Bảo vệ tổng thống Mỹ- Phần 5

in-the-president-s-secret-service-2

Tác giả Ronald Kessler

Trần Quang Nghĩa dịch

 

Chương 19

DẸP HẾT MÁY TỪ

Trong thời gian John Kerry mở chiến dịch tranh cử tổng thống, một sự kiện tổ chức gần một ga tàu hỏa sắp sửa khai mạc. Còn hơn 1000 ủng hộ viên chưa được rà soát.

“Chúng ta phải làm gì bây giờ?” Một nhân viên của Kerry hỏi. “Còn đến 1000 người đợi để được máy từ rà soát.”

“Đúng vậy,” một đặc vụ đáp. “Đây là vấn đề an ninh. Chúng tôi phải tầm soát xong họ mới được bước vào.”

“Này, nhưng mà ông ta sẽ đến đây trong vài phút nữa. Không có cách nào rà máy hết được,” phụ tá nói.

Theo lời đặc vụ kể lại, một giám sát viên Mật Vụ sau đó cho phép đám đông còn lại vào khu vực mà không cần rà soát.

“Việc này xảy ra một số lần tại những địa điểm khác,” đặc vụ ấy nói.”Làm sao họ có thể ra những quyết định như thế được? Bạn căn dặn các đặc vụ hành xử đúng đắn, tiến hành mọi thứ một cách an toàn như có thể cho ứng viên, và rồi một giám sát viên bổng cắt ngang cái rụp.”

Khi Tổng thống George W. Bush đi thăm một nhà nước Đông Âu, “Cảnh sát bản xứ thiết lập chốt kiểm soát an ninh rất tốt và rà soát mọi người bằng máy từ,” một đặc vụ tháp tùng chuyến đi nhớ lại. “Khi trưởng nhân viên Nhà Trắng thấy dòng người nghẽn lại ở máy từ, sợ rằng nhiều người không được vào nghe bài nói chuyện của tổng thống, bà ta hối thúc các nhân viên bản xứ phụ trách máy từ làm khẩn trương lên, nhưng họ vẫn giữ lập trường rà soát kỹ lưỡng và không nhượng bộ bà trưởng nhân viên.”

Vậy mà có nhiều khi, Mật Vụ nhượng bộ trước Nhà Trắng hoặc trước sức ép của ứng viên tổng thống dừng việc rà soát bằng máy từ. Khi thỏa mãn những yêu cầu như thế, Mật Vụ khẳng định với nhân sự Nhà Trắng là dừng việc rà soát không phải là cách giải quyết vấn đề, cho dù Nhà Trắng tin cậy vào Mật Vụ.

Các phụ tá muốn tin tưởng vào sức mạnh vô hạn của Mật Vụ vì nó phục vụ cho cứu cánh chính trị của họ. Họ không muốn làm những người xếp hàng phía sau máy từ bực mình. Vậy mà nếu có một người nào đó được phép đi vào mà không bị rà soát rút ra vũ khí hoặc ném một quả lựu đạn và ám sát tổng thống hoặc ứng viên tổng thống, họ lại đổ lỗi cho Mật Vụ sơ suất. Thật ra, sở dĩ Arthur Bremer có thể bắn được thống đốc George Wallace – ứng viên tổng thống duy nhất bị bắn trong khi được Mật Vụ bảo vệ – bởi vì các máy từ không được sử dụng.

Cũng như trường hợp bảo vệ tổng thống, Quốc hội hành động chậm chạp đối với công tác bảo vệ ứng viên tổng thống. Việc bảo vệ không mở rộng cho các ứng viên cho đến khi Robert Kennedy bị ám sát vào ngày 5/6/1968, sau khi ông được đảng Dân chủ chọn làm ứng viên tranh chức tổng thống ở California. Kết quả là đạo luật mới ra đời, và các đặc vụ được cắt đặt để bảo vệ Wallace vào ngày 15/5/1972, khi ông nói trước khoảng 2,000 khán giả ủng hộ tại khu vực đậu xe ở trung tâm mua sắm ở Laurel, Maryland. Đó là một ngày đầy nắng, đẹp trời. Vì trời nóng, Wallace quyết định cởi bỏ áo chống đạn dày nặng.

Đám đông hoan hô vang dậy và đáp ứng hồ hởi với ông. Ông thực sự có tài khích động quần chúng. Và khi kết thúc bài diễn văn, theo dự tính ông sẽ bước xuống bục và đi thẳng, đi thẳng ra xe và rời đi. Sẽ không có điểm dừng trung gian nào. 

Ngay lúc đó, Arthur Bremer nhảy ra từ hàng ghế khán giả thứ hai và hét lên, “Thống đốc, phía này!”

Wallace liền đi thẳng đến Bremer, và tất nhiên cấu hình vòng vây bảo vệ đã thay đổi. Bremer khai hỏa vào ông. Viên đạn cỡ  0.38 đầu tiên xé nát phần bụng của Wallace. Bremer bắn thêm 5 phát nữa. Tất cả trừ một phát đều trúng mục tiêu.

Vị thống đốc ngã ngửa trên vỉa hè, không áo khoác dưới ánh nắng chiều. Máu loang trên chiếc sơ mi xanh. Vợ ông, Cornelia, chạy ùa đến bên ông, khóc nức nở và choàng tay ôm lấy đầu ông. Áo vét nâu của bà cũng vây máu.

Các đặc vụ và binh lính tiểu bang Alabama nhảy chồm lên Bremer. Ngoài Wallace, sát thủ còn làm bị thương binh sĩ E. C. Dothard, đặc vụ Nicholas Zarvos, và Dora Thompson, một tình nguyện viên chiến dịch Wallace. Mặc dù Wallace sống sót, ông bị liệt và phải từ bỏ cuộc tranh đua vào Nhà Trắng.

