Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 7

PHẦN 6: MAMLUK

image-asset

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

Trước khi tận thế, mọi lời tiên tri phải được hoàn thành – và Thành phố Thánh phải trả lại cho Giáo hội Cơ đốc.

Christopher Columbus, Thư Vua  Ferdinand và Hoàng hậu Tây Ban Nha

Và bà ta [Vợ của  Bath] đã đến   Jerusalem ba lần.

Geoffrey Chaucer, The Canterbury Tales

Ở Jerusalem, không có nơi nào người ta gọi là thực sự thiêng liêng.

Ibn Taymiyya, Trong việc Hậu Thuẫn cho những Chuyến Thăm Mộ Đạo đến Jerusalem

Việc thực hành (Lửa Thánh) vẫn còn tiếp tục. Ở đó một số điều đáng ghét  xảy ra dưới cặp mắt các người Hồi.

Mujir al-Din, Lịch Sử Jerusalem và Hebron

Người Hy Lạp là những kẻ thù tồi tệ và dã man  nhất của chúng ta, người Georgia là bọn ngoại giáo tồi tệ nhất, như người Hy Lạp và gian manh không kém; người Armenia thì rất xinh đẹp, giàu có và rộng rãi, và cũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của người Hy Lạp và Georgia.

Francesco Suriano, Luận Thuyết về Miền Đất Thánh

Chúng tôi ngắm nhìn thành phố hoan lạc nổi tiếng của chúng tôi và chúng tôi xé rách quần áo. Jerusalem gần như là hoang vu và trong cảnh điêu tàn và không có tường thành. Về phần người Do Thái, người nghèo nhất vẫn sống trên những đống rác, vì có luật người Do Thái không được phép xây dựng lại ngôi nhà đổ nát của mình.

Giáo sĩ Obadiah xứ Bertinoro, Thư Từ

CHƯƠNG 29:  TỪ NÔ LỆ ĐẾN SULTAN (1250–1339)

 BAIBARS: BÁO ĐEN

Baibars

Baibars là người Thổ, tóc màu sáng và mắt xanh, gốc Trung Phi, khi còn bé đã bị bán làm nô lệ cho một hoàng thân Syria. Nhưng, dù có ngực rộng, thân hình cao lớn, ông lại có một khuyết tật: bị đục thủy tinh thể trên võng mạc ở một mắt, khiến chủ nhân phải bán nó lại cho vị sultan ở Cairo. Salih Ayyub, cháu của Saladin, mua  nô lệ Thổ ‘từng đàn như mua chim’ để thành lập trung đoàn mamluk.

Ông không tin cậy người thân và cho rằng ‘một nô lệ thì trung thành hơn 300 con trai’. Baibars, như tất cả thanh niên nô lệ đa thần giáo, được cải sang Hồi giáo và được rèn luyện thành chiến binh-nô lệ, một mamluk. Y là tay bắn nỏ liên châu thiện xảo, một chiến binh cừ khôi đánh bại Thập Tự quân và vang danh là những Sư Tử Thổ và Hiệp sĩ Đền Thánh Hồi.

Khi đã lấy được sự tin cẩn của chủ nhân, y được giải phóng khỏi thân phận nô lệ và được đề bạt.  Bọn mamluk trung thành với chủ nhân mình nhưng còn trung thành với nhau hơn nữa – nhưng suy cho cùng mỗi chiến binh mồ côi này không mang nợ ai trừ chính mình và Đấng Allah. Sau khi  thanh toán vị sultan, Baibars mất trắng trong cuộc đấu tranh quyền lực và phải đào tẩu đến Syria tại đó y đầu quân cho hoàng thân có triển vọng nhất trong cuộc đấu đá nội bộ đang diễn ra khốc liệt giữa các ông hoàng địa phương. Có lúc, y đánh chiếm và cướp bóc Jerusalem. Nhưng quyền lực đang nằm ở Ai Cập nên Baibars cuối cùng được vị tướng lĩnh mới nhất, Qutuz,  gọi về đó để đoạt lấy vương miện.

Khi người Mông Cổ đánh chiếm Syria bằng sức mạnh, Baibars chỉ huy đội tiên phong vội vã tiến về bắc để ngăn chặn chúng. Vào ngày 3/9/1260, Baibars đánh tan đạo quân Mông Cổ tại Suối Goliath (Ain Jalut) gần Nazareth. Bọn Mông Cổ sẽ trở lại và thậm chí đến Jerusalem lẫn nữa, nhưng đây là lần đầu tiên chúng bị chặn đứng. Nhiều vùng lãnh thổ Syria rơi vào quyền cai trị của Ai Cập và Baibars được chào đón như  Cha đẻ của Thắng Lợi và Sư Tử Ai Cập. Y mong chờ một phần thưởng – quyền thống đốc Aleppo – nhưng Sultan Qutuz từ chối. Một hôm, trong khi vị sultan đang đi săn, Baibars đâm ông một dao ở lưng. Phe đảo chính gồm các tư lệnh mamluk tung hô y làm vua vì là người đã giết được vua.

Ngay sau khi chiếm quyền, Baibars lên đường đi hủy diệt căn cứ còn sót lại của Thập Tự quân trên bờ biển Palestine. Vào năm 1263, trên đường chinh chiến, ông ghé qua Jerusalem. Người Mamluk tôn kính thành phố và Baibars bắt đầu sứ mạng thánh hóa lại và sửa sang lại Núi Đền và vùng lân cận, ngày nay là Khu Hồi giáo. Ông ra lệnh làm mới lại Vòm Đá và al-Aqsa và để cạnh tranh với lễ Phục Sinh Cơ đốc, ông xúc tiến một lễ hội mới, có thể đã bắt đầu dưới triều Saladin, bằng cách xây dựng một mái vòm che lăng mộ của Nhà Tiên Tri Moses gần Jericho. Trong 8 thế kỷ sau đó, người Jerusalem cử hành lễ Nabi Musa (Tiên Tri Moses) bằng một đám rước đi từ Vòm Đá đến đền thờ Baibars tại đó họ sẽ tập họp để cầu nguyện, picnic và làm tiệc liên hoan.

