Hãy chôn trái tim tôi ở Wounded Knee : Lịch Sử Dân Da Đỏ Miền Tây Hoa Kỳ – Phần 2

cuoc-song-doc-dao-cua-nguoi-da-do-tran-quy-me-thien-nhien-yeu-hoa-binh-nhu-sinh-menh_1.jpg

Bury My Heart at Wounded Knee

Tác giả Dee Brown

Trần Quang Nghĩa dịch

5 .Cuộc Xâm Lấn Sông Powder

1865 – Ngày 2 Tháng 4, Liên minh bỏ Richmond. Ngày 9 tháng 4, Lee đầu hàng Grant tại Appomattor; Cuộc Nội Chiến kết thúc. Ngày 14 tháng 4, John Wilkes Booth ám sát Tổng thống Lincoln; Andrew Johnson trở thành Tổng thống. Ngày 13 tháng 6, Tổng thống Johnson tuyên bố tái thiết các bang Liên minh trước đây. Tháng 10, Mỹ yêu cầu Pháp triệu hồi binh sĩ ra khỏi Mexico. Ngày 18 tháng 12, Điều luật Bổ sung thứ 13 của Hiến pháp Hoa Kỳ bãi bỏ chế độ nô lệ. Tác phẩm Alice in Wonderland [Alice trong Xứ Sở Thần Tiên) của Lewis Carroll và War and Peace [Chiến Tranh và Hòa Bình] của Tolstoy được xuất bản.

Tiếng nói của ai đầu tiên vang lên trên vùng đất này? Tiếng nói của người da đỏ chỉ có cung và tên. . . Những gì đã làm trong xứ sở tôi tôi không muốn, không yêu cầu; người da trắng đi qua xứ sở tôi . . . Khi người da trắng đến xứ này họ để lại một con đường máu sau lưng họ. . . Tôi có hai ngọn núi trong xứ sở đó – Black Hill [Đồi Đen] và Big Horn [Sừng Lớn]. Và tôi muốn Cha Lớn không làm đường qua đó. Tôi đã nói những điều này ba lần; và giờ tôi đến đây để nói lại với  họ lần thứ tư.

-MAQHPIUA LUTA (MÂY ĐỎ) CỦA BỘ TỘC OGLALA SIOUX

 

SAU KHI TRỞ VỀ khu vực Sông Powder sau trận đánh ở Cầu Platte, các chiến binh Da Đỏ Đồng Bằng, bắt đầu chuẩn bị các nghi lễ pháp thuật mùa hè thường lệ. Các bộ tộc dựng trại gần nhau tại Ngả Ba Bà Điên ở Powder. Xa hơn về phía bắc dọc con sông đó và Missouri Little là một nhóm Teton Sioux đã di chuyển về hướng tây năm đó để tránh đụng độ với binh lính của Tướng Sully ở Dakota. Bò Ngồi và dân Hunkpapa của ông có mặt ở đó, và những anh em họ này của người Oglala phái những đại biểu đến dự lễ hội vũ điệu mặt trời, lễ phục sinh hàng năm của người Teton. Trong khi điệu nhảy mặt trời đang diễn tiến, người Cheyenne tổ chức nghi thức cúng tên, kéo dài trong bốn ngày. Người Giữ Tên mở bao đựng bốn mũi tên bí ẩn từ túi lông sói, và tất cả người nam trong bộ tộc lần lượt đi qua dâng lễ vật và cầu nguyện mũi tên.

            Gấu Đen, một trong những tù trưởng đứng đầu của Bắc Arapaho, quyết định dẫn dân mình đi về tây đến Sông Tongue; ông mời một số người Nam Arapaho đã tiến về bắc sau vụ Suối Cát đi theo. Họ sẽ dựng một ngôi làng trên Sông Tongue, ông nói, và tổ chức nhiều cuộc săn bắn và nhảy múa trước khi mùa trăng lạnh lẽo đến.

            Và vì thế khoảng cuối tháng 8, 1865, các bộ tộc trong khu vực sông Powder định cư rải rác từ Sừng Lớn ở phía tây đến Black Hill ở phía đông. Họ quá tin tưởng về sự bất khả xâm nhập của khu vực mình đến nỗi hầu hết đều hoài nghi khi nghe tin đồn binh lính đang tiến vào khu vực họ từ bốn phía.

            Ba đạo quân dưới sự chỉ huy của Tướng Patrick E. Connor, đã được thuyên chuyển từ Utah vào tháng 5 để đánh người Da Đỏ dọc theo tuyến đường Platte. Vào năm 1863 Tướng Sao Connor đã bao vây một trại của người Paiute trên Sông Gấu và tàn sát 278 người. Vì việc này y được người da trắng ca tụng là người bảo vệ can trường biên cương khỏi “kẻ thù da đỏ.”

            Vào tháng 7, 1865, Connor tuyên bố rằng người Da Đỏ bắc Sông Platte “phải bị săn đuổi như chó sói,” và y bắt đầu tổ chức ba đạo quân để xâm chiếm khu vực Sông Powder. Một đạo quân dưới sự chỉ huy của Đại tá Nelson Cole sẽ đi từ Nebraska đến Đồi Đen ở Dakota. Đạo quân thứ hai dưới quyền chỉ huy của Đại tá Samuel Walker sẽ đi thẳng về phía bắc từ Đồn Laramie để kết nối với Cole ở Đồi Đen. Đạo quân thứ ba, do chính Connor chỉ huy, sẽ tiến quân theo hướng tây bắc dọc theo Đường Bozeman về phía Montana. Tướng Connor hi vọng giăng bẫy người Da Đỏ giữa đạo quân của y và các lực lượng phối hợp của Cole và Walker. Y cảnh báo các sĩ quan của mình không được chấp nhận thương lượng hòa bình từ người Da Đỏ, và ra lệnh cộc lốc: “Tấn công và giết sạch mọi đàn ông Da Đỏ trên 12 tuổi.”

            Đầu tháng 8 ba đạo quân bắt đầu lên đường. Nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, họ sẽ gặp nhau vào ngày 1 tháng 9 trên Sông Nụ Hồng ngay trung tâm của vùng đất Da Đỏ thù địch.

            Đạo quân thứ tư, không có liên quan gì đến chiến dịch của Connor, cũng đang tiến gần Sông Powder từ phía đông. Do một người dân, James A. Sawyers, tổ chức để mở một tuyến đường mới, đạo quân này không có mục tiêu nào khác hơn là đến các mỏ vàng ở Montana. Vì Sawyers biết rằng mình đang xâm phạm khu vực có trong hiệp ước với người Da Đỏ, nên y tiên liệu sẽ có kháng cự nên đã tranh thủ được hai đại đội bộ binh hộ tống nhóm của y gồm 73 người đi tìm vàng và 80 xe ngựa chở dụng cụ.

            Lúc đó là khoảng 14 hay 15 tháng 8 khi người Sioux và Cheyenne đang dựng trại dọc Sông Powdre lần đầu tiên nghe tin về đoàn xe đang tiến tới của Sawyers. “Các tay thợ săn của chúng tôi cưỡi ngựa về trại với sự phấn khích,” George Bent sau đó kể lại, “và nói rằng binh lính đang đi lên từ hướng sông. Người cảnh giới của chúng tôi, một người tên Gấu Bò, lên ngựa và phóng quanh trại, báo động binh lính đang đến. Mây Đỏ cùng đồng bọn lên ngựa và tiến qua trại Sioux, la lớn báo động cho người Sioux. Mọi người chạy đi lấy ngựa. Ở những thời điểm như thế ai muốn lấy ngựa nào cũng được; nếu ngựa bị giết trong trận chiến người cưỡi không phải trả tiền cho chủ của nó, nhưng mọi thứ mà người cưỡi bắt được trong trận đánh thuộc về chủ nhân của con ngựa y cưỡi. Khi tất cả đã lên ngựa chúng tôi chạy lên Sông Powder khoảng 15 dặm, tại đó chúng tôi bắt gặp toán làm đường của Sawyers, một đoàn xe ngựa đông đúc chở những di dân đi cùng với lính tráng hộ tống hai bên.”

            Như là phần của chiến lợi phẩm lấy được trong trận đánh ở Cầu Platte người Da Đỏ mang theo một số quân phục và kèn trận. Khi rời trại, George Bent khoác vội vàng áo sĩ quan, và em ông mang theo một cây kèn. Họ cho rằng các vật này sẽ làm binh lính hớp hồn và hoảng sợ. Khoảng 500 chiến binh Cheyenne và Sioux trong trận đánh, có cả Mây Đỏ và Dao Cùn đi theo. Các tù trưởng rất giận vì binh lính dám đi vào xứ của họ mà không xin phép.

            Ngay khi thấy đoàn xe di chuyển giữa hai ngọn đồi với một đàn khoảng 300 gia súc đằng sau. Người Da Đỏ chia quân và tản ra hai bên sườn đồi đối diện, và sau một dấu hiệu đồng loạt khai hỏa vào đám binh lính hộ tống. Trong một ít phút đoàn xe quây vòng bao đàn gia súc bên trong và các bánh xe khóa vào nhau.

            Trong hai hoặc ba giờ sau đó các chiến binh mua vui bằng cách bò xuống các rãnh trên sườn đồi rồi bất thình lình nổ súng ở cự li gần. Một số chiến binh gan dạ hơn phóng ngựa sát vào, chạy quanh vòng xe ngựa phòng ngự, rồi vọt ra xa. Sau khi các tên lính bắt đầu khai hỏa hai khẩu súng cối, các chiến binh nấp sau gò nhỏ, hét lên các tiếng hú xung phong và sỉ nhục binh lính. Charlie Bent thổi kèn vài lần và la lớn những tiếng Anh tục tĩu mà anh có thể nhớ khi nghe người da trắng chưỡi thề ở trạm giao dịch của cha mình. (“Họ chế nhạo chúng tôi trong những cách nặng nề nhất,” một tay tìm vàng bị bao vây sau đó nhớ lại. “Một số ít còn đủ vốn tiếng Anh để chưỡi thề thậm tệ với chúng tôi.”)

            Đoàn xe không thể di chuyển, nhưng người Da Đỏ cũng không thể hạ được họ. Vào khoảng giữa ngày, để chấm dứt tình trạng bế tắc, các tù trưởng ra lệnh kéo cờ trắng lên. Một vài phút sau đó một người đàn ông mặc áo da cưỡi ngựa ra khỏi vòng xe. Vì anh em nhà Bent biết nói tiếng Anh, họ được phái xuống để gặp sứ giả. Người đàn ông là một người Mexico vui tính, Juan Suse, và y ngạc nhiên vì tiếng Anh lưu loát của nhà Bent cũng như áo lính xanh mà George đang mặc. Suse, chỉ biết chút ít tiếng Anh, phải ra dấu tay, nhưng cũng làm cho họ hiểu được là chỉ huy đoàn xe muốn thương lượng với các chỉ huy Da Đỏ.

            Một cuộc họp lập tức được sắp xếp, nhà Bent làm thông dịch viên cho Mây Đỏ và Dao Cùn. Đại tá Sawyers và Đại úy George Williford bước ra từ vòng xe quây với vài người hộ tống. Chức tước Đại tá của Sawyers chỉ có tính danh dự, nhưng y xem mình là chỉ huy của đoàn xe. Chức tước của Đại úy Williford mới là thứ thiệt; hai đại đội của y là Quân Bắc Vàng Mạ, các tù binh Liên minh trước đây [Galvanized Yankee, tức các binh lính của phe Liên minh miền Nam bị phe Liên bang miền Bắc bắt làm tù binh và đồng ý gia nhập quân đội Liên bang: ND]. Thần kinh của Williford tưởng chừng như đứt đoạn. Y không tin tưởng vào người của mình, không tin tưởng vào quyền hành của mình. Y trố mắt nhìn chiêc áo choàng quân phục màu xanh mà tên thông ngôn lai Cheyenne, George Bent, đang mặc.

            Khi Mây Đỏ yêu cầu giải thích lý do sự hiện diện của binh lính trong xứ da đỏ, Đại úy Williford trả lời bằng cách hỏi tại sao người Da Đỏ đã tấn công người da trắng hòa hiếu. Charlie Bent, còn cay đắng với các ký ức về Suối Cát, bảo Williford rằng người Cheyenne sẽ chiến đấu chống tất cả người da trắng cho đến khi chính quyền phải treo cổ Đại tá Chivington. Sawyers phản bác rằng y không đến đây để chống người Da Đỏ; y chỉ tìm một con đường ngắn đến các mỏ vàng của Montana, và chỉ muốn đi qua đất này.

            “Tôi thông ngôn cho các tù trưởng,” George Bent nói sau đó, “và Mây Đỏ trả lời nếu người da trắng đi ra khỏi xứ ông ngay và không làm đường thì mọi sự sẽ êm đẹp. Dao Cùn nói tương tự cho người Cheyenne; sau đó cả hai tù trưởng bảo Williford hãy cho đoàn xe quay về tây ra khỏi chỗ này, rồi quay về hướng bắc và khi đã qua Núi Sừng Lớn y đã ở bên ngoài xứ sở của họ.”

            Một lần nữa Sawyers chống đối. Đi theo con đường như vậy sẽ rất xa; y nói mình muốn đi về hướng bắc dọc theo thung lũng Sông Powder để tìm đồn lính mà Tướng Connor đang dựng lên ở đó.

            Đây là tin tức đầu tiên mà Mây Đỏ và Dao Cùn nghe nói về Tướng Connor và cuộc tiến quân của y. Họ tỏ vẻ kinh ngạc và thịnh nộ khi bọn lính dám xây đồn ngay trung tâm của khu vực săn bắn của họ. Thấy các tù trưởng bổng trở nên thù hằn, Sawyers nhanh chóng nộp cho họ một xe hàng hóa – bột mì, đường, cà phê, và thuốc lá. Mây Đỏ đề nghị thuốc súng, đạn, và đầu đạn được bổ sung vào danh sách, nhưng Đại úy Williford chống đối kịch liệt; nói cho đúng, viên sĩ quan không ưng cho người Da Đỏ cái gì cả.

            Cuối cùng các tù trưởng đồng ý nhận một xe bột mì, đường, cà phê, và thuốc lá để đổi lấy phép cho đoàn xe đi đến Sông Powder. “Viên sĩ quan gọi tôi,” George Bent nói sau đó, “bảo người Da Đỏ tránh ra để y chất hàng hóa xuống đất. Y muốn đi đến sông và hạ trại. Lúc đó là buổi trưa. Sau khi y đến con sông và quây vòng xe ở đó, một nhóm Sioux khác tiến đến từ làng. Nhóm này yêu cầu nộp hàng hóa, khi viên sĩ quan từ chối họ liền khai hỏa vào đoàn xe. Nhóm Sioux thứ hai này quấy nhiễu Sawyers và Williford vài ngày liền, nhưng Mây Đỏ và Dao Cùn và các chiến binh của họ không dự phần trong đó. Họ di chuyển ngược lên thung lũng để xem thực hư về tin đồn binh lính xây đồn trên sông Powder.

            Trong lúc đó, Xếp Sao Connor đã bắt đầu xây dựng một lô cốt cách ngả ba Bà Điên 60 dặm về hướng nam, và lấy tên mình đặt tên cho nó là Đồn Connor. Đi theo đạo quân Connor là một đại đội trinh sát người Pawnee dưới sự chỉ huy của Đại úy Frank North. Người Pawnee là cựu thù của người Sioux, Cheyenne, và Arapaho, và họ đã đăng lính cho chiến dịch với mức lương của kỵ binh chính qui. Trong khi binh lính đốn cây để xây lô cốt, người Pawnee rải quân đi trinh sát khu vực để tìm kiếm kẻ thù. Vào ngày 16/8 họ trông thấy một nhóm nhỏ người Cheyenne đang tiến gần từ phía nam. Đi với họ có mẹ của Charlie Bent, Bà Vàng.

            Bà đang cưỡi ngựa với bốn người đàn ông đi trước nhóm chính một chút, và khi bà thoạt trông thấy bọn Pawnee trên một ngọn đồi thấp bà tưởng đó là người Cheyenne hoặc Sioux. Bọn Pawnee lấy khăn ra hiệu nói họ là bạn, và người Cheyenne tiến lên để gặp họ, không ngờ vực gì. Khi người Cheyenne tiến đến gần ngọn đồi, bọn Pawnee thình lình tấn công họ. Và thế là Bà Vàng chết dưới tay của tên lính đánh thuê thuộc chủng tộc bà. Hôm đó con trai bà Charlie chỉ cách đó vài dặm về hướng đông cùng với các chiến binh của Dao Cùn, trở về từ cuộc bao vây đoàn xe của Sawyers.

1.png

Vào ngày 22/8 Tướng Connor thấy rằng lô cốt trên Sông Powder đã đủ vững chắc để một đại đội kỵ binh có thể trấn giữ. Để lại hầu hết trang bị ở đó, y lên đường với phần còn lại của đạo quân tiến về hướng thung lũng Sông Tongue để tiến đánh bất kỳ trại tập trung nào của người Da Đỏ mà đội trinh sát y có thể tìm gặp. Nếu di chuyển lên phía bắc dọc theo Sông Powder y có thể đã bắt gặp hàng ngàn người Da Đỏ đang sôi sục muốn đánh nhau – các chiến binh của Mây Đỏ và Dao Cùn đang tỏa ra để tìm kiếm binh lính của Connor.

            Khoảng một tuần lễ sau khi đạo quân của Connor rời Powder, một chiến binh Cheyenne tên Ngựa Nhỏ đang đi qua khu vực này cùng với vợ và con trai nhỏ. Vợ anh là người Arapaho, và họ đang trên đường đi thăm người thân tại trại Arapaho của Gấu Đen trên Sông Tongue. Một hôm khi đang đi, một bọc hành lý trên lưng ngựa của người vợ bổng lõng dây cột. Khi cô xuống ngựa để buộc lại cho chắc, cô bất giác quay nhìn bên kia gò đất. Một đoàn người ngựa đang đi trên đường mòn cách xa phía sau họ.

            “Xem đàng đó kìa anh,” cô gọi cho Ngựa Nhỏ.

            “Bọn lính!” Ngựa Nhỏ la lên. “Chạy mau!”

            Ngay sau khi họ vượt qua ngọn đồi trước mặt, và ra khỏi tầm nhìn của binh lính, họ quay ngựa ra khỏi đường mòn. Ngựa Nhỏ cắt dây buộc xe kéo đằng sau chở đứa con trai nhỏ của mình, và đặt em sau lưng mình và cả hai vợ chồng phóng như bay đến trại của Gấu Đen. Họ làm náo loạn ngôi làng yên tĩnh gồm 250 lều dựng trên núi mặt bằng bên trên con sông. Năm đó người Arapoha có rất nhiều ngựa; ba ngàn con đang quây quần dọc con suối.

Không người Arapaho nào tin rằng binh lính có thể ở cách họ trong vòng hàng trăm dặm, và khi vợ của Ngựa Nhỏ cố tìm người cảnh giới để cảnh báo cho dân làng, y nói: “Ngựa Nhỏ nhìn lầm rồi; chắc y thấy vài người da đỏ đi trên đường mòn, chứ không có gì đâu.” Tin chắc mình nhìn không lầm, Ngựa Nhỏ và vợ vội vã đi tìm thân nhân của mình. Anh cô, Báo, đang nằm nghỉ trước lều. Khi họ báo tin dữ, giục anh lánh nạn ngay đêm nay, Báo cười lớn, chế nhạo người em rễ Cheyenne. “Chú mày lúc nào cũng sợ sệt nên trông gà hoá cuốc đó thôi,” anh nói. “Chú mày chỉ thấy mấy con bò rừng chứ gì.”

            “Được thôi,” Ngựa Nhỏ trả lời, “anh không muốn đi thì thôi, nhưng tụi này sẽ đi ngay đêm nay.” Vợ anh thuyết phục được một số thân nhân sắp xếp hành trang và trước khi trời tối họ rời khỏi làng và đi vài dặm về hướng Sông Tongue.

            Sáng sớm hôm sau, binh lính của Xếp Sao Connor tấn công làng Arapaho. May mắn, một chiến binh lấy con ngựa đua của mình ra tập cưỡi tình cờ trông thấy bọn lính đang tập họp sau một gò đất. Y vội phóng như bay về trại, nhờ đó mà một số người Arapaho trốn thoát được về hướng con sông.

            Một lúc sau, một hồi kèn vang lên cùng với tiếng đạn cối nổ tung, 80 trinh sát Pawnee và 250 kỵ binh của Connor tấn công làng từ hai phía. Người Pawnee quay sang bãi nhốt 3,000 con ngựa mà người Arapaho đang tuyệt vọng xua đàn ngựa cho chúng chạy tứ tán khắp thung lũng. Ngôi làng, mà mới ít phút trước đây còn yên ắng và thanh bình, thình lình trở nên một cảnh tượng hỗn loạn và khiếp đảm – ngựa chồm lên và hí vang, chó sủa, đàn bà thì la hét, trẻ con thì gào khóc, còn chiến binh và binh lính thì hú thét và chưởi rủa.

            Người Atapaho cố lập một tuyến phòng thủ để che chắn những người không chiến đấu, nhưng trong loạt đạn đầu tiên của binh lính đàn bà và trẻ con bị kẹt giữa hai lằn đạn của chiến binh và kỵ binh. “Binh lính,” một sĩ quan của Connor nói, “giết chết một chiến binh ngã xuống ngựa, đánh rơi hai đứa trẻ mà anh cố mang đi. Trong khi rút lui, người Da Đỏ bỏ lại trẻ em nằm giữa hai chiến tuyến, ở đó không bên nào đến cứu chúng được.” Bọn trẻ con bị bắn chết.

            “Tôi ở trong làng giữa cuộc đấu tay đôi với các chiến binh và phụ nữ của họ,” một sĩ quan khác nói, “bởi vì nhiều phụ nữ của băng này cũng chiến đấu can trường không kém các nam giới. Rủi thay cho phụ nữ và trẻ con, người của chúng tôi không có thời gian để điều chỉnh mục tiêu . . . các bà và trẻ con, cũng như chiến binh, đều ngã xuống, chết hoặc bị thương.”

            Người Arapaho dáo dác tìm ngựa, phóng lên và bắt đầu rút lui lên Suối Sói, binh lính đuổi theo ráo riết. Sau mười dặm, đợi cho ngựa của kỵ binh thấm mệt, các chiến binh liền quay lại tập kích quân áo xanh, sử dụng các khẩu súng cũ mà họ đã đổi chác và cung tên. Vào đầu giờ chiều Gấu Đen và các chiến binh của mình đẩy lùi kỵ binh của Connor trở về làng, nhưng pháo binh đã cắm hai khẩu súng cối ở đó, và các súng lớn tiếng lấp đầy không gian với những mảnh kim loại kêu rít lên. Người Arpaho không thể tiến xa hơn.

            Từ trên đồi người Arapaho nhìn binh lính giật sập tất cả lều trại trong làng, họ gom cột, vải bạt lều, quần áo da bò, chăn mền, lông thú, và ba mươi tấn ruốc thành những đống lớn rồi châm lửa đốt. Mọi thứ người Arapaho sở hữu – nơi trú ẩn, quần áo, và lương thực dự trữ mùa đông – tan thành mây khói. Sau đó binh lính và bọn Pawnee lên ngựa và bỏ đi mang theo các con ngựa mà họ bắt được, cả thảy 1,000 con, bằng một phần ba đàn ngựa của bộ tộc.

            Buổi chiều Ngựa Nhỏ, người Cheyenne đã cảnh báo binh lính đang đến, nghe tiếng súng lớn. Ngay khi binh lính bỏ đi, anh, vợ và các thân nhân đi theo trở về ngôi làng đã cháy rụi. Họ thấy hơn 50 người Da Đỏ đã chết. Báo, anh vợ Ngựa Nhỏ, nằm cạnh chỗ dựng lều của mình. Nhiều người khác, bao gồm con trai của Gấu Đen, bị thương nặng và chết không lâu sau đó. Người Arapaho không còn gì trừ các con ngựa họ đã xua đi cho khỏi bị bắt, một ít súng cũ, cung và tên, và quần áo họ đang mặc trên người. Đó là Trận Đánh Sông Tongue xảy ra trong Mùa Trăng Ngỗng Rụng Lông.

            Sáng hôm sau một số chiến binh theo đuôi đoàn kỵ binh Connor, đang di chuyển về hướng bắc về phía Nụ Hồng. Cùng ngày đó đoàn xe ngựa của Sawyers, mà người Cheyenne và Sioux đã bao vây hai tuần trước, đang lăn bánh qua xứ của người Arapaho. Nổi giận vì sự có mặt của quá nhiều kẻ xâm nhập, người Da Đỏ liền phục kích toán binh lính đi đầu, đuổi đàn gia súc đằng sau chạy tán loạn. Nhưng vì họ đã tốn quá nhiều đạn được khi đánh nhau với kỵ binh của Connor nên không còn sức bao vây và tấn công đoàn xe của Sawyers. Tuy nhiên, họ không ngừng quấy nhiễu bọn tìm vàng, cho đến khi họ qua khỏi xứ Sừng Lớn vào đất Montana.

            Trong khi đó Xếp Sao Connor tiến quân về hướng Nụ Hồng, lùng sục thêm trại Da Đỏ để tiêu hủy. Khi gần đến điểm hẹn ở Nụ Hồng, y phái trinh sát tỏa ra mọi hướng để tìm hai đạo quân kia, do Xếp Đại Bàng, Cole và Walker chỉ huy. Không thấy dấu vết gì của họ, họ đã trễ hẹn một tuần. Vào ngày 9/9 Connor ra lệnh cho Đại úy North dẫn theo bọn Pawnee đến Sông Powder hi vọng chặn đầu được các đạo quân. Vào ngày thứ hai bọn đánh thuê Pawnee đụng phải cơn mưa tuyết mù mịt, và rồi hai ngày sau đó họ tìm thấy chỗ Cole và Walker đã hạ trại cách đó không lâu. Mặt đất đầy xác ngựa chết, 900 con tất cả. Người Pawnee “vô cùng sửng sốt, không hiểu chuyện gì xảy ra. Nhiều ngựa bị bắn vào đầu.” Gần đó là những tàn tích cháy đen trong đó họ tìm thấy những mảnh khóa nịt kim loại, bàn đạp ngựa, và vòng sắt – những tàn tích của yên cương bị đốt cháy. Đại úy North không biết chắc tai họa nào đã tạo ra các chứng tích này; y vội vã trở về Nụ Hồng báo cáo cho Tướng Connor.

            Vào ngày 18/8 hai đạo quân dưới quyền chỉ huy của Cole và Walker đã hợp nhau dọc theo Sông Belle Fourche ở Đồi Đen. Tinh thần của hai ngàn binh sĩ xuống rất thấp; họ là những quân tình nguyện trong Nội Chiến, đang hi vọng được giải ngũ vì chiến tranh đã kết thúc vào tháng 4. Trước khi rời Đồn Laramie, các binh lính của trung đoàn Kansas của Walker đã làm loạn và không chịu hành quân cho đến khi đại pháo phải chĩa vào họ. Vào cuối tháng 8 khẩu phần lương thực cho đạo quân phối hợp quá ít đến nỗi họ phải bắt đầu giết thịt các con lừa. Bệnh scorbut [bệnh do thiếu vitamin C] bùng phát trong binh lính. Vì thiếu cỏ và nước, ngựa càng ngày càng yếu. Với người ngựa trong điều kiện như thế, cả Cole lẫn Walker không ai có lòng dạ nào mà đánh nhau với người Da Đỏ. Mục tiêu duy nhất của họ là đến được Nụ Hồng để hội quân với Tướng Connor.

            Về phần người Da Đỏ, hàng ngàn người đang tụ họp về những vùng đất thiêng Paha Sapa, tức Black Hills [những ngọn Đồi Đen]. Lúc đó là mùa hè, mùa hướng về Đấng Thần Linh Lớn, để cầu khẩn lòng thương xót của người và tìm kiếm những khải thị. Các thành viên của tất cả các bộ tộc đều có mặt tại nơi trung tâm của thế giới, đi riêng lẻ hoặc từng nhóm nhỏ, tham gia những nghi thức tôn giáo. Họ trông thấy những lá cờ hiệu đầy bụi bặm của 2,000 binh lính, ngựa và xe ngựa, và căm ghét vì chúng dám xâm phạm vùng Paha Sapa thiêng liêng, từ đây vòng cung của thế giới bẻ cong ra bốn hướng. Nhưng họ không đánh và tránh xa đạo quân bụi bặm, ồn ào.

            Vào ngày 28/8 khi Cole và Walker đến Powder, họ phái thám báo đến Sông Tongue và Nụ Hồng để tìm Đại tướng Connor, nhưng hôm đó ông ta còn mãi tận phía nam đang chuẩn bị phá hủy làng Arapaho của Gấu Đen. Sau khi thám báo trở lại báo tin không tìm thấy dấu vết nào của Connor, hai vị chỉ huy giảm khẩu phần binh sĩ xuống còn phân nửa và quyết định di chuyển về nam trước khi thảm họa chết đói xảy ra.

            Trong một ít ngày binh lính hạ trại trên Sông Powder nơi nó uốn khúc theo hướng bắc về phía Yellowstone, các băng nhóm Hunkpapa và Minneconjou Sioux đang theo đuôi họ khi họ ra khỏi Đồi Đen. Vào ngày 1/9 số chiến binh theo đuôi lên gần 400 người. Trong đó có thủ lĩnh Hunkpapa, Bò Ngồi, người mà hai năm trước ở trại Suối Quạ của những người Santee ra đi biệt xứ khỏi Minnesota, đã thề sẽ chiến đấu nếu cần để cứu xứ bò rừng khỏi tay người da trắng hám đất.

            Khi nhóm chiến binh Sioux phát hiện binh sĩ đang cắm trại dọc theo Sông Powder, một vài người muốn tiến đến mang cờ hưu chiến để xem có thể thuyết phục lính Áo xanh cho họ thuốc lá và đường như những quà cáp hòa bình. Bò Ngồi không mấy tin cậy người da trắng nên chống đối sự xin xỏ đó, nhưng vẫn để mặc nhóm hưu chiến muốn làm gì thì làm.

            Các tên lính đợi cho đến khi nhóm hưu chiến đến trong tầm bắn liền khai hỏa, giết chết và làm bị thương vài người trong nhóm. Những người sống sót tháo chạy, không quên bắt theo vài con ngựa trong đàn ngựa của bọn lính.

            Bò Ngồi không lạ tính cách tráo trở của bọn binh lính. Sau khi quan sát các con ngựa gầy còm đem về, ông cho rằng chỉ cần 400 chiến binh Sioux trên lưng ngựa thảo nguyên là có thể đánh ngang ngửa với 2,000 binh lính cưỡi ngựa ốm đói như thế. Trăng Đen, Gấu Nhanh, Lá Đỏ, Đứng-Nhìn-Lại, và phần đông các chiến binh khác đều đồng ý với ông. Đứng-Nhìn-Lại có một thanh kiếm cong mà ông đã tịch thu được từ một tên lính của Tướng Sully ở Dakota, và ông muốn thử nó với đám lính.

            Trong bức vẽ mà Bò Ngồi vẽ sau này cho cuốn tự thuật của mình, ông cho thấy mình hôm đó mang xà cạp có chuỗi hạt và mũ da thú có miếng đậy tai, tay cầm một khẩu súng độc phát, cung và tên, và mang một tấm khiêng chim sấm của mình.

            Đi xuống trại theo hàng một, người Sioux bao vây bọn lính đang giữ đàn ngựa, và bắt đầu bắn hạ từng tên cho đến khi một đại đội kỵ binh tấn công về phía bờ Sông Powder. Người Sioux nhanh chóng rút lui trên lưng ngựa chiến, chạy ra ngoài tầm bắn cho đến khi ngựa của bọn Áo xanh bắt đầu lảo đảo. Họ liền quay lại đối mặt với kẻ truy đuổi, Đứng-Nhìn-Lại dẫn đầu, vung thanh gươm và xông thẳng vào, chém một tên lính rớt xuống ngựa. Đứng-Nhìn-Lại sau đó quày ngựa và phóng ra khỏi tầm bắn an toàn, hét lên vui sướng vì thành tích của mình.

            Sau một ít phút binh lính chỉnh đốn hàng ngũ, và khi tiếng kèn vang lên họ xông lên tấn công người Sioux một lần nữa. Và lần nữa các chiến mã thảo nguyên lại mang các chiến binh Sioux ra khỏi tầm bắn; họ phân tán cho đến khi kỵ binh bực dọc phải dừng lại. Lần này người Sioux phóng tới từ mọi phía, xông ngựa thẳng vào họ và chèn họ ngã xuống ngựa. Bò Ngồi bắt được một chú ngựa ô, sau đó vẽ hình về sự kiện này cho cuốn tự thuật của mình.

            Hoảng kinh vì cú đột kích của người Da Đỏ, các Xếp Đại Bàng, Cole và Walker, chỉnh đốn hàng ngũ và tiến quân về nam dọc theo Sông Powder. Trong một vài ngày người Sioux theo đuôi binh lính, gây khiếp đảm bằng cách bất ngờ xuất hiện trên mô đất hoặc đánh phá lẻ tẻ đám hậu quân. Bò Ngồi và các tù trưởng khác cười khoái trá trước sự hoảng loạn của lính Áo xanh, lúc nào cũng túm tụm, dáo dác nhìn, và luôn cập rập, cập rập mong tránh xa họ.

            Khi trận mưa tuyết dữ dội kéo đến, người Da Đỏ ẩn nấp trong hai ngày, rồi một sáng họ nghe tiếng súng rải rác từ hướng của binh lính đã bỏ đi. Sáng hôm sau họ tìm thấy trại đã nhổ đi với ngựa chết nằm la liệt. Họ có thể nhìn thấy ngựa bị bao phủ bởi các lớp nước mưa đóng băng, và binh lính đã bắn hạ chúng vì họ không thể bắt chúng đi được.

            Vì nhiều binh lính hoảng loạn giờ đang đi bộ, người Sioux quyết định theo đuôi họ và gieo nỗi khiếp sợ đến phát điên để họ không dám trở lại Đồi Đen lần nữa. Dọc theo đường những người Hunkpapa và Minneconjou này bắt đầu gặp những toán trinh sát nhỏ của Oglala Sioux và Cheyenne cũng đang ra ngoài tìm đạo quân của Xếp Sao Connor. Hai bên rất hồ hỡi. Chỉ cách đó vài dặm về phía nam là một ngôi làng Cheyenne rộng lớn, và khi người đưa tin mang các thủ lĩnh băng nhóm lại với nhau, họ bắt đầu lên kế hoạch cho một trận mai phục lớn.

            Trong mùa hè đó Mũi Cao đã nhịn ăn nhiều lần theo nghi thức bí ẩn để có được pháp thuật bảo vệ đặc biệt chống lại kẻ thù. Như Mây Đỏ và Bò Ngồi, ông quyết tâm chiến đấu cho xứ sở mình, và cũng quyết tâm giành chiến thắng. Bò Trắng, một thầy mo Cheyenne già, khuyên ông đi một mình đến hồ pháp thuật và sống chung với thần nước. Trong bốn ngày Mũi Cao nằm trên một chiếc bè trong hồ nhịn ăn, chịu đựng cái nóng ban ngày và bão sấm ban đêm. Ông cầu nguyện Đại Pháp Sư và thần nước. Sau khi Mũi Cao trở lại trại, Bò Trắng làm cho ông một chiếc mũ chiến bảo hộ đính nhiều lông đại bàng đến nỗi khi ông lên ngựa, chiếc mũ chiến gần như lướt trên mặt đất.

            Vào tháng 9, khi trại Cheyenne lần đầu tiên nghe tin binh lính bỏ chạy về nam theo hướng Sông Powder, Mũi Cao xin được quyền dẫn đầu mũi tấn công. Một hai ngày sau đó binh lính hạ trại trên một khúc quẹo của dòng sông, hai bên có dốc đứng cao và súc gỗ to án ngữ. Thấy rằng đây là một vị trí tuyệt vời để đột kích, các tù trưởng dẫn theo vài trăm chiến binh, bố trí chung quanh trại và bắt đầu trận đánh bằng cách tung các nhóm nghi binh nhỏ để dụ dỗ binh lính ra khỏi vòng quây xe ngựa. Nhưng bọn lính đề phòng không ra.

            Giờ thì Mũi Cao tiến đến trên lưng con bạch mã, chiếc mũ chiến lướt theo sau, gương mặt ông vẽ các biểu tượng màu lâm trận. Ông kêu gọi các chiến binh không tác chiến riêng lẻ như thói quen mà phải hợp đồng tác chiến như binh lính. Ông bảo họ lập phòng tuyến trên khoảng trống giữa con sông và dốc đứng. Các chiến binh điều động ngựa theo hàng ngang đối diện với các binh lính, đang dàn đội hình trước đoàn xe ngựa. Mũi Cao giờ cưỡi ngựa tới lui trước hàng chiến binh, dặn dò họ hãy gượm chờ ông làm cạn đạn dược của binh lính. Thế rồi ông vỗ mông ngựa cho ngựa phi thẳng như tên bắn đến đầu mút hàng ngũ của binh lính. Khi ông đến đủ gần để có thấy rõ mặt mũi họ, ông quay ngang và chạy dọc theo chiều dài của hàng quân, và binh sĩ khai hỏa như điên. Đến cuối hàng, ông lại quày đầu ngựa và phi trở lại dọc theo tuyến đầu.

