Bi kịch của một dân tộc: Cách Mạng Nga 1897- 1921 (Phần 3: Chương XII)

Chương 12. Những Giấc Mơ Cuối Cùng của Cựu Thể Giới

1

Tác giả Orlando Figes

Trần Quang Nghĩa dịch

i St Petersburg trên Thảo Nguyên

Trong cuốn tiểu thuyết tuyệt vời của mình, Bạch Vệ, Mikhail Bulgakov mô tả cuộc sống siêu thực ở Kiev trong mùa xuân 1918, khi thành phố nô nức người tị nạn từ miền bắc thuộc Bôn-se-vich đổ về.

Trong số những người tị nạn có  chủ ngân hàng tóc muối tiêu và các bà vợ, những doanh nhân tháo vát  đã bỏ lại Moscow những đại diện trung thành với chỉ thị  là đừng đánh mất liên lạc với tân thế giới đang bắt đầu hình thành trong vương quốc Muscovite; các chủ đất đã bí mật để lại tài sản vào tay các  quản lý tin cậy; các kỹ nghệ gia, thương nhân, luật sư, chính trị gia. Rồi đến từ Moscow và Petersburg là những nhà báo, bại hoại, thở gấp và nhát gan. Bọn gái làng chơi. Những mệnh phụ đáng kính từ các gia đình quyền quý cùng những cô con gái yểu điệu, những phụ nữ trụy lạc xanh tái từ Petersburg với cặp môi son đỏ thắm, những viên thư ký của các ông xếp trong bộ ngành hành chính; những tên đồng tính trẻ nhớt nhát. Các ông hoàng và những tên thầu đồ phế phẩm, các thí nhân và bọn cầm đồ, cảnh sát và kép hát từ những nhà hát hoàng gia.

Kiev không phải là thành phố duy nhất bị xâm lấn như thế này. Cảnh mô tả của Bulgakov có thể áp dụng cho gần như mọi thành phố lớn ở phía nam. Nhưng sự hiện diện của người Đức và chính phủ bù nhìn Ukraine do lãnh tụ Cô-dắc Paulo Skoropadsky cầm đầu, vốn cam kết bảo vệ tài sản của những người tị nạn và tạo công ăn việc làm cho họ, ắt hẳn khiến Kiev trở thành vùng đất lành chim đậu. Nhà nào cũng chứa đầy nức người. Các ông hoàng Nga ngủ trên sàn nhà và ghế đi-văng. Thành phố tưng bừng không khí cuồng nhiệt, mọi người sống như không có ngày mai. Người ta ăn uống tấp nập trong các nhà hàng sang trọng, đánh bạc cho vơi đi của cải trong các câu lạc bộ và casino, và lặn hụp trong các cuộc tình ái lăng nhăng. Các tiệm giải khát hốt về bộn tiền nhờ bán cốc tai và gái gú. Các phòng nhạc và nhà hát đêm nào cũng chật ních khán giả, ở đó người ta cười lên cho quên nỗi sợ. Các cửa sổ trưng bày tại các cửa hàng chất đầy các hiệu dầu thơm và len Pháp, những khứa cá tầm to sầm và trứng cá muối, và những chai xâm banh Abrau có hình con đại bàng hai đầu trên nhãn.

Những người tị nạn này căm ghét bọn Bôn-se-vich thậm tệ. Nhưng rất ít người muốn đánh lại họ. ‘Lòng căm thù của họ’, Bulgakov viết, ‘không phải loại căm thù gây hấn khiến người căm thù phải đánh lại và giết chết, mà là loại căm thù hèn nhát và thụ động.’ Họ lẩm bẩm những lời chửi rủa khi ngồi ăn trong khách sạn và đọc những tin khủng khiếp mới nhất ở miền bắc. Nhưng họ không có ý định rời bỏ nơi êm ấm này để đi chiến đấu. Đó là bọn tư sản đang tháo chạy.

Chỉ có những sĩ quan – con trai của địa chủ và sinh viên mà việc học bị dang dở vì chiến tranh – mới căm thù bọn Đỏ với loại căm thù xúi giục họ chiến đấu. Những chàng trai trẻ này đã trốn chạy khỏi những trung đoàn tơi tả ở Mặt trận và liều mạng băng qua xứ sở để đến những thành phố phương nam. Ban ngày, họ lang thang khắp đường phố, không cạo râu và không một xu dính túi; ban đêm họ ngủ trên ghế và sàn nhà dân chúng, lấy áo choàng làm chăn. Đây là một thế hệ bị tước đoạt không có gì để mất trong cuộc nội chiến. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến gia đình mình mất hết điền trang về tay nông dân, hoặc hứng chịu cảnh sự nghiệp mình, hi vọng và ước mơ của mình bị hủy hoại vì cách mạng. Họ uống quá nhiều, lòng quặn sôi vì căm hờn và chỉ nghĩ đến việc trả thù.

Một trong những sĩ quan sinh viên này, Roman Gul, đang đi xuyên qua Kiev trên đường đến vùng Don để gia nhập Bạch Vệ vào mùa đông 1917. Vào tháng 10 ông đã nhận được một điện tín từ cha: ‘Sản nghiệp đã tiêu tan, hay xin phép về.’ Từ lúc đó anh đã chạy tránh bọn Bôn-se-vich. Đi xuyên qua nước Nga trên một toa tàu hạng ba, Gul ghê tởm khi thấy vẻ ác ý và ngờ vực trên gương mặt các binh sĩ nông dân chung quanh anh. ‘Đây là những người đã đập nát chiếc ghế bằng gỗ gụ của chúng tôi,’ anh viết cho một người bạn khi ngồi trên tàu; ‘đây là những người đã xé nát những quyển sách ưa chuộng của tôi, những quyển mà tôi mua khi còn là sinh viên tại Sukharevka;* đây là những người đã chặt phá vườn cây và cắt sạch những hoa hồng mà mẹ tôi trồng; đây là những người đã đốt rụi nhà tôi.’ Chính một phần vì muốn trả thù sự mất mát này mà Gul, như quá nhiều những người trẻ tuổi thuộc tầng lớp anh, đã quyết định gia nhập Bạch Vệ. ‘Tôi bổng nhận ra là bên dưới chiếc mũ đỏ mà tôi ngỡ là gương mặt của một phụ nữ xinh đẹp của Cách Mạng hóa ra chỉ là cái mõm xấu xí của một con heo. Lòng tôi nặng chĩu mối nghi hoặc và do dự, nhưng tôi tự thuyết phục mình rằng rốt cục, để đem mọi thứ đúng đắn trở lại, người ta phải dám lãnh trách nhiệm, người ta thậm chí phải sẵn sàng phạm tội giết người.’

* Một thị trường chợ đen ở Moscow.

 

Nơi đến của Gul, Novocherkassk, là bộ tư lệnh của Quân đội Tình nguyện còn non trẻ do Alexeev và Kornilov cầm đầu. Sau khi người Bôn-se-vich chiếm chính quyền, và Kornilov được phóng thích từ Tu viện Bykhov, cả hai đã chạy đến thị trấn ngáy ngủ trên thảo nguyên, nơi người Cô-dắc vùng Don, mà người Bạch Vệ cho là thành phần hậu thuẫn kiên cường của trật tự cũ, gần đây đã cử Tướng Kaledin giữ chức Ataman (Thủ lĩnh) của hội đồng truyền thống Krug. Lầm lì và ủ rũ, Kaledin là vị tướng Cô-dắc điển hình của trường phái cũ. Trong 1917 ông đứng về phe Kornilov chống người Xô-Viết và tại Hội nghị Moscow vào tháng tám đã kêu gọi thẳng thừng bãi bỏ tất cả tổ chức quân đội dân chủ.

Vùng Krug vùng Don đã tuyên bố độc lập vào ngày 20/11. Mối quan tâm chính của các thủ lĩnh Cô-dắc vùng Don là bảo vệ sự độc lập này, nhưng quân Tình nguyện đã thuyết phục họ rằng việc này chỉ có thể thực hiện bằng cách tham gia với họ chống lại người Bôn-se-vich. Người Bôn-se-vich đã động viên sự ủng hộ của dân chúng không phải Cô-dắc trong vùng Don – trong số những nông dân Nga, các công nhân kỹ nghệ và thủy thủ của Hạm đội Biển Đen – để tấn công Rostov, thành phố chính của vùng Don. Do đó, thoạt đầu, Kaledin chào đón quân Tình nguyện đến – khi đó chỉ vỏn vẹn 40 sĩ quan, tự gọi mình là Tổ chức Alexeev – vào ngày 17/11. Lực lượng của Kaledin tan rã nhanh chóng, vì những lính Cô-dắc trẻ hơn và cực đoan hơn, vốn không có tâm trạng đánh nhau với bọn Đỏ, từ Mặt trận trở về  và bắt đầu vận động chống lại quyền lãnh đạo của ông. Nhiều người Cô-dắc bản địa sợ rằng sự hiện diện của quân Tình nguyện có thể khiến Novocherkassk, thủ phủ vùng Don, trở thành một mục tiêu cho người Bôn-se-vich. Vì người Cô-dắc không tin cậy người Nga Trắng, nên thoạt đầu các sĩ quan của Alexeev phải ẩn náu trong một bệnh viện. Nhưng khi bọn Đỏ tiến gần, thấy rõ là vùng Don không đủ sức phòng vệ nếu không được họ hậu thuẫn, Kaledin liền bố trí họ mà không gặp sự chống đối nghiêm trọng của người Cô-dắc. Vào đầu tháng 12 Hồng Vệ binh cuối cùng chiếm được Rostov. Kaledin thiết quân luật và kêu gọi Quân Tình nguyện tái chiếm thành phố (lính Cô-dắc của ông đã từ chối đánh chiếm). Đoàn quân của Alexeev, lúc này đã có đến 500 sĩ quan, hoàn toàn đủ sức đánh thắng Hồng Vệ binh có quân số đông hơn nhưng vô kỷ luật. Trận đánh sáu ngày bắt đầu vào ngày 9/12 – Ngày Thánh George, vị thánh bổn mạng của nước Nga. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của cuộc nội chiến.

Trận đánh Rostov là điển hình lối đánh đặc trưng của cuộc chiến kéo dài 12 tháng (10/1917 đến 9/1918). Không có ‘mặt trận’ cố định, vì hai bên không có bên nào có đủ người  hoặc kênh tiếp tế, và sự di chuyển của trận đánh cực kỳ mềm dẻo. Các thị trấn lớn có thể bị đánh chiếm bởi các quân đoàn nhỏ không đáng gọi là quân đoàn. Phần đông việc chuyển quân là bằng đường sắt, và vì lý do này những cuộc chạm trán đầu tiên được biết với tên ‘cuộc chiến đường sắt’. Vấn đề là chất một nhóm binh sĩ và vài cây súng máy lên tàu hỏa và chạy đến một ga kế tiếp – binh sĩ ‘đánh chiếm’ nhà ga cùng với thị trấn. ‘Việc đánh nhau’ trong các trận đánh này thường như trò hề, vì nhiều hàng ngũ binh lính, nhất là bên phe Đỏ, rất ngại đánh nhau (nhiều người trong số họ chỉ tham gia quân đội để có áo choàng và khẩu phần ăn mỗi ngày). Rất thường xảy ra tình trạng hai bên đối thủ bất ngờ chạm trán nhau trong một ngôi làng hoặc một thị trấn nhỏ rồi, sau một cuộc họp bàn, hai bên đồng ý rút lui hơn là giao tranh. Các Hồng Vệ binh, đặc biệt, thường hoảng hốt bỏ chạy ngay phát súng đầu tiên của địch; và mặc dù phe Bạch Vệ, gồm những người tình nguyện, gặp ít vấn đề thuộc loại này hơn; trong nhiều tình huống các sĩ quan bắt buộc phải sử dụng biện pháp khủng bố đối với binh lính của mình. Ở cả hai phía, các sĩ quan đều hạ thấp tổn thất của mình, và thổi phồng thắng lợi, trong các báo cáo chiến trường. Như Trotsky có lần phàn nàn, mọi thị trấn đều bị chiếm, theo như báo cáo, ‘sau một trận đánh ác liệt’; trong khi mọi cuộc rút lui ‘chỉ là kết quả của cuộc tấn công dữ dội của một  lực lượng áp đảo’.

Sự lớn mạnh của Quân Tình nguyện phần lớn nhờ vào sự hiện diện đầy uy tín của Tướng Kornilov. Ông và tùy tùng đã tẩu thoát khỏi Tu viện Bykhov sau khi Dukhonin mất quyền kiểm soát Stavka về tay Bôn-se-vich vào tháng 11. Vì điều này đã loại bỏ khả năng đánh bại người Bôn-se-vich từ bên trong nước Nga Xô-Viết, những vị tướng Bykhov quyết định chuồn đến vùng Don. Phần đông đều hóa trang và đi bằng tàu hỏa qua nước Nga Bôn-se-vich. Lukomsky cạo sạch râu và nói nhại giọng Đức; Romanovsky hóa trang thành một thiếu úy; Markov thành một lính trơn. Denikin giả làm một quí tộc Ba Lan và đi tàu vé hạng ba: chính ở đây ông chứng kiến lần đầu tiên ‘lòng căm thù vô hạn’ của quần chúng đối với ‘ bất cứ thứ gì về mặt xã hội và trí thức cao hơn đám đông’. Tự hào như bao giờ, Kornilov, từ chối giấu giếm thân phận mình và dẫn Trung đoàn Tekinsky trung thành  hành quân qua chiến địa kẻ thù Bôn-se-vich. Cuối cùng họ bị một tàu hỏa bọc sắt Đỏ chận lại và hai bên giao tranh. Con ngựa trắng của Kornilov bị bắn ngay bụng dưới. Ông xoay sở tẩu thoát được, và tập hợp lại binh sĩ. Thấy họ quá chán nản không muốn đi tiếp, Kornilov đành bỏ họ lại và một mình tiếp tục cuộc hành trình, hóa trang thành một nông dân. Mỉa mai thay, ông đến vùng Don trên tàu hỏa chở Hồng Vệ binh.

Gul đến Novocherkassk vào chiều cuối năm. Nó là một nước Nga cổ xưa thu nhỏ bị lưu đày. St Petersburg trên thảo nguyên. Những người ngã xuống cao lớn và hùng mạnh  chen chân trên những con đường lầy lội. ‘Đây là các vị tướng với sọc và cầu vai, những sĩ quan kỵ binh trong tấm áo choàng đầy màu sắc phóng ngựa qua, những đồng phục trắng của các nữ y tá,và những chiếc mũ to đùng vùng Caucassus của các chiến binh Turkomen,’ Gul nhớ lại. Nhiều chính trị gia Duma đã đến để thử sức và chỉ đạo phong trào Trắng: Miliukov, Rodzianko, Struve, Zavoiko, G. N. Trubetskoi, N. N. Lvov, thậm chí đảng viên SR, Boris Savinkov. Những nhà trí thức hàng đầu cũng chọn Don làm nhà mình, theo nghĩa vật chất hoặc tinh thần. Marina Tsvetaeva, mà chồng bà, Sergei Efron, là một trong những người đầu tiên gia nhập Quân Tình nguyện, viết một loạt các bài thơ từ gác xép của mình ở Moscow, Doanh Trại của Thiên Nga, trong đó bà lý tưởng hóa cuộc nổi dậy trên vùng Don là ‘tuổi trẻ và vinh quang’ của nước Nga.

