Nhậu Nhẹt

1370874395300-1453952998429

Trần Vy

Tất cả mọi người đều quen thuộc hai tiếng “nhậu” và “nhẹt” nhưng ít ai ngờ rằng nhiều sắc tộc khác cũng sử dụng hai từ này. Họ có thể hơi gần gũi như Katu, Bahnar ở Tây Nguyên, có thể khá xa như Pear ở Campuchia hay Semai ở Mã Lai, hoặc rất xa như Mon ở Miến Điện hay Wa ở Vân Nam, Trung quốc.

Những mảnh vỡ của nền văn hóa chung xa xưa của các cộng đồng Nam Á còn lưu lại qua biểu tượng chim nước của Mon-Việt; qua lễ hội hiến tế trâu của Wa-Katu-Bahnar; qua hóa thạch trống đồng của Wa-Việt; qua cách mai táng quý tộc trong quan tài thân cây của Katu và cư dân cổ từng sinh sống tại Sơn La, Thanh Hóa, Hưng Yên…

Tìm thấy nhiều niềm vui trong rượu có vẻ là đặc điểm chung của người Austroasiatic. Lê Tắc thời Trần từng nhận xét dân An Nam hay quá chén nên người gầy yếu, các nhà thám hiểm Pháp từng ngạc nhiên trước tình yêu rượu của bộ tộc Mạ. Năm 2018, người Việt dẫn đầu Đông Nam Á về tiêu thụ bia. Tại Trung quốc, người Wa không kém kỹ năng, họ đứng nhất quốc gia về mức tiêu thụ cồn trên đầu người. Thế kỷ XXI, một bản của người Mảng thuộc tỉnh Lai Châu được mệnh danh là bản “nát” vì đàn ông đa phần uống rượu thay cơm. Bên cạnh hiện tượng gây quan ngại đó, người Việt, cộng đồng nói tiếng Austroasiatic lớn nhất thế giới, cũng là cộng đồng tự cảm thấy mình hạnh phúc nhất thế giới.

Thật khó giải thích mối tương quan giữa thú chè chén và quan niệm về hạnh phúc, nên dưới đây chúng tôi chỉ làm việc khiêm tốn là tìm hiểu xem “nhậu” và “nhẹt” được sử dụng bởi các tộc anh em nào trong khối Mon-Khmer.  

NHẸT

“Nhẹt” có hai nghĩa: “uống” và “uống rượu”.

Vài sắc dân hiểu nhẹtuống như:

– Brao (Bahnaric) ở Lào, Campuchia, Việt Nam, Thái: uống = /ɲeet/ (đọc như nhêêt)
– Cheng (Bahnaric) ở Lào: uống = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Mnong (Bahnaric) ở Việt Nam, Campuchia: uống = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Bru (Katuic) ở Lào, Việt Nam, Thái: uống = /heit/ (hêit)
– Oi (Bahnaric) ở Lào: uống = /ɲet/ (nhêt)
– Tampuan (Bahnaric) ở Campuchia: uống = /ʔaet/ (haêt)

Vài sắc dân hiểu nhẹtuống rượu như:

– Nyaheun (Bahnaric) ở Lào: uống rượu = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Sapuan (Bahnaric) ở Lào: uống rượu = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Stieng [Bulo] (Bahnaric) ở Việt Nam, Campuchia: uống rượu = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Bahnar [Pleiku] (Bahnaric) ở Việt Nam: uống rượu = /ʔɛɛt/ (heet)
– Laven [Jru’] (Bahnaric) ở Lào: uống rượu = /ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài)
– Khmer (Khmeric) ở Campuchia: rượu do người miền núi chưng cất = /ʔeek/ (hêêk)
– Âm proto Bahnaric phục dựng: uống rượu = /*ɲeːt/ (nhêt với ê kéo dài).

Theo biểu đồ phát sinh các loại ngôn ngữ bên dưới,(1) hai chi Bahnaric và Vieto-Katuic tách nhau cách đây khoảng 5.250 năm, đó là tuổi ước đoán tối thiểu của âm /*ɲeːt/.

