Lịch sử những ý tưởng tôn giáo : Từ Thời Kỳ Đồ Đá Đến Chủ Nghĩa Thần Bí Eleusis

Tác giả Mircea Eliade

Chuyển ngữ Mai Dạ Phúc Ca

 Hành vi mang tính tôn giáo của người nguyên thủy (paleanthropians)

Liệu người nguyên thủy có tôn giáo hay không là một câu hỏi mang tính tranh luận mà phe cho rằng người nguyên thủy không có tôn giáo không có đủ bằng chứng để bác bỏ. Nhưng bằng chứng của phe cho rằng người nguyên thủy có tôn giáo cũng là những bằng chứng không rõ ràng, mặc dù rất nhiều. Những bằng chứng khảo cổ, ví dụ như những công cụ, có thể được giải mã ý nghĩa về tác dụng kỹ thuật, nhưng không thể cho chúng ta biết về suy nghĩ, cảm giác, mơ ước, hy vọng của những người tạo ra chúng.

Người nguyên thủy sống bằng việc săn bắt hái lượm trong suốt hai triệu năm, nhưng biểu hiện đầu tiên liên quan đến vũ trụ tôn giáo của những thợ săn nguyên thủy chỉ quay lại khoảng thời điểm xuất hiện những bức vẽ trên đá trong khu vực Franco-Cantabrian (30.000 năm trước công nguyên). Những thợ săn nguyên thủy coi những con thú cũng tương tự như người nhưng được ban cho sức mạnh siêu nhiên, họ tin rằng người có thể biến thành thú và ngược lại, rằng có một mối liên hệ bí ẩn giữa một con người nhất định với một con thú nhất định. Thực thể siêu nhiên trong tôn giáo của những thợ săn có nhiều loại: hộ linh, Chú tể tối cao của thú vật, những linh hồn từ những bụi cây, những linh hồn của những loài thú khác nhau.

Một số nền văn minh săn bắt có những hình mẫu tôn giáo nhất định. Ví dụ như việc giết một con thú cấu thành một nghi thức tôn giáo ám chỉ rằng Chúa tể thú vật sẽ xem việc giết hại chỉ vì lý do thức ăn. Do đó mà xương, đặc biệt là sọ có giá trị nghi lễ, có thể do niểm tin rằng “linh hồn” của các con thú trú ngụ trong đó, và Chúa tể chú vật sẽ làm cho một lớp thịt mới mọc ra từ khung xương. Đó là lý do tại sao xương sọ và xương dài được đặt lên những cành cây hoặc những vị trí cao.

Ý nghĩa biểu tượng của việc chôn cất

Từ thời Mousterian (70.000-50.000 năm trước công nguyên), chúng ta có thể chắc chắn có việc chôn cất, nhưng xương sọ và xương hàm dưới được tìm thấy sớm hơn rất nhiều, ví như tại Choukouten (khoảng 400.000-300.000 năm trước công nguyên). Việc bảo tồn xương sọ này có thể được giải thích bằng lý do tôn giáo. Nhiều giả thuyết được đưa ra, ví dụ như đầu lâu của người thân được mang theo khi bộ lạc di chuyển, hoặc việc ăn thịt người.

Có vẻ như những bằng chứng hướng về việc tin vào sự sống sau khi chết, bởi việc sử dụng đất đỏ như một sự thay thế mang tính lễ nghi cho máu, biểu tượng của sự sống. Việc dùng đất đỏ bôi lên xác chết xuất hiện rải rác mọi nơi và mọi thời điểm. Ý nghĩa tôn giáo của việc chôn cất đã trở thành một chủ đề tranh luận gay gắt. Tin vào sự sống được xác nhận bằng việc chôn cất, nếu không thì chẳng thể hiểu nổi tại sao lại phải cố gắng chăm chút cho cái xác. Sự sống này có thể chỉ là ở dạng linh hồn, nhưng một số nghi thức chôn cất có thể được phân tích là đề phòng việc người đã chết quay lại dương gian, khi mà xác chết bị xếp nằm co và có thể bị chói. Mặt khác, việc để xác chết nằm ở tư thế co cũng có thể được phân tích là hy vọng được tái sinh, vì đó là tư thế của bào thai.

Tổng kết lại chúng ta có thể kết luận việc chôn cất xác nhận rằng có niềm tin vào sự sống sau khi chết. nhưng cần phải nhấn mạnh rằng ở mức khảo cổ học thì tính biểu tượng không thể được tìm ra. Ví dụ như trường hợp chôn cất một cô gái của bộ lạc Kogi Ấn Độ thời nay. Reichel-Dolmatoff đã tham dự và nắm được ý nghĩa của từng thành phần, những động tác, nghi thức trong khi tế lễ và những lời phát biểu, và theo Reichel-Dolmatoff quan sát, nếu một nhà khảo cổ tương lai khai quật ngôi mộ này thì sẽ chỉ thấy một bộ xương và vài món đồ đi kèm, những động tác, nghi lễ và lời nói trong buổi lễ đều hoàn toàn không thể suy luận từ những đồ vật này, thậm chí ngay cả một người cùng thời quan sát, nếu ko hiểu về tôn giáo của tộc Kogi, thì kết quả cũng không khác.

Khai phá nền nông nghiệp

Kết thúc Kỷ Băng hà, khoảng 8000 năm trước công nguyên, đã dẫn đến thay đổi lớn về mặt khí hậu và phong cảnh, do đó thay đổi về hệ thực vật và động vật. Có lẽ thay đổi lớn nhất cũng như quan trọng nhất là việc thay thế mối liên hệ giữa con người và các con thú bằng mối liên hệ giữa con người và cây cỏ. Tính linh thiêng của giống cái được nâng lên vị trí số một (ví dụ như “Mẹ Trái Đất”, nhiều khái niệm và hình mẫu nữ thần được tạo ra). Khi mà người phụ nữ đóng vai trò quyết định đối với cây trồng, là những người chủ trên đồng ruộng, địa vị của họ cũng được nâng cao, tạo ra những đặc tính thể chế mới, ví dụ như người chồng bị bắt buộc sống trong nhà của người vợ.

Mối liên hệ với cây cối cũng làm nẩy sinh quan niệm về thời gian tuần hoàn hay chu kỳ vũ trụ khi mà cây cối mọc lên, chết đi rồi lại mọc lên tiếp diễn không ngừng. Các nền văn hóa nông nghiệp phát triển một thứ có thể được gọi là tôn giáo vũ trụ, vì hoạt động tôn giáo tập trung xung quanh một bí ẩn trung tâm: sự đổi mới theo định kỳ của thế giới.

Thần thoại thời kỳ đố sắt

Người tiền sử đã biết đến kim loại từ thiên thạch rất lâu trước khi họ biết dùng quặng sắt. Khi Cortez hỏi những tộc trưởng Aztec họ kiếm được những con dao này ở đâu, các tộc trưởng đã chỉ tay lên trời. Do đó mà sắt mang tính chất linh thiêng.

Việc khai khác quặng làm thay đổi quan niệm tôn giáo. Bên cạnh sự linh thiêng từ bầu trời, giờ đây có cả sự linh thiêng trong lòng đất. Quặng được được xem như nuôi dưỡng bởi Mẹ Trái Đất, quặng được lấy ra từ “tử cung” là “hái quả xanh”, và nếu cho đủ thời gian, quặng có thể “chín” thành một kim loại hoàn hảo (do đó có những nhà giả kim tìm cách đẩy nhanh quá trình “chín” từ chì thành vàng).

Những người luyện kim, thợ rèn, thợ mỏ được ví như làm những công việc nguy hiểm và thiêng liêng, những bậc thầy về lửa, được đối xử như với những thầy tế, thầy thuốc hay pháp sư, rất được kính trọng nhưng cũng rất đáng sợ, đôi khi lại bị khinh bỉ.

I. Tôn giáo vùng Lưỡng Hà

Lịch sử khởi nguồn từ Sumer

Từ thời của người Sumer, nơi xuất hiện những chữ viết đầu tiên, bò là một biểu tượng tôn giáo. Thể dạng thần thánh được định nghĩa bởi sức mạnh và sự siêu việt của không gian, ở đây nghĩa là một bầu trời giông bão với những tiếng sấm (tiếng sấm được đồng hóa với tiếng bò rống). Do đó, những vị thần được tưởng tượng là những người trời, đó là lý do họ luôn phát ra ánh sáng chói lọi.

Tài liệu sớm nhất cho thấy có bộ ba vị thần vĩ đại theo sau là bộ ba thần thiên thể. Ba vị thần vĩ đại là An (thần bầu trời, an = bầu trời), En-lil (thần không khí, hay núi lớn) và En-ki (thần trái đất). Nữ thần Nammu là vị thần đã sinh ra bầu trời và trái đất, hiện thân của khởi nguyên nam và nữ. Cặp đôi đầu tiên này hợp nhất và sinh ra En-lil, thần không khí. Một số văn bản mô tả “sự khởi nguồn” toàn là những hoàn hảo và phúc lạc, mỗi thứ đều được tạo ra một cách hoàn hảo. Nhưng có vẻ như thiên đường thực sự là xứ sở Dilmun nơi không có bệnh tật và chết chóc, không có sư tử ăn thịt hay sói bắt cừu…”

Con người trước những vị thần

Người Sumer có ít nhất bốn cách giải thích về nguồn gốc loài người: (1) Những người đầu tiên mọc lên từ đất như cây cỏ. (2) Con người được một số nghệ nhân trong giới thần thánh nặn từ đất sét, và thần Nammu thêm vào trái tim, thần En-ki thổi hồn sự sống. (3) Nữ thần Aruru đã tạo ra loài người. (4) Con người được hình thành từ máu của hai vị thần Lagma.

Hai trong số những cách giải thích ở trên cho thấy con người chia sẻ cùng bản chất với các vị thần theo một cách nào đó: hơi thở của En-ki hay máu của Lagma. Điều này có nghĩa khoảng cách giữa người và thần cũng không quá xa. Con người được tạo ra để phục vụ các vị thần khi mà họ cũng có những nhu cầu cơ bản như ăn và mặc. Con người là tôi tớ của các vị thần, nhưng không phải là nô lệ. Không có khái niệm về tội lỗi, chuộc tội hay vật thế thân trong các văn bản. Điều này nghĩa là con người không chỉ là hầu cận của các vị thần, mà còn là kẻ bắt chước và cộng tác viên của họ. Các vị thần chịu trách nhiệm cho trật tự của vũ trụ, và mỗi dịp năm mới họ lại cố định lại vận mệnh của 12 tháng.

Trật tự của vũ trụ luôn bị khuấy động bởi một con Mãng Xà, đe dọa làm náo loạn thế giới, và những tội lỗi của loài người phải được thanh lọc bằng nhiều nghi thức khác nhau. Nhưng thế giới luôn được định kỳ thanh tẩy, tái tạo bằng lễ hội đầu năm a-ki-til (tiếng Sumer nghĩa là “sức mạnh làm thế giới sống lại lần nữa”).

Quan trọng hơn cả lễ hội đầu năm là việc xây dựng đền, vì đền là nơi ở của các vị thần. Theo truyền thống của người Sumer thì sau khi tạo ra loài người, một trong số các vị thần đã tạo ra năm thành phố, coi chúng như những trung tâm thờ phụng. Từ đó các vị thần truyền đạt những kế hoạch của họ trực tiếp đến những vị vua. Trong một giấc mơ, vua Gudea đã được một vị thần chỉ dẫn kế hoạch xây đền. Những hình mẫu của đền đài và thành phố là “siêu thế” vì chúng đã tồn tại từ trước trên thiên giới. Những thành phố của Babylon có nguyên mẫu là những chòm sao.

Huyền thoại đầu tiên về đại hồng thủy

Đại hồng thủy tương đương với sự kết thúc của thế giới, do đó hoàng tộc phải được mang lại nhân gian từ trời cao. Trái đất được cho là nổi lên từ mặt nước, và sau mỗi cơn đại hồng thủy lại nổi lên một trái đất mới. Phần lớn những huyền thoại về đại hồng thủy dường như liên quan đến nhịp điệu của vũ trụ: thế giới cũ, nơi con người đổ đốn, bị nhấn chìm trong nước và một thời gian sau, một thế giới mới trồi lên. Đối với nhiều biến thể khác, đại hồng thủy là kết quả của tội lỗi: đôi khi xảy ra chỉ vì một vị thần muốn kết thúc loài người. En-lil giận giữ vì sự ồn ào không thể chịu nổi của con người.

Thật khó mà xác định nguyên nhân của đại hồng thủy theo truyền thống vùng Lưỡng Hà, nhưng nếu xem xét những huyền thoại từ những nền văn hóa khác, thì có thể thấy nguyên nhân chính là tội lỗi của con người và sự già cỗi của thế giới. Vũ trụ dần dần suy tàn và rồi kết thúc, đó là lý do nó phải được tái tạo. Ý nghĩa biểu tượng của lễ hội đầu năm là sự kết thúc của thế giới cũng như tội lỗi của nhân loại để tạo điều kiện cho thế giới mới hình thành.

Hỗn tạp Sumer-Akkad

Phần lớn những thành phố-đền (thành phố nhưng cũng là đền) của Sumer được thống nhất bởi Lugalzaggisi, vua của Umma, khoảng năm 2375 trước công nguyên. Đây là biểu hiện đầu tiên của ý tưởng đế quốc. Một thế hệ sau vua Sargon của Akkad đã thực hiện một nỗ lực tương tự với thành công rực rỡ. Đế chế của Sargon sụp đổ sau 1 thế kỷ, thời kỳ sau đó là những binh biến liên tiếp lặp đi lặp lại, thổ phỉ xâm chiếm từ bên ngoài và rồi lại bị lật đổ từ bên trong. Hơn hai thế kỷ vùng Lưỡng Hà bị chia cắt thành vài bang. Chỉ đến khoảng năm 1700 trước công nguyên, vua Hammurabi của Babylon mới lập lại sự thống nhất. Mặc dù Hammurabi thiết lập một đế chế hùng mạnh nhưng chỉ chưa đầy một thế kỷ sau, người Kassite từ phương bắc bắt đầu quấy rối và cuối cùng giành chiến thắng vào năm 1525 trước công nguyên, trở thành những ông chủ của vùng Lưỡng Hà trong suốt bốn thế kỷ.

Việc chuyển đổi từ thành phố-đền sang thành bang và rồi đế chế là sự kiện quan trọng trong lịch sử vùng cận Đông. Ngôn ngữ Sumer dù không còn được nói nhưng vẫn được dùng trong các nghi lễ. ba vị thần vĩ đại vẫn như cũ nhưng ba vị thần thiên thể thì lấy tên theo tiếng Semit: mặt trăng Sin, mặt trời Shamash, sao Kim Ishtar. Địa ngục được cai quản bởi Ereshkigal và chống, Nergal. Một vài thay đổi nhỏ theo yê cầu của thể chế, ví dụ như chuyển tòa giám mục đến Babylon và thay En-lil bằng Marduk.

Những vị thần vĩ đại dần dần mất đi vị thế và thay vào đó, các tín đồ thờ phụng Marduk hoặc những vị thần thiên thể như Ishtar và đặc biệt là Shamash, sau này trờ thành vị thần bậc nhất.

Một sáng tạo khác của tín ngưỡng Akkad đó là thuật bói toán ra đời.

Sự sáng tạo ra thế giới

Enuma elish, cùng với Sử thi Gilgamesh, là sự sáng tạo quan trọng nhất của tín ngưỡng Akkad. Trong đó có kể lại sự hình thành thế giới để đề cao Marduk.

Thủa sơ khai chỉ có hoàn toàn là nước, trong đó có cặp đôi đầu tiên Apsu và Tiamat. Tiamat là lưỡng tính và từ thịt cùng nước mặn, một cặp thần khác được sinh ra, Lakhmu và Lakhamu. Cặp thứ ba là Anshar và Kishar. Thời gian trôi đi, từ sự kết hợp linh thiêng của của cặp thứ ba sinh thần bầu trời Anu, người mà sau đó sinh Nudimmud ( Ea hay En-Ki). Những vị thần trẻ chơi đùa, khóc lóc làm phiền đến sự nghỉ ngơi của Apsu, và Apsu phàn nàn điều này với Tiamat, nói rằng muốn hủy diệt chúng. Tiamat khóc lóc vì không muốn hủy diệt những con cháu của mình, nhưng Apsu không mủi lòng.

Khi những vị thần trẻ biết điều này, Ea “biết tuốt” đã quyết định hành động, dùng bùa chú khiến Apsu ngủ say và giết ông. Và thế là Ea trở thành thủy thần, thủy (nước) do đó gọi là apsu. Vợ Ea, Damkira, trong lòng nước sâu thẳm sinh ra Marduk. Ngay sau đó Anu quyết định tấn công tổ tiên. Ông gọi bốn ngọn gió để tạo ra những cơn sóng nhằm đến Tiamat. Các vị thần trở mặt với chính mẹ của mình: “Khi họ giết Apsu, chồng người, chẳng những người ko sát cánh bên ông, mà còn rời xa không nói một lời.”

Lần này Tiamat quyết định hành động. Bà tạo ra những con quái vật đủ loại, bao gồm cả Kingu. Bà gắn vào ngực Kingu Tấm bảng của số mệnh và ban cho ông sức mạnh tối cao. Những vị thần trẻ cảm thấy nhụt chí, Anu lẫn Ea đều không dám dương đầu với Kingu. Duy chỉ có Marduk là nhận lời tham chiến với một điều kiện: trước tiên ông phải được trở thành vị thần tối cao, điều mà các vị thần khác vội vàng đồng ý. Marduk đã giết được Tiamat với một mũi tên xuyên tim. Bè phái của bà toan chốn chạy nhưng đã bị Marduk chặn lại và phá hủy hết vũ khí; sau đó ông chói Kingu lại, giật lấy Tấm bảng của số mệnh và gắn lên ngực mình. Cuối cùng Marduk đập vỡ sọ Tiamat, cắt xác bà thành hai phần, một nửa trở thành vòm trời, nửa còn lại trở thành mặt đất. Ông xây dựng một bản mô phỏng của cung điện dưới nước và cố định quỹ đạo của các vì sao. Các cơ quan khác của Tiamat sau đó được dùng để tô điểm mặt đất (từ mắt bà chảy ra hai dòng Euphrates và Tigris – “lưỡng hà”, từ gút xoắn ở đuôi bà tạo thành đường nối trời và đất); sự tổ chức các hành tinh trong vũ trụ cũng như xác định “thời gian” cũng được thực hiện.

Cuối cùng Marduk quyết định tạo ra con người để phục vụ các vị thần. Ea đề nghị chỉ hiến tế một trong số những kẻ chiến bại. Kingu được chọn, và từ máu của Kingu Ea tạo ra loài người.

Nguồn gốc vũ trụ được sinh ra từ mâu thuẫn giữa hai phe thánh thần và mang đậm tính hai mặt: ví dụ như mặt đất được hình thành từ xác Tiamat (ác tính) nhưng đồng thời cũng linh thiêng nhờ những đền đài xây dựng trên nó. Vũ trụ là sự pha trộn giữa tốt và xấu, giữa những thứ thuộc về ác quỷ và những thứ thuộc về thánh thần.

Về con người, ở đây có sự khác biệt lớn với phiên bản của người Sumer, khi được tạo ra từ một nguyên liệu mang bản chất ác quỷ (máu Kingu, kẻ dẫn đầu đội quân quái vật); có thể nói con người sinh ra đã mang tội bởi chính nguồn gốc của mình. Hy vọng duy nhất của loài người là từ việc được Ea, một vị thần, tạo ra.

Gilgamesh đi tìm sự bất tử

Gilgamesh là vua của Uruk, con của nữ thần Ninsun và một phàm nhân, phần đầu của Sử thi Gilgamesh ca ngợi ông là toàn trí, dựng lên những công trình kiến trúc vĩ đại, nhưng ngay sau đó giới thiệu ông là một tên bạo chúa bạo hành phụ nữ và đầy đọa đàn ông bằng công việc. Dân chúng cầu nguyện các vị thần và các vị thần quyết định tạo ra một sinh vật khổng lồ có thể đương đầu với Gilgamesh, tên Enkidu. Gilgamesh biết sự tồn tại của Enkidu qua giấc mơ và dùng mỹ nhân kế dụ hắn đến Uruk. Hai nhà vô địch ngay lập tức ẩu đả khi vừa gặp nhau. Gilgamesh thắng cuộc, Enkidu sau đó trở thành bạn đồng hành của Gilgamesh trong những cuộc phiêu lưu diệt quái vật.

Trong một lần quay về Uruk sau khi tiêu diệt quái vật Huwawa. Gilgamesh gặp nữ thần Ishtar. Cô gạ Gilgamesh kết hôn nhưng chàng lạnh lùng từ chối. Xấu hổ, Ishatrar xin cha là Anu tạo ra một con bò trời để hủy diệt Gilgamesh và vương quốc của chàng. Gilgamesh và Enkidu phối hợp giết chết bò trời, say xưa với chiến thắng, Enkidu xé toạc đùi bò vứt dưới chân nữ thần đồng thời xỉ nhục nàng. Đây là thời khắc đỉnh điểm trong sự nghiệp của hai người anh hùng nhưng cũng là mở đầu cho một bi kịch. Đêm đó, Enkidu mơ thấy mình bị các vị thần kết tội. Ngày hôm sau Enkidu ngã bệnh và chết sau 12 ngày.

Gilgamesh đau khổ khóc thương đến không nhận ra. Chàng kinh sợ cái chết và muốn tìm sự bất tử. Chàng nhớ đến Utnapishtim nổi tiếng là người duy nhất sống sót sau trận đại hồng thủy (sau đó được các vị thần ban cho sự bất tử) và quyết định đi tìm ông.

Chuyến hành trình cảu Gilgamesh đầy những trở ngại. Chàng tìm được cách cổng nơi mặt trời đi qua mỗi ngày để hỏi tin tức về Utnapishtim, băng qua Vùng Nước Chết và tìm được ông để hỏi về sự bất tử. Utnapishtim nói sẽ trả lời nếu Gilgamesh có thể thức suốt 6 ngày 7 đêm. Gilgamesh, thay vào đó, ngủ liền 6 ngày 7 đêm cho đến khi được đánh thức. Chán nản, Gilgamesh chuẩn bị rời đi thì Utnapishtim, với sự gợi ý của vợ ông, chỉ cho chàng nơi có loại cây hồi xuân dưới đáy đại dương. Gilgamesh tìm được cây hồi xuân, sau vài ngày đi đường anh thấy một con suối mát và nhảy xuống tắm, không ngờ có con rắn gần đó lấy mất cái cây và tự lột da nó.

Số phận và những vị thần

Tư tưởng tôn giáo của người Akkad nhấn mạnh vào con người. Câu chuyện của Gilgamesh cho thấy số phận bấp bênh của họ, sự bất khả khi của việc giành lấy sự bất tử, kể cả đối với một vị anh hùng. Con người sinh ra đã là phàm trần và chỉ để phục vụ những vị thần. Khoảng cách giữa người và thần là không thể vượt qua. Tuy thế loài người không hề bị tách biệt bởi họ chia sẻ yếu tố tinh thần được xem là thần thánh, và qua những nghi lễ, cầu nguyện, họ hy vọng được ban phước bởi các vị thần. Họ sống trong những thành phố có những đền đài đại diện cho “những trung tâm của thể giới” là sự bảo đảm cho sự giao tiếp với các vị thần. Babylon đã là một Bab-il-ani hay “Cánh cổng của những vị thần”, qua đó những vị thần giáng lâm nhân gian.

Hàng loạt những kỹ thuật bói toán, dự đoán tương lai cũng được phát triển trong thời đại của người Akkad. Tất cả những kỹ thuật này lại dẫn đến sự tìm kiếm những “dấu hiệu” mà ý nghĩa của chúng sẽ được đem ra mổ xẻ với những quy luật xác định. Do đó, thế giới được hé lộ là có cấu trúc và điều hành bởi những quy luật. Nếu những “dấu hiệu” được giải mã, tương lai có thể được biết trước, nói cách khác là làm chủ được thời gian. Sự chú ý đến những “dấu hiệu” đã thật sự dẫn đến những phát kiến khoa học mà sau này được người Hy Lạp tiếp nối và hoàn thiện.

Đến giai đoạn năm 1500 trước công nguyên, thời kỳ sáng tạo của cư dân vùng Lưỡng Hà dường như kết thúc hoàn toàn. Nhưng những ảnh hưởng của văn hóa Lưỡng Hà thì vẫn tiếp diễn và tăng trưởng từ Tây Địa Trung Hải đến tận Hindu Kush. Điều quan trọng là những khám phá của người Babylon, ít nhiều một cách trực tiếp, đã trở thành những ngụ ý phổ biến liên hệ giữa trời và đất, vĩ mô và vi mô.