Như hầu hết sát thủ, Bremer có giữ một cuốn nhật ký. Những ghi chép lắt nhắt cho biết y cảm thấy mình đáng thương và vô nghĩa biết bao. Và cũng như hầu hết sát thủ, Bremer đã rình rập nạn nhân của mình. Trước khi bắn Thống đốc Wallace, Bremer đã rình rập Richard Nixon và những nhân vật quốc gia khác. Chỉ vài ngày trước khi ra tay, Bremer đã ngồi lỳ trong ô tô ở Kalamazoo, Michigan, gần như trọn ngày bên ngoài một cửa hàng nơi Wallace dự kiến nói chuyện. Chủ cửa hàng gọi cảnh sát, và Bremer được ghi vào danh sách nghi can. Y khai với cảnh sát là mình đang đợi để nghe Wallace diễn thuyết. Thỏa mãn với câu trả lời ấy, cảnh sát thả y mà không lục soát tìm vũ khí.

Cũng như đối với những âm mưu ám sát trước, Mật Vụ học được những bài học từ những sự cố. Khi đó, Mật Vụ không có những nhân viên y tế cấp cứu đi theo. Một đặc vụ nhớ đã phải xé cả bao thuốc lá, lấy thuốc đắp vào miệng vết thương ở ngực Wallace để tạm cầm máu chờ xe cấp cứu.

Giờ thì Mật Vụ báo trước với các bệnh viện khi tổng thống hoặc các yếu nhân khác đến trong khu vực của họ. Ít nhất ngay từ thời Franklin Delano Roosevelt, một bác sĩ quân y đã tháp tùng theo tổng thống và duy trì bộ phận y tế ngay trong Nhà Trắng.

 Chương 20

Trailblazer (Người Mở Đường)

Vào ngày 11/9/2001, Mật Vụ  vội vàng đưa Tổng thống Bush rời ngôi trường ở Sarasota, Florida, khi ông đang đọc cho các học sinh  trong lớp học, về ngay Không Lực Một. Thường có chiếc Boeing 747 được xem là chuyên cơ ngày tận thế đồng hành cùng Không Lực Một và đậu gần đó khi tổng thống đáp xuống. Chứa đầy ắp các bộ máy liên lạc siêu cảm ứng và phần cứng quân sự, máy bay này được thiết kế như một bộ chỉ huy cơ động trong trường hợp nước Mỹ bị tấn công hủy diệt, chẳng hạn một trận chiến hạt nhân. Bên quốc phòng xem xét  liệu có nên chuyển Bush lên máy bay ngày tận thế sau cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9 hay không.  Ý tưởng này sau đó bị bác bỏ vì chỉ việc trông thấy tổng thống bước lên máy bay này có thể tạo ra hoảng loạn trong dân chúng.

Giám đốc Mật Vụ Brian Stafford khuyên ông không nên về Nhà Trắng lúc đó, thoạt đầu ông đồng ý nhưng một lúc  sau ông đổi ý. Sau khi đáp xuống Căn cứ Không lực Andrews, Bush leo lên Thủy quân Một về Nhà Trắng.

Các đặc vụ chở Laura Bush từ Capitol Hill đến tầng hầm của trụ sở Mật Vụ. Trong tình huống khẩn cấp có tầm vóc quốc gia như thế, Mật Vụ hợp tác với bên quân sự để bảo đảm sự liên tục của chính quyền và phối hợp với công tác bảo vệ những người trong đường dây kế vị chức tổng thống. Vì chức năng phối hợp đó, cho dù các viên chức trong đường dây kế vị nhận được sự bảo vệ từ Bộ Ngoại giao, như trong trường hợp bộ trưởng ngoại giao, hoặc từ Cảnh sát Capitol, như trong trường hợp Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện tạm quyền, họ cũng nhận được mật danh Mật Vụ. (Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, thứ tự kế vị quyền tổng thống trong trường hợp khẩn cấp chưa bầu cử được là: phó tổng thống, chủ tịch Hạ viện, chủ tịch Thượng viện tạm quyền).

Tại thời điểm của cuộc tấn công khủng bố, Laura chỉ đi với hai xe và đội đặc vụ bảo vệ. Trước khi đưa bà đến trụ sở chỉ huy, các đặc vụ gọi thêm xe và lực lượng dự phòng. Sau ngày 11/9, số đặc vụ theo bảo vệ Laura tăng hơn gấp đôi.

Bush đến Nhà Trắng lúc 6:54 chiều thì đã thấy các đặc vụ mặc y phục đen bao vây khu vực, tay cầm súng máy. Laura gặp ông tại Trung tâm Hoạt động Khẩn Cấp, một boong-ke gồm nhiều phòng ngầm dưới đất. Đêm đó, họ ngủ trong phòng ngủ trên tầng hai. Vào lúc 11:30 thì một đặc vụ thở hồng hộc chạy đến đánh thức họ dậy. 

“Ngài tổng thống! Ngài tổng thống! Có một phi cơ chưa xác định đang bay về hướng Nhà Trắng!”

Vội vã trong bộ đồ ngủ, vợ chồng Bush trở lại boong-ke ở tầng hầm, một phụ tá kéo từ vách ra một chiếc giường ngủ. Rồi sau đó mới biết là báo động giả. Máy bay là bạn.

Hơn một tháng sau ngày 11/9, Laura Bush đang ở trang trại Crawford với bà bạn thân Debbie Francis trong khi đó Bush đi công du ở Trung Quốc. Phân đội bảo vệ Laura báo tin một mối đe doạ họ vừa nhận được.

“Họ bắt chúng tôi di chuyển từ nhà khách đến nhà chinh đề phòng phải di tản nhanh chóng”, Debbie Francis nhớ lại. “Tôi ở trong phòng con gái. Suốt đêm đó, họ yêu cầu chúng tôi tắt hết đèn trong nhà. Vì thế chúng tôi kéo tất cả màn cửa trong nhà và chỉ đốt một ngọn nến. Trong suốt thời gian căng thẳng đó, Laura vẫn giữ điềm tĩnh,” Francis nói.

Vì sợ các đặc vụ mất công chuẩn bị trước mỗi chuyến đi ra ngoài Nhà Trắng, Bush thích ở nhà ăn uống hơn. Có lần ông bảo với Laura mình không thích bị người ta nhìn chằm chằm trong lúc đang ăn uống. Laura cười lên và nói, “Vậy thì đáng lẽ anh không nên tranh cử tổng thống.”

