Ghi chép về áo giáp

trieudinhxua02

Kỵ binh ngự lâm quân, triều đình Huế. Bưu ảnh cổ do người Pháp chụp đầu thế kỷ 20. Tư liệu NXB Thế giới. Các kỵ binh cầm giáo và mặc áo giáp.

Phan Cẩm Thượng

Một đất nước có nhiều các cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh chống xâm lược phương Bắc, như Việt Nam, tất yếu khoa binh khí và võ nghệ phát triển. Nhưng đến nay rất khó tìm thấy một bộ áo giáp phong kiến nguyên vẹn. Khi làm phim lịch sử, hầu hết các đoàn làm phim phải sang Trung Quốc mua, mượn.

 Bất kỳ một nền văn minh nào từng tham chiến cũng có mục chế tạo áo giáo, cầu kỳ hay đơn giản khác nhau, trong đó có nhiều nền văn minh, áo giáp trở thành một phong cách thời trang, đánh giấu mức độ phát triển về công nghệ, kỹ thuật chiến tranh và quan niệm thẩm mỹ.

Trong chiến tranh bộ binh với các vũ khí sát thương gươm đao cá nhân xưa, áo giáp là phần không thể thiếu nhằm bảo vệ tướng lĩnh và binh sĩ khi giao chiến đa diện trên chiến trận. Bất kỳ một nền văn minh nào từng tham chiến cũng có mục chế tạo áo giáp, cầu kỳ hay đơn giản khác nhau, trong đó có nhiều nền văn minh, áo giáp trở thành một phong cách thời trang, đánh dấu mức độ phát triển về công nghệ, kỹ thuật chiến tranh và quan niệm thẩm mỹ  với những thứ nặng nề và che chắn cho con người khỏi tên rơi đạn lạc. Áo giáp của người Hy Lạp – La Mã, áo giáp Trung Hoa, áo giáp châu Âu thời Trung cổ đều có xu hướng kết hợp sự bảo vệ và phong cách thời trang nhất định.

2a (Custom)

Vòng chân, đồ đồng Đông Sơn, hiện vật Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Một đất nước có nhiều cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh chống xâm lược phương Bắc, như Việt Nam tất yếu khoa binh khí và võ nghệ phải phát triển, trong đó có áo giáp bộ binh, tuy nhiên cho đến nay chúng ta rất khó tìm thấy một bộ áo giáp phong kiến nguyên vẹn. Khi những đoàn làm phim muốn thực hiện những bộ phim lịch sử phần lớn họ phải sang Trung Hoa mua, mượn và không tránh khỏi những ảnh hưởng do không biết thực sự áo giáp Việt Nam như thế nào. Một vài thiết kế khác vẽ từ các pho tượng võ sĩ trong lăng mộ và đền chùa, thì phần lớn đều giống áo giáp thời Tống ở Trung Hoa và thực ra mang tính tượng trưng hơn là một thiết kế thực dụng. Khi nghiên cứu về áo giáp, người ta thấy có ba phần: áo giáp thực chiến, áo giáp trong tượng cổ, áo giáp trong biểu diễn sân khấu cổ (tuồng, Kinh kịch), ba phần này có giá trị tham khảo vì có nghiên cứu từ áo giáp thật, nhưng áo giáp trong hai phần sau cách điệu và thẩm mỹ hóa lên rất nhiều so với sự thực.

Trong những nghiên cứu của người Pháp về văn hóa Mường có nhắc đến những bộ áo giáp mây, tức là áo giáp làm bằng mây của người bản xứ. Trong bộ tiểu thuyết nổi tiếng Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung có nhiều hồi dài nói về Khổng Minh bình Mạnh Hoạch (Thất  cầm Mạnh Hoạch – Bảy lần bắt Mạnh Hoạch), trong khoảng giữa thế kỷ 3, sau Công nguyên, một thủ lĩnh phương Nam, gọi là Nam Man, trong đó có nhắc đến quân Khổng Minh từng giao chiến và ban đầu thất bại trước quân giáp mây, một bộ tộc ra giúp quân Mạnh Hoạch. Loại giáp này trong khảo sát của các nghiên cứu Trung Hoa về áo giáp có nói đến và vẽ hình nom khá cứng nhắc, nhưng cũng đầy đủ các bộ phận mũ, áo thân che bắp tay, che hai đùi, bụng dưới và khiên cầm tay. Áo giáp mây chỉ có thể đốt cháy, chứ gần như không bị đâm thủng, chém thì chả ăn thua gì, và tên bắn cũng không xuyên. Trong tiểu thuyết trên, Khổng Minh dùng kế lừa quân giáp mây tập trung vào một hang động và phóng hỏa, giáp mây cháy hết. Tiểu thuyết đó cũng nói đến khi làm giáp mây, người ta ngâm tẩm các sợi mây vào dầu, nên chúng rất dai chắc, đan ken thành áo giáp trở nên chắc chắn khó đâm xuyên, chặt đứt, khi qua sông quân lính ngồi trên giáp mây, lấy vũ khí làm mái chèo, bơi nổi như thuyền, nhưng nhược điểm không chịu được lửa. Nhưng vận động cơ thể trong giáp mây khá khó khăn, do vật liệu này cứng, các khớp nối không linh hoạt như giáp da và giáp móc sắt. Cũng theo mô tả trong tiểu thuyết thì vùng Nam Man đó chính là phía Bắc Việt Nam và quân của Phục Ba Mã Viện từng trèo núi qua đây khi tiến vào Giao Châu đánh quân của Hai Bà Trưng. Trong quân đội phong kiến Đại Việt sau này không nhắc đến việc dùng giáp mây, nhưng khiên mây thì có và xuất hiện trên hình vẽ sớm các thạp gốm Lý Trần, khiên mây nhẹ và che chắn tên, giáo tốt hơn khiên gỗ. Quân Đại Việt tay cầm khiên, tay cầm giáo ngắn, hoặc mã tấu. 

