Điện lực Lâm Đồng thời kỳ 1918-1975

 

Old_Dalat65.jpg 

                                                Khổng Đức Thiêm

Cao nguyên Lâm Viên – vùng đất tạo nên tỉnh Lâm Đồng ngày nay, vốn là địa bàn cư trú của người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho, trong đó người Lạch chiếm số đông nhất. Người Việt đầu tiên có ý định dấn bước vào vùng đất này là Nguyễn Thông. Năm 1877, khi đang giữ chức Đinh điền sứ tỉnh Bình Thuận, ông và Trương Gia Hội, Tuần phủ Thuận Khánh, đã tiến hành cuộc thăm dò khu vực nằm giữa ba con sông La Ngà, Đồng Nai và Đạ Hoai và đã đặt chân đến cực nam của tỉnh Lâm Đồng. Toàn bộ hành trình chuyến đi, Nguyễn Thông đã ghi lại trong bài Sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng Thượng du.

Sau khi chiếm được Nam Kỳ Lục tỉnh, người Pháp liền hướng sự quan tâm của mình vào việc thám hiểm miền Đông Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ. Bác sỹ Paul Néis, thầy thuốc hạng nhất của hải quân, là một trong những người Pháp đầu tiên thám hiểm vào vùng đất của người Thượng (từ 11-1880 đến 1-1881), với ý định đến núi Lang Biang, đầu nguồn của sông Đồng Nai, nhưng Paul Néis buộc phải thay đổi lộ trình, tạm đến phủ Bình Thuận vì sức khoẻ của một số thành viên trong đoàn sa sút. Từ ngày 11-2 đến giữa tháng 4-1881, nhờ sự giúp đỡ của một tù trưởng người Mạ ở vùng hữu ngạn sông La Ngà, Paul Néis cùng Trung uý thuỷ quân lục chiến phụ trách về trắc địa Albert Septans đã thực hiện chuyến thám hiểm thứ hai tới tận đầu nguồn sông Đồng Nai, mở đường cho nhiều cuộc thám hiểm khác đi vào vùng Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, như của A.Gautier năm 1882, L.Nouet năm 1882 và đặc biệt là chuyến thám hiểm của Thiếu tá Humann năm 1884.

Năm 1893, nhận nhiệm vụ từ Toàn quyền Jean Marie de Lanessan, bác sỹ Alexandre Yersin đã tiến hành khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên qua vùng đất của người Thượng và kết thúc ở một địa điểm trên bờ biển Trung Kỳ. Ngày 21-6-1893, trên hành trình thám hiểm, Alexandre Yersin đã tới cao nguyên Lâm Viên. Năm 1897, trong khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng (station balnéaire d’altitude) cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer gửi thư hỏi ý kiến Alexandre Yersin. Khi nhận được thư  của Paul Doumer. Alexandre Yersin gợi ý chọn cao nguyên Lâm Viên, một vùng đất lý tưởng thoả mãn đầy đủ các điều kiện: độ cao thích hợp, diện tích đủ rộng, nguồn nước bảo đảm, khí hậu ôn hoà và có thể thiết lập đường giao thông. Cuối tháng 3-1899, Paul Doumer cùng với Alexandre Yersin đích thân đến khảo sát thực tế tại cao nguyên Lâm Viên.

Năm 1890, sau khi đã bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ y khoa và làm việc tại Viện Pasteur Paris, Alexandre Yersin quyết định rời bỏ phòng thí nghiệm để dấn thân vào những cuộc phiêu lưu… Ông xin vào làm việc cho hãng hàng hải Messagries Maritimes với hy vọng được đến các quốc gia thuộc địa. Từ tháng 10-1890, Yersin phục vụ trên tuyến đường biển Sài Gòn-Manila với chức vụ y sỹ, và đến tháng 4-1891, ông chuyển sang tàu Sai Gon hoạt động trên tuyến Sài Gòn-Hải Phòng. Ngày 29-7-1891, trong lúc tàu dừng lại ở Nha Trang, Yersin thực hiện chuyến thám hiểm đầu tiên với ý định đi bằng đường núi từ Nha Trang về Sài Gòn trong vòng 10 ngày. Nhưng chuyến đi không thành công. Sau khi qua Phan Rang, Phan Rí và đến Ta La, vùng phụ cận của Di Linh ngày nay, Yersin được người dân bản địa cho biết phải mất ít nhất 9 đến 10 ngày để tới được Sài Gòn. Ông quyết định trở lại Nha Trang để kịp lên tàu và tiếp tục hành trình ra miền Bắc.

Tháng 10-1892, Alexandre Yersin trở lại Paris và tìm cách vận động để được tiếp tục thám hiểm. Nhờ sự giúp đỡ của một số người quen biết, đặc biệt là Louis Pasteur và Émile Duclaux, Yersin được Bộ Giáo dục Pháp cấp kinh phí để thực hiện một nhiệm vụ khảo sát khoa học. Ông quay lại Sài Gòn vào đầu năm 1893, tới gặp Toàn quyền Jean-Marie de Lanessan và nhận nhiệm vụ khảo sát một tuyến đường bộ từ Sài Gòn xuyên sâu vào vùng đất của người Thượng, kết thúc ở một địa điểm thuận lợi trên bờ biển Trung Bộ. Ngày 24-2-1893, Yersin cùng năm người khác rời Sài Gòn để thực hiện chặng đường đầu tiên từ Sài Gòn đi Phan Thiết, băng qua vùng Tánh Linh. Ngoài các dụng cụ thám hiểm, Yersin còn mang theo một số thuốc chủng đậu mùa để chủng ngừa cho người dân những vùng ông sẽ đi qua. Đoàn thám hiểm qua Tà Cú, Tánh Linh, rồi tới Phan Thiết, từ đây Yersin tới Nha Trang bằng đường cái quan để gặp Công sứ Lenoemand, sau đó trở lại Phan Rí. Sáng ngày 8-4-1893, ông rời Phan Rí để thực hiện chặng đường thứ hai Phan Rí-Tánh Linh, băng qua vùng núi. Đoàn lữ hành trên đoạn đường này rất đông đảo, gồm có 80 dân phu, 6 ngựa cưỡi và một con voi. Ở Lao Gouan, ngày nay thuộc huyện Đức Trọng, Yersin gặp Tong Vít Ca, một người Việt nhận khoán việc thu thuế ở các tổng người Thượng trực thuộc Phan Rí. Tong Vít Ca ngỏ ý muốn tháp tùng Yersin đến Ta La. Đoàn thám  hiểm tới Ta La ngày 25-4, ở đây Yersin chia tay Tong Vít Ca tiếp tục hành trình đến làng Droum, qua sông La Ngà trở về Tánh Linh.

Ngày 30-5-1893, Alexandre Yersin bắt đầu thực hiện chặng đường thứ ba từ Tánh Linh đi Phan Rang bằng một con đường núi khác với chặng trước. Sau khi men theo tả ngạn sông La Ngà để trở lại Droum, đoàn  thám hiểm vượt qua sông đến Tìa Lao, một địa điểm đã được ghi trên bản đồ của Thiếu tá Humann. Ngày 11-6, Yersin đến Bross, nằm ở đáy một thung lũng sâu có sông Đồng Nai chảy qua, phía bắc là ngọn núi Tadoung, ngày nay thuộc tỉnh Đăk Nông. Từ Tadoung, Yersin xuống núi để quay trở lại Rioung và để lại hành lý tại đây rồi cùng bốn người phu khuân vác lên đơn vị thám sát vùng núi Lang Biang. Sau hai ngày đường, vào 15 giờ 30 ngày 21-6-1893, Yersin bước ra khỏi rừng thông và phát hiện ra cao nguyên Lâm Viên. Trong nhật ký hành trình, ông chỉ ghi vắn tắt: “3h30: cao nguyên lớn trơ trụi, nhấp nhô gò đồi”. Yersin ngủ lại một đêm ở Dankia rồi trở về Rioung dưới một cơn mưa tầm tã. Sau khi rời Rioung, đoàn thám hiểm men theo thung lũng sông Đa Nhim và đến Phan Rang ngày 26-6-1893.

Paul Doumer cử một phái đoàn quân sự dưới sự chỉ huy của Đại uý Thouard nghiên cứu một con đường từ Nha Trang lên Lâm Viên. Sau 11 tháng làm việc, Đại uý Thouard kết luận không thể xây dựng một tuyến đường nối trực tiếp Nha Trang với Lâm Viên. Thay vào đó, Thouard phác thảo một con đường xuất phát từ Phan Rang qua ngã Fimnom và gợi ý một tuyến đường khác nối thẳng Sài Gòn với Đà Lạt. Khi đoàn Thouard còn chưa kết thúc, các đoàn nghiên cứu khác của Garnier, Odhéra và Bermard tiếp tục được cử đến Lâm Viên cùng khảo sát con đường nối Phan Thiết-Di Linh-Đà Lạt. Missigbrott, một thành viên trong đoàn Thouard, đã  ở lại sau chuyến khảo sát để lập một vườn rau và chăn nuôi gia súc, tạo cơ sở cho trạm nông nghiệp và trạm khí tượng sau này. Cuối tháng 3-1899, đích thân Toàn quyền Paul Doumer cùng bác sỹ Yersin đến cao nguyên Lâm Viên khảo sát thực tế và quyết định triển khai dự định ban đầu. Ngày 1-1-1899, Toàn quyền Paul Doumer ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng với thủ phủ Di Linh và hai trạm hành chính ở Tánh Linh và Lâm Viên. Đây là tiền đề pháp lý đầu tiên cho việc hình thành chức năng hành chính của thành phố Đà Lạt sau này.

Nghị định ngày 1-11-1899 của Toàn quyền Đông Dương gồm 4 Điều:

Điều 1. Đặt ở An Nam một khu hành chính, được chỉ định dưới tên tỉnh Đồng Nai Thượng (province Haut Donnai) bao gồm lưu vực từ phía trên Đồng Nai tới biên giới với Nam Kỳ và Lào.

Trụ sở của quan chức hành chính, người đứng đầu tỉnh Đồng Nai Thượng sẽ ở Di Linh, và hai chức vụ hành chính sẽ thiết lập ở Tánh Linh và trên cao nguyên Lang Bian.

Điều 2. Quan chức hành chính, Công sứ Pháp ở Di Linh được đặt dưới quyền của Khâm sứ Trung Kỳ.

Ngoài nhiệm vụ thông thường của những người đứng đầu tỉnh, quan chức ấy còn có nhiệm vụ đặc biệt là giúp đỡ Nha Công chính Đông Dương trong việc nghiên cứu và xây dựng đường sắt  ở Nam Trung Kỳ. Viên chức ấy trực tiếp gửi tới Phủ Toàn quyền Đông Dương ở Sài Gòn bản sao những báo cáo chính trị và kinh tế đã gửi tới Khâm sứ.

Điều 3. Công sứ Pháp tại Di Linh được cấp một khoản phụ cấp hàng năm là 2.000 đồng (2000.$) thay cho mọi chi phí hay những phụ cấp khác.

Điều 4. Giám đốc Nha Nội chính Đông Dương và Khâm sứ Trung Kỳ có trách nhiệm thi hành Nghị định này”.

Về sự kiện kể trên Đại Nam thực lục (Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên) cho biết:

“Kỷ Hợi, Thành Thái thứ 11, mùa đông, tháng 10 [11-1899] bắt đầu đặt tỉnh Đồng Nai Thượng. Khâm sứ đại thần Boulloche bàn với Thượng Nghị viện Đông Dương nghĩ đặt tỉnh mới ở thượng du hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hoà thuộc địa giới Đại Nam (một khu đất rộng lớn ở cao nguyên tên xứ Mạ và xứ Lang Bian, phía nam giáp vùng thượng du Biên Hoà, phía bắc gần xứ Lang Bian, phía đông giáp giới sông núi hai tỉnh Bình Thuận Khánh Hoà), đặt tỉnh lỵ ở xứ Di Linh, lấy quan Pháp Outrey làm Công sứ tỉnh mới (khám đặt bốn năm châu và chọn bổ Chánh, Phó tổng để tiện sai  phái). Lại lấy xứ Sông Sâu ở thượng du tỉnh Khánh Hoà quy về quan đồn Củng Sơn quản hạt. Cơ mật viện tâu lên, chuẩn tư cho hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hoà chuẩn bị bản đồ địa giới và sổ sách đinh điền của tỉnh mới giao cho Công sứ mới nhận chiểu. Lại giao sổ Man đinh tỉnh Khánh Hoà cho đồn Củng Sơn đệ cho tỉnh Phú Yên nhận lãnh”.

Dự án xây dựng Đà Lạt bị gián đoạn khi Toàn quyền Paul Doumer trở về Pháp vào năm 1902 và Toàn quyền Paul Beau, người kế vị đã không sốt sắng gì lắm việc xây dựng thị trấn miền núi. Mặc dù vậy, trong khoảng thời gian tiếp theo, nhiều đoàn khảo sát vẫn được gửi đến cao nguyên Lâm Viên để nghiên cứu và các tuyến giao thông tới Đà Lạt cũng dần hình thành. Giữa thập niên 1910, Thế chiến thứ nhất bùng nổ khiến nhiều người Pháp không thể về quê hương trong những kỳ nghỉ, Đà Lạt dần trở thành nơi họ đến để tìm chút gì của nước Pháp ôn đới. Ngày 20-4-1916, Hội đồng Phụ chính của vua Duy Tân thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt. Toàn quyền Maurice Long đi thêm bước nữa khi bổ nhiệm Ernest Hébrard làm chủ sự quy hoạch thị trấn Đà Lạt. Hébrard là người chủ trương dùng mẫu kiến trúc cổ điển Âu châu nhưng thêm vào đó một số trang trí thuộc mỹ thuật Việt Nam để tạo ra phong cách riêng mà ông gọi là une architecture indochinoise. Hébrard đã thực hiện lối kiến trúc này trong những công trình khác như toà nhà của Viện Viễn Đông Bác cố, (Hà Nội) và với quy mô hơn ở Đà Lạt. Trong vòng ba mươi năm, từ một địa điểm hoang vu, một thành phố đã hình thành với đầy đủ hệ thống cơ sở hạ tầng, các trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở và dinh thự. Trên diện tích tổng cộng là 1760 ha, thì 500 ha được chính quyền quy hoạch cho các cơ sở công chính, 185 ha thuộc nhà binh, 173 ha cho công chức và 206 cho dân bản xứ. Phần còn lại (non 700 ha) thì bán cho người Pháp. Năm 1911, Albert Sarraut quyết định đẩy nhanh tiến độ các công trình giao thông lên Đà Lạt. Năm 1913 và năm 1914, các tuyến  đường bộ Phan Thiết-Di Linh và Di Linh-Đà Lạt lần lượt hoàn thành. Cùng với giao thông đường bộ, đoạn đường sắt Phan Rang-Krong Pha được đưa vào sử dụng giúp việc giao thương và đi lại giữa Đà Lạt với vùng đồng bằng trở nên thuận tiện. Đến năm 1915, có hai con đường để đi từ Sài Gòn tới Đà Lạt: tuyến Sài Gòn-Ma Lâm-Đà Lạt dài 354 km và tuyến Sài Gòn-Phan Rang-Đà Lạt dài 414 km. Từ năm 1915, nhiều du khách đã đến đây bằng xe hơi của Hãng vận tải Lang Biang (Societé des correspondances Automobiles du Lang Biang) thuộc chi nhánh của Công quản Đường sắt miền Nam bắt đầu tổ chức đưa du khách đến Đà Lạt nghỉ dưỡng, săn bắn.         

Ngày 6-1-1916, Toàn quyền Drnest Nestor Roume ký Nghị định thành lập tỉnh Lâm Viên với địa giới phía bắc là sông Krông Nô, phía đông nam là sông Krông Pha, phía nam là sông La Giai, phía tây là biên giới với Campuchia. Ngày 20-4 cùng năm, Hội đồng nhiếp chính của vua Duy Tân thông báo Dụ thành lập thị tứ Đà Lạt. Theo tinh thần của dụ này, toàn bộ quyền hạn đối với Đà Lạt được trao cho Toàn quyền Đông Dương, người Pháp toàn quyền sở hữu đất đai trong khu vực và dưới quyền điều hành trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương.

Tháng 8-1917, Thượng thư bộ Công  Đoàn Đình Duyệt được Khải Định cử đi công du Lâm Viên. Chuyến công cán này nhằm khảo sát nghiên cứu vị trí xây dựng hành cung cho triều Nguyễn, được ghi chép tỉ mỉ từ việc mô tả đường sá, khí hậu, nhà cửa,  dinh thự…

Với Lâm Viên hành trình nhật ký, Đoàn Đình Duyệt là người Việt đầu tiên ghi chép về một Đà Lạt thơ mộng được miêu tả qua những áng văn chữ Hán xen lẫn chữ Nôm, như lời ông tấu dâng lên vua Khải Định rằng: “Chuyến đi này của thần là do vâng lệnh Hoàng thượng mà đi quan sát. Phàm vùng núi sông nào thần đã đến, đường sá nào thần đã đi qua, những gì mắt thấy tai nghe có liên quan đến chính sự hiện nay, cùng hành trình bằng đường thủy, đường bộ như thế nào, giờ giấc đi xe điện nhanh như bay ra sao thần đều chẳng dám không ghi chép từng ngày để làm thành một bản lược khảo trong chuyến đi Nam. Còn như tìm hiểu cho tận cùng bờ cõi,  khảo đinh thư tịch và bản vẽ, do thần học vẫn thấp kém, hiểu biết có chỗ không tới nơi, còn mong chờ có người thực hiện”.

Đà Lạt qua Đoàn Đình Duyệt đã hiện lên một cách nhẹ nhàng khác hẳn với cái sôi động của miền trung châu, cái khí lạnh của trời đất với những cánh rừng thông rậm rạp của đồi núi nhấp nhô, của những dòng suối với những con đường uốn khúc quanh co. Theo ông, ở Đà Lạt lúc này trời đang vào tiết đầu thu, miền trung châu chưa bớt nóng mà ở đây thì trời đã lạnh dần, có mưa phùn, mặc áo lông cừu thật thích hợp. Xem khí hậu thấy giống như đầu xuân. Cứ lời các qúy quan trú ở đây thì vùng đất này tới mùa đông hàn thử biểu có lúc xuống một, hai độ, giống như khí hậu miền Nam châu Âu. Đôi khi cũng có mưa tuyết. Quả là điều kỳ lạ trên đất nước Lĩnh Nam này vậy. Người của quý quốc thích khí hậu ôn hoà nên mùa hè thường đưa gia quyến lên đây nghỉ mát. Chiều ngày 16, bất kể trời mưa, lên xe kéo ra đi. Nhìn bốn phía thấy núi cao vây bọc, rừng thông rậm rạp, ở giữa có chừng vài ngàn mẫu đều là núi bằng, đồi trọc cao thấp nhấp nhô. Từ các dinh thự, nhà cửa cho đến khách sạn, nhà ở của người dân, thảy đều xây cất trên đồi núi. Dưới chân núi nào cũng có đường cái đan chéo ngang dọc, xe điện có thể chạy được. Lại có những cánh đồng bé nhỏ có thể cày cấy. Từ dưới đồng bằng nhìn lên, thấy trên núi lâu đài sắp xếp như quân cờ, la liệt như sao. Cảnh đẹp giống như tranh vẽ.

Với khí hậu mát mẻ, không khí trong lành, trời Đà Lạt lúc nào cũng giống như đầu mùa xuân. Phong cảnh kì vĩ núi non bao bọc, rừng rậm bao quanh thành phố, quả thật vẻ đẹp như một bức tranh.

Về kiến trúc của Đà Lạt theo lời ông viết thì, lúc này đang có là Toà Công sứ, Nha Lục lộ, Nha Kiểm lâm, Nha Ngân khố, Phòng Điện báo, bệnh viện và cư xá cho binh lính đồn trú. Ngoài ra còn có những khách sạn xây cất theo kiểu phương Tây. Huyện nha của Lâm Viên cũng đặt ở đây. Vua Cao Man có xây cất một nhà khách, mùa hè có khi đến đây nghỉ mát, lại còn mua một khu đất, định xây dựng một hai toà lâu đài, trang trí rất lộng lẫy. Đó là nghe quý Khâm sứ thuật lại và còn hướng dẫn đi xem khu đất ấy nữa. Quý quan đại thần của Nhà nước bảo hộ cũng trù tính xây thêm Phủ Toàn quyền và Toà Khâm sứ ở đây. Tương lai nơi này hẳn trở thành một đô hội lớn.

