Vài cảm nghĩ về: Chiết tự – sự sáng tạo của Ông Cha ta khi học chữ Hán

Kỳ Thanh

Thực tế là trong tiếng Việt của chúng ta đang dùng đã có đến gần 60 % là từ Hán Việt, đa phần là những từ không có tiếng thuần Việt thay thế;  thí dụ như việt, nam, dân, chủ, văn, minh, độc lập, tự chủ... Chính là nhờ các từ Hán Việt này mà ngôn ngữ Việt Nam đã trở nên đa dạng, phong phú và sâu sắc.

Các kinh sách Phật giáo, đa phần là từ Hán Việt; là Phật tử muốn thông hiểu những lời Phật, Tổ đã dạy; để việc hoằng pháp độ sinh đạt hiệu quả cao, thiết nghĩ: điều kiện tối thiểu là thông hiểu từ Hán Việt.

Thí dụ: phân biệt yếu điểm要点 (theo văn phạm Hán Việt) với điểm yếu (theo văn phạm Việt ngữ), hoặc hiểu chữ “minh”, với: minh明nghĩa là sáng sủa như “văn minh文明”; minh冥là tối tăm như “u minh幽暝”; minh盟là thề ước như “đồng minh同 盟”; minh鳴là chim hót như “điểu minh鸟鳴”; minh 铭là tạc ghi như “minh tâm铭心” v.v.

Người Việt cần phải học chữ Hán để biết các điểm quan trọng trong ngôn ngữ Việt. Việc học Hán văn không chỉ giúp cho việc học tiếng Việt và văn hóa Việt (trong đó có Phật học) mà còn là việc làm trong ý thức là bảo vệ văn hóa dân tộc. Ông Cha ta đã sáng tạo ra phương pháp đặc thù riêng để dễ học, dễ nhớ chữ Hán, đó là “Chiết Tự”. Vì chính việc học chữ Hán có bài bản và trong tinh thần khai phóng, sáng tạo của Ông Cha ta, mà dân tộc Việt đã hấp thụ những tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa; đã làm phong phú, đa dạng, tiện dụng và ngày càng hoàn chỉnh cho ngôn ngữ Việt.

***

Chiết tự là gì?

Chiết tự 折字, đầu tiên xem chữ chiết gồm bộthủ: tay;  và chữ cân: cái rìu chặt gỗ. Ý nói tay cầm rìu chia khúc gỗ ra làm nhiều đoạn nhỏ. Chữ  tự gồm bộ miên: mái nhà và bộ tử: bé trai. Ý rằng: ngày xưa, nhà nào sinh được con trai (ưu tiên được học chữ) là nhà có nhiều chữ nghĩa.

Vậy chiết tự là chữ được phân tích ra để rõ nghĩa. Dựa theo nghĩa của các yếu tố cấu thành xác định nghĩa của cả chữ.

Ông Cha ta đã sáng tạo ra phương pháp đặc thù riêng để dễ học, dễ nhớ chữ Hán:  là Chiết tự; là phân chia một chữ Hán ra làm nhiều thành phần nhỏ, mỗi thành phần nhỏ mang ý nghĩa khác nhau, (tùy theo sự cảm nhận và thấy biết của mỗi người); rồi tổng hợp lại thành nghĩa toàn phần. Nắm vững yếu tố chính (đặc điểm của chữ Hán) là từng nét chữ… đều tiềm ẩn nội dung về học thuật, tư tưởng, và liên hệ mật thiết với sinh hoạt hằng ngày của quần chúng; và cũng hiểu rõ tính nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình – Chữ Hán.

Chiết tự trong chữ Hán trở nên đa dạng về hình thức và kiểu loại, phong phú về nghệ thuật ngôn từ. Để dễ nhớ, chiết tự thường được thể hiện dưới dạng thơ hoặc văn vần qua hàng loạt các bài thơ, câu đố chiết tự, rất cuốn hút đối với người học.

  • Đấm một đấm, hai tay ôm quàng
    Thuyền chèo trên núi, thiếp hỏi chàng chữ chi ?
  • Lại đây anh nói nhỏ em nì
    Ấy là chữ mật một khi rõ ràng.

Đấm một đấm hai tay ôm quàng là dáng dấp của bộ miên; thuyền chèo là dáng dấp của chữ tất , thuyền chèo trên núi là chữ sơn . Ghép lại chúng ta được chữ mật (bí mật, rậm rạp) (Chiết tự dựa vào hình thể).

  • Anh kia tay ngón xuyên tâm.
    (Chữ tâm + nét phẩy丿tay ngón = tất )
  • Mặt trời đã xế về chùa.
    (Chữ nhật + tự = thời )
  • Chữ lập đập chữ viết, chữ viết đập chữ thập.

(Chữ lập + viết + thập = chương )

  • Ông thổ vác cây tre, đè bà nhật.

(Chữ thổ + nét phẩy丿cây tre + nhật = giả )

  • Em là con gái đồng trinh
    Chờ người tuổi Tuất gá mình vô em
    .

(Chữ tuất + nữ = uy )

  • Đất sao khéo ở trong cung,
    Ruộng thời hai mẫu, bờ chung ba bờ
    .

(Chữ thổ (đất) + cung + điền (ruộng) (hai chữ điền = hai mẫu) +

(ba vạch ngang = ba bờ) thành cương )

***

Chiết tự cũng là một kiểu “chơi chữ”, nhiều thế hệ học chữ Hán xem trọng thú “chơi chữ”: cách chơihọc, họcchơi để học chữ Hán theo hướng dễ học, dễ nhớ.

  • Chữ thiên : nhất đại vi thiên 一大爲天; chữ nhất 一trên đầu chữ đại thành chữ thiên; trời là lớn hơn cả, là trên hết.
  • Chữ náo : thị tại môn tiền náo 市在門前閙; chợ () trước cửa nhà () thì náo nhiệt (), ồn ào.
  • Chữ nhàn : nguyệt lai môn hạ nhàn 月來門下閒; ánh trăng () rọi xuống cửa nhà (); thảnh thơi, nhàn hạ () mà chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đêm trăng sáng.
  • Chữ đức:

Chim chích mà đậu cành tre,

Thập trên, tứ dưới, nhất đè chữ tâm.

Chim chích (đồng âm với bộxích) hình ảnh bước chân của chim di chuyển trên cành tre; thập trên, tứ dưới, nhất, đè chữ tâm.

  • Hai người đứng giữa cội cây,

          Tao chẳng thấy mày, mày chẳng thấy tao.

          Đó là hình chữ lai . Chữ lai có hai chữ nhân ở hai bên, chữ mộc ở giữa. Thực ra hai chữ nhân này vốn là tượng hình hai cái gai. Lai là tên một loại lúa dại có gai (đồng âm với),  chữnghĩa là đến.

  • Con gái mà đứng éo le,

Chồng con chưa có kè kè mang thai.

Đây là câu đố về chiết tự chữ thủy . Chữ thủy vốn là một chữ hình thanh, có chữ thai chỉ âm (đồng âm : có mang), chữ nữ là người con gái, chỉ nghĩa.

  • “Hai cung kêu bựt bựt. Ba xe chạy oanh oanh”

Trương Vĩnh Ký

 

Chữ bật  (âm ): Với chữ bách(âm bǎi) nằm giữa hai chữ cung, các thanh âm đều vần b: bựt – bật – bách – (âm bǎi)…tuyệt vời!!

Chữ oanh. Chữ oanh được viết với ba chữ xavà có nghĩa là “tiếng động của nhiều xe cùng chạy“.

