Liên minh Dân chủ hữu ích ra sao và làm thế nào có thể xảy ra một cuộc phục hồi Độc tài toàn cầu?

BN-EU285_0930cp_P_20140930164214

Lilia Shevtsova

Bùi Zuy Zi dịch

Trong việc tạo ra một nền tảng thể chế để thống nhất tự do của thế giới trong vài năm qua, một số chuyên gia Mỹ đã đồng thời đề xuất các nền dân chủ. Robert Kagan gọi phiên bản của mình là Liên minh các Nước Dân chủ.[1] Liên minh Dân chủ của Ivo Daalder và James Lindsay là một cái tên đơn giản hơn một chút cho một ý tưởng tương tự về cơ bản. Những đề xuất này nhanh chóng được các chính trị gia Đảng Cộng hòa tại Hoa Kỳ, đặc biệt là John McCain, áp dụng. Mặc dù sự nhiệt tình đối với khái niệm này ngày nay đã giảm đi phần nào, nhưng những thất bại hơn nữa trong quan hệ với Nga hoặc Trung Quốc có thể một lần nữa khiến nó trở lại có lợi.

Mặc dù tôi đánh giá cao sự thúc đẩy đằng sau việc tạo ra một nền tảng hợp tác giữa các nền dân chủ tự do và thậm chí sẵn sàng thừa nhận rằng Liên minh Dân chủ có thể giúp hình thành một chiến lược chung của phương Tây về các xã hội chuyển đổi, tôi cũng thấy có một vấn đề nghiêm trọng về ý tưởng này. Một Liên minh Dân chủ sẽ đẩy các quốc gia phi dân chủ một cách hiệu quả, trước hết là Nga và Trung Quốc, sang một lĩnh vực riêng biệt, song song của các mối quan hệ quốc tế. Tôi không hiểu làm cách nào mà liên đoàn có thể hóa giải những hậu quả tiêu cực của sự phân chia đó hoặc gây ảnh hưởng lên hệ thống song song đó. Tôi sợ rằng sự xa lánh như vậy sẽ chỉ làm gia tăng xu hướng độc tài ở Nga. Tất nhiên không ai biết chắc chắn Liên minh Dân chủ sẽ diễn ra như thế nào nếu nó ra đời, nhưng theo ước tính của tôi, những nhược điểm tiềm ẩn của ý tưởng này lớn hơn những lợi ích tương lai.

Nếu không phải là Liên minh Dân chủ, thì sao, còn đối lập của nó, theo cách nói: một cuộc phục hồi độc tài toàn cầu? Ý tưởng chính là điệu nhạc rót vào tai người Nga, hứa hẹn sẽ làm hồi sinh trường phái độc tài còn nhiều suy yếu của họ. Trong bài báo của ông trên tờ Foreign Affairs tháng 8 năm 2007, “Sự trở lại của các cường quốc độc tài”, nhà sử học người Israel Azar Gat đã viết rằng “Trung Quốc và Nga đại diện cho sự trở lại của các cường quốc tư bản độc tài thành công về mặt kinh tế.” Ông tiếp tục, “Họ có thể có đủ sức nặng để tạo ra một Thế giới thứ hai phi dân chủ nhưng tiên tiến về kinh tế …. Một Thế giới thứ hai phi dân chủ thành công có thể được nhiều người coi là một sự thay thế hấp dẫn cho nền dân chủ tự do.”[2]

Tôi tin rằng có một lời giải thích đơn giản cho sự xuất hiện của ý tưởng này ở phương Tây vào thời điểm cụ thể đó. Năm 2007 đánh dấu đỉnh cao của thời kỳ phục hưng kinh tế ở Nga, khi giá năng lượng cao và triển vọng kinh tế thuận lợi khiến nước này rất giống một nhân tố toàn cầu có ảnh hưởng với tham vọng xét lại. Hãy nhớ lại rằng vào tháng 2 năm 2007, tại Hội nghị An ninh Munich, Putin đã khiến cộng đồng phương Tây choáng váng khi đặt ra một bảng chi tiết cụ thể dưới chân Mỹ và tuyên bố những tham vọng mới của Nga. Không có dấu hiệu công khai nào hồi đó về thảm họa tài chính sẽ sớm khiến tâm trạng trở nên ảm đạm ở các thủ đô trên thế giới, bao gồm cả Moskva. Đó cũng là thời điểm Trung Quốc bắt đầu nổi lên như một trong những cường quốc hàng đầu thế giới.