II. Những ý tưởng tôn giáo và khủng hoảng chính trị của Ai Cập cổ đại

Điều kỳ diệu không thể quên của “Lần Đầu”

Nền văn minh Ai Cập chưa bao giờ thất bại trong việc khiến những nhà sử học ngưỡng mộ. Từ thiên niên kỷ thứ tư, Ai Cập đã có liên hệ với nền văn minh Sumer và vay mượn được nhiều thứ như sử dụng con dấu ống, nghệ thuật xây bằng gạch, kỹ thuật đóng thuyền và trên hết là chữ viết vào thời điểm bắt đầu của Triều đại đầu tiên (khoảng 3000 năm trước công nguyên).

Nhưng cũng rất nhanh sau đó, nền văn minh Ai Cập đã phát triển những đặc tính rất riêng. Chính tôn giáo, đặc biệt là giáo lý về thần tính của pharaoh đã đóng góp vào sự hình thành cấu trúc của nền văn minh Ai Cập. Vị vua đầu tiên thống nhất Ai Cập là Menes, và ông đã cho xây dựng thủ đô tại Memphis. Sự thống nhất đất nước cũng tương tự như lập lại trật tự cho vũ trụ. Pharaoh, một “thần trần mắt thịt,” đã lập nên một thế giới mới, ở tầng cao hơn rất nhiều so với những ngôi làng của thời đồ đá. Vì ông bất tử, nên cái chết của ông chỉ có nghĩa là sự chuyển tiếp lên thiên đàng. Sự tiếp nối liên tục từ vị thần bằng xương bằng thịt này đến vị thần bằng xương bằng thịt khác là yếu tố bảo đảm cho trật tự vũ trụ không bị phá vỡ.

Điều đáng chú ý là hầu hết những phát kiến quan trọng nhất về xã hội học chính trị và văn hóa diễn ra trong thời gian của những triều đại sớm nhất. Chính những phát kiến này đã thiết lập những hình mẫu cho 15 thế kỷ tiếp theo. Sau triều đại thứ năm (2500-2300 trước công nguyên), hầu như không còn thứ gì quan trọng để thêm vào di sản văn hóa nữa. Sự “bất động” này, một đặc tính của văn minh Ai Cập, có nguồn gốc tôn giáo. Những động tháivà kỳ công của thủa sơ khai là một hệ quả logic trong thần học thể hiện rằngtrật tự của vũ trụ là một kết quả tột cùng của thánh thần, mọi sự thay đổi đều có nguy cơ thoái luivề sự hỗn loạn và do đó dẫn dến sự chiến thắng của những thế lựcma quỷ.

Tất cả mọi thứ, từ những hiện tượng tự nhiên cho đến tôn giáo và văn hóa (đền đài, lịch, chữ viết, nghi lễ, biểu tượng hoàng gia, v.v.) đều có được giá trị và nguồn gốc từ thời kỳ ban đầu, được gọi là Tep zepi, hay “Lần Đầu,” kéo dài xuyên suốt từ sự xuất hiện của thần sáng tạo trên mặt nước sơ khai cho đến lễ đăng quang của Horus. “Lần Đầu” cấu thành “Thời Hoàng Kim” của sự hoàn hảo tuyệt đối, trước khi giận giữ, hỗn loạn, tranh đấu xuất hiện, không có cái chết và bệnh tật trong thời đại kỳ diệu này, gọi là “thời đại của Re (hay Osiris hoặc Horus).

Các thần hệ và các nguồn gốc của vũ trụ

Có đến vài huyền thoại về vũ trụ với những vị thần khác nhau và sự Sáng Thế được địa phương hóa tại vô số những trung tâm tôn giáo. Chủ đề của chúng thuộc về những gì cổ xưa nhất: một gò đất, một bông hoa sen, một quả trứng nổi lên từ mặt nước sơ khai. Mỗi thành phố chính lại trao vai trò dẫn đầu cho những vị thần sáng thế của riêng nó. Thay đổi triều đại thường dẫn đến thay đổi thủ đô, điều này bắt buộc những nhà thần học của thủ đô mới phải kết hợp vài truyền thống về vũ trụ, xác định vị thần bản địa của họ với đấng sáng tạo.

Cũng như nhiều truyền thống khác, vũ trụ Ai Cập bắt đầu với một gò đất nổi lên từ mặt nước sơ khai. Sự xuất hiện này biểu thị sự xuất hiện không những của trái đất mà còn của ánh sáng, sự sống và ý thức. Tại Heliopolis, một nơi có tên là “Đồi Cát” được xác định là ngọn đồi sơ khai, cũng là một phần của đền mặt trời. Hermopolis thì nổi tiếng với cái hồ mà từ đó bông sen vũ trụ đã mọclên. Thực thế thì mỗi thành phố, mỗi thánh đường đều được coi là “trung tâm của thế giới,” nơi mà sự sáng thế bắt đầu.

Một phiên bản khác nói đến quả trứng sơ khai, nở ra “Chim Ánh Sáng,” hay bông sen sơ khai bao bọc Thái Dương Hài Tử, hoặc mãng xà sơ khai, cũng là hình ảnh đầu tiên và cuối cùng của thần Atum. Các giai đoạn của sự sáng thế: vũ trụ, thần hệ, tạo ra các sinh vật, v.v., được trình bày rất khác nhau. Theo những nhà thần học mặt trời của Heliopolis thì có 1 thành phố tại đỉnh của Vùng Đồng Bằng (tam giác), thần Re-Atum-Khepri đã tạo ra cặp thần đầu tiên, Shu (không khí) và Tefnut, những kẻlà cha mẹ của thần Geb (trái đất) và nữ thần Nut (bầu trời). Thần sáng thế thực hiện việc sáng thế bằng cách tự thủ dâm hoặc khạc nhổ. Tuy sự biểu đạt có phần thô thiển một cách ngây ngô nhưng ý nghĩa thì rất rõ ràng: thần thánh sinh ra từ chất liệu rất cơ bản của vị thần tối cao. Tương tự như thuyền thống Sumer, trời và đất đã từng hợp nhất cho đến khi bị chia cắt bởi Shu, thần không khí. Từ sự hợp nhất trời đất sinh ra Osiris và Isis, Seth và Nephthys, những nhân vật chính trong những câu chuyện về sau.

Tại Hermopolis, trung Ai Cập, những nhà thần học xây dựng một học thuyết phức tạp xung quanh Ogdoad, một nhóm tám vị thần, sau này thêm vào Ptah. Trên mặt hồ sơ khai của Hermopolis nổi lên một bông sen, từ đó chui ra “đứa trẻ bất khả xâm phạm, người nối dõi hoàn hảo sinh ra bởi Ogdoad, hạt giống thần thánh của các Tiền Thần,” “người kết nối những hạt giống của thần và con người.”

Tại Memphis, thủ phủ của các pharaoh từ Triều đại đầu tiên. Một thần hệ có hệ thống nhất được lưu hành xung quanh thần Ptah, văn bản chính của nó là “thần hệ Memphi” được khắc vào đá từ thời của pharaoh Shakaba (khoảng năm 700 trước công nguyên), nhưng nguồn gốc thì có từ khoảng 2000 năm trước đó. Rất ngạc nhiên là vũ trụ Ai Cập sớm nhất được biết đến cũng là triết lý nhất. Ptah sáng tạo bằng tư tưởng của ông (“trái tim” của ông) và ngôn từ của ông (“lưỡi” của ông). “Ngài, kẻ đã tự hóa hiện chính mình như trái tim (tư tưởng), ngài, kẻ đã tự hóa hiện mình như cái lưỡi (ngôn từ), dưới sự hiện diện của Atum, ngài là Ptah, kẻ cổ xưa nhất.” Ptah được tuyên bố là vị thần vĩ đại nhất. Atum chỉ được xem như tác giả của cặp thần đầu tiên. Chính Ptah “đã làm cho các vị thần tồn tại.” Sau cùng, các vị thần chiếm lấy những hình thái hiện hữu, thâm nhập vào “mọi loại cây, mọi loại đá, mọi loại đất…”

Con người (erme) được sinh ra từ nước mắt (erme) của thần mặt trời Re. Trong một bản ghi sau này (khoảng năm 2000 trước công nguyên) trong thời gian khủng hoảng có ghi: “Con người, gia súc của thần, đã được cung cấp đầy đủ. Ngài tạo ra bầu trời và trái đất vì lợi ích của họ…. Ngài tạo ra không khí để làm mũi họ linh động, vì họ là hình ảnh của ngài, sinh ra từ thịt của ngài. Ngài chiếu sáng bầu trời, ngài tạo ra cây cối và thú vật cho họ, chim chóc và cá để nuôi họ.”

Tuy nhiên, khi phát hiện ra con người âm mưu chống lại mình, ông đã quyết định hủy diệt họ. Chính Hathor đã nhận lãnh việc đồ sát. Nhưng khi cô đe dọa hủy diệt hoàn toàn loài người, Re viện cớ thoái thác và làm cô say xỉn. Rõ ràng “con người” là những cư dân đầu tiên của Ai Cập khi mà Ai Cập là quốc gia đầu tiên được hình thành, do đó là trung tâm của thế giới. Người Ai Cập là cư dân chân chính duy nhất; điều này giải thích việccấm người nước ngoài vào các thánh đường, những nơi tượng trưng cho một phiên bản nhỏ hơn của đất nước.

Trách nhiệm của một vị “thần trần mắt thịt”

Trong khi trật tự xã hội đại diện cho trật tự của vũ trụ thì hoàng tộc được tin rằng đã tồn tại từ khi hình thành thế giới. Kẻ sáng thế là vị vua đầu tiên, truyền ngôi lại cho con trai, vị pharaoh đầu tiên. Sự ủy thác này nói lên rằng hoàng tộc là một tổ chức thần thánh. Thực tế, những cử chỉ và hành động của pharaoh được mô tả bởi cùng những thuật ngữ dùng trong việc mô tả hành động của thần Re.

Pharaoh chính là hiện diện của ma’at, nghĩa thông thường là “trật tự hoàn mỹ” và do đó cũng có nghĩa là “đúng đắn,” “công lý.” Công việc của pharaoh đảm bảo sự ổn định của vũ trụ và đất nước do đó mà sự sống được tiếp diễn. Thực tế thì sự khởi nguồn của vũ trụ được lặp lại mỗi buổi sáng, khi mà thần mặt trời đẩy lùi mãng xà Apophis, dù vậy không thể tiêu diệt được nó bởi vì hỗn loạn (bóng tối nguyên thủy) là hư ảo và do đó không thể bị hủy diệt. Hoạt động chính trị của pharaoh lặp lại chiến công của Re, khi quân thù tiến đến biên giới, chúng được đồng hóa với Apophis, và chiến thắng của pharaoh tái hiện vinh quang của Re. Chắc chắn rằng pharaoh là nhân vật chính duy nhất trong những chiến dịch quân sự và những chiến thắng. Khi Ramses III xây mộ, ông lặp lại y nguyên tên những thành phố đã chinh phục từ mộ Ramses II. Những người Lybi, nạn nhân của Pepi II, phải chịu gọi chung tên riêng với những người có tên xuất hiện trong đền Sahure tận hai thế kỷ sau.

Sự “thăng thiên” của pharaoh

Niềm tin sớm nhất của người Ai Cập về sự tồn tại sau khi chết giống với bằng chứng có được về hai truyền thống trên toàn thế giới: nơi ở của người chết hoặc là dưới lòng đất, hoặc là ở trên trời hay chính xác hơn là giữa các vì sao. Sau khi chết, linh hồn tìm đường đến những vì sao và chia sẻ sự vĩnh hằng. Bầu trời được tưởng tượng là Mẫu Thần và cái chết tương đương với một sự tái sinh ở thiên thể giới. Tình mẹ từ bầu trời ám chỉ rằng người chết phải được sinh ra lần thứ hai; sau sự tái sinh trên trời này anh ta sẽ được uống sữa của Mẫu Thần (đại diện trong hình dạng con bò cái).

Thế giới khác được bản địa hóa thành thế giới ngầm dưới lòng đất là niềm tin chủ yếu ở thời kỳ đồ đá mới. Sớm nhất từ khi bắt đầu thiên niên kỷ thứ tư đã có những biểu hiện nghi lễ phức hợp Osiris từ những truyền thống tôn giáo nhất định gắn liền với nông nghiệp. Osiris là vị thần Ai Cập duy nhất phải chịu đựng một cái chết dữ dội.

Những văn bản kim tự tháp gần như là mô tả duy nhất về số phận sau khi chết của nhà vua. Mặc cho những nỗ lực của những nhà thần học, các học thuyết không hề tuân theo một hệ thống hoàn hảo. Một vài ý trái chiều tồn tại giữa những điều giống nhau, và đôi khi có cả những khái niệm đối nghịch nhau. Phần lớn nhấn mạnh rằng pharaoh, con trai của Atum (tức Re), sinh ra bởi Vị thần vĩ đại trước khi tạo ra thế giới, không thể chết; nhưng những văn bản khác lại khẳng định với nhà vua rằng thân thể của ông không thể bị thối rữa. Rõ ràng ở đây có hai hệ tư tưởng chưa thể thống nhất. Tuy nhiên, phần lớn cũng đề cập đến chuyến hành trình lên thiên giới của nhà vua. Ngài bay đi trong hình dạng một con chim. Thỉnh thoảng ngài lại lên trời bằng một cái thang. Trong quá trình leo thang nhà vua đã là một vị thần có bản chất khác biệt hoàn toàn với loài người.

Dù thế nào thì trước khi trước khi đến thiên xứ ở phía Tây, gọi là “Cánh đồng lễ vật,” vị pharaoh phải trải qua vài trở ngại nhất định. Lối vào được bảo vệ bởi một cái hồ có bờ hồ rất quanh co, và người lái đò có quyền phán xét. Để được lên thuyền, vị pharaoh phải hoàn thành tất cả các nghi lễ thanh tẩy và trên hết là phải trả lời những câu hỏi chất vấn mào đầu, nghĩa là phải trả lời theo khuôn mẫu như kiểu những mật mã. Đôi khi nhà vua trông cậy vào lời biện hộ, hay ma thuật hoặc thậm chí đe dọa. Ngài cầu khẩn những vị thần (đặc biệt là Re, Thoth và Horus) hoặc van xin hai cây sung mà mặt trời mọc lên giữa chúng hàng ngày, xin để cho ngài được đi qua đến “Cánh đồng lau sậy.”

Đến được thiên đường, vị pharaoh được đón nhận trong chiến thắng bởi thần mặt trời, và sứ giả được gửi đi bốn phương thế giới để tuyên bố chiến thắng của ngài. Tại đó, vị vua tiếp nối cuộc sống dưới trái đất: ngồi trên ngai vàng, tiếp nhận sự sùng kính, phán quyết và ra lệnh. Dù ngài hưởng sự bất tử một mình nhưng xung quanh ngài vẫn có những công dân, chủ yếu là những thành phần trong gia đình và quan chức cấp cao (là những người được chôn gần mộ ngài). Những người này được nhận định như là những vì sao và được gọi là “những người được tôn vinh.”

Như đã nói, những văn bản kim tự tháp không phải luôn thống nhất. Bằng việc nhận định ngài với Re, thái dương thần hệ nhấn mạnh đặc quyền của pharaoh: ngài không chịu sự phán xét của Osiris, kẻ cai quản người chết. “Re-Atum không giao người cho Osiris, kẻ không phán sét trái tim người và không có quyền gì với trái tim người…. Osiris, ngài sẽ không giữ được ngài ấy, con trai người (Horus) sẽ không giữ được ngài ấy.” Những văn bản khác còn khẳng định Osiris là vị thần đã chết vì ông đã bị sát hại và quẳng xuống nước. Một vài đoạn nhất định thì lại bóng gió rằng pharaoh cũng chính là Osiris: “Ngay cả khi Osiris sống, vị vua Unis này sống; ngay cả khi Osiris không chết, vị vua Unis này không chết.”

Osiris-vị thần bị sát hại

Theo tất cả các truyền thống, Osiris là một vị vua huyền thoại, nổi tiếng với sự năng nổ và công bằng ông dùng để cai trị Ai Cập. Seth, em trai ông, đã đặt bẫy và sát hại ông. Vợ ông, Isis, một pháp sư vĩ đại đã thành công trong việc thụ thai bởi Osiris khi đã chết. Sau khi thiêu xác ông, nàng chạy trốn đến Vùng Đồng Bằng; tại đó, trốn trong bụi cây nàng đã sinh ra một đứa con trai tên Horus. Khi trưởng thành, Horus khiến cho những vị thần của Ennead nhận ra vị trí của mình, sau đó tấn công ông chú Seth.

Đầu tiên, Seth đã móc được một mắt của Horus, nhưng cuộc chiến vẫn tiếp tục và cuối cùng Horus giành chiến thắng. Chàng khôi phục con mắt và dâng nó cho Osiris (khi đó Osirus trở lại cuộc sống). Những vị thần kết tội Seth phải vác theo nạn nhân của ông (ví dụ như Seth biến thành 1 chiếc thuyền và trở Osiris trên sông Nile).Nhưng cũng như mãng xà Apophis, Seth không thể bị hủy diệt, vì ông cũng là một thế lực hư ảo. Sau chiến thắng, Horus đi xuống vùng đất của người chết và thông báo tin tốt: được nhận ra là người nối dõi của Osiris, chàng được phong vua. Và như thế chàng đã “thức tỉnh” Osiris.

Chính màn cuối của vở kịch đã soi sáng trạng thái của đặc trưng của Osiris. Horus tìm thấy ông trong trạng thái hôn mê vô thức và đã hồi sinh ông. Tuy nhiên, Osiris được hồi sinh như một linh hồn và năng lượng sống. Chính ông sau đó bảo đảm cho sự sinh sôi của cây cỏ và tất cả sức mạnh của việc tái sản xuất. Ông được mô tả như là toàn bộ mặt đất hoặc được so sánh với đại dương bao quanh mặt đất. Nói cách khác Osiris (pharaoh quá cố), bảo đảm sự thịnh vượng của vương quốc mà con ông, Horus, cai trị (tân pharaoh).

Theo thái dương thần hệ, pharaoh là con của Re; nhưng vì ngài nối nghiệp vị vua quá cố (tức Osiris), pharaoh đương nhiệm cũng là Horus. Sự căng thẳng do phân tách giữa hai hướng tín ngưỡng, thái dương hóa và Osiris hóa của Ai Cập đến từ chức năng của hoàng tộc. Như chúng ta đã biết, nền văn minh Ai Cập là kết quả thống nhất thượng Ai Cập và hạ Ai Cập thành một vương quốc. Ban đầu Re trị vì trong Thời Hoàng Kim; nhưng từ thời của trung Ai Cập (khoảng năm 2040-1730 trước công nguyên) vai trò này được chuyển sang Osiris. Mối quan hệ cha con Osiris-Horus đảm bảo sự vận hành thịnh vượng của vương quốc. Với tư cách là cội nguồn của sự mầu mỡ, Osiris khiến cho sự trị vi của con trai cũng là người kế nghiệp ông đâm hoa kết trái.

Chúng ta thấy ở đây một sự giá trị hóa táo bạo cho cái chết, từ vô nghĩa trở thành ý nghĩa. Hầm mộ trở thành nơi để người chết chuyển hóa thành akh (“linh hồn biến đổi”). Osiris tiến lên thành một hình mẫu không những cho những vị vua mà còn cho cả những cá nhân. Nhưng cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên đã đột ngột kết thúc thời kỳ cổ đại của nền văn minh Ai Cập. Và khi trật tự được tái thiết, Osiris trở thành trung tâm của tiền đề đạo đức và niềm hy vọng tôn giáo. Đó là khởi đầu của một quá trình được mô tả là “sự dân chủ hóa” của Osiris.

Osiris trở thành hình mẫu của những ai muốn chinh phục cái chết. Noi theo ví dụ về Osiris và với sự giúp đỡ của ông, những người chết sẽ có thể biến đổi thành những “linh hồn”, những sinh linh hòa nhập hoàn hảo và không thể bị phá hủy. Osiris thay thế Re trong vai trò phán xét người chết; ông trở thành Bậc thầy công lý, tạo lập một cung điện trên Gò đất sơ khai, trung tâm của thế giới. Trong khi đó, chúng ta sẽ thấy rằng giải pháp cho sự căng thẳng giữa Re-Osiris sẽ được tìm ra trong thời gian của trung Ai Cập và Đế Chế.

Bất tỉnh: Vô chính phủ, tuyệt vọng và “sự dân chủ hóa” với thế giới bên kia

Pepi II là vị pharaoh cuối cùng của Triều đại thứ 6. Ngay sau cái chết của ông khoảng năm 2200 trước công nguyên, Ai Cập rúng động bởi nội chiến và xụp đổ. Có thời điểm Ai Cập chia thành 2 vương quốc, phương bắc với thủ phủ là Heracleopolis, và phương nam đặt thủ đô tại Thebes. Nội chiến kết thúc với chiến thằng thuộc về người Thebe, vị vua cuối cùng của Triều đại thứ 11 đã tái thống nhất đất nước. Thời kỳ vô chính phủ được các nhà sử học gọi là Thời kỳ trung gian thứ nhất, kết thúc năm 2050 trước công nguyên với sự đăng quang của Triều đại thứ 12.

Chính trong Thời kỳ trung gian mà “sự dân chủ hóa” của sự sống và cái chết diễn ra: giới quý tộc sao chép lên quan tài những văn bản kim tự tháp vốn là độc quyền của các pharaoh. Đây cũng là thời kỳ duy nhất trong lịch sử Ai Cập pharaoh bị cáo buộc yếu kém và thậm chí vô đạo đức.

Các tỉnh thành và đền đài ngừng đóng thuế vì nội chiến. Những mộ phần trong kim tự tháp bị cướp bóc dã man.

Có một kiểu phá hoại làm kinh hoàng người dân Ai Cập: đập phá mộ phần tổ tiên, ném xác ra ngoài và lấy những phiến đá cho mộ của riêng mình. Như Ipu-wer đã nói: “Rất nhiều người chết được mai táng trên sông. Dòng sông là một ngôi mộ.”

Sự xụp đổ của tất cả những thể chế truyền thống làm dấy lên cùng lúc thuyết bất khả tri và chủ nghĩa bi quan. Nếu pharaoh không còn cư xử như hiện thân của một vị thần, mọi thứ trở lại trở trạng thái nghi hoặc, đầu tiên là ý nghĩa của sự sống và sau đó là tính xác thực của sự tồn tại sau khi chết.

Thần hệ và chính trị của “sự thái dương hóa”

Những vị vua xuất sắc cai trị Trung vương quốc Ai Cập, hầu hết thuộc về Triều đại thứ 12, đã mở rộng kinh tế và uy danh Ai Cập ra thế giới. Amon, một trong tám thần được thờ phụng ở Hermopolis, đã lên đến vị trí tối cao với danh hiệu Amon-Re, được nhận định là mặt trời (thái dương), biểu hiện tối cao của thần. Do “sự thái dương hóa” này mà Amon trở thành vị thần toàn cõi của Đế chế.

Nghịch lý ở chỗ đế chế này là sự ảnh hưởng không thể tránh khỏi của cuộc khủng hoảng thứ hai sau sự diệt vong của Triều đại thứ 12. Các vị vua nối tiếp nhau cho đến khi bị người Hyksos xâm lược năm 1674 trước công nguyên. Không biết vì nguyên nhân gì mà những thành bang đã tan rã từ hai thế hệ trước khi có cuộc tấn công của người Hyksos. Nhưng dù sao đi nữa thì người Ai Cập cũng không thể chống chọi lại được với những chiến binh đáng gờm dùng ngựa, xe song mã, giáp và hợp tiễn.

Sau khi giành chiến thắng, những kẻ chinh phục định cư tại Vùng Đồng Bằng và cai quản phần lớn hạ Ai Cập. Tuy vậy họ đã sai lầm khi khoan dung cho những người nối dõi của pharaoh chỉ để đổi lấy cống vật. Người Hyksos du nhập vào Ai Cập những vị thần của Syria, nổi bật trong số đó là Baal và Teshub, những vị thần này được đồng hóa với Seth. Việc đưa Seth, kẻ giết Osiris lên vị trí tôi cao rõ ràng là một sự xỉ nhục, những cũng cần biết rằng giáo phái tôn thờ Seth ở Vùng Đồng Bằng đã có từ Triều đại thứ 4.

Đối với người Ai Cập, việc xâm lược của người Hyksos là một thảm họa rất khó có thể hiểu nổi. Thêm vào đó, khi những người Châu Á thuộc địa hóa Vùng Đồng Bằng, những kẻ chinh phục này đã rút vào những vùng đất kiên cố, bỏ mặc nền văn minh Ai Cập. Nhưng người Ai Cập đã biết học hỏi ngày càng nhiều hơn để đối phó với những kẻ chinh phục có vũ trang. Một thế kỷ sau sự xụp đổ (khoảng năm 1600 trước công nguyên), Vị pharaoh của Triều đại thứ 17, Thebes, đã tiến hành chiến tranh giải phóng. Chiến thắng cuối cùng trùng hợp với sự lên ngôi của Triều đại thứ 18 (1562-1308 trước công nguyên) và thành lập Đế Chế.