“Ông ta đã làm như thế đến ba, có thể bốn lần, phóng từ đầu này đến đầu kia,” George Bent nói. “Thế rồi ngựa ông bị bắn và kéo ông ngã xuống. Thấy thế, các chiến binh hét lên và tấn công. Họ tấn công binh lính dọc tuyến đầu, nhưng không thể xuyên thủng.”

            Mũi Cao đã mất ngựa, nhưng bùa chú bảo hộ đã cứu mạng ông. Ngày hôm đó ông cũng học được ít điều về kinh nghiệm đánh quân Áo xanh – cả Mây Đỏ, Bò Ngồi, Dao Cùn, và các thủ lĩnh khác. Sự gan lì, quân số, mũi tấn công dữ dội – tất cả đều vô nghĩa nếu các chiến binh chỉ trang bị cung tên, dùi cui, và súng cổ lổ của những ngày đánh bẫy lông thú. (“Chúng tôi hiện giờ bị tấn công tứ phía, mặt trước, mặt sau, và sườn,” Đại tá Walker báo cáo, “nhưng người Da Đỏ hình như chỉ có ít súng.”) Binh lính được trang bị các súng trường hiện đại thời Nội Chiến, và có yễm trợ của súng cối.

            Vài ngày sau trận đánh – được người Da Đỏ nhớ đến như trận đánh Mũi Cao – người Cheyenne và Sioux tiếp tục quấy nhiễu và trừng trị binh lính. Quân Áo xanh giờ đi chân đất và quần áo tả tơi, không còn gì để ăn trừ thịt ngựa trơ xương, mà họ ăn sống vì quá cập rập không thể nhóm lửa. Cuối cùng trong Mùa Trăng Cỏ Úa khoảng cuối tháng 9, đạo quân trở về của Xếp Sao Connor đến để giải cứu. Tất cả binh lính dựng trại cùng nhau quanh lô cốt tại Đồn Connor trên bờ Sông Powder cho đến khi các người đưa tin từ Đồn Laramie đến với lệnh triệu hồi binh sĩ (trừ hai đại đội, phải ở lại Đồn Connor).

            Hai đại đội được lệnh ở lại qua mùa đông tại Đồn Connor (sẽ sớm được đổi tên là Đồn Reno) là quân Bắc Vàng Mạ đã hộ tống đoàn xe của Sawters về phía tây đến mỏ vàng. Tướng Connor để lại cho những binh lính này sáu khẩu súng cối để bảo vệ lô cốt. Mây Đỏ và các tù trưởng khác điều nghiên đồn từ khoảng xa. Họ biết rằng mình có đủ chiến binh để tràn ngập lô cốt, nhưng sẽ nhiều người chết dưới trận mưa đạn do súng lớn phun ra. Cuối cùng họ đồng ý một chiến thuật thô sơ là liên tục theo dõi đồn và đường tiếp tế từ Đồn Laramie. Họ sẽ vây binh lính trong đồn như tù binh của mình trong suốt mùa đông và cắt đường tiếp tế của họ từ Đồn Laramie.

            Trước khi mùa đông kết thúc, phân nửa quân Bắc Vàng Mạ kém may mắn bị chết hoặc hấp hối vì bệnh scorbut, thiếu dinh dưỡng, và lao phổi. Không chịu nỗi cảnh tù túng buồn chán, nhiều người bỏ trốn và đào ngũ, phó mặc số phận cho may rủi với người da đỏ bên ngoài.

            Về phần người Da Đỏ, tất cả chỉ trừ những nhóm nhỏ chiến binh thay phiên canh chừng đồn đều di chuyển về Đồi Đen, ở đó những đàn linh dương và bò rừng đông đúc vỗ béo họ trong những căn lều tepee ấm áp. Suốt những buổi tối mùa đông dài các tù trưởng kể cho mọi người nghe về những sự kiện trong cuộc xâm chiếm của Connor. Vì người Arapaho quá tự tin và bất cẩn, họ đã đánh mất làng mạc, sinh mạng, và một phần đàn ngựa quí. Những bộ tộc khác đã mất một số ít sinh mạng nhưng không mất ngựa hay nhà cửa. Họ đã bắt được nhiều ngựa và lừa mang dấu hiệu Hoa Kỳ. Họ đã tịch thu được nhiều súng các-bin, yên ngựa, và những trang bị khác của binh lính. Trên hết, họ đã lấy lại niềm tin vào khả năng đánh đuổi bọn Áo xanh ra khỏi đất nước mình.

2.png

“Nếu người da trắng vào xứ sở tôi một lần nữa, tôi sẽ trừng trị họ lần nữa,” Mây Đỏ nói, nhưng ông biết rằng trừ khi kiếm được nhiều súng mới, nhiều đạn dược tịch thu được của binh lính, người Da Đỏ không thể tiếp tục trừng trị bọn lính mãi mãi.                                                       

6 . Cuộc Chiến của Mây Đỏ

1866 – Ngày 27 tháng 3, Tổng thống Johnson phủ quyết Bộ Luật Quyền Dân Sự. Ngày 1 tháng 4, Quốc hội bác bỏ phủ quyết của Tổng thống và ban quyền bình đẳng cho mọi người sinh ra trên Hoa Kỳ (trừ các người Da Đỏ); Tổng thống cho phép sử dụng Quân đội để cưỡng chế luật. Ngày 13 tháng 6, Đạo Luật Bổ sung thứ 14 vào Hiến pháp Hoa Kỳ, cho người da đen quyền công dân, được gởi về các bang để phê chuẩn. Ngày 21 tháng 7, vài trăm người chết ở Luân Đôn vì bệnh dịch tả. Ngày 30 tháng 7, cuộc nổi loạn sắc tộc bùng nổ ở New Orleans. Werner von Siemens sáng chế ra động cơ. Tác phẩm Crime and Punistment [Tội Ác và Hình Phạt] của Dostoyevsky và Snowbound [Giam Mình trong Tuyết Giá] của Whittier  được xuất bản.

1867 – Ngày 9 tháng 2, Nebraska được chấp thuận vào Liên bang là bang thứ 37. Ngày 17 tháng 2, chiếc tàu đầu tiên băng qua kênh đào Suez. Ngày 12 tháng 3, những binh lính Pháp cuối cùng rời Mexico. Ngày 30 tháng 3, Hoa Kỳ mua Alaska của Nga với giá $7,200,000. Ngày 20 tháng 5, tại Luận Đôn, dự luật của John Stuart Mill cho phép phụ nữ đi bầu bị Nghị viện bác bỏ. Ngày 19 tháng 6, người Mexico xử tử Hoàng đế Maximilian. Ngày 1 tháng 7, nước Canada được thành lập. Ngày 27 tháng 10, Garibaldi diễn hành ở La Mã. Ngày 15 tháng 11, ủy ban quốc hội biểu quyết rằng Tổng thống Johnson “bị truy tố vì các trọng tội và hành vi phi pháp.” Alfred Nobel sáng chế ra thuốc nổ. Christopher L. Sholes chế tạo máy đánh chữ đầu tiên. Johann Strauss sáng tác “The Blue Danube” [“Dòng Sông Xanh.”] Karl Marx xuất bản phần đầu tiên cuốn Tư Bản Luận.

            Cuộc chiến này không tự nhiên nổi lên ở đây trên đất nước tôi; cuộc chiến này là do con cái của Cha Lớn đem lại; họ đã đến đây chiếm đất của chúng tôi mà không phải trả tiền, và gây nhiều điều tác tệ trên đất nước này. Cha Lớn và con cái của ông ta phải gánh chịu tội lỗi này. . . Chúng tôi đã từng ao ước được sống trong đất nước này một cách hòa bình, và làm những việc vì lợi ích cho dân tộc mình, nhưng Cha Lớn đã xua binh lính tràn ngập đất này và chỉ nghĩ đến cái chết của chúng tôi. Một số người chúng tôi đã bỏ ra đi để mong có sự thay đổi, và những người khác đã lên hướng bắc để săn thú; họ đã bị binh lính tấn công từ hướng này, và khi tới được miền bắc họ bị binh lính tấn công từ hướng khác, và bây giờ khi họ muốn quay về binh lính đứng giữa họ để ngăn không cho về nhà. Theo tôi hình như có một cách tốt hơn để giải quyết chuyện này. Khi người ta gặp rắc rối, tốt hơn hai bên ngồi lại, không mang vũ khí và bàn bạc về việc đó và tìm kiếm một cách thức giải quyết hòa bình.

-SINTE-GALESHKA (ĐUÔI ĐỐM) CỦA BỘ TỘC BRULE SIOUX

VÀO CUỐI HÈ VÀ THU của năm 1865, trong khi người Da Đỏ ở xứ Sông Powder đang biểu dương sức mạnh của mình, một ủy ban Hoa Kỳ đi dọc theo thượng nguồn Sông Missouri. Tại mỗi làng Sioux gần sông, các ủy viên dừng lại để chuyện trò với các tù trưởng mà họ có thể tìm được. Newton Edmunds, thống đốc được bổ nhiệm gần đây của Lãnh địa Dakota, là người dề xuất chủ yếu của ủy ban này. Một thành viên khác là Nhà Buôn Đường Dài, Henry Sibley, mà ba năm trước đã đuổi người Santee Sioux ra khỏi bang Minnesota. Edmunds và Sibley phân phát chăn mền, mật, bánh qui, và những quà cáp khác cho những người Da Đỏ mà họ viếng thăm, và không gặp mấy khó khăn khi thuyết phục được chủ của họ ký những hiệp ước mới. Họ cũng phái những người chạy việc vào tận Black Hills và Sông Powder mời các tù trưởng đến và ký tên, nhưng các tù trưởng đang bận đánh nhau với quân xâm lược Connor, nên không ai đáp ứng.

            Vào mùa xuân năm đó cuộc Nội Chiến của người da trắng đã kết thúc, và cuộc di dân nhỏ giọt của người da trắng vào miền Tây bắt đầu có dấu hiệu tăng lên thành một trận lũ lụt. Điều mà các ủy viên hiệp ước muốn là quyền được đi qua xứ sở người Da Đỏ bằng đường mòn, đường xá, và cuối cùng đường tàu hỏa.

            Trước khi mùa thu chấm dứt các ủy viên đã hoàn tất chín hiệp ước với người Sioux – bao gồm Brule, Hunkpapa, Oglala, và Minneconjou, hầu hết những thủ lĩnh chiến binh của họ không có ai ở gần những ngôi làng trên Sông Missouri. Giới chức chính quyền ở Washington chào đón các hiệp ước như là sự kết thúc của mối thù địch Da Đỏ. Cuối cùng người Da Đỏ Đồng bằng đã chịu hiếu hòa, họ nói; sẽ không còn cần những chiến dịch tốn kém như cuộc hành quân Sông Powder của Connor, được tổ chức để giết hại người Da Đỏ “với một giá hơn một triệu đô la, trong khi hàng trăm binh lính của chúng ta phải mất mạng, nhiều khu định cư biên giới bị tàn sát, và nhiều tài sản bị tiêu hủy.”

            Thống đốc Edmunds và các ủy viên khác hiểu rất rõ là các hiệp ước là vô nghĩa vì không có tù trưởng chiến binh nào ký cả. Mặc dù các ủy viên gởi các bản sao đến Washington để Quốc hội phê chuẩn, họ tiếp tục nỗ lực thuyết phục Mây Đỏ và những tù trưởng xứ Powder khác đến gặp mặt họ tại bất kỳ địa điểm nào thuận tiện để ký tiếp hiệp ước. Vì cung đường Bozeman là tuyến đường quan trọng nhất từ Đồn Laramie đến Montana, các giới quân sự ở đồn chịu áp lực dụ dỗ Mây Đỏ và các thủ lĩnh chiến tranh ngừng phong tỏa đường xá và đến Laramie sớm nhất.

            Đại tá Henry Maynadier, người được chỉ định đến Đồn Laramie chỉ huy một trung đoàn quân Bắc Vàng Mạ, thử dùng một người ở biên địa đáng tin cậy như Tấm Chăn Jim Bridger hoặc Bê Pháp Sư Beckwourth để đóng vai trung gian với Mây Đỏ, nhưng không ai chịu đi vào lãnh thổ Sông Powder quá sớm sau khi Connor đã làm dấy lên lòng căm thù của các bộ tộc qua cuộc xâm lăng của y. Cuối cùng Maynadier quyết định dùng 5 người Sioux từng sống lâu năm quanh đồn làm người đưa tin – Mồm To, Sườn To, Bàn Chân Đại Bàng, Gió Lốc, và Quạ Nhỏ. Được gọi một cách khinh khi là bọn “Lượn Lờ Laramie,” những nhà buôn Da Đỏ này thực sự là những tay tháo vát lanh lợi. Nếu một người da trắng muốn một bộ đồ da bò loại tốt nhất, hoặc nếu một người Da Đỏ tận miệt Sông Tongue muốn có hàng từ các sĩ quan quân nhu của đồn, bọn Lượn Lờ Laramie này sẽ dàn xếp cuộc đổi chác. Họ sẽ đóng một vai trò quan trọng là người tiếp tế quân nhu cho các người Da Đỏ trong cuộc chiến của Mây Đỏ.

            Mồm To và nhóm của y ra đi trong hai tháng, bắn tin là các món quà quí đang đợi các thủ lĩnh chiến tranh nếu họ đến Đồn Laramie và ký hiệp ước mới. Vào ngày 16/1/1866, các người đưa tin trở lại cùng với hai băng nhóm nghèo khổ người Brule do Nai Đứng và Gấu Nhanh dẫn đầu. Nai Đứng nói bộ tộc mình đã đánh mất nhiều ngựa trong bão tuyết và thú săn quá hiếm ở vùng Sông Republican. Đuôi Đốm, người cầm đầu Brule, sẽ đến sau ngay khi con gái ông có thể đi được. Cô ta bệnh ho. Nai Đứng và Gấu Nhanh rất sốt sắng ký tên và nhận lãnh quần áo và lương thực cho dân mình.

            “Nhưng Mây Đỏ thì sao?” Đại tá Maynadier muốn biết. “Mây Đỏ, Người-Sợ-Ngựa-của Mình, Dao Cùn – những thủ lĩnh đã đánh binh lính của Connor ở đâu?” Mồm To và những tên Lượn Lờ Laramie khác bảo đảm với ông là các tù trưởng chiến tranh sẽ ở đó trong một thời gian ngắn. Không thể giục họ được, nhất là trong Mùa Trăng Rét Căm.

            Nhiều tuần trôi qua, và rồi vào đầu tháng ba một người đưa tin đến từ Đuôi Đốm thông báo với Đại tá Maynadier là tù trưởng bộ tộc Brule đang đến để bàn bạc hiệp ước. Con gái của Đuôi Đốm, Chân Nhanh, bệnh rất nặng, và ông hi vọng bác sĩ của đồn sẽ chữa lành cho nó. Một ít ngày sau, khi Maynadier nghe tin con gái Đuôi Đốm đã chết trên đường đi, ông đi cùng một đại đội và xe cứu thương ra đón đám tang của người Brule. Đó là ngày mưa tuyết lạnh giá, phong cảnh Wyoming hoang vu, những dòng suối đã đóng băng, các ngọn đồi xám lốm đốm tuyết phủ. Thi thể Chân Nhanh đã được quấn trong lớp da hưu, được bó chặt và ướp nhựa; áo quan đơn sơ này được treo giữa hai chú ngựa ưa thích của em, một cặp ngựa thảo nguyên trắng.

            Thi thể của Chân Nhanh được dời qua xe cứu thương, hai con ngựa trắng buộc phía sau, và đám rước tiếp tục tiến về Đồn Laramie. Khi đoàn của Đuôi Đốm về đến đồn, Đại tá Maynadier ra lệnh cho toàn thể binh lính đồn trú ra chia buồn với người Da Đỏ đang có tang chế.

            Đại tá mời Đuôi Đốm vào trong bộ chỉ huy và nói lời chia buồn về cái chết của cô con gái. Tù trưởng nói rằng vào những ngày người da trắng và da đỏ còn sống chung hòa bình, ông đã nhiều lần dẫn con gái đến Đồn Laramie chơi, và bé rất yêu thích đồn, nên ông muốn được dựng giàn an táng của em ở nghĩa địa của đồn. Đại tá Maynadier đồng y ngay lập tức. Ông ngạc nhiên khi nhìn thấy những giọt lệ đọng trên đôi mắt của Đuôi Đốm; ông không biết là người Da Đỏ cũng biết khóc. Lúng túng vị đại tá bèn đổi đề tài. Vị Cha Lớn ở Washington đang phái một ủy ban thương thảo hòa bình mới vào mùa xuân; ông hi vọng rằng Đuôi Đốm có thể ở gần đồn chờ các ủy viên đến; vì phải gấp rút tạo bình yên đi lại cho cung đường Bozeman. “Tôi được thông báo là việc đi lại mùa xuân sau sẽ rất tập nập,” viên đại tá nói, “để đến các mỏ ở Idaho và Montana.”

            “Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã gánh chịu nhiều điều sai quấy,” Đuôi Đốm trả lời, “và phải được đền bù cho những thiệt hại và đau buồn do nhiều con đường xuyên qua xứ sở chúng tôi đã gây ra, cũng như do việc xua đuổi và hủy diệt bò rừng và thú săn. Trái tim tôi rất đau đớn, và không thể bàn bạc công việc; tôi sẽ đợi và gặp những cố vấn mà Vị Cha Lớn phái đến.”

            Sáng hôm sau Maynadier sắp xếp một lễ tang quân sự cho Chân Nhanh, và ngay trước hoàng hôn một đám rước diễu hành đến nghĩa địa đồn, phía sau là cỗ quan tài phủ vải đỏ đặt trên một xe móc chở pháo. Theo phong tục của người Brule, các phụ nữ nâng quan tài lên giàn, phủ một lớp da bò sống qua nó, và giằn nó xuống bằng dây da. Bầu trời nặng như chì và sắp có bão tới, mưa tuyết rơi cùng với hoàng hôn. Theo một tiếng lệnh binh lính quay mặt ra ngoài và bắn ba loạt đạn liên tiếp. Binh lính và người Da Đỏ sau đó trở về đồn. Một tổ pháo binh vẫn đứng trực cạnh giàn suốt đêm; họ đốt một đống lửa lớn bằng gỗ thông và bắn súng cối mỗi nửa giờ cho đến bình minh.

            Bốn ngay sau Mây Đỏ và một nhóm đông người Oglala thình lình xuất hiện bên ngoài đồn. Trước tiên họ dừng trước trại Đuôi Đốm, và hai thủ lĩnh Teton vui mừng gặp lại nhau, và Maynadier bước ra cùng một nhóm lính hộ tống để mời cả hai vào trong bộ chỉ huy với đầy đủ nghi thúc trống kèn.

            Khi Maynadier bảo Mây Đỏ rằng các ủy viên hòa bình vài tuần lễ nữa mới đến Đồn Laramie, tù trưởng bộ tộc Oglala bổng tức giận. Nhóm Mồm To đã bảo ông rằng nếu ông đến ký hiệp ước thì sẽ nhận được quà. Ông cần súng và thuốc súng và lương thực. Maynadier đáp rằng ông ta có thể phát cho người Oglala lương thực lấy từ kho Quân đội, nhưng ông ta không có thẩm quyền phát súng và đạn dược. Sau đó Mây Đỏ muốn biết hiệp ước sẽ mang đến cho dân ông ta điều gì; họ đã ký nhiều hiệp ước trước đây, và hình như lần nào người Da Đỏ cũng hiến cho người da trắng đất đai. Lần này người da trắng phải cho người Da Đỏ cái gì đấy.

            Nhớ rằng chủ tịch của ủy ban mới này, E. B. Taylor, đang ở Omaha, Maynadier đề nghị Mây Đỏ gởi một bức điện đến Taylor qua đường dây điện tín. Mây Đỏ nghi ngờ; ông không hoàn toàn tin tưởng vào ma thuật của những sợi dây biết nói. Sau một chút do dự, ông đồng ý đi với vị đại tá đến phòng điện tín của đồn, và qua một thông dịch viên đọc một thông điệp hòa bình và thân hữu đến cố vấn của Vị Cha Lớn ở Omaha.

            Câu trả lời của ủy viên Taylor đến ngay qua tiếng tíc tè: “Vị Cha Lớn ở Washington . . . muốn tất cả các ông là bạn của ngài và bạn của người da trắng. Nếu ông hoàn tất một hiệp ước hòa bình, ngài mong mỏi gởi quà đến cho ông và người của ông như một biểu hiệu của tình bạn. Một chuyến tàu chất đầy hàng hóa và quà cáp không thể đến Đồn Laramie từ Sông Missouri trước ngày đầu tháng 6 và ngài mong ước rằng khoảng thời gian đó được thỏa thuận là ngày các ủy viên của ngài sẽ gặp các ông để ký hiệp ước.”

            Mây Đỏ rất ấn tượng. Ông cũng thích cung cách thẳng thắn của Đại tá Maynadier. Ông có thể đợi cho đến khi Mùa Trăng Khi Cỏ Xanh Mọc Lên là thời điểm ký hiệp ước. Như vậy ông có đủ thời gian trở về Powder và phái các người chạy việc đến tất cả băng nhóm sống rải rác của bộ tộc Sioux, Cheyenne, và Arapaho. Và người Da Đỏ cũng có thời gian để săn thêm da bò và da hải ly để đổi chác khi họ đến Đồn Laramie.

            Như một cử chỉ thiện chí, Maynadier phát ra một lượng nhỏ thuốc súng và đạn cho người Oglala khởi hành, và họ ra đi trong tinh thần phấn chấn và vui vẻ. Maynadier chưa nói gì về việc mở Tuyến đường Bozeman; còn Mây Đỏ chưa nói gì về Đồn Reno, vốn vẫn còn bị bao vây ở Powder. Những chủ đề này có thể gác lại cho đến khi mở hội đồng hiệp ước.

3

Đuôi Đốm, tức Sinte-Galeshka, của bộ tộc Brule Sioux. Vẽ năm 1877.

Mây Đỏ không đợi cho đến khi cỏ mọc. Ông trở lại Đồn Laramie vào tháng 5, Mùa Trăng Khi Ngựa Rụng Lông, và ông dẫn theo người phó của mình, Người-Sợ-Ngựa-Của-Mình, và hơn 1,000 người Oglala. Dao Cùn mang theo vài túp lều của người Cheyenne, và Lá Đỏ đến với băng người Brule của mình. Cùng với người của Đuôi Đóm và các người Brule khác, họ dựng một trại lớn dọc theo sông Platte. Trạm giao dịch và các cửa hàng trở nên sôi động. Chưa bao giờ Mồm To và bọn Lượn Lờ Laramie quá bận rộn sắp xếp việc giao dịch như thế.

            Một vài ngày sau các ủy viên hòa bình đến, và vào ngày 5 tháng 6 hội đồng chính thức bắt đầu, với các bài nói chuyện dài dòng như thường lệ của các ủy viên và các thủ lĩnh Da Đỏ khác nhau. Rồi bất ngờ Mây Đỏ xin vài ngày hoãn lại để chờ các người Teton khác đến, cũng muốn tham dự cuộc họp. Ủy viên Taylor đồng ý đình hoãn cho đến ngày 13/6.

            Do éo le của số phận, 13 tháng 6 cũng chính là ngày Đại Tá Henry B. Carrington và 700 sĩ quan và binh lính của Trung đoàn Bộ binh thứ 18 đến trong vùng lân cận Đồn Laramie. Trung đoàn đã đi từ Đồn Kearney, Nebraska, và được lệnh thiết lập một loạt đồn dọc theo tuyến đường Bozeman để chuẩn bị cho việc đi lại đến Montana, được dự báo là rất tấp nập trong mùa hè. Mặc dù kế hoạch của chiến dịch này đã được tiến hành nhiều tuần rồi, nhưng không người Da Đỏ được mời đến ký hiệp ước được báo tin về hoạt động quân sự này trong khu vực Sông Powder.

            Để tránh va chạm với 2,000 người Da Đỏ đang dựng trại quanh Đồn Laramie, Carrington cho dừng trung đoàn của mình cách đồn 4 dặm về hướng đông. Nai Đứng, một trong các tù trưởng Brule đã đến từ mùa đông, nhìn từ lều của mình trong khi đám binh lính sắp xếp xe ngựa chung quanh thành một hình vuông. Ông liền lên ngựa cưỡi về phía doanh trại. Binh lính dẫn ông đến gặp Đại tá Carrington. Carrington gọi một người hướng đạo ra làm thông dịch viên, và sau nghi thức hút thuốc chào đón, Nai Đứng hỏi cộc lốc: “Ngài tính đi đâu?”

            Carrington trả lời thẳng thắn là ông dẫn binh lính đến khu vực Sông Powder để canh giữ tuyến đường đến Montana.

            “Ở Đồn Laramie đang lập một hiệp ước với người Sioux về xứ sở mà ngài đang đi tới,” Nai Đứng bảo ông. “Ngài phải đánh nhau với các chiến binh Sioux nếu ngài đi đến đó.” Carrington nói mình không gây chiến với người Sioux, mà chỉ bảo vệ tuyến đường.

            “Họ sẽ không bán đất săn bắn cho người da trắng để làm đường,” Nai Đứng nhấn mạnh. “Họ sẽ không cho bạn con đường trừ khi bạn quất họ.” Ông liền nói thêm là mình là một người Brule, và mình và Đuôi Đốm là bạn bè của người da trắng, nhưng người Oglala của Mây Đỏ và người Minneconjou sẽ đánh lại bất kỳ người da trắng nào đi về phía bắc Sông Platte.

            Trước khi cuộc họp bắt đầu vào ngày hôm sau, mọi người Da Đỏ ở Đồn Laramie đều hay biết về sự hiện diện và mục đích của trung đoàn Áo xanh. Khi Carrington quyết định tự giới thiệu mình với các thủ lĩnh Da Đỏ và từ tốn thông báo với họ về những gì họ đã biết – rằng chính phủ Hoa Kỳ dự định mở một tuyến đường qua miền Sông Powder bất chấp hiệp ước.

4.png

Những phát biểu đầu tiên của Carrington nhận được tiếng bất mãn đồng thanh. Khi ông nói tiếp, người Da Đỏ tiếp tục xì xào trong nội bộ và bắt đầu rục rịch trên ghế dài làm bằng gỗ thông. Thông dịch viên của Carrington đề nghị trong tiếng thì thầm là mời các tù trưởng lên tiếng trước.

            Người-Sợ-Ngựa-Của-Mình bước lên bục. Nói ào ào như thác nước, ông làm rõ là nếu binh lính bước vào trong xứ sở Siouz, người của ông sẽ đánh lại họ. “Trong hai mùa trăng đội quân sẽ không còn một móng ngựa để lại,” ông tuyên bố.

            Bây giờ đến lượt Mây Đỏ lên tiếng. Thân hình nhỏ thó của ông, khoác một tấm chăn mỏng và mang giày moc-ca-sin, bước tới giữa bục. Mái tóc đen thẳng, rẽ ngôi ở giữa, xếp qua vai đến tận hông. Cái miệng

 

7 . Người Da Đỏ Chỉ Tốt là Người Da Đỏ Đã Chết

1868 – Ngày 24 tháng 2, Hạ viện Hoa Kỳ quyết định truy tố Tổng thống Johnson. Ngày 5 tháng 3, Thượng viện nhóm họp như Tòa án Truy tố; Tổng thống Johnson được triệu tập ra trước Thượng viện. Ngày 22 tháng 5, vụ cướp tàu hỏa đầu tiên trên thế giới xảy ra ở Indiana. Ngày 26 tháng 5, Thượng viện thất bại không thể kết án Tổng thống Johnson. Ngày 28 tháng 7, Đạo Luật Bổ sung thứ 14 (quyền bình đẵng cho tất cả trừ người Da Đỏ) trở thành một phần của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Ngày 25 tháng 7, Quốc hội thành lập Lãnh địa Wyoming từ các bộ phận của Dakota, Utah, và Idaho. Ngày 11 tháng 10, Thomas Edison xin cấp bằng sáng chế phát minh đầu tiên của mình, một máy bỏ phiếu bằng điện. Ngày 3 tháng 11, Ulysses Grant được bầu làm Tổng thống. Ngày 1 tháng 12, John D. Rockfeller bắt đầu cuộc chiến không mệt mỏi trong kinh doanh dầu hỏa.

Chúng tôi không hề gây hại cho người da trắng; chúng tôi không toan tính như thế. . .Chúng tôi chỉ muốn làm bạn với người da trắng. . . Đàn bò rừng đang suy giảm nhanh chóng. Linh dương, một vài năm trước đông đúc, bây giờ chỉ thưa thớt. Khi chúng chết hết chúng tôi sẽ đói; chúng tôi muốn có gì đó để ăn, và chúng tôi bắt buộc phải bước vào đồn. Những thanh niên của các ông không được bắn chúng tôi; bất cứ khi nào họ nhìn thấy chúng tôi là họ bắn, và chúng tôi phải bắn lại họ.

               -TONKAHASKA (BÒ CAO) NÓI VỚI TƯỚNG WINFIELD SCOTT HANCOCK

 

Không phải phụ nữ và trẻ con nhút nhát hơn đàn ông sao? Các chiến binh Cheyenne không sợ hãi, nhưng các ông chưa hề nghe nói về Suối Cát hay sao? Binh lính các ông giống như thể những tên đồ tể đối với đàn bà và trẻ con ở đó.

-WOQUINI (MŨI CAO) NÓI VỚI TƯỚNG WINFIELD SCOTT HANCOCK

 

Chúng tôi từng là bạn của người da trắng, nhưng các ông ép buộc chúng tôi ra khỏi con đường thân hữu bằng những mưu mẹo của các ông, và giờ đây khi chúng ta họp hội đồng các ông vẫn thúc ép nhau. Tại sao các ông không nói và đi thẳng, và để mọi sự êm đẹp?

-MOTAVATO (ẤM ĐEN) NÓI VỚI NGƯỜI DA ĐỎ Ở MEDICINE CHEEK LODGE

 

            VÀO MÙA XUÂN NĂM 1866, khi Mây Đỏ chuẩn bị chiến đấu cho vùng Sông Powder, một số đáng kể người Nam Cheyenne nhớ nhà đã đi theo ông đi về nam trong mùa hè. Họ muốn săn bò rừng lần nữa dọc theo Đồi Khói yêu quí của họ và hi vọng gặp được những người bạn cũ và người thân đã đi với Ấm Đen xuống phía dưới Arkansas. Trong số họ có Bò Cao, Ngựa Trắng, Râu Xám, Gấu Bò, và những tù trưởng Khuyển Quân khác. Thủ lĩnh chiến tranh lớn của họ Mũi Cao cũng đi theo, cùng với hai anh em nhà Bent.

            Trong thung lũng Đồi Khói họ tìm thấy vài băng Cheyenne và Arapaho trẻ đã chuồn ra từ trại của

Ấm Đen và Quạ Nhỏ phía dưới Arkansas. Họ đã đến Kansas để đi săn, ngược với ý muốn của tù trưởng họ, những người đã ký hiệp ước 1865 phải từ bỏ quyền đối với vùng săn bắn cũ. Mũi Cao và các tù trưởng Khuyển Quân chế giễu hiệp ước; vì họ không ký và không công nhận nó. Được hưởng không khí tự do và độc lập của xứ Sông Powder, họ không ưa gì những tù trưởng đã ký dâng đất đai của bộ tộc cho người da trắng.

            Không nhiều người xa xứ trở về nam thăm người của Ấm Đen. Trong số ít ỏi đó có George Bent. Anh đặc biệt muốn gặp cháu gái của Ấm Đen, Magpie, và không lâu sau cuộc hội ngộ đó anh lấy cô làm vợ. Khi gặp lại Ấm Đen, Bent khám phá ra rằng người bạn cũ của người Nam Cheyenne, Edward Wynkoop, giờ là cán bộ quản lý của bộ tộc. “Đó là những ngày tháng hạnh phúc của chúng tôi,” George Bent nói sau này. “Ấm Đen là một người tốt và được mọi người quen biết rất kính trọng.”

            Khi Wyncoop biết rằng người Khuyển Quân lại đi săn lần nữa dọc theo Đồi Khói, ông đến gặp các tù trưởng và cố thuyết phục họ bắt chước Ấm Đen ký hiệp ước. Họ từ chối thẳng thừng, nói rằng họ sẽ không bao giờ rời bỏ quê hương xứ sở một lần nữa. Wynkoop cảnh báo là binh lính chắc chắn sẽ tấn công họ nếu họ ở lại Kansas, nhưng họ trả lời là họ sẽ “sống hay chết ở đây.” Hứa hẹn duy nhất mà họ đưa ra cho cán bộ là họ sẽ kiểm soát đám trẻ gắt gao.

            Vào cuối hè Khuyển Quân nghe tin đồn về những thành tích của Mây Đỏ chống binh lính trong vùng Sông Powder. Nếu người Sioux và Bắc Cheyenne có thế chiến đấu để gìn giữ xứ sở của mình, thế thì tại sao những người Nam Cheyenne và Arapaho không chiến đấu để gìn giữ xứ sở của mình giữa Đồi Khói và Sông Republican.

            Với Mũi Cao là thủ lĩnh thống nhất, nhiều băng nhóm đến với nhau, và các tù trưởng lên kế hoạch để chặn sự đi lại dọc theo con đường Đồi Khói. Trong khi người Cheyenne lên phía bắc, một tuyến đường xe khách mới đã được mở thẳng qua trái tim của bãi bò rừng tốt nhất của họ. Hàng loạt các trạm xe mọc lên như nấm dọc theo tuyến đường Đồi Khói, và người Da Đỏ nhất trí là các trạm xe này phải bị quét sạch nếu họ muốn ngăn chận các chuyến xe.

            Chính trong thời gian này George và Charlie Bent đến lúc phải chia tay. George quyết định đi theo Ấm Đen, nhưng Charlie là một đệ tử nhiệt thành của Mũi Cao. Vào tháng 10, trong một cuộc họp với người cha da trắng tại Đồn Zarah, Charlie nổi cơn thịnh nộ, kết tội cha và anh mình phản bội người Cheyenne. Sau khi đe dọa giết cả hai, anh bị tước khí giới. (Charlie sau đó nhập bọn lại với Khuyển Quân và mở nhiều trận đột kích vào các trạm xe; vào năm 1868 anh bị thương, rồi mắc bệnh sốt rét, và chết trong một trại Cheyenne.)

            Vào cuối thu năm 1866 Mũi Cao và một toán chiến binh đến thăm Đồn Wallace và báo tin cho quản lý của Công ty Overland Stage là nếu y không dừng các chuyến xe khách qua xứ sở họ trong vòng 15 ngày, người Da Đỏ sẽ bắt đầu tấn công. Tuy nhiên, một loạt các trận bão tuyến đến sớm đã làm ngưng các chuyến đi trước khi Mũi Cao có thể bắt đầu tấn công; Khuyển Quân phải tạm bằng lòng với với một vài cuộc đột kích nhỏ vào các bãi gia súc ở trạm xe. Đối diện với một mùa đông dài, Khuyển Quân quyết định đóng trại thường trực ở Big Timbers trên Sông Republican, và ở đó họ đợi mùa xuân 1867.

              Để kiếm một chút tiền trong mùa đông đó, George Bent bỏ ra vài tuần với người Kiowa trao đổi quần áo da bò. Khi anh trở về làng của Ấm Đen vào mùa xuân, anh thấy mọi người phấn khích trước tin đồn về một lực lượng hùng hậu Áo xanh đang tiến về tây băng qua đồng bằng Kansas về hướng Đồn Larned. Ấm Đen cho triệu tập hội đồng và bảo dân mình là binh lính không đem đến gì ngoài sự rắc rối; rồi ông ra lệnh họ dọn hành lý để di chuyển về nam theo hướng Sông Canadian. Đó là lý do tại sao những người đưa tin được cán bộ Wynkoop phái đi không tìm thấy Ấm Đen cho mãi sau vụ rắc rối – mà ông đã dự đoán rất chính xác – đã bắt đầu.

            Những người chạy việc của Wynkoop tìm hầu hết các thủ lĩnh Khuyển Quân, và 14 người họ đồng ý đến Đồn Larned và nghe những gì Tướng Hancock sẽ nói với họ. Bò Cao, Ngựa Trắng, Râu Xám, và Gấu Bò mang theo khoảng 500 lều xuống Khe Pawnee, dựng một trại lớn ở đó cách Đồn Larned chừng 35 dặm, và rồi sau một vài ngày đình hoãn vì một trận bão tuyết, họ cưỡi ngựa vào đồn. Vài người trong bọn họ mặc quân phục  xanh của sĩ quan Hoa Kỳ mà họ đã lấy được ở phía bắc, và họ có thể thấy rõ là Tướng Hancock không thích điều này lắm. Ông cũng mặc cùng loại áo choàng với cầu vai điểm trang và huy chương bóng láng trên ngực áo. Ông tiếp họ với kiểu cách người trên, hống hách, khoe họ lực lượng 1,400 binh lính của mình, kể cả Ky binh thứ 7 mới do Lưng Chắc Custer chỉ huy. Sau khi Tướng Hancock cho pháo binh bắn vài phát đại bác thị uy, họ quyết định gọi ông là Lão Già Sấm Sét.

