Lịch Sử Nghệ Thuật- Phần 12

Untitled

Jesse Bryant Wilder

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 19

Những Ấn Tượng Đầu Tiên: Trường Phái Ấn Tượng

 

Trong Chương Này

  • Làm vỡ ánh sáng
  • Theo kịp nét cọ tốc độ cao
  • Xem xét sự tiến hóa của trường phái Ấn tượng

Những họa phẩm của Monet, Renoir, và Degas làm sáng lên các gian phòng, làm tươi tắn nơi làm việc, và gây niềm vui sống cho các bệnh nhân trong bệnh viện, và cổ vũ người ta đến Pháp nghỉ hè. Những tấm thiệp bưu điện sao chép tranh họ đi khắp thế giới. Thậm chí bạn có thể tìm thấy giấy gói có in tranh của Renoir và dĩa giấy Degas!

Ấn tượng là phong trào nghệ thuật phổ biến nhất của mọi thời. Những người sưu tập trả 50 triệu đô để sở hữu một bức tranh gốc của Monet  hay Renoir, vậy mà khi tranh họ đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 1874, phần đông không ai dám trả hơn 10 đô để mua một bức!

Tại sao trường phái Ấn tượng làm một cú hít kéo dài hơn một thế kỷ sau khi tại Pháp phong cách ấy đã không còn? Một phần vì phong cách phóng bút, nét đi cọ nhanh mạnh, và màu sắc sáng rực như mùa xuân của Ấn tượng khiến hầu hết các bức tranh tươi mát và nồng nàn như một ngày tháng năm đầy hứng khởi. Bước vào gian phòng triển lãm tranh Ấn tượng trong một viện bảo tàng như bước vào một mùa xuân bất tận.

Dù tất cả những điều lạc quan này, thuật ngữ Ấn tượng nguyên gốc được chủ định là một lời sỉ nhục.  Nó có nghĩa những bức tranh như chưa hoàn thiện và các nghệ sĩ quá lười không chịu trau chuốt nét cọ cho đàng hoàng. Các màu tan hòa vào nhau trong tranh Ấn tượng, và những hình mờ nhòe một chút như một cảnh hành động trong nhiếp ảnh. Nhưng làm mờ cũng là chủ ý. Các nghệ sĩ Ấn tượng quan tâm đến sự tương tác của màu sắc và ánh sáng hơn là đường  viền chính xác của người và vật. Họ muốn nắm bắt chất lượng thoáng qua của cuộc sống: những ấn tượng, những cái liếc mắt, những cử chỉ, một cuộc đi dạo trong nắng. Sự mờ nhòe tạo cho nhân vật một ấn tượng đáng yêu được nắm bắt trước khi nó biến mất.

Là những người thừa kế của các nhà Hiện thực như Courbet, Corot, phần đông các nhà Ấn tượng thích vẽ đời thực tại chỗ ngay ngoài trời. Việc sáng chế ra ống kẽm đựng màu vào năm 1841 làm sơn dầu tiện dụng hơn khi vẽ ngoài trời. Để nắm bắt những giây phút thoáng qua trên mặt vải toan, hoạ sĩ Ấn tượng phải vẽ nhanh và sử dụng nét cọ bay bướm, phóng khoáng như khi vẽ phác họa. Họ cần làm mỗi vết màu tác dụng gấp hai lần và gợi ý nhiều hơn là mô tả. Họ đã thành công. Bạn có thể thực sự cảm nhân được ánh sáng tỏa ra từ khung vẽ và gió xào xạc qua cảnh vật.

Thường ta thấy các tác phẩm Ấn tượng chỉ có đẹp, nhưng những tranh ban đầu của Manet và một số nhà Ấn tượng khác cũng tạo ra sốc __ vừa do cách thức họ vẽ vừa do đề tài họ mô tả (ga xe lửa, hộp đêm, sân khấu). Manet và Degas vẽ nhiều hình ảnh các nhân vật hình như bị tha hóa và u uất do cái gọi là “sự tiến bộ” của chủ nghĩa tư bản.

Monet, Renoir, và Pissarro, ngược lại, quan tâm nhiều hơn đến việc nắm bắt những khoảnh khắc đẹp và trong hiệu ứng thay đổi của ánh sáng hơn là trong việc cải cách xã hội. Tất cả bọn họ đều là những đứa trẻ trong cách mạng 1848. Trong Chiến Tranh Pháp-Phổ (1870-1871) và Công xã Paris (1871), Monet và Pissarro bôn tẩu đến Anh, Degas gia nhập Vệ Binh Quốc Gia, và Renoir thì phục vụ trong Trung đoàn Kỵ binh 10 của Quân đội Pháp. Nếu họ có thông điệp, thì đó là cuộc sống thật là tươi đẹp trong từng giây phút.      

Trong chương này, tôi sẽ đề cập đến nghệ thuật và kỹ thuật vẽ của những hoạ sĩ Ấn tượng vĩ đại nhất: Manet, Monet, Renoir, Degas, Cassatt, và Morisot.

Manet và Monet

Trường phái Ấn tượng bắt đầu hình thành trong thập niên 1860 trên các khung toan của Manet, Monet và Renoir. Nhưng nếu muốn xác định một thời điểm khai sinh thực sự, thì chắc chắn đó là mùa hè năm 1869 khi Monet và Renoir vẽ những cảnh trong khu nghỉ dưỡng ở La Grenouilere trên sông Seine. Mùa hè đó, họ học cách nắm bắt những tâm trạng thoáng qua của tự nhiên bằng nét cọ nhanh thoáng và gợi ý. Chính tại nơi đây mà phong cách nét cọ-đứt đoạn (vẽ bằng những đốm màu) trở thành đặc tính chuẩn của nghệ thuật Ấn tượng. Phong trào lúc ấy chưa có tên __ nó chỉ đến sau năm năm nữa khi một nhà phê bình tấn công một trong những bức tranh đầu tiên của Monet: Ấn tượng __ Mặt Trời Mọc.

 Monet và Renoir đi tiên phong trong phong cách nghệ thuật mới này bằng cách vay mượn và ứng biến những kỹ thuật mà Manet đã phát triển một vài năm trước.

Manet: Phá bỏ quy luật để giải phóng nghệ sĩ

Manet (1932-1883) là một nghệ sĩ được huấn luyện một cách bài bản. Ông đứng hai chân giữa Hiện thực và Ấn tượng. Ông gây ảnh hưởng cho các nhà Ấn tượng và, ngược lại, nhận ảnh hưởng từ họ. Vào thập niên 1860, các nhà Ấn tượng bắt đầu họp gần xưởng vẽ của Manet tại Café Guerbois không xa Montmartre. Ông là người đầu đàn không chính thức của những kỳ họp tổ chức mỗi tuần hai lần, tham dự có cả Monet, Renoir, Degas, Sisley, Zola, và đôi khi có Cezanne, Pissarro, và những người khác.

