Lịch sử Trấn Thuận Thành thời vua Minh Mạng

 

1802-e1519275928260

Trấn Thuận Thành thời Gia Long

Đổng Thành Danh

Trấn Thuận Thành là một đơn vị hành chính đặc biệt, được hình thành dưới thời chúa Nguyễn (1797), bao gồm các khu vực định cư của các cộng đồng dân tộc bản địa (Chăm, Raglai, Churu, K’ho…) nằm rải rác, xen kẽ với các khu cư trú của người Việt thuộc địa phận các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần các tỉnh Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông hiện nay. Trấn Thuận Thành nằm dưới sự bảo hộ của xứ Đàng Trong, được hưởng một quy chế tự trị đặc thù với một nền hành chính riêng do một thủ lĩnh người bản xứ đứng đầu, với một thể chế pháp luật, thuế khóa, quân đội riêng….[1]. Chế độ đặc thù này trải qua thời kỳ nội chiến (1771 – 1802) vẫn được duy trì dưới thời kỳ vua Gia Long (18012 – 1820)[2], nhưng kể từ khi Minh Mạng lên ngôi ông lại tìm một cách tiếp cận khác với vấn đề trấn Thuận Thành, đặc biệt lúc này Tổng trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt cũng tác động nhiều đến các sự kiện chính trị ở phiên trấn này.

Trong bài viết này, tác giả muốn đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu thái độ, chủ trương, chính sách của các thế lực chính trị trong các vấn đề của phiên trấn Thuận Thành, trước hết là triều đình Minh Mạng sau là Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt. Làm rõ những thay đổi của triều đình Minh Mạng, so với Gia Long, trong vấn đề trấn Thuận Thành, những xung đột, mâu thuẫn ngầm cho thấy triều đình và Gia Định thành đều muốn tác động và gây ảnh hưởng vào nội tình của trấn. Cuối cùng, tác giả muốn tìm hiểu các tác động và hệ quả của cuộc tranh chấp quyền lực này đến nội tình và các cư dân thuộc nội trấn. Để đạt những mục đích khoa học này, tác giả đã tham khảo, sử dụng, đối chiếu, so sánh và chất lọc các dữ liệu từ cả hai nguồn sơ cấp của nhà Nguyễn và các văn bản lịch sử của người Chăm địa phương hiện lưu trữ tại Pháp. Điều đó giúp tác giả có một cách tiếp cận mới khách quan hơn, khoa học hơn về việc nghiên cứu chính sách của triều Nguyễn với các dân tộc thiểu số trong giai đoạn nữa đầu thế kỷ XIX.

  1. Minh Mạng với vấn đề người đứng đầu trấn Thuận Thành

Năm 1820, tại Huế, vua Gia Long băng hà, vị hoàng tử thứ tư được chọn làm người kế vị, ông lên ngôi với niên hiệu là Minh Mạng. Tại trấn Thuận Thành, vị Chánh trấn Nguyễn Văn Chấn cũng bước vào tình trạng già yếu, sức khỏe ngày càng giảm sút. Chính lúc này, việc chọn lựa người sẽ thay thế cho Nguyễn Văn Chấn là một vấn đề không những được các quan lại trong trấn quan tâm mà bản thân triều đình Minh Mạng cũng rất chú trọng.Theo sử liệu của nhà Nguyễn, năm 1822, Phó trấn Nguyễn Văn Vĩnh được triệu về kinh đô, không biết vì lý do gì? Không lâu sau đó, Nguyễn Văn Chấn qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh được bổ nhiệm làm Trấn thủ trấn Thuận Thành[3].

Trong khi đó, các văn bản Chăm mô tả khi Nguyễn Văn Chấn qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh thì vắng mặt, ông đang ở tại Huế, do đó trấn Thuận Thành rơi vào một cuộc khủng hoảng về người lãnh đạo, tức thì nhân dân địa phương đã phán ứng với quyết định này, họ tính đến một cuộc nổi dậy[4]. Po Dharma đưa ra giả thuyết rằng Minh Mạng đã giam lỏng Nguyễn Văn Vĩnh, đồng thời muốn đưa một nhân vật thân tín của mình là Bait Lan lên nắm quyền trong trấn, điều này cho thấy Minh Mạng đã can dự trực tiếp và phá vỡ ngang nhiên tiền lệ Phó trấn phải lên Chánh trấn như trước đây. Điều này sẽ tạo nên những phản ứng chống đối cư dân bản địa, họ tiến hành nổi loạn, phong trào phản kháng này do một nhân vật có tên là Ja Lidong lãnh đạo[5].

Chính trong bối cảnh ấy, vị tân vương, mới lên cầm quyền vỏn vẹn hai năm nhận thấy rằng, sự can thiệp trực tiếp của mình vào nội tình trấn Thuận Thành là một bước đi nóng vội, không tránh khỏi bị những sự phản ứng. Trong lúc đó, Minh Mạng cũng đang phải lo củng cố quyền lực của mình, những kẻ chống đối sự lên ngôi của ông trong triều đình vẫn chưa bị tiêu diệt, nhất là ở Bắc Thành.