            Mặc dù người bạn Xếp Cao Wynkoop ở đó, họ ngờ vực ngay từ đầu Lão Già Sấm Sét. Thay vì đợi cho đến ngày hôm sau nói chuyện, ông triệu tập họ vào hội đồng ngay đêm đó. Họ coi việc họp đêm này là một điềm xấu.

            “Tôi không thấy nhiều tù trưởng có mặt ở đây,” Hancock phàn nàn. “Lý do tại sao? Tôi có nhiều điều để nói với người Da Đỏ, nhưng tôi muốn nói tất cả mọi người. . .Ngày mai tôi sẽ đến trại của các ông.” Người Cheyenne không thích nghe điều này. Đàn bà và trẻ con của họ ở trong trại, nhiều người sống sót từ những kinh hoàng ở Suối Cát ba năm trước. Liệu có phải Hancock mang 1,400 binh lính và súng sấm sét của y giáng lên đầu họ lần nữa? Các tù trưởng ngồi trong im lặng, ánh sáng lửa trại hắt lên những gương mặt căng thẳng, đợi Hancock nói tiếp. “Tôi đã nghe nói nhiều người Da Đỏ muốn đánh nhau. Hay lắm, chúng tôi đang ở đây, và đã sẵn sàng để đánh nhau. Nếu các ông muốn hòa bình, các ông biết điều kiện là gì rồi. Còn nếu các ông muốn chiến tranh, hãy coi chừng hậu quả.” Rồi ông ta bảo họ về đường tàu hỏa. Họ đã nghe tin đồn về nó, đường sắt đi qua Đồn Riley, hướng thẳng đến xứ Đồi Khói.

            “Người da trắng tiến ra đây rất nhanh đến nỗi không gì có thể ngăn cản được,” Hancock khoác lác. “Đến từ phương Đông, và đến từ phương Tây, như đồng cỏ bắt lửa dưới gió mạnh. Không có gì ngăn cản họ. Lý do cho việc này là, người da trắng là số đông, và họ phải bành trướng. Họ cần đất và không thể khác được. Những người ở vùng biển phía Tây muốn giao tiếp với người sống ở biển phía Đông, và đó là lý do tại sao họ xây dựng những tuyến đường này, những đường xe khách và đường tàu hỏa, và đường dây điện tín. . . Các ông không được để bọn trẻ các ông ngăn cản họ; các ông phải giữ người của ông tránh ra các con đường. . . Tôi không có gì để nói thêm. Tôi sẽ đợi cuối hội đồng, để xem các ông muốn chiến tranh hay hòa bình.”

            Hancock ngồi xuống, gương mặt ông ta chờ đợi khi người thông dịch đã hoàn tất phát biểu cuối cùng, nhưng người Cheyenne vẫn im lặng, trố mắt nhìn vị tướng và các sĩ quan của ông qua ngọn lửa trại. Cuối cùng Bò Cao đốt ống píp, hít một hơi, rồi chuyền theo vòng tròn. Ông đứng lên, gấp chiếc chăn đỏ-đen để cánh tay phải được tự do, và đưa bàn tay mình về phía Lão Già Sấm Sét.

            “Ông cho gọi chúng tôi,” Bò Cao nói. “Chúng tôi đến đây. . . Chúng tôi không hề gây hại cho người da trắng; chúng tôi không toan tính như thế. Cán bộ của chúng tôi, Đại tá Wynkoop, bảo chúng tôi gặp ông ở đây. Bất cứ khi nào ông muốn đi đến Đồi Khói ông cứ đi; ông có thể đi trên bất kỳ đường nào. Khi chúng tôi đi trên đường, thanh niên của ông không được bắn chúng tôi. Chúng tôi muốn là bạn của người da trắng. . . Ông nói ông sẽ đến làng chúng tôi ngày mai. Nếu ông đi, tôi sẽ không còn gì để nói nữa. Tôi đã nói hết lời.”

            Lão Già Sấm Sét đứng dậy và lại khoác bộ mặt kiêu ngạo. “Tại sao Mũi Cao không có mặt ở đây?” ông hỏi. Các tù trưởng bảo với ông là mặc dù Mũi Cao là thủ lĩnh chiến tranh nhưng ông ta không phải là tù trưởng, và chỉ có tù trưởng mới được mời đến dự hội đồng.

            “Nếu Mũi Cao không đến gặp tôi tôi sẽ đi tìm ông ta,” Hancock tuyên bố. “Tôi sẽ đem quân đến làng các ông ngày mai.”

            Ngay khi buổi họp đổ vỡ, Bò Cao đến bên Wynkoop và xin ông ngăn dùm Lão Già Sấm Sét không nên xua binh lính đến trại Cheyenne. Bò Cao sợ rằng nếu lính Áo xanh đến gần trại, sẽ có rắc rối giữa họ và nhóm Khuyển Quân trẻ nóng máu.

            Wynkoop đồng ý. “Trước khi Tướng Hancock khởi hành,” Wynkoop kể lại sau đó, “tôi trình bày với ông ta nỗi lo sợ của mình nếu ông ta xua quân thình lình vào làng Da Đỏ; nhưng ông ta không nghe, vẫn tiến hành.” Đạo quân của Hancock gồm có kỵ binh, bộ binh, và pháo binh, “toát ra một không khí kinh khủng, đằng đằng sát khí như thể chuẩn bị ra trận tiêu diệt kẻ thù.”

            Trên đường tiến quân đến Ngã Ba Pawnee, một số tù trưởng đi đầu để cảnh báo với các chiến binh Cheyenne là có binh lính đang đến. Những người khác cưỡi ngựa cùng với Wynkoop, canh cánh lo sợ chuyện không may có thể xảy ra cho đàn bà và trẻ con của họ.

            Trong lúc này, trại Cheyenne đã hay tin đạo binh đang đến. Các người đưa tin báo cáo là Lão Già Sấm Sét nổi giận vì Mũi Cao không đến gặp ông ta ở Đồn Larned. Mũi Cao cảm thấy hãnh diện, nhưng ông và Sát Thủ Pawnee không có ý định cho phép Lão Già Sấm Sét mang binh lính đến gần những ngôi làng không được bảo vệ của họ. Mang theo khoảng 300 chiến binh, Mũi Cao và Sát Thủ Pawnee dẫn họ ra ngoài để trinh sát đạo quân đang tiến đến. Khắp chung quanh làng họ phóng hỏa cỏ đồng để binh lính không dễ tìm được chỗ dựng trại gần đó.

            Sát Thủ Pawnee đi đầu đến gặp Hancock bàn bạc. Ông bảo với vị tướng là nếu binh lính không hạ trại quá gần làng, ông và Mũi Cao sẽ gặp ông ở hội đồng sáng hôm sau. Vào khoảng hoàng hôn binh lính dừng lại để hạ trại; họ còn cách lều trại Da Đỏ trên Ngã Ba Pawnee một vài dặm. Đây là ngày thứ 13 của tháng 4, Mùa Trăng Cỏ Đỏ Xuất Hiện.

            Đêm đó Sát Thủ Pawnee và vài tù trưởng Cheyenne rời doanh trại binh lính để trở về làng mình họp hội đồng và quyết định phải làm gì. Tuy nhiên có quá nhiều ý kiến bất đồng trong số các tù trưởng nên không biết phải làm gì. Mũi Cao muốn dỡ lều trại và di chuyển về bắc, phân tán để binh lính không thể bắt được họ, nhưng các tù trưởng, vốn đã biết được thực lực của Hancock, không muốn khiêu khích họ khiến họ săn đuổi không thương tiếc,

            Sáng hôm sau các tù trưởng cố thuyết phục Mũi Cao đi với họ gặp Hancock, nhưng thủ lĩnh chiến binh ngờ là có giăng bẫy. Nói cho cùng, không phải Lão Già Sấm Sét đã chỉ nhắc đến mình ông, bộ không phải ông xua một đạo quân băng qua đồng bằng chỉ để tìm Mũi Cao hay sao? Khi trời đã sáng bét, Gấu Bò quyết định tốt hơn là đi đến trại lính. Ông tìm gặp Hancock trong một thái độ xấc xược, yêu cầu muốn biết Mũi Cao ở đâu. Gấu Bò cố trổ tài ngoại giao; ông nói Mũi Cao và các tù trưởng khác chậm trễ vì bận săn bò rừng. Diều này lại càng khiến Hancock nổi điên. Ông bảo Gấu Bò mình sẽ tiến quân vào làng và hạ trại ở đó cho đến khi gặp được Mũi Cao. Gấu Bò không trả lời; ông lẵng lặng lên ngựa, cưỡi đi chậm chạp một vài phút, rồi sau đó phi nước đại về làng.

            Tin tức binh lính đang tiến vào khuấy động không khí khẩn trương bùng lên trong trại. “Tôi sẽ cưỡi ngựa ra một mình và giết cái thằng Hancock này!” Mũi Cao hét lên. Không có thời gian để nhổ trại hoặc sắp xếp hành trang. Họ đặt đàn bà và trẻ con lên mình ngựa và chở họ lao về hướng bắc. Rồi tất cả chiến binh trang bị vũ khí với cung tên, giáo, súng, dao, và dùi cui. Các tù trưởng phong Mũi Cao làm thủ lĩnh chiến tranh, nhưng họ dặn Gấu Bò đi theo ông để ngăn ông nổi cơn làm chuyện điên rồ.

            Mũi Cao mặc chiếc áo sĩ quan với vai áo màu vàng sáng rực như của Hancock. Ông ấn súng các-bin vào bao kiếm của kỵ binh và hai khẩu súng lục vào thắt lưng, và vì có ít đạn dược ông không quên đem thêm cung tên. Vào phút cuối cùng ông đem theo lá cờ hưu chiến. Ông dẫn theo 300 chiến binh dàn hàng ngang dài gần 1 dặm ngang qua đồng bằng, tiến chầm chậm ra gặp 1,400 binh lính và các khẩu súng sấm sét của họ.

            “Tên sĩ quan Hancock này,” Mũi Cao nói với Gấu Bò, “hăm he muốn đánh nhau. Tôi sẽ giết hắn trước mặt binh lính của hắn và cho chúng biết đánh đấm là thế nào.”

            Gấu Bò thận trọng trả lời, chỉ ra rằng quân số địch gần gấp năm lần quân số ta; họ lại có trang bị súng bắn nhanh và súng lớn; ngựa binh lính thì láng mướt, béo ra vì ăn ngũ cốc, trong khi ngựa các đàn bà và trẻ con đang trốn chạy ốm yếu sau một mùa đông không cỏ. Nếu xảy ra đánh nhau, binh lính sẽ đuổi theo và dễ dàng bắt giết được họ không sót một mống.

            Trong một ít phút họ trông thấy đạo quân tiến đến, và họ biết là binh lính cũng nhìn thấy họ, vì binh lính vội vàng dàn đội hình chiến đấu. Lưng Chắc Custer dàn kỵ binh thành một hàng phi nước đại, kiếm tuốt ra.

rộng với đôi môi mím chặt cương quyết bên dưới chiếc mũi ó. Cặp mắt lóe lên khi ông bắt đầu trách móc các ủy viên hòa đàm đối xử các người Da Đỏ như bọn trẻ con. Ông kết án họ giả vờ thương thuyết trong khi chuẩn bị chiếm đoạt. “Người da trắng đã dồn ép người Da Đỏ từ năm này đến năm khác,” ông nói, “cho đến khi chúng tôi bắt buộc phải sống trong một vùng đất hẹp phía bắc Sông Platte, và bây giờ đất săn cuối cùng của chúng tôi, quê hương của Dân Tộc, cũng bị lấy đi khỏi chúng tôi. Các phụ nữ và trẻ con chúng tôi sẽ chết đói, nhưng về phần mình tôi muốn chết vì chiến đấu hơn vì đói.  . . Vị Cha Lớn gởi chúng tôi quà và muốn con đường mới. Nhưng Xếp Da trắng đi với binh lính để ăn cắp đường trước khi người Da Đỏ trả lời đồng ý hay không!” Trong khi người thông ngôn còn đang cố gắng phiên dịch những lời Sioux ra tiếng Anh, những thính giả Da Đỏ trở nên mất trật tự quá mức đến nỗi Ủy viên Taylor đột ngột cho ngừng phiên họp. Mây Đỏ sảy bước qua Carrington như thể ông không hiện diện, và tiếp tục đi qua sân về hướng trại Oglala. Trước rạng đông hôm sau, người Oglala đã bỏ đi khỏi Đồn Laramie.

            Trong ít tuần lể sau đó, khi đoàn xe của Carrington di chuyển về hướng bắc dọc theo tuyến đường Bozeman, người Da Đỏ có cơ hội đánh giá thực lực của kẻ thù. Hai trăm xe ngựa chất đầy đến mui máy cắt cỏ, máy làm gạch và ngói, cửa gỗ, khung cửa sổ, khóa, đinh, dụng cụ âm nhạc, ghế đu, thùng, đồ hộp và hạt giống, cũng như quân nhu, thuốc súng, và đồ quân dụng khác. Bọn Áo xanh rõ ràng toan tính ở lại xứ Sông Powder; một số người còn mang theo vợ con, và cả những thú cưng và đầy tớ. Họ được trang bị súng nạp đạn đằng nòng đã lỗi thời và một ít súng các-bin Spencer có băng đạn, và được bốn đơn vị pháo yễm trợ. Về hướng đạo họ nhờ đến sự trợ giúp của Tấm Chăn Jim Bridger và Bê Bùa Beckwourth, vốn biết rằng người Da Đỏ đang theo dõi mỗi ngày đoàn người ngựa đang tiến tới dọc con đường Sông Powder.

            Vào ngày 28 tháng 6 trung đoàn đến Đồn Reno, giải cứu hai đại đội miền Bắc vàng mạ đã thực sự bị quản thúc làm tù nhân trong mùa đông và mùa xuân trong chính lô cốt của mình. Để giữ Đồn Reno, Carrington để lại một phần tư trung đoàn, và rồi di chuyển tiếp lên phía bắc, tìm kiếm địa điểm để làm bộ chỉ huy. Từ trại Da Đỏ dọc theo Powder và Tongue, hàng trăm chiến binh giờ đang bắt đầu tập kết dọc theo sườn của đoàn binh lính.

            Vào ngày 13/7 đạo quân dừng lại giữa ngã ba khe Little Piney và Big Piney. Ở đó ngay trung tâm của một đồng cỏ xanh tươi gần các con dốc rợp bóng thông của Sừng Lớn, trên vùng đất săn bắn tốt nhất của người Da Đỏ Đồng bằng, bọn lính Áo xanh dựng doanh trại Quân đội và bắt đầu cất Đồn Phil Kearny.

            Ba ngày sau một nhóm lớn người Cheyenne tiến đến doanh trại. Hai Trăng, Ngựa Đen, và Dao Cùn có mặt trong số các thủ lĩnh, nhưng Dao Cùn không ra mặt vì các thủ lĩnh khác đã đay nghiến y thậm tệ vì y ở lại Đồn Laramie và ký giấy cho phép binh lính xây dựng đồn lũy và mở con đường qua Sông Powder. Dao Cùn khăng khăng là mình chỉ ký để lấy quà gồm chăn mềm và quân nhu, chứ không biết những gì viết trên giấy. Những người khác trách móc y đã làm điều này sau khi Mây Đỏ đã quay lưng với người da trắng, không ngó ngàng những món quà của họ và chiêu mộ chiến binh để đánh lại họ.

            Dưới những là cờ hưu chiến người Cheyenne sắp xếp một cuộc hòa đàm với Xếp Trắng Nhỏ Carrington. Bốn mươi tù trưởng và chiến binh được phép đến thăm doanh trại. Carrington chào đón họ với ban nhạc mà ông đã cất công mang từ Đồn Kearney, Nebraska, khoản đãi người Da Đỏ bằng thứ quân nhạc hào hùng. Tấm Chăn Jim Bridger có mặt ở đó, và họ biết rằng họ không thể lừa được Tấm Chăn, nhưng họ lừa được Xếp Trắng Nhỏ tin rằng họ đến để nói chuyện hòa bình. Trong khi hút píp và tán gẫu, các thủ lĩnh quan sát thực lực của binh lính.

            Trước khi họ chuẩn bị ra về, Xếp Trắng Nhỏ nhắm một súng cối của ông vào một ngọn đồi và bắn một phát. Sức công phá của súng lớn gây ấn tượng với người Da Đỏ, như Carrington mong muốn. Khi người Cheyenne chuẩn bị ra về, Xếp Trắng Nhỏ đưa ra một xấp giấy nói rằng họ đã đồng ý cho “một nền hòa bình lâu dài với người da trắng và mọi người đi lại trên tuyến đường.” Trong vòng vài giờ, các làng mạc dọc theo Sông Tongue và Powder đều nghe tin từ người Cheyenne cho biết đồn mới quá mạnh, nếu chiếm sẽ chịu rất nhiều tổn thất. Họ sẽ phải lừa binh lính ra ngoài đồn, để dễ tấn công hơn.

            Rạng đông hôm sau, một băng Oglala của Mây Đỏ xua 175 ngựa và lừa của Carrington chạy tán loạn. Khi binh lính phi ngựa đuổi theo, người Da Đỏ phân tán mỏng họ trong một cuộc săn đuổi xa 15 dặm và giáng những thương vong đầu tiên vào các  tên xâm chiếm áo xanh.

            Từ hôm đó cho đến suốt mùa hè 1866, Xếp Trắng Nhỏ kẹt vào một cuộc chiến du kích không nao núng. Không có đoàn xe nào, dân sự hoặc quân sự, đi dọc theo tuyến đường Bozeman được bình yên khỏi bị đột kích bất ngờ. Những đoàn hộ tống trên lưng ngựa được dàn trải mỏng, và binh lính thừa biết sớm muộn cũng bị phục kích chết người. Binh lính được giao đốn gỗ cách Đồn Phil Kerany một vài dặm không ngừng bị quấy nhiễu.

            Khi mùa hè sắp qua, người Da Đỏ đã hình thành một căn cứ tiếp tế trên vùng thượng lưu Powder, và chiến thuật cừ khôi của họ sớm hiện ra rõ ràng – gây khó khăn và nguy hiểm cho việc đi lại trên tuyến đường, cắt đường tiếp tế cho binh lính của Carrington, cô lập họ, rồi đột kích.

            Mây Đỏ có mặt mọi nơi, và các đồng minh của ông càng ngày càng đông đúc. Gấu Đen, tù trưởng Arapaho mà làng họ đã bị Tướng Connor hủy diệt mùa hè trước, báo tin Mây Đỏ là các chiến binh của ông hăng hái tham gia chiến đấu. Ngựa Nâu Đỏ, một người Arapaho khác, cũng đem theo các chiến binh của mình đến liên minh. Đuôi Đốm, còn tin vào hòa bình, đã đi săn bò rừng dọc theo Sông Republican, nhưng nhiều chiến binh Brule của ông đã tiến lên bắc để nhập bọn cùng với Mây Đỏ. Bò Ngồi có mặt ở đó trong mùa hè; sau đó ông vẽ một tranh cảnh ông bắt được một chú ngựa có tai chẻ của những người da trắng đi lại trên đường Sông Powder. Túi Mật, một người Hunkpapa trẻ tuổi, cũng ở đó. Với một người Minneconjou có tên Bướu và một thanh niên Oglala có tên Ngựa Điên, anh chế ra những trò dụ địch để chế giễu, chọc tức, và rồi dụ các binh lính hoặc các di dân vào các bẫy giăng sẵn.

            Đầu mùa thu Carrington tin rằng Đồn Phil Kearny đã đủ mạnh để có thể phân chia lực lượng lần nữa. Do đó, theo chỉ thị từ Bộ Chiến tranh, ông tách 150 người và phái họ đi về phía bắc 90 dặm để dựng một đồn thứ ba trên tuyến đường Bozeman – Đồn C. F. Smith. Cùng lúc đó, ông gởi trinh sát Bridger và Berwourth ra ngoài để tiếp xúc với Mây Đỏ. Đây là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng hai người dân biên địa đang luống tuổi này vẫn đi tìm kiếm những tay trung gian thân thiết.

            Trong một ngôi làng người Crow phía bắc Sừng Lớn, Bridger biết được một tin đáng kinh ngạc. Mặc dù người Sioux là kẻ thù truyền kiếp của người Crow và đã đánh đuổi họ khỏi vùng đất săn bắn lâu đời của họ, chính Mây Đỏ mới đây đã làm một chuyến viếng thăm giảng hòa nhằm thuyết phục họ tham gia vào liên minh Da Đỏ của ông. “Chúng tôi muốn nhờ bạn giúp đỡ trong việc hủy diệt người da trắng,” Mây Đỏ được cho là đã nói như thế. Rồi thủ lĩnh Sioux cao giọng rằng mình sẽ cắt đứt nguồn tiếp tế của binh lính khi tuyết đến và sẽ làm họ chết đói trong đồn và giết sạch chúng. Bridger nghe tin đồn rằng một số ít người Crow đã đồng ý gia nhập các chiến binh của Mây Đỏ, nhưng khi ông gặp lại Beckwourth ở một làng Crow khác, Beckwourth tuyên bố mình đã chiêu mộ được những người Crow muốn gia nhập quân đội của Carrington để đánh lại người Sioux. (Beckwourth không bao giờ trở lại Đồn Phi Kearny. Ông chết thình lình trong một ngôi làng Crow, có thể vì bị đầu độc bởi một ông chồng ghen tuông, hoặc chắc chắn hơn do một nguyên nhân tự nhiên.)

            Vào cuối hè Mây Đỏ đã có một lực lượng 3,000 chiến binh. Qua các bạn Lượn Lờ Laramie của họ, họ xoay sở tập họp được một số súng trường và đạn dược, nhưng đa số chiến binh chỉ có cung và tên. Vào đầu mùa thu Mây Đỏ và các tù trưởng khác nhất trí rằng họ phải tập trung sức mạnh chống lại Xếp Trắng Nhỏ và cái đồn đáng ghét trên khe Piney. Và vì thế trước khi Mùa Trăng Lạnh đến họ di chuyển về hướng Sừng Lớn và hạ trại dọc theo Sông Tongue. Từ đó họ ở cách Đồn Phil Kearny một khoảng dễ dàng để đột kích.

            Trong cuộc đột kích mùa hè, hai người Oglala, Sống Lưng Cao và Đại Bàng Vàng, đã tạo tên tuổi cho mình vì những mưu mẹo dàn dựng tỉ mỉ để dụ dỗ bọn lính, cũng như thi thố tài cưỡi ngựa và những trận tấn công tay đôi liều lĩnh sau khi bọn lính đã sập bẫy. Sống Lưng Cao và Đại Bàng Vàng thỉnh thoảng hợp tác với Ngựa Điên lên kế hoạch cho những trò lừa tinh vi.

            Đầu Mùa Trăng của Cây Nổ Lốp Bốp họ bắt đầu quấy nhiễu bọn đốn cây trong rừng thông và bọn lính bảo vệ các xe ngựa mang gỗ đến Đồn Phil Kearny.

            Vào ngày 6/12, một luồng không khí lạnh thổi xuống các sườn đồi Sừng Lớn, Sống Lưng Cao và Đại Bàng Vàng dẫn theo khoảng 100 chiến binh và phân tán họ tại nhiều điểm khác nhau doc theo con đường qua bãi thông. Mây Đỏ cùng với một nhóm chiến binh khác giữ các vị trí dọc theo sườn núi. Họ nhấp nháy mảnh gương và vẫy cờ để ra hiệu cho Sống Lưng Cao và các con mồi của anh hướng di chuyển của binh lính. Trước khi ngày tàn, người Da Đỏ đã dụ được lính Áo xanh xông ra ngoài tỏa đi mọi hướng. Có lúc Xếp Trắng Nhỏ Carrington đi ra và đuổi theo. Chọn đúng thời điểm, Ngựa Điên xuống ngựa và ló mặt ra trên đường mòn trước một tên sĩ quan hung hản. Y liền lập tức dẫn theo một nhóm lính phi ngựa đuổi theo. Ngay khi bọn lính đi vào một con đường mòn hẹp, Đại bàng Vàng và các chiến binh xuất hiện từ phía sau họ. Trong tíc tắc các chiến binh Da Đỏ tràn ngập các binh lính. (Trong pha này Trung úy Horatio Bingham và Trung sĩ G. R. Bowers bị giết chết cùng một số binh lính bị thương nặng.)

            Trong trại của họ đêm đó và trong một vài ngày sau, tù trưởng và các chiến binh kể cho nhau nghe những hành động điên rồ của bọn lính. Mây Đỏ chắc chắn rằng nếu họ có thể dụ một số lớn binh sĩ ra khỏi đồn, thì 1,000 chiến binh chỉ cần trang bị cung tên cũng có thể tiêu diệt hết chúng. Trong tuần, các tù trưởng đồng ý là sau khi trăng tròn tiếp theo đến họ sẽ chuẩn bị một cái bẫy lớn cho Xếp Trắng Nhỏ và đồng bọn.

            Vào tuần thứ ba tháng 12 mọi thứ đều đã sẵn sàng, và khoảng 2,000 chiến binh bắt đầu di chuyển về nam. Thời tiết rất lạnh, và họ mặc áo da bò với mái tóc ém vào trong, xà cạp bằng vải len đen, giày moc-ca-sin ống cao bằng da bò, và mang theo chăn miền Hudson’s Bay màu đỏ cuộn trên yên ngựa. Hầu hết cưỡi ngựa thồ, dẫn theo những con ngựa chiến thần tốc bằng dây thừng. Một số có súng trường, nhưng hầu hết chỉ có cung và tên, dao, và giáo. Họ mang đủ số ruốc để dùng trong vài ngày, và khi có dịp, những nhóm nhỏ sẽ đuổi theo, hạ thịt một con hưu.

            Vào khoảng 10 dặm về phía bắc Đồn Phil Kearny, họ dựng trại tạm thời gồm ba nhóm bộ tộc Sioux, Cheyenne, và Arapaho. Giữa trại và đồn là một nơi được chọn làm chỗ phục kích – thung lũng nhỏ của Khe Peno.

            Vào buổi sáng ngày 21/12 các tù trưởng và thầy mo quyết định ngày này là thích hợp để chiến thắng. Trong màu xám xịt đầu tiên của rạng đông, một toán chiến binh xuất phát đánh một đường vòng thật lớn về phía con đường của đoàn xe lấy gỗ, tại đó họ nghi bính tấn công đoàn xe. Mười chiến binh trẻ được chọn cho nhiệm vụ nguy hiểm làm mồi nhử các binh lính – tuyển hai người trong mỗi bộ tộc: Cheyenne, Arapaho, Oglala Sioux, Minneconjou, và Brule. Ngựa Điên, Bướu, và Sói Nhỏ là những thủ lĩnh. Trong khi những mồi nhử leo lên ngựa và xuất phát về phía Lodge Trail Ridge, bộ phận chính chiến binh di chuyển xuống tuyến đường Bozeman. Những mảng tuyết và băng bám dọc theo sườn núi, nhưng trời quang đãng, không khí lạnh và khô. Cách đồn chừng ba dặm, tại đó con đường chạy dọc theo một sườn núi hẹp và đi xuống Khe Reno, họ bắt đầu nằm phục kích. Người Cheyenne và Arapaho chiếm bờ tây. Một số người Sioux núp trên một vạt cỏ bên phía đối diện; những người khác vẫn ngồi trên lưng ngựa và ẩn mình sau hai bờ đá lớn. Vào giữa sáng gần 2,000 chiến binh đang đợi ở đó để các mồi nhử dụ lính Áo xanh vào bẫy.

            Trong khi nhóm nghi binh chống lại đoàn xe, Ngựa Điên và mồi nhử xuống ngựa và núp đợi sau một con dốc đối diện đồn. Nghe tiếng súng nổ, một đại đội binh lính chạy ào ra khỏi đồn và phi ngựa đến giải cứu những người đốn gỗ. Ngay khi bọn Áo xanh mất hút, các mồi nhử lộ diện ra khỏi con dốc và di chuyển sát đồn hơn. Ngựa Điên vẩy tấm chăn đỏ của mình và lao qua các bụi rậm mọc ven theo khe Piney đóng băng. Sau một ít phút, Xếp Trắng Lớn khai hỏa chiếc súng lớn của y. Các mồi nhử phân tán dọc theo con dốc, nhảy, chạy zix-zắc, và la hét khiến binh lính tưởng rằng họ hoảng sợ. Lúc này toán chiến binh ở khu lấy gỗ đã rút lui và và chạy nhanh về Lodge Trail Ridge. Trong một ít phút bọn lính đuổi theo, một số cưỡi ngựa, một số chạy bộ. (Chúng do Đại úy Fetterman chi huy, người đã ra lệnh binh sĩ không được đuổi quá Lodge Trail Ridge.)

            Ngựa Điên và các mồi nhử khác bây giờ nhảy lên mình ngựa và bắt đầu chạy tới chạy lui dọc theo con dốc của Lodge Trail Ridge, trêu chọc binh lính, khiến họ tức khí bắn loạn xạ. Đạn bắn dội vào vách đá, và các mồi nhử chầm chậm lùi lại. Khi bọn lính đang tiến lên bổng bước chậm lại hoặc dừng hẳn, Ngựa Điên xuống ngựa và giả vờ điều chỉnh dây cương hay xem xét móng ngựa. Đạn kêu réo chung quanh anh, và rồi bọn lính cuối cùng tiến lên trên chóp dốc để săn đuổi các mồi nhử chạy xuống về hướng Khe Peno. Họ là những người Da Đỏ duy nhất xuất hiện, chỉ khoảng 10 người, và bọn lính đang thúc ngựa đuổi theo bắt họ.

            Khi các mồi nhử vượt qua Khe Peno, tất cả 81 kỵ binh và bộ binh đã lọt vào bẫy. Giờ thì các mồi nhử chia làm hai toán và nhanh chóng cưỡi ngựa cắt ngang đường nhau. Đó là dấu hiệu tấn công.

            Ngựa Nhỏ, người Cheyenne mà một năm trước đã cảnh báo với người Arapaho về cuộc càn quét của Tướng Connor mà không mấy người tin được vinh dự ra hiệu lênh cho người mình, đang ẩn núp trong các rãnh phía tây. Anh vung giáo, và tất cả người Cheyenne và Arapaho trên lưng ngựa tấn công với trận sấm sét của các vó ngựa.

            Từ phía đối diện là người Sioux ào tới, và chỉ trong vài phút người Da Đỏ và bộ binh da trắng quần nhau xáp lá cà. Tất cả bộ binh chẳng mấy chốc đều bị giết chết, còn các kỵ binh thì rút về một dốc đá cao gần cuối sườn núi. Họ xuống ngựa và cố ẩn nấp giữa các hòn đá tảng phủ băng.

            Ngựa Nhỏ hôm đó tạo nên tiếng tăm khi nhảy từ tảng đá này qua tảng đá khác, vào ra các rãnh đất cho đến khi đến được cách bọn kỵ binh bị bao vây khoảng 40 bộ (12 mét). Bò Trắng của bộ tộc Minneconjou cũng nổi bật trong trận đánh đẫm máu trên sườn đồi. Chỉ có cung và giáo, anh nhào tới một kỵ binh đã xuống ngựa vừa bắn anh bằng khẩu các-bin. Trong bức hình anh vẽ sau đó về sự kiện này, anh mô tả mình đội mũ chiến đỏ, bắn một mũi tên xuyên qua tim tên lính và đâm giáo vào đầu anh ta chí mạng.

            Về cuối trận đánh người Cheyenne và Arapaho ở một phía và người Sioux phía bên kia gần nhau thiếu điều họ bắt đầu bắn nhau một trận mưa tên. Sau đó trận chiến kết thúc. Không một tên lính nào còn sống. Một con chó chạy ra từ đám xác người, một người Sioux định bắt về, nhưng một người khác đã nhanh tay bắn nó bằng một mũi tên. Đây là trận đánh mà người da trắng gọi là Trận Tàn sát Fetterman; còn người Da Đỏ gọi là Trận Đánh Diệt 100 Mạng.

            Số thương vong phía người Da Đỏ cũng nặng nề, gần hai trăm người chết và bị thương. Vì trời rét căm nên họ quyết định mang người bị thương về trại tạm thời, nơi họ có thể giữ ấm. Hôm sau một cơn bão tuyết gầm thét giữ chân các chiến binh trong các chỗ trú ẩn tạm bợ, và khi bão đã thuyên giảm họ trở lại làng trên Sông Tongue.

            Giờ đang là Mùa Trăng Rét Căm, và không có trận đánh nhau nào nữa. Các binh lính được để yên trong đồn đang nếm mùi đắng cay của thảm bại. Nếu họ không học lấy bài học của mình và còn ở đó khi cỏ lại xanh trong mùa xuân, chiến tranh sẽ tiếp tục.

            Trận Tàn sát Fetterman gây một ấn tượng sâu sắc cho Đại tá Carrington. Ông khiếp vía khi nhìn thấy việc phanh thây – mổ bụng, chặt lìa tứ chi, “những bộ phận kín bị cắt đứt rồi đặt khả ố lên thi thể.” Ông suy nghĩ về những nguyên do dẫn đến sự dã man ấy, và sau đó viết một tiểu luận về chủ đề này, triết lý rằng người Da Đỏ bị thúc đẩy bởi niềm tin tà giáo phải phạm những tội lỗi khủng khiếp hằn sâu trong tâm trí y mãi mãi. Nếu Đại tá Carrington có đến thăm cảnh tượng Trận Tàn sát Suối Cát, chi xảy ra hai năm trước Trận Tàn sát Fetterman, ông chắc chắn sẽ chứng kiến cùng những vụ phanh thây như thế – nhưng mà do binh lính của Đại tá Chivington gây ra cho người Da Đỏ. Người Da Đỏ trong trận Fetterman đơn giản chỉ bắt chước kẻ thù, một hành động trong chiến tranh, cũng như trong cuộc sống dân sự, được coi là một hình thức chân thực nhất của sự tâng bốc.

            Vụ Tàn sát Fetterman cũng một ấn tượng sâu xa cho chính quyền Hoa Kỳ. Đó là trận thảm bại tồi tệ nhất mà Quân đội từng chịu đựng trong cuộc chiến với người Da Đỏ, và lần thứ hai trong lịch sử Mỹ khi không có ai sống sót. Carrington bị triệu hồi khỏi chức vị chỉ huy, viện binh được gởi tới những đồn lũy trên khu vực Sông Powder, và một ủy ban hòa bình mới được phái tới từ Washington đến Đồn Laramie.

            Ủy ban mới do Râu Đen John Sanborn dẫn đầu, người mà vào năm 1865 đã thuyết phục người Nam Cheyenne của Ấm Đen từ bỏ vùng săn bắn của mình ở Kansas và về sống phía dưới Sông Arkansas. Sanborn và Tướng Alfred Sully đến Đồn Laramie vào tháng 4, 1867, và sứ mạng của họ lúc này là thuyết phục Mây Đỏ và người Sioux từ bỏ vùng săn bắn của mình trong xứ Sông Powder và về sống trong khu dành riêng. Như năm ngoài, người Brule là nhóm đầu tiên đến đồn – Đuôi Đốm, Gấu Nhanh, Nai Đứng, và Mai Sắt.

            Vết Thương Nhỏ và Sát Thủ Pawnee, đang dẫn các băng nhóm Oglala của mình xuống vùng Platte hi vọng tìm được bò rừng, đến đồn để xem quà tặng gì các ủy viên sẽ phát ra. Người-Sợ-Ngựa-Của-Mình đến đại diện cho Mây Đỏ. Khi các ủy viên hỏi y Mây Đỏ có đến để bàn chuyện hòa bình không, y trả lời thủ lĩnh Oglala sẽ không nói chuyện hòa bình cho đến khi tất cả binh lính đều rút khỏi vùng Sông Powder.

            Trong cuộc thương lượng này, Sanborn yêu cầu Đuôi Đốm phát biểu thay mặt người Da Đỏ có mặt. Đuôi Đốm khuyên thính giả hãy từ bỏ chiến tranh với người da trắng và sống hòa bình và hạnh phúc. Nhờ vậy, ông và người Brule nhận đủ thuốc súng và đạn để ra đi săn bò rừng đến tận Sông Republican. Người Oglala thù địch không nhận được gì cả. Người-Sợ trở về gặp Mây Đỏ, đã mở lại những trận đột kích dọc theo tuyến đường Bozeman. Vết Thương Nhỏ và Sát Thủ Pawnee theo chân người Brule săn bò. Ủy ban hòa bình của Râu Đen Sanborn không thành tựu điều gì.