  • Chữ điền được nhìn nhận qua hình thể của những chữ Hán khác nhau và được mô tả:

Lưỡng nhật bình đầu nhật

Tứ sơn điên đảo sơn

Lưỡng vương tranh nhất quốc

Tứ khẩu tung hoành giang.

 

两日平頭日

四山颠倒山

两王争一國

四口纵横江

 

Hai chữ nhật đứng kề ngang nhau

Bốn chữ sơn  quay đầu vào nhau

Hai chữ vương kết hợp lại

Bốn chữ khẩu tạo nên điền.

          Lối phân tích trên, chứng tỏ các bậc tiền nhân của ta đã đạt trình độ nhuần nhuyễn về chiết tự. Hiểu rõ tính nội hàm thâm sâu của loại chữ viết tượng hình.

***

Bài thơ “Chiết Tự” của CT Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Ngục trung nhật ký –  ”, tức “nhật ký trong tù”.

Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,

Hoạn quá đầu thì thủy kiến trung;

Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,

Lung khai trúc sản, xuất chân long.

 

囚人出去或為國

患過頭時始見忠

人有憂愁優點大

籠開竹閂出真龍

 

Người thoát khỏi tù ra dựng nước,

Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;

Người biết lo âu, ưu điểm lớn,

Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!

Theo lối “phân tích”, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau:

Chữ bỏ chữ nhân, cho chữ hoặcvào, thành chữ quốc.

Chữ hoạnbớt phần trên đi thành chữ trung.

Thêm bộ nhânđứng vào chữ ưutrong “ưu sầu” thành chữ ưutrong “ưu điểm”.

Chữ lungbỏ bộ trúc đầuthành chữ long.

***

Diễn giải:

 

          nhất一  —  nhân人  —  đại大  —  thiên

          môn門  —  thị 市  —  náo

môn門  —  nguyệt 月  —  nhàn

          xích  彳  —  thập 十  —  tứ四  —  nhất一  —  tâm 心  — đức

          nhân 人  —  mộc 木  —  lai

          thai 台  —  nữ 女  —  thủy

          xa車  —  oanh

          nhật日  —  sơn  山  —  vương 王  —  khẩu 口  —  điền

          tù囚  —   nhân人  —  hoặc或   —  quốc

       hoạn患  —  trung

          nhân (đứng) 人  —  ưu憂  —  ưu

          lung籠  —  trúc竹  —  long

*****

Bảng minh họa “phân tích” từ đơn

Ghi chú: chữ in nghiêng, chữ trong dấu ngoặc (in nghiêng) là phiên âm. Phiên âm: 拼音 bính âm (pīn yīn). Phiên âm được sử dụng là 汉语拼音 (hàn yǔ pīn yīn), âm đọc tiếng phổ thông  (pǔ tōng huà) và ghi bằng phiên âm la-tinh.

Chữ Hán Phiên âm Hán Việt Phân tích thành phần   Nghĩa 
Phật bên trái bộ nhân là người; bên phải chữ phất () là không, phủi sạch. Ý nói người đã phủi sạch bụi trần, không còn vương vấn nợ đời. người đã giác ngộ tức là Phật, hay gọi là Bụt.
tục bên trái bộ nhân là người, bên phải bộ cốc () là hang động, dưới, thấp. Ý nói tầng lớp thấp trong xã hội. giới bình dân.
xiān tiên bên trái bộ nhân là người, bên phải bộsơn (shān) là núi, trên cao. Ý nói: vị trí đứng càng cao thì tầm nhìn càng xa càng rộng. người sống ẩn dật trên các ngọn núi, xa rời trần tục.
pháp bên trái bộ thủy (shǔi): nước, bên phải chữ khứ (): đi. Ý rằng người xưa khi đi săn hái để mưu sống, phải đi theo dòng chảy của nước thì ít khi bị lạc đàng. Nhờ dòng chảy của nước mà dễ định hình, dễ đi lại.

 

là cách thức và phương pháp để được sinh tồn.
míng minh nhật(): mặt trời, nguyệt (yuè): mặt trăng; cùng chiếu thì nhất định sáng. sáng sủa, rõ ràng.
jiān tiêm đại (): lớn, tiểu (xiǎo): nhỏ; cái gì lớn mà nhỏ dần thì sẽ nhọn. nhỏ và nhọn.
xìng tính nữ + sinh(shēng): sinh. Xã hội mẫu hệ thời tiền sử, lấy tên gọi của mẹ để phân biệt dòng họ này với dòng họ khác. Sau này, đến khi người tiền sử biết cách trồng trọt thì vai trò của người cha được nâng cao; xã hội phụ hệ hình thành thì lấy họ cha là chính. họ, tức tên gọi để phân dòng họ này với dòng họ khác.
ích bên trên làthủy (shǔi): nước; dưới làmãnh (mǐn): dĩa, vật chứa. Nghĩa là nước được chứa đựng trong khay là hữu dụng; hoặc là có vật dụng để chứa nước; cả hai đều tương trợ nhau thì có ích lợi. hữu dụng, tiện ích.
jīng tinh nhật(): mặt trời; một mặt trời đã là sáng, ba mặt trời thì trong sáng lắm. trong suốt, lóng lánh.
jiā gia miên(mián): mái nhà + thỉ (shǐ) con heo. Ý rằng: heo là súc vật dễ nuôi, chóng lớn, đẻ nhiều. Vì tuổi thọ thấp, người tiền sử rất ước ao có được nhiều con để kế thừa. Gia đình có nhiều con là có phúc. nhà, mái ấm.
yàn yến miên(mián): mái nhà + nhật + nữ ; ngày người con gái về nhà chồng, người xưa thường mở tiệc (vu qui) để khoảng đãi họ hàng. yên ổn, bữa tiệc đãi khách, vui vẻ.
ān an miên(mián): mái nhà + nữ ; trong nhà có người nữ đảm đang, chăm lo mọi việc thì an lòng. yên ổn.
chén thần miên(mián): mái nhà + thìn (chén) con rồng. Ý rằng nhà ở của vua chúa. dinh thự.
= chǒng sủng miên(mián): mái nhà + long (long) = con rồng. Ý rằng nhà có quý tử, mang đến vẻ vang, vinh hạnh cho họ tộc.   vinh quang, sủng ái.
pín bần bối(bèi): tiền bạc; phân(fèn): chia ra. Của cải càng chia thì càng ít (nghèo). nghèo nàn, thiếu thốn.
jiè giới nhân (rén) người đứng giữa làm mai mối cho hai kẻ (||) xa lạ quen biết nhau. giới thiệu, đứng giữa, môi giới.
péng bằng nguyệt(yuè): mặt trăng, ( hình ảnh: kẻ cô đơn). Ngụ ý hai mảnh hồn cô đơn gặp gỡ đã trở thành đôi bạn. bạn bè, cùng nhau.
khúc viết (yuē): nói (cái lưỡi 一 ở trong miệngkhi ta mở mồm nói); hai vạch thẳng đứng (||) bên trong (nhiều cách khác nhau). Ngụ ý: cái lưỡi () không xương, nhiều đường (||) lắt léo. cong, lên xuống không đều.
mèn muộn môn(mén): cửa; tâm (xin): tấm lòng. Ngụ ý: lòng kẻ ở thương nhớ người đi, tựa cửa trông ngóng đợi người về. buồn rầu, không vui.
=