Sự cô lập của Ai Cập kết thúc cũng đánh dấu sự suy thoái về truyền thống văn hóa. Chính sách quốc tế của Ai Cập đã mở rộng cánh cửa cho văn hóa trên toàn thế giới du nhập. Hoàng loạt những vị thần ngoại lai được đồng hóa với những vị thần quốc gia. Hơn thế nữa, những vị thần Ai Cập còn bị tôn thờ ở hải ngoại, Amon-Re trở thành vị thần toàn cầu.

“Sự thái dương hóa” Amon tạo điều kiện cho sự đồng bộ và đưa Amon trở lại vị trí số một. Việc tôn thờ thần mặt trời là sự chuẩn bị cho một sự thống nhất về mặt tín ngưỡng: sự tối thượng của nguồn gốc thần thánh dần dần hình thành từ thung lũng sông Nile đến Syria và Anatolia. Ở Ai Cập, học thuyết về mặt trời này đã dấy lên những căng thẳng chính trị. Những vị thần liên quan trực tiếp hơn đến việc cai quản thành bang. Trong khi các thần lại giao tiếp qua các thầy tế, do đó thầy tế tối cao có quyền hành khá lớn, chỉ sau pharaoh. Ai Cập đang trên con đường trở thành một nền chính trị thần quyền. Chính sự chính trị hóa quá mức của hệ thống thầy tế đã thắt chặt căng thẳng biến những định hướng thần học khác nhau trở thành hoàn toàn đối nghịch.

Akh-en-Aton hay sự tái thiết bất thành

Cuộc cách mạng Amarna (1375-1350) hay sự thăng cấp của Aton, đĩa mặt trời, thành vị thần tối cao đã một phần giải thích quyết định thoát khỏi ảnh hưởng từ thầy tế tối cao của vua Amen-hotep IV. Ngay khi lên ngôi ông đã tước quyền cai trị những thứ tài sản của thần khỏi tay thầy tế tối cao. Sau đó ông đổi tên thành Akh-en-Aton (kẻ phục dịch Aton), bỏ thủ đô Thebes “thành phố của Amon” để xây một thủ đô khác cách đó 500km về phía bắc và đặt tên là Akhet-Aton. Ở đó ông cho xây nhiều cung điện và đền đài của Aton mà không có mái che với ngụ ý rằng mặt trời được tôn thờ với tất cả vinh quang. Với môn nghệ thuật tượng hình, ông khuyến khích một phong cách mà sau này gọi là “tự nhiên tính” Amarnan, và cũng là lần đầu tiên, ngôn ngữ phổ thông được dùng trong các văn bản hoàng gia. Ông bỏ các tập tục bó buộc nghiêm ngặt bởi lễ nghi và cho phép việc triệu tập ngay lập lức các thành viên trong gia đình và các thân tín.

Tất cả những thay đổi này được bao biện bằng một giá trị tín ngưỡng mà Akh-en-Aton tán thành, ma’at hay “sự thật”, tất cả là “tự nhiên”, phù hợp với nhịp điệu của sự sống.

Akh-en-Aton đã loại bỏ tất cả các vị thần khác để thờ Aton, vị thần tối cao, đĩa măt trời, cội nguồn sự sống. Ngài được ca ngợi là “tạo ra hạt giống trong người đàn bà,” “tia sáng của ngài bao bọc tất cả,”… Chính Aton đã tạo ra mọi vùng đất, đàn ông và đàn bà, đặt mọi thứ đúng vị trí của nó cũng như cung cấp mọi thứ cần thiết.

Trong thời gian trị vì, với sự thụ động trong quân sự và chính trị, Akh-en-Aton đã để mất phần chủ quyền ở Châu Á. Người kế nghiệp ông là Tut-ankh-Amon (1357-1349) đã tái lập quan hệ với thầy tế tối cao và quay lại Thebes. Không lâu sau đó vị pharaoh cuối cùng của Triều đại thứ 18 huy hoàng qua đời.

Theo quan điểm chung của các học giả, sự kết thúc của Triều đại thứ 18 cũng đánh dấu kết thúc cho sự sáng tạo của những tài năng Ai Cập.

Sự kết hợp cuối cùng: Liên kết Re-Osiris

Những nhà thần học của Đế Chế Mới nhấn mạnh trong việc bổ khuyết lẫn nhau của những vị thần đối lập. Trong cuốn Litany of Re, thần mặt trời được gọi là “Kẻ đã hợp nhất cùng nhau”; ông được giới thiệu dưới hình dạng xác ướp của Osiris, đội vương miện thượng Ai Cập. Hai vị thần được tiếp nhận là một trong cơ thể một vị pharaoh quá cố: sau quá trình Osiris, vị vua hồi sinh như một vị Re trẻ. bởi vì lộ trình của mặt trời đại diện cho số mệnh một con người: chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác; từ sống đến chết rồi lại được tái sinh. “Re kẻ an trú trong Osiris, và Osiris kẻ an trú trong Re.” Bằng việc luân chuyển xuống thế giới khác, nhà vua trở nên tương đương với nhị nguyên Osiris-Re.

Sự liên kết và hóa hợp các vị thần đã có trong tín ngưỡng Ai Cập từ thời xa xưa. Lòng tin vào quá trình hai mặt này hé lộ ý nghĩa bí mật trong sự tồn tại của con người: sự bổ sung giữa sự sống và cái chết. Sự kết hợp này xác nhận chiến thắng của Osiris, và cùng lúc gán cho ông một ý nghĩa mới. Từ Triều đại thứ 18, Osiris trở thành quan tòa của người chết. Hai việc phải thực hiện sau khi chết là “xét xử” và “cân trái tim” được thực hiện trước sự hiện diện của Osiris. Cuốn Sách Của Người Chết là chỉ dẫn tối hậu cho linh hồn ở thế giới bên kia để đảm bảo sự thành công đối với những trở ngại của “xét xử” và “cân trái tim.”

Cuốn Sách Của Người Chết đề cập đến sự nguy hiểm của “chết lần 2” và tầm quan trọng trong việc duy trì trí nhớ và nhớ được tên. Không kém quan trọng là việc người chết khao khát nhận định mình như một vị thần: Re, Horus, Osiris, Anubis, Ptah, v.v. Việc biết tên của một vị thần tương đương với việc có được một quyền lực nhất định lên ngài.

Một trong những chương quan trọng nhất của cuốn sách, chương 125, dành cho việc phán xét linh hồn trong một đại điện gọi là “Thuộc về hai Ma’at.” Trái tim người chết được đặt lên một bên cân, bên kia là một chiếc lông vũ hay một con mắt, biểu tượng của ma’at. Sau đó người chết phải đọc lại một lời cầu nguyện để xin trái tim không làm chứng chống lại anh ta.

Bởi sự chiêm nghiệm về cái chết mà những tài năng Ai Cập đã nhận ra sự kết hợp cuối cùng này, thứ tồn tại tối thượng duy nhất cho tận đến ngày tàn lụi của nền văn minh Ai Cập.

III. Các cự thạch, đền đài, trung tâm tế lễ: phương Tây, Địa Trung Hải, thung lũng Indus

Hòn đá và quả chuối

Các công trình cự thạch ở phương Tây và Bắc Âu đã làm say mê các nhà nghiên cứu hơn một thế kỷ. Nhìn vào sự sắp xếp ở Carnac hay những cấu trúc bộ ba khổng lồ của Stonehenge, thật khó mà khiến người ta không tự hỏi về mục đích và ý nghĩa của chúng. Khả năng công nghệ của những nông dân Thời kỳ đá mài làm khơi dậy sự kinh ngạc. Làm thế nào mà họ dựng đứng được khối đá 300 tấn và nâng được phiến đá 100 tấn? Không những thế, những di tích này không hề đơn độc, chúng hình thành một quần thể cự thạch phức hợp trải dài từ bờ biển Địa Trung Hải của Tây Ban Nha, bao phủ Bồ Đào Nha, một nửa nước Pháp, bờ biển miền tây nước Anh, tiếp nối đến tận Ireland, Đan Mạch và bờ biển nam của Thụy Điển. Trải qua hai thế hệ, những người tiền sử đã dùng mọi nỗ lực để biểu lộ sự liên tục của toàn bộ văn hóa cự thạch Châu Âu – một sự liên tục chỉ có thể giải thích bởi sự rải rác của phức hợp cự thạch bắt nguồn từ một trung tâm tại Los Millares, một tỉnh của Almenia.

Phức hợp cự thạch gồm ba loại cấu trúc: (1) menhir (men = đá, hir = dài) là một tảng đá lớn, đôi khi cao, dựng thẳng đứng; (2) cromlech (crom = cong, tròn và lech = đặt) là một nhóm menhir xếp thành vòng tròn hay bán nguyệt (nổi tiếng nhất là Stonehenge ở gần Salisbury), đôi khi menhir xếp thẳng hàng thành nhiều hàng song song như ở Carnac, Brittany; (3) dolmen (dol = bàn, men = đá) tạo bởi một phiến đá khổng lồ được đỡ bởi vài khối đá dựng đứng sắp xếp theo kiểu quây lại hoặc một căn phòng. Ban đầu các dolmen được bao phủ bởi một gò đất.

Nói một cách khắt khe hơn thì dolmen là nơi mai táng. nhưng sau này được chuyển thành lối đi có mái che bằng cách thêm vào một loại phòng tiền sảnh dưới dạng một hành lang dài che phủ bởi đá phiến. Một vài dolmen có kích thước khổng lồ, ví dụ như ở Soto, hay mộ địa có tới hàng trăm lối đi ở Los Millares. Việc chôn cất có thể lên đến hàng trăm người, đại diện cho vài thế hệ có cùng gens. Đôi khi phòng mai táng có một cái cột ở giữa, và vài hình vẽ vẫn còn có thể nhận ra được. Tại Ireland phòng mai táng khá cao và có tường được trang trí bằng những hình điêu khắc.

Tất cả những điều trên là bằng chứng rõ ràng của giáo phái thờ người chết. Trong khi nhà ở của những người nông dân thời kỳ đồ đá mới nhỏ bé và mong manh thì cũng chính họ lại xây nhà cho người chết bằng đá tảng. Đá dẫn lộ một khoảng thời gian không có kết thúc, sự vĩnh cửu, bất hoại.

Khi lặng ngắm những di tích cự thạch vĩ đại này, chúng ta không thể không nhớ đến một chuyện thần thoại Indonesia. Thủa ban đầu, khi trời và đất còn rất gần nhau, Chúa treo một món quà vào một sợi dây để ban cho cặp đôi đầu tiên. Đến một ngày Ngài gửi cho họ một hòn đá, nhưng những tổ tiên đã từ chối trong sự ngạc nhiên và tức giận. Mấy hôm sau Chúa thả dây treo lần nữa với một quả chuối và quà được chấp nhận ngay lập tức. Sau đó tổ tiên nghe thấy giọng Ngài nói: “Vì các ngươi đã chọn quả chuối nên sự sống của các ngươi cũng như quả chuối. Nếu các ngươi chọn hòn đá, sự sống của các ngươi sẽ như sự tồn tại của hòn đá, bất biến và bất tử.”

Như chúng ta đã thấy, việc khai phá nền nông nghiệp đã thay đổi tận gốc rễ quan niệm về sự tồn tại của con người: mong manh như sự sống của cây cỏ. Con người chia sẻ vòng đời như cây cỏ: sinh ra, sống, chết, tái sinh. Những di tích cự thạch có thể được phân tích như sự tìm kiếm sức mạnh và sự trường tồn thông qua cái chết. Người chết trở về trong lòng Đất Mẹ với hy vọng chia sẻ sinh mệnh như một hạt giống; nhưng họ cũng liên kết một cách bí ẩn với những khối đá của phòng mai táng, do đó trở nên mạnh mẽ và bất hoại như đá.

Phái thờ cúng người chết cự thạch dường như không chỉ chắc chắn về sự sống của linh hồn mà trên hết, tự tin vào sức mạnh của tổ tiên và hy vọng họ sẽ bảo vệ và giúp đỡ người sống. Hơn nữa, trong khi giao tiếp lễ nghi với tổ tiên là chìa khóa cho những hoạt động tôn giáo của những người xây cự thạch, thì đối với văn hóa nguyên thủy, sự tách biệt giữa người sống và người chết lại là một quy tắc khắt khe.

Một số menhir được dựng lên độc lập với việc mai táng. Khả năng lớn nhất là những khối đá này tạo thành một dạng “cơ thể thay thế” mà linh hồn người chết sẽ nhập vào. Menhir đôi khi được trang trí với hình người, nói cách khác, đó là nơi “trú ngụ”, là“cơ thể” của người chết. Tương tự, những hình vẽ cách điệu trên tường của các dolmen, cùng với những tượng thần nhỏ khai quật tại cự thạch ở Tây Ban Nha, có khả năng là đại diện cho tổ tiên. Trong những trường hợp nhất định, một niềm tin song hành có thể được nhận ra: Linh hồn tổ tiên có thể ra vào mộ tùy ý. Những tảng đá đục lỗ để đóng một số cự thạch mộ, còn gọi là “lỗ hồn,” cho phép giao tiếp với người sống.

Ý nghĩa tình dục của menhir cũng cần được xem xét vì bằng chứng toàn cầu của nó cũng như trong nhiều tầng lớp văn hóa. Những người nông dân Châu Âu đầu thế kỷ này vẫn còn tin vào tính thụ tinh của menhir. Để có bầu, những cô gái Pháp trượt dọc một hòn đá và ngồi lên một tảng đá dựng đứng hoặc cà bụng vào những phiến đá nhất định.

Chức năng sinh sản này không thể giải thích bằng biểu tượng dương vật của menhir. Ý tưởng gốc rễ, cơ bản là “sự biến hóa” tổ tiên vào trong đá, hoặc bằng cách dùng menhir như một “cơ thể thay thế,” hoặc bằng cách tích hợp những thành phần cơ bản của người chết (xương, tro, “linh hồn”) vào một cấu trúc thật của di tích. Dù bằng cách nào thì người chết cũng “làm sống” tảng đá, cư trú trong một cơ thể mới bất hoại. Vì thế menhir hay cự thạch mộ cấu thành một bể chứa vô tận của sức sống và nguồn lực. Những người chết trở thành những bậc thầy về sinh sản và thịnh vượng. Nói theo kiểu thần thoại Indonesia, họ đã thành công trong việc sở hữu cả hòn đá lẫn quả chuối.

Trung tâm tế lễ và việc xây dựng cự thạch

Một vài phức hợp cự thạch, ví dụ như ở Carnac, không nghi ngờ gì cấu thành những trung tâm tế lễ quan trọng. Stonehenge, ít nhất ở dạng nguyên sơ, là một thánh địa đảm bảo mối liên hệ với tổ tiên. Chúng ta thấy một sự giá trị hóa tương tự gán cho những không gian linh thiêng thành“trung tâm của thế giới,” một địa điểm với đặc quyền đủ để giao tiếp giữa thiên đường và địa ngục, nghĩa là với các vị thần, các nữ thần của thế giới ngầm và linh hồn của người chết.

Tại một số vùng của Pháp, Iberian Peninsula và đâu đó, có dấu vết của sự tôn thờ nữ thần, thần hộ mệnh của người chết. tuy nhiên không đâu có sự kiến thiết cự thạch, giáo phái thờ người chết và sùng bái Nữ thần vĩ đại một cách ngoạn mục như ở Malta. Đến nay đã có 17 ngôi đền được khai quật và con số được cho là còn lớn hơn, điều này biện minh cho ý kiến của một số học giả cho rằng suốt thời kỳ đồ đá mới Malta là một “đảo thiêng.” Phát hiện giật gân nhất là một bức tượng nữ giới khổng lồ-rõ ràng là một nữ thần-trong tư thế ngồi.

Tại một mộ địa đáng chú ý ở Hal Saflieni, giờ là Hypogeum, có xương của khoảng 7000 người đã được khai quật. Chính Hypogeum đã mang đến những bức tượng phụ nữ trong tư thế nằm, gợi ý một nghi lễ tiềm phục.

Trong khi Hypogeum vừa là mộ địa vừa là nơi thờ phụng, thì lại không tìm thấy sự chôn cất nào. dường như thánh đường Malta có cấu trúc cong độc nhất; các nhà khảo cổ học mô tả nó như hình quả thận, nhưng theo Zuntz thì nó gần như giống hệt tử cung. Vì ngôi đền được có mái che phủ, không có cửa sổ và gần như tối om, nên đi vào thánh đường cũng tương đương với vào “ruột trái đất” hay tử cung của nữ thần thế giới ngầm. Có thể nói người chết được đặt trong lòng của trái đất để sẵn sàng cho một cuộc sống mới. Người sống vào đó cũng là vào cơ thể của nữ thần. Thực ra, Zuntz kết luận rằng những di tích này cấu thành giai đoạn của “giáo phái bí ẩn nói một cách đúng nghĩa đến từng chữ.”

Bí ẩn của những cự thạch”

Một thập kỷ trước các nhà khảo cổ giải thích văn hóa cự thạch là do ảnh hưởng từ những thực dân đến từ phía tây Địa Trung Hải, nhưng thực tế thì việc chôn cất tập thể đã xảy ra từ thiên niên kỷ thứ ba. Trong quá trình phát tán sang phương Tây, cấu trúc của dolmen đã chuyển sang dạng kiến trúc xếp chồng.

Goldon Childe thì thảo luận trong sách của mình rằng “tín ngưỡng cự thạch” được phát tán bởi những người khai phá và thực dân Địa Trung Hải, một khi ý tưởng xây cự thạch mộ đã được chấp nhận thì sẽ thích nghi với nhiều kiểu xã hội mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc riêng của chúng. Mỗi ngôi mộ có thể thuộc về một nhân vật cao quý hay người đúng đầu gia đình. “Một cự thạch mộ nên được so sánh với một cái nhà thờ hơn là một lâu đài, và trú nhân trong đó nên được so sánh với những vị thánh Celt hơn là những nam tước Norman.”

Những lời giải thích tương tự của những nhà tiền sử học nổi tiếng đã bị bác bỏ bởi bằng chứng phóng xạ carbon. Có thể chỉ ra được rằng những gian cự thạch ở Brittany được xây trước năm 4000 trước công nguyên. Những phân tích gần đây cho thấy Stonhenge đã hoàn thành trước thời kỳ Mycenae, lần xây lại cuối cùng (Stonhenge III) vào khoảng 2100 – 1900 trước công nguyên. Tại Malta, thời kỳ của đền Tarxien và mộ địa Hal Saflieni đã kết thúc trước năm 2000 trước công nguyên. Do đó dẫn đến một kết luận không thể tránh khỏi, phức hợp cự thạch Châu Âu đến trước khi có sự đóng góp của người Aegean. Chúng ta đang đối mặt với một chuỗi sáng tạo có nguồn gốc bản địa.

Tuy nhiên, niên đại ký hỗn loạn và minh chứng về cội nguồn từ cư dân phương tây không đóng góp gì hơn cho việc phân tích các di tích cự thạch. Đã có nhiều tranh luận về Stonhenge nhưng nếu bỏ qua một vài đóng góp đáng chú ý (liên quan đên chức năng quan sát thiên tượng) thì chức năng tôn giáo và tính biểu tượng của di tích này vẫn còn bị bỏ ngỏ. Hơn nữa, do phản ứng lại những giả thuyết mạo hiểm (như cho rằng tất cả các cự thạch có nguồn gốc từ pharaoh Ai Cập), những nhà nghiên cứu không còn dám đưa ra phân tích tổng thế. Sự rụt rè này là một điều đáng tiếc vì “chủ nghĩa cự thạch” là một chủ đề kiểu mẫu, có thể là độc nhất, cho việc nghiên cứu.

Nhân chủng học và thời tiền sử

Một điều không lạ lẫm gì là cự thạch có nguồn gốc tiền sử và nguyên thủy cũng trải khắp một vùng rộng lớn ngoài Địa Trung Hải, Tây và Bắc Âu: Algeria, Palestine, Abyssinia, Deccan, Assam, Tích Lan, Tây Tạng, và Hàn Quốc. Văn hóa cự thạch vẫn sống sót đến đầu thế kỷ 20, bằng chứng điển hình là ở Indonesia và Melanesia. Robert Heine-Geldern cho rằng có hai nhóm văn hóa cự thạch – những người từ thời tiền sử và những người thuộc về những nền văn hóa ở giai đoạn nhân chủng học – được liên kết với nhau về mặt lịch sử, vì ông nhìn nhận rằng phức hợp cự thạch được phát tán từ một điểm trung tâm, có khả năng là ở đông Địa Trung Hải.

Chúng ta hãy tổng kết lại những kết luận của ông đối với vấn đề cự thạch trước: Cự thạch liên hệ với những ý tưởng về sự tồn tại sau khi chết. Phần lớn chúng được xây để bảo vệ linh hồn trong chuyến hành trình về thế giới bên kia; nhưng chúng cũng đảm bảo một sự tồn tại vĩnh hằng sau khi chết cho cả những người xây chúng và những người chúng được xây cho (người chết). Hơn nữa, cự thạch cấu thành mối quan hệ bền chặt giữa người sống và người chết; chúng giữ gìn đức hạnh của cả người xây lẫn người được xây, và do đó đảm bảo sự sinh sôi mầu mỡ của con người, gia súc và đồng ruộng. Trong tất cả những nền văn hóa cự thạch vẫn còn hưng thịnh, phái thờ tổ tiên đóng một vai trò quan trọng.

Những di tích này là chỗ ngồi của những linh hồn khi họ quay lại thăm làng, nhưng cũng được người sống sử dụng, vị trí của chúng là tại trung tâm của các hoạt động tế lễ. Phả hệ cũng đóng một vai trò quan trọng. Cần phải nhấn mạnh tầm trong quan trọng của thực tế rằng: một người hy vọng tên anh ta sẽ được nhớ thông qua trung gian là đá; nói cách khác thì sự liên kết với tổ tiên được đảm bảo bằng việc nhớ được tên của họ và sử dụng chúng, một ký ức được “đóng đinh” vào cự thạch.

Heine-Geldern cho rằng nền văn minh cự thạch kéo dài suốt từ thiên niên kỷ thứ năm nhưng ông lại từ chối sự tồn tại của “tín ngưỡng cự thạch” vì một lý do đơn giản là một số niềm tin và ý tưởng cự thạch cho thấy có sự liên hệ với nhiều dạng tôn giáo. Ông so sánh phức hợp cự thạch với những động thái “bí ẩn” nào đó – ví dụ như Mật giáo (Tantra).

Tuy những phân tích mà Heine-Gelden thu được vẫn có giá trị, nhưng giả thuyết về sự thống nhất kim cổ của văn hóa cự thạch thì vẫn còn được bàn cãi đến tận ngày nay, hoặc đơn giản là bị bỏ qua bởi nhiều nhà nghiên cứu. Đối với mục đích của chúng ta, chỉ cần chú ý rằng trong những tín ngưỡng cự thạch, sự linh thiêng của đá được giá trị hóa chủ yếu trong mối liên hệ với sự tồn tại sau khi chết. Bằng những công trình cự thạch khổng lồ, người chết được hưởng một sức mạnh phi thường; và vì sự liên lạc với tổ tiên được đảm bảo bằng nghi lễ, nên sức mạnh này cũng được chia sẻ cho người sống. Thứ đặc tính hóa những tín ngưỡng cự thạch là những ý tưởng về sự bền vữngsự tiếp nối liên tục giữa sống và chết được nắm giữ thông qua sự nâng tầm tổ tiên lên hợp nhất hay liên kết với những khối đá. Nhưng vẫn cần nói thêm rằng những ý tưởng tôn giáo này đã không được nhận ra hay thể hiện một cách đầy đủ ngoại trừ một vài sáng tạo đặc quyền.

Những thành phố đầu tiên của Ấn Độ

Có vẻ như nền văn minh Indus, với hai thành phố Harappa và Mohenjo-daro, đã phát triển đầy đủ vào khoảng năm 2500 trước công nguyên. Điều bất ngờ nhất trong cuộc khai quật đầu tiên là sự trì trệ và đồng nhất của nền văn minh Harappa. Không có gì thay đổi trong suốt hàng nghìn năm lịch sử. Sự đồng nhất và liên tục này chỉ có thể giải thích bằng giả định về một chế độ dựa trên thẩm quyền tôn giáo.

Gordon Childe coi công nghệ của Harappa ngang với Ai Cập và Lưỡng Hà. Tuy nhiên đại bộ phận các sản phẩm thiếu óc tưởng tượng, “gợi ý rằng người Harappa để mắt đến những thứ không thuộc thế giới này.”