Đối với Tsvetaeva, cũng  như với nhiều người cùng hoàn cảnh và địa vị như bà, vùng Don biểu thị niềm hi vọng cuối cùng để cứu vớt nền văn minh Nga. Như bà đã diễn tả, nó là ‘giấc mơ cuối cùng của cựu thế giới’.

Ở Novocherkassk  đồng hồ chính thức được đặt theo giờ St Petersburg – muộn hơn giờ địa phương Don – như thể trong tư thế sẵn sàng quay lại với công việc hành chính ở thủ đô sa hoàng. Không có biểu tượng nào tốt hơn nói lên thái độ hoài hương của phe Trắng. Về thực chất, họ đang quay ngược kim đồng hồ. Mọi thứ về họ, từ các đồng phục thời sa hoàng cho đến áo đi làm buổi sáng, biểu hiện một nỗi khát khao phục hồi chế độ cũ. Trong những năm sau này, khi nhìn lại cuộc nội chiến, tất cả những người thông minh nhất  bên phe Trắng, ở phía nam nước Nga hoặc ở Siberia, đều nhận ra rằng chính nhân dạng liên quan đến quá khứ là nguyên nhân chính cho sự thất bại của họ. Bởi vì mặc dù các lãnh đạo của phe Trắng có thể đã cam kết  vào các nguyên tắc dân chủ, họ đã bắt rễ quá sâu trong chế độ cũ để được nhìn nhận là một đối thủ tương xứng với người Bôn-se-vich; và điều này thậm chí càng đúng hơn đối với những sĩ quan và viên chức địa phương phe Trắng khi đi tiếp xúc với quần chúng. Họ tạo nên hình ảnh về chế độ Trắng mà quần chúng không muốn thấy. Astrov, người Kadet gia nhập Quân Tình nguyện, viết vào năm 1920: ‘Chúng ta, với những trò vui lỗi thời, tâm trí lỗi thời và những tật xấu lỗi thời về nền hành chính của chúng ta, và hoàn tất với bảng quân hàm thời Peter Đại đế, không thể nào theo kịp phe Đỏ.’ Shulgin, người theo chủ nghĩa dân tộc, viết vào năm 1919: ‘Phe phản cách mạng không đưa ra được dù  một cái tên mới. . . Đó là lý do chính cho thảm kịch của chúng ta. Struve, viết vào năm 1921, nhấn mạnh bằng cách nào ‘tâm lý chế độ cũ’ đã cản trở phe Trắng chấp nhận những phương pháp cách mạng cần thiết để thắng một cuộc nội chiến.

Về tâm lý, phe Bạch Vệ xử sự như thể không có gì xảy ra, trong khi trong thực tế toàn bộ thế giới chung quanh họ đã sụp đổ, và để khuất phục kẻ thù chính họ phải trải qua, theo một nghĩa nào đó, một sự tái sinh. . . Trong bão tố cách mạng ập vào nước Nga năm 1917, ngay cả những người theo chủ nghĩa phục hồi cũng phải biến thành người cách mạng theo ý nghĩa tâm lý: vì trong một cuộc cách mạng chỉ có những người cách mạng mới tìm được đường lối của mình.

Việc không thích chủ nghĩa phục hồi – và cái chân còn bị thương – đã ngăn Brusilov đi đến vùng Don, dù có lời kêu gọi của bạn cũ Alexeev. Trong khi ông rõ ràng vẫn có cảm tình với Bạch Vệ, nhưng ông tin rằng lý tưởng của họ ‘thế nào cũng thất bại vì nhân dân Nga, dù tốt hơn hay tệ hơn, đã chọn phe Đỏ’. Không có lý do gì, như lời ông giải thích cho người bạn vào tháng 4, quay ngược kim đồng hồ trở lại. ‘Tôi như thấy chế độ cũ đã bị truất phế từ lâu rồi,’ Cuộc chiến của Kornilov chống lại Bôn-se-vich có thể là dũng cảm và cao cả, theo lời ông, nhưng cũng là một ‘hành động ngu ngốc’ chắc chắn sẽ ‘gây lãng phí nhiều sinh mạng thanh niên’. Ắt hẳn trong phát biểu của ông cũng ẩn chứa việc ông không mấy ưa gì Kornilov. Nhưng cũng không giấu được tính cam chịu khiến ông không tham gia nội chiến – như thể ông tin rằng cách mạng là ý Chúa và là một hài kịch thần thánh mà hồi kết vẫn chưa rõ ràng. Là một người yêu nước, Brusilov cho rằng ‘nghĩa vụ của mình là về phe với nhân dân’ – nghĩa là không theo phe nào trong cuộc chiến, cho dù điều này cũng có nghĩa là phản bội giai xã hội và ý thức hệ của mình.

Quân Tình nguyện là đội quân của những sĩ quan. Đó là vấn đề nghiêm trọng của nó: nó không hề lôi kéo được sự ủng hộ của dân chúng, thậm chí đám hạ sĩ quan. Khi lần đầu tiên nhận được danh sách người tình nguyện, Kornilov kêu lên tức tối: ‘Sao toàn là sĩ quan không vậy, còn lính tráng đâu?’ Trong số 3,000 quân tình nguyện đầu tiên, không tới một chục người là binh sĩ. Trong lịch sử chiến tranh chưa bao giờ có một quân đội cao quân hàm như thế. Đại úy và đại tá buộc làm binh nhì. Thiếu tướng chỉ chỉ huy một toán lính. Việc cãi cọ liên miên về quyền chỉ huy gây nhức đầu cho Tổng Tham mưu. Các vị tướng lớn tuổi không chịu dưới quyền các sĩ quan trẻ hơn được thăng quân hàm nhanh nhờ chiến công; những người bảo hoàng không chịu nghe lệnh các chỉ huy chống Sa Hoàng. Một số từ chối phục vụ dưới cấp bậc mà họ đã nhận trong quân đội hoàng gia, cho rằng hạ thấp phẩm chất của mình. Quán giải khát đầy dẫy những sĩ quan ăn không ngồi rồi này. Họ gọi Quân Tình nguyện là ‘những lính chì’. Niềm tự hào về cấp bậc và vị thế trước đây đã lấn át mong muốn chiến đấu của họ.

Thậm chí hai người đàn ông đứng đầu phong trào cũng không tránh khỏi những trò bới móc nhỏ nhen. Kornilov được giao quyền tư lệnh Quân Tình nguyện, trong khi Alexeev nắm về những vấn đề chính trị và tài chính. Nhưng sự phân chia quyền hạn thực sự không hoạt động và cả hai cứ ngán trở nhau. Mối quan hệ trở nên quá xấu đến nỗi mối quan hệ thường ngày của họ cũng phải thông qua những người đưa tin, cho dù văn phòng của họ nằm sát bên nhau. Không khí vẩn đục khi họ nói xấu nhau suốt, điều mà Roman Gul phát hiện khi đăng ký tại văn phòng quân đội ở Novocherkassk. Không biết văn phòng tuyển quân do người bên phe Alexeev điều hành, anh khai tên một thân nhân của Kornilov là một người quen biết mình. ‘Viên thiếu úy nhăn nhó, nhún vai và nói rit lên: ”Này, vậy là y không thuộc về tổ chức của chúng ta rồi.”‘ Chỉ sau này Gul mới biết ‘mối hiềm khích được che đậy và tranh chấp ngấm ngầm giữa hai chóp bu’. Sự rạn nứt ít do ý thức hệ hơn là do các chiến thuật, phong cách và cạnh tranh cá nhân. Cả hai người đã chấp nhận Cách Mạng Tháng Hai và đã cam kết phục hồi Quốc hội Lập hiến. Nhưng Kornilov thù nghịch với các chính trị gia Kadet – hay đúng ra với mọi chính trị gia – mà Alexeev ve vãn. Ông cũng tán thành những chiến thuật táo bạo – kể cả khủng bố trong lòng nước Nga – hơn là Alexeev bảo thủ. ‘Thậm chí nếu phải thiêu rụi phân nửa nước Nga và đổ máu hơn ba phần tư dân số, chúng ta vẫn phải làm nếu điều đó cần thiết để cứu vớt nước Nga,’ Kornilov có lần nói. Alexeev và các vị tướng lão thành xem Kornilov như một người kích động và mị dân, chỉ mới leo lên cấp tướng sau Cách Mạng Tháng Hai. Vậy mà chính hình ảnh con người của thời thế này đã khiến ông trở thành thần tượng của đám sĩ quan trẻ. Đó là sự va chạm giữa các nguyên tắc cổ lỗ thời sa hoàng với đường lối chính trị quần chúng của năm 1917.

Là một quân đội chỉ gồm các sĩ quan Nga, Quân Tình nguyện luôn gặp phải vấn đề với chủ nhà Cô-dắc của mình. Các lãnh đạo phe Trắng đã chọn lập căn cứ ở Don vì họ nghĩ là người Cô-dắc vùng Don hậu thuẫn mạnh mẽ trật tự cũ. Nhưng điều này là do những huyền thoại của thế kỷ 19 hơn là thực tế của thế kỷ 20. Thật ra bản thân nội bộ Cô-dắc cũng chia rẽ, về phương diện vùng miền cũng như về thế kỉ hệ. Ở các khu vực phía bắc người Cô-dắc là những tiểu chủ, như các nông dân Nga, và thường hậu thuẫn những tư tưởng tiến bộ do các sĩ quan Cô-dắc trẻ dân chủ hơn rao giảng về một nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa đoàn kết với nông dân. Những người phía bắc không ưa người ở khu vực miền nam, vì họ giàu có cũng như các người trưởng thượng thường giành quyền nói thay cho toàn bộ lãnh thổ như của mình. Những người lính Cô-dắc trẻ hơn, mệt mỏi vì chiến tranh, chịu ảnh hưởng của những sĩ quan xuất thân từ hàng ngũ của họ, thường chủ trương hoà giải với nước Nga Bôn-se-vich hơn là chống lại nó. Do đó thực sự chỉ ở miền nam Don – nơi người Cô-dắc giàu có hơn mới quyết tâm bảo vệ đặc quyền đất đai lịch sử của họ chống yêu sách cải cách ruộng đất của nông dân Nga – người Cô-dắc mới sẵn sàng đánh lại người Bôn-se-vich. Phần đông người Cô-dắc miền bắc Don, ngược lại, tập hợp đằng sau Hội đồng Cách mạng Quân sự (MRC)  ở Kamenskaia do sĩ quan Philip Mironov cầm đầu, người đã tổ chức cuộc nổi dậy của Cô-dắc vùng Don năm 1905-6. Mục tiêu của Mironov là một cộng hòa xã hội chủ nghĩa độc lập đoàn kết người Cô-dắc với nông dân Nga. Nhưng thật ra MRC của y đóng vai trò như một đạo quân thứ năm (lực lượng nằm vùng) cho người Bôn-se-vich khi họ xâm lược vùng Don từ đông Ukraine. Trong khi đó, ở các thành phố kỹ nghệ vùng Don bộ phận lớn các  công nhân Nga, vốn thường ủng hộ người Bôn-se-vich, tổ chức một số cuộc biểu tình phản đối sự có mặt của Quân Tình nguyện. Công nhân tàn sát những người bị nghi là tiếp tay cho Bạch Vệ – mà trong thực tế có nghĩa là toàn thế người tư sản – trong khi phe Trang cũng tiến hành những đáp trả dã man tương tự, móc mắt và cắt mũi hàng trăm người đình công. Tóm lại, một con lốc xoáy khủng bố lớn dần khi các thành phố của vùng Don bước vào nội chiến.

Đối với một số lớn dần các Cô-dắc địa phương, tất cả những việc này có vẻ như là mối xung đột xa lạ nhập khẩu từ Nga. Những thanh niên trẻ Cô-dắc, những người đã trải qua ba năm vừa qua tại Mặt trận đặc biệt thù địch với ý tưởng phải chiến đấu cho phe Trắng. Vì thế giữa Cô-dắc cha và con có mối chia rẽ càng ngày càng sâu sắc, như độc giả cuốn tiểu thuyết Sông Don Êm Đềm của Sholokhov hẳn nhớ, và lực lượng của Kaledin tan rã khí những thanh niên Cô-dắc quay lưng lại với chiến tranh. Việc phòng thủ vùng Don do đó được giao lại cho Quân Tình nguyện và một số nhỏ teo tóp các lính Cô-dắc phần nhiều lớn tuổi hơn còn trung thành với Kaledin. Không có triển vọng được tiếp tế hoặc tài trợ từ giới trung lưu Rostov, Quân Tình nguyện ít có cơ hội cầm chân phe Đỏ.

Vào ngày 8/2, sáu ngày sau cuộc nổi dậy của công nhân trong thành phố, phe Đỏ chiếm được Taganrog. Họ bây giờ chỉ cách Rostov không tới 50 dặm. Chính quyền Kaledin sắp sửa sụp đổ. Quân Tình nguyện, thấy không có lý do gì phải hi sinh quân để bảo vệ Rostov, chuẩn bị bỏ rơi nó và hành quân về nam hướng đến Kuban, nơi người Cô-dắc, lo lắng về cuộc tiến đánh của phe Đỏ, có thể sẵn sàng tiếp tay với mình. Kaledin từ chức Ataman. Cũng ngày đó ông bắn vào người tự tử. Mười ngày sau, 23/2, phe Đỏ chiếm được Rostov lần thứ hai trong ba tháng.

Novocherkassk, thủ đô của Don, thất thủ ngày 25, người Xô-Viết kiểm soát gần như hoàn toàn nước Nga. Chỉ còn Kuban là ổ kháng cự chủ yếu. Lênin tuyên bố cuộc nội chiến đã chấm dứt. Nhưng thật ra nó chỉ mới bắt đầu.

Hành trình Băng giá, là cái tên đặt cho cuộc lui binh khỏi vùng Don đến Kuban của Quân Tình nguyện, là thiên anh hùng ca của cuộc nội chiến Nga. * Kịch tính của Hành quân Băng giá trở thành huyền thoại trong phe Bạch Vệ và sau đó được kể lại trong vô số hồi ký của người di dân. Đây là bước ngoặt của phong trào Bạch Vệ, thời điểm mà Quân Tình nguyện trở thành một quân đội thực sự, như thể chính sự sống còn, chống lại mọi nghịch cảnh, đã ràng buộc họ với nhau và ban cho họ sức mạnh vượt trội hơn nhiều so với quân số thực sự của mình.

*  Không có gì so sánh được với nó bên phe Đỏ – có lẽ trừ ra cuộc trường chính của Quân đoàn Taman, bị các lực lượng Bạch Vệ giăng bẫy tại Bán đảo Taman, trong tháng 8 và 9, 1918. Câu chuyện anh hùng này là bối cảnh của tiểu thuyết lừng danh Cơn Lũ Sắt của SerafiMen-se-vichich. Quân đoàn Taman có một danh hiệu anh hùng dưới chế độ Xô-Viết. Càng thêm mỉa mai khi, vào tháng 10,1993, Yeltsin đã sử dụng nó để tấn công ào ạt vào trụ sở nghị viện.