héng hằng tâm(xin): tấm lòng. Chữ nguyệtở giữa hai vạch ngang, ý rằng vầng trăng hiện hữu giữa khoảng đất trời () tượng trưng cho sự trường cửu vì trăng có bao giờ mất. Tương tự thay chữ bằng chữ, nghĩa không đổi (đồng âm đồng nghĩa). lâu dài, bền lòng, vĩnh cửu.
gèng canh muốn sửa đổi tánh hư tật xấu của một đứa trẻ, ta phải dùng lời nói () để khuyên nhủ hoặc dùng hình phạt tay () cầm roi (一) để dạy chúng. sửa đổi, thay thế.
tự bộ thổ (đất) + bộ thốn (đo chiều dài),  thành chữ tự: dinh thự, nhà quốc khách. Đời vua Hán Minh Đế mời hai vị sư bên Thiên Trúc sang, vì chưa có chỗ ở riêng, mới đón vào ở sở (nhà để khách nước ngoài ở tạm) Hồng Lô Tự, vì thế về sau các chỗ sư ở đều gọi là tự. chùa.
cuộc đời là định mệnh, nếu ta biết đem cái tâm mà tu sửa () thì những nỗi nguy khốn cũng giảm bớt đi để đời sống () của ta được hồi hoàn trở lại: Đức năng thắng mệnh 德能胜命 (dé néng shèng mìng). hồi sinh, tỉnh lại.
chūn xuân xã hội nông nghiệp xưa, ngày () mà thiên nhân địa () giao hòa, người nông dân được rãnh rang việc đồng áng, nên tụ hợp nhau đông đảo () để hội hè, đình đám. mùa xuân.
pǐn phẩm hai miệng () dưới cãi lý, miệng thứ ba đứng ở trên làm trọng tài, bình phẩm giá trị. khen chê, sản phẩm.
méng minh nhật(): mặt trời, nguyệt (yuè): mặt trăng; ngụ ý hai quan niệm khác nhau, cùng thề ước [mãnh (mǐn): chén thề] chung lòng, cùng ý bên nhau dưới sự chứng giám của trời đất. thề, kết nghĩa, đồng minh.
ngư bắt cá (ngư), (thủy, hải sản) dưới nước (), nghĩa là dân chài. bắt cá, đánh cá.
tián điềm thiệt(shé): lưỡi; nếm vị cam(gān) ngọt thì thấy ngọt ngào. vị ngọt, ngon ngọt.
= zāi tai lửa () bén lên mái nhà () thì quả là tai họa ().

sông nước () và lửa () đều là những thứ gây tai họa ()

= đồng âm đồng nghĩa.

nạn, tai họa.
= miè diệt lửa () lấy gì đó đậy lên (dập tắt) thì sẽ tắt, bị diệt. dập tắt, diệt.
= chén trần đất () +  nhỏ () tức là bụi. bụi, bụi đất.
huó hoạt lúc khát, có nước () để uống; khi lưỡi () nếm được nước thì sẽ tỉnh ngay. Ngụ ý: nước là nguồn sống của mọi sinh vật. sống, sinh động.
hợp nhân (rén), nhất (), khẩu (kǒu) đều biểu trưng cho người, nghĩa là tập hợp các dạng người khác nhau. gom lại, kết tập.

***

Người xưa chơi chữ (gọi là thuyết văn giải tự说文解字) không chỉ riêng “chiết tự”, mà cả “hợp tự 合字”. “Chiết tự” là bẻ một chữ ra thành nhiều chữ có nghĩa; còn “hợp tự” là ghép nhiều chữ thành một chữ. Phép “hợp tự” là làm ngược với “chiết tự”, và “chiết tự” là làm đảo lại việc “hợp tự”.

Khi bẻ chữ, hay ghép chữ; chữ nguyên gốc và chữ mới đều có nghĩa nào đó; với nghĩa ấy, người chơi muốn thể hiện lòng mình, hướng về thiên nhiên, xã hội và con người.

Thí dụ 1:

人曾是僧人弗 能成佛
女卑为婢女又可称奴

Nhân tằng vi tăng, nhân phất năng thành Phật
Nữ ti vi tì, nữ hựu khả xứng nô.


Chữ nhân bên chữ tằng thành chữ tăng, chữ nhân bên chữ phất thành chữ Phật (người tu đã ngộ).

Chữ nữ bên chữ ti thành chữ , chữ nữ bên chữ hựu thành chữ (nô tì).

***

安女去豕入为家.

An nữ khứ thỉ nhập vi gia.

Chữ an (êm đềm) bỏ chữ nữđi, đưa thêm vào chữ thỉ (con heo) thành chữ gia (nhà).

***

 

古木枯 此木成柴
女子好 少女更妙

Cổ mộc khô thử mộc thành sài
Nữ tử hảo thiếu nữ cánh diệu.


Chữ cổ bên chữ mộc thành chữ khô, chữ thử trên chữ mộc thành chữ sài (củi).

Chữ nữ bên chữ tử thành chữ hảo, chữ thiếu bên chữ nữ thành chữ diệu (tốt đẹp).

***

 

妙人儿倪 家少女
武士心志 在止戈

Diệu nhân nhi nghê gia thiếu nữ
Võ sĩ tâm chí tại chỉ qua.

Chữ diệu bẻ thành hai chữ thiếu nữ (ở đây khi bẻ chữ Diệu, người ta xếp chữ thiếu rồi mới đến chữ nữ, dụng ý là tạo thành từ  “thiếu nữ”).

Chữ ( = võ) bẻ thành hai chữ: chỉ qua

 

***

 

Câu sau đây tương truyền là về mối tình của Đường Bá Hổ điểm Thu Hương 唐伯虎點秋:

十口心思 思国思家思社稷
八目尚賞 賞风賞月賞秋香

Thập khẩu tâm tư, tư quốc, tư gia, tư xã tắc
Bát mục thượng thưởng thưởng phong thưởng nguyệt thưởng Thu Hương.


Chữ thập nằm trong chữ khẩu thành chữ điền ; chữ điền trên chữ tâm thành chữ (nhớ), nhớ nước, nhớ nhà, nhớ xã tắc.

Chữ mục trên chữ bát thành chữ bối; chữ nằm dưới chữ thượng thành chữ thưởng (thưởng thức), thưởng gió, thưởng trăng, thưởng Thu Hương (Thu Hương là người tình của Đường Bá Hổ).

***

Câu dưới đây tương truyền là của Trạng nguyên 状元Mạc Đĩnh Chi莫挺Việt Nam 越南:

十口心思 思国思家思社稷
寸身言谢 谢天谢地谢君王

Thập khẩu tâm tư, tư quốc, tư gia, tư xã tắc,
Thốn thân ngôn tạ, tạ thiên tạ địa, tạ quân vương.

Chữ thập nằm trong chữ khẩu thành chữ điền , chữ điền trên chữ tâm thành chữ (nhớ), nhớ nước, nhớ nhà, nhớ xã tắc.

Bộ thốn bên chữ thân thành chữ xạ , chữ xạ đứng bên chữ ngôn thành chữ tạ (ơn), ơn trời, ơn đất, ơn vua.

***

Bài thơ nổi tiếng của Đào Duy Từ (1572-1634) 陶維慈đã cứu thoát Văn Khuông:

Mâu nhi vô dịch,

Mịch phi kiến tích,

Ái lạc tâm trường,

Lực lai tương địch.

Mâu nhi vô dịch 矛而無 : chữ mâu mà mất cái phẩy (dịch = nách) thì thành chữ  , nghĩa là ta.

Mịch phi kiến tích 覔非見迹: chữ mịch không có chữ kiến thì thành chữ bất nghĩa là không.

