Quân Mông Cổ chinh Tây

Bản Đồ ghi lại cuộc hành quân của Jebe và Subutai. Nơi có hình ngôi sao là các trận đánh nảy lửa.

Bản Đồ ghi lại cuộc hành quân của Jebe và Subutai. Nơi có hình ngôi sao là các trận đánh nảy lửa.

Hiệp Võ

I. Đánh Nga lần thứ nhất : Cuộc hành quân của Jebe và Subutai

A-Đánh Georgia.

Năm 1221 Jebe và Sabutai sau khi truy lùng Muhammad, đã tiếp tục tiến quân vào vùng đồi núi Caucasus với 20000 quân và để lại sau lưng Iraq-I Ajam tan nát. Theo “Mongol: A Country Study” Federal Research Division Library of Congress, edited by Rober L Worden và Andrea Matles Savada thì số quân là 25000 người. Quân đội hai tướng này cướp phá các thành phố Rayy, Zanjan và Qazvin. Khi nghe tin ấy thành phố Hamadan đầu hàng vô điều kiện còn Ozbeg, người thủ lãnh nước Azerbaizain, cũng chịu đưa các phẩm vật để Mông Cổ không tàn phá kinh đô Tabbriz.

Cuối cùng, Thành Cát Tư Hãn đã cho phép hai tay tướng lỗi lạc của ông được phép đánh lên lãnh thổ Nga. Thiệt hại một số trong các trận đánh, nhưng ngược lại Mông Cổ được tăng cường thêm quân của hai đám cứơp cạn là Kurdish và Turcoman.

Tại vùng núi non trùng điệp Caucasus, Mông Cổ có trận đánh dữ dội với vương quốc Georgia.

Trước khi tiếp tục về các trận đánh ta hãy xem qua về địa lý và lịch sử nước này, dựa vào quyển “Georgia- A Sovereign Country of Caucasus” của tác giả Roger Rosen.

Georgia là một tiểu quốc; diện tích từ xưa đến nay không thay đổi bao nhiêu. So sánh với Đại Việt đời Trần thì quốc gia này và Đại Việt thì diện tích xấp sỉ bằng nhau. Dân nước này không phải gốc Slavs[1], có tiếng nói riêng. Căn bản dân theo đạo Thiên Chúa từ thế kỷ thứ IV. Georgia là một quốc gia nằm giữa hai dãy núi chính của vùng: phía bắc là dãy Caucasus với ngọn Ushba cao 4700m và dãy Lesser Caucasus ở phía nam với ngọn Samsari cao 3284m. Hai dãy núi này chiếm hơn 2/3 lãnh thổ. Giữa hai dãy núi này là một giải bình nguyên hẹp tao bởi hai con con sông. Sông chính Mtkvari (Kura) đổ vào biển hồ Caspian và con sông thứ hai Rioni đổ vào biển Hắc Hải. Thành phố chính là Tbilisi (ngày nay vẫn là kinh đô) nằm trên sông Mtkvari.

Về lịch sử, vì nước là một tiểu quốc, nên nước này đã trải qua rất chiều cuộc xâm lăng hay đô hộ từ bốn phía. Bắt đầu các cuộc đô hộ, xăm lăng là Alexander the Great (A lếch xăng đại đế) đến các cuộc chinh phục của các đế quốc Hy Lạp, Thổ, Hồi giáo, Ottoman, và Byzantine…

Thời kỳ vàng son của quốc gia này vào năm 1089, lúc David the Builder nối nghiệp bố đánh bại quân đội Thổ, mở rộng nước đến phần đất thuộc vào nước Armenia ngày nay. Thời vàng son này kéo dài cho đến thế kỷ XIII, là khi Mông Cổ vào, mà ta sẽ xem dưới đây.

Tháng giêng, năm 1221, quân Mông Cổ cho quân Kurdish và Turcoman làm tiên phong tiến về sông Kura (Mtkvari). Vua của Georgia, Giorgi IV Lasha dẫn một đạo quân đông gấp 3 lực lượng Mông Cổ với 70,000 quân. (Theo  Georgia A Sovereign Country of Caucasus thì số quân là 90000.) Đạo quân này đẩy lùi quân Mông Cổ về lại phía sau Tbilisi. Quân Mông Cổ phải tháo lui, nhưng luôn đánh trả làm thiệt hại quân của Georgia. Về đến phương nam quân Mông cổ đánh chiếm Baghdad, kinh đô của giáo chủ Hồi giáo.

Sau đó, Mông Cổ lại tiến về hướng bắc. Vua Georgia dàn quân tại Tbilisi chờ đợi. Subutai đem tjumen của ông tiến lên để nghênh chiến. Đánh một thời gian, Subutai giả thua cho quân tháo lui. Quân Georgia đuổi theo thì rơi vào nơi phục kích của Jebe. Quân Georgia bị đánh tan và vua Georgia IV Lasha bị tử thương.

Mùa đông năm ấy 1241, Mông Cổ vượt các dãy núi cao Caucasus trong vùng để sang thảo nguyên nam Nga, một thảo nguyên lớn nhất thế giới, đã bị một trận bão tuyết giết chết một số đông quân Mông Cổ và phải vứt bỏ các súng công thành.

Mùa xuân 1242, khi Mông Cổ tiến đến thảo nguyên thì gặp một lực lượng 50000 liên quân của Cumans, Lezgians, Atlans, Cherkesses, cùng Volga Bulgars và Khazaz. Trong liên quân này thì quân của Cumans là mạnh nhất. Cumans là một giống dân du mục, gốc Thổ Nhĩ Kỳ sống rải rác từ hồ Balkhash đến vùng phía bắc biển Hắc Hải. Trong lúc Mông Cổ bành trướng đế quốc, thì giống người này dưới quyền lãnh đạo của chúa Koten.

Dưới con mắt của các dân tộc Slavs ở Đông Âu thì Cuman (còn gọi là Polovtsy) là một đám mọi rợ. Cumans trước kia cũng đã từng cướp phá các vùng các lãnh chúa ở Nga. Sau này lãnh chúaMstislav the Bold của Galich (hay còn gọi là Hallych- Gallych) cưới con gái thủ lãnh Koten để có một cuộc sống hòa bình. Volga Bulgars là giống người Nga định cư hai bên sông Volga và sông Don.

Koten chia quân của ông làm hai đạo; một đạo cho em trai tên Yuri cầm đầu và đạo thứ hai do con trai tên Daniel lãnh đạo.

Trong trận đánh đầu tiên quân Mông Cổ bị thua. Mông Cổ liền cử một phái đoàn sang trại của Cumans điều đình. Phái đoàn này thuyết phục Cumans hãy bỏ liên minh và nhắc lại tình anh em du mục giữa người Thổ và Mông. Phái đòan còn cam kết chia tất cả những chiến lợi phẩm thu hoạch được từ vùng Caucasus lại cho các bộ lạc Cumans. Nghe bùi tai, Cumans cho rút quân. Mông Cổ lập tức tấn công các cánh quân khác và tiêu diệt họ. Sau đó, Mông Cổ đuổi theo quân Cuman, lúc ấy đã chia làm hai cánh kéo về vùng đất của chúng. Vì bất ngờ và đã bị chia thành nhóm nhỏ, nên hai cánh này cũng bị đánh tan tành.

Koten bỏ chạy về nơi con rể của ông ta- Mstislav Mstilavich có biệt danh là Mstislav the Bold[1] báo tin. Mstislav Mstilavich là lãnh chúa vùng Galich[2]

[1] Bold: tiếng Anh có nghĩa là dũng cảm. Ông này là con Mstislav the Brave và nổi danh khắp vùng đông Âu khi ông lãnh dạo các cuộc chinh chiến với dân du mục Cuman. Năm 1212 đến 1215, ông liên tiếp đụng độ với Kiev. Cuối cùng loại được lãnh chúa Vsevolod IV, rồi đưa chú của ông là Mstislav Romanovich lên ngôi.

[2]  Còn được gọi dưới nhiều tên khác nhau như: Galicia, Hallych- Gallych, nằm ở phía tây nam Kiev.

 

B-    Liên minh các thành trì của Nga.

  1. Tình trạng xã hội và địa lý Nga-Kiev trước 1223. 

Trước nhất ta hãy nhìn qua địa thế, lịch sử và tình trạng vùng đất Nga và Kiev hồi ấy. Thời gian này, Nga chưa thống nhất thành một quốc gia như ngày nay, mà phân chia thành cả trăm lãnh địa, mỗi lãnh địa là một tiểu quốc, có vài tòa thành cổ, cai quản bởi một lãnh chúa tự xưng là prince – lãnh chúa. Tất cả dân vùng này đều là gốc Slave và Viking.

Các lãnh chúa thường đóng quân trong tòa thành cổ, rồi thu lợi tức từ các nông dân trong vùng. Họ đem quân đi đánh dẹp nếu các đám du mục nào vào cướp phá. Khi đuổi quân cướp đi, họ lại đem quân về thành. Chuyện đánh đuổi mới nhất là chính chuyện dẹp đám người Cumans.

Các lãnh chúa này thường va chạm nhau vì quyền lợi lãnh thổ, tài sản hay vì người đẹp, do đó chẳng ai ưa ai. Quân đội của các vị lãnh chúa gồm một thiểu số lính chính quy, là kị binh với giáp trụ nặng nề, vững chắc bằng kim loại. Các bộ áo giáp của các hiệp sĩ Âu Châu nặng đến nỗi khi ngã xuống đứng dạy không nổi.

Vũ khí của họ là búa, trùy, kiếm to bản, hay thương (lance). Vũ khí này mà đánh trúng một kị binh Mông Cổ thì người này chết lập tức. Tuy nhiên, vì nặng nề nên di chuyển chậm chạp. Họ thường tổ chức các cuộc đọ sức bằng cách đấu thương. Nói tóm lại đây gọi là các hiệp sĩ thời trung cổ (knight).

Ngoài toán lính chuyên nghiệp trên, các lãnh chúa còn một số đông bộ binh, được tuyển từ các nông dân trong phần đất mà họ cai quản. Trong lối luyện quân cho đám bộ binh này là thường là bắn nỏ. 

Mãi tới cuối thể kỉ thứ X thì vùng này mới có thay đổi. Lãnh địa lớn nhất ở quanh vùng nước Nga ngày ấy là Kiev trên bờ tây sông Dnieper. Kiev đã trở thành hùng cường từ đó, nhờ con sông Dnieper. Vào các mùa xuân hạ thu, khi nước tan băng, các tàu buôn từ các nước ven Địa Trung Hải đem hàng hóa gồm áo lông thú, mật ong và sáp ong vào Hắc Hải rồi theo con sông này đến thành phố Kiev thủ phủ của lãnh địa Kiev. Từ đây, hàng hóa mới chuyển lên các địa phương khác. Còn hàng hóa địa phương cũng được đem về thành phố này, theo sông mà ra biển theo hành trình ngược lại.

Năm 980, một lãnh chúa Kiev tên là Vladimir the Great đã đánh dẹp nhiều lãnh chúa nhở để làm nên một vương quốc rộng lớn mà người ta thường gọi là Kiev Rus’. Vì ông là lãnh chúa Kiev, nên thủ đô đương nhiên là Kiev[1]. Ông này cũng là người đầu tiên chấp nhận đạo Thiên Chúa ngành Orthodox. Một lý do chính mà ông không chấp nhận đạo Hồi là vì đạo này cấm uống rượu. Trước thời gian này dân slave thờ đa thần, tùy theo hiện tượng thiên nhiên.

Vị lãnh chúa kế là Yaroslav the Wise cũng đã làm Kiev thêm ổn định mở mang.

Bản đồ Nga ở thế kỉ XIII. (Sửa chữa lại từ bản đồ từ quyển “Russia and the USSR” Peter Neville)

Bản đồ Nga ở thế kỉ XIII. (Sửa chữa lại từ bản đồ từ quyển “Russia and the USSR” Peter Neville)

Bản đồ này cho ta thấy lãnh thổ của Kiev từ Galich ở miền nam lên đến bắc của nước Nga bây giờ và bao trùm luôn Belarus, Moscow, Suzdal và Novgorod. 

Đến thế kỉ XI, vì nạn cướp bóc của đám Cumans, nhiều dân rời Kiev lên định cư ở phần đất phía bắc thuộc Novgorod và Suzdal. Đồng thời dân nơi dây lại khám phá ra con sông Volga có thể chuyển hàng từ biển Baltic đến biển hồ Caspian, nên Kiev bắt đầu suy thoái. Một động cơ thúc đẩy khác là các cộng đồng của các thị tộc càng ngày càng đông. Họ không thích bị chi phối bởi một thủ lãnh ở xa và phức tạp. Đến thế kỉ XII, Kiev tuy còn mạnh nhưng so với trước thì thua xa. Kiev lúc này đã chia ra làm 64 lãnh địa mà hai lãnh địa mạnh nhất ngoài Kiev là Suzdal và Novgorod. Các lãnh địa này cũng rơi vào tình trạng cũ là lục đục, cãi cọ và đánh nhau túi bụi.