Vào ngày 23/2, khi lực lượng Xô-Viết tiến vào Rostov, Kornilov dẫn đi Quân Tình nguyện của mình, non 4,000 binh sĩ tinh nhuệ, trang bị chỉ một người một súng trường và một ít đại bác, băng qua thảo nguyên băng giá của vùng Don. Họ đi theo hàng một, một đường chỉ màu đen nổi bật lên thảo nguyên mênh mông tuyết phủ. Theo sau đuôi họ là hàng dài dân thường, các chủ ngân hàng, nhà chính trị, giáo sư đại học, nhà báo, y tá và các bà vợ và con cái của sĩ quan – làm chậm bước tiến của họ. Đây đúng là giới tư sản Rostov đang tháo chạy. Chẳng thà dấn bước trên hành trình tàn khốc này hơn là ở lại và phó mặc số phận cho người Bôn-se-vich.  Các Lữ hành Băng Giá đi bộ suốt ngày đêm tránh xa đường tàu và các khu dân cư nơi dân chúng chắc hẳn thù oán họ. Kẻ bị thương và bệnh tật bị bỏ lại sau. Nhiều người tự bắn  vào mình chứ không muốn lọt vào tay phe Đỏ.

Tướng Lukomsky, nhóm của ông tách khỏi đạo quân chính, bị dân làng Nga ở Guliai-Borisov bắt làm tù binh và mang ra trước Tòa án Cách mạng. Lukomsky ra sức thuyết phục dân làng mình là một thương gia đi du lịch, nhưng việc này cũng chẳng tác dụng gì, và họ yêu cầu bắn ngay tên tư sản. Khi đợi bị hành hình, Lukomsky đã trông thấy ngôi mộ của mình đã được đào sẵn. Ông lấy vài viên xya-nua mà ông luôn cất giữ trong người kể từ khi bị quản thúc tại Tu viện Bykhov. May thay, thuốc độc không có tác dụng.  Trước khi đến lượt ông bị hành hình dân làng đánh đến chết hai lính tình nguyện và lao vào ấu đả nhau giành giật đôi giày của họ. Lợi dụng  lúc lộn xộn, Lukomsky nhanh trí trốn thoát được.

Càng đi sâu vào thảo nguyên, phe Trắng càng thi hành biện pháp khủng bố chống lại dân chúng. Hành trình Băng Giá để lại đằng sau một  con đường máu. Có lẽ đó là điều không thể tránh khỏi, vì Quân Tình nguyện cần khẩn cấp lương thực mà dân chúng lại không muốn cho. Phe Trắng trôi giạt trong một biển nông dân Đỏ. Nhưng cũng có yếu tố của đấu tranh giai cấp và trả thù trong bạo lực của họ, như trong quá nhiều hành động Khủng Bố Trắng, là hình ảnh phản chiếu của Khủng Bố Đỏ. Khủng bố nằm ở trung tâm của hai chế độ. Một trong những hành động tàn bạo nhất mà phe Trắng gây ra trong Hành trình Băng Giá xảy ra tại làng Lezhanka. Đó là ngôi làng của nông dân Nga nổi tiếng vì có cảm tình với cách mạng. Roman Gul nhìn khiếp đảm khi các sĩ quan bạn bè tàn sát dã man 60 nông dân, nhiều người trong số là ông già và phụ nữ, để trả thù vụ Khủng Bố Đỏ ở Rostov. Hàng trăm nông dân bị lột trần và bị đánh roi trong khi quân Tình nguyện bu chung quanh cười cợt. Gul bắt gặp một phụ nữ nông dân nghèo khó – bà nấu cho anh bữa sáng trong túp lều của mình – đã mất chồng và ba con trai. Tất cả họ đều bị bắn vì là ‘Bôn-se-vich’. Điều này làm Gul vỡ mộng đắng cay vì những tưởng mình tham gia Bạch Vệ để chiến đấu cho lý tưởng dân chủ mà người Bôn-se-vich phản bội. Anh bắt đầu ray rứt tự hỏi liệu ‘phe Trắng thực sự có tốt hơn phe Đỏ chút nào chăng’.

Sau vài tuần lang thang trên thảo nguyên, đánh nhau với phe Đỏ cho tới viên đạn cuối cùng, Kornilov ra lệnh quân Tình nguyện tấn công

Ekaterinodar, thủ phủ của Cộng Hòa Xô-Viết Bắc Caucassus vừa mới thành lập. Vào ngày 23/3 họ được Quân đoàn Kuban tiếp tay. Quân đoàn có khoảng 3,000 người Cô-dắc do Tướng Pokrovsky cầm đầu, đã trốn chạy khỏi Ekaterinodar và gần như chạm mặt với quân Tình nguyện gần vùng đồi Circassian. Tai cuộc họp thượng đỉnh kỳ lạ trong ngôi làng bên sườn đồi Shendzhii, với đầy đủ nghi thức của chế độ cũ, Kornilov và Pokrovsky đoàn kết lực lượng để tái chiếm Kuban. Vào ngày 10/4, Kornilov với vai trò chỉ huy đội quân phối hợp 7,000 người, ra lệnh tấn công vào thủ đô. Họ đụng sức kháng cự mạnh mẽ từ phe Đỏ, với gần 18,000 quân.  Kornilov biết rằng cuộc vây hãm chắc chắn thất bại, có thể khiến toàn quân bị hủy diệt, nhưng vẫn không chịu lui binh. Suy cho cùng lui quân không phải là bản chất của ông. ‘Nếu chúng ta không lấy được Ekaterinodar,’ ông bảo Denikin vào ngày 12, ‘tôi không còn biết phải làm gì trừ bắn một phát đạn vào đầu.’

Đúng là Kornilov trả giá cho hành động liều lĩnh chết người của mình bằng chính mạng sống mình. Sáng sớm hôm sau một trái pháo rơi ngay chốc trên tòa nhà bộ chỉ huy của ông trong một nông trại, chôn vùi ông trong đống gạch vụn. * Tướng Denikin ngay lập tức nắm quyền chỉ huy, cố gắng giấu nhẹm tin tức về cái chết của ông với binh lính. Đối với họ, Kornilov không chỉ là một tư lệnh, mà còn là biểu tượng cho chính nghĩa của họ, tin ông mất sẽ khiến họ mất hết tinh thần chiến đấu tại thời điểm nguy cấp này. Vị anh hùng Bạch Vệ được an táng trong một nghĩa trang nhà thờ nhỏ trong làng

 Elisavetinskaya. Nhưng phe Đỏ sau đó tìm được mộ, liền lôi xác đã thối rữa về Elisavetinskaya. Tại đó họ mang thi thể ông diễu qua đường phố trước khi thiêu cháy trên quảng trường chính.

*  Phe Đỏ sau đó tuyên bố rằng họ đã nhận được mật tin về vị trí của bộ chỉ huy của Kornilov do một người đào ngũ khỏi quân Tình nguyện cung cấp.

 

Mỉa mai thay, cái chết của Kornilov lại là cứu tinh cho phe Trắng. Nếu sống, ắt hẳn ông sẽ ra lệnh tiến công lần cuối cùng vào Ekaterinodar, mà gần như chắc chắn  sẽ là thảm bại hoàn toàn. Đêm hôm trước khi chết, ông đã không nghe lời khuyên của các vị tướng rút khỏi đó, vốn đã bị pháo kích ác liệt nhiều ngày trước, vì cho rằng ‘không đáng lo; ngày mai chúng ta đã bắt đầu tấn công lần sau cuối rồi’. Denikin, vốn chưa bao giờ tha thiết với ý định vây hãm, ra lệnh toàn quân rút lui nhanh chóng về phía bắc, để lại chừng 200 thương binh để đi cho nhanh. Nếu phe Đỏ nỗ lực hết mình đuổi theo, thay vì nhảy nhót trên mộ của Kornilov, họ có thể đã kết thúc thắng lợi cuộc nội chiến lúc đó. Nhưng họ đã cho phép quân Tình nguyện thoát được về vùng Don mà lúc trước họ đã bỏ đi. Bốn ngàn người lên đường và ít nhất còn số đó nay trở về. Quan trọng hơn, họ trở lại với tinh thần chiến đấu phấn chấn hơn lên.

* * *

Vùng Don mà họ đã trở lại, trong 10 tuần vấng mặt, đã sống dưới sự khủng bố của người Bôn-se-vich. Cộng hòa Xô-Viết Don xoay sở để đạt được điều mà Kaledin luôn cố sức mà không làm được – khiến người Cô-dắc quay sang chống phe Đỏ. Sau khi phe Đỏ chiếm được Rostov, những người cai trị Hồng Quân thiết lập một ách khủng bố lên vùng Don. Các Xô-Viết bị áp đặt lên các khu dân cư Cô-dắc và lương thực bị trưng thu trước mũi súng. Các mức thuế trừng phạt được moi ra từ các tư sản và hàng trăm con tin bị bắn vô tội vạ. Hồng Vệ binh, trước khi rút lui khi Đức tiến về phía Taganrog  được người Bôn-se-vich cho phép ‘cướp bóc bọn cướp bóc’, liền đi xục xạo khắp các stanitsa, tức làng mạc Cô-dắc, gieo tàn phá chết chóc. Nhà thờ bị tấn công, giáo sĩ bị hành hình. Một giáo sĩ bị cắt tai và mũi, mắt bị móc ra, trước những giáo dân tại một buổi lễ Phục Sinh.

Kết quả là một làn sóng Cô-dắc nổi dậy, bắt đầu từ những ngôi làng gần

Novocherkassk, vốn bị hành hạ nhiều nhất. Mỗi làng đều có quân nổi dậy riêng, thường do các sĩ quan tổ chức và các nông trại trang bị vũ khí. Trong tháng 4 những đội quân này tề tựu về làng Zaplavskaya, gần Novocherkassk, nơi có một lực lượng mạnh, để chuẩn bị giải phóng thủ đô. Vào cuối tháng 4, họ đã có 10,000 kỵ binh. Lợi dụng lúc phe Đỏ chỉ lo đề phòng quân Đức đang tiến đánh Rostov từ Taganrog vào đầu tháng 5, người Cô-dắc chiếm lại

Novocherkassk mà không gặp sự kháng cự nào ra trò của phe Đỏ. Tại đó họ bầu ra môt vị Krug để Giải Cứu vùng Don, do tướng Krasnov cầm đầu, vị Ataman mới của họ, người đã dẫn dắt cuộc viễn chinh chống Petrograd để phục hồi chế độ Kerensy trong những ngày tháng 10. Krasnov trông ra vẻ một Ataman Cô-dắc từ đầu đến chân. Ông xuất thân từ một gia đình Cô-dắc tiếng tăm, đã từng là một nhà báo trước chiến tranh, và sau đó, sống lưu vong, sinh nhai bằng nghề viết văn. Cả hai nghề này hỗ trợ Krasnov trở thành một chính trị gia. Bằng cách đặt trọng tâm vào những vinh quang trong quá khứ Cô-dắc, ông nhắm đến việc đoàn kết người Cô-dắc trong cuộc chiến chống người Bôn-se-vich để giải phóng đất nước.

Với Cô-dắc kiểm soát vùng Don, miền tây được người Đức hậu thuẫn và miền Nam có quân Tình nguyện, chiến trường đã dọn sẵn cho các lực lượng chống Bôn-se-vich củng cố căn cứ quân sự trên khắp vùng, việc này họ thực hiện giữa tháng 5 và 8. Vào giữa tháng 6, quân đoàn vùng Don của Krasnov lên đến 40,000 lính, được người Đức trang bị để đổi lấy lúa mì. Với phe Đỏ kéo dài đội hình trên sông Volga, người Cô-dắc hoàn thành việc chinh phục lại vùng Don và tạo ra những vùng độn ở phía bắc hướng Voronezh và Tsaritsyn. Trong lúc đó, quân Tình nguyện được tiếp viện 2,000 quân từ Mặt trận Romania do Đại tá Drozdovsky chỉ huy. Giờ đang trong tư thế phát động một cuộc phản công mới: nhưng theo hướng nào? Alexeev và Krasnov đều muốn Denikin đánh ra bắc về hướng Tsaritsyn trên vùng Volga: Alexeev bắt tay với người Czech và lực lượng Komuch xa hơn sông Volga ở Samara; Krasnov cất được mối đe doạ vùng Don khỏi các lực lượng Đỏ đặt căn cứ ở Tsaritsyn. Nếu làm theo kế hoạch này, các lực lượng phối hợp của quân Tình nguyện, Cô-dắc, của Krasnov, người Czech và Komuch có thể đã thắng cuộc nội chiến bằng cách tiến về Moscow từ đầu cầu quan trọng của Volga. Nhưng Deniken bướng bỉnh không chịu và xua quân Tình nguyện về phía nam vào vùng thảo nguyên hoang dã Kuban. Ông muốn củng cố hậu phương phe Trắng bằng cách xây dựng một quân đoàn gồm người Cô-dắc Kuban. Làm thế ông đã đánh mất cơ hội sống còn để kết nối với các lực lượng chống Bôn-se-vich. Quân Cô-dắc Krasnov tấn công Tsaritsyn sau đó trong mùa thu; nhưng họ không thể chiếm được nó. Vào lúc này cuối cùng Denikin đến Volga, trong mùa hè sau đó, các đồng minh phía đông của ông đã hoàn toàn rút lui và thời cơ phối hợp lực lượng đã trôi tuột mãi mãi.

Về bề ngoài, quân Tình nguyện không thể có cơ hội dù nhỏ nhất đánh thắng trong Chiến dịch Kuban Lần Hai này. Họ chỉ có 9,000 quân, đương đầu với  80,000 quân Đỏ ngay bắt đầu chiến dịch. Nhưng phe Đỏ bị cắt đứt khỏi các kho quân nhu của họ ở miền bắc, bị đám đông dân chúng thù ghét bao vây, và kết quả là đạo quân phần lớn là lính nghĩa vụ mất tinh thần. Trái lại, quân Tình nguyện có kỷ luật cao và phấn khích vì ký ức về Hành trình Băng Giá. Một phần ba binh sĩ của họ lúc khởi đầu chiến dịch là những người Cô-dắc Kuban lưu vong chiến đấu để giải phóng quê hương mình. Tỉ lệ này tăng lên khi quân Tình nguyện tiến vào Kuban, nơi người Cô-dắc bản địa, vốn đã chịu đựng ách cai trị của phe Đỏ, hoặc là tham gia quân Tình nguyện hoặc lập thành những đội quân riêng chiến đấu bên cạnh họ. Vào ngày 18/8, sau vài tuần giao tranh, cuối cùng họ chiếm được

Ekaterinodar. Quân Đỏ chạy về Piatigorsk, trong vùng núi Caucassus, trong khi phe Trắng mở rộng quyền kiểm soát khắp miền bắc và tây Kuban. Vào tháng 11, họ đã nắm được quyền kiểm soát Stavropol. Từ một lực lượng nhỏ các sĩ quan trong Hành trình Băng Giá, quân Tình nguyện đã lớn mạnh thành một đạo quân 40,000 người có căn cứ lãnh thổ rộng lớn cỡ nước Bỉ từ đó phóng ra những đợt thánh chiến chống người Bôn-se-vich.