Fairservis cho rằng tổ tiên của người Harappa là những người nông dân tiền Aryan. Dựa vào những bằng chứng khảo cổ như khu phức hợp Edith Shahr tại vùng Porali River ông cho rằng hai thành phố Harappa và Mohenjo-daro được xây dựng cho những nghi lễ thờ cúng. Giả thuyết này vẫn còn gây tranh cãi, nhưng chức năng tôn giáo của những “thành quách” này thì không có gì phải nghi ngờ. Nhưng điều này không gây hứng thú lắm với mục đích của chúng ta.

Điều cần chú ý lúc này là sự đa dạng về hình thái học của không gian thiêng và trung tâm thờ phụng.

Những khái niệm tôn giáo nguyên thủy và sự tương đồng trong đạo Hindu

Tôn giáo Harappa-tôn giáo của nền văn minh đô thị đầu tiên tại Ấn Độ-cũng quan trọng vì một lý do khác: mối quan hệ với đạo Hindu. Ví dụ như một lượng lớn những bức tượng nhỏ và những hình mẫu nhất định được khắc trên những con dấu cho thấy những giáo phái thờ Mẫu Thần. Sir John Marshall cũng đã nhận thấy một nhân vật ngồi trong tư thế yoga với dương vật dựng đứng bao quanh bởi thú hoang đại diện cho một Vị thần vĩ đại, có thể là nguyên mẫu của Siva. Fairservis gợi lên sự chú ý đến một lượng lớn các cảnh tôn thờ hay hiến tế miêu tả trên những con dấu. Con dấu nổi tiếng nhất có một nhân vật được hai người đồng hành bởi hai con rắn hổ đang quỳ xuống cầu khẩn. Những con dấu khác thì có một nhân vật cao quý làm bất động hai con hổ theo kiểu Gilgamesh, hay một vị thần có sừng với chân và đuôi bò như Enkidu của Lưỡng Hà, v.v.

Bên ngoài những ví dụ trên chúng ta có thể đề cập thêm “Đại Dục” (tắm lớn) tại Mohenjo-daro, thứ giống với bể tắm ở những ngôi đền Hindu hiện đại. Quá trình chuyển giao và hấp thụ di sản Harappa vào đạo Hindu không được biết một cách đầy đủ. Các học giả vẫn còn đang tranh luận về nguyên nhân gây ra sự suy thoái và cuối cùng là hủy hoại của hai thủ phủ. Các thảm họa lũ lụt được đưa ra, cũng như khô hạn, địa chấn và sự xâm lăng của người Aryan. Có khả năng sự suy thoái hây ra bởi nhiều nguyên nhân cùng lúc. Dù sao thì khoảng năm 1750 trước công nguyên, nền văn minh Indus đã hấp hối, người Ấn-Aryan chỉ thêm vào một đòn giáng cuối cùng. Cũng phải nói rõ rằng sự xâm lược của các bộ lạc Aryan diễn ra từ từ trong nhiều thế kỷ. Mặt khác ở phía Nam, một vùng trước đây là Saurashta, nền văn hóa có gốc gác từ Harappa tiếp tục phát triển sau cuộc tấn công của người Aryan.

Hai mươi năm trước chúng tôi đã có nhận xét rằng sự xụp đổ của nền văn minh đô thị này không phải là sự tuyệt diệt văn hóa, mà chỉ là sự thoái lui về dạng “nông thôn” phổ biến hơn. Rất lâu trước khi sự Aryan hóa của Punjab tổng hợp nên một thứ mà sau này trở thành đạo Hindu, thì chỉ có sự liên hệ từ rất sớm giữa những đại diện của văn hóa Indus với những kẻ chinh phục Ấn-Âu mới có thể giải thích được một lượng lớn những yếu tố Harappa trong đạo Hindu. Điều này có thể giải thích một thực tế lạ lùng hiển nhiên: những giáo phái thờ Nữ thần vĩ đại và Siva, dương vật và cây, tu khổ hạnh và yoga,…xuất hiện lần đầu ở Ấn Độ như là biểu hiện tôn giáo của nền văn minh đô thị cấp cao, trong khi ở thời trung và hiện đại Ấn Độ thì những yếu tố tôn giáo này lại mang đặc tính văn hóa “phổ thông”. Rất có khả năng toàn bộ các khái niệm tôn giáo Harappa (những thứ đối lập mạnh với Ấn-Âu) đã được bảo tồn, với sự thoái lui không thể tránh khỏi, giữa tầng lớp “phổ thông,” bên lề xã hội và nền văn minh của những người chủ mới nói tiếng Aryan.

Những tiến trình tương tự cũng được ghi nhận đâu đó, Crete, Hy Lạp, và cả vùng Aegean nơi mà văn hóa và tôn giáo Hy Lạp là kết quả của sự cộng sinh giữa nền tảng Địa Trung Hải và những kẻ chinh phục Ấn-Âu từ phương bắc.

Crete: Những hang động thiêng, những mê cung, những nữ thần

Tại Crete, chứng tích của thời kỳ đồ đá mới từ thiên niên kỷ thứ năm kết thúc vào khoảng thiên niên kỷ thứ ba khi hòn đảo bị thuộc địa hóa bởi những kẻ nhập cư đến từ phương nam và phương đông. Những kẻ mới đến này là những bậc thầy về công nghệ luyện đồng. Sir Arthur Evans gọi văn hóa của họ là “Minoan” theo tên vị vua huyền thoại Minos, chia làm ba thời kỳ: Đầu Minoan (khoảng cuối thiên niên kỷ thứ ba); Giữa Minoan (2000 – 1580 trước công nguyên); Cuối Minoan (1580 – 1150 trước công nguyên). Suốt thời kỳ Giữa người Crete dùng chữ tượng hình và tiếp nối bằng chữ nét dài (Tuyến A, khoảng 1700 trước công nguyên); cả hai loại đều chưa thể giải mã được. Cũng trong thời kỳ này (giữa 2000 và 1900 trước công nguyên) những người Hy Lạp đầu tiên, những Minyan, đã đến lục địa Hy Lạp. Họ là những tiền hộ vệ của những nhóm Ấn-Âu sẽ đến định cư ở Hellas, trên những hòn đảo và miền duyên hải Tiểu Á. Tiếp nối đỉnh cao của thời kỳ Giữa, trong giai đoạn đầu của thời kỳ Cuối (1580 – 1450 trước công nguyên) những kẻ xâm lược nói tiếng Aryan đã xây dựng Mycenae tại Peloponnesus. Không lâu sau (1450 – 1400 trước công nguyên) người Mycenae (hay Achaea) lập nghiệp tại Cnossus và giới thiệu loại chữ mới gọi là Tuyến B. Giai đoạn cuối của thời kỳ Cuối gọi là giai đoạn Mycenae (1400 – 1150 trước công nguyên) kết thúc với sự xâm lăng của người Doris và sự hủy hoại cuối cùng của nền văn minh Crete.

Trước khi Ventris giải mã được chữ Tuyến B năm 1952 thì những bằng chứng về văn hóa và tôn giáo Minoan chỉ có được nhờ khai quật khảo cổ. Những hoạt động hướng đến tôn giáo đầu tiên được phát hiện trong những cái hang. Một lượng lớn hang được hiến cho các vị thần bản địa. Một số những nghi lễ, thần thoại, truyền thuyết liên quan đến những cái hang sau này được tích hợp vào truyền thống tín ngưỡng của người Hy Lạp. Một cái hang nổi tiếng ở Amnisos được hiến cho Eileithyia, nữ thần sinh sản của tiền Hy Lạp. Một cái hang khác ở núi Dicte thì lại nổi danh là nơi trú ngụ của bé Zeus; từ đó chủ nhân của Olympus đã đến với thế giới.

Những mê cung tiếp nối và mở rộng vai trò tôn giáo của hang động; đi vào hang hay mê cung cũng tương đương việc xuống với Hades. Chức năng tôn giáo của mê cung giống như những chướng ngại thụ pháp.

Về mặt ngữ nguyên học thì mê cung (labyrinth) được giải nghĩa là “nhà của rìu hai lưỡi” (labrys), tức là nói đến cung diện hoàng gia của Cnossus. Nhưng “rìu” tiếng Achaea lại là pelekys. Nhiều khả năng thuật ngữ này dẫn xuất từ gốc Á labra/lauranghĩa là “đá,” “hang.” Do đó “mê cung” (labyrinth) nói đến một mỏ đá ngầm, khai thác bởi con người.

Tượng nữ giới tăng về số lượng suốt thời kỳ đồ đá mới, có đặc điểm là mặc váy quanh thắt lưng, ngực trần và tay nâng kiểu thờ cúng. Dù chúng có đại diện cho “thần tượng” hay không thì cũng thể hiện sự nổi trội về mặt tôn giáo của phụ nữ, trên hết là tính ưu việt của Nữ thần. Tài liệu về sau đã xác nhận điều này. Những nữ thần được giới thiệu là che mạng hay khỏa thân một phần, ép vếu hoặc giơ tay theo tư thế ban phước. Nhưng hình ảnh khác giới thiệu họ như Nữ thần của thú hoang (potnia theron), v.v.

Nghi lễ được tổ chức trên đỉnh núi, thánh điện hoặc nhà riêng. Ở mọi nơi các nữ thần đều được tìm thấy tại trung tâm của hoạt động tôn giáo.

Cây đóng vai trò trung tâm. Nhiều bằng chứng biểu tượng cho thấy hình những nhân vật khác nhau chạm vào lá, tôn thờ nữ thần của thảm thực vật, hoặc thực hiện những điệu nhảy lễ nghi. Một số cảnh tượng nhấn mạnh bản chất hoang dại, nếu không muốn nói là phấn khích của nghi lễ: một người phụ nữ khỏa thân ôm chặt lấy một cành cây; một thầy tế kéo cái cây với khuôn mặt quay đi, trong khi người đồng hành của ông ta có vẻ như đang than khóc trên một ngôi mộ. Những cảnh này không chỉ được xem là mô tả tấn kịch thường niên của thảm thực vật mà còn là của kinh nghiệm tôn giáo lấy cảm hứng từ sự liên đới bí ẩn giữa con người và cây cỏ.

Những đặc điểm tôn giáo Minoan

Theo Picard, “như vậy, chúng ta không có bằng chứng nào của một vị nam thần trưởng thành.” Nữ thần đôi khi được theo bởi phụ tá, nhưng vai trò này không rõ ràng. Dù sao thì một vài vị thần cây chắc chắn được biết đến vì thần thoại Hy Lạp đề cập đến những đám cưới thần thánh diễn ra tại Crete, những đám cưới mang đặc tính của những tôn giáo nông nghiệp. Persson tin rằng có thể đặt từng khung cảnh vào từng mùa xuân, hạ , thu. Một vài phân tích có vẻ thuyết phục nhưng về tổng thể thì gây tranh cãi.

Thứ dường như chắc chắn là hàng loạt các bằng chứng biểu tượng cho thấy giáo phái thờ cúng tập trung vào “bí ẩn” của sự sống, cái chết và sự tái sinh; do đó có những nghi lễ thụ pháp, khóc tang, những buổi lễ thác loạn và truy hoan.

Cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của cung điện như một trung tâm nghi lễ. Những trận đấu bò được thực hiện tại những nơi bao quanh bởi những hàng ghế theo từng bậc, cũng được biết đến như khu vực sân khấu của những cung điện. Những bức vẽ ở Cnossus vẽ những màn nhào lộn của cả nam lẫn nữ quanh những con bò (bò không bị giết). Không có gì phải nghi ngờ về ý nghĩa tôn giáo của màn nhào lộn này: vượt qua một con bò đang chạy tạo thành một chướng ngại thụ pháp hoàn hảo. Rất có thể huyền thoại về những người đồng hành cùng Theseus, bảy trai trẻ và bảy thiếu nữ được hiến cho Minotaur (Nhân Ngưu), là sự hồi tưởng của ký ức về chướng ngại thụ pháp kiểu này. Rất tiếc là chúng ta không biết gì về thần thoại bò thiêng và vai trò của nó trong giáo phái.

Rìu hai lưỡi chắc chắn là được dùng trong việc hiến tế. Tại Tiểu Á, nó được coi như biểu tượng của lưỡi tầm sét, tượng trưng cho thần sấm. Tại Crete, rìu hai lưỡi được thấy trong tay phụ nữ – nữ tư tế hoặc nữ thần – hoặc trên đầu họ. Evans giải thích rằng điều này tượng trưng cho sự hợp nhất những phần bù căn bản giữa nam và nữ.

Các cột chống có khả năng là biểu tượng của trục trung tâm vũ trụ. Những cột nhỏ với chim đậu trên đỉnh có thể phân tích theo nhiều hướng khi chim có thể đại diện cho linh hồn hoặc là hiện thân của nữ thần. Trong trường hợp nào thì các cột cũng thay thế cho nữ thần, “vì đôi khi họ được nhìn thấy, giống như bà, bên cạnh sư tử hoặc chim ưng.”

Việc thờ cúng người chết đóng một vai trò đáng kể. Thi thể được thả từ bên trên xuống những phòng sâu ở nơi mai táng. Ở đâu đó tại Tiểu Á và Địa Trung Hải, nước thánh ngầm được ban cho người chết. Người sống có thể xuống một số phòng nhất định có những hàng ghế cho việc cúng bái. Có khả năng việc mai táng được thực hiện dưới sự bảo trợ của Nữ thần.

Thứ giá trị nhất nhưng cũng bí ẩn nhất liên quan đến tôn giáo Crete là hai tấm ván có trang trí của một cỗ quan tài khai quật tại Hagia Triada. Nói chắc chắn thì bằng chứng này phản ánh ý tưởng tôn giáo tại thời đại của nó khi người Mycenae đã ổn định tại Crete (khoảng thế kỷ 13 đến 12). Một tấm ván mô tả cảnh hiến tế bò: ba nữ tư tế đang diễu hành lại phía con bò; về phía nạn nhân thì cổ họng đã bị cắt, một cuộc huyết tế trước một cái cây thiêng. Ở tấm thứ hai chúng ta thấy việc hoàn thành những lời nguyện tang: một nữ tư tế rót một chất lỏng màu đỏ vào một cái bình lớn. Cảnh cuối cùng là bí ẩn nhất: trước mộ của mình, một người đàn ông đã chết mặc một chiếc áo choàng dài, lồng ghép sự hiện diện của ông ta với đồ cúng tang lễ; ba người hiến tế nam mang cho ông ta một chiếc thuyền nhỏ và 2 con bê.

Số lớn các học giả đánh giá qua sự hiện diện của ông ta tin rằng người chết này được phong thần. Giả thuyết có vẻ hợp lý và như thế thì người này có thể là một nhân vật chức quyền, chẳng hạn như thầy tế-vua của Cnossus hoặc một trong những vị thần Hy Lạp (Héc-quyn, Achilles, Menelaus). Tuy nhiên, khả năng là cảnh tượng này gợi ý sự hoàn tất lễ thụ pháp của người chết hơn là sự thần hóa, một loại nghi lễ tôn giáo bí ẩn đảm bảo sự hạnh phúc của ông ta sau khi chết. Diodorus đã từng chú ý đến sự tương đồng giữa tôn giáo Crete và những tôn giáo bí ẩn, kiểu tôn giáo sau này sẽ bị loại bỏ tại nơi gọi là Hy Lạp Doris và chỉ còn tồn tại ở một vài hội kín nhất định gọi là thiasoi.

Sự liên tục của cấu trúc tôn giáo tiền Hy Lạp

Việc giải mã được chữ Tuyến B đã chứng minh rằng tiếng Hy Lạp đã được nói ở Cnossus khoảng năm 1400 trước công nguyên. Điều này cho thấy trong giai đoạn cuối cùng, nền văn minh Crete đã bao gồm trong nó cả lục địa Hy Lạp. Tính Hy Lạp đã cắm rễ vào Ai Cập và Châu Á; nhưng chính sự đóng góp của những kẻ chinh phục người Mycenae sẽ tạo ra “Hy Lạp nhiệm màu.”

Những tấm bảng đào được tại Cnossos, Pylos và Mycanae có đề cập đến tên những vị thần Homer như Zeus, Hera, Athena, Poseidon và Dionysus. Không may là những thông tin liên quan đến thần thoại và thờ phụng không nhiều. Điều rõ ràng hơn là sự nổi tiếng của Crete trong thần thoại và tôn giáo Hy Lạp cổ điển. Chính tại Crete mà Zeus sinh ra và chết đi; Dionysus, Apollo, Hec-quyn thực hiện những chiến tích thời thơ ấu; Demeter yêu Iasion và Minos nhận được các bộ luật rồi cùng Rhadamanthys trở thành quan tòa dưới Địa Ngục. Vẫn là tại Crete ở thời kỳ thịnh vượng mà những những kẻ thanh lọc chính thức được triệu tập. Hòn đảo này được trời phú cho những đặc tính của giai đoạn khởi thủy: vì Hy Lạp cổ điển, Minoan Crete chia sẻ chung những thần đồng của “nguồn cội” và “bản địa.”

Không có gì nghi ngờ về việc truyền thống tôn giáo của Hy Lạp đã bị điều chỉnh bởi sự cộng sinh với cư dân bản địa, tại Crete cũng như những nơi khác trong vùng Aegea. Nilsson đã chỉ ra rằng trong số bốn trung tâm tôn giáo của Hy Lạp cổ điển – Delphi, Delos, Eleusis và Olympia – ba trung tâm đầu là kế thừa từ Mycenae. Sự bền vững của một số cấu trúc tôn giáo Minoan đã được đưa ra một cách khéo léo. Nguồn gốc của phái thờ thần Demeter được ghi nhận tại Crete và thánh đường cổ nhất tại Eleuis là từ thời Mycenae.

Tại Ấn Độ tiền Aryan, đứng trên tất cả là những phái thờ những Nữ thần và những nghi lễ cũng như niềm tin kiên cố liên quan đến sinh trưởng, cái chết, và sự sống của linh hồn. Trong một số trường hợp sự liên tục tìm thấy từ thời tiền sử kéo dài đến tận thời hiện đại. Ví dụ như cái hang ở Skoteino, “một trong những nơi vĩ đại và mỹ lệ bậc nhất toàn Crete,” sâu 60m và có tới bốn tầng.

Sự liên tục cũng được minh chứng bằng những biểu hiện cụ thể khác về sự sùng đạo Crete cổ xưa. Sir Arthur Evans nhấn mạnh sự liên hệ giữa việc thờ cây và sự tôn kính dành cho những hòn đá thiêng. Một sự liên hệ tương tự được tìm thấy trong giáo phái thời Athena Parthenos tại Athens: một cái cột liên kết với cây thiêng (ô liu) và con cú, loại chim biểu tượng của nữ thần. Evans cũng cho thấy sự sống sót của phái thờ cột cho tới tận thời hiện đại; ví dụ như cột thiêng tại Tekekioi, gần Skoplje là một bản mô phỏng của cột Minoan, được sùng bái bởi cả người theo Công giáo và Hồi giáo. Niềm tin rằng những dòng suối thiêng có sự liên hệ với nữ thần cũng được tìm thấy trong Hy Lạp cổ điển, nơi mà những dòng suối được tôn thờ như Nereids; vẫn tồn tại đến ngày nay là việc những nàng tiên vẫn được gọi là Neraides.

Không cần phải kể nhiều ví dụ làm gì, chỉ cần nhớ rằng quá trình tiếp nối liên tục của những cấu trúc tôn giáo cổ là đặc tính của tất cả các nền văn hóa dân tộc, từ Tây Âu và Địa Trung Hải đến đồng bằng sông Hằng và Trung Quốc. Đối với mục đích của chúng ta, quan trọng là cần nhấn mạnh vào một thực tế rằng những phức hợp tôn giáo liên kết những nữ thần của sự sinh trưởng và cái chết với nghi lễ và niềm tin liên quan đến sự thụ pháp và sự sống của linh hồn đã không được kết hợp vào tôn giáo Homer. Bất chấp việc cộng sinh với vô số những truyền thống tiền Hy Lạp, những kẻ chinh phục nói tiếng Aryan đã thành công trong việc áp đặt thần hệ của họ và duy trì phong cách tôn giáo riêng.

IV. Khi Israel còn là một đứa trẻ…”

Hai chương đầu của Sáng Thế Ký

Tôn giáo của Israel là tôn giáo kinh sách. Những tập sao lục được cấu thành từ những văn bản của nhiều thời đại và định hướng khác nhau đại diện cho những truyền thống truyền miệng rất cổ nhưng được diễn giải, chỉnh lý, và tái cấu trúc suốt nhiều thế kỷ trong những hoàn cảnh khác nhau. Những tác giả hiện đại mở đầu lịch sử tôn giáo Israel với Abraham, người được Chúa chọn trở thành tổ tông của người dân Israel. Nhưng 11 chương đầu tiên của Sáng Thế Ký lại dành cho việc kể lại những sự kiện phi thường trước Abraham. Việc biên soạn những chương này được biết là muộn hơn nhiều phần khác của Ngũ Kinh.

Mở đầu nổi tiếng của Sáng Thế Ký: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.” Hình ảnh của đại dương sơ khai có thần sáng tạo lơ lửng trên đó là cực kỳ cổ. Tuy vậy chủ đề thần bay lượn qua mặt nước thì không tìm thấy trong khởi nguồn vũ trụ của Lưỡng Hà, dù rằng thần thoại trong sách Enuma elish chắc cũng khá quen thuộc với tác giả của bản văn kinh thánh (đại dương sơ khai tiếng Do Thái là tehom, liên hệ về ngữ nguyên học với tiamat của tiếng Babylon). Sự sáng thế được thực hiện qua sức mạnh ngôn từ của Chúa. Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng. Các giai đoạn tiếp theo đều có được qua ngôn từ. Đại dương hỗn loạn không được nhân cách hóa (như Tiamat) và do đó không có “chinh phục” như trong trận chiến khai sinh vũ trụ.

Đoạn tường thuật này giới thiệu một cấu trúc cụ thể: (1) sáng tạo bằng ngôn từ; (2) của một thế giới “thiện tính”; và (3) của cuộc sống (động vật và cây cỏ) “thiện tính” và được Chúa ban phước; (4) cuối cùng, việc sáng tạo vũ trụ được tôn lên bằng sự sáng tạo ra con người. Vào ngày thứ sáu và ngày cuối cùng, Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.” Không có chiến công hiển hách nào (trận Tiamat với Marduk), không có yếu tố “bi quan” nào về nguồn gốc vũ trụ và nhân loại (thế giới tạo thành từ quái vật Tiamat; con người tạo ra từ máu của Kingu). Thế giới là “thiện” và con người là hình ảnh của Chúa, sống theo hình mẫu của Chúa trên thiên đường. Tuy nhiên Sáng Thế Ký sẽ sớm nhấn mạnh rằng cuộc sống là đau khổ dù là đã được ban phước bởi Chúa, và con người không được ở thiên đường nữa. Tất cả điều này là kết qủa của hàng loạt sai lầm của tổ tiên. Chính họ đã thay đổi điều kiện sống của con người. Chúa không chịu trách nhiệm về sự hư hỏng này. Cũng như tư tưởng Ấn Độ thời hậu Áo nghĩa thư (Upanishads), loài người là kết quả của chính hành động của họ.

Trương mục khác, mang tính Yahweh giáo, thì cổ hơn và khác biệt rõ ràng với những gì chúng ta vừa tổng hợp. Không còn câu hỏi về sự sáng tạo trời và đất mà là của sa mạc nơi Chúa (Yahweh) làm cho mầu mỡ bằng một dòng nước dâng lên từ mặt đất. Yahweh nặn một người đàn ông (adam) từ đất sét và ban sự sống qua hơi thở “thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” Sau đó Yahweh “trồng một vườn cây ở Ê-đen,” và làm mọi loại “cây trông thì đẹp, ăn thì ngon” mọc lên, và đặt con người vào khu vườn “để cày cấy và canh giữ đất đai.” Rồi vẫn từ đất Yahweh tô điểm thêm thú vật và chim muông và đem chúng đến với Adam, và Adam đặt tên cho chúng. Cuối cùng, sau khi gây mê chàng, Chúa lấy một cái xương sườn của chàng và tạo ra một người đàn bà, tên Eve (tiếng Do Thái là hawwah, một từ có ngữ nguyên liên hệ rất gần với “sự sống”).