Ái lạc tâm tràng 愛落心肠: chữ ái lạc mất chữ tâm thì thành chữ thụ nghĩa là nhận.

Lực lai tương địch 力來相敌: chữ lực đứng ngang với chữ lai thì thành chữ sắc = sắc phong.

Tóm lại, 4 câu thơ rút thành 4 chữ là dư bất thụ sắc 予不受 nghĩa là ta không nhận sắc phong. Tài tình, tuyệt vời với cách ứng xử của Đào Duy Từ, khi gởi kèm cái sắc phong một tấm thiệp với 4 câu thơ mang tính cách đố chữ là với dụng ý làm cho phía chúa Trịnh Tráng phải tốn thì giờ giải mã, nghĩa là tạo thêm thời gian (câu giờ) cho Văn Khuông đào thoát.

***

“....Trăng xưa dọi tỏ lòng người
Treo gương nhật nguyệt cho đời soi chung


Tiếp cận một cách sơ lược cứ tưởng đây là một bài ca dao đề cập đến tình yêu nam nữ nhưng khi dùng phép chiết tự chữ Hán, sẽ khám phá ra những điều lí thú về nghệ thuật chơi chữ của tác giả dân gian.

Trăng xưa dịch từ chữ cổ nguyệt 古月, cổ nguyệt ghép lại thành chữ hồ ; lòng người là thầm nói đến chữ : người học trò, và tâm , ghép hai chữ này lại ta có chữ chí : lòng người; còn chữ nhật và chữ nguyệt ghép lại thành chữ minh .Vậy ba chữ chiết tự từ câu ca dao ra là Hồ Chí Minh. Thật tuyệt vời, thật tài hoa làm sao!

***

Thí dụ 2:

 

日月明朝昏,

山风岚自起,

石皮破仍坚,

  古木枯不死。

Nhật nguyệt minh triều hôn,

Sơn phong lam tự khởi,

Thạch bì phá nhưng kiên,

Cổ mộc khô bất tử.

 

Chữ nhật bên chữ nguyệt thành chữ minh .

Chữ sơn bên chữ phong thành chữ lam (mây mù).

Chữ thạch bên chữ thành chữ phá (phá vỡ).

Chữ cổ bên chữ mộc thành chữ khô (khô hạn).

***

可人何当来,

千里重意若,

永言詠黄鹤,

  士心志未已。

Khả nhân hà đương lai,

Thiên lý trọng ý nhược,

Vĩnh ngôn vịnh hoàng hạc,

Sĩ tâm chí vị dĩ.

Chữ khả bên chữ nhân thành chữ (từ nghi vấn), chữ thiên trên chữ thành chữ trọng (còn gọi là chữ trùng), chữ vĩnh bên chữ ngôn thành chữ vịnh (ngâm vịnh), chữ trên chữ tâm là chữ chí .

***

Giai thoại bà Đoàn Thị  Điểm (1705 – 1746) 段氏

Tư chất thông minh, học một biết mười, bà nổi tiếng văn chương ngay khi còn nhỏ.
Mới lên năm lên sáu, đã học sách Hán Cao Tổ 汉高祖, anh ruột là Đoàn Doãn Luân段允 ra một câu đối để xem sức học của em:
 
 Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
白蛇當道 , 貴拔剑而斩之

  Rắn trắng ngang đường, ông Quý (tên vua Hán Cao Tổ) tuốt gươm mà chém nó.

  Bà đối ngay: 
  Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết.
黃龍拊舟 , 侮仰天而叹曰

    Rồng vàng đội thuyền, vua Vũ trông trời mà than rằng …

  Năm 15 tuổi, học vấn tiến lên đến mực uẩn súc. Một hôm, ông Luân xuống ao rửa                     chân, thấy em đương soi gương bên cửa sổ, bèn nói đùa:
 
  Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.
對鏡畫眉 , 一点畨成兩点

 Soi gương, kẻ lông mày, một nét hóa ra hai nét.

 Điểm là nét vẽ, lại là tên, ý nói soi gương, một nàng Điểm thành hai nàng Điểm.
 Chữ cổ =  phiên

  Bà ứng khẩu đối ngay:

  Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.
  臨池玩月 , 只倫轉作双倫
  Tới ao ngắm trăng, một vầng hóa ra hai vầng.

Luân là ví mặt trăng tròn như bánh xe, lại là tên. Ý nói nhìn xuống ao, một ông Luân hóa ra hai ông Luân.

***

Giai thoại về Mạc Đĩnh Chi (1272 – 1346) 莫挺之:

Năm Hưng Long thứ 16 (1308) Mạc Đĩnh Chi sang sứ nhà Nguyên , ông có hẹn ngày nọ giờ ấy thì phái bộ sẽ đến cửa ải để viên quan nhà Nguyên mở cửa đón. Chẳng may hôm lên đường gặp phải mưa gió, thành ra sai hẹn. Lúc tới nơi thì trời tối, cửa ải đã đóng. Mạc Đĩnh Chi nói mãi, người Nguyên cũng không chịu cho qua. Sau họ vứt từ trên ải xuống một vế đối, bảo hễ đối được thì mới mở cửa ải:
  
 過關遅 , 關關閉 , 願過客過關.

Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.

Thật là một câu đối hiểm hóc, có mười một chữ mà riêng chữ quan nhắc lại tới bốn lần, chữ quá nhắc lại ba lần. Mạc Đỉnh Chi cảm thấy rất khó đối, nhưng nếu im lặng thì e mất thể diện. Ôn bèn nhân cái chuyện khó đối ấy, ứng khẩu đọc một câu vần rằng:
 
 出對易 , 對對難 , 請先生先對.
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối
Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiên sinh đối trước.

Tưởng đã bí, thế mà lại hóa ra có một câu đối hay. Người Nguyên phải chịu Mạc Đĩnh Chi là có tài ứng biến, liền tức tốc mở cửa ải để ông đi.

Người Nguyên lại giở trò đánh đố chữ. Họ viết bốn câu thơ sau và thách Mạc Đĩnh Chi giải:

 一面两眉
一瘦一肥
一年一月
一日三期

Nhất diện lưỡng mi,
Nhất sấu nhất phì.
Nhất niên nhất nguyệt,
Nhất nhật tam kỳ.

*

Một mặt đôi mày, một gầy một béo, một năm một tháng, một ngày ba lần.

*

Thật là ngô nghê khó hiểu, vậy mà Mạc Đĩnh Chi chỉ đưa mắt qua đã có thể giảng rằng đó là chữ bát . Vì chữ bát tựa đôi lông mày; chữ bát có một nét đậm một nét nhạt; chữ bát là tám: mỗi năm chỉ có một tháng tám; chữ bát là tám cũng là đồng âm với chữ bát đựng đồ ăn, do đó mỗi ngày dùng bát ăn ba lần.
Thế là cả mấy lần chơi chữ, đố chữ đều bị Mạc Đĩnh Chi đối đáp trôi chảy cả, người Nguyên lấy làm phục ông lắm. Họ có ý ví ông với Án Tử晏子đời Xuân Thu, tuy tướng mạo chẳng bằng ai, nhưng tài trí thì chẳng ai bằng.

*****

Chiết tự chữ Hán trong ca dao người Việt

          Muốn thắc mắc hoặc giải bày những vấn đề tế nhị khó nói như chuyện trai gái hoặc chuyện hôn nhân; người dân thường chọn những cách nói bóng gió, gián tiếp. Chiết tự là một trong những giải pháp thường được tác giả dân gian sử dụng.