Ngày 31-10-1920, Toàn quyền Maurice Long ký Nghị định thành lập khu tự trị Lâm Viên, phần địa giới còn lại của tỉnh Lâm Viên được mang tên Đồng Nai Thượng với tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Cũng ngày 31-10-1920, một Nghị định khác của Toàn quyền Đông Dương ấn định khu tự trị trên cao nguyên Lâm Viên trở thành thị xã Đà Lạt và xác định nâng Đà Lạt lên thị xã hạng hai với những quy chế rộng rãi. Năm 1926, một Nghị định tiếp theo được ký vào ngày 26-7 đưa địa vị hành chính của Đà Lạt lên cao hơn: Đà Lạt vừa trở thành đơn vị trực thuộc Toàn quyền, có tính tự trị cao hơn so với những thị xã khác. Năm 1941, khi tỉnh Lâm Viên được tái lập, Thị trưởng Đà Lạt kiêm chức Tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

Cùng với việc xác lập địa vị hành chính, dân số Đà Lạt cũng tăng lên mạnh mẽ và các công trình xây dựng dần mọc lên. Vào năm 1923, nơi đây chỉ có 1.500 dân cư, tới năm 1938, dân số thành phố đã lên đến 9.000 người và năm 1944, Đà Lạt trở thành một đô thị hơn 25 ngàn dân. Năm 1921, kiến trúc sư Ernest Hébrard nhận nhiệm vụ thiết lập đồ án quy hoạch Đà Lạt. Hoàn thành vào tháng 8-1923, đồ án của  Ernest Hébrard thể hiện một tầm nhìn và tham vọng rất lớn: xây dựng Đà Lạt trở thành Thủ phủ của Liên bang Đông Dương. Năm 1933, kiến trúc sư Louis Georges Pineau đưa ra một đồ án chỉnh trang thành phố với một quan niệm thực tế hơn và hầu hết những nét chủ đạo của đồ án này vẫn được giữ lại trong Chương trình chỉnh trang và phát triển Đà Lạt năm 1943. Giai đoạn từ năm 1916 cho tới Thế chiến thứ hai, các công trình cơ sở hạ tầng của Đà Lạt cũng dần hoàn thiện. Năm 1938, khi nhà ga xe lửa hoàn thành, thời gian đi từ Hà Nội đến Đà Lạt chỉ mất 48 giờ, du khách tìm đến thành phố nghỉ dưỡng ngày một đông. Năm 1944, Đà Lạt gần như là thủ đô của Liên bang Đông Dương khi Toàn quyền và hầu hết các công sở quan trọng đều chuyển về làm việc ở đây. Sau gần 30 năm xây dựng, Đà Lạt vào năm 1945 đã trở thành một thành phố xinh đẹp của vùng Viễn Đông, một trung tâm giáo dục quan trọng và một điểm du lịch hấp dẫn.

Trên 100 năm hình thành và phát triển, dân số Lâm Đồng tăng rất nhanh. Năm 1936 có 60.000 người, năm 1955 có 128.194 người, năm 1975 có 326.514 người, năm 1989 có 639.226 người và đến năm 2009 có 1.186.786 người (theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009)[1], trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 23%. Với quy mô này, dân số Lâm Đồng đứng thứ 2 sau Đắc Lắc trong số các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên. Sự gia tăng dân số, chủ yếu là người Kinh qua các đợt di cư gắn liền với những biến động lớn về chính trị-xã hội của đất nước.

Đợt di chuyển đầu tiên của người Kinh bắt đầu khi Toàn quyền Pháp quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và xây dựng Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng. Người Kinh được đưa đến Lâm Đồng để phục vụ việc mở đường giao thông, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai hoang lập đồn điền chè, cà phê, trồng rau.

Đợt di dân lớn thứ hai diễn ra trong giai đoạn 1954-1975. Đó là những đồng bào theo đạo Công giáo và gia đình quân nhân bị dụ dỗ, cưỡng ép di dân vào Nam sau khi Hiệp định Giơnevơ. Các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư vào năm 1954 tập trung chủ yếu ở các huyện Bảo Lộc, Đức Trọng, Đơn Dương và thành phố Đà Lạt theo ý đồ chiến lược. Những năm sau đó, do sự khủng bố, đàn áp của chính quyền Sài Gòn nên hàng chục ngàn đồng bào các tỉnh ven biển miền Trung đến tỉnh Lâm Đồng làm ăn sinh sống.

Đợt di dân lớn thứ ba diễn ra từ năm 1975 đến nay với tốc độ khá nhanh. Động lực chính của cuộc di dân này là chiến lược điều chỉnh lao động, dân cư, phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Sự gia tăng dân số chủ yếu bằng 2 nguồn: di dân theo kế hoạch và di dân tự do.

Sau biết bao những biến cải và thăng trầm, thay đi đổi lại, đến nay Lâm Đồng là một tỉnh miền núi thuộc nam Tây Nguyên, nằm giữa các toạ độ: 11o 12’ – 12o 15’ vĩ độ Bắc và 107o45’ kinh độ Đông, có diện tích 9.764,8km2 chiếm khoảng 2,9% diện tích cả nước; phía đông giáp các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận; phía tây giáp tỉnh Bình Phước; phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai; phía nam- đông nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk.

Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bố khá rõ ràng từ bắc xuống nam; phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Biang với những đỉnh cao từ 1300m đến hơn 2000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Biang (2.167m); phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500-1000m); phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh-Bảo Lộc và bán bình nguyên có độ cao 100-300m.

Là tỉnh có địa hình phức tạp và độ nghiêng lớn từ tây bắc xuống đông nam nên khí hậu Lâm Đồng có sự khác biệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình trong năm dao động từ 16o đến 23oC, sự chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm ở từng khu vực không nhiều. Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu ở Lâm Đồng có 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa hàng năm phân bố không đều theo không gian và thời gian, dao động từ 1600-2700mm.

Hệ thống sông, suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, có lưu vực nhỏ và nhiều ghềnh, thác ở thượng nguồn. Các sông lớn trong tỉnh thuộc hệ thống sông Đồng Nai có tiềm năng thủy điện rất lớn. Mặt khác, do địa hình phức tạp nên Lâm Đồng còn có nhiều hồ nước nhân tạo phục vụ cho nhiều mục đích khác: cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và những thắng cảnh nổi tiếng.

Suối Đankia hay còn có tên gọi nữa là Ankroét, là con suối hùng vĩ được người Pháp chọn làm nơi xây dựng nhà máy thủy điện đầu tiên ở Việt Nam. Suối Đankia với hợp lưu của hồ lớn Suối Vàng ở phía trên thượng nguồn, bắt đầu tuôn chảy dưới dạng núi Lang Biang hùng vĩ. Bác sĩ Yersin đã ca ngợi cảnh đẹp hùng vĩ và thơ mộng này. Bên cạnh đó, vẻ đẹp của hồ cũng được ghi chép trong một chuyến du ký của Đoàn Đình Duyệt, Hiệp tá Đại học sĩ, Thượng thư bộ Công dưới triều Nguyễn.

Về tên gọi Đankia, theo ghi chép và ý nghĩa của chữ Hán có nghĩa là màu đỏ. Như vậy, nếu nói về ý nghĩa của dòng suối này, theo cách hiểu lâu nay là do nước suối về mùa mưa rất đỏ, màu sắc đặc trưng nổi bật nên mới có tên như vậy. Dân gian vẫn hay gọi Suối Vàng cũng để chỉ cái nước đỏ mà thôi. Tuy nhiên chữ Đankia có lẽ bắt nguồn từ một ngôi làng có tên là Đankia của người đồng bào gần đó. Theo mô tả của Thượng thư bộ Công Đoàn Đình Duyệt thì:

“Cách Lâm Viên phỏng chừng 5-6kilômét còn có suối Đanki, tiếng Tây dịch là Ankroét. Dòng suối ấy từ trong lòng đất chảy vọt ra. Từ hai khe đá, nước phun ra giao nhau rót xuống ngay giữa một bàn đá. Tục truyền tiên ngồi tắm trên thạch bàn đó. Dưới bàn đá lại có một hang đá lớn, nước suối chảy qua bàn đá, trút xuống hang đá ấy từ độ cao trên 40 thước tây. Nước suối chảy rẽ làm 5 nhánh. Từ ngoài nhìn vào, nước từ trong bàn đá trào vọt ra, trút từ trên cao xuống thành 5 dòng như 5 con rồng phun nước. Tục gọi đó là hồ tiên tắm, hình thể thật kỳ lạ. Lại nghe nói gần Lâm Viên có một ngọn núi cao 2.200 thước tây là núi cao nhất Trung Kỳ. Đã mở một con đường nhỏ để tiện lên núi ngắm cảnh. Nếu đứng trên đỉnh núi này nhìn qua kính viễn vọng thì phía
Tây thấy được nhà cửa của cư dân tỉnh Côn Tung [Kon Tum], phía đông thấy tới biển. Đây cũng do quý Khâm sứ đại thần nói cho biết”.

Sự hùng vĩ của con suối được miêu tả khá chi tiết và thú vị, dòng suối này có rất nhiều những hòn đá tảng nằm chắn ngang dòng suối. Vì thế mà tác giả đã ví như là phiến thạch bàn (bàn đá lớn). Từ hai bên khe của bàn thạch đó, nước cứ thế phun ra đổ vào những tảng đá lớn ở giữa dòng. Cảnh thác nước tuôn trào thật kỳ vĩ, cộng với vẻ đẹp hoang sơ chẳng khác gì chốn bồng lai. Có lẽ vào thời điểm này, cây cối hai bên bờ suối vẫn còn rậm rạp, cùng với thác nước tuôn trào, hình thể như năm rồng phun nước, quả thật không cảnh nào có thể tả nổi.

Cảnh suối Đankia được tô điểm bởi một ngọn núi cách đó không xa lắm, ngọn Lang Biang hùng vĩ, được mệnh danh là cao nhất xứ Trung Kỳ, từ đỉnh núi này nếu nhìn bằng kính viễn vọng thì có thể nhìn thấy cư dân của tỉnh Kon Tum và phía đông thì thấy được tới biển Ninh Thuận.

Sông Đa Nhim bắt nguồn từ phía bắc núi Gia Rích (1923m) đổ vào sông Đa Dâng ở gần tháp Pongour.

 Năm 1916, Le Chemineau trong dịp lên Đà Lạt đã mô tả:

“Quả thật chúng tôi dường như đang ở Thụy Sĩ. Những cây thông xích lại gần nhau hơn tạo thành một khu rừng gần như bất tận. Đây đó những chiếc cầu gỗ thô sơ bắc qua thác nước reo vang trên ghềnh đá. Xe xuống vài dốc rồi lại leo lên nhiều dốc. Từ Giăng Ca ở cây số 71 và trên độ cao 820 m, chúng tôi đến đèo Đa Trồm (Datroum) ở cây số 80 và trên độ cao 1.230m. Nếu được dừng lại 5 phút, bạn hãy leo lên trạm ven đường và sẽ nhìn thấy phong cảnh tuyệt vời của núi đồi trùng điệp trải dài đến tận núi Lang Bian, dưới chân núi là Đà Lạt. Qua khỏi đèo Đa Trồm, xe xuống một con dốc dài 5km và ở độ cao chỉ còn 1.000m. Chiều xuống dần. Cách Djiring 20 km, xe chạy nhanh và sau khi qua khỏi ruộng lúa, buôn làng Klông Đi Um (Klondioum), Hăng Ti (Hanti), Klong Trao, chúng tôi nhìn thấy toà công sứ Djiring xinh đẹp nằm trên độ cao 1.000m.

Djiring là thủ phủ của một vùng Thượng đông dân có khí hậu ôn hoà. Rau cải mọc tốt, cả dâu tây, hoa tím, hoa hồng và nhiều loài hoa khác. Vùng này không thể so sánh với Đà Lạt về nghỉ dưỡng nhưng hấp dẫn về nhiều phương tiện. Mặc dầu có bệnh sốt rét xuất hiện, đây vẫn là một vùng có khí hậu mát lành hơn nhiều thành phố ven biển. Từ lâu, Djiring đã là một trung tâm nông nghiệp quan trọng, rau cải cho năng suất cao, cây cà phê cũng mang lại hiệu quả tốt. Hơn nữa, đồng cỏ cũng góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp. Thắng cảnh và thịt rừng càng làm cho Djiring hấp dẫn hơn.

Một căn nhà gỗ với mái hiên rộng (bungalow) cho phép du khách ngủ qua đêm.

Hãng S.A.C.L không tổ chức cho chúng tôi thăm thác Bô Bla (Bobla) chỉ cách đó chừng 15 phút, còi ô tô giục giã chúng tôi tiếp tục lên đường.

Đường đi trước đây hướng từ Nam lên Bắc, đến Djiring đường chuyển sang Đông chếch 450.

Chúng tôi đi ngang qua một cao nguyên có độ dốc thấp dần đến 780m ở Đa Lê (Dalé)- một nhánh sông Đa Nhim- cách Djiring 20km. Buôn làng rất nhiều và đồng ruộng màu mỡ chứng tỏ đây là một trong những vùng giàu nhất xứ. Dọc theo con đường dài khoảng 20 km có các buôn Kamigne, Kao-Bout, Rao-Rli, Cao quouil, Djirlagne, Bsout-Bill và Tam Bố (Tambou). Từ Đa Lê đến Đa Nhim, sở thuỷ lâm đã thiết lập một trạm nghiên cứu và tiến hành một  số thí nghiệm về trích nhựa thông. Bây giờ xe chạy hết tốc lực xuyên qua rừng thông mang dáng dấp một công viên xinh đẹp. Thình lình vài mương đất đỏ hiện ra, sau khi xe chạy xuống một cái dốc ngắn, chúng tôi gặp sông Đa Nhim ở cây số 130 trên đường Phan Thiết-Đà Lạt.

32 km đường từ Djiring đến Đa Nhim rất tốt vào mùa khô, nhưng vài đoạn đường rất xấu vào mùa mưa, cần phải gia cố mặt đường.

Trước đây, người ta phải kết những chiếc xuồng độc mộc rộng 50cm đục từ thân cây tạo thành một chiếc cầu bắc qua sông Đa Nhim. Ngày nay, có một chiếc cầu gỗ do bàn tay khéo léo của người Thượng tạo nên.

Từ độ cao 840m, xe leo dần đến Phi Nôm (Fimnon) ở cây số 150 (độ cao 975m). Thung lũng Đa Nhim có độ chênh 135m trên một đoạn đường dài 20km. Độ chênh này rất cao đối với một dòng sông vì nhiều thác ghềnh, đặc biệt hai thác rất đẹp là Gu Ga (Gau-gah) ở cây số 136 và Liên Khàng.

Dòng sông Đa Nhim chảy nhanh đã gợi ý nghiên cứu một dự án thủy nông. Tưới nước cho một cánh đồng dài 20km, rộng 6km nằm ở tả ngạn (cây số 140) là một công tác dễ thực hiện nhờ nước sông Đa Nhim phía trên Liên Khàng hay suối Đạ Tam (Datam) có thể cung cấp cho từ 500 đến 600 ha. Công trình được ước tính 25.000 đồng vào năm 1904 chắc sẽ được thực hiện trong tương lai.

Phi Nôm ở gần hợp lưu của Đạ Tam và Đa Nhim. Từ đây có một nhánh đường đi Xóm Gòn qua Đrăn (Dran). Từ Phi Nôm đến Klong (cây số 150), xe chạy ngang qua vài cánh đồng lúa và buôn làng. Từ Pren (Prenn), xe thực sự leo lên cao nguyên. Pren (cây số 165) nằm ở độ cao 1.125m trong khi Đà Lạt, còn cách xa 10km, ở độ cao 1.475m.

Xe men theo sườn đồi, chúng tôi lúc nhìn về hướng Nam, lúc nhìn về hướng Bắc. Một đoạn đèo hiện ra, chúng tôi tưởng là đoạn đèo cuối cùng, nhưng sau đó xe lại tiếp tục lên dốc.

Mọi người reo lên khi từ trên đỉnh đồi nhìn thấy những căn nhà gỗ nằm rải rác trên cao nguyên. Dưới thung lũng là căn nhà gỗ trước đây nhân viên của các phái đoàn nghiên cứu đã trú ngụ hiện dùng làm khách sạn. Xa xa, Toà công sứ nằm chơ vơ trên đỉnh đồi cao nhất, bên cạnh đó và thấp hơn là căn nhà gỗ của viên chưởng lý theo đúng tôn ti trật tự. Bên phải chúng tôi là căn nhà của công chánh và bên trái là Toà Thị chính.

Trừ hướng tây bắc, cao nguyên Lang Bian ở độ trung bình 1500m trải dài hàng trăm cây số vuông, dân cư rất thưa thớt, chỉ sống ven bờ suối Cam Ly. Một làng người Việt được xây dựng ở bờ suối. Dân làng là những người thợ và người đi buôn, phần lớn là nhân viên địa chính cũ của các phái đoàn nghiên cứu”.

Đà Lạt nằm trọn trong tỉnh Lâm Đồng, phía bắc giáp huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương, phía tây giáp huyện Đông Hà, phía tây nam giáp huyện Đức Trọng. Địa hình Đà Lạt được phân thành hai dạng rõ rệt: địa hình núi và địa hình bình nguyên trên núi. Địa hình núi của Đà Lạt được phân bổ xung quanh vùng cao nguyên trung tâm thành phố. Các dãy núi cao khoảng 1.700 mét tạo thành một vành đai chắn gió che cho khu vực lòng chảo trung tâm. Từ thành phố nhìn về hướng bắc dãy Lang Biang như một tường thành theo hướng đông bắc-tây nam, kéo dài từ suối Đạ Sar đến hồ Đankia. Hai đỉnh cao nhất của dãy núi này có độ cao 2.167 mét. Án ngữ phía đông và đông nam Đà Lạt là hai dãy Bi Doup và Cho Proline. Về phía Nam, địa hình núi chuyển tiếp sang bậc địa hình thấp hơn, đặc trưng là khu vực đèo Prenn với các dãy núi cao xen kẽ những thung lũng sâu. Trung tâm Đà Lạt như một lòng chảo hình bầu dục dọc theo hướng bắc-nam với chiều dài khoảng 18 km. Những dãy đồi đỉnh tròn ở đây có độ cao tương đối đồng đều nhau, sườn thoải về hướng hồ Xuân Hương và đầu cao về phía các vùng núi bao quanh. Nơi cao nhất trong trung tâm thành phố là dinh Nguyễn Hữu Hào với độ cao 1.532 mét, còn điểm thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương, độ cao 1.398 mét.

Trên địa phận thành phố Đà Lạt, xen giữa vùng đồi thấp trung tâm thành phố và các dãy núi bao quanh, có thể thấy hơn 20 dòng suối có chiều dài trên 4km, thuộc các hệ thống suối Cam Ly, Đa Tam và hệ thống sông Đa Nhim. Đây đều là những con suối đầu nguồn thuộc lưu vực sông Đồng Nai, trong đó hơn một nửa là các con suối cạn, chỉ chảy vào mùa mưa và cạn kiệt vào mùa khô. Suối Cam Ly dài 64,1km, bắt nguồn từ huyện Lạc Dương, chảy theo hướng bắc-nam và đổ vào hồ Xuân Hương. Đây chính là hệ thống suối lớn nhất Đà Lạt, có vai trò quan trọng trong việc tạo cảnh quan cho khu vực đô thị trung tâm. Đà Lạt còn nổi tiếng là thành phố của hồ và thác với khoảng 16 hồ lớn nhỏ phân bổ rải rác, phần nhiều là các hồ nhân tạo. Hồ Xuân Hương nằm ở trung tâm thành phố, rộng khoảng 38 ha, được tạo lập năm 1919 trong quá trình xây dựng Đà Lạt.

Sau khi triều đình Huế thông báo dụ thành lập Thị tứ Đà Lạt vào năm 1916, dân cư Đà Lạt và vùng lân cận dần tăng lên, hệ thống giáo dục ở đây bắt đầu hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của thành phố. Trường học đầu tiên ở Đà Lạt là trường École francaise, khai giảng vào ngày 20-12-1919, chỉ dành riêng cho các học sinh người Pháp. Cuối thập niên 1920, những công  chức người Pháp tới Đà Lạt ngày một đông, thành phố có thêm hai ngôi trường Pháp mới, Petit Lycée và Grand Lycée. Trường Grand Lycée được khởi công xây dựng vào năm 1929 và khai giảng năm 1933, dành cho con em người Pháp và các quan lại người Việt. Đến năm 1935, trường khánh thành và mang tên Trung học Yersin , tiền thân của trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt ngày nay. Ngôi trường dành cho học sinh Việt Nam đầu tiên là một trường tư được thành lập năm 1927. Năm 1928, ngôi trường công dành cho học sinh Việt Nam mang tên École communale de Dalat, khai giảng khoá đầu tiên. Năm 1934, Trường Couvennt des Oisecaux và năm 1939, Trường Thiếu sinh quân Đà Lạt lần lượt được ra đời. Ở bậc giáo dục đại học, niên học 1944-1945, Chính phủ Pháp cho mở một lớp chuyên khoa toán đặt tại Trung học Yersin. Lớp học này có khoảng 40 sinh viên, chỉ tồn tại đến tháng 3-1945, thời điểm Nhật đảo chính Pháp. Thời kỳ 1945 đến 1954, ở Đà Lạt còn xuất hiện thêm hai trường mới, Trường Hành chính Quốc gia và Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt. Sau năm 1954, dân số Đà Lạt tăng đột biến nhờ một lượng lớn di dân từ miền Bắc và miền Trung, nhiều ngôi trường mới tiếp tục ra đời. Năm 1957, Viện Đại học Đà Lạt được thành lập, xuất phát từ một tổ chức tư thục do giáo hội Thiên Chúa giáo quản lý. Từ 49 sinh viên trong niên học đầu tiên 1958-1959, đến niên học 1974-1975, Viện Đại học Đà Lạt có khoảng 5.000 sinh viên theo học, bao gồm các trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Khoa học và Đại học Chính trị-Kinh doanh. Thời điểm trước tháng 4-1975, tại Đà Lạt có đến 61 ngôi trường, cả công lập và tư thục. Bên cạnh các trường phổ thông, đại học, ở đây còn có nhiều trường đào tạo quân sự và tôn giáo như Trường Võ bị Quốc gia, Trường Chiến tranh chính trị, Trường Chỉ huy và Tham mưu, Giáo Hoàng học viện.