* * *

Tướng Denikin không thể ngờ là mình trở thành vị cai trị tối cao của vùng lãnh thổ này vì nhà lãnh đạo chính trị của phong trào, Alexeev, ngã bệnh và mất vào tháng 10. Denikin giờ vừa lãnh đạo về quân sự lẫn chính trị của lực lượng phản cách mạng ở phía nam. Hiến pháp của Quân Tình nguyện, được soạn thảo sau khi chiếm Ekaterinodar, trao cho ông quyền lực của một nhà chuyên chính quân sự. Ước mơ của Kornilov cuối cùng đã được thực hiện. Nhưng Deniken không phải là Kornilov: ông thiếu phẩm chất của một vị thống soái; và đó một phần là lý do cho sự thảm bại của Bạch Vệ.

Denikin là một nhà quân sự: ông xuất thân từ một gia đình binh nghiệp, và đã trải qua trọn đời trong quân ngũ. Chính trị là lãnh vực xa lạ đối với ông, và ông tiếp cận nó theo một nhãn quan quân sự hẹp hòi. Học viện Tổng Tham mưu không cổ vũ ông suy nghĩ những gì vượt quá ba đề mục cơ bản về niềm tin:  Chuyên chế, Chính thống và Chủ nghĩa Quốc gia. ‘Đối với sĩ quan’, ông nhớ lại, ‘cấu trúc của Nhà nước là một sự kiện tiền định và không lay chuyển được, không dấy lên những nghi hoặc hay những khác biệt ý kiến.’ Trải nghiệm năm 1917 – dạy ông rằng quân đội sẽ tan rã khi dính dáng đến chính trị – củng cố thêm thái độ chống chính trị của Denikin. Nó nuôi dưỡng trong ông, như trong nhiều sĩ quan, sự khinh thường tất cả các chính trị gia. Ông muốn, theo lời ông, giữ cho nó miễn nhiễm ‘khỏi các chính trị gia ưa tranh cãi’ và thiết lập ‘cương lĩnh của riêng mình đặt cơ sở trên những biểu tượng quốc gia đơn giản có thể đoàn kết mọi người’.

Hiến pháp phục vụ các mục tiêu của Deniken. Văn kiện dài dòng này nặng về hình thức hơn nội dung, đầy dẫy những lý tưởng pháp lý hoàn toàn không thực tiễn trong một cuộc nội chiến. Tóm lại, nó chỉ là điều mà người ta chờ đợi từ một hiến pháp được người Kadet viết ra. Nó hứa hẹn mọi thứ cho mọi người; nhưng rốt cục không ban cho ai cái gì cả. Mọi công dân đều hưởng những quyền lợi như nhau; vậy mà người Cô-dắc được giành ‘những quyền lợi đặc biệt và đặc quyền’. Nhà nước được điều hành bởi luật pháp; nhưng mà sự độc tài của Deniken không có giới hạn luật pháp (họ gọi ông là ‘Sa Hoàng Anton’). Không có biện pháp chính trị cơ bản nào đối mặt với nước Nga được thực thi một cách nghiêm túc. Nó nên có hình thức chính quyền nào? Đế chế có phục hồi không? Quyền của các quí tộc địa chủ có được phục hồi không? Tất cả những câu hỏi này bị chôn lấp dưới những mối quan tâm của chiến dịch quân sự?

Có lẽ điều này có thể hiểu được nếu xét những chia rẽ xảy ra ở Ekaterinodar. Nhiều nhóm và phe, từ Black Hundred bên cánh Hữu đến các người dân chủ cực đoan bên cánh Tả, cạnh tranh nhau giành ảnh hưởng chính trị trong phong trào Trắng. Không phe nào tranh thủ được cơ sở hậu thuẫn của quần chúng; vậy mà tất cả đều muốn đóng một ‘vai trò lịch sử’. Họ bới móc nhau và chơi trò chính trị. Hội đồng Đoàn kết Nhà nước và Trung tâm Quốc gia là hai nhóm duy nhất có chút ảnh hưởng thực sự, chia những ghế trong chính quyền Denikin. Nhóm trước là những người bảo hoàng, không công nhận tính hợp pháp của Cách Mạng Tháng Hai. Nhóm sau là người Kadet, cam kết phục hồi Quốc hội Lập hiến. Không có gì ngạc nhiên khi Denikin chọn cách tránh né chính trị. Òng bổng thấy mình bị các chính trị gia bày mưu sắm kế vây quanh, người nào cũng muốn lôi kéo ông về phía họ. Ông muốn lèo lái theo trung đạo, phát ngôn công khai và mơ hồ để không phật lòng ai, và không ngừng rút lui vào nhóm nhỏ các vị tướng cánh Hữu của riêng mình

 — Romanovsky, Dragomirov và Lukomsky là những nhân vật quan yếu nhấtl — nơi những quyết định chính yếu được đưa ra. Hội đồng Đặc biệt là bóng ma đáng buồn của một chính quyền. Nó đóng dấu những quyết định đã được các vị tướng chuẩn y, và tự vùi lấp mình bằng mớ sắc lệnh như giấy lộn về những vấn đề sống còn như dịch vụ bưu điện hoặc những chi tiết chi ly về tài chính và tiếp tế. Phần lớn thời gian  dành để giải quyết câu hỏi nóng bỏng là nên dạy ở trường cách đánh vần theo lối cũ hay mới – và tất nhiên nó chọn lối cũ. Các chính trị gia lão thành, như Shulgin và Astrov, sẽ không hạ mình để làm những công việc như thế; và việc họ vắng mặt trong Hội đồng Đặc biệt càng làm xuống cấp tỉnh hiệu quả của nó nhiều hơn nữa. 

Trong những ngày đầu việc chểnh mảng chính trị này hình như không thành vấn đề. Lúc đó chỉ cần đặt chiến dịch quân sự lên trên mọi thứ khác, và tập trung vào việc xiển dương những biểu tượng quốc gia mơ hồ để đối phó với tuyên truyền của phe Đỏ. Nhưng về sau, khi phe Bạch Vệ đủ mạnh để có thể đề ra mục tiêu không chỉ chinh phục nước Nga mà còn phải ra sức cai trị nó, sự lơi lỏng chính trị này trở thành một điểm yếu thảm họa. Trình độ chính trị của họ đã làm họ thua trận nội chiến, ít nhất cũng nhiều bằng vận bĩ của họ trên chiến trường.

Các nhà lãnh đạo phe Trắng – ở cả Siberia lẫn phía nam – không biết cách thích ứng với thế giới cách mạng mới trong đó cuộc nội chiến được tiến hành. Họ không ra sức để phát triển các chính sách nhằm kêu gọi giới nông dân hoặc các nhóm dân tộc thiểu số, cho dù sự hậu thuẫn của cả hai đều cần thiết. Họ bắt rễ quá sâu vào truyền thống Nga cũ. Tầm quan trọng to tát của tuyên truyền và cấu trúc chính trị địa phương gần như lướt đi qua mắt họ hoàn toàn: bị lấn át bởi nhãn quan hẹp hòi của một quân nhân, họ không thể hiểu tầm quan trọng của việc động viên quần chúng trong cuộc nội chiến. Chỉ đến năm 1919, và chỉ khi được Đồng minh thúc đẩy, phe Trắng mới bắt đầu bỏ chút công sức vận hành bộ máy tuyên truyền của mình. Mà thậm chí lúc đó công tác chỉ được tiếp cận một cách dè dặt và nghiệp dư so với bộ máy tuyên truyền xuất sắc của phe Đỏ. OSVAG, cơ quan tuyên truyền của Denikin, lúc đầu được thành lập trong Bộ Ngoại giao: cho thấy họ xem mục tiêu chính của nó là thuyết phục Đồng minh, hơn là nhân dân Nga, về chính nghĩa của phe Trắng, và rất ít tài liệu tuyên truyền đến được nhà máy hoặc làng mạc. Các lãnh đạo Bạch Vệ  coi thường việc đó nên tài trợ rất ít, vậy mà các vị tướng còn thường tuyên bố cơ quan toàn chứa ‘những tên trốn nghĩa vụ’, ‘bọn xã hội chủ nghĩa’ và ‘bọn Do Thái’.

Tóm lại, phe Trắng không hiểu được bản chất của cuộc chiến họ đang giao tranh. Họ tưởng rằng có thể chiến đấu cuộc chiến đó theo cách giải quyết xung đột kiểu quy ước của thế kỷ 19: bằng cách đặt quân sự lên trên chính trị. Nhưng điều này là đã phớt lờ nguyên tắc cơ bản là trong bất kỳ cuộc nội chiến nào hoặc cuộc chiến toàn diện nào khả năng của quân đội trong việc động viên được tài nguyên của nhân dân trong những lãnh thổ mà họ chiếm đóng sẽ quyết định cục diện của cuộc chiến. Năng lực làm được điều này chính là vấn đề chính trị: chỉ khủng bố không thôi là không đủ; nó còn là vấn đề thăm dò sự hậu thuẫn của quần chúng hay ít nhất khai thác sự chống đối kẻ thù của quần chúng. Điều này đặc biệt đúng với các chiến dịch chủ yếu trong năm 1919 khi cả Đỏ và Trắng lớn mạnh từ lực lượng nhỏ những người ủng hộ đến những đạo quân lớn được tuyển mộ phụ thuộc vào sự động viên giới nông dân và tài nguyên của nó.

Phe Trắng không thể phát triển một nền chính trị lành mạnh cho nhiệm vụ động viên dân chủ. Về những vấn đề chính sách chủ yếu – ruộng đất và dân tộc – họ soạn ra những dự án hành chính đồ sộ nhưng không bảo đảm cho những tranh chấp tương lai. Mọi việc bị hoãn lại cho đến khi Quốc hội Lập hiến được tái triệu tập; và rồi, dưới sức ép của cánh Hữu, Quốc hội Lập hiến lại bị hoãn. Phe Trắng không thể cởi trói cho mình khỏi những thói quen hành chính của chế độ cũ. Họ chấp nhận một lối tiếp cận hợp pháp và cứng đờ cho một tình thế cách mạng đòi hỏi những cải cách táo bạo hợp lòng dân. Họ xem mình là những đại diện của một nhà nước Nga cũ sống lưu vong và đình hoãn mọi hoạt động chính trị cho đến khi thắng lợi quân sự mang họ trở về thủ đô cũ; họ không sao hiểu được chính thắng lợi phải phụ thuộc vào việc đúc nên một nhà nước loại mới.

* * *

Một trong những vấn đề cấp bách nhất của Quân Tình nguyện là mối quan hệ của họ đối với dân Cô-dắc. Các vị tướng Bạch Vệ là những người theo chế độ tập quyền Nga. Nhưng cả người Cô-dắc Kuban và Don đều muốn thành lập các nhà nước độc lập. Thậm chí họ gởi các đại diện không chính thức đến Hội nghị Hòa Bình Versailles trong một nỗ lực không thành công nhằm vận động sự hậu thuẫn của các Cường quốc phương Tây. Đã biết mình phụ thuộc quân sự vào người Cô-dắc, phe Trắng đáng ra phải xoa dịu họ. Vậy mà thậm chí họ không hề nghĩ đến việc thỏa mãn yêu cầu của họ. Họ coi người Cô-dắc như những người Nga bình thường và kích bác chủ nghĩa dân tộc của họ là hành động của một vài phần tử quá khích. Chính quyền Kuban, phần lớn do các kẻ  xô- vanh và mị dân cầm đầu, lên gân trong một nỗ lực xử sự như một chính thể có chủ quyền. Họ cấm người Nga di dân vào Kuban, đóng cửa biên giới, và nắm quyền kiểm soát đường sắt. Những hành động như thế là cái gai đâm vào sườn quân Tình nguyện. Để giữ cho quân đội ăn uống và trang bi đầy đủ, phe Bạch Vệ bắt buộc phải trưng thu lương thực tại các khu dân cư Cô-dắc, áp bức các cơ quan tự trị địa phương.

Có lẽ sự ương ngạnh của Bạch Vệ là một chuyện tệ hóa tốt: chủ nghĩa quốc gia Cô-dắc trong thực tế là một hiện  tượng không mấy đẹp. Người Cô-dắc Kuban đuổi cổ hàng ngàn người không phải Cô-dắc (chủ yếu là người Nga và Ukraine) ra khỏi trang trại và làng mạc của họ, trục xuất con cái họ ra khỏi trường học địa phương, và sát hại hàng trăm người bị cho là ‘Bôn-se-vich’. Ngài Krug thậm chí còn tính đến việc đuổi hết người không phải Cô-dắc ra khỏi Kuban. Đó là một hình thức ‘thanh tẩy sắc tộc’ dựa trên ý tưởng cho rằng Cô-dắc là một chủng tộc thượng đẳng. Nhà lãnh đạo Cô-dắc thường bày tỏ quan điểm rằng nhân dân họ là những người Nga duy nhất có phẩm chất và bọn còn lại là ‘cứt’. Vị Krug không làm gì để ngăn cấm những vụ bức hại. Trong một ngôi làng một nhóm lính Cô-dắc bắt một cô giáo, một người Nga di dân đang dạy các trẻ em Cô-dắc bản địa hơn 20 năm qua, và đánh đập bà đến chết. Không xóm giềng Cô-dắc nào đến cứu bà. Phe Trắng có lợi ích hiển nhiên trong việc bảo vệ người dân không Cô-dắc: họ đại diện cho 52 phần trăm dân số Kuban. Nếu để mặc người Cô-dắc làm gì thì làm, những người khác sẽ theo về trong vòng tay của phe Đỏ. Sự ương ngạnh của phe Trắng về quyền độc lập của Cô-dắc chỉ quạt bùng ngọn lửa hận thù chủng tộc này và làm mối quan hệ với chính quyền Kuban càng ngày càng xấu đi. Phe Bạch Vệ chỉ cần tỏ ý  tán thành quan điểm quyền tự trị Cô-dắc, cho dù với điều kiện sau khi đánh bại phe Đỏ, thì ắt hẳn họ có thể dừng được cơn bạo loạn. Nhưng họ thất bại không tìm được thỏa hiệp. Bị kẹt trong thời Đế chế Nga của thế kỷ 19, họ vô cảm trước khát vọng dân tộc của người Cô-dắc như với mọi dân tộc khác không phải Nga.

Người Cô-dắc cũng không thành công trong việc thành lập một quân đội độc lập. Từ nhãn quan quân sự, điều này sẽ là thảm họa đối với Bạch Vệ, bởi vì lính Cô-dắc Kuban chiếm đa số thành phần binh sĩ của họ và gần như toàn bộ lực lượng kỵ binh là người Cô-dắc. Các phân đội rời rạc, mỗi phân đội do một khu dân cư Cô-dắc riêng lẻ tổ chức, nằm ngoài quyền kiểm soát trung tâm. Họ chiến đấu dũng cảm khi bảo vệ địa phương mình nhưng ngần ngại khi ra khỏi đó. Điều này trở thành một vấn nạn khi phe Trắng khi tiến vào trung tâm nước Nga trong năm 1919. Người Cô-dắc không quan tâm nhiều ai cai trị ở Moscow miễn là họ được để yên. ‘Nga không phải là việc của chúng tôi’ – Denikin đúc kết thái độ của họ như thế. Thất bại của Quân đoàn vùng Don trong việc đánh chiếm Tsaritsyn, sau hai tháng vây hãm vào cuối năm 1918, đã chứng tỏ hạn chế của tinh thần chiến đấu người Cô-dắc khi ở bên ngoài quê nhà. Mỗi lần họ được thả lỏng trên đất Nga, họ luôn biến chất thành bọn cướp bóc; và trong những khu dân cư Do Thái họ thường gây bức hại. Đây là nguyên do chính khiến phe Trắng thảm bại: cướp bóc và bạo lực của kỵ binh Cô-dắc vào năm 1919 làm nhiều hơn bất cứ thứ gì khác để tập kết nhân dân trung tâm nước Nga sau lưng phe Đỏ. Đó cũng là lý do tại sao Denikin chống lại yêu sách một quân đội độc lập của người Cô-dắc.