1

Người Việt bình thường hiện nay hơi mơ hồ về từ này, ngoài việc đặt nó phía sau “nhậu” để hàm ý uống rượu quá đà, họ còn sử dụng “nhẹt” nhằm diễn tả mức độ “nhão” của vật nào đó.(2) Tuy nhiên, việc xây dựng từ ghép đẳng lập “nhậu nhẹt” đã bộc lộ hồi quang của chữ nghĩa, người Việt xưa từng sử dụng “nhẹt” để diễn tả hành vi uống chất có cồn như nhiều sắc tộc anh em khác.

NHẬU

Nguyên thủy, nhậu chỉ có nghĩa là uống, chưa bao gồm nội dung uống rượu. Âm cổ của nhậu trong tiếng proto Mon-Khmer được phục dựng là /*ɲuuʔ/ (nhuuh), trong tiếng proto Vietic là /*ɲuːʔ/ (nhuh với âm u kéo dài). Để có khái niệm về tuổi giả định của hai âm này, có thể tham khảo biểu đồ phát sinh các loại ngôn ngữ vừa trình bày bên trên.

Hai nhóm Mon và Khmer tách nhau cách đây khoảng 6.500 năm, các ngôn ngữ Katuic và Vietic tách nhau cách đây khoảng 4.500 năm. Đó chính là tuổi ước đoán của hai âm proto Mon-Khmer /*ɲuuʔ/ (nhuuh) và proto Vietic /*ɲuːʔ/ (nhuh với âm u kéo dài).

Không chỉ Kinh Việt có từ “nhậu” để chỉ hành động uống, các sắc tộc nói tiếng Vietic khác như Rục, Sách, Mã Lèng, Thà Vựng đều phát âm cơ bản là /ɲuː/ (nhu với u kéo dài) để diễn đạt khái niệm “uống”.

Cũng không chỉ Vietic dùng từ “nhậu”.

– Người P’uman (Palaungic) ở Trung quốc, Miến Điện diễn tả khái niệm “uống” bằng âm /ɲʊ/ (như).
– Tai Loi (Palaungic) ở Miến Điện, Lào, Trung quốc: uống = /ɲu/ (nhu).
– Wa (Palaungic) ở biên giới Trung-Miến: uống = /ɲə:/(3) (nhơ với ơ kéo dài).
– Lawa (Palaungic) Bắc Thái Lan: uống = /ɲuʔ/ (nhuh).
– Samtau (Palaungic) ở Trung quốc, Miến Điện, Lào: uống = /ɲɯ?/ (nhuh với u gần giống u tiếng Pháp).
– Semai (Aslian) ở Mã Lai: uống = /ɲɔːʔ/ (nhoh với o kéo dài).
– Pear (Pearic) ở Campuchia: uống = /ɲaː/ (nha với âm a kéo dài).
– Sre (Bahnaric) ở Việt Nam: uống-uống rượu = /ɲu/ (nhu)

Vậy “nhậu” là từ cơ bản của nhiều tộc người nói tiếng Austroasiatic sinh sống trải dài khắp Đông Nam Á lục địa bao gồm một phần Hoa Nam nay.(4)

Tuy nhiên, thư tịch hiện có cho thấy “nhậu” chỉ phổ biến tại Nam Việt cho đến nửa đầu thế kỷ XX, Bắc Việt dường như quên hẳn từ này. Có thể quan sát quá trình quên tương tự đang tác động lên những từ như: trái, bông, ghe…vốn chỉ còn thịnh hành từ Trung Trung bộ trở  vào Nam.

Dân Sài Gòn cũ tách bạch hẳn “nhậu” và “rượu”. Họ nói “uống nước” là “nhậu nước”, “uống rượu” là “nhậu rượu”. Đại Nam quấc âm tự vị của Paulus Của ghi nhận ý “uống” thuần túy rất rõ ràng.

2
Trích Đại Nam quấc âm tự vị trang 127(6)

Trước đó (1772) Pigneaux de Béhaine cũng đã giải thích “nhậu” là “bibere” trong tiếng La Tinh. Jean-Louis Taberd (1838) theo y như vậy trong từ điển của mình. Bibere có nghĩa: uống.

Sau đó đến năm 1931, Tự điển Khai Trí Tiến Đức vẫn duy trì cách giải thích của Huỳnh Tịnh Của.