Do vậy, trong một tính toán có chủ đích, Minh Mạng đã quyết định nhân nhượng. Ngay trong năm đó, ông phong cho Nguyễn Văn Vĩnh chức vị Trấn thủ, hàm tam phẩm, cử Vĩnh trở về trấn Thuận Thành tiến hành cuộc bình định các phong trào nổi dậy ở địa phương. Có thể thấy, dù đã nhân nhượng, nhưng nhà vua vẫn giảm bớt quyền lực của người đứng đầu trấn Thuận Thành thông qua việc ông chỉ phong chức Trấn thủ chứ không phong chức Chánh trấn như trước. Phẩm hàm mà vị quan Trấn thủ Nguyễn Văn Vĩnh có được là tam phẩm, tức là chỉ tương đương các Hiệp trấn các trấn, so với Nguyễn Văn Chấn, thì rõ ràng quyền hạn của Vĩnh đã có phần giảm sút. 

Điều này cho thấy một thay đổi đáng kể trong thái độ, chủ trương của vua Minh Mạng so với vua cha. Trong khi, vua Gia Long là người tôn trọng các nét đặc thù địa phương của trấn Thuận Thành, ông giao cho người đứng đầu trấn những quyền hạn lớn và tránh sự can thiệp của mình vào nội tình trấn. Thì Minh Mạng, lại có chính sách cứng rắn, ông quyết tâm đưa Thuận Thành vào “quỹ đạo” trực tiếp của triều đình Huế, thông qua việc can thiệp vào việc lập người đứng đầu trấn. Mặt khác, Minh Mạng cũng chủ trương hạn chế những quyền hạn của người đứng đầu trấn Thuận Thành và sẽ tiến đến thu hẹp quyền tự trị của trấn Thuận Thành.

  1. Lê Văn Duyệt bước đầu can thiệp vào vấn đề Trấn Thuận Thành

Trở lại tình hình trấn Thuận Thành, cuộc nổi dậy của Ja Lidong rất có thể là cuộc nổi loạn của Tà La Mân hay Tà La Vân mà sử liệu nhà Nguyễn nhắc đến. Theo các nguồn tài liệu này, năm 1823, quân của trấn Thuận Thành kết hợp với quân triều đình ở Bình Thuận đã đẩy lui cuộc nổi dậy đến vùng rừng, núi giáp giới với Gia Định Thành. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã thu phục đám tàn binh này về quy thuận mình, sau đó mới báo về kinh cho vua biết, Minh Mạng chấp thuận điều đó[6].  

Sự kiện này cho thấy Minh Mạng đã nhân nhượng Lê Văn Duyệt trong việc giải quyết các lực lượng chống đối, nhất là khi ai cũng biết Minh Mạng vốn là một vị vua luôn thái độ cứng rắn đối với các thành phần chống đối. Nhưng sở dĩ, Minh Mạng chấp nhận với đề nghị của Lê Văn Duyệt và nhân nhượng với những thành phần chống đối ở trấn Thuận Thành là vì trong lúc này, quyền lực của Lê Văn Duyệt rất lớn, trong khi vị tân vương vừa mới cầm quyền, quyền lực chưa đủ mạnh để so với vị Tổng trấn ở Gia Định.

Sự kiện này cũng là đánh dấu sự góp mặt của Lê Văn Duyệt vào việc giải quyết các mâu thuẫn ở trấn Thuận Thành. Từ đây Lê Văn Duyệt với tư cách là Tổng trấn Gia Định thành sẽ bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nội tình trấn Thuận Thành và điều đó sẽ làm cho tầm ảnh hưởng của ông ngày càng rõ nét trong đời sống chính trị của trấn Thuận Thành. Nhưng chắc hẳn rằng, sự can dự của Lê Văn Duyệt sẽ tạo nên một ấn tượng không tốt của nhà vua, Minh Mạng, trong thâm tâm, sẽ cho rằng Lê Văn Duyệt không xem triều đình ra gì, ông đang không ngừng mở rộng quyền lực của mình, những điều đó sẽ làm phương hại đến uy quyền của nhà vua, ít nhất là trong các vấn đề ở trấn Thuận Thành.

Cũng chính từ đây, trấn Thuận Thành sẽ vô tình bị cuốn vào vòng tranh chấp quyền lực giữa triều đình Minh Mạng và Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Những tranh chấp này bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong thái độ của đôi bên đối với trần Thuận Thành, trong khi Lê Văn Duyệt muốn giải quyết các mâu thuẫn ở Thuận Thành một cách ôn hòa, đồng thời chủ trương duy trì các đặc quyền mà vua Gia Long đã ban cho trấn. Thì Minh Mạng, một vị vua luôn chú tâm đến việc thống nhất quyền hành vào trong tay mình, lại chủ trương hạn chế những đặc quyền đó, can thiệp trực tiếp vào tất cả những công việc của trấn. Đối với Minh Mạng, sự dính líu của Lê Văn Duyệt, sẽ làm “xói mòn” tầm ảnh hưởng và mục đích của ông tại trấn Thuận Thành.   