  1. Chuẩn bị cho trận Kalka.

Khi Mstislav the Bold, lãnh chúa của Galich, được tin từ bố vợ về quân Mông Cổ ông vẫn dửng dưng. Ông con rể này không tin và vì còn bực bội chuyện cũ là dân Cumans, mà người Nga gọi là Polovtsian, đã từng cướp phá đất ông ta.

Mãi một năm sau, năm 1223, Mstislav the Bold nghe tin quân Mông Cổ đã đến sát bờ sông Dnieper, ngay cạnh biên giới của Galich. Lúc ấy, vị lãnh chúa này liền báo tin cho các lãnh chúa khác trong vùng gồm cả các lãnh địa thuộc Kiev (Ukrain ngày nay), Belarussia, tổng cộng 19 người. Khi nghe tin, họ cũng tập trung quân đội đến hợp với Mstislav the Bold, mặc dù họ không ưa đám cướp phá Cumans, cũng như thù hằn giữa các lãnh chúa với nhau. Tất cả hẹn gặp tại hòn đảo Khortitsa (tiếng Ukrain: Хортиця, và thiếng Nga là: Хортица) trên sông Dnieper (nay thuộc thành phốZaporizhia và gần hồ chứa nước Kakhovka của Ukrain).

Về số quân tham chiến, cũng như hầu hết lịch sử thời ấy còn rất mơ hồ, mỗi nguồn nói một cách khác nhau.

Mông Cổ:

Theo Leo de Hartog viết trong quyển: “Genghis Khan conqueror of the World” thì số quân Mông Cổ là 20000 người. Nhưng theo Richard Gabriel trong quyển: “Subutai The Valiant: Genghis Khan’s Greatest General” thì nói 23000 người. Con số này còn lớn hơn nữa nếu theo trang Russia the Great với 30000 ngàn quân.

Liên minh Nga:

Theo Hector Hugh Munro trong quyển “The Rise of the Russian Empire”, “Mongol: ACountry Study” xuất bản bởi Federal Research Division Library of Congress, edited by Rober L Worden và Andrea Matles Savada và Richard Gabriel trong quyển: “Subutai The Valiant: Genghis Khan’s Greatest General” thì nói 80000 người. Trong khi ấy, Leo de Hartog cũng viết trong quyển: “Genghis Khan  conqueror of the World” thì số quân của liên minh Nga-Kiev 30000 người.

Liên minh Nga gồm có các lực lượng và người chỉ huy sau:

  1. Quân Galich – Mstislav Mstilavich (Mstislav the Bold).
  2. Quân Kiev – Mstislav III- Romanovich (chú của Mstislav the Bold).
  3. Quân Cumen (Polovtsian) – Koten.
  4. Quân Chernigov – Mstislav.
  5. Quân Volhynian – Daniil Romanovich.
  6. Quân Kursk do lãnh chúa của họ đem tới.
  7. Ngoài ra còn khoảng 13 lãnh chúa với số quân tương đối nhỏ họ tham dự.[1][2]

Nhưng dù con số nào thì số quân thiện chiến của lực lượng này là kị binh chỉ khoảng 20000 lính mà thôi và đám lính này cũng chỉ có kinh nghiệm giao chiến kiểu Âu Châu chứ chưa bao giờ đánh trận toàn kị binh và vài chục ngàn quân một lượt. Đám lính có kinh nghiệm nhất đối với Mông Cổ là đám Cuman của Koten.

 [1] Kiev là thủ đô nước Ukrain. Mãi đến năm 1922 mới nhập vào Liên Xô. Sau năm 1991 lại tách khỏi Liên Xô.

[2] Theo quyển “A History of Russia” của Jesse D. Clakson thì xứ Zudal cũng cho quân tới giúp Mstislav Mstilavich, nhưng bản thân ông thì không đi.

 

Ngay khi nghe tin liên hiệp Nga đang chuẩn bị tấn công thì Mông Cổ cho quân tiến sang hướng đông để tránh. Đó là đường đi duy nhất mà họ có thể thi hành lúc ấy và cũng là đường họ về với đại quân của Thành Cát Tư Hãn. Họ đang mong đợi viện binh do người con cả của Thành Cát Tư Hãn đang ở vùng Kazakstan. Tuy nhiên, Jochi lúc ấy đã li khai với hoàng tộc và đang bị bệnh (Ông này chết năm 1227 trước Thành Cát Tư Hãn vài tháng, và người ta ngờ rằng Thành cát Tư Hãn hay Chagatai âm mưu hạ độc ). Vì vậy viện quân Mông Cổ không bao giờ tới với Jebe và Subutai.

Khi hội họp để bàn cách bao vây quân Mông Cổ, đang đóng gần sông Kalka, thì mỗi lãnh chúa bàn một cách, chẳng ai nghe ai, vì không có một thủ lãnh thật sự. Cuối cùng cũng có một thỏa hiệp, quân Galich, và Volhynian cùng vài lãnh chúa khác đi về phương nam, trong khi quân Kiev, Chernigov và một hai lãnh chúa nữa thì tiến về phía bắc. Vì Cuman đã có kinh nghiệm giao chiến với Mông Cổ rồi nên có nhiệm vụ tấn công thẳng từ hướng tây sang.

Sông Kalka hiện nay không còn vết tích, nhưng người ta đoán đó chính là sông Kalchik chảy trên địa phận Donetsk Oblast, của Ukrain ngày nay; sông này đổ vào biển Azov[1].

Khi nghe tin này Jebe cử một đoàn gồm 10 sứ giả sang thương thuyết với Mstislav Romanovich III chỉ huy cánh quân Kiev. Họ báo rằng Mông Cổ không có thù oán gì với người Nga mà chỉ muốn đánh Cuman. Họ còn thêm rằng Mông Cổ đang đi về hướng đông tránh xa các thành phố của người Nga. Mstislav của Kiev, đem hành quyết đám sứ giả này. Jebe lại cho một toán Mông Cổ thứ hai sang trại quân Kiev và tuyên chiến với họ.

Bản đồ hành quân của lien hiệp Nga

Bản đồ hành quân của lien hiệp Nga

Lúc tiến về phương đông, cánh quân Galich của Mstislav the Bold gặp một toán Mông Cổ độ 1000 quân do thiên phu trưởng Gemyabeck chỉ huy. Theo một số tài liệu nói đó là quân Mông Cổ bị lạc, trong khi một số khác nói đó là đám quân đoạn hậu. Lính Galich không ngờ quân Mông Cổ chỉ trang bị với cung tên cùng dây thừng để bắt thú. Quân Galich đã đánh đám này bỏ chạy dễ dàng, nên càng ngày càng tỏ ý kinh thường địch quân. Riêng Gemyabeck (Hamabek) thì bị bắt sống, rồi cũng bị hành quyết.

Trong khi đó Daniil Romanovich cũng dẫn một toán thám sát đụng độ với một toán quân Mông Cổ khác và cũng đánh bại toán này.

Khi quân các cánh khép chặt vòng vây để chuẩn bị tấn công, thì các lãnh chúa lại cãi vả nhau về vấn đề chiến thuật. Kết quả lại tự ý hành động không theo cùng thời gian hoạt động, nên đến sông Kalka không nhịp nhàng. Koten dẫn đoàn quân Cuman và Daniil dẫn lính Volhynia đến sông Kalka đầu tiên. Quân Galich do Mstislav the bold chỉ huy cùng Chernigov do Mstislav điều kiển đến kế tiếp. Quân đội Kiev thì thụt lui mãi tận phía sau.

Đội nỏ của Cuman và Volhynia, được hỗ trợ  bởi kị binh nặng tỏ ra rất hiệu nghiệm làm quân Mông Cổ thất thế. Nhưng đại quân chưa tới, nên quân của Cuman và Volhynia  không thanh toán được chiến trường. Lập tức Sabutai cho áp dụng chiến thuật giả thua. Ông ta cho lệnh kị binh Mông Cổ cứ chạy về phía đông. Liên quân Nga thấy thắng thế đuổi theo, nhưng dĩ nhiên cũng rời rạc, không liên kết thành một toán để yểm trợ nhau.

Sau 9 ngày đuổi bắt, toán khinh binh của đám người Polovtsian (Cumans) và Volhynian đã bỏ xa toán vũ khí nặng yểm trợ. Quân Mông Cổ rút qua cầu để sang bờ đông; đám khinh binh của liên quân vẫn đuổi theo. Đây là giờ phút của Subutai, ông ta cho toán quân bài chủ yếu trong trận xung công. Đến lúc ấy, toán binh Cumans thấy phía trước có sương khói che phủ, rồi đám lính Mông Cổ với cung tên biến mất sau màn khói ấy. Khi vừa đến nơi toán lính Cumans thấy lù lù trong khói toán Mông Cổ trở lại. Nhưng không phải toán kị nhẹ mà là toán kị nặng. Toán kị nặng này tấn công toán khinh binh của Cuman chưa sắp đội ngũ, và quá gần nên cung tên hết hiệu nghiệm. Đám này chống không lại, bị chết rất nhiều.

Đám còn lại phải bỏ chạy ngược về thì gặp quân khinh binh của Volhynian và Kursk. Hai đoàn quân này phải tránh đường cho quân Cuman tháo lui. Jebe và Subutai ra lệnh cho hai tướng Tsusyr và Teshy đem khinh binh đánh vào sườn đám quân vô trật tự trên. Thế rồi cả ba đám của liên quân cùng tháo lui về phía cầu. Lúc gần đến cầu, thì đụng ngay đoàn quân của Ghernigov và Galich đang trong tiến trình qua sông và không biết trận đánh đã khởi động mà bên thượng phong là Mông Cổ. Liên quân lại càng trong tình trạng hỗn loạn kẻ tới người lùi, trong khi ba mặt bị giáp công.

Trận đánh này làm thủ lãnh Mstislav của Chernigov tử trận rồi cả đoàn quân không chủ này bỏ chạy về hướng tây. Quân Galich cố duy trì trận đánh, nhưng quân Mông Cổ bắn ngựa của đoàn quân này, ngựa chết thì các hiệp sĩ của Galich trở thành bộ binh, mà phải đeo các vũ khí nặng nên chống không nổi với kị binh Mông Cổ. Mastislav the bold đành dẫn quân chạy về sông Dnieper. Quân Mông Cổ đuổi theo tấn công từng đợt rồi biến mất cho đến cả trăm km. Khi Mstislav the Bold vượt được sông Dnieper, ông cho lệnh phá hủy tất cả thuyền bè mà ông tìm thấy. Tuy nhiên người hùng “Can Đảm” này nhận ra rằng ông là người duy nhất bỏ chạy qua con sông ấy. Tuy vậy, Mông Cổ không qua con sông mà quay lại phương đông.

Khi cánh quân 10000 người của Kiev, tiến đến gần cầu thì chứng kiến cảnh Chenigov tháo chạy. Mstislav Romanovich ra lệnh cho quân rút lui về trại quân lúc mới khởi hành ven sông Dnieper và dùng xe vây quanh làm thành hàng phòng tuyến. Quân Kiev đánh nhau 3 ngày thì hết nước uống. Chuyện phải đến cuối cùng cũng đến, Mstislav Romanovich cùng các nhà quý phái Kiev bàn nhau xin hàng và xin Mông Cổ cho họ rút lui an toàn. Mông Cổ hứa nếu Kiev hàng thì một giọt máu của các nhà quí phái Kiev sẽ không đổ. Nhưng sau khi quân Kiev hàng, Mông Cổ tàn sát tất cả đoàn lính này, còn Mstislav III- Romanovich cùng các nhà quí phái bị bắt, nhốt xuống một hố sâu, lót ván bên trên. Chiều tối hôm ấy, Mông Cổ mở tiệc ăn mừng chiến thắng, các tướng Mông Cổ ngồi trên các tấm ván che hầm. Mstislav III cùng các nhà quí phái Kiev từ từ chết ngạt. Đây là cuộc trả thù giết sứ giả và cũng giữ đúng lời hứa là không một giọt máu của giới quý tộc Kiev sẽ đổ.

Trah mô tả quân Mông Cổ đánh bại quân Nga ở trận sông Kalka

Trah mô tả quân Mông Cổ đánh bại quân Nga ở trận sông Kalka

[1] Quyển “A History of Russia” của Jesse D. Clakson thì ghi lại đây là một phụ lưu của sông Don.