Do đặc điểm địa hình, giao thông Đà Lạt chỉ gồm đường bộ, đường sắt và đường không. Tuyến đường quan trọng nhất nối Đà Lạt với các thành phố khác là quốc lộ 20. Con đường này giao với quốc lộ 1 tại ngã ba Dầu Giây, tỉnh Đồng Nai, từ đó hướng về Sài Gòn và nối với quốc lộ 27 tại D’Ran để về Phan Rang và các tỉnh Nam Trung Bộ. Quốc lộ 20 còn cắt qua Di Linh, từ đây theo quốc lộ 28 hướng nam sẽ dẫn đến thành phố Phan Thiết. Xuất phát từ Đà Lạt, tuyến đường 723 đi xuyên qua các huyện Lạc Dương của Lâm Đồng và Khánh Vĩnh, Diên Khánh của Khánh Hoà, tới thành phố Nha Trang, giúp hành trình giữa hai thành phố du lịch nổi tiếng chỉ còn khoảng 130km, so với lộ trình cũ Đà Lạt-Phan Rang-Nha Trang dài 228 km. Đà Lạt còn một tuyến tỉnh lộ khác là đường 722 đi Đam Rông, nối thành phố với các vùng tây bắc của tỉnh Lâm Đồng.

Tuyến đường sắt Tháp Chàm-Đà Lạt được xây dựng từ năm 1903 đến năm 1928 bắt đầu khai thác vận tải toàn tuyến. So với các tuyến đường sắt khác ở Việt Nam, tuyến Tháp Chàm – Đà Lạt độc đáo nhờ sử dụng hệ thống đường sắt răng cưa, gồm ba đoạn từ Sông Pha lên tới Đà Lạt, tổng cộng gần 16 km. Điểm cuối của tuyến đường sắt này là nhà ga Đà Lạt, xây dựng từ năm 1932 đến năm 1938, một công trình kiến trúc độc đáo do hai kiến trúc sư người Pháp Révéron và Moncet thiết kế giao thông hàng không của Đà Lạt được thực hiện qua sân bay Liên Khương và sân bay Cam Ly. Sân bay Liên Khương cách trung tâm thành phố Đà Lạt 28 km về phía nam, nằm cạnh quốc  lộ 20, thuộc thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng. Phi trường này được người Pháp cho xây dựng và đưa vào hoạt động vào năm 1933, khi đó chỉ có một đường băng bằng đất nện cứng dài 700 mét. Trong Thế chiến thứ hai, Quân đội Nhật Bản đã nâng cấp sân bay Liên Khương, đường hạ cánh được rải cán đá và dùng cho mục đích quân sự. Phi trường còn tiếp tục được xây dựng dưới thời Việt Nam Cộng hoà với nhà ga dân dụng mới và mặt đường băng phủ bê tông nhựa có thể sử dụng cho máy bay dưới 35 tấn.

Đà Lạt là thành phố được thiên nhiên dành cho nhiều ưu ái. Những thắng cảnh của thành phố, nằm rải rác ở cả khu vực trung tâm lẫn vùng ngoại ô, như hồ Xuân Hương, đồi Cù, thung lũng Tình Yêu, hồ Than Thở, thác Prenn… từ lâu đã trở nên nổi tiếng.

Lịch sử đã để lại cho Đà Lạt không ít những công trình kiến trúc giá trị, như những công sở, trường học, nhà thờ, tu viện, chùa chiền, công trình công cộng… cùng hàng ngàn biệt thự xinh đẹp hiện diện khắp thành phố. Do những đặc điểm trong quá trình hình thành cộng đồng dân cư, đời sống tín ngưỡng và tôn giáo ở Đà Lạt rất đa dạng. Trên thành phố ngày nay có thể thấy sự hiện diện của 43 nhà thờ, tu viện Công giáo hay Tin Lành, 55 ngôi chùa và tịnh xá Phật giáo, 3 thánh thất Cao Đài cùng rất nhiều những ngôi đình làng nằm rải rác. Phần lớn cư dân Đà Lạt hiện nay là những người Việt đến từ nhiều  vùng miền, vì thế có thể bắt gặp ở đây tất cả những hình thái tín ngưỡng phổ biến của người Việt như tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng Thành hoàng, tục thờ Mẫu, tục thời gia thần… Nhưng điểm làm nên sự khác biệt giữa đời sống tín ngưỡng ở Đà Lạt với các vùng khác như miền Bắc và miền Trung chính là tuổi đời mới chỉ một thế kỷ của thành phố. Đà Lạt không có những ngôi từ đường cổ kính, các thôn làng ở đây không có những gốc tích xa xưa, những ngôi đình làng tuy xuất hiện dày đặc nhưng phần lớn đều mới được dựng lên cách đây chỉ 3, 4 thập kỷ và mang quy mô nhỏ

Hầu hết các tôn giáo lớn ở Việt Nam đều có mặt tại Đà Lạt, trong đó đạo Phật là tôn giáo có lượng tín đồ đông đảo nhất, tiếp đến là Công giáo, đạo Cao Đài và đạo Tin Lành. Các tôn giáo du nhập vào vùng cao nguyên Lâm Viên từ khá sớm và sự tăng trưởng về số lượng tín đồ, cơ sở thờ tự đều gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của thành phố. Hầu như mỗi cuộc di dân đến đây đều đem lại cho Đà Lạt thêm một số lượng tín đồ cùng sự hình thành các cơ sở thờ tự mới.

Ngay sau khi tỉnh Đồng Nai Thượng và Đại lý hành chính Đà Lạt thành lập, năm 1900 Nhà Đốc lý Đà Lạt được xây dựng. Đến năm 1907 Lữ quán đầu tiên cho khách vãng lai là Hotel du lac (khách sạn Bên Hồ) được triển khai. Năm 1908 Trạm Nông nghiệp Đan Kia chuyển về Đà Lạt và tới năm 1911 toàn quyền Albert Sarraut chủ trương thi công gấp đường giao thông lên Đà Lạt và từ quyết định này đến năm 1914 đường Di Linh – Đà Lạt được hoàn thành.

Đến cuối năm 1916 thị tứ Đà Lạt chỉ gồm có 8 căn nhà gỗ dùng làm công sở bên dòng suối Cam Ly, khách sạn Bên Hồ từ 9 phòng ban đầu tăng lên 26 phòng và một làng người Việt gồm những người thợ và thương nhân hình thành. Cũng trong năm 1916 khách sạn Palace khởi công.

Đầu năm 1918, nhà máy đèn đầu tiên của Đà Lạt được xây dựng và vận hành với công suất 50KW và đường dây hạ thế chủ yếu cung cấp cho công sở và khách sạn Bên Hồ gần nhà máy. Nhà máy được đặt thung lũng sau Nhà Đốc lý nay là thung lũng trước Sở Giáo dục Lâm Đồng.

Cũng trong năm 1918 nhiều công trình được thi công như Bưu điện, trường Nazareth, nhà Ngân khố. Năm 1920 nhà máy nước đầu tiên của Đà Lạt khánh thành. Năm 1923 khách sạn Du Parc bước vào xây dựng. Đến năm 1923 bắt đầu thực hiện qui hoạch mới thành phố Đà Lạt của kiến trúc sư Hebrard, đáng kể nhất là trường Tiểu học Pháp (Petit Lycee) khánh thành năm 1927.

Với một loạt công trình mới đưa vào xử dụng, nhà máy đèn đầu tiên không đủ công suất đáp ứng, vì vậy đến năm 1927 khởi công xây dựng nhà máy điện mới theo qui hoạch của Hebrard và sau hơn một năm thi công, năm 1928 nhà máy điện mới được khánh thành.

Nhà máy điện thứ hai của thành phố Đà Lạt toạ lạc tại số 118 đường 3 tháng 2 hiện nay và vẫn còn nguyên số đắp nổi 1928 ở mặt tiền trên cao của nhà máy. Nhà máy này đầu tiên gồm 3 tổ máy vận hành bằng dầu mazout:

  1. Tổ máy số 1:

     Công suất:              200KW       Diện áp                3,3KV

     Hãng chế tạo:                   SIERRA – ALSTHOM   của   Pháp 

  1. Tổ máy số 2:

     Công suất:              400KW       Điện áp                3,3KV

     Hãng chế tạo:                   WINTERTHUR  của  Thuỵ Sĩ

  1. Tổ máy số 3:

     Công suất:              400KW       Điện áp                3,3KV

     Hãng chế tạo:                   WINTERTHUR  của  Thuỵ Sĩ.

Các tổ máy được làm mát bằng nước chảy theo một chu trình kín. Nước từ đài nước cao cũng có số đắp nổi 1928 cạnh nhà máy chảy theo thế năng tự nhiên qua các tổ máy. Nước khi chảy qua các tổ máy hấp thụ nhiệt năng sinh ra trong quá trình sản xuất điện, nước nóng này chảy ra khỏi nhà máy vào các hồ giải nhiệt 1, 2 và 3 có cao trình thấp dần có mặt thoáng rộng và nhờ nhiệt độ môi trường tự nhiên thấp làm nhiệt độ nước giảm dần từ hồ 1 qua hồ 2 và hồ 3. Từ hồ 3 nước đã được giảm nhiệt được bơm lên đài nước để tiếp tục chu trình tự chảy vào làm mát các tổ máy.

Nhà máy ban đầu chỉ có các đường dây 3,3 KV cung cấp điện chủ yếu cho khu công sở, khách sạn, khu vực gần nhà máy như trường tiểu học Pháp, bệnh viện…

Năm 1929 nông trại O’Neil nằm ở hạ lưu thác Cam Ly tự thiết kế và thi công một công trình thủy điện gồm một đập nước cao 15m, dày từ 54m đến 65m và hai tổ máy công suất 55HP và 260HP tương đương 40KW và 190KW cung cấp điện cho thắp sáng, bơm nước, ướp lạnh, đóng chai… Đáng tiếc là đến năm 1932 một cơn bão mạnh gây mưa lớn làm nước dâng nhanh trên dòng Cam Ly. Hậu quả là đập nước bị phá hỏng và dòng nước đã cuốn trôi hoàn toàn công trình. Vậy là công trình thủy điện đầu tiên của Đà Lạt không còn hiện hữu.

Cũng trong năm 1932 đường Sài Gòn-Đà Lạt và đường sắt Phan  Rang-Đà Lạt hoàn thành tạo điều kiện thuận tiện cho việc chuyên chở nguyên vật liệu phục vụ xây dựng các công trình. Do đó đây là thời kỳ Đà Lạt phát triển rất nhanh với hàng loạt công trình được khánh thành như:

– Năm 1935 hoàn thành đập Ông Đao sau khi khởi công năm 1932. Cũng trong năm này khánh thành trường Lycee Yersin có sự tham dự và đọc diễn văn của bác sĩ Yersin.

– Năm 1936 Viện Pasteur và trường Couvent des Oiseaux

– Năm 1937 khánh thành khu doanh trại quân đội Courbet (nay là Học viện Lục quân) và chợ Đà Lạt mới được xây dựng sau khi chợ Cây Củ bị cháy tại vị trí ấp Ánh Sáng hiện tại.

– Năm 1938 ga Đà Lạt, nhà máy nước hồ Than Thở và ấp Hà Đông.

– Năm 1939 trường Thiếu sinh quân (nay là Viện Đại học Đà Lạt), khu biệt thư Ruc des Glaieuls, Ruc des Roses (nay là đường Nguyễn Viết Xuân, Huỳnh Thúc Kháng), khu biệt thự Saint Benoit (nay là khu quanh hồ Mê Linh),  khu biệt thự Belles Vues (nay là khu Lê Lai).

– Năm 1940 lập ấp Nghệ Tinh và khánh thành chùa Linh Sơn. Cũng trong năm này, ngay sau khi nhận chức Toàn quyền Đông Dương Decoux giao cho trưởng phòng kiến trúc và qui hoạch là Kiến trúc sư Lagisquet thiết lập đồ án chỉnh trang và mở rộng thành phố Đà Lạt.

Chiến tranh thế giới lần thứ II (1939-1945) nổ ra đã làm cho những người Pháp trong bộ máy cai trị ở Đông Dương khó có thể trở về chính quốc hoặc các nước châu Âu để nghỉ hè. Vì vậy, Toàn quyền Đông Dương Decoux có chủ trương tiếp tục lấy Đà Lạt làm nơi nghỉ mát cho các du khách phương Tây. Chính vị Toàn quyền này đã cho xây dựng thủy điện Ankroet (Suối Vàng) vào năm 1943 để cấp điện cho thành phố Đà Lạt. Đây là nhà máy thủy điện đầu tiên của Việt Nam. Nhà máy này nằm cách thành phố Đà Lạt 18km về phía tây bắc, thuộc địa phận xã Lát, huyện Lạc Dương ngày nay. Kể từ năm 1945 được đưa vào vận hành tới nay nhà máy đã hoạt động liên tục gần 70 năm.

Các công nhân xây dựng Việt Nam tham gia làm nhà máy hồi đó phần lớn là dân phu Nghệ Tĩnh bị bắt vào. Họ đã phải lao động vất vả trong ba năm trời để đắp đập với trên 300.000m3 đất, chẻ đá trên 1000m3 xây dựng đập tràn, tạo hồ chứa trên 21 triệu m3 nước đào hầm dẫn dài 534m để tạo cột nước 80 mét và lắp đặt 2 tổ máy 300KW. Bên cạnh đó họ còn phải thi công đường dây 3,3KV dài 15km để cấp điện cho Đà Lạt, công nhân vận hành nhà máy cũng toàn người Việt Nam. Từ năm 1945 nhà máy thuộc sự quản lý và điều hành của Công ty Điện nước Đông Dương (CEE). Nhà máy thủy điện Suối Vàng gồm các hạng mục sau:

  1. Hồ đập Đankia:

       – Cao trình đỉnh đập đất:                            1427m

       – Cao trình đỉnh tràn đập đá:            1421,8m

       – Diện tích lưu vực:                            141km2

       – Thể tích hữu dụng của hồ:              15,2 x 106m3.

       – Đường hầm đáy đập đá đường kính 1,6m dài 160m, cao trình 1410,8m.

  1. Hồ đập Ankroet:

       Hồ Ankroet nhận nước từ hồ Đankia và cung cấp cho nhà máy qua đường thủy đạo.

         – Cao trình đỉnh đập đá:                           1410,72m

         – Diện tích lưu vực:                             145km2

         – Thể tích hữu dụng:                          106m3.

  1. Thuỷ đạo:

       – Đường hầm bê tông cốt thép đường kính 1,6m dài 482m, cao trình 1406,72m.

       – Giếng điều áp bê tông cốt thép đường kính 3,8m

       – Đường ống thép dài 50m, đường kính 1,5m giảm dần còn 1,3m

       -Van cầu đường kính 1,3m

       – Đường ống thép thuỷ áp dài 182m, đường kính 1,3m

       – Hầm xả cao trình 1321m.

  1. Nhà máy:

       Nhà máy gồm 2 tổ tuabin máy phát công suất 300KW mỗi ngày Hãng sản xuất BELL của  Mỹ.

  1. Đường dây trung thế:

       Đường dây trung thế 13,2KV Suối Vàng-Đà Lạt dài 12km cung cấp điện cho Dòng Chúa Cứu Thế (nay là Phân viện Sinh học) và Domaine de Marie (nay là tu viện Mai Anh) và khu vực lân cận.

       Quản lý sản xuất và bán điện tại thành phố Đà Lạt từ năm 1918 thuộc Công ty CEE (Compagnie des eaux et d’electricite de l’Indochine tức Công ty Điện nước Đông Dương).

Kể từ năm 1945, quản lý sản xuất và bán điện còn có thêm đơn vị là Sở Công chánh Đông Dương cũng là đơn vị quản lý nhà máy thủy điện Ankroet. Sở này kinh doanh điện các khu vực sau: Đa Thành, khu Thánh mẫu, khu Trại Mát, khu Cầu Đất, Phát Chi, Trạm Hành và thị trấn Đran.

Trong thế chiến thứ hai, người Nhật xâm chiếm Đông Dương. Tháng 3-1945 quân đội Nhật chiếm đóng nhà máy điện Đà Lạt. Thời kỳ này vì không có nhiên liệu cung ứng, các tổ máy điện phải vận hành bằng dầu dừa thay vì dầu mazout. Đến tháng 8-1945 sau khi quân đội Nhật đầu hàng, người Pháp quay trở lại quản lý nhà máy.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vừa mới ra đời, chính quyền nhân dân còn non trẻ đã phải đương đầu với nhiều khó khăn phức tạp. Bọn phản động trong nước tìm cách ngóc đầu dậy chống phá cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền cùng với hậu quả của chế độ phong kiến hàng ngàn năm, chính sách cai trị, xâm lược của thực dân Pháp, phát xít Nhật rất nặng nề, đã khiến cho nền kinh tế non trẻ của cách mạng gặp phải muôn vàn khó khăn thiếu thốn.

Được quân Anh làm chỗ dựa, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng ra các tỉnh Nam Bộ. Ở Lâm Đồng, chúng bắt ép quân Nhật phải chiếm lại những vị trí đã mất để bàn giao lại cho người Pháp. Trước tình hình đó, lực lượng vũ trang và tự vệ chiến đấu được gấp rút xây dựng tích cực chuẩn bị mọi mặt để bảo vệ chính quyền cách mạng.

Do việc quân Nhật ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng vi phạm độc lập chủ quyền và có những hành động khiêu khích, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Viên đã dùng lực lượng quần chúng nhân dân và công nhân đấu tranh đòi trả lại những công sở mà Nhật đang chiếm giữ.

Sáng ngày 3-10-1945, công nhân từ các công trường, xí nghiệp, nhà máy cùng nhân dân trong thành phố Đà Lạt tập trung tại khu chợ, tiến hành  biểu tình từ Trại Mát lên Đà Lạt để dự mít tinh. Với vũ khí thô sơ, lực lượng công nhân, nông dân chia thành các đoàn đến bao vây các công sở, đòi quân Nhật giao lại chủ quyền cho ta.

Đoàn thứ nhất kéo đến bao vây Viện Pasteur; đoàn thứ hai kéo đến khách sạn Palas, Ngân khố, Bưu điện; đoàn thứ ba kéo xuống nhà ga xe lửa, khi đến cuối sân vận động gặp quân Nhật trên đồi bắn xuống, hai biên giao chiến cho đến ngày hôm sau.

Tại nhà máy điện Đà Lạt, thực hiện chủ trương của Uỷ ban Nhân dân, lực lượng tự vệ đã cùng công nhân nổi dậy chiếm giữ nhà máy, sau đó đưa những công nhân trẻ ra bao vây bốt Bảo an ở ngã ba đường Duy Tân. Quân Nhật ở bên trong bắn ra, một số đồng bào và tự vệ của ta hy sinh, trong đó có ông Nguyễn Lượng là công nhân nhà máy. Tuy vũ khí thô sơ, nhưng với tinh thần chiến đấu dũng cảm, lực lượng tự vệ nhà máy điện và anh em công nhân đã tiêu diệt một số quân Nhật.

Phối hợp với các nơi khác, tại khách sạn Palas, dinh Toàn quyền Đông Dương, Ngân khố, Bưu điện và Viện Pasteur, lực lượng quần chúng và anh em  công nhân được sự giúp sức của các đội tự vệ đã xiết chặt vòng vây, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Ông Vũ Hoà Hốt, công nhân nhà máy điện đã anh dũng hy sinh, nhiều người khác bị thương dưới trời mưa tầm rã nhưng không một ai rời vị trí chiến đấu. Khí thế đánh Nhật lan đi khắp nơi, ở các ngả đường, nhân dân truy lùng vây bắt và tước súng quân Nhật…

Qua hai ngày chiến đấu, lực lượng cách mạng đã tiêu diệt 28 tên Nhật, bắn bị thương nhiều tên khác. Tuy nhiên, phía ta cũng thiệt hại nặng với 40 người hy sinh, trong đó có hai công nhân.

Cuối tháng 10-1945, thực dân Pháp tiếp tục đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và chuẩn bị tiến công ra các tỉnh cực Nam Trung Bộ. Chính phủ lâm thời đứng trước tình thế đó, đã chỉ thị cho các tỉnh tích cực xây dựng lực lượng và tổ chức chiến đấu. Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Viên quyết định đưa các cơ quan, đoàn thể, người già, phụ nữ, trẻ em tản cư xuống Cầu Đất, chỉ để lại một bộ phận thường trực, lực lượng thanh niên tự vệ thường xuyên tuần tra canh gác.