            Trước khi mùa hè kết thúc, Sát Thủ Pawnee và Chân Gà Tây làm quen với một xếp lính mà họ đặt tên là Lưng Cứng vì y săn đuổi họ một khoảng rất xa trong nhiều giờ liền mà không rời yên ngựa. Sau này họ sẽ gọi y là Custer Tóc Dài. Khi Tướng Custer mời họ đến Đồn McPherson để thương thảo, họ đến đồn và nhận được đường và cà phê. Họ bảo với Lưng Chắc rằng mình là bạn của người da trắng nhưng không thích con Ngựa Sắt chạy trên đường sắt, huýt còi và phun khói khiến các thú săn sợ bỏ chạy hết khỏi vùng Thung lũng Platte. (Đường sắt của Liên Hiệp Hỏa xa Thái bình dương được đặt chạy băng qua tây Nebraska vào năm 1867.)

            Trong khi tìm kiếm bò rừng và linh dương, người Oglala và Cheyenne đi qua đường sắt vài lần trong mùa hè đó. Thỉnh thoảng họ nhìn thấy các con Ngựa Sắt kéo theo các tòa nhà bằng gỗ trên bánh xe chạy rất nhanh dọc theo đường ray. Họ thắc mắc không biết trong nhà gỗ có gì, và một hôm một chiến binh Cheyenne quyết định buộc dây thừng vào Ngựa Sắt, định kéo nó khỏi đường ray. Thay vào đó, Ngựa Sắt giật y văng khỏi ngựa và kéo y không thương tiếc cho đến khi y tháo rời được sợi dây thừng ra khỏi người.

            Rồi Thỏ Ngủ đề nghị họ thử một cách khác bắt Ngựa Sắt. “Nếu chúng ta có thể bẻ cong đường ray và kéo giãn nó ra, Ngựa Sắt có thể văng ra,” y nói. “Lúc đó chúng ta có thể biết bên trong nhà gỗ có gì.” Họ làm như thế và đợi tàu hỏa. Đúng là Ngựa Sắt lật nhào khỏi đường ray. Hành khách túa ra từ các toa xe, và người Da Đỏ giết tất cả trừ hai người chạy thoát thân. Sau đó người Da Đỏ phá các toa và tìm thấy bột mì, đường, và cà phê; những hộp giày; và nhiều thùng uýt ki. Họ uống chút rượu uýt ki và bắt đầu buộc các súc vải vào đuôi ngựa. Ngựa phóng qua đồng cỏ kéo theo những dòng suối vải bung ra bay lồng lộng phía sau chúng. Sau đó người Da Đỏ lấy than nóng trong lò đốt phóng hỏa các toa tàu. Rồi họ bỏ đi trước khi binh lính ùa tới.

            Các sự kiện như thế này, cộng với cuộc chiến tiếp diễn của Mây Đỏ, khiến việc đi lại của dân chúng qua vùng Sông Powder đình trệ, tạo ra một hiệu quả mạnh mẽ lên chính quyền Hoa Kỳ và các chỉ huy quân sự. Chính quyền quyết định bảo vệ tuyến đường của công ty Hỏa xa, nhưng thậm chí những tay sừng sõ trong chiến trường như Tướng Sherman cũng bắt đầu tự hỏi có nên để xứ Sông Powder cho người Da Đỏ để đổi lấy hòa bình dọc theo Thung lũng Sông Platte hay không.

            Vào cuối tháng 7, sau khi đã tiến hành vũ hội mặt trời và các nghi thức cúng tên, người Sioux và Cheyenne quyết định quét sạch một trong các đồn trên tuyến đường Bozeman. Mây Đỏ muốn tấn công Đồn Phil Kearny, nhưng Dao Cùn và Hai Mặt Trăng cho rằng tấn công đồn C. F. Smith sẽ dễ dàng hơn, vì các chiến binh Cheyenne đã giết và bắt gần hết các con ngựa của binh sĩ ở đó. Cuối cùng, sau khi các tù trưởng không nhất trí, người Sioux nói họ sẽ tấn công Đồn Phil Kearny, còn người Cheyenne đi tấn công Đồn C. F. Smith.

            Vào ngày 1 tháng 8, năm hay sáu trăm chiến binh Cheyenne bắt được 30 binh lính và nhân viên trong một cánh đồng cỏ khô cách đồn Smith khoảng hai dặm. Hoàn toàn bất ngờ đối với người Cheyenne, lần này binh lính bảo vệ có trang bị súng liên thanh mới chế tạo, và khi tấn công họ gặp một hỏa lực bỏng rát đến nỗi chỉ có một chiến binh xâm nhập được vào công sự, và bị bắn chết. Người Cheyenne liền phóng hỏa đốt cỏ khô bao quanh công sự. (Ngọn lửa cháy cuộn phần phật chạy tới như sóng đại dương,” một tên lính sau đó kể lại. “Khi nó đến cách công sự khoảng 20 bộ thì dừng lại, như thể bị chặn lại bởi một sức mạnh siêu nhiên. Ngọn lửa bốc thẳng đứng cao đến ít nhất 40 bộ, uốn éo hai lần, rồi bổng tắt ngấm sau một tiếng vỗ bẹp như tấm vải bạt phất trong luồng gió; sau đó thổi khói vào mặt các tên da đỏ tấn công, khiến chúng có cơ hội mang đi thi thể và người bị thương dưới sự che khuất của nó.”

            Thế là đủ cho các chiến binh Cheyenne hôm đó. Nhiều chiến binh bị thương nặng do súng bắn-nhanh, và có khoảng 20 người chết. Họ quay về nam để xem người Sioux có gặp được may mắn hơn không ở Đồn Kearny.

            Người Sioux cũng không. Sau khi tiến hành vài hành động nghi binh quanh đồn, Mây Đỏ quyết định sử dụng mẹo mồi nhử đã quá hiệu quả với binh lính của Đại úy Fetterman. Ngựa Điên sẽ tấn công trại lấy gỗ, và khi binh lính ra khỏi đồn để tiếp ứng, Xương Sống Cao sẽ tràn xuống với 800 chiến binh. Ngựa Điên và mồi nhử thực hiện nhiệm vụ một cách hoàn hảo, nhưng vì lý do nào đó vài trăm chiến binh đã ùa ra quá sớm khỏi nơi mai phục để xô đuổi đàn ngựa nhốt gần đồn, khiến bọn lính cảnh giác về sự có mặt của họ.

            Để cứu vớt trận đánh, Mây Đỏ quay sang tấn công những người đốn gỗ, đang ẩm nấp sau vòng quây của 14 xe ngựa gia cố thêm bằng những súc gỗ. Vài trăm chiến binh trên lưng ngựa lượn vòng tiến đến, nhưng cũng như tại đồn Smith, lính bảo vệ trang bị súng liên thanh Springfiels. Đương đầu với hỏa lực liên tục và dồn vập từ thứ vũ khí mới, người Sioux nhanh chóng quày ngựa ra khỏi tầm bắn. “Rồi chúng tôi bỏ lại ngựa trong một khe sâu và chạy bộ tấn công,” một chiến binh có tên Sấm Lửa nói sau này, “nhưng chẳng khác cỏ xanh khô héo trong ngọn lửa. Vì thế chúng tôi         khiêng người bị thương và rút đi. Tôi không biết có bao nhiêu người chết, nhưng chắc nhiều lắm. Thật tồi tệ.”

            “Hai trận giao tranh được người da trắng gọi là trận Cánh đồng Rạ và Vòng Quây Xe, tạo ra nhiều huyền thoại cho họ. Một phóng viên nhiều tưởng tượng mô tả các thùng xe phủ kín những thi thể bọn da đỏ; một người khác báo cáo số thương vong của người Da Đỏ lên đến 1,137 người, trong khi số chiến binh tham dự ít hơn 1,000.)

            Người Da Đỏ cũng không xem trận giao tranh là một thảm bại, và mặc dù vài binh lính xem các trận đánh này là thắng lợi, nhưng chính quyền Hoa Kỳ thì không. Chỉ vài tuần sau đó, đích thân Tướng Sherman đi về tây với một hội đồng hòa bình mới. Lần này các cấp thẩm quyền quân sự quyết định chấm dứt cuộc chiến của Mây Đỏ bằng bất kỳ cách nào khác hơn đầu hàng.

            Vào cuối hè 1867 Đuôi Đốm nhận được một tin từ ủy viên mới, Nathaniel Taylor. Người Brule đã dong ruổi một cách bình yên dưới vùng Sông Platte, và ủy viên nhắn Đuôi Đốm thông báo càng nhiều càng tốt cho các tù trưởng Đồng bằng là quân nhu sẽ được phát cho những người Da Đỏ thân hữu khoảng thời gian Mùa Trăng Cỏ Khô. Các tù trưởng phải về tụ họp tại đoạn cuối của đường ray Liên hiệp Hỏa xa Thái bình dương, khi đó ở miền tây Nebraska. Chiến binh Lớn Sherman và sáu ủy viên hòa bình mới sẽ đến đó trên con Ngựa Sắt để thương lượng với các tù trưởng nhằm kết thúc cuộc chiến Mây Đỏ.

            Đuôi Đốm gọi Mây Đỏ, nhưng thủ lĩnh Oglala lại từ chối, phái Người-Sợ đại diện ông. Sát Thủ Pawnee và Chân Gà Tây đến, cùng Mồm Lớn và bọn Lượn Lờ Laramie, Gấu Nhanh, Nai Đứng, và vài tù trưởng Brule khác cũng đáp lại lời mời.

            Vào ngày 19 tháng 9 một tàu hỏa bóng loáng đến ga Thành phố Platte, và Chiến binh Lớn Sherman, Ủy viên Taylor, Râu Trắng Harney, Râu Đen Sanborn, John Henderson, Samuel Tappan, và Tướng Alfred Terry bước xuống tàu. Những nhân vật này người Da Đỏ biết nhiều, trừ Tướng Terry. Một số người này sẽ đương đầu với lực lượng của Một Sao Terry trong những tình huống khác nhau chín năm sau trên vùng Little Bighorn.

            Ủy viên Taylor bắt đầu cuộc họp: “Chúng tôi được phái đến đây để điều tra và tìm ra đâu là nguyên nhân của mối rắc rối. Chúng tôi muốn nghe từ miệng của các ông những bất bình và lời phàn nàn của mình. Các bạn của tôi, hãy nói hết, nói tự do, nói toàn bộ sự thật. . . Chiến tranh là điều xấu, hòa bình là điều tốt. Chúng ta phải chọn điều tốt chứ không điều xấu. . . Tôi đang đợi những gì các ông nói ra đây.”

            Đuôi Đốm trả lời: “Vị Cha Lớn đã làm đường vươn từ đông sang tây. Những con đường này là nguyên nhân của tất cả những rắc rối cho chúng tôi. . . Xứ sở nơi chúng tôi sinh sống bị nghiến nát bởi người da trắng. tất cả thú săn đã đi mất. Đây là nguyên nhân của những rắc rối lớn. Tôi từng là bạn của người da trắng, và bây giờ vẫn thế. . . Nếu các ông ngừng làm đường chúng tôi có thể tìm lại được thú săn. Xứ Sông Powder đó thuộc về người Sioux. . . Các bạn của tôi, hãy giúp đỡ chúng tôi; hãy thương xót chúng tôi.”

            Suốt buổi họp trong ngày đầu, những tù trưởng khác đều vang vọng những lời của Đuôi Đốm. Mặc dù chỉ một số một ít người Da Đỏ này coi xứ Sông Powder là quê hương của họ (những người khác thích các đồng bằng Nebraska và Kansas hơn), tất cả đều ủng hộ quyết tâm của Mây Đỏ giữ lại vùng đất săn lớn cuối cùng này không bị xâm phạm. “Những con đường này làm tất cả thú săn hoảng sợ bỏ đi,” một người nói. “Tôi muốn các ông ngừng việc làm đường Sông Powder.” “Để yên thú săn của chúng tôi,” một người khác nói. “Đừng quấy rầy chúng, thì các ông mới sống được.” “Ai là Vị Cha Lớn của chúng tôi?” Sát thủ Pawnee hỏi với sự kinh ngạc thực sự. “Ông ta làm gì? Có thực là ông ta đã phái các ông đến đây để dàn xếp những rắc rối của chúng tôi? Nguyên nhân các rắc rối là con đường Sông Powder. . . Nếu Vị Cha Lớn dừng con đường Sông Powder, tôi biết rằng dân các ông có thể đi lại trên con đường sắt này mà không bị quấy nhiễu.”

            Vào ngày hôm sau Chiến Binh Lớn Sherman phát biểu với các tù trưởng, từ tốn trấn an họ rằng suốt đêm qua ông đã suy nghĩ về những lời nói của họ và sẵn sàng trả lời. “Cung đường Sông Powder được xây dựng để tiếp tế dân chúng,” ông nói. “Cha Lớn cho rằng các ông đã bằng lòng cho phép con đường đó vào mùa xuân vừa qua, nhưng hình như có một số người Da Đỏ không có mặt ở đó, và đã gây chiến.” Những tiếng cười được kềm chế trong số các tù trưởng hẳn đã làm Sherman ngạc nhiên, nhưng ông ta vẫn tiếp tục nói, giọng nói nghe đanh thép hơn: “Trong khi người Da Đỏ tiếp tục gây chiến trên tuyến đường nó cũng sẽ không bị bỏ dỡ. Nhưng nếu, khi khảo sát, tại Laramie vào tháng 11, chúng tôi thấy rằng tuyến đường gây thiệt hại cho các ông, chúng tôi sẽ ngừng ngay và bồi thường xứng đáng. Nếu các ông có bất kỳ yêu cầu nào, hãy trình bày cho chúng tôi ở Laramie.”

            Sherman lao vào bàn cãi về nhu cầu đât đai của người Da Đỏ, khuyên họ từ bỏ phụ thuộc vào thú săn, và rồi ông cho nổ một tiếng sấm: “Do đó chúng tôi đề nghị để toàn bộ quốc gia Sioux chọn xứ sở của mình phía trên Sông Missouri, bao lấy vùng Đất Trắng và các sông Cheyenne, để được sở hữu đất đai mãi mãi như người da trắng, và chúng tôi đề nghị sẽ giữ người da trắng tránh xa vùng đó trừ những nhân viên và nhà buôn do các ông chọn lựa.”

            Khi những lời này được phiên dịch, người Da Đỏ biểu lộ sự ngạc nhiên, xì xào với nhau. Vậy đây chính là điều mà các ủy viên mới muốn làm! Khăn gói và ra đi xa tận miền Sông Missouri? Nhiều năm rồi người Teton Sioux đã bỏ nơi đó để đi theo các bầy thú săn ở phía tây; tại sao họ lại phải quay về Missouri để chết đói? Tại sao họ không thể sống hòa bình nơi các thú săn còn có thể được tìm thấy? Có phải con mắt tham lam của người da trắng đã chọn vùng đất phì nhiêu này cho riêng mình?

            Trong phần còn lại của cuộc thảo luận người Da Đỏ lấy làm bực bội. Gấu Nhanh và Sát Thủ Pawnee nói lên những lời thân thiện trong đó họ yêu cầu thuốc súng và đạn, nhưng cuộc họp kết thúc với một tiếng ồ bất mãn khi Chiến Binh Lớn Sherman chỉ đồng ý tặng người Brule quân nhu. Khi Ủy viên Taylor và Râu Trắng Harney chỉ ra rằng tất cả tù trưởng đã được mời với lời hứa sẽ nhận được quân nhu đi săn, Vị Chiến Binh Lớn mới rút lại ý kiến, và phát cho tất cả người Da Đỏ một lượng ít ỏi quân nhu.

            Người –Sợ không chần chừ mà trở về ngay để gặp Mây Đỏ ở Powder. Nếu Mây Đỏ có ý định gặp các ủy viên hòa bình mới ở Laramie vào Mùa Trăng Lá Rụng, thì ông hẳn đã đổi ý khi nghe Người-Sợ kể lại thái độ kẻ cả của Sherman và lưu ý của y về việc dời quốc gia Sioux đến Sông Missouri.

            Vào ngày 9 tháng 11, khi các ủy viên đến đồn Laramie, họ chỉ tìm thấy một số ít tù trưởng Crow đang đợi. Đa số người Crow thân thiện, nhưng một người trong họ – Răng Gấu – có một phát biểu gây ngạc nhiên trong đó y kết án tất cả người da trắng đã tàn phá không tiếc tay đời sống hoang dã và môi trường tự nhiên: “Hỡi các cha, hỡi các cha, hỡi các cha, hãy lắng nghe tôi nói đây. Hãy gọi về thanh niên của các ngài từ những vùng núi của những con trừu sừng to. Họ đã dầy xéo xứ sở chúng tôi; họ đã hủy diệt rừng cây đang lớn và đồng cỏ xanh; họ đã tàn phá xứ sở và giết thú săn của chúng tôi, nai, hưu, linh dương, bò rừng. Họ không giết chúng để lấy thịt; họ vứt xác chúng cho hôi thúi. Hỡi các cha, nếu tôi đi vào xứ sở cha và giết hại muông thú của cha, cha sẽ nói gì? Tôi không làm sai phải không, và cha không gây chiến với tôi phải không?”

            Một ít ngày sau cuộc họp với người Crow, các người đưa tin từ Mây Đỏ đến với các ủy viên. Họ báo tin ông sẽ đến Laramie nói chuyện hòa bình ngay sau khi bọn lính rút khỏi các đồn trên cung đường Sông Powder. Cuộc chiến, ông lặp lại, chỉ tiến hành với một mục đích – để cứu thung lũng Powder, đất săn bắn duy nhất còn lại cho dân ông, thoát khỏi sự xâm chiếm của người da trắng. “Vị Cha Lớn phái binh lính đến đây để gây đổ máu. . . Tôi không phải là người bắt đầu việc đổ máu. . . Nếu Vị Cha Lớn bắt người da trắng ra khỏi xứ sở tôi, hòa bình sẽ lâu dài mãi mãi, nhưng nếu họ quấy nhiễu tôi, thì sẽ không có hòa bình. . . Đấng Thần Linh Lớn đã nuôi dưỡng tôi trên đất này, và đã nuôi dưỡng các ông trên một vùng đất khác. Những gì tôi nói là có ý đó. Ý tôi là sẽ gìn giữ vùng đất này.”

            Lần thứ ba trong hai năm, một ủy ban hòa bình đã thất bại. Trước khi các ủy viên trở về Washington, tuy nhiên, họ gởi cho Mây Đỏ một xe thuốc lá với lời yêu cầu đến Laramie ngay sau khi tuyết mùa đông tan chảy vào mùa xuân. Mây Đỏ lễ phép trả lời rằng ông đã nhận thuốc lá của hòa bình và sẽ hút nó, và rằng ông sẽ đến Laramie ngay khi bọn lính rời khỏi xứ sở ông.

            Vào mùa xuân 1868 Chiến Binh Lớn Sherman và cũng ủy ban hòa bình đó trở lại Laramie. Lần này họ được lệnh nghiêm nhặt từ một chính quyền sốt ruột là phải từ bỏ các đồn trên tuyến đường Sông Powder và ký hiệp ước hòa bình với Mây Đỏ. Lần này họ gởi một đặc vụ từ Văn Phòng Da Đỏ để đích thân mời thủ lĩnh Oglala đến ký hiệp ước. Mây Đỏ bảo viên đặc vụ là ông cần khoảng 10 ngày để tư vấn với các đồng minh, và sẽ chắc chắn đến đồn Laramie trong tháng, Mùa Trăng Ngựa Con Rụng Lông.

            Tuy nhiên, chỉ một ít ngày sau khi đặc vụ trở lại Laramie, một thông điệp đến từ Mây Đỏ: “Chúng tôi đang đứng trên núi nhìn xuống binh sĩ trong đồn. Khi chúng tôi trông thấy binh lính bỏ đi và đồn bị bỏ hoang, chúng tôi sẽ xuống và nói chuyện.”

            Điều này làm Chiến Binh Lớn Sherman và các ủy viên bối rối và bẽ mặt. Họ xoay sở kiếm được một vài chữ ký của những tù trưởng không tiếng tăm đến để lãnh quà, và khi thời gian trôi qua, các ủy viên bực tức lặng lẽ bỏ về đông từng người một. Vào cuối xuân chỉ có Râu Đen Sanborn và Râu Trắng Harney còn ở lại để đám phán, nhưng Mây Đỏ và các đồng minh của ông vẫn ở lại Powder qua mùa hè, luôn theo dõi sát sao động tĩnh của đồn và tuyến đường đến Montana.

            Cuối cùng Bộ Chiến Tranh miễn cưỡng ban lệnh từ bỏ xứ Sông Powder. Vào ngày 29/7 binh lính ở Đồn C. F. Smith đóng hành lý và bắt đầu di chuyển về nam. Sáng sớm hôm sau Mây Đỏ dẫn một toán các chiến binh ăn mừng vào đồn, và họ châm lửa đốt sạch mọi thứ. Một tháng sau Đồn Phil Kearny cũng bị bỏ hoang, và vinh dự được phóng hỏa lọt vào tay người Cheyenne dưới quyền của Sói Nhỏ. Một ít ngày sau, người lính cuối cùng ra khỏi Đồn Reno, và tuyến đường Sông Powder chính thức khép lại.

            Sau hai năm kháng cự, Mây Đỏ đã đánh thắng cuộc chiến của ông. Ông bắt những ủy viên hòa bình chờ đợi thêm ít tuần nữa, và rồi vào ngày 6/11, bao quanh bởi các nhóm chiến binh chiến thắng, ông cưỡi ngựa vào Đồn Laramie. Giờ là một người hùng chinh phục, ông sẽ ký hiệp ước: “Từ ngày này trở đi mọi cuộc chiến giữa các phe ghi trong thỏa thuận này sẽ vĩnh viễn chấm dứt. Chính quyền Hoa Kỳ mong mỏi hòa bình, và cam kết trong danh dự sẽ gìn giữ nó. Người Da Đỏ cũng mong mỏi hòa bình, và giờ đây họ cam kết trong danh dự sẽ duy trì nó.”

            Trong 20 năm tiếp sau, tuy nhiên, những nội dung gồm 16 mục của hiệp ước năm 1868 vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi giữa người Da Đỏ và chính quyền Hoa Kỳ. Những gì nhiều tù trưởng hiểu là có trong hiệp ước và những gì thực sự được viết ra trong đó sau khi Quốc hôi phê chuẩn như hai con ngựa mà màu da không khớp.

            (Đuôi Đốm, chín năm sau đó, nói: “Những lời hứa hẹn này không được giữ gìn. . . Tất cả những từ ngữ chứng tỏ đã sai . . .Có một hiệp ước làm bởi Tướng Sherman, Tướng Sanborn, và Tướng Harney. Lúc đó các vị tướng bảo chúng tôi chúng tôi sẽ có tiền trợ cấp hàng năm và hàng hóa từ hiệp ước đó trong 35 năm. Các ông nói điều này vậy mà các ông không nói ra sự thật,”     

5.png

Mũi Cao điềm tĩnh ra dấu cho các chiến binh dừng lại. Ông dơ cao lá cờ hưu chiến. Thấy vậy binh lính chậm bước; họ tiến đến cách người Da Đỏ khoảng 150 mét và cũng dừng lại. Một cơn gió mạnh làm cờ hiệu  phất phới ở cả hai bên. Sau chừng một phút người Da Đỏ trông thấy Xếp Cao Wynkoop cưỡi ngựa tiến lên một mình. “Họ bao quanh lấy ngựa tôi,” Wynkoop kể lại sau này, “biểu lộ sự vui mừng gặp được tôi ở đó, nói rằng giờ họ biết là mọi việc sẽ tốt đẹp, và họ sẽ không bị làm hại. . . Tôi hướng dẫn những người chính yếu đến gặp Tướng Hancock, với các sĩ quan của ông và bộ tham mưu của ông, gần như ở giữa hai chiến tuyến.”

            Mũi Cao tiến đến gần các sĩ quan; ông vẫn ngồi trên mình ngựa đối diện với Lão Già Sấm Sét và nhìn thẳng vào mắt ông ta.

            “Ông muốn hòa bình hay chiến tranh?” Hancock hỏi cộc lốc.

            “Chúng tôi không muốn chiến tranh,” Mũi Cao đáp. “Nếu chúng tôi muốn chiến tranh, chúng tôi sẽ không đến quá gần các súng lớn của ông.”

            “Tại sao ông không đến dự hội đồng tại Đồn Larned?” Hancock hỏi tiếp.

            “Ngựa tôi bị bệnh,” Mũi Cao trả lời, “và mỗi người đến với tôi đều nói những điều khác nhau về ý định của ông.”

            Bò Cao, Râu Xám, và Gấu Bò cũng tiến sát lại. Họ lo lắng vì Mũi Cao hành động quá điềm tĩnh. Gấu Bò nói, yêu cầu vị tướng không đem binh lính đến trại Da Đỏ gần hơn nữa. “Chúng tôi đã không thể giữ yên đàn bà và trẻ con,” ông nói. “Họ quá sợ và đã bỏ chạy đi và không quay lại. Họ sợ binh lính.”

            “Ông phải đem họ về,” Hancock gắt gỏng ra lệnh, “và tôi hi vọng ông làm như thế.”

            Khi Gấu Bò quay đi với một thái độ bực tức, Mũi Cao quay sang ôn tồn bảo ông đem các tù trưởng trở lại phòng tuyến Da Đỏ. “Tôi sắp sửa giết Hancock,” ông nói. Gấu Bò bấu chặt dây cương ngựa Mũi Cao và dắt ông qua một bên, cảnh báo việc đó chắc chắn sẽ mang lại cái chết cho cả bộ tộc.

            Gió đã mạnh lên, thổi cát bay, và làm cuộc nói chuyện khó nghe hơn. Sau khi ra lệnh các tù trưởng đi ngay lập tức để mang đàn bà và trẻ con trở lại, Hancock thông báo cuộc họp kết thúc.

            Mặc dù các tù trưởng và chiến binh vâng lời cưỡi ngựa đi về hướng các người thân đã đi, nhưng họ không mang họ về. Họ cũng không trở lại. Hancock đợi mãi, càng thêm nóng giận, một ngày rồi hai ngày. Rồi, sau khi ra lệnh Custer dẫn đội kỵ binh đuổi theo người Da Đỏ, ông cho bộ binh tiến vào khu trại bỏ hoang. Số lều và số đồ đạc được vào sổ một cách có phương pháp, và sau đó mọi thứ đều bị phóng hỏa đốt sạch – 251 căn lều, 962 áo da bò, 436 yên ngựa, hàng trăm lớp da sống đã sấy khô, dây thừng, đệm, và các dụng cụ nấu nướng, ăn uống, và sinh hoạt. Các binh lính tàn phá mọi thứ mà những người Da Đỏ này sở hữu trừ các con ngựa họ đang cưỡi và chăn mềm và quần áo họ đang mặc.

            Cơn thịnh nộ của bộ tộc Khuyển Quân và đồng minh Sioux trước hành động đốt rụi làng mạc của họ bùng nổ khắp đồng bằng. Họ đột kích các trạm xe khách, giật phăng đường điện tín, tấn công các láng trại của công nhân tàu hỏa, và khiến việc đi lại phải ngừng hẳn dọc tuyến đường Đồi Khói. Công ty Overland Express ra lệnh các nhân viên: “Nếu người Da Đỏ đến trong tầm bắn, thì bắn bỏ. Không thương tiếc vì chúng sẽ không thương tiếc các anh. Tướng Hancock sẽ bảo vệ các anh và tài sản các anh.” Cuộc chiến mà Hancock đến để ngăn ngừa, giờ thì ông làm nó tăng tốc một cách điên rồ. Custer cùng toán kỵ binh của mình phi nước đại từ đồn này đến đồn khác, nhưng không tìm thấy người Da Đỏ nào.

            “Cuộc hành quân của Tướng Hancock, tôi rất tiếc phải nói thật, là không có kết quả tốt đẹp nào, nhưng, trái lại, đã phát sinh ra nhiều điều tệ hại,” Thanh tra của Phòng Da Đỏ Sự vụ Thomas Murphy đã viết như vậy cho Ủy viên Taylor ở Washington.

            “Các chiến dịch của Tướng Hancock,” Râu Đen Sanborn báo cáo cho Bộ trưởng Nội vụ, “đã gây tai hại cho quyền lợi công cộng, và đồng thời  đối với tôi hình như quá bất nhân, mà tôi nghĩ cần phải trình bày quan điểm của mình đến ngài về vấn đề này. . . Đối với một quốc gia hùng mạnh như chúng ta mang chiến tranh tới những người du mục lẻ tẻ, trong những tình trạng như thế, quả là một cảnh tượng vô cùng nhẫn tâm, một sự bất công chưa từng có, một tội ác quốc gia ghê tỡm nhất, điều đó, sớm hay muộn, sẽ giáng xuống chúng ta hay con cháu chúng ta sự phán xét của Thượng đế.”

            Chiến binh Lớn Sherman lại có một quan điểm khác trong báo cáo của ông gởi Bộ trưởng Chiến tranh Stanton: “Ý kiến tôi là, nếu 50 người Da Đỏ được phép ở lại giữ Arkansas và Platte chúng ta sẽ phải bảo vệ mỗi trạm xe, mỗi chuyến tàu hỏa, và mọi nhóm lao động đường sắt. Nói cách khác, 50 người Da Đỏ thù địch sẽ chiếu tướng 3,000 binh lính. Tốt hơn là đuổi chúng ra sớm như có thể, hoặc bằng cách dụ họ ra qua các ủy viên về vấn đề Da Đỏ hoặc giết chết chúng, hai việc đều không có gì khác.”

            Sherman được các giới thẩm quyền cấp cao thuyết phục là hãy nỗ lực dụ họ ra bằng ủy ban hòa bình, và vì thế trong mùa hè 1867 đó ông thành lập ủy ban gồm Taylor, Henderson, Tappan, Sanborn, Harney, và Terry – cũng chính là ủy ban hòa giải với Mây Đỏ ở Đồn Laramie sau này trong mùa thu. (Xem chương trước.) Hancock bị triệu hồi khỏi vùng đồng bằng và binh lính của ông được phân bố cho những đồn dọc đường.

            Kế hoạch hòa bình mới cho đồng bằng miền nam bao gồm không chỉ người Cheyenne và Arapaho mà còn Kiowa, Comanche, và Prairie Apache. Tất cả năm bộ tộc sẽ được định cư trên một khu dành riêng rộng lớn phía nam Sông Arkansas, và chính quyền sẽ cung cấp cho họ các đàn gia súc và dạy họ cách trồng trọt.

            Suối Medicine Lodge, cách Đồn Larned 60 dặm về phía nam, được chọn làm địa điểm cho hội đồng hòa bình, sẽ nhóm họp vào đầu tháng 10. Để bảo đảm tất cả các tù trưởng quan trọng đều có mặt, Văn phòng Da Đỏ Sự vụ chất đống quà tặng ở Đồn Larned và phái đi những người đưa tin được tuyển chọn kỹ càng. George Bent, giờ được sử dụng như một phiên dịch viên của Xếp Cao Wynkoop, là một trong các sứ giả. Anh không gặp khó khăn khi thuyết phục Ấm Đen đến dự. Quạ Nhỏ của Arapaho hoặc Mười Gấu của Comanche cũng muốn tham gia. Nhưng khi Bent đến trại của Khuyển Quân, anh nhận thấy các thủ lĩnh miễn cưỡng lắng nghe anh. Lão Già Sấm Sét đã làm họ dè chừng các buổi họp với các xếp lính. Mũi Cao nói thẳng thừng là mình sẽ không đến Suối Medicine Lodge nếu Chiến binh Lớn Sherman có mặt ở đó.

            Bent biết và các ủy viên cũng biết rằng Mũi Cao là chìa khóa cho bất kỳ cuộc dàn xếp hòa bình Cheyenne nào. Thủ lĩnh chiến binh giờ là chỉ huy của liên minh vài trăm chiến binh từ tất cả phe nhóm Cheyenne. Nếu Mũi Cao không ký hiệp ước, hiệp ước sẽ vô nghĩa đối với hòa bình ở Kansas. Chắc hẳn theo đề nghị của Bent, Edmond Guerrier được chọn để viếng thăm Mũi Cao và thuyết phục ông nên đến Suối Medicine Lodge ít nhất trong buổi họp sơ khởi. Guerrier, người đã sống sót vụ Suối Cát, lấy em gái của Bent; Mũi Cao lấy em họ của Guerrier. Với mối ràng buộc gia đình như thế, sự thuyết phục không quá khó khăn.

            Vào ngày 27 tháng 9 Guerrier đến Suối Medicine Lodge với Mũi Cao và Râu Xám. Mũi Cao đã nhấn mạnh là Râu Xám đi theo làm phát ngôn nhân của ông; Râu Xám hiểu một vài từ tiếng Anh và không thể bị các phiên dịch viên lừa dễ dàng. Thanh tra Thomas Murphy, người đứng ra sắp xếp công việc trước khi các ủy viên đến, đón tiếp các thủ lĩnh Cheyenne một cách thân tình, bảo họ là hội đồng sắp tới sẽ rất quan trọng đối với họ, và hứa rằng các ủy viên sẽ bảo đảm hỗ trợ nhu yếu phẩm và “nắm tay họ đi trên con đường tốt đẹp của hòa bình.”

            “Một con chó sẽ vội chạy đến ăn nhu yếu phẩm,” Râu Xám trả lời. “Nhu yếu phẩm các ông mang đến khiến chúng tôi mang bệnh. Chúng tôi có thể sống bằng thịt bò rừng nhưng những thứ chúng tôi cần chúng tôi không thấy đâu – thuốc súng, đạn, và đầu đạn. Khi các ông mang cho chúng tôi những thứ này chúng tôi mới tin các ông là thành khẩn.”

            Murphy trả lời rằng Hoa Kỳ chỉ tặng quân nhu làm quà đối với những người Da Đỏ thân hữu và muốn biết tại sao một số người Cheyenne quá thù hận cứ tiếp tục đánh phá. “Vì Hancock đốt sạch làng mạc chúng tôi,” Mũi Cao và Râu Xám đồng trả lời. “Chúng tôi chỉ trả thù mỗi việc đó thôi.”

            Murphy bảo đảm là Vị Cha Lớn không ra lệnh đốt làng; Vị Cha Lớn đã loại Hancock khỏi đồng bằng vì đã làm việc xấu xa này. Về phần Chiến binh Lớn Sherman, mà Mũi Cao chống đối sự hiện diện của ông ấy, Vị Cha Lớn cũng đã triệu hồi ông ta về Washington. Mũi Cao cuối cùng chấp nhận đàm phán. Ông và người đồng bọn sẽ hạ trại cách đó 60 dặm trong vùng Cimarron; họ sẽ theo dõi hội đồng từ xa, và nếu hợp ý họ sẽ đến tham dự.

            Đó là Mùa Trăng Mùa Màng Thay Đổi, 16 tháng 10, khi hội đồng bắt đầu trong một vạt rừng cây cao bóng mát ở Suối Medicine Lodge. Các bộ tộc Arapaho, Comanche, Kiowa, và Prairie Apache hạ trại dọc các bìa rừng cạnh nơi hội họp. Ấm Đen chọn phía bên kia con suối. Trong trường hợp có biến ít nhất ông có khe suối giữa ông và 200 kỵ binh bảo vệ các ủy viên. Mũi Cao và các tù trưởng Khuyển Quân đặt người đưa tin trong trại của Ấm Đen để báo cáo cho họ tin tức của hội đồng. Những người đưa tin này trông chừng Ấm Đen cũng như trông chừng các ủy viên; họ không muốn thấy Ấm Đen ký một hiệp ước tồi nhân danh dân Cheyenne.

            Mặc dù có hơn 4,000 người Da Đỏ tụ tập ở Suối Medicine Lodge, có quá ít người Cheyenne hiện diện đến nỗi khởi đầu gần như hoàn toàn là vấn đề của người Kiowa-Arapaho-Comanche. Điều này làm các ủy viên lo lắng, vì mục tiêu chính yếu là tìm được hòa bình với người Khuyển Quân đầy thù địch bằng cách thuyết phục họ là lợi ích thiết thực nhất của họ nằm trong khu dành riêng được đề nghị phía dưới Arkansas. Ấm Đen, Áo Choàng Nhỏ, và George Bent tranh thủ được một số tù trưởng miễn cưỡng, nhưng số khác quá thù địch đến nỗi họ đe dọa giết hết ngựa của Ấm Đen nếu ông không rút chân ra khỏi hội đồng.

            Vào ngày 21 tháng 10, người Kiowa và Comanche ký hiệp ước, hứa chia sẻ một khu dành riêng với người Cheyenne và Arapaho, và hứa giới hạn vùng săn bò rừng của họ phía dưới Arkansas và ngưng mọi chống đối đến việc xây dựng đường ray sẽ được tiến hành dọc theo tuyến đường Đồi Khói. Tuy nhiên, Ấm Đen không đồng ý ký cho đến khi có thêm tù trưởng Cheyenne đến Suối Medicine Lodge; Quạ Nhỏ và người Arapaho sẽ không ký cho đến khi người Cheyenne ký. Các ủy viên bực dọc đồng ý đợi thêm một tuần nữa trong lúc Ấm Đen và Áo Choàng Nhỏ đến trại của Khuyển Quân thực hiện sứ mạng ngoại giao của mình. Năm ngày trôi qua, nhưng không có người Cheyenne nào xuất hiện. Rồi, đến chiều ngày 26 tháng 10, Áo Choàng Nhỏ trở lại từ trại Khuyển Quân.