 

  1. Kết quả

Trận đánh này, 6 lãnh chúa và bẩy mươi nhà quí tộc liên quân Nga đã thiệt mạng. Về số quân tử trận thì cũng có nhiều nguồn tin khác nhau. Theo Nikonian Chronicle và Richard Gabriel trong quyển: “Subutai The Valiant: Genghis Khan’s Greatest General” thì nói liên quân Nga bị thiệt hại 60000 người. Nhưng theo The Primary Chronicle thì con số ấy là 10000 người.[1]

Theo nhà sử học John Fennell chuyên về Nga thời phôi thai thì nói con số về lính tham chiến cũng như thương vong quá mù mờ. Nhưng với con số nào thì con số thiệt hại của liên quân ít nhất là 50%.

Sau trận đánh lịch sử này, quân Mông Cổ tiếp tục quay về đại quân của Thành Cát Tư Hãn. Khi vượt sông Volga thì bị phục kích bởi các quân Volga Bulgaria, quân của iltäbär (vua) Ghabdulla Chelbir của xứ Bulgar, cộng thêm quân của inäzors (hoàng tử)MordvinPureshPurgaz gần Samara Bend làm thiệt hại quân Mông. Tuy nhiên, Mông cổ không đánh trả và chỉ lo rút lui.

Theo “Mongol: A Country Study” thì Jebe bị bệnh chết đường về ở phía bắc biển Caspian. Sau ba năm vượt trên 4000 miles (6,500 km- có sách nói trên 5000 mile hay trên 8000 km), Subutai đã đem 2 tjumen về họp với đại quân. Nhưng theo “Subutai The Valiant: Genghis Khan’s Greatest General” Jebe chết sau khi gặp được đại quân.

Russia chronicler viết: Chúng tôi chẳng biết đám đó từ đâu tới, hay chúng lại trốn nơi nao; Chúa biết nơi nào tìm ra họ để trừ những tội của chúng tôi. [We know not whence they come, nor where they hid themselves again; God knows whence he fetched them against us for our sins.][2] Theo sử gia Robert Marshall thì cuộc hành quân của Subutai đã đi vào lịch sử như là một cuộc hành quân vĩ đại nhất trong lịch sử kị binh của thế giới.  Còn sử gia Charles Halperin thì cho rằng sự tàn phá của bộ máy chiến tranh Mông Cổ đã làm lu mờ tất cả những gì mà người Nga đã thấy từ trước.            

[1] Theo quyển “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” của ông Hà Văn Tấn và bà Phạm Thị Tâm, trang 318, có ghi lại cuộc viễn chinh của Jebe và Subutai như sau:

“Khi quân MC từ trung Á tiến đánh châu Âu, liên quân các công quốc Nga, Xu-dơ-đan, Xmo-len, Ki-ép, Tréc-ni-nốp đã chặn giặc ở sông Kan-la, Nhưng ngay trong giờ phút nguy cấp, các công vương đã bất hòa nhau và chiến đấu đơn độc….” 

[2] Trich ở trang 49, quyển “A History of Russia” của Jesse D. Clarkson.

 

II. Đánh Nga lần thứ hai : Cuộc hành quân của Batu và Subutai

Bản đồ cuộc hành quân của Batu và Subutai

Bản đồ cuộc hành quân của Batu và Subutai

A- Thời kỳ tiến chiến

Sau khi Mông Cổ đi khỏi, các lãnh chúa Nga lại tiếp tục cãi vã tranh giành nhau trong 15 năm.

Năm 1232 Mông Cổ đem quân chinh phục bộ tộcBashkiria[1] ở đông nam dãy núi Ural, đây là một phần của Volga Bulgaria. Sau trận thắng ở Samara Bend, người Volga Bulgaria xây xựng tuyến phòng thủ Bilär là kinh đô của họ để chống lại Mông Cổ.

Năm 1236, Batu Khan- con của Jochi, cháu nội Thành Cát Tư Hãn- đem quân sang đánh Âu Châu. Lúc này Subutai đã hoàn tất việc diệt Tây Hạ, Kim nên lại được phái sang điều kiển cánh quân ấy, dù là ông đã gần 70 tuổi và rất béo.

Về con số tham dự cuộc viễn chinh này cũng có nhiều mơ hồ. Phần đông các tài liệu đều viết con số là 35000 kị binh. Trong quyển “Russia and the USSR” của Peter Neville, trang 16 thì viết: “…Subudei cho 120000 chiến sĩ vượt qua sông Volga đóng băng, sau đó họ âm thầm tiến qua khu rừng dày trên bờ sông.” [… Subedei who sent a vast of army of 120,000 warriors across the frozen Volga, after which they advanced unobserved throught the thick the tick forest on its western bank.”]. Con số này được ủng hộ bởi Leo de Hartog trong “Genghis Khan conqueror of the World”. Quyển “A History of Russia” của Jesse D. Clakson thì ghi lại con số trên 100000. Đối với trang Russia the Great trên net, con số lên đến 140000. Trong khi quyển sử của Đại Học Cambridge về Trung Quốc do tác giả Patricia Buckley Ebrey viết ở trang 170 thì nói con số này là 150000 gồm cả gốc người MC, Thổ Nhĩ Kì và Ba Tư.

Riêng ở trang 20 trong quyển “Mongolia: A Country Study” có viết đoạn sau: Trên danh nghĩa người điều khiển là Batu, vì đó là người thừa hưởng từ Thành Cát Tư Hãn, nhưng trên thực tế vị chỉ huy là Subetei (Subutai) già cả, vẫn rất sáng suốt. Ông ta có lẽ là vị tướng tài năng nhất sau Thành Cát Tư Hãn, và đã từng là một trong các vị chỉ huy của cuộc hành quân trinh sát vào vùng nam Nga, mười lăm năm trước.

Người Bulgar bị bại năm 1236, và vào tháng chạp 1237, Subetei cùng Batu dẫn một đạo quân gồm 600000 (sáu trăm ngàn) người vượt qua dòng sông Volga đóng băng…[Nominal command was to be exercised by Batu, because this was the part of the world he had inherited from Chinggis. The actual commander was the aging, but still brilliant, Subetei. He was properly the most gifted of all Mongol generals, after Chinggis himself, and he had been one of the commanders of the momentours reconnaissance that had been though southern Russia fifteen years earlier. The Bulgars were defeated in 1236, and in December 1237 Subetei and Batu led an army of 600,000 across the frozen Volga River]

Trang www.republicanchina.org cũng công nhận con số 600000 quân này.

Không hiểu tai sao lại có một con số quá chênh lệch như vậy? Vì sách viết lại có dấu “,” để ngăn cách đơn vị ngàn, nếu không ta có thể nghĩ người đánh máy sai là chỉ 60000 mà thôi. Cũng có thể sách ghi lại con số của cả gia đình mà đoàn quân đem theo chăng? Nhưng nếu là cả gia đình, vợ con… của lính Mông Cổ được đếm vào thì con số này vẫn quá cao. Giả sử số quân là 35000 với gia đình thì mỗi gia đình trung bình là phải 17 người. Còn nếu là 120000 quân cộng thêm người trong gia đình thì có thể chấp nhận được.

B- Đánh Volga Bulgars.

Đoàn quân này tiến sang phương tây, bao vây kinh thànhBilär của Volga Bulgaria. Đây là trận phục thù của Mông Cổ sau khi bị bại trong cuộc phục khích ở Samara Bend, năm 1223. Quân của Subutai vây thành này trong 45 ngày. Cuối cùng Bilär cũng thất thủ trước vó ngựa của Batu, cháu nội Thành Cát Tư Hãn. Nhiều thành phố của nước này cũng bị rơi vào tay của Batu và Sutubai nhưBolghar, Suar, Cükätaw…Theo “Russia and the USSR” của Peter Neville thì Mông Cổ đã giết 50000 ngàn dân nơi đây. Trận đánh này làm cho rất nhiều dân nơi đây đổ xô về Riazan và Vladimir. Thật ra các làn sóng dân tị nạn nơi đây phải là các dấu hiệu để lãnh chúa Yuri II xứ Vladimir biết mà đề phòng. Tuy nhiên, vị lãnh chúa này vẫn thờ ơ.

C- Đánh Riazan.

Mùa đông năm 1237 đến, sau khi kiểm soát được Volga Bulgars, quân Mông Cổ, lợi dụng sông Volga đóng băng, vượt qua rồi tiến đến sông Nukhla thì hạ trại dừng quân.

Vì Mstislav the Bold đã chết năm 1228 sau nhiều ngày tháng long đong. Riêng về Kiev, sau thời gian huy hoàng từ thế kỷ thứ X đến XI thì đã xuống. Đến lúc Mstislav III của Kiev tử trận năm 1223 ở sông Kalka thì Kiev xuống dốc luôn, nên tình trạng Nga đã thay đổi. Subutai biết rằng trong các thủ lãnh mới của Nga thì Quận Công Yuri II trong thành Vladimir của lãnh địa Zudalia và lãnh chúa của địa phận Novgorod là mạnh nhất. Còn các anh em vừa họ vừa ruột của Yuri II cai trị các thành phố của lãnh địa Suzdalia và lãnh địa Riazan(Ryazan), sát cạnh ở phía nam. Người Nga gọi các chúa tể cai quản này là “knyazes” (lãnh tụ).

Theo quyển “Russia” của Derek C Maus dịch từ“Novogorod Chronicle” thì Subutai gửi sứ đoàn gồm ba người một mụ phù thủy cùng hai người đàn ông đến gặp các knyazes của các địa phận thuộc Riazan và của các thành phố khác là Pronsk, Murom. Điều kiện của Mông Cổ là Riazan và Suzdalia phải nộp đàn ông, ngựa với con số là 1/10 của tổng số người cũng như ngựa. Cũng từ quyển đó thì trước lúc ấy không lâu Yuri cùng các anh em ruột cũng như họ là Roman Ingorevich, Oleg và Yaroslav đang cãi nhau ầm ĩ[1]. Lúc nhận được điều kiện thì ba người Roman Ingorovich, Oleg và Yaroslav cử người lên cầu viện thủ lãnh Yuri II. Yuri không muốn cứu viện mà muốn tự ông trực diện với Mông Cổ. Ông trả lời với sứ giả Mông Cổ là “Chỉ khi nào anh em chúng tôi không còn ai thì tất cả đều thuộc về các ông” [Only when none of us remain then all will be yours.]

Theo quyển “Russia and the USSR” hai tuần sau Mông Cổ đến vây các thành phố của Riazan. Tuy nhiên ba knyazes cũng đã đánh thắng quân Mông Cổ trong một vài trận nhỏ. Nhưng sau đó họ đều bị bao vây trong lâu đài cổ của họ ở thủ phủ cũng có tên Riazan. Quân Mông Cổ đã lấy cọc gỗ làm một hàng rào quanh lâu đài, để cắt hết tiếp viện từ bên ngoài. Sau 5 ngày công hãm, quân Mông Cổ đã tràn ngập cổ thành. Họ bắt tất cả những người trong dòng họ quý phái đem giết hết, rất nhiều dân chúng bị họ lột da đem treo lên cây. Tất cả phụ nữ đẹp kể cả các bà tu sĩ đều bị lần lượt hãm hiếp. Đến lúc ấy, người Nga mới hiểu được cái man rợ của Mông Cổ là gì.

Theo Novgorod Chronicle thì khi Mông Cổ mở cuộc tấn công thì knyazes Yuri (em của Yuri II) của thành Riazan đem quyến thuộc vào lâu đài rồi đóng cửa lại. Trong khi ấy, knyazesRoman Ingorovich đem quân chống cự. Yuri II ở Vladimir gởi tướng Yeremei (trên mạng thì nói là con) đến giúp Roman Ingorovich. Nhưng cuối cùng, dù đã chống cự mãnh liệt, quân Mông Cổ đã bao vây hai người này ở thành phố Kolomno (Kolomna) rồi họ bị giết chết vào ngày 21 tháng 12. Thủ lãnh thành Moscow đã bỏ chạy, dù là quân giặc chưa tới. Trong trận này, Voskresensk Chronicle viết một bài liên quan đến chiến thuật của Subutai và Batu. Stephen Turnbull  viết lại bài ấy như sau: Batu thay thường xuyên đổi lực lượng tấn công bởi các lính khẻo mạnh, đã được nghỉ ngơi, trong khi dân thành Riazan chiến đấu mà không có tiếp viện. (Batu changed his regiments frequently, replacing them with fresh troops, while the citizens of Razan fought with relief…)[2]

[1] Vì nhiều sách nói người này là em ruột, sách kia lại nói ngược lại, nên tôi không biết chính xác ai là em ruột của Yuri III.

[2] Trích trang 45, Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400.

 

D- Đánh Vladimir- Suzdalia- Novgorod.

Bây giờ đến mục tiêu kế tiếp là lãnh địa của Yuri II.