Cây cầu nối Hiện thực và Ấn tượng là gì? Đó là cách tiếp cận mới của Manet đối với hội họa, những cách tân của ông về màu sắc và kỹ thuật đi cọ.

Những nghệ sĩ trước đây bắt đầu vẽ bằng cách sơn một lớp màu tối, thường là nâu, sau đó vẽ và rồi tiếp tục vẽ nhiều lớp khác lên trên cho đến khi được kết quả mong muốn. Dĩ nhiên, họ phải đợi cho mỗi lớp sơn đã khô hẳn mới được vẽ tiếp lớp tiếp theo. Cuối cùng, họ làm bóng bức tranh để được một tác phẩm hoàn thiện bóng loáng. Tiến trình này có thể kéo dài hàng tuần hay hàng tháng. Lợi thế của việc vẽ từng lớp là bạn có thể tiến gần đến màu đúng, trau chuốt dần dần, lớp này đến lớp khác, cho đến khi được màu hoàn hảo. Hiển nhiên, người mẫu không thể ngồi suốt thời gian đó. Vì thế các hoạ sĩ thường bổ sung các lớp mà không cần có mặt người mẫu.

Là một người Hiện thực, Manet thích vẽ trực tiếp, nói cách khác, với người mẫu luôn trước mặt mình. Vì thế ông phải hoàn tất bức vẽ trong một phiên ngồi mẫu. Làm sao ông đạt được hiệu suất tốc độ này? Bằng cách không vẽ nhiều lớp và không làm bóng sản phẫm cuối cùng. Điều này buộc ông phải chọn màu hoàn hảo ngay từ đầu bởi vì không có thêm lớp nào ở trên. Phác họa đầu tiên của ông là phác họa cuối cùng; không có cơ hội để biên tập __ ít nhất về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, hình chụp phóng xạ các bức tranh ông phát hiện ra ông đôi khi có chĩnh sửa __ khi bị lỗi, ông cạo lớp màu đó đi, rồi sơn lại vùng đó.

Các nhà Ấn tượng, phần đông vẽ trực tiếp ngoài trời, đều nhìn nhận kỹ thuật alla Prima (“tức thì”) của Manet. Không nhờ nó, họ không thể vẽ đủ nhanh để nắm bắt được những hiệu ứng thoáng qua của ánh sáng.

Manet không sáng chế ra kỹ thuật alla prima. Nhiều các bậc thầy đời trước, như Grunewald, Caravaggio, và Hals, đều dùng nó kết hợp với các kỹ thuật khác. Cách tân của  Manet là sử dụng chỉ một mình nó, loại bỏ nhu cầu phải vẽ chồng nhiều lớp sơn.

Manet cũng sơn từng mảng màu, cắt bỏ những sắc độ trung gian để tạo ra những tương phản sắc nét hơn. Vì thế thay vì sơn một dảy những sắc độ đậm nhạt liên tiếp của màu cam để mô tả 3D trái cam được chiếu bởi một nguồn sáng, ông chỉ đơn giản tấp vào một mảng màu cam rực rỡ. Kỹ thuật này gọi là Tachism.  Kỹ thuật vẽ từng đốm màu khiến tranh của Manet trông phẳng lỳ như tranh thiếu nhi. Các nhà Ấn tượng điều chĩnh kỹ thuật bằng cách bẻ nhỏ những mảng màu của Manet thành những đốm màu nhỏ hơn.

Hạy so sánh làn da của Olympia của Manet trong Hình 19-1 với làn da có sắc độ tinh tế của Vermeer trong bức Thiếu Nữ với Bông Tai Ngọc Trai.

1

Manet là một nhà cách tân lớn. Ngay cả khi vẽ những chủ đề truyền thống, như một buổi picnic hay một tranh khỏa thân, ông cũng thực hiện một cách mới mẻ. Các nhà Ấn tượng đánh giá cao cách tiếp cận tươi tắn, nhưng công chúng thì không. Bức Bữa Ăn Trưa trên Bãi Cỏ, mô tả một buổi picnic trưa với hai ông ăn vận đúng bậc quý ông ngồi cạnh một bà khỏa thân, làm công chúng bực tức và thờ ơ. Mặc dù không có cử chỉ kích dục, sự trần truồng thản nhiên và công khai của người phụ nữ làm quần chúng bị sốc. Một nhà phê bình gọi nó là “một vết thương hở đáng tủi hổ.” Các nhà  phê bình tấn công cách đi cọ của Manet, kỹ thuật đốm màu của ông. Phòng Triển Lãm Tranh Tuyển 1863 (Salon de Paris, do nhà nước  thẩm định và tuyển chọn hàng năm) loại bức tranh này, nhưng Phòng Triển Lãm Các Tranh Bị Từ Chối của năm ấy (Salon de Refusé, cũng do nhà nước lập ra, để trưng bày các tranh bị loại) lại chọn treo bức tranh ấy.     

Salon năm 1865 chấp nhận bức tranh Olympia của Manet, càng gây thêm xì-căng- đan lớn hơn. Hiển nhiên Manet có chủ ý gây sốc. Mọi thứ về nó là sự cắt đứt triệt để khỏi các chuẩn mực của nghệ thuật châu Âu. Ông chọn gọi bức tranh là Olympia vì nó giống những tên mà các nhà thổ Paris ưa sử dụng. Các nàng hầu đã từng được vẽ một cách trân trọng trước đây, bức Người Hầu Gái của Ingres là một ví dụ __ nhưng bức tranh của Manet làm người ta cảm thấy như là họ bị lôi xồng xộc vào nhà thổ. Như thể gái mãi dâm đang quảng cáo mình trên mặt tranh. Bức tranh trông quá chân thật.

Monet: Từ mảng đến đốm

Phong cách mới của Claude Monet (1840-1926) hình thành từ sự dịch chuyển tiêu điểm. Ông nhìn vào màu sắc của vật thể thay vì nhìn vật thể ấy. Ông khuyên một hoạ sĩ khác:

Khi bạn ra ngoài vẽ, hãy cố quên vật thể gì đang đứng trước mặt bạn __ một thân cây, một ngôi nhà, một cánh đồng . . . Chỉ nghĩ đơn giản đây là một hình vuông xanh, đó một hình chữ nhật hồng, kia một vệt vàng, và hãy vẽ nó như bạn thấy, đúng màu, đúng hình thể.