Thực hiện chủ trương kháng chiến, kiến quốc, hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã tự thành lập Uỷ ban Kháng chiến. Đơn vị Vệ quốc đoàn ở Đà Lạt được đưa xuống tăng cường cho phòng tuyến Trại Mát. Lực lượng tự vệ Đa Thành tổ chức một bộ phận cùng anh em công nhân bí mật chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí vào núi Bà dự định lập Chiến quốc quân với trên 100 cán bộ, chiến sĩ, cùng với nhân dân Kinh, Thượng, công nhân các đồn điền khẩn trương xây dựng phòng tuyến phía đông đèo B’lao. Ở tuyến sau, một đơn vị phần lớn là nữ công nhân lo tiếp tế, tải thương.

Ngày 9 và 10-11, quân Nhật tiến theo đường 20 để thăm dò lực lượng,  nhưng chúng đều bị đánh lui ở chân đèo B’lao. Ngày 11-11-1945, một đoàn xe quân Nhật hơn 40 chiếc chở gần 300 lính từ Sài Gòn lên. Khi đoàn xe lọt vào vị trí phục kích tại đèo Chuối, quân ta đồng loạt nổ súng, dũng cảm chiến đấu đến tận chiều tối làm quân Nhật vẫn không tiến lên được. Sáng hôm sau quân Nhật lại tổ chức tấn công, tổ chức một mũi vu hồi sau lưng trận địa. Vì lực lượng quá chênh lệch, bộ đội và lực lượng công nhân tự vệ phải rút khỏi phòng tuyến.

Dọc đường từ đèo B’lao đến Đà Lạt, nhiều chướng ngại vật được dựng lên. Sau khi đến Đà Lạt, quân Nhật đã chiếm lại hầu hết các công sở, nhà máy, đóng thêm nhiều đồn bốt, bắt giam một số người trong Uỷ ban Nhân dân tỉnh vào ngày 16-11-1945.

Ngày 27-1-1946, từ Sài Gòn, thực dân Pháp đưa một lực lượng khoảng 140 xe chở quân lên Đồng Nai Thượng và Lâm Viên, phối hợp với quân Nhật chia làm ba hướng tấn công vào các phòng tuyến của ta.

   Ở các phòng tuyến Trại Mát, Phi Nôm, từ sáng sớm địch đã cho pháo bắn dọn đường để bộ binh tiến lên. Với hệ thống phòng ngự trận địa và chướng ngại vật cùng cán bộ chiến sĩ quân đội, lực lượng tự vệ, công nhân đã chiến đấu dũng cảm gây cho địch nhiều thiệt hại nặng, nhưng do lực lượng quá chênh lệch nên lực lượng ta phải rút khỏi phòng tuyến.

Sau khi phá vỡ được phòng tuyến đường 11 và đường 21 kéo dài, hai cánh quân của địch theo đường 11 xuống đánh chiếm Tháp Chàm, Phan Rang.

Tại phòng tuyến cây số 42 trên đường số 8, sau một ngày chiến đấu ác liệt lực lượng ta tiêu diệt được nhiều tên địch sau đó các đơn vị vũ trang và đồng bào rút xuống Suối Hộ. Suối Nha Đam (Bình Thuận).

Chiếm được Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, người Pháp chủ trương khôi phục các hoạt động kinh tế, xã hội, tìm cách kêu gọi nhân dân, công nhân hồi cư, nhất là công nhân nhà máy điện. Trong thời gian này, Uỷ ban Kháng chiến Tỉnh chủ trương đưa một số cán bộ, công nhân cùng nhân dân trở về Đà Lạt để xây dựng cơ sở cách mạng trong vùng địch kiểm soát; tổ chức các đường dây liên lạc hợp pháp để chuyển các loại tài liệu, truyền đơn và cán bộ lên công tác ở Đà Lạt – trong đó có nhà máy điện.

Nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của phong trào quần chúng, Uỷ ban Kháng chiến tỉnh chủ trương củng cố lại các hội đã có trước đây; thành lập tổ chức công đoàn tại nhà máy điện Đà Lạt, với khoảng 20 đoàn viên tham gia, do ông Đinh Văn Hội phụ trách. Nhiệm vụ của công đoàn là tuyên truyền, vận động công nhân nhà máy tham gia kháng chiến. Ban Chấp hành công đoàn thường khai thác các bản tin thời sự qua máy thu thanh về tình hình hoạt động phong trào công nhân ở các nơi trong nước để tuyên truyền giáo dục cho anh chị em công nhân. Hoạt động của công đoàn đã có ảnh hưởng rất lớn đối với phong trào, thu hút nhiều công nhân tham gia vào tổ chức, số lượng đoàn viên ngày mỗi tăng thêm. Tháng 10-1947, trong buổi lễ kết nạp đoàn viên mới tại số nhà 36 đường Lò Gạch (nay là đường Hoàng Diệu) địch phát hiện và tổ chức vây bắt. Ông Trần Ngũ kịp thời cất giữ cờ Đảng và cờ Tổ quốc lên trần nhà. Sau sự kiện tại số nhà 36, bọn địch tăng cường sự kiểm soát các hoạt động của phong trào công nhân nhà máy điện. Trước tình hình đó, tổ chức công đoàn nhà máy phải chia ra nhiều bộ phận nhỏ và hoạt động phân tán.

Vận dụng hình thức công khai hợp pháp, Tỉnh có chủ trương củng cố lại hội “Phổ Hiếu” dưới danh nghĩa một tổ chức từ thiện để lo việc ma chay và giúp đỡ những người không gia đình khi qua đời.Với hình thức hoạt động công khai của Hội, mỗi con đường trong thành phố Đà Lạt thường được bố trí hai công nhân làm nhiệm vụ theo dõi, nắm tình hình địch và che dấu cán bộ, tạo điều kiện cho các hoạt động được thuận lợi hơn. Hầu hết những người tham gia Hội là công nhân thợ hồ, thợ mộc, qua hoạt động số công nhân của Hội đã nâng cao thêm nhận thức tư tưởng, hiểu biết về kháng chiến, nhiều người trởthành cơ sở cách mạng.

Ngày 16-11-1947, trong khi đi làm nhiệm vụ trên đơn vị Cầu Quẹo (nay là đường Phan Đình Phùng), ông Đinh Văn Hội, Thư ký công đoàn nhà máy điện Đà Lạt bị tên mật thám khét tiếng gian ác là Sáu Thơm bắn bị thương. Hắn đưa đồng chí vào bệnh viện chữa chạy và dụ dỗ nhằm khai thác tin tức nhưng hoàn toàn thất bại.

Cuối năm 1950, phong trào cách mạng ở Lâm Đồng có bước chuyển biến mới. Lực lượng thanh niên, công nhân, học sinh có phong trào thoát ly ra chiến khu tham gia kháng chiến. Thị uỷ Đà Lạt mở lớp huấn luyện quân sự cho hơn 200 thanh niên, công nhân vừa mới thoát ly. Sau 3 tháng huấn luyện, Thị uỷ Đà Lạt thành lập đội cảm tử Phan Như Thạch và 13 đội cảm tử hoạt động trong nội ô và vùng ven.

Các tổ chức quần chúng như công nhân, thanh niên, phụ nữ, tổ chức công đoàn được xây dựng trong các công sở, nhà máy, khách sạn, đồn điền, tập hợp được nhiều đoàn viên tham gia. Hình thức hoạt động rất phong phú, đa dạng, từ việc tập hợp, tổ chức công nhân đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh dân chủ đến việc tham gia in tài liệu, rải truyền đơn, nuôi dấu cán bộ và quyên góp tiền bạc, lương thực, thực phẩm gởi ra chiến khu.

Cuối năm 1950, tổ chức công đoàn ở nhà máy điện Đà Lạt đã vận động công nhân đấu tranh đòi tăng lương 12%, thực hiện các luật lệ lao động. Cuộc đấu tranh thắng lợi, nhưng sau đó địch tìm cách truy bắt cán bộ, cơ sở cốt cán trong phong trào công nhân, nhiều người phải thoát ly ra chiến khu. Cũng vào thời điểm này, thị xã Đà Lạt được tiếp nhận nhà trường Võ bị liên quân chuyển từ Huế vào.Năm 1952 ấp Ánh Sáng và Đa Phú được thành lập.

Sự phát triển rất nhanh các công trình và khu dân cư nêu trên dẫn đến các đường dây và trạm điện cũng phải được thi công nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu, cụ thể là các đường dây đến các trạm sau: Pateur (nay là trạm Pasteur); Couvent des Oiseaux (nay là trạm trường Dân tộc Nội trú); Camp Militaire (sau này là trạm Lý Thường Kiệt); Gare (nay là trạm Ga); Nhà máy nước hồ Than Thở; Joffre (nay là trạm Ngã 5 Đại học); Dragages (sau này là trạm Cung Thiếu nhi); Saint Benoit (sau này là trạm hồ Mê Linh);  Belles Vues (nay là trạm Lê Lai); Decoux (sau này là trạm Vạn Kiếp); Tour de Chasse (nay là trạm Hùng Vương); Nouvelle Usine des Eaux (nay là trạm nhà máy nước hồ Xuân Hương); Nha Địa dư (sau này là trạm Cục Bản đồ); Cầu Quẹo (sau này là trạm Cầu Quẹo).

Kể từ thời điểm này, nhu cầu về điện lại tăng cao. Từ năm 1953, chương trình mở rộng nhà máy thủy điện Suối Vàng bắt đầu được thực thi với việc đắp thêm đập ngăn nước mới và nó kéo dài cho tới tận năm 1955 mới hoàn thành.

 

 

 

 

 

 

  Chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại ở Đông Dương, đất nước Việt Nam bị chia thành 2 miền Nam-Bắc. Ngay từ năm 1954, ở phía Nam vĩ tuyến 17,  chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã cố gắng xác lập một nền hành chính mang sắc thái riêng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng bằng Dụ số 17 ngày 14-12-1955, ấn định các Phủ Thủ hiến được thay bằng Toà Đại biểu, nhưng Đà Lạt vẫn trực thuộc Tổng thống như tinh thần của Sắc lệnh số 4-QT/TD ngày 13-4-1953. Đây là giai đoạn có nhiều biến động cơ học về dân số, đối với địa phương do việc tăng cường hơn 30.000 đồng bào Thiên chúa giáo di cư từ miền Bắc vào, được bố trí theo thế chiến lược tại các địa bàn quan trọng vừa phòng thủ, vừa ngăn chặn lực lượng cách mạng, hình thành vành đai và các điểm dân cư nhằm bảo vệ các tiểu khu, chi khu và dọc các đường giao thông quan trọng như Tân Thanh, Tân Phát, Tân Bùi (Bảo Lộc). Phú Hiệp, Tân Xuân, Tân Lập (Di Linh), Bình Thạnh (trên đường liên tỉnh 18 còn gọi là đường 21 kéo dài), Lạc Lâm (trên quốc lộ 21A), ấp Phát Chi trên đường 11, các ấp nội ô và vùng ven phía tây bắc Đà Lạt. Ngoài ra còn có hàng ngàn đồng bào các dân tộc Tày, Nùng ở các tỉnh biên giới phía Bắc chạy theo Sư đoàn Nùng1 được bố trí ở xen kẽ với số đồng bào ở Khu V, Nam Bộ bị địch khủng bố phải rời bỏ quê hương đến Lâm Đồng sinh sống, tiêu biểu là vùng Tùng Nghĩa, Nam Sơn (Đức Trọng). Do đó, đã làm thay đổi cơ cấu dân cư, gây khó khăn cho phong trào cách mạng ở địa phương.

Năm 1956, dân số Đà Lạt là 58.958 người (trong đó người Việt Nam: 58.445, Hoa kiều: 1.307, Pháp kiều: 206) tăng gấp 3 lần so với năm 1948 (18.513 người). Thành phố Đà Lạt đặt dưới quyền Đô trưởng và Hội đồng đô thị giúp việc. Đô thị Đà Lạt giữ nguyên 10 khu phố như cũ, chỉ thêm làng Liên Hiệp (vùng sân bay Liên Khương) và 5 ấp mới: khu phố I có ấp Ga chia thành 2 ấp Cô Giang, Chi Lăng; khu phố III thêm ấp Kim Thạch; khu phố IV thêm ấp Thái Phiên; khu phố V thêm ấp Tùng Lâm.

Ngày 19-5-1958, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra Nghị định số 170-NV đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng và Sắc lệnh số 261-NV thành lập tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm có 2 quận B’lao, Di Linh, dời tỉnh lỵ từ Di Linh xuống B’lao (ngày 19-2-1959 đổi tên thành Bảo Lộc). Tỉnh Tuyên Đức có 3 quận: Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Riêng Đà Lạt là đô thị trực thuộc Trung ương và sau này sáp nhập vào tỉnh Tuyên Đức trở thành một đơn vị hành chính: Đà Lạt-Tuyên Đức.

Sắc lệnh 261-NV ấn định rõ: Thị trưởng Đà Lạt kiêm luôn Tỉnh trưởng tỉnh Tuyên Đức. Chức vụ này được cụ thể hoá như một sự kết hợp giữa hai Toà Thị chính và Toà Hành chính theo Sự vụ lệnh 68 VP/NV ngày 9-11-1960, do Thị trưởng Đà Lạt kiêm Tỉnh trưởng Tuyên Đức ký. Tỉnh Tuyên Đức gồm thị xã Đà Lạt và 3 quận Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng. Các khu vực Xuân Thọ, Thái Phiên lúc này thuộc tổng Phước Thọ, quận Lạc Dương, Xuân Trường thuộc tổng Xuân Lạc, quận Đơn Dương. Nền hành chính vẫn giữ  nguyên tinh thần của Sắc lệnh ngày 13-4-1953. Do vậy, dân số Đà Lạt đã giảm xuống còn 43.000 người.

Năm 1961, Toà Thị chính Đà Lạt tách ra khỏi Toà Hành chính Tuyên Đức, nhưng đến năm 1964 lại được sáp nhập thành Toà Hành chính Đà Lạt-Tuyên Đức. Chỉ đến năm 1966 Đà Lạt mới có trụ sở hành chính riêng biệt với cơ quan tỉnh. Mặc dù lúc này hay lúc khác, chức Tỉnh trưởng và Thị trưởng có thể do một người đảm nhận. Chế độ tự trị và  độc lập của thị xã vẫn được giữ  nguyên tinh thần cũ của thời Pháp thuộc. Vai trò của Hội đồng thành phố vẫn chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của Đà Lạt.

Ngoài bộ máy hành chính của địa phương, đóng tại Đà Lạt còn nhiều trụ sở của cơ quan hành chính liên tỉnh, quốc gia.

Nền kinh tế của Đà Lạt vẫn giữ như trước: phát triển kinh tế nghỉ dưỡng-du lịch và nông nghiệp trồng rau hoa. Đặc biệt, từ năm 1958, sau Đại hội Lâm Viên-Đà Lạt, Chương trình khai thác cao nguyên Trung phần được thực thi nhằm biến Đà Lạt thành trung tâm du lịch quốc tế để mở ra hướng dịch vụ mới về giáo dục và nghiên cứu khoa học. Hàng loạt trường học, cơ sở nghiên cứu khoa học và đào tạo ra đời:

– Viện Đại học Đà Lạt (1957).

– Trung tâm Sơn cước, Giáo hoàng Học viện, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử, Phòng Thống kê địa phương Đà Lạt, Trường Võ bị liên quân đổi thành Trường Võ bị quốc gia (1958).

– Chi nhánh Nha Văn khố quốc gia, Thư viện Đà Lạt (1958).

– Hội Việt Mỹ (1963).

– Trường Đại học Chiến tranh chính trị (1966).

– Trường Chỉ huy và tham mưu, Trung tâm Văn hoá Pháp  (1967), v.v…

Không kể các trường sơ tiểu học, Đà Lạt còn có 24 trường trung học, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, trong đó có những trường nổi tiếng như Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux, Adran… Đặc biệt là các loại hình trường nội trú thu hút học sinh từ mọi miền đến học tập.

Các công trình phục vụ du lịch được tiếp tục xây dựng và sửa chữa: Chợ Đà Lạt, đường xung quanh hồ Xuân Hương, khu vực trung tâm, mở rộng và sáp nhập sân bay Liên Khương vào Đà Lạt (1961), một loạt các khách sạn như Mộng Đẹp, Ngọc Lan, Duy Tân, Anh Đào… đều được xây dựng trong thời gian này.

Các điểm du lịch hồ Than Thở, thác Prenn, thung lũng Tình Yêu… được tôn tạo và xây dựng thêm (hồ Đan Kia, Đa Thiện 1, 2, 3) hấp dẫn du khách. Hàng loạt biệt thự do các quan chức, tướng tá Sài Gòn xây dựng tập trung ở khu vực đường Nguyễn Du, Quang Trung, Nguyễn Đình Chiểu, Lữ Gia, Trần Bình Trọng.

Chùa chiền, các tu viện của các dòng tu Thiên Chúa giáo và Tin lành được xây dựng làm cho sinh hoạt văn hoá Đà Lạt ngày càng đa dạng và phong phú.

Dân số tăng, mọi nhu cầu của xã hội đối với Đà Lạt cũng tăng lên chóng mặt với khát vọng Đà Lạt phải là một trung tâm du lịch danh tiếng  không những của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á. Nhu cầu về điện nước  cũng phải tăng theo. Tuy nhiên, như Thị trưởng Đà Lạt thừa nhận, đến cuối năm 1956 Đà Lạt không những không có đủ điện, nước cung cấp cho dân chúng ngoại ô (11 khu phố) mà tại trung tâm đô thị, việc sử dụng điện, nước cũng bị hạn chế theo một số giờ nhất định vì máy diésel ở nhà máy điện Đà Lạt do Công ty nước và điện Đông Dương (CEE) điều hành đã quá cũ, hai máy 250KW của nhà máy thủy điện Suối Vàng không đủ thoả mãn nhu cầu về điện lực của khu vực nội đô.

Tham vọng của chính quyền địa phương lúc này là nhà máy thủy điện Suối Vàng tiến tới thay thế hẳn nhà máy điện của CEE, đủ sức thoả mãn nhu cầu cho Đà Lạt mà còn cho các vùng phụ cận như Đaran, Liên Khương.

Ngay từ những năm 1952 – 1953, chương trình mở rộng công suất nhà máy thủy điện Suối Vàng đã được ấn định.

Để thực hiện chương trình này, ngân sách công trái đặc biệt số 1 của Cao nguyên Trung phần đã xuất 30 triệu đồng dùng cho việc xây dựng đập Đankia tạo ra hồ có sức chứa 20 triệu mét khối nước, đủ dùng cho 2 tổ máy lớn, mỗi tổ máy có công suất 1250KW.

Đầu năm 1955, đập Đankia xây dựng xong. Tháng 9-1955, tổ máy thứ nhất công suất 1250KW hoàn thành việc lắp đặt. Trong khi cho chạy thử, Nha Công chính Trung phần phát hiện đường hầm dẫn nước đoạn bị bể vỡ bởi trận bão hồi năm 1952 tuy đã gia cố nhưng đã bị nứt trở lại. Thêm vào đó là một khối đất rất lớn trên đồi Suối Vàng đang từ từ trồi sụt.

Ngay lập tức, Nha Công chính Trung phần cho đình chỉ chạy tổ máy 1250KW để đất đồi tạm ngừng trồi sụt, nước trong hồ cũng được tháo bớt. Cho tới cuối năm 1955, các kỹ thuật gia được mời đến để tìm lý do và họ đã đưa ra 2 giả thuyết tương phản nhau như sau:

Giả thuyết thứ nhất cho rằng, áp lực của 20 triệu mét khối nước đã khiến cho đất trồi sụt kéo theo một đoạn đường hầm đặt trên đất không được vững.

Giả thuyết thứ hai cho rằng, dưới áp lực của nước, đường hầm đã bị gãy, nước theo các chỗ bể nứt chảy ra tạo thành một bể nước ngầm lớn, biến đất thành  bùn khiến cả mảng đất lớn trồi sụt, làm cho nước ngầm toé ra ngoài như suối thác.

Căn cứ vào thuyết thứ nhất, Hãng Société Vietnamienné d’ Entreprises et de Terrassements (S.V.E.T, tức Công ty Việt Nam kinh doanh và đào đắp) đệ trình một dự án 4,4 triệu đồng để lấy bớt 9.000 mét khối đất làm lộ thiên đường hầm và nhẹ bớt mảng đất vừa bị trồi sụt.

Những người theo thuyết thứ hai đề nghị để nguyên trạng đồi núi nhưng đặt vào trong một ống thép mà đường kính bằng đường kính của đường hầm, dày 8mm, dài 60 mét (30 mét nằm phía trong tảng đá, 30 mét nằm ngoài phần đất). Ống thép này đủ sức chịu áp thủy lực sẽ ngăn cản không cho nước thoát ra ngoài, chấm dứt tình trạng sườn núi bị trồi sụt.