Những nhà chú giải thấy rằng bản thuật lại đơn giản hơn của Yahweh giáo không phải sự đối lập giữa đại dương “hỗn loạn” với thế giới “định hình” mà giữa sa mạc và sự khô cằn với sự sống và cây cối sinh trưởng. Vậy nên có vẻ hợp lý khi cho rằng nguồn gốc huyền thoại này đến từ một vùng sa mạc. Việc tạo ra người từ đất sét thì chúng ta đã thấy tại Sumer. Những thần thoại tương tự cũng có mặt khắp ít nhiều khắp thế giới, từ Ai Cập cổ đại và Hy Lạp đến những tộc người “nguyên thủy.” Ý tưởng cốt lõi dường như giống nhau: con người được tạo từ một vật chất cơ bản (gỗ, đất, xương) rồi được thần sáng thế thổi cho sự sống. Phần lớn trường hợp hình dạng con người là hình dạng của thần sáng tạo. Chúng đã thấy trong thần thoại Sumer, “hình dạng” và “cuộc sống” của con người chia sẻ cùng tình trạng với thần sáng thế theo cách nào đó. Chỉ có thân xác là thuộc về “vật chất.”

Việc tạo ra phụ nữ từ xương sườn của Adam có thể được phân tích như là chỉ ra sự lưỡng tính của con người ban sơ. Những quan niệm tương tự được chứng nhận ở những truyền thống khác, bao gồm cả những chú giải kinh thánh từ những nhà cầm quyền Do thái cổ. Huyền thoại về sự lưỡng tính minh họa cho một niềm tin tương đối rộng rãi: sự hoàn hảo của con người, được nhận ra từ tổ tiên thần thoại, bao gồm một nhất thể mà cùng lúc cũng là tổng thể. Chúng ta sẽ ước định tầm quan trọng của lưỡng tính khi thảo luận về những suy cứu của Thuyết ngộ đạo và Ẩn học. Chúng ta nên chú ý rằng việc con người lưỡng tính có hình mẫu từ sự lưỡng tính thần thánh, một quan niệm chung của nhiều nền văn hóa.

Mất thiên đường. Cain và Abel

Vườn Eden với dòng sông chia làm bốn nhánh và cây cối được Adam chăm sóc và bảo vệ làm gợi nhớ đến hình ảnh vùng Lưỡng Hà. Có lẽ trong tường hợp này lời kể Kinh Thánh cũng tận dụng một truyền thuyết Babylon cụ thể. Nhưng huyền thoại về thiên đường nguyên khởi nơi người ban sơ sinh sống, và huyền thoại về một nơi thiên đường xa vời với loài ngoài đã được biết đến bên ngoài phạm vi sông Euphrates và Địa Trung Hải. Cũng như tất cả các “thiên đường” khác, Eden nằm ở “trung tâm thế giới,” nơi dòng sông bốn nhánh khỏi nguồn. Giữa khu vườn là Cây trường sinh và Cây cho biết điều thiện điều ác. Yahweh đưa ra giới luật cho con người: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” Một ý tưởng chưa từng có ở nơi khác lộ ra từ lệnh cấm này: giá trị hiện sinh của tri thức. Hay nói cách khác, sự hiểu biết sẽ thay đổi triệt để cấu trúc sự tồn tại của con người.

Tuy nhiên, con rắn đã thành công trong việc xúi giục Eve. Nó nói với nàng: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Phân đoạn bí ẩn này đã làm nảy sinh vố số cách giải thích. Bối cảnh gợi ý một sự tượng trưng thần thoại không lạ lẫm gì: nữ thần khỏa thân, cây thần và kẻ canh giữ, con rắn. Nhưng thay vì chiến thắng của một người anh hùng giành lấy được một phần biểu tượng của sự sống (quả thần, suối nguồn tươi trẻ, kho báu, v.v.), câu chuyện Kinh Thánh lại cho chúng ta Adam, một nạn nhân ngây ngô của con rắn phản trắc. Nói ngắn gọn là chúng ta đang đối mặt với một sự “bất tử hóa” thất bại như trường hợp của Gilgamesh. Bởi vì một khi đã trở nên toàn trí, ngang bằng với “những vị thần”, Adam có thể khám phá ra Cây trường sinh (mà Yahweh đã không nói với chàng) và trở nên bất tử. Đoạn văn trở nên rõ ràng minh bạch: “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: “Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ, đừng để nó giơ tay hái cả trái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi.”” Và Chúa đuổi cổ đôi uyên ương khỏi thiên đường, phạt họ phải làm việc để kiếm sống.

Nếu chúng ta quay lại bối cảnh vừa đề cập lúc trước về một nữ thần khỏa thân và cây thần được canh gác bởi một con rồng, chúng ta có thể nhận ra rằng con rắn trong Sáng Thế Ký đã thành công trong vai trò là kẻ bảo vệ cho biểu tượng của sự sống hay của tuổi xuân. Nhưng thần thoại cổ xưa này đã đổi hướng hoàn toàn bởi tác giả của của những lời thuật trong Kinh Thánh. Việc “thụ pháp thất bại” của Adam được diễn giải lại như một hình phạt thích đáng: sự bất tuân của chàng đã phản bội sự kiêu ngạo xấu xa, sự khát khao được trở nên giống Chúa. Đây là tội lỗi lớn nhất mà tạo vật có thể phạm phải trong việc chống lại kẻ tạo ra mình. Đó là “tội tổ tông,” một quan niệm thai nghén nhiều hậu quả cho thần học Do Thái và Cơ Đốc. Cách nhìn nhận về sự “sa ngã” này chỉ có thể bị bắt buộc công nhận trong một tôn giáo tập trung vào sự toàn năng và ghen tỵ của Chúa. Như đã được truyền lại cho chúng ta, lời thuật thánh kinh cho thấy quyền uy tăng dần của độc thần Yahweh giáo.

Theo những người biên soạn từ chương 4 đến chương 7 của Sáng Thế Ký, tội lỗi đầu tiên này không chỉ làm mất chỗ trên thiên đường và sự biến đổi trạng thái của con người; mà theo một nghĩa nào đó còn trở thành nguồn gốc của mọi điều ác đè nặng lên nhân loại. Eve sinh ra Cain, người “cày cấy đất đai,” và Abel, một người “chăn chiên.” Khi hai anh em dâng lễ cảm ơn – Cain dâng cúng hoa màu của đất đai, và Abel dâng lên những lứa sinh đầu của đàn chiên (cừu) – Yahweh nhận đồ của Abel nhưng không nhận của Cain. Tức giận, Cain “ xông đến giết A-ben.” “Giờ đây”, Yahweh nói, “ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất … Ngươi có canh tác đất đai, nó cũng không còn cho ngươi hoa màu của nó nữa. Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất.”

Có thể nhận ra trong phân đoạn này một sự tương phản giữa những người trồng trọt và những người chăn nuôi, và cũng ám chỉ một lời biện hộ cho những người chăn nuôi. Tuy nhiên, nếu cái tên Abel nghĩa là “chăn chiên,” thì Cain lại có nghĩa là “thợ rèn.” Sự bất hòa của họ phản ánh thái độ mâu thuẫn của người thợ rèn trong một số xã hội nhất định thuộc về những người chăn nuôi, ở đó dù anh ta có thể bị khinh bỉ hay được tôn trọng thì vẫn luôn luôn làm người khác khiếp sợ. Như chúng ta đã biết, thợ rèn được xem như “bậc thầy về lửa” và sở hữu những sức mạnh ma thuật đáng sợ. Dù trong trường hợp nào thì truyền thống được gìn giữ trong lời kể thánh kinh cũng phản ánh sự lý tưởng hóa về đời sống “đơn giản và thuần khiết” của những người chăn nuôi du mục và sự kháng cự lại cuộc sống định cư của những người làm nông và những cư dân thành thị. Cain trở thành người “xây một thành,” và một trong những hậu duệ của ông là Tubal-cain, “ông tổ các người thợ rèn đồng và sắt.” Vậy là vụ giết người đầu tiên được ông thực hiện, người mà theo một cách nào đó cũng hóa hiện thành biểu tượng của công nghệ và văn minh đô thị. Nói bóng gió thì tất cả các kỹ thuật công nghệ bị nghi ngờ liên quan đến ma thuật.

Trước và sau đại hồng thủy

Không cần phải làm rõ thêm về hậu duệ của Cain và Seth (con trai thứ 3 của Adam) làm gì. Giống với những tổ tiên theo truyền thống Lưỡng Hà có tuổi thọ phi thường, Adam sinh Seth khi 130 tuổi và chết sau đó 800 năm. Tất cả hậu duệ của Seth và Cain sống khoảng 800 đến 900 năm. Một phân đoạn lạ kỳ đánh dấu thời kỳ tiền đại hồng thủy này: sự kết hợp của một số người trời “các con trai Thiên Chúa” với những cô con gái của loài người, những cô gái đã sinh cho họ những đứa con “là những anh hùng thuở xưa, những người có tên tuổi.” “Các con trai Thiên Chúa” này có thể là những “thiên thần sa ngã” mà câu chuyện của họ sẽ được kể sau. Những niềm tin tương tự tồn tại ở Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ: đó là thời kỳ của những anh hùng, nhưng á thần mà câu chuyện của họ xảy ra ngay trước thời điểm hiện tại (thời “bình minh của lịch sử”), tức là thời mà những thể chế riêng cho từng nền văn hóa đang được thiết lập. Quay trở lại câu chuyện Kinh Thánh, sau khi có sự kết hợp giữa những thiên thần sa ngã và những cô gái phàm trần Chúa quyết định giới hạn tuổi thọ con ngưởi ở mức 120 năm. Dù cho nguồn huyền thoại này bắt nguồn từ đâu, điều quan trọng vẫn là những nhà biên soạn đã duy trì nó trong những bản văn cuối cùng của Sáng Thế Ký, bất chấp việc một số đặc điểm nhân học nhất định bị đổ lên đầu Yahweh.

Sự kiện trọng đại nhất của thời kỳ này là trận đại hồng thủy. “ĐỨC CHÚA thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều trên mặt đất, và lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu suốt ngày. ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng.” Chúa hối hận vì đã tạo ra con người và quyết định hủy diệt họ. Chỉ có Noah, vợ ông, những người con trai (Shem, Ham, and Japheth) và vợ họ được cứu. Vì “Ông Nô-ê là người công chính … và ông đi với Thiên Chúa.” Theo hướng dẫn chi tiết từ Yahweh, Noah đóng một con thuyền lớn và chất lên những đại diện của muôn loài. “Năm sáu trăm đời ông Nô-ê, tháng hai, ngày mười bảy tháng ấy, vào ngày đó, tất cả các mạch nước của vực thẳm vĩ đại bật tung, các cống trời mở toang. Mưa đổ xuống đất bốn mươi ngày bốn mươi đêm.” Khi nước rút, con thuyền dừng tại núi Ararat. Noah bước ra và dâng cúng. Yahweh “ngửi mùi thơm ngon” và bình tâm, tự hứa với lòng rằng sẽ “không bao giờ nguyền rủa đất đai vì con người nữa.” Và ngài lập một giao ước với Noah và hậu duệ của ông, dấu hiệu của giao ước là cầu vồng (cây cung trên mây).

Bản kể Kinh Thánh có một số yếu tố chung với bản kể đại hồng thủy trong sử thi Gilgamesh. Có thể soạn giả biết về phiên bản của Lưỡng Hà, hoặc khả năng lớn hơn là tham khảo một nguồn cổ xưa gìn giữ từ rất lâu ở vùng Cận Đông. Như chúng ta đã biết từ trước, huyền thoại về đại hồng thủy là cực kỳ phổ biến và đều có chung tính biểu tượng căn bản: sự cần thiết phải hủy diệt một thế giới với nhân loại suy đồi để có thể tái tạo, khôi phục lại sự toàn vẹn ban đầu. Nhưng kiểu chu kỳ vũ trụ này đã bị sửa đổi trong những phiên bản của Sumer và Akkad. Soạn giả của lời thuật thánh kinh quay trở là và tiếp tục diễn giải thảm họa đại hồng thủy: nâng cấp nó lên thành một phần trong lịch sử thiêng liêng. Yahweh trừng phạt con người vì trụy lạc và không luyến tiếc gì những nạn nhân của thảm họa (cũng như những vị thần đã làm trong phiên bản của Babylon). Điều quan trọng là ngài tán thành sự thuần khiết đạo đức và tuân phục, dự đoán trước cho Bộ Luật sẽ khai lộ cho Moses. Cũng như rất nhiều những sự kiện phi thường khác, trận đại hồng thủy sau này tiếp tục được diễn giải và đánh giá lại từ nhiều góc nhìn khác nhau.

Những người con của Noah trở thành tổ tiên của thế hệ con người mới. Thời kỳ này mọi người nói cùng một thứ tiếng. Nhưng đến một ngày tự nhiên có ông lại quyết định xây “một tháp có đỉnh cao chọc trời.” Đây là kỳ công xấu xa cuối cùng. Yahweh “xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây” và nhận ra rằng “chẳng có gì chúng định làm mà không làm được.” Thế là ngài xáo trộn ngôn ngữ của họ, con người không còn hiểu nhau nói gì nữa. Sau đó Yahweh rải họ “ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa,” nơi mà sau này đặt tên là Babel.

Trong trường hợp này, chúng ta đang xem xét một chủ đề thần thoại cũ diễn giải từ góc nhìn của Yahweh giáo. Đầu tiên chúng ta có những truyền thuyết cổ xưa trong đó một số nhân vật có đặc quyền (tổ tiên, anh hùng, vua huyền thoại, pháp sư) lên trời bằng một cái cây, cái thương, sợi dây thừng, hay một chuỗi tên. Nhưng việc lên trời bằng cách cụ thể đã bị gián đoạn ở cuối thời kỳ thần thoại sơ khai. Những thần thoại khác sau đó cho thấy sự thất bại trong việc cố gắng lên trời bằng các thể loại giàn giáo khác nhau. Không thể biết được liệu soạn giả thánh kinh có biết về những niềm tin xa xưa này không. Dù thế nào thì soạn giả cũng quen thuộc với các ziggurat (đài chiêm tinh) của Babylon với tính biểu tượng tương tự. Thật ra ziggurat được xem là có móng tại tâm trái đất và có đỉnh tận trên trời. Bằng việc trèo lên ziggurat, nhà vua hay thầy tế được coi như đã lên thiên đường theo cách lễ nghi (tượng trưng). Giờ đây đối với người biên soạn thánh kinh với cách hiểu theo nghĩa đen thì niềm tin này vừa đơn giản vừa phạm thánh, nên nó đã được diễn giải lại triệt để; chính xác hơn là bị giải thiêng và bỏ tính thần thoại.

Một thực tế quan trọng cần được nhấn mạnh: bất chấp sự dài hơi và phức tạp của việc chọn lọc, loại bỏ, khử giá của những tài liệu cổ dù là được thừa hưởng hay vay mượn, những soạn giả cuối cùng của Sáng Thế Ký đã giữ gìn toàn bộ chuyện thần thoại theo khuôn mẫu truyền thống. Khởi đầu bằng nguồn gốc vũ trụ và tạo ra con người, liên quan đến tấn kịch “sa ngã” với những hậu quả trí mạng (tính phàm trần, phải làm việc kiếm ăn, v.v.), mô tả quá trình tha hóa của nhân loại để biện hộ cho trận đại hồng thủy, và kết luận với phân đoạn cuối cùng phi thường: mất đi sự thống nhất ngôn ngữ và sự phân tán thế hệ thứ hai, hậu đại hồng thủy của nhân loại, hậu quả của một dự án xấu xa mới. Trong những nền văn hóa truyền thống và cổ xưa, chuyện thần thoại này cấu thành một “lịch sử thiêng liêng:” nó vừa giải thích sự hình thành thế giới, vừa giải thích được trạng thái hiện tại của con người. Với người Do thái thì “lịch sử thiêng liêng” này trở thành hình mẫu sau thời Abraham và trên hết là với Moses; nhưng điều này không hề bác bỏ cấu trúc thần thoại và chức năng của 11 chương đầu Sáng Thế Ký.

Một lượng lớn những tác giả sống với thực tế rằng tôn giáo của người Israel không sáng tạo ra dù chỉ một huyền thoại. Nhưng nếu khái niệm “sáng tạo” được hiểu với nghĩa sáng tạo tâm linh, thì việc chọn lựa và phê bình những truyền thuyết thần thoại xa xưa cũng tương đương với sự xuất hiện của một thần thoại mới, hay nói cách khác là một tầm nhìn tôn giáo mới của thế giới, thứ mà có thể trở thành một hình mẫu. Giờ đây những tài năng tôn giáo Isreal đã chuyển đổi mối liên hệ giữa Chúa và những người được chọn thành một kiểu lịch sử thiêng liêng trước đây chưa từng được biết đến. Sau một khoảng thời gian, “lịch sử thiêng liêng” có vẻ độc quyền quốc gia này được minh chứng trở thành một hình mẫu cho toàn nhân loại.

Tín ngưỡng của các tổ phụ

Chương thứ 12 của Sáng Thế Ký giới thiệu đến chúng ta một thế giới tôn giáo mới. Yahweh nói với Abraham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.

Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi;

Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.

Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.”

Chắc chắn là đoạn này đã được soạn lại sau sự kiện mà nó nói đến nhiều thế kỷ. Nhưng quan niệm tôn giáo ẩn tàng trong việc “tuyển chọn” Abraham tiếp nối những niềm tin và tập quán phổ biến ở vùng Cận Đông vào thiên niên kỷ thứ hai. Sự khác biệt trong Kinh Thánh là Chúa “nhắn tin riêng” và những hệ quả của nó. Chúa tiết lộ bản thân với con người mà không cần được gọi, sau khi đưa ra một loạt các mệnh lệnh ngài cũng hứa hẹn hoàng loạt những điều kỳ diệu. Theo truyền thuyết thì Abraham tuân lệnh ngài lúc đó cũng như sau này khi ngài yêu cầu ông hiến tế Isaac. Ở đây chúng ta thấy một sự thử thách tôn giáo mới – “đức tin Abraham,” cũng như nó đã được nhận thức sau thời Moses, theo thời gian sẽ trở thành thử thách tôn giáo đặc thù của đạo Do Thái và Cơ Đốc.

Và như thế Abraham rời Ur và đến Haran nằm ở phía tây bắc của Lưỡng Hà. Sau này ông đi về phía nam và ở Shechem một thời gian; sau đó ông dẫn đoàn đi đến vùng giữa Palestine và Ai Cập. Những chuyến hành trình của Abraham và con trai Isaac, cháu trai Jacob và Joseph hợp thành thời kỳ goi là Thời đại của các Tổ Phụ. Suốt một thời gian dài, những nhà phê bình cho rằng các tổ phụ chỉ là những nhân vật huyền thoại. Nhưng nửa thế kỷ vừa qua, đặc biệt là với những khám phá mới của khảo cổ học, vài tác giả đã nghiêng về hướng chấp nhận tính lịch sử của những truyền thuyết về các tổ phụ, ít nhất là một phần. Nhưng điều này không có nghĩa là chương 11 đến 50 của Sáng Thế Ký đại diện cho “tư liệu lịch sử.”

Với mục đích của chúng ta thì việc tổ tiên của người Do Thái, những kẻ nổi loạn, là những người nuôi lừa, lái buôn lang thang hay những người chăn thả gia súc trên đường tìm nơi định cư không quá quan trọng. Chỉ cần biết rằng có một số sự tương đồng nhất định giữa tập quán của các tổ phụ với xã hội và thể thế pháp lý của vùng Cận Đông. Nhiều truyền thuyết thần thoại cũng được công nhận là được các tổ phụ biết đến và sửa đổi trong thời gian họ ở vùng Lưỡng Hà. Tôn giáo của các tổ phụ được đặc trưng hóa bởi sự thờ phụng “chúa của cha.” Ngài được cầu khẩn hoặc thể hiện mình với tư cách “chúa của cha tôi/bạn/anh ấy.” Cách gọi khác bao gồm tên riêng, đôi khi có từ “cha” đi kèm: “chúa của Abraham,” “chúa của Abraham cha bạn,” “chúa của Isaac,” “chúa của Isaac cha tôi/anh ấy,” hoặc “chúa của Abraham, của Isaac, của Jacob.” Phương Đông cổ đại cũng có cách gọi tương đương.

“Chúa của cha” có nghĩa là chúa của thế hệ ngay trước. Bằng cách để lộ bản thân cho thế hệ trước, ngài đã chứng nhận một kiểu quan hệ họ hàng. Ngài là chúa của dân du mục, không gắn với một thánh đường mà với một nhóm người, những người ngài theo và bảo vệ. Ngài “gắn kết với những người tin vào ngài qua những lời hứa.” Những cái tên khác có khi còn cổ hơn là pahad yishak nghĩa là “nỗi sợ của Isaac,” nhưng cũng có nghĩa thích hợp hơn là “bà con của Isaac,” và abhir ya aquobh nghĩa là “pháo đài của Jacob.”

Khi tiến vào Canaan, các tổ phụ đối mặt với giáo phài thờ thần El, và “chúa của cha” cuối cùng bị sát nhập với El. Sự đồng hóa này cho phép chúng ta giả thiết rằng có một sự giống nhau nhất định về cấu trúc giữa hai kiểu thần thánh này. Dù sao thì sau khi được xác định là El, “chúa của cha” cũng đạt được tầm vóc vũ trụ, thứ mà ngài không có khi là thần thánh của những gia đình và bộ lạc. Đây là ví dụ cho bằng chứng lịch sử đầu tiên của sự kết hợp đã làm giầu cho di sản tổ phụ. Và điều này không phải là duy nhất.

Một số đoạn mô tả, dù khá vắn tắt, những thực hành tôn giáo của các tổ phụ. Tuy nhiên trong số chúng có những đoạn phản ánh những hoàn cảnh sau này. Do dó sẽ rất hợp lý khi so sánh dữ liệu Kinh Thánh với những tập quán điển hình của những nền văn hóa mục vụ cổ, đầu tiên là của những người dân Ả-Rập tiền Hồi giáo. Theo Sáng Thế Ký thì các tổ phụ dâng đồ cúng, lập bàn thờ và xếp đá, toàn bộ đều được xức dầu. Nhưng khả năng là chỉ có huyết tế (zebah) là thuộc kiểu mục vụ, không có linh mục và bàn thờ: “Mỗi người hành lễ hiến lễ vật riêng, chọn một con trong đàn; nó không bị thiêu, và được ăn chung bởi người hành lễ và gia đình.”

Vì những bối cảnh tôn giáo khác nhau nên khó mà xác định được ý nghĩa ban đầu của những hòn đá xếp đứng (massebah). Một hòn đá có thể làm chứng cho một cuộc tụ họp, hoặc dùng như một ngôi mộ, hay chỉ ra sự hiện diện thần thánh như trong phần nói về Jacob. Jacob ngủ gối đầu lên một hòn đá và thấy một cái thang chạm tới trời, và Yahweh “đứng bên trên thang” và hứa với ông một xứ sở. Khi tỉnh dậy, Jacob dựng đứng hòn đá và gọi nơi đó là beth-el, “nhà của Chúa.” Những hòn đá dựng đứng cũng có vai trò trong việc thờ cúng của người Canaan; đó là lý do vì sao sau này chúng bị Yahweh giáo lên án. Nhưng tập quán này cũng tồn tại giữa những người Ả-Rập tiền Hồi giáo, nên rất có khả năng chúng cũng được những tổ tiên của người Israel thực hành.

Abraham, “Người Cha của Đức Tin”

Hai nghi lễ đóng vai trò đáng kể trong lịch sử tôn giáo của Israel là sự hiến tế làm dấu giao ước và sự hiến tế Isaac. Sự hiến tế thứ nhất được Chúa chỉ dẫn trực tiếp cho Abraham bao gồm việc xẻ đôi một con bò cái tơ, một con dê và một con cừu đực, một nghi lễ tương đồng với nơi khác (ví dụ như Hittite). Nhưng yếu tố quyết định là sự hiển linh khi trời tối: “Khi mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ, thì bỗng có một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi.” “Hôm đó, ĐỨC CHÚA lập giao ước với ông Áp-ram.” Sự giao ước này không phải là một bản hợp đồng. Chúa không đặt ra nghĩa vụ gì cho Abraham: chỉ là tự ông tham gia vào. Không tìm được ví dụ nào về nghi lễ này trong Kinh Cựu Ước nhưng nó được thực hành cho đến tận thời Jeramiah. Có một số các tác giả phủ nhận việc nghi lễ này được biết đến trong thời gian của các tổ phụ. Nói chắc chắn thì sự hiến tế này được đưa ra trong một bối cảnh Yahweh giáo, nhưng lý giải thần học của nó không thể phá huỷ đặc điểm nguyên thuỷ của nó.

Trong Sáng Thế Ký chỉ có một sự hiến tế được mô tả chi tiết: sự hiến tế Isaac. Chúa lệnh cho Abraham toàn thiêu (olah) đứa con trai Isaac, và khi Abraham đang chuẩn bị sát tế Isaac thì một con cừu đực bị thế chỗ. Phân đoạn này đã làm dấy lên vô số tranh cãi. Vì một lý do là thuật ngữ “toàn thiêu” đã lặp lại sáu lần. Kiểu hiến tế này dường như đã được vay mượn từ người Canaan sau khi các bộ lạc định cư. Thuật ngữ “sự lý tưởng hoá quá khứ” cũng đã được dùng. Tuy nhiên, đừng quên rằng Sáng Thế Ký có kha khá những câu chuyện xấu xa, “thứ cho thấy rằng tác giả quan tâm đến đức tin trong việc chuyển đổi truyền thống hơn là sự lý tưởng hoá.”