Trang 66 quyển The History of Nations Russia đã thuật lại theo Novgorod Chronicle phần sau. Những kẻ tà giáo vô thần Tartars lại tiến đến Volodimir    (Vladimir) để lột da, lấy máu những người theo Cơ Đốc giáo. Yuri II bỏ thành Volodimir chạy lên Yaroslavl, trong lúc con trai của ông là Vsevolod cùng mẹ và tất cả hoàng tộc cùng các “vladyka” (người quý tộc), đóng cửa thành chống cự.

Một buổi sáng, Vsevolod và vladyka Mitrofan nhận ra rằng họ không còn tia hi vọng nào, nên đành rút vào nhà thờ Holy Mother of God (Mẹ Thiêng Liêng của Chúa). Thành phố bấy giờ đã ngập trong khói lửa, nhiều thường dân cũng chạy vào nhà thờ trú ẩn nơi chứa các dụng cụ hành lễ. Những kẻ sống ngoài vòng pháp luật chất củi đốt cháy rụi ngôi nhà thờ cùng những kẻ trốn bên trong.

Cùng khi ấy một đoàn quân Mông Cổ khác đuổi theo Yuri II. Tại Yaroslavl, Yuri II cho Dorozh đem 3000 quân ra ngoài trinh sát. Chỉ một thời gian sau, Dorozh chạy về báo: Thưa Lãnh Chúa; chúng nó đã bao vây chúng ta. (They have already surrounded us, knayaz.) [1]Yuri II cho lệnh tập trung quân đội, nhưng quá trễ. Quân Mông Cổ đã xuất hiện! Vị lãnh chúa này chỉ còn cách phóng lên ngựa chạy. Đến bờ sông Sit[2] thì quân Mông Cổ bắt kịp và kết liễu mạng ông ta.

Số mạng các thành phố khác: Rostov, Suzdale cũng cùng kết quả. Quân Mông Cổ quay về  tàn phá Moscow, Preeyaslasl, Yurev, Dmitrov, Volok và Tver. Hai lãnh địa Riazan và Suzdalia hoàn toàn dưới sự khống chế của Mông Cổ. Họ quay sang phần lãnh địa của Novgorod.

Dân chúng nơi này quá khiếp hãi sự tàn ác, hung hăng của Mông Cổ. Thành đầu tiên chúng nhắm tới ngay cạnh biên giới. Đó là thành phố Torzhok. Tất cả mọi người từ già trẻ trai gái đều nỗ lực chống lại quân xâm lược. Mông Cổ cũng dùng chiến thuật chất củi, cây vây quanh thành tấn công liên tiếp hai tuần lễ. Dân nơi đây đã kiệt lực và chán nản vì không có quân tiếp viện từ thành phố Novgorod. Cuối cùng Mông Cổ cũng hạ đựơc thành vào dịp lễ Phục Sinh, rồi tàn sát tất cả đàn ông cùng một số đàn bà. Đội quân tàn ác này tiếp tục, chém giết người như cắt cỏ, trên con đường đánh chiếm dài đến 100 versts (khoảng 100 km).

Quyển History of Nations Russia, trang 67, thuật lại Novgorod Chronicle không nói tiếp chiến cuộc ra sao, nhưng viết tiếp: Sự trừng phạt của Thượng Đế trên toàn thể đất Nga mà không thương xót sao? Thượng Đế để cho kẻ vô thần dày vò trên tội lỗi của chúng ta. Thượng Đế đem kẻ ngoại bang vào đất nước ta trong sự bực tức của ngài và rồi chúng ta bị nghiền nát bởi các kẻ ấy. Họ sẽ nhắc nhở nhớ đến Thượng Đế… (God’s infliction on the whole Russian Land, does not lament? God let the pagans on us for our sins. God brings foreigners on to the land in his wrath and thus crushed by them, they will be reminded of God…)

Trong quyển “Russia and the USSR” thì đưa ra một kết luận bớt thảm khốc hơn.

Trong hai tuần vây hãm Torzhok nhưng thành vẫn không bị hạ. Bây giờ mùa xuân đã tới, nước băng tan dần, đất đai ướt sũng bùn lày khắp nơi. Kị binh Mông Cổ không còn hiệu nghiệm. Batu và Subutai đành cho quân quay về phương nam tàn phá lãnh địa Chernigov, nhưng cố tránh các thành trì kiên cố. Một chuyện bất ngờ, đạo quân của thành Kozelsk đem quân chặn đánh đội tiền đạo Mông Cổ và làm tổn thất cho đạo quân này. Quân Mông Cổ liền bao vây thành  Kozelsk. Theo Wikipedia thì vị hoàng tử trẻ tuổi can đảm Visily chống cự trong 7 tuần lễ và giết 4000 quân xâm lược, nhưng thành phố đã bị quân Mông Cổ gán cho thành phố một  cái tên không mấy đẹp; ấy là “City of Sorrow” (Thành phố của buồn thảm).

Có lẽ đã chán ngấy với máu và chiến đấu. Quân Mông Cổ lui về thảo nguyên phương nam vào mùa hè 1239 để cho quân sĩ nghỉ ngơi trên các cánh đồng xanh mát.

Theo Russia.com và Indopedia thì dù Novgorod thoát khỏi cuộc xâm lăng của Mông Cổ, nhưng xứ này vẫn phải nộp cống để tránh cuộc xâm lăng khác.

E- Đánh Kiev.

Mùa hè năm sau, Batu và Sabutai lại cho tiến quân về hướng Kiev. Sau khi đánh phá các thành trì trên đường thì mùa đông cũng đến, lợi dụng sông Dnieper đóng băng quân Mông Cổ lại vượt sông tấn công Kiev.

Mông Cổ lại cho sứ giả vào thành gọi đầu hàng.

Kiev lúc này nằm trong sự kiểm soát của xứ Gallich và người quản lý thành phố là do Daniel của Gallich chỉ định. Khi các sứ giả Mông Cổ tới, lãnh chúa Daniel ra lệnh giết các sứ giả. Việc này làm cho Batu quyết chí tiêu diệt Kiev.

Khi quân Mông đến bao vây thành phố, dân thành phố không còn đường trốn chạy. Stephen Turnbull đã dựa vào các cổ sử ghi lại ở trang 48, quyển “Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400”, đọan sau: Quân Thát Đát đã bao vây thành phố. Không một ai có thể ra hay vào thành. Tiếng kẽo kẹt của xe kéo, tiếng rống của lạc đà, tiếng kèn, trống, tiếng hí của ngựa và tiếng than khóc của những đám đông không đếm nổi làm cho không còn thể nghe được ngừơi này gọi người kia trong thành. (The Tartar force besieged it and it was impossible either to leave ir to enter it. Squeaking of wagons, bellowing of camels, sound of trumpets and organs, neighing of horses, and cries and sobs of an innumerable multitude of people made it impossible to hear one another in the city.)

Sau vài đợt công hãm, tường thành sụp đổ và quân Mông tràn vào. Cuộc chiến tiếp tục trong các đường phố, trên các đống gạch vụn. Dân chúng xây các tuyến phòng thủ mới quanh nhà thờ Virgin Mary. Quân Mông tàn sát dân chúng làm họ càng hoảng sợ, tranh nhau vào nhà thờ. Số người vào nhà thờ càng lúc càng đông; họ tranh nhau leo lên tháp chuông. Cuối cùng nhà thờ sụp đổ vì sức nặng của giáo dân.

Chiếm xong, quân Mông Cổ tàn phá cướp bóc làm thành phố trở nên kiệt quệ, và không bao giờ phục hồi lại địa vị của thế kỉ X và XI nữa.

Stephen Turnbull đã ghi lại trong quyển sử trên đọan sau:

“Sáu năm sau (1246), Giovanni di Piano Carpini được lệnh Giáo Hoàng đi qua đây đã viết lại: Trên đường đi qua đây, chúng tôi thấy vô số sọ, xương người nằm ngổn ngang trên đất. Kiev đã là một nơi đô hội, đông người, nhưng giờ đây đã trở thành hoang phế. Bây giờ chỉ khoảng 200 ngôi nhà và dân cư hoàn toàn là nô lệ.”

III/ Đánh Hung- Ba Lan 1241

Bản đồ Hung Nguồn: Hugaria- Geography Department

Bản đồ Hung Nguồn: Hugaria- Geography Department

Hung Gia Lợi là phần đất mà chúa Attila cũng gốc Mông-Thổ tới chiếm năm 430’s[1], rồi làm tan nát Đông Âu một thời. Khi quân Mông Cổ tới Hung, thì đất nước này đang ở trong tình trạng xáo trộn chính trị. Sự xáo trộn này bắt nguồn từ khoảng 60 năm trước khi quân Mông tới, ấy là thời vua Béla III.

Hậu bán thế kỉ thứ XII, nước Hung là một vương quốc rộng lớn, nằm dưới thời vua Béla III. Vua Béla III là một người hay gửi quân theo đoàn thập tự trong cuộc thánh chiến (Crusader[2]) của giáo hội La Mã. Ông có hai hoàng tử: Emeric và Andrew. Vì là em nên Andrew vô phương có thể thay cha làm vua xứ Hung Gia Lợi.

Năm 1188, lãnh chúa Volodymyr II của xứ Halych (hay Galych, Gallich, Galicia), ở ven sông Dniester phía tây Ukrainengày nay, bị các người dưới quyền lật đổ phải chạy đến Hung, xin vua Béla III cho lánh nạn. Vua Béla bắt vị lãnh chúa giam lại, rồi cho hoàng tử Andrew, 11 tuổi, lên làm lãnh chúa xứ Halych. Tuy nhiên Andrew chỉ làm lãnh chúa trên danh nghĩa mà thôi; ông không bao giờ về lãnh thổ Halych cả. Mặc dù vậy, quân lính của vị lãnh chúa tí hon này vẫn về kiểm soát phần đất ấy.

Không lâu sau đó, Volodymyr II, trốn klhỏi tù trở về Halych đánh đuổi quân Hung trở về nứơc.

Năm 1196 vua Béla III băng hà. Emeric lên ngôi, nhưng đa số tiền tài lại trao cho Andrew để ông tiếp tục theo ý cha đem quân theo đoàn Thập Tự. Andrew dùng tiền của mua chuộc các quận công, nam tước trong xứ cũng như tìm sự ủng hộ từ công tước Leopold V của Austria (Áo). Năm sau, ông đem quân đánh bại vua anh Emeric, ở trận Macsek. Ông vua anh phải cắt đất Croatia, Dlamatia[3] cho Andrew.

Năm 1198, Giáo Hoàng Innocent III, yêu cầu Andrew đem quân theo đoàn thập tự đánh Holy Land, đất thánh nay là vùngJerusalem. Ông đem quân đi, nhưng thay vì đi sang phương đông, thì ông lại đem quân đánh các nước láng giềng và cuối cùng lập chương trình đánh vua anh. Emeric nghe tin, liền bắt giam hồng y Boleszlo, người đứng đầu trong đám ủng hộ Andrew, đồng thời cách chức các người ủng hộ ông em. Năm 1199 vua Emeric đánh bại Andrew trong trận Rád; ông này phải bỏ chạy sang Áo. Cuối cùng Giáo Hoàng Legate Gregory làm trung gian hòa giải cho hai anh em. Ông anh lại nhường đất Croatia và Dalmatia cho em cai trị.

Sau năm 1200, Andrew lại chiêu mộ binh mã theo lời vợ, rồi tiến quân định đánh anh lần nữa. Emeric nghe tin binh lính của Andrew đông hơn quân của ông nhiều. Ông đầu đội vương niệm, tay cầm vương trượng (gậy có cẩn ngọc cho nhà vua mà thôi), rồi đơn thân, độc mã sang trại binh của ông em. Ông em cảm phục cái hào hùng của anh và xin đầu hàng.

Chẳng bao lâu sau, Emeric bị bệnh nặng, mà con là Ladislaus còn nhỏ. Ông cho vời Andrew vào và nhờ cậu em làm phụ chính giúp hoàng tử lên ngôi sau này. Năm 1204, vua Emeric băng hà. Andrew giúp Ladislaus lên ngôi và làm phụ chính, nhưng lấy hết tiền của anh cho vào quỹ trên danh nghĩa Ladislaus. Hoàng hậu, vợ vua Emeric sợ cho số mệnh của ấu quân, nên đem ấu quân chạy trốn sang Áo lánh nạn ở lâu đài công tước Leopold VI. Andrew liền chuẩn bị binh mã đánh Áo, nhưng chỉ vài tháng sau thì Ladislaus cũng từ trần. Andrew chính thức lên ngôi.