Thí dụ:

Một chàng trai ướm lời hỏi thăm:

          Thấy em cũng muốn làm quen

          Lại sợ em có chữ thiên trồi đầu.

Cô gái thành thực trả lời:

Anh ơi chớ nói thêm rầu

          Chữ thiên trồi đầu lại có vết vai.

 

Diễn giải: Vì chữ thiênthêm nét đầu cho nhô cao một chút nữa sẽ thành chữ phu nghĩa là chồng. Ý chàng trai muốn làm quen với người nữ nhưng e rằng cô đã có chồng. “Chữ Thiên trồi đầu” tức chỉ chữ phunhưng lại có thêm  “vết vai” thành chữ thấtnghĩa là mất. Ý người phụ nữ muốn nói, tuy cô đã có chồng nhưng chồng cô cũng đã mất rồi.

Có khi chàng trai ngõ lời:

          Bấy lâu em vắng đi đâu

          Bây giờ thiên đã mọc đầu ra chưa?

 Và cô gái cũng đã chân thành chia sẽ:

 Từ ngày thiếp vắng mặt chàng

Bây giờ liễu đã có ngang ra rồi.

Tương tự, chàng trai muốn hỏi cô gái có chồng chưa. Cô gái trả lời: “Liễu đã có ngang” tức chữ tử. Chữ liễunghĩa là rõ hoặc hết, đồng âm HV với chữ liễuchỉ cây liễu, vốn là hình ảnh tượng trưng cho người con gái trong thơ ca cổ. Nếu chữ  liễuthêm một nét ngang thì thành chữ tửcó nghĩa là con. Ý cô gái muốn nói, chẳng những cô đã có chồng mà còn có con.

          Ông trời đội mũ đi chơi

          Em xin một tấm… ông thời nghĩ sao?

Ông trời tức chữ thiênmà lại “đội mũ” tức là thêm một nét nhô trên đầu, sẽ thành chữ phucó nghĩa là chồng. Hơn nữa, ở câu cuối: “Cho em xin một tấm…” rồi ba chấm thì người học cũng sẽ đoán ra đó là tấm chồng tức chữ phu.

Người con gái thôn dã đã ra vế đối (hóc búa) để thử tài chữ nghĩa của chàng trai:

          Quế, hòe, tùng, cúc, liễu, mai

          Sum sum lục mộc, chàng tài đối đi.

Vế thách đố của cô gái đưa ra sáu loại cây: quế, hòe, tùng , cúc , liễu, mai.

Sum sum lục mộc , ý nói sáu loại cây này sum sê, rậm rạp. Đặc biệt, chữ sum ( = sâm) nên sum sum tức sâm sâm ; có thể hiểu được hàm ý của cô gái: sum sum lục mộc nghĩa là trong sáu loại cây có sáu chữ mộcvà hai chữ cũng có sáu chữ mộc .

          Chàng trai cũng tỏ ra không kém:

           Chữ rằng diễm thảo quy hoang

          Viêm viêm tứ hỏa nay chàng đối cho.

           Câu trả lời rất thông minh: Chàng dùng diễm thảo quy hoang艷草歸荒: cỏ đẹp trở thành hoang dã; để có thể viêm viêm tứ hỏa炎炎四火: lửa cháy bốn bề; hàm ý phủ định lục mộc bề bộn của vế thách. Đặc biệt, trong hai chữ viêm viêm炎炎có bốn chữ hỏatứ hỏa đối lại với sum sum có sáu chữ mộclục mộc.

***

Tính bình dân, mộc mạc được thể hiện qua các câu ca dao, câu thơ có vần dễ đọc, dễ thuộc, hoặc mang tính khôi hài để khiến người ta nhớ lâu hơn,

Thằng nào bất hiếu thế kia
Cưỡi lên lưng bố ở lì không buông

Câu đố chữ cửu: lâu dài; gồm chữ nhân nhỏ, ở trên là con, chữ nhân to hơn, ở dưới là bố.

***

Chữ hiếu , có câu ca dao dạy “chiết tự” như sau:
           Đất thì là đất bùn ao,                     (bộ thổ )
Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay.          (nét phẩy丿)
          Con ai mà đứng ở đây,                    (bộ tử )
Đứng thì chẳng vững, vịn ngay vào sào.   (dáng chữ tử à )

***

Sự tinh tế và tài hoa trong câu thơ chiết tự độc đáo của nữ sĩ Hồ Xuân Hương 胡春香:

          Xuân thiên chưa thấy nhô đầu mọc, 

Phận liễu sao đà nẩy nét ngang. 

Giải thích: Tuổi xuân (xuân thiên春天) cô gái chưa có chồng (phu), ấy vậy mà phận con gái (liễu, lối chơi chữ rất đặc sắc, tài tình; vận dụng chữ đồng âm trong Hán Việt, với hai chữ: liễuliễu) đã có con (tử) hoặc có thể hiểu rằng: “không chồng mà chửa”.

***

Xin trích lại đoạn chuyện về Hồ Xuân Hương như sau:
“… Cũng có lẽ bởi cái khẩu khí ngang tàng khí khái đó mà đường hạnh phúc riêng của bà khá lận đận, để sau này Chiêu Hổ viết cho bà với hai câu đối:


Người Cổ lại còn đeo thói Nguyệt
Buồng Xuân sao để lạnh mùi Hương.


Chữ Cổ , chữ Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ , chữ Xuân , chữ Hương ; ở câu sau ghép thành tên của nữ sĩ.

Chiêu Hổ dùng chữ cũng tài tình lắm thay… tuyệt vời! (trích từ “Tản mạn với những giai thoại về câu đối”. Ngữ Thiên).

*****

Chiết tự trong truyện Kiều

Nguyễn Dulà đại thi hào của dân tộc và của nhân loại. Qua những bài thơ chữ Hán, ông là bậc thầy về chữ Hán và chữ Nôm, qua các bài văn tế thập loại chúng sinh, và đỉnh cao là truyện Kiều bất hủ.

Khi chàng Sở Khanh đưa cho nàng Kiều một bức tiên mai:

“…Mở xem một bức tiên mai,
Rành rành tích việt có hai chữ đề.

Và Thúy Kiều đã giải bài toán này một cách dễ dàng:

Lấy trong ý tứ mà suy,
Ngày hai mươi mốt, tuất thì phải chăng…

Giải thích: chữ tích trong tích việt vốn trong chữ Hán được cấu tạo từ các chữ trấp 廿, nhất , nhật có nghĩa là ngày hai mươi mốt. Chữ việtgồm có các chữ tuất thì時: giờ tuất (từ 19 đến 21 giờ) và tẩu : chạy; có nghĩa là vào giờ Tuất, chạy trốn.

Đêm thu gió lọt song đào
Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời.

Giải thích: Thúy Kiều thức đêm ngồi bên song cửa, khi gió thổi qua lại nhìn lên trời thấy “nửa vành trăng khuyết” và ba ngôi sao ở giữa trời. Hình ảnh “nửa vành trăng khuyết” như là cái móc câu, còn ba ngôi sao như ba cái chấm, khiến ta liên tưởng đó là chữ tâm . Mà Thúc Kỳ Tâm là tên của chàng Thúc Sinh chồng nàng. Ngụ ý nàng Kiều đang nhớ Thúc Sinh.

Lòng thu lai láng bồi hồi
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

Giải thích: “Lòng thu” có người hiểu là lòng mùa thu. Nhưng Thúy Kiều đang đi chơi “tiết thanh minh”, mà sao lại có lòng mùa thu ở đây được? Chữ “lai láng, bồi hồi” thì rõ rồi, còn hai chữ “Lòng thu” thì sao? Có thể chữ “lòng” là thể hiện chữ tâm chăng? Chữ thu trên chữ tâm là chữ sầu. Qua chiết tự thì hiểu rằng: câu này nói lên Kiều làm thơ trong trạng thái sầu bi, rất buồn rầu.

Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

Bây giờ ván đã đóng thuyền
Đã đành phận bạc, khôn đền tình chung

Giải thích: chữ “tình chung”. Ở đây, chữ “chung” theo Hán-Việt có nhiều cách viết nhưng thông dụng nhất là hai cách viết , (đồng âm, HV cũng đồng âm). Chữ chung = (là cái chuông, đồng hồ; là không thay đổi, như chung tình là yêu son sắt, lòng yêu quý …) và chữ chung (cuối cùng, hết, trọn vẹn; như chữ thủy chung 始终). Chữ chung gồm có chữ kimvà chữ đồng ghép lại.

Chữ “chung tình” được dùng rất phổ biến, còn chữ “tình chung” ít dùng hơn. Có thể là chữ “tình chung” xuất phát từ chữ “Tình chi sở chung 情之所 ”: mối tình chung đúc vào một người.

Nguyễn Du chơi chữ thật tuyệt vời, là bậc thầy trong thiên hạ. Cụ đã dùng phép “hợp tự”, chữ chung = ; gồm chữ thiên trên chữ thành chữ trọng ; Chữ kim đứng bên chữ trọng thành chữ chung (Chung này vừa có nghĩa là chuông về thời gian, vừa có nghĩa trong chung tình và tình chung).

Nguyễn Du học theo cách chiết tự của cụ Thanh Tâm tài nhân青心才人, tác giả của tiểu thuyết hai mươi hồi Kim Vân Kiều truyện金云翘传bên Trung Quốc. Cụ Thanh Tâm tài nhân chiết tự chữ Kim Trọng thành chữ Kim Thiên Lý 金千里. Tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện gồm 20 hồi. Mở đầu vào mỗi hồi, thường có một đôi câu đối (phổ biến trong các tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc).
Hồi thứ hai mở đầu bằng đôi câu đối sau:

王翠翘 坐痴想梦题断肠诗
金千里 盼东墙遥定同心约

Vương Thuý Kiều toạ si tưởng, mộng đề đoạn trường thi;
Kim Thiên Lý miến đông tường, dao định đồng tâm ước.

Hồi thứ hai mươi mở đầu bằng đôi câu đối sau:

金千里 苦哀哀招生魂
王翠翘 喜孜孜完宿愿

Kim Thiên Lý khổ ai ai chiêu sinh hồn;
Vương Thuý Kiều hỷ tư tư hoàn túc nguyện.

Ở đây, Kim Trọng là danh từ riêng chỉ có hai chữ. Muốn đối với chữ Vương Thúy Kiều là danh từ riêng có ba chữ thì cụ Thanh Tâm tài nhân phải chiết tự chữ Kim Trọng ra thành ba chữ Kim Thiên Lý cho xứng.

***

Hay như: … Để thử tài chữ nghĩa cùng sự hiểu biết về thiên tuyệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, người con gái trong bài ca dao sau đã thách đố:

 

Truyện Kiều anh giảng đã tài
Đố ai giảng được câu này anh ơi
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

 

Bài ca dao tài hoa ở chỗ vận dụng cùng một lúc hai thủ pháp nghệ thuật: trích dẫn từ truyện Kiều và chiết tự chữ Hán.

Đoạn “Biết thân đến bước lạc loài

Nhị đào thà bẻ cho người tình chung

 

đã lấy từ đoạn Kiều như sau:

Phẩm tiên rơi đến tay hèn
Hoài công nắng giữ mưa gìn với ai
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.


Chàng trai cũng rất am tường truyện Kiều, đặc biệt là sự tinh tế tài hoa trong việc nhận diện nghệ thuật chiết tự, đã được cô gái khéo léo đan cài vào ba chữ cuối cùng của câu thơ “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung” nên chàng đã từ tốn trả lời:


Tình chung nào phải ai xa
Chính chàng Kim Trọng vào ra sớm chiều.

 

***

Hình thức “chơi chữ” tuyệt vời, tài hoa của các bậc tiền nhân khi học chữ Hán. Sự linh động, sáng tạo của ông cha ta là vốn liếng quí báu đã để lại; chúng ta cần phải biết trân trọng gìn giữ mà phát huy hơn nữa.

*****

Trích dẫn từ cuốn: “tự học Hán Văn theo phương pháp mới” Kỳ Thanh biên soạn đầu năm 2020.

Kỳ Thanh trích dẫn và biên tập, tháng 7 năm 2021.

18 thoughts on “Vài cảm nghĩ về: Chiết tự – sự sáng tạo của Ông Cha ta khi học chữ Hán

  1. 1. Cảm ơn tác giả về bài viết này. Bản nhân trước nay học chữ Hán rất tùy hứng, vì vậy, xin tác giả cho bản nhân biết nên mua cuốn sách của tác giả ở đâu. Muôn lần đội ơn, vì, tác giả đã cho mọi người cách chiết tự CỦA MỘT TỪ thành nhiều chữ GÉP LẠI, từ đó, người học sẽ hiểu rõ hơn bản chất và ý nghĩa của từ mà anh ta tiếp cận
    2. Điều đáng tiếc là, gần đây có một số học giả mà bản nhân gọi họ là bọn TÂN NHO GIÁO, luôn lấy TỪ TIẾNG VIỆT đem soi rọi với TỪ HÁN để rồi quy kết MỘT CỤM TỪ TIẾNG VIỆT trở thành một thứ mà con em đất Việt đã dùng sai: SÁT NHẬP là sai, đúng phải là SÁP NHẬP!. Bản nhân rất xin tác giả bình luận về chuyện này. Xin cám ơn!

    • Lại Việt mến,
      Cảm ơn bạn đã phản hồi.
      Câu hỏi của bạn, tôi mạn phép có vài lời như sau: sáp nhập là từ Hán Việt 插入: gom vào làm một; cắm vào, chọc vào, cấy… (cũng đọc là tráp nhập).
      Chiết tự chữ 插: bên trái là bộ THỦ 手 (扌) là tay; bên phải trên là chữ 禾 HÒA là lúa, hạt thóc; bên phải dưới là chữ 田 ĐIỀN là ruộng. Động tác cấy lúa xuống ruộng của nhà nông được thể hiện qua chữ 插 SÁP. Ví dụ: 插秧 SÁP ƯƠNG: cấy mạ.
      Còn SÁT: có rất nhiều từ 察, 刹, 插, 殺… đồng âm nhưng khác nghĩa; ví dụ chữ SÁT 殺: bên phải là bộ THÙ殳 là binh khí dài, gậy; bên trái trên là dấu 2 gạch chéo nhau, bên trái dưới là bộ MỘC 木 là gỗ, cây cối; là hình tượng dùng công cụ để đốn cây.
      Ví dụ: 殺人 SÁT NHÂN: dùng công cụ, phương tiện để hại người, giết người.
      插 và 殺 phiên âm đều đọc là “chá”, nhưng nghĩa Hán Việt lại khác nhau: SÁP và SÁT.
      Sát nhập là vô nghĩa.
      Tận dụng thời gian cách ly dịch bịnh Covid 19, tôi đã cố gắng để hoàn thành bộ sách, với tâm nguyện sẽ xuất bản, phát hành miễn phí trong tương lai gần. Vì cách ly nên chưa thể thực hiện.
      Thân chào,
      Bảo trọng.
      Kỳ Thanh.