Ngay góc tây-bắc của tường thành, vị Sultan xây dựng một nhà nghỉ cho dòng Sufi ưa chuộng của ông. Như nhiều người Mamluk, ông bảo trợ cho chủ nghĩa thần bí của dòng Sufi, vốn tín rằng sự thành khẩn, tụng niệm, cúng bái, nhảy múa và tự hành xác có thể đem người Hồi đến gần Thượng Đế hơn là lối cầu nguyện truyền thống cứng ngắt. Cố vấn thân cận nhất của Baibars là một tộc trưởng dòng Sufi, hai người thường xướng đọc và nhảy múa theo kinh. Baibars ngầm tin cậy tộc trưởng và làm gì cũng phải có sự tán thành của ông ta trong khi cho phép ông tổ chức cướp bóc nhà thờ và giáo đường Do Thái và treo cổ người Do Thái và Cơ đốc. * Đây là một thời kỳ mới: Baibars và những người kế vị ông, những người sẽ cai trị Jerusalem trong 300 năm sau, là những nhà độc tài hoặc phe phái quân phiệt khắc nghiệt và nhẫn tâm. Thời đại cũ gồm những tính cách cao thượng mà Saladin là hiện thân đã qua rồi. Người Mamluk là một tầng lớp chủ nhân ông cưỡng buộc người Do Thái phải đội khăn xếp vàng, còn người Cơ đốc phải khăn xanh. Đối với cả hai, nhưng đặc biệt người Do Thái, những ngày tháng được sống dưới luật bảo hộ đã là quá khứ. Người Mamluk nói tiếng Thổ cũng khinh thị người Ả Rập nữa và chỉ có người Mamluk là được quyền mặc áo lông thú hoặc áo giáp hoặc cưỡi ngựa trong thị trấn.

 * Thầy dòng Sufi của Baibars, Tộc trưởng Khadir, trở nên có nhiều quyền lực đến nỗi y có thể quyến rũ các bà vợ, con trai và con gái của các vị tướng Mamluk trong một thời trị vì khủng bố. Nó chỉ kết thúc khi họ đưa ra đủ chứng cứ đến nỗi ông buộc phải ra lệnh bắt giữ Khadir vì tội ngoại tình và kê gian. Y khỏi tội chết chỉ vì y tiên đoán là cái chết của Baibars sẽ đi liền sau cái chết của y.

Biểu tượng của Baibars là một con báo đen đang rình mồi mà ông sử dụng để đánh dấu những thắng lợi của mình – 80 con đã được tìm thấy trên những bảng khắc chữ giữa Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ và ở Jerusalem, và chúng còn rình ngoài Cổng Sư Tử. Không biểu tượng nào thích hợp hơn cho gã cướp bóc gieo khiếp đảm này với con mắt trắng dã giờ đang lao vào một cuộc chinh phục thần tốc.

Khi ông đã thanh sát Jerusalem, ông tấn công Acre nhưng họ phòng thủ vững chắc, sau này ông sẽ quay lại đó thường. Trong khi đó, từng thành phố Thập Tự này đến thành phố Thập Tự khác, ông càn quét, giết chóc với một sự khoái trá điên cuồng đầy tính bạo dâm. Ông tiếp các đại sứ Frank tại nơi mà chung quanh là các thủ cấp người Cơ đốc, ông đóng đinh, phân thây kẻ thù, và xây những thủ cấp vào vách tường của những thị trấn thất thủ. Ông thích đánh liều đi do thám không để lộ tung tích vào đất địch, thương thảo với kẻ thù khi ngụy trang, và thậm chí khi ở Cairo ông thanh sát các cơ quan hành chính ngay giữa đêm khuya, quá lo lắng và hoang tưởng đến nỗi mắc bệnh mất ngủ và loét dạ dày.

Chỉ có Acre là thách thức được ông nhưng ông hành quân lên bắc để chinh phục Antioch, từ đó ông viết cho ông hoàng của Acre một cách lạnh lùng ‘để báo với ngài những gì chúng tôi vừa làm. Người chết được chất đống, phải chi ngài nhìn thấy kẻ thù Hồi giáo của ngài giẫm đạp lên nơi tôn nghiêm đang làm lễ Mét, cắt cổ các thầy tu tại áng thờ, lửa chạy khắp cung điện. Nếu ngài có mặt ở đây để ngắm nhìn, ngài sẽ ước gì mình chưa hề sống!’ Ông tiến vào Anatolia và tự xưng là Sultan xứ Rum. Nhưng quân Mông Cổ đã trở lại và Baibars vội vã trở về để bảo vệ Syria.

Vào ngày 1/6/1277, ông trở thành nạn nhân của chính tài khéo rùng rợn của mình, khi ông đánh thuốc độc vào thức uống qumiz – sữa ngựa lên men được người Thổ và Mông Cổ yêu chuộng – cho một vị khách. Nhưng rồi ông quên bẵng và uống nó. Thế là những người kế vị ông hoàn tất công việc của ông.