Ngay sau khi ấy, Andrew rất cởi mở, việc đầu tiên là tặng không các bất động sản của hoàng gia cho các người ủng hộ ông. Ông đặt tên cho công việc này là chính sách novæ institutiones(chính sách mới). Người ta không giải thích tại sao ông lại hành động như vậy, nhưng rất có thể là ông biết nhiều người trong đám nam tước, bá tước không ưa nên đã ban hành chính sách ấy để làm thỏa mãn đối tượng.

Ngoài chính sách cho không trên, ông còn chịu ban hành luật Golden Bull, mà trong đó có nhiều điều kiện nhún nhường giới quý phái. Chẳng hạn như các nam, bá tước, đại diện giáo hội hay cố vấn có quyền ngồi gần nhà vua. Các người này còn có quyền không tuân lệnh vua, nếu nhà vua làm không đúng với các thỏa thuận từ trước. Tất cả các việc trên đều làm suy yếu quyền năng của nhà vua cũng như đất nước.

Năm 1213, khi Andrew đang dẫn quân sang Halych thì vợ ông bị ám sát. Lúc về ông cho hành hình người chủ mưu nhưng tha tất cả tòng phạm. Điều này làm con ông, hoàng tử Béla, phẫn uất. Tuy nhiên, năm sau ông vẫn phong cho cho Béla làm tiểu vương cai quản vùng Croatia, Dlamatia.

Khoảng năm 1216, ông lãnh đạo thập tự quân sang Trung Đông, với sự tham dự của nhiều tiểu quốc, nhưng không có kết quả vì súng công thành không tới đúng hẹn. Trên đường về, ông ghé lại đế quốc Nicaea thăm hoàng đế Theodore I LaskarisTsar (vua)Ivan Asen II của Bulgaria. Nhân đó, ông dàn xếp vài cuộc hôn nhân cho các con của ông và đặc biệt cho Béla.

Nhưng  In 1220, Béla đã cưới Maria Laskarina, công chúa con vua Theodore I Laskaris của xứ Nicaea. Năm 1222, Andrew về đến Hung, ông thuyết phục Béla bỏ vợ để cưới người mà ông đã dàn xếp trên đường đi thập tự hành quân về. Giáo Hoàng Honorius III, chống đối và tuyên bố cuộc hôn nhân bất hợp lệ; vì vậy Béla đem vợ chạy trốn sang Austria, vì sợ vua cha giận. Cuối cùng, qua sự trung gian của Giáo Hoàng, vua Andrew II và Béla đã giải hòa. Một lần nữa Béla lại làm lãnh chúa vùng Slavonia, Dalmatia and Croatia.

Lúc này, Béla đã lớn, lại có Giáo Hoàng chống lưng, ông ra lệnh lấy lại tất cả ruộng đất, nhà cửa… từ các giới quí tộc mà vua cha đã ban cho họ. Nam tước cổ thành KlisCroatia (vùng thuộc Nam Tư) không chịu; ông liền đem quân vây; vị nam tứơc phải đầu hàng.

Năm 1223, sau khi bị bại trận Kalka, Koten dẫn 40000 vừa dân vừa lính của Cuman chạy từ phía bắc biển Bắc Hải vào vùng Transylvania, để tránh Mông Cổ.

Vua Andrew II không chấp nhận việc làm của Béla. Năm 1226, vua Andrew II thuyên chuyển Béla làm lãnh chúa vùng Transylvania, rồi đem người em của Béla là Coloman thay thế Béla cai quản vùng Slavonia, Dalmatia and Croatia. Tại Transylvania, Béla phải dàn xếp với đám loạn quân, khó trị Cumans. Vì chuyện lấy lại tài sản từ giới quý tộc, nó gây tai hại đến uy tín của ông ở giáo hội, vì rất nhiều người chống đối ông. Bây giờ ông lại phải đối phó với giáo hội. Ông tìm đến đám Cumans đang định cư, yều cầu họ cải theo đạo Thiên Chúa. Nếu làm như vậy ông sẽ bảo vệ họ và để họ làm ăn bình an trong vùng này. Kết quả, hai người trong đám cầm đầu là Bartz và  Membrok đã rửa tội. Nhờ vậy uy tín của ông đã tăng lên ở giáo hội.

Đến năm 1228, Béla và em là hoàng tử Coloman lại thuyết phục vua cha Andrew II lấy lại các tài sản đã ban cho các nam, bá tước mà trước đây họ có dính líu đến vụ ám sát mẹ hai ông.

Năm 1235, vua Andrew II băng hà; Béla chính thức lên ngôi vua Hung, và muốn làm tăng thêm quyền năng của triều đình cùng sức mạnh quốc gia đối với các tiểu quốc chung quanh. Một trong các việc đầu tiên của ông làm là lấy lại các tài sản mà cha ông đã cho các nhà quý tộc. Thu hồi sắc luật Golden Bull. Tiếp theo ông đốt tất cả các ghế ngồi của các cố vấn, bá tước…Ông muốn khi họ nói chuyện với ông thì phải đứng, chứ không được ngồi. Tất cả các việc trên làm cho giới quý tộc cảm thấy phẫn uất hơn. Dựa vào quyển “AHistory of Hungary” thì việc thu hồi tài sản cũng như sắc lệnh Golden Bull đã làm cho vua Béla trở thành một nhân vật tồi tệ nhất trong lịch sử Hung Gia Lợi.

Cùng năm ấy, vua Béla ra lệnh cho Dominican Friar Julian hướng dẫn một nhóm giáo sĩ gồm ba người sang miền đông thuộc Nga để tìm những người Magyar còn sống rải rác bên ấy. Magyar là người gốc Hung cổ không theo đạo Cơ Đốc. Việc của phái đoàn này là đem nhóm Magyar trở về Hung rồi cải đạo cho họ thành Cơ Đốc giáo. Đoàn này đến Nga thi nghe tin Mông Cổ tàn phá miền bắc của Caspian, nên quay về báo tin cho Béla biết trước mà phòng ngừa một cuộc tấn công đẫm máu. Theo quyển “A History of Hungary” thì toán người này đã gặp nhóm Magyar năm 1236, nên họ về báo lại cho vua Béla. Năm sau 1237, nhóm này sang Nga lần thứ hai và khi đến nơi thì nhóm Magyar này đã bị Mông Cổ tiêu diệt. Dominican Friar Julian vội vàng đem nhóm giáo sĩ quay về Hung báo tin.

[1] Đây là cách viết tắt thập niên từ năm 430 đên năm 439.

[2] Các cuộc crusade thường nhắm vào đạo Hồi (Muslims). Tuy nhiên nó cũng còn đánh vào các người Slavs vô thần, Do Thái Giáo (Jews),  Orthodox Christians của Nga và Hy Lạp.

[3] Các vùng này ở bờ phía đông của biển Adriatic, đối diện với Ý Đại Lợi (thuộc nước Nam Tư trước 1990).

 

B- Poland (Ba Lan) trước năm 1241.

Phần Poland thì không đến nỗi tệ như Hung nhưng cũng có rắc rối biên giới với Đức. Đã thế đám người tự cho tên Teutonic[1] Knight (Hiệp sĩ của dân Teuton) ở phía bắc Poland và phía tây Lithuania được giáo Hội La Mã ủng hộ cũng gây nhiều phiền phức cho đất nước này. Ngay trước khi Mông Cổ xâm lăng thì Poland có các cuộc chiến tranh với Đức trong các năm 1228 và 1233, rồi với Teutonic knight năm 1237.

Theo “Poland An Illustrated History” của Iwo Cyprian Pogonowski thì cùng khi Teutonic Knight gây phiền toái cho Poland ở đông bắc, thì ở đông Nam quân Thát Đát còn làm nguy hiểm hơn.

C- Nguyên nhân.

Như phần trên viết, sau khi bị đánh bại trên sông Kalka năm 1223, tàn quân Cuman tháo chạy về phương tây, định cư ở nam phần của vương quốc Hung.

Sau khi chiếm được Kiev, Batu đòi vua Hung Béla đem các người thuộc bộ lạc Cumans giao lại cho họ. Vua Hung đã hứa bảo đảm cho họ nên không thỏa mãn yêu sách này.

Như ta đã biết, đây cũng chỉ là một chiêu bài để gây hấn của kẻ mạnh. Lúc nào Mông Cổ cũng chỉ đưa ra các sứ giả đòi hỏi việc này, việc kia, rồi cuối cùng bằng cách nào đi nữa họ cũng đánh đối tượng.

D- Trận đánh.

Batu liền cho động quân. Subutai chia lực lượng Mông Cổ thành ba cánh. Tùy theo tài liệu, sự phân chia này có vài khác biệt.

Theo một số tài liệu trong đó có vài diễn đàn trên website nói cánh thứ nhất do Khadan (Kadan) và Yüyük, đều là con của Đại Hãn Ogodai[2](Oa Khát Đài) điều khiển đánh lên phía bắc vào Poland (Balan). Hai cánh kia do chính Subutai điều khiển, đánh đến Hung.

Một số tài liệu khác trong đó có quyển “Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400.” lại viết cách mà chúng tôi thấy hợp lý hơn về phương pháp chia quân, tuy nhiên về số quân thì vẫn là một dấu hỏi. Theo đó Subutai chia quân làm ba.  Đến cách phân chia các người cầm đầu các cánh quân lại không hợp nhau. Một số sách viết: quân đoàn I, do Khadan điều kiển, gồm 3 tjumen đánh lên Lithuania rồi tràn sang Poland. Cánh này có nhiệm vụ chặn quân tiếp viện từ Poland đến. Quân đoàn II do Yüyük chỉ huy, cũng gồm 3 tjumen đánh xuống phía nam vào lãnh thổ Transylvania, nơi các bộ lạc Cumans tị nạn. Trong khi ấy quân đoàn III chủ lực do chính tướng Subutai và Khan Batu chỉ huy vượt dãy núi Carpathian, đánh vào Hung. Trong khi ấy Stephen Turnbull lại viết về cách chia quân và tướng điều khiển như sau: Batu có đại tướng Subutai vượt dãy Carpathian. Batu cho Baidar và Kaidu con của Chagatai đem quân lên Ba Lan và cho Kadan đem quân xuống Transylvania.

Theo History Forum đã viết rằng có tài liệu mới phát hiện năm 1965 trên “Historia Tatororum” của Franciscan C de Bridia Monachi. Tài liệu này lấy từ các tư liệu của các thành phần tham dự của Mông Cổ, chỉ sau vài năm có trận đánh. Dứơi đây là phần dịch nguyên văn từ Anh ngữ trên diễn đàn ấy:

Tiếp theo Batu tiến quân tới Ba Lan và Hung. Tại biên giới của hai nước, Batu chia 10 ngàn quân cho em là Ordu để đánh sang Ba Lan … …” (Next Batu went to Poland and Hungary and having divided the army on the border of these two countries, he sent 10 thousands of warriors under his bother Ordu against Poland…)

Như vậy các sử cũng còn nhiều thiếu sót.

  1. Trận đánh Legnica ở Ba Lan

Ta cứ chấp nhận Ordu hay Khadan đem quân lên đến Lithuania đánh phá khắp nơi, không lực lượng nào cản nổi. Khi đến bờ biển Baltic, Khadan chia lực lượng của mình ra làm 2. Một tjumen đánh ngược lên hướng bắc vào địa phận Teutonic Knight, còn 2 tjumens khác thì chính Khadan hướng dẫn đánh phá về phía tây sang Ba Lan.

Quân Mông Cổ vượt đến tận sông Vistula (Wisla) đánh phá các thành phố Sandomierz, Zawichost, Lublin. Một số các hiệp sĩ can đảm của Malopolska tụ tập lại chặn đánh quân Mông tại Cmielnik, nhưng tất cả bị tiêu diệt. Theo sách của Stephen Turnbull thì lúc đến gần Krakow, quân Mông rút lui vì hài lòng với các chiến lợi phẩm. Nhưng ngay khi ấy, họ nghe tin thủ lãnh Boleslaw the Chaste[3] của Krakow đã cùng gia đình chạy trốn. Quân Mông lại vào thành mà không cần đánh. Sau đó, chúng tiếp tục tiến đến Bytom và quay về định bao vây thành quan trọng Wroclaw. Quân Mông phải vựơt sông Oder tại Ratibor bằng bè, nhưng số bè không đủ nên một số phải bơi qua sông. Tại đây họ bị quân dân thành phố này đẩy lui[4]. Đang loay quay định tấn công tiếp, thì họ được tin của thám mã cho biết vua Wencelaus I, nước Bohemia, dẫn một đạo binh gồm 50000 người đang tiến về phía họ. Trong cùng thời gian thì một cánh quân khác do công tước Henry II the Pious (Người ngoan đạo) của Silesia cũng đang tiến lên để gặp Wencelaus I.

Thấy cơ hội có thể tiêu diệt được lực lượng của công tước Henry II, quân Mông Cổ tiến thật nhanh về phía Legnica (Liegnitz) chặn đường.