  1. Tình hình trấn Thuận Thành trong thời kỳ Nguyễn Văn Vĩnh

Trở lại với tình hình ở trấn Thuận Thành, sau khi bình định xong các cuộc nổi dậy vào năm 1823, vùng đất này trải qua một thời kỳ yên bình ngắn ngủi, trước khi xảy ra các xung đột lớn hơn. Dưới triều Minh Mạng và sự cầm quyền Nguyễn Văn Vĩnh, các cư dân Thuận Thành phải chịu thuế khóa và lao dịch nặng nề, triều đình ra lệnh cho người dân phải nộp thêm gỗ, lúa, sản vật, họ phải thực hiện nhiều nghĩa vụ lao dịch xây dựng đình trạm, mương đập và đóng tàu bè… Họ còn bị sự nhũng nhiễu và ức hiếp của các quan lại địa phương do triều đình bổ nhiệm, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, họ không ngừng than vãn về số phận của mình[7]

Hiện tình này không chỉ được miêu tả trong các văn bản Chăm mà còn được đề cập phổ biến trong các sử liệu của nhà Nguyễn. Minh Mạng chính yếu ghi nhận (năm 1825): “…Dân Mọi sách trà Nương thuộc hạt Bình Thuận năm ngoái, phải gặp tai ách thương vọng, không nạp được thủ…”. Cũng theo tài liệu này, vào năm 1826, Quan trấn Bình Thuận tâu rằng: “…Đám người Mọi ở Thuận Thành bị ôn hoàng dịch lệ hoành hành, phải bỏ đất mà đi, xin triều đình giảm thuế…”[8].

Đây không phải là hiện tượng cá biệt ở trấn Thuận Thành, nạn thuế khóa, lao dịch nặng nề, cộng với những thiên tai, nhân tai (sự tùy tiện, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân của quan lại và cường hào) khiến cho đời sống của nông dân cả nước lâm vào cảnh bần cùng, nghèo đói… Trong bối cảnh đó, người nông dân chỉ còn biết nổi dậy, tính riêng trong thời Minh Mạng có 234 cuộc khởi nghĩa (trung bình 11 vụ một năm), các cuộc tiêu biểu có Phan Bá Vành ở Nam Định, Lê Duy Lương ở Ninh Bình, Nông Văn Vân ở Tuyên Quang[9]

Tại trấn Thuận Thành vào năm 1826 cũng diễn ra một cuộc nổi dậy của cư dân bản địa. Theo các văn bản Chăm cuộc khởi nghĩa này do một người có tên là Nduai Kabait lãnh đạo, phạm vi bùng nổ của cuộc khởi nghĩa chính là vùng miền núi giáp với khu vực Đồng Nai, ngay lập tức quân đội của trấn Thuận Thành được cử đến để trấn áp phong trào khởi nghĩa, khôi phục sự thanh bình trong nội trấn[10].

Liên hệ với sử liệu của nhà Nguyễn, vào năm 1826, cũng nổ ra các cuộc khởi nghĩa của người thiểu số ở quy mô lớn, bao gồm cả Phú Yên và Bình Hòa (Khánh Hòa, Bình Thuận). Triều đình phải cử Trấn thủ Bình Hòa Nguyễn Văn Quế, Trấn thủ Phú Yên Trương Văn Chính và Trấn thủ Thuận Thành Nguyễn Văn Vĩnh chia làm ba đạo quân để tấn công quân nổi dậy, quân triều đình cũng nhanh chóng dập tắt cuộc khởi nghĩa và xử tử những người cầm đầu cuộc khởi nghĩa[11].

Rất có thể cuộc khởi nghĩa của Nduai Kabait ở Thuận Thành và các cuộc khởi nghĩa ở Bình Hòa, Phú Yên có mối liên hệ với nhau, vì sự tham gia của Nguyễn Văn Vĩnh trong hàng ngũ đoàn quân đi đàn áp cuộc nổi dậy và đa phần người thiểu số ở Bình Hòa cũng có nhiều liên hệ với các tộc người Thuận Thành. Thậm chí nó cũng có thể là một cuộc khởi nghĩa, như nhận định của Po Dharma, theo ông phong trào khởi nghĩa của Nduai Kabait không chỉ giới hạn ở trấn Thuận Thành mà còn ra đến tận vùng Khánh Hòa và Phú Yên ngày nay[12]. Những khác biệt về tài liệu không cho phép chúng tôi có một kết luận cuối cùng về những giả thuyết này.

Sau khi ổn định lại tình hình trấn Thuận Thành, vua Minh Mệnh ra lệnh cho trấn thủ phủ Bình Thuận phải cung cấp những tư liệu liên quan đến phong tục tập quán của dân tộc Chăm. Nhằm thực hiện chỉ thị của triều đình Huế, phủ Bình Thuận triệu tập các chức sắc tôn giáo Chăm, yêu cầu họ phải khai báo những gì có mối liên hệ đến phong tục và tập quán của người Chăm. Sau khi đã thu thập và ghi chú tất cả những tập tục cổ truyền của Champa, trấn thủ Bình Thuận ra Huế để đệ trình bản báo cáo công tác mà vua Minh Mệnh đã yêu cầu[13].

Xuất phát từ nguyên nhân và mục đích nào mà vua Minh Mạng cho tiến hành cuộc điều tra về phong tục người dân Thuận thành cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Có chăng sự kiện này cho thấy vua Minh Mạng muốn điều tra phong tục dân cư bản địa để đưa ra chính sách phù hợp với đời sống người dân hay vì một lý do gì khác? Một điều đáng chú ý là tại sao vua không giao công việc điều tra này cho trấn Thuận Thành mà lại giao cho các quan trấn Bình Thuận?