Vào ngày 18/5/1291, người Mamluk tràn vào kinh đô Frank là Acre và tàn sát gần hết quân phòng thủ, bắt làm nô lệ những người còn lại (con gái được bán với giá chỉ một drachma mỗi người). Tước hiệu Vua Jerusalem với Vua Cyprus giờ nhập lại một. Nhưng nó sống sót chỉ như một vật trang trí – và nó duy trì cho đến ngày nay. Và Vương quốc Jerusalem đã kết thúc như thế. Còn Jerusalem bằng xương bằng thịt sống dở chết dở – không còn là một thành phố đúng nghĩa, mà giống một ngôi làng già cỗi hơn, không tường bao và nửa hoang vắng, bị bọn kỵ mã Mông Cổ mặc tình cướp bóc.

Năm 1267, một khách hành hương, một giáo sĩ Do Thái ở Tây Ban Nha được biết dưới tên Ramban, than khóc cho sự suy tàn của nó:

Tôi so sánh người, bà mẹ của tôi, như người đàn bà có con trai chết trong lòng trong khi sữa vẫn căng trong ngực, phải cho đàn chó con bú mớm. Và còn hơn thế, các người yêu của bà đã bỏ rơi bà và kẻ thù cũng bỏ mặc bà, nhưng ở rất xa kia họ còn nhớ và tôn vinh Thành phố Thánh.

RAMBAN

Giáo sĩ  Moses ben Nachman, được biết dưới từ viết tắt Hebrew là RAMBAN hoặc chỉ là Nahmanides, sửng sốt khi biết được rằng chỉ có 2,000 cư dân còn lại ở Jerusalem, chỉ có 300 người Cơ đốc và 2 người Do Thái, hai anh em, cũng là thợ nhuộm như những người Do Thái dưới thời Thập Tự Chinh. Dường như đối với người Do Thái, Jerusalem càng buồn thảm thì càng linh thiêng, càng thi vị: ‘Bất cứ thứ gì thần thánh hơn đều hoang phế hơn,’ Ramban nghĩ.

Ngài Ramban là một trong nhà trí thức tạo cảm hứng nhất của thời đại mình, một thầy thuốc, triết gia, nhà thần bí và học giả Kinh Torah. Năm 1223, ông đã bảo vệ những người Do Thái ở Barcelona chống lại lời cáo buộc tội báng bổ của dòng tu Đô-mi-ních quá khéo léo đến nỗi Vua James xứ Aragon nhận xét, ‘Tôi chưa hề thấy ai biện hộ cho một nguyên nhân sai lầm quá giỏi như thế,’ và thưởng cho Ramban 300 đồng vàng. Nhưng các thầy tu Đô-mi-ních vẫn cố gây sức ép để Ramban bị hành hình. Cuối cùng là một thỏa hiệp, ông lão thất tuần phải bị trục xuất – và lên đường đi hành hương.

Ông tin rằng người Do Thái không chỉ nên than khóc Jerusalem mà còn phải tính chuyện trở về, định cư và xây dựng lại trước khi Đấng Cứu Thế đến – điều chúng ta có thể gọi là Chủ nghĩa Lập quốc Do Thái (Zionism) về mặt tôn giáo. Chỉ Jerusalem mới có thể an ủi nỗi nhớ nhà của ông:

Ta bỏ lại gia đình, nhà cửa, con trai và con gái. Ta để lại tâm hồn ta bên con cháu thân yêu và ngọt ngào mà ta từng đặt chúng lên đầu gối. Nhưng sự mất mát của mọi cái khác đều có thể đền bù bằng niềm hoan lạc của một ngày ngồi trong khu vườn của ngươi, Ôi Jerusalem! Ta khóc đắng cay nhưng trong nước mắt là niềm hoan lạc.

Ngài Ramban chiếm hữu ‘một ngôi nhà sụp đổ được xây bằng cột đá và một mái vòm xinh xắn. Chúng tôi dùng nó làm nhà cầu nguyện vì thành phố trong cảnh hoang tàn và bất kỳ ai muốn chiếm hữu nhà cửa đổ nát đều làm thế.’ Ông cũng lấy về những cuộn Kinh Torah đã được cất giấu khi quân Mông đến, nhưng ngay sau khi ông mất, bọn kẻ cướp lại trở lại.

Nhưng lần này có một khác biệt: một số chúng là người Cơ đốc. Vào tháng 10 1299, Vua Cơ đốc xứ Armenia, Hethoum II, phi ngựa vào Jerusalem với 10,000 quân Mông. Thành phố rên siết dưới một trận cướp bóc man rợ khác và một ít người Cơ đốc trốn trong những hang động vì quá sợ hãi. Tướng Mông Il-Khan gần đây đã cải sang đạo Hồi nhưng người Mông không mấy quan tâm đến Jerusalem vì họ để nó cho Hethoum. Ông cứu vớt những người Cơ đốc, tổ chức lễ lạc trong Mộ Thánh và ra lệnh tu sửa nhà thờ St James và Nhà Mộ Nữ Đồng Trinh – và rồi, kỳ lạ thay, sau đúng hai tuần, ông quay về với ông chủ Mông Cổ của mình ở Damascus.

Tuy nhiên sự giao đấu tay đôi dài một thế kỷ giữa Mamluk và Mông Cổ đã qua và một lần nữa sức thu hút của Jerusalem thần thánh lại kéo thế giới trở lại. Ở Cairo, một vị sultan mới lên ngôi, Nasir Muhammad, rất tôn kính Jerusalem – trong số những điều khác, ông còn tự xưng mình là ‘Sultan al-Quds’ (tức Sultan Jerusalem). Và theo lời của sử gia hàng đầu của thời kỳ này, ‘ông có lẽ là vị sultan Mamluk vĩ đại nhất mà cũng bẩn thỉu nhất.’