Về quân số của đạo quân này cũng nhiều trái ngược. Theo History Forum viết lại dựa theo các tài liệu cổ Annals của Jan Dlogsz thì quân Henry gồm năm đạo quân chia ra như sau:

  1. Đạo này gồm Hiệp sĩ, Thập Tự quân Giáo Hoàng gửi tới và tình nguyện quân cộng thêm các thợ mỏ ở Ziotoryja.
  2. Đạo quân thứ hai này thì gồm các hiệp sĩ Cracow và Wielkopolska.
  3. Đạo thứ ba là các hiệp sĩ xứ Opole.
  4. Đạo quân thứ tư gồm các hiệp sĩ xứ Prussia, các thầy dòng, và hiệp sĩ các xứ lẻ tẻ.
  5. Đạo quân cuối cùng là do chính công tước Henry điều khiển gồm các hiệp sĩ, nam tước, bá tước của các xứ Silesia, Wroclaw và Wielkopolsk, cùng một số lính đánh thuê.

Theo quyển “Poland An Illustrated History” thì lực lượng này còn có Knights of the Templar (các hiệp sĩ hội thánh giảng đạo bằng gươm) và Teutonic Orders. Tuy nhiên, ta thấy vô lý vì Teutonic Orders và Ba Lan mới xung đột, và nhiều tài liệu khác công nhận không có lực lượng này.

 Tất cả lực lượng này ít hơn số quân của Mông Cổ.

Trong khi ấy trên Wikipedia thì ước lượng số quân Ba Lan là từ 2000 đến 25000 mà họ dựa vào các nhà sử gia hiện tại đã đưa ra đó là Marek Cetwinski và Gerard Labuda. Một số khác lại nói con số ấy lên tới 40000.

Ngày 9 tháng 4, 1241 hai bên gặp nhau trên bờ sông Nysa thuộc Legnica (Liegnitz), tây nam của Ba Lan gần biên giới Tiệp Khắc ngày nay.

Về trận đánh thì hầu như tất cả các tài liệu đều viết như nhau.

Phía Ba Lan chia ra làm 4 cánh:

  1. Cánh tiên phong điều khiển bởi bá tước Moravian Boleslaw.
  2. Cánh thứ 2 và 3 tiếp theo là hai đơn vị của Sulisaw và hoàng tử Opolan Mieszko. Nhiệm vụ của mỗi đơn vị là bảo vệ một bên sừơn.
  3. Cánh thứ tư do chính công tước Henry II, điều khiển làm tổng trừ bị đi đoạn hậu

 

Quân Mông Cổ cũng chia làm 4 cánh.

  1. Một cánh tiên phong đi đối diện với cánh chính của Ba Lan.
  2. Hai cánh kế tiếp đi phía sau và hai bên. Tuy nhiên, hai cánh này đi bọc xa hơn, lẫn vào các rừng cây, khiến địch không phát hiện được.
  3. Cánh tổng trừ bị do Ordu cầm đầu, đi sau cùng.

Khi vừa thấy nhau, quân Ba Lan do bá tước Moravian Boleslaw cầm đầu, phóng tới tấn công trước. Đạo quân này đánh rất hăng, làm quân Mông Cổ phải thoái lui. Nhưng vừa khi ấy hai cánh quân trái và phải của Mông Cổ tiến lên khép vòng vây làm đạo quân tiên phong của Ba Lan nằm trong rọ.

 h16

Lập tức, quân Mông Cổ dùng mưa tên, gồm cả tên lửa bắn chặn hai cánh bên của Ba Lan, không cho vào tiếp viện. Tuy bị bao vây nhưng đạo quân của Bolesaw (Boleslav), không chịu lui. Đột nhiên từ đâu ném tới các hòn đá to như trái bắp, nóng như lửa, hợp với tên dày đặc như mưa, ấy là quân Mông bắn đá lửa.

Trong đạo quân này của Ba Lan có rất nhiều người không mặc áo giáp, nên bị thương. Cánh tiên phong của Ba Lan hầu như bị tiêu diệt và chủ tướng là quân công Bolesaw đã hy sinh trong đợt này.

Hai cánh bên của Ba Lan đánh thật dũng mãnh tiến lên. Quân Mông Cổ lại bị đẩy lui trở lại.

Tranh vẽ của Matthäus Merian Starszy 1593-1650 Mô tả lại trận Legnica- lúc Mông Cổ đã đưa đầu Henry II.

Tranh vẽ của Matthäus Merian Starszy 1593-1650 Mô tả lại trận Legnica- lúc Mông Cổ đã đưa đầu Henry II.

Lập tức, quân Mông Cổ dùng mưa tên, gồm cả tên lửa bắn chặn hai cánh bên của Ba Lan, không cho vào tiếp viện. Tuy bị bao vây nhưng đạo quân của Bolesaw (Boleslav), không chịu lui. Đột nhiên từ đâu ném tới các hòn đá to như trái bắp, nóng như lửa, hợp với tên dày đặc như mưa, ấy là quân Mông bắn đá lửa.

Trong đạo quân này của Ba Lan có rất nhiều người không mặc áo giáp, nên bị thương. Cánh tiên phong của Ba Lan hầu như bị tiêu diệt và chủ tướng là quân công Bolesaw đã hy sinh trong đợt này.

Hai cánh bên của Ba Lan đánh thật dũng mãnh tiến lên. Quân Mông Cổ lại bị đẩy lui trở lại.

Trong khi hai bên đang hỗn chiến và Mông Cổ bị núng thế, thì đây đó, trong giữa trận có tiếng hét bằng tiếng Ba Lan : “Chạy! Chạy!”. Tất cả đạo quân của Meiszko cùng nghĩ là tiếng đồng đội. Thế là quân Ba Lan đột nhiên hỗn loạn, rút chạy. Quận công Henry liền ra lệnh cho toán trừ bị, tinh nhụê nhất của ông tiến lên. Đạo quân này xông vào đánh bật quân Mông Cổ trở lại lần nữa.

Ordu lại lập tức cho đạo quân từ bị lâm trận. Trận đánh lại tái diễn thật dữ dội. Trong đám quân Mông Cổ có một người cầm một dấu hiệu chữ “X” thật to và trên có cá chùm gai lớn. Các chiến sĩ Ba Lan đánh thật hăng làm quân Mông Cổ rơi vào thế hạ phong. Chúng rút lui khoảng 100 bước, thì cái dấu hiệu chữ X kia đột nhiên rung động dữ dội; rồi từ các móc gai phun ra các đám khói. Khói này ngửi thật hôi tanh, làm lính Ba Lan bị xỉu, không còn sức chiến đấu.

Theo cổ sử Annals của Jan Dlugosz (viết vào thế kỉ thứ XV) thì Mông Cổ dùng bùa phép để đánh nhau. Còn theo các tài liệu sử mới thì Mông Cổ đốt phân ngựa, bò trộn với diêm sinh, dầu hỏa để làm đối phương không thấy và khó thở. Có lẽ lính Mông Cổ đã ngửi quen mùi nên không bị ảnh hưởng mấy[1].

Lúc này, quân Mông đã kiểm soát trận đánh. Quận Công Henry vẫn bám với đạo quân của ông mặc dù con ngựa của ông bị thương; đầu đã gục xuống. Khi ông đưa kiếm lên để chém một địch quân, thì một tên khác dùng giáo đâm vào nách của ông. Ông ngã xuống khỏi ngựa. Quân Mông lôi xác ông vài trăm bộ làm giáp, trụ quần áo văng ra hết. Chúng chặt đầu ông rồi đem cắm lên một ngọn giáo. Quân Ba Lan thấy vậy bỏ chạy hết.

Sau khi trận đánh kết thúc, quân Mông thu lượm chiến lợi phẩm. Chúng muốn biết đã giết bao nhiêu địch quân, nên cắt tai phải của các người Ba Lan tử trận, bỏ vào 9 túi đầy. Chúng đem đầu của quận công Henry II đến thành Legnica, bắt thành này đầu hàng. Quân dân thành không chịu, và cho chúng biết còn rất nhiều nam tước, bá tước khác sẵn sàng chiến đấu. Chúng bèn tàn phá các làng phụ cận, xong chạy về phương nam để gặp đại quân của Batu và Subutai ở Hung.

[1] Người Mông Cổ có thói quên đốt phân thú phơi khô để sưởi ấm trong nhà.

 

  1. Trận đánh Mohi ở Hung

Tin quân Mông tới, vua Béla IV triệu tập quân đội kể cả quân của Cuman do Koten (Khoten) lãnh đạo.

Ngoài lực lượng chính của vua Béla IV, quân Hung còn có quân của công tước Frederick II Babenberg của nước Áo; quân củahoàng tử Kálmán là em vua Béla, đang làm công tước Slavonia(Slovakia), và tổng giám mục Ugrin Csák dẫn các hiệp sĩ Templar. Theo Wikipedia, All Empires online History hay Military History. About.com thì số quân của Hung tổng cộng chừng 80000, và quân số của Mông Cổ là 70000. Một vài tài liệu khác lại viết số quân của Hung là 15000 quân và quân Mông Cổ ở đây khoảng 30000 người. Vậy con số thực sự vẫn là mơ hồ. Thật ra lực lượng Hung có thể rất lớn, nhưng vì nhiều nam tước, bá tước vốn ghét vua Béla vì chuyện tịch thu lại tài sản, phá bỏ luật Golden Bull, nên không đem quân tham chiến. Họ muốn chứng kiến sự sụp đổ của triều đình Hung trước quân Mông Cổ. Một số khác ở miền Transylvania lại lo bảo vệ địa phương vì cánh quân phương nam của Mông Cổ cùng sự hiện diện của các bô lạc khó trị Cuman.

Ngày 12 tháng 3, năm 1241, quân đội của Subutai và Batu đánh bại đạo quân của tiểu vương Palatine ở đèo Verecke trên dãy núi Carpathian, rồi nhắm Hung tiến tới.

Cùng khi ấy, đám dân Cumans và người địa phương chẳng mấy tin nhau. Người Cumans thì nghĩ dân Hung còn kì thị, bóc lột họ như nô lệ. Người Hung lại nghĩ dân Cumans là tay sai, gián điệp cho Mông Cổ và là nguyên nhân của chiến tranh. Khi thấy Quân Mông Cổ thành công chọc thủng phòng tuyến phương nam, dân Hung ghét đám Cumans vô cùng nên đã giết chết lãnh tụ Koten. Dân Cumans nổi loạn cướp phá giết chóc dân địa phương rồi chạy sâu xuống phương nam thay vì lên Pest hợp với quan vua Béla.

Ngày 15 tháng 3, đội tiên phong của Mông Cổ đã tới Pest[1], đánh phá các vùng lân cận. vua Béla cấm không cho quân đội của ông ra đánh, vì lý do chưa chuẩn bị sẵn sàng. Trong khi ấy, Frederick II, không đếm xỉa đến lệnh ấy, tung quân đánh và thắng vài trận nhỏ. Điều này làm Béla mất mặt vì bị coi như hèn nhát. Sau các trận thắng ấy quận công Frederick II đem quân mình về Áo. Tổng giám mục Ugrin Csák của Kalocsa, thấy vậy cũng noi gương. Ông đem các hiệp sĩ Templar định tấn công quân Mông bất ngờ, nhưng bị vây hãm thật nguy. Sau quân Mông mở một đừơng thì toán quân này chạy thoát nhưng lại bị lừa vào một vùng sình lầy. Kết quả ông cùng đám hiệp sĩ Templar với các giáp trụ nặng nề bị sa lầy và một số may mắn thoát chết, trong đó có vị tổng giám mục.

Sau một tuần di chuyển, vào đầu tháng 4, quân của vua Béla đã đến bờ tây của sông Sajó đang ngập lụt. Ông cho quây các chiến xa làm một tường thành bảo vệ, rồi đóng quân chờ thêm viện binh cùng nhu yếu phẩm. Cùng khi ấy, quân Mông dưới sự chỉ huy của tướng Subutai đến bờ đông con sông này.

Theo Military History. About.com và wikipedia thì ngày 10 tháng 4, một người nô lệ của Mông cổ trốn thoát chạy sang Hung báo tin cho vua Béla rằng quân Mông sẽ tấn công vào đêm trên cầu gần đó. Ông này vẫn không tin đó là một trận đánh quyết định mà nghĩ rằng là đơn vị trinh sát của Mông Cổ thôi.