Khác với chồng mình, Laura đều đặn chuồn ra khỏi Nhà Trắng để ăn trưa với bạn bè tại những địa điểm như Cafe Deluxe, Zola, hoặc Old Ebbitt Grill. Các đặc vụ của bà sẽ ngồi ở những bàn gần đó.

Tổng thống được yêu cầu phải trả chi phí cho những bữa ăn và tiệc tùng có tính cách cá nhân. Nhà Trắng hoặc Bộ Ngoại giao trả cho những tiệc chiêu đãi chính thức. Đảng của tổng thống chi trả những sự kiện Giáng Sinh và thiệp chúc mừng. Tổng cộng, trung bình có 12,000 người dự các sự kiện Giáng Sinh tại Nhà Trắng. Trong mùa Giáng Sinh gần đây, khách khứa gia đình Bush mời tiêu thụ 1,000 cân tôm, 320 ga-long rượu trứng, 10,000 bánh ngô và 700 ổ bánh Noel. Đó là chưa kể 300 cân bánh mì gừng chỉ để trưng bày tạo hình Nhà Trắng được phết bằng xô-cô-la trắng.

Buổi tiệc buffet chiều khoản đãi nhà báo gồm những món đùi trừu nướng, đùi gà chiên với sốt, cá mòi xông khói, tôm cốc-tai, bánh cua Maryland, thịt heo Virginia nấu rượu vang, phô mai nghiền, và bánh ngô với ớt xào và củ hành Ý. Tráng miệng thì có bánh xô-cô-la với kem bơ xô-cô-la, nấm xô-cô-la, bánh gato nhân anh đào và táo, và vô số bánh phết đường có hình thù những sinh vật rừng núi.

Chi phí điều hành Nhà Trắng hàng năm được chính quyền chi trả mặc sức người ta ức đoán. Tổng thống nhận lương 450,000 đô mỗi năm thêm chi phí tiêu xài cho phép là 50,000 đô và 100,000 đô để đi lại. Nhà Trắng và Văn phòng Điều hành của Tổng thống nhận 202 triệu đô mỗi năm.

Nhưng những con số này chỉ là bề nổi của những gì Nhà Trắng chi tiêu. Chi phí thực sự – có tổng số nhiều hơn một tỉ đô – thậm chí chính Quốc hội  và Văn phòng Kế toán Chính phủ, cánh tay kiểm toán của Quốc hội không biết rõ là bao nhiêu, vì có hơn một chục cơ quan khác tài trợ cho Nhà Trắng.

“Chi phí toàn bộ của Nhà Trắng không được ghi vào bất kỳ sổ sách nào,” John Cronin, người chỉ đạo việc kiểm toán Nhà Trắng của Văn phòng Kế toán Chính phủ suốt 12 năm, cho biết. “Hải quân điều hành việc ăn uống và Trại David, quân đội cung ứng xe cộ và tài xế, Bộ Quốc phòng lo về liên lạc, không lực cung cấp máy bay, thủy quân lục chiến cung cấp trực thăng. Bộ Ngoại giao chi trả những hoạt động ngoại giao, và Cơ quan Quản trị Dịch vụ Tổng quát (GSA) bảo dưỡng cánh Đông và Tây và Tòa nhà Hành pháp Cũ và cung cấp chất đốt.

Huyền thoại mà báo chí thường loan truyền cho rằng Bush là bù nhìn trong tay Phó tổng thống Dick Cheney hoặc, ngược lại, là ông quá cố chấp không nghe lời ai. Thật ra, ông tự mình quyết định và sa thải những phụ tá nếu họ quá dè dặt không dám bất đồng với mình. Do đó, theo Andy Card, chính Bush là người đề xuất ý kiến viếng thăm đột xuất binh lính ở Baghdad trong ngày lễ Tạ Ơn 2003. Card nói việc đầu tiên Bush muốn biết là liệu Mật Vụ có thể bảo đảm an ninh hay không. Hơn một tháng trước chuyến đi, Card họp tại Nhà Trắng với Giám đốc Mark Sullivan và các quan chức Mật Vụ khác để bắt đầu lên kế hoạch cho chuyến đi. Sau đó Nhà Trắng mới thông báo cho Bộ Quốc phòng. 

Các đặc vụ trân trọng việc Bush rất đúng giờ giấc. “Bush rất thực tế, quan tâm,” một đặc vụ nói. Vợ chồng Bush hay tiếp thức ăn cho các đặc vụ. “Họ luôn nghĩ về những người chung quanh mình.” Nhưng các đặc vụ cũng luôn ngạc nhiên về sự khác biệt giữa bản thân Bush và cách thức ông xử sự tại các cuộc họp báo.

“Ông không thoải mái trước chiếc micro,” một đặc vụ nói. “Với chúng tôi, ông không nói kiểu như thế, không cao giọng như thế. Ông khôi hài phải biết. Óc khôi hài của ông không thể tin được, và cứ nói đùa suốt. Ông có hai cá tính.”

Các đặc vụ thích chạy bộ theo Bush – mật danh Trailblazer – và bổ củi thi với ông. Phân đội sắp xếp người chạy giỏi nhất để có thể chạy kịp ông. Ông kết thân với một nhóm đặc vụ cũng thích chạy bộ như mình. Họ chạy đua  cùng nhau, người này cổ vũ người kia. Nhưng rồi ông đau gối, nên Bush bỏ chạy bộ mà đạp xe vượt chướng ngại vật. Ông thường tập đạp ở trung tâm huấn luyện Mật Vụ ở Laurel, Maryland. Ông lại đạp xe quá mau nên gặp tai nạn. Ông chạy hết tốc lực trên đường mòn, đụng một khúc gỗ, và bay ra khỏi xe đạp.  Ông lồm cồm đứng dậy, phủi bụi, và nhảy phóc lên xe đạp tiếp.

“Bạn ắt hẳn biết rằng bạn không nên đạp xe qua mặt ông,” một đặc vụ nói. “Ông đương nhiên phải đi đầu. Có lần cua rơ vô địch thế giới Lance Armstrong cũng có mặt trên đường chạy. Tổng thống thực sự ra sức đua tranh để ráng qua mặt anh. Và tôi nghĩ Lance đã nhường ông thắng.”