  1. Sự can thiệp sâu của Lê Văn Duyệt vào vấn đề trấn Thuận Thành

Năm 1828, Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, triều đình Huế yêu cầu triệu tập một hội đồng để chọn ra người lãnh đạo trấn Thuận Thành thay thế. Chính lúc này, Lê Văn Duyệt một lần nữa khẳng định tầm ảnh hưởng của mình ở trấn Thuận Thành, ông tiến cử Nguyễn Văn Thừa (Phó trấn Thuận Thành), là con của Nguyễn Văn Chấn, vào chức vụ Trấn thủ Thuận Thành như đúng truyền thống. Dù chưa được sự đồng ý, Nguyễn Văn Thừa vẫn lên cầm quyền ở trấn Thuận Thành, dưới sự hậu thuẫn của Lê Văn Duyệt và các vị quan trong trấn Thuận Thành. Lần này, trước sự can thiệp quá mức của Lê Văn Duyệt, Minh Mạng đã bày tỏ sự tức giận trước hành động của Lê Văn Duyệt và Nguyễn Văn Thừa, nhưng ông không có hành đồng gì để trừng phạt mà chỉ ngấm ngầm theo dõi tình hình trấn, chờ thời cơ thích hợp[14].

Dưới sự hậu thuẫn của Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt, Trấn thủ Nguyễn Văn Thừa không còn tuân lệnh Minh Mạng như Nguyễn Văn Vĩnh trước đây nữa, ông nộp thuế và cống cho triều đình rất ít, trong khi nộp cho Gia Định thành nhiều hơn. Dân chúng Thuận Thành thời điểm đó – sau bao nhiêu năm sống khổ sở dưới thời Nguyễn Văn Vĩnh, một mặt bị triều đình Huế áp đặt chế độ thuế khóa và lao dịch nặng nề, mặt khác bị quan lại ở Bình Thuận nhũng nhiễu, chèn ép – nay ủng hộ Nguyễn Văn Thừa và quy thuận theo Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Trong quan điểm của hầu hết người Thuận Thành lúc ấy, nếu như Gia Định đã là “thiên đường” của người Thiên chúa, của các “phạm nhân” miền Bắc, của Hoa kiều, của những cư dân bản địa như Khmer, Stiêng, Mạ… Thì dưới sự bảo hộ của Lê Văn Duyệt họ cũng sẽ được sống những ngày tháng trên “thiên đường” tương tự như dưới thời Gia Long.

Trong quan điểm của Minh Mạng, trấn Thuận Thành đang bị thanh thế của Lê Văn Duyệt bao trùm, ở nơi đó Lê Văn Duyệt đang mở rộng quyền lực của mình, biến trấn Thuận Thành trở thành một nơi đối địch với phủ Bình Thuận (do vua Minh Mạng kiểm soát). Đó cũng chính là “tiền đồn” của Gia Định trong cuộc đối đầu với chính quyền trung ương. Hầu từ đó ngăn chặn việc xóa bỏ Gia Định thành và tái cơ cấu lại miền Nam theo hướng tập quyền về tay nhà vua. Nếu quả vậy, những động thái của Lê Văn Duyệt ở trấn Thuận Thành và Gia Định thành luôn in hằn trong tâm thức nhà vua như là một âm mưu phản nghịch, không thể dung tha trong thời phong kiến, nhất là đối với vị vua chuyên chính như Minh Mạng. Đó cũng là lý do tại sao Minh Mạng lại kết tội và trừng phạt Lê Văn Duyệt, cũng như những người theo phe ông một cách tàn bạo sau khi ông qua đời (1832).

Cũng trong quan điểm và tâm thức đó, ông xem Nguyễn Văn Thừa, các quần thần thân tín và đại bộ phận cư dân Thuận Thành là một tập thể phản nghịch. Không chịu quy thuận theo triều đình, đứng về phía Gia Định thành để chống đối lại quyền lực của Hoàng đế, không chịu thực hiện nghĩa vụ với trung ương mà lại nộp cống cho Lê Văn Duyệt, đó là hành động không thể dung thứ. Nhưng trong thời điểm trước năm 1832, ông không thể áp đặt sự trừng phạt trấn Thuận Thành được, lúc này thanh thế của Lê Văn Duyệt vẫn còn rất lớn, quá trình làm tan rã quyền lực của Lê Văn Duyệt lại là một quá trình lâu dài. Do đó, Minh Mạng vẫn chưa công khai áp đặt các chính sách để trừng trị Nguyễn Văn Thừa và người dân Thuận Thành như sau này, khi Lê Văn Duyệt đã qua đời.

Chính vì những lẽ đó, trong thời điểm trước năm 1832, số phận của trấn Thuận Thành hoàn toàn tùy thuộc vào số phận của Lê Văn Duyệt và trấn Thuận Thành. Một khi Lê Văn Duyệt qua đời, hay Gia Định thành bị xóa bỏ, Minh Mạng cũng sẽ hủy bỏ quy chế đặc biệt của trấn Thuận Thành đã tồn tại hơn trăm năm nay.

  1. Minh Mạng giải thể trấn Thuận Thành

           ee

Năm 1832, Lê Văn Duyệt qua đời ở Gia Định, Minh Mạng liền xóa bỏ Gia Định thành, tái cơ cấu 5 trấn thành 6 tỉnh[15]. Tiếp theo đó, chính quyền trung ương tấn công vào các nhóm được Lê Văn Duyệt bảo trợ như người Thiên chúa giáo, phạm nhân miền Bắc và Hoa kiều[16]. Đối với trấn Thuận Thành, trước khi Lê Văn Duyệt mất vài tháng, Minh Mạng ra lệnh cho phủ Bình Thuận bắt giam Trấn thủ Nguyễn Văn Thừa và cấp phó của ông là Cai đội Nguyễn Văn Nguyên vì tội không chịu đóng thuế và nạp cống cho triều đình. Sau ngày từ trần của Lê Văn Duyệt, vua Minh Mạng cũng giải thể trấn Thuận Thành và tiến hành tái cơ cấu lại các vùng có người bản địa sinh sống.