3
Trích trang 409 Việt-Nam Tự-điển của Hội Khai Trí Tiến Đức(7)

Người Đàng Trong sống chung đụng với người Quảng tại Biên Hòa từ năm 1679, rồi với người Pháp tại Sài Gòn từ năm 1862, nhưng cho đến gần hết thời Pháp thuộc, nội dung uống của từ nhậu không hề thay đổi. Văn hóa ăn uống của hai cộng đồng ngoại nhập dù ảnh hưởng nhiều đến ngôn ngữ ẩm thực của ta nhưng lại chừa ra từ “nhậu”. Thế mà nay gọi nhau đi nhậu lại hàm ý một cuộc vui có ma men. Biến chuyển nội dung của “nhậu” xảy ra mới đây nhưng chính xác tự bao giờ thì cần rà soát lại.

Trên số báo Kinh Tế Sài Gòn Online ngày 23/05/2011,(7) Trần Hữu Quang có nhận xét rằng trong Từ điển Việt Nam do Thanh Nghị ấn hành năm 1958, nhậu được định nghĩa là “uống, thường là uống rượu”, nhưng trong Việt Nam tân từ điển minh họa cũng của Thanh Nghị năm 1967, nhậu chỉ còn duy một nghĩa: “uống rượu”.

Thế là có giai đoạn chuyển tiếp, năm 1958 “nhậu” mang hai nội dung “uống” và “uống rượu”, đến năm 1967 thì chỉ còn giữ nội dung sau. Một từ tồn tại ổn định hơn 6.000 năm đột nhiên địu thêm ý nghĩa mới, lại già nua không đủ sức mang vác nặng nên dần trút bỏ phần máu thịt xưa. Nguyên nhân tạo nên biến đổi đó hẳn không phải tầm thường. Nó phải là một biến chuyển xã hội-văn hóa chưa từng có.

Giữa năm 1931 và 1958 có hai biến cố đủ sức tạo ra biến chuyển như thế: Cách mạng tháng 8 năm 1945 và hiệp định Genève năm 1954. Toàn xã hội đã khác xưa sau Tuyên ngôn Độc lập nhưng tiếng Nam bộ vẫn phát triển theo hướng giữ nguyên chất văn hóa đặc thù của nó. Phải đến năm 1954, cuộc di cư của gần một triệu đồng bào miền Bắc cùng với chương trình giáo dục phổ thông của Nam Việt Nam mới khiến cho ngôn ngữ địa phương thay đổi hoàn toàn.

Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa không chỉ chịu trách nhiệm lựa chọn nội dung dạy-học cho cựu thuộc địa Nam Kỳ, họ phải dự trù cho cả miền Trung và bộ phận miền Bắc vừa định cư. Ảnh hưởng của giáo dục dung hòa rất mạnh mẽ, đặc biệt từ các loại giáo trình văn học. Thế hệ thụ hưởng nền giáo dục mới không còn ai viết văn kiểu Vương Hồng Sển hay Sơn Nam nữa.

Nếu người Nam tùy khu vực mà phát âm “rượu” là “rựu”, “rụ”, “yụ” hay “gụ” nên khó liên tưởng với “nhậu” thì người Bắc với phát âm “ziệu” lại dễ dàng gắn kết “nhậu” với món uống này.(8) Gắn kết đó tương tự như gắn kết “ống dòm – ống nhòm”, “gia – nhà”, “dế dũi – dế nhũi”… Chính người Bắc di cư đã bổ sung nội dung “uống rượu” vào từ “nhậu” và người Nam cũng nhanh chóng lãng quên nghĩa “uống” ban đầu của nó. Giữa hành động trung tính nhạt nhẽo và một cử chỉ nhiệt thành thì quả thật con người không cần nhiều cân nhắc để lựa chọn.

Sự hình thành lớp trung lưu mới, triết thuyết hiện sinh ngự trị, chiến tranh bùng phát xô đẩy phận người … đã giục giã quá trình biến chuyển nội dung của “nhậu”.