Phe Trắng cũng bày tỏ sự cứng nhắc đối với yêu sách dân tộc thiểu số. Một nước Nga Vĩ Đại, Đoàn Kết và Bất Khả Phân’ là cốt lõi của ý thức hệ của họ. Không có mối liên kết xã hội rõ ràng, phe Trắng trông cậy vào quan điểm quốc gia Nga và Đế chế để lôi kéo những phần tử táp nham. Những chính sách đế chế của họ  phần lớn là từ suy nghĩ của người Kadet và Octobrist. Miliukov và Struve giờ đây bảo vệ một nước Nga Vĩ Đại một cách mạnh mẽ như những tên bảo hoàng phản động nhất. Sự ràng buộc vào Đế chế Nga này là điểm yếu nền tảng trong phong trào Bạch Vệ, vì quân đội của họ chủ yếu đặt căn cứ trên những lãnh thổ (Ukraine, Caucassus và vùng Baltic) nơi nhân dân không Nga muốn được tự trị nhiều hơn và độc lập hoàn toàn khỏi nước Nga thì càng tốt. Thay vì biến những nhà chủ nghĩa dân tộc này thành đồng minh, họ đã biến họ thành kẻ thù của mình.

Là quân đội mà thành phần chính là con trai các quí tộc, quân Tình nguyện thậm chí còn xung đột nhiều hơn với nông dân. Mặc dù chính mình là con một nông nô trước đây, Denikin không thấy nhu cầu quan trọng phải chấp nhận cách mạng ruộng đất nếu quân đội ông muốn chinh phục nông dân Nga. Phe Trắng tưởng là mình có thể thắng lợi trong nội chiến mà không cần đến hậu thuẫn của giới nông dân; hay dường như nghĩ rằng toàn bộ vấn đề cải cách ruộng đất có thể hoãn lại cho đến sau khi thắng lợi. Quan điểm của họ về nội chiến – rằng cục diện của nó chỉ do một mình sức mạnh quân sự quyết định – đã hủy bỏ nhu cầu đưa ra những chính sách hợp lòng dân như một phần của chiến dịch. Sự lấn át của giai cấp địa chủ trong nhóm người theo Denikin khiến phe Trắng ở nam Nga không thể xúc tiến một cương lĩnh về đất đai có khả năng tranh thủ sự hậu thuẫn của nông dân. Hai ủy ban do Denikin dựng lên để soạn những đề nghị cải tổ ruộng đất đều nhấn mạnh đến việc bán đất dư thừa của quí tộc (và chỉ được áp dụng ba năm sau khi kết thúc nội chiến) nhưng hủy bỏ việc truất hữu cưỡng bách. Đây cơ bản là cương lĩnh về đất đai của Kadet của năm 1917. Nó từ chối công nhận sự kiện của cách mạng nông thôn và tiếp tục bảo vệ quyền sở hữu chính thức của chủ đất. Thống kê tính rằng nếu áp dụng cương lĩnh trên cơ sở các đề nghị của ủy ban, nông dân sẽ phải trả lại ba phần tư đất mình đã chiếm đoạt từ giới quí tộc từ năm 1917. Vậy thì đại đa số nông dân có mọi lý do để chống đối phe Bạch Vệ.

Và hơn nữa, quân đội và các viên chức địa phương của Denikin bị tai tiếng vì hay giúp quí tộc lấy lại đất của mình trong những vùng lãnh thổ mà họ chính phục lại được. Chính sách thường được biện minh trên cơ sở là ruộng đất do người quí tộc canh tác phì nhiêu hơn, nhưng đây rõ là cái cớ mỏng manh cho việc phục hồi trật tự cũ. Trong bất kỳ trường hợp nào, hầu hết đất trả lại cho chủ cũ đều được cho nông dân thuê lại (thường với giá cố định là một phần ba thu hoạch)

Việc Bạch Vệ không nhìn nhận cách mạng nông thôn là lý do cho thảm bại  rốt ráo của họ. Chính Denikin sau này nhận ra bài học ấy. Chỉ vào năm 1920, sau khi thất bại trong việc xâm nhập  vùng nông thôn ở trung tâm nước Nga, quân Tình nguyện cuối cùng đối diện với nhu cầu kêu gọi giới nông dân; nhưng lúc đó thì đã quá muộn. Trong khi cải cách ruộng đất là hành động đầu tiên của người Bôn-se-vich, nó lại là hành động cuối cùng của phe Bạch Vệ.

 

* * *

Vào tháng 11 năm 1918, thế chiến châu Âu kết thúc, cuộc nội chiến bước vào giai đoạn mới. Việc hiệp ước Brest-Litovsk sụp đổ sau khi Đức bại trận và việc quân đội Đức rút lui khỏi vùng Baltic, Ukraine và Crimea cho các đối thủ trong cuộc nội chiến cơ hội bước vào khoảng trống mà quân Đức rút lui để lại.

Quân Tình nguyện có mọi lý do để lạc quan. Họ mong chờ Đồng minh gia tăng ủng hộ cho chính nghĩa Trắng ở phía nam. Cho đến lúc này, Đồng minh chỉ nhìn nội chiến từ đường biên. Quan tâm chính của họ là ở miền bắc và Siberia, nơi họ hi vọng phục hồi quân lực Nga để tiếp tục cuộc chiến chống Đức. Vài trăm lính thủy Anh đã chiếm các cảng Bắc cực Murmansk và Arkhangelsk để bảo vệ các kho quân nhu Đồng minh. Sau Hiệp ước Brest-Litovsk thậm chí họ tham gia những trận đột kích nhỏ chống phe Đỏ. Đức chiếm đóng Ukraine và kiểm soát Biển Đen khiến Đồng minh khó lòng viện trợ quân sự cho quân Tình nguyện. Nhưng bây giờ tất cả điều đó đã thay đổi. Đồng minh công nhận Denikin là lãnh đạo chính của Bạch Vệ miền nam và cam kết ủng hộ vật chất, bao gồm 12 sư đoàn, để giúp chiếm Ukraine. Họ cũng hứa giúp quân Tình nguyện những đồ tiếp tế quân sự của Đồng minh mà quân đội Nga để lại trên Mặt trận Romania – nếu họ có thể lấy được. Làn sóng hồ hởi càng lên cao vào ngày 23/11, khi một hạm đội Anh-Pháp tiến vào  Novorossiisk. Tướng Poole và Trung úy Erlich bước xuống tàu trong tiếng hoan hô vang dội của đám đông. Họ cam kết Anh và Pháp sẽ theo đuổi cùng mục tiêu với quân Tình nguyện. Mọi người hi vọng phe Bạch Vệ sẽ diễu hành chiến thắng tại Moscow, một khi mà Đồng minh ở về phe của họ. Đồng minh đã đánh bại các quân đoàn Đức hùng mạnh thì bọn Bôn-se-vich có nghĩa lý gì. Tính lạc quan đó càng tăng lên khi Đô đốc Kolchak nổi lên trên Mặt trận phía Đông.

Thật ra lời hứa hẹn viện trợ của Đồng minh hoá ra là con số không. Sự dính líu của các cường quốc Tây phương không hề đạt đến số lượng lớn về phương diện vật chất và luôn chịu ảnh hưởng vì thiếu mục tiêu và nghĩa vụ rõ ràng. Công luận phương Tây chia rẽ giữa phe Trắng và phe Đỏ, trong khi phần đông là những người đứng giữa, mệt mỏi vì bốn năm chiến tranh toàn diện,chống đối việc gởi thêm quân ra nước ngoài. Phần nhiều các chính trị gia Đồng minh không biết tại sao họ phải dính líu vào một cuộc nội chiến ở nước ngoài khi Thế Chiến đã qua. Nhiều người trong số họ hiểu rất ít về nước Nga – Thủ tướng Anh Lloyd George, chẳng hạn, cho rằng Kharkov là tên một vị tướng chứ không phải là tên một thành phố – và, như luôn luôn trong vấn đề ngoại giao, sự dốt nát sinh ra phớt lờ. Một vài chính trị gia, như Churchill, muốn phát động một cuộc thập tự chinh Tây phương chống lại chủ nghĩa Cộng sản, nhưng những người khác sợ rằng thắng lợi của Bạch Vệ sẽ đưa đến một nước Nga hùng mạnh với những tham vọng đế quốc được làm mới lại, và thích nhìn nước Nga Đỏ nhưng yếu. Các giới lãnh đạo Tây phương do dự giữa hai quan điểm này. Họ không thể quyết định gây chiến hoặc làm hòa với các nhà cai trị Xô-Viết – và do đó cuối cùng họ làm cả hai. Một tay họ tiếp tế quân sự cho phe Trắng; tay kia họ cố thuyết phục phe Trắng  thương thảo hoà bình. *

* Vào tháng giêng 1919 Tổng thống Wilson và Thủ tướng Anh Lloyd George đồng ý sẽ hội nghị hòa bình với người Bôn-se-vich trên đảo Prinkipo, ngay ngoài khơi Constantinople. Người Bôn-se-vich tỏ ý sẽ trả đúng hẹn những món nợ nước ngoài của Nga, sẽ thực hiện những điều chỉnh nhỏ về lãnh thổ và sẽ dừng tuyên truyền thù dịch chống phương Tây. Các lãnh đạo Bạch Vệ không có vai trò gì trong hội nghị. Họ thấy mình bị Đồng minh  phản bội khi đề nghị nên thỏa thuận với phe Đỏ. Churchill và Pháp ủng hộ họ. Hội nghị không bao giờ nhóm họp, nhưng Wilson tiếp tục nói chuyện hòa bình với Bôn-se-vich. William Bullit, cố vấn chính sách đối ngoại của ông, được phái đến Moscow trong một sứ mạng bí mật. Bullit rất ấn tượng trước thử nghiệm Xô-Viết và đề nghị một nền hòa bình riêng lẻ, nhưng việc này bị Anh và Pháp cực lực chỉ trích.

 

Như thường gặp trong những tình huống này, chính sách Tây phương là một chính sách nước chảy bèo trôi. Một khi người Anh ra tay giúp đỡ phe Bạch Vệ, người Pháp và các cường đế quốc khác cùng nhanh chóng bắt chước. Nó giống như một trò chơi đánh phé: không có tay chơi nào muốn bỏ bài giữa chừng, vì tiền sòng (ảnh hưởng với nước Nga) quá lớn, nhưng không ai muốn tố với số tiền quá cao. Kết quả là tất cả các cường quốc (Anh, Pháp, Ý, Canada, Nhật và Mỹ) chỉ gới những lực lượng nhỏ – vừa đủ để cho có tay.

Sự can thiệp chưa hề lên đến mức đe đọa như các sử gia Xô-Viết sau này tuyên bố. Nó chỉ đủ cho phe Trắng khỏi bị đánh bại nhưng không đủ cho họ đánh thắng nhanh chóng. Lực lượng của Denikin, chẳng hạn, nhận được vai trăm bô quân phục kaki và vài thùng mức trong những tháng đầu phương Tây tiếp tế. Các binh sĩ và xe tăng Anh đến vào mùa xuân, sau đó hải quân Pháp đổ bộ ở Odessa. Gần như ngay lập tức, các thủy thủ nổi loạn – họ không có bụng dạ nào mà đánh nhau với phe Đỏ lúc đó đang tiến vào Odessa – và thế là các tàu Pháp phải di tản.

Vì phe Trắng chỉ nhận được sự viện trợ ít ỏi, các nhà dân tộc Ukraine của Petliura là những người đầu tiên lấp chỗ trống do người Đức rút đi khỏi Ukraine để lại. Chẳng bao lâu họ bị phe Đỏ tiến vào từ phía bắc, đuổi ra khỏi Kiev và đẩy lùi về các tỉnh phía Tây. Nhưng phe Đỏ đến lượt mình chỉ có thực lực yếu kém trong Ukraine, vốn đang càng ngày càng chim sâu vào hỗn loạn. Các chính sách của Bôn-se-vich trong vùng quê gặp sức kháng cự mạnh mẽ của giới nông dân, tập kết với các nhà dân tộc địa phương, với các binh lính Thủy khác nhau đang ẩn nấp trong rừng và với những người vô chính phủ của Makhno. Trong khi đó, phe Trắng đang tập kết lực lượng của mình. Việc rút quân của Đức đã lấy mất khỏi Quân đoàn Don người bảo hộ chính của mình và để hở sườn trái của mình cho phe Đỏ đang tiến đến từ Ukraine. Quân đoàn Don đã bị kéo giãn đội hình trong chiến dịch mùa đông chống Tsaritsyn. Nó đang sụp đổ, các lĩnh Cô-dắc đào ngũ hàng loạt khi quân Đỏ tiến đến . Krasnov bắt buộc phải tìm sự hỗ trợ của Denikin, dù biết rằng nhà lãnh đạo phe Trắng sẽ yêu sách đặt Quân đoàn Don dưới sự chỉ huy của ông. Vì Denikin có Đồng minh tiếp sức, Krasnov không thể làm gì hơn. Vào ngày 8/1 Quân đoàn Don cuối cùng xáp nhập vào quân Tình nguyện. Giờ nó được gọi là Lực lượng Đồng minh Nam Nga – mặc dù trong thực tế chúng không có gì khác hơn một lực lượng thống nhất.

Những đạo quân phản cách mạng miền Nam giờ nằm dưới quyền chỉ huy của những người hiến dâng cho chiến dịch quốc gia. Trong mùa xuân tiếp theo họ bứt ra đi khỏi quê nhà Cô-dắc và đánh chiếm miền nam nước Nga, hầu hết vùng Ukraine và thậm chí đe đọa Moscow. Trong tiến trình lực lượng của họ càng thêm lớn mạnh và phát triển thành một quân đội có lính nghĩa vụ được tuyển mộ tập thể từ giới nông dân. Đây chính là cội rễ của sự thất thế cuối cùng của họ: việc lơ là công tác tư tưởng đã không chuẩn bị cho họ đương đầu với những nhiệm vụ  cai trị trong vùng lãnh thổ mới chinh phục này.

 

ii Bóng Ma của Quốc Hội Lập Hiến

2

So sánh với các thành phố đói bánh mì ở miền bắc thuộc Bôn-se-vich, thì thành phố Volga Samara là thiên đường của dân sành ăn. Các xe ngựa của nông dân nặng chĩu các bao bột mì và các xúc thịt, sữa và rau củ chở xuống chợ tấp nập mỗi ngày. Thực phẩm dồi dào biểu lộ trên đôi má đỏ hồng của các cư dân thành phố. Người buôn bán thì béo ra vì làm ăn phát đạt: họ ăn mặc lụa là và đeo đồ trang sức đã từng là vật sở hữu  của giới giàu có ở Petrograd và Moscow. Thậm chí bọn ngựa cũng no đủ.