NASIR MUHAMMAD: CHIM ƯNG SẮC SẢO

Ngay từ lúc 8 tuổi, ông đã bị ném qua lại giữa các tư lệnh trong phe quân sự cầm đầu Mamluk một cách không thương tiếc như một con búp bê hoàng gia. Hai lần ông được đưa lên ngôi và hai lần bị hạ bệ. Ông là con trai thứ của một nô lệ đã vươn lên trở thành vị sultan lớn và người anh của ông, người chinh phục Acre, đã bị ám sát, vì thế khi

Nasir Muhammad chiếm được ngôi vua lần thứ ba ở tuổi 26, ông quyết tâm sẽ nắm giữ nó. Biểu tượng chim ưng của ông thích hợp với phong cách ông –  sự lẫm liệt thẩm mỹ, sự hoang tưởng như chim ưng và cú sà xuống của tử thần bất ngờ. Các đồng chí của ông được thăng chức và trọng thưởng – nhưng rồi bị xiết cổ, phân thây, đầu độc mà không được cảnh báo và dường như ông thích ngựa hơn người: vị sultan khập khiễng được cho là có thể kể ra huyết thống của tất cả 7,800 ngựa đua và thường trả tiền mua một con  ngựa còn cao hơn mua một thanh niên nô lệ cường tráng nhất. Vậy mà mọi thứ ông làm – cuộc hôn nhân của ông với hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, 25 đứa con của ông, 1,200 thê thiếp – ông làm với sự hoành tráng chi li mà ông mang theo đến Jerusalem.

Năm 1317, chính ông hành hương đến đó và tiến hành chứng tỏ cho các tướng lĩnh của ông thấy rằng nhiệm vụ thiêng liêng của họ là làm đẹp Núi Đền và những đường phố quanh đó. Được sự trợ giúp của người bạn thân nhất đồng thời cũng là tể tướng Syria, Tankiz, vị sultan củng cố lại Tháp David, bổ sung một thánh đường Ngày Thứ Sáu cho quân đồn trú, và dựng lên những dãy cột đồ sộ và những madrasa (trường dạy giáo lý Hồi giáo) trên Núi Đền, lợp lại Vòm Đá và al-Aqsa, bổ sung các tháp canh tại Cổng Dây Xích, và Cổng Người Bán Bông Vải và Chợ Bán Bông Vải – tất cả những kiến trúc này đến nay vẫn còn đó.

Nasir ưu ái cách thức dòng tu Sufi tiếp cận Thượng Đế nên xây dựng 5  tu viện cho các dòng tu thần bí này. Trong những nơi cư trú mới sáng loáng, họ phục hồi một số ma thuật linh thiêng tại Jerusalem bằng những điệu nhảy, hát ca, xuất thần và đôi khi tự cắt xẻo da thịt, tất cả đều để hoàn thành cảm xúc cao ngất cần có trên đường tiếp cận Thượng Đế.

Các bộ hạ của Sultan hiểu được thông điệp ông muốn truyền đạt cho mình: ông và những người kế vị ông lưu đày các amir thất sủng đến Jerusalem để tiêu pha của cải họ kiếm được một cách bất chính vào những phức hợp nguy nga các lâu đài, trường dạy giáo lý và lăng mộ. Càng ở gần Núi Đền, họ càng sớm sống dậy vào Ngày Phán Xét. Họ kiến tạo nên các tiểu cấu trúc có cung vòm bề thế rồi xây dựng phía trên đó những tòa nhà chen chúc một cách khéo léo lên mái của những tòa nhà có trước chung quanh các cổng của Điện Thờ Tôn Quí.

Nasir đến Jerusalem – hoặc ít nhất Khu Hồi giáo – trong bụi bặm và mạng nhện và rời nó trong đá hoa, vì thế khi Ibn Battutah viếng thăm, ông thấy thành phố ‘to lớn và bề thế’. Những khách hành hương Hồi giáo ùa về al-Quds (tức Jerusalem), khám phá từ địa ngục Gehenna đến thiên đường Vòm Đá và đọc sách fadail (Đời các Tiên Tri) dạy họ rằng ‘phạm một tội ở Jerusalem bằng phạm 1,000 tội ở nơi khác và làm một điều thiện ở đó bằng làm 1,000 điều thiện ở nơi khác’. Ai được sống ở đó ‘giống như một chiến binh của jihad,’ trong khi chết ở đó ‘như chết ở thiên đường’. Tính thần bí của Jerusalem nở rộ đến mức độ người Hồi giáo hành lễ trở lại việc đi chung quanh, hôn hít và xức dầu Tảng Đá mà họ đã ngưng làm từ thế kỷ thứ 7. Học giả theo chủ nghĩa cơ yếu Ibn Taymiyya xỉ vả Nasir và những trò mê tín Sufi, cảnh báo rằng Jerusalem chỉ được xếp hạng là một điểm tham quan tôn giáo, không thể so sánh được với chuyến hành hương đến Mecca. Vị sultan liền tống người bất đồng chính kiến thuần khiết này vào ngục thất 6 lần nhưng vô ích và Ibn Taymiyya tạo ra cảm hứng cho chủ nghĩa Wahabiism (phong trào Hồi giáo siêu cực đoan) khắt khe của Ả Rập Saudi và bọn Thánh chiến Hồi giáo ngày nay.

Vị sultan sắc sảo không còn tin cậy những Mamluk Thổ giờ đã là những ông lớn có thể lực vì thế ông bắt đầu mua những thanh niên nô lệ Georgia hoặc Circassia từ vùng Caucasus để làm đội cận vệ và họ gây ảnh hưởng đến các quyết định của ông về Jerusalem: ông giao Nhà Thờ Mộ Thánh cho người Georgia. Nhưng người Latinh cũng không quên nó: vào năm 1333, ông cho phép Vua Robert xứ Naples sửa sang các bộ phận của Nhà Thờ và sở hữu Cenacle trên Núi Zion tại đó ông ta khởi công xây một tu viện dòng Francis.