 Ông tin rằng con người luôn nên xét đoán dựa vào ấn tượng ban đầu, trước khi tìm hiểu vật gì hay người nào. Nếu quen thân với vật gì hay người nào đó sẽ làm sai lệch cách nhìn. Bạn bắt được bản chất của điều bạn  thấy __ một ô tô xanh, một ngôi nhà đỏ, hoặc một cái cằm chẻ __ vì thế mắt bạn không tìm tòi chi tiết. Bạn chỉ cần đạt đến sự xấp xỉ. Nhưng lần đầu tiên bạn đối đầu với một gương mặt hay một nơi chốn, bạn hãy xem xét toàn bộ. “À, mắt cô ta màu xanh lá với những đốm xanh lam; cửa sổ có một khe nứt hình chữ Z.” Để chú ý thành phần màu sắc của một vật thể, Monet phải ngừng nhìn vật thể và tập trung vào màu sắc.

Trong nửa phần sau của sự nghiệp lâu dài của mình, Monet vẽ những loạt tranh cùng một chủ đề được nắm  bắt tại những thời khắc khác nhau trong ngày. Một số tranh trông như những đồng hồ chỉ giờ bằng tranh ảnh, nhất là loạt tranh vẽ đống rơm. Bạn có thể biết được giờ giấc trong ngày bằng ánh sáng và bóng tối trên đụn rơm. (như trong Đụn Rơm, Cuối Hè, Sáng Đụn Rơm vào Hoàng Hôn, Gần Giverny).

 Phần đông các hoạ sĩ Ấn tượng vượt qua được sự xét duyệt để vào các cuộc trưng bày của Salon de Paris, còn những tranh không được xét duyệt họ trưng bày tại các cuộc triển lãm riêng của mình. Dần dần, trường phái Ấn tượng chiếm lĩnh khẩu vị kiểm soát của ban giám khảo Salon. Cuộc trưng bày tranh Ấn tượng độc lập đầu tiên được tổ chức vào năm 1874. Trong số các tác phẩm trưng bày, Monet trình làng bức Ấn tượng: Bình Minh. Cái tên gây cảm hứng cho một nhà phê bình lên án mọi tác phẩm trong cuộc trưng bày chỉ là “cảm giác” hoặc chưa hoàn tất (Impression có nghĩa là ấn tượng mà cũng có nghĩa là cảm tưởng, cảm giác. Mặc dù đó là lời chỉ trích, phần đông hoạ sĩ đều thích nhãn hiệu này, và sau đó chết tên luôn.

Monet sáng tạo ra một phong cách vẽ mới dựa trên việc nắm bắt những tinh tế của màu sắc và ánh sáng hơn là những đường  nét và hình thể hoàn hảo: màu đi trước đường bao. Ông thực nghiệm những hiệu ứng của ánh sáng và không khí trong suốt sự nghiệp hội họa của mình. Thường, ông vẽ những mảng màu tương phản như đỏ và xanh lá cạnh nhau, mà không có màu trung gian. Điều này gây cho mắt bạn nhảy nhanh từ màu này qua màu khác, tạo cho bức tranh hiệu ứng lấp lánh. (Để biết thêm chi tiết về kỹ thuật vẽ cách mạng của Monet, xem Chương 29).

Mùa Xuân (tên khác là Người Đọc Sách, xem hình dưới), là bức tranh Monet vẽ vợ mình, Camille, đang ngồi đọc sách trong vườn. Vẻ đẹp dịu dàng của Camille hòa lẫn êm ái với khung cảnh đến nổi nàng như thuộc về nơi đó. Bức tranh không nhắn gửi một thông điệp hay gợi lên một biểu tượng nào. Nó chỉ để lại một ấn tượng thi vị kéo dài, có  thể bền bỉ hơn bất kỳ thông điệp nào. Bức tranh chỉ đơn giản ghi lại khoảnh khắc đáng yêu trước khi nó biến mất mãi mãi. Camille mất ở độ tuổi 32, bảy năm sau khi Monet hoàn thành bức tranh này.    

 2

Trong Mùa Xuân, Camille làm ta nhớ đến Flora, nữ thần hoa của La mã . Những đốm nắng trên y phục nàng giống như những đốm mờ của hoa trắng cạnh nàng, liên kết nàng với khung cảnh như một nữ thần của tự nhiên. Nếu bạn tập trung kỹ vào bãi cỏ, bạn có thể thấy màu sắc quan trọng hơn hình thể như thế nào đối với Monet. Một nét cọ là một nhúm cỏ. Ông sơn màu của một vùng cỏ, chứ không phải hình thể của từng lát cỏ hay bụi cỏ.

Nhìn kỹ cách thức Monet xây dựng y phục Camille bằng những đốm hồng, xám, và trắng hòa quyện thành hình thể mượt mà của vải vóc. Bạn có thể nhận ra những nét cọ quét nồng nàn thay đổi hướng tùy theo kết cấu cơ thể bên dưới vải vóc như thể nét cọ của ông được dẫn dắt bởi sự cảm xúc âu yếm dịu dàng dành cho người vợ.

Năm 1883, Monet thuê một ngôi nhà ở Giverny, phía tây Paris khoảng 50 dặm, gần biên giới Normandy. Khoảng thập niên 1890, ông dư dã để mua ngôi nhà và thêm 5 mẩu đất bao quanh, được cải tạo thành một ngôi vườn tuyệt mỹ. Một số họa phẩm nổi tiếng của ông là vẽ các hoa súng trên ao trong vườn này. Monet vẽ hơn 250 phiên bản về hoa súng trên những khung vải rộng. Những tranh hoa súng nổi tiếng nhất của ông được treo trong những gian phòng bầu dục của Bảo tàng Orangerie ở Paris. Dưới là một trong những bức tranh đó.

3

Renoir và Degas: Vẽ các Phụ Nữ Đẹp

Trong phần này tôi nói về Renoir và Degas, hai danh họa chuyên vẽ các mỹ nhân.

Renoir

Renoir (1841-1919) chuyên vẽ những người hạnh phúc tại những chỗ xinh tươi. Ông nói, “Đối với tôi một bức tranh nên là một sản phẩm thú vị, vui tươi và xinh đẹp __ vâng, xinh đep! Đã có quá nhiều điều khó chịu trong cuộc sống rồi không cần chúng ta tạo chi thêm nữa.” Điểm mạnh của ông là những gương mặt phụ nữ và hình thể đáng yêu; những cánh đồng ngập nắng; vườn cây; và những quán cà phê ngoài trời ngày hè.

Tác phẩm đầu tiên của Renoir (từ 1860 đến 1868), như Tại Quán Trọ của Mẹ Anthony, cho thấy ảnh hưởng của Corbet (xem chương 18). Nhưng Renoir sớm bỏ những tông màu nâu tự nhiên của phong cách bụi bặm ban đầu của Corbet và phát triển “bảng màu cầu vòng” hạnh phúc và sáng tươi của mình. Năm 1869, trong khi vẽ với Monet ở La Grenouilliere, Renoir sáng tạo ra hiệu ứng đốm sáng mà ông sử dụng quá hiệu quả trong suốt sự nghiệp của mình.