Toà Thị chính Đà Lạt cho rằng, đối với thuyết thứ nhất và dự án đi kèm, nhiều người, trong đó có ông Cros-Chuyên viên của cơ quan Trùng tu Điện lực (ONDEE) lo ngại trong qúa trình thực thi sẽ làm “lung lay cả quả núi và do đó có thể gây ra sự bất trắc, tác hại khó lường trước, dù rằng nếu được chấp thuận, Quỹ Viện trợ Pháp sẽ đài thọ, từ vật liệu đến chuyên viên sẽ do nước ngoài cung cấp”.

Toà Thị chính Đà Lạt có vẻ ngiêng về thuyết thứ hai và dự án đi kèm vì nó không đụng chạm tới việc đào non, phá núi; có thể hoàn thành một cách mau lẹ trong vòng vài ba tháng; giá thành rẻ; không cần viện trợ của nước ngoài; vật liệu, nhân công, chuyên viên có sẵn tại địa phương và  quan trọng là Toà Hành chính đô thị Đà Lạt có thể đứng ra điều khiển với sự tham gia của Nha Công chính Trung phần về phương diện kỹ thuật.

Đồng thời, Toà Thị chính Đà Lạt cũng nhấn mạnh, sự trùng tu cơ quan cấp phát điện lực Suối Vàng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc khuếch trương Đà Lạt về hai phương diện: cải thiện dân sinh và thúc đẩy tiến trình kế hoạch thiết kế đô thị.

Đối với phương diện thứ nhất, Toà Thị chính cho biết, nhà máy thủy điện Suối Vàng bán cho CEE giá 0,68$/KW nhưng do thủy điện mới phát ra được 480KW nên CEE còn phải cho 3 máy diésel của Hãng ở Đà Lạt cung cấp  thêm 620KW giá thành cao hơn, vì thế giá trung bình đến người tiêu thụ là 2,70$/KW. Khi nhà máy thủy điện Suối Vàng hoàn thành việc mở rộng và lắp đặt các tổ máy mới thì giá bán điện sẽ hạ thấp vì lúc đó sẽ không cần tới điện diésel cung cấp; số tiền tiết kiệm mỗi ngày độ 20.000$, nghĩa là 600.000$/tháng. Như vậy số tiền xuất ra để sửa chữa  chỉ vài tháng sẽ rút lại được.

Nhờ đủ điện, giá điện lại rẻ, dân chúng sẽ dùng điện trong đời sống hàng ngày. Các ngành kỹ nghệ cũng như tiểu công nghệ sẽ phát triển mạnh, sẽ thu hút nhiều kỹ nghệ gia lên Đà Lạt mở những nhà máy đúc gạch, đúc ngói, làm giấy, dệt vải v.v…đưa lại sự phồn thịnh cho đô thị.

Đối với phương diện thứ hai, Toà Thị chính giải thích, Đà Lạt tuy rộng lớn, có tới 11 khu phố nhưng hầu hết dân cư sống chen chúc trong những ngôi nhà kém mỹ thuật và vệ sinh tại khu vực trung tâm, phần vì lý do an ninh, phần vì ở đó có đủ các tiện nghi, nhất là điện và nước. Nghị định tháng 11-1956 và Đồ án thiết kế đô thị Đà Lạt buộc những ngôi nhà kém mỹ quan phải dời đến những khu vực ở ngoại ô. Đồ án nhận được sự đồng tình vì những nơi chuyển đến được bảo đảm nhu cầu về điện nước.

Từ những lập luận kể trên, Toà Thị chính mạnh dạn đề xuất việc sửa chữa giao cho Sở Công chánh đô thị điều khiển; cấp trên can thiệp với cơ quan Trùng tu điện lực ứng trước cho địa phương số tiền 1.000.000$ để thực hiện. Nếu bị từ chối, Ngân sách quốc gia cho mở một ngân mục tại Ngân khố ứng trước cho số tiền kể trên. Địa phương sẽ hoàn lại số tiền sau 5 tháng.

Ngày 23-1-1957, Bộ trưởng Công chánh và giao thông bày tỏ quan điểm trước các đề xuất của Toà Thị chính Đà Lạt: hoàn toàn đồng ý với Thị trưởng Đà Lạt để nhận định rằng, đô thị ấy rất cần có điện dùng và vì vậy các cơ sở dẫn nước của nhà máy thủy điện Suối Vàng (Ankroet) cần phải được sửa chữa gấp nội trong mùa nắng năm nay.

Bộ Công chánh và giao thông đã đề nghị cùng Bộ Tài Chánh giao cho Nha Trùng tu Điện lực Quốc gia đảm nhiệm các công tác về hai nhà máy thủy điện Ankroet và Drayling. Sau khi Bộ Tài chánh và thượng cấp thoả thuận thì công việc sẽ tiến hành, do các chuyên viên kỹ thuật cao của Nhật điều khiển phần chuyên môn.

Để Đà Lạt khỏi thiếu điện trong, Nha Trùng tu Điện lực  đã chịu phí tổn 2 triệu đồng chuyên chở và lắp một bộ máy phát điện diésel 1250KW.

Ngoài những vấn đề trên, Bộ Công chánh và giao thông nhận thấy dự thảo sửa chữa hệ thống dẫn nước nhà máy thủy điện Suối Vàng (Ankroet) có nhiều khía cạnh tế nhị về chuyên môn đã không được Thị trưởng Đà Lạt đề cập đến như việc ngày giờ nào Chánh phủ  Việt Nam chưa quốc hữu hoá các hệ thống phân phối điện năng hoặc chưa huỷ bỏ hợp đồng do chính quyền thời Pháp thuộc đã ký với công ty C.E.E. hoặc chưa mua lại nhà máy Đà Lạt thì công ty này được giữ độc quyền phân phối điện cho đến ngày mãn đặc nhượng (năm 1957). Những kết luận về giá cả và tiền lợi không đưa vào tính toán chắc chắn, vẫn phải sửa lại cho gần thực tế hơn.

Dự án của S.V.E.T mặc dầu có phần đúng đắn hơn dự án của Đô thị Đà Lạt, không chắc được chấp thuận chính vì thiếu đảm  bảo về chuyên môn. Dự án của ông Thị trưởng Đà Lạt không dựa vào căn bản vững chắc vì còn nhiều thiếu sót về kỹ thuật.

Giả thuyết về nguyên nhân làm núi sụt quá đơn sơ, không dựa vào địa chất học và cơ học về địa chất. Trong lúc ấy các chuyên viên đầy kinh nghiệm của Pháp (Charles Gros của Hãng Neyprie) và Nhật (Kubata của Hãng Nippon Noei) chỉ dám nhận định rằng nguyên nhân rất phức tạp và gây nên một hiện tượng tương hỗ phá hoại mỗi ngày một quan hệ.

Giả thử Đô thị có đủ vật liệu, khí cụ và nhân viên để đặt ống thép một cách hoàn hảo (giải pháp của Đô thị trình bày) thì theo ông CRCS chuyên viên của Hãng Neyprie cũng không đảm bảo tương lai hệ thống dẫn nước. Vì ngày giờ nào chưa thực hiện được điều kiện cân bằng cho vùng đất không vững chắc ấy, chưa rút bằng ống “drain” nước mưa, nước xung quanh hầm nước chảy ròng thì khối đất còn động đậy và một ngày kia sẽ làm sập nguyên cả nhà máy thủy điện.

Bộ Công chánh nhận thấy không nên phân tách thêm dự án của ông Thị trưởng Đà Lạt về phần chuyên môn nữa vì chỉ nói sơ rằng dự án ấy đã không đề cập đến những điểm rất quan trọng như sau:

– Các khối bê tông neo ống nước không nằm trên một nền tảng vững chắc, cần phải xây lại cho đúng kỹ thuật.

– Ống dẫn nước không đặt đúng hoạ đồ và thiếu các khúc nối để nở cần phải đặt lại.

– Phòng cân bằng bị sụt và nằm trên đất diệp thạch thối rũa cân phải dời đi chỗ có đất cứng rắn hơn.

Không thể giao cho Nha Công chánh cao nguyên Trung phần đảm nhận phần chuyên môn vì trước đây cao nguyên Trung phần gọi là cao nguyên miền Nam thuộc Hoàng triều Cương thổ nên Nha Công chánh cao nguyên miền Nam không phụ thuộc vào Bộ Công chánh và đã tự điều khiển công trình Ankroet và Drayling.

Kết quả là vì thiếu nhân viên chuyên môn nên đã để nhà thầu làm nhiều lầm lỗi ở nhà máy Drayling (hoạ đồ Neypric không được thi hành đúng ở nhiều chỗ, thí dụ khoảng cách giữa các phòng máy chỉ sai vài phân là đủ làm cho máy không lắp được). Về Ankroet, đã kiểm soát không chặt chẽ để nhà thầu thi hành không đúng hoạ đồ của Neyrpic về các khối bê tông neo ống dẫn nước. Vì vậy, đáng lẽ khối neo phải chịu đựng ống dẫn nước, nhưng trong tai nạn xảy ra năm 1955 thì chính ống nước đã phải chịu sức nặng của khối neo số 1.

Ngày 28-1-1957, Thị trưởng Đà Lạt nhận được thông báo:

“Ông Bộ trưởng Công chánh và giao thông hoàn toàn đồng ý với ông về việc cần sửa chữa ngay nhà máy thủy điện Suối Vàng trong mùa  nắng năm nay.

Duy Bộ Công chánh không thể chấp thuận giao việc sửa chữa này cho Nha Công chánh cao nguyên Trung phần vì  thiếu nhân viên chuyên môn.

Nha Trùng tu Điện lực Quốc gia có chuyên viên Nhật giúp sẽ đảm nhận công việc này”.

Ngay sau đó, mọi công việc sửa chữa, mở rộng, lắp mới được tiến hành một cách khẩn trương.

Tại nhà máy điện Đà Lạt, tiến hành lắp đạt thêm 1 tổ máy công suất 1250KW, điện áp 3,3KV hiệu Chicago sản xuất tại Mỹ và vận hành phát điện năm 1957.

Tại nhà máy thủy điện Suối Vàng (Ankroet), tiến hành lắp đặt thêm 2 tổ turbine – máy phát vận hành phát điện năm 1957. Turbine loại Francis trục ngang hiệu Neypric; máy phát công suất 1250KW điện áp 6,6KV hiệu Alsthom sản xuất tại Pháp.

Đồng thời nâng cấp đoạn đường dây 13,2KV Suối Vàng-Đa Phú lên 31,5KV và thi công mới đường dây 31,5KV Đa Phú-Đà Lạt, Đa Phú-Cang Rang, Cang Rang-Song Pha. Từ đó hai nhà máy Đà Lạt và Ankroet hoà điện với nhau chuyển tải cung cấp cho thị trấn Dran và công trường thi công hồ đập, đường hầm và nhà máy thủy điện Đa Nhim khởi công vào năm 1959.

Đoạn đường dây 13,2KV Đa Phú-Đà Lạt cải tạo lại thành 3,3KV để nhận điện từ nhà máy điện Đà Lạt cung cấp dọc đường Hai Bà Trưng, Bạch  Đằng.

Vào thời điểm việc thi công nhà máy thủy điện Đa Nhim bước vào giai đoạn cao trào, công suất chuyển tải từ 2 nhà máy Đà Lạt và Ankroet không đủ cung ứng, do đó tại trạm Cang Rang gần chân đập Đa Nhim phải lắp đặt thêm 2 tổ máy diésel công suất 300KW mỗi máy hiệu Cummins. Sau khi thi công hoàn thành thủy điện Đa Nhim, hai tổ máy này được dùng làm nguồn dự phòng cho các động cơ vận hành cửa  đập tràn của đập Đa Nhim.

Cuối đường dây 31,5KV Song Pha lắp đặt một trạm biến thế 31,5/6,6KV và đường dây 6,6KV qua suối đến ga xóm Gòn. Tại ga, điện cung cấp cho các cẩu nâng thiết bị nặng của thủy điện Đa Nhim được chuyển từ cảng Cam Ranh bằng đường xe lửa về đến ga xóm Gòn.

Trụ của đoạn đường dây 31,5KV Cang Rang-Song Pha là loại trụ Panzermat của Nhật rất gọn gàng khi vận chuyển, rất nhẹ nhàng khi thi công so với trụ bê tông cốt thép của Pháp, nhất là khi thi công trên địa hình hiểm trở của đường đèo Ngoạn Mục.

Năm 1957 Sở Công chánh Đông Dương bàn giao nhà máy thủy điện Ankroet cho Quốc gia trùng tu điện lực Cuộc, lúc đó 2 tổ máy công suất 1250KW đã lắp đặt xong. Sau khi nhận bàn giao, đơn vị này tuyển mộ nhân viên, công nhân quản lý vận hành nhà máy thủy điện, lưới điện 31,5KV và kinh doanh bán điện.

Ngày 13-8-1958, Đoàn Nghị sĩ Nhật Bản được bố trí đến thăm nhà máy thủy điện Suối Vàng.

Ngay từ cuối tháng 12-1956, Phái đoàn Chuyên viên Liên hợp quốc khảo sát các dự án xây đập Đa Nhim gồm các ông Handa, Walker và French   đã đến thực địa tại khu vực này. Đến tháng 12-1957, Bộ Công chánh và giao thông đệ trình văn bản cử người đi Ấn Độ để thảo luận với ông Handa về bản phúc trình nghiên cứu dự án Đa Nhim và Trị An.

Nhà máy thủy điện Đa Nhim được Nhật Bản viện trợ để bồi thường thiệt hại trong thời gian chiếm đóng Việt Nam năm 1945 và do Liên hợp quốc tổ chức đấu thầu. Một loạt công ty công nghiệp lớn của Nhật Bản tham gia về tư vấn thiết kế là Công ty Nippon Koei; về hồ đập là Công ty Kajima Hazama Gumi; về đường ống là Công ty Sakai; về máy phát là Công ty Mitsubishi; về  tuabin là Công ty Toshiba; về biến thế chính là Công ty Fuji Denki; về tủ bảng điện, rơle tự động hoá là Công ty Hitachi. Công trình được khởi công xây dựng vào năm 1959 với nhiều hoạt động như sau:

– Ngày 10-4-1959 thành lập Uỷ ban Quốc gia các đập lớn, được giao đảm nhận thêm công việc do Hội đồng tối cao tiền tệ và tín dụng giao phó.

– Ngày 22-5-1959 thành lập cơ quan chuyên môn để cứu xét về kỹ  thuật vấn đề xây cất đập Đa Nhim.

– Ngày 5-6-1959, Uỷ ban Quốc gia các đập lớn đã nhóm họp để nghiên cứu việc xây cất đập Đa Nhim, trong đó ước lượng chi phí tổng quát thay đổi từ 45.983.000 USD đến 52.000.000 USD. Sau khi trao đổi ý kiến, Hội đồng đã chọn Dự án 7-A (công suất 1600.000KW, đường dẫn điện đến Sài Gòn nhưng không có đường dẫn điện đến Cam Ranh và đường dẫn điện phụ xung quanh Sài Gòn, không có máy biến thế phụ ở Sài Gòn với chi phí 47.750.000 USD- kể cả chi phí xây cất đập và đường dẫn điện đến Sài Gòn, chi phí nghiên cứu và công tác điều khiển, chi phí tổng quát. Đây là giá dự định, giá chính thức phải chờ sau khi đấu thầu công tác tại Nhật Bản).

Hãng Nippon Koei chấp thuận giá nghiên cứu bổ túc là 267.680 USD và 2.141.500VN$. Công tác điều khiển việc xây đập, Hãng Nippon Koei yêu cầu được chọn lựa để kiểm soát các công tác thi hành, khế ước định giá là 2.110.000 USD- đắt ngang với giá của các công ty Mỹ. Một số hãng của Thụy Sĩ, Ý, Pháp đề nghị giá 1.500.000USD.

– Ngày 27-6-1959 Hội đồng ra quyết nghị sẽ mua của hãng Tracteur International (Pháp) một số dụng cụ đã được chấp thuận trong phiên họp trước, trị giá 672.000 USD, trả bằng Fr không hoán đổi.

– Ngày 25-7-1959, số dụng cụ dự định mua của hãng Pháp kể trên được quyết nghị chuyển sang mua đấu thầu để giảm chi phí về tiền dịch vụ 2%. Tại cuộc họp này, Hội đồng cũng quyết nghị giao phó việc quản trị xây cất đập Đa Nhim cho Công ty Quốc gia Điện lực sắp ra đời.

Đến đầu năm 1960, Tổng nha Địa chính hoàn thành việc đo đạc phần đất tại đập và cơ xưởng, đo đạc phần đất sẽ bị ngập phía thượng lưu đập nước. Toà Thị chánh Tuyên Đức đã lập ra Uỷ ban định giá đất tại những khu đất đã đo đạc. Vấn đề còn lại là những thể thức (trưng dụng, tạm thu) sẽ ban hành cho việc sử dụng những khu vực đất đai đó.

Ngày 15-7-1960, Sắc lệnh số 142-CC/GT được ban hành có những nội dung như sau:

Điều thứ nhất: -Nay cho phép kiến tạo đập thủy lợi ĐANHIM và các công trình cần thiết liên hệ: hồ chứa nước, các đường nước, ống dẫn nước có sức ép, nhà máy sản xuất điện, đường dẫn điện từ Đa Nhim về Sài Gòn, và cơ sở biến điện tại tỉnh Tuyên Đức, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hoà và Gia Định.

Điều thứ 2: – Để thực hiện các công tác nói trên, sẽ sử dụng những giải đất có ghi trong sơ đồ đính hậu và gồm có:

  1. Một giải đất để xây đập và các hầm lấy đất.
  2. Các giải đất sẽ bị ngập do sự kiến tạo hồ chứa nước.
  3. Các giải đất có đường nước, ống dẫn nước có sức ép và đường dẫn điện xuyên qua.
  4. Các giải đất dành để xây cất nhà máy sản xuất điện và cơ sở biến điện.
  5. Các giải đất do cơ quan Chính phủ hay các hãng thầu chiếm dụng để thi hành chương trình Đa Nhim, và các công trình tạm hay vĩnh viễn xây cất trên giải đất ấy.
  6. Các giải đất dùng cho đường dây dẫn điện từ Krongpha tới trạm biến thế Sài Gòn.

Điều thứ 3: – Một nghị định sau sẽ ấn định thể thức thi hành nhất là hình thể địa lý và ranh giới của các giải đất được sử dụng.

Những thửa đất nằm trong ranh giới chỉ định sẽ bị trưng thâu theo luật lệ hiện hành về truất quyền tư hữu vì phục vụ công ích”.

Sau khi Sắc lệnh số 142-CC/GT được ban hành, chính quyền Sài Gòn lại ra tiếp Nghị định số 1202-BNV/BC/ND ngày 1-9-1960, về việc mở cuộc điều tra hành chính về tính cách ích lợi công cộng của việc kiến tạo liên hệ tại các tỉnh nói trên, theo bản sơ đồ đính theo Sắc lệnh.

Ngày 15-8-1960, Nghị định số 755-CC/GT ấn định việc thành lập Uỷ ban định giá mua và tiền bồi thường đất đai cần thiết cho công tác xây cất công trình Đa Nhim toạ lạc tại các tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hoà và Gia Định do Tỉnh trưởng tỉnh sở quản làm Chủ tịch, đại diện Bộ Điền thổ và cải cách điền địa (Tổng nha Địa chánh và đồ bản), đại diện Bộ Tài chánh (Nha Trước bạ), đại diện Bộ Kinh tế, đại diện Bộ Công chánh và giao thông (Cơ quan Quản trị công trình Đa Nhim), đại diện địa chủ vùng trưng thâu do Tỉnh trưởng sở quản đề cử… là các Hội viên; một nhân viên Bộ Điền thổ và cải cách điền địa làm Thư ký.

Bằng Nghị định số 62/014-NĐ/CC ban hành ngày 19-1-1962, một số tiền ít ỏi là 209.446$ mới được xuất quỹ để bồi thường cho các thửa đất bị trưng dụng đợt I (bổ túc) tại các vùng xây cất đập Đa Nhim.

Ngày 1-4-1961, lễ khởi công công trường Đa Nhim tại Đơn Dương được tổ chức khá rầm rộ với sự hiện diện của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà  cùng nhiều quan chức cao cấp của Bộ Công chánh và giao thông, Cơ quan Quản trị chương trình Đa Nhim, các chuyên gia Nhật Bản.

Theo tài liệu của Cơ quan Quản trị chương trình Đa Nhim thì, điểm chính của dự án là đắp một đập đất tại Đran, miền cao nguyên gần Đà Lạt, ở vào một cao độ từ 1.000 đến 1.020 mét; số khối đất phải đắp là 3 triệu rưỡi  mét khối. Nước chứa tại hồ, do đập tạo ra, lên tới 150 triệu mét khối. Diện tích hồ nước là 10 km vuông. Một hầm dài 5 km sẽ dẫn nước tới đầu một dốc núi phía bờ biển nhìn xuống Krong Pha tại đồng bằng Phan Rang. Vì lợi dụng được địa thế đặc biệt của nơi này nên có thể tạo một thác nước cao hơn 800 thước. Thác nước mạnh mẽ này được cho chảy qua 4 máy để sản xuất 160.000KW thủy điện lực. Điện này sẽ được dẫn về vùng Sài Gòn-Chợ Lớn bằng một đường dây dẫn điện dài 250 km và sau này cũng có thể được đem ra sử dụng tại trung tâm kỹ nghệ sẽ được thành lập tại vịnh Cam Ranh gần  nhà máy phát điện.