Hàng ngàn người được gọi là ‘dân trước đây’ chạy về thành phố Volga. Trong số người tị nạn có tàn dư các đảng viên SR cánh Hữu bị đập tơi tả, tìm một căn cứ mới ở tỉnh lẻ sau khi đã bại trận ở Petrograd và Moscow. vùng Volga là một căn cứ vững chắc của đảng họ. Cử tri nông dân bầu cho họ đông đảo trong kỳ bầu cử Quốc hội Lập hiến. Các lãnh tụ SR tất nhiên nghĩ rằng dân chúng vùng Volga sẽ tập kết sau lưng cuộc đấu tranh của họ chống nền độc tài Lêninnit. Nếu con đường đưa tới quyền lực của người Bôn-se-vich dựa trên tình trạng nghèo đói của quần chúng đô thị, thì sự phục hồi nền dân chủ sẽ trông cậy vào giới nông dân no đủ. Bánh mì và tự do song hành nhau. 

Nhưng người SR cánh Hữu sẽ sớm vỡ mộng trong chuyến hành hương về các tỉnh. Các tổ chức đảng địa phương của họ đã hoàn toàn tan rã. Khi các binh lính nông dân trở về làng quê, nhiều người trong số họ đã bị quân đội cực đoan hóa, các Xô-Viết Volga đã bỏ sang cực tả. Quyền lực Xô-Viết đã bắt rễ trong làng xã như một hệ thống tự trị địa phương, Quốc hội Lập hiến giờ là một nghị viện quá xa xôi. Các nông dân đón nhận tin nó bị Bôn-se-vich đóng cửa với sự câm lặng điếc tai. Nó không hề là nỗi bất mãn bùng nổ như người SR kỳ vọng. ‘Trừ khi,’ Klimushkin, một lãnh tụ SR ở Samara, đã tuyên bố vào đầu tháng 5, ‘có một khích động từ bên ngoài trong một tương lai gần, chúng ta có thể từ bỏ mọi hi vọng về một cú đảo chính.’

Bằng một trong những tình cờ kỳ lạ của lịch sử, cú khích động đó đến vào cuối tháng 5 năm 1918 khi một quân đoàn binh sĩ Séc bị lôi kéo vào cuộc xung đột với các Xô-Viết dọc theo Tuyến đường sắt Xuyên- Siberia. Quân đoàn Séc được thành lập bởi các nhà dân tộc làm việc bên trong nước Nga sau khi Thế Chiến I bùng phát. Trong chiến tranh nó mở rộng hơn nhờ những tù binh Séc và Slovak và lính đào ngũ khỏi quân đội Áo và đến năm 1917 lực lượng lên đến 35,000 người, hầu hết là sinh viên và sĩ quan. Là những người theo chủ nghĩa dân tộc chiến đấu vì độc lập khỏi Đế chế Áo-Hung, họ về phe người Nga chống lại các Cường quốc Trung tâm. Thomas Masaryk và Eduard Benes, những lãnh tụ Dân tộc Séc, đã đồng ý thành lập Quân đoàn thành lữ đoàn độc lập trong quân lực Nga ở Mặt trận Tây-Nam. Sau Hiệp ước Brest-Litovsk Quân đoàn quyết định chiến đấu như một bộ phận của quân lực Séc chiến đấu ở Pháp. Thay vì liều lĩnh băng qua phòng tuyến địch, họ quyết định đi về hướng đông, đúng là vòng quanh thế giới, đến châu Âu qua ngõ Vladivostok và Hoa Kỳ. Ngày 26/3 một thỏa thuận được ký với chính quyền Xô-Viết ở Penza, theo đó người Séc được phép đi trên Tuyến đường sắt Xuyên-Siberia như ‘những công dân tự do’ với một ‘số đặc biệt những vũ khí để tự vệ’.

Nếu thỏa thuận này được hai bên tuân theo, thì nội chiến sẽ đi theo một hướng khác. Nhưng chuyến đi qua của người Séc gặp nhiều ngờ vực và căng thẳng. Tàu hỏa bị các Xô-Viết địa phương giữ lại, người Séc bị quấy nhiễu bằng làn sóng tuyên truyền và vũ khí bị đe doạ tịch thu. Đáp lại, người Séc cũng đâm ra nghi ngờ là người Bôn-se-vich tính nộp họ cho bọn Đức – mối nghi ngờ càng tăng lên khi có lệnh từ Moscow vào tháng 4 cho nửa quân số Séc quay về và được di tản qua ngõ Arkhangelsk (điều mỉa mai là, lệnh được đưa ra do yêu cầu của Đồng minh mà người Séc không biết). Người Séc quyết định tranh đấu đi theo con đường mình, nếu cần thiết, qua Siberia đến Vladivostok. Sự kiện lên đến cao điểm vào ngày 14/5, khi Xô-Viết  Cheliabinsk ở vùng Ural bắt giữ một số người Séc dính líu trong vụ xô xát với một nhóm tù nhân Hung. Binh lính Séc đánh chiếm thị trấn, giải phóng đồng chí mình và tước vũ khí đơn vị Hồng Vệ binh. Moscow ra lệnh những Xô-Viết địa phương giải giới người Séc. ‘Bắt gặp người Séc có vũ trang nào trên đường sắt’, điện tín Trotsky vào ngày 25 nói, ‘thì bắn tại chỗ.’ Nó chính là lời tuyên chiến với người Séc, và kết quả chỉ làm quyết tâm đi đến vùng đông của mình thêm mạnh mẽ. Việc này là một điều hổ thẹn  theo quan điểm của người Bôn-se-vich, vì thực sự không cần thiết phải xa lánh người Séc, và  đuổi họ ra khỏi Nga nhanh như có thể. Hành động quá đáng của Trotsky về sự kiện Cheliabinsk tạo ra một lực lượng thù địch ngay trong lòng nước Nga.

Quân đoàn Séc, phân ra thành sáu nhóm đi dọc theo chiều dài Tuyến đường sắt Xuyên-Siberia, đánh chiếm từ thị trấn này đến thị trấn khác: Novo-Niko-laesvk vào ngày 26/5; Penza và Syzran vào ngày 28/5 và 29/5 on the 28th; Tomsk  vào 31/5t; Omsk ngày 6/6; và  Vladivostok ngày 29. Hồng Quân vẫn chưa được tổ chức thích hợp, và Hồng Vệ binh thì không tinh nhuệ và kém kỷ luật, gồm những công nhân từ các thị trấn địa phương, thường bỏ chạy khi có dấu hiệu nguy hiểm đầu tiên, không phải là đối thủ của binh sĩ Séc tình nhuệ.

§Đây là trường hợp đánh chiếm Samara vào ngày 8/6. Với lực lượng Séc trong thành phố Penza gần đó, các lãnh đạo SR hoạt động bí mật ở Samara tiếp cận họ yêu cầu giúp họ lật đổ quyền lực Xô-Viết ở thủ đô Volga. Đây là hành động vi phạm chính sách người SR cánh Hữu (được thông qua tại Đảng bộ SR Lần 8 vào tháng 5) nói rằng binh lính nước ngoài không được can thiệp vào ‘cuộc chiến đấu nhân dân’ chống chủ nghĩa Bôn-se-vich. Nhưng các lãnh đạo SR ở Samara xoay sở để tự thuyết phục mình – cũng như chính người Séc, vốn đã tuyên bố ý định thành khẩn của mình là không dính líu vào cuộc nội chiến Nga – rằng một sự can thiệp có thể được biện minh trong trường hợp này. Mục đích tiếp tục cuộc chiến chống Đức của họ phụ thuộc vào việc đuổi người Bôn-se-vich ra khỏi quyền lực. Ắt hẳn Đồng minh, thấy chiến thắng của Quân đoàn Séc tại Siberia quá dễ dàng, đang nảy ra ý tưởng sử dụng người Séc chống lại Bôn-se-vich. Sau đó vào mùa hè họ sẽ gởi tiếp tế đến. Trong khi đó, chính mối liên hệ mà người SR cho là mình có với Chính quyền Pháp – thường bị phóng đại một cách thô thiển, như sau này ta biết – mà cuối cùng thuyết phục người Séc chịu giúp đỡ họ ở Samara. Thành phố Volga đang trong tình trạng hỗn loạn vì đình công sau một cuộc nổi dậy của quân đồn trú vào giữa tháng 5. Xô-Viết chỉ có thể gom được 2,000 Hồng Vệ binh, hầu hết là công nhân Latvia di tản trong chiến tranh, từ một dân số 200,000. Đó là bản chất phù du của quyền lực Bôn-se-vich trong những thị trấn tỉnh lỵ. Hồng Vệ binh không có nhiều cơ hội chống lại 8,000 người Séc trang bị đầy đủ . Chỉ có 6 binh lính Séc và 30 Hồng Vệ binh thiệt mạng trong ‘Trận đánh Samara’.

Chính quyền mới lấy tên nó và tính hợp pháp từ Quốc hội Lập hiến. Ủy ban Thành viên Quốc hội Lập hiến – hay Komuch – thấy mình là Nghị viện Toàn-Nga trong chốn lưu vong tỉnh lỵ. Nó kêu gọi tất cả thành viên của Quốc hội đã bị giải tán, tất nhiên trừ những thành viên thuộc Bôn-se-vich, tham gia. Năm thành viên thành lập Komuch đều là thành viên SR của Quốc hội Lập hiến, ba người trong số là từ chính tỉnh Samara. Sau bốn tháng trị vì, đội ngũ Komuch nở ra đến 100 thành viên của nghị viện đã bị giải tán, trong đó có Viktor Chernov, chủ tịch của phiên họp duy nhất ngày 5-6 tháng giêng 1918. ‘Nhà lãnh tụ dân chủ’ này được đối xử như một VIP, có một vệ sĩ vũ trang gác bên ngoài căn hộ của mình ở Khách sạn Quốc gia và một loạt buổi chiêu đãi tổ chức chào mừng ông. Người ta hi vọng ông sẽ trở thành nhân vật thủ lĩnh của cuộc thánh chiến quốc gia.

Komuch cơ bản là một chính quyền SR có thêm một ít đại diện từ các dân tộc thiểu số (chủ yếu dân tộc Tatar và Bashkir, có đông dân số trong vùng Volga) và người Men-se-vich và Kadet. Phần đông các người SR cánh Hữu dẫn đầu đều đến Thành trì Tự do , trong đó có Zenzinov, Avksentiev và Breshko-Breshkovskaya, ‘Người Bà của Cách Mạng’. Theo nhiều phương diện nó chính là sự phục sinh của chính quyền Kerensky – có điều là lúc này Kerensky sống lưu vong ở Paris. Komuch là một phòng thí nghiệm ma quái kiểm nghiệm nguyên tắc trung tâm trên đó Chính quyền Lâm thời đứng lên và ngã xuống; ý tưởng cho rằng các tỉnh chưa sẵn sàng cho Chủ nghĩa Xã hội và rằng cách mạng không nên vượt quá xa giai đoạn dân chủ. Đây chính là mối ám ảnh học thuyết đã ngăn cản người SR và Men-se-vich không thiết lập quyền lực vào năm 1917; và giờ đây nó tạo nên cơ sở cho nỗ lực cùng ảo tưởng nhằm tập kết những tỉnh lỵ chống người Bôn-se-vich.

‘Không thể có vấn đề thử nghiệm xã hội chủ nghĩa thuộc bất cứ hình thức nào,’ báo chí Samara tuyên bố. Tinh túy của Komuch là phục hồi dân chủ, có nghĩa là đình hoãn cách mạng xã hội chủ nghĩa cho đến khi Quốc hội Lập hiến được triệu tập lại. Chỉ có nó mới có thể quyết định những vấn đề xã hội chủ nghĩa. Như Chính quyền Lâm thời, Komuch thấy mình là người quản trị tạm thời trong khi chờ đợi quyền cai trị do nghị viện được tái thiết lập. Cương lĩnh của nó được khoác bộ áo trung lập về chính trị. Mặc dù quyền tự do ngôn luận, báo chí và hội họp được phục hồi, điều kiện nội chiến khiến chúng khó được tôn trọng. Những nhà tù ở Samara sớm chật ních những người Bôn-se-vich. Ivan Maisky, Bộ trưởng Lao động người Men-se-vich, đếm có 4,000 tù chính trị. Duma và zemstvo thị trấn được phục hồi, những Xô-Viết, như là các cơ quan có tính giai cấp, bị cấm khỏi lãnh vực chính trị. Komuch cũng tuyên bố việc hậu thuẫn một ‘liên bang dân chủ’, nhận được sự hoan hô từ các cộng đồng Bashkir và Tatar trong vùng Volga.

 

 NỘI CHIẾN

3

65 Tướng Alexeev – tổng tham mưu cuối cùng trong quân đội đế chế và,
cùng với Kornilov, là người thành lập phong trào Bạch Vệ
trong vùng nam Nga.

4

66 Tướng Denikin – lãnh đạo lực lượng Bạch Vệ ở nam Nga
giữa 1918 và 1920.

5

Đô đốc Kolchak – lãnh đạo Bạch Vệ chính ở đông Nga và, nhờ có mối liên hệ với Đồng minh, là người đứng đầu trên danh nghĩa của toàn phong trào Bạch Vệ.

6

68 Hầu tước Wrangel, người cầm đầu chiến dịch Bạch Vệ cuối cùng trong vùng Crimrea trong năm 1920.

7

69 Hồng Quân không phải là đối thủ của Quân đoàn Séc, được chụp ảnh ở đây trong thời gian đánh chiếm Vladivostok vào tháng 6 1918. Mục tiêu của Séc là đi về phía đông đến Hoa Kỳ, và từ đó trở về tham gia cuộc chiến Âu châu.

8

70 Các quân đoàn Bạch Vệ mất cân xứng – quá nhiều tướng mà không đủ quân. Một nhóm sĩ quan Bạch Vệ đang đợi Đô đốc Kolchak đến
trong cuộc diễu hành ở Omsk, tháng 12 1918.

9

71 Ngược lại, lực lượng Đỏ thì quá nhiều bộ binh mà không đủ chỉ huy có tài năng. ‘Tinh thần ủy ban’ của năm 1917 sống nhờ vào hàng ngũ của các đơn vị đảng viên Đỏ  như của Makhono trong ảnh vào năm 1920, nơi các chiến thuật được quyết định bằng biểu quyết của binh sĩ.

10

72  Tàu hỏa bọc sắt như chiếc tàu trong hình trên
đóng một vai trò quan trọng trong nội chiến.

11

73 Một bộ phận của Hồng quân, Sư đoàn Latvia, đi qua làng gần
Mặt trận Tây-Nam, 1919.

12

74 Hai binh sĩ Hồng Quân nghỉ ngơi trong trận đánh ở Mặt trận Tây-Nam, 1919.

13

75-6 Hồng Quân được sử dụng như một kênh quan trọng trong việc truyền bá việc học chữ và tuyên truyền. Trên: các binh lính ở Tula đọc các tờ truyền đơn  của Hồng Quân, mùa xuân 1919. Dưới: Hồng Quân mang những tài liệu tuyên truyền tới làng.Thư viện lưu động của Lữ đoàn Kỵ binh II, 1922.