1a (Custom)

Vòng tay, đồ đồng Đông Sơn, hiện vật Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Áo giáp và binh khí Đông Sơn trong các di chỉ khảo cổ lại tương đối đầy đủ, dù thời đại này cách đây khá xa, ít nhất từ 3.000 năm đến 2.500 năm. Tuy nhiên người Đông Sơn theo những hiện vật để lại chỉ có một miếng giáp ngực, gọi là hộ tâm kính theo khái niệm Hán, thắt lưng, vòng lớn đeo cổ chân và cổ tay, cũng vừa bảo vệ vừa tấn công được. Chúng ta hình dung một chiến binh Đông Sơn, đầu cắm lông chim, xõa tóc, mình trần, xăm trổ các hình giao long đầy mình, tay và chân lồng đeo các vòng lớn và dài đến 15 phân với nhiều lục lạc gắn theo các vòng, ngực đeo miếng giáp hình chữ nhật có khắc hình con thuyền, thắt lưng giắt dao găm và kiếm ngắn, tay cầm giáo và khiên mây, nom cũng ngoạn mục. Áo giáp ngực Đông Sơn khá nhỏ, chừng 30 – 35 phân ngang, 20 phân cao, có vòng lỗ phía trên để lồng dây đeo từ cổ và buộc hai dây dưới ra phía sau lưng, nó có thể che được vùng ngực và tim của chiến binh. Các vòng tay và chân làm bằng các vòng đồng hoặc đúc liền hoặc thành từng vòng rời gắn vào với nhau liên tục, vừa dùng cổ tay đỡ vũ khí, như dao găm, kiếm chém và nếu đập cổ tay vào mặt đối phương cũng là đòn giáng rất nặng. Trang bị áo giáp Đông Sơn rất gọn nhẹ, đẹp mắt, biểu lộ vẻ đẹp cơ thể của các chiến binh, dù giáp đó không che kín hoàn toàn được cơ thể, nhưng đây là loại thời trang có phong cách hẳn hoi của thời đại trống đồng.

Trong lịch sử quân sự, vùng Đông Á, người ta thấy rõ áo giáp cho quân đội của các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam có kết cấu và hình thức tương đối giống nhau.

Tuy nhiên, áo giáp Trung Hoa có vẻ phong phú và tinh tế hơn ba nước kia. Áo giáp của ba nước còn lại trọng về thực dụng hơn thẩm mỹ, đôi khi rất thô và mang tính phô trương bạo lực, chẳng hạn như áo giáp Nhật Bản.

Áo giáp thực ra có một tiến trình lịch sử lâu dài cùng với các chiến trận và các triều đại, đến mức lịch sử loài người vẫn được viết bằng lịch sử chiến trận và sự thay đổi của các triều đại.

Vào thời trước Công nguyên, trong khoảng 200 năm, người ta thấy những áo giáp khá đơn giản và thô, chủ yếu có hai loại giáp sắt và giáp da, được làm bằng từng miếng nhỏ khâu móc lại, che phần thân chính, tay và chân có thể để trần, hoặc có giáp ngắn ở bả vai, và có mũ sắt đội khít vào đầu, hình thù như quả dưa hấu có chóp.  Loại mũ quả dưa này thực ra phổ biến khắp cả thế giới, cho đến chiếc mũ bảo hiểm ngày nay vẫn có hình dáng tương tự, chứng tỏ với hình thù ấy nó có khả năng bảo vệ đầu tốt.

_MG_7355 (Custom)

Tượng Kim cương chùa Long Đọi, thế kỷ 11. Ảnh Nguyễn Anh Tuấn. Các pho tượng Kim cương mặc áo giáp theo phong cách áo giáp thời Đường.