Các tướng dưới quyền đều trách vua Béla là không chịu ra lệnh tấn công. Chiều tối ngày 10 tháng 4, ông hoàng Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák lại đem quân đánh bất ngờ ở cầu. Họ đi âm thầm trong bóng đêm, nên quân Mông không biết. Vả lại Mông Cổ cũng không thích đánh đêm vì giới hạn của cung thủ cũng như ngựa. Đến nửa đêm thì quân Hung tới cây cầu dài khoảng 200m này. Lúc ấy, quân Mông đang chuẩn bị vượt sông mà không đề phòng việc bị tấn công. Theo dự đoán thì có lẽ Subutai muốn tấn công quân đội Hung lúc bình minh. Hai cánh quân của ông hoàng Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák dùng ná (nỏ) tấn công dữ dội. Mông Cổ bị bất ngờ nên bị các tên từ nỏ bắn thiệt hại nặng nề. Kết quả Mông Cổ bị mất một tướng cấp thấp tên Bakatu. Kálmán và tổng giám mục Ugrin Csák để lại một đơn vị nhỏ để canh cầu; số còn lại trở về trại mở tiệc ăn mừng.

mohi battle

Vì thất bại ấy, Mông Cổ phải đổi kế hoạch tấn công. Subutai liền chia quân làm ba đạo: đạo thứ nhất giao cho Shiban (Sejban) chỉ huy, đi lên phía bắc sông Sajó cách cầu khoảng 4 km, rồi vượt sông, đánh vào hông trái của Hung. Subutai thì đem cánh thứ hai đi về phía nam, và cách cầu trên 5 km. Subutai sẽ cho làm một cây cầu dã chiến để vượt sông. Cánh thứ ba thì do Batu chỉ huy với các vũ khí nặng đánh thẳng qua cầu. Chuyện vượt cầu cũng không phải là dễ vì cầu dài mà hẹp. Hơn nữa tầm bắn của nỏ rất xa làm quân Mông không còn lợi điểm dùng vận tốc của ngựa. Batu liền cho đem súng bắn đá tới. Theo các trang sử viết lại thì đây có lẽ là lần đầu tiên mà người Hung thấy súng bắn đá.  Trận đánh vẫn không có thắng lợi cho Mông Cổ, dù là cánh quân của Shiban đã đánh vào hông của quân Hung. Đến 8 giờ sáng, quân Mông tiến được qua cầu, nhưng bây giờ thì quân Hung được lệnh tấn công, nên quân Béla tràn ngập chiến trường. Kị binh Batu không có thế vì sau lưng là sông. Lính Mông chết nhiều và chính Batu cũng tị nữa mất mạng. Diên trì một thời gian khá lâu vì cho làm cầu, nhưng rồi cầu cũng được làm xong và Subutai cho quân vượt sông. Khi đạo quân này đánh từ dưới lên, thì quân Hung chịu không nổi phải thối lui về trại.

Bây giờ thì Mông Cổ vây hãm với những đợt tấn công bóng rổ. Tuy nhiên họ vẫn không tiêu diệt được địch quân, và cũng bị tổn thất nặng. Subutai liền mở phía tây, quân Hung vội tràn về phía ấy chạy trốn. Đây chính là binh pháp của Tôn Tử: Lúc giặc ở cùng đường đừng đánh mà hãy mở. Vì nếu dồn địch quân vào chân tường thì chúng sẽ chống tới chết. Mở đường thì chúng sẽ chạy, và khi chạy thì ai lo thân nấy hết còn nương tựa vào nhau để sống chết cùng hưởng. Một mặt khác, nếu phía mở mà địch quân không có lợi địa thì thật là một thảm họa cho địch. Quân Hung chạy về hướng ấy phải vượt con sông Hejó, rồi vào cánh đồng lầy. Ngựa của các hiệp sĩ Hung thì bị thương, mà mặc giáp thì quá nặng làm sao mà bơi hay chạy, nên họ đành phải bỏ giáp. Nhưng đây lại là một hiểm họa khác đến với họ. Họ không còn giáp thì làm sao chịu nổi tên hay giáo của Mông Cổ? Kết quả là lính nặng của Mông Cổ cứ cỡi ngựa đuổi theo, rồi dùng giáo xuyên người như xuyên thịt.

Tổng kết trận đánh thì cũng có nhiều con số dị biệt nên wikipedia đã dưa ra con số phỏng định từ 10000 dến 40000 cho Hung và từ số nhỏ đến 1000 cho Mông Cổ. Vua Béla và người em Kalmán chạy thoát[1], nhưng ông hoàng này đã chết sau một thời gian. Tổng giám mục Ugrin thì chết trong đám loạn quân.

Vua Béla chạy sang Áo để tránh nạn thì công tước Frederick II bắt giam lại. Ông này đòi vua Béla phải cắt ba phần đất thuộc Hung để sát nhập vào Áo. Vua Bela không chịu lại chạy xuống phía nam của Hung, đến cổ thành Trogir ven bờ biển Adriatic, một phần đất cuối cùng của Hung. Tại đây, ông cũng đã họp lại với một số nhà quí tộc Hung đã chạy trốn xuống đó.

Sau trận thắng này quân Mông lần lượt đi tàn phá khắp vương quốc này và thảo kế hoạch đánh chiếm La Mã, Đức và Áo. Theo các trang trên Internet thì khoảng ¼ dân chúng Hung bị giết, còn theo “Nations in Transition Hungary” của Raymond Hill thì gần ½ dân Hung đã bị tàn sát.

Mãi năm sau, 1242, chúng đột nhiên rút khỏi Hung. Sự rút lui này cũng gây ra nhiều tranh luận. Số đông thì cho là Subutai nhận được tin đại hãn Ögedai băng hà, nên phải để Batu, Kadan quay về Krakorum dự vào việc bầu một đại hãn mới. Nhưng một số khác lại nói đó là lý do không chính xác. Quân Mông vẫn không kiểm soát được Hung. Dân Hung di tản vào các vùng núi non, đầm lầy, thành trì kiên cố, hay các thành đất được xây trên các đỉnh núi đồi hiểm trở, rồi nổi dạy chống lại họ. Nhiều thành trì xây bằng đá kiên cố mọc lên, quân Mông không làm gì được. Người Hung bây giờ lại dùng chiến thuật du kích làm tổn hại quân Mông, và có lần các hộ vệ của Batu cũng bị lột da. Còn chính Batu đã phải trày vi, tróc vẩy mới thoát chết. Khi họ rút thì bị phục kích trên dãy núi Carpathian.

Nhờ vào sự tái phục hồi các thành trì bằng đá mà người Hung đã đẩy lùi cuộc xâm lăng thứ 2 của Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của Nogai (Nogay) cháu cố của Thành Cát Tư Hãn năm 1284.

Quân Mông rút khỏi Hung rồi về lại miền nam nước Nga hiện nay để lập một vùng ngự trị mới gọi là White Horde, và Blue Horde. Cuối cùng, cả hai horde trên nhập lại thành Golden Horde và kinh đô là Sarai (Saray) bên bờ sông Volga (Gần kinh đào Volga-Don ngày nay). Đây cũng là thảo nguyên và còn đẹp đẽ, rộng lớn hơn thảo nguyên Mông Cổ, bao gồm từ Kazakhstan đến phía tây biển Hắc Hải. Khi Őgedei (Oa Khoát Đài), qua đời thì Batu là một ngôi sao sáng để được tuyển làm Đại Hãn, nhưng ông đã từ chối với lý do thích thảo nguyên này hơn Mông Cổ. Vì nếu người nào được bầu làm Đại Hãn thì người này phải trở về thủ đô Krakorum ở Mông Cổ. Tất cả các lãnh địa của Nga, Armenia, Georgia, Circassia, Alans,Crimean Greeks, và các bộ lạc của các dân ở vùng Balkan Bulgarscũng như  Serbs (Nam Tư) phải hàng năm triều cống rất nặng nề cho các chúa Mông Cổ ở Sarai, kể cả Novgorod, nơi quân Mông chưa đánh tới. Golden Horde là một tiểu đế quốc Mông Cổ tồn tại lâu nhất kéo dài mãi cho tới năm 1499.

[1] Thành phố Pest nằm bên bờ đông sông Danube, bên kia bờ tây sông là thành phố Buda. Đến thế kỷ XVII, vua Hung nhập hai thành phố lại lấy tên là Budapest.

 

IV/ Xâm lược Trung Đông.

A-  Tình trạng vùng Trung Đông.

  1. Becke

Jochi, người con trưởng của Thành Cát Tư Hãn, đã không được nối nghiệp cha và không được thừa hưởng vùng đất xứ Khwarezm. Ông đem quân lên phía bắc nứơc Kazahkstan lập nghiệp. Nhưng ông chết sớm để lại 4 người con 3 trai, 1 gái. Ba trai là: Orda, Batu và Becke. Orda lập ra White Horde còn Batu lập ra Blue Horde. Địa phân của hai horde này là phần đất rộng lớn gồm các nước Nga và Đông Âu. Sau khi Orda và Batu qua đời thì Becke lên nắm quyền và gom cả hai horde vào làm một tạo ra Golden Horde vào năm 1257. Cùng năm ấy, Becke ra nhập đạo Hồi liên hệ mật thiết với các nước vùng Trung Đông và Ai Cập.

  1. Mamluk

Trong thời Trung Cổ vùng Ai Cập ngày nay, thay tay đổi chủ nhiều lần. Dựa theo quyển “Cairo- The City Victyorious” của Max Rodenbeck thì đạo Thập Tự Quân đã nhiều lần đánh chiếm hải cảng Alexandria và các vùng chung quanh. Năm 1149, họ lại đến đánh chiếm hải cảng này và đánh thành phố Bilbays, 65 km phía bắc Cairo, giết hết dân thành này không còn một người[1]. Vua Al/’Adid của triều đại Fatimids đã khốn đốn với các cuộc chinh phục ấy. May thay, một đạo quân Hồi giáo từ Syria dưới sự chỉ huy của Saladin tới giải cứu. Nhưng sau đó Al/’Adid đã chết một cách bí mật.

Saladin ta bán hết các tài sản của vua Al/’Adid để trả lương cho lính đánh thuê (nô lệ Mamluk[2]) gốc Thổ, kể cả viên hồng ngọc 2400 carat. Ông đã thay thế triều đại Fatimids, với một chế độ phong kiến. Mỗi địa phương được cai trị bởi một tướng trong quân đội Syria.

Thời gian này, Saladin tạo ra một đế quốc Ayyabid bao gồm từ Syria đến Ai Cập, một phân nửa phía bắc các quốc gia: Sudan, Ethiopia, Somalia và phía nam bán đảo Saudi Arabia (A Rập). Vốn Saladin chinh phục đế quốc nhờ vào nô lệ, nên Ayyabid có tập tục mua bán nô lệ và các nước Âu Châu cũng đã đổ xô đến đây mua nộ lệ về làm việc, hầu hạ. Phần đông những kẻ nô lệ là dân ở Circassian[3], Turcoman[4] nhưng đa số Thổ Nhĩ Kỳ[5]. Các nô lệ này có được là nhờ vào các cuộc chinh phạt các bộ lạc thù địch, hay là các dân tỵ nạn. Nhất là sau các cuộc chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn vào Khwarezm, cuộc hành quân của Subutai, Jebe vào Nga 1220-1223 và các cuộc chiến từ năm 1239 của Batu, Subutai, thì dân tị nạn đổ vào đây đông khủng khiếp.

Saladin còn bắt các lính nô lệ đánh thuê Mamluk cải thành Hồi giáo. Đến năm 1258, thì số này có nhiều người thuộc vào đạo quân Cuman, đã từng đụng độ với Mông Cổ trong thời gian 1240-1258. Đoàn quân này được huấn luyện kỹ nên rất thiện chiến vì có các người Cuman nói trên nên đạo quân này có khả năng đụng trận với Mông cổ.

Con cháu của Saladin đã cai trị đế quốc Ayyabid trong các thành trì ở Cairo trong vòng 80 năm. Đến năm 1258, trong các người Mamluk, có một tướng tên Qutuz nổi dậy giết thủ lãnh hậu duệ của Saladin. Qutuz nắm được hậu thuẫn của toàn thể đạo quân Mamluk và trở thành Sultan (hoàng đế) năm 1259. Theo André Raymond viết trong quyển “Cairo” thì Qutuz lại vẫn thi hành chính sách nô lệ, nhưng áp dụng kinh Koran vào để bảo vệ lớp người này. Các nô lệ khi vào nhà một quý phái, sẽ được giáo dục và khi họ đã học tập xong từ cách cư sử đến kinh thánh thì được trả tự do và thành một sĩ quan trong quân đội Mamluk. Trong nhân viên chính quyền lại cũng được tuyển chọn từ các thành phần này.

  1. Crusades- Thập Tự Quân

Vùng ven biển Địa Trung Hải vùng Gaza và Isael ngày nay, lúc ấy kiểm soát bởi đạo Thập Tự quân. Đạo quân này thật ra là sang đánh Hồi giáo, nhưng lúc này bất động vì quân Mông đang hoành hành ở phía bắc.