Đối với Trung Quốc, nếu không phải là Nga, các sự kiện trong vài năm qua cũng cho thấy ý tưởng của Gat. Thành công của Trung Quốc trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm sống lại luận điểm của ông ta về sức hấp dẫn của mô hình chuyên chế. Ý tưởng rằng Trung Quốc có thể trở thành một cực quyền lực mới trong hệ thống quốc tế đã được bày tỏ bởi khá nhiều người tham gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới Davos năm 2010. Luận điểm của Gat đã giải quyết một vấn đề dường như đã được giải quyết từ lâu. Cho đến gần đây, có một tiên đề trong tư tưởng chính trị rằng, trong khi hiện đại hóa công nghiệp có thể thực hiện được dưới chế độ chuyên chế, thì hiện đại hóa hậu công nghiệp đòi hỏi một xã hội tự do và cạnh tranh. Kinh nghiệm của Trung Quốc dường như gợi ý khác. Một số tiếng nói ở Nga và phương Tây cho rằng đã đến lúc từ bỏ thuyết định mệnh tự do và thừa nhận rằng sự kết hợp giữa chủ nghĩa độc tài và chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc và Nga đã tạo ra một định hướng văn minh thay thế phương Tây. Những người ủng hộ “thời kỳ phục hưng độc tài” này bắt đầu nói với thế giới rằng phương án thay thế này đòi hỏi phải quay trở lại mô hình quốc tế của thế kỷ trước. Mô hình đó có nghĩa là một cuộc đấu tranh giữa các quyền lực và sự phân chia ý thức hệ giữa một bên là nền dân chủ phương Tây và bên kia là các quốc gia độc tài mới.

Nhóm cầm quyền hiện tại ở Moskva đã nhiều lần cố gắng thuyết phục thế giới rằng họ đang đưa ra một mô hình phát triển mới. Nó dựa vào việc các nhà quan sát hiểu thành công kinh tế của Nga trong thời kỳ Putin (2000–2008) là xác nhận rằng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa độc tài là tương thích. Trong chính sách đối ngoại, Điện Kremlin khôi phục trở lại vị thế địa chính trị. Chỉ vì vậy, quan điểm cũ về quan hệ giữa Nga và phương Tây, mô hình “quan hệ đối tác”, giờ đã lỗi thời. Tăng trưởng kinh tế chưa từng có của Trung Quốc chỉ xác nhận quan điểm này.

Robert Kagan, một nhà tư tưởng có sở trường khuấy động cuộc tranh luận trong cộng đồng chính sách đối ngoại, đã hình thành một lý thuyết để mô tả sự phân chia mới của thế giới. Trong cuốn sách Sự trở lại của lịch sử và sự kết thúc của những giấc mơ, ông viết, “Thật sai lầm khi tin rằng chế độ chuyên quyền không có sức hấp dẫn quốc tế.” Ông lập luận rằng cả Trung Quốc và Nga đều có thể trở thành hình mẫu để các quốc gia khác thi đua. “Ngày nay, sự tái hợp của các cường quốc chuyên quyền lớn, cùng với các lực lượng phản động của chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo, đã làm suy yếu trật tự [quốc tế tự do] và có nguy cơ làm suy yếu nó hơn nữa trong những năm và thập kỷ tới.”[3] Do đó, thế giới phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ, nên bắt đầu củng cố quyền lực của mình để đối phó với thách thức mới này.

Có những chuyên gia phương Tây đã phản đối ý tưởng về một thời kỳ phục hưng độc tài, và tôi thấy lập luận của họ thuyết phục. Sự phản đối chính của họ là hiện nay, cả Trung Quốc và Nga đều không đưa ra được bằng chứng nào cho thấy hệ thống chuyên chế của họ có thể tạo ra một chủ nghĩa tư bản hậu công nghiệp bền vững. Tăng trưởng kinh tế ở những quốc gia này không đảm bảo cho sự phát triển kinh tế ổn định hoặc quá trình chuyển đổi sang giai đoạn công nghệ cao. Daniel Deudney và G. John Ikenberry cho rằng kinh nghiệm của Trung Quốc và Nga không những không bác bỏ mối liên hệ giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tư bản hậu công nghiệp; trái lại, nó khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hậu công nghiệp là không thể mà không giải quyết những vấn đề này: đảm bảo các quyền cá nhân; nuôi dưỡng sự cạnh tranh chân chính; tạo ra một tầng lớp trung lưu hoạt động chính trị; thiết lập nhà nước pháp quyền; và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân.[4] Deudney và Ikenberry cho rằng chủ nghĩa độc tài không có khả năng giải quyết những vấn đề này. Cho phép tôi thêm một sự yếu kém của độc tài vào danh sách của họ: Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bộc lộ những điểm yếu nhất định trong hiện thân của chủ nghĩa tư bản tự do, cũng cho thấy rằng các hệ thống độc tài thậm chí còn ít được trang bị tốt hơn để đối phó với những sự kiện như vậy. Sự ngoại lệ được cho là của Trung Quốc đối với quy tắc này vẫn chưa chứng minh được tính bền vững của nó. Ngoài ra, trường hợp của Trung Quốc đang giải quyết một hoàn cảnh hoàn toàn khác – một nền kinh tế công nghiệp, thay vì một nền kinh tế hậu công nghiệp.