Nếu đặc vụ nghĩ ưu ái về Bush, không có gì so sánh được với cảm tình của họ đối với đệ nhất phu nhân. “Laura biểu lộ sự ngưỡng mộ không hề giảm với mọi đặc vụ,” một đặc vụ nói. “Tôi chưa hề nghe ai có điều gì phàn nàn  về Laura Bush. Không ai cả. Mọi người đều yêu quí bà hết mực và tôn trọng bà không cùng.”

Một đặc vụ đã từng phục vụ nhà Bush vào một kỳ lễ Giáng Sinh nhớ bà Laura – mật danh Tempo – tỏ ra ân cần thể nào. Bà hỏi thăm anh trong 30 phút và dường như ân hận khi phải bắt anh xa gia đình trong dịp lễ Giáng Sinh.

“Với Laura, những gì bạn nhìn thấy trên TV với những gì bạn gặp ngoài đời chỉ là một người,” một đặc vụ khác nói. “Bà luôn tươi cười, và thực sự ban cho mẹ tôi một lời khen ngợi mà tôi không thể nào quên. Chúng tôi được mời đến tiệc chiêu đãi Giáng Sinh tại Nhà Trắng, và trước đó mẹ tôi đã thực sự nghiên cứu kiểu áo mà Laura Bush mặc và cố tìm một bộ tương tự. Bà bước vào, và khi mẹ tôi được xướng tên, bà Bush gọi mẹ tôi bằng tên (không kêu theo họ để biểu lộ sự thân mật) và nói. ‘Trời ơi tối nay chị trông đáng yêu vô cùng.’ Mẹ tôi như bay lên chín tầng mây.”

Một minh họa về cách tiếp cận tích cực của Laura đối với cuộc sống là khi Teresa Heinz Kerry (vợ của Thượng nghị sĩ Kerry đảng Dân chủ, đối thủ cạnh tranh chức tổng thống với Bush trong kỳ tuyển cử 2001) nói trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình, “tôi không biết là bà (Laura)  từng có nghề ngỗng thực sự nào không,”  Laura chẳng hề mích lòng. Sau đó Heinz lên tiếng xin lỗi khi biết Laura từng là cô giáo, Laura bảo với các phóng viên rằng Heinz không cần phải xin lỗi gì đâu. “Tôi biết việc đó thật khó cho bà, và thực sự tôi biết rõ  những loại câu hỏi đánh lừa của giới báo chí,” bà nói. 

Laura biết Nhà Trắng luôn là mũi dùi của giới truyền thông, vốn hay bóp méo những lời bình luận khi bị tách ra khỏi ngữ cảnh. “Bạn biết lời hô hào, ‘Đem chúng đến đây,'” Laura nói, đề cập đến lời phát biểu của Bush vào tháng 7 2003 thách thức những kẻ muốn tấn công lực lượng Mỹ ở Iraq. “Nó đã vang vọng rất nhiều binh luận chính trị. Mọi thứ có thể được sử dụng một triệu lần chống lại bạn. Người ta đổ lỗi mọi điều tồi tệ xảy ra  cho Nhà Trắng.”

Chương 21

Renegade (Lãng tử)

 Mật Vụ bắt đầu báo vệ Barrack Obama vào ngày 3/5/2007, 18 tháng trước khi lá phiếu bầu tổng thống được bỏ vào thùng phiếu. Đó là thời điểm sớm nhất mà Mật Vụ tiến hành việc bảo vệ ứng viên tổng thống. Ngược lại trong kỳ bầu cử 2004, John Kerry và John Edwards bắt đầu nhận được sự bảo vệ vào tháng 2 trong năm đó, 8 tháng trước kỳ tổng tuyển cử. Michelle Obama bắt đầu được bảo vệ vào tháng 2, 2008. Đây hóa ra là chiến dịch tranh cử tổng thống dài nhất và nghiệt ngã nhất trong lịch sử.

Thiếu hụt đặc vụ và đối đầu với tỉ suất tiêu hao ngày càng tăng, Mật Vụ bắt đầu lên kế hoạch cho chiến dịch vào tháng giêng 2005. Vào tháng 2 năm đó, Mật Vụ hỏi phần lớn trong số 3,404 đặc vụ của họ xem họ thích phần vụ nào trong việc bảo vệ ứng viên. Chẳng hạn, các đặc vụ có thể xin được tham gia loại bảo vệ tổng quát, hoạt động hậu cần, hoặc phân đội  vận chuyển. Các đặc vụ được huấn luyện đặc biệt tại trung tâm Rowley để các thành viên trong phân đội được giao nhiệm vụ bảo vệ ứng viên tương lai sẽ quen làm việc tập thể cùng nhau. Chiến dịch cũng đòi hỏi sự hậu thuẫn của 1200 nhân viên Bô phận Đồng phục.

Theo luật, Mật Vụ có nhiệm vụ bảo vệ các ứng viên tổng thống và phó tổng thống chính cùng các phu nhân của họ. Bộ trưởng An ninh Nội địa xác định ai là các ứng viên chính sau khi tham vấn với một ủy ban cố vấn gồm có chủ tịch và lãnh đạo phe thiểu số Hạ viện, và thêm một thành viên được tuyển chọn bởi những thành viên khác của ủy ban. Bô trưởng An ninh Nội địa cũng ấn định khi nào công tác bảo vệ sẽ bắt đầu. Việc bảo vệ các phu nhân bắt đầu 120 ngày trước cuộc tổng tuyển cử, trừ khi được ủy quyền trước thời hạn đó bởi Bô An ninh Nội địa hoặc bởi một sắc lệnh hành pháp. Để bảo vệ mỗi ứng viên tổng thống, Mật Vụ tiêu tốn thêm 38 ngàn đô một ngày không kể lương bổng của đặc vụ. Chỉ phí này bao gồm vé máy bay chở đặc vụ và nhân viên tiền sát, thuê mướn xe, ăn uống và tiền tăng ca.