Cơ sở của đập nước sẽ là một đập toàn bằng đất đồng hạng; đập tràn sẽ làm bằng bê tông; hầm sẽ là một hầm ngầm hình tròn bằng bê tông, với một đường kính là 3,4 mét. Những máy phát điện gồm có 4 máy tuabin  42.000KW, kiểu ngang, hai tia, loại Pelton. Đường dây dẫn điện đến Sài Gòn sẽ là một mạch điện 230KV. Một nhà máy biến điện sẽ được xây tại Sài Gòn, năng suất 169.000KVA.

Theo sự ước lượng sẽ cần 4 năm để hoàn thành toàn thể dự án và dự án được chia ra làm 2 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất sẽ hoàn thành vào giữa năm 1963 sẽ sản xuất 80.000KW tức là nửa số dự định. Giai đoạn thứ nhì sẽ xong vào giữa năm 1965 và sản xuất thêm 80.000KW.

Tổng số chi phí cần thiết cho dự án được ước lượng là 49 triệu Mỹ kim, trong đó 37 triệu phần ngoại tệ và 12 triệu phần bạc Việt Nam.

Cho đến thời điểm đó, tất cả các công tác quan trọng đều đã đấu thầu xong và do các hãng thầu Nhật Bản đảm nhiệm (chiếu thoả ước bồi thường chiến tranh  Nhật-Việt).

– Công tác chính (Main constructions) do Tổ hợp Kajima và Hazama.

– Ống dẫn nước (Penstock) do hãng Sakai Iron Works.

– Đường điện cao thế 230KV (230 KV Transmission Line) do Hãng Mitsui Bussan, còn về nhà máy phát điện và nhà máy biến điện Sài Gòn  (Power Station và saigon Substation), đang thương thuyết với các hãng thầu để ký khế ước.

Việc theo dõi sự kiến tạo hệ thống thủy điện Đa Nhim được giao cho cơ quan Quản trị chương trình Đa Nhim thuộc Bộ Công chánh và giao thông phụ trách. Cơ quan này có trụ sở chính tại Sài Gòn và một chi nhánh tại Quận lỵ Đơn Dương là Nha Quản đốc công trường trực tiếp điều khiển công tác. Các chuyên viên Việt Nam thuộc cấp chỉ huy cơ quan đã được đào tạo tại Việt Nam, Pháp và Thụy Sĩ và được sự giúp đỡ về kỹ thuật của hãng kỹ sư cố vấn Nippon Koei.

Mục đích chính của dự án là đưa nước sông Đa Nhim từ Đơn Dương về Sông Pha để dùng làm động lực chạy các máy tuabin của nhà máy phát điện đặt tại đây. Để đạt mục đích này, hàng loạt công trình phải được thi công như:

  1. – Thực hiện một hồ chứa nước nhân tạo tại Đơn Dương (bằng cách đắp một đập đất chắn ngang dòng sông Đa Nhim) để điều hoà lưu lượng nước cần thiết dùng cho nhà máy Sông Pha suốt năm.
  2. – Thiết lập một đường hầm dẫn nước (tunnel) xuyên qua lòng núi (dưới dãy đèo Ngoạn Mục) và hai đường ống thuỷ áp để đưa nước từ hồ Đơn Dương về đến nhà máy Sông Pha.
  3. – Xây cất một nhà máy phát điện tại Sông Pha, chạy bằng máy turbins Pelton do sức nước từ đường ống thủy áp chảy xuống làm động lực.
  4. – Thiết lập một đường dây dẫn điện cao thế 230KV từ nhà máy Sông Pha về nhà máy biến điện đặt tại Thủ Đức.
  5. – Xây cất một nhà máy biến điện tại Thủ Đức để hạ thấp điện thế từ 230KV xuống 66KV. Vòng đai trung thế 66KV chạy vòng quanh Sài Gòn-Chợ Lớn thuộc một chương trình khác dùng tiền vay của Mỹ, đang được xúc tiến để dẫn điện vào những trạm hạ thế trong Sài Gòn.

Trong suốt quá trình thi công, kể từ ngày 1-4-1961- ngày phát lệnh khởi công cho đến ngày 15-1-1964, toàn bộ công trường đã đào đắp được 3.600.000 mét khối đất, hoàn thành 4.878 mét đường hầm xuyên núi có đường kính 3,40 mét, hoàn thành 2340 mét hai đường ống cường chế bằng thép đường kính 1 mét và 2 mét; lắp đặt 257 km đường dây cao thế 250KV, công suất điện đạt 80.000KW.

Với 3.600.000 mét khối đất đào đắp kể trên toàn bộ được sử dụng cho việc đắp một đập bằng đất có chiều dài 1.460 mét, bề ngang mặt đáy của đập là 180 mét, bề ngang mặt trên của đập là 6 mét. Đập cao 38 mét. Ngoài việc theo dõi việc đầm nén đất theo đúng quy trình, các chuyên viên phải phân tích tỉ mỉ đất nơi dự định kiến tạo đập. Trong thời gian xây cất, phòng thí nghiệm phải phân tích các mẫu đất để bảo đảm sự đồng chất của toàn bộ con đập.

Ngoài đập đất còn có đập tràn để điều hoà mực nước. Đập tràn thấp hơn đập đất 16m30, chiều dài đập tràn là 51,500 mét, có 4 cửa hình vòng cung thẳng đứng.

Ống thép cường chế còn gọi là ống thuỷ áp được nối vào miệng hầm đặt trên đỉnh núi nhìn xuống cánh đồng Phan Rang. Tại đây, sau khi chảy qua nhà máy khoá nước (valve house) nước được dẫn đổ xuống nhà máy để làm động lực cho turbine bằng hai đường ống thuỷ áp. Tại nơi tiếp với miệng hầm, ống thuỷ áp có đường kính 2 mét rồi thu nhỏ dần còn  lại 1 mét khi tới nhà máy. Những ống thép thủy áp dài 6 mét nối liền với nhau, bên trong được tráng một lớp dầu hắc đặc biệt để bảo đảm sự lâu bền và giảm sức cọ sát của nước với ống.

Trong quá trình thi công, có 10 Hãng thầu cùng 400 chuyên viên Nhật Bản làm việc dưới sự kiểm soát của Hãng thầu Nippon Koei cùng 4.000 công nhân người Việt. Ngoại trừ 100 mét đường hầm đất quá xấu (ngập nước, đất sụt), đá lăn, xe cán, mìn nổ, toàn công trường còn có 14 người chết, 80 người bị thương.

Với việc đưa 2 tổ máy số 1 và số 2 vào hoạt động, ngày 15-1-1964, lễ khánh thành đợt I nhà máy thủy điện Đa Nhim đã được tổ chức một cách long trọng.

Tháng 12-1964, hai tổ máy số 3 và số 4 tiếp tục đi vào hoạt động đưa tổng công suất của nhà máy thủy điện Đa Nhim lên 160.000KW. Nhà máy thủy điện Đa Nhim có công suất lớn nhất ở miền Nam Việt Nam tính đến thời điểm đó.

Cùng với việc khánh thành nhà máy thủy điện Đa Nhim, cơ quan tự trị Điện lực Việt Nam cũng được thành lập bằng việc thống nhất Cơ quan Quốc gia trùng tu Điện lực Cuộc, Chương trình Đa Nhim, Chương trình Thủ Đức vào một khối. Theo một báo cáo của Bộ Công chánh và giao thông thì đến trước thời điểm đó, tổ chức của những cơ sở sản xuất và phân phối điện lực tại miền Nam Việt Nam, rất phức tạp bởi những lý do sau:

– Một số đặc nhượng đã được ban hành từ thời Pháp thuộc và giao cho Công ty ngoại quốc (CEE, SIPEA…) phụ trách cung cấp cho những trung tâm lớn như Sài Gòn- Chợ Lớn, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đà Lạt v.v…;

– Một số đặc nhượng tương đối nhỏ hơn đã được ban hành từ năm 1957, theo một chế độ tạm thời cho các tư nhân Việt Nam tại các trung tâm nhỏ như các quận  lỵ, tỉnh lỵ…;

– Tại một số tỉnh lỵ khác những cơ sở sản xuất và phân phối điện lực đã được cơ quan chính quyền trực tiếp điều hành dưới hình thức một công quản;

– Một vài cơ sở lớn có tính cách tế nhị hơn, được Trùng tu Điện lực Cuộc phụ trách, như nhà máy thủy điện Ankroet ở Đà Lạt, Drayling ở Ban Mê Thuột, dự án canh tân nhà máy Vĩnh Long và Mỹ Tho v.v…;

– Từ đầu năm 1960, khi bước tới giai đoạn thi hành những dự án đại qui mô, chính phủ Việt Nam cộng hòa đã quyết định thành lập những cơ quan đặc trách, như cơ quan Quản trị Chương trình Đa Nhim, cơ quan Quản trị nhà máy nhiệt điện Thủ Đức và Đà Nẵng v.v…

Tình trạng phức tạp này cần được thống nhất và điều chỉnh lại theo một chính sách chung, đi đôi với chính sách phát triển kinh tế.

Vì điện lực là một sản phẩm căn bản, ảnh hưởng một cách sâu rộng trên chương trình phát triển kinh tế quốc gia nên cần nắm việc sản xuất để hưóng theo kế hoạch kinh tế, do đó, Bộ Công chánh và giao thông đề nghị thành lập một Tổng cuộc mệnh danh là Điện lực Việt Nam, để điều hành các hoạt động của cơ quan Chính phủ và tư nhân trong phạm vi điện lực.

Ngày 29-3-1963, Bộ Công chánh và giao thông ban hành Nghị định số 63/123-NĐ/CC có nội dung như sau:

Điều I. – Trong khi chờ đợi quy chế Tổng cuộc Điện lực Việt Nam được ban hành, nay bãi bỏ điều 3 và 4 Nghị định số 60/159/NĐ/CC ngày 28-6-1960 về tổ chức Cơ quan Quản trị Chương trình Đa Nhim và thay thế bằng các điều khoản mới như sau:

Điều 3 (mới) Trụ sở địa phương có những cơ quan sau đây:

  1. Nha Quản đốc Công trường Đa Nhim.
  2. Nha Nghiên cứu và dự án.

1)- Nha Quản đốc Công trường Đa Nhim:

Đặt dưới quyền điều khiển của một viên Quản đốc ngang hàng với Giám đốc có nhiều sở. Nha này có nhiệm vụ kiểm soát sự điều hành các công trường, gồm có:

– Một Ban Công trình dân sự, có một Trưởng ban ngang hàng với Chánh sự vụ điều khiển, phụ trách kiểm soát mọi công tác dân sự.

– Một Ban Hành chánh và kế toán do một Trưởng ban ngang hàng với Chánh sự vụ điều khiển phụ trách công văn, nhân viên, công sản, kế toán.

Ban này sẽ có hai tiểu ban hành chánh và kế toán phân phối cho Nha Quản đốc công trường và cho Nha Nghiên cứu và dự án tổ chức như dưới đây, nơi khoản 2- điều 3.

– Một Ban Điện lực do một Trưởng ban ngang hàng với Chánh sự vụ, điều khiển, phụ trách kiểm soát các dụng cụ về điện, theo dõi việc lắp ráp dụng cụ điện và việc thiết lập hệ thống dẫn điện.

2). Nha Nghiên cứu và dự án: đặt đưới quyền điều khiển của một Giám đốc và một Phó Giám đốc. Nha này gồm có:

  1. -Ban nghiên cứu và sưu tầm
  2. – Ban Kế hoạch và dự án.
  3. – Tiểu ban Hành chính và kế toán.
  4. Ban Nghiên cứu và sưu tầm:

Do một Trưởng ban điều khiển, ban này gồm có:

– Một Tiểu ban thí nghiệm vật liệu do một Trưởng tiểu ban ngang hàng với Trưởng phòng điều khiển, phụ trách việc đào các mẫu và thử các đặc tính về đất và bê tông, phân chất hoá học, sưu tầm và thâu thập các tài liệu về địa chất cùng việc thống kê.

– Một Tiểu ban trắc đạc, phụ trách việc khảo sát và đo đạc các địa điểm cần thiết.

– Một Tiểu ban thủy lợi do một Trưởng tiểu ban ngang hàng với Trưởng phòng điều khiển, phụ trách việc kế hoạch trang bị về thuỷ lợi, ghi tài liệu về thủy lợi, khí tượng, thí nghiệm mẫu các công trình thủy lợi, liên lạc với các cơ quan quốc tế về thủy lợi.

  1. Ban Kế hoạch và dự án:

Do một Trưởng ban điều khiển, ban này gồm có:

– Một Tiểu ban công trình dân sự kiến trúc và ấn hoạ do một Trưởng tiểu ban ngang hàng với Trưởng phòng điều khiển, phụ trách việc thiết lập mọi dự án về các ngành được giao phó.

– Một Tiểu ban điện lực và cơ khí do một Trưởng tiểu ban ngang hàng với Trưởng phòng điều khiển, phụ trách việc thiết lập mọi dự án về các ngành được giao phó.

  1. Tiểu ban Hành chánh và kế toán:

Do một Trưởng tiểu ban điều khiển, cơ quan này có nhiệm vụ phụ trách các vấn đề hành chánh tổng quát, quản trị nhân viên, tố tụng, soạn thảo và thi hành ngân sách, tổ chức các việc đấu thầu, kiểm soát việc thanh toán các khế ước.

Điều 4 (mới)

– Giám đốc Nha Nghiên cứu và dự án được ngang hàng với Giám đốc Nha có nhiều sở.

– Phó Giám đốc Nha Nghiên cứu và dự án được ngang hàng với Giám đốc Nha không có nhiều sở.

– Trưởng ban được ngang hàng với Chánh sự vụ.

– Trưởng tiểu ban được ngang hàng với Trưởng phòng.

– Quản đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Trưởng ban được bổ nhiệm do Nghị định của Bộ trưởng Công chánh và giao thông chiếu đề nghị của Quản trị viên Chương trình Đa Nhim.

– Trưởng tiểu ban được bổ nhiệm do quyết định của Quản trị viên Chương trình Đa Nhim.

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC “CƠ QUAN QUẢN TRỊ CHƯƠNG TRÌNH ĐA NHIM”

 

C¬ quan Trung ­¬ng

Ban Cè VÊn  
Ban Kỹ thuật  
Ban Hành chánh  
BAN KẾ TOÁN  
 

Nha Quản đốc Công trường

Ban Công trình dân sự  
Ban Điện lực  
BAN HÀNH CHÍNH  VÀ KẾ TOÁN Tiểu ban Hành chánh và Kế toán
 

 

 

Nha Nghiên cứu dự án

 

Ban Nghiên cứu và sưu tầm

Tiểu ban Trắc đạc
Tiểu ban Thí nghiệm vật liệu
Tiểu ban Thủy lợi
 

Ban Kế hoạch và dự án

Tiểu ban công trình dân sự kiến trúc và
Tiểu ban Điện lực và dầu khí
Tiểu ban Hành chánh và kế toán

 

Ngµy 28-12-1963, Quốc gia trùng tu điện Cuộc cho biết:

Hồ thùy điện Đa Nhim gần xong có thể cung cấp điện cho Sài Gòn trong m6o5t ngày gần đây. Để xúc tiến việc khế ước cho CCE về việc bán điện cho công ty này các vấn đề sau cần được giải quyết:

  1. Ấn định giá chi phí điện Đa Nhim tại trạm biến thế 230/66KV.
  2. Ấn định chi phí vận tải điện trong vòng dây 66KV và các trạm biến thế 66/15KV.
  3. Ấn định chi phí phân phối điện trong hệ thống phân phối bổ túc do

    AID đài thọ phần ngoại tệ.

  1. Khi điện Đa Nhim đem về đến Sài Gòn, các nhà máy điện của CEE sẽ hoặc (a) chạy dự trữ, hoặc (b) chỉ hoạt động khi nhà máy điện Đa Nhim hay đường dây Đa Nhim Sài Gòn bị hỏng, hoặc (c) chạy vào những giờ năng suất tối đa (heures de pointe). Tính phần kinh phí liên quan đến việc điều hành, khấu hao và tu bổ các nhà máy điện CEE mà mỗi kwh phải đưa vào trong giá bán trung bình.
  2. Ấn định giá điện bán cho CEE và giá điện CEE bán cho dân chúng (đặc biệt lưu ý đến giới kỹ nghệ).

Xin đề nghị lập một Uỷ ban, thành phần như sau, để cứu xét các vấn đề kể trên:

Chủ tịch Uỷ ban Điện lực ……………………………..         Chủ tịch

Một đại diện của Tổng cuộc Điện lực ……………….. Hội viên

Một đại diện của Sở Pháp chế và tố tụng………. …….        Hội viên 

Một đại diện của Sở Kiểm soát Điện lực………………        Hội viên

Một đại diện của Cơ quan khai thác Đa Nhim…..       ……  Hội viên

Một đại diện của Quốc gia Trùng tu Điện lực Cuộc …….Hội viên

Một đại diện của Chương trình nhà máy nhiệt điện

                            Thủ Đức……………………………….Hội viên.

Uỷ ban này tuỳ trường hợp có thể mời đại diện của CEE đến dự”.

Ngày 13-1-1964 Tổng cuộc Điện lực có tờ trình tới Bộ Công chánh và  giao thông nêu rõ:

“Trong buổi họp ngày 27-12-1963 vừa qua với ông Thanh tra C.E.E. chúng tôi đề nghị bán điện Đa Nhim với giá 2$/KWh thay vì 1$50/KWh như C.E.E. đã đưa ra. Nhưng với điều kiện vẫn giữ giá điện hiện tại bán cho dân chúng vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, C.E.E. yêu cầu vui lòng chấp nhận tạm thời giá 1$50/KWh, viện lẽ rằng:

– Nếu C.E.E. mua điện của “Arsenal” với giá 2,495$/KWh vì đó là một sự trao đổi điện năng trong thời gian công suất tiêu thụ tối đa.

– Ngoài ra, theo bảng nghiên cứu của C.E.E. công ty này đưa ra một giá tối đa là 1,6$/KWh, còn nếu tính hiệu suất của hệ thống cung cấp điện, giá bán điện Đa Nhim sẽ là 1,5$/KWh.

Nhận thấy rằng:

– Với giá 1,6$/KWh, chánh quyền cũng chẳng thiệt thòi là bao nhiêu (tài liệu nghiên cứu của ông Skeen, kỹ sư cố vấn chuyên về giá điện của USOM và tài liệu của Cơ quan Khai thác Đa Nhim đính kèm).

– Cần giải quyết nhanh chóng và tạm thời vấn đề này, để cho hệ thống Đa Nhim sớm cung cấp điện cho C.E.E. hầu được sớm thu lợi để có phương tiện hoạt động”.

Đồng thời Tổng cuộc Điện lực Việt Nam cũng đưa ra bản Nghiên cứu giá điện do hệ thống Đa Nhim sản xuất với Lời mở đầu:

“Bản nghiên cứu này cho chúng ta kết quả về ước lượng giá bán 1 KWh điện Đa Nhim trên Jeu de barres 66KV. Việc nghiên cứu được dựa trên  những tài liệu thực tế, nhưng giá bán được trù liệu chỉ có một giá trị tương đối và lệ thuộc nhiều điều kiện khai thác quan trọng khó có thể ước lượng trước được (vấn đề an ninh đường dây cao thế 230KV v.v…) và cần phải được điều chỉnh liên tục căn cứ theo kết quả vài năm khai thác thực sự.

Giá điện Đa Nhim được dự trù ở đây không có nghĩa là giá bán thực sự mà Điện lực Việt Nam sẽ áp dụng khi bán điện cho CEE. Nó đơn thuần chỉ định giá bán tối thiểu cần được áp dụng nếu chúng ta muốn có một mức lời tối thiểu là 7% trên tổng số kinh phí công tác.

Giá điện Đa Nhim mà chúng ta thực sự bán cho CEE sẽ do Tổng cuộc Điện lực Việt Nam tuỳ liệu thảo luận cùng CEE.