Con hổ đang bệnh thì nguy hiểm nhất. Vị sultan lâm bệnh. Vì ông đã nâng đỡ người bạn Tankiz khiến y trở nên quá quyền lực đến nỗi ông phát sợ. Vì thế vào năm 1340, Tankiz bị bắt và bị đầu độc. Còn Nasir cũng mất một năm sau đó, nhiều con trai ông lên kế vị. Nhưng cuối cùng, những chiến binh nô lệ mới vùng Caucasus lật đổ vương triều, lập ra một triều đại mới các sultan dành ưu ái cho người Georgia ở Jerusalem. Ngược lại, những người Latinh Thiên chúa – những hậu duệ của Thập Tự quân bị thù ghét – phải chịu ách áp bức của người Mamluk mà những cơn bùng phát bạo lực của họ gieo khiếp đảm cho người Cơ đốc và Do Thái. Khi vua xứ Cyprus tấn công Alexandria vào năm 1365, Nhà Thờ bị đóng cửa và các thầy tu dòng Francis bị lôi đi hành hình công khai ở Damascus. Dòng Francis được phép trở lại nhưng người Mamluk xây những tháp cao để che khuất Nhà Thờ và Giáo đường Ramban  nhằm khẳng định tính ưu việt của đạo Hồi.

Năm 1399, nhà chinh phục Trung Á đáng sợ Tamurlane đánh chiếm Baghdad và tràn vào Syria đúng lúc vị sultan trẻ Mamluk cùng ông thầy lên đường đi hành hương Jerusalem.

CHƯƠNG 30:   THỜI SUY THOÁI CỦA TRIỀU ĐẠI  MAMLUK (1399–1517)

 TAMURLANE VÀ THẦY GIÁO: THÀNH PHỐ HÀNH HƯƠNG

Ông thầy của vua này là một học giả lừng lẫy trong thế giới Hồi giáo. Giờ đã ngót nghét 70, Ibn Khaldun đã phục vụ dưới trướng các vương quyền Morocco, rồi (sau một thời gian trong tù) Granada, Tunisia và cuối cùng (cũng sau một thời gian khác trong tù) vị sultan Mamluk. Giữa những thăng trầm của quyền lực và ngục thất, ông viết nên kiệt tác Muqaddimah, một cuốn về lịch sử thế giới đến nay vẫn còn lấp lánh. Nhờ đó vị sultan bổ nhiệm ông làm sư phó cho con trai mình, Faraj, người sẽ kế vị ông ngay khi còn trẻ.

Giờ, khi vị sử gia nóng nảy dẫn vị sultan 10 tuổi đi tham quan Jerusalem, thì Tamurlane vây hãm Damascus của người Mamluk. Timur Khập Khiễng – được biết dưới tên Tamurlane – đã vươn lên quyền lực như một thủ lĩnh địa phương ở vùng Trung Á. Trong 35 năm chinh chiến không ngừng, thiên tài khắc nghiệt này, thuộc dòng dõi Thổ, đã chinh phục nhiều lãnh thổ ở Cận Đông, mà ông cai trị từ yên ngựa, tự xưng là người kế thừa Thành Cát Tư Hãn. Ở Delhi (Ấn Độ) ông đã tàn sát 100,000 người; ở Isfahan, ông đã giết 70,000 người, xây dựng 28 tháp chất 1,500 thủ cấp mỗi tháp, và chưa hề bị đánh bại.

Nhưng Tamurlane không chỉ là một chiến binh. Những cung điện và hoa viên của ông ở Samarkand phô bày khiếu thẩm mỹ tao nhã của ông; ông là tay kỳ thủ bậc nhất và một người đam mê lịch sử thích tranh luận với các triết gia. Không có gì ngạc nhiên khi ông đã từ lâu muốn gặp Ibn Khaldun.

Nhưng người Mamluk đang trong tình cảnh hoảng loạn: nếu Damascus thất thủ, Palestine và có thể Cairo cũng sẽ theo chân. Ông thầy và vị sultan trẻ vội vã trở lại Cairo nhưng người Mamluk quyết định phái hai người đến ngay Syria để thỏa thuận với Tamurlane – và cứu vãn đế chế. Cùng lúc đó, người Jerusalem bàn bạc phải làm gì: làm sao cứu được Thành phố Thánh khởi tay tên cướp vô địch có biệt hiệu Tai Hoạ của Thượng Đế?

Vào tháng 1 năm 1401,  Tamurlane, hạ trại quanh Damascus, nghe tin Sultan  Faraj và Ibn Khaldun đang đợi mình. Ông không quan tâm gì đến ông vua con nhưng rất ngưỡng mộ Ibn Khaldun nên lập tức cho vào yết kiến. Là nhà chính trị, Ibn Khaldun đại diện cho vị sultan, nhưng là một sử gia, tất nhiên ông khao khát được gặp con người siêu quần của thời đại – cho dù ông không chắc mình ra về sống chết thế nào. Hai người gần như đồng tuổi: nhà chinh phục tóc đã hoa râm tiếp sử gia đáng kính trong căn lều lộng lẫy của mình.