Trong khi Obama chưa hề nhận được một lời đe dọa đặc biệt nào trước khi ông được bảo vệ, các đặc vụ thuộc Ban Đe Doạ trên Internet của Mật Vụ thu thập được một số bình luận bẩn thỉu, hăm dọa mơ hồ, hầu hết chĩa mũi vào việc ông là người Mỹ gốc Phi. Nhiều lời bình luận xuất hiện trên các trang web kỳ thị sắc tộc và hăm he Obama sẽ bị ám sát nếu đắc cử. Thậm chí trước khi Obama quyết định ra tranh cử, bà Michelle Obama bày tỏ mối lo lắng cho chồng mình rằng một ứng viên tổng thống da đen có thể gặp nhiều rủi ro vì chủng tộc của mình.

Cuối cùng, Steven Hughes, đặc vụ trong bộ phận bảo vệ yếu nhân, nói, “Chúng tôi thực sự chọn ông vì ông yêu cầu được bảo vệ, và rồi trải qua một loạt thủ tục cứu xét không phải do Mật Vụ tiến hành, mà do bộ trưởng an ninh nội địa và tổng thống quyết định, cuối cùng tuyên bố ông là một ứng viên có triển vọng, và phải được bảo vệ.”

Hughes vừa nói vừa kiểm tra một thư điện tử. Đó là một báo cáo từ Bộ phận Đánh giá và Tình báo Bảo vệ về một lời đe dọa cho một ứng viên.

“Tôi nhận được những tin như thế suốt ngày, và cập nhật về những lời đe dọa mới trên Internet,” Hughes nói. “Lời đe dọa có thể nhỏ nhặt hoặc rất nghiêm trọng, đều được gởi đến tôi, để tôi không thể chối mình không biết chuyện gì đang xảy ra.”

Hỏi anh có thì giờ ngủ nghê không, Hughes nói, “Với Liên Hiệp Quốc khai mạc tuần tới, nơi chúng tôi có một số lượng lớn người cần được bảo vệ, thật tình hiện giờ chúng tôi không có thời gian để ngủ.”

Vào tháng 8 2008, Mật Vụ đã bắt giữ Raymond H. Geisel ở Miami sau khi y phát ra lời đe doạ chống ứng viên Obama trong một lớp huấn luyện cho nhân viên bảo lãnh. Hai thành viên trong lớp nghe Geisel nói, “Nếu y đắc cử, chính tôi sẽ ám sát y.” Khi bị bắt, Geisel có khẩu súng 9-li đã nạp đạn, dao, hàng chục viên đạn, áo giáp, rựa, và quần áo lao động kiểu quân sự trong phòng khách sạn của y. Y bị kết tội đe dọa ứng viên tổng thống.

Ở Denver, một nhóm người có súng và áo chống đạn có những phát ngôn kỳ thị sắc tộc về Obama và bàn về việc hạ thủ ông khi ông đọc diễn văn chấp nhận đề cử trong Đại hội Toàn Quốc của Đảng Dân Chủ vào tháng 8. Họ đang phê thuốc và không có khả năng thực hiện âm mưu.

Bốn ngày trước đại hội, một người trong nhóm bị ra lệnh ngừng xe vào lề vì tội lái xe khi say rượu ở ngoại ô Aurora của Denver sau khi một cảnh sát tuần tra phát hiện chiếc xe tải thuê mướn của y chạy ngoằn ngoèo trên đường. Trong xe, cảnh sát tìm thấy hai súng trường cực mạnh, một bộ phận hảm thanh, một áo chống đạn, một bộ quần áo ngụy trang, và ba thẻ chứng minh giả. Chiếc xe tải chưa đựng đủ trang thiết bị điều chế ma túy được xem là một phòng thí nghiệm chất kích thích. Trong khi Mật Vụ theo dõi y, bọn họ bị địa phương truy tố về tội tàng trữ súng và vũ khí.

Những lời chát chít giữa những nhóm phân biệt chủng tộc trên Internet rộ lên trong suốt mùa chiến dịch. Khi Obama đọc diễn văn chấp nhận vào ngày 4/11, 2008, lãnh tụ Ku Klux Klan David Duke đang tập kết những tên da trắng kỳ thị trong lời kêu gọi hành động, cho rằng việc bầu chọn Obama là “một đêm bi kịch và buồn thảm”. Trong một thông điệp phát thanh trên trang web kỳ thị, Duke nói, “Barack Obama đã từ lâu chống đối người da trắng.” Y nói thêm, “Chúng ta những người Mỹ gốc Âu châu phải đoàn kết lại để sống còn.”

Ngay trước ngày bầu cử, hai tên đầu trọc ở Tennessee bị kết tội âm mưu chặt đầu những người da đen trên khắp xứ và ám sát Obama trong khi đội mũ nồi trắng và mặc tuxedo. Trong cả hai trường hợp, Mật Vụ xác định rằng bọn này không có năng lực thực hiện âm mưu.

Chỉ một  ngày sau cuộc bầu cử, một trong những trang web kỳ thị phổ biến nhất có hơn 2000 thành viên mới. Một thông điệp trên trang web nói, “Tôi muốn thằng khốn ấy nằm trong hòm cho mọi người dòm mặt để xem kết cục của những tên cứu tinh ấy ra sao. Thượng đế đã bỏ rơi chúng ta, đất nước này đã mạt vận.”

Năm ngày trước khi Obama làm lễ nhậm chức, Mật Vụ đã bắt giữ Steven J. Christopher ở

Brookhaven, Mississippi, vì tội tuyên bố trên Internet, “Phải, tôi đã quyết định sẽ giết Obama. Y không thể nào đến Washington được.”

Thoạt đầu John McCain, ứng viên đối thủ của Obama trong cuộc đua vào Nhà Trắng, không yêu cầu được bảo vệ và tuyên bố mình không cần. Sau khi một phiên điều trần của quốc hội vào ngày 7/4/2008 phát hiện rằng ông không được bảo vệ, các nhân viên và các thành viên Quốc hội thúc giục ông chấp nhận sự bảo vệ của Mật Vụ. Sau đó ông mới đồng ý, và công tác bảo vệ ông bắt đầu vào ngày 27/4.