            Các tù trưởng Cheyenne đang đến, Áo Choàng Nhỏ thông báo, với khoảng 500 chiến binh. Họ sẽ được trang bị và sẽ chắc chắn bắn hết đạn để biểu lộ ý muốn nhận được số quân nhu cần thiết cho mùa săn bắn bò vào mùa thu. Họ sẽ không làm hại ai, và nếu nhận được quà quân nhu họ sẽ ký hiệp ước.

            Vào trưa ngày hôm sau dưới ánh nắng mùa thu ấm áp, người Cheyenne phi nước đại đến. Khi họ xuất hiện trên sườn đồi ở phía nam khu hội đồng họ dàn hàng bốn người sát cánh nhau như các kỵ binh của Lưng Chắc. Một vài người mặc quân phục xanh đã lấy được; những người khác mặc chăn đỏ. Giáo của họ và đồ trang trí bằng bạc lấp lánh trong ánh mặt trời. Khi đạo quân đến đối diện với chỗ hội họp, các chiến binh quay hàng thành đội hình trung đội, đối diện với các ủy viên bên kia suối. Một chiến binh Cheyenne thổi một hồi kèn, và các chiến mã chồm lên như sắp tấn công, 500 tiếng hô đồng thanh cất lên “Hiya hi-i-i-ya! ” Họ vung giáo, dơ cao cung, bắn một vài phát súng chỉ thiên, và lao xuống khe suối tóe nước. Hàng đầu phóng ngựa tới sát bờ chỉ cách Râu Trắng Harney vài bộ, đang đứng yên tiếp đón họ. Những ủy viên khác tứ tán tìm chổ núp. Thắng ngựa dừng đứng phắt, các tù trưởng và chiến binh xoay người nhảy phốc xuống, bao vây các ủy viên đang giật mình, cười ha hả và bắt tay mọi người. Họ vừa có một màn trình diễn khí thế và táo tợn của các chiến binh Cheyenne.

            Sau những nghi thức sơ khởi, các bài diễn văn bắt đầu. Bò Cao, Ngựa Trắng, Gấu Bò, và Tù Trưởng Bò đều đứng lên nói. Họ không muốn chiến tranh, họ nói, nhưng bắt buộc chấp nhận nó nếu họ không thể có được hòa bình trong danh dự.

            Tù Trưởng Bò đưa ra một yêu cầu cuối cùng cho việc sử dụng vùng đất săn dọc Đồi Khói. Người Cheyenne sẽ để yên đường tàu hỏa, ông ta hứa, và sau đó nói thêm bằng một giọng điệu lý lẽ: “Chúng ta hãy cùng nhau sở hữu xứ sở này – người Cheyenne vẫn săn bắn ở đó.” Nhưng người da trắng trong hội đồng không tin vào sự chia sẻ phần đất nào ở bắc Arkansas. Sáng hôm sau, sau khi được phục vụ cà phê, các tù trưởng Cheyenne và Arapaho lắng nghe đọc hiệp ước, với George Bent làm phiên dịch. Lúc đầu Gấu Bò và Ngựa Trắng từ chối ký, nhưng Bent gọi họ sang bên và thuyết phục họ đó là cách duy nhất để duy trì quyền lực và sống với bộ tộc. Sau khi ký kết, các ủy viên phát tặng quà, kể cả quân nhu để đi săn. Hội đồng Medicine Lodge kết thúc. Giờ thì hầu hết người Cheyenne và Arapaho sẽ di chuyển về nam như họ đã hứa. Nhưng còn một số người khác không chịu đi. Ba hoặc bốn trăm người đang đi về bắc từ Cimarron, chấp nhận số phận của  một chiến binh không chịu đầu hàng. Tên của Mũi Cao không được ký trong hiệp ước.

            Trong mùa đông 1867-68, hầu hết người Cheyenne và Arapaho hạ trại phía dưới Arkansas gần Đồn Larned. Từ những cuộc đi săn mùa thu họ đã dự trữ đủ thức ăn để sống qua những con trăng giá rét, nhưng đến xuân thực phẩm khan hiếm trầm trọng. Xếp Cao Wynkoop thường xuất trại phân phát số dự trữ ít ỏi mà ông có được từ Văn phòng Da Đỏ. Ông bảo các tù trưởng là Đại Hội đồng ở Washington vẫn còn bàn cãi về hiệp ước và chưa cung ứng tiền bạc để mua lương thực và quần áo cho họ như đã hứa. Các tù trưởng trả lời là nếu họ có vũ khí và đạn dược họ có thể đi xuống Sông Đỏ săn đủ thịt bò để tiếp tế cho dân họ. Nhưng Wynkoop không có quân nhu cho họ.

            Khi những ngày mùa xuân ám áp dài ra, các chàng trai trẻ càng ngày càng nóng lòng, càu nhàu vì không có đủ thức ăn, thóa mạ các lời hứa bị bẽ gãy của người da trắng ở Medicine Lodge. Từng toán nhỏ bắt đầu dong ruổi về hướng bắc đến vùng đất săn cũ ở Đồi Khói. Bò Cao, Ngựa Trắng, và Gấu Bò cũng nhượng bộ những yêu sách của Khuyển Quân kiêu căng của họ muốn băng qua Arkansas. Dọc đường, một số thanh niên ngông cuồng đột kích các khu định cư hi vọng tìm được thức ăn hoặc súng ống.

            Cán bộ Wynkoop vội vã tìm đến làng của Ấm Đen, năn nỉ các tù trưởng nên kiên nhẫn và giữ các chàng trai ra khỏi chiến lộ, cho dù Vị Cha Lớn đã làm rạn nứt lòng tin nơi họ.

            “Các anh em da trắng chúng tôi đã rút lại bàn tay mà họ đã chìa ra cho chúng tôi ở Medicine Lodge,” Ấm Đen nói, “nhưng chúng tôi sẽ cố nắm giữ chặt nó. Chúng tôi hi vọng Vị Cha Lớn sẽ thương xót chúng tôi và cho chúng tôi súng và quân nhu mà ngài đã hứa để chúng tôi có thể đi săn bò giúp gia đình khỏi chết đói.”  Wynkoop hi vọng vũ khí và quân nhu có thể có được khi Vị Cha Lớn đã phái Xếp Sao mới, Tướng Philip Sheridan, chỉ huy binh lính ở các Đồn Kansas. Cán bộ sắp xếp vài tù trưởng, bao gồm Ấm Đen và Bê Đá, gặp gỡ Sheridan ở Đồn Larned.

            Khi người Da Đỏ trông thấy Sheridan, với chân ngắn và cổ bạnh, cánh tay dài lắc lư, họ nghĩ ông giống một con gấu xấu tính. Trong hội đồng Wynkoop hỏi vị tướng liệu ông có thể phát vũ khí cho người Da Đỏ hay không. “Vâng, cho họ vũ khí,” Sheridan gầm lên, “rồi nếu họ gây chiến binh lính của tôi sẽ giết họ như giữa những người đàn ông với nhau.”

            Bê Đá bẻ lại: “Cho binh lính ngài để tóc dài, để chúng tôi có được vinh dự khi giết họ.”

            Đó không phải là một hội đồng thân thiện, và mặc dù Wynkoop có thể lấy được một ít súng thải ra cho họ, người Cheyenne và Arapaho chịu đi săn phía dưới Arkansas rất bực mình. Quá nhiều các chàng trai của họ và hầu hết băng nhóm Khuyển Quân vẫn còn ở phía bắc con sông, đột kích và giết hại người da trắng bất cứ khi nào họ bắt gặp.

            Vào cuối tháng 8 phần đông người Cheyenne ở phía bắc tụ tập dọc theo ngã ba Arikaree của Sông Republican. Bò Cao, Ngựa Trắng, và Mủi Cao ở đấy với khoảng 300 chiến binh và gia đình họ. Một ít người Arapaho và người Sioux của Sát Thủ Pawnee hạ trại gần đó. Từ Gấu Bò, cũng đang dựng trại với băng của mình ở Solomon, họ nghe tin Tướng Sheridan đã tổ chức một toán trinh sát để săn tìm các trại Da Đỏ, nhưng những người Da Đỏ này quá bận bịu việc thu thập thịt cho mùa đông nên không màng lưu tâm đến bọn trinh sát hay binh lính truy tìm họ.

            Rồi một ngày nọ trong Mùa Trăng Khi Hưu Cào Đất, 16 tháng 9, một đội săn người Sioux từ trại Sát Thủ Pawnee trông thấy khoảng 50 người da trắng hạ trại trên Arikaree, khoảng 20 dặm phía dưới các trại Da Đỏ. Chỉ ba hoặc bốn người da trắng mặc quân phục xanh; những người khác ăn vận theo kiểu biên địa lôi thôi. Đây là toán đặc biệt do Sheridan tổ chức để săn tìm các trại Da Đỏ; họ được biết dưới tên Trinh sát Forsyth.

            Ngay khi các tay săn Sioux báo động cho dân mình, Sát Thủ Pawnee phái các người đưa tin đến trại Cheyenne để yêu cầu họ hợp lực tấn công toán trinh sát đã đột nhập vùng đất săn của họ. Bò Cao và Ngựa Trắng ngay lập tức cho người báo động khắp trại, thúc giục các chiến binh lấy vũ khí, vẽ mặt, chuẩn bị ứng chiến. Họ đi tìm Mũi Cao, đang trong lều làm nghi thức thanh tẩy. Vài ngày trước, khi người Cheyenne đi dự tiệc với người Sioux, một phụ nữ Sioux đã dùng một cái nỉa sắt để nướng bánh mì, và Mũi Cao chỉ phát hiện ra sau khi đã ăn bánh mì. Bất cứ chất kim loại nào chạm vào thức ăn của ông cũng hóa giải tác dụng của bùa chú; sức mạnh ma thuật của Mũi Cao nhằm tránh khỏi đạn của người da trắng sẽ mất cho đến khi ông hoàn tất xong nghi thức thanh tẩy.     

            Bò Cao giục Mũi Cao nhanh lên. Ông tin chắc nếu Cheyenne và Sioux hợp lực thì có thể tiêu diệt 50 tên trinh sát da trắng, nhưng có thể có lính Áo xanh gần bên, vì thế phải cần Mũi Cao chỉ huy tấn công. Mũi Cao bảo họ cứ đi trước, ông sẽ nối gót theo sau.

            Vì cách trại của toán trinh sát khá xa, các tù trưởng quyết định đợi sáng hôm sau sẽ tấn kích. Cưỡi con ngựa chiến tốt nhất và trang bị giáo, cung, và súng trường tốt nhất, năm hoặc sáu trăm chiến binh di chuyển xuống Thung lũng Arikaree. Chiến binh Sioux đội mũ lông đại bàng; Cheyenne đội mũ lông quạ. Không xa trại lính trinh sát họ dừng lại, các tù trưởng ban lệnh nghiêm nhặt là không được tấn công lẻ tẻ quân địch. Tất cả phải tấn công cùng một lúc, như Mũi Cao đã dạy họ; họ phải cưỡi ngựa xông vào bọn trinh sát và quét sạch chúng.

            Dù có lệnh như thế, nhưng sáu Sioux và hay Cheyenne – tất cả đều rất trẻ – lẻn ra ngoài trước rạng đông và cố bắt các con ngựa của bọn da trắng trong đàn. Họ đột kích ngay bình minh, la hét và ve vẩy chăn để xua đàn. Một số ngựa bị bắt, nhưng họ đã báo động nhóm trinh sát về sự hiện diện của chiến binh Da Đỏ. Trước khi bộ phận chính có thể tấn công trại, các trinh sát đã có thời gian rút lui đến một đảo nhỏ trong lòng sông Arikaree khô cạn và ẩn núp trong các bụi cây liễu và cỏ cao.

            Vượt qua thung lũng đầy sương mù, người Da Đỏ dàn hàng ngang tấn công, vó ngựa của họ kêu bồm bộp trên mặt đất. Khi họ nhìn thấy bọn trinh sát chạy vội đến hòn đảo đầy bụi cây, một chiến binh Cheyenne thổi một hồi kèn. Họ đã dự định tràn ngập trại. Giờ đây họ phải bao vây một lòng sông khô. Một loạt đạn từ súng liên thanh Spencer cào sạch hàng đầu tiên, và các chiến binh phân tán, một số sang trái và một số sang phải, bao lấy hòn đảo.

            Trong gần suốt buổi sáng người Da Đỏ bao vây đảo. Mục tiêu duy nhất thấy được là các con ngựa của bọn trinh sát đứng trong cỏ sậy, và khi các chiến binh bắn hạ, các trinh sát dùng nó làm bia đỡ đạn. Một ít chiến binh liều lĩnh nhảy lên đảo, xuống ngựa và cố bò trườn đến sát kẻ thù qua bụi cây. Nhưng hỏa lực tới tấp quá rát đối với họ. Một chiến binh Cheyenne tên Bụng Sói đột kích trên lưng ngựa hai lần xuyên qua vòng phòng thủ của trinh sát. Anh mang da báo ma thuật, một thứ bùa rất mạnh ngăn không cho viên đạn nào chạm được vào người anh.

            Đầu giờ chiều Mũi Cao đến chiến trường và đứng trên một gò cao nhìn qua đảo. Hầu hết chiến binh dừng đánh và đợi xem Mũi Cao tính làm gì. Bò Cao và Ngựa Trắng đến nói chuyện với ông, nhưng không nhờ ông chỉ huy trận đánh.

            Mũi Cao đi qua một bên để chuẩn bị giáp chiến. Ông sơn trán màu vàng, mũi màu đỏ, cằm màu đen. Rồi ông đội mũ chiến độc sừng với 40 lông ở đuôi. Khi đã xong, ông lên ngựa và chạy xuống lòng sông khô, ở đó các chiến binh đang đợi với đội hình để ông dẫn dắt họ đến cuộc tấn công thắng lợi.

            Họ bắt đầu với nước kiệu chậm chạp, tăng dần tốc độ đến phi nước đại, và rồi quất ngựa không thương tiếc để không có gì có thể ngăn cản chúng phóng vọt qua đảo. Nhưng một lần nữa, hỏa lực ác liệt của toán trinh sát đã bẽ gãy tuyến đầu, làm suy giảm sức mạnh của mũi tấn công tuyệt vọng. Mũi Cao đến được rìa ngoài của bụi liễu; rồi một viên đạn ghim vào hông ông, một viên đi vào xương sống. Ông rơi vào bụi cây, nằm đó cho đến hoàng hôn, khi ông xoay sở bò đến bờ. Một vài chiến binh trẻ đến mang ông ra năm trên đất cao ráo, ở đó các phụ nữ Cheyenne đã chạy đến để săn sóc người bị thương. Trong đêm Mũi Cao qua đời.

            Đối với các chiến binh Cheyenne trẻ, cái chết của Mũi Cao giống như một luồng sáng lớn vừa ra khỏi bầu trời. Ông đã tin tưởng và khiến họ tin tưởng là nếu họ chiến đấu cho xứ sở mình như Mây Đỏ từng làm, một ngày nào đó họ sẽ chiến thắng.

            Người Cheyenne lẫn Sioux không ai có lòng dạ nào tiếp tục chiến đấu. Nhưng họ tiếp tục bao vây các trinh sát giữa bụi cây và cát trong tám ngày. Các trinh sát phải ăn ngựa chết của họ và đào cát để lấy nước. Đến ngày thứ tám, khi một đạo quân đến giải cứu, người Da Đỏ mới chịu bỏ đi.

            Người da trắng ca ngợi trận đánh đó hết lời; họ gọi đó là Trận đánh Đảo Beacher, theo tên một Trung úy trẻ Frederic Beecher, tử trận ở đó. Những kẻ sống sót nổ là mình đã giết “hàng trăm bọn da đỏ,” và mặc dù số chiến binh hi sinh không hơn 30, nhưng mất đi Mũi Cao tổn thất không sao tính hết được. Họ luôn nhớ về nó như Trận đánh Khi Mũi Cao Bị Giết.

            Sau khi nghỉ ngơi, một số lớn người Cheyenne bắt đầu đi về nam. Giờ đây với binh lính săn đuổi mọi nơi, hi vọng sống còn duy nhất của họ là ở với người thân phía dưới Arkansas. Họ xem Ấm Đen như một lão già bại trận, nhưng ông ta vẫn còn sống, và là tù trưởng của Nam Cheyenne.

            Tất nhiên, họ không có cách nào biết rằng người xếp lính trông như con gấu nổi giận, Sheridan, đang lên kế hoạch cho một chiến dịch mùa đông phía dưới Arkansas. Khi tuyết của những mùa trăng rét đến, ông ta sẽ phái Custer và kỵ binh tiêu diệt làng mạc của những Da Đỏ “man rợ”, phần đông họ đã tuân thủ hiệp ước. Đối với Sheridan, bất kỳ người Da Đỏ nào kháng cự khi bị bắn đều là “man rợ.”

            Trong mùa thu đó Ấm Đen dựng một ngôi làng trên Sông Washita cách Đồi Linh Dương 40 dặm về phía đông, và khi các chàng trai trôi giạt trở về từ Kansas, ông mắng nhiếc họ vì hành động bừa bãi, nhưng như một người cha rộng lượng vẫn chấp nhận họ vào băng. Vào tháng 11, khi nghe tin đồn bọn lính đang tới, ông và Áo Choàng Nhỏ cùng hai tù trưởng Arapaho đi một đoạn đường gần 100 dặm xuống thung lũng Washita đến Đồn Cobb, tổng hành dinh của cục quản lý mới của họ ở nam Arkansas. Tướng William B. Hazen là chỉ huy đồn, mà trong chuyến viếng thăm mùa hè người Cheyenne và Arapaho thấy ông ta là một người thân thiện và tình cảm.

            Tuy nhiên, trong tình hình khẩn cấp này, Hazen không tỏ ra thân mật. Khi Ấm Đen xin phép được dời 180 căn lều của mình đến gần Đồn Cobb để được che chở, Hazen từ chối chấp nhận. Ông cũng từ chối cấp phép cho họ gia nhập với người Kiowa và Comanche. Ông trấn an Ấm Đen là nếu người của ông trở về làng và kiểm soát bọn trẻ ở đó, thì họ sẽ không bị tấn công. Sau khi phát cho khách một ít đường, cà phê, và thuốc lá, Hazen tiễn họ ra, biết rằng có thể mình sẽ không bao giờ gặp lại họ. Ông dư biết về kế hoạch hành quân của Sheridan.

            Hứng vào mặt cơn gió bấc rét căm căm sớm biến thành một cơn bão tuyết, các tù trưởng bất mãn lên đường trở về làng, và về đến vào ngày 26/11. Mệt nhoài sau chuyến đi dài, ngay lập tức Ấm Đen cho hop hội đồng các thủ lĩnh bộ tộc. (George Bent không có mặt; anh đã dẫn theo vợ, cháu của Ấm Đen, đến thăm William Bent trên trang trại ở Colorado.)

            Lần này, Ấm Đen bảo với người của mình, họ không được bị bất ngờ như ở Suối Cát. Thay vì đợi binh lính đến, ông sẽ dẫn một phái đoạn ra gặp họ và thuyết phục họ là làng Cheyenne là làng hòa bình. Tuyết rơi dày và còn tiếp tục rơi, nhưng ngay khi mây tan họ sẽ lên đường đi gặp binh lính.

            Mặc dù Ấm Đen đi ngủ muộn đêm đó, ông tỉnh dậy ngay trước rạng đông như thói quen. Ông bước ra ngoài lều, và vui mừng thấy rằng bầu trời đã quang đãng. Một làn sương mù dày che mờ thung lũng Washita, nhưng ông có thể nhìn thấy tuyết đóng dày trên các sườn đồi bên kia con sông.

            Thình lình ông nghe tiếng một phụ nữ hét lên, tiếng kêu càng lúc càng rõ và lớn dần khi bà đến gần. “Lính! Lính!”. Phản ứng tức thì, Ấm Đen chạy vội vào lều tìm súng. Trong một vài giây ông đã chạy ra ngoài quyết định phải làm gì – đánh động trại và gọi mọi người  tẩu thoát. Không thể có một Suối Cát thứ hai. Ông sẽ đơn thân đi gặp bọn lính ở ngã ba Washita và trao đổi với họ. Chỉa mũi súng lên trời ông bóp cò. Tiếng nổ khiến làng bừng tỉnh. Khi ông ra lệnh cho mọi người lên ngựa và chạy đi, vợ ông dắt ngựa đến bên ông.

            Ông chuẩn bị phóng tới ngã ba thì một tiếng kèn vang lên xuyên qua làn sương, tiếp theo là những tiếng ra lệnh inh ỏi và tiếng hô xung phong của bọn lính. Vì tuyết dày nên không nghe tiếng vó ngựa, mà chỉ nghe tiếng leng keng của hành lý và yên cương, tiếng la khảng đặc, và tiếng kèn thổi khắp nơi. (Custer đã mang theo đội quân nhạc và đã ra lệnh chơi bài “Garry Owen” khi tấn công.)

            Ấm Đen ngỡ binh lính đến từ ngã ba Washita, nhưng họ vọt ra khỏi màn sương từ bốn phía. Làm sao ông có thể gặp bốn đạo quân đang tấn công để nói chuyện hòa bình? Lại là một Suối Cát khác nữa rồi. Ông nắm lấy tay vợ, nâng bà lên ngồi sau lưng mình, và quất ngựa phóng nhanh. Bà đã sống sót qua thảm kịch Suối Cát với ông; giờ đây, như người nằm mơ bị tra tấn phải mơ lại cùng cơn ác mộng một lần nữa, họ đang tẩu thoát một lần nữa khỏi những lằn đạn kêu thét.

            Họ gần như đến được ngã ba khi ông trông thấy những kỵ binh ào tới trong bộ quân phục xanh và mũ lông thú. Ấm Đen cho ngựa chậm lại và giơ bàn tay ra dấu hiệu hòa bình. Một viên đạn đau buốt xuyên qua dạ dày ông, và con ngựa ông chệch đi. Một viên đạn khác ghim vào lưng, và ông nhào xuống tuyết ngay bờ sông. Một vài viên đạn xô ngã bà vợ xuống nằm cạnh ông, và con ngựa chạy đi. Kỵ binh tiếp tục càn lướt băng qua ngã ba, đạp lên Ấm Đen và vợ, làm bắn bùn lên thi thể của họ. 

            Lệnh của Custer từ Sheridan rất rõ ràng: “đi về nam theo hướng Đồi Linh Dương, từ đó đi tiếp đến Sông Washita, nơi được cho là chỗ trú ngụ mùa đông của các bộ tộc thù địch; tiêu hủy làng mạc và ngựa của họ, giết hoặc treo cổ mọi chiến binh, và đem về tất cả đàn bà và trẻ con.”

            Trong vòng vài phút binh lính của Custer đã tiêu hủy làng của Ấm Đen; một vài phút nữa dưới hàng loạt đạn súng máy vài trăm con ngựa trong chuồng bị tàn sát đẫm máu. Để giết hoặc treo cổ tất cả chiến binh có nghĩa là phải tách họ ra khỏi đám ông già, đàn bà và trẻ con. Công việc này quá chậm chạp và nguy hiểm đối với kỵ binh; họ thấy hiệu quả hơn là giết bừa bãi không phân biệt. Họ giết 103 người Cheyenne, trong đó chỉ có 11 chiến binh. Họ bắt đi 53 phụ nữ và trẻ con.

            Lúc này, những loạt đạn vang dội xuống thung lũng kéo một đám người Arapaho từ ngôi làng lân cận đến, và họ nhập bọn cùng với người Cheyenne đánh tập hậu. Một toán Arapaho bao vây một trung đội săn đuổi gồm 19 binh lính dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Joel Elliott và giết sạch chúng. Khoảng giữa trưa, người Kiowa và Comanche đến từ hạ nguồn xa hơn. Khi Custer nhìn thấy số các chiến binh tăng lên trên những ngọn đồi gần đó, y gom những người bị bắt và quay về bắc tiến đến căn cứ tạm thời của y ở Trại Tiếp tế trên Sông Canadian.

            Tại Trại Tiếp tế, Tướng Sheridan nóng ruột đợi tin tức thắng trận của Custer. Khi ông được thông tin là trung đoàn kỵ binh đang trở về, ông ra lệnh toàn thể đồn ra ngoài đón rước. Trong tiếng quân nhạc khải hoàn, những người chiến thắng bước vào, vẫy vẫy các miếng da đầu của Ấm Đen và những người “man rợ” đã chết khác, và Sheridan hết lời khen ngợi Custer vì “thể hiện tinh thấn phục vụ hiệu quả và dũng cảm.”

            Trong báo cáo chính thức về thắng lợi trước “những tên đồ tể man rợ” và “những băng nhóm những kẻ cướp man rợ,” Tướng Sheridan vui mừng vì đã “quét sạch bọn Ấm Đen . . . một con số không già cỗi, vô dụng, và rã rời.” Rồi y phát biểu là y đã hứa cho Ấm Đen chỗ trú ẩn nếu ông ta đến đồn trước khi chiến dịch quân sự bắt đầu. “Ông ta đã từ chối,” Sheridan nói dối, “và bị giết trong khi chiến đấu.”

            Xếp Cao Wynkoop, người đã từ chức như một cử chỉ chống đối các chính sách của Sheridan, đang ở tận Philadelphia khi ông nghe tin về cái chết của Ấm Đen. Wynkoop tố cáo người bạn già của ông đã bị phản bội, và “chết dưới tay người da trắng mà ông ấy luôn tin tưởng một cách tai hại và đã khoe khoang có được da đầu của ông trong bộ sưu tập.” Những người da trắng khác đã quen biết và yêu quí Ấm Đen cũng chỉ trích chính sách chiến tranh của Sheridan, nhưng Sheridan gạt phăng tất cả xem họ là “những giáo sĩ ngoan đạo và tốt bụng. . . những kẻ hỗ trợ và tiếp tay cho bọn man rợ đã tàn sát, không thương tiếc, đàn ông, đàn bà, và trẻ con.”

            Chiến binh Lớn Sherman ủng hộ Sheridan, tuy nhiên, ra lệnh y tiếp tục giết những người Da Đỏ thù địch và ngựa của họ, nhưng đồng thời khuyên y cố vỗ về những người Da Đỏ thân hữu trong trại nơi đó họ có thể được cung cấp lương thực và làm quen với văn hóa khai sáng của người da trắng.

            Để đáp ứng yêu cầu này, Sheridan và Custer di chuyển tiếp đến Đồn Cobb, và từ đó phái những người đưa tin đến bốn bộ tộc trong vùng, cảnh báo họ đến trình diện và tạo hòa bình bằng không sẽ bị săn đuổi và tàn sát. Đích thân Custer ra ngoài tìm kiếm những người Da Đỏ thân thiện. Để phục vụ cho nhiệm vụ thực địa này y tuyển dụng một phụ nữ quyến rũ trong số các nữ tù binh Cheyenne để đi với y. Cô ta được lên danh sách là một phiên dịch viên, mặc dù cô không biết tiếng Anh nào.

            Vào cuối tháng 12 những người sống sót trong băng nhóm Ấm Đen bắt đầu đến Đồn Cobb. Họ phải đi bộ, vì Custer đã giết sạch ngựa của họ. Áo Choàng Nhỏ giờ là thủ lĩnh trên danh nghĩa của bộ tộc, và khi ông được dẫn tới để gặp Sheridan ông bảo với xếp lính giống gấu là dân ông đang chết đói. Custer đã đốt sạch số thịt dự trữ mùa đông; họ không thể tìm bò dọc theo Washita; họ phải ăn hết chó của mình.

            Sheridan trả lời rằng người Cheyenne sẽ được cấp thực ăn nếu tất cả trình diện trong Đồn Cobb và đầu hàng vô điều kiện. “Ông không thể làm hòa bình bây giờ, rồi lại bắt đầu chém giết người da trắng khi xuân đến,” Sheridan tiếp. “Nếu ông không muốn tạo một nền hòa bình hoàn toàn, ông có thể trở về và chúng ta sẽ đánh nhau cho ra lẽ.”

            Áo Choàng Nhỏ biết rằng mình chỉ còn một câu trả lời. “Ông nói sao thì chúng tôi làm vậy,” ông nói.

            Gấu Vàng của Arapaho cũng đồng ý đem dân mình đến Đồn Cobb. Một vài ngày sau, Tosawi đem vào băng nhóm Comanche đầu tiên để đầu hàng. Khi ông được trình diện với Sheridan, mắt Tosawi sáng lên. Ông nói tên mình rồi thêm hai từ tiếng Anh nói sai giọng. “Tosawi, người Da Đỏ tốt [good Indian],” ông nói.

            Chính ngay lúc đó Sheridan thốt ra những lời bất tử: “Người Da Đỏ duy nhất tốt mà tôi từng nhìn thấy đã chết.” Trung úy Charles Nordstrom, có mặt lúc đó, nhớ những lời đó và truyền lại, cho đến khi theo thời gian chúng được mài giũa thành một cách ngôn Mỹ: Người Da Đỏ duy nhất tốt là người Da Đỏ đã chết.

            Trong khi người Cheyenne đang di chuyển lên Washita từ Đồn Cobb đến Trại Tiếp tế, Áo Choàng Nhỏ tranh cãi với Bò Cao, kết án ông và các thanh niên trẻ của ông đã gây ra rắc rối với binh lính. Tù trưởng Khuyển Quân ngược lại tố cáo Áo Choàng yếu đuối như Ấm Đen, luôn cúi đầu trước bọn da trắng. Bò Cao tuyên bố rằng mình không muốn định cư trong vòng tù túng của khu dành riêng mạt rệp chọn cho người Cheyenne phía dưới Arkansas. Người Cheyenne luôn là một dân tộc tự do, ông nói. Người da trắng có quyền gì bảo họ phải sống ở đâu? Họ sẽ tự do hay là chết.

            Áo Choàng Nhỏ nổi giận ra lệnh cho Bò Cao và người của ông ra khỏi khu vực Cheyenne vĩnh viễn. Nếu họ không chịu làm thế, y sẽ hợp lực với người da trắng đuổi cổ họ ra. Bò Cao kiêu hãnh trả lời rằng ông sẽ dẫn người mình đi về bắc và nhập bọn với Bắc Cheyenne, những người đã cùng với dân Sioux của Mây Đỏ đã đánh đuổi bọn da trắng ra khỏi xứ Sông Powder.

            Và thế là, như họ đã làm sau vụ Suối Cát, người Nam Cheyenne lại phân chia lần nữa. Gần 200 chiến binh Khuyển Quân và gia đình họ khởi hành đi bắc với Bò Cao. Vào tháng 5, Mùa Trăng Ngựa Rụng Lông, họ gia nhập với các băng nhóm đã trải qua mùa đông trên Republican. Khi họ đang chuẩn bị cho chuyến đi dài và nguy hiểm đến xứ Sông Powder, Sheridan phái một lực lượng kỵ binh dưới quyền của Tướng Eugene A. Carr đi tìm họ và tiêu diệt. Binh lính của Carr tìm thấy trại của Khuyển Quân và tấn công ác liệt như Custer đã làm ở làng của Ấm Đen. Tuy nhiên, lần này một băng chiến binh hi sinh mạng sống của mình để làm chậm bước tiến của kẻ địch, giúp cho đàn bà và trẻ con của họ có thì giờ chạy thoát, khỏi bị bắt.

6.png

Bằng cách phân tán mỏng, người Da Đỏ thoát khỏi các toán săn đuổi của Carr. Sau một ít ngày Bò Cao tập họp lại chiến binh và đến Đồi Khói mở những cuộc đột kích trả thù. Họ giật phăng hai dặm đường ray tàu hỏa đáng ghét, và tấn công những khu định cư nhỏ, giết không thương tiếc như bọn lính đã làm với người của họ. Nhớ Custer đã bắt phụ nữ Cheyenne làm tù binh, Bò Cao cũng bắt hai phụ nữ da trắng ở một trang trại. Cả hai đều là di dân Đức (Maria Weichel và Susannah Allerdice), và không người Cheyenne hiểu họ nói gì. Những người da trắng này gây cho họ nhiều phiền toái, nhưng Bò Cao khăng khăng phải bắt họ và đối xử với họ như phụ nữ Cheyenne đã bị lính Áo xanh đối xử.

            Để tránh kỵ binh đang lùng sục khắp nơi, Bò Cao phải di chuyển luôn. Họ tiến dần dần về hướng tây băng qua Nebraska vào Colorado. Giờ là tháng 7 trước khi Bò Cao có thể tập họp các băng nhóm lại với nhau ở Summit Springs, ở đó ông hi vọng vượt qua Sông Platte. Vì nước sông lên cao, họ phải dựng trại tạm thời. Bò Cao phái vài chàng trai dò tìm chỗ cạn để vượt sông. Đây là Mùa Trăng Anh Đào Chín, và ngày thì rất nóng. Phần đông người Cheyenne nằm nghỉ dưới bóng mát của lều.

            Tình cờ hôm đó toán trinh sát người Pawnee của Thiếu tá Frank North tìm thấy dấu vết của người Cheyenne đào tẩu. (Người Pawnee này là lính đánh thuê mà bốn năm trước đã đột nhập vào xứ Sông Powder với Tướng Connor và đã bị các chiến binh Mây Đỏ đuổi ra.) Gần như không có báo động nào, người Pawnee và lính Áo xanh của Tướng Carr tấn công vào trại của Bò Cao. Họ tiến từ đông và tây, vì thế cách duy nhất để tẩu thoát cho người Cheyenne là chạy về nam. Ngựa chạy tán loạn; các ông cố bắt lại chúng, còn đàn bà và trẻ con thì chạy bộ.

            Nhiều người không thể trốn thoát được. Bò Cao và khoảng 20 người khác núp trong một khe suối. Trong số đó có vợ con ông và hai tù binh nữ người Đức. Khi các lính đánh thuê Pawnee và binh lính tràn vào trại, một tá chiến binh hi sinh khi bảo vệ miệng khe núi.

            Bò Cao lấy rìu đục lỗ trong bờ khe để ông có thể trèo lên đỉnh và bắn lại kẻ tấn công. Ông bắn một phát, rồi hụp xuống, và khi nhô lên để bắn lần hai, thì một viên đạn đã xuyên vào sọ ông.

            Trong vài phút sau đó người Pawnee và binh lính tràn ngập khe núi. Tất cả người Cheyenne trừ vợ con Bò Cao đều chết. Cả hai phụ nữ Đức đều bị bắn, nhưng một người còn sống. Người da trắng nói đổ tội cho Bò Cao đã bắn tù binh da trắng, nhưng người Da Đỏ không hề tin là ông lại phí đạn để làm việc điên rồ ấy.

            Mũi Cao đã chết; Ấm Đen đã chết; Bò Cao đã chết. Giờ thì họ đều là người Da Đỏ tốt. Như linh dương và bò rừng, hàng ngũ những người Cheyenne đầy kiêu hãnh đang mỏng dần đến chỗ diệt vong.  

 

8. Sự Nghiệp Thăng Trầm của Donehogawa

1869 – Ngày 4 tháng 3, Ulysses Grant nhậm chức Tổng thống. Ngày 10 tháng 5, Hỏa Xa Trung Thái Bình Dương và Liên hiệp Thái Bình Dương gặp nhau ở Điểm Promontory, thiết lập tuyến tàu hỏa xuyên lục địa đầu tiên. Ngày 13 tháng 9, Jay Gould và James Fisk thử tìm cách kiểm soát thị trường vàng. Ngày 24 tháng 9, chính phủ đổ vàng vào thị trường để hạ giá vàng; “Thứ Sáu Đen” gây thảm họa tài chính cho những nhà đầu tư nhỏ lẻ. Ngày 24 tháng 11, Hội Tranh Đấu Quyền Bầu Cử cho Phụ Nữ Hoa Kỳ được tổ chức. Ngày 19 tháng 12, Wyoming ban hành luật cho phụ nữ quyền bầu cử và tham gia chính quyền. Ngày 30 tháng 12, Hiệp sĩ Lao động được tổ chức. Tác phẩm Innocents Abroad [Những Kẻ Ngờ Nghệch ở Nước Ngoài] của Mark Twain được xuất bản.