Các sử liệu của nhà Nguyễn đồng loạt ghi lại sự kiện sát nhập trấn Thuận Thành vào phủ Bình Thuận, trong đó Minh Mạng chính yếuĐại Nam thực lục mô tả cụ thể nhất. Theo các tài liệu này, vua Minh Mạng cử Tả thị lang bộ Lễ Lê Nguyên Trung đến điều tra tình hình trấn Thuận Thành[17], giải thể cơ cấu Thuận Thành, sát nhập vào phủ Bình Thuận sau là tỉnh Bình Thuận. Đặt lại các phủ Ninh Thuận (gồm 2 huyện An Phước và Tuy Phong) và Hàm Thuận (gồm 2 huyện Tuy Định, Hòa Đa), đặt các chức Tri phủ, Tri Huyện. Dưới huyện có các tổng, đặt chức Cai tổng, tổng Kinh dùng người Kinh, tổng Thổ dùng người Thổ. Theo các văn bản này, triều đình còn miễn thuế cho người dân trong vòng ba năm, sau đó còn tiến hành đặt các họ Đào, Mai, Trúc, Tùng… cho người bản địa, trước là để ghi vào sổ bộ của chính quyền, sau là phân biệt các họ người Thổ với họ người Kinh[18].  

Theo cơ cấu hành chính mới, nếu như trước đây phủ Bình Thuận có hai huyện An Phước và Hòa Đa, thì nay tỉnh Bình Thuận (sát nhập thêm trấn Thuận Thành) ra đời bao gồm hai phủ Ninh Thuận và Hàm thuận. Trong đó, phủ Ninh Thuận có hai huyện An Phước và Tuy Phong, phủ Hàm Thuận bao gồm 2 huyện Hòa Đa và Tuy Định[19]. Với cơ cấu này, khu vực trước đây là trấn Thuận Thành ra làm ba phần khác nhau và sát nhập vào các huyện do người Việt đứng đầu: 3 tổng (Trà Dương, Ý Lân, Tà Hoa) thuộc huyện An Phước (phủ Ninh Thuận)[20]; 1 tổng (La Bá) thuộc huyện Tuy Phong (Ninh thuận)[21]; 8 tổng (Ninh Gia, Bố Tuân, Tú Trà, Dinh Văn, Trà Nang, Di Trang, Tinh Túc, Đăng Gia) thuộc huyện Hòa Đa (phủ Hàm Thuận)[22].

Từ những chi tiết trên chúng ta nhận thấy rằng: chính quyền đã tạo ra một thay đổi đáng kể trong hệ thống hành chính của người bản địa. Từ nay, các cư dân thiểu số sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của các quan lại người Việt từ cấp độ huyện, lớn hơn là các cấp độ phủ, tỉnh và cuối cùng là trung ương. Họ chỉ còn tự trị ở cấp độ tổng, có thể tương đương xã, phường ngày nay, nhưng việc Cai tổng có một quyền lực hạn chế, phải chịu sự chi phối của cấp trên và chỉ là người thừa hành tất cả các mệnh lệnh, mà chính quyền từ trung ương đến phủ ban xuống. Từ đây, những cư dân bản địa sẽ trở thành “công dân” chính thức của nước Đại Nam, họ chỉ có một vị Hoàng đế duy nhất là những người nắm ngai vàng ở Huế.     

Đồng thời với những thay đổi về cơ cấu hành chính là những biến đổi về cơ cấu nhân sự, Minh Mạng đã thiết lập một chương trình cải thổ quy lưu trên toàn địa hạt tỉnh Bình Thuận (bao gồm cả trấn Thuận Thành trước đây). Với chương trình này, Minh Mạng đã tiến hành thay thế tất cả các quan chức người bản địa, từ phủ đến huyện bằng những quan lại người Việt do triều đình trực tiếp bổ nhiệm ngay cả trên những địa bàn có đông người bản địa sinh sống như huyện Hòa Đa của phủ Hàm Thuận chẳng hạn. Tại cấp tổng, chương trình cải thổ quy lưu không được áp dụng, nhưng triều đình lại bổ nhiệm những người có thái độ trung thành hoặc chấp nhận phục tùng chính quyền nhà Nguyễn, trong số những người bản địa vào chức vụ Cai tổng…

 Ngược lại, đối với những người trước đây từng tham gia trong cơ cấu lãnh đạo trấn Thuận Thành, triều đình phân loại xem ai không chấp nhận quy thuận triều đình ai quy thuận triều đình. Đối với những người chống đối, triều đình sẽ cách chức, thậm chí trừng phạt họ, đối với những người quy thuận họ sẽ được giữ lại trong hệ thống quan lại, với những chức vị có tính chất tượng trưng. Theo sử liệu nhà Nguyễn, Nguyễn Văn Thừa được thả và quy thuận Minh Mạng, ông được phong chức Quản cơ (hàm tứ phẩm) coi đốc các tổng, các sách của người bản địa, các thuộc hạ như Nguyễn Văn Giang, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Văn Thanh đều phong Cai đội hàm lục phẩm để giúp việc cho Thừa. Nhưng trong thực tế, những chức vụ này chỉ mang tính chất vỗ về hơn là có thực chất quyền lực, đó cũng là lý do mà sau này Nguyễn Văn Thừa đã tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở Gia Định để chống lại vua Minh Mạng[23].