Ibn Khaldun hơi khớp trước ‘vị vua vĩ đại và hùng mạnh nhất của các vua’ mà ông thấy ‘vô cùng thông minh và sáng suốt, nghiện tranh luận và bàn bạc về những gì mình biết cũng như về những gì mình chưa biết’. Ibn Khaldun thuyết phục Tamurlane phóng thích một số tù binh Mamluk, nhưng Tai Hoạ của Thượng Đế không đồng ý: Damascus phải bị tràn vào và cướp phá theo cách mà Ibn Khaldun gọi là ‘một chiến tích vô cùng đê tiện và gớm ghiếc’. Con đường đến Jerusalem giờ đã mở rộng. Vị pháp quan thành phố quyết định đầu hàng Tamurlane và gửi một phái đoàn cầm theo chìa khóa Vòm Đá. Nhưng khi phái đoàn đến Damascus, nhà chính phục đã tiến ra bắc để đánh đuổi quyền lực đang trỗi dậy ở Anatolia, người Thổ Ottoman. Rồi, vào tháng 2 1405, trên đường đi chinh phục Trung Quốc, Tamurlane mất và Jerusalem vẫn còn thuộc Mamluk. Ibn Khaldun, người làm nó thân thiết với Cairo từ buổi gặp mặt với Tamurlane, chết trên giường bệnh một năm sau đó. Học trò ông Sultan Faraj không hề quên chuyến tham quan văn hóa ấn tượng của mình: ông thường trở lại Jerusalem, thiết triều trên Núi Đền, bên dưới chiếc lọng hoàng gia, giữa cờ xí vàng rực, phân phát tiền vàng cho dân nghèo.

Chỉ có 6,000 người Jerusalem, với đúng 200 người Do Thái và 100 gia đình Cơ đốc, trong thành phố nhỏ với những nhiệt tình quá lớn. Thành phố là nơi nguy hiểm và mất ổn định:  năm 1405 người Jerusalem nổi loạn chống lại các sắc thuế cắt cổ và đuổi cổ thống đốc Mamluk ra ngoài thị trấn. Thư khố của Haram cho chúng ta một cảm nhận về các triều đại Jerusalem gồm các pháp quan tôn giáo và tộc trưởng Sufi, các amir Mamluk bị lưu đày, và các nhà buôn giàu có trong một thế giới học tập theo Koran, sưu tập sách vở, buôn bán dầu oliu và xà phòng, và rèn luyện kiếm cung. Nhưng giờ đây Thập Tự Chinh không còn là mối đe doạ, các khách hành hương Cơ đốc bị vắt kiệt như là nguồn thu nhập chính. Tuy nhiên, họ hiếm khi được chào đón: họ thường bị bắt trong những vụ đột kích tống tiền. ‘Chúng phải hoặc chịu trả tiền,’ một tên bắt cóc giải thích với nạn nhân Cơ đốc, ‘hoặc phải chịu đánh đập đến chết.’

Thật khó nói ai nguy hiểm hơn – người Mamluk tham ô, khách hành hương tai tiếng, bọn Cơ đốc thâm thù hoặc người Jerusalem tham lam. Nhiều khách hành hương côn đồ đến nỗi dân địa phương và khách du lịch được cảnh báo, ‘Hãy tự bảo vệ mình với bất kỳ ai đi đến Jerusalem’, còn người Hồi thích câu ‘không ai hư đốn hơn các cư dân các thành phố thánh’.

Trong khi đó các sultan Mamluk thỉnh thoảng càn quét thành phố để trấn áp dân Cơ đốc và Do Thái đối mặt với những vụ treo cổ có định kỳ bởi những đám đông người Jerusalem.

Nạn tham nhũng và vô trật tự bắt đầu ở triều đình Cairo: đế chế vẫn còn được cai trị bởi các sultan gốc Caucasus vì thế, cho dù các người dòng Francis Thiên chúa nhận được sự hậu thuẫn của châu Âu, Jerusalem Cơ đốc cũng bị người Armenia và Georgia thù ghét nhau và tất nhiên có cả người Thiên chúa, khống chế. Người Armenia, vốn hung hăng bành trướng Khu của mình quanh St Jameses, lo lót người Mamluk để giành lấy Calvary (tức Gogoltha, địa điểm Jesus bị đóng đinh) khỏi tay người Georgia. Rồi sau đó người Georgia hối lộ nhiều hơn và giành được trở lại. Nhưng cũng không lâu. Trong quãng thời gian 30 năm, Calvary sang tay 5 lần.

Tiền hối lộ và lợi lộc rất lớn vì hành hương đã trở nên phổ biến một cách điên cuồng ở châu Âu. Người Âu châu không cảm thấy thời Thập Tự Chinh đã qua rồi – nói cho cùng, việc Thiên chúa chiếm lại Tây Ban Nha từ tay người Hồi không phải là Thập Tự Chinh hay sao – nhưng mặc dù không có cuộc viễn chính nào nhằm giải phóng Jerusalem, tất cả người Cơ đốc cảm thấy như mình biết rõ Jerusalem cho dù chưa hề đến. Jerusalem xuất hiện trong các bài giảng đạo, tranh vẽ và thảm treo. Nhiều thị trấn xuất hiện các Nhà Nguyện Jerusalem, được Hội Huynh Đệ Jerusalem gồm những người đã từng đi hành hương hoặc không thể đi hành hương, lập ra. Cung điện Westminster có một gian phòng Jerusalem và từ Paris ở phía tây đến Prussia và Livonia ở phía đông, nhiều nơi giờ đây khoe rằng mình cũng có Jerusalem bản địa. Jerusalem duy nhất ở Anh, một ngôi làng bé tí ở Lincolnshire, có niên đại từ thời buổi nhiệt tình sống lại này. Nhưng có hàng ngàn người đến đó mỗi năm và nhiều người trong số đó tội lỗi đầy tai tiếng: Bà Vợ xứ Bath hỗn xược của Chaucer đã đến Jerusalem ba lần (Đây là nhân vật hư cấu trong tác phẩm Bà Vợ xứ Bath trong Canterbury Tales của Geoffrey Chaucer vào thế kỷ 14).