 

1870 – Ngày 10 tháng 1, John D. Rockfeller tổ chức Công ty Standard Oil để độc quyền kỹ nghệ. Ngày 15 tháng 2, xây dựng tuyến Đường Sắt Bắc Thái bình dương bắt đầu từ Minnesota. Tháng 6, dân số Hoa Kỳ đạt mức 38,558,731. Ngày 18 tháng 7, tại Rome, Hội đồng Vatican tuyên bố tính hoàn hảo của giáo hoàng như một học thuyết của Giáo hội. Ngày 19 tháng 7, Pháp tuyên chiến với Phổ. Ngày 2 tháng 9 Napoleon III đầu hàng Phổ. Ngày 19 tháng 9, cuộc vây hãm Paris bắt đầu. Ngày 20 tháng 9, William M. Tweed bị kết tội biển thủ kho bạc Thành phố New York. Ngày 29 tháng 11, giáo dục cưỡng bách được bắt đầu ở Anh. Công nghệ sản xuất giấy bằng bột gỗ khởi đầu tại New England

 

Mặc dù dù xứ sở này từng chỉ có người Da Đỏ cư ngụ, các bộ tộc, và nhiều trong số đó từng một thời hùng mạnh, sinh sống tại những xứ sở giờ thành các bang ở phía đông Mississippi, giờ lần lượt từng bộ tộc một bị tận diệt trong nỗ lực bất thành của họ để ngăn chặn bước tiến của văn minh tây phương . . . Nếu có bộ tộc nào phàn nàn sự vi phạm các quyền tự nhiên và có ghi trong hiệp ước của họ, các thành viên của bộ tộc ấy sẽ bị bắn hạ một cách tàn nhẫn và toàn bộ tộc bị đối xử như chó. . . Người ta cho rằng việc di dời và tập trung người Da Đỏ ở miền Tây là để cứu họ khỏi bị diệt chủng thể hiện chính sách nhân đạo của chính quyền. Nhưng ngày nay, với sự gia tăng khủng khiếp của dân số Hoa Kỳ, và việc mở rộng các khu định cư trên khắp miền Tây, tràn ngập cả hai bên sườn núi của dãy núi Rocky, chủng tộc Da Đỏ bị đe dọa nghiêm trọng bị tận diệt với tốc độ nhanh chóng chưa từng hề thấy trước đây trong lịch sử của xứ sở.

  • DONEHOGAWA (ELY PARKER), ỦY VIÊN NGƯỜI DA ĐỎ ĐẦU TIÊN CỦA PHÒNG DA ĐỎ SỰ VỤ

 

KHI NHỮNG NGƯỜI CHEYENNE SỐNG SÓT sau trận chiến Summit Springs cuối cùng đến được xứ Sông Powder, họ tìm thấy nhiều chuyện đã thay đổi trong ba mùa đông họ ở phía nam. Mây Đỏ đã thắng trận, các đồn lũy đã bị bỏ hoang, và không lính Áo xanh nào lên phía bắc Sông Platte. Nhưng trại người Sioux và Bắc Cheyenne rộn rã những tin đồn là Vị Cha Lớn ở Washington muốn họ di chuyển xa đến Sông Missouri, ở đó thú săn rất hiếm. Một số bạn da trắng làm ăn thân thiết với họ bảo họ rằng điều đó được ghi trong hiệp ước 1868 là cục quản lý Teton Sioux đặt ở trên Missouri. Mây Đỏ mặc kệ những lời nói đó. Khi ông xuống Laramie ký hiệp ước ông đã bảo các sĩ quan Áo xanh làm chứng cho việc ký kết của ông là ông muốn Đồn Laramie là trạm giao dịch Teton Sioux, nếu không ông sẽ không ký. Và họ đã thỏa thuận việc này.

            Vào mùa xuân 1869 Mây Đỏ dẫn theo 1,000 chiến binh Oglala đến Laramie để trao đổi hàng háa và lãnh trợ cấp như đã hứa trong hiệp ước. Viên chi huy đồn bảo trạm giao dịch Sioux là ở Đồn Randall trên Sông Missouri, và rằng họ phải đến đó để giao dịch và lãnh trợ cấp. Vì Đồn Randall cách đó 300 dặm, Mây Đỏ cười to vào mặt viên chi huy và yêu cầu được phép giao dịch ở Laramie. Với 1,000 chiến binh trang bị vũ khí đe dọa bên ngoài đồn không được phòng thủ, viên chỉ huy đành phải đồng ý, nhưng y khuyên Mây Đỏ chuyển người của mình đến gần Đồn Randall vào mùa giao dịch tới.

            Như vậy đã rõ là các giới thẩm quyền quân sự ở Đồn Laramie đã có ý như họ đã nói. Đuôi Đốm và những người Brule hiếu hòa thậm chí không được hạ trại gần Laramie. Khi Đuôi Đốm được bảo là muốn lãnh trợ cấp thì phải đến tận Đồn Randall, ông dẫn người của mình vượt qua đồng bằng và dựng trại gần đồn đó. Cuộc sống dễ chịu của bọn Lượn Lờ Laramie cũng kết thúc; họ phải khăn gói đến Đồn Randall, ở đó giữa các môi trường không thân thiết họ phải bắt đầu từ số không.

            Tuy nhiên, Mây Đỏ vẫn quyết liệt. Ông đã thắng được vùng Sông Powder sau một trận chiến cam go. Đồn Laramie là đồn giao dịch gần nhất và ông không có dự định dời đến Missouri hoặc đến đó lãnh trợ cấp.

            Vào mùa thu 1869 người Da Đỏ khắp nơi trên đồng bằng sống trong thanh bình, và tin đồn về những thay đổi loan ra khắp trại. Người ta nói rằng một vị Cha Lớn mới đã được chọn ở Washington, Tổng thống Grant. Người ta cũng nói rằng vị Cha Lớn mới này đã chọn một người Da Đỏ làm vị Cha Nhỏ cho người Da Đỏ. Chuyện đó thật khó tin. Các ủy viên về Da Đỏ Sự vụ lúc nào cũng phải là người da trắng biết đọc biết viết. Có phải Đấng Thần Linh Lớn cuối cùng đã dạy một người da đỏ đọc và viết để ông ta có thể là Cha Nhỏ của người Da Đỏ.

            Vào Mùa Trăng Tuyết Trôi vào Tận Lều (Tháng giêng, 1870) một tin đồn quái ác đến từ xứ sở của Chân Đen. Đâu đó trên Sông Marias ở Montana, binh lính đã bao vây một trại của Chân Đen Piegan và tàn sát họ như giết thỏ bị sập bẫy trong hố. Những người Da Đỏ miền núi này là kẻ cựu thù của các bộ tộc đồng bằng, nhưng giờ mọi thứ đã thay đổi, và khi binh lính giết chóc người da đỏ khắp nơi tất cả bộ tộc đều bức xúc. Quân đội cố giữ kín việc tàn sát, chỉ thông báo là Thiếu tá Rugene M. Baker đã dẫn toán kỵ binh ra khỏi đồn Ellis, Montana, để trừng trị một băng trộm ngựa thước bộ tộc Chân Đen. Tuy nhiên, người Da Đỏ đồng bằng đã biết sự thật rất lâu trước khi đến tai Văn phòng Da Đỏ ở Washington.

            Trong các tuần lễ tiếp theo vụ tàn sát đó, vài sự kiện kỳ lạ xảy ra khắp Đồng bằng miền trên. Trong vài cục quản lý, người Da Đỏ biễu dương sự giận dữ của họ bằng những cuộc họp trong đó họ kết án bọn Áo xanh và gọi vị Cha Lớn là “một con chó điên, không có tai hoặc não.” Tại hai cục, cảm xúc tăng cao đến nỗi các tòa nhà bị phóng hỏa; các cán bộ bị bắt làm tù nhân trong một thời gian, và vài nhân viên nhà nước bị tống cổ khỏi các khu dành riêng.

            Vì vụ tàn sát ngày 23/1 được giấu nhẹm, nên Ủy ban Da Đỏ Sự vụ chỉ biết ba tháng sau đó. Một sĩ quan trẻ, Trung úy William N. Pease, hoạt động như một cán bộ quản lý cho bộ tộc Chân Đen, cá cược sự nghiệp của mình khi trình lên ủy ban các tài liệu. Lấy cớ có một vụ trộm lừa từ một trạm xe, Thiếu tá Baker đã tổ chức chiến dịch mùa đông và tấn công trại đầu tiên trong tháng ba. Trại không được bảo vệ, hầu hết gồm ông già, đàn bà và trẻ con, một số đang bị bệnh đậu mùa. Trong số 219 người Piegan trong trại, chỉ có 46 người trốn thoát được để kể lại câu chuyện; 33 đàn ông, 90 đàn bà, và 50 trẻ con bị bắn chết khi cố chạy thoát thân khỏi lều.

            Ngay khi nhận được báo cáo, vị ủy viên yêu cầu tiến hành điều tra ngay lập tức bởi các giới thẩm quyền nhà nước.

            Mặc dù tên tiếng Anh hóa của người ủy viên là Ely Samuel Parker, tên thật của ông là Donehogawa, Người Giữ Cửa Phía Tây của Ngôi Nhà Dài bộ tộc Iroquois. Hồi nhỏ khi sống trong khu dành riêng Tonawanda ở New York, ông là Hasanoanda của bộ tộc Seneca Iroquois, nhưng ông sớm biết là người có tên Da Đỏ không được coi trọng trong thế giới da trắng. Hasanoanda bèn đổi tên là Parker vì ông có tham vọng được coi trọng như một con người.

            Trong gần nửa thế kỷ Parker đã chống lại những thành kiến chủng tộc, khi thắng, khi thua. Trước khi 10 tuổi ông đi giữ chuồng ngựa cho một đồn Quân đội; lòng kiêu hãnh của ông bị xúc phạm khi bị các sĩ quan chế giễu vì vốn tiếng Anh quá tệ. Chàng trai Seneca hãnh tiến lập tức xoay sở để xin được vào học trường đạo. Ông quyết tâm học đọc, nói, và viết tiếng Anh giõi đến nỗi không người da trắng nào có thể cười vào mặt ông được. Sau khi tốt nghiệp ông nghĩ rằng mình có thể giúp đỡ dân mình tốt nhất bằng cách trở thành một luật sư. Trong những ngày đó một thanh niên trở thành luật sự sau khi làm việc trong một văn phòng luật rồi sau đó thi lấy bằng luật sư của bang. Ely Parker làm việc trong một công ty luật ở Ellicottville, New York trong ba năm, nhưng khi ông nộp đơn thi làm luật sư người ta bảo rằng chỉ có người da trắng mới có thể được hành nghề luật ở New York. Người Da Đỏ không cần phải nộp đơn làm chi. Việc đổi tên tiếng Anh không thay đổi sắc da nâu của ông.

            Nhưng Parker không chịu bỏ cuộc. Sau khi điều tra tỉ mỉ xem nghề nghiệp nào của người da trắng mà người da đỏ có thể được nhận vào làm, ông vào học Viện Bách khoa Rensselaer và đổ vào tất cả các khóa học về kỹ sư dân sự. Ông sớm tìm được việc làm trong Erie Canal. Trước khi đến 30 tuổi, chính phủ Hoa Kỳ rút ông về làm thanh tra việc xây dựng đê điều và nhà cửa. Vào năm 1860 công việc đưa ông tới Galena, Illinois, và ở đó ông gặp và kết bạn với một thư ký trong một tiệm bán yên cương. Người thư ký đó là cựu đại úy Quân đội tên là Ulysses S. Grant.

            Khi Nội Chiến bùng nổ, Parker trở lại New York với kế hoạch thành lập trung đoàn người da đỏ Iroquois để chiến đấu cho Liên bang. Yêu cầu được tham chiến của ông bị thống đốc bác bỏ. Ông ta trả lời cộc lốc là ông không có chỗ cho người da đỏ trong lực lượng Tình nguyện New York. Parker bất cần và đi đến Washington để tình nguyện phục vụ như một kỹ sư cho Bộ Chiến tranh. Quân đội Liên bang đang rất cần những kỹ sư chuyên nghiệp, nhưng không cần kỹ sư da đỏ. “Nội Chiến là cuộc chiến của người da trắng,” Parker được trả lời. “Về nhà, và lo làm ruộng đi, và chúng tôi sẽ dàn xếp chuyện rắc rối của mình mà không cần người Da Đỏ trợ giúp.”

            Parker trở về khu dành riêng Tonawanda, nhưng ông cho bạn ông Ulysses Grant biết là mình đang gặp khó khăn gia nhập Quân đội Liên bang. Grant cần kỹ sư, và sau khi tranh đấu với Quân đội hàng tháng trời, cuối cùng ông xoay sở được lệnh gởi đến người bạn da đỏ của mình, để về làm với ông ở Vichsburg. Họ mở chiến dịch từ Vicksburg đến Richmond. Khi Tướng Lee đầu hàng ở Appomattox, Trung tá Ely Parker cũng có mặt ở đó, và vì văn hay chữ tốt Grant nhờ ông viết ra những điều khoản đầu hàng.

            Trong bốn năm sau khi kết thúc chiến tranh, Chuẩn tướng Parker phục vụ những sứ mạng khác nhau để giải quyết những đối xử phân biệt với các bộ tộc Da Đỏ. Vào năm 1867, sau trận đánh Đồn Phil Kearny, ông đi đến Sông Missouri để điều tra những nguyên nhân sự vùng dậy trong số những người Da Đỏ Đồng bằng phía bắc. Ông trở lại Washington với nhiều ý tưởng cải cách chính sách Da Đỏ của quốc gia, nhưng ông phải đợi mất một năm trước khi có thể bắt đầu vận dụng một cách hiệu quả. Khi Grant được bầu làm Tổng thống ông chọn Parker là Tổng ủy viên mới của Da Đỏ Sự vụ, tin rằng ông có thể giải quyết vấn đề da đỏ khôn khéo hơn bất kỳ người da trắng nào.

            Parker bước vào trách vụ mới này với lòng nhiệt huyết, nhưng nhận ra Phòng Da Đỏ Sư vụ thậm chí còn thối nát hơn ông nghĩ. Việc quét sạch bọn hành chính quan liêu trở nên khẩn thiết, và với sự ủng hộ của Grant ông thành lập một hệ thống bổ nhiệm những cán bộ được các bộ phận tôn giáo tiến cử. Vì có rất nhiều tín đồ Quaker tình nguyện phục vụ làm cán bộ quản lý cho người Da Đỏ, nên chương trình mới được biết dưới tên “chính sách Quaker” của Grant, hoặc “chính sách hòa bình,” cho người Da Đỏ.

            Thêm vào đó, một Ủy ban Da Đỏ gồm những công dân có tinh thần cộng đồng được thành lập để hoạt động như những người giám sát các hoạt động của Phòng Da Đỏ Sự vụ. Parker đề nghị ban này phải là ủy ban hổn hợp gồm người da trắng lẫn da đỏ, đến đây chính trị gia can thiệp. Vì không tìm được người da đỏ nào có tầm ảnh hưởng chính trị, nên không có người Da Đỏ nào được bổ nhiệm.

            Trong mùa đông 1869-1870, Tổng ủy viên Parker hài lòng vì tình hình hòa bình của biên giới phía tây. Vào mùa xuân 1870, tuy nhiên, ông trở nên bức xúc vì những báo cáo về các vụ nổi loạn đến từ các cục quản lý Da Đỏ trên Đồng bằng. Tin tức đầu tiên mà ông biết về nguyên nhân sự nổi loạn là báo cáo rất xốc của Trung úy Pease về vụ tàn sát người Piegan. Parker biết rằng trừ khi phải làm gì đó để trấn an người Da Đỏ về thiện chí của chính quyền, nếu không thì một cuộc chiến toàn diện sẽ bùng phát trong mùa hè.

7.png

Tổng ủy viên biết chắc về sự bất mãn của Mây Đỏ, về quyết tâm của thủ lĩnh Sioux bảo vệ xứ sở mà ông đã giành lại bằng hiệp ước, và về mong muốn có một trạm giao dịch gần xứ mình. Mặc dù Đuôi Đốm đã đến Đồn Randall trên Sông Missouri, người Brule đã là những phần tử nổi loạn nhất trong số người da đỏ sống trong khu dành riêng. Với số người đi theo đông đảo trong số các bộ tộc Đồng bằng, Mây Đỏ và Đuôi Đóm đối với các ủy viên hình như là chìa khóa mở đến cánh cửa hòa bình. Một tù trưởng Iroquois có thể thắng được sự tin cậy của các tù trưởng Sioux hay chăng? Donehogawa không chắc lắm, nhưng ông quyết định thử xem.

            Tổng ủy viên gởi một lời mời lễ phép đến Đuôi Đốm, nhưng là một người da đỏ khôn khéo ông không mời trực tiếp Mây Đỏ. Lời mời như thế chắc hẳn Mây Đỏ coi như một lệnh triệu tập và sẽ bị phớt lờ một cách kiêu kỳ. Qua một trung gian, Mây Đỏ được báo tin ông sẽ là thượng khách của Vị Cha Lớn ở Washington nếu ông muốn đến.

            Ý nghĩ về một chuyến đi như thế khiến Mây Đỏ khó xử; nó sẽ mang đến cơ hội nói chuyện với Cha Lớn và bảo ông rằng người Sioux không muốn khu dành riêng trên Missouri. Ông cũng có thể tự mình tìm hiểu xem Cha Nhỏ của người Da Đỏ, tức Tổng Ủy viên có tên Parker, có phải thực sự là một người da đỏ và có thể biết viết như một người da trắng hay không.

            Ngay khi ngài ủy viên nghe tin Mây Đỏ muốn đến Washington, ông phái Đại tá John E. Smith đến Đồn Laramie để hộ tống. Mây Đỏ chọn ra 15 chiến binh Oglala tháp tùng ông, và vào ngày 26/5 đoàn lên toa tàu đặc biệt của Liên hiệp Hỏa xa Thái bình dương và khởi hành chuyến đi đường dài về phía đông.

            Đó là một trải nghiệm phi thường, đi trên lưng Ngựa Sắt, kẻ thù cũ của họ. Omaha (một thành phố đặt theo tên Da Đỏ) đúng là tổ ong đông đúc người da trắng, và Chicago (một tên Da Đỏ khác) gieo khiếp đảm với tiếng ồn ào và sự náo nhiệt và các tòa nhà hình như vươn tới trời. Người da trắng đông kịt và nhiều nhặng và phất phơ như châu chấu, luôn đi lại vội vội vàng vàng nhưng hình như không đi đến nơi nào mình muốn đi tới.

            Sau năm ngày di chuyển xình xịt, Ngựa Sắt mang họ đến Washington. Trừ Mây Đỏ, các thành viên trong đoàn đều choáng ngợp và lóa mắt. Ủy viên Parker, thực sự là người Da Đỏ, đón tiếp họ nồng ấm: “Tôi rất hân hạnh được tiếp các ông ở đây hôm nay. Tôi biết các ông đã vượt đường xa để mong gặp Cha Lớn, Tổng thống của Hoa Kỳ. Tôi vui sướng vì chuyến đi bình yên, và các bạn đến đây an toàn. Tôi muốn được nghe Mây Đỏ nói nhân danh dân tộc mình.”

            “Tôi chỉ có một vài lời để nói,” Mây Đỏ đáp lời. “Khi tôi nghe là Cha Lớn cho phép tôi đến gặp ngài tôi lấy làm vui sướng, và đến ngay lập tức. Hãy gởi điện tín cho bộ tộc tôi, và báo tin tôi bình yên. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói hôm nay.”

            Khi Mây Đỏ và người Oglala đến Nhà Washington ở đại lộ Pensylvania, nơi có một đòan tùy tùng dành riêng cho họ, họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy Đuôi Đốm và đoàn Brule cũng đang đợi họ ở đó. Vì Đuôi Đốm đã nghe lời chính quyền đến sống ở cục quản lý Sông Missouri, nên Ủy viên Parker sợ rằng sẽ có bất hòa giữa hai nhóm Teton này. Tuy nhiên họ bắt tay nhau, và khi Đuôi Đốm cho Mây Đỏ hay là người Brule chán ghét khu dành riêng Dakota và muốn quay về vùng đất săn Nebraska của họ phía đông Đồn Laramie, người Oglala chấp nhận người Brule làm đồng minh trở lại.

            Ngày hôm sau, Donehogawa dẫn các vị khách Sioux đi một vòng tham quan thủ đô, thăm Thượng viện, đang họp, thăm Hải quân Công xưởng, và Công binh xưởng Arsenal. Trong chuyến đi này, người Sioux ăn mặc theo kiểu da trắng, và rõ ràng là phần đông đều cảm thấy khó chịu khi phải mặc những bộ đồ đen bó chặt và mang giày có nút. Khi Donehogawa bảo họ rằng Mathew Brady đã mời họ đến studio để chụp ảnh, Mây Đỏ nói rằng mình không thấy thích hợp. “Tôi không phải người da trắng, mà là người Sioux,” ông giải thích. “Tôi không ăn mặc như vầy để chụp ảnh.”

            Donehogawa hiểu ra ngay, và để khách hài lòng họ có thể mang áo da hưu, khoác chăn, và mang giày moc-ca-sin khi dự tiệc chiêu đãi tại Nhà Trắng với Tổng thống Grant.

            Tại buổi chiêu đãi tại Nhà Trắng người Sioux càng ấn tượng hơn với hàng trăm ngọn nến cháy sáng trên các đèn treo hơn là với Vị Cha Lớn và thành viên nội các, quan khách ngoại quốc, và dân biểu đến dự để ngắm cho rõ những chiến binh hoang dã này ngay giữa lòng thủ đô. Đuôi Đóm, thưởng thức thức ăn ngon, nhất là dâu tây và kem. “Đúng là người da trắng có nhiều thức ăn ngon hơn là thứ họ gởi cho người Da Đỏ,” ông nhận xét.

            Trong một vài ngày sau, Donehogawa bắt đầu thương thảo với Mây Đỏ và Đuôi Đốm. Để được một nền hòa bình vĩnh viễn, ông phải thấu hiểu chính xác họ muốn gì để ông có thể cân đối điều này với áp lực của các nhà chính trị đại diện những người da trắng muốn chiếm đất người Da Đỏ. Đó không phải là một tình thế đáng mong muốn cho một người da đỏ có tình cảm vướng vào. Ông sắp xếp một cuộc họp ở Bộ Nội vụ, mời đại diện các ban ngành trong chính phủ đến gặp các vị khách Sioux.

            Bộ trưởng bộ nôi vụ Jacob Cox mở đầu buổi họp với những lời hoa mỹ mà những người Da Đỏ này đã nghe quá nhiều lần. Chính phủ muốn cho người da đỏ vũ khí và quân nhu để săn bắn. Cox nói, nhưng không thể làm được việc này cho đến khi bảo đảm là họ hòa hiếu. “Gìn giữ hòa bình,” ông ta kết luận, “rồi thì chúng tôi sẽ làm điều đúng đắn cho các ông.” Ông ta không nói gì về khu dành riêng Sioux trên Missouri.

            Mây Đỏ trả lời bằng cách bắt tay Bộ trưởng Cox và các viên chức khác. “Nhìn tôi này,” ông nói. “Tôi được nuôi dưỡng trên đất này nơi có mặt trời mọc – giờ thì tôi đang đến từ nơi mặt trời lặn. Tiếng nói của ai đầu tiên vang lên trên đất này? Tiếng nói của những người da đỏ chỉ có cung và tên. Vị Cha Lớn nói rằng ông ta tốt và tử tế với chúng tôi. Tôi không nghĩ thế. Tôi tốt với dân da trắng của ông ấy. Từ lời nhắn gởi đến tôi tôi đã vượt đường dài đến nhà ông. Mặt tôi thì đỏ; mặt các ông thì trắng. Đấng Thần Linh đã dạy các ông đọc và viết, nhưng không dạy tôi. Tôi không được học. Tôi đến đây để nói với Cha Lớn những gì tôi không thích trong xứ sở tôi. Các ông ở gần Cha Lớn, và là những tù trưởng lớn. Những người mà Cha Lớn phái đến chúng tôi không có suy nghĩ – không có trái tim.

            “Tôi không muốn khu dành riêng cho tôi ở Missouri; đây là lần thứ tư tôi nói lên điều này.” Ông ngừng một lúc, và đưa tay về phía Đuôi Đốm và nhóm Brule. “Đó là những người đã đến từ nơi ấy. Con cái họ đang chết dần như những con cừu; xứ đó không thích hợp với họ. Tôi sinh ra ở ngã ba Sông Platte và tôi được cho biết đất đai thuộc về tôi từ bắc, nam, đông, và tây. . . Khi các ông gởi cho tôi hàng hóa, chúng bị ăn cắp suốt dọc đường , vì thế khi đến tay chúng tôi chỉ còn một ít. Họ chìa ra giấy cho chúng tôi ký, và đó là tất cả những gì tôi đánh đổi với đất đai của tôi. Tôi biết những người các ông gởi đến ngoài đó là bọn dối trá. Nhìn tôi đi. Tôi nghèo nàn và trần truồng. Tôi không muốn gây chiến với chính quyền của tôi. . . Tôi muốn các ông về nói lại với Cha Lớn tất cả những điều này.”

            Donehogawa trả lời: “Chúng tôi sẽ nói với Tổng thống những gì Mây Đỏ đã nói hôm nay. Tổng thống đã nhắn tôi ngài mong sẽ sớm nói chuyện với Mây Đỏ.”

            Mây Đỏ nhìn người da đỏ biết đọc và viết và giờ là Cha Nhỏ của người Da Đỏ. “Các ông có thể ban cho chúng tôi thuốc súng chúng tôi cần,” ông nói. “Chúng tôi chỉ là một nhúm nhỏ, còn các ông là một quốc gia lớn và hùng mạnh. Các ông tạo ra mọi thứ quân nhu; và tôi chỉ xin đủ cho dân tộc tôi săn bắn thú. Đấng Thần Linh đã tạo ra mọi thứ chúng tôi có trong xứ sở hoang dã. Tôi phải săn chúng; không như các ông, chỉ cần đi ra ngoài và tìm thấy những gì mình muốn. Tôi có mắt; tôi đã nhìn các ông người da trắng, nhìn những gì các ông làm, chăn nuôi gia súc, và vân vân. Tôi biết mình phải đi theo hướng đó trong vài năm tới; điều đó rất tốt. Tôi không có gì hơn để nói.”

            Những người Da Đỏ khác, Oglala và Brule, bao vây lấy ngài ủy viên, mọi người đều muốn nói chuyện với ông, người da đỏ đã trở thành Cha Nhỏ.

            Buổi họp với Tổng thống Grant mở ra vào ngày 9 tháng 6, trong văn phòng hành pháp của Nhà Trắng. Mây Đỏ lặp lại những gì ông đã nói ở Bộ Nội vụ, nhấn mạnh là dân ông không muốn sống trên Sông Missouri. Hiệp ước năm 1868, ông nói thêm, cho họ quyền giao dịch tại Đồn Laramie và có một cơ quan đại diện ở Platte. Grant tránh trả lời trực tiếp, nhưng ông hứa sẽ xem xét để trả lại công lý cho người Sioux. Tổng thống biết rằng hiệp ước do Quốc hội phê chuẩn không đề cập đến Đồn Laramie hoặc Platte; nó cụ thể phát biểu rằng cục quản lý Sioux là “ở một nơi ở Missouri.” Ông nói riêng với Bộ trưởng Cox và Ủy viên Parker hãy triệu tập người Da Đỏ vào ngày hôm sau để giải thích với họ những điều khoản trong hiệp ước.

            Donehogawa trải qua một đêm mất ngủ; ông biết người Sioux đã bị dối lừa. Khi hiệp ước in ra được đọc và giải thích cho họ, họ bất mãn những gì mình nghe được. Sáng hôm sau tại Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Cox duyệt qua hiệp ước từng điểm một, trong khi Mây Đỏ chăm chú lắng nghe qua phiên dịch. Khi nghe xong ông tuyên bố chắc nịch: “Đây là lần đầu tiên tôi nghe một hiệp ước như thế. Tôi chưa hề nghe về nó và không có ý muốn nghe theo nó.”

            Bộ trưởng Cox trả lời rằng ông không tin bất kỳ ủy viên hòa bình nào ở Laramie lại nói điều dối trá về hiệp ước.

            “Tôi không nói các ủy viên dối trá,” Mây Đỏ vặn lại, “nhưng các thông dịch viên đã sai. Khi binh lính rời đồn, tôi đã ký một hiệp ước hòa bình, nhưng không phải là hiệp ước này. Chúng tôi muốn giải quyết cho xong.” Ông đứng dậy và chuẩn bị rời phòng họp. Cox đưa cho ông một bản sao của hiệp ước, đề nghị là ông nhờ người phiên dịch của mình giải thích cho mình và rồi họ sẽ bàn thảo việc này trong phiên họp sau. “Tôi sẽ không lấy tờ giấy này,” Mây Đỏ trả lời. “tất cả chỉ là dối trá.”

            Đêm đó trong khách sạn của họ người Sioux bàn về việc đi về ngày sau. Một số nói họ xấu hỗ phải về nhà để nói với dân mình họ đã bị dối trá và lừa gạt khi ký hiệp ước 1868. Tốt hơn là chết ở nơi đây, ngay Washington. Chỉ nhờ sự khuyên lơn của Donehogawa, Cha Nhỏ, thuyết phục họ trở lại bàn họp. Ông hứa giúp đỡ họ giải thích hiệp ước theo một cách tốt đẹp hơn. Ông đã gặp Tổng thống Grant và thuyết phục ông là có một cách giải quyết cho khó khăn này.

            Tại Bộ Nội vụ sáng hôm sau Donehogawa tiếp đón người Sioux và nói đơn giản là Bộ trưởng Cox sẽ giải thích ý nghĩa của hiệp ước. Cox nói ngắn gọn. Ông lấy làm tiếc là Mây Đỏ và dân ông đã hiểu lầm. Mặc dù xứ Sông Powder ở bên ngoài khu dành riêng vĩnh viễn, nhưng nó ở bên trong phần đất dành riêng cho khu săn bắn. Nếu người Sioux nào thích sống trên vùng đất săn thay vì vào khu dành riêng, họ có thể làm như thế. Họ cũng không phải đi đến khu dành riêng để giao dịch và lãnh hàng hóa của mình.

            Và như thế lần thứ hai trong hai năm, Mây Đỏ thắng lợi trước chính quyền Hoa Kỳ, nhưng lần này ông nhận được sự giúp đỡ của một người Iroquois. Ông ý thức được điều này nên tiến đến bắt tay vị ủy viên. “Hôm qua, khi tôi nhìn hiệp ước và nhận ra mọi điều sai lầm trong đó,” ông nói, “tôi muốn điên, và tôi nghĩ chắc ông cũng thế. . . Giờ tôi vui sướng. . . Chúng tôi có 23 quốc gia và có một nhà hội đồng, cũng giống như ông có. Chúng tôi đã họp hội đồng trước khi đến đây, và những yêu cầu tôi gởi đến ông là từ những tù trưởng tôi để lại sau. Tất cả chúng ta đều giống nhau.”

            Cuộc họp kết thúc trong không khí thân tình, và Mây Đỏ nhờ Donehogawa nói với Cha Lớn ông không còn có vấn đề gì với ông ta nữa; ông sẵn sàng lên Ngựa Sắt để trở về nhà.

            Bộ trưởng Cox, giờ nụ cười luôn nở trên môi, thông báo với Mây Đỏ là chính quyền đã lên chương trình cho người Sioux tham quan New York trên đường về nhà.

            “Tôi không muốn đi theo cách đó,” Mây Đỏ trả lời. “Tôi muốn đi đường thẳng. Tôi đã thấy đủ thành phố rồi. . . Tôi không có công việc ở New York. Tôi muốn về theo con đường đã đi. Người da trắng ở đâu cũng vậy. Tôi nhìn thấy họ mỗi ngày.”

            Sau đó, khi họ bảo ông rằng ông được mời đọc một bài diễn văn gởi đến người dân New York, Mây Đỏ thay đổi ý định. Ông đến New York, và sửng sốt trước sự tung hô vang dội của thính giả ở Viện Cooper. Lần đầu tiên ông có cơ hội nói với dân chúng thay vì với viên chức chính quyền.

            “Chúng tôi muốn giữ hòa bình,” ông bảo họ. “Các bạn sẽ giúp chúng tôi chứ? Vào năm 1868 người ta đến và mang theo giấy tờ. Chúng tôi không biết đọc, và họ không nói đúng những gì được viết trong đó. Chúng tôi tưởng là theo hiệp ước đồn phải dẹp đi, và chúng tôi phải dừng chiến đấu. Nhưng họ muốn đẩy chúng tôi và những nhà buôn đến Missouri. Chúng tôi không muốn đi đến Missouri, mà muốn các nhà buôn đến nơi chúng tôi ở. Khi chúng tôi đến Washington Cha Lớn giải thích hiệp ước với tôi, và cho tôi thấy là các phiên dịch viên đã lừa gạt chúng tôi. Tất cả điều tôi muốn là đúng đắn và công bằng. Tôi đã cố gắng để có được từ Cha Lớn những gì đúng đắn và công bằng. Tôi đã không hoàn toàn thành công.”

            Mây Đỏ thật ra là không hoàn toàn thành công trong việc nhận được những gì ông tin là đúng đắn và công bằng. Mặc dù ông trở lại Đồn Laramie với cảm giác dễ chịu là có được nhiều bạn da trắng ở miền Đông, ông thấy nhiều người da trắng đang đợi mình ở miền Tây. Các kẻ tìm đất, các chủ trang trại, người vận tải, dân định cư, và những người chống đối với việc bố trí cục quản lý Sioux bất cứ ở đâu gần Thung lũng Platte giàu có, và họ gây ảnh hưởng của mình đến tận Washington.

            Qua mùa hè và mùa thu năm 1870, Mây Đỏ và người phụ tá Người-Sợ-Ngựa-Của-Mình làm việc cật lực cho hòa bình. Theo lời yêu cầu của Donehogawa, họ tập họp hàng chục tù trưởng hùng mạnh và mời họ vào Đồn Laramie mở hội đồng để chọn ra địa điểm của cục quản lý Sioux. Họ thuyết phục Dao Cùn và Sói Nhỏ của Bắc Cheyenne; Gấu Dư Dả của Bắc Arapaho; Cỏ Trưởng của Sioux Chân Đen; và Bàn Chân Lớn của Minnecojou, những người luôn ngờ vực dân da trắng, hãy tham gia cùng họ. Bò Ngồi của Hunkpapa không dính líu gì đến bất kỳ loại hiệp ước nào hoặc khu dành riêng nào. “Người da trắng đã bỏ bùa mê lên mắt của Mây Đỏ,” ông nói, “để làm ông nhìn thấy mỗi thứ và mọi thứ mà họ muốn.”

            Bò Ngồi coi thường tính ngoan cường khôn ngoan của Mây Đỏ. Khi thủ lĩnh Oglala này khám phá là tại hội đồng các viên chức chính quyền muốn đặt cục quản lý Sioux tại Raw Hide Buttes cách Sông Platte 40 dặm về phía bắc, ông không đồng ý. “Khi các ông trở lại Cha Lớn,” ông nói với các viên chức, “hãy bảo với ông ấy là Mây Đỏ không muốn đến Raw Hides Buttes.” Sau đó ông đi đến xứ Sông Powder để trải qua mùa đông, tin tưởng là Donehogawa sẽ giải quyết được vấn đề ở Washington.

            Tuy nhiên, ảnh hưởng của Ủy viên Ely Parker đang suy giảm. Ở Washington, kẻ thù da trắng đang bao vây ông.

            Mặc dù quyết tâm ngoan cường của Mây Đỏ giành được cục quản lý cho người Sioux cách Laramie 32 dặm về phía đông trên Sông Platte, họ chỉ được phép sử dụng nó không tới hai năm. Trong thời gian đó Donehogawa đã đi khỏi Washington. Vào năm 1873 cục Sioux được dời ra khỏi lộ trình của cơn lũ cuồn cuộn người di dân da trắng đến thượng nguồn Sông White ở tây bắc Nebraska. Đuôi Đốm và dân Brule của ông cũng được phép dời từ Dakota đến cùng địa điểm. Trong vòng chừng một năm, Trại Robinson được thành lập gần đó, và giới quân sự sẽ trấn áp các cục quản lý Mây Đỏ và Đuôi Đốm trong những năm biến động phía trước.

            Một vài tuần sau chuyến viếng thăm của Mây Đỏ đến Washington, Donehogawa bắt đầu gặp những rắc rối lớn. Những cải cách của ông tạo ra những kẻ thù trong số những ông trùm chính trị đã từ lâu sử dụng Văn phòng Da Đỏ như một đường dây trục lợi trong hệ thống đục khoét. Sự ngăn trở của ông về công cuộc viễn chinh khai mỏ ở Sừng Lớn, một nhóm các tên biên địa da trắng muốn xâm nhập vùng đất mà hiệp ước giao cho người Sioux, cũng tạo ra những kẻ thù ở miền Tây.

            (Hội Liên hiệp Sừng Lớn được thành lập ở Cheyenne, và các thành viên tin vào thuyết Số Mệnh An Bày: “Những thung lũng đẹp đẽ và giàu có vùng Wyoming được số mệnh giao cho chủng tộc Anglo-Saxon chiếm hữu và nuôi dưỡng. Của cải mà qua bao nhiêu thời đại không kể xiết đã nằm giấu dưới những ngọn núi phủ đầy tuyết của chúng ta đã được Thượng đế đặt ở đấy để ban thưởng cho những tinh thần dũng cảm mà số phận của họ là sáng tạo ra sự tiến bộ và thành trì của văn minh. Người Da Đỏ phải đứng qua một bên nếu không muốn bị đè bẹp bởi làn sóng di dân ào ạt và dâng cao. Số mệnh của các thổ dân được viết bằng những từ không thể lầm lẫn được. Chính Đấng Phán Xét bí ẩn đã quyết sự sụp đổ của La Mã cũng đã tuyên cáo sự diệt vong đối với người da đỏ Mỹ châu.”)

