Lịch Sử và phương pháp lịch sử

history-books-1024x768

Trần Thị Bích Ngọc*

Tìm hiểu về quá khứ dường như là một nhu cầu của toàn thể loài người và kể chuyện lịch sử xuất hiện một cách độc lập trong nhiều nền văn minh trên khắp thế giới. Lịch sử thành văn được ghi lại dưới dạng chuyện kể từ thời cổ đại nhằm giúp các thế hệ nối tiếp hiểu biết về các sự kiện lịch sử đã qua. Như thế, sử học đã xuất hiện rất sớm trên con đường khai trí của loài người. Người xưa sở dĩ dùng các hình thức văn chương như ca dao, vè, văn bia… chính là để ghi lại những sự việc đã xảy ra và phần lớn đã được quan niệm và kết cấu để phục vụ lịch sử.

Ngày nay, với sự phát triển đa dạng về mặt phương pháp và giải thích, sử học, hơn bất cứ một ngành khoa học xã hội nào khác, là môn khoa học quan trọng hàng đầu trong việc giải phóng tâm thức con người ra khỏi những thành kiến chật hẹp mang tính chất bảo thủ, bè phái, quốc gia, làng xã…Và một tri thức sử học căn bản sẽ giúp cho tư duy về chính trị và xã hội của nhà nghiên cứu thêm sắc sảo, tránh không rơi vào những đám mây mù trừu tượng phi thực tế…

Bài viết này đề cập những kiến thức nền tảng và cập nhật trong lĩnh vực sử học của các nước phương Tây, hiểu được nhiều dạng thức lịch sử khác nhau và nhiều cách tiếp cận khác nhau cho một chủ đề lịch sử. Nó cũng giúp cho những nhà nghiên cứu trẻ, dù đã chọn cho mình một lối đi riêng trên đại lộ tri thức, có thêm một số hiểu biết khi tham dự những hội thảo khoa học quốc tế, bắt kịp, hiểu được và trong một chừng mực nào đó, có thể tham gia thảo luận được những vấn đề sử học đang gây tranh luận hiện nay.

1. LỊCH SỬ LÀ GÌ?

Hiện nay đa số sử gia trên thế giới đều nhất trí cho rằng lịch sử là một ngành phức tạp, đa diện và bao trùm nhất trong tất cả các ngành khoa học xã hội. Lịch sử khó định nghĩa bởi vì con người, cả hiện tại và quá khứ, có những định kiến và quan điểm khác nhau về lịch sử là gì một cách thật chính xác. Hầu hết các định nghĩa thường cũng chỉ đúng một phần, nhưng thuật ngữ “Lịch sử” là gì, nói chung, nên theo những định nghĩa đã được hầu hết các nhà nghiên cứu sử gần đây đồng ý như sau:

– Việc diễn ra trong quá khứ: Tất cả những sự việc xảy ra cho đến thời điểm hiện nay. Một cách cụ thể, đó là những biến cố đã qua của nhân loại, không thể thay đổi được, cố định trong thời gian và không gian. Chúng được coi như tuyệt đối và khách quan – đó là điều đã xảy ra.

– Ghi lại việc diễn ra trong quá khứ: Đó là nỗ lực của con người để nắm bắt quá khứ, gắn nó vào từ ngữ và cho nó một ý nghĩa. Điều này là tương đối và chủ quan và chỉ là câu chuyện kể những gì đã diễn ra theo quan điểm của người ghi lại.

– Làm thành tài liệu của việc diễn ra trong quá khứ. Tiến trình hay kỹ thuật-phương pháp – được dùng để làm thành một tài liệu của những việc diễn ra trong quá khứ cũng còn được coi là “Lịch sử”. Phương pháp đã làm lịch sử trở thành một khoa học(1).

Theo định nghĩa của Wikipedia, lịch sử là sự nghiên cứu hành động hay cách sinh hoạt của con người (human behavior) qua thời gian. Khi được dùng như tên của một ngành nghiên cứu thì lịch sử liên hệ tới việc nghiên cứu và giải thích các tài liệu của con người, gia đình và xã hội như chúng được gìn giữ một cách nguyên vẹn thông qua những nguồn tài liệu viết…. Do đó kiến thức về lịch sử thường được xem là bao gồm cả hai, kiến thức về những biến cố của quá khứ và những kỹ năng suy nghĩ và giải thích quá khứ(3).
Như vậy, nói một cách ngắn gọn, lịch sử là những gì đã xảy ra liên quan đến con người sống trong xã hội và được ghi chép lại theo một phương pháp, hay vắn tắt hơn lịch sử là con người hiểu biết về quá khứ của mình(3).

Theo trên thì phương pháp lịch sử không cần phải tìm kiếm đâu xa vì nó nằm ngay trong bản thân của từ “Lịch sử”.

2. PHƯƠNG PHÁP LỊCH SỬ

Phương pháp lịch sử là hệ thống các nguyên tắc được đặt ra để đem lại hiệu quả trong việc tập hợp nguồn tài liệu lịch sử, đánh giá chúng một cách có phê phán và đưa ra một tổng hợp của những kết quả có được và giải thích kết quả làm sao để đạt được chân dung của quá khứ(4). Đây là định nghĩa đã được đa số sử gia hiện nay đồng ý.

Theo định nghĩa của Wikipedia, phương pháp lịch sử bao gồm những kỹ thuật và những chỉ nam dựa vào đó sử gia sử dụng tài liệu gốc và những tài liệu khác để nghiên cứu và viết thành lịch sử(5).

Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày từng bước một để phân biệt giữa phương pháp (kỹ thuật) viết một tác phẩm sử học (historical method) và phương pháp giải thích lịch sử (historical interpretation).

2.1. Phương pháp căn bản để viết một tác phẩm sử học (Historical Method/ Methodology/Approach)

2.1.1. Phương pháp viết sử dựa trên các tài liệu viết

– Xác định một vấn đề lịch sử hay việc nhận định một nhu cầu hiểu biết về một vấn đề lịch sử nào đó.

– Tập hợp thông tin có liên hệ cho vấn đề lịch sử được xác định càng nhiều càng tốt. Nghiên cứu thông tin trong những nguồn tài liệu đó và đánh giá có phê phán nguồn thông tin để hiểu những động cơ đằng sau đó, nếu có.

– Thành lập giả thuyết thử giải thích các mối quan hệ giữa các yếu tố lịch sử trong các tài liệu vừa thu thập.

– Tập hợp và sắp xếp các chứng cớ, xác minh tính chân thật và đáng tin cậy của thông tin và nguồn tài liệu của thông tin đó.

– Tuyển chọn, sắp xếp và phân tích những chứng cớ được sưu tập có quan hệ trực tiếp nhất với vấn đề đặt ra, và rút ra kết luận.

– Viết lại những kết luận trong một dạng tường thuật có ý nghĩa hay sự tổng hợp cuối cùng tài liệu và trình bày chúng theo những quan điểm cá nhân hay theo phương pháp riêng của từng sử gia(6).

2.1.2. Phương pháp viết sử qua sự tường thuật lại của các nhân chứng

2.1.2.1. Thế nào là lịch sử qua sự tường thuật lại của các nhân chứng (Oral History)?

Lịch sử qua sự tường thuật lại của các nhân chứng là một tập hợp có hệ thống sự tường thuật lại của những con người còn sống về kinh nghiệm riêng của họ đối với một sự kiện lịch sử nào đó đã qua. Lịch sử qua sự tường thuật lại không phải là những câu chuyện dân gian, những chuyện tán gẫu hay những lời đồn. Những sử gia viết sử qua sự tường thuật của các nhân chứng phải xác minh những kết quả có được qua phỏng vấn, phân tích chúng, và đặt chúng trong một bối cảnh lịch sử chính xác. Thao tác phỏng vấn cũng nhằm bổ sung các dữ kiện lịch sử bằng cái nhìn của người trong cuộc.

Trong những dự án đi phỏng vấn, một người được phỏng vấn nhớ lại một biến cố để kể lại cho người đi phỏng vấn ghi chép lại những hồi tưởng đó và tạo ra một tài liệu lịch sử:
Biến cố (Event)  Người được phỏng vấn (Interviewee)  Người phỏng vấn (Interviewer)  Tài liệu lịch sử (Historical Record)(7).

2.1.2.2. Các bước phải thực hiện khi viết một tác phẩm sử học dựa trên sự tường thuật của các nhân chứng

– Xác định một vấn đề lịch sử. Xác định mục đích nghiên cứu và nhận định thử phương pháp này sẽ giúp bạn đạt được những mục đích đó hay không.

– Tiến hành nghiên cứu trước những nguồn tài liệu không phải từ phỏng vấn. Đặt những câu hỏi cho những vấn đề bạn muốn biết.

– Xác định những mẫu người để phỏng vấn. Bạn sẽ tuyển chọn những người mà bạn sẽ phỏng vấn như thế nào? Tiếp xúc trước với những người có khả năng bạn sẽ phỏng vấn, giải thích chương trình của bạn và yêu cầu họ giúp đỡ.

– Tập hợp những trang thiết bị thích hợp với mục đích của bạn, như máy thâu thanh, thâu hình…

– Phỏng vấn.

– Sắp xếp và trình bày kết quả phỏng vấn theo những quan điểm cá nhân hay theo phương pháp riêng của từng sử gia(8).

Tiến trình làm thành tác phẩm sử học ở khâu cuối cùng (cho cả 2 phương pháp) nêu trên cũng còn được gọi là phương pháp giải thích lịch sử.

2.2. Phương pháp giải thích lịch sử hay yếu tố giải thích trong sử học (Historical Interpretation) – Vai trò của sử gia

– Định nghĩa: Sự giải thích lịch sử về bản chất là những nỗ lực suy tư sâu sắc để mô tả hay làm rõ những việc xảy ra trong quá khứ.

Sự giải thích lịch sử là suy tư của những người nghiên cứu quá khứ, không phải là những người tham gia trong những biến cố của quá khứ. Do đó người sáng tạo ra quan điểm không tránh khỏi chịu ảnh hưởng thiên vị bởi sự tác động của người hay biến cố đó trên họ(9).

Sự giải thích lịch sử hầu như là then chốt của một tác phẩm sử học: Sử gia chỉ có trong tay những văn bản lịch sử (texts) hiểu theo nghĩa rộng và sử gia phải giải thích chúng căn cứ trên hiểu biết của họ về toàn thể bối cảnh (context) trong đó các văn bản đó bộc lộ ra ý nghĩa của chúng. Do đó sử gia bắt buộc phải là người cực kỳ uyên bác về rất nhiều lĩnh vực: họ phải am hiểu các cổ ngữ liên hệ (chẳng hạn khi khảo sát các văn bia Hán-Nôm), phải am hiểu nền văn hóa cổ đại (trong đó tấm văn bia được viết ra) trong toàn thể tính của nền văn hóa này, mà muốn am hiểu được toàn thể tính của một nền văn hóa, sử gia lại phải biết đến xã hội học, nhân chủng học, khảo cổ học, văn bản học, ngôn ngữ học, văn hóa học, v.v. Nói một cách khác, sử học chỉ có giá trị hấp dẫn, sống động khi có giải thích. Do đó một vấn đề lịch sử xưa cũ đến đâu vẫn cứ được nghiên cứu đi, nghiên cứu lại mãi. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), Trần Quốc Vượng giải thích “Phù Đổng vốn là ‘Xung Thiên Thần Vương’ của thời Lý” (Trần Quốc Vượng, 2006, tr. 235). Thế nhưng, theo giải thích của Nguyễn Tự Cường (Đại học George Mason, Hoa Kỳ) khi ông nghiên cứu tôn giáo Việt Nam thời Trung cổ qua ba tác phẩm Thiền uyển tập anh, Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái thì Tỳ sa môn Thiên Vương (hay Sóc Thiên Vương)(10), một thần linh Ấn giáo, đã chuyển biến thành Phù Đổng Thiên Vương Việt Nam(11). Nguyễn Tự Cường đọc các tư liệu lịch sử trong một viễn cảnh khác với Trần Quốc Vượng và đã có những giải thích về Thánh Gióng khác với Trần Quốc Vượng nhưng ông cũng không tuyên bố là giải thích của mình “đúng” hơn nghiên cứu của Trần Quốc Vượng.

Sử gia và sự kiện lịch sử có một mối quan hệ biện chứng: Sử gia bị hạn chế bởi sự kiện lịch sử: sử gia không thể nói một vấn đề lịch sử khi không dựa trên sự kiện lịch sử và sự kiện lịch sử chỉ có giá trị với sự giải thích của sử gia. Sự kiện lịch sử không bao giờ tồn tại một cách độc lập với sự giải thích và nhận thức của sử gia. Chẳng hạn, lịch sử Việt Nam là sự giải thích lịch sử của các sử gia từ Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, đến Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Đinh Xuân Lâm, Philippe Devillers, Jean Chesneaux, John Whitmore, Keith Taylor, Alexander Woodside, David Marr… và nhiều sử gia khác, nhiều học giả liên ngành khác. Sử gia là trí nhớ của một dân tộc vì chính họ là người đọc và giải thích quá khứ.

– Sử học là một sự giải thích liên tục các biến cố lịch sử (continual hermeneutics of historical events): Chính trong sự giải thích này mà một biến cố mới thực sự trở thành một biến cố lịch sử hay một nhân vật nào đó mới thực sự trở thành nhân vật lịch sử.

– Sử học là một ngành khoa học mang nhiều tính chủ quan: Sử học hiện đại nhấn mạnh sự giải thích lịch sử chính là để nhấn mạnh vai trò của sử gia, vì vậy sử học là một ngành khoa học không tránh khỏi sự chủ quan. Thật vậy, đọc lịch sử cách mạng Pháp tức là đọc Jules Michelet hay François Crouzet, v.v. Đọc lịch sử La Mã tức là đọc Theodor Mommsen, v.v. Đọc lịch sử đời Tần-Hán của Trung Quốc tức là đọc lời kể của Tư Mã Thiên, v.v. Các sử gia trên đã xử lý, thuật sự hóa và tiến hành giải thích các biến cố lịch sử, truyền cho chúng một ý nghĩa để phục sinh quá khứ trong cái nhìn của hiện tại.

Các học giả Mỹ gần đây có khuynh hướng sang Việt Nam để phỏng vấn các nhân vật liên quan trực tiếp đến lịch sử Việt Nam hiện đại. Bằng cách trình bày song song những cái nhìn khác nhau của những người trong cuộc, thậm chí tương phản nhau về cùng một biến cố lịch sử, các sử gia cho thấy tính chất phức tạp, đa diện của chính biến cố và nhấn mạnh yếu tố giải thích trong phương pháp sử học.

Từ sự giải thích lịch sử này, nhiều quan điểm khác nhau đã xuất hiện và nhiều trường phái giải thích lịch sử đã ra đời từ thời cổ đại cho đến ngày nay.

3. LỊCH SỬ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI THÍCH LỊCH SỬ – CÁC TRƯỜNG PHÁI CHÍNH CỦA PHƯƠNG TÂY

3.1. Phương pháp kể lại một câu chuyện thật (narrative): 4.000-500 trước Công nguyên (BC)

Herodotus of Halicarnassus (484-425 BC): Sử gia Hy Lạp, được xem là sử gia đầu tiên của thế giới phương Tây và được coi là cha đẻ của ngành sử học. Ông là người sáng tạo ra phương pháp kể một câu chuyện thật, có đầu đuôi theo một trình tự thời gian (chronological order), không bình luận gì hết. The Histories (Những câu chuyện lịch sử) của Herodotus là tác phẩm lịch sử sơ khai nhất.

Trong tác phẩm này, Herodotus đã có những đóng góp to lớn cho sự phát triển của phương pháp nghiên cứu lịch sử khi ông cố gắng nhận ra những lời kể nào hay câu chuyện nào là đáng tin cậy hay kém tin cậy và đích thân đi nhiều nơi để nghiên cứu và xác minh. Kết quả là ông có được một câu chuyện trung thực (không định kiến) đáng chú ý về nhiều nền văn hóa vùng Địa Trung Hải(12).

3.2. Phương pháp kể lại một câu chuyện thật nhưng mang tính chất giáo huấn (didactic): 500 (BC) – thế kỷ XVII sau Công nguyên (AD).

3.2.1 Thucydides [460-400 (BC)]: Sử gia Hy Lạp, được xem như là nhà sử học khoa học đầu tiên vì ông mô tả thế giới loài người được tạo ra bởi con người, không có sự can thiệp của Thượng đế. The Peloponnesian War (Cuộc chiến tranh Peloponnesus) là tác phẩm sử học của Thucydides kể lại cuộc chiến tranh giữa người Sparta và Athens. Tác phẩm này được xem là công trình sử học đầu tiên của thể loại sử mang tính chất giáo huấn, vì mục đích của nó là giảng dạy hơn là giải trí.

Thucydides, trái ngược với Herodotus, chủ yếu loại bỏ quan hệ nhân quả mang yếu tố thần thánh trong các ghi chép của ông về cuộc chiến giữa người Athens và Sparta. Ông đã thiết lập yếu tố giải thích mang tính chất duy lý cho sử luận của phương Tây sau này. Ông cũng là người đầu tiên phân biệt giữa nguyên nhân xa và nguồn gốc trước mắt của một sự kiện lịch sử(13).

3.2.2. Polybius (203-120 BC): Sử gia Hy Lạp cổ đại cuối cùng đã đưa ra những ý tưởng như là quan điểm của sử gia và quy mô của tác phẩm sử học. Trong tác phẩm The Histories or the Rise of the Roman Empire from 220 to 146 BC (Những câu chuyện lịch sử hay sự xuất hiện của đế quốc La Mã từ năm 220 đến 146 trước Công nguyên), ông đã giới thiệu lịch sử như một chuỗi dài nhân quả, dựa trên sự nghiên cứu cẩn thận các truyền thống cùng với sự phê bình sắc bén một phần dựa trên những điều ông nhìn thấy và một phần dựa trên đối thoại của những người chứng kiến hay những người tham gia trong những biến cố đó. Qua tác phẩm này ông ta đã cho thấy một cái nhìn thống nhất về lịch sử hơn là kể một câu chuyện theo trình tự thời gian. Vì thế Polybius được các sử gia ngày nay xem là nhà sử học đáng được chú ý nhất của thời Cổ đại(14).

3.2.3. Từ năm 100 (AD) đến thế kỷ XVIII: Sự ra đời của Thiên Chúa giáo là sự kiện lịch sử quan trọng nhất của giai đoạn này. Những nhà viết sử Thiên Chúa giáo thời Trung cổ là những nhà viết sử điển hình cho dạng viết sử với mục đích giáo huấn. Lịch sử thành văn phổ biến trong giới tu sĩ Thiên Chúa giáo thời Trung cổ. Họ viết về lịch sử nhà thờ và về những người bảo trợ cho họ, lịch sử các giai đoạn cầm quyền của những nhà cai trị tại địa phương. Họ xem việc diễn ra trong quá khứ như một định luật cho hành động và viết sử với hy vọng mang lại những chỉ nam cho người đọc: hoặc xưng tụng Thiên Chúa, một nhóm xã hội nào đó hay một cá nhân. Trong suốt thời Phục hưng, lịch sử chủ yếu được viết về các nhà nước hoặc các quốc gia, các vị vua và các triều đại. Các sử gia khi thì tập trung vào các chủ đề được định ra nhằm hoàn thiện con người, khi thì tập trung mô tả các sự kiện có thực, như thiên sử thi miêu tả những hành động anh hùng. Song of Roland (Bài ca Roland) của Einhard (Eginhard, Einhart) (775-840 AD) kể về trận chiến Roncevaux Pass trong chiến dịch đầu tiên của Charlemagne nhằm chinh phục bán đảo Iberia…(15). Các sử gia nổi tiếng trong thời kỳ này như Eusebius of Caesarea (275-339 AD) với tác phẩm Chronicle (Tài liệu về những biến cố xảy ra theo trình tự thời gian) và History of the Church (Lịch sử Nhà thờ), Gregory of Tours (538-594 AD) với History of the Franks (Lịch sử của người Franks), Bede (672-735 AD) với quyển Ecclesiastical History of the English Nation (Lịch sử giới tu sĩ của nước Anh)… Dạng thức viết sử với mục đích giáo huấn là dạng thức nổi bật trong suốt thời Trung cổ và kéo dài cho tới thời kỳ Ánh sáng, với Leopold von Ranke, sử gia người Đức, cha đẻ của nền sử học hiện đại.

3.3. Phương pháp giải thích lịch sử của Leopold von Ranke

Ranke (1795-1886) là sử gia Đức vĩ đại của thế kỷ thứ XIX. Ông được xem là người sáng lập ra môn lịch sử “khoa học” và là cha đẻ của nền sử học hiện đại vì ông đã thiết lập phương pháp nền tảng cho nhiều cách viết sử sau này như nhấn mạnh đến việc đi sâu vào nguồn tài liệu, giới thiệu những ý tưởng như là dựa trên tài liệu gốc ở các lưu trữ, nhấn mạnh về lịch sử tường thuật (narrative history) và đặc biệt là lịch sử chính trị quốc tế.

Phương pháp viết sử của Ranke là viết sử theo cách như nó là, viết theo lời kể của nhân chứng, và nhấn mạnh quan điểm của người chứng kiến. Ông ta phản đối những lối viết sử có mục đích khi đánh giá thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước.

Trọng tâm của phương pháp lịch sử của Ranke: ông không tin rằng có những phương pháp chung (tổng quát) hay những lý thuyết phổ biến vượt qua được giới hạn không gian và thời gian. Ranke phản đối cách tiếp cận lịch sử theo thuyết cứu cánh khi cho rằng mỗi giai đoạn lịch sử đi sau cao hơn giai đoạn lịch sử trước đó. Ông cho rằng mỗi một thời kỳ của lịch sử là duy nhất và phải được hiểu trong chính bối cảnh của nó. Câu nói nổi tiếng thể hiện quan điểm lịch sử của Ranke: “Sau Plato, không thể có Plato nào khác”(16).

Geschichte der romanischen und germanischen VƯlker von 1494 bis 1514 (Lịch sử các quốc gia nói các ngôn ngữ Latin và German từ năm 1494 đến 1514) (1824) là tác phẩm sử học đầu tiên của Ranke, trong đó ông sử dụng nhiều nguồn tư liệu đặc biệt để trở thành một sử gia của thời đại như những bản báo cáo của nhân chứng trực tiếp, công văn, công hàm ngoại giao, tài liệu của chính phủ, thư từ cá nhân, hồi ký và nhật ký… Trong tác phẩm này, Ranke chứng minh tính nhất quán trong kinh nghiệm của các quốc gia sử dụng các ngôn ngữ “German” (bán đảo Scandinavia, Anh và Đức) và các quốc gia sử dụng các ngôn ngữ “Latin” (Ý, Tây Ban Nha và Pháp) sau tác động to lớn của Thập Tự Chinh, quá trình thực dân hóa và VƯlkerwanderung (cuộc di cư với quy mô rộng khắp). Ông cho rằng tất cả những tác động này đã nối kết tất cả các quốc gia trên lại với nhau và hình thành nên nền văn minh châu Âu hiện đại.

Nhiều sử gia ngày nay đã xem lời tuyên bố của Ranke rằng lịch sử nên nắm vững nguyên tắc “wie es eigentlich gewesen” (thể hiện những gì đã thực sự diễn ra) như nguyên tắc chủ đạo. Tuy nhiên cũng có một số tranh luận xung quanh ý nghĩa chính xác của cụm từ này. Một vài nhà nghiên cứu sử cho rằng “wie es eigentlich gewesen” có nghĩa là sử gia chỉ nên đưa ra các sự kiện lịch sử và không kèm theo bất cứ quan điểm cá nhân nào; và một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng ý của Ranke là sử gia phải khám phá các sự kiện lịch sử và tìm ra tư tưởng phổ biến của thời đại tác động lên những sự kiện này(17).

3.4. Trường phái Marxist

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Karl Marx (1818-1883) đã tạo một ảnh hưởng to lớn về mặt sử luận trong tất cả các trường phái giải thích lịch sử.

Trọng tâm của phương pháp giải thích lịch sử của Marx nằm ở chủ nghĩa duy vật lịch sử. Marx cho rằng những nguyên nhân của sự phát triển và thay đổi trong xã hội loài người nằm trong việc tìm kiếm tư liệu sống, một sự kiện căn bản đối với mọi xã hội từ thời cổ đại cho đến ngày nay. Marx đã lấy việc tìm kiếm tư liệu sống làm điểm xuất phát để nghiên cứu lịch sử. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx đã chú trọng những quan hệ mà con người tham gia trong quá trình sản xuất ra đời sống của mình, và đã nhìn thấy trong hệ thống những quan hệ sản xuất ấy cái cơ sở hạ tầng hiện thực của một xã hội nhất định được bao phủ bằng những kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật và những hình thức khác nhau của tư tưởng xã hội.

Theo Marx, hệ thống lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng hợp thành một cấu trúc xã hội mà Marx gọi là hình thái kinh tế xã hội. Marx cho rằng xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội, và toàn bộ các thời kỳ lịch sử đã qua là sự phát sinh, phát triển và tiêu diệt của các hình thái kinh tế xã hội. Marx nhấn mạnh, sự thay đổi từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hội khác được tiến hành thông qua cách mạng xã hội. Khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không thể điều hoà thì cách mạng xã hội nổ ra, và chỉ thông qua cách mạng xã hội thì quan hệ sản xuất lạc hậu mới bị huỷ bỏ để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển. Qua đó Marx giải thích, đấu tranh giai cấp là động lực căn bản của chuyển động lịch sử(18) và lịch sử, sẽ tự nó lặp đi lặp lại, như được thể hiện trong tác phẩm Der 18te (achtzehnte) Brumaire des Louis-Napoléon (Ngày mười tám sương mù của Louis- Napoléon Bonaparte).

Ngày 18 sương mù của Louis-Napoléon là tác phẩm căn bản thể hiện quan điểm của Marx về lịch sử. Tác phẩm này đã cho thấy Marx như là một sử gia chính trị và xã hội. Trong Ngày 18 sương mù của Louis-Napoléon Bonaparte, Marx đã xem xét những biến cố lịch sử đương thời (những biến cố đưa tới cuộc đảo chính của Louis-Napoléon Bonaparte, tức Napoléon III (1808-1873) vào ngày 2/12/1851), từ quan điểm duy vật lịch sử. Tác phẩm này chủ yếu nói tới biến cố ngày 9 tháng 11 năm 1799 (tức ngày 18 Brumaire của Năm thứ VIII) trong chương trình hành động của cách mạng Pháp, ngày mà chú của Louis-Napoléon Bonaparte, tức Napoléon đệ I (Napoléon Bonaparte, 1769-1821) đã tự biến mình thành một nhà độc tài bằng một cuộc đảo chánh. Chương trình hành động này là nguồn tài liệu của một trong những câu mà Marx thường trích dẫn, “lịch sử sẽ tự nó lặp lại” (tính quy luật): biến cố đầu tiên như là một bi kịch, rồi biến cố tiếp theo như một vở hài kịch [biến cố đầu tiên Marx muốn liên hệ tới Napoléon I (1799), biến cố sau liên hệ tới Napoléon III (1851).

Marx đã nói trong lời mở đầu của Ngày 18 sương mù… là ông viết tác phẩm này để chứng minh cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp đã tạo ra những tình huống và những mối quan hệ mở đường cho đám đông quần chúng đóng vai trò của những người hùng trong lịch sử(19).

Giải thích của Marx về sự xuất hiện và cai trị của Louis-Napoléon Bonaparte là mối quan tâm thích thú của các học giả sau này nghiên cứu về bản chất và ý nghĩa của chủ nghĩa Fascist. Nhiều học giả theo trường phái Marxist coi cuộc đảo chính này (1851) như là một dấu hiệu báo trước cho hiện tượng Fascism ở thế kỷ XX.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx xem “lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, tồn tại và phát triển theo một logic, không phụ thuộc vào ý thức của con người” (Văn Tạo, 1995, tr. 27). Do đó, chủ nghĩa Marx đã đưa ra phương pháp lịch sử và phương pháp logic như là hai mặt biểu hiện của phương pháp biện chứng Marxist để nghiên cứu lịch sử. Ngoài ra, phương pháp lịch sử Marxist còn đưa ra một số phương pháp để giải quyết những vấn đề lịch sử cụ thể như phương pháp phân tích logic biện chứng, phương pháp so sánh và phương pháp trừu tượng và khái quát(20).

Hầu hết những sử gia không Marxist ngày nay vẫn dùng những công cụ phát triển trong sử luận Marxist như phân tích biện chứng của những sự hình thành xã hội, phân tích giai cấp, hay việc mở rộng quy mô của lịch sử vào lịch sử xã hội. Sử luận Marxist cung cấp những nền tảng vững chắc đầu tiên cho lịch sử xã hội và vẫn đang có ảnh hưởng sâu rộng trong lĩnh vực này.

3.5. Trường phái Biên niên sử

Trường phái Biên niên sử do Marc Bloch và Lucien Fèbvre sáng lập vào năm 1929, khi họ đang giảng dạy tại Đại học Strasbourg. Đây là một trường phái viết sử của Pháp lấy tên từ một tạp chí học thuật, Annales d’histoire économique et sociale(21). Trường phái Biên niên sử xuất hiện như một phản ứng chống lại sự thống trị của lịch sử chính trị và ngoại giao ở Pháp và ở các nơi khác vào đầu thế kỷ XX bởi các sử gia đi theo truyền thống của sử gia Đức Ranke. Marc Bloch và Lucien Febvre nhanh chóng gắn bó với phương pháp biên niên mới lạ, bao gồm địa lý, lịch sử và những phương pháp xã hội học của nhóm Année Sociologique(22) để đưa ra một phương pháp nghiên cứu lịch sử mới, phủ nhận sự quá nhấn mạnh vào chính trị, ngoại giao và chiến tranh của nhiều sử gia đương thời.
Trường phái Biên niên sử đã làm thay đổi lịch sử của phương pháp viết sử một cách triệt để ở Âu châu trong suốt thế kỷ thứ XX, và có lẽ là trường phái nổi tiếng nhất sau trường phái Marxist. Trường phái Biên niên sử được biết đến nhiều nhất về việc đưa những phương pháp khoa học xã hội như xã hội học, nhân chủng học, kinh tế học, tâm lý học, ngôn ngữ học, địa lý và văn hóa vật chất vào việc nghiên cứu sử học. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp liên ngành.

Quan trọng nhất là trường phái Biên niên đã mở rộng một số phương pháp cho việc nghiên cứu sử được coi là “mới” ở thời kỳ đó, bao gồm: sử đối chiếu (histoire comparée), sử về tâm tính hay não trạng (histoire des mentalités), sử định lượng (histoire quantitative). Những sử gia của trường phái Biên niên bắt đầu nhìn vào xã hội như một tổng thể và tiến hành nghiên cứu lịch sử xã hội, một lĩnh vực nghiên cứu mà đa số sử gia ở châu Âu và Bắc Mỹ hiện nay rất quan tâm. Họ chú trọng vào cái mà họ gọi là “la longue durée” (long-term duration): nghiên cứu lịch sử không phải ở một thời điểm cụ thể nào đó, chẳng hạn như những trận đánh riêng lẻ, những ông vua…nhưng là nghiên cứu về sự thay đổi qua thời gian của bất cứ một xã hội nào được chọn để nghiên cứu. Đó là phương pháp nghiên cứu những cấu trúc lịch sử lâu dài (long-term historical structures) thông qua những biến cố lịch sử. Họ chú ý đến những vấn đề như dân số, những đức tin tôn giáo, tâm lý của một thời đại và những chuẩn mực văn hóa… Hầu hết những sử gia theo trường phái Biên niên thường tập trung vào một lĩnh vực và viết một cách dàn trải về lĩnh vực đó(23).

3.5.1. Marc Bloch (1886-1944) là người sáng lập cũng là thành viên quan trọng nhất trong thế hệ đầu tiên của trường phái Biên niên. Bloch chuyên nghiên cứu về lịch sử thời Trung cổ. Để nghiên cứu về thời kỳ này, ông khởi sự tập trung vào cái mà ông cho là “ảo tưởng tập thể” (illusions collectives) và dùng phương pháp đọc ngược lịch sử (lire l’histoire à rebours) để nghiên cứu. Bloch tin rằng để có kết quả hơn nên tiến hành nghiên cứu từ cái biết đến cái không biết hay chưa biết, do đó ông đọc lùi lại lịch sử. Ông nghiên cứu xã hội phong kiến, văn hóa phong kiến và ý nghĩa của nó ở thời đại đó, những dạng thức của ký ức tập thể và những cấu trúc của cảm xúc và suy tư của con người thời Trung cổ… Trong tác phẩm nổi tiếng của mình, Les rois thaumaturges: étude sur le caractère surnaturel attribué à la puissance royale particulièrement en France et en Angleterre (Những ông vua có phép thần thông: nghiên cứu về tính siêu nhiên được ban cho quyền lực của nhà vua ở Anh và Pháp), Bloch nghiên cứu lòng tin đương thời trong thời kỳ Trung cổ và tiền Hiện đại ở Pháp và ở Anh: nhà vua có thể chữa được bệnh ngoài da được biết như là scrofula (bệnh lao gây sưng một số tuyến có chứa chất nhờn), chỉ bằng cách sờ lên người bệnh. Trong tác phẩm này, Bloch phân tích thái độ của quần chúng đối với vương quyền, đối với tôn giáo và đối với những phép mầu trong suốt một thời gian dài, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII (la longue durée) và so sánh lòng tin này ở Pháp và ở Anh trong suốt 5 thế kỷ. Qua đó, Bloch phê bình “những ảo tưởng tập thể” về một lòng tin như vậy. Bloch cũng phân tích và phê bình sự kiện là làm thế nào lòng tin đó vẫn tiếp tục tồn tại sau thời Trung cổ. Mục đích của Bloch khi viết tác phẩm này là ông ta muốn tìm hiểu một sự kiện lịch sử là lòng tin của quần chúng vào những sự việc không thể xảy ra trong một thời gian dài như thế và vạch ra những nguyên nhân nằm sâu bên dưới của một hiện tượng như vậy. Tác phẩm này có thể được xem như một nghiên cứu về lịch sử tâm lý, một bộ phận của lịch sử xã hội. Bloch đã áp dụng một phần ý tưởng của Durkheim về lòng tin và tâm lý tập thể vào nghiên cứu của mình. Bloch phê bình những nguồn gốc sai lạc của lòng tin và cho rằng những hiện tượng lịch sử phải được giải thích trong đúng bối cảnh của nó. Phương pháp tiếp cận của Bloch cho tác phẩm này dựa trên những ngành khoa học xã hội như xã hội học, nhân chủng học và tâm lý học.

Marc Bloch cũng viết nhiều tác phẩm về xã hội nông thôn và xã hội phong kiến của nước Pháp và của Âu châu thời Trung cổ trong đó ông chú ý đến những cấu trúc xã hội hơn là những biến cố lịch sử(24).

3.5.2. Lucien Febvre (1878-1956): Sau khi Bloch bị Gestapo giết khi Đức chiếm đóng nước Pháp trong chiến tranh Thế giới II, Lucien Febvre tiếp tục phương pháp Biên niên sử trong những năm 1940 và 1950. Khác với Bloch, Febvre đưa ra một phương pháp nghiên cứu lịch sử mới hơn đó là đưa ngành địa lý nhân văn (géographie humaine) vào nghiên cứu lịch sử. Do đó, Febvre chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố địa lý trong phương pháp giải thích lịch sử của mình. Febvre cho rằng môi trường tự nhiên hầu như đã ấn định lịch sử của vùng qua tác phẩm sử học đầu tiên của ông, La terre et l’évolution humaine. Introduction géographique à l’histoire (Trái đất và sự tiến hóa của con người. Sự giới thiệu địa lý vào lịch sử). Tác phẩm này nghiên cứu về vùng Normandie của Pháp vào thế kỷ XVI. Chương đầu Febvre dùng để mô tả địa lý của vùng. Ông xem xét sự tương tác qua lại giữa tính ngẫu nhiên, tính logic và tính tất yếu trong lịch sử nhân loại. Qua sự xem xét này, Febvre không hoàn toàn khẳng định chỉ có môi trường tự nhiên là ấn định lịch sử của vùng, mà cho rằng có nhiều đáp trả của con người với môi trường trong đó người ta sống. Loài người, cách của họ sống, và thái độ cũng như đức tin của họ – không hẳn hoàn toàn là địa lý – là đối tượng cho phương pháp giải thích lịch sử của ông. Với phương pháp này, Febvre nhấn mạnh đến những mối quan hệ giữa trái đất và xã hội loài người, chứ không đặt trọng tâm vào ảnh hưởng của trái đất trên con người. Phương pháp của Febvre về vai trò của địa lý trong lịch sử đã được David Moon đặt tên là “chủ nghĩa khả năng của môi trường” (environmental possiblism), để đối lập với “chủ nghĩa tất định của môi trường” (environmental determinism) do Braudel đề xướng trong những thập niên sau(25).

3.5.3. Fernand Braudel (1902-1985): đã xác định một kỷ nguyên thứ hai của trường phái Biên niên và là nhà sử học có đóng góp quan trọng nhất cho phương pháp giải thích lịch sử trong số các sử gia của trường phái Biên niên. Công trình của ông có nhiều ảnh hưởng trong những thập niên 1960 và 1970, đặc biệt với tác phẩm La Méditéranée et le monde méditérané à l’époque de Philippe II (Vùng Địa Trung Hải và thế giới Địa Trung Hải vào thế kỷ XVI trong thời đại vua Philip II của Tây Ban Nha). Đây là quyển sử viết trên một bình diện rộng. Braudel cũng bắt đầu với môi trường địa lý của vùng Địa Trung Hải qua sự mô tả về núi, đồi, đồng bằng, bờ biển, biển… và cách mà chúng đã ảnh hưởng đến lịch sử của vùng này. Phần hai của cuốn sách tập trung vào những cơ cấu kinh tế của vùng. Phần ba chủ yếu là lịch sử xã hội và chính trị của khu vực Địa Trung Hải. Braudel dành phần cuối của quyển sách để phân tích về cuộc chiến tranh diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XVI giữa đế quốc Tây Ban Nha của vua Philip II và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ của người Ottoman. Braudel giải thích rằng kết quả của “cuộc đấu tranh giành quyền thống trị Thế giới Địa Trung Hải” không bắt nguồn từ những sự kiện như trận đánh Lepanto hay hành động của các cá nhân như vua Philip II mà xuất phát từ những cấu trúc lâu dài hơn – địa lý, kinh tế, chính trị-xã hội – mà ông đã phân tích trong những phần trước của quyển sách. Braudel chọn nội dung “đấu tranh giành quyền thống trị thế giới Địa Trung Hải” để nghiên cứu là nhằm giải thích một vấn đề lớn hơn là tiến trình lịch sử của loài người. Và người hùng trong tác phẩm “Vùng Địa Trung Hải…” không phải là vua Philip II mà chính là biển Địa Trung Hải. Qua tác phẩm này, Braudel cho rằng địa lý đóng một vai trò quyết định, nếu không muốn nói là tất định trong lịch sử nhân loại(26).

Trong “Vùng Địa Trung Hải…”, Braudel đã đề xướng một cách viết sử mới bằng cách nhìn xã hội loài người qua 3 lăng kính (hay lớp, hay khung sườn), mà mỗi một lăng kính tương đương với một giải pháp dựa trên một sự liên tục mà ông mô tả như là một giai đoạn hay một khoảng thời gian nào đó (durée). Trong tác phẩm này, “thời gian lịch sử” đã được Braudel chia làm 3 lớp (durée), mỗi một lớp là một phần của cuốn sách . Cách tiếp cận lịch sử của Braudel có thể dùng cách nói hình tượng của một kính hiển vi mà người ta dùng để quan sát những mẫu vật: mỗi “thời gian lịch sử” tương đương với một mức độ khuyếch đại khác nhau mà chúng ta dùng khi quan sát một mẫu vật dưới kính hiển vi. Dưới nhiều sự khuyếch đại khác nhau, nhiều cấu trúc khác nhau sẽ tự lộ diện. Ba durées của Braudel, mỗi durée cung cấp một khung sườn lịch sử khác nhau để nghiên cứu lịch sử, và mỗi khung sườn cho thấy những cấu trúc và những tiến trình mà chúng không hiện ra với 2 khung sườn kia. Ba khung sườn đó là khung sườn địa lý, khung sườn kinh tế và khung sườn xã hội để trả lời những câu hỏi của lịch sử. Braudel cho rằng, với cấu trúc nghiên cứu này, lịch sử trở thành khoa học hơn và bớt chủ quan hơn.

3.5.4. Emmanuel Le Roy Ladurie (1929 -) Nhà sử học thuộc thế hệ thứ ba của trường phái Annales và là sử gia nổi tiếng nhất trong thế hệ này. Vào những năm 1970, Ladurie đã thành lập phong trào Nouvelle Histoire (Lịch sử Mới), còn được gọi là microhistoire (lịch sử vi mô)(27). Ông là người tiên phong và lãnh đạo của phương pháp này tại Pháp. Microhistoire (microhistory) chỉ nghiên cứu một biến cố lịch sử, một địa phương, một gia đình hay một cuộc đời để cho thấy “những cấu trúc” nằm ở bên dưới đời sống của một xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Ladurie đã phục hồi lại khái niệm biến cố như động lực chính trong những phân tích lịch sử của mình.

Điển hình cho thể loại microhistoire này của Ladurie là tác phẩm Montaillou, village Occitan de 1294 à 1324 (Montaillou, ngôi làng miền Nam từ năm 1294 đến năm 1324). Đây là tác phẩm nghiên cứu về một ngôi làng miền núi có tên là Montaillou ở vùng Languedoc thuộc miền Nam nước Pháp vào thế kỷ thứ XIV, là thời kỳ thịnh hành của giáo phái Cathar(28). Ladurie xem đây là một biến cố lịch sử để nghiên cứu. Ngôi làng này là trung tâm của các tín đồ theo giáo phái Cathar. Do đó có nhiều cuộc điều tra do vị Giám mục địa phương, Jacques Fournier, tiến hành và kết quả là nhiều dân làng bị tra hỏi và trừng trị. Ladurie dùng những biên bản ghi lại những buổi thẩm vấn của Giám mục Jacques Fournier làm tài liệu căn bản cho quyển sách của mình. Ông nghiên cứu những ghi chép tỉ mỉ của Giám mục Fournier để phát triển một “nghiên cứu nhiều lớp” (multi-layered study) về đời sống trong một làng nhỏ của Pháp trong một khoảng thời gian 30 năm. Dựa vào những hồ sơ hỏi cung này, Ladurie cung cấp một bức tranh về cả hai thế giới vật chất và tinh thần của những người dân làng. Ladurie xem xét thế giới vật chất phản ánh qua những công việc đồng áng, nhà cửa, những mối quan hệ của dân làng với các làng khác và với cả hai quyền lực thế tục và tu sĩ của làng. Quyền lực của nhà thờ được phản ánh qua đức tin của quần chúng vào Thượng đế, định mệnh, bản năng tình dục, sự chết, đời sống, hôn nhân, pháp thuật, không gian, thời gian và sự cứu rỗi… Dựa trên nguồn tài liệu này, Ladurie đề ra kế hoạch tái thiết làng, xây dựng xã hội và chuẩn mực văn hóa cho làng…(29).

Ladurie cũng còn được biết đến như là một trong những sử gia hiện đại đầu tiên về môi trường (qua nghiên cứu lịch sử khí hậu trong 1.000 năm qua) bởi vì tác phẩm của ông tập trung vào hoạt động của con người trong sự thay đổi của môi trường cũng như những yếu tố của môi trường trong lịch sử nhân loại. Tương tự như Bloch, Ladurie cũng viết về người nông dân và lịch sử vùng nông thôn Pháp vào thời tiền hiện đại. Vì thế, Ladurie còn được xem như một nhà nhân học lịch sử.

Michel Foucault, triết gia, đồng thời cũng là sử gia Pháp, trong một chừng mực nhất định, cũng chịu ảnh hưởng của trường phái Annales. Những công trình của các sử gia thuộc trường phái Biên niên về “não trạng” và lịch sử văn hóa đã dự báo trước một “khúc quanh của ngôn ngữ” (nêu lên tầm quan trọng của ngôn ngữ) mà sử gia Michel Foucault sau này rất nhấn mạnh trong các tác phẩm của ông. Philippe Ariès và Michel Foucault viết sử theo những chủ đề của cuộc sống hằng ngày như sự chết và tình dục. Họ muốn lịch sử được viết về mọi loại chủ đề và mọi câu hỏi liên quan tới con người đều nên được đặt ra.

3.6. Trường phái Whig

Trường phái Whig do sử gia người Anh Herbert Butterfield (1900-1979) sáng lập vào năm 1931, trong một cuốn sách mỏng nhưng có ảnh hưởng rất rộng “Sự giải thích lịch sử của trường phái Whig” (The Whig Interpretation of History). Trường phái này lấy tên từ British Whigs, đảng ủng hộ quyền lực của Nghị viện, chống đối với đảng Tories, đảng ủng hộ cho quyền lực của nhà Vua và giai cấp qúy tộc.

Trường phái này giải thích lịch sử như là một sự tiến bộ hướng về hiện tại, và đặc biệt là hướng về sự thiết lập nền quân chủ lập hiến ở Anh. Trường phái này xem Nghị Viện Anh, nền quân chủ lập hiến Anh như là đỉnh cao của sự phát triển lịch sử chính trị của con người(30).

Thuật ngữ này đã được áp dụng trong những ngành lịch sử không phải là sử Anh (chẳng hạn như lịch sử khoa học) để phê bình bất cứ những loại sử tường thuật nào hướng tới một mục đích hay hướng tới một loại người hùng nào đó.

Luận điểm chính trong tác phẩm The Whig Interpretation of History (Sự giải thích lịch sử của trường phái Whig) là những gương mặt chính trị trong quá khứ vẫn giữ được những lòng tin chính trị hiện thời và lịch sử của nước Anh là một cuộc trường chinh của sự tiến bộ mà kết quả không thể tránh được là nền quân chủ lập hiến Anh. Sự giải thích lịch sử căn bản nhất của trường phái Whig là nghiên cứu quá khứ để liên hệ tới hiện tại(31).
Nhiều sử gia Anh có khuynh hướng viết sử để ủng hộ cho những người Tin Lành và Whig, để ca tụng những người này đã thành công trong những cuộc cách mạng, để nhấn mạnh một số nguyên tắc của tiến bộ trong quá khứ, và để sáng tác ra một câu chuyện mà câu chuyện này là sự xác nhận, nếu không muốn nói là tôn vinh hiện tại. Đối với trường phái Whig, lịch sử là con đường thẳng (tuyến tính), là một tiến trình phát triển, một sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, một sự tìm kiếm những nguồn gốc dẫn tới một kết thúc, và trên tất cả, là một cơ hội cho những phán xét đạo đức.

Một số tác phẩm nổi tiếng thể hiện khuynh hướng Whig là Commentaires on the Laws of England (Phê bình Luật pháp Anh) của Sir William Blackstones, Constitutional History of England (Lịch sử Hiến pháp Anh) của Henry Hallam và rõ nét nhất là tác phẩm History of England from the Accession of James II (Lịch sử của Anh từ sự lên ngôi của James II) của Thomas Babington Macaulay…

Phương pháp giải thích lịch sử của trường phái Whig đã bị các sử gia hiện nay phê bình là mắc phải nhiều hạn chế: Việc nhấn mạnh vào sự tiến bộ chắn chắn sẽ xảy ra đã đưa tới một niềm tin sai lầm rằng sự tiếp nối mang tính tiến bộ của những biến cố trở thành một “đường nhân quả”, cám dỗ sử gia không đi sâu hơn để điều tra những nguyên nhân của sự thay đổi lịch sử. Và việc tập trung vào hiện tại như là mục đích của sự thay đổi lịch sử đưa sử gia tới việc rút ngắn lịch sử, chỉ tuyển chọn những biến cố có mang tính hiện tại. Việc lịch sử Anh mang đậm nét giải thích của trường phái Whig cho thấy rõ về lòng tin đã từng là động cơ thúc đẩy những hành động chính trị ở Anh và một số nước chịu ảnh hưởng của Anh. Như thế, sự giải thích lịch sử của trường phái Whig, cho dù có nhiều khuyết điểm, cũng đã cung cấp một cái nhìn phiến diện vào tư duy của cả những nhà cải cách người Anh và những nhà cách mạng Mỹ(32).

3.7. Trường phái Hậu hiện đại

Được khởi xướng ở phương Tây từ những năm 1960 của thế kỷ XX, chủ nghĩa Hậu hiện đại, hay trào lưu tư tưởng Hậu hiện đại bắt đầu lan tỏa sang rất nhiều lĩnh vực như triết học, văn học, ngôn ngữ học, sử học, kiến trúc và mỹ thuật… Để hiểu được chủ nghĩa Hậu hiện đại thì trước hết phải hiểu thế nào là chủ nghĩa hiện đại (Modernism). Chủ nghĩa hiện đại bắt nguồn từ tinh thần duy lý hay sự đề cao lý trí (raison) của triết gia Pháp, Réné Décartes (1569-1650). Tinh thần duy lý này đã mở đầu cho thời kỳ Ánh sáng (thế kỷ XVII và XVIII), sau đó đã dẫn tới cuộc cách mạng công nghiệp ở châu Âu (cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX), và đã làm nên nền văn minh Tây phương hiện tại. Chủ nghĩa hiện đại đề cao tính duy lý, tính khách quan, kiến thức khoa học, kỹ thuật và sự tiến bộ cũng như những tư tưởng bắt nguồn từ thời kỳ Ánh sáng.

Phong trào Hậu hiện đại do những triết gia đồng thời cũng là những nhà phê bình văn học, lý thuyết văn học và sử gia của Pháp như Roland Barthes (1915-1980), Michel Foucault (1926-1984), Jean-FranÇois Lyotard (1924-1998), Jacques Derrida (1930-2004), Jean Baudrillard (1929-2007), Julia Kristeva (1941- )…(33) khởi xướng. Chủ nghĩa Hậu hiện đại là một trào lưu tư tưởng chống lại chủ nghĩa hiện đại (anti- Modernism), tức là chống lại thời kỳ Ánh Sáng hay thời đại Lý Trí, thời kỳ mà những ý tưởng của bất cứ một lý thuyết nào đó cũng phải được sắp xếp theo những quy luật nhất định. Còn với khoa học thì đó là thời kỳ của những lý thuyết thống nhất tất cả, trình bày tất cả… Trong bất cứ một nghiên cứu nào mang tinh thần hiện đại, người ta cũng có thể tìm thấy cả phương Đông, phương Tây, cổ điển lẫn hiện đại ở đó… Các nhà Hậu hiện đại cho rằng thế giới quá phức tạp để có thể biết được mọi thứ, tất cả chỉ là một sự đoán định tình cờ và không theo một quy luật nào cả. Cuộc cách mạng lớn nhất của chủ nghĩa Hậu hiện đại là chống lại quan điểm “bất cứ cái gì cũng có một nền tảng” và chống lại tinh thần của chủ nghĩa hiện đại, tức đả phá sự thống trị của lý trí trong mọi lĩnh vực của đời sống… Nói một cách thật ngắn gọn, chủ nghĩa Hậu hiện đại là phản ứng quyết liệt chống lại chủ nghĩa duy nền tảng (anti-foundationalism)(34) hay tinh thần duy nền tảng. Lý thuyết hậu hiện đại là lý thuyết phá hủy những chân lý nền tảng, tấn công các phương pháp truyền thống (trong triết học, văn học, ngôn ngữ học, sử học, hội hoạ, kiến trúc…), hay nói đúng hơn là lý thuyết chống lại các lý thuyết của các trường phái đi trước đó(33).

Trong lĩnh vực sử học, sử gia Pháp Michel Foucault đánh đổ quan niệm lịch sử phải như một con đường tuyến tính, nghĩa là một thứ biên niên sử theo lịch đại, bao gồm các sự kiện tất yếu, nhằm thuật lại một câu chuyện có nghĩa… Các sử gia chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hậu hiện đại đả phá quan niệm cho rằng lịch sử được cấu trúc theo các lý thuyết lớn, theo dạng Narrative của các trường phái đi trước đó. Họ cho rằng chỉ có lịch sử địa phương (theo nghĩa một vấn đề lịch sử của một địa phương) (monograph) hay chuyên luận về những vấn đề lịch sử cụ thể… là vẽ lại rõ và chính xác những chi tiết xảy ra tại một vùng nào đó, trong một khoảng thời gian nào đó của quá khứ. Ngoài ra, không có một lý thuyết chung áp dụng cho tất cả mọi nơi, mọi thời kỳ.

Phần lớn các tác phẩm sử học được viết trong những thập niên gần đây ở châu Âu (thể hiện qua microhistoire), Úc (Li Tana, David Marr, Anthony Reid…), Bắc Mỹ, đặc biệt là chùm sử gia trẻ sau này ở Hoa Kỳ chuyên về lịch sử Việt Nam như Shawn McHale, Christoph Giebel, Peter Zinoman, Christian Appy…, chịu nhiều ảnh hưởng của khuynh hướng Hậu hiện đại, nghĩa là, họ không nghiên cứu lịch sử trong mô hình truyền thống cũ với những chủ đề lịch sử to rộng và bao quát, nặng về trình bày tư liệu và mô tả. Họ chọn những lĩnh vực nghiên cứu mới bằng những phương pháp mới như phỏng vấn, đi điền dã để viết những chuyên luận (monograph): tập trung phân tích sâu một sự kiện lịch sử, hay nối kết hai hay vài sự kiện lịch sử của một vùng nào đó và đưa ra một giải thích mới về những sự kiện này. Đôi khi họ dựa trên lý thuyết của một hay vài triết gia Hậu hiện đại để liên kết với một sự kiện lịch sử hay một giai đoạn lịch sử nào đó và đưa ra một kiến giải mới, khác hẳn với những giải thích trước đó. Và tư liệu họ dùng thường là những tài liệu ít được hay chưa được sử dụng (ở những lưu trữ) trong các nghiên cứu trước đây và những “tư liệu” mới từ phỏng vấn. Ưu điểm lớn nhất trong tác phẩm biên khảo của các nhà sử học Mỹ vẫn là phần sưu khảo và chú thích nguồn tư liệu hết sức cẩn trọng.

– Christian Appy (Giáo sư Sử học, Đại học MIT) dùng phương pháp Oral History để viết lại lịch sử chiến tranh Việt Nam qua tác phẩm, Patriots. The Vietnam war remembered from all sides (Những người yêu nước. Cuộc chiến tranh Việt Nam được nhớ lại từ hai phía). Tác giả phỏng vấn phần lớn các nhân vật tham chiến cả hai phía, từ những nhà làm chính sách, những nhân vật chính trị cao cấp, các tướng lĩnh, cho tới những cô gái “xẻ rừng Trường Sơn”…, những người lính Mỹ đã từng chiến đấu trong rừng sâu ở Việt Nam, và vô số những nhân vật khác… để nghe quan điểm và phản ứng của họ về cuộc chiến tranh này. Theo từng chủ đề, tác giả trình bày những lời kể sống động của hơn 135 nhân vật tham chiến(36) với những kinh nghiệm hãi hùng của chiến tranh, những hành động dũng cảm, những câu chuyện đầy cảm động… trong toàn bộ lịch sử của cuộc chiến, từ nguồn gốc đen tối của nó ở những năm 1940 cho tới sự sụp đổ hỗn loạn của Sài Gòn vào năm 1975. Những câu chuyện kể này, được sắp xếp theo từng cặp (Mỹ-Việt) về cùng một chủ đề, đã biến tác phẩm này thành một sử thoại. Chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hậu hiện đại, tác giả không đưa ra nhận định (đúng/sai) để bênh vực hay lên án phía nào, tác giả để cho những nhân vật lịch sử “nói”, còn phần cảm nhận và bình luận về cuộc chiến là ở từng người đọc(37). Qua Patriots…, điều gây ấn tượng nhất cho độc giả nước ngoài đó là sự dũng cảm phi thường của những thanh niên Việt Nam mà không một quyển sách giáo khoa nào về lịch sử Việt Nam hay một tác phẩm văn học nào viết về chiến tranh Việt Nam trước đây đã diễn tả được. Appy cho rằng lối tiếp cận lịch sử này sẽ mang lại nhiều sự giải thích lịch sử trung thực hơn là tiếp cận với những tài liệu viết lại (không phải từ những người tham dự) về cuộc chiến tranh này. Theo đánh giá của công chúng Mỹ và những học giả lớn nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam, tác phẩm này được xem như một tài liệu lịch sử cuối cùng phục vụ cho công luận(38) từ những người đã chiến đấu công khai hay thầm lặng cho cuộc chiến trong vòng 20 hay 30 năm. Đây là một công trình oral history hoành tráng với một nỗ lực to lớn để nắm bắt được những tiếng nói đã từ lâu không được nghe và gìn giữ được những tiếng nói đó không bị mai một với các thế hệ tương lai.

– Peter Zinoman (Giáo sư Sử học, Đại học UC Berkeley) trong tác phẩm The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940 (Nhà tù thực dân: lịch sử của việc ở tù ở Việt Nam, 1862-1940) chịu ảnh hưởng tư tưởng của Michel Foucault qua quyển sách mà sử gia này viết về chế độ nhà tù ở Pháp, Surveiller et punir: Naissance de la prison (Giám sát và trừng phạt: Sự ra đời của nhà tù) (1975). Zinoman dùng những ý tưởng của Foucault để trình bày lý thuyết về nguồn gốc của kỷ luật nhà tù, mô tả hệ thống nhà tù, chế độ giám sát và hình phạt đối với tù nhân… Trong tác phẩm này, tác giả tập trung nghiên cứu hệ thống nhà tù của Pháp ở Đông Dương và vai trò của nó trong việc phát triển ý thức chính trị hiện đại nơi người Việt Nam.

Chỉ đọc nhật ký trong tù, những bài đăng trên báo của những người ở trong tù và hàng loạt hồ sơ lưu trữ của các tù nhân, Zinoman nghiên cứu một cách sâu sắc và độc đáo hệ thống và chế độ nhà tù thực dân ở Việt Nam, giới thiệu vô số thông tin mới lạ có ý nghĩa để làm thành tài liệu của những nhà tù của Pháp ở Đông Dương, nơi, thay vì dập tắt sự bất mãn về chính trị và duy trì trật tự thì chính quyền thuộc địa đã biến những nhà tù này trở thành những trường học giúp phát triển thêm chủ nghĩa quốc gia và sự giáo dục cách mạng cho tù nhân(39).

– Shawn McHale (Giáo sư Sử học, Đại học Washington) đã sử dụng thuật ngữ power (quyền lực)(40) của Michel Foucault và khái niệm public sphere (không gian công cộng) của Jurgen Habermas(41) để liên kết sự xuất hiện của “văn hóa in ấn” (print culture)(42) với sự trỗi dậy của một “public sphere” ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc qua tác phẩm, Print and Power: Buddhism, Confucianism, and Communism in the Making of Modern Vietnam (In ấn và Quyền lực: Phật giáo, Khổng giáo và Cộng sản trong việc hình thành nước Việt Nam Hiện đại). Trong tác phẩm này, McHale nhấn mạnh đến quyền lực to lớn của các loại “văn hóa in ấn” trong những năm 1920 đến 1945 đối với không gian công cộng tại Việt Nam.

Sử dụng một khối lượng tài liệu khổng lồ từ các lưu trữ và thư viện ở Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ mà phần lớn trước đây chưa được khai thác, tác giả cho thấy việc tiếp cận của quần chúng với những tác phẩm in ấn đã tăng cao một cách bất ngờ giữa những năm 1920 và 1945. Qua tác phẩm này McHale đã giải thích chính từ những nguồn văn hóa in ấn này – chứ không phải từ sự quảng bá có mục đích các hệ tư tưởng đương thời của chính quyền thuộc địa hay của các tổ chức chính trị – đã biến đổi đời sống tinh thần và hình thành ý thức hiện đại của người Việt Nam, từ đó giúp cho chủ nghĩa quốc gia cách mạng chống thực dân phát triển(43).

– Huệ Tâm Hồ Tài (Giáo sư Sử học, Đại học Harvard) tập trung vào yếu tố tôn giáo và chính trị trong lịch sử Việt Nam hiện đại qua tác phẩm, Millenarianism and Peasant Politics in Vietnam (Mạt Pháp và đời sống chính trị của nông dân ở Việt Nam). Mạt Pháp (Millenarianism) là lòng tin vào sự giáng trần của một vị Phật tương lai (Di Lặc) sẽ xóa sổ tất cả và xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Huệ Tâm giải thích lòng tin vào thời Mạt Pháp đã giúp cho nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là ở vùng biên giới, một giải pháp toàn diện để đương đầu với những khó khăn ở khu vực này vào thế kỷ XIX. Tác giả cho thấy ước mơ về một thế giới hoàn hảo đã giúp cho giáo phái Hòa Hảo có được một khối lượng tín đồ nông dân to lớn. Tác động lớn nhất của Mạt Pháp đối với đời sống chính trị và tôn giáo của nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là những đồ đệ của giáo phái này đấu tranh cho “một thế giới tốt đẹp hơn” bằng lòng mộ đạo và bạo lực. Theo giải thích của Giáo sư Huệ Tâm, trong bối cảnh chống thực dân Pháp, khái niệm Mạt Pháp rõ ràng mang những hàm súc chính trị tích cực và do đó đã được giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương(44) và sau này là Phật giáo Hòa Hảo sử dụng một cách khéo léo trong việc giáo hóa tín đồ(45).

Như các ngành khoa học khác, Lịch sử và Phương pháp lịch sử không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của những nhà nghiên cứu đơn độc, không phải là những “định luật” “bất di bất dịch”, mà là những nỗ lực suy tư không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ kế tiếp nhau, là một cuộc đối thoại có thể tái hiện lại được, trong đó mỗi quan điểm có thể được hiểu như lời giải đáp đối với các câu hỏi của các thế hệ đi trước và gợi mở những vấn đề đáng suy nghĩ cho những thế hệ tiếp theo…

Qua bức tranh chung phác thảo về sự ra đời và phát triển của sử học và phương pháp sử học của phương Tây từ thời cổ đại cho đến ngày nay, chúng ta có thể thấy được tư duy lịch sử mang tính phê phán đầu tiên ra đời ở Hy Lạp. Đó là sự phát triển đã để lại ảnh hưởng quan trọng đối với việc viết sử ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và Bắc Mỹ. Chính quan niệm về lịch sử của sử gia áp đặt lên quá trình viết sử. Quan niệm của họ đã ảnh hưởng đến phương pháp, và từ đó cũng sẽ ảnh hưởng đến sản phẩm làm ra, tức tác phẩm sử học.

Qua bài viết này, chúng tôi cố gắng trình bày một cách ngắn gọn những vấn đề cơ bản nhất của sử học và những phương pháp căn bản nhất của từng trường phái giải thích lịch sử cũng như của từng sử gia trong bối cảnh thời đại của họ. Đó là những phương pháp đã làm họ nổi tiếng…

Sự đa dạng, phong phú, của tri thức nhân loại không làm cho chúng ta “chóng mặt”, mà trái lại, kích thích lòng ham muốn hiểu biết và khơi gợi cho chúng ta đi tới những chân trời mới mẻ, những nỗ lực tìm tòi sâu sắc hơn, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày càng sôi động hiện nay. 

 


 