Dù cho nguồn gốc từ đâu thì phân đoạn này cũng minh hoạ mạnh mẽ hơn bất cứ đoạn nào trong Kinh Cựu Ước về ý nghĩa sâu sắc của đức tin Abraham. Abraham không hiến tế con ông để theo đuổi một mục đích cụ thể nào, không như vua Mesha của Moabit hiến tế con trai út để giành chiến thắng từ Isreal hay như Jephthah người đã thề sẽ toàn thiêu người đâu tiên ông gặp như một sự hiến tế cho Yahweh sau khi giành chiến thắng mà không biết rằng người đó lại là đứa con gái duy nhất của ông. Đây không phải sự hiến tế con đầu lòng, một nghi lễ chỉ được biết đến sau này và không phổ biến trong cộng đồng người Israel. Abraham cảm thấy ông “gắn chặt” với Chúa bằng “đức tin.” Ông không “hiểu” được ý nghĩa của hành động mà Chúa lệnh cho ông làm, trong khi những người hiến tế con đầu lòng hoàn toàn hiểu được sức mạnh của nghi lễ. Nói cách khác, Abraham chưa bao giờ nghi ngờ sự tôn nghiêm, sự hoàn hảo và toàn năng của Chúa. Do đó, nếu những chỉ dẫn này cho thấy mọi đặc điểm của việc giết trẻ con, thì đó là do sự bất lực của con người trong việc nhận thức nó. Chỉ có Chúa mới biết ý nghĩa và giá trị của một hành động mà đối với tất cả mọi người thì không khác gì một tội ác.

Ở đây chúng ta đối mặt với một trường hợp đặc biệt của phép biện chứng về sự linh thiêng: không chỉ là việc “sự báng bổ” chuyển đổi thành “linh thiêng” và vẫn giữ được cấu trúc ban đầu (một hòn đá thiêng không chấm dứt việc nó là một hòn đá), mà còn là việc “sự linh thiêng hoá” này thậm chí cònkhông thể được hiểu bằng tâm trí: giết trẻ con không biến đổi thành một nghi lễ hướng đến việc sinh ra một tác dụng cụ thể (như trường hợp của những người hiến tế con đầu lòng). Abraham đã không thực hiện một nghi lễ (vì ông không theo đuổi mục đích nào và cũng không hiểu ý nghĩa hành động của mình); nói cách khác “đức tin” của ông bảo đảm cho việc ông không thực hiện một tội ác. Ai đó có thể nói Abraham không nghi ngờ gì về “sự linh thiêng” trong hành động của mình, nhưng điều này “không thể nhận ra được” và do đó cũng không thể biết được.

Chiêm nghiệm về sự bất khả thi trong việc nhận ra tính linh thiêng (khi mà linh thiêng hoàn toàn giống với báng bổ) sẽ ghi dấu những hệ quả. Như chúng ta sẽ thấy, đức tin Abraham sẽ giúp sức cho người Do Thái chịu đựng tất cả những khó khăn trở ngại trong lịch sử bi thảm của họ sau khi Ngôi Đền bị huỷ hoại và thành bang bị xoá sổ. Và cũng bằng cách chiêm nghiệm về ví dụ của Abraham mà một số nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo nhất định, thậm chí tận đến thế kỷ 19 và 20, đã nắm bắt được bản chất đối nghịch và “không thể nhận ra” trong “đức tin” của họ. Kierkegaard từ bỏ người vợ chưa cưới của mình với hy vọng rằng bằng một cách không thể tưởng tượng ra, nàng sẽ quay lại với mình. Và khi Leon Chestov khẳng định rằng đức tin thực sự ám chỉ chỉ một điều chắc chắn duy nhất – rằng “với Chúa mọi điều là có thể” – ông chẳng qua chỉ phát biểu lại theo một cách đơn giản hơn trải nghiệm của Abraham.

Moses và cuộc di dời khỏi Ai Cập

Tôn giáo của Israel có sự khởi đầu liên hệ với Sáng Thế Ký chương 46 đến 50, với Xuất Hành, và Dân Số. Nội dung là một chuỗi các sự kiện mà hầu hết là do Chúa gây ra. Chúng ta sẽ liệt kê những sự kiện quan trọng nhất: Jacob và những người con định cư tại Ai Cập; sự đàn áp của pharaoh vài thế kỷ sau, kẻ đã ra lệnh giết con đầu lòng của người Israael; những thăng trầm của Moses (được cứu một cách thần kỳ và được đưa vào triều đình của pharaoh) sau khi giết một lính Ai Cập vì đánh người một người Do Thái, đặc biệt là cuộc trốn chạy vào sa mạc Midian, sự xuất hiện của “bụi cây bốc cháy” (lần đầu tiên gặp Yahweh), nhiệm vụ Chúa giao cho ông, đưa người của ông ra khỏi Ai Cập, và sự hé lộ tên thánh; mười bệnh dịch Chúa giáng xuống để ép pharaoh đồng ý; sự ra đi của người Israel và việc băng qua Biển Đỏ, nơi nước vùi lấp chiến xa và binh lính Ai Cập đuổi theo họ; sự hiển linh ở núi Sinai và giao ước của Yahweh với người của ông, đi cùng với chỉ thị liên quan đến nội dung mặc khải và thờ phụng; cuối cùng là hành trình 40 năm trong sa mạc, cái chết của Moses và cuộc chinh phạt Canaan dưới sự lãnh đạo của Joshua.

Trong hơn một thế kỷ, công cuộc phân tích đánh giá đã dùng mọi nỗ lực để phân tách những yếu tố “có thể là,” và vì thế cả “lịch sử,” từ hàng đống những phần nổi cộm và kết tập của “thần thoại” và “truyện dân gian.” Những tài liệu ngôn ngữ học và khảo cổ học liên quan đến chính trị, văn hóa, và lịch sử tôn giáo của Ai Cập, Canaan và những dân tộc khác của vùng Cận Đông cũng được đem ra sử dụng. Với những tư liệu như vậy, đã có hy vọng làm sáng tỏ, thậm chí có thể tái cấu trúc lịch sử của những nhóm người Do Thái khác nhau từ khi Jacob định cư ở Ai Cập (thế kỷ 18 đến 17) đến những sự kiện dội lại trong những truyền thuyết của Xuất Hành và việc tiến vào Canaan mà có kha khá những tác giả đặt vào thời điểm thế kỷ 12. Những tài liệu ngoài Kinh Thánh đã đóng góp một phần nhất định trong việc gán ghép Xuất Hành và cuộc chinh phạt Canaan vào bối cảnh lịch sử. Những ngày tháng khá xác định đã được đề xuất gán cho cuộc di dời khỏi Ai Cập căn cứ trên nền tảng dữ liệu liên quan đến hoàn cảnh chính trị và quân sự của một số pharaoh thuộc Triều đại thứ 19; và những giai đoạn hủy hoại một số thành phố của Canaan. Nhưng còn kha khá những vấn đề về phù hợp và tương quan niên đại ký vẫn đang bị tranh cãi.

Chúng ta không có chỗ trong một cuộn bài cãi mà chỉ vài chuyên gia mới có thể đồng ý với nhau. Chỉ cần biết rằng thực tế là không khả khi như đã kỳ vọng trong việc khôi phục tính lịch sử của một số sự kiện vô cùng quan trọng đối với tôn giáo của Israel. Tất nhiên đây cũng không phải là bằng chứng cho tính phi lịch sử của chúng. Nhưng những sự kiện và những nhân vật này đã bị nhào nặn thành những thể loại hình mẫu một cách quá mức đến nỗi trong đa số trường hợp không còn khả năng truy ra nguồn gốc “thật.” Không có lý do gì để nghi ngờ tính thực tế về nhân vật được biết đến với cái tên Moses, nhưng tiểu sử và đặc điểm tính cách của ông nằm ngoài tầm với của chúng ta, chỉ bởi một thực tế là ông đã trở thành một nhân vật cuốn hút và phi thường, cuộc đời ông với sự sống sót kỳ diệu trong cái giỏ bị bỏ lại giữa đám lau sậy của sông Nile, đã phỏng theo hình mẫu của rất nhiều anh hùng khác (Theseus, Perseus, Sargon of Agade, Romulus, Cyrus, v.v.).

Cái tên Moses cũng như của những thành viên khác trong gia đình ông, là một cái tên Ai Cập. Nó gồm có thành phần msy, nghĩa là “sinh ra, con trai,” có thể so sánh được với Ahmosis hay Rameses (Ra-messes, “con trai của Ra”). Tên một trong những người con trai của Levi, Merari, chính là Mrry của Ai Cập, nghĩa là “được yêu thích,”; cháu của Aaron Pinhas là Pnhsy, nghĩa là “da đen.” Không có khả năng là Moses trẻ biết về “cải cách” của Akh-en-Aton (khoảng 1375-1350), người đã thay việc thờ Amon bằng “độc thần” Aton. Vài học giả chú ý đến sự tương đồng giữa hai tôn giáo: Aton cũng được tuyên bố là “vị thần duy nhất”; cũng như Yahweh, ông cũng là kẻ “tạo ra mọi thứ đang tồn tại”; cuối cùng, có một điểm quan trọng là việc Akh-en-Aton “cải cách” theo “chỉ thị” có thể so sánh với vai trò của Torah (“hướng dẫn”) trong Yahweh giáo. Mặt khác thì trong xã hội Ramses mà Moses sống, tức là hai thế hệ sau “cải cách” của Akh-en-Aton, khó có điều gì có thể thu hút ông. Chủ nghĩa thế giới, chủ nghĩa hỗn tạp tôn giáo (đặc biệt giữa Ai Cập và Canaan), một số thực hành trụy lạc (đĩ điếm ở cả hai giới), và “giáo phái” của động vật có quá nhiều sự gớm ghiếc đối với bất kỳ ai đến từ “tôn giáo của Những Người Cha.”

Đối với sự di dời khỏi Ai Cập thì có vẻ chắc chắn đây là một sự kiện lịch sử. Tuy nhiên nó không bao gồm việc xuất hành của tất cả mọi người mà chỉ một nhóm người, chính xác hơn là nhóm của Moses. Những nhóm khác ít hay nhiều đã lặng lẽ bắt đầu hành trình tiến vào Canaan từ trước. Về sau, Xuất Hành được tuyên bố bởi tất cả các bộ lạc Israel như một phần trong lịch sử thiêng liêng của họ. Điều quan trọng với mục đích của chúng ta là sự di dời khỏi Ai Cập được đặt trong mối liên hệ với Lễ Vượt Qua. Nói cách khác, một sự cúng tế cổ xưa đặc biệt đối với những người chăn nuôi du mục và được thực hành trong hàng nghìn năm bởi những tổ tiên Israel đã được đánh giá lại và tích hợp vào lịch sử thiêng liêng của Yahweh giáo. Từ một nghi lễ mang tính tín ngưỡng vũ trụ (lễ mục vụ mùa xuân) được diễn giải lại thành lễ kỷ niệm một sự kiện lịch sử. Sự biến đổi những cấu trúc tôn giáo từ loại hình vũ trụ thành những sự kiện lịch sử thiêng liêng là đặc tính của độc thần Yahweh giáo sẽ còn được lặp lại và tiếp tục bởi Cơ Đốc giáo.

“Ta là Đấng Hiện Hữu” (I Am Who I Am)

Trong khi đang chăn cừu cho bố vợ Jethro, một tư tế của Midian, Moses đi ngang qua sa mạc và đến Horeb, “núi của Chúa.” Ở đó ông thấy “đám lửa từ giữa bụi cây” và nghe thấy tên mình được gọi. Một lát sau có tiếng Chúa gọi ông và nói, “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp.” Tuy nhiên, Moses cảm thấy sự hiện diện của một khía cạnh thần thánh chưa từng được biết đến, hay thậm chí là một chúa mới. Ông chấp nhận mệnh lệnh đến nói với con cái Israel rằng: “Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao?” “Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Hiện Hữu (ehyeh aser ehyeh).” Và ngài bảo ông cách nói với con cái Israel: “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em (I Am has sent me to you).”

Cái tên này đã làm dấy lên vô số tranh luận. Câu trả lời của Chúa khá bí ẩn: ngài đề cập đến trạng thái tồn tại của ngài nhưng không hé lộ về con người của ngài. Tất cả những gì có thể nói về cái tên thần thánh là, theo cách nói hiện đại, sự toàn thể của trạng thái tồn tại. Tuy thế, Yahweh tuyên bố ngài là chúa của Abraham và các tổ phục khác, và danh tính của ngài vẫn được chấp nhận đến ngày nay bởi tất cả những ai nhận mình là người được thừa hưởng từ di sản của Abraham. Và thực tế là có thể phát hiện ra sự tiếp nối từ chúa của cha đến vị chúa hiển lộ với Moses. Như đã nói “có một thực tế là Yahweh giáo sinh ra từ môi trường của những người chăn nuôi và được phát triển trong sa mạc. Sự trở lại với Yahweh giáo thuần khiết sẽ được trình bày như sự trở lại với địa thế sa mạc: điều này sẽ là “lý tưởng du mục” của những ngôn sứ.” Hoàn toàn giống với chúa của cha. Yahweh không gắn với một nơi cụ thể; thêm vào đó, ngài có một mối liên hệ đặc biệt với Moses với tư cách là lãnh đạo của một nhóm người.

Nhưng những sự khác biệt cũng đáng kể. Trong khi chúa của cha ẩn danh, thì Yahweh là một cái tên riêng chỉ ra sự bí ẩn và siêu việt của ngài. Mối liên hệ giữa thần thánh và những tín đồ đã thay đổi: thay vì cái cũ “chúa của cha” giờ đây chúng ta nghe thấy “người của Yahweh.” Ý tưởng của sự lựa chọn thần thánh hiện diện trong những lời hứa với Abraham trở nên rõ ràng hơn: Yaweh gọi những hậu duệ của các tổ phụ là “người của ta”; họ là “tài sản riêng” của ngài.” Cũng như sự đồng hoá chúa của cha với thần El, Yahweh cũng được xác định là El. Ngài đã dùng kết cấu vũ trụ của El cũng như vương hiệu của ông. “Từ tôn giáo của El, Yahweh giáo cũng lấy ý tưởng của triều đình thần thánh được hình thành bởi những người con của chúa.” Mặt khác, tính cách hiếu chiến của Yahweh tiếp nối vai trò chúa của cha, cực kỳ bảo vệ những tông đồ của ngài.

Bản chất của sự mặc khải tập trung vào Mười điều răn. Ở dạng hiện tại những văn bản này không thể có từ thời Moses, nhưng những điều răn quan trọng nhất chắc chắn phản ánh tinh thần của Yahweh giáo nguyên thuỷ. Điều răn đầu tiên là “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta,” cho thấy đây không phải là độc thần nói theo nghĩa chính xác. Sự tồn tại của các thần khác không bị chối bỏ. Trong bài hát chiến thắng xướng lên sau khi vượt qua Biển Đỏ, Moses thốt lên: “Ai trong bậc thần minh được như Ngài, lạy CHÚA?” Tuy vậy, phải có lòng trung thành tuyệt đối vì Yahweh là một “vị Chúa ghen tuông.” Ngay lập tức có một cuộc đấu tranh chống lại các nguỵ thần xảy ra tại Baal-peor sau thi thoát khỏi sa mạc. Chính tại đó mà những người con gái của Moabit mời người Israel đến lễ hiến tế cho những vị thần của họ. “Và mọi người ăn và cúi đầu trước những vị thần của họ,” điều này làm khơi dậy cơn giận của Yahweh. Đối với Israel, sự tranh đấu khởi nguồn từ Baal-peor này vẫn còn tiếp diễn.

Ý nghĩa của điều răn thứ hai “Ngươi không được tạc tượng, vẽ hình …“ khó nhận ra. Nó không phải là lệnh cấm thờ ngẫu tượng. Hình ảnh, thứ quen thuộc với những việc thờ cúng ngoại giáo được biết đến một cách rộng rãi chỉ là vỏ ngoài của thánh thần. Có lẽ ý tưởng nền tảng của điều răn này ám chỉ việc cấm coi Yahweh như một đối tượng thờ cúng. Cũng như việc ngài không có tên, ngài cũng không nên có hình ảnh. Chúa cho phép một số người có đặc quyền thấy ngài mặt đối mặt; đối với phần còn lại của nhân loại ngài chỉ biểu hiện qua hành động. Không giống những vị thần khác của vùng Cận Đông hoá hiện một cách vô tư dưới dạng con người, động vật hay thể dạng vũ trụ, Yahweh chỉ được nhận ra duy nhất ở dạng hình người. Nhưng ngài cũng viện đến những biểu hiện vũ trụ, vì cả thế giới do ngài tạo ra.

Thuyết nhân hoá của Yahweh có tính hai mặt. Một mặt, Yahweh biểu thị những phẩm chất và lầm lỗi chỉ có ở con người: lòng trắc ẩn và ghen ghét, hân hoan và đau khổ, tha thứ và trả thù. (Tuy nhiên, ngài không để lộ điểm yếu và lỗi lầm như những vị thần Homer, và ngài cũng không khoan dung nếu bị chế giễu như những vị thần Olympus.) Mặt khác, không giống phần lớn các vị thần, Yahweh không phản ánh hoàn cảnh của con người; ngài có một thiên triều nhưng không có gia đình: Yahweh chỉ có một mình. Liệu có phải chúng ta thấy một tính cách nhân hoá khác từ việc yêu cầu sự trung thành tuyệt đối của các tông đồ, cũng giống như những bạo chúa phương đông? Điều này dường như giống hơn với một ham muốn phi nhân tính cho sự hoàn hảo và thuần khiết tuyệt đối. Sự bất dung và cuồng tín đặc trưng của những ngôn sứ và người truyền giáo thuộc ba tôn giáo độc thần tìm thấy hình mẫu và sự biện hộ trong ví dụ của Yahweh.

Vậy nên sự dữ tợn của Yahweh cũng vượt ra ngoài giới hạn của thuyết nhân hóa. “Cơn giận” của ngài đôi khi bất hợp lý đến nỗi có thể quy cho “quỷ dữ.” Có một điều chắc chắn là những nét tính cách tiêu cực này sẽ bị lùi về hậu trường sau khi chiếm được Canaan, dù rằng chúng thuộc về cấu trúc ban đầu của Yahweh. Thứ thực tế liên quan đến và cũng ấn tượng nhất đó là vị chúa cho thấy một biểu hiện mới của mình hoàn toàn khác biệt với con người, một “đấng khác hoàn toàn.” Việc hai thuộc tính đối lập cùng tồn tại thể hiện qua những hành động phi lý tách biệt Yahweh khỏi tiêu chuẩn về sự hoàn hảo của con người. Từ góc nhìn này Yahweh giống với một số vị thần Hindu như Siva hay Kali-Durga. Nhưng có một điểm khác biệt quan trọng: những vị thần Ấn Độ đứng ngoài luân lý đạo đức; và vì trạng thái của họ tạo thành một hình mẫu nên những tín đồ không ngần ngại bắt chước họ. Yahweh thì ngược lại, tán thành với quan điểm cho rằng những nguyên tắc luân lý và thực hành đạo đức là quan trọng nhất: ít nhất năm trong số Mười điều răn đề cập đến vấn đề này.

Theo lời kể Kinh Thánh, sự hiển linh xảy ra sau ba tháng rời khỏi Ai Cập tại sa mạc Sinai. “Cả núi Xi-nai nghi ngút khói, vì ĐỨC CHÚA ngự trong đám lửa mà xuống; khói bốc lên như khói lò lửa và cả núi rung chuyển mạnh. Tiếng tù và mỗi lúc một tăng lên rất mạnh. Ông Mô-sê nói, và Thiên Chúa trả lời trong tiếng sấm.” Và rồi Yahweh xuất hiện trước người Israel khi đó ở dưới chân núi và lập giao ước với họ, Bộ Luật Giao Ước bắt đầu với Mười điều răn và bao gồm kha khá những quy tắc thờ phụng. Sau đó, Moses có cuộc nói trò truyện khác với Chúa và nhận được “hai tấm bia Chứng Ước, hai tấm bia đá do chính tay Thiên Chúa viết.” Mendenhall thấy rằng văn phong của Bộ Luật Giao Ước làm liên tưởng đến những hiệp ước của các vua Hittite với các nước chư hầu ở vùng Cận Đông vào thiên niên kỷ thứ hai. Tuy vậy những điểm tương đồng này dù có thật nhưng không mang tính quyết định.

Không có điều gì được biết một cách chắc chắn về việc thờ cúng của người Israel trong suốt 40 năm lang thang trong sa mạc. Chương 26 và 38:8-38 của Xuất Hành đưa ra những mô tả chi tiết về thánh đường sa mạc; nó bao gồm Lều Hội Ngộ, bên trong có Hòm Bia Chứng Ước, theo truyền thuyết là một cái rương gỗ đựng những tấm bia Chứng Ước. Rất có khả năng truyền thuyết này phản ánh một tình huống thực tế. Những cái lều hay kiệu thờ mang theo ngẫu tượng bằng đá được chứng thực tồn tại giữa những người Ả-Rập tiền Hồi Giáo.Những văn bản không đề cập đến việc lều và hòm ở cùng nhau, nhưng rất có khả năng là người Ả-Rập để hòm trong lều. Cũng như chúa của cha trước đây, Yahweh dẫn dắt người của ngài. Cái hòm tượng trưng cho sự hiện diện vô hình của ngài, nhưng không thể biết được bên trong nó chứa thứ gì.

Theo truyền thuyết Moses chết ở Đồng bằng Moab đối diện núi Jericho. Yahweh chỉ cho ông vùng đất Canaan: “Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không được qua đó.” Cái chết này cũng tương xứng với con người hình tượng huyền thoại của Moses. Tất cả mọi điều có thể nói về người mang cái tên này là ông nổi tiếng với việc liên tiếp gặp Yahweh. Sự mặc khải mà Moses là trung gian khiến ông cùng lúc là một nhà tiên tri và cũng là một ‘pháp sư” – là hình mẫu của những linh mục Levi và là nhà lãnh đạo có sức lôi cuốn, người đã thành công trong việc biến một nhóm các gia tộc trở thành hạt nhân của một quốc gia, những người dân Israel.

Tôn giáo dưới quyền các thủ lãnh: giai đoạn đầu của sự đồng bộ hóa

Thời kỳ nằm giữa năm 1200 trước công nguyên (khi nhóm của Moses được Joseph dẫn dắt vào Canaan) và năm 1020 trước công nguyên (khi Saul tuyên bố là vua) được thống nhất chung gọi là Thời đại của các Thủ lãnh. Thủ lãnh là những nhà lãnh đạo quân sự, ủy viên và thẩm phán. Cũng trong thời kỳ này mà nhiều bộ lạc khác chấp nhận Yahweh giáo, đặc biệt là sau một số chiến thắng vẻ vang vì có Yahweh can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến. Ngài đảm bảo với Joseph “”Đừng sợ chúng, vì Ta đã nộp chúng vào tay ngươi” và Yahweh làm “cho rơi những hòn đá lớn xuống” từ trên trời và giết hàng ngàn quân địch. Sau khi chiến thắng vua Canaan là Jabin, Deborah và Barak hát thánh ca: “Thân lạy ĐỨC CHÚA, khi Ngài ra khỏi Xê-ia, khi Ngài từ ruộng đồng Ê-đôm xuất phát, thì trái đất chuyển rung, các tầng trời tan chảy, mây cũng tan chảy thành mưa.” Ngắn gọn thì Yahweh đâ chứng minh rằng mình mạnh hơn các thần Canaan. Cuộc chiến dưới danh nghĩa của ngài là một cuộc thánh chiến: người tham chiến được thánh hóa (qiddes) và phải giữ gìn sự thuần khiết lễ nghi. Chiến lợi phẩm bị “cấm,” nghĩa là phải thiêu hủy hoàn toàn cho Yahweh.

Để thích nghi với một kiểu tồn tại mới, Yahweh giáo tiến hóa và thay đổi. Trước tiên là sự chống đối lại những giá trị được trân trọng nhất bởi mọi cộng đồng của những người chăn nuôi. Luật về sự hiếu khách, luật bất khả xâm phạm giữa những người du mục đã bị Jael phản bội: bà mời tướng Canaan là Sisera vào lều khi ông đang chạy trốn và giết ông trong lúc ngủ. Thánh đường di dộng của Moses cũng không còn được dùng. Sự thờ phụng giờ diễn ra tại những thánh đường cố định.