            Vào mùa hè 1870, một nhóm nhỏ kẻ thù của Donehogawa ở Quốc hội ra sức gây khó dễ cho ông bằng cách trì hoãn việc cấp ngân sách dùng để mua các hàng trợ cấp cho các khu dành riêng Da Đỏ. Khoảng giữa mùa hè các điện tín tới tấp từ các cán bộ cục gởi về văn phòng ông yêu cầu gởi gấp lương thực để người Da Đỏ đang đói không buộc phải thoát ra ngoài tự mình tìm thú săn. Một vài cán bộ dự đoán bạo lực xảy ra nếu lương thực không đến kịp lúc.

            Tổng ủy viên đáp ứng bằng cách mua đồ tiếp tế bằng tín dụng mà không hoãn lại việc gọi thầu. Rồi ông sắp xếp chuyến hàng chở nhanh với giá cao hơn giá tiêu chuẩn. Chỉ có cách đó khu dành diêng mới nhận được sớm lương thực trước khi chết đói. Tuy nhiên, Donehogawa đã phá bỏ một vài qui định nhỏ nhặt, và như thế tạo cho kẻ thù cái cớ mà họ đang chờ đợi.

            Bất ngờ, đòn tấn công đầu tiên đến từ William Welsh, một nhà buôn và có thời gian là cha sứ của người Da Đỏ. Welsh đã từng là một trong những thành viên đầu tiên của Ban Giám sát các Ủy viên, nhưng từ chức ngày sau khi nhận được sự bổ nhiệm. Lý do từ chức được làm rõ vào tháng 12, 1870, khi y viết một bức thư nhờ đăng trong vài tờ báo Washington. Welsh tố cáo Tổng ủy viên tội “gian lận và lãng phí trong việc điều hành sự vụ Da Đỏ,” và đổ lỗi cho Tổng thống đã dung dưỡng một người “vừa mới bước ra từ tình trạng man rợ.” Rõ ràng Welsh tin là người Da Đỏ sẽ dấn bước trên chiến lộ vì họ không phải tín đồ Cơ đốc, và do đó theo y cách giải quyết bài toán Da Đỏ là cải tất cả bọn họ sang đạo Cơ đốc. Khi ông phát hiện rằng Ely Parker (Donehogawa) chấp nhận các tín ngưỡng nguyên thủy của người Da Đỏ, ông căm ghét dữ dội vị ủy viên “dị giáo” và xin từ chức.

            Ngay sau khi thư tố giác của Welsh xuất hiện trên mặt báo, các kẻ thù chính trị của Donehogawa chụp lấy cơ hội bằng vàng này để loại ông ra khỏi chức vụ. Trong vòng một tuần Ủy ban về Quyền Chiếm hữu của Hạ viện cho tiến hành điều tra làm rõ những tố cáo chống lại Ủy viên Da Đỏ Sự Vụ, và triệu tập ông đến tra vấn nhiều ngày liền. Welsh đưa ra danh sách gồm 13 lời buộc tội về sự vi phạm, mà Donehogawa phải chứng tỏ là không thành lập. Cuối cuộc thẩm vấn, tuy nhiên, vị ủy viên được miễn tất cả lời cáo buộc và được ca tụng vì đã thuyết phục được người Da Đỏ tin “là chính quyền rất nghiêm túc và có thể tin cậy được,” và do đó cứu cho Bộ Tài chính hàng triệu đô la vì tránh được một cuộc chiến khác với người Da Đỏ Đồng bằng.           

            Chỉ có những bạn thân của Donehogawa mới hiểu được việc này đã gây thống khổ cho ông đến mức nào. Ông coi sự công kích của Welsh là một sự phản trắc, nhất là việc ám chỉ một người Da Đỏ “vừa mới bước ra từ tình trạng man rợ” như ông không có tư cách để làm Ủy viên Da Đỏ Sự vụ.

            Trong vài tháng ông suy nghĩ bước tiếp theo mình phải làm gì. Trên hết ông muốn giúp đỡ chủng tộc mình được tiến bộ, nhưng nếu ngồi lại trong chức vụ với các kẻ thù chính trị luôn rình rập đánh lén, ông sợ có thể làm hại dân mình nhiều hơn là làm lợi. Ông cũng tự hỏi nếu tiếp tục ở lại chức vụ liệu ông có thể làm hại đến sự nghiệp chính trị của người bạn già Tổng thống Grant hay không. 

            Vào cuối mùa hè năm 1871 ông nộp đơn xin từ chức. Ông bảo riêng với các bạn là ông từ nhiệm vì ông đã trở nên “một hòn đá cản đường.” Công khai ông tuyên bố mình muốn làm doanh nghiệp để làm lợi nhiều hơn cho gia đình. Ông đến New York, tạo ra của cải trong Thời đại Hoàng kim của ngành tài chính, và sống trọn đời với tên Donehogawa, Người Giữ Cánh Cửa Phía Tây của Ngôi Nhà Dài của bộ tộc Iroquois.  

 

9 . Cochise và Du Kích Apache

1871- Ngày 28 tháng 1, Paris đầu hàng Quân đội Đức. Ngày 18 tháng 3, Cộng sản nổi dậy ở Paris. Ngày 10 tháng 5, hiệp ước Pháp-Đức ký kết; Pháp nhượng vùng Alsace-Lorraine cho Đức. Ngày 28 tháng 5, cuộc nổi dậy ở Paris bị dẹp tắt. Ngày 8 tháng 10, đại hỏa hoạn ở Chicago. Ngày 12 tháng 10, Tổng thống Grant ban bố cấm hội Ku Klux Klan hoạt đông. Ngày 10 tháng 11, ở Phi châu, Henry M. Stanley tìm được Dr. Livingstone. Các họa sĩ phái Ấn tượng triển lãm lần đầu ở Paris. Descent of Man [Nguồn Gốc Con Người] của Darwin được xuất bản.

1872- Ngày 1 tháng 3, Công viên Quốc gia Yellowstone được dành riêng cho nhân dân Hoa Kỳ. Jame Fisk và Jay Gould bị truy tố vì đầu cơ vàng. Tháng 6, Quốc hội Hoa Kỳ bãi bỏ thuế lợi tức liên bang. Tháng 10, các nhà lãnh đạo đảng Cộng hòa bị tố cáo vì đã nhận cỗ phần của Tín dụng Mobilier để trao đổi ảnh hưởng chính trị làm lợi cho Liên hiệp Hỏa xaThái bình dương. Ngày 5 tháng 11, ở Rochester, N. Y., Susan B. Anthony và các phụ nữ đấu tranh quyền bầu cử của phụ nữ bị bắt. Ngày 6 tháng 11, Tổng thống được bầu lại.

Khi tôi còn trẻ tôi đi lại khắp xứ này, đông sang tây, và không thấy ai khác ngoài người Apache. Sau nhiều mùa hè tôi lại đi và thấy một chủng tộc khác đã đến đây chiếm đất. Thế là sao? Tại sao người Apache phải ngồi chờ chết – phải mang mạng sống của mình trên móng tay? Họ dong ruổi qua đồi núi và đồng bằng và muốn trời sập cho rồi. Người Apache từng một thời là một quốc gia lớn; họ giờ chỉ còn ít ỏi, và vì lẽ này họ muốn chết và bởi thế mang mạng sống mình trên móng tay.

 -COCHISE CỦA BỘ TỘC CHIRICAHUA APACHE

 

Tôi không muốn chạy lang thang trong vùng núi nữa; tôi muốn ký một hiệp ước lớn. . . Tôi sẽ giữ lời cho đến khi đá núi tan chảy. . . Thần linh tạo ra người da trắng và Thần linh tạo ra người Apache và người Apache có quyền trên  xứ sở này như người da trắng. Tôi muốn ký một hiệp ước lâu dài, để cả hai có thể đi lại khắp xứ sở mà không gặp rắc rối.

-DELSHAY CỦA BỘ TỘC TONTO APACHE

 

Nếu không có vụ tàn sát đó, sẽ có nhiều người hơn có mặt ở đây giờ này; nhưng sau vụ tàn sát đó ai có thể đứng vững? Khi tôi tạo dựng hòa bình với Trung úy Whitman trái tim tôi rất lớn và hạnh phúc. Người dân Tucson và San Xavier chắc hẳn là điên rồ. Họ hành động như thể không có cái đầu hoặc trái tim. . . họ chắc hẳn thèm khát máu chúng tôi. . . Những người dân Tucson viết vào những tờ giấy và kể câu chuyện của ho. Người Apache không có ai biết viết để kể lại câu chuyện của mình.

-ESKIMINZIN CỦA BỘ TỘC ARAVAIPA APACHE

 

SAU CHUYẾN VIẾNG THĂM của Mây Đỏ vào mùa hè 1871, Ủy viên Ely Parker và các viên chức chính quyền khác bàn bạc về việc có nên mời tù trưởng vĩ đại của Apache, Cochise, đến thăm Washington hay không. Mặc dù không có chiến dịch quân sự nào trong xứ sở Apache từ khi Tướng Sao Carleton đã ra đi sau Nội Chiến, vẫn thường xảy ra những chạm trán giữa các băng da đỏ lang thang và người định cư da trắng, người khai mỏ, và người chở hàng lúc nào cũng muốn xâm nhập quê hương họ. Chính quyền đã dành bốn khu dành riêng ở New Mexico và Arizona cho những băng nhóm khác nhau, nhưng ít người Apache nào muốn đến đó sống. Ủy viên Parker hi vọng là Cochise có thể giúp mang đến một nền hòa bình lâu dài trong xứ Apache, và ông nhờ các đại diện của văn phòng ông trong vùng đó để mời tù trưởng đến Washington.

            Chỉ đến mùa xuân 1871 mới tìm gặp Cochise, và khi cuối cùng liên lạc được nối lại, vị tù trưởng từ chối lời mời của chính quyền. Ông chỉ đơn giản nói ông không thể tin tưởng đại diện quân sự hay dân sự nào của Hoa Kỳ nữa.

            Cochise là người của bộ tộc Chiricahua Apache. Ông cao hơn phần đông người dân ông, vai rộng, ngực nở, gương mặt thông minh, với mắt đen, mũi to thẳng, trán rất cao, mái tóc đen dày. Người da trắng từng gặp ông cho rằng ông là người có cung cách hòa nhã, rất tề chỉnh và tươm tất trong hình dáng bên ngoài.

            Khi đầu tiên người Mỹ đến Arizona, Cochise đã chào đón họ. Vào năm 1856, trong một buổi họp với Thiếu tá Enoch Steen của Đoàn Kỵ binh Thứ Nhất, Cochise hứa để người Mỹ băng qua xứ Chiricahua trên tuyến đường phía nam đến California. Ông không chống đối khi Bưu chính Butterfield Overland thiết lập một trạm thư ở Chốt Apache; đúng ra, người Chicarahua sống gần đó đốn gỗ cho trạm để đổi lấy lương thực.

            Rồi, một ngày vào tháng 2, 1861, Cochise nhận được một thông điệp từ Chốt Apache yêu cầu ông đến trạm để dự họp với một sĩ quan quân đội. Tưởng đây chỉ là buổi họp thông lệ, Cochise mang theo 5 thành viên trong gia đình – em ông, hai đứa cháu, một phụ nữ, và một đứa nhỏ. Viên sĩ quan muốn gặp ông là Trung úy George N. Bascom của Bộ binh Thứ Bảy, và y đã phái một đại đội binh sĩ để đòi lại số gia súc và một bé trai lai đã bị trộm từ trang trại của John Ward. Ward đã tố cáo người Chicarahua của Cochise đã bắt đi gia súc và thằng bé.

            Ngay khi Cochise và người thân bước vào lều của Bascom, 12 lính bao vây họ, và viên trung úy hống hách ra lệnh người Chiricahua trả lại gia súc và thằng bé.

            Cochise đã nghe tin về thằng bé bị bắt. Một băng Coyotero từ Gila đã đột kích trang trại Ward, ông nói, và chắc hẳn đang ở Núi Đen. Cochise cho rằng mình có thể dàn xếp một vụ chuộc. Trả lời của Bascom vẫn là lời buộc tội người Chricahua đang giữ thằng bé và gia súc. Lúc đầu Cochise tưởng viên sĩ quan đang đùa cợt. Tuy nhiên Bascom là người nóng tính, và khi Cochise xem thường lời kết tội, trung úy ra lệnh bắt giữ Cochise và người thân, tuyên bố rằng y sẽ giữ họ làm con tin cho đến khi nộp lại gia súc và thằng bé.

            Ngay khi bọn lính xông tới bắt giữ, Cochise rạch một lỗ trên vách lều và phóng ra ngoài trước một loạt đạn bắn vói theo. Mặc dù bị thương, nhưng ông chạy thoát được, người thân của ông bị giữ làm con tin. Để đổi tự do cho họ, Cochise và các chiến binh của mình bắt ba người đàn ông da trắng trên Đường Mòn Butterfield, và nhắn lời trao đổi tù binh với viên trung úy. Bascom khước từ trừ khi có cả gia súc và thằng bé bị bắt.

            Nổi giận vì Bascom không tin dân mình vô tội, Cochise phong tỏa Chốt Apache và bao vây đại đội bộ binh ở trạm xe. Sau khi cho Bascom thêm một cơ hội để trao đổi, Cochise hành quyết các tù binh của mình, cắt xẻo chúng bằng giáo, một hành vi tàn bạo mà người Apache học được từ bọn xâm chiếm Tây Ban Nha. Một vài ngày sau Trung úy Bascom trả thù bằng cách treo cổ ba thân nhân đàn ông của Cochise.

            Chính tại thời điểm này trong lịch sử mà bộ tộc Chiricahua đã chuyển mối căm thù bọn Tây Ban Nha của họ lên người Mỹ. Trong một phần tư thế kỷ họ và những người Apache khác sẽ tiến hành một cuộc chiến  du kích tốn nhiều sinh mạng và của cải hơn bất kỳ cuộc chiến Da Đỏ nào.

            Vào lúc này (1861) thủ lĩnh chiến tranh lớn của Apache là Mangas Colorado, tức Tay Áo Đỏ, một người Mimbreno thậm chí cao hơn cả Cochise sừng sững. Ông có dưới tay nhiều băng nhóm ở đông nam Arizona và tây nam New Mexico. Cochise lấy con gái của Mangas, và sau vụ Bascom hai người đàn ông hợp lực đánh đuổi người Mỹ ra khỏi quê hương của họ. Họ đột kích các đoàn xe ngựa, chận các xe khách và xe đưa thư, đuổi hàng trăm thợ mỏ da trắng ra khỏi khu vực của họ từ Núi Chiricahua cho đến Mongollon. Sau khi lính Áo xanh và Áo xám bắt đầu cuộc Nội Chiến, Mangas và Cochise theo phe Áo xám giao chiến cho đến khi họ rút về đông.

8.png

Và rồi, vào năm 1862, Xếp Sao Carleton hành quân từ California đến với hàng ngàn lính Áo xanh, sử dụng đường mòn cũ chạy qua trái tim của xứ Chiricahua. Ban đầu họ đến từng đại đội nhỏ, luôn dừng lại lấy nước tại một con suối gần trạm xe bỏ hoang ở Chốt Apache. Vào Mùa Trăng của Ngựa, 15 tháng 7, Mangas và Cochise dàn 500 chiến binh dọc theo mõm núi đá nhìn qua chốt và con suối. Ba đại đội lính Áo xanh do một toán kỵ binh và hai cỗ xe hộ tống đang tiến từ hướng tây. Khi đạo quân 300 người dàn ra dọc theo chốt, người Apache tấn công bất ngờ với đạn và tên. Sau khi bắn trả trong vài phút, binh lính vội vàng rút lui khỏi chốt.

            Người Apache không đuổi theo. Họ biết bọn lính sẽ trở lại. Sau khi dàn lại đội hình, bộ binh lại tiến vào chốt lần nữa, lần này với hai cỗ xe lăn bánh sát phía sau họ. Binh lính tiến đến con suối trong vòng vài trăm mét, nhưng không có chỗ ẩn núp ở đó, và người Apache thì có thể ấn núp sau những ống nước chạy qua lại bên trên. Trong một vài phút lính Áo xanh giữ vững vị trí. Rồi cỗ xe tiến đến, và thình lình những đốm lửa lóe sáng phun ra từ cỗ xe. Những đám khói đen bốc lên, tiếng nổ như sấm vang vọng trên vách đá, và những mảnh kim loại nóng chảy bay tứ tán trong không khí. Người Apache đã nghe nói về những súng thần công nhỏ của bọn Tây Ban Nha, nhưng cỗ xe sấm sét to lớn này gieo sự khiếp đảm chết chóc. Giờ thì các chiến binh phải rút lui, và lính Áo xanh tiến lên chiếm được dòng suối nước ngọt.

            Mangas và Cochise vẫn chưa sẵn sàng bỏ cuộc. Nếu họ có thể lôi kéo nhóm binh sĩ ra khỏi cỗ pháo, họ có thể có cơ hội đánh bại họ. Sáng hôm sau họ trông thấy một trung đội kỵ binh cưỡi ngựa trở về hướng tây, chắc hẳn muốn cảnh báo những binh lính khác đi đến từ hướng ấy. Mangas dẫn theo 50 chiến binh và phóng xuống chặn cắt. Trong cuộc chiến đấu sau đó, Mangas bị trúng thương ở ngực, rơi xuống đất bất tỉnh. Bị mất chủ tướng, các chiến binh ngừng đánh và mang thân thể đầm đìa máu của Mangas trở lại đồi cao.

            Cochise quyết tâm cứu lấy mạng sống của Mangas. Thay vì tin vào các thầy mo với những bùa chú và lời khấn vái, ông đặt cha vợ trên xe kéo, và với một đoàn hộ tống cưỡi ngựa gấp rút về hướng nam hơn 100 dặm vào Mexico đến làng Janos. Một nhà giải phẫu người Mễ có tiếng tăm sống ở đó, và khi ông ta được đưa đến trước thân thể bất động của Mangas Colorado ông nhận được một tối hậu thư ngắn gọn: Chữa lành ông ta. Nếu ông ta chết, thì cả làng sẽ chết theo.

            Vài tháng sau đó Mangas trở lại vùng núi Mimbres, đội một mũ rơm rộng vành, khăn vắt qua vai, chân bó xà cạp bằng da, và một giày san-đan Trung quốc mà ông kiếm được ở Mexico. Ông gầy hơn và mặt nhăn nheo hơn trước kia, nhưng ông còn có thể cưỡi ngựa nhanh hơn và bắn tốt hơn các chiến binh nhỏ hơn ông nửa thế kỷ. Khi ông nghỉ ngơi trong vùng núi ông nghe tin Xếp Sao Carleton đã gom người Mescalero và giam họ ở Bosque Redondo. Ông biết rằng bọn lính Áo xanh đang săn tìm người Apache khắp nơi và tàn sát họ bằng cỗ pháo như đã giết 63 chiến binh của ông ở Chốt Apache.

            Trong Thời gian Kiến bay (Tháng giêng, 1863) Mangas hạ trại trên Sông Mimbres. Thời gian gần đây ông luôn nghĩ cách tìm kiếm hòa bình cho tất cả người Apache trước khi mất. Ông nhớ hiệp ước Sante Fe mà mình đã ký vào năm 1852. Trong năm đó người Apache và dân tộc Hoa Kỳ đã thỏa thuận một nền hòa bình và thân hữu lâu dài, nhưng giờ đây chỉ có hận thù và cái chết. Ông muốn thấy dân tộc mình được sống hòa bình trở lại. Ông biết rằng thậm chí những chiến binh trẻ tuổi nhanh nhẹn và gan dạ nhất như Victorio và Geronimo cũng không thể đánh bại sức mạnh vô địch của Hoa Kỳ. Có lẽ đã đến lúc cần một hiệp ước khác với người Mỹ và lính Áo xanh, đã ngày càng đông đúc như kiến bay.

            Một hôm một người Mễ tiến gần đến trại Mangas cầm lá cờ hưu chiến. Y nói rằng một số binh lính đang ở gần đó và muốn nói chuyện hòa bình. Đối với Mangas việc họ đến giống như tiền định. Ông thì muốn tham vấn với một xếp sao hơn, nhưng cũng đồng ý đi gặp vị đại úy nhỏ, Edmond Shirland, trong đội quân Tình nguyện California. Các chiến binh Mimbreno cảnh báo ông không nên đi. Bộ ông không nhớ việc gì xảy ra cho Cochise khi anh đi gặp các binh lính ở Chốt Apache hay sao? Mangas nhún vai. Sau hết, ông chỉ là một lão già. Bọn binh lính có thể làm hại một ông già vì cái gì khi ông ấy chỉ muốn nói chuyện hòa bình? Các chiến binh khăng khăng cử một toán bảo vệ tháp tùng; ông chọn ra 15 người, và họ lên đường đi đến trại lính.

            Khi họ đến trong tầm nhìn của trại, Mangas và toán của ông đợi đại úy xuất hiện. Một thợ mỏ nói tiếng Tây Ban Nha bước ra để hộ tống Mangas vào trại, nhưng các cận vệ Apache không muốn để tù trưởng mình đi cho đến khi Đại úy Shirland dựng cờ hưu chiến. Ngay khi lá cờ trắng được dựng lên, Mangas ra lệnh cho các chiến binh trở lại, ông sẽ đi vào một mình. Ông đã được hưu chiến bảo vệ, và sẽ được an toàn. Mangas cưỡi ngựa về phía trại lính, nhưng các chiến binh chỉ vừa khuất mắt là một tá binh lính nhảy xổ ra từ một bụi cây phía sau, với súng trường đã lên cò và sẵn sàng nhả đạn. Ông bị bắt làm tù binh.

            “Chúng tôi vội vàng áp tải Mangas về Đồn McLean,” Daniel Conner, một thợ mỏ đi theo Lính Tình Nguyện California kể lại, “và đến đúng lúc để gặp Tướng West vừa tới. Vị tướng bước tới chỗ giam để gặp ông, và trông như người tí hon khi đứng bên cạnh tù trưởng già. Ông trông xác xơ và khước từ nói chuyện và rõ ràng cảm thấy mình đã sai lầm khi tin cậy người mặt mét trong tình huống này.”

            Hai tên lính được giao nhiệm vụ canh giữ Mangas, và khi đêm đến, trời trở nên rét cắt da, họ đốt lửa sưởi ấm để khỏi bị chết cóng. Một lính Tình nguyện California, Binh nhì Clark Stocking, sau đó báo cáo đã nghe Tướng Joseph West ra lệnh cho các lính gác: “Ta muốn y chết hoặc sống sáng ngày mai, các anh có hiểu không, ta muốn y chết.”

            Vì có sự hiện diện của người Apache của Mangas trong vùng, thêm lính canh được bổ sung để tuần tra quanh trại sau khi đêm xuống. Daniel Conner được bố trí vào lực lượng tuần tra, và khi anh qua lại ngay trước giữa đêm anh nhận thấy binh sĩ canh gác Mangas đang làm phiền người tù trưởng già khiến ông cứ co rút chân lên không yên trong chăn. Tò mò muốn biết họ đang làm gì, Conner đứng nép mình bên ngoài và quan sát. Hóa ra họ hơ nóng lưỡi lê trong lửa và chọc vào bàn chân ông hết lần này đến lần khác. Không chịu nổi, ông đứng dậy và “bắt đầu trách móc gay gắt các tên lính canh bằng tiếng Tây Ban Nha là mình không phải trẻ con để chơi trò ấy. Nhưng ông chửi mắng chưa hết câu thì hai tên lính gác đã dùng cán súng đập ông và bắn ông, gần như cùng một lúc.”

            Khi Mangas ngã ngữa, các tên lính gác xả hết đạn súng lục vào mình ông. Một tên lính lấy da đầu, tên khác cắt thủ cấp và nấu cho tan hết thịt để y có thể bán đầu lâu cho nhà não tướng học ở miền Đông. Họ quăng thi thể không đầu xuống mương. Báo cáo quân sự chính thức cho rằng Mangas bị giết trong khi tìm cách trốn thoát. 

            Sau đó, theo lời Daniel Conner, “người Da Đỏ nổi lên đánh phá . . . họ hình như mong muốn trả thù cho cái chết của ông với tất cả sức mạnh của mình.”

            Từ xứ Chiricahua ở Arizona đến Núi Mimbres ở New Mexico, Cochise và 300 chiến binh bắt đầu mở chiến dịch đánh đuổi người da trắng phản trắc. Victorio tập họp một băng nhóm khác, bao gồm Mescalero đã trốn thoát khỏi khu dành riêng Bosque Redonndo, và họ đột kích các khu định cư và đường mòn dọc theo Rio Grande từ Jornado del Muerto đến El Paso. Trong hai năm những đội quân nhỏ Apache này gây hỗn loạn cho miền Tây nam. Hầu hết chỉ trang bị cung tên, nhưng tinh thần chiến đấu của chiến binh Apache thật đáng ca ngợi. Nhưng với quân số thua áp đảo 1 so với 100, tương lai phía trước của họ không có gì khác hơn cái chết hoặc tù tội.

            Sau khi cuộc Nội Chiến kết thúc và sự ra đi của Tướng Carleton, chính quyền Hoa Kỳ bắt đầu thương thảo hòa bình với người Apache. Vào Mùa Trăng của Lá To (ngày 21 tháng 4, 1865) Victorio và Nana gặp nhau ở Santa Rita với một đại diện của Hoa Kỳ. “Tôi và dân tộc tôi muốn hòa bình,” Victorio nói. “Chúng tôi quá mệt mỏi vì chiến tranh. Chúng tôi nghèo khổ và quá thiếu thốn, gia đình không có gì để ăn và mặc. Chúng tôi muốn tạo hòa bình, một hòa bình lâu dài, một thứ hòa bình được duy trì. . . Tôi đã rửa tay và miệng bằng nước lạnh, và những gì tôi nói là sự thực.”

            “Các ông có thể tin cậy chúng tôi,” Nana nói thêm.

            Câu trả lời của cán bộ ngắn gọn: “Tôi không đến để yêu cầu các ông tạo hòa bình, mà là bảo với các ông là các ông có thể có hòa bình bằng cách đi vào khu dành riêng ở Bosque Redondo.”

            Họ đã nghe nhiều, và tất cả đều tồi tệ, về Bosque Redonndo. “Tôi không có túi để đựng những gì ông nói,” Nana bình luận cộc lốc, “nhưng những lời đó chìm sâu trong trái tim tôi. Chúng sẽ không bị quên lãng.”

            Victorio xin hoãn lại hai ngày trước khi khởi hành đi khu dành riêng; ông muốn tập trung tất cả người của mình và ngựa của họ. Ông hứa gặp lại cán bộ vào ngày 23 tháng 4, ở Pinos Altos.

            Trong bốn ngày cán bộ đợi ở Pinos Altos, nhưng không có một người Apache nào xuất hiện. Thay vì đi đến khu Bosque đáng ghét, họ muốn đối diện với cái đói khát, sự thiếu thốn, và cái chết hơn. Một số trôi giạt về nam vào Mexico; những người khác gia nhập với Cochise ở Núi Dragoon. Sau trải nghiệm của mình ở Chốt Apache và rồi vụ giết chết Mangas, Cochise không hề đáp ứng với lời kêu gọi hòa bình. Trong năm năm sau đó, các chiến binh Apache thường tránh các đồn và khu định cư Mỹ. Tuy nhiên, bất cứ khi nào một trại chủ hoặc dân khai mỏ đâm ra bất cẩn, một toán chiến binh đột kích sẽ xà đến bắt ngựa hoặc gia súc, và do đó họ tiến hành cuộc chiến du kích. Trong năm 1870 số các cuộc đột kích tăng lên, và vì Cochise là thủ lĩnh được người da trắng biết nhiều nhất, ông luôn được cho là người chịu trách nhiệm cho những hành động thù địch dù chúng xảy ra nơi đâu.

            Đó là lý do mà vào mùa xuân 1871 Ủy viên Da Đỏ Sự vụ sốt sắng mời Cochise đến thăm Washington. Tuy nhiên, Cochise không tin có gì thay đổi; ông vẫn còn không tin cậy bất kỳ đại diện nào của chính quyền Hoa Kỳ. Vài tuần sau, sau những gì xảy ra cho Eskiminzin và Aravaipa ở Trại Grant, Cochise càng khẳng định là không người Apache nào nên đặt sự sống của mình vào tay các người Mỹ phản trắc.              

            Eskiminzin và băng nhóm nhỏ gồm 150 người sống dọc nhánh sông Aravaipa , từ đó họ lấy làm tên của bộ tộc. Đó là ở phía bắc căn cứ của Cochise, giữa sông San Pedro và Núi Galiuro. Eskiminzin là một người Apache vạm vỡ, chân vòng kiềng với gương mặt gan lì đẹp trai. Đôi khi ông cũng dễ gần, có lúc thì dữ dằn. Một hôm vào tháng 2, 1871, Eskiminzin bước vào Trại Grant, một trạm nhỏ ở hợp lưu của hai nhánh sông Aravaipa và San Pedro. Ông đã nghe nói viên đồn trưởng, trung úy Royal E. Whitman, là người thân thiện và mời ông đến gặp.

            Eskiminzin bảo Whitman rằng dân mình không còn nhà và không biết làm gì vì người Áo xanh luôn săn đuổi họ và bắn họ mà không có lý do gì khác hơn là do họ là người Apache. Ông muốn được hòa bình để họ có thể định cư và trồng trọt dọc theo Aravaipa.

            Whitman hỏi Eskiminzin tại sao ông không đi đến Núi Trắng nơi chính quyền đã đặt một khu dành riêng. “Đó không phải là xứ sở chúng tôi,” tù trưởng trả lời. “Họ cũng không phải là dân tộc tôi. Chúng tôi hòa hiếu với họ [người Coyotero] nhưng không hề sống chung chạ với họ. Cha chúng tôi và cha họ trước đây đã sống trong vùng núi này và đã trồng bắp trong thung lũng này. Chúng tôi được dạy làm mescal, thức ăn chính của chúng tôi, và vào mùa hè và đông ở đây chúng tôi có nguồn dự trữ không bao giờ cạn. Ở Núi Trắng không có gì, và không có gì thì chúng tôi sẽ ốm. Một số trong chúng tôi từng có thời gian ngắn sống ở Núi Trắng, nhưng họ không hài lòng, tất cả đều nói, “Hãy đi đến Aravaipa và lập hòa bình lần chót và không bao giờ phá vỡ nó.”    

            Trung úy Whitman bảo Eskiminzin rằng anh không có thẩm quyền ký hòa bình với băng nhóm của ông, nhưng nếu họ nộp vũ khí anh có thể cho phép họ hạ trại gần đấy như những tù binh cho đến khi anh nhận được chỉ thị từ cấp trên. Eskiminzin đồng ý việc này, và người Aravaipa lần lượt từng nhóm nhỏ đến nộp súng, một số nộp cả cung và tên.  Họ dựng làng vài dặm ở phía trên nhánh sông, trồng bắp, và bắt đầu nấu mescal. Ấn tượng trước sự cần cù của họ, Whitman mướn họ cắt rơm cho đàn ngựa của đồn để họ có thể có tiền mua lương thực. Các trại chủ sống gần đó cũng thuê một vài người để làm công. Thử nghiệm này thành công tốt đẹp đến nỗi vào giữa tháng ba hơn 100 người Apache khác, bao gồm vài dân Pinal, đã gia nhập cùng người Eskimizin, và một số khác đến gần như mỗi ngày.

            Trong lúc đó Whitman đã viết báo cáo giải thích tình hình cho cấp trên của mình, và xin chỉ thị, nhưng đến cuối tháng 4 báo cáo anh được trả về yêu cầu đệ trình trở lại dưới hình thức hành chính thích hợp. Bực bội vì biết rằng tất cả trách nhiệm về những hành động của người Apache của Eskiminzin đều thuộc về anh, viên trung úy theo dõi rất sát mọi động tĩnh của họ.

            Vào ngày 10 tháng 4 Apache đột kích San Xavier, nam Tucson, lấy cắp gia súc và ngựa. Vào ngày 13 tháng 4 bốn người Mỹ bị giết trong một vụ đột kích gần San Pedro đông Tucson.

            Tucson vào năm 1871 là một ốc đảo gồm 3,000 tay cờ bạc, chủ quán rượu, tài xế vận tải, dân khai mỏ, và một ít nhà thầu đã làm giàu trong thời Nội Chiến và hi vọng tiếp tục kiếm ra tiền nhờ cuộc chiến với người Da Đỏ. Nhóm công dân ngang ngược này đã tổ chức một Ủy ban An toàn Công cộng để tự bảo vệ chống người Apache, nhưng vì không người Apache nào đến gần thị trấn, nên ủy ban thường lên ngựa ra ngoài săn đuổi bọn đột kích trong những cộng đồng bên ngoài. Sau hai vụ đột kích thàng 4, một vài thành viên của ủy ban loan báo rằng bọn đột kích đã xuất phát từ làng Aravaipa gần Trại Grant. Mặc dù Trại Grant cách đó 55 dặm, và không chắc là người Aravaipa sẽ đi xa đến thế để đột kích, sự loan báo đó sẵn sàng được chấp nhận gần như bởi mỗi công dân Tucson. Nói chung họ chống đối với các bộ phận nơi người Apache làm việc để kiếm sống và hòa hiếu; những điều kiện như thế sẽ dẫn đến sự sút giảm lực lượng quân sự và thời cơ làm giàu nhờ chiến tranh sẽ ít ỏi đi.

            Trong những tuần cuối cùng của tháng 4, một cựu binh từng đánh người Da Đỏ tên William S. Oury bắt đầu tổ chức một toán chuyên đi tấn công những người Apache không vũ khí gần Trại Grant. Sáu người Mỹ và 42 người Mễ đồng ý tham gia, nhưng Oury cho rằng quân số như thế là không đủ. Từ người Da Đỏ Papago, mà nhiều năm trước đã bị người Tây Ban Nha khuất phục và cải sang đạo Cơ đốc, y tuyển mộ 92 lính đánh thuê. Vào ngày 28 tháng 4 băng nhóm đáng sợ này gồm 140 người trang bị đến tận răng sẵn sàng hành động

9.png

Cảnh báo đầu tiên mà Trung úy Whitman ở Trại Grant nhận được về toán này là từ một đội lính đồn trú nhỏ ở Tucson, cho hay một nhóm lớn đã lên đường vào ngày 28 với mục đích được rêu rao là sẽ giết mọi người Da Đỏ gần Trại Grant. Whitman nhận tin báo từ một người đưa tin đi ngựa lúc 7:30 sáng ngày 30 tháng 4.

            “Tôi lập tức phái hai thông dịch viên, lên ngựa, đến trại Da Đỏ,” Whitman sau đó báo cáo, “với lệnh là thông báo cho các tù trưởng tình hình chính xác, và cho phép họ dẫn mọi người vào đồn. . . người đưa tin của tôi trở lại sau một tiếng, với tin tình báo là họ không tìm thấy người Da Đỏ nào còn sống.”

            Không đầy ba giờ trước khi Whitman nhận được tin cảnh báo, toán Tucson đã dàn quân dọc theo bờ nhánh sông và các mô gò dẫn đến làng Aravaipa. Những người ở chỗ thấp khai hỏa vào các mái lều, và khi người Apache chạy tứ tán ra khoảng trống, toán trên mô gò bắn hạ họ. Trong nửa giờ mọi người Apache trong làng nếu không trốn thoát kịp đều bị bắt  hoặc bị giết. Số bị bắt toàn là trẻ con, 27 em tất cả, được bọn Papago đã vào đạo Cơ đốc dẫn đi để bán làm nô lệ ở Mexico.

            Khi William đến nơi làng còn đang bốc cháy, và mặt đất rải rác những thây người chết và bị tùng xẻo, kể cả đàn bà và trẻ con. “Tôi tìm thấy nhiều phụ nữ bị bắn trong lúc đang ngủ cạnh những bó rơm mà họ gom để sáng mai đem bán. Những người bị thương không thể trốn đi thì bị đập đầu bằng dùi cui hoặc đá, trong khi một số khác bị bắn đầy tên sau khi đã chết vì bị bắn bằng súng. Thân thể đều bị lột hết quần áo.”

            Sĩ quan quân y C. B. Briesly, tháp tùng cùng với Trung úy Whitman, báo cáo là hai phụ nữ “nằm trong tư thế, và từ hình dáng của bộ phận sinh dục và các vết thương, không nghi ngờ gì họ đã bị hiếp dâm rồi sau đó bị bắn chết. . . Một hài nhi khoảng 10 tháng tuổi bị bắn hai lần và một chân bị cắt gần như đứt lìa.”