CHÚ THÍCH

(1) Donna T. McCaffrey. 2004. Historical Methodology. Giáo trình cho sinh viên cao học Sử, Đại Học Providence, Rhode Island. Hoa Kỳ.
(2) Wikipedia, the free encyclopedia.
(3) Sue Peabody. 2006. Phó Giáo Sư. Đại Học Washington State, Vancouver, Hoa Kỳ: “History is a story we tell ourselves who we are”.
(4) Donna T. McCaffrey. Như trên
Gilbert J.Garraghan, tr. 11-17.
(5) Wikipedia, the free encyclopedia.
(6) Historical Methodology II. 1999. Hist. 224: Seminar cho sinh viên cao học Sử, Department of Comparative History, Brandeis University. Hoa Kỳ.
Charles Busha and Stephen Harter. 1980. Research Methods in Librarianship: techniques and Interpretation. New York: Academic Press.
The Historical Approach to Research. Địa chỉ trên Internet: http://www.ischool.utexas.edu/~palmq…/courses/historical.htm. p.f
(7) Judith Moyer (Professor of History- University of New Hampshire). 1999 (revised Essay). Step-by-Step Guide to Oral History. Địa chỉ trên Internet: http:// dohistory.org/ on_your_own/ toolkit/ oralHistory.html, p.2
(8) Judith Moyer, tr.3.
(9) Richad Drew. 2003. Histoty Teachers’ Discussion Forum. United Kingdom: School History, tr. 2.
(10) Tỳ Sa môn nguyên thủy là một vị thần Ấn Độ nhưng sau đó tục thờ cúng vị thần này được lan truyền sang Trung Hoa, Nhật Bản và cả Việt Nam (Nguyễn Tự Cường).
(11) Như Hạnh (Nguyễn Tự Cường). 1995. Tỳ Sa môn Thiên Vương (Vaisravana), Sóc Thiên Vương và Phù Đổng Thiên Vương. Trong: Tôn giáo Việt Nam thời Trung Cổ. Bài viết do tác giả tặng, trang 6 (Bài này đã đăng trong Tạp chí Triết, xuất bản ở Mỹ).
(12) Herodotus of Halicarnassus. The Histories. Bản dich sang tiếng Anh của Robin Waterfield 1998. Oxford: Oxford University Press.
(13) Thucydides, History of the Peloponesian War. Bản dịch sang tiếng Anh của Rex Warner. 1972. England: Penguin Classsic Books.
(14) Polybius. The Histories or the Rise of the Roman Empire from 220 to146 BC. Bản dịch sang tiếng Anh của Ian Scott-Kilvert. 1979. England: Penguin Classic Books.
(15) Gilbert J.Garraghan, tr. 21-26.
(16) Theodore von Laue.1950. Leopold von Ranke, The Formative Years. New Jersey: Princeton University Press, tr. 38-43: “Lectures to King Maximilian of Bavaria” (1854).
(17) Leopold von Ranke. 1824. Geschichte der romanischen und germanischen VƯlker von 1494 bis 1514 / History of the Latin and Teutonic Nations from 1494 to 1514. Bản dịch tiếng Anh của Phillip A. Ashworth. 2004. Ontario: Kessinger Publishing Company và Leopold von Ranke, Wikipedia, the free encyclopedia.
(18) Từ điển triết học. 1986. Moscow: Nxb. Tiến bộ (Bản dịch sang tiếng Việt của Nxb. Sự Thật), tr. 145-147: Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử. Wikipedia, the free encyclopedia, Historical materialism, tr. 1-2.
(19) Karl Marx. 1869. Der 18te (achtzehnte) Brumaire des Louis Napoleon / The Eighteenth Brumaire of Louis- Napoléon (ấn bản lần thứ hai bằng tiếng Đức). Bản dịch sang tiếng Anh của Saul Padover. 1937. Moscow: Nxb. Tiến bộ, Lời mở đầu.
(20) Xin đọc thêm: Văn Tạo. 1995. Phương pháp Lịch sử và Phương pháp logic. Hà Nội: Viện Sử học Việt Nam.
(21) Sau này Tạp chí đổi tên thành Annales. Économies, socíetés, civilizations. Năm 1994, Tạp chí này đổi tên lại một lần nữa là Annales. Histoire, Sciences Sociales.
(22) Tạp chí Xã Hội học do Émile Durkheim thành lập năm 1898. Tạp chí này được xuất bản hằng năm cho tới năm 1925, và trở lại xuất bản với tựa đề Annales sociologique giữa năm 1934 và 1942. Sau chiến tranh Thế giới II, nó trở lại xuất bản như L’Année Sociologique và tiếp tục xuất bản cho đến ngày nay. Durkheim sáng lập tạp chí này như một phương tiện để xuất bản những nghiên cứu của ông (và của học trò của ông) và những học giả khác làm việc trên mô hình xã hội học mới của ông. Do đó, thuật ngữ này cũng được dùng để liên hệ tới một phương pháp mới của nhóm này và những công trình mà họ xuất bản trong 2 thập niên đầu của thế kỷ XX.
(23) Peter Burke. 1991. The French Historical Revolution: The Annales School, 1929-1989. California: Standford University Press.
(24) Marc Bloch. 1961. Les rois thaumaturges: étude sur le caractère surnaturel attribué à la puissance royale particulièrement en France et en Angleterre. Paris: Armand Colin.
Jacques Le Goff. 1988. La nouvelle histoire. Paris: Retz CEPL, tr. 35-63.
David Moon, tr. 2, 3.
(25) Lucien Febvre. 1949. La terre et l’évolution humaine. Introduction géographique à l’histoire. Paris : Albin Michel.
David Moon, tr. 2,3.
(26) Fernand Braudel. 1949. La Méditéranée et le monde méditérané à l’époque de Philippe II. Paris: Armand Colin.
David Moon, tr. 3.
(27) Microhistoire là một phương pháp mới để nghiên cứu lịch sử, đặc biệt trong ngành sử học hiện đại. Ở Âu châu, “lịch sử vi mô” xuất phát từ Ý, do hai sử gia Giovanni Levi và Carlo Ginzburg sáng lập và phát triển vào đầu những năm 1970, quy tụ chung quanh tạp chí Quaderni Storici (Historical Notebooks).
(28) Một giáo phái xuất hiện ở vùng Languedoc vào thế kỷ thứ XI, nở rộ vào thế kỷ XII, XIII và bị nhà thờ Cơ Đốc giáo La Mã xem là dị giáo.
(29) Emmanuel Le Roy Ladurie. 1975. Montaillou, village Occitan de 1294 à 1324. Paris: Gallimard.
(30) Herbert Butterfield. 1965. The Whig Interpretation of History. New York: W-W-Norton & Company, tr. 9-35: “The Underlying Assumption”.
(31) Như trên.
(32) Gertrude Himmelfard, “Whigged Out”, đăng trong The New Republic (Tạp chí xuất bản tại Hoa Kỳ). 2004, số ngày 10 tháng 11.
(33) Roland Barthes (1915-1980): nhà phê bình văn học, lý thuyết gia về văn học và xã hội đồng thời cũng là triết gia Pháp.
Michel Foucault (1926-1984): triết gia đồng thời là sử gia Pháp.
Jean-Francois Lyotard (1924-1998): triết gia, nhà phê bình văn học và nhà phân tâm học Pháp.
Jacques Derrida (1930-2004): nhà phê bình văn học và triết gia Pháp.
Jean Baudrillard (1929-2007): triết gia đồng thời là nhà lý thuyết văn hóa Pháp.
Julia Kristeva (1941 – ): triết gia người Bulgarie gốc Pháp, đồng thời cũng là nhà phê bình văn học và là nhà phân tâm học.
(34) Tư tưởng “anti-foundationalism” bắt nguồn từ triết gia Đức Martin Heidegger (1889-1976) vào những năm 1930 và triết gia Áo Ludwig Wittgenstein (1889-1951) vào những năm 1940.
(35) Paul Newall. 2005. Postmodernism. Địa chỉ Internet: http://www.galilean-library.org/int.
(36) Tác giả đã bỏ ra 5 năm để đi khắp nước Mỹ và Việt Nam để phỏng vấn trên 350 nhân vật cả 2 phía và đưa vào tác phẩm này hơn một nửa số lượng các câu chuyện mà tác giả ghi lại được.
(37) Christian Appy. 2004. Patriots. The Vietnam war remembered from all sides. New York : Viking Penguin.
(38) Vì phần lớn những người tham gia chiến tranh ở cả hai phía đều đã già và một số đã chết.
(39) Peter Zinoman. 2001. The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940. California: The University of California Press.
(40) Foucault nghiên cứu power (quyền lực) từ một góc độ khác thường là knowledge (tri thức), theo đó, quyền lực là những hệ thống tư tưởng đã trở nên nắm quyền kiểm soát, nghĩa là những hệ thống tư tưởng được hợp thức hóa và thể chế hóa về mặt xã hội (Foucault: Power and Knowledge).
(41) Jurgen Habermas (1929- ): triết gia và đồng thời cũng là nhà xã hội học Đức nổi tiếng với khái niệm public sphere (không gian công cộng) mà ông đưa ra dựa trên lý thuyết Hành động giao tiếp của mình. Trong tác phẩm Civil society and the political public sphere, Habermas định nghĩa “public sphere” là một “mạng lưới để trao đổi thông tin và quan điểm”mà cuối cùng biến chúng thành những ý kiến công cộng. Sau đó trong tác phẩm The Structural Transformation of the Public Sphere – An Inquiries into a Categorie of Bourgeois Society, Habermas định nghĩa “public sphere” là những câu chuyện đối thoại diễn ra trong những quán cà phê ở Pháp vào thế kỷ XVIII. Chính ở “public sphere” này những cuộc tranh luận lý lẽ về những vấn đề có tầm chính trị quan trọng đã được đề cập. Nhờ sự phát triển của văn hóa tư sản tập trung trong những quán cà phê, trong những “phòng khách” (salons) để nói chuyện văn chương và trí thức cùng những phương tiện truyền thông của in ấn đã giúp cho nền dân chủ nghị viện được hình thành và nhờ đó đã thúc đẩy những lý tưởng của thời kỳ Ánh sáng về bình đẳng, nhân quyền và công lý được thực hiện.
(42) “Văn hóa in ấn” (print culture) bao gồm tiểu thuyết, sách, báo, tạp chí đủ các loại, truyện cười, truyện ngụ ngôn, những “sách báo lá cải”, những quyển sách nhỏ về pháp thuật… và vô số các thể loại in ấn khác…
(43) Shawn McHale. 2004. Print and Power: Buddhism, Confucianism, and Communism in the Making of Modern Vietnam. Honolulu: University of Hawaii Press.
(44) Tư tưởng chính làm nòng cốt cho giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương vẫn xoay quanh những chủ đề cơ cấu: thế mạt luận, mạt pháp, nhập thế cứu đời, thiết hội Long Hoa cho những người được tuyển chọn… Di Lặc Tôn Kinh là kinh điển chính của Bửu Sơn Kỳ Hương và của cả Phật giáo Hòa Hảo.
(45) Hue Tam Ho Tai. 1983. Millenarianism and Peasant Politics in Vietnam. Cambrige: Harvard University Press.


* Viện Khoa học xã hội TPHCM
Nguồn bài: Tạp chí Khoa học xã hội (TPHCM), số 9+10/2004

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s