14

77 Nestor Makhno năm 1919. Đối diện với tình thế bị Bôn-se-vich tiêu diệt,  Makhno và tàn dư của lực lượng ông rời lãnh thổ Nga vào năm 1921.
Sau một thời gian bị cầm tù ngắn ngủi ở Romania và Ba Lần, nhà lãnh tụ vô chính phủ sống ở Paris cho đến khi mất vào năm 1935.

15

78-80 Khủng bố là một thứ vũ khí của tất cả đạo quân trong nội chiến. Trên: Bạch Vệ treo một nông dân ở tỉnh Kursk vì tội sở hữu một khẩu súng săn cũ. 

16

thêm một nạn nhân Do Thái trong vụ bức hại bởi một băng nhóm theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine tại tỉnh Poltava, 1920.

Trong lãnh vực kỹ nghệ, Komuch, cũng như Chính quyền Lâm thời, cố lèo lái theo con đường trung đạo giữa lao động và tư bản, và rốt cục không làm bên nào hài lòng. Sự phân chia giai cấp quá sâu sắc. Các công nhân tẩy chai Komuch cho nó là ‘tư sản’ và thông qua các nghị quyết của Bôn-se-vich bên trong nội bộ các Xô- Viết một cách thách thức. Các ủy ban hãng xưởng bị tước hết quyền lực và quyền kiểm soát hãng xưởng được chuyển cho các chủ nhân trước đây hoặc, nếu họ không có mặt, thì giao cho các quản lý được nhà nước chỉ định. Ngân hàng trả lại cho tư nhân kiểm soát. Thương mại tự do được phục hồi và một Hội đồng Thương nghiệp và Kỹ nghệ, bị các kỹ nghệ gia lấn át, được lập ra để soạn thảo những chính sách kinh tế. Nhưng điều này vẫn chưa đủ thuyết phục các tầng lớp trung lưu rằng Komuch không phải theo ‘ chủ nghĩa xã hội’ một cách nguy hiểm. Họ chỉ có thể nhìn thấy chế độ ngày làm 8 tiếng vẫn còn được đảm bảo; các nghiệp đoàn và Xô-Viết vẫn còn hoạt động; và cờ đỏ còn treo trên các trụ sở của Komuch. Tại sao, họ thắc mắc,  thay chế độ Bôn-se-vich bằng chế độ ‘bán Bôn-se-vich’? Tại sao thay Đỏ bằng Hồng khi bạn có thể thay bằng Trắng?

Trong thời gian đầu của Komuch tầng lớp trung lưu Samara, nhờ lật đổ Xô-Viết, tán thành việc cho chính quyền vay. Nhưng họ sớm chuyển sang hậu thuẫn phe Trắng phản cách mạng ở miền đông. Komuch bắt buộc phải nâng thuế đánh vào vodka – vốn là món không phổ biến đổi với công nhân. Nó cũng in tiền khiến lạm phát tăng lên. Nông dân giảm việc bán lương thực ra thành phố, vì đồng tiền giảm giá, bắt buộc Komuch phải áp dụng chế độ  khẩu phần bánh mì. Nền tảng đô thị sụp đổ nhanh hơn nữa. Chỉ có giới trí thức tỉnh lỵ bé nhỏ ở lại với họ đến cùng. Trong cuộc bầu cử Duma tháng 8 những đảng thân chính quyền chỉ được số phiếu đáng buồn 15 phần trăm; hai phần ba cử tri chả buồn đi bỏ phiếu. Dân chủ im lặng một cách vang dội.

Trái với kỳ vọng của SR, giới nông dân Volga cho thấy họ không hậu thuẫn gì hơn chính quyền của mình. Nếu người SR muốn hậu thuẫn cuộc cách mạng nông dân, tình hình có thể đã khác. Nhưng điều đó có nghĩa nhìn nhận các Xô-Viết nông dân – và các lãnh đạo Komuch không sẵn sàng đi xa như thế. Họ quyết định thay thế các Xô-Viết với các zemstvo huyện, trong đó tất cả tầng lớp nông thôn, bao gồm giới quí tộc, được đại diện trên cơ sở bình đẳng. Nhưng như năm 1917, các cuộc bầu cử zemstvo bị đám đông quần chúng nông dân tẩy chai, vì họ đã gắn bó với các Xô-Viết của mình như là những cơ quan tự trị làng xã trực tiếp. Thậm chí khi các zemstvo được bầu ra, chúng khó lòng hoạt động vì giới trí thức và viên chức nông thôn đã phần lớn biến mất khỏi thôn làng từ khi cách mạng, trong khi công xã nông dân không chịu đóng thuế. . Trong một số làng các Xô-Viết vẫn còn nắm quyền nhưng lại coi mình là ‘zemstvo’ trong những báo cáo với Komuch. * Komuch bất lực khi dẹp bỏ trò đố chữ này, cho dù họ đem binh lính đến. Nông dân quá gắn bó với các Xô-Viết như là người bảo đảm cho cách mạng ruộng đất của họ.

* Việc lừa dối này dễ dàng nhờ sự kiện trong năm 1918 hầu hết các Xô-viết còn sử dụng các mẫu đơn cũ của zemstvo.

 

Komuch cũng ngần ngại chuẩn y các vụ chiếm đoạt đất điền chủ của nông dân. Đúng là nó ủng hộ việc cải cách ruộng đất được thông qua tại phiên họp đầu tiên và duy nhất của Quốc hội Lập hiến, vốn nhìn nhận việc bãi bỏ tất cả tài sản đất đai. Nhưng sắc lệnh tiếp theo, được thông qua ngày 22/7, cho phép các chủ đất trước đây được lấy lại bất kỳ cánh đồng vụ đông nào mà họ đã gieo trồng. Hậu quả là một phần ba đất trồng trọt của nông dân bị truất hữu. Binh lính thường phải được phái đến để cưỡng chế thi hành sắc lệnh này. Mục tiêu của nó là ‘cưỡng chế việc pháp trị’ sau vụ nông dân chiếm đất bất hợp pháp trong mùa đông và mùa xuân trước, những đối với nông dân, nhất là các nông dân nghèo nhất, vốn được cấp nhiều ruộng đất của quí tộc, có ấn tượng rằng Komuch muốn phục hồi chế độ cũ. Lối giải thích của họ có thể được thông cảm vì một số quí tộc địa phương xem sắc lệnh như cho phép mình được tự làm luật. Với sự giúp đỡ của phân đội binh sĩ hoặc dân quân cơ hữu,  họ chiếm lại tài sản của mình; đôi khi thậm chí họ phạt roi nơi công cộng những người cầm đầu nông dân để ‘dạy cho chúng một bài học’.

* * *

Trong tất cả chính sách của Komuch, không có chính sách nào mất lòng dân hơn việc gọi nghĩa vụ vào Quân đội Nhân dân. Trong bất kỳ cuộc nội chiến nào thắng lợi của một bên tùy thuộc vào khả năng tương đối nhằm động viên quần chúng địa phương. Bài kiểm tra này Komuch thất bại.

Trong mùa hè, Komuch và các lực lượng Séc có thể chinh phục lãnh thổ gần như tùy ý. Phe Đỏ yếu kém kinh niên, không có đủ lương thực tiếp tế hoặc quân đội chưa hoàn chỉnh. Ufa thất thủ vào tay quân Séc ngày 6/7; Simbirsk, nơi Lê-nin chào đời, vào ngày 22; và Kazan, nơi có trữ lượng vàng to lớn của sa hoàng, vào ngày 6/8. Hai ngày sau những công nhân ở Izhevsk, cách Kazan 150 dặm về phía bắc, vùng lên chống Xô-Viết và tuyên bố theo phe Komuch. Đây là cuộc nổi dậy lớn nhất chưa từng có của công nhân chống lại Bôn-se-vich. Cuộc nổi dậy chẳng bao lâu lan đến vùng quê chung quanh, nơi nhiều gia đình công nhân còn sinh sống. Những phân đội tình nguyện được thành lập chiến đấu chống phe Đỏ. Đây là đỉnh cao vận hội của Komuch. Giờ đây nó kiểm soát một diện tích bằng nước Ý, với dân số 14 triệu.

Nhưng tiềm năng quân sự của Komuch luôn rất bấp bênh. Quân đoàn Séc không muốn chiến đấu ở Nga vô thời hạn. Binh sĩ mệt mỏi và muốn về nhà, tình thần họ sụt giảm hơn nữa khi phe Đỏ trở nên qui củ hơn. Vào giữa tháng 8, các đơn vị Séc bắt đầu tan rã. Một số binh lính ưa thích chủ nghĩa xã hội vội theo về với phe Đỏ; số khác chỉ đơn giản thôi đánh nhau và bán quách quân nhu của mình cho dân địa phương. Quân đoàn Séc tan rã thành những băng nhóm trục lợi vụn vặt.

Lúc này, việc cấp bách của Komuch là tăng cường quân lực từ dân chúng vùng Volga. Một trong những hành động đầu tiên của họ là kêu gọi quân tình nguyện. Trong các thị trấn khoảng 8,000 người – hầu hết là sinh viên và khóa sinh, nhưng cũng có người tị nạn và thất nghiệp không có phương tiện sinh nhai – đáp ứng lời kêu gọi này. Nhưng trong vùng quê số người tình nguyện ít ỏi. ‘Thái độ nông dân rất lạnh nhạt,’ một sĩ quan tuyển mộ Quân đội Nhân dân tuyên bố, ‘họ chỉ muốn ở yên, không ai đá động tới mình. Người Bôn-se-vich ở đây – cũng tốt, họ nói; người Bôn-se-vich ra đi – cũng không hề hấn gì, họ nói. Chừng nào còn có bánh mì là còn cầu nguyện Chúa Trời, ai cần Vệ binh? Họ cứ đánh đấm nhau đến chết, chúng tôi chỉ đứng ở ngoài. Tới đâu hay tới đó là phe tốt nhất chúng tôi theo.’ Tại một hội đồng nông dân do Komuch tổ chức vào tháng 9, các đại biểu tuyên bố rằng ‘chúng tôi sẽ không đánh nhau với anh em mình, chỉ đánh nhau với kẻ thù’. Họ ‘từ chối hậu thuẫn một cuộc chiến giữa các đảng chính trị’ và thúc giục Komuch ‘tìm một thỏa hiệp với Bôn-se-vich’. Thành kiến đã ăn sâu cho rằng ‘bọn tư sản’ đã gây ra một cuộc chiến mới vì ‘nền hòa bình’ ký bởi người Bôn-se-vich không thuận lợi cho họ; nhưng giới nông dân ‘không mất mát gì’ và hãy để bọn tư sản chiến đấu một mình chúng.  Không có gì ngạc nhiên khi người nông dân chả tha thiết gì với cái gọi là Quân đội Nhân dân.

Số quân tình nguyện ít ỏi buộc Komuch dùng biện pháp đăng ký nghĩa vụ bắt buộc vào cuối tháng sáu. Sợ rằng những nông dân lớn tuổi bị nhiễm chủ nghĩa Bôn-se-vich từng càn quét qua quân đội trong năm 1917, nghĩa vụ chỉ gọi những thanh niên dưới 21 tuổi. Chỉ có một phần ba người trong tuổi nghĩa vụ trình diện, số còn lại ‘đào ngũ’. Tỉ lệ trình diện thấp nhất trong những khu vực phía tây giáp với Mặt trận. Trái với địch thủ, người Bôn-se-vich thường có khả năng động viên nông dân, ít nhất tại những thời điểm cấp bách nhất của nội chiến, ngay phía sau Mặt trận. Tuy nông dân cũng không ưa gì phe Đỏ, nhưng họ sợ chế độ ruộng đất cũ phục hồi nhiều hơn. Komuch lẫn phe Trắng không ai có thể xâm nhập vùng trung tâm quyền lực Xô-Viết, nơi cuộc cách mạng nông dân bắt rễ sâu nhất.

Trong khi người Bôn-se-vich đã nắm quyền 10 tháng trước khi cuộc giao tranh chính bắt đầu, thì Komuch ra đời chỉ vỏn vẹn có 10 tuần lúc nó hứng chịu cuộc tấn công đầu tiên của phe Đỏ. Không đủ thời gian để xây dựng hạ tầng quân đội thích đáng. Không hiếm trường hợp lính tuyển mộ không có quân phục hoặc súng ống, nói chi được huấn luyện bài bản. Trong tháng 8 và 9, cao điểm của mùa gặt, hàng ngàn binh sĩ chạy vội về nông trại mình để thu hoạch, vừa lúc phe Đỏ mở cuộc tấn công. Komuch ra sức ngăn chặn tình trạng đào ngũ bằng cách phái những những phân đội Cô-dắc xuống tận thôn làng. Tòa án quân sự dã chiến được ban lệnh trừng trị thẳng tay những đào binh và gia đình họ. Các nông dân cầm đầu bị phạt roi nơi công cộng và bị treo cổ; con tin bị bắt giữ để buộc đào binh trốn tránh ra trình diện; toàn bộ làng bị đốt rụi khi đào binh không chịu xuất hiện. Đối với nông dân, dường như chế độ cũ đã quay về trả thù.

Tác dụng của hành động áp bức chỉ củng cố sức chống trả của nông dân và xúi giục họ quay sang vòng tay phe Đỏ. Dân làng thành lập những đội nhóm , thường do các Xô-Viết tổ chức, nhằm kháng cự với Quân đội Nhân dân và các phân đội trừng phạt. Đội bình làng xã này chiến đấu với súng đã rỉ sét, rìu, cuốc, xẻng, chĩa, và những khẩu pháo kỳ lạ chở trên xe ngựa. Một số chiến đấu như dân quân bên cạnh Hồng Quân và sau đó trở thành những đơn vị chính quy.

 

* * *

 Không có quân đội hiệu quả, chỉ là vấn đề thời gian trước khi Komuch mất căn cứ trên vùng Volga. Trong mùa hè phe Đỏ đã dần dần củng cố lực lượng cho chiến dịch Volga: chính ở đây mà Hồng Quân đã có dáng dấp của một quân đội chính quy được  tuyển mộ và huấn luyện. Các phân đội công nhân được thành lập ở Moscow và các thị trấn khác trong vùng trung tâm nước Nga và sau đó được gởi đến Quân đoàn miền Đông trên bờ phải sông Volga. Theo lệnh của Lênin, 30,000 quân được chuyển từ phòng tuyến chống Đức ở miền tây. Ông đánh cược (và hóa ra thắng) rằng các Cường quốc Trung tâm quá kéo giãn đội hình ở châu Âu để có thể khai thác khoảng hở. Vào đầu tháng 9 1918, phe Đỏ đã tập kết được hơn 70,000 quân trên Mặt trận phía Đông – một ưu thế hai chống một đối với lực lượng Komuch. Đây là khởi điểm của trận đánh thực sự trong nội chiến. Từ trước đến giờ chỉ những đơn vị dưới 10,000 quân tham chiến. Kazan bị mất về tay phe Đỏ vào ngày 10/9. Đại tá Vatsetis, người cầm đầu cuộc tấn công, được thăng chức Tổng Tư lệnh của Hồng Quân. Hai ngày sau Quân đoàn 1 Hồng Quân dưới quyền chỉ huy của Mikhail Tukhachevsky đột kích qua Simbirsk. Từ điểm này, phòng tuyến chống đỡ của Quân đội Nhân dân bị bẻ gãy; các lực lượng Séc tan rã. Samara thất thủ ngày 7/10.