            Whitman lo lắng những người sống sót chạy trốn vào núi thế nào cũng đổ lỗi cho anh đã không bảo vệ được họ. “Tôi nghĩ rằng việc hậu sự cho những người chết ít nhất sẽ là bằng chứng cho họ biết tình cảm của mình, và quả là như vậy, bởi vì trong lúc lo hậu sự nhiều người họ đã đến tận nơi và thể hiện sự đau khổ một cách thảm thiết không thể nào mô tả được. . .  Trong số toàn bộ khoảng 100 người chết được chôn cất, có một ông già và một thằng bé trưởng thành – số còn lại là đàn bà và trẻ con.” Số người chết vì bị thương và mất tích cuối cùng mang tổng số lên đến 144. Eskiminzi không trở lại, và một số người Apache tin rằng ông đang đi trên chiến lộ để trả thù cho vụ tàn sát.

            “Các phụ nữ và trẻ con của tôi đã bị giết ngay trước mắt tôi,” một người nói với Whitman, “và tôi đã không thể bảo vệ họ. Phần đông người Da Đỏ trong tình cảnh của tôi đã lấy dao và tự cắt cổ mình.” Nhưng sau khi viên trung úy cam kết sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi giúp họ lấy lại công lý, người Aravaipa ưu phiền đồng ý giúp xây lại làng và bắt đầu cuộc sống lần nữa.

            Những nỗ lực không ngừng nghĩ của Whitman cuối cùng mang được bọn sát nhân Tucson ra tòa. Bên bị cáo cho rằng các công dân Tucson đã theo vết chân của bọn Apache giết người thẳng đến tận làng Aravaipa. Oscar Hutton, người hướng đạo của Trại Grant, làm chứng cho nguyên cáo: “Theo như suy xét thận trọng của mình, tôi cho rằng không có nhóm đột kích nào là do những người Da Đỏ ở đồn này tham gia.” F. I. Austin, người buôn bán ở đồn, Miles L. Wood, nhà thầu thịt bò, và William Kness, người đưa thư giữa Trại Grant và Tucson, tất cả đều khai tương tự. Phiên tòa kéo dài năm ngày; bồi thẩm đoàn nghị án trong 19 phút; bản án là phóng thích bọn sát nhân Tucson.

            Về phần Trung úy Whitman, sự bênh vực bất thường người Apache khiến anh tiêu tan sự nghiệp quân sự. Anh vượt qua ba tòa án binh về những cáo buộc khôi hài, và sau vài năm phục vụ không được thăng chức anh xin từ nhiệm.

            Vụ tàn sát Trại Grant, tuy nhiên, khiến Washington phải chú ý đến người Apache. Tổng thống Grant mô tả vụ tấn công là “một vụ sát nhân thuần túy,” và ra lệnh cho Quân đội và Văn phòng Da Đỏ phải hành động khẩn cấp để mang hòa bình cho miền Tây nam.

            Vào tháng sáu, 1871, Tướng George Crook đến Tucson để chỉ huy Phòng Arizona. Một ít tuần sau Vincent Colyer, một đại biểu đặc biệt của Văn Phòng Da Đỏ, đến Trại Grant. Cả hai đều quan tâm tha thiết đến việc sắp xếp một cuộc họp với các tù trưởng Apache, nhất là Cochise.

            Colyer trước tiên gặp Eskiminzin với hi vọng sẽ thuyế phục được ông trở về với lối sống hòa hiếu. Eskiminzin từ núi đi xuống và nói rằng ông sẽ rất vui sướng được bàn chuyện hòa bình với Ủy viên Colyer. “Ủy viên chắc tưởng mình sẽ gặp một capitan,” [tiếng Tây Ban Nha nghĩa là đại úy, thuyền trưởng: ND] Eskiminzin điềm tĩnh nhận xét, “nhưng ông ấy chỉ thấy một ông già rất nghèo và không có vẻ gì là một capitan. Nếu ngài ủy viên thấy tôi cách đây ba tháng ông sẽ nhận  ra tôi là một capitan. Lúc đó tôi có nhiều người theo, nhưng họ bị tàn sát cả rồi. Giờ tôi chỉ còn lại ít người. Kể từ lúc đó tôi đã rời bỏ nơi này, nhưng vẫn sống ở gần đây. Tôi biết mình có bạn bè ở đây nhưng tôi sợ trở lại. Tôi không hề có nhiều điều để nói, nhưng điều này thì tôi có thể nói, tôi thích nơi này. Tôi đã nói tất cả điều phải nói, vì tôi chỉ còn ít người để nói thay họ. Nếu không có vụ tàn sát đó, sẽ có nhiều người hơn có mặt ở đây giờ này; nhưng sau vụ tàn sát đó ai có thể đứng vững? Khi tôi làm hòa bình với Trung úy Whitman trái tim tôi rất lớn và hạnh phúc. Người dân Tucson và San Xavier chắc hẳn là điên rồ. Họ hành động như thể không có cái đầu hoặc trái tim. . . họ chắc hẳn thèm khát máu chúng tôi. . . Những người dân Tucson viết vào những tờ giấy và kể câu chuyện của ho. Người Apache không có ai biết viết để kể lại câu chuyện của mình.”

            Colyer hứa sẽ kể câu chuyện Apache cho Cha Lớn và cho người da trắng nào chưa từng nghe về nó.

            “Tôi nghĩ chắc hẳn là Đấng Thần linh đã trao cho ông một trái tim tốt đến đây gặp chúng tôi, hoặc chắc hẳn ông phải có một người cha và người mẹ tốt nên ông mới tốt đến thế.”

            “Đó là do Thượng đế sắp đặt,” Colyer tuyên bố.

             Tù trưởng tiếp sau theo lịch trình của Colyer là Delshay của bộ tộc Tonto Apache. Delshay là một người vai rộng, vạm vỡ khoảng 35 tuổi. Ông đeo đồ trang trí trên một tay, nét mặt có vẻ hung dữ, và ông lúc nào cũng đi nhanh như thể luôn vội vã. Ngay từ năm 1868 Delshay đã đồng ý cho bộ tộc sống hòa bình và sử dụng Trại McDowell trên bờ tây của Rio Verde là cục quản lý của ông. Delshay, tuy nhiên, thấy là bọn Áo xanh lúc nào cũng tráo trở thái quá. Có một lần một sĩ quan đã bắn một viên đạn cỡ lớn vào lưng ông vì một lý do nào đó ông không thể hiểu, và ông hoàn toàn tin chắc bác sĩ quân y tại đồn đã tính đầu độc ông. Sau chuyện này, Delshay cạch không dám đến Trại McDowell.

            Ủy viên Colyer đến Trại McDowell vào cuối tháng 9 với thẩm quyền sử dụng binh lính để mở các cuộc tiếp xúc với Delshay. Dù cờ hưu chiến, dấu hiệu khói, và lửa đêm được sử dụng tối đa bởi các đội kỵ binh và bộ binh, Delshay cũng không đáp ứng cho đến khi ông đã hoàn toàn kiểm tra thiện chí của bọn Áo xanh. Lúc mà ông đồng ý gặp Đại úy W. N. Netterville ở Thung lũng Hướng dương (ngày 31 tháng 10, 1871), Ủy viên Colyer đả trở lại Washingtonđả làm báo cáo. Một bản sao của lời góp ý của Delshay được gởi đến Colyer:

            “Tôi không muốn chạy lang thang trong vùng núi nữa,” Delshay nói. “Tôi muốn ký một hiệp ước lớn. . . Tôi muốn tạo ra một nền hòa bình lâu dài; tôi sẽ giữ lời cho đến khi đá núi tan chảy.” Ông không muốn đem người Tonto trở lại Trại McDowell, tuy nhiên. Đó không phải là một nơi tốt đẹp (sau hết, không phải ở đó ông bị chích thuốc và đầu độc hay sao). Người Tonto thích sống ở Thung lũng Hướng dương gần vùng núi hơn để họ có thể hái trái và săn thú. “Nếu vị capitan lớn ở Trại McDowell không dựng đồn ở chỗ tôi ở,” ông khăng khăng. Tôi không thể làm gì hơn, vì Thần linh tạo ra người da trắng và Thần linh tạo ra người Apache và người Apache có quyền trên  xứ sở này như người da trắng. Tôi muốn ký một hiệp ước lâu dài, để cả hai có thể đi lại khắp xứ sở mà không gặp rắc rối; ngay khi hiệp ước được ký tôi muốn một tờ giấy để tôi có thể đi lại khắp xứ như một người da trắng. Tôi sẽ đặt một hòn đá xuống để khi nó tan chảy hiệp ước sẽ bị bẽ gãy.  . . Nếu tôi làm một hiệp ước, tôi mong vị capitan lớn sẽ đến gặp tôi bất cứ khi nào tôi nhắn, và tôi cũng làm như thế bất cứ khi nào ông nhắn tôi. Nếu một hiệp ước được làm và vị capitan lớn không giữ lời với tôi tôi sẽ bỏ lời ông vào một cái lỗ và lấp đất lại. Tôi hứa rằng khi một hiệp ước được làm người da trắng và binh lính có thể thả ngựa và lừa không cần ai coi chừng, và nếu có con nào bị đánh cắp bởi người Apache tôi sẽ tự cắt cổ mình. Tôi muốn làm một hiệp ước lớn, và nếu người Mỹ phá vỡ hiệp ước tôi không muốn rắc rối nào thêm nữa; người da trắng đi một đường và tôi đi đường khác.  . . Bảo với vị capitan lớn ở Trại McDowell là tôi sẽ đến gặp ông trong 12 ngày tới.”

            Chỗ gần nhất mà Colyer đi đến Cochise là Canada Alamosa, một cục quản lý được Văn phòng Da Đỏ thành lập cách Đồn Craig, New Mexico 42 dặm về phía tây nam. Tại đó ông nói chuyện với thành viên của băng Cochise. Họ bảo ông rằng người Chiricahua đã ở Mexico, nhưng chính quyền Mexico thưởng 300 đô la cho mỗi da đầu Apache, và việc này đã khiến nhiều toán trinh sát tìm tấn công họ trong vùng núi Sonora. Họ đã phân tán và trở lại căn cứ Arizona cũ của họ. Cochise thì ở đâu đó trong vùng núi Dragoon.

            Một người đưa tin được phái đi tìm Cochise, nhưng khi y đi vào Lãnh địa Arizona y tình cờ gặp Tướng Crook, và ông này không cho phép y đi đến trại của Cochise. Crook ra lệnh y trở về New Mexico ngay lập tức    

           

            Crook muốn Cochise riêng cho mình, và để tìm ông chết hay sống y ra lệnh năm đại đội kỵ binh lùng sục vùng núi Chiricahua. Sói Xám là tên mà người Apache đặt cho Tướng Crook. Cochise lẫn tránh Sói Xám bằng cách vượt qua New Mexico. Ông gởi một người đưa tin đến Xếp Sao ở Santa Fe, Tướng Gordon Granger, báo tin là mình sẽ gặp ông ta ở Canada Alamosa để bàn chuyện hòa bình.

            Granger đến bằng xe cứu thương sáu lừa với một đoàn hộ tống nhỏ, và Cochise đang đợi ông. Sau lời chào hỏi xã giao, cả hai người đàn ông sốt sắng giải quyết vấn đề. Đối với Granger đó là một cơ hội để được tiếng là người chấp nhận việc đầu hàng của Cochise vĩ đại. Đối với Cochise đó là đoạn cuối của một con đường; ông gần 60 tuổi rồi và rất mệt mỏi; mái tóc dài đến vai đã bạc nhiều.

            Granger giải thích là hòa bình chỉ có thể đạt được nếu người Chiricahua chịu định cư trong khu dành riêng. “Không người Apache nào được phép rời khu dành riêng khi không có phép của cán bộ,” vị tướng nói, “và giấy phép không bao giờ cho đi vượt qua đường giới hạn vào Old Mexico.”

            Cochise trả lời với một giọng nhỏ nhẹ, ít khoa tay: “Mặt trời đã rất nóng trên đầu tôi và làm tôi như trong lò lửa; máu tôi như trên lửa, nhưng giờ đây tôi đã đến thung lũng này và uống dòng nước mát ở đây và tắm táp trong đó và chúng đã làm tôi mát mẻ. Giờ khi đã mát mẻ tôi đến đây với bàn tay mở rộng với ông để sống trong hòa bình với ông. Tôi nói thẳng và không muốn lừa dối hoặc bị lừa dối. Tôi muốn một hòa bình lâu dài, mạnh mẽ và tốt đẹp. Khi Thượng đế tạo ra thế giới ngài cho người da trắng một phần và người Apache phần khác. Tại sao như vậy? Tại sao họ đến cùng nhau? Giờ tôi phải nói, mặt trời, mặt trăng, trái đất, không khí, dòng sông, chim chóc và muông thú, thậm chí các bé chưa sinh ra cũng sẽ hân hoan vì những lời tôi nói. Người da trắng đã lùng tìm tôi quá lâu rồi. Tôi ở ngay đây! Họ muốn gì? Họ đã lùng tìm tôi quá lâu; tại sao tôi đáng giá đến vậy? Nếu tôi đáng giá đến vậy tại sao không đánh dấu nơi tôi đặt bàn chân xuống và nhìn khi tôi nhổ nước bọt? Lũ chó sói đi lang thang ban đêm để cướp và giết; tôi không thể nhìn thấy chúng; tôi không phải Thần linh. Tôi không còn là tù trưởng của mọi người Apache. Tôi không còn giàu có; tôi chỉ là một người nghèo khó. Thế giới không còn như trước nữa. Thần linh tạo chúng tôi không giống các ông; chúng tôi sinh ra như con thú, trong cỏ khô, không phải ở trên giường như các ông. Đó là tại sao chúng tôi sống như thú, đi lang thang ban đêm và cướp và trộm. Nếu tôi có đầy đủ thứ như các ông, tôi sẽ không làm như đang làm, vì tôi không cần phải làm như vậy. Có những người Da Đỏ đi lang thang giết và cướp. Tôi không ra lệnh cho họ. Nếu tôi ra lệnh, họ sẽ không làm thế. Các chiến binh của tôi đã bị giết ở Sonora. Tôi đến đây vì Thượng đế bảo tôi phải làm thế. Ngài nói rằng tốt hơn là sống hòa bình – vì thế tôi đến đây! Tôi đang đi vòng quanh thế giới với đám mây, và không khí, và rồi Thượng đế nói trong đầu tôi và bảo tôi đến đây và hiếu hòa với mọi người. Ngài nói rằng thế giới là cho tất cả chúng ta; thế là thế nào?

            “Khi tôi còn trẻ tôi đi lại khắp xứ này, đông sang tây, và không thấy ai khác ngoài người Apache. Sau nhiều mùa hè tôi lại đi và thấy một chủng tộc khác đã đến đây chiếm đất. Thế là sao? Tại sao người Apache phải ngồi chờ chết – phải mang mạng sống của mình trên móng tay? Họ dong ruổi qua đồi núi và đồng bằng và muốn trời sập cho rồi. Người Apache từng một thời là một quốc gia lớn; họ giờ chỉ còn ít ỏi, và vì lẽ này họ muốn chết và bởi thế mang mạng sống mình trên móng tay. Nhiều người đã bị giết trong trận chiến. Các ông phải nói thẳng thắn để những lời các ông nói có thể đi thẳng vào trái tim chúng tôi như tía nắng mặt trời. Hãy nói cho tôi biết, nếu Đức Mẹ Maria đã đi khắp đất này, tại sao bà không bao giờ đi vào lều của người Apache? Tại sao chúng tôi không hề nhìn thấy bà hoặc nghe bà nói?

            “Tôi không có cha có mẹ; tôi cô độc trong thế giới. Không ai quan tâm đến Cochise; đó là lý do tại sao tôi không còn thiết sống, và muốn đá đổ lên đầu tôi và che lấp tôi. Nếu tôi có cha có mẹ như các ông, tôi sẽ ở cùng họ và họ cùng tôi. Khi tôi đi khắp cùng thế giới, tất cả đều hỏi tin về Cochise. Giờ hắn đã ở đây – các ông thấy hắn và nghe hắn – các ông có vui sướng không? Nếu có, hãy nói như thế. Hãy nói đi, những người Mỹ và Mễ, tôi không muốn dấu giếm điều gì với các ông cũng không muốn các ông giấu giếm điều gì với tôi; tôi sẽ không nói dối với các ông; đừng nói dối với tôi.”

            Khi việc bàn cãi liên quan đến địa điểm cho khu dành riêng của người Chiricahua, Granger nói rằng chính quyền muốn dời cục quản lý từ Canada Alamosa đến Đồn Tularosa ở Mongollon. (Tại Canada Alamosa, 300 người Mễ đã định cư và chiếm đất.)

            “Tôi muốn sống trong vùng núi này,” Cochise phản đối. “Tôi không muốn đi đến Tularosa. Ở đó xa xôi lắm. Loài ruồi trên vùng núi đó ăn mù mắt ngựa. Các quỷ dữ sống ở đó. Tôi đã uống dòng nước nơi đây và chúng làm tôi mát rượi; tôi không muốn rời bỏ nơi đây.”

            Tướng Granger nói rằng ông ta sẽ làm những gì có thể làm được để thuyết phục chính quyền cho phép người Chiricahua sống ở Canada Alamosa với các dòng suối trong lành mát mẻ. Cochise hứa rằng ông sẽ giữ dân ông sống trong hòa bình với người láng giềng Mễ của họ, và ông đã giữ lời hứa. Tuy nhiên, một vài tháng sau, chính quyền ra lệnh dời tất cả người Apache từ Canada Alamosa đến Đồn Tularosa. Ngay khi nghe tin này, Cochise lẻn cùng các chiến binh của mình trốn đi. Họ chia thành từng nhóm nhỏ, tẩu thoát thêm một lần nữa vào vùng núi đá khô khốc ở đông nam Arizona. Lần này, Cochise quyết tâm sẽ dừng chân ở đó. Cứ để Sói xám Crook đến săn đuổi nếu muốn; Cochise sẽ chiến đấu với y bằng đá nếu cần, và rồi nếu Thượng đế muốn, đá có thể rơi xuống và chôn lấp Cochise.

            Vào Thời Điểm Bắp Được Thu Hoạch (Tháng 9, 1872) Cochise bắt đầu nhận được những báo cáo từ các thám báo của mình cho biết một toán nhỏ người da trắng đang tiến gần đến căn cứ. Họ đi lại trong chiếc xe ngựa của Quân đội dành chở người bị thương. Thám báo cho biết là Taglito, Râu Đỏ Tom Jeffords, có đi cùng họ. Cochise đã không gặp Taglito lâu rồi.

            Vào những ngày xưa sau khi Cochise và Mangas đã đánh nhau với bọn Áo xanh, Tom Jeffords lãnh hợp đồng mang thư tín giữa Đồn Bowie và Tucson. Các chiến binh Apache phục kích Jeffords và nhân viên của y thường xuyên đến nỗi y gần như phải bỏ hợp đồng. Và rồi một hôm gã da trắng râu đỏ đích thân một mình đến trại Cochise. Y xuống ngựa, tháo dây nịt đạn, và giao nó cùng vũ khí cho một phụ nữ Chiricahua. Không chút sợ hãi, y bước tới chỗ Cochise đang ngồi và ngồi xuống cạnh ông ta. Sau một phút im lặng, Taglito Jeffords bảo với Cochise y muốn ký hiệp ước riêng với ông để y có thể sinh sống bằng nghề đưa thư. Cochise sửng sốt. Ông chưa hề biết một người da trắng nào như thế. Không có gì ông có thể làm trừ ra tôn vinh lòng quả cảm của Taglito bằng cách hứa để y cưỡi ngựa đưa thư mà không bị phiền nhiễu. Jeffords và nhân viên của y không hề bị phục kích một lần nào nữa, và nhiều lần sau đó người đàn ông râu đỏ trở lại trại Cochise và họ cùng nhau thù tạc bằng loại rượu tiswin.

            Cochise biết rằng nếu Taglito cùng đi với nhóm người vào núi, tức là họ tìm kiếm ông. Ông phái em trai Juan ra gặp người da trắng, và cùng với gia đình ẩn núp cho đến khi biết chắc mọi thứ đều êm đẹp. Rồi ông cưỡi ngựa xuống cùng với con trai Naiche. Xuống ngựa, ông ôm chầm lấy Jeffords. Y quay sang nói tiếng Anh với một người da trắng râu xám trong bộ quần áo bụi bặm. “Đây là Cochise.” Cánh tay áo phải người đàn ông râu bạc trống rỗng; ông trông như một chiến binh dạn dày, và Cochise không lấy làm ngạc nhiên khi Taglito gọi ông là một vị tướng. Ông là Oliver Otis Howard. “Buenos dias, senor,” [Tiếng tây Ban Nha, có nghĩa Chào ông buổi sáng: ND] Cochise nói và họ bắt tay nhau.

            Lần lượt đám cận vệ của Cochise bước vào, và họ ngồi thành nửa vòng tròn, ngồi trên chăn, họp hội đồng với ngài râu xám một tay.

            “Mời tướng quân trình bày lý do ngài đến thăm?” Cochise hỏi bằng tiếng Apache và Taglito phiên dịch.

            “Vị Cha Lớn, Tổng thống Grant, phái tôi đến đây để tạo lập hòa bình giữa ông và người da trắng,” Tướng Howard nói.

            “Không ai mong muốn hòa bình nhiều hơn tôi,” Cochise quả quyết với ông ta.

            “Thế thì,” Howard nói, “chúng ta có thể tạo ra hòa bình.”

            Cochise trả lời rằng người Chiricahua không tấn công người da trắng từ khi họ đi khỏi Canada Alamosa. “Ngựa tôi thì yếu và ít,” ông nói thêm. “Tôi có thể kiếm được nhiều hơn bằng cách đột kích đường xá Tucson, nhưng tôi không làm thế.”

            Howard đề nghị là người Chiricahua có thể sống tốt hơn nếu họ đồng ý dời về một khu dành riêng lớn trên Rio Grande.

            “Tôi đã ở đó,” Cochine nói, “và tôi thích xứ đó. Hơn là không có hòa bình tôi sẽ đi và đem theo dân tôi như có thể, nhưng chuyến đi đó sẽ phân tán bộ tộc tôi. Tại sao không cho tôi Chốt Apache? Cho tôi vùng đó, và tôi sẽ bảo vệ các con đường. Tôi sẽ không để tài sản của ai bị người Da Đỏ lấy đi.”

            Howard ngạc nhiên. “Có lẽ chúng tôi có thể lo chuyện đó,” ông nói, và rồi tiếp tục chỉ ra những điểm thuận lợi khi về sống ở Rio Grande.

            Cochise không còn thiết tha với Rio Grande. “Tại sao nhốt tôi trong một khu dành riêng?” ông thắc mắc. “Chúng tôi sẽ sống hòa bình. Chúng tôi sẽ giữ nó một cách trung thành. Nhưng hãy để chúng tôi đi lại tự do như người Mỹ. Hãy để chúng tôi đi bất cứ đâu chúng tôi muốn.”

            Howard cố giải thích rằng xứ Chiricahua không thuộc về người Da Đỏ, rằng mọi người Mỹ đều quan tâm đến nó. “Để giữ hòa bình,” ông nói, “chúng ta phải cắm mốc và vạch đường biên.”

            Cochise không thể hiểu tại sao đường biên giới không thể ấn định chung quanh vùng núi Dragoon cũng như ở Rio Grande. “Tướng quân, ông dừng ở đây bao lâu?” ông hỏi. “Ông có thể đợi các capitan của tôi đến và nói chuyện?”

            “Tôi đến từ Washington để gặp người của ông và kiếm hòa bình.” Howard trả lời, “và sẽ nán lại đây lâu như cần thiết.”

            Tướng Oliver Otis Howard, tốt nghiệp trường võ bị West Point, người hùng của trận Gettysburg, mất một cánh tay trong trận đánh ở Fair Oaks, Virginia, nán lại trại Apache 11 ngày và hoàn toàn bị chinh phục bởi sự lễ phép và giản dị chân chất của Cochise. Ông bị hấp dẫn bởi phụ nữ và trẻ con Chiricahua.

            “Tôi buộc phải bỏ kế hoạch Alamosa,” ông viết sau đó, “và cho họ, như Cochise đề nghị, một khu dành riêng ôm lấy một phần của vùng núi Chiricahua và thung lũng tiếp giáp ở bờ tây, bao gồm Suối Big Sulphur và trang trại nhà Rodgers.”

            Còn một vấn đề nữa cần giải quyết. Theo luật một người da trắng phải được bổ nhiệm làm cán bộ quản lý cho khu dành riêng mới. Đối với Cochise việc này không thành vấn đề; chỉ có một người da trắng mà mọi người Chiricahua đều tin tưởng – Taglito, tức Tom Jeffords râu đỏ. Lúc đầu Jeffords từ khước. Ông không có kinh nghiệm về nghiệp vụ đó, và ngoài ra, lương lậu thấp. Cochise năn nỉ, cho đến khi cuối cùng Jeffords phải nhận lời. Nói cho cùng, ông còn nợ người Chiricahua cuộc sống và sự thịnh vượng của mình.

            Người Tonto Apache của Delshay và người Aravaipa của Eskiminzin thì kém may mắn hơn.

            Sau khi Delshay xin với capitan lớn ở Trại McDowell ký một hiệp ước với điều kiện một cục quản lý được thành lập ở Thung lũng Hướng dương, tù trưởng không nhận được câu trả lời. Delshay coi đó là một sự từ khước. “Thượng đế tạo ra người da trắng và Thượng đế cũng tạo ra người Apache,” ông đã nói, “và người Apache có đầy đủ quyền tại xứ này như người da trắng.” Ông đã không làm hiệp ước và không nhận được tờ giấy nào để có thể đi lại tự do như người da trắng; do đó ông và các chiến binh đi lại tự do như người Apache. Người da trắng không thích điều này, và vào cuối năm 1872 Sói Xám phái binh lính lùng sục qua lưu vực Tonto để tìm Delshay và băng của ông. Chỉ khi đến Thời điểm của Lá To (tháng 4, 1873) mới có đủ quân số để giăng bẫy Delshay và người Tonto. Họ bị bao vây, đạn bắn tới tấp về phía đàn bà và trẻ con, và rốt cụ phải đưa lên cờ trắng.

            Xếp lính râu đen, Thiếu tá George M. Randall, dẫn người Tonto đến Đồn Apaache trong khu dành riêng Núi Trắng. Trong những ngày đó Sói Xám thích sử dụng xếp lính hơn là nhân viên dân sự làm cán bộ cho khu dành riêng. Họ bắt người Apache đeo thẻ bài kim loại như chó, và những thẻ bài này có đánh số để họ không thể lẻn bỏ trốn đến lưu vực Tonto dù chỉ trong một ít ngày. Delshay và những người khác bắt đầu nhớ nhà, nhớ các ngọn núi phủ tuyết, và rừng cây. Trên khu dành riêng tất cả điều thiếu thốn – thức ăn, hoặc công cụ làm việc – và họ không hòa thuận với người Coyotero, luôn nhìn họ như những kẻ đột nhập vào khu của họ. Nhưng chính thiếu thốn tự do đi lại mới khiến người Tonto khổ sở.

            Cuối cùng, vào Thời điểm Trái chín (Tháng 7, 1873), Delshay quyết định không còn có thể chịu được sự tù hãm ở Núi Trắng, và một đêm ông dẫn người mình trốn thoát. Để bọn Áo xanh không đuổi theo ông quyết định đi đến khu dành riêng ở Rio Verde. Một cán bộ dân sự điều hành ở đó, và y hứa với Delshay là người Tonto có thể sống tại Rio Verde nếu họ không gây rắc rối cho y. Nếu họ lại bỏ trốn, họ sẽ bị săn đuổi và giết chết. Và thế là Delshay và người của mình đến bắt tay dựng trại chăn nuôi trên sông gần Trại Verde.

            Mùa hè đó ở cục quản lý San Carlos xảy ra một vụ nổi dậy trong đó một xếp lính nhỏ (Trung úy Jacob Almy) bị giết. Các tù trưởng Apache trốn thoát, một vài người trong số họ đi về hướng Rio Verde, và hạ trại gần trại chăn nuôi của Delshay. Khi Sói Xám nghe tin này, ông kết tội Delshay đã trợ giúp bọn trốn thoát, và phái lệnh đến Trại Verde bắt tù trưởng Tonto. Được báo trước, Delshay quyết định phải đào tẩu lần nữa. Ông không muốn đánh mất chút tự do còn lại, để bị xiềng xích và nhốt trong một cái lỗ 16 bộ mà các binh lính đã đào từ vách hẽm núi cho tù nhân Da Đỏ. Với một vài người trung tín ông trốn chạy đến lưu vực Tonto.

            Ông biết rằng cuộc săn đuổi sẽ sớm bắt đầu. Sói Xám sẽ không chịu nghỉ cho đến khi đã tóm được Delshay. Qua nhiều tháng trời Delshay và người của ông lẫn tránh bọn săn lùng. Cuối cùng Tướng Crook quyết rằng mình không thể cho binh lính cứ lùng sục khắp lưu vực Tonto; chỉ có một người Apache mới có thể tìm được Delshay. Và do đó vị tướng thông báo rằng ông treo một tiền thưởng cho cái đầu của Delsahy. Vào tháng 7, 1874, hai tên Apache đánh thuê trình diện riêng lẻ tại tổng hành dinh của Crook. Mỗi người đều trình ra một thủ cấp, được nhận diện là của Delshay. “Hài lòng vì cả hai đều cam đoan hàng mình mới là thứ thiệt,” Crook nói, “việc nộp thêm một cái đầu nữa không có gì quấy, và tôi thưởng cả hai.” Hai thủ cấp này, cùng với những thủ cấp của những người Apache khác, được treo lên tại sân ở Rio Verde và San Carlos.

            Eskiminzin và người Aravaipa cũng gặp khó khăn khi sống hòa bình. Sau chuyến viếng thăm của Ủy viên Colyer vào năm 1871, Eskiminzin và dân ông bắt đầu xây dựng cuộc sống mới ở Trại Grant. Họ xây lại làng và trồng lại ruộng lúa. Tuy nhiên, trong khi mọi thứ vào nền nếp, chính quyền quyết định cho dời Trại Grant đi 60 dặm về hướng đông nam. Họ sử dụng việc di dời này như cái cớ để dẹp sạch người Da Đỏ ra khỏi Thung lũng San Pedro, Quân đội chuyển người Arapaho đến San Carlo, một cục quản lý mới trên sông Gila.

            Cuộc di dời tiến hành trong tháng 2, 1873, và người Arapaho đang khởi công xây dựng trại chăn nuôi mới và canh tác những thửa ruộng mới ở San Carlos thì một vụ nổi dậy xảy ra trong đó Trung úy Almy bị giết chết. Không có người Eskiminzin hoặc người Arapaho nào dính líu đến vụ sát nhân này, nhưng vì người Eskimizin là một tù trưởng, Sói Xám ra lệnh bắt giữ ông và giam ông như một cách “phòng ngừa quân sự.”

            Ông là tù nhân cho đến đêm 4/1/1874 thì ông đào thoát và dẫn người mình đi khỏi khu dành riêng. Trong bốn tháng lạnh lẽo họ lang thang khắp vùng núi xa lạ để tìm thức ăn và chỗ trú ẩn. Vào tháng 4 phần đông người Arapaho đều bệnh hoạn và đói kém. Để khỏi chết, Eskiminzin trở lại San Carlos và đi tìm viên cán bộ quản lý.

            “Chúng tôi đã không làm gì sai quấy,” ông nói. “Nhưng chúng tôi sợ. Do đó mà chúng tôi trốn đi. Giờ chúng tôi trở lại. Nếu chúng tôi nán lại trong núi, chúng tôi sẽ chết vì đói và rét. Nếu binh lính Mỹ giết chúng tôi tại đây, thì cũng vậy thôi. Chúng tôi sẽ không trốn chạy nữa.”

            Ngay khi cán bộ báo cáo việc người Arapaho trở về, Quân đội xuống lệnh bắt giam Eskiminzin và các phó của ông, xiềng xích họ lại để họ không thể đào thoát, và chở họ đến địa điểm mới ở Trại Grant như những tù binh.

            “Tôi đã làm gì?” Eskiminzin hỏi xếp lính đến bắt ông.

            Tên xếp lính không biết. Việc bắt giữ là một “phòng ngừa quân sự.”

            Tại Trại Grant mới, Eskiminzin và các phó được xiềng chung với nhau ngay cả lúc họ làm gạch sống cho các tòa nhà mới ở đồn. Ban đêm họ ngủ trên đất cùng với xiềng xích, và họ ăn những thức ăn thừa của binh lính.

            Một hôm vào mùa hè đó một thanh niên da trắng trẻ tuổi đến gặp Eskiminzin và bảo ông mình là cán bộ mới ở San Carlos. Anh là John Clum. Anh nói rằng người Arapaho ở San Carlos cần có người tù trưởng để lãnh đạo họ. “Tại sao ông là tù nhân?” Clum hỏi.

            “Tôi không làm gì cả,” Eskiminzin đáp. “Người da trắng đặt điều về tôi, có lẽ vậy. Tôi luôn cố làm đúng.”

            Clum nói anh sẽ sắp xếp để ông được thả nếu ông hứa giúp anh cải thiện điều kiện ở San Carlos.

            Hai tháng sau Eskiminzin trở lại với người mình. Thêm một lần nữa tương lai có vẻ xán lạn, nhưng tù trưởng Arapaho nay đủ khôn để không kỳ vọng quá nhiều. Từ khi người da trắng đặt chân đến đất này, ông không còn chắc chắn nơi nào mình có thể trải chăn nằm nghỉ; tương lại cho bất kỳ người Apache nào cũng đều bấp bênh.

            Vào mùa xuân 1874 Cochise rất yếu từ căn bệnh suy nhược. Tom Jeffords, cán bộ Chiricahua, đem bác sĩ quân y ở Đồn Bowie đến khám cho ông bạn già của mình, nhưng bác sĩ không thể định được bệnh. Việc trị liệu cho ông không thuyên giảm, và thân thể cường tráng của thủ lĩnh vĩ đại Apache bắt đầu suy kiệt dần.

            Trong thời gian này chính quyền quyết định nhập cục Chiricahua với cục Hot Springs mới thành lập ở New Mexico để tiết kiệm ngân sách. Khi các viên chức đến bàn thảo với Cochise vấn đề này, ông bảo họ việc di dời đối với ông không nghĩa lý gì, vì ông sẽ chết trước khi đi. Tuy nhiên, các phó của ông cùng các con trai ông chống đối quyết liệt, tuyên bố nếu di dời, họ sẽ không đi. Không đi cho dù Hoa Kỳ có đủ binh lính để bắt họ đi, họ nói, vì họ thà chết trong vùng núi của mình còn hơn sống tại Hot Springs.

            Sau khi các viên chức nhà nước ra về, Cochise yếu hẳn đi và đau đớn bên trong nội tạng dữ dội đến nỗi Jeffords quyết định chạy đến Đồn Bowie mời bác sĩ. Khi ông chuẩn bị lên đường, Cochise hỏi: “Anh liệu có gặp được tôi còn sống hay không?”

            Jeffords trả lời với sự thẳng thắn của một người em: “Không, tôi không nghĩ như thế.”

            “Tôi nghĩ mình sẽ chết khoảng 10 giờ sáng mai. Anh có nghĩ mình sẽ gặp nhau lần nữa không?”

            Jeffords im lặng một lúc. “Tôi không biết. Anh nghĩ gì vậy?”

            “Tôi không biết,” Cochise đáp. “Đầu óc tôi không tỉnh táo lắm, nhưng tôi nghĩ mình sẽ gặp nhau đâu đó trên kia.”

            Cochise chết trước khi Jeffords trở lại từ Đồn Bowie. Sau một ít ngày ông thông báo với người Chiricahua là ông cảm thấy đã đến lúc mình phải ra đi. Họ không chịu để ông đi. Các con của Cochise, Taza và Naiche, khẩn khoản xin ông ở lại. Nếu Taglito bỏ rơi họ, họ nói, hiệp ước và những lời hứa hẹn giữa Cochise và chính quyền sẽ là vô giá trị. Jeffords hứa sẽ ở lại.

            Vào mùa xuân năm 1875 phần đông băng nhóm người Apache hoặc giam mình trong khu dành riêng hoặc bôn tẩu đến Mexico. Vào tháng 3 Quân đội điều động Tướng Crook từ Arizona đến Văn phòng vùng Platte. Người Sioux và Cheyenne, vốn chịu đựng cuộc sống khu dành tiêng lâu hơn người Apache, bắt đầu nổi dậy.

            Một nền hòa bình cưỡng chế bao trùm lên các sa mạc, đỉnh núi, và cao nguyên của xứ sở Apache. Mỉa mai thay, sự kéo dài của nó phụ thuộc vào những nỗ lực kiên trì của hai người da trắng đã chiếm được sự tôn trọng của người Apache chỉ vì biết chấp nhận họ là những con người chứ không phải là lũ man rợ khát máu. Tom Jeffords người vô thần và John Clum người theo đạo Tin Lành đều lạc quan, nhưng họ cũng đủ khôn ngoan để không kỳ vọng quá nhiều. Đối với bất kỳ người da trắng nào ở miền Tây nam bênh vực quyền lợi của người Apache, tương lai là rất bấp bênh.             

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s