Dưới đây là một vài chỉ số chính:

HỆ THỐNG THỦY ĐIỆN ĐA NHIM 

KINH PHÍ CÔNG TÁC1  

  US$ Tương dương bằng bạc VN$ 2
Nhà máy thủy điện 39.000.000 2.340.000.000
Đường dây 230KV 5.500.000 330.000.000
Trạm biến thế  230/66KV 4.800.000 288.000.000
                         Tổng cộng  49.300.000 2.958.000.000

 CHI PHÍ ĐIỀU HÀNH VÀ TU BỔ

Dụng cụ trang bị:

 

V.N.$
– Dụng cụ giao thông và chuyên chở 1.000.000
– Dụng cụ kỹ nghệ xây cất 4.000.000
– Đồ đạc, dụng cụ văn phòng 250.000
– Đồ đạc và vận dụng cư xá nhân viên 400.000
– Dụng cụ y tế 200.000
                                                         Tổng cộng 5.850.000

 

Khế ước hướng dẫn khai thác:

– Bằng bạc Việt Nam 1.500.000
– Tương đương bằng bạc Việt Nam 20.500.000
                                                           Tổng cộng 22.000.000

Chi phí khai thác:

– Lương bổng nhân viên 17.600.000
– Nhiên liệu và vật liệu 800.000
– Bảo trì 17.150.000
– An ninh xã hội và bồi thường tai nạn 150.000
                                                           Tổng cộng 35.700.000

Tổng phí điều hành tu bổ:

– Vận tải, chuyên chở và di chuyển nhân viên 500.000
– Tố tụng, bảo hiểm, ngân hàng 300.000
– Thuê mướn 100.000
– Xăng nhớt 2.000.000
– Vận dụng văn phòng, ấn loát 100.000
– Bưu phí 100.000
– Tu nghiệp, giao tế, quảng cáo 1.500.000
– Tài liệu báo chí 250.000
– Phát sinh 500.000
                                                           Tổng cộng 5.350.000

CHI PHÍ ĐIỀU HÀNH VÀ TU BỔ:

       (1)……………..               5.850.000

       (2)……………..             22.000.000

       (3)…………….              35.700.000

       (4)…………….                5.350.000

            ________                  ____________

   (1) + (2) + (3) + (4)    ……..68.900.000

TỔNG PHÍ KHAI THÁC HỆ THỐNG THUỶ ĐIỆN ĐA NHIM

Chi phí không thay đổi

     – Nhà máy (10,78% kinh phí công tác)                   252.250.000

     – Đường dây và trạm biến thế (11,1% kinh

       phí công tác)                                                           68.600.000

Chi phí khai thác:

     – Chi phí điều hành và tu bổ                         68.900.000

     – Tổng phí tại Trung ương Tổng cuộc           40.000.000

                                                                      _______________

                                              Tổng cộng…        429.750.000

GIÁ  ĐIỆN DO HỆ THỐNG THỦY ĐIỆN ĐA NHIM CUNG CẤP.

      (Giá điện trên Jeu de barres 66KV)  

Đối với một hệ thống thủy điện lực, chúng ta có thể coi tổng phí khai thác như không thay đổi khi công suất cung cấp của hệ thống thay đổi, và giá bán 1 KWh là thương số của tổng phí khai thác hàng năm chia cho tổng số KWh do hệ thống cung cấp hàng năm:

                 Giá điện/KWh = 429.750.000

                          Số KWh sản-xuất (hàng năm)

Như vậy năng lượng do hệ thống cung-cấp hàng năm càng cao thì giá điện/KWh càng hạ. Gía điện/KWh hạ nhất bị giới hạn bởi năng lượng cực đại mà nhà máy phát điện Danhim số 1 có thể cung cấp được hàng năm (vào khoảng 1.000.106 KWh).

Sức tiêu thụ điện hiện tại của khu Sài Gòn-Chợ Lớn ước chừng 250.106 KWh 1 năm. Sau khi nhận định năng lượng cung cấp bởi các nhà máy nhiệt điện trong trường hợp khẩn cấp và trong những giờ công suất tiêu thụ cực đại, chúng ta có thể chấp nhận 200.106 KWh là năng lượng tối thiểu mà hệ thống thủy điện Đa Nhim phải cung cấp cho vùng Sài Gòn-Chợ Lớn hàng năm.

Dưới đây là kết quả của cách tính giá điện/KWh tương ứng với những năng lượng cung cấp khác nhau. Cách tính dựa trên căn bản 1 US$ tương đương với 60VN$.

A B A B A B
200 2,149 500 0,859 800 0,537
250 1,719 550 0,781 850 0,505
300 1,433 600 0,716 900 0,477
350 1,228 650 0,661 950 0,452
400 1,074 700 0,614 1.000 0,429
450 0,953 750 0,573    
  1. Năng lượng sản xuất hàng năm (KWh x 106)
  2. Giá bán 1KWh trên Jeu de barres 66KV (VN$).

Trong kế hoạch 5 năm (1962-1966), Chính phủ Việt Nam Cộng hoà có chủ trương “Điện lực hoá” miền Nam. Trước tiên, trang bị thêm các máy diésel cho các nhà máy nhiệt điện cũ và các vùng ven Sài Gòn-Gia Định. Dự định lắp đặt thêm cho Thủ Đức một máy diésel công suất 18 MW, nâng tổng công suất vùng Sài Gòn-Gia Định lên 83 MW (1966), tuy vẫn thiếu hụt công suất (5 MW). Dự định đến năm 1967 sẽ tăng công suất điện vùng Sài Gòn-Gia Định lên 140 MW và các vùng lân cận khoảng 6 MW nữa để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt. Bởi vì, sản lượng điện miền Nam (1960) mới có: 286,762 triệu KWh, riêng Sài Gòn – Gia Định đã dùng hết 220 triệu KWh, Thuỷ điện Đa Nhim và nhiệt điện Thủ Đức ra đời trong bối cảnh chiến tranh đặc biệt chuyển sang chiến tranh cục bộ ở miền Nam. Do diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh nói trên, đường dây dẫn điện từ Đa Nhim về Sài Gòn vận hành không ổn định (1967), nên chính quyền Sài Gòn không thực hiện được kế hoạch tăng cường điện cho Sài Gòn – Gia Định và các vùng phụ cận như chương trình “Điện lực hoá” miền Nam đã đề ra. Để giải quyết tình thế ách tắc này, chính quyền Sài Gòn đã tăng cường đến mức tối đa các máy diésel để lắp đạt bổ sung cho các tỉnh lỵ, các vùng quân sự quan trọng, trong đó có vùng Sài Gòn – Gia Định và sân bay Tân Sơn Nhất.

Cuối năm 1967, “Sài Gòn điện lực Công ty” được thành lập để tiếp thu việc khai thác tại Sài Gòn và vùng phụ cận, thay cho CEE chuẩn bị mãn nhiệm.

Năm 1968, Công ty CEE hết hạn hợp đồng, bàn giao nhà máy điện Đà Lạt, lưới điện trung hạ thế và quyền kinh doanh bán điện trên địa bàn thành phố Đà Lạt lại cho Quốc gia Trùng tu Điện lực Cuộc. Như vậy trong năm 1968 hệ thống điện Đà Lạt-Dran được thống nhất quản lý khai thác của Trung tâm Điện lực Tuyên Đức, một đơn vị trực thuộc Quốc gia Trùng tu Điện lực Cuộc mới được thành lập đặt văn phòng trong khuôn viên nhà máy điện Đà Lạt.

Sau khi tiếp nhận, Trung tâm Điện lực Tuyên Đức phát triển lưới điện 6,6KV, cải tạo dần một số lưới điện 3,3KV lên 6,6KV và mở rộng khu vực cung cấp điện.

Cũng trong năm 1968, Hợp tác xã Điện lực  hoá Nông thôn Tuyên Đức được thành lập từ nguồn vốn viện trợ Mỹ, địa bàn kinh doanh là ấp Thái Phiên, ngoại vi thị trấn Dran về đến thị trấn Tùng Nghĩa huyện Đức Trọng.

Hợp tác xã này cho thi công đường dây 15KV từ trạm Cang Rang gần chân đập Đa Nhim đi dọc theo quốc lộ 27 ngang qua Thạch Mỹ về đến Tùng Nghĩa. Đường dây này dùng trụ bằng cây thông tẩm dầu sản xuất tại nhà máy tẩm trụ điện tại Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận. Nhà máy này cũng thuộc quản lý của hợp tác xã. Như vậy kể từ năm 1968 thị trấn Tùng Nghĩa bắt đầu có điện sử dụng cung cấp  từ trạm Cang Rang.

Tờ trình của Tỉnh trưởng Ninh Thuận cho biết, theo Chương trình điện hoá nông thôn đề ra nhằm mang lại điện năng về nông thôn trên toàn miền Nam, thì tại Phan Rang, Liên hiệp Hợp tác xã Điện nông thôn đã thành lập được một nhà máy sản xuất trụ điện gỗ tẩm dầu cung cấp trụ điện phân phối cho 3 Hợp tác xã Điện nông thôn An Giang, Tuyên Đức, Biên Hoà (Đức Tu).

Công tác kiểm tra nhà máy sản xuất trụ điện Phan Rang đã được các chuyên viên Hoa Kỳ nghiên cứu từ ngày 5-10-1965 đến ngày 30-5-1966. Liên hiệp đã ký Hợp đồng với Nha Tài nguyên và công sản quốc gia thuê một sở đất rộng 38.400 thước vuông toạ lạc tại thôn Đô Vinh, quận Bửu Sơn. Nhà máy được khởi công xây cất vào cuối năm 1965 và hoàn tất vào cuối năm 1968 (tại Tháp Chàm, đường đi vào phi trường). Đây là nhà máy đầu tiên và duy nhất tại miền Nam, được trang bị để trở thành một nhà máy tối tân nhất ở Á châu.Hiện nay các chế phẩm của nhà máy này đã:

  1. Cung cấp trụ điện cho các hợp tác xã điện nông thôn An Giang, Tuyên Đức, Biên Hoà (Đức Tu), đồng thời cung cấp một số lớn trụ cho Công ty Điện lực Việt Nam.
  2. Cung cấp trụ điện thoại cho Tổng nha Bưu điện và trong tương lai sẽ cung cấp cho Cục Truyền tin.
  3. Cung cấp cây cừ cho Bộ Công chánh và sẽ cung cấp cho Cục Công binh/Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong tương lai.

Trong hoàn cảnh miền Nam, nhà máy sản xuất trụ điện Phan Rang đã đóng góp một phần trong Chương trình phát triển nông thôn và đã đem lại lợi ích thiết thực vì trụ thông tẩm dầu có nhiều đặc diểm như sau:

– Chắc chắn bền bỉ, có thể chịu dựng được từ 30 đến 50 năm.

– Di chuyển dễ dàng trong toàn lãnh thổ.

– Giá rẻ hơn trụ xi măng và chỉ bằng 1/3 trụ xi măng đồng loạt.

– Kinh phí trồng trụ và thiết trí đường dây cũng chỉ bằng phần nửa so với trụ xi măng.

Vả lại, nhà máy sản xuất điện Phan Rang cũng đóng góp trong việc phục hưng nền  kinh tế nhất là trong tương lai để cải tiến và phát triển đời sống nông thôn. Sử dụng và khai thác cây thông là một nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú của quốc gia, đồng thời tiết kiệm được ngoại tệ trong việc giảm bớt nhập cảng xi măng và sắt để đúc trụ điện. Sau hết nước ta cũng có thể xuất cảng ra nước ngoài đem về một số ngoại tệ cho ngành ngoại thương Việt Nam.

Ngày 10-4-1968, Ty Điện lực Lâm Đồng thuộc khu Điện lực Cao nguyên Trung phần có Tờ trình gửi Tỉnh trưởng Lâm Đồng xin tái thiết lại nhà máy điện Bảo Lộc và cung cấp điện ban ngày. Tờ trình nêu rõ:

“Nhà máy điện Bảo Lộc khởi công xây cất từ năm 1965 nhưng vì lý do chiến tranh, công tác phải bỏ dở.

Từ ấy đến nay, Tổng nha Điện lực Việt Nam đã lập lại dự án xây cất nhà máy mới và đã gọi thầu rất nhiều lần, nhưng không nhà thầu nào dám đảm trách, hoặc có đảm trách thì lại đòi giá quá cao.

Trước nhu cầu điện năng gia tăng nhảy vọt, nhà máy điện cũ của Ty Công chánh giao lại lợp bằng tôle lụp xụp, thiếu mọi điều kiện kỹ thuật, không còn chỗ để tăng cường máy điện mới.

Để có thể đáp ứng với tình trạng hiện tại, Thiểm ty nhận thấy chỉ còn có giải pháp duy nhất là xin làm quan quản công tác xây cất nhà máy mới với sự trợ giúp về kỹ thuật của Ty Công chánh”.

Nhận được tờ trình trên, Tỉnh trưởng Lâm Đồng đã có văn bản gửi Tổng trưởng Công chánh vào ngày 12-4-1968 trình bày rõ:

“Hệ thống điện tuyến tại tỉnh tôi đã có từ năm 1957 lúc đó do một tư nhân Hoa kiều phụ trách và chỉ có một máy nhỏ 30 KW nên chỉ cung ứng cho một khu phố dọc theo quốc lộ 20.

Tiếp đến năm 1964, hệ thống cung cấp điện được chuyển sang Ty Công chánh Lâm Đồng phụ trách và đến tháng 5-1967 lại do Ty Điện lực  (thuộc Điện lực Việt Nam) quản trị.

Trước sự mở mang của một thành phố phát triển, sự khao khát ánh sáng điện của dân chúng trong thị xã và nhu cầu an ninh của các cơ quan quân sự, tất cả đều cần phải có ánh sáng điện. Nhưng tại tỉnh tôi chưa có nhà máy điện và chỉ đặt máy tại một căn nhà tạm, nhỏ, lợp tôle vách ván. Nên không có nơi bố trí dụng cụ và nơi nhân viên thường trực trông nom máy trong đêm tối (nếu có trang bị thêm máy để chạy ban ngày cũng không có chỗ đặt).

Do phúc trình của Ty Điện lực sở tại, tỉnh tôi được biết chương trình xây cất nhà máy điện tại Bảo Lộc đã được chấp thuận từ năm 1965, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện vì lẽ vật liệu nhân công leo thang với thời giá nên không nhà thầu nào chịu xây cất.

Thể theo lời yêu cầu của Ty Điện lực mà tỉnh tôi thấy không có giải pháp nào khác, tỉnh tôi kính đề nghị quý Bộ cứu xét gấp rút cho Ty Điện lực sở tại được thực hiện việc xây cất nhà máy điện Bảo Lộc theo lối quan quản với sự trợ giúp về kỹ thuật của Ty Công chánh Lâm Đồng, để sớm nới rộng hệ thống điện tuyến ra các vùng phụ cận, có thể phát triển các sinh hoạt tiểu công nghệ và thoả mãn nhu cầu của dân chúng.

Trân trọng kính xin qúy Bộ sớm phúc tỉnh tôi biết tôn ý để tuân hành”.

Ngày 25-4-1968, Bộ Nội vụ cũng gửi văn bản tới Tổng trưởng Công chánh về vấn đề này:

“Do văn  thư chiếu thượng, Toà Hành chính tỉnh Lâm Đồng có xin quý Bộ sớm cứu xét cho thực hiện công tác xây cất nhà máy điện tại tỉnh lỵ sở quan để nới rộng điện tuyến ra các vùng phụ cận hầu ngành tiểu công nghệ có thể phát triển, nâng cao mức sống vật chất cho dân chúng theo đúng chủ trương xây dựng hạ tầng cơ sở của Chính phủ và an ninh được thêm phần bảo đảm.

Trước đây, Bảo Lộc là một quận đã được cải thành một tỉnh, dân chúng ngày thêm đông đảo, cơ quan hành chánh và quân sự cũng được gia tăng, nên vấn đề ánh sáng có ảnh hưởng rất nhiều đến an ninh và đời sống của đồng bào tại tỉnh lỵ.

Vậy Bộ Nội vụ trân trọng xin quý Bộ vui lòng cứu xét cho thực hiện công tác xây cất nhà máy điện tại Bảo Lộc càng sớm càng quý vì chương trình này đã được chấp thuận từ năm 1965”.

Những đề nghị kể trên đã thu được hiệu quả: nhà máy điện Bảo Lộc được tiếp tục thi công, lắp  đặt 2 tổ máy hiệu Cummins công suất 100KW mỗi máy, cung cấp ánh sáng chủ yếu cho các công sở. Từ năm 1970 đến 1975 tại Bảo Lộc. Nhà máy điện được lắp đặt thêm từng thời kỳ các tổ máy sau:  

– Tổ máy số 1: 200KW hiệu Caterpillar Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 2: 200KW hiệu  EGM Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 3: 400KW hiệu EGM Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 4: 400KW hiệu EGM Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 5: 400KW hiệu EGM Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 6: 400KW hiệu EGM Mỹ sản xuất

– Tổ máy số 7: 400KW hiệu EGM Mỹ sản xuất.

Sau khi các tổ máy diésel mới được lắp đặt, 2 tổ máy Cummins ban đầu ngưng vận hành. Lưới điện 15KV và hạ thế được thi công đến các khu dân cư, các nhà máy chế biến trà… và công sở.

Tại Di Linh cũng thi công một nhà máy điện, lắp đặt một tổ máy có công suất 104KW hiệu Mam do Đức sản xuất và đường dây hạ thế cung cấp điện chủ yếu cho công sở. Từ năm 1970 đến 1975, Nhà máy điện Di Linh được lắp đặt thêm 2 tổ máy diésel:

  – Tổ máy số 2: 200KW hiệu EGM do Mỹ sản xuất.

  – Tổ máy số 3: 150KW hiệu ALLIS CHALMERS do Mỹ sản xuất. Lưới điện được mở rộng địa bàn cung cấp bằng thi công các đường dây 15 KV và hạ thế đến các địa bàn công sở, dân cư và các nhà máy chế biến trà, cà phê.

Ngày 10-6-1968, Nha khai thác địa phương thuộc Điện lực Việt Nam cùng nhiều quan chức địa phương đã tham dự buổi bàn giao trạm điện trong chương trình điện hoá ấp Trần Lạc, xã Tân Phát, quận Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng gồm 1 máy phát điện công suất 30 KW, hệ thống nguyên liệu dùng cho trạm phát điện, hệ thống thắp sáng và hệ thống hầm terre. Các công việc trang bị hệ thống điện tuyến hạ thế 220/380V (kéo dây và gắn đèn đường) sẽ do nhà thầu địa phương thực hiện dưới sự hướng dẫn của chuyên viên Nha Khai thác địa phương thuộc Điện lực Việt Nam.

Năm 1969, Điện lực Việt Nam và Sài Gòn Điện lực Công ty sáp nhập thành Công ty Điện lực Việt Nam, gọi tắt là CDV.

Năm 1970 thành lập Trung tâm Điện lực Lâm Đồng có nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh bán điện trên địa bàn 2 quận Bảo Lộc và Di Linh.

Năm 1970 Quốc gia Trùng tu Điện lực Cuộc giải thể bàn giao Trung tâm Điện lực Tuyên Đức cho Công ty Điện lực Việt Nam (CDV).

Từ thời kỳ này bắt đầu áp dụng kỹ thuật xây dựng đường dây và trạm phân phối theo tiêu chuẩn của Mỹ, như dùng trụ bê tông ly tâm tròn thay vì trụ bê tông vuông, trạm phân phối kiểu treo ngoài trời thay vì trạm xây kín… Với kỹ thuật thi công mới này công tác phát triển đường dây và trạm được nhanh chóng hơn trước nhiều.

Cũng trong năm 1970 một tổ máy phát diện diésel công suất 400KW hiệu Caterpillar sản xuất tại Mỹ được lắp đặt tại nhà máy điện Đà Lạt để tăng cường công suất đáp ứng nhu cầu gia tăng, song tổ máy này hư hỏng ngay trong khi vận hành thử nghiệm do sai sót kỹ thuật trong quá trình lắp đặt. Vì vậy năm 1971 tại nhà máy điện Đà Lạt lắp đặt thêm 2 tổ máy diésel Công suất 1.200KW, hiệu SACM do Pháp sản xuất (hai tổ máy này được điều động ra miền Bắc năm 1976).

Kể từ năm 1970, Trung tâm Điện lực Tuyên Đức và nhà máy thủy điện Đa Nhim thuộc quyền quản lý của khu Điện lực Cao nguyên, văn phòng đặt tại đường Trần Bình Trọng (Đà Lạt).

Nhà máy thủy điện Đa Nhim đến thời kỳ này có nhiều hư hại, được Chính phủ Nhật hứa sẵn sàng viện trợ trong việc sửa chữa đập Đa Nhim với vật liệu và dịch vụ do người Nhật cung cấp. Gói viện trợ này sẽ được quy định bằng một thoả ước với điều kiện Việt Nam Cộng hoà phải đảm bảo an ninh trong vùng công trường sửa chữa và giữ cho nhà máy không bị phá hoại một lần nữa.

Ngày 30-4-1970, Công ty Điện lực Việt Nam (CDV) báo cáo với Bộ Công chánh:

“Công ty đã liên lạc với hãng Cố vấn Nhật Bản Nippon Koei và sửa  soạn ký kết với hãng này những khế ước sau:

Một khế ước liên quan đến việc thực hiện nghiệp vụ cố vấn trong công tác sửa chữa đợt đầu hệ thống phát điện Đa Nhim gồm:

– Sửa chữa các nền móng cho hai đường ống thuỷ áp.

– Sửa chữa một ống thủy áp để có thể làm chạy hai máy phát điện với khả năng cung cấp 80.000KW.

– Cố vấn kỹ thuật và kiểm soát công tác, giúp chạy lại các máy phát điện.

