nói dối đáng sợ. Trung Quốc và Liên Xô không những có hệ thống radar “bắt” được chúng tôi, mà còn có thể cho máy bay lên bắn hạ chúng tôi, chỉ có may mắn tôi mới sống sót được đến ngày hôm nay. Giờ nghĩ lại, năm đó chúng tôi chỉ là những thanh niên trẻ ôm ảo tưởng hão huyền, mà không biết được rằng mình có thể gặp bao nhiêu nguy hiểm và rủi ro, và cũng không biết được sự lừa dối của chỉ huy cấp trên. Meyer, sống tại San Antonio, nhớ lại: Không quân Trung Quốc và Liên Xô không thể dò được máy bay của chúng tôi là những lời nói dối trắng trợn. Một lần, khi chúng tôi vừa thâm nhập được vào không phận Trung Quốc, đã phát hiện thấy hàng loạt máy bay chiến đấu MiG của Không quân Trung Quốc xung quanh. Chưa kịp phản ứng thì những chiếc trinh sát cùng đi với tôi, cái thì bị bắn hạ cái thì bị trọng thương. Thấy vậy, tôi vội vàng bay về khu vực Biển Đỏ, cùng lúc phát tín hiệu cấp cứu về trung tâm chỉ huy.
Hơn nửa thế kỷ sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc, Chính phủ Mỹ và quân đội nước này đã tìm mọi cách để che giấu sự kiện lịch sử đầy nhạy cảm này. Ngoài việc bắt những người từng trực tiếp tham gia phải ký vào thư tuyên thệ bảo mật, còn ra lệnh cho Cục An ninh quốc gia Mỹ tăng cường theo dõi những người này khiến họ luôn phải sống trong áp lực và nỗi sợ hãi. Ngoài ra, quân đội và Chính phủ Mỹ còn tìm mọi cách để che giấu về giai đoạn lịch sử này. Trong hồ sơ tác chiến của Không quân Mỹ không hề đề cập đến vai trò của loại máy bay chiến đấu RF-86 trong chiến tranh Triều Tiên, mà chỉ đề cập sơ lược rằng, loại máy bay này được cung cấp cho Cục Phòng vệ Nhật Bản sử dụng năm 1961. Quan trọng hơn, loại máy bay này trong cuộc chiến Triều Tiên chỉ được Trung đội Trinh sát chiến thuật số 15 lái, cho nên càng dễ cho Chính phủ Mỹ “cất giấu” vào trong đội hình máy bay chiến đấu F-86 thông thường.
Link:

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s