  1. Hülagü

Từ khi Thành Cát Tư Hãn qua đời năm 1227 thì đến năm 1229 Őgedei (Oa Khoát Đài) người con thứ ba lên nắm quyền Đại Hãn. Năm 1241 Őgedei chết thì con cả của ông ta là Güyük lên thay. Ông này làm đại Hãn được 3 năm thì cũng theo cha. Quyền lực chuyển sang dòng con út của Thành Cát Tư Hãn là Tolui. Tolui thì đã mất từ năm 1232, nhưng người con cả của ông là Möngke (Mông Kha), được hội đồng Kuriltai bầu lên làm Đại Hãn năm 1251.

Lúc lên ngôi, Möngke sai em thứ nhì là Kulibai (Hốt Tất Liệt) tấn công Nam Tống và em thứ ba là Hülagü sang mở rộng vương quốc Hồi giáo Khwarezm về phía nam (vùng Iran-Ba Tư ngày nay). Một vương quốc mà Thành Cát Tư Hãn đã chiếm năm 1224.

Hülagü phải tốn 3 năm chuẩn bị, nên năm 1253 mới khởi hành từ kinh đô Krakorum. Ông ta phải mất ba năm cho cuộc hành trình chục vạn dặm để đặt chân đến miền Trung Đông. Khi đến nơi, năm 1256, Hülagü lập tức nhắm vào kinh đô Hồi giáo tấn công.

  1. Bất đồng giữa Mông Cổ với Mông Cổ.

Năm 1256, Hülagü tấn công các Assassin pháo đài, do một nhóm Hồi giáo dị biệt trấn giữ với một dãy các pháo đài trên đỉnh núi gần biển Caspian. Chung quanh các pháo đài này là các vùng đất khô cằn, trơ trọi.

Chuyện tấn công lên đây không phải dễ dàng. Quân Mông lần này mang theo những loại nỏ thật lớn. Theo Stephen Turnbull viết lại dựa vào sử gia Juvaini thì nỏ này được người Khitan (Liêu) thiết kế và có thể xếp lại được để di chuyển dễ dàng. Nó có thể phóng những mũi lao xa 2500 bộ (762m). Các người bảo vệ assassin trả đũa lại bằng súng bắn đá vả nỏ thường khi quân Mông leo lên đồi. Quân Mông cho sứ giả đến kêu hàng, nhưng trong lúc đàm phàn họ tìm các điạ điểm tốt cho các vũ khí lớn của họ. 

Đây là một tưởng tượng của tác giả về nỏ khổng lồ Mông Cổ

Đây là một tưởng tượng của tác giả về nỏ khổng lồ Mông Cổ

Kết quả họ đưa các loại vũ khí nặng lên các chỏm núi đá có cùng độ cao với mặt thành, rồi từ đó họ phóng đạn, đá, lao sang địch quân. Dù chống đở có phần hữu hiệu, nhưng dần dà các pháo thành này cũng chịu đầu hàng.

Một trong các pháo đài Assassin. Hình của David Nicolle.

Một trong các pháo đài Assassin. Hình của David Nicolle.

Năm 1258, Hülagü quay xuống tấn công giáo chủ Hồi ở thành Baghdad. Thành này chống cự mãnh liệt, đến nỗi Mông Cổ bắn hết đá mà vẫn không chịu thua. Dân trong thành, khấp khởi mừng thầm thì quân Mông đốn các cây chà là (Palm), chặt khúc bắn tiếp. Cuối cùng thành cũng bị thất thủ; vua-giáo chủ những người Hồi Al-Musta’sim bị giết.

[1] Trang 60- Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400.

[2] Theo một trang trên website thì quân Mông bị thua là vì quân Mamluk đã biết dùng một loại vũ khí như lựu đạn cầm tay. Tiếng nổ làm ngưạ Mông Cổ không theo lệnh người điều khiển. Lúc này, các nhà hóa học người Á Rập cũng chế ra được thuốc nổ. Quân Mông miền tây đụng chạm với chất nổ chậm hơn so với quân đánh nước Kim.

 

Một trong các pháo đài Assassin. Hình của David Nicolle.

Một trong các pháo đài Assassin. Hình của David Nicolle.

Việc làm này làm sửng sốt Becke, một tín đồ Hồi giáo.

Ngày 18 tháng 12 năm 1259, Hülagü có thêm quân của Georgia, Armenia và Seljuk Rum gốc Anatolia (nay thuộc các vùng Thổ Nhĩ Kỳ, và ven Địa Trung Hải) vượt sông, mở cuộc tấn công sang thành Aleppo của địa phận Syria của đế quốc Ayyabid. Trong khi ấy, Hülagü cho tướng Ketbugha (sách khác phiên âm Kitbuqa) đem một đạo quân trinh sát đến Damascus[1]. Thành Aleppo kháng cự được trên một tháng thì bị chiếm. Thành Homs bên dưới vội cử một phái đoàn đến xin hàng.

Ngay sau đó, Hülagü nghe tin anh ruột là đại hãn Mongke qua đời và người anh kế là Hốt Tất Liệt cùng người em út là Arige- Boke, đang tranh nhau cái ghế đại hãn. Ông vội đem đại quân quay về Krakorum, chỉ để lại 1 tjumen (10000) cho tướng Ketbugha tiếp tục công việc.

Pháo đài Aleppo- Hình Thom Richardson

Pháo đài Aleppo- Hình Thom Richardson

 B- Trận Ain Jalut

Tuy ít quân, nhưng tướng Ketbugha vẫn rất tự tín và vẫn cho quân đi cướp phá, trinh sát các vùng chung quanh, như Gaza, Hebron, Jerusalem và Nablus. Các đạo quân trên trở về Damascus bình yên.

Lúc quân Mông vây thành Aleppo rồi đạo quân của Ketbugha đến Damascus, thì Qutuz, Sultan của Mamluk lập tức có kế hoạch. Ngay khi ấy ông này nhận được thư của Ketbugha bắt phải thần phục. Ông ta liền cho giết sứ giả. Qutuz biết quân Mông không sớm thì muộn cũng đến gõ cửa Cairo của Mamluk, nên ông quyết định tiên hạ thủ vi cường. Ông liền cho quân tiến vào bán đảo Sinai do Thập Tự Quân kiểm soát. Ông cũng biết tin rằng quân Mông còn lại không phải là một lực lượng lớn. Qutuz cũng cho một đội trinh sát đi tiên phong dưới quyền chỉ huy của Baybars.

Bản đổ hành quân của Mông Cổ và Mamluk

Bản đổ hành quân của Mông Cổ và Mamluk

Đạo Thập Tự Quân, bây giờ nhìn thấy viễn ảnh một cuộc chạm trán giữa hai lực lượng Mông, Mamluk là không thể nào tránh nổi. “Bạng diệc tương trì, ngư ông đắc lợi” đó là kế koạch của đạo Thập Tự Quân. Họ quyết định đứng trung lập, nhưng thật ra lại ủng hộ ngầm Qutuz của Mamluk. Vì vậy Khi quân Mamluk tiến vào Sinai, nơi họ kiểm soát thì họ yên lặng, không phản đối.

Khi nghe tin quân Mamluk đã tiến đến vùng Palestine, Ketbugha thu tất cả quân của ông ta lại và tiến về phương nam. Đây là đạo quân ô hợp và tương đối nhỏ. Ông muốn chiếm lấy tiên cơ bằng sự lựa chọn một địa điểm tốt, rồi chờ địch. Nơi lựa chọn là Ain Jalut, phía tây bắc núi Gilboa. Nơi đây là một địa điểm rất tốt cho trận kị binh, bên cạnh là một đồng cỏ dùng cho ngựa ăn.

Đội quân tiền phong của Mamluk do Baybars chỉ huy đụng quân Mông nơi đây và bị đánh tan. Đạo này chạy về hợp với đại quân của Qutuz, rồi cùng tiến đến trận địa.

Ngày 3 tháng 9, 1260, quân Mamluk tiến vào Ain Jalut từ phía tây bắc. Quân Mông đánh tan cánh trái của Qutuz ngay lúc đầu. Nhưng Qutuz chấn chỉnh hàng ngũ, rồi tấn công làm quân Mông bị rung động. Qutuz lại dàn thế trận tiến đánh trực diện vào quân Mông. Theo Stephen Turnbull tìm tòi thì Qutuz đã cho quân cùng hét lên trước lúc xung trận câu sau đây: Thượng đế! Ngài hãy giúp cho người đầy tớ Qutuz chống lại quân Mông! (Allah- Help your servant Qutuz against the Mongol!) [1]

Cả đoàn cùng xông lên đánh như hổ báo; quân Mông Cổ[2]chịu không nổi thải tháo chạy. Tướng Ketbugha bị giết chết.

C- Kết quả:

Theo các nhà viết sách sử thì đây là trận thất bại đầu tiên mà quân Mông phải chịu. Họ không biết quân Mông cũng đã thất bại ở đồng bằng Bắc bộ năm 1258. Cũng theo một số sách (trong đó có cả quyển Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400), hay một số trang website thì thông thường sau khi thất bại, Mông Cổ sẽ đem quân phục thù (như Đại Việt chẳng hạn), nhưng thua Ai Cập lần này Mông Cổ không thể đem quân trả thù. Điều này làm cho thấy Mông Cổ không phải là một huyền thoại vô địch.

Tuy nhiên ta đào sâu sẽ thấy nhiều việc khác trong vấn đề này.

Như phần trên ta đã biết Beckec là con trai thứ ba của Jochi, người mà đã oán Thành Cát Tư Hãn, cùng Chagatai trong việc không cho hưởng đế quốc Khwarezm, lại cũng không được làm đại hãn. Ông này đã bỏ lên phía bắc và không bao giờ quay lại gặp cha, cùng nghe lệnh cha. Cái chết của ông cũng mờ ám, trước cái chết của Thành Cát Tư Hãn vài tháng và đã bị nghi ngờ chết vì độc của Thành Cát Tư Hãn hay Chagatai. Như vậy có thể Beccke, Batu hay Orda đều không thích các người anh em chú bác.

Rồi đến khi Hülagü phá kinh đô Hồi giáo Baghdad, giết chết giáo chủ thì Becke đã giận vô cùng. Theo nhà sử gốc Ba Tư Rashīt ai-Dīn thì Becke đã nói với các binh sĩ Mông và Hồi về việc này như sau: “Hắn đã tấn công vây hãm tất cả các thành của Hồi giáo và đem đến cái chết của Giáo Chủ. Với sự giúp của Thượng Đế, tôi sẽ bắt hắn giải thích về quá nhiều cái chết oan.” [He (Hülagü) has sacked all cities of Muslim, and has bought about the death of Caliph. With the help of God, I will call him to account for so much innocent blood]. Theo wikipedia thì lời nói này đã trích từ quyển The Mongol Warlords- và lời này tìm thấy trong The Mamluk-Illhanid War.

Tuy nhiên Becke không tấn công quân Mông liền mà chờ cho đến khi Hülagü quay trở lại Trung Đông năm 1262.

Rồi sau đó, có các cuộc chiến giữa Mông Cổ với Mông Cổ. Năm 1263 quân của Hülagü đã bị thảm bại tại Georgia. Chẳng bao lâu sau quân Golden Horde lại nghiền nát quân Hülagü lần nữa trên bờ sông Terek bởi tướng Nogai cháu của Becke. Cuối cùng Hülagü phải rút quân và chết 3 ba năm sau đó.

[1] Trang 60- Genghis Khan & the Mongol Conquests 1190-1400.

[2] Theo một trang trên website thì quân Mông bị thua là vì quân Mamluk đã biết dùng một loại vũ khí như lựu đạn cầm tay. Tiếng nổ làm ngưạ Mông Cổ không theo lệnh người điều khiển. Lúc này, các nhà hóa học người Á Rập cũng chế ra được thuốc nổ. Quân Mông miền tây đụng chạm với chất nổ chậm hơn so với quân đánh nước Kim.

 

Trích từ sách Đại Việt thắng Nguyên Mông

Tác giả Hiệp Võ

Advertisements

One thought on “Quân Mông Cổ chinh Tây

  1. Bài này nhiều chi tiết sai. Ví dụ Volga Bulgar là một tộc người Đột Quyết (Turkic) chứ không phải gốc Nga. Hoặc Cuman là tộc người Đột Quyết không phải Thổ Nhĩ Kỳ (Turkish như cách nói ngày nay), Thổ Nhĩ Kỳ cũng là tộc người Đột Quyết. Hai nhóm này khác nhau nhưng cùng nguồn gốc từ cao nguyên Mông Cổ di cư đến. Phần phụ lục tham khảo thiếu và khó tra cứu. Nên nhiều chi tiết khó kiểm định.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s