4
Bản đồ ngữ hệ Austroasiatic (Từ điển Bách khoa Britannica)(10)

Dù thay đổi đến đâu, “nhậu nhẹt” cũng đã tồn tại hơn 5.000 năm và là từ gốc Austroasiatic, xem như thuần Việt. Có thể thấy “nhậu” thông dụng trong vài nhóm nói tiếng Palaungic, “nhẹt” được dùng bởi nhiều sắc tộc thuộc chi Bahnaric. Việc thâu tóm cả “nhậu” lẫn “nhẹt” cho biết đầu vào của Kinh Việt bao gồm các nhóm tộc người này. “Nhậu” là động từ chỉ thao tác “uống” chính thức của người proto Vietic, nó giống hệt từ “uống” của một số nhóm Palaungic khiến ta có thể giả thiết rằng từ xa xưa, vài cộng đồng nói tiếng proto Vietic và proto Palaungic từng chung sống với nhau tại khu vực nay là tỉnh Vân Nam. “Nhẹt” chiếm vị trí thứ yếu trong tiếng Việt so với “nhậu”, lại còn bị lãng quên, giúp ta giả thiết thêm rằng người nói tiếng Vietic đã tiếp thu “nhẹt” từ các nhóm Bahnaric vào thời điểm muộn hơn, khi đang trên đường di cư lần ra bờ đại dương. Chỉ Kinh Việt, vốn là lò hợp huyết, biết đến “nhẹt”, các nhóm Vietic khác đơn thuần biết “nhậu” mà thôi.

Cũng có thể các bộ tộc nói tiếng Mon-Khmer đã ly tán khắp nơi nhưng sau cùng dần hội tụ về vùng đất Giao Chỉ-Cửu Chân xưa rồi hòa tan với nhau tại đó. Sau lưng họ là biển người nói tiếng Hán Tạng từng bước cuốn phăng những bộ tộc nhỏ lẻ hay những liên minh bộ lạc lỏng lẻo, trước mặt họ là đồng bằng sông Hồng có dấu hiệu ngày càng được bồi đắp, mở rộng nhanh chóng. Người Palaungic xuôi sông Hồng, sông Đà xuống cửa biển. Người Bahnaric có lẽ đi theo cả hai đường thủy bộ để đến khu vực bắc trung bộ, nơi sau này xuất hiện các thương cảng cổ.(10)

Về kỹ thuật có thể học Tây, về thơ ca có thể mượn Tàu, riêng nhậu nhẹt thì ta không cần ai cả. Tiên hiền Việt nhuần nhị thao tác trục xuất phiền muộn ra khỏi kiếp người từ lâu lắm rồi, từ thuở Tây chửa ra Tây, Tàu chửa thành Tàu.

VÀI TỪ LIÊN QUAN ĐẾN UỐNG VÀ RƯỢU

Một số từ Việt Nam diễn tả hành động đưa chất lỏng vào miệng cũng hiện diện trong ngôn ngữ của những sắc tộc nói tiếng Mon-Khmer khác, thường có nghĩa là “uống”.

  1. Húp:
    Bru [TS] (Katuic): uống món nóng từ chén/tách = /hu:p/ (hup với u kéo dài)
    Palaung (Palaungic): uống = /hrup/ (hrup)
  2. Hút:
    Jeh (Bahnaric): uống = /hut/ (hut)
    Halang (Bahnaric): uống = /hu:t/ (hut với u kéo dài)
    Chrau (Bahnaric): uống = /hu:c/ (huch với u kéo dài)
    Sre (Bahnaric): uống = /huc/ (huch)
  3. Bú:
    Kensiu (Aslian): uống = /buʔ/ (buh)
  4. Nốc:
    Semai (Aslian): uống = /ŋɔt/ (ngot)
    Ngeq (Katuic): uống = /ŋɔɔc/ (ngooch)
  5. Uống:
    Temiar (Aslian): uống = /ok/ (ôkh)
    Sapuan (Bahnaric): uống = /ʔok/ (hôkh)
    Khmu [Yuan] (Khmuic): uống = /uak/ (uakh)
    Khsing-Mul (Khmuic): uống = /ʔuk/ (hukh)

Ta nói “say mèm”. Diễn đạt cùng ý tưởng, Halang (Bahnaric) nói /bre̤ːm/ (brèm).

Ta dùng “ghè” để chỉ đồ chứa chất lỏng bằng gốm. Bahnar (Bahnaric) gọi đồ đựng rượu là /gɛɛ/ (ghee).

Khi quá chén người miền xuôi nhìn nhận mình “say”, hình tượng hơn thì “quay quay”. Bahnar (Bahnaric) tích hợp cả hai thành /swaaj/ (suaay).

Thi gia Đàng Ngoài nói “đánh chén nhè”, Kui (Katuic) thì nói /kɛː/ (ke với âm e kéo dài)

Ta bảo “mới uống sần sần thôi!”. Với Mon (Monic), /səŋ/ (xâng) chính là “uống”.