Nhưng trên hết, chính sự giáp mặt với tôn giáo Canaan là điều sẽ ghi dấu những hệ quả, và còn tiếp diễn đến tận thế kỷ thứ 7 trước công nguyên. Hệ quả của sự liên hợp Yahweh-El là những thánh đường thuộc về El từ thời tiền Yahweh giáo và kha khá những thánh đường Canaan khác giờ đây được dành cho Yahweh. Điều ngạc nhiên hơn là có một sự nhầm lẫn giữa Yahweh và Baal trong suốt Thời đại của các Thủ lãnh. Những cái tên có yếu tố baal thậm chí được tìm thấy trong những gia đình theo đức tin Yahweh giáo. Gideon nổi tiếng cũng được gọi là Jerubbaal, nghĩa là “Baal chiến đấu.” Điều này tiền giả định rằng baal, nghĩa là “Chúa tể,” được hiểu như một hình dung từ của Yahweh hoặc giả Baal cũng được tôn sùng bên cạnh Yahweh. Hẳn là ban đầu Baal phải được coi là “thần của vùng đất,” là chuyên gia tối hậu về sinh trưởng. Chỉ về sau giáo phái của ông mới bị ghê tởm và trở thành tấm gương về sự bỏ đạo.

Một phần lớn hệ thống tế lễ của Canaan được thâu nhặt. Dạng đơn giản nhất là dâng cúng những món đồ lễ khác nhau tại một thánh địa hoặc rẩy dầu hay nước. Đồ cúng tế được xem như thức ăn cho thánh thần. Cũng trong thời gian này người Israel đã thực hành lễ toàn thiêu (olah) mà họ diễn giải như một sự hiến dâng cho Yahweh. Thêm vào đó, họ cũng tiếp nhận kha khá những thực hành của người Canaan liên quan đến nông nghiệp và thậm trí là cả một số nghi thức trác táng. Quá trình đồng hóa được tăng cường sau này dưới chế độ quân chủ khi có sự đề cập đến điếm thiêng ở cả hai giới.

Các thánh đường được xây theo mô hình Canaan gồm có ban thờ, massebahs(đá dựng đứng), asherahs (những cột trụ tượng trưng cho nữ thần của Canaan là Asherah), và các bình lọ để rẩy nước. Giữa những đồ hành lễ này chúng ta đề cập thứ quan trọng nhất: teraphim (ảnh tượng hay mặt nạ) và ephods (vải phủ lên ảnh tượng). Nhân viên của giáo hội được bố trí quanh thánh đường như những người canh gác. Trọng yếu nhất là các linh mục và người Levi: họ hiến vật tế và tìm hiểu ý muốn của Yahweh qua việc rút thăm và ephod. Bện cạnh linh mục và người Levi là thầy bói hay nhà tiên tri (roeh) nhưng chúng ta có quá ít thông tin về phận sự của họ. Nhà tiên tri không bị gắn chặt với thánh đường như ngôn sứ (nabiim). Ví dụ nổi tiếng là Balaam: ông thấy Yahweh lúc mơ hay tỉnh; ông phải nhìn thấy người Israel để có thể nguyền rủa họ. Kiểu ngây ngất này cũng được thấy trong các cộng đồng du mục khác (ví dụ như kahin giữa những người Ả-Rập).

Quan trọng hơn nhiều là chức năng của “ngôn sứ” (rabi) mà chúng ta sẽ nói sau. Còn giờ chúng ta chỉ thêm vào một chút là những lời tiên tri trong lúc ngây ngất của người Israel có gốc rễ sâu xa từ tôn giáo Canaan. Và thực tế là sự thờ phụng Baal có bao gồm nabiim, nhưng những kiểu trải nghiệm ngây ngất này thì tương đối phổ biến ở vùng Cận Đông cổ, trừ Ai Cập. Người Sumer đã biết “kẻ lên thiên đường,” một cách nói chỉ ra hành trình trong trạng thái ngây ngất, có thể so sánh được với điều tương tự ở các pháp sư. Tại Mari, những văn bản của thế kỷ 18 nói về apilum (“kẻ phản hồi”) hay muhhummuhhutum, người nam hoặc nữ nhận được những lời sấm của các vị thần từ trong giấc mơ hay hình ảnh. Những apilum hay muhhum này giống với nabiim. Cũng giống như ngôn sứ của Israel, họ dùng những cụm sấm ngữ ngắn và truyền đến những vị vua, thậm chí cả khi những lời này là tin xấu hay chỉ trích một số hành vi của kẻ cầm quyền.

Thậm chí ngay từ thế kỷ đầu sau khi chinh phục và thuộc địa hóa đã có thể chú ý thấy ảnh hưởng sâu sắc và đa dạng của Canaan. Hệ thống nghi lễ, thánh địa và thánh đường đều lấy từ Canaan; tầng lớp linh mục được tổ chức theo mô hình Canaan; ngay cả ngôn sứ cũng là sản phẩm của sự ảnh hưởng từ Canaan, chính những người mà sau này lại sẽ sớm phản đối quyền tối thượng của các linh mục và sự đồng bộ hóa với những giáo phái sinh trưởng. Những ngôn sứ nhận về họ Yahweh giáo thuần túy nhất. Về một góc độ nào đó thì họ đúng; nhưng Yahweh giáo mà họ tuyên bố lại là tôn giáo đã đồng hóa những yếu tố sáng tạo nhất của văn hóa và tôn giáo Canaan, những thứ họ cực kỳ ghê tởm.

V. Ấn Độ trước thời Phật Cồ Đàm: Từ Hiến Tế Vũ Trụ đến Danh Tính Tối Hậu Tiểu Ngã – Đại Ngã 

Hình thái học của những nghi lễ Vệ Đà

Thờ cúng Vệ Đà không có thánh đường; nghi lễ được tổ chức trong nhà hay ngoài sân cỏ với 3 đống lửa. Các đồ cúng không phải là thịt thì có sữa, bơ, ngũ cốc, và bánh. Dê, bò, cừu và ngựa được hiến tế. Nhưng từ thời Rig Vệ Đà thì soma được coi là quan trọng nhất.

Nghi lễ rơi vào hai tầng lớp: nội bộ và trang trọng. Nghi lễ nội bộ được tiếng hành bởi chủ nhà theo truyền thống. Nghi lễ trang trọng được thực hiện bởi quan chức được ủy quyền trực tiếp dựa trên sự mặc khải của chân lý vĩnh hằng.

Đối với nghi lễ nội bộ thì quan trọng nhất là những phép bí tích hay những sự thừa nhận liên quan đến sự thụ thai và sinh nở; sự giới thiệu đứa trẻ đến người thầy Bà-la-môn; cưới hỏi; và tang lễ. Đây là những nghi lễ tương đối đơn giản không cần thịt.

Trong các bí tích thì upanayana, tương đồng với lễ thụ pháp dậy thì của các xã hội cổ xưa, là quan trọng nhất. Người thầy sẽ “thụ thai” câu bé trong ba ngày. Sau đó cậu bé sẽ được “sinh ra lần hai” (dvi-ja), thuật ngữ này xuất hiện lần đầu trong kinh Atharva Vệ Đà.

Theo Laws of Manu, người giao tiếp với đồ đệ qua ngôn ngữ Vệ Đà (Bà-la-môn) được coi như cha mẹ của họ. Giữa cha đẻ và thầy Bà-la-môn thì người thầy mới được coi là người cha thực sự.

Các nghi lễ trang trọng cấu thành hệ thống lễ nghi dù không thay đổi nhưng cực kỳ phức tạp. Mô tả chi tiết một hệ thống đơn lẻ thôi cũng mất vài trăm trang sách rồi. Đơn giản nhất là agnihotra (“dâng hiến đến lửa”), thực hiện lúc tảng sáng và chạng vạng, bao gồm việc dâng sữa đến Agni. Cũng có những nghi lễ liên kết với nhịp điệu vũ trụ như “của mưa và của trăng non,” những lễ hội theo mùa, và nghi lễ mùa quả đầu tiên. Nhưng những sự cúng tế thiết yếu là những cúng tế soma. Agnistoma (“ca ngợi Agni”) được cử hành mỗi năm một lần vào mùa xuân bao gồm cả 3 ngày “sùng bái.” Bên cạnh những hoạt động sơ bộ thì quan trọng nhất là diksa, hiến tế người dâng lễ bằng cách tái sinh anh ta. Soma được vắt ép vào buổi sáng, buổi trưa, và buổi tối. Lúc vắt ép giữa ngày thì có sự phân phát tiền công danh dự (daksina): 7, 21, 60, 1000 con bò hoặc đôi khi là cả gia tài của người dâng lễ. Tất cả các thần đều được mời đến.

Có những lế dâng soma khác có thể dài 10 ngày, 1 năm và thậm chí 12 năm theo lý thuyết. Sự thừa nhận hoàng tộc (rajasuya) cũng được tích hợp vào hệ thống cúng tế soma. Một hệ thống lễ nghi khác cũng liên quan đến soma, dù không nhất thiết, là agnicayana, “sự chất đống (gạch thành tế đàn) của lửa.” Trong kinh nói rằng “những ngày trước đó” năm nạn nhân bị giết, một trong số đó là con người. Đầu của họ sau đó được dựng lên với lớp gạch đầu tiên. Agnicayana làm trỗi dậy suy cứu về vũ trụ mang tính quyết định cho tư tưởng Ấn Độ. Hiến tế người tái diễn sự cảm tử của Prajapati, và xây tế đàn tượng trưng cho sự sáng tạo vũ trụ.

Sự hy sinh tối cao: asvamedha puruṣamedha

Nghi lễ Vệ Đà quan trọng và nổi tiếng nhất là “hiến tế ngựa” asvamedha. Nghi lễ này chỉ được thực hiện bởi một vị vua chiến thắng, người có phẩm cách “Chủ quyền Toàn cầu.” Những kết quả của nó được phát tán khắp đất nước, tẩy uế và đảm bảo sự sinh trưởng và thịnh vượng. Các nghi lễ sơ bộ được giãn ra trong vòng một năm, trong thời gian này một con ngựa giống được thả cùng 100con ngựa khác. 400 trai trẻ được cử ra để canh giữ, không cho nó tiếp cận ngựa cái. Nghi lễ chính kéo dài trong 3 ngày. Vào ngày thứ hai một số lượng lớn vật nuôi bị giết. Cuối cùng, chú ngựa giống lúc này đã là hóa thân của thần Prajapati đã sẵng sàng để hy sinh, sẽ bị làm nghẹt thở. Bốn nữ hoàng, mỗi vị được tháp tùng bởi 100 người hầu gái, sẽ đi vòng quanh xác ngựa và người vợ chính sẽ nằm xuống cạnh nó; bà sẽ phủ áo choàng lên và giả vờ làm tình. Trong thời gian này, các thầy tế và đám phụ nữ trao đổi với nhau những khoái lạc trần tục. Ngay khi nữ hoàng đứng dậy thì chú ngựa và các nạn nhân khác sẽ được mổ xẻ. Ngày thứ 3 có những nghi lễ khác diễn ra, và cuối cùng tiền công danh dự (daksina) được phân phát cho các thầy tế; họ cũng nhận luôn cả 4 vị nữa hoàng hoặc các người hầu của họ.

Hiến tế ngựa rõ ràng là có nguồn gốc Ấn-Âu, nhưng chỉ ở Ấn Độ nó mới đạt được vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo và suy cứu thần học. Một mặt con ngựa được định danh với vũ trụ ( = Prajapati) và sự hy sinh của nó tượng trưng cho hành động sáng thế. Mặt khác, các kinh thuộc Rig Vệ Đà và Bà-la-môn nhấn mạnh mối liên hệ giữa ngựa và vùng nước sơ khai. Lễ cúng tế hướng tới việt hồi sinh toàn bộ vũ trụ và cùng lúc tái thiết các giai cấp xã hội về hình mẫu hoàn hảo của họ. Con ngựa đại diện cho quyền lực hoàng gia (ksatra) và xa hơn là định danh với Yama, Aditya (mặt trời), và Soma (nghĩa là những vị thần thống trị) thay cho nhà vua. Điều này cần được chú ý khi chúng ta phân tích mọt kịch bản tương tự, purusamedha, “hiến tế người.” Cùng với những con thú, một Bà-la-môn hay một ksatrya (tầng lớp chiến binh) được mua với giá 1000 con bò hay 100 con ngựa cũng bị hiến. Người này cũng được thả tự do trong 1 năm và cũng có phần nữ hoàng nằm cạnh thi thể.

Purusamedha được mô tả trong các kinh thuộc sruti, nhưng chỉ trong Sankhayana Vaitana mới chỉ định việc giết nạn nhân. Ở những chuyên luận khác, người đàn ông được thả vào phút cuối và một con thú bị giết thay anh ta. Kịch bản của purusamedha đã được chứng minh là có sự tương đồng đáng kinh ngạc với một truyền thuyết Đức: làm bị thương bởi một cây giáo và treo mình trên Cây Thế Giới trong chín đêm, Odin “tự hiến mình cho mình” để thu được sự khôn ngoan và làm chủ phép thuật. Adam vùng Bremen đã viết vào thế kỷ 11 rằng sự hiến tế này được tái hiện thực hóa 9 năm một lần tại Uppsala bằng cách treo 9 người và các con thú khác.

Cấu trúc thụ pháp của các nghi lễ: Thụ pháp (diksa), thừa nhận hoàng tộc (rajasuya)

Một lễ thụ pháp ám chỉ việc “chết” và “tái sinh” của đệ tử, anh ta tái sinh vào một dạng tồn tại cao hơn. Nghi lễ “chết” thu được qua việc tượng trưng giết để cúng tế hoặc quay lại tử cung. Kinh Satapatha Brahmanatuyên bố rằng, “Con người được sinh ra 3 lần: lần đầu bởi cha mẹ, lần hai khi anh ta hiến sinh cho tế lễ,…lần ba khi anh ta chết và hỏa thiêu, và sau đó quay lại cuộc sống lần nữa.

Thụ pháp diksalà sự chuẩn bị bắt buộc trong mọi sự hiến tế soma, nhưng nó cũng được thực hành trong những dịp khác. Điều kiện phôi thai trong suốt quá trình diksa,“các tư tế biến người được diksathành một phôi thai. Họ tưới nước lên anh ta; nước là hạt giống tính nam… Họ cho anh ta vào một căn lều đặc biệt: cái lều đặc biệt này là tử cung của người thực hiện diksa. Họ mặc y phục cho anh ta: y phục là màng ối… Anh ta nắm tay lại; phôi thai nắm tay lại miễn là nó còn ở trong tử cung.”

Sự sinh ra mới này khiến người dâng lễ có thể được đồng hóa với các vị thần. “Số mệnh của người dâng lễ là được sinh ra ở thiên giới.” “Người được thụ pháp tiếp cận các vị thần và trở thành một trong số họ.” Diksacũng được xác định với cái chết. “Khi anh ta tự phụ pháp mình, anh ta (người dâng lễ) chết lần thứ hai.”

Nghi lễ về sự chết là điều kiện ban đầu để đạt được sự hiện diện của các vị thần, và cùng lúc có được cuộc sống viên mãn trong thế giới này. Trong thời kỳ Vệ Đà, “sự thần hóa” trong chốc lát qua hiến tế không ám chỉ việc giảm giá trị cuộc sống và sự tồn tại của con người. Ngược lại, bằng nghi lễ kiểu này mà người dâng lễ cũng như cả xã hội và thiên nhiên được ban phúc và hồi sinh.

Sự thừa nhận của vua Ấn Độ – rajasuya– bao gồm cùng lúc “sự chết”, “việc thai nghén” và “tái sinh” của người dâng lễ diễn ra ở khoảng thời gian của Năm Mới. Rajasuyacó lẽ là phiên bản rút gọn của tất cả các lễ hội thường niên hướng tới việc tái tạo vũ trụ. Vai trò trung tâm thuộc về nhà vua vì ông được kết hợp với vũ trụ theo nghĩa nào đó. Những giai đoạn khác nhau đưa vị vua tương lai vào trạng thái phôi thai, thai nghén trong 1 năm, và rồi tái sinh bí ẩn như một kẻ sáng thế, định danh với cả Prajapati và vũ trụ. Thời kỳ thai nghén liên hệ với sự trưởng thành của vũ trụ, rất có thể khởi nguồn từ sự nảy nở của mùa màng. Giai đoạn thứ 2 hoàn thiện cơ thể mới của vị vua qua lễ cưới bí ẩn với giai cấp Bà-la-môn hoặc hoặc với nhân dân (ông sẽ được sinh ra từ tử cung của họ) hoặc qua sự hợp nhất của vùng nước đực với vùng nước cái hoặc sự hợp nhất của vàng (biểu hiện của lửa) và nước.

Giai đoạn ba gồm một chuỗi các nghi lễ giúp vị vua có được chủ quyền của ba thế giới. Việc vị vua giơ tay tượng trưng cho sự dựng lên cột trụ trời. Khi vị vua được xức dầu, ông đứng trên ngai vàng với cánh tay giơ cao tượng trưng cho cột trụ trời đặt tại trung tâm thế giới – ngai vàng – và chạm đến trời. Nước từ trên trời đổ xuống qua cột trụ trời để làm mặt đất phì nhiêu. Sau đó vị vua bước một bước về mỗi hướng chính của 4 hướng tượng trưng cho việc thăng lên thiên đỉnh. Vị vua do đó có chủ quyền với 4 hướng không gian và các mùa; nói cách khác là toàn vũ trụ.

Vũ trụ học và siêu hình học

Những nguồn gốc vũ trụ, cũng như những ý tưởng và niềm tin tôn giáo khác, là di sản của thời tiền sử ở khắp nơi trong thế giới cổ đại. Điều quan trọng nhất đối với mục đích của chúng ta là sự diễn giải và tái đánh giá một số nguồn gốc vũ trụ của người Ấn Độ. Một trong những thần thoại cổ xưa và phổ thông nhất là “lặn vũ trụ,” trở thành phổ biến ở Ấn Độ tương đối muộn, đặc biệt là trong Sử thi và Puranas.

Có bốn kiểu nguồn gốc vũ trụ làm các nhà thơ Vệ Đà và các nhà thần học say mê: (1) sáng thế bởi sự sinh sôi của nước nguyên thủy; (2) sáng thế bởi cắt xẻ quái vật nguyên thủy khổng lồ Purusa; (3) sáng thế từ cái thống nhất-toàn thể, cùng lúc tồn tại và không tồn tại; (4) sáng thế bằng cách tách trời và đất.

Trong Rig Vệ Đà, vị thần được được tưởng tượng như một Hiranyagarbha (Phôi thai Vàng) bay lượn trên Mặt nước; thâm nhập vào Mặt nước, ông làm nó sinh sôi và sinh ra thần lửa Agni.

Ở chủ đề thứ hai, Purusa (“Người đó”) cùng lúc đại diện cho vũ trụ toàn thể và một sinh vật lưỡng tính. Purusa sinh ra năng lượng sáng tạo giống cái, Viraj và sau đó được sinh ra bởi bà. Các vị thần hiến tế “Người đó”: Từ cơ thể bị cắt xẻ của ông khởi lên những con thú, những yếu tố lễ nghi, các giai cấp xã hội, bầu trời và mặt đất, các vị thần: “Miệng ông trở thành Bà-la-môn, cánh tay trở thành Chiến binh, đùi trở thành Nghệ nhân và bàn chân trở thành Người hầu. Bầu trời hình thành từ đầu ông, mặt đất từ chân ông, mặt trăng từ ý thức của ông, mặt trời từ ánh nhìn của ông, Indra và Agni từ miệng ông, gió từ hơi thở của ông, v.v.

Chức năng kiểu mẫu của sự hiến tế này nhấn mạnh ở câu thơ cuối: “Những vị thần đã hiến tế vật hiến tế bằng vật hiến tế”; nói cách khác Purusa vừa là nạn nhân hiến tế, vừa là thần tính của vật hiến tế. Câu hát tuyên bố rõ ràng rằng Purusa đi trước và vượt qua sự sáng thế, mặc dù vũ trụ, sự sống, và con người khởi lên từ cơ thể ông. Purusa cùng lúc vượt thế và nội hành, một trạng thái tồn tại điển hình của các vị thần vũ trụ Ấn Độ. Thần thoại kiểu này có thể tìm thấy ở Trung Quốc (P’an-ku), những những người Đức cổ (Ymir), và ở vùng Lưỡng Hà (Tiamat).

Trong một thánh ca nổi tiếng nhất Rig Vệ Đà, nguồn gốc vũ trụ được giới thiệu một cách siêu hình. Nhà thơ tự hỏi làm sao Tồn tại có thể sinh ra từ Không tồn tại, khi mà thủa ban đầu “chẳng có Tồn tại cũng chẳng có Không tồn tại”. Chỉ có một nguyên gốc không phân chia gọi là Duy Nhất (trung tính). “Duy Nhất thở bằng động lực của chính nó mà không tồn tại một hơi thở nào.” “Thủa ban đầu, bóng tối bị ẩn trong bóng tối,” nhưng nhiệt (sinh ra bởi khổ hạnh tu tapas) đã sinh ra “Duy Nhất,” “tiềm năng (abhu)” – nghĩa là “phôi thai” – được bao bọc bởi “sự trống không”. Từ thai chủng này (“tiềm năng”) phát triển thành Khao khát (kama), và cũng chính Khao khát này “là hạt nhân (retas) đầu tiên của Ý thức (manas),” một sự khẳng định đáng kinh ngạc dự đoán trước một trong những luận đề chính yếu của tư tưởng triết học Ấn Độ. “Hạt nhân đầu tiên” sau đó tự chia thành “cao” và “thấp,” gốc đực và gốc cái. Nhưng câu đố về sáng tạo thứ cấp, tức là những sáng tạo về mặt hiện tượng vẫn chưa có lời giải. Những vị thần được sinh ra sau đó, do đó họ không phải là tác giả của sự sáng tạo. Nhà thơ kết luận với một dấu hỏi: “Chỉ kẻ trông nom thế giới trên cõi tối thượng mới biết – trừ khi ngài cũng không biết?

Bài thánh ca này đại diện cho đỉnh điểm trong suy cứu Vệ Đà. “Duy Nhất” – một thực thể tối hậu chưa được biết – có trước vũ trụ và sáng tạo ra thế giới bằng cách hóa hiện từ chính sự tồn tại của nó mà không làm mất sự siêu việt của nó. Ý tưởng này là nền tảng cho suy cứu Ấn Độ sau này: cả ý thứcvũ trụ là sản phẩm của khao khát (kama)tiền tạo. Chúng ta sẽ thấy ở đây một trong những thai chủng của triết học Samkhya-Yoga và Phật giáo.

Thần thoại thứ tư, sự phân tách trời và đất (hay Indra cắt xẻ Vrtra) là một sự chặt chém thô bạo một cái toàn thể với mục đích tạo ra thế giới. Đây là một chủ đề cổ xưa nhưng vẫn đưa đến những sự tái diễn giải và áp dụng rất ngạc nhiên.

Cuối cùng, chúng ta sẽ dẫn thêm một sự sáng tạo vởi một nhân vật thần thánh, Nghệ Nhân Toàn Thế, Visvakarman, kẻ định dạng thế giới như một nhà điêu khắc, thợ hèn hay thợ mộc.

Trong trường hợp nào thì các vị thần cũng tồn tại sau sự sáng thế. Họ không bất tử mà nhận được sự bất tử từ Savitri, hay Agni, hay từ việc uống soma. Indra bất tử nhờ tu khổ hạnh tapas. Theo Brahmanas, bằng việc thực hiện những hiến tế nhất định mà các vị thần trở thành bất tử.

Con người có tổ tiên thần thoại là Manu, con trai của Vivasvat, người đầu tiên và cũng là người dâng lễ đầu tiên. Ở một phiên bản khác thì cha mẹ con người là Yama và chị ông Yami, những người con của Vivasvat. Cuối cùng, con người có nguồn gốc và phân ra bốn giai cấp như chúng ta đã thấy trong thần thoại về Purusa. Ban đầu, con người cũng có thể trở nên bất tử nhờ hiến tế, nhưng sau này các vị thần quyết định sự bất tử chỉ nên thuộc về linh hồn, nghĩa là chỉ có sau khi chết. Có một thần thoại khác giải thích sự chết. Trong Mahabharata, Brahma đưa ra cái chết để giải phóng trái đất khỏi gánh nặng con người, tránh việc nó bị chìm vào đại dương.

Những thần thoại kiểu này được chứng kiến tại nhiều truyền thống văn hóa khác, nhưng chỉ ở Ấn Độ nó mới làm trỗi dậy những kỹ thuật hiến tế, những phương pháp chiêm nghiệm, và những suy cứu mang tính quyết định cho sự thức tỉnh một dự cảm tôn giáo mới.