Khách hành hương phải nộp phạt và mua phí để vào được Jerusalem và rồi Nhà Thờ nơi người Mamluk cũng kiểm soát bên trong Mộ Thánh. Họ niêm phong Nhà Thờ mỗi đêm để các khách hành hương, với một giá nào đó, có thể được vào đó suốt ngày đêm nếu muốn. Khách hành hương nhận thấy rằng Nhà Thờ trông giống tiệm tạp hóa kiêm nhà cắt tóc với các sạp bán, cửa hàng, giường ngủ và một số lượng lớn tóc người: nhiều người tin rằng bệnh tật có thể chữa khỏi nếu họ cạo đầu và đặt tóc trong Mộ Thánh. Nhiều khách hành hương bỏ nhiều thời gian khắc chữ đầu tên mình vào mỗi điện thờ họ viếng thăm trong khi bọn Hồi xảo quyệt hoạt động dịch vụ ‘thánh tích’: các khách hành hương tiết lộ rằng chúng ướp xác những hài nhi Hồi chết non rồi bán qua châu Âu nói là nạn nhân của sự kiện Tàn Sát Trẻ Thơ Vô Tội thời Herod như Kinh thánh mô tả.

Một số khách hành hương nghe theo lời chúng thuyết phục là các con cái thụ thai trong Nhà Thờ được ban cho ân sủng đặc biệt, và tất nhiên có rượu, sao cho những giờ phút tối tăm thường là thời khắc của những trò hành lạc tập thể say sưa dưới ánh nến trong đó việc hát thánh ca nghiêm túc sẽ dọn đường cho trận ẩu đả xấu xa. Mộ Thánh, theo lời một khách hành hương bất mãn, đúng là ‘một nhà thổ đúng nghĩa.’ Một khách hành hương khác, Arnold von Harff, một hiệp sĩ Đức tinh quái, bỏ thời gian để học những cụm từ Ả Rập và Do Thái cỗ hé lộ cho ta biết được phần nào hành vi của y:

Em trả cho tôi bao nhiêu?

Tôi sẽ trả cho em một gulden

Em có phải người Do Thái không?

Cô ơi, cho tôi ngủ với cô đêm nay.

Thưa bà, tôi đã lên giường bà rồi.

Người dòng Francis hướng dẫn và chào đón những du khách Thiên chúa: lộ trình của họ, đi theo bước chân Jesus, bắt đầu ở nơi họ tin là

Praetorium (tòa án binh) của Pilate ở địa điểm lâu đài của thống đốc Mamluk. Đây trở thành trạm đầu tiên trong Hành trình Khổ nạn của Chúa, sau đó là Via Dolorosa. Khách hành hương sững sờ khi thấy các địa điểm Cơ đốc đã bị Hồi giáo hóa, như Nhà Thờ St Anne – nơi sinh mẹ của Mary Đồng Trinh sinh ra – bị Saladin chiếm dụng để xây trường dạy giáo lý Hồi. Huynh Felix Fabri người Đức đã lẻn vào điện thờ này, trong khi Harff liều mạng xâm nhập vào Núi Đền bằng cách ngụy trang – và cả hai đã ghi chép lại chuyến mạo hiểm của mình.

Tuy nhiên, người Do Thái và Cơ đốc chưa hề hoàn toàn an toàn khỏi sự áp bức thất thường của bọn cai trị Mamluk – và sự linh thiêng của Jerusalem có tính lây nhiễm đến nỗi khi hai tôn giáo lớn cổ xưa hơn bắt đầu đấu đá nhau giành Lăng mộ David trên Núi Zion, thì các sultan tuyên bố nó là của đạo Hồi.

Giờ đã có một cộng đồng Do Thái định cư khoảng 1,000 người tại địa điểm sẽ trở thành Khu Do Thái. Họ cầu nguyện trong giáo đường Ramban, cũng như chung quanh các cổng của Núi Đền (đặc biệt tại phòng học tập của họ cạnh Bức Tường Tây) và trên Núi Olives, nơi đó họ bắt đầu chôn cất người chết sẵn sàng cho Ngày Phán Xét. Nhưng họ cũng đâm ra tôn kính điện thờ Cơ đốc ở Lăng mộ David (vốn không dính dáng gì với David thực sự mà chỉ có từ thời Thập Tự Chinh), một bộ phận của  Cenacle, do người Francis kiểm soát. Người Cơ đốc cố hạn chế người Do Thái ra vào, vì thế người Do Thái thưa lên Cairo – với kết quả không may mắn cho cả hai. Vị sultan lúc bấy giờ, Barsbay, nổi giận khi phát hiện ra rằng người Cơ đốc chiếm giữ một địa điểm quí giá như thế, bèn đi đến Jerusalem, phá hủy nhà nguyện dòng Francis và thay vào đó xây một thánh đường bên trong Lăng mộ David. Một ít năm sau đó, một trong số kẻ kế vị, Sultan Jaqmaq, thu tóm toàn bộ Núi Đền cho đạo Hồi. Và sự tình còn tệ hơn: những hạn chế cũ bị áp đặt lại, những hạn chế mới được ban bố. Kích cỡ các khăn xếp Cơ đốc và Do Thái bị giới hạn; trong nhà tắm công cộng đàn ông phải đeo vòng cổ kim loại như súc vật; phụ nữ Do Thái và Cơ đốc bị loại khỏi nhà tắm;

Jaqmaq ngăn cấm thầy thuốc Do Thái chữa bệnh cho người Hồi. Sau khi Giáo đường Ramban bị sụp đổ trong một trận bão, quan giám sát Mamluk cấm tu sửa nó, tuyên bố giờ nó thuộc thánh đường kế bên. Khi người Do Thái hối lộ để đảo ngược quyết định, pháp quan địa phương phá hủy nó.