Mật Vụ làm việc với các chiến dịch để có thể biết trước ai được đề cử làm phó tổng thống và khi nào tên họ được công bố. Sau đó họ chọn ngày báo tin công tác bảo vệ phó tổng thống và vợ con bắt đầu. Việc bảo vệ ứng viên phó tổng thống Dân Chủ Biden bắt đầu từ ngày 23/8/2008 và ứng cử viên Cộng Hòa Palin bắt đầu vào ngày 29/8/2008.

Obama đến Việt Nam

 Trước khi công tác bảo vệ bắt đầu, giám đốc cơ quan Mật Vụ và phân đội ông gặp gỡ các ứng viên. Như phần đông 22 giám đốc Mật Vụ, Sullivan  đi lên từ các cấp bậc thấp đến cao. Ông bắt đầu sự nghiệp Mật Vụ vào năm 1983 với nhiệm vụ nhân viên thực địa Detroit. Năm 2002, ông trở thành đặc vụ đặc biệt phụ trách bộ phận bảo vệ phó tổng thống. Sau thời gian công tác ngắn ngủi trong chức vụ phó giám đốc, Sullivan tuyên thệ giữ chức giám đốc vào ngày 31/5/2006.

Trong khi quá trình hoạt động của Sullivan và phó giám đốc đều được đăng tải trên trang web của Mật Vụ, không như FBI, cục không thông báo tên tuổi của bất kỳ viên chức Mật Vụ nào khi họ được bổ nhiệm.

Ngoài việc bắt đầu công tác bảo vệ sớm hơn bất kỳ chiến dịch tranh cử tổng thống nào khác, các ứng viên làm này lại đi nước ngoài nhiều hơn, Sullivan ghi nhận. Khi là ứng viên, Obama đã làm chuyến viếng thăm 6 ngày đến các nước Jordan, Israel, Germany, France, và Great Britain. Trước đó ông đã đi đến Afghanistan và Iraq. McCain thì đi Canada, Colombia, và Mexico.

Vào mùa hè 2008, Mật Vụ yêu cầu và nhận được thêm 9.5 triệu đô để chỉ tiêu cho những chi phí  đột xuất bảo vệ các ứng viên, ngoài số tiền 106.7 triệu đã được giải ngân. Tổng cộng, Mật Vụ bảo vệ các ứng viên trên 5,141 chuyến đi. Hơn 2.8 triệu người đi qua 3500 máy từ rà vũ khí. Chưa kể phải rà 1.5 triệu người tại các sự kiện có tổng thống và những đối tượng được bảo vệ khác tham dự, hoặc rà từ tại các đại hội đảng, ở Denver và Saint Paul. Mật Vụ giám sát sự sắp xếp an ninh cho hai đại hội và thiết lập một trung tâm liên lạc bên ngoài địa điểm. Trung tâm phối hợp với những nỗ lực của 100 đại diện từ 70 bộ phận trải dài từ FBI và cảnh sát khu vực đến bệnh viện khu vực và các công ty thiết bị. Ứng trực 24 giờ một ngày, mỗi đại hội bố trí ghế ngồi như trong một vận động trường để những quan khách tham dự có thể dễ dàng theo dõi màn hình trên tường.

Các đặc vụ cho biết cả Obama – mật danh Renegade (Lãng tử) – và Michelle – mật danh Renaissance (Phục hưng) – đều đối xử họ quí trong, như Biden.

“Hai lần Obama mời các đặc vụ ăn cơm, và tiệc chiêu đãi thân nhân, tổ chức tại nhà ông” một đặc vụ của ông nói. Michelle Obama khăng khăng đòi các đặc vụ gọi mình bằng tên.

“Michelle rất thân tình – bà ấy làm bạn cảm động,” một đặc vụ tâm sự.

Obama cố gắng để đúng giờ và thường thường đúng giờ. Nếu ông trễ nải thì bị Michelle phê bình là không tôn trọng các đặc vụ của mình. “Nhà Biden mua thức ăn cho đặc vụ và nhớ được tên mọi người.”

Lễ nhậm chức của vị tổng thống Mỹ da đen đầu tiên và số lượng đám đông lớn chưa từng có khiến sự kiện thành một mục  tiêu đắt giá. Khi Obama trở thành tổng thống, Mật Vụ nhận được số đe doạ tổng thống tăng đến 400 phần trăm, so với tổng thống Bush. Dù hầu hết mối đe doạ đều không đáng tin, nhưng mỗi đe đọa phải được kiểm tra và tuyên án. Vì Mật Vụ cho rằng gây chú y đến các vụ đe doạ sẽ cho người ta thêm ý tưởng và phát sinh ra nhiều đe đọa hơn, do đó cục không hề công khai phổ biến tần số xảy ra của chúng.

Vì lễ nhậm chức tổng thống là một sự kiện an ninh có tầm vóc quốc gia đặc biệt, Mật Vụ là cục đi đầu trong việc giữ gìn an ninh. Việc phòng ngừa an ninh chưa từng có tiền lệ. Theo kế hoạch của Mật Vụ, một khu vực buôn bán lớn ở Washington được dựng rào chắn. Xe cộ cấm lưu thông từ cầu trên sông Potomac đến đường Interstate 395 và 66 dẫn đến Washington.

Như với những lễ nhậm chức trước đây, Mật Vụ sắp xếp việc phong tỏa bằng những hàng rào bê tông hoặc xe cảnh sát trên mỗi đường phố ở Washington dẫn đến lộ trình đoàn xe hộ tống. Kể từ vụ 11/9, dân chúng giờ phải đi qua máy rà từ trước khi bước vào khu vực dọc theo lộ trình hộ tống. Thùng ướp lạnh, ba lô, và gói hàng đều bị cấm.

Các đặc vụ và chuyên gia chất nổ quân sự dò tìm ống cống và đường hầm dọc theo lộ trình đoàn xe hộ tống. Nắp che ống cống được gắn chặt bằng kỹ thuật hàn điểm. Hộp thư và thùng rác được dời đi khỏi khu phố. Nếu thứ gì không dời đi được thì được kiểm tra và dán băng keo kín mít. Nếu có ai sờ mó vào loại bằng keo đặc biệt này – vốn thay đổi màu sắc theo sự kiện – sẽ hư hỏng.

Các chú chó đánh hơi bom mìn sẽ rà soát các tòa nhà, gara, và xe tải giao hàng. Các nhân viên văn phòng dọc theo lộ trình hộ tống và các người thuê khách sạn thường được kiểm tra lý lịch hình sự. Các đặc vụ bảo đảm là mình được phép vào mọi văn phòng và phòng ở khách sạn với chìa khóa vạn năng đó các quản lý khách sạn hay tòa nhà văn phòng giữ. Họ dán băng keo các phòng thiết bị hoặc các trạm điện. Họ cắt đặt các đặc vụ ứng trực hoặc cảnh sát trên các tầng thượng nhà cao tầng.

Hơn một chục đội phản bắn tỉa dàn đội hình tại những điểm dễ tổn thương nhất dọc theo lô trình đoàn xe  hộ tống. Các trực thăng bay lượn trên đầu, mọi máy bay khác đều bị cấm bay, và các camera giám sát nghiêm nhặt quét qua các đám đông. Một hệ thống loa phóng thanh 350,000 đô sử dụng năng lượng mặt trời được thiết lập để đưa ra những chỉ thị trong các trường hợp khẩn cấp.

“Mọi cửa sổ phải khép lại khi đoàn xe hộ tống đi qua,” một đặc vụ giám sát nói. “Chúng tôi bố trí những người theo dõi và giám sát dân chúng bằng ống dòm. Phần đông đều tuân thủ. Những ai không tuân thủ, chúng tôi có chìa khóa vạn năng để mở tất cả cánh cửa đó. Chúng tôi hỏi tại sao họ ở đó và mở cửa sổ.”

Nếu các đặc vụ gặp vấn đề, họ gọi đội bộ phận tình báo (ID). Đội ID đi cùng tổng thống và phó tổng thống. Thông thường đội gồm một đặc vụ và một cảnh sát khu vực. Tại lễ nhậm chức, hầu hết đội ID chỉ gồm toàn những đặc vụ. Nhiều lần, đội sẽ thấm vẫn các nghi can

Tóm lại, Mật Vụ phối hợp công việc của ít nhất 40,000 nhân viên và các đặc vụ từ 94 bộ phận chấp pháp liên bang và khu vực, quân sự, và an ninh. Các phòng cảnh sát từ khắp đất nước đóng góp các nhân viên, nhiều người mặc thường phục. Lực lượng toàn bộ gấp đôi lực lượng tại lễ nhậm chức của Bush.

Các nhân viên tình báo thu thập thông tin cho biết một nhóm người có liên hệ với một nhóm khủng bố Somalia, al-Shabaab, có thể tìm cách đến Hoa Kỳ với kế hoạch làm gián đoạn buổi lễ nhậm chức. Thông tin thiếu tính đặc trưng và độ tin cậy.

Cuối cùng, gần hai triệu người chen chân bên ngoài điện Capitol, con đường đoàn xe hộ tống đi qua và Quảng trường Quốc gia. Lễ nhậm chức tiến hành trơn tru trong khi Mật Vụ vô cùng căng thẳng vì thực ra họ biết mình thi hành công tác an ninh chưa thật đầy đủ. Những người tài trợ hơn 300,000 đô không hề được yêu cầu trình chứng minh thư khi nhận vé mời, kể cả thẻ VIP cho phép họ và khách mời của họ đến gặp riêng với tổng thống. Những người được rà soát trước khi ngồi vào khu vực có vé gần Obama trong khi ông tuyên thệ lẫn lộn với đám đông chưa được rà soát.

Hơn 100 khách VIP được bảo hãy tụ tập để rà soát an ninh bên ngoài Khách sạn Renaissance trước khi lên các xe buýt “an ninh” đưa họ đến bục nói của Obama tại Capitol. Nhưng sau khi đi qua những máy từ, nhân viên khác lại bảo họ đi trên vỉa hè công cộng và tìm đường đến các xe buýt đợi ở bãi đậu xe thông thường. Họ không được rà soát lần nữa hoặc hỏi chứng minh thư.

Vừa sang ngọ ngày 20/1, Obama đặt bàn tay trái lên Kinh thánh Lincoln, một cuốn sách bìa bọc nhung được thư ký Tối cao Pháp viện mua lại cho Người Giải Phóng Vĩ đại tuyên thệ vào ngày 4/3/1861. Obama giơ cánh tay phải lên và đọc lời thề nhậm chức 35 chữ do Chánh Án Pháp Viện John Roberts chủ trì.

Sau khi Obama được bầu làm tổng thống, khi được hỏi liệu ông có lo lắng gì về sự an toàn của mình không. Ông nói ông chưa hề nghĩ đến điều ấy.

“Một phần gì tôi có được một đội Mật Vụ gồm toàn những chàng trai siêu việt bám theo tôi bắt cứ nơi đâu tôi đi, nhưng một phần cũng vì tôi có niềm tin tôn giáo sâu sắc và lòng tin nơi dân chúng đã cưu mang tôi đến ngày nay,” ông nói.

Mật Vụ chỉ có nửa số đặc vụ họ cần, nhưng những yêu cầu tuyển thêm nhiều đặc vụ để công tác được hoàn thiện hơn và đặc vụ khỏi căng thẳng hơn vẫn bị bộ chỉ huy bỏ ngoài tai. Bộ chỉ huy lúc nào cũng như muốn nhắn nhủ, “Bạn có thể hoàn thành sứ mạng với những gì mình có. Nên nhớ bạn là đặc vụ của USSS (Mật Vụ Hoa Kỳ).

Lời bạt

Sau khi ám sát Tổng thống Lincoln, John Wilkes Booth trốn thoát được 12 ngày. Đến ngày 26/4/1865, các lực lượng liên bang dồn y vào ngõ cụt, bắn và giết chết y sau một trận đấu súng. Bốn trong số đồng phạm, trong đó có một phụ nữ, bị ra toà và bị treo cổ.