Học thuyết về hiến tế trong Brahmanas

Thần thoại về Purusa là điểm khởi phát cho lý thuyết hiến tế trong Brahmanas (khoảng 1000 – 800 trước công nguyên). Cũng như Purusa hiến thân để tạo ra vũ trụ, Prajapati sẽ phải chịu đựng sự kiệt quệ chết người sau khi làm một công việc cấp vũ trụ. Vị Chúa Tể Của Các Sinh Vật này theo cách nào đó giống với cả “Duy Nhất” của Rig Vệ Đà và Visvakarman, nhưng điều đặc biệt hơn là ông tiếp nối Purusa. Các văn bản cũng xác định ông với Purusa: “Purusa là Prajapati; Purusa là Năm.” Thủa ban đầu, Prajapati là Thống Nhất-Toàn Thể chưa hóa hiện, một sự hiện diện thuần tinh thần. Nhưng khao khát (kama) đã xúi giục ông tự nhân bản và tái tạo. Ông tự “làm nóng” đến nhiệt độ cực đại qua phương pháp tu khổ hạnh và sáng thế bằng cách phát xạ, chúng ta có thể hiểu điều này như là đổ mồ hôi hoặc xuất tinh. Đầu tiên ông tạo ra brahman, nghĩa là Tam Minh; sau đó ông tạo ra Nước bằng Ngôn Từ. Khát khao tự tái tạo mình bằng Nước, ông thâm nhập vào Nước, một quả trứng lớn dần với vỏ trở thành mặt đất. Sau đó các vị thần được tạo ra để ở trên trời và các A-tu-la được tạo ra để ở dưới đất, v.v.

Rồi Prajapati nghĩ: “Thật chứ, mình phải tạo ra đồ trang sức cho chính mình, đó là Năm.” Đó là lý do “Prajapati là Năm.” Bằng cách cho đi cái tiểu ngã (atman) của mình cho các vị thần, ông tạo ra một món trang sức khác cho mình, đó là hiến tế, do đó mọi người nói: “Hiến tế là Prajapati.” Ngoài ra các khớp trong cơ thể vũ trụ của Prajapati là năm mùa trong năm và năm hướng của hỏa tế đàn.

Ba thứ nhận biết Prajapati với vũ trụ, với thời gian tuần hoàn (năm), và với hỏa tế đàn cấu thành một sự mới lạ rất lớn trong lý thuyết hiến tế Bà-la-môn. Nó đánh dấu chuẩn bị cho những khám phá của các tác giả Upanishads (Áo Nghĩa Thư). Ý tưởng nền tảng là Prajapati tiêu thụ chính mình trong lúc sáng thế bằng cách “làm nóng” và liên tục “phát xạ” và kết thúc vì kiệt quệ. “Sau khi Prajapati phóng ra những sinh vật sống, các khớp của ông rời ra. Giờ Prajapati là Năm, và khớp của ông nối ngày với đêm (nghĩa là lúc tảng sáng và chạng vạng), trăng tròn với trăng non, và sự bắt đầu của các mùa. Ông không thể dựng mình dậy với các khớp lỏng lẻo; và các vị thần chữa cho ông bằng (nghi lễ) agnihotra, làm khớp ông mạnh mẽ lên.” Nói cách khác, sự phục hồi và sắp xếp lại cơ thể vũ trụ của Prajapati bị ảnh hưởng bởi tế lễ.

Ý nghĩa nguyên bản của hiến tế trong Brahmanas là tái tạo vũ trụ đã bị “tháo rời,” “kiệt quệ” do chu kỳ thời gian (năm). Qua việc cúng tế – tức là các hoạt động không ngừng của các tư tế – mà thế giới được cứu sống, kết nối chặt chẽ, và phì nhiêu. Đây là ứng dụng mới của ý tưởng cũ và cũng là lời biện hộ cho sự tự cao của các Bà-la-môn. Vì “mặt trời sẽ không mọc nếu các thầy tế không dâng lên vật cúng cho lửa vào lúc rạng đông.” Trong Brahmanas, các vị thần Vệ Đà bị bỏ qua hoặc chỉ là thứ cấp đối với quyền năng sáng tạo phù phép của cúng tế; họ trở nên thần thánh và bất tử cũng là nhờ cúng tế. Nhưng cúng tế phải được thực hiện một cách đúng đắn với đức tin: chỉ một chút nghi ngờ hiệu quả của nó cũng có thể dẫn đến những hậu quả thảm khốc.

Mạt thế luận: Nhận dạng thành Prajapati qua cúng tế

Một ý tưởng mới nhanh chóng xuất hiện: cúng tế không chỉ tái tạo Prajapati mà còn có thể tạo ra một thực thể tinh thần bất hoại tiểu ngã (atman). Bằng việc xây hỏa tế đàn (agnicayana) người dâng lễ nhận dạng mình thành Prajapati; hỏa đàn Prajapati, và cùng lúc đó người dâng lễ trở thành hỏa đàn. Bằng quyền năng phù phép của nghi lễ, người dâng lễ xây cho mình một cơ thể mới, tiến lên thiên đường nơi anh ta được sinh ra lần thứ hai và trở nên “bất tử.” Điều này nghĩa là sau khi chết anh ta sẽ quay lại với cuộc sống, với “không chết,” một thể dạng tồn tại vượt ngoài thời gian. Điều quan trọng nhất và cũng là mục đích của nghi lễ là trở nên “trọn vẹn” (sarva), “hợp thành,” và bảo tồn được điều kiện này sau khi chết.

Bằng việc “lắp ráp” Prajapati, người dâng lễ tự “làm trọn vẹn” mình. Anh ta dựng lên cho mình một cái ngã riêng, tiểu ngã. Thông qua hoạt động nghi lễ mà các chức năng tâm sinh lý của người dâng lễ được tập hợp và hợp nhất tạo thành tiểu ngã; qua tiểu ngã mà người dâng lễ trở thành “bất tử.” Các vị thần cũng đạt tới sự bất tử qua hiến tế và thu được đại ngã (brahman). Điều này ám chỉ rằng đại ngã tiểu ngã là như nhau.

Prajapati (đại ngã) và tiểu ngã là như nhau vì chúng là kết quả của cùng một hành động (“tái cấu trúc,” hợp nhất), nhưng thông qua những vật liệu khác nhau: những viên gạch của hỏa đàn đối với Prajapati-đại ngã, những chức năng thể chất và tinh thần đối với tiểu ngã. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là một thần thoại vũ trụ đã cấu thành một hình mẫu cho “sự kiến tạo” tiểu ngã. Nhiều kỹ thuật Yoga khác nhau áp dụng cùng một nguyên lý” “sự tập trung” và “hợp nhất” của những tư thế, của hơi thở, của hoạt động tinh thần.

Sự khám phá ra tiểu ngã đại ngã sẽ được khai thác không ngừng nghỉ với những đánh giá khác nhau trong Upanishads. Tại thời điểm này, chúng ta sẽ nói thêm rằng trong Brahmanas, đại ngã biểu thị quá trình của hiến tế vũ trụ cũng như quyền năng bí ẩn duy trì thế giới. Nhưng trong những kinh Vệ Đà đại ngã được nghĩ như, và được gọi là thứ bất tử, bất biến, là nền tảng, là cội nguồn căn bản của mọi sự tồn tại.

Tapas: Kỹ thuật và phép biện chứng của những khổ hạnh đạo

Thuật ngữ tapas dẫn xuất từ gốc tap nghĩa là “làm nóng.” Khái niệm này thuộc về một truyền thống của Ấn-Âu, “cực nóng” hay “thịnh nộ” là một phần của nghi lễ kiểu anh hùng. “Làm nóng: bằng những kỹ thuật tâm sinh lý hay chế độ ăn uống được chứng thực giữa những thầy thuốc, pháp sư của những nền văn hóa nguyên thủy. Quyền năng pháp thuật được đi kèm với một nguồn nội nhiệt mạnh mẽ.

Người Ấn Độ gốc Ấn-Âu và đặc biệt là Ấn Độ Vệ Đà đã thừa hưởng những kỹ thuật từ thời tiền sử và đa dạng hóa chúng theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần nói rõ rằng không có một nghi lễ “làm nóng” ở bất cứ đâu đạt đến mức độ cao như của tapas ở Ấn Độ.

Khổ hạnh “làm nóng” có mô hình hay những tương đồng về mặt hình ảnh, biểu tượng và thần thoại liên hệ với hơi nóng “làm chín” mùa màng và ấp những quả trứng để đảm bảo chúng được nở, đi kèm với hưng phấn tình dục, đặc biệt là sức nóng của cực khoái, và với lửa nhóm bởi hai thanh gỗ chà sát vào nhau. Như ta đã biết, Prajapati tự làm nóng qua tapas để tạo ra thế giới. Về mặt nghi lễ, tapas tạo điều kiện cho tái sinh – nghĩa là chuyển từ thế giới này đến thế giới của các vị thần, từ “trần tục” thành “linh thiêng.” Tu khổ hạnh giúp những nhà chiêm nghiệm “ấp” những bí ẩn của tri thức bí truyền và đem đến cho họ sự mặc khải về những chân lý thâm sâu.

Tu khổ hạnh đem đến cho người tu một “sức mạnh” siêu nhiên, thứ có thể trở nên ghê sợ và đôi khi làm người ta lạc lối. Về bản chất, tapas sinh ra bởi nhịn ăn, bởi việc không ngừng quan sát một đống lửa, bởi việc đứng dưới mặt trời, hay hiếm hoi hơn là việc hấp thụ những chất gây say. Nhưng “làm nóng” cũng thu được từ việc nín thở, mở đường cho sự đồng nhất hóa nghi lễ Vệ Đà với những thực hành của Yoga.

Nếu trong việc thờ cúng Vệ Đà, các vị thần được dâng lên soma, bơ nóng và lửa thiêng, thì trong thực hành khổ hạnh họ lại được dâng “hiến tế nội tâm” – đồ cúng được thay bằng các chức năng sinh lý. Quan niệm hiến tế nội tâm này là một sự phát triển với nhiều hệ quả: nó sẽ cho phép ngay cả những nhà tu khổ hạnh lập dị nhất và những nhà huyền môn tồn tại trong giáo hội Bà-la-môn, sau này là Hindu. Vẫn sự hiến tế nội tâm này lại được thực hành bởi những Bà-la-môn, là “những người sống trong rừng,” mà không làm mất đi vị trí xã hội của họ như “những người chủ nhà.”

Nói ngắn gọn, tapas được tích hợp vào một chuỗi những sự đồng nhất hóa ảnh hưởng đến nhiều mặt. Một mặt, cấu trúc vũ trụ và các hiện tượng được đồng hóa với các cơ quan và chức năng của cơ thể người. Mặt khác, tu khổ hạnh được đồng nhất hóa với hiến tế. Ở một số dạng tu khổ hạnh, ví dụ như nín thở, còn được xem là cao cấp hơn cả hiến tế; kết quả của những dạng này được xem là quí giá hơn của hiến tế. Nhưng tất cả những sự đồng nhất hóa này chỉ có hiệu lực nếu phép biện chứng khai mở chúng có thể được hiểu rõ.

Trong Upanishads, sự nhận thức, trí tuệ sẽ được đưa lên vị trí hàng đầu và hệ thống hiến tế sẽ mất đi tính ưu việt của nó trong tôn giáo. Nhưng rồi hệ thống dựa trên sự vượt trội của “nhận thức” này cũng thất bại trong việc duy trì tính ưu việt của nó, ít nhất là trong một vài phân khúc xã hội.

Những nhà tu khổ hành và những nhà huyền môn: Muni, vratya

Một vài trong số những nhà tu khổ hạnh và nhà huyền môn sống bên lề xã hội Aryan mà không bị coi là “dị giáo”; nhưng có những người khác bị coi là “ngoại lai,” dù rằng không thể xác định được họ thuộc tầng lớp thổ dân sơ khai hay chỉ đơn giản là sự phản ánh lại những quan niệm tôn giáo của một số bộ lạc Aryan phát triển bên lề truyền thống Vệ Đà.

Một bài thánh ca trong Rig Vệ Đà kể về một nhà tu khổ hạnh (muni) với tóc dài, bao phủ bởi “màu nâu bẩn thỉu,” “quấn quanh với gió” (nghĩa là trần truồng), và “những vị thần nhập vào người này.” Vị muni này bay trên không. Ông ta ở cạnh hai đại dương, nơi mặt trời mọc và nơi mặt trời lặn… Đây là một ví dụ điển hình của sự xuất thần: linh hồn của vị muni bỏ rơi cơ thể.

Có cả một cuốn sách trong Atharva Vệ Đà dành cho một nhóm bí ẩn, các vratya, những người mà từ họ các học giả tìm kiếm những tiền nhân của những nhà Yoga hay là những đại diện của người phi Aryan, nhưng văn bản có phần không rõ ràng. Văn bản đề cấp đến các vratya thực hành tu khổ hạnh (duy trì ở tư thế đứng trong một năm, v.v.) cùng với kỷ luật về sự thở, tương đồng hóa cơ thể họ với vũ trụ bao la. Một nghi lễ gọi là vratyastoma được thiết lập để tái hợp những thành viên của hội này với xã hội Bà-la-môn. Trong quá trình vratyastoma có những nhân vật khác tham gia, đứng đầu là magadha, đóng vai trò của người hát, và một gái điếm. Trong dịp lễ mahavrata, cô ta giao hợp một cách nghi lễ với magadha hoặc một nhà phạm hạnh (brahmacarin).

Nhà Phạm hạnh cũng được quan niệm là một nhân vật cấp vu trụ. Được thụ pháp, bao bọc trong da sơn dương đen, râu dài, ông ta đi từ biển đông sang biển bắc và “tạo ra thế giới;” ông được ca ngợi như “phôi thai trong lòng của sự bất tử”; mặc đồ đỏ, ông tu luyện tapas. “Đại diện” thế tục của ông là nhà phạm hạnh (người có lời thề đầu tiên là giữ tiết hạnh), người sẽ giao hợp nghi lễ với gái điếm như vẫn thường xảy ra ở Ấn Độ.

Hợp nhất tình dục là một phần của nghi lễ Vệ Đà. Phân biệt giữa hợp nhất mang tính hôn nhân và hợp nhất kiểu truy hoan với mục đích sinh trưởng vũ trụ hoặc tạo ra “sự phòng thủ về mặt phép thuật” là điều quan trọng. Tuy nhiên, trong cả 2 trường hợp, đây là vấn để của những nghi lễ. Sau này mật giáo sẽ khởi thảo một kỹ thuật hoàn chỉnh nhắm đến sự biến đổi bí truyền của tình dục.

Còn có những ẩn sĩ và những nhà tu khổ hạnh trong Vaikhanasasmartasutra phân biệt qua tóc tai hay trang phục, hoặc rách nát hoặc làm từ vỏ cây: một số khác thì khỏa thân, sống bằng nước tiểu và phân bò, trú ngụ ở nghĩa địa, v.v. một số khác thực hành Yoga hay một dạng tiền mật giáo.

Từ thời của Upanishads đã có sự gia tăng tập quán từ bỏ xã hội và sống trong rừng để dành toàn thời gian cho thiền định. Thói quen này đã trở thành một hình mẫu và vẫn được thực hành ở thời hiện đại. Nhưng việc vào “rừng” của những người không phải là nhà tu khổ hạnh, nhà huyền môn hay nhà Yoga là một sự ngạc nhiên lạ lùng vào thủa ban đầu.

Upanishads (Áo Nghĩa Thư) và nhiệm vụ của các rsi: Làm sao để giải thoát khỏi “quả” từ những hành động của chính mình?

Các vị thần Vệ Đà bị hạ thấp giá trị triệt để trong Brahmanas và quá trình này được hoàn thiện bởi các tác giả của Upanishads. Nhưng họ còn đi xa hơn nữa bằng cách hạ thấp tất cả sức mạnh của chính việc hiến tế, thiếu thiền định về tiểu ngã thì việc hiến tế không hoàn thiện. Theo Maitri Upanishads, những ai tự lừa dối mình với tầm quan trọng của hiến tế thật đáng thương, vì sau khi hưởng thụ cuộc sống nơi thiên giới, họ vẫn sẽ quay lại trái đất hoặc những cõi thấp hơn. Không có vị thần hay nghi lễ nào có thể tạo ra một rsi thật sự (người được khai sáng).

Bằng việc hiến tế mà một người sau khi chết có thể đến được với nơi các vị thần trú ngụ, điều này thể hiện một “quan hệ nhân quả,” mỗi hành động đều dẫn đến một kết quả và là một phần không thể thiếu của một chuỗi nhân quả vô tận. Khi quy luật vũ trụ này được tìm ra, sự chắc chắn có được một kết quả tốt đẹp qua việc hiến tế bị hủy hoại. Bởi vì nếu nhờ hành động hiến tế mà linh hồn sau khi chết được lên thiên giới, thì đâu là hậu quả của những hành động khác thực hiện trong suốt cuộc đời? Vậy nên sự phúc lạc có được nhờ hiến tế rồi sẽ kết thúc. Nhưng điều gì sẽ xảy ra say đó cho tiểu ngã? Chắc chắn nó không thể biến mất và còn vô số những hậu quả của những hành động khác chưa được nhận ra. Điều này dẫn đến một kết luận không thể tránh khỏi: sau cuộc sống phúc lạc hoặc không phúc lạc sau khi chết ở cõi giới khác, linh hồn sẽ phải tái sinh. Đây là quy luật luân hổi, samsara, từ khi được khám phá đã thống trị tư tưởng tôn giáo và triết học Ấn Độ, cả “chính thống” và dị giáo (Phật giáo và Kỳ Na giáo).

Thuật ngữ samsara chỉ có trong Upanishads, còn “nguồn gốc” của học thuyết thì không biết từ đâu. Sự sống có thể được dùng như một cách để giải thoát khỏi karman. Mục đích đáng giá duy nhất của một người khôn ngoan là đạt được giải thoát, moksa – một thuật ngữ chủ đạo khác của tư tưởng Ấn Độ.

Khi mà mọi hành động (karman) đều củng cố thêm cho sự luân hồi vĩnh viễn (samsara), thì giải thoát không để đạt được nhờ hiến tế hay liên hệ gần gũi với các vị thần, hay tu khổ hạnh hoặc bố thí. Trong Brahamas, chính sự thiếu hiểu biết (sau đây sẽ gọi là vô minh) về những bí ẩn của hiến tế đã kết án một người “chết lần hai.” Các rsi đã đi xa hơn, họ tách tri thức bí truyền với bối cảnh nghi lễ và thần học của nó; giác ngộ được gắn với khả năng nắm bắt được chân lý tuyệt đối bằng cách hé mở những cấu trúc sâu thẳm của thực tại. Kiểu “tri thức” này kết thúc khi diệt được “vô minh” (avidya), thứ là phần chính của con người.

Avidya che giấu thực tại tối hậu; “sự khôn ngoan” (giác ngộ) khai mở chân lý và thực tại. Từ một góc nhìn nào đó sự “ngu dốt” này có tính “sáng tạo”: nó tạo ra những cấu trúc và động lực thúc đẩy sự tồn tại của con người. Bởi avidya mà con người sống vô trách nhiệm, không ý thức được hậu quả của những hành động (karman). Các rsixác định avidya là “nguyên nhân đầu tiên” của karman và do đó là nguồn gốc của thúc đẩy luân hồi. Chu kỳ giờ đây đã hoàn thiện: vô minh (avidya) tạo ra và củng cố quy luật nhân quả (karman), chính thứ mà đến lượt nó lại gây ra một chuỗi tái sinh liên tiếp (samsara). May mắn là có thể giải thoát (moksa) khỏi chu kỳ khủng khiếp này bằng giác ngộ (jnana, vidya). Chúng ta sẽ thấy những trường phái khác cũng tuyên bố rằng sự giải thoát có thể đạt được qua những kỹ thuật Yoga hoặc sự sùng bái thần bí. Tư tưởng Ấn Độ đã sớm tự thiết lập để tương đồng hóa những “con đường” (marga) khác nhau dẫn đến giải thoát. Đỉnh cao nỗ lực của việc này thể hiện trong Bhagavad-Gita nổi tiếng (thế kỷ thứ tư trước công nguyên). Sự khám phá ra chuỗi quy luật không tránh khỏi avidya-karman-samsara và phương thuốc cho nó, sự giải thoát (moksa) bằng giác ngộ, bằng tri thức siêu hình (jnana, vidya) cấu thành bản chất của triết học Ấn Độ sau này. Sự phát triển quan trọng nhất liên quan đến những phương pháp giải thoát và, nghịch lý là, người (hay “đại diện”) hưởng thụ sự giải thoát này.

Định danh tiểu ngã – đại ngã và trải nghiệm “ánh sáng bên trong”

Vấn đề trung tâm của những bản kinh dù rõ ràng hay hàm ý đó là việc nắm bắt được và hiểu được Thực Thể đầu tiên, kẻ Duy Nhất/Tất Cả có khả năng giải thích thế giới, sự sống và vận mệnh của con người. Trong Rig Vệ Đà nó được xác định trong tad ekam – “Kẻ Đó” (trung lập). Brahmanas gọi nó là Prajapati hay Đại ngã (Brahman).

Thực Thể đầu tiên này rõ ràng là không thể nghĩ được, vô hạn, vĩnh hằng; nó cùng lúc là Duy Nhất và Tất Cả. Trong Chandogya Upanishad, Đại ngã được mô tả là “cả thế giới”; “cuộc sống là cơ thể ông, thể dạng của ông là ánh sáng, linh hồn ông là không gian.,” và ông bao quanh mình mọi hành động, khao khát, hương, vị, v.v. Nhưng ông đồng thời cũng là “tiểu ngã của tôi trong trái tim, nhỏ hơn một hạt lúa, một hạt cải,” và cũng “lớn hơn trái đất, lớn hơn bầu trời, lớn hơn những thế giới này…,” “Chứa đựng mọi hành động, khao khát…, chứa đựng cả thế giới …, đây là tiểu ngã của tôi trong trái tim; đây là đại ngã. Khi tôi tời bỏ cuộc sống này, tôi sẽ nhập vào ngài.”

Cũng giống Purusa, Đại ngã vừa nội tại vừa siêu việt, tách biệt khỏi vũ trụ nhưng cũng có mặt khắp nơi trong thực tại vũ trụ. Ông trú ngụ trong trái tim con người như tiểu ngã,tiểu ngã của “người mà đã biết” sẽ hợp nhất với Đại ngã khi chết, còn linh hồn của những người chưa được khai sáng sẽ tuân theo quy luật luân hồi.

Nắm bắt được Tự ngã đi cùng với trải nghiệm về “ánh sáng bên trong” (antah-jyoti), và ánh sáng là hình ảnh tuyệt diệu của cả tiểu ngãĐại ngã. Theo Rig Vệ Đà thì mặt trời là sự sống hay tiểu ngã – Tự Ngã – của mọi vật. Brhadaranyaka Upanishad cũng định danh tiểu ngã với nhân vật trong trái tim của một người, trong hình dạng của một “ánh sáng trong trái tim.” “Thực thể bình thản đó, vươn lên từ cơ thể nó và đạt được ánh sáng tối cao, hiện diện trong hình dạng đúng đắn của nó. Thực thể đó là tiểu ngã. Thứ đó là bất tử, không sợ hãi. Thứ đó là Đại ngã (Chandogya Upanishad).

Hai thể dạng của Đại ngã và bí ẩn về tiểu ngã“nhốt” trong vật chất

Bởi vì rsi biết rằng con người là tù nhân của karman nhưng vẫn sở hữu một Tự ngã bất tử, nên ông ta nhận ra được một tình huống tương tự với Đại ngã. Ông ta nhận ra hai trạng thái có vẻ mâu thuẫn trong Đại ngã: “tuyệt đối” và “tương đối,” “tinh thần” và “vật chất,” “cá nhân” và “phi cá nhân,” v.v.

Những hệ tương đồng mới này ám chỉ việc tái diễn giải sự tương tự trước đây giữa vĩ mô và vi mô. Vũ trụ và sự sống đại diện cho những hoạt động chung của hai thể dạng của Bản thể nguyên thủy.

Giải thoát bao gồm việc hiểu “bí ẩn” này: một khi hóa hiện trái nghịch của Tất Cả/Duy Nhất được tiết lộ, một người sẽ có khả năng giải thoát khỏi vòng quay của vũ trụ. Từ một góc nhìn khác, quá trình vũ trụ này có thể được coi là một “ảo ảnh” (maya) do thiếu hiểu biết, một “cuộc chơi” (lila) thần thánh, hay một “phép thử” để buộc con người tìm kiếm tự do tuyệt đối (moksa). Điều quan trọng đầu tiên là sự đồng tồn tại hai thể dạng đối nghịch trong Bản thể nguyên thủy làm cho sự tồn tại của con người có ý nghĩa và mở ra khả năng được giải thoát. Bằng việc hiểu được sự tương tự giữa Đại ngã và hóa hiện của ông, thế giới vật chất, và tiểu ngã bị giam giữ trong vòng luân hồi, một người khám phá ra đặc tính vô thường và biