Phiên trấn Thuận Thành trong cuộc xung đột Nguyễn- Tây Sơn (1771- 1802)

dd

Đổng Thành Danh

Trấn Thuận Thành là một đơn vị hành chính đặc biệt, được hình thành dưới thời chúa Nguyễn (1797), bao gồm các khu vực định cư của các cộng đồng dân tộc bản địa (Chăm, Raglai, Churu, K’ho…) nằm rải rác, xen kẽ với các khu cư trú của người Việt thuộc địa phận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông hiện nay. Trấn Thuận Thành nằm dưới sự bảo hộ của xứ Đàng Trong, được hưởng một quy chế tự trị đặc thù với một nền hành chính riêng do một thủ lĩnh người bản xứ đứng đầu, với một thể chế pháp luật, thuế khóa, quân đội riêng….[1]. Trong cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, trấn Thuận Thành trở thành một vùng đệm để hai thế lực tranh giành sự ảnh hưởng kéo theo sự phân hóa trong chính nội bộ các lực lượng thống trị ở phiên trấn này.  

  1. Trấn Thuận Thành quy thuận Tây Sơn

Bước vào giai đoạn hậu bán thế kỷ thứ XVIII, lịch sử Việt Nam nói chung và trấn Thuận Thành nói riêng bước vào một khúc quanh mới. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ năm 1771, kéo theo đó không lâu là sự sụp đổ của cả một gia tộc của chúa Nguyễn đã cầm quyền ở xứ Đàng Trong trong suốt hơn 200 năm qua, chì còn để lại một hậu duệ là Nguyễn Ánh đang lưu vong ngày đêm nuôi giất mộng dựng lại cơ đồ họ Nguyễn[2]. Trấn Thuận Thành thời bấy giờ vẫn là một khu vực có một quy chế tự trị riêng dưới sự lệ thuộc xứ Đàng Trong, các Thuận Thành vương luôn luôn quy thuận và chấp hành nghĩa vụ thuế khóa với các chúa Nguyễn, chúa Nguyễn cũng ban nhiều đặc ân cho cư dân trấn Thuận Thành, tôn trọng phong tục, tập quán của các tộc người tại đây. Cư dân Thuận Thành và cư dân người Việt thuộc phủ Bình Thuận sống xen cư với nhau, bao đời thuận hòa[3].  

Cuộc nổi dậy của nhà Tây Sơn làm thay đổi căn bản tình hình của trấn Thuận Thành và phủ Bình Thuận, sau khi lật đổ chúa Nguyễn và giành quyền kiểm soát hầu hết lãnh thổ xứ Đàng Trong, trấn Thuận Thành nằm dưới sự kiểm soát của vương triều Tây Sơn do Nguyễn Nhạc làm Hoàng đế. Chính từ đây, Trấn Thuận Thành bị kéo vào cuộc xung đột giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Ánh, trở thành vùng tranh giành ảnh hưởng của hai thế lực này. Chính trong hoàn cảnh này, trong lòng trấn Thuận Thành cũng hình thành nên cục diện đối đầu giữa phe thân Tây Sơn hoặc phe theo Nguyễn Ánh.

Theo Đại Nam liệt truyện, vào năm Nhâm Dần, tức là khoảng năm 1783, một vị Cai cơ tên là Tá cầm quyền ở trấn Thuận Thành, khi quân Tây Sơn đưa quân vào chiếm Bình Thuận thì Tá ra hàng và quy thuận theo Tây Sơn[4]. Theo Biên niên sử Chăm, từ năm 1780, vua Champa là Po Tisuntiraydaparan (triều vua thứ 35 trong danh sách), vị vua này có thể chính là Cai cơ Tá mà Liệt truyện nói đến[5]. Nhưng thời điểm chấm dứt triều vua này theo biên niên Chăm là năm 1781, chứ không phải là năm 1783 như Liệt truyện ghi nhận (?)[6]. Không hiểu vì lý do gì mà Cai cơ Tá lại bỏ chức vị lại để đi lánh nạn vào năm 1781[7].

Sau khi Cai cơ Tá trốn khỏi trấn Thuận Thành, cũng trong năm năm 1783, Biên niên sử Champa ghi nhận về một vị vua mới lên ngôi là Po Cei Brei (triều vua thứ 36),. Biên niên sử Chăm cũng ghi nhận Po Cei Brei là con của Po Tisuntiraydapaghoh (triều vua thứ 34), do Tây Sơn tấn phong nhưng sau đó lại bỏ theo Nguyễn Ánh, chống Tây Sơn (khoảng năm 1786)[8]. Nhưng về sau vị vua này lại không quy thuận Nguyễn Ánh, ông phản kháng và sau đó phải lưu vong sang Campuchia trong những năm 1795 – 1796[9]. Chính vì vậy, ngay khi Po Cei Brei rời chức vị, Nguyễn Nhạc tấn phong lại cho Po Tisuntiraydaparan (Cai cơ Tá) làm Chưởng cơ, từ đó ông trở thành thành viên trong phong trào Tây Sơn chống lại Nguyễn Ánh[10].

Các nguồn sử liệu của nhà Nguyễn cũng ghi nhận về một viên quan dưới quyền của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến chống lại Tây Sơn ở Bình Thuận là Nguyễn Văn Chiêu (con của một người tên Thắng là Phiên vương Thuận Thành trước kia), nhưng sau đó có tội và bị bãi chức[11]. Chính vì những tương đồng này, chúng tôi cho rằng Po Cei Brei rất có thể chính là Nguyễn Văn Chiêu. Cũng theo Biên niên sử Chăm, từ năm 1786, khi Po Cei Brei lưu vong và theo Nguyễn Ánh, nhà Tây Sơn lại tấn phong Po Tisuntiraydaparan, tức là Cai cơ Tá lên cầm quyền ở trấn Thuận Thành, từ đó Tá trở thành thế lực thân Tây Sơn và đối đầu với Nguyễn Ánh[12].

  1. Sự phân liệt trong nội bộ trấn Thuận Thành

Trong lúc phong trào Tây Sơn đang mở rộng lực lượng ra xứ Đàng Ngoài, nội bộ anh em nhà Tây Sơn bắt đầu lục đục và phân hóa sâu sắc: Nguyễn Huệ kiểm soát phía Bắc, Nguyễn Nhạc làm vua ở Quy Nhơn, giao cho Nguyễn Lữ quản lý ở miền Nam. Chính lúc này, thế lực của họ Nguyễn do Nguyễn Ánh đứng đầu bắt đầu khôi phục lại cơ đồ và dần dần xâm nhập, kiểm soát vùng đất Gia Định, từ khi lên nắm quyền ở Gia Định với danh xưng Đại nguyên súy Nhiếp quốc chính (1778), ông bắt đầu thiết lập nền hành chính của mình ở miền Nam, hầu làm hậu cứ lâu dài để chống Tây Sơn. Nguyễn Ánh đặt các dinh như Trấn Biên, Long Hồ, Phiên Trấn[13]… Lúc này đây, Nguyễn Ánh rất muốn giành quyền kiểm soát ở Bình Thuận (bao gồm cả trấn Thuận Thành), chính vì vậy suốt một thời gian dài nơi đây trở thành vùng tranh giành, giằng co tầm ảnh hưởng của Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

Năm 1790, Nguyễn Ánh đem quân đánh Bình Thuận, kiểm soát vùng đất phía Nam của Bình Thuận và trấn Thuận Thành, Nguyễn Văn Chiêu (tức Po Cei Brei, lúc bấy giờ đang lẩn trốn ở miền núi) ngã theo phe Nguyễn Ánh, được phong chức Chưởng cơ[14]. Trong khi đó quân Tây Sơn và Cai cơ Tá vẫn kiểm soát phía Bắc phủ Bình Thuận[15]. Như vậy, cho đến trước năm 1793, Bình Thuận, với địa thế nằm giữa Gia Định và Diên Khánh (Khánh Hòa) đã trở thành vùng tranh giành ảnh hưởng giữa Nguyễn Ánh và nhà Tây Sơn. Như một tất yếu, trấn Thuận Thành, nằm xen kẽ và rải rác với Bình Thuận, cũng trở thành chiến trường giữa hai phe đối địch: Nguyễn Văn Chiêu theo Nguyễn Ánh; Cai cơ Tá theo Tây Sơn.  

Năm 1793, Nguyễn Ánh cho quân chiếm phía Bắc Bình Thuận, Chưởng cơ Nguyễn Văn Hào (thay thế Nguyễn Văn Chiêu) đem quân đuổi bắt và giết chết Cai cơ Tá. Sau đó, Nguyễn Ánh bỏ hiệu Thuận Thành vương, chỉ phong cho Nguyễn Văn Hào là Trấn trưởng hay Chánh trấn, Nguyễn Văn Chấn là Phó trấn[16]. Theo Biên niên sử Chăm, Nguyễn Văn Hào chính là Po Ladhunpaghuh (triều vua thứ 37) vị vua lên ngôi năm 1793 và trị vì đến năm 1799[17].

Trong những năm 1796 – 1797, tình hình chính trị ở trấn Thuận Thành và Bình Thuận lại càng trở nên phức tạp với sự xuất hiện của một diễn biến mới, cuộc nổi dậy của Tuen Phaow (Tuần phủ?) mà các tư liệu dân gian của người Chăm thường ghi nhận. Tuen Phaow là một vị thủ lĩnh đến từ Mã Lai, ông tập hợp lực lượng hoạt động ở khu vực biên giới Cambodia, rồi kéo sang khu vực miền núi Thuận Thành – Bình Thuận để lập căn cứ huy động các lực lượng người Chăm, Churu, Raglai… tham gia phong trào. Năm 1796, ông tấn công Phan Rí, sau đó lại tấn công vào Phan Rang nhưng không thành, lực lượng của ông sau đó cũng bị đẩy lùi về hậu cứ ở miền cao, sang năm sau  thì phong trào hoàn toàn thất bại[18]

Sau đó không lâu, năm 1798, Nguyễn Văn Hào xin Nguyễn Ánh được từ chức vì sức khỏe đã yếu và được chấp nhận, sang năm sau thì ông qua đời[19]. Cũng trong khoảng thời gian này, Nguyễn Ánh bổ nhiệm Phó vương Nguyễn Văn Chấn vào cương vị đứng đầu trấn Thuận Thành[20], tức là quốc vương Po Saong Nyung Ceng mà Biên niên sử Chăm nhắc đến[21].Giai đoạn cầm quyền của Nguyễn Văn Chấn cũng là thời điểm bước vào hồi kết của cuộc xung đột giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn với chiến thắng thuộc về Nguyễn Ánh (1802). 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đổng Thành Danh (2015), “Trấn Thuận Thành thời chúa Nguyễn”, Tạp chí Xưa và Nay, số 465, tháng 11 (2015), tr. 21 – 24.
  2. Đổng Thành Danh (2016), “Bàn thêm về phiên quốc Panduranga hay trấn Thuận Thành (thế kỷ XVII – XIX)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (485), tr. 71 – 78. 
  3. Mak Phoeun (2004), “Po Cei Brei sang Kampuchia cầu cứu viện trợ vào năm 1795 – 1796Champaka 4, IOC – Champa, San Jose.
  4. Nicolas Weber (2004), “Cuộc khởi nghĩa Tuen Phaow vào năm 1796 – 1797, trong Champaka 4, IOC, San Jose.
  5. Lương Ninh (2006), Vương quốc Champa, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  6. P-B. Lafont (2011), Vương quốc Champa: địa dư – dân cư – lịch sử, IOC – Champa, San Jose.
  7. Po Dharma (1978), Chroniques du Panduranga, Thèse de l’EPHE, IV°section, Paris.
  8. Po Dharma (1983), “ A propos de l’exil d’un roi cam au Cambodge”, in Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Tome 72, pp. 253 – 266.
  9. Po Dharma (1987), Chroniques du Panduranga, Thèse de l’EPHE, IV°section, Paris.
  10. Po Dharma (2012), Vương quốc Champa: lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC – Champa, San Jose.
  11. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam Thực Lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  12. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Liệt Truyện, tập 2: chính biên – sơ tập, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  13. Phan Khoang (1971), Việt sử xứ Đàng Trong, Khai trí, Saigon.
  14. Tạ Chí Đại Trường (2012), Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771 – 1808), Nxb. Tri thức, Hà Nội.