  1. Những chuyển biến về xã hội sau khi trấn Thuận Thành bị giải thể

Từ những chi tiết được ghi lại trong các văn bản của triều Nguyễn, chúng ta còn nhận thấy những thay đổi trong đời sống cư dân bản địa, trước thuộc về trấn Thuận Thành. Trong vai trò mới, là những “công dân” của nước Đại Nam, các tộc người bản địa phải thực hiện bổn phận với quốc gia, và vấn đề hàng đầu được đặt ra đối với họ là nghĩa vụ đóng thuế thân. Những vấn đề như đổi tên, họ theo tên từ Hán – Việt, hay khai báo hộ khẩu thông kê dân số chỉ là thứ yếu, và cũng chỉ để thuận tiện cho việc đóng thuế thân.

Trong xã hội Việt Nam truyền thống và cả đến tận triều Nguyễn, thuế là một nghĩa vụ bắt buộc đối với những công dân, những người nông dân làm ruộng phải đóng thuế điền, làm ăn, kinh doanh, thợ thủ công… phải đóng thuế sản vật và nhiều thứ thuế phụ thu khác. Nhưng quan trọng nhất, là thuế thân một thứ thuế bắt buộc của những người đàn ông, khi đã là người đàn ông trưởng thành (thành đinh), người đó phải khai báo tên với nhà nước để để quản lý và đồng thời bắt đầu đóng thuế thân cho nhà nước.

Người dân Thuận Thành, trước năm 1832 không hề biết đến việc đóng thuế thân, tức là thuế đánh trên từng đầu người (nam). Trước đây, khi còn thuộc trấn Thuận Thành họ chỉ đóng thuế ruộng hoặc các thứ thuế sản vật, và họ chỉ có nghĩa vụ nộp thuế cho người đứng đầu trấn Thuận Thành… Trên cơ sở đó, người quản lý Thuận Thành sẽ đóng thuế hoặc nạp cống lại cho triều đình Huế. Nhưng năm 1832, khi đã thuộc sự quản lý của tỉnh Bình Thuận, người bản địa phải bắt đầu nộp thuế thân, để tránh sự phản ứng khi đưa ra quy định này triều đình miễn thuế 3 năm cho người dân sau 3 năm họ phải đóng thuế thân, thuế ruộng, thuế phụ thu khác như mọi công dân của đất nước Đại Nam[24].

Để thực hiện nghĩa vụ đóng thuế, triều đình còn ra lệnh cho người Chăm và các nhóm thiểu số khác phải thống kê dân số và kê khai vào sổ bộ của nhà nước[25]. Chính quyền ra lệnh, trong vòng một tháng mỗi người dân bản địa phải tập trung đến các đồn lũy, các trị sở của quan phủ để khai báo dân số từng hộ gia đình. Ngoài ra, để thuận tiện cho việc kê khai, nhà nước còn tiến hành đặt tên họ theo âm Hán – Việt cho từng người dân, theo đó các họ này phải khác biệt với họ người Việt để dễ phân biệt như Đào, Mai, Trúc, Tùng… đã ghi nhận trong các sử liệu nhà Nguyễn.

Nhưng trong thực tế, vấn đề tên họ người dân bản địa lại phức tạp hơn nhiều những gì ghi trong chính sử. Thứ nhất, người Chăm thật sự có họ khi nào? Thứ hai, ngày nay rất ít người có họ Mai, Trúc hay Đào, phần lớn người Chăm có các họ như Quảng, Đàng, Thành, Phú, Trượng…; Thứ ba, họ và tên của người Raglai (cũng là cư dân Thuận Thành) có những điểm khác biệt so với người Chăm và người Việt…

Quá trình đặt họ Hán – Việt của người Chăm đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu. Nguyễn Khắc Ngữ cho rằng người Chăm được nhà vua ban cho họ Hán – Việt từ năm 1837, mới đây Sakaya cũng đồng ý với giả thuyết này. Theo các tác giả này, trong năm 1837, vua Minh Mạng xuống chiếu bắt người Chăm phải thay đổi họ tên, lấy các họ Hán – Việt như Lượng, Trượng, Phú, Lưu, Thành, Hán…, một số trường hợp có công với triều đình thì được lấy họ Nguyễn[26]. Po Dharma thì cho rằng, thật ra người Chăm đã có họ từ năm 1832, ngay sau khi xóa bỏ trấn Thuận Thành, theo ông một vị Tuần phủ, được triều đình cử đến, đã buộc người Chăm phải lấy tên họ theo người Hoa như Quảng, Hứa, Đàng, Lâm, Châu, Thành[27]

Ngay từ năm 1836, khi tiến hành thống kê ruộng đất và chủ sở hữu, địa bạ triều Nguyễn ở Bình thuận đã ghi nhận những tên họ của người Chăm như Nguyễn, Đào, Trứ, Ức, Thanh, Dụng, Mặc, Bách, Lư[28]… Như vậy giả thuyết của Nguyễn Khắc Ngữ và Sakaya có lẽ không xác đáng cho lắm! Những vấn đề mà các tác giả trên đưa ra cũng không có căn cứ vào một sử liệu nào cụ thể. Trong khi đó, những kết luận của Po Dharma, rằng năm 1832, người Chăm đã có họ lại có phần xác đáng hơn vì nó được các văn bản của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục hay Miinh Mạng chính yếu ghi nhận[29].