    • Chữ Hán theo nguyên tắc Lục thư. Mỗi chữ Hán là tập hợp của nhiều nét hoặc bộ thủ chữ Hán (khoảng 214 bộ thủ chữ Hán). Cho nên xưa nay có nhiều chuyện phân tích tách rời chữ để giải nghĩa hoặc học cho dễ nhớ mặt chữ. Trong tiếng Hán gọi là giải tự (解字) hoặc tích tự (析字), người Việt Nam gọi là chiết tự (折字).

      Trong lịch sử có nhiều câu chuyện về giải tự hoặc chiết tự, tôi tạm kể ở thời Tam quốc, danh sĩ nước Đông Ngô là Gia Cát Khác chiết tự chữ Thục (蜀) là tên nước Thục là mắt nằm ngang, thân cong, giun vào trong bụng. Chiết tự chữ Ngô (吳) là không có miệng là trời, có miệng là Ngô. Hay như chuyện danh tướng nước Thục là Ngụy Diên nằm mơ đầu mọc sừng [giác (角)], có người giải nghĩa giác (角) là dùng [dụng 用)] đao (刀), quả nhiên bị Mã Đại chém giết…

      • Bạn Tích Dã mến,
        Cảm ơn bạn đã phản hồi.
        Câu hỏi của bạn, tôi mạn phép có thêm vài lời như sau:
        Thiết nghĩ, trước tiên cần phân biệt rõ Văn và Tự:
        Văn 文là những hình (vẽ) thuộc loại chữ: tượng hình象形, chỉ sự 指事; do các nét liên kết tạo thành. Văn tự học hiện đại gọi là chữ độc thể 独体, bản thân là một chỉnh thể không phân tích thành những đơn vị nhỏ hơn.
        Tự 字gồm những chữ: hội ý會意và hình thanh形聲; tự (字) do hai hay nhiều văn (文) hợp thành. Văn tự học hiện đại gọi là chữ hợp thể 合体. Tuy có cấu tạo khá phức tạp nhưng nếu nắm vững những bộ phận tạo thành (chữ độc thể) thì việc học và nhận biết chữ hợp thể cũng không gặp khó khăn lắm.
        Kế đến, Chiết tự折字là trò chơi chữ từ lâu đã xuất hiện ở VN, nhưng gốc tích của nó từ Trung Quốc (TQ), nơi phát minh và sử dụng chữ Hán (chữ tượng hình).
        Người TQ chơi chữ (gọi là thuyết văn giải tự说文解字) không chỉ riêng “chiết tự”, mà cả “hợp tự 合字”. “Chiết tự” là bẻ một chữ ra thành nhiều chữ có nghĩa, còn “hợp tự” là ghép nhiều chữ thành một chữ. Phép “hợp tự” là làm ngược với “chiết tự”, và “chiết tự” là làm đảo lại việc “hợp tự”.

        Ví dụ: chữ Thục蜀. tên gọi xưa của vùng Tứ Xuyên 四 川 (hay là nước Thục trong thời Tam quốc), theo thuyết văn giải tự: chữ Thục蜀 gồm chữ Tứ 四ở phía trên, nghĩa là bốn (con sông, hay là rặng núi); kế đến là chữ Bao勹, nghĩa là bao bọc; bên trong là chữ Trùng虫 nghĩa là sâu bọ (thuở xưa hàm ý là con người). Vậy chữ Thục 蜀 là vùng đất phì nhiêu được bao bọc bởi bốn con sông (hoặc bốn rặng núi: thung lũng) thích hợp cho con người sinh sống và phát triển.

        Còn danh sĩ nước Đông Ngô là Gia Cát Khác chiết tự là mắt nằm ngang, thân cong, giun vào trong bụng, là lối chiết tự bình dân để dễ học dễ nhớ.

        Thân chào,

        Bảo trọng,

        Kỳ Thanh.

  2. Lại bổ sung: Tiếng Việt nhiều khi VIẾT TẮT một cụm từ lớn thành một từ (hoặc một cụm từ)
    nhỏ mới, không liên quan quan gì tới chữ Hán, vậy, dùng luật chiết tự trong trường hợp này là đúng hay sai, ví dụ, các thực thể liền kề nhau (SÁT) được NHẬP thành một thực thể lớn hơn, người ta gọi đó là SÁT NHẬP nó có liên quan gì tới từ Hán (SÁP NHẬP) không ạ?

  3. Bạn Đinh Bất Tam mến,
    Cảm ơn bạn đã phản hồi.
    Câu hỏi của bạn, tôi mạn phép có vài lời như sau:
    Chiết tự折字là trò chơi chữ từ lâu đã xuất hiện ở VN, nhưng gốc tích của nó từ Trung Quốc (TQ), nơi phát minh và sử dụng chữ Hán (chữ tượng hình).
    Người TQ chơi chữ (gọi là thuyết văn giải tự说文解字) không chỉ riêng “chiết tự”, mà cả “hợp tự 合字”. “Chiết tự” là bẻ một chữ ra thành nhiều chữ có nghĩa, còn “hợp tự” là ghép nhiều chữ thành một chữ. Phép “hợp tự” là làm ngược với “chiết tự”, và “chiết tự” là làm đảo lại việc “hợp tự”.

    Ông Cha ta đã sáng tạo ra phương pháp đặc thù riêng để dễ học, dễ nhớ chữ Hán, đó là “Chiết Tự”. Vì chính việc học chữ Hán có bài bản và trong tinh thần khai phóng, sáng tạo của Ông Cha ta, mà dân tộc Việt đã hấp thụ những tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa.

    Thân chào,

    Bảo trọng,

    Kỳ Thanh.

  4. Thưa Kỳ Thanh tiên sinh.
    Xin thứ lỗi vì lại phải hỏi tiên sinh lần nữa cho rõ ràng (đầu óc của tại hạ vốn hơi tăm tối, lộn xộn – như lời nhận xét của ông đồ trường làng hồi bé).
    “Hán tự” có gốc tích từ Trung Quốc.
    “Chiết tự” cũng có gốc tích từ Trung Quốc.
    Thì thế quái nào mà “Chiết tự” – lại là sự sáng tạo của Ông Cha ta – Việt Nam được ?
    Kính xin tiên sinh lại giải thích lần nữa cho kẻ ngu hèn này vậy.

  5. Bạn mến,
    TQ thì dựa vào chữ giáp cốt, chữ kim văn, chữ cổ… và nghĩa của các bộ thủ cấu thành nên chữ. “Thuyết văn giải tự” chú trọng vào “Từ Nguyên” của chữ mà diễn giải, thường mang tính hệ thống và hàn lâm.
    Sự sáng tạo của Ông Cha ta thì dựa vào chữ Hán, (đa phần là hình thể, cách đọc, nghĩa từng phần cấu tạo nên chữ) mà diễn đạt dưới dạng ca dao, tục ngữ,… bình dân sao cho dễ nhớ, dễ học; đa phần chiết tự chữ Hán của Ông Cha ta mang tính tự phát.
    Đây chỉ nêu ra vài điểm để minh họa, không đi sâu vào ngôn ngữ và quá trình hình thành (từ nguyên). Đề tài Hán Việt là vấn đề: lớn, sâu, rộng; theo chiều dài lịch sử của dân tộc. Các bậc thức giả xưa và nay còn đang tranh luận, tìm tòi, nghiên cứu. Đề nghị bạn nên tham khảo thêm qua từ điển, mạng Internet và các sách báo chuyên môn.
    Thân chào.