Khiêu Vũ ở Moulin de la Galette (xem hình dưới) được trưng bày tại Triển Lãm Ấn Tượng Thứ Ba năm 1877, là một trong những tuyệt tác lừng lẫy nhất của Renoir. Một vài người mẫu quen thuộc của Renoir xuất hiện trong tranh, và một số bạn thân ngồi ở hàng ghế ở tiền cảnh. Ánh mặt trời lọc qua chòm lá chung quanh tắm ánh sáng lốm đốm lên đám người đang vui, tạo một không khí náo nhiệt cho cảnh vật.    

4

Điều gì khiến cho Khiêu Vũ ở Moulin de la Galette là một bức tranh Ấn tượng, ngoài sự kiện là Renoir vẽ nó? Nó cho ta cảm xúc của một ảnh chụp nhanh __ một lát cắt của cuộc sống được nắm bắt trên khung vải trước khi cảnh tượng trôi đi. Ánh sáng lốm đốm trên gương mặt và quần áo, nét cọ nhanh thoáng và tính phác họa của bức tranh khiến cho nó có dáng vẻ Ấn tượng rõ ràng.

Giữa năm 1881 và 1885, toàn thể phong trào Ấn tượng gặp phải một khủng hoảng (các sử gia nghệ thuật gọi tên là “khủng hoảng của trường phái Ấn tượng”). Hầu hết các nghệ sĩ cảm thấy là những tác phẩm ban đầu của họ là hời hợt __ chúng chỉ nắm bắt bề mặt lấp lánh của cuộc sống mà không đào sâu nó. Các nghệ sĩ bắt đầu phát triển các phong cách độc lập của riêng mình. Monet tiếp tục giữ nguyên chiều hướng, thăm dò bản chất ánh sáng và đi sâu vào sương mờ và màu sắc. Pissarro chuyển từ Ấn tượng trực giác đến nghiên cứu màu sắc một cách khoa học cùng với Seurat (xem Chương 20). Degas tiến sát vào chủ thể, tạo ra những chân dung thân mật hơn, và những hậu cảnh Ấn tượng ít mờ nhòe hơn. Manet, trái lại, trở nên Ấn tượng hơn.

Ban đầu, Renoir vui mừng khi trường phái Ấn tượng giải phóng hội họa khỏi ý nghĩa. Ông nói, “Tôi được tự do vẽ hoa và chỉ đơn giản gọi chúng là hoa.” Nhưng khoảng năm 1881, ông cảm thấy bị tù túng do phong trào giải phóng cọ vẽ của ông đã gây ra. Như những thành viên khác của nhón, Renoir muốn nghệ thuật mình trưởng thành. Thay vì tập trung vào những khoảnh khắc thoáng qua, ông muốn tạo nên một ấn tượng lâu bền. Vì thế ông đến La Mã để tiếp thu hội họa La Mã cổ và Phục hưng__ nghệ thuật đã trường tồn nhiều thế kỷ. Ông đặc biệt chịu ảnh hưởng của Raphael. Sau đó, các nhân vật của ông vững chắc hơn. Nhưng hậu cảnh thì vẫn là chất Ấn tượng. Một số nhà phê bình nói rằng các bức họa chín chắn của ông trông như tác phẩm của Raphael trong khung cảnh Ấn tượng. Sự tương phản giữa những nhân vật vững chắc và hậu cảnh mềm mại, loáng thoáng là đặc trưng của phong cách chín mùi của Renoir.

Ảnh hưởng của Raphael (xem Đức Mẹ với Cá Vàng) thể hiện rõ trong bức Người Tắm, vẽ trong khoảng 1885 và 1887, và trong Khiêu Vũ tại Bougival (xem hình dưới) vẽ năm 1883. Bức sau này cho thấy loại quán xá Renoir luôn lui tới để vẽ, tràn đầy nhựa sống, nhưng bây giờ các người khiêu vũ ở tiền cảnh đều rõ nét. Hậu cảnh, tuy nhiên, còn mờ nhòe một  cách thi vị và Ấn tượng.            

5

Các vũ công của Edgar Degas

Không giống Monet và Renoir, Degas (1834-1917) được huấn luyện bài bản, học tập một người học trò của Inges. Các tranh đầu tiên của ông là tranh lịch sử, lấy cảm hứng từ hoạ sĩ Lãng mạn Delacroix (xem Chương 17).

Sau khi gặp gỡ các hoạ sĩ Ấn tượng vào cuối thập niên 1860, Degas quay chú ý về việc vẽ những cuộc đua ngựa, rồi sau đó múa ba-lê và những cảnh ở hậu trường. Các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là các diễn viên múa đang tập dượt, vươn vai, gãi ngứa, và đôi khi khiêu vũ. Mặc dù ông tham gia tất cả cuộc Triển Lãm Ấn tượng từ 1874 đến 1880 và sử dụng nhiều kỹ thuật Ấn tượng, ông hiếm khi vẽ ngoài trời như các đồng nghiệp; Degas ưa thích ánh sáng nhân tạo của hí viện hơn là ánh sáng tự nhiên. Nhưng, như nhiều hoạ sĩ Ấn tượng khác, các họa phẩm của ông trông như các ảnh chụp nhanh những giây phút thoáng qua của cuộc sống,

Nhưng các ảnh chụp nhanh của Degas trông ngẫu hứng nhưng không phải vậy. Ông vẽ nhiều phác họa chuẩn bị, thử những góc độ khác nhau và những cách đóng khung các chủ thể của mình, trước khi bắt tay vào vẽ. Ông nói, “Không có nghệ thuật nào ít chất ngẫu hứng hơn tôi.”

Sau khủng hoảng của trường phái Ấn tượng thập niên 1880, phong cách Degas thay đổi. Ông tiếp tục vẽ cũng các chủ thể cũ, nhưng ông nắm bắt họ trong những cận cảnh thân mật và có vẻ không báo trước. Ông cắt bỏ hầu hết hậu cảnh để tập trung vào chủ thể. Hơn nữa, ông đóng khung các người mẫu dưới những góc độ kỳ lạ, khiến cảnh trí chao đảo như một vũ công ba lê mất thăng bằng. Nhìn các vũ công từ những góc độ nghiêng cho người xem cảm giác là mình đang nhìn trộm họ sau một góc tường. Degas bảo rằng ông muốn mô tả “một con người đang chú tâm làm việc gì đó . . .  Như thể bạn đang nhìn họ qua một lỗ khóa.”

Degas cũng bắt đầu vẽ phụ nữ tắm, vắt một bông xốp trong bồn tắm, lau khô mình mẫy, vân vân. Một lần nữa, ông dùng cách tiếp cận nhìn trộm qua lỗ khóa. Tư thế của người tắm hoàn toàn tự nhiên, như thể các bà không biết có người đang vẽ mình. Thường thì người xem không thể thấy được gương mặt họ.