Các người SR giải tán Komuch và chạy đến Ufa. Tại đó họ thấy mình bị lệ thuộc lực lượng phản cách mạng đang càn quét đến từ phía đông. Dưới sự bảo vệ của người Séc vài trung tâm quyền lực tranh giành nhau đã xuất hiện ở Siberia: vùng Eurasia vá víu những thể chế khu vực. Một Chính quyền Ural đặt căn cứ ở Ekaterinburg và tuyên bố quyền tài phán đối với Perm. Những voikos Cô-dắc khác nhau chính thức công nhận Komuch nhưng vẫn lèo lái như những ‘cường quốc’ độc lập. Bashkirs và Kirghiz cũng có ‘nhà nước’ riêng của mình, trong khi bên trong lãnh thổ Komuch cũng có một chính quyền dân tộc của các bộ tộc Turko-Tatar. Trong tất cả những trung tâm quyền lực cạnh tranh này, quan trọng là Chính quyền Siberia đặt căn cứ ở Omsk. Nó được thành lập bởi các chính trị gia Kadet và SR trong Duma thành phố Tomsk trước khi quyền lực Xô-Viết hình thành; và được họ cải cách ở Omsk sau cuộc nổi dậy của người Séc. P. V Vologodsky, luật gia chủ trương quyền tự trị của Siberia, trở thành người đứng đầu chính quyền vào ngày 23/6. Breshko-Breshkovskaya, một trong những người thành lập đảng SR, được mệnh danh ‘Người Bà của Cách  Mạng Nga’, ghé qua Omsk vào đầu tháng 6, cho một nhận xét u ám về những lãnh đạo mới của nó:

Omsk bụi bặm và bẩn thỉu. Các lãnh đạo chính quyền vừa không có kiến thức vừa không có lương tri. Không có gì triển vọng hoặc hi vọng trong thành phần Chính quyền Siberia. Những người được gọi là ‘bộ trưởng’ không có gì hơn là một dấu chấm hỏi. Nói chuyện với họ mới thấy rõ họ không tin vào bản thân mình cũng như vào thành công của việc mình làm.

Chính quyền Omsk chẳng bao lâu bị thống trị bởi các người Hữu khuynh và các sĩ quan bảo hoàng trong Quân đội Siberia. Tháng 9, Quân đội Siberia có 38,000 lính nghĩa vụ phần lớn là nông dân. Dưới lá cờ Siberia – màu xanh lá tượng trưng cho rừng và màu trắng cho tuyết – nó được sự ủng hộ của những người lập cư lớn tuổi tán thành sự độc lập khỏi phần còn lại của nước Nga. Các sĩ quan hữu khuynh từ vùng Volga cũng tụ tập về đây thay thế Komuch ‘xã hội chủ nghĩa’. Sự thống trị của những phần tử hữu khuynh này ở Omsk đủ sức ngăn cản Chính quyền Siberia triệu tập lại Duma. Người hữu khuynh không muốn gì khác hơn một thể chế chuyên chính.

Cạnh tranh giữa Samara và Omsk lúc nào cũng gay gắt. Nó bùng phát thành một cuộc chiến thuế quan và một loạt các tranh chấp lãnh thổ. Nhưng cũng có sức ép tăng dần yêu cầu tim kiếm một thỏa hiệp: vị thế quân sự của Komuch tiếp tục yếu đi; trong khi Đồng minh quan ngại những xung đột vụn vặt như thế có thể ngăn cản một nỗ lực phối hợp nhằm đẩy lùi cuộc tiến quân của Bôn-se-vich. Thỏa hiệp cuối cùng cũng thành hiện thực tai Hội nghị Nhà Nước họp ở Ufa từ 8 đến 23/9. Tại đó các nhà lãnh đạo Komuch bỗng thấy tiếng nói của mình bị nhận chìm bởi những người hữu khuynh bên phía họ, ra sức kêu gọi một hình thức chuyên chế mà người Siberia tán thành. Kỹ nghệ gia thành phố Kazan Kropotkin kêu gọi một ‘quyền lực quân sự mạnh mẽ và đoàn kết để cứu nước Nga khỏi bọn chính trị gia đó (tức người theo chủ nghĩa xã hội) đã hủy hoại nó’.

Để xoa dịu các lãnh đạo Komuch một thỏa hiệp được kết. Quyền tối thượng của Quốc hội Lập hiến được Hội nghị Ufa ưng thuận, miễn là kiếm được sĩ số 250 thành viên. Nhưng trong lúc này Komuch đã mất tư cách là chính quyền hợp pháp của toàn Nga. Thay vào đó một Hội đồng Đốc chính năm người được dựng lên như một cánh tay điều hành của Chính quyền Toàn-Nga Lâm thời đặt trụ sở ở Omsk. Đó là một liên minh của 2 SR (Avksentiev và Zenzinov), hai nhà cấp tiến Siberia (Vologodsky và Vinogradov) và Tướng Boldyrev, thân cận với  SR, kiêm nhiệm Tổng Tư lệnh. Mặc dù như vậy là người SR chiếm đa số trên danh nghĩa trong chính quyền mới, họ lại là người thua cuộc thực sự. Trong nền chính trị manh mún của cuộc nội chiến, tập hợp được sĩ số cần thiết để làm sống lại Quốc hội Lập hiến là một việc dã tràng xe cát. Đối với tất cả toan tính và mục đích, thành trì của tự do đã bị hủy diệt.

Hội đồng Đốc chính là hình ảnh phản chiếu mờ nhạt của chính quyền cách mạng Pháp mà nó lấy tên theo. Đây là một chính quyền chỉ có trên giấy tờ. Nó không có cấu trúc thích đáng hoặc phương tiện tự tài trợ. Thậm chí  nó không được sự tin cậy của các phe phái đại diện nó. Cả người SR và nhóm hữu khuynh đều âm mưu chống lại nó ngay từ đầu. Mỗi bên đều cho rằng liên minh ban cho bên kia nhiều quyền lực hơn. Omsk đầy dẫy những mưu mô và có tin đồn về một cú đảo chính.

Các sĩ quan hữu khuynh ra đòn trước. Vào ngày 17/11 một phân đội Cô-dắc xông vào một buổi họp các người SR ở Omsk và bắt giữ một vài lãnh tụ, trong đó có hai thành viên Đốc chính Avksentiev và Zenzinov. Họ bị kết tội âm mưu lật đổ Hội đồng Đốc chính. Đúng là nhóm Chernov đã có âm mưu chống lại nó ngay từ đầu. Nhưng nhóm hữu khuynh cũng có khác gì, và bây giờ họ vịn vào cớ đó để làm đảo chính. Sáng hôm sau Hội đồng Bộ trưởng của Hội đồng Đốc chính tán thành vụ đảo chính và mời Đô đốc Kolchak trở thành Nhà Cai Trị Tối Cao.  Không có mấy lực lượng sẵn sàng để bảo vệ Hội đồng Đốc chính. Người Séc đã mất ý chí chiến đấu kể từ khi Séc tuyên bố độc lập vào ngày 28/10. Họ chỉ muốn về nhà. Về phần Quân đội Nhân dân, nó đang trong tình trạng rệu rã.

Trong 14 tháng tiếp theo Alexander Kolchak là nhà lãnh đạo sừng sững của phong trào phản cách mạng, cùng với Denikin. Phần nào cũng thích hợp cho một vị đô đốc không hạm đội cầm đầu một chính quyền đặt trụ sở tại một thị trấn cách cảng gần nhất đến 4,000 dặm; bởi Kolchak là một trong những nhân vật trái khoáy của lịch sử. Nhỏ người nhưng oai vệ với đôi mắt đen xuyên thấu, ông là một nhân vật kỳ lạ, một kỹ sư mỏ và nhà thám hiểm Bắc cực trong bộ Tham mưu Hải quân thời sa hoàng. Năm 1916, khi ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Hạm đội Biển Đen, Kolchak, lúc ấy chỉ mới 41 tuổi, chỉ đáng tuổi con của phần đông tư lệnh chiến trường khác. Năm 1917 ông từ chối đi theo các ủy ban hạm đội và, trong một hành động từ chức kịch tính khiến tên ông mang tính chính trị, ông bẻ gãy thanh gươm và ném xuống biển. Ắt hẳn ông cũng hơi thần kinh, dễ mất bình tĩnh, và rất sôi nổi. . . Ông là người sống theo lý tưởng thuần khiết, cống hiến hết mình cho nghĩa vụ phục vụ nước Nga, cứu vớt nó khỏi sự áp bức của phe Đỏ. . . Nhờ có suy nghĩ đó, ông có thể được cậy làm bất cứ điều gì. Ông không có lợi ích cá nhân, không tính ái lăng nhăng. . . Ông không biết gì về thực tế cam go của cuộc sống, và sống trong ảo tưởng và đón nhận mọi ý tưởng. Ông không có kế hoạch của riêng mình, không hệ thống, không ước muốn: ông như sắp ong mềm mà các cố vấn và người thân có thể nặn ra theo cách mình muốn.

 Tất cả những phẩm chất này được phản ánh trong việc lật đổ Hội đồng Đốc chính. Ông là một nhân vật thụ động – và gần như là tình cờ – trong vụ đảo chính. Ông chỉ xuất hiện đúng chỗ và đúng lúc, cho bọn âm mưu chọn làm kẻ đứng đầu bù nhìn. Lúc mà người Bôn-se-vich cướp chính quyền Kolchak đang trên chuyến đi công tác quân sự đến Hoa Kỳ. Sau một năm ở Mãn Châu ông tìm đường trở về Nga trên tuyến đường sắt Xuyên-Siberia, đến Omsk vào giữa tháng 10, tại đó Boldyrev thuyết phục ông giữ chức Bộ trưởng Chiến tranh. Không có chứng cứ cho thấy Kolchak đóng một vai trò trực tiếp trong vụ lật đổ Hội đồng Đốc chính, mặc dù các sử gia đến nay vẫn gọi đó là ‘cú đảo chính của Kolchak’. Từ những gì chúng ta biết về sự kiện tranh tối tranh sáng này, dường như những người hữu khuynh ở Omsk dàn dựng vụ đảo chính mà Kolchak không biết rồi ép ông nấm quyền. Sáng sớm ngày đó một vài người Hữu khuynh đã nài nỉ ông lên nắm chuyên chính. Kolchak không hứng thú lắm với ý nghĩ này: những chuyến thanh sắt Mặt trận đã cho ông biết ‘Hội đồng Đốc chính không được hậu thuẫn nhiều’. Không phải ông không biết có những âm mưu đảo chính: các thủy thủ và lính đồn trú ở Omsk đã râm ran nhiều về nhu cầu phải có một quả đấm thép; thậm chí họ còn bàn chuyện ấy ngay trong văn phòng của Hội đồng Đốc chính. Đồng minh thân cận nhất của Kolchak, Tướng Knox, đứng đầu phái đoàn quân sự Anh ở Siberia, cũng hậu thuẫn một thể chế chuyên chính. Lúc đầu, vào ngày 17/11, Đô đốc từ chối nắm quyền: Boldyrev, ông nói, đứng đầu quân đội; và không rõ liệu ông ta có tranh thủ được sự ủng hộ của người Siberia và Đồng minh hay không. Nhưng sau khi các sĩ quan đã chiếm quyền cho ông, Kolchak đổi ý. Vào sáng ngày 18, tại Hội đồng Bộ trưởng ông đề nghị Boldyrev giữ vai trò này, nhưng Boldyrev vắng mặt và các bộ trưởng, trong bất kỳ trường hợp nào, thích Đô đốc giữ chức vụ này hơn Boldyrev ‘xã hội chủ nghĩa’ quá. Được Knox cổ vũ, Kolchak xuôi lòng, chấp nhận chức vụ Nhà Cai Trị Tối Cao.

 

* * *

Đây là đoạn cuối của người SR cánh Hữu và nhóm ‘phản cách mạng dân chủ’ của họ, như cách Ivan Maisky gọi nó. Kolchak ra lệnh bắt giữ các lãnh tụ SR và giải họ ra biên giới Trung Quốc, rồi phát vãng. Một số tìm đường trở lại Tây Âu, nơi họ sống một cuộc sống tiện nghi nhưng ray rứt trong kiếp lưu vong. Những người khác trở lại Nga, nơi họ tiếp tục tổ chức hoạt động ngầm, chấp nhận tư thế ghét Đỏ lẫn Trắng. Sau vụ đảo chính vài tuần, cảnh sát của Kolchak tiến hành hàng loạt vụ trả thù đẫm máu với những nhóm vận động SR. Hàng trăm người bị bắt – nhiều người được giữ làm ‘con tin’,  sẽ bị hành hình nếu có hành động khủng bố nào mà SR gây ra chống lại chuyên chính. Trong số các con tin ở Omsk có 20 đại biểu SR tại Quốc hội Lập hiến, 10 người bị bắn vào tháng 12 tiếp theo một vụ nổi dậy của công nhân trong thị trấn. Trong khi đó, Kolchak xác lập mục đích của chế độ ông bằng những chuẩn mực quân sự. Như Denikin, ông là quân nhân có đầu óc hẹp hòi: chính trị ở ngoài tầm với của ông. Ngoài việc lật đổ chủ nghĩa Bôn-se-vich và ‘cứu vớt nước Nga’ ông không có suy nghĩ thực sự mình chiến đấu vì điều gì. Ông có vài phát biểu mơ hồ về việc phục hồi pháp luật và trật tự và Quốc hội Lập hiến, mặc dù, xét theo quan điểm của ông, việc cuối cùng này rõ ràng không phải phục hồi theo hình thức dân chủ của năm 1917. Nhưng mặt khác mọi hoạt động chính trị đều phải dẹp bỏ vì lợi ích của chiến dịch quân sự. Denikin cũng phạm lỗi tương tự. Nhưng chính trị mới là nhân tố quyết định trong một xung đột quân sự. Không có chính sách động viên hoặc ít nhất làm trung hoà dân chúng địa phương, quân đội của ông gần như chắc chắn thất bại. Hơn nữa, không thể hiện chính sách của mình được rõ ràng, Kolchak cho phép kẻ khác trình bày chúng dùm mình: vừa từ tuyên truyền của phe Đỏ vừa từ tác phong của các sĩ quan hữu khuynh của ông, dân chúng miền đông Nga mang ấn tượng chết người rằng phong trào của Kolchak nhắm đến việc phục hồi nền quân chủ chuyên chế.

Vùng đất trung gian giữa phe Đỏ và Trắng do đó xói mòn dần và cuối cùng biến mất. Toàn đất nước giờ nhận chìm trong cuộc nội chiến. Không có chỗ cho nền dân chủ mong manh vừa mới bắt rễ vào năm 1917. Nước Nga quá phân cực, và quần chúng quá thiếu trình độ, để có thể giữ vững các định chế dân chủ chống lại kẻ thù từ hai phía cực đoan. Phong trào chống Bôn-se-vich không lấy lại hình thức dân chủ cho mãi đến mùa thu 1920, nhưng đến lúc đó thì đã quá muộn để hất cẳng nền chuyên chế mới. Bị kịch của Cách mạng Nga là nhân dân quá yếu kém về chính trị để có thể quyết định thành quả của nó.

 

 

 

 

One thought on “Bi kịch của một dân tộc: Cách Mạng Nga 1897- 1921 (Phần 3: Chương XII)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s