Về tên họ của người Raglai, đến trước năm 1832, cũng như người Chăm, người Raglai chưa có họ. Sau năm 1832, để ghi vào sổ bộ của nhà nước họ mới bắt đầu có họ, tên, nhưng do sinh tụ ở các vùng núi cao xa xôi, khó bị sự quản lý của nhà nước, lại ít tiếp xúc và hiểu tiếng Việt. Tên họ của người Raglai được phiên âm theo tiếng của họ, nghĩa của chúng cũng gắn liền với đời sống của họ như Katơ (cây, hạt bobo), Pinang (cây cau), Chamalaik (dây mấu)[30]

 Những tên họ này, cũng như tên họ các dân tộc miền núi khác là tên họ mẫu hệ, tức là họ mẹ sẽ được truyền cho con, có lẽ do sống xa người Việt nên dù có họ nhưng họ vẫn giữ tên họ mẫu hệ, trong khi đó, người Chăm cũng theo mẫu hệ, nhưng tên họ của họ không phải theo mẫu hệ, bằng chứng là con cái khi khai sinh mang họ cha. 

Ngoài việc lập hệ thống hành chính mới, tiến hành thu thuế thân, kê khai dân số và đặt tên, họ cho các cư dân trấn Thuận Thành trước đây, triều đình cũng tiến hành thống kê lại ruộng đất cả người bản địa ngay từ năm 1832, kết quả của nó được công bố chính thức vào địa bạ trong năm 1836. So với người Việt, chế độ phân phối và sở hữu ruộng đất của người bản địa có một số điểm khu biệt.

Cụ thể, dưới thời kỳ này, chế độ sở hữu ruộng đất trong cả nước được chia ra làm quan điền, công điền và tư điền. Nhưng riêng tại Bình Thuận, nơi tập trung đông đồng bào thiểu số, sở hữu được phân chia làm bốn loại chính là: dân điền, phiêu liêu điền, trà nương điền, dương điền. Trong đó, dân điền có thể là ruộng của các cá nhân và cũng có quy chế như ruộng người Việt, còn ba loại ruộng sau, có thể là ruộng của các Thuận Thành vương trước đấy, khi trấn Thuận Thành còn thì được miễn thuế, nay thì chia cho người bản địa cày và thu thuế bình thường[31].

Kết luận

Bài viết vừa trình bày về các diễn biến chính trị quan trọng của trấn Thuận Thành, trong thời điểm vua Minh Mạng cầm quyền (1820 – 1832) từ cả 2 nguồn sử liệu (tư liệu chính thống của nhà Nguyễn và các văn bản Chăm). Đó là thời kỳ mà vua Minh Mạng và Tổng trấn Lê Văn Duyệt cũng tranh giành những ảnh hưởng chính trị đối với phiên trấn Thuận Thành để rồi hệ quả là sự giải thể của trấn Thuật Thành trong cuộc cải cách hành chính năm 1832 – 1833 của vua Minh Mạng. Đây là những cứ liệu lịch sử quan trọng, ít được biết đến, cho thấy hiện tình của tỉnh Bình Thuận (nay là cả Ninh Thuận và Bình Thuận) lúc mới thành lập. Thông qua đây, tác giả cũng muốn gợi mở một cách nhìn, một hướng nghiên cứu mới về thái độ, chính sách của triều Nguyễn (cụ thể là vua Minh Mạng) trong việc giải quyết vấn đề các dân tộc thiểu số ở khu vực Nam Trung bộ trong lịch sử – một cách tiếp cận vẫn ít được khai mở trong giới học thuật hiện nay.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Văn bản tiếng Chăm (Nguồn: Viện viễn Đông Bác cổ Pháp)
  2. CAM MICROFILM 17 (1)
  3. CM 29 (1)
  4. Tài liệu sách, báo và tạp chí
  5. Đổng Thành Danh (2015), “Trấn Thuận Thành thời chúa Nguyễn”, Tạp chí Xưa và Nay, số 465, tháng 11 (2015), tr. 21 – 24.
  6. Đổng Thành Danh (2016), “Bàn thêm về phiên quốc Panduranga hay trấn Thuận Thành (thế kỷ XVII – XIX)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (485), tr. 71 – 78.
  7. Đổng Thành Danh (2017), “Trấn Thuận Thành thời Gia Long”, Tạp chí Xưa và Nay, số 485 (tháng 7), tr. 4 – 9.
  8. Choi Byung Wook (2011), Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb. Thế Giới, Hà Nội.
  9. Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Bình Thuận, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
  10. Trần Trọng Kim (2008), Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
  11. Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam: từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
  12. Nguyễn Khắc Ngữ (1967): Mẩu hệ Chàm, Nxb Tình bày, Sài Gòn.
  13. Po Dharma (1987), Le Panduranga (Campa), 2 tome, , EFEO, Paris.
  14. Po Dharma (2012), Vương quốc Champa: lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC – Champa, San Jose.
  15. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam Thực Lục, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  16. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam Thực Lục, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  17. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Liệt Truyện, tập 2: chính biên – sơ tập, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  18. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 3, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  19. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2010), Minh Mạng Chính Yếu, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
  20. Sakaya (2011), Văn hóa Chăm: Nghiên cứu và phê bình, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.
  21. Shine Toshihiko (2013): “Một họ tộc chủ đất – một họ Hán – Việt: một giả thuyết về chế độ hộ khẩu mới để quản lý đất đai ở các làng Chăm mẫu hệ thời kỳ Minh Mạng”, Tạp chí Nghiên cứu, số 1, Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Chăm.