6

Trong Vũ Công Xanh (xem hình dưới), Degas trộn màu hậu cảnh thành một mosaic gồm những màu mềm mại: các màu xanh trộn lẫn với xanh tím, xanh lá lấp lánh trông như lá cây lốm đốm nắng, những màu hồng như son môi và vàng rực rỡ. Các nhân dạng của vũ công không quan trọng. Gương mặt họ có khi quay đi chỗ khác có khi trong bóng tối. Đây là bức tranh về các màu và hình thể tương tác. Chủ thể của bức tranh (các vũ công), dù không phải là phụ, được hòa quyện với chất lượng của màu sắc và hình thể đến nổi không thể tách rời khỏi chúng. Như Monet và Cezanne (xem Chương 20), tại thời điểm này của sự nghiệp, Degas đang nhích dần tới sự trừu tượng.

7

Chương 20

Tạo Ra Ấn Tượng của Riêng Mình: Các hoạ sĩ Hậu Ấn Tượng

 

Trong Chương Này

  • Tìm hiểu trường phái Hậu-Ấn tượng
  • Đọc giữa các nét cọ
  • Xem xét điêu khắc trường phái Tượng Trưng

Cách tiếp cận phóng khoáng của trường phái Ấn tượng giải phóng thế hệ hoạ sĩ sau để thực nghiệm thêm nhiều về màu sắc, hình thể, và đề tài. Các hoạ sĩ Hậu-Ấn tượng không chống lại trường phái Ấn tượng như các nghệ sĩ Hiện thực chống lại phái Lãng mạn và Tân cổ điển. Họ chỉ đơn giản mở rộng chủ nghĩa Ấn tượng theo những chiều hướng mới.

Trường Phái Điểm Họa và George-Pierre Seyrat

George-Pierre Seurat (1859-1891) cảm thấy rằng chủ nghĩa Ấn tượng quá trực giác. Ông muốn khám phá bản chất của màu sắc và ánh sáng một cách khoa học và áp dụng nó vào nghệ thuật của mình. Qua những nghiên cứu, ông phát triển phong cách Điểm Họa (tên khác là Tân-Ấn tượng), tạo nên một bức tranh bằng những chấm màu. Tôi bàn đến kỹ thuật của Seurat và lý thuyết màu sắc đằng sau nó trong Chương 29, nhưng ý tưởng cơ bản là một mạng lưới dầy đặc các chấm màu sẽ trở thành một bó hoa đầy đủ hơn của các sắc màu khi nhìn bằng mắt.

Hệ thống khoa học của Seurat về hội họa hấp dẫn những nghệ sĩ khác, bao gồm Pissarro, cũng như Signac, Cross, và Luce.

Một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của Seurat là Gánh  Xiếc (xem Hình 20-1), được vẽ vào năm ông mất. Các chấm màu tạo cho tranh một vẽ thanh thoát bay bổng, nhưng cũng một cảm giác tĩnh lặng (có lẽ vì mạng lưới các chấm giống như các chấm điểm ảnh trên truyền hình). Bảng màu giới hạn __ đỏ, nâu, vàng, và trắng __ phân bố đều trong Gánh Xiếc làm tăng cảm giác xơ cứng. Nhưng các nghệ sĩ nhào lộn và các hình thể kiểu Ả rập nạp thêm năng lượng cho bức tranh. Thật ngạc nhiên, sự vận động và xơ cứng không trung hòa nhau __ thay vào đó, chúng củng cố cho nhau. Bức tranh cho ta cảm giác hành động dừng lại. Các nhà phê bình đã tuyên bố rằng trường phái Ấn tượng ở giai đoạn đầu nhắm đến “sự độc tài của mắt,” trong đó các hoạ sĩ ngừng sắp xếp và lựa chọn, mà chỉ ghi lại nhanh như có thể ấn tượng họ nhìn thấy. Seurat và những hoạ sĩ Điểm Họa khác bảo vệ mình khỏi sự công kích bằng cách dùng những dạng hình học và những đường  phong cách để làm nổi bật tính giả tạo của những cảnh vật của chúng. Trong Gánh Xiếc, áo choàng của anh hề như phát động tất cả các đường  cong và các cú nhào lộn nạp cho cảnh một năng lượng xoáy lốc. Sự áp màu cũng cho thấy có tính toán thiết kế và chuẩn bị kỹ. Các nét cọ đứt đoạn của Monet và Renoir đã nhường bước cho vô số chấm màu rực rỡ được tổ chức tỉ mỉ thành một tổng thể hài hòa.

8

Hình 20-1

 

Nghệ Thuật Đèn Đỏ: Henri de Toulouse-Lautrec

Lautrec (1864-1901) là bậc thầy mô tả cá tính trong những cảnh sống về đêm: hộp đêm, gánh xiếc, quán ba, và nhà thổ. Những ánh sáng nhân tạo chiếu rọi lên những gương mặt và thân thể của những nhân vật ông vẽ, phơi bày những đường  nét và chi tiết mà ánh mặt trời che dấu.

Toulouse-Lautrec cũng là nhà biếm họa và vẽ thạch bản có năng khiếu đặc biệt. Những tấm bích chương đậm phong cách mà ông vẽ cho các hộp đêm là các tác phẩm có tính nghệ thuật cao. Mọi vật Lautrec chạm đến đều biến thành nghệ thuật. Cái chân còi của ông, khiến ông như người lùn, không cho phép ông đi đến với thế giới, thì nghệ thuật đã mang thế giới đến với ông. Ngay cả khi ông đang uống rượu tại một  hộp đêm (một trong những giải trí ưa thích của ông), ông phác họa những người mà ông chuyện trò và cười nói. Sang hôm sau, ông biến những phác họa tốt nhất thành tác phẩm.

Tại Moulin Rouge mô tả cuộc sống về đêm ở Montmartre trong thập niên 1890 trong một hộp đêm đang hoạt động. Đầu tiên, bạn chú ý đến son môi đỏ cháy và  những gương mặt phấn sáp. Rồi bạn chú ý quý ông mũ chóp vây quanh một má mì mặt dầy và một gái tóc cam. Khi mắt bạn chìm vào bức tranh, bạn nhận ra rằng ngay cả các nhân vật ở hậu cảnh không chỉ là những đốm màu cục bộ. Mỗi người đều có một cá tính riêng biệt. Toulouse-Lautrec là thổ địa của khu Montmartre, vì thế ông xen hình mình vào tranh; ông là gã bé nhỏ đội mũ chóp đứng cạnh quý ông cao nhất trong quán ba. 

9

Toulouse-Lautrec thích đặt các chủ thể của mình trong những môi trường khiến họ bối rối (có lẽ đó là lý do tại sao ông tự đặt mình sát bên người cao nhất). Sự vụng về của họ khiến họ bị lột mặt nạ. Trong những bối cảnh như thế, nghệ sĩ có thể gút lại bất kỳ nhân vật nào bằng một vài nét khéo chọn.