  6. Cảm ơn Kỳ Thanh tiên sinh đã giải thích.
    Tuy nhiên đọc xong giải thích trên của tiên sinh thì tại hạ lại thấy mình càng thêm thêm tăm tối, lộn xộn và ngu hèn hơn. Nên thôi, không dám phiền tiên sinh nữa.
    Cáo từ.

  7. Trên thị trường loạn sách học tiếng Hán, tiếng Trung nhưng chất lượng rất bình thường và rất nhiều cuốn na ná giống nhau.
    Không biết mua cuốn “Tư học Hán văn theo phương pháp mới” của tác giả Kỳ Thanh ở đâu được ạ.

  8. Bạn Vũ Hàn Tín mến,
    Tận dụng thời gian cách ly dịch bịnh Covid 19, tôi sẽ cố gắng biên tập lại thành những chủ đề nhỏ, trích dẫn từ cuốn “tự học Hán Văn theo phương pháp mới”. Sau đó lần lượt đưa lên mạng truyền thông (internet) để đăng và phổ biến rộng. Vì cách ly nên chưa thể về nước để in ấn. Với tâm nguyện sẽ xuất bản, phát hành miễn phí trong tương lai.
    Thân chào.

  9. Cảm ơn ông Kỳ Thanh có bài công phu, thú vị về ngôn ngữ, giúp mở rộng tầm mắt của nhiều người và đặc biệt hữu ích với bạn trẻ muốn tìm hiểu ngôn ngữ dân tộc.
    Tuy nhiên, nói “Chiết tự là sự sáng tạo của Ông Cha ta khi học chữ Hán” thực ra chỉ mới đúng một phần mà là phần ngọn. Sự thực là, chính ông cha người Viêt cổ chủng Australoid của chúng ta đã sáng tạo chữ tượng hình đầu tiên. Bắt đầu bằng cách mô phỏng hình dáng các vật làm thành ký hiệu, sau chuyển thành ký tự. Do “nghề dạy nghề” cha ông ta khôn dần lên. Tới lúc cũng đã khám phá ra Dịch lý và sáu cách tạo chữ (lục thư). Do vậy, ở những bản Giáp cốt muộn, chữ đã được sáng tạo theo lục thư và Dịch lý. Tuy nhiên chỉ khi nhà Ân chiếm đất Dương Việt, nhờ chính quyền mạnh và tổ chức khoa học, đã tập trung những nghệ nhân người Việt để hoàn chỉnh chữ Giáp cốt, đưa TQ vào thời có sử.
    Do vậy, chiết tự là cách làm ngược lại của con chau với ông cha để hiểu chiều sâu của mỗi chữ. Nói cách khác, thì trước đây cha ông, từ tư duy theo dịch lý “kết hợp” những phần (bộ) khác nhau thành chữ còn sau này, con cháu học chữ Nho đã phân tích, mổ xẻ hay chiết-bẻ mỗi chữ ra để hiểu chiều sâu của nó.
    Khi hiểu điều này, chúng ta thêm trân trọng cha ông và vững tin rằng chữ nho là sản phẩm của tộc Việt.

    • Xưa nay từng có rất nhiều bộ tộc từng sinh sống ở Trung Quốc: Hoa Hạ (華夏), Tam Miêu (三苗), Cửu Lê (九黎), Bách Bộc (百濮), Đông Di (東夷), Bách Việt (百越), Lí Lão (羌戎). Họ có thể đóng góp sức người sức của hoặc để lại văn minh trong đó có chữ viết. Thế nhưng ông Hà Văn Thùy chỉ muốn người Việt là người đầu tiên sáng tạo nên cơ, muốn viết lại lịch sử mà chẳng có chứng lý nào tin cậy.

      Người Việt Nam 2000 năm nay, lịch sử từ vua Hùng đến Đinh Lý Trần Lê Nguyễn ở đồng bằng sông Hồng Việt Nam chẳng có dấu vết chữ viết hoàn chỉnh như Giáp cốt văn ở An Dương cả. Thế mà đòi người Việt sáng tạo nên chữ viết sao? Đến như chữ Quốc ngữ Latin ta đang dùng còn là nhờ các Giáo sĩ người Bồ Đào Nha vượt biển từ châu Âu đến truyền dạy cho. Xưa nay người Việt sáng tạo nên được chữ viết gì nữa?

      • Xin trả lời bạn Đào Duy An:

        1. Các bộ tộc xưa sống ở Tàu rất nhiều, có Hoa Hạ, Đông Di, Tam Miêu, Cửu Lê, Ba Thục, Bách Việt. Nguồn gốc ở từ đâu đến thì không cần bàn đến. Lịch sử dựng nước Trung Hoa khởi từ Tam Hoàng-Ngũ Đế, truyền thuyết còn mù mờ, nhưng ít nhất có từ thời Hạ Thương Châu, có Giáp cốt văn làm chữ viết. Thời nhà Châu (Xuân thu-Chiến quốc) xưng là Hoa Hạ rồi, có ngôn ngữ văn hóa, chữ viết.

        2. Lịch sử Việt Nam ghi rõ Hùng Vương An Dương Vương dựng nước đóng đô Phong Châu Phong Khê (vùng Cổ Loa) phát triển đến nay qua thời Đinh Lý Trần Lê. Các dòng họ cũng phát triển ở đấy, mở nước mở cõi, chống ngoại xâm An Dương Vương chống Triệu Đà, Hai Bà Trưng chống Hán, Lý Bôn chống Lương, Ngô Vương Quyền chống Nam Hán, Lý chống Tống, Trần chống Nguyên Mông. Bộ các ông muốn người Việt ở đâu nữa? Các ông về nhà hỏi gia phả tổ tiên các ông ở đâu? Lịch sử Việt Nam được ghi rõ trong sách sử. Các ông dựa vào chuyện thời Hùng Vương còn mù mờ mà nhận vơ này nọ mà thôi.

  10. Nói tóm lại các ông phải có kiến thức căn bản về lịch sử đã. Các ông đã thuộc lịch sử 4.000 năm Việt Nam từ Hùng Vương đến Đinh Lý Trần Lê Nguyên chưa? Thời xưa thi 3 môn khối C có được 15 điểm không? Có biết chữ Hán không? Có đọc được cổ văn Thi, Thư, Sử không? Không biết thì đừng lên đây nói về sử.

  11. Thưa ông Tích Dã, đúng là cần phải có kiến thức căn bản về sử. Nhưng là kiến thức nào chứ kiến thức 4000 năm của thế kỷ XX thì xưa quá rồi. Nay nhờ đọc được cuốn thiên thư DNA trong máu dân cư châu Á, khoa học biết người Việt có sử tới 70.000 năm, từ khi người châu Phi tới VN sinh sôi rồi lan tỏa ra toàn châu Á, đi lên khai phá Hoa lục. Dân cư TQ là người Việt vì vậy tiếng nói, chữ viết TQ là của người Việt. Người Hán do người Việt sinh ra 7000 năm trước. Không chỉ vậy, người Việt còn làm nên đại bộ phận dân cư thế giới… Đấy là lịch sử mới được khám phá hơn chục năm nay, chưa hề có trong sách giáo khoa! Bây giờ nói về sử Việt mà chỉ biết 4000 năm với Đinh Lê Lý… có khác nào ếch ngồi đáy giếng. Xin ông hãy chịu khó học cái sử mới này rồi hãy nói để tránh bị đám trẻ coi là cụ đồ gàn!

Nhận xét về Hà Văn Thùy Hủy trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s