Ta càm ràm “mới nhắm có tí” với ý “mới vừa uống vừa đưa cay chút chút”. Thì Khmer (Khmeric) dùng /ɲam/ (nham) cho cả hai hành vi “ăn, uống”.

Người Chrau (Bahnaric) gọi “bụm rượu trong miệng” là /vum/ (vum).

“Be” đối với ta là chai nhỏ đựng rượu, Nyah Kur (Monic) gọi “rượu” là /pɛ́ʔ/ (peh), Phong (Khmuic) gọi là /pi:/ (pi với i kéo dài), Tampuan (Bahnaric) gọi là /tapɛɛ/ (tapee). Có thể người Việt từng dùng “be” trước khi tiếp nhận chữ “rượu” mang âm hưởng Kra-Dai hoặc Hán Tạng.

Ngày xưa, lúc Phạm Thái (1777 – 1813) đối diện câu hỏi “kè kè chi đó?” của Diêm Vương ông đã thưa gọn lỏn: “Be!”.(11)


Chú thích, tài liệu tham khảo:
(1) Paul Sidwell, “Austroasiatic deep chronology and the problem of cultural lexicon”. Giá trị biểu đồ chỉ tương đối, Sidwell khuyến cáo rằng thông tin trong quãng thời gian từ 3.000 BP trở về trước có độ tin cậy sụt giảm nhiều. Xem http://bit.ly/3bLtBJV

(2) Nhẹt (nhoẹt) với nghĩa “nhão” hiện diện trong nhiều thứ tiếng như Chăm, Malay, Khasi, Mon…với phát âm hơi khác Việt.
(3) Nguyên bản là phiên âm theo kiểu Đức [niö], người viết chuyển sang IPA.
(4) Có lẽ xưa rải rác trên toàn Hoa Nam cùng một phần Hoa Bắc.
(5) Huình-Tịnh Paulus Của, Đại Nam quấc âm tự vị. http://bit.ly/39FmrnR
(6) Hội Khai Trí Tiến Đức, Tự-điển Việt-Nam. http://bit.ly/38OhslA
(7) Trần Hữu Quang, bài đăng Thời báo Kinh Tế Saigon Online ngày 23/05/2011. https://bit.ly/39BW3eT
(8) Phiên âm “rượu” /ziə̰ʔw˨˩/ và “nhậu” /ɲə̰ʔw˨˩/ theo giọng Hà Nội chỉ khác nhau ở “zi” và “ɲ”.
(9) Bản đồ trong mục Austroasiatic languages của Từ điển Bách khoa Britannica. http://bit.ly/3ilSfCg
(10)
Trong Tùy Thư, phần nói về tướng Lưu Phương đánh Lâm Ấp (năm 605) có đoạn: “Vua Lâm Ấp Phạm Chí điều binh thủ hiểm, Phương đánh đuổi. Quân vượt sông Đồ Lê, giặc giữ bờ phía nam dựng rào gỗ, Phương chỉnh đốn trương bày cờ xí, nổi kim cổ (擊金鼓 không rõ là đánh trống màu vàng, hay đánh trống đồng, hay ý chỉ chung chung hành động khua chiêng gióng trống – người viết), giặc sợ mà tan vỡ”. Xem http://bit.ly/35SC1vA. “Đồ Lê” (hoặc Xà Lê, Chà Lê) là phiên âm một từ Mon-Khmer/Katuic chỉ “sông lớn”. Chi tiết này cho thấy thổ dân Lâm Ấp là người nói tiếng Austroasiatic chứ không phải Chamic. Người Bru (Vân Kiều) ở Quảng Trị, địa bàn Lâm Ấp cũ, hiện nay vẫn gọi “sông lớn” là /təlèe/ (tơlêê). Khu Liên, vua khai quốc Lâm Ấp vào thế kỷ II cũng có thể là người nói tiếng Nam Á. Nên biết tộc Laven (Bahnaric) gọi thầy cúng chữa bệnh hoặc thủ lĩnh của họ là /krieŋ/ (kriêng).
(11)
Thơ tương truyền của Phạm Thái:

Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Thác về âm phủ cắp kè kè.
Diêm Vương phán hỏi rằng chi đó?
Be!

Phụ chú:
Bài viết khai thác cơ sở dữ liệu và các tiện ích của trang sealang.net

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s