Lần Theo “Người Hoang Dã Cao Quý”: Paul Gauguin

Paul Gauguin (1848-1903) lấy cảm hứng từ triết lý trở về Eden của Jean Jacques Rousseau: ”Con người sinh ra tự do, và sau đó ở nơi đâu cũng xích xiềng. Những ai nghĩ mình là các ông chủ của những người khác thì thật ra là những tên nô lệ tệ hơn chúng.”

Gauguin cố trở về thời nguyên thủy bằng nghệ thuật và để tìm “người hoang dã cao quý” hoặc con người hồn nhiên. Ông cho rằng mọi thứ ở Âu châu đều “giả tạo và quy ước . . . Để tạo ra sự mới mẻ ta phải trở về nguồn, về nhân loại trong thuở thơ ấu. Cuối cùng, sự truy tìm để gieo rắc văn minh và trở thành một hoang dã cao quý mang ông đến Tahiti. Nhưng trước tiên ông tìm đến cuộc sống cổ sơ ở nông thôn Pháp. 

Khái niệm về người hoang dã cao quý, tức con người sống hòa hợp với tự nhiên, rất phổ biến ở thế kỷ 18. Nó chỉ một cá nhân không bị văn minh hủy hoại. Jean-Jacques Rousseau giúp truyền bá ý tưởng này, mặc dù thực sự ông không bao giờ dùng thuật ngữ trên. Trong Emile, ông viết: “Mọi thứ đều tốt đẹp khi ra khỏi bàn tay của người tạo ra vật dụng; mọi thứ đều thoái hóa trong bàn tay con người.”

Các tranh từ Brittany

Năm 1886, Gauguin chuyển đến Pont-Aven, Brittany, hy vọng tìm thấy cuộc sống cổ xưa giữa các tổ tiên của người Celts cổ (người Breton). Nhưng buồn thay, ông thấy rằng người Breton quê mùa cũng đang bị xã hội hóa.

Gauguin, vốn đã nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của Pissarro và bắt đầu sự nghiệp hội họa của mình như một nhà Ấn tượng, đã bỏ trường phái  Ấn tượng ở Brittany. Ông tạo ra một phong trào mới gọi là trường phái Tổng hợp (cũng được biết dưới tên trường phái Tượng trưng). Trong trường phái này, một mảng lớn có màu sống động được tô lên mặt vải rồi được viền bằng một đường  dày màu đen như trong các tranh kính màu, chỉ khác là mỗi mảng chỉ có một màu, với số sắc độ sử dụng tối thiểu. Vì thế tranh được vẽ với kỹ thuật này trông phẳng lỳ. Gauguin phát triển kỹ thuật này xa hơn khi ông giương buồm đến đến Tahiti vào năm 1891, sau khi đã bán sạch các họa phẩm của mình để lấy tiền cho chuyến đi.

Các tranh từ Tahiti

Tahiti cũng không toại nguyện ước mơ của Gauguin về “người hoang dã cao quý.” Khi ông đến, ông phát hiện ra rằng hàng ngàn người Âu xa xứ đã biến những hòn đảo này thành phần kéo dài của Âu châu.

Nhưng trong tác phẩm của mình, Gauguin có thể sử dụng sự tương phản giữa những gì mình hy vọng và những gì mình tìm thấy. Ông đặt cạnh nhau hai thực tế, khiến chúng đối đầu nhau trên những bình diện kề cận. Thường ông đặt một cảnh cổ xưa ở tiền cảnh và những hình ảnh hoặc biểu tượng của thế giới văn minh ở hậu cảnh, và rồi làm dẹt bức tranh (bằng cách xóa bỏ phối cảnh và hầu hết sắc độ) để hậu cảnh sẽ bám vào tiền cảnh, nhìn qua vai nó, và lây nhiễm nó.

Thỉnh thoảng những bình diện “kề vai sát cánh” này tương phản tính hồn nhiên cổ xưa với văn minh trau chuốt, như trong Chuyện Kể Hoang Dã (1902), toát ra vẽ bí ẩn, căng thẳng, và mối hiểm nguy kỳ lạ. Hai cô gái Tahiti gần như khỏa thân ngồi cạnh nhau chế ngự cả tiền cảnh. Họ nhìn quanh với dáng điệu ngờ vực, nhưng không đúng hướng. Đằng sau họ (trong một hậu cảnh chật chội, nhìn qua vai bạn, một người đàn ông mắt xanh, quỷ quái mặc áo choàng xanh ngắm nhìn các thiếu nữ. Gauguin cho người đàn ông tóc đỏ ma quái, bàn chân chẻ ra có gương mặt của một người bạn mình là Meijer de Haan. Mỉa mai thay, Gauguin cảm thấy rằng xông vào khía cạnh hoang dã của bản chất con người (như gã quái quỷ trong tranh) là một cách để gột rửa những hậu quả suy thoái của nền văn minh. Ông nói, “Đối với tôi sự man dại là tiến trình trẻ hóa.”

10

Cách vận dụng phối cảnh truyền thống và sử dụng màu sắc biểu hiện của ông đã có ảnh hưởng đến các phong trào nghệ thuật cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nhất là đối với trường phái Dã thú và Biểu hiện (xem Chương 21) và Nabis (tôn Gauguin là người cha tinh thần). Cũng thế, vào năm 1901, Picasso có dịp ngắm các bức tranh của Gauguin tại nhà một người bạn, và chúng đã tạo cảm hứng cho ông bước vào Thời Kỳ Xanh (xem Chương 21).

Phái Dã thú chịu ảnh hưởng những màu chói sáng và sự tương phản màu mãnh liệt của Gauguin: màu lục nhạt sát bên màu xanh da trời, đỏ nóng, cam, và vàng tạo cảm giác như chúng đốt cháy lẫn nhau. Bên dưới là một bức tranh Tahiti khác của Gauguin.

11

Vẽ Bùng Năng Lượng: Vincent van Gogh

Hoạ sĩ Hà lan Vincent van Gogh (1853-1890) chỉ vẽ trong 10 năm, từ 1880 cho đến khi ông mất năm 1890. Nhưng trong thời gian đó, ông đã vẽ hơn một ngàn bức họa, mà 70 bức  được vẽ trong 70 ngày cuối cùng của đời ông. (Bạn có cảm thấy mình đúng là thằng lười không? Tôi thì có.) Van Gogh bị thúc đẩy bởi nổi khao khát tâm linh muốn sáng tạo nghệ thuật. Cho dù ông nói ông chỉ bán được đúng một bức tranh trong suốt cuộc đời của mình __ và bức tranh đó được bán vào cuối đời ông __ không có gì có thể dập tắt được ngọn lửa sáng tạo đó.