 Giáp che thân được làm từ nhiều chất liệu: chất liệu mây đan như bài trước chúng ta đã khảo sát, chất liệu gỗ, da và sắt.

Gỗ có thể dùng làm mộc cứng, che chắn, chứ không tiện cho việc làm áo giáp che thân, bởi nó cứng, không mềm mại vận động theo cơ thể, nên không phổ biến và cũng khó chịu được lực đâm.

Chất liệu sắt cứng, người ta có thể gò, đúc một khối giáp thân, khi mặc lồng vào người như áo trấn thủ, tuy nhiên khá cứng nhắc, khó vận động. Ở châu Âu, những kỵ sỵ Trung cổ mặc giáp sắt cứng toàn thân và cả ngựa cưỡi cũng mang giáp, rất nặng nề, tính ra toàn bộ khối sắt này đến 200 kg, khi lên ngựa kỵ sỹ phải có người giúp, và nếu để ngã ngựa coi như cầm chắc cái chết. Do vậy người ta cải tiến, hoặc chia nhỏ các miếng sắt rồi ghép lại với nhau, tùy theo khớp người và nơi cần vận động, nơi cần che chắn nguyên khối, hoặc ghép miếng sắt với da, phối hợp cái cứng của sắt, cái mềm dai của da, hoặc chuyển thành dạng các móc xích và móc vòng, thành áo giáp sắt nhưng mặc thì mềm như đeo những chuỗi lo xo kết với nhau.

Trên thực tế áo giáp da (da trâu  là chính) là phổ biến và chịu sát thương tốt nhất, cũng như cho phép cơ động hơn cả. Tuy nhiên nếu mặc một bộ giáp da kiểu thời Tống, đầy đủ từ chân đến đầu, tay cầm một thanh kiếm, thì toàn thân luôn mang theo 12 kg không nhẹ nhàng gì, nhất là vận động trên chiến trường. Giáp da chịu lực đâm chém và tên bắn đều tốt, một cung thủ phải rất khỏe mới có thể bắn xuyên được giáp da.

Giáp da cũng phổ biến trong thời phong kiến ở Việt Nam. Trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có nói về việc tập bắn thường niên của binh lính nhà Lê Trịnh, lúc đó đã có dùng súng hỏa mai thô sơ và cung nỏ, nếu binh sỹ nào mà bắn trượt đến ba lần thì phải phạt tiền hoặc nộp hai bộ da trâu, cho quân đội làm áo giáp. Con trâu bấy giờ là đầu cơ nghiệp của nhà nông, hàng chục gia đình mới chung nhau mua được một con, nên đó là án phạt rất nặng.

Trong các bức ảnh cuối thể kỷ 19, đầu 20, do người Pháp chụp đội cấm binh nhà Nguyễn, cũng mặc áo giáp da dạng đơn giản.

Áo giáp da ở phương Đông đến thời Đường Tống (tức là khoảng từ thế kỷ 7 – 12) là hoàn chỉnh. Nó bao gồm mũ trụ, thường bằng sắt. Bộ giáp thân có hai miếng che bắp tay và bắp đùi, miếng che bụng và bộ hạ, ngoài thân có thể thắt thêm đai da, tức là thân được che hai lượt da, cổ tay và cổ chân đều có bao da rời. Hình thức của loại áo giáp này có thể thấy tương tự như các pho tượng Kim cương, Hộ pháp ở đình đền chùa, ngoài ra còn một chiếc áo bào khoác vai cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể, gây cản trở đối phương.

Khi mặc loại áo giáp này, người ta phải có người giúp. Thoạt tiên mặc vào trong một bộ quần áo lụa mỏng, cái áo gọi là thủy y. Sau đó đến một chiếc áo dài bằng sợi hay dạ hai vạt. Hai bộ này nhằm giảm lực cọ xát của giáp trực tiếp vào cơ thể, vì người ta không thể mặc áo giáp sát da thịt mà không bị xây sát. Người mặc lồng từ phía sau lưng vào hai tay, rồi buộc dây chặt phía sau lưng cho giáp ôm gọn lấy người.

Áo bào được khoác vào vai và lồng hai dây qua nách rồi buộc ra sau lưng, để khóa khớp vai cho chặt. Bao tay, bao chân và thắt lưng đeo sau cùng.

Bên cạnh đó, tay chiến binh chuyên nghiệp này còn phải mang một cây giáo, một thanh gươm dài, một thanh gươm ngắn giắt vào cánh tay, hoặc thắt lưng, một cây cung có bao và một bao tên. Anh ta không chỉ phải bảo vệ mình, mà còn phải bảo vệ cho con ngựa đang cưỡi.

Nom chiến binh như vậy khá ngoạn mục và đáng kinh hãi, nhưng thực ra rất cồng kềnh, dễ bị tổn thương và nếu phải chiến đấu trong thời tiết nóng thì quả là địa ngục.


 

Nguồn bài đăng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s