Vào ngày 10/7/1452, người Jerusalem phát động một vụ khủng bố chống Cơ đốc, đào lên xương cốt những thầy tu Cơ đốc và giật sập một ban công mới xây trong Mộ Thánh để vinh danh al-Agsa. Người Cơ đốc đôi khi cũng khiêu khích một cách điên cuồng. Vào năm 1391, bốn thầy tu dòng Francis la lớn giữa al-Aqsa rằng ‘Muhammad là kẻ phóng đãng, tên sát nhân, gã tham lam’, cổ xúy nghề mãi dâm! Viên pháp quan cho họ cơ hội rút lại lời nói. Nhưng họ từ chối, họ bị tra tấn và đánh đập đến gần chết. Một đám lửa được đốt lên giữa sân Nhà Thờ tại đó, gần như say cuồng vì phẫn nộ, đám đông chặt chém họ ra từng mảnh ‘để không còn lại hình dáng con người’, và sau đó họ làm món thịt hầm.

Tuy nhiên, việc cứu vớt đang đến gần và, khi một sultan bao dung hơn lên ngôi, chính một món ăn Pháp sẽ làm thay đổi vận mạng của Jerusalem Cơ đốc.

VỊ SULTAN VÀ MÓN TRỨNG RÁNG CƠ ĐỐC

Qaitbay, một thanh niên nô lệ vùng Circassia trở thành vị tướng lĩnh Mamluk, đã trải qua nhiều năm sống lưu đày ở Jerusalem. Kể từ khi ông bị cấm không được vào nhà người Hồi, ông làm bạn với người Francis và được dịp nếm món trứng ráng Pháp. Có vẻ như ông vẫn còn nhớ món trứng ráng rau củ này khi  lên ngôi vua vào năm 1486, bởi vì ông chào đón những huynh Francis đến Cairo và cho phép họ xây dựng trong Nhà Thờ – và giao trả lại Núi Zion cho họ. Họ muốn trả thù người Do Thái, do đó  Qaitbay ngăn cấm vĩnh viễn người Do Thái tiến gần đến Nhà Thờ hoặc tu viện kín trên Núi Zion: người Do Thái thường xuyên bị xử thắt cổ và bị giết thậm chí khi đảng trí đi ngang qua Nhà Thờ, một tình trạng kéo dài cho đến năm 1917.  Nhưng vị sultan cũng cho phép người Do Thái xây dựng lại giáo đường Ramban. Và ông cũng không quên Núi Đền: khi ông đến viếng thăm vào năm 1475, ông ủy thác việc xây dựng trường giáo lý

Ashrafiyya đẹp đến nỗi được mô tả là ‘viên ngọc thứ ba của Jerusalem’ trong khi giếng nước phun của ông ở đó, một cấu trúc vòm hình chuông rực rỡ màu đỏ và kem trong kỹ thuật ablaq (kỹ thuật xen kẽ màu sáng tối đặc biệt của kiến trúc Hồi) vẫn còn là kiến trúc lộng lẫy nhất  trong toàn thành phố.

Nhưng dù có sự quan tâm của Qaitbay, người Mamluk cũng đang mất dần quyền kiểm soát. Khi vị giám sát thành phố Mujir al-Din, ngắm nhìn hoàng hôn ở Tháp David, ông thấy ‘thành phố hoàn toàn bị bỏ bê và vô tổ chức’. Năm 1480, quân Bedouin tấn công Jerusalem, suýt bắt được viên thống đốc.  Ông phải phì ngựa băng qua Núi Đền và thoát ra Cổng Jaffa để tẩu thoát. ‘Jerusalem gần như hoang vu’, Giáo sĩ Obadiah xứ  Bertinoro nhận xét ngay sau vụ tấn công của bọn Bedouin. Từ khoảng xa, ‘tôi nhìn thấy một thành phố hoang tàn’, một đệ tử của ông đồng ý, với chó sói và sư tử lảng vảng trên vùng đồi. Vậy mà Jerusalem vẫn còn khiến khách nhìn nín thở. Khi đệ tử của Obadian nhìn thành phố từ Oliver, ‘tinh thần tôi tràn đầy, lòng tôi khóc than và tôi ngồi xuống khóc và xé áo’. Mujir al-Din, vốn yêu quí thành phố, cho rằng nó ‘tràn đầy nét rực rỡ và vẻ đẹp – một trong những kỳ quan nổi tiếng.’

Năm 1453, người Ottoman cuối cùng chinh phục được Constantinople, thừa hưởng sự lộng lẫy và ý thức hệ của toàn bộ đế chế La Mã. Hết thế hệ này đến thế hệ khác, người Ottoman điêu đứng vì các cuộc chiến tranh giành quyền kế vị và sự thách thức của một Ba Tư đang trỗi dậy. Năm 1481, Qaitbay tiếp đón ông hoàng Ottoman trốn chạy, Jem Sultan. Hi vọng rằng một vương quốc Ottoman bất đồng sẽ chia rẽ vương triều, Qaitbay dâng Jem vương quốc Jerusalem. Việc thí quân này dẫn đến 10 năm chiến tranh tiêu hao. Trong khi đó cả hai đế chế đều bị các thế lực đang lên đe doạ – người Mamluk bởi sự lấn lướt của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương, người Ottoman bởi một vị shah (vua Ba Tư) mới, Ismail, đã thống nhất được đất nước bằng cách áp đặt Luật Hồi Giáo Shia còn được tôn kính tận ngày nay. Việc này đẩy người Ottoman và Mamluk lại với nhau trong một cái ôm thực dụng và chết yểu: đó sẽ là một nụ hôn của tử thần.

1

Bản đồ Jerusalem thời Mamluk và Ottoman

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s