Ông được dạy dỗ để thành một nhà truyền giáo, nhưng những bậc trưởng thượng đã đuổi cổ ông vì ông quá tận tụy. Lòng trắc ẩn của ông dành cho những người thợ mỏ trong giáo phận của ông (ông phân phát cho họ chăn mền và săn sóc họ khi đau ốm, chẳng hạn) được xem như là không chuẩn mực. Tuyệt vọng, Van Gogh quay sang hội họa, cũng với sự tận tụy khi tự học vẽ chì và vẽ sơn dầu. Trong vòng một năm, ông báo tin vui cho em ông là Theo, bảo rằng cuối cùng mình đã tìm được một việc làm có ý nghĩa để phục vụ cho đồng loại, một điều gì đó tốt đẹp.

Một số tranh ban đầu của van Gogh là vẽ các thợ mỏ Bỉ ở vùng ông giảng đạo trước kia. Người Ăn Khoai (xem hình dưới) cho thấy một gia đình thợ mỏ nghèo hèn đang ăn khẩu phần đạm bạc chỉ là khoai. Túp lều họ cư ngụ thường là do công ty cung cấp, và công ty luôn tìm cách bóc lột sức lao động của họ. Bức tranh này đã tạo cảm hứng cho các hoạ sĩ Biểu hiện của những thập niên đầu của thế kỷ 20 vì hình thể (gương mặt và thân thể người thợ mỏ) đóng vai trò phụ trong sự biểu hiện. Cảm xúc của người thợ mỏ quá mạnh đến nổi chúng bóp méo gương mặt mệt mõi của họ và nói lên thân phận qua hình hài suy kiệt của mình. Trong một lá thư bàn về hội họa gởi cho em, ông viết, “Nếu một người nông dân bốc mùi thịt heo, mùi khói, mùi súp khoai __ điều đó không có gì là không tốt . . . một bức họa vẽ cuộc sống một nông dân không nên xức dầu thơm.”

12

Trong đoạn đầu sự ngiệp của mình, van Gogh sao chép tranh của hoạ sĩ Hiện thực Pháp Millet, một thành viên của trường phái Barbizon (xem Chương 18). Van Gogh tin rằng Millet đã tiến đến việc nắm bắt nét tinh túy của phong cảnh gần hơn là các nhà Ấn tượng.

Nhưng van Gogh đã cảm nhận phong cảnh mà ông vẽ còn sâu sắc hơn Millet. Đối với van Gogh, tự nhiên dẫy đầy sức mạnh tâm linh quay cuồng nằm bên dưới bề ngoài yên ả. Đôi khi trong lúc năng nổ tóm bắt sức mạnh này (hoặc giải phóng nó khỏi những hình thể vật chất trói buộc nó), van Gogh làm cảnh vật quay cuồng và thịnh nộ như trong một biển dậy sóng. Lần khác, có lẽ khi tâm trí ông an tĩnh, ông vẽ nên những bức tranh tràn đầy ánh sáng tôn giáo,  tỏa sáng ra ngoài khung cảnh, như trong Người Gieo Mạ (xem hình dưới). Trong tranh này, tia nắng cũng có kết cấu đầy đặn như cánh đồng lúa mì vàng ngập nắng. Chúng hình như là một với người gieo mạ được vầng thái dương tòa sáng vinh danh. Trong mắt của van Gogh, người gieo mạ thấp kém đã mang đến cuộc sống vì đã nuôi nấng chúng ta. Để biết nhiều hơn về phong cách van Gogh, xem Chương 29.

13

 

Chân dung tự họa

14

Trong năm cuối cùng, tác phẩm của van Gogh bắt đầu được công nhận. Phòng tranh Les XX tiếng tăm mời ông tham dự một trong số những triển lãm quốc tế của mình, và Monet ca ngợi tranh ông. Nhưng nổi dằn vặt, sự cô đơn, buồn phiền, và tâm trí quay cuồng làm năng lực dần dần suy kiệt. Cuối cùng ông hầu như không thể cầm cọ vẽ. Và nếu không thể vẽ được, ông không muốn sống. Vào ngày 27/7/1890, van Gogh tự tử bằng một phát súng. Hình trên là một chân dung tự họa của ông, được vẽ sau một trận tranh cãi dữ dội về hội họa với Gauguin, khiến ông nổi điên cắt phăng mất vành tai mình (được băng bó như trong hình). Bên dưới là một bức tranh nổi tiếng khác của ông: Nhà Máy Xay Lúa Cũ:

15

Đúc Tình Yêu vào Đá: Rodin và Claudel

Auguste Rodin (1840-1917) thường được coi là điêu khắc gia vĩ đại nhất kể từ Michelangelo và thường được sánh ngang bằng ông. Như Michelangelo, Rodin làm mọi bộ phận trong cơ thể cất tiếng nói trong điêu khắc của mình. Một số người cho rằng ông không thể đạt đến mức độ tiếng tăm có được nếu không nhờ người  phụ tá cũng là người yêu của mình, Camille Claudel (1864-1943). Họ lý luận rằng ông không chỉ tìm được cảm hứng nhờ sự ủng hộ và tình yệu của Claudel như một nàng thơ, mà còn tiếp thu hoặc ăn cắp nhiều ý tưởng của nàng, cũng như nhờ nàng điêu khắc một vài chi tiết trong tác phẩm của mình. Có thể như thế lắm.

Sự hợp tác của Rodin và Claudel kéo dài 15 năm, và Claudel, khởi đầu là học trò của Rodin, sau này cũng trở thành một điêu khắc gia vĩ đại theo phong cách riêng của mình. Khi so sánh các tác phẩm độc lập và hợp tác của họ, ta thấy rằng quả họ có trao đổi nhau những ý tưởng sáng tạo __ và có thể nhiều hơn thế. Sau khi Rodin bỏ bà vào năm 1898, Claudel theo đuổi một sự nghiệp độc lập __ nhưng đó là một sự nghiệp bị cắt ngắn do chứng điên loạn và một ám ảnh lớn dần, luôn  thấy mình bị bức hại, có thể phát khởi do bị Rodin hắt hủi.

Auguste Rodin

Cả Rodin lẫn Claudel thỉnh thoảng được xếp vào trường phái Biểu Tượng, mặc dù Rodin không thích nhãn hiệu đó. Các tác phẩm lừng danh nhất của ông là người Suy Tưởng (xem Hình 20-2), Nụ Hôn, Đài Tưởng Niệm Người Dân Calais, Đài Tưởng Niệm Balzac, Thời Đại Đồ Đồng, và tác phẩm chưa hoàn thành Cổng Địa Ngục. Người Suy Tưởng nguyên được dự tính là một  bức tượng nhỏ được đặt phía trên khung cửa vào của Cổng Địa Ngục. Rodin quyết định mang Người Suy Tưởng ra khỏi Địa ngục (suy cho cùng địa ngục không phải là nơi để trầm tư) và tăng kích thước lớn bằng người thật và là một con người của trần thế. Người Suy Tưởng của Rodin suy nghĩ bằng toàn thân xác của mình. Bạn có thể nhìn thấy những suy nghĩ của y trong các cơ bắp và gân cốt. Rodin, người từng nói ”Mỗi phần của cơ thể người đều biểu cảm”, đã làm tâm trí của Người Suy Tưởng trần trụi như da thịt của y.