Charles Guiteau, người ám sát chết Tổng thống mới đắc cử  President James Garfield vào ngày 2/7/1881, bị treo cổ ngày 30/6/1882.

Leon Czolgosz, một công nhân bắn Tổng thống William McKinley vào ngày 6/9/1901, bị lên ghế điện. “Tôi giết tổng thống vì y là kẻ thù của nhân dân lương thiện,” y tuyên bố trước khi chết. “Tôi không hối hận việc mình làm.”

Oscar Collazo, người theo chủ nghĩa dân tộc của Puerto Rica còn sống đã ám sát hụt Tổng thống Truman, bị kết tội sát nhân bậc 1 vào tháng ba 1951. Y bị kêu án tử hình. Một vài tuần trước khi bị hành hình vào năm 1952, Truman giảm án thành tù chung thân. Truman nói không muốn y trở thành một thánh tử đạo cho những nhà dân tộc Puerto Rico. Năm 1979, Tổng thống Carter tha Collazo trở về Puerto Rico như một người anh hùng. Y mất năm 1994.

Năm 1964, Ủy ban Warren khẳng định các điều tra của FBI cho rằng Lee Harvey Oswald đơn phương hành động khi bắn chết Kennedy. Hai ngày sau khi bắn Kennedy, Oswald bị cảnh sát giải đi thì bị Jack Ruby bắn chết.

Sirhan B. Sirhan bị kết tội giết chết Robert F. Kennedy vào ngày 17/4/1969, và bị kêu án tử hình trong phòng hơi ngạt. Bản án sau đó chuyển thành tù chung thân vào năm 1972 sau khi Tối cáo Pháp viện California vô hiệu hóa tất cả án tử hình đang treo ở California trước năm 1972.

Bị giam ở Nhà tù Tiểu bang California, Sirhan khai với ban ân xá rằng, “Tôi thành thật tin rằng nếu Robert Kennedy còn sống hôm nay,  ông ta sẽ không ủng hộ việc loại trừ tôi ra khỏi sự ân xá. Tôi nghĩ ông ta sẽ là người đầu tiên nói lên rằng, tuy việc tôi làm đúng là khủng khiếp, nó cũng không nên là lý do để loại tôi ra khỏi sự đối xử công bằng theo luật lệ của đất nước này.”

Sau khi bắn và làm tê liệt Thống đốc George Wallace, Arthur Bremer nhận bản án 63 năm tù, sau đó giảm xuống còn 53 năm. Sau khi ở tù 35 năm, y dược phóng thích khỏi nhà tù Maryland vào ngày 9/11/2007.

Bremer không hề giải thích tại sao lại bắn Wallace, mặc dù trong năm 1997, khi tiểu bang từ chối đơn xin ân xá của y, y công kích Wallace vì chức vụ của ông tạo thuận lợi cho sự  phân biệt chủng tộc. Theo điều kiện được phóng thích, Bremer không được đến gần các ứng cử viên hoặc các sự kiện chính trị.

Nick Zarvos, đặc vụ mà Bremer bắn trúng cổ họng khi bảo vệ Wallace, giờ vẫn còn khàn tiếng vì vết thương.

Sau khi bị bắn, Wallace xin người ta tha thứ cho y vì những quan điểm phân biệt chủng tộc của ông. Ông chết năm 1998. 

Lynette “Squeaky” Fromme bị kết án năm 1975 vì tội mưu tính ám sát Tổng thống Ford. Năm 1979, cô tấn công một bạn tù bằng một búa có móc. Vào ngày 23/12/1987, cô trốn thoát khỏi Trại Tù Liên bang Alderson ở Virginia, nhưng hai ngày sau bị bắt lại. Cô bị giam một thời gian tại Trung tâm Y tế Liên bang ở Texas. Trong khi có đủ điều kiện được ân xá từ năm 1985, cô liên tục từ khước quyền được xét giảm án.

Vào tháng 12 1975, Sara Jane Moore bị xử có tội mưu sát Tổng thống Ford. Vào 31/12/2007, bà được ân xá sau khi ở tù 32 năm trong bản án chung thân. Moore nói  mình ân hận vì đã ám sát do bị mù quáng bởi những quan điểm chính trị cực đoan của mình. Tổng thống Ford chết vào ngày 26/12/2006.

Sau khi ám sát hụt Tổng thống  Reagan, John W. Hinckley Jr., được tuyên vô tội vì lý do tâm thần vào ngày 21/6/2/1982. Sau phiên tòa, Hinckley viết rằng việc nổ súng là “hành động dâng tặng tình yêu vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới.”

Bị nhốt trong Bệnh viện St. Elizabeth ở Washington, y dược xác định là một người “nguy hiểm khó dự đoán” có thể tự làm hại mình, Jodie Foster, và bất kỳ người thứ ba nào. Dù vậy, vào ngày 30/12/2005, một thẩm phán liên bang xử Hinckley được phép về thăm nhà ở Williamsburg, Virginia dưới sự giám sát của phụ huynh. Đơn yêu cầu xin được cho thêm tự do bị bác bỏ.

Sau khi một người đàn ông ném lựu đạn vào Tổng thống Bush ở Tbilisi, Georgia, cơ quan FBI khảo sát 3000 tấm hình do một giáo sư đại học  chụp đám đông. Cơ quan tìm ra một gương mặt khớp với mô tả người ném lựu đạn. Cảnh sát Georgia tải ảnh lên truyền thông và dán ở những nơi công cộng. Thế rồi cảnh sát nhận được một cú điện thoại.

“Ồ vâng, đúng là người hàng xóm của tôi, Vladimir Arutyunov,” người gọi điện thoại cho biết.

Cùng với một đặc vụ FBI, cảnh sát tìm đến nhà của nghi can vào ngày 1907/2005. Khi họ tiến đến gần, gã này nổ súng và giết chết một nhân viên cảnh sát.

Arutyunov khai sở dĩ y giết vì Bush quá mềm yếu với người Hồi giáo. Y bị kết án tù chung thân.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s