Một khế ước khác liên quan đến:

– Dự án thiết lập dàn ngắt điện (Switch yard) 65KV-20MVA tại nhà máy phát điện Đa Nhim cho đường dây dẫn điện Sông Pha-Phan Rang-Cam Ranh.

– Dự án thiết lập dàn ngắt điện 31KV-10MVA tăng cường cho dàn ngắt diện 31KV-3MVA có sẵn để cung cấp điện cho vùng Đà Lạt-Tuyên Đức ngay khi đợt đầu công tác hoàn thành.

– Duyệt lại dự án thiết lập các đường dây dẫn điện 66KV Sông Pha – Phan Rang, Sông  Pha-Đà Lạt do Công ty Điện lực Việt Nam thực hiện.

Hai hãng thầu cũ là Hajama và Sakai sẽ được lựa chọn để thực hiện công tác thuộc khế ước một, nếu giá thuận thầu hợp lý.Đến nay:

– Hãng Nippon Koei đã đệ trình Công ty duyệt xét những dự thảo tài liệu đấu thầu và dự thảo khế ước.

– Các chuyên viên của hãng này đã nghiên cứu tại chỗ việc sửa soạn thực hiện công tác.

– Các chuyên viên hãng Hajama và Sakai cũng sẽ sang Việt Nam vào đầu tháng 5/1970 để nghiên cứu công trường.

– Công ty đã cử chuyên viên phụ trách việc thiết lập dự án đường dây dẫn điện 66KV và lo liệu thủ tục nhập cảnh dễ dàng cho các chuyên viên Nhật sẽ đến thực hiện công tác sửa chữa hệ thống Đa Nhim tại Việt Nam.

– Công ty cũng đã liên lạc với các cơ quan quân sự có phần vụ bảo vệ hệ thống thủy điện Đa Nhim để lo liệu việc bảo đảm an ninh công trường cho các hãng thầu ngoại quốc.

Theo hãng Nippon Koei:

  1. Nên xúc tiến việc ký khế ước thứ nhất trước, chỉ liên hệ tới việc sửa chữa một ống thủy áp.
  2. Việc thiết lập các dàn ngắt điện 66KV và 31KV tại nhà máy Sông Pha sẽ được thực hiện song song với công tác trên nếu Chính phủ Nhật đồng ý cấp ngân khoản gồm trong ngân khoản cho việc viện trợ sửa chữa ống thủy áp và khế ước thứ nhất sẽ được tu chỉnh”.

Ngày 17-10-1970, Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam Cộng hoà ký Thoả hiệp thư, theo đó phía Nhật sẽ viện trợ đợt I số tiền là 300 triệu Yên để tái thiết đập Đa Nhim. Tháng 8-1971 một dự thảo Thoả ước được đưa ra, ấn định phía Nhật sẽ viện trợ tiếp 687,900 triệu Yên để hoàn tất việc tái thiết đập Đa Nhim (tương đương 2 triệu Mỹ kim).

Căn cứ vào nhu cầu khuếch trương hệ thống sản xuất, chuyển vận và phân phối điện năng, CDV đã được phép thực hiện công tác kiến tạo hệ thống chuyển vận và phân phối điện cao thế 66KV Sông Pha-Đà Lạt tại tỉnh Tuyên Đức và thị xã Đà Lạt bằng Sắc lệnh số 090-SL/CC ngày 31-7-1971, theo đó CDV được phép sử dụng những thửa đất theo vị trí hoạch định trong hoạ đồ đính kèm.

Theo CDV, công tác tái thiết đường dây điện cao thế 230KV Đa Nhim – Sài Gòn thuộc phạm vi từ quận Đơn Dương và giáp ranh tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng đã hoàn tất vào 15-8-1973 và hiện Công ty đang xúc tiến thực hiện phần đường dây còn lại thuộc các tỉnh Lâm Đồng, Long Khánh và Biên Hoà hầu có thể mang điện Đa Nhim về Sài Gòn vào giữa năm 19741. Còn theo Bộ Công chánh thì việc sử dụng viện trợ của Nhật Bản như sau:

a). 3 triệu Mỹ kim (Grant) để tái thiết nhà máy thủy điện Đa Nhim. Công tác đã hoàn tất vào cuối năm 1972: nhà  máy Đa Nhim đã được tái thiết với công suất thiết kế 160 MW.

b). 1 tỷ 70 triệu Yên (Soft Ioan) để thiết lập điện tuyến 66KV Đà Lạt – Cam Ranh. Công tác đang tiến hành và dự trù hoàn tất vào tháng 6-1974.

c). 288 triệu Yên (Grant) để tái thiết điện tuyến 230KV Đa Nhim-Sài Gòn.

Ngoài ra Chính phủ Nhật Bản cũng đã chấp thuận trên nguyên tắc sẽ viện trợ cho Chính phủ Việt Nam Cộng hoà một ngân khoản bổ sung 77.000.000 Yên để Công ty Điện lực Việt Nam hoàn tất công tác tái thiết điện tuyến 230KV nói trên trong vài tháng sắp tới.

Đối với Dự án điện tuyến 230KV Đa Nhim -Sài Gòn

  1. Ngân khoản 288 triệu Yens được sử dụng để mua vật liệu dụng cụ và thuê chuyên viên cố vấn Nhật Bản cần thiết cho dự án.
  2. Công ty Điện lực Việt Nam ký kết các khế ước cung cấp vật liệu dụng cụ và dịch vụ với các hãng thầu Nhật Bản. Các khế ước này sẽ được Chính phủ Nhật Bản kiểm nhận.

Hệ thống chuyển vận Đa Nhim-Đà Lạt-Phan Rang-Cam Ranh với đường dây cao thế 132KV dài 122 cây số xuất phát từ nhà máy thủy điện Đa Nhim và chạy đến các thành phố Đà Lạt-Phan Rang-Cam Ranh và trong tương lai gần đây sẽ nối với Nha Trang.

Công việc chia làm 3 giai đoạn:

– Giai đoạn 1:     Đa Nhim-Phan Rang

  Khởi công        1-10-1973

  Hoàn tất           30-6-1974

– Giai đoạn         2:      Phan Rang- Cam Ranh

  Khởi công        1-2-1974

  Hoàn tất           15-8-1974

– Giai đoạn 3:     Đa Nhim – Đà Lạt

  Khởi công        1-10-1973

  Hoàn tất           30-8-1974

Đặc tính kỹ thuật của Dự án:

Đường dây

  – Chiều dài       Đa Nhim-Phan Rang               42 Km

                          Phan Rang-Cam Ranh             45 Km

                          Đa Nhim- Đà Lạt                     35 Km

  – Tháp trụ        :         50

  – Trụ thép:       682

  – Loại dây:       ACSR 336 MCM

  – Điện thế:        132KV.

Các trạm biến điện

  – Trạm nâng thế Đa Nhim             : 22MVA

  – Trạm biến thế Tháp Chàm                   : 06MVA

  – Trạm biến thế Cam Ranh           : 12MVA

  – Trạm biến thế Đà Lạt                 : 12MVA

Kinh phí:

Phần ngoại tệ:

  Vay của OECF (Nhật Bản)

  – Vật liệu đường dây                     : 427.643.000 Yên

  – Vật liệu trạm biến điện               : 428.172.000 Yên

  – Kỹ sư cố vấn                              : 106.674.000 Yên

  – Bồi hoàn chi phí nội địa             :  93.653.000 Yên

                                                            1.056.142.000 Yên

Phần nội tệ

  Công ty Điện lực  Việt Nam        

       – Trạm biến điện                      : 27.000.000$

       – Đường dây                                      : 73.000.000$

                                                       100.000.000$

Thông số kỹ thuật trạm Đà Lạt

Dung lượng                  12.000KVA

Điện áp                        66KVA

Số phát tuyến              6

Về mặt kỹ thuật trạm Đà Lạt khi đó khá hiện đại:

+ Máy biến áp 12.000KVA có bộ điều áp dưới tải (tự động điều chỉnh điện áp khi đang mang tải).

+ Các máy cắt 6,6KV là loại hợp bộ trong thùng kín rất an toàn cho công nhân thao tác.

+ Trạm có máy tải ba để liên lạc trực tiếp với thủy điện Đa Nhim.

Sau khi có trạm 66/6,6KV, các đường dây 3,3KV nhanh chóng được cải tạo thành 6,6KV và thi công phát triển các đường dây 6,6KV mới. Năm 1973 Văn phòng Khu Điện lực Cao nguyên chuyển về trong khuôn viên trạm 66/6,6KV mới xây dựng xong.

Bộ Công chánh thông báo, công tác tái thiết ống thủy áp nhà máy điện Đa Nhim với viện trợ Nhật Bản đã hoàn tất năm 1973, việc thiết lập hệ thống phòng thủ vừa hoàn tất tại Song Pha ngày 21-3-1974 cũng như diễn tiến các công tác tái thiết điện tuyến 230KV Đa Nhim-Sài Gòn như đã hoàn tất việc giải toả mìn chân trụ, lập đường mòn vào trụ, khai quang xung quanh trụ; đang tiến hành các việc sửa trụ, ráp trụ, thay sứ, kéo dây.

Về các việc đã hoàn thành: ngay từ khi vật liệu viện trợ của Chính phủ Nhật chưa đến, Công ty Điện lực đã cố gắng hoàn tất và đóng điện các đoạn sau với vật liệu sẵn có đối với các đoạn Song Pha-Di Linh dài 82 km (trụ số 001-228); đoạn Thủ Đức-Long Bình dài 21km (trụ số 665-729). Sau khi số vật liệu viện trợ thuộc ngân khoản 88 triệu Yên đang lần lượt đến Việt Nam, kế hoạch tái thiết phần còn lại được dự liệu để làm đoạn Di Linh đến ranh tỉnh Lâm Đồng/Long Khánh dài 54km (trụ số 228 đến 374); đoạn Long Bình đến La-Ngà dài 47km (trụ số 527 đến 665) đang được tái thiết song song và dự liệu hoàn tất vào tháng 7 năm 1974.

Về việc dời một phần điện tuyến ra gần quốc lộ 20 và một phần điện tuyến thuộc khu vực La Ngà và Phương Lâm sẽ được dời ra gần quốc lộ 20 để việc bảo vệ an ninh được hữu hiệu hơn. Tổng cộng 2 đoạn này dài 21 km và chương trình công tác sẽ hoàn tất vào cuối năm 1974.

Vì tầm quan trọng của chương trình sử dụng thủy điện thay nhiệt điện: giải quyết phần lớn tình trạng khan hiếm nhiên liệu, tiết kiệm ngoại tệ nhập cảng nhiên liệu, Công ty Điện lực Việt Nam đề nghị Bộ Quốc phòng giúp:

  1. Yểm trợ các toán chuyên viên của Công ty Điện lực trong suốt thời gian tái lập điện tuyến ở những đoạn chưa hoàn tất công tác.
  2. Bảo vệ từng phần điện tuyến ngay sau khi được tái thiết xong và toàn thể điện tuyến hầu bảo đảm việc chuyển vận điện năng từ Đa Nhim về Sài Gòn, theo như kế hoạch dự liệu trên đây, đặc biệt là tại các khu vực Lang Hanh, Tứ Quý, B’Sar, Phương Lâm, Định Quán, La Ngà, Suối Đĩa, Trảng Bom, Hưng Lộc.

Công ty Điện lực Việt Nam đã đề nghị các tỉnh có điện tuyến cao thế đi qua cho lùng bắt những kẻ tháo gỡ sắt trụ điện, đường dây điện, những kẻ mua bán, tồn trữ, chuyên chở, xử dụng các vật liệu này; yêu cầu các cơ quan an ninh lại lập biên bản đưa ra toà truy tố về tội trộm, để Công ty Điện lực Việt Nam xin bồi thường.

Ngoài ra, Công ty Điện lực Việt Nam xin lưu ý cấm bắn bia vào trụ điện, sứ cách điện, dây điện, là những vật dụng nhập cảng rất đắt tiền.

Những việc còn lại cần phải làm là:

  1. Công ty Điện lực Việt Nam cho biết rằng công tác tái thiết điện tuyến cao thế 230KV dự trù hoàn tất vào cuối năm 1974 tôn trọng lộ trình cũ, chỉ có dời 21 km đường dây ở 2 khu vực La Ngà và Phương Lâm, theo lời yêu cầu của tỉnh Long Khánh hồi tháng 8-1973.
  2. Các đoạn điện tuyến đi qua một số khu vực kém an ninh tại những tỉnh khác sẽ được Công ty Điện lực Việt Nam nghiên cứu lại để nếu cần đem ra sát quốc lộ như một số tỉnh yêu cầu ngõ hầu tiện bề gìn giữ.

Tuy nhiên việc dời thêm điện tuyến, nếu có, chỉ có thể thực hiện vào giai đoạn 2 trong các năm 1975-1976, vì đòi hỏi rất nhiều thì giờ điều chỉnh lộ trình, xin ngân khoản, tìm ngoại tệ, tìm nhà cung cấp, nhập cảng vật liệu, v.v…

Từ giữa năm 1974, trên chiến trường miền Nam đã xuất hiện tình thế mới, tình hình có nhiều chuyển biến căn bản,quân Giaỉ Phóng đã giải phóng một số quận lỵ quan trọng nhưng đội Sài Gòn không có khả năng chiếm lại. Trước tình hình đó, tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và quyết định phương án hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam.

Từ ngày 4 đến ngày 24 tháng 3 năm 1975, chiến dịch Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam đã giành được thắng lợi, tiếp đó là các chiến dịch giải phóng Trị Thiên, các tỉnh đồng bằng Khu V.

Thắng lợi to lớn trên các chiến trường đã có ảnh hưởng lớn đến địa phương. Ở Lâm Đồng , trên 2500 lượt người trong đó có cán bộ chiến sỹ các đội công tác, lực lượng công nhân và đồng bào căn cứ Bắc tham gia hàng vạn ngày công mở đường kéo pháo từ Mađagui đến B’Trú để bộ đội chủ lực triển khai đội hình chuẩn bị tiến công giải phóng thị xã B’Lao. Cơ sở Công doanh của tỉnh đã cung cấp hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm cho các đơn vị. Các cơ sở tại chỗ đều có kế hoạch nổi dậy, phá kèm, chiếm lĩnh và bảo vệ các cơ quan. Ở nhà máy điện Bảo Lộc, trước ngày 28 tháng 3 năm 1975, ông Trần Ngũ – Giám đốc nhà máy – đã vận động và lãnh đạo công nhân nổi dậy chiếm giữ khu vực nhà máy, nhờ vậy đã duy trì được sự hoạt động của nhà máy ngay những ngày đầu mới giải phóng.

Trên chiến trường Đà Lạt – Tuyên Đức, mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng trước thời cơ ngàn năm có một, Tỉnh ủy Tuyên Đức đã xác định quyết tâm nhận rõ thời cơ, khi có điều kiện, phải thừa thắng tấn công nổi dậy. Sáng 28 tháng 3 năm 1975 Bảo Lộc, Di Linh ,Đức Trọng, Đơn Dương được giải phóng. Tối ngày 31 tháng 3 năm 1975, quân đội Sài Gòn đốt các kho đạn trong thị xã, sân bay Cam Ly, Trường Võ bị. Trên đường bỏ chạy họ đánh sập cầu Đại Ninh trên đường 20 và đánh sập cầu Phi Nôm gây khó khăn cho việc tiến quân, toàn bộ lực lượng trong Đà Lạt đã rút chạy theo đường 11 xuống Phan Rang. Ngày 3 tháng 4 năm 1975, Tuyên Đức – Đà Lạt được hoàn toàn giải phóng.

Ngay sau khi lực lượng Việt Nam Cộng Hòa rút chạy khỏi Đà Lạt, được sự hướng dẫn của cơ sở, lực lượng công nhân đã tự động đứng ra thành lập các đội tự vệ, lấy súng trang bị cho lực lượng này để chống lại một số phần tử xấu có âm mưu phá hoại và ăn cắp tài sản ở Nha Địa dư. Công nhân nhà máy nước, nhà máy điện đã tự đứng lên bảo vệ nhà máy nguyên vẹn.

Cùng với công tác an ninh trật tự, thành lập chính quyền cách mạng, đến đầu tháng 5 năm 1975 đã có một số công sở hoạt động trở lại như Ty giao thông Công chánh, Bưu điện, Nhà máy nước, Nhà máy điện, Thủy điện Suối Vàng, Thủy điện Đa Nhim, Ngân khố, các cơ sở y tế, bệnh viện, Viện Patxtơ, các trường học như Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân, Trung tâm giáo dục Hùng Vương…

Trong khi Tuyên Đức – Đà Lạt và nhiều địa phương khác đã giải phóng thì cuộc Tổng tấn công mùa Xuân năm 1975 bước vào những giờ phút quyết định, chiến dịch Hồ Chí Minh đánh thẳng vào Sài Gòn – Gia Định và kết thúc toàn thắng ngày 30/4/1975. Ở thành phố Đà Lạt cũng như khắp các nhà máy, công sở ngành điện, công nhân ngành điện đã tự đứng lên giữ gìn nhà máy và hệ thống điện an toàn, bàn giao cho chính quyền cách mạng ngày từ những ngày đầu giải phóng Đà Lạt.

Trong những ngày đầu tiếp quản, điện lực Lâm Đồng gặp nhiều khó khăn khi tiếp nhận hệ thống điện từ chế độ cũ với quy mô rất nhỏ bé và lạc hậu. Thời gian này, điện lưới mới chỉ có ở trung tâm Đà Lạt. Các địa bàn khác như Đức Trọng, Đơn Dương chỉ sử dụng nguồn diésel độc lập như trạm diésel Đơn Dương 1.600 kW, nhà máy đèn Di Linh 354 kW và nhà mày đèn Bảo Lộc 1.800 kW. Đa số nhà máy cũ công suất khả dụng chỉ đạt khoảng 50 – 60 %, hệ thống lưới điện chắp vá được xây dựng từ năm 1928 trải qua một thời gian dài với nhiều chế độ quản lý và đầu tư khác nhau như: CEE của Pháp, CDV của Mỹ. Vì vậy thời gian đầu sau giải phóng đã có lúc lưới điện trên địa bàn tỉnh có đến  8 cấp điện áp trung hạ thế như 3,3kV, 6,6kV, 8,6kV, 15kV, 31,5 kV,  66 kV và 0,4 kV. Ở thành phố Đà Lạt lưới điện hạ thế chủ yếu là cấp 220/110V, tổn thất điện năng lên đến 31%.

Cuối tháng 4, đầu tháng 5/1975, các nhà máy đèn Đà Lạt, nhà máy thủy điện Ankroet, thủy điện Đa Nhim được bàn giao và hoạt động trở lại. Lúc này đoàn cán bộ tiếp quản do các ông Dưong Văn Phú, Đặng Tịnh, Nguyễn Thanh Hoài tiếp nhận cơ sở vật chất nhà máy đèn Đà Lạt, do ông Trần Kiến là công nhân nhà máy đại diện bàn giao[2].

Tại nhà máy thủy điện Suối Vàng, lực lượng công nhân đã giữ gìn và bàn giao hoàn chỉnh máy móc trang thiết bị cho cách mạng mà người đứng đầu là ông Nguyễn Thương – Tổ trưởng nhà máy.

Tại Đức Trọng, lúc bấy giờ là Hợp tác xã điện hóa nông thôn Tuyên Đức, ông Ngô Liễu ở lại bám trụ bảo vệ cơ sở vật chất và duy trì vận hàng lưới điện trong điều kiện khó khăn để cung cấp kịp thời điện cho các khu vực, góp phần cùng Ủy ban Quân quản ổn định tình hình chính trị – xã hội tại địa phương.

Tại Bảo Lộc, ông Trần Ngọc Thông đã bảo vệ và tiếp quản các nhà máy điện Bảo Lộc, Di Linh đồng thời tổ chức vận hành nhà máy ngay từ những ngày đầu mới giải phóng.

Cuộc tiến công mùa Xuân 1975 toàn thắng đã kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng. Chính quyền và nhân dân Lâm Đồng nói chung, điện lực Lâm Đồng nói chung bước sang một trang mới: xây dựng và phát triển trong thời kỳ hòa bình.

Chú thích:

[1] http://baolamdong.vn/xahoi/201112/Lam-dong-on-dinh-quy-mo-dan-so-14-trieu-nguoi-vao-nam-2015-2144339/

1 . Sư đoàn 5 Nùng từ miền Bắc chạy vào đóng hậu cứ ở Sông Mao (Bình Thuận).

1 . Chưa kể tiền lãi trong thời gian công tác phải trả cho Ngân hàng Nhật và chi phí thuê hãng Nippon Koei hướng dẫn khai thác trong năm đầu.

2 . I US$  = 60 VN$. 

1 .  Năm 1972 CDV thành lập Trung tâm Điện lực Sông Pha, văn phòng đặt tại khu văn phòng quản lý đập Đa Nhim, Trung tâm này quản lý kinh doanh trên địa bàn thị trấn Đran và Sông Pha ở chân đèo Ngoạn Mục. Gần cuối năm 1974 Trung tâm này bị giải thể vì hoạt động kinh doanh không hiệu qủa, khu thị trấn Dran bàn giao lại cho Trung tâm Điện lực Tuyên Đức.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s