Ý tưởng về một thời kỳ phục hưng độc tài tự nhiên khiến một số chuyên gia đi đến kết luận rằng chúng ta sắp chứng kiến ​​sự tái sinh của cuộc đấu tranh địa chính trị và ý thức hệ trên quy mô toàn cầu. Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Nga, những nhà lãnh đạo được chỉ định của “quốc tế độc tài”, đều không sẵn sàng đối đầu với phương Tây trên quy mô lớn như vậy.

Về phần mình, Trung Quốc không có ý định làm như vậy; mục tiêu của nó là trở thành một bên có ảnh hưởng lớn hơn trong hệ thống tư bản toàn cầu hiện có. Có lẽ một ngày nào đó Trung Quốc có thể trở thành trung tâm của một hệ thống địa chính trị mới, nhưng điều đó khó có thể xảy ra sớm.

Ngay cả giới tinh hoa Nga, vốn quyết định đối đầu chính trị với Mỹ vào tháng 8 năm 2008, cũng chưa sẵn sàng cho cuộc đối đầu toàn diện với phương Tây. Nga sẽ không dựng lên một cực mới của quyền lực độc tài trên lãnh thổ của Liên Xô cũ trong tương lai gần. Trên thực tế, chúng tôi thấy các dấu hiệu cho thấy các đồng minh của Nga đang tìm kiếm sự hỗ trợ từ các quốc gia hàng đầu thế giới khác để tự bảo vệ mình trước vòng tay ngột ngạt của Moskva. Ý tưởng về một thời kỳ phục hưng độc tài là một nỗ lực thất bại trong việc giải thích bản chất của các hệ thống phi dân chủ của Trung Quốc và Nga dựa trên những thành công kinh tế của họ trong vài năm qua. Tôi hy vọng rằng cuộc khủng hoảng kinh tế gây ảnh hưởng nặng nề đến nước Nga, sẽ sửa chữa sự lạc quan thái quá về cả tương lai của nước này và ý tưởng phục hưng độc tài một cách rộng rãi hơn.

Tuy nhiên, cuộc thảo luận xuất phát từ khái niệm “phục hồi độc tài” là một cuộc thảo luận hữu ích, vì nó tập trung sự chú ý của phương Tây vào một số vấn đề mà họ đã bỏ qua quá lâu. Nó cũng buộc chúng tôi phải tiếp tục khám phá những cách thức mới mà phương Tây có thể phản ứng hiệu quả trước các quốc gia độc tài có tham vọng toàn cầu – chính xác là nước Nga ngày nay. Phương Tây không thể quay lại mô hình đối đầu trong quá khứ với “Đế chế Ác ma”. Tư duy cũ kỹ như vậy có thể đẩy giai cấp thống trị Nga sang chế độ độc tài quân phiệt. Tuy nhiên, Chính trị-thực dụng trong những năm gần đây cũng không có khả năng làm dịu bước tiến của Nga đối với phương Tây hoặc đảm bảo sự hợp tác của Nga trong các lĩnh vực cùng quan tâm.


NGUỒN: Lilia Shevtsova, Lonely Power: Why Russia Has Failed to Become the West and the West is Weary of Russia, Carnegie Endowment, Washington, D.C, 2010, tr. 251-254.

[1] Robert Kagan, “The World Divides … and Democracy Is at Bay, (Thế giới chia rẽ … và Dân chủ đang ở Vịnh)” Times, September 2, 2007, http://www.timesonline.co.uk/tol/comment/columnists/guest_contributors/article2367065.ece.

[2] Azar Gat, “The Return of Authoritarian Great Powers, (Sự trở lại của các cường quốc độc tài)” Foreign Affairs, July- August 2007.

[3] Robert Kagan, The Return of History and the End of Dreams/ Sự trở lại của lịch sử và kết thúc của những giấc mơ (New York: Alfred A.Knopf, 2008), pp. 69, 105.

[4] Daniel Deudney and G. John Ikenberry, “The Myth of the Autocratic Revival: Why Liberal Democracy Will Prevail, (Huyền thoại về sự phục hưng chuyên quyền: Tại sao Nền dân chủ tự do sẽ có trước)” Foreign Affairs, September-October 2008.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s