 

     Chú thích:                                                    

[1] Các công trình và bài viết về trấn Thuận Thành xem: Po Dharma (1987), Le Panduranga (Campa), 2 tome, , EFEO, Paris; Po Dharma (2012), Vương Quốc Champa: lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC ấn hành, San Jose; Đổng Thành Danh (2015), “Trấn Thuận Thành thời chúa Nguyễn”, Tạp chí Xưa và Nay, số 465, tháng 11 (2015), tr. 21 – 24; Đổng Thành Danh (2016), “Bàn thêm về phiên quốc Panduranga hay trấn Thuận Thành (thế kỷ XVII – XIX)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (485), tr. 71 – 78. 

[2]  Xem thêm: Phan Khoang (1971), Việt sử xứ Đàng Trong, Khai trí, Saigon; Tạ Chí Đại Trường (2012),  Lịch sử nội chiến ở Việt Nam (1771 – 1808), Nxb. Tri thức, Hà Nội.

[3] Đổng Thành Danh (2015), sđd, tr. 77 – 78.

[4] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Liệt Truyện, tập 2: chính biên – sơ tập, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 692. 

[5] Po Dharma (1983), “V. A propos de l’exil d’un roi cam au Cambodge”, trong Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Tome 72, pp. 259-260.

[6] Po Dharma (1978), Chroniques du Panduranga, Thèse de l’EPHE, IV°section, Paris, pp. 62; Po Dharma (2012), sđd, tr. 66 – 67.  

[7] Po Dharma (2012), sđd, tr. 67.

[8] Nicolas Weber (2004), “Cuộc khởi nghĩa Tuen Phaow vào năm 1796 – 1797”, Champaka 4, IOC, San Jose, tr. 88 – 89; Po Dharma (2012), sđd, tr. 67. 

[9] Mak Phoeun (2004), “Po Cei Brei sang Kampuchia cầu cứu viện trợ vào năm 1795  – 1796”, Champaka 4, IOC – Champa, San Jose, tr. 80 – 81.

[10] Po Dharma (2012), sđd, tr. 67.

[11] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực Lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 264; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), sđd, tr. 692

[12] Po Dharma (1978), sđd, pp. 62; Po Dharma (2012), sđd, tr. 67.

[13] Tạ Chí Đại Trường (2012),  sđd, tr. 87. 

[14] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), sđd, tr. 264; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), sđd, tr. 692

[15] P-B. Lafont (2011), Vương quốc Champa: địa dư – dân cư – lịch sử, IOC – Champa, San Jose, tr. 200; Nicolas Weber (2004), sđd, tr. 89. 

[16] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), sđd, tr. 329 – 330; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), sđd, tr. 692; Po Dharma (2012), sđd, tr. 85.   

[17] Po Dharma (1978), sđd, pp. 148; Po Dharma (2012), sđd, tr. 67. 

[18] Nicolas Weber (2004), sđd, tr. 85 – 98.

[19] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), sđd, tr. 366, 398; Po Dharma (2012), sđd, tr. 85.   

[20] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), sđd, tr. 692; Po Dharma (2012), sđd, tr. 85 – 86.   

[21] Po Dharma (1978), sđd, pp. 157; Po Dharma (1983), d, tr. 258; Po Dharma (2012), sđd, tr. 67.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s