 

 

Chú thích:

[1] Các công trình và bài viết về trấn Thuận Thành xem: Po Dharma (1987), Le Panduranga (Campa), 2 tome, EFEO, Paris; Po Dharma (2012), Vương Quốc Champa: lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC ấn hành, San Jose; Đổng Thành Danh (2015), “Trấn Thuận Thành thời chúa Nguyễn”, Tạp chí Xưa và Nay, số 465, tháng 11 (2015), tr. 21 – 24; Đổng Thành Danh (2016), “Bàn thêm về phiên quốc Panduranga hay trấn Thuận Thành (thế kỷ XVII – XIX)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (485), tr. 71 – 78. 

[2] Đổng Thành Danh (2017), “Trấn Thuận Thành thời Gia Long”, Tạp chí Xưa và Nay, số 485 (tháng 7), tr. 4 – 9.  

[3] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 160, 170; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tr. 693.

[4]Xem CAM MICROFILM 17 (1), câu 11 – 13.

[5]Po Dharma (2012), sđd, tr. 100 – 103.

[6]Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 206; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tr. 693.

[7] CAM MICROFILM 17 (1), câu 18 – 19 và câu 57 – 77; CM 29 (1), câu 58 – 100; Po Dharma (2012), sđd, tr. 105 – 106.

[8] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2010), Minh Mạng chính yếu, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 1682, 1684. .

[9] Trần Trọng Kim (2008), Việt Nam sử lược, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 487 – 488; Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam: từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 449 – 450. 

[10] CAM MICROFILM 17 (1), câu 20 – 31. 

[11] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 2, sđd, tr. 369; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2010), sđd, tr. 1535 – 1538.

[12]Po Dharma (2012), sđd, tr. 106 – 108.

[13] CAM MICROFILM 17 (1), câu 32 – 43. 

[14] CAM MICROFILM 17 (1), câu 45 – 56. 

[15] Sau khi xóa bỏ Gia Định Thành, 5 trấn trước đây là Phiên An (sau là Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên trở thành 5 tỉnh. Thành lập thêm tỉnh mới là An Giang, từ đó miền Nam có 6 tỉnh thường gọi là Lục tỉnh.

[16] Choi Buyng Wook (2011), Vùng đất Nam bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 144.

[17] Văn bản Chăm CM 29 (1), câu 6 và 7 cũng mô tả việc triều đình cử một vị Khâm Mạng đến đặt chức Cai tổng, Lý trưởng và thu sản vật, bắt người bản địa phải đi lao dịch cho nhà Nguyễn. Vị Khâm Mạng đó rất có thể là Lê Nguyên Trung

[18] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 303 – 304; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2010), sđd, tr. 1699 – 1700.

[19] Trong cơ cấu mới này huyện An Phước (trước đây) bị chia tách thành An Phước và Tuy Phong, cộng thêm với một số vùng thuộc trấn Thuận Thành trước đây, cho nên huyện An phước của năm 1832, hoàn toàn khác huyện An Phước trước đây. Tương tự, huyện Hòa Đa (trước đây) cũng bị chia cắt để lập huyện Tuy Định và sát nhập với các vùng đất thuộc trấn Thuận Thành trước đây, cho nên huyện Hòa Đa (1832) hoàn toàn khác huyện Hòa Đa trước đây.  Dẫn theo Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Nhất Thống Chísđd, tr. 146- 148.

[20] Huyện An Phước có 7 tổng, trong đó có 3 tổng người bản địa (trước là trấn Thuận Thành).

[21] Huyện Tuy Phong có 5 tổng, trong đó có 1 tổng người bản địa (trước là trấn Thuận Thành).

[22] Huyện Hòa Đa có 12 tổng, trong đó có 8 tổng người bản địa (trước là trấn Thuận Thành).

[23] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 304; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện, tr. 693 – 694.

[24] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực ;ục, tập 3, sđd, tr. 304; Văn bản CM 29 (1), câu 176 cũng mô tả việc bà con Chăm phải đóng thuế theo đầu người hằng tháng, hằng năm.

[25] CM 29 (1), câu 172 – 173.

[26] Nguyễn Khắc Ngữ (1967), Mẫu hệ Chàm, Nxb. Trình bày, Saigon, tr. 125; Sakaya (2011), Văn hóa Chăm: Nghiên cứu và Phê bình, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, tr. 388 – 389.

[27] Po Dharma (2012), sđd, tr. 127.

[28] Nguyễn Đình Đầu (1996), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Bình Thuận, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 102 – 103, 107; Shine Toshihiko (2013), “Một họ tộc chủ đất – một họ Hán – Việt: một giả thuyết về chế độ hộ khẩu mới để quản lý đất đai ở các làng Chăm mẫu hệ thời kỳ Minh Mạng”, Tạp chí Nghiên cứu, số 1, 2013, Trung tâm Unesco Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Chăm, tr. 48 – 49, 94.

[29] Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 3, sđd, tr. 303 – 304; Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2010), sđd, tr. 1699 – 1700.

[30] Sakaya (2011), sđd, tr. 392.

[31] Nguyễn Đình Đầu (1996), sđd, tr. 95 – 96.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s