16

Hình 20-2

Nụ Hôn (xem hình dưới) cũng thoát thai từ Cổng Địa Ngục. Có lẽ Rodin quyết định là cái hôn của cặp tình nhân quá dịu dàng không hợp với địa ngục. Rodin neo hai cơ thể vào một tảng đá nhám để làm đá của da thịt mịn màng hơn bằng tương phản. Sự kiện cặp uyên ương bị dán chặt vào đá, không thể tiến đến giai đoạn thân mật tiếp theo, khiến Nụ Hôn thêm sầu thảm. Những người yêu nhau không thể tìm được sự viên mãn của hạnh phúc. Sự khao khát của họ là bất tận (và đây cũng có thể là lý do tại sao lúc đầu Rodin định cho họ vào địa ngục). Ngày nay bức tượng là một biểu tượng phổ biến của tình dục. Rodin hoàn tất Nụ Hôn vào năm ông chia tay với Claudel.

17

Camille Claudel

Bức Vertumnus và Pomona (xem hình dưới) của Claudel, chạm năm 1905, dựa trên huyền thoại La mã về tiên rừng Pomona, người dị ứng với tình yêu. (thi sĩ Ovid kể lại câu chuyện trong tác phẩm của ông Sự Biến Hình.) Pomona chỉ yêu thích công việc của mình, tỉa tót cây cỏ, tháp cành. Trong điêu khắc, bà là hiện thân của Claudel __ Dao tỉa cành của Pomona biểu thị dụng cụ điêu khắc của Claudel. Bằng con dao của mình, Pomona giúp cây cối mau lớn và ra trái; bằng cái đục của mình, Claudel mang sự sống cho đá.

18

Vertumnus (đại diện Rodin), thần của vườn cây trái, mùa màng, và sự biến đổi, đem lòng yêu Pomona. Lúc đầu, nàng làm mặt lạnh, vì thế Vertumnus tìm cách. Khi ông thần này thay đổi, ông là bậc thầy của ngụy trang. Ông lân la gặp nàng khi dưới dạng một người tỉa cây, khi thì là một bà lão. Bà lão dạy trinh nữ Pomona là đàn ông và đàn bà phải được ghép với nhau như ghép cây để sản sinh ra trái ngọt. Ngay lúc đó, bà lão hiện thân thành Vertumnus, và Pomona mềm nhũn vì ham muốn. Chân dung thắm thía này của tình yêu, được khắc tám năm sau khi họ chia tay, cho thấy tình yêu của Claudel dành cho Rodin không hề phai nhạt. Bà đã tháp mình vào ông và không thể sống tỉnh táo mà thiếu ông.

Vào ngày 10/3/1913, mẹ, em gái và nhất là em trai ruột, thi sĩ và nhà văn nổi tiếng Paul Claudel, có “sáng kiến” đưa bà vào viện tâm thần ở Montfavet chữa trị. Nhiều lần các bác sỹ liên lạc với gia đình khuyên cho bà về sống giữa người thân thì sẽ tốt hơn ở viện, vì họ nhận thấy khi bà làm nghệ thuật thì bà rất tỉnh táo. Nhưng gia đình không ai đáp lại. Trong 30 năm ở đó, bà chỉ được em trai thăm viếng đúng 7 lần, em gái đúng 1 lần còn mẹ bà không hề lui tới thăm con.  Bà qua đời ngày 19/10/1943.

Trong thời gian bị bệnh, bà đập vỡ hầu hết các tác phẩm của mình, chỉ còn lại khoảng 90 bức tượng, tranh phác họa là nguyên vẹn. Ngày nay tại bảo tàng Rodin chuyên trưng bày các tác phẩm của Rodin, dành hẳn một gian để trưng bày các tác phẩm của bà.    

Ngọn Đồi là Hình Học Sống: Paul Cezanne

Như Gauguin, Cezanne (1839-1906) khởi đầu là một hoạ sĩ Ấn tượng, hoặc có thể là giả-Ấn tượng. Ông trưng bày tại Triển Lãm Độc Lập của các hoạ sĩ Ấn Tượng lần thứ nhất và thứ ba, nhưng không lâu sau đó ông tin rằng các bức tranh Ấn tượng quá nhẹ nhàng và hời hợt. Ông nói, “Tôi muốn làm cho Ấn tượng một điều gì đó vững chải và lâu bền, như nghệ thuật trong các bảo tàng.” Renoir và Degas cũng có cùng quan điểm sau cuộc “Khủng Hoảng” của trường phái Ấn tượng trong thập niên 1880 (xem Chương 19). Thay vì những ấn tượng thoáng qua, nhẹ bổng như không khí, Cezanne chọn cách tạo hình vững chắc; bằng cách thêm sắc độ với những cái vỗ màu đầy đặn thay vì những đốm màu. Cũng vậy, ông không quan tâm đến việc săn đuổi chuyển động bằng những cú vẩy nhanh cọ vẽ, mà quan tâm đến việc vẽ những vật đặc chắc neo chặt với mặt đất.

Để có sự vững chãi trong tranh Cezanne dựa vào hình học. Ông tin rằng mọi vật đều được xây dựng trên những hình nền tảng: hình trụ, hình nón, hình lập phương. Mục tiêu của ônXg là phân tích những vật thể và hình người thành những tổ hợp các hình nền tảng (một mục tiêu mà Picasso chia sẻ một vài năm sau đó).

Mặc dù Cezanne cho bức tranh Núi Sainte-Victoire (1902-1904) một dáng vẻ màu nước, xanh tái, nó quả thật cho ta cảm giác vững chãi. Những mảng màu trên đất phía trước núi trông như những khối lập phương nhỏ nhiều màu sắc. Cũng vậy, núi xuất hiện như tạo thành bởi những khối tinh thể xanh lá và xanh dương. Cezanne lặp lại bảng màu núi này cho bầu trời, nhưng bằng những lát màu lớn hơn. Bằng cách lặp lại và đan xen những màu vàng với những màu xanh lá (những màu tương cận) trên mặt đất và những màu xanh dương với tím trên núi và bầu trời, Cezanne tạo ra sự hài hòa màu sắc hình như tương đương về mặt thị giác với âm nhạc. Nói về sự lặp lại, Cezanne vẽ hơn 30 lần ngọn núi Sainte-Victoire từ năm 1870 đến 1906, năm ông tạ thế. Núi Sainte-Victoire (Hình 20-3) là một trong những phiên bản cuối cùng về ngọn núi mà ông vẽ.

19

Hình 20-3

 Bên dưới là một bức tranh tĩnh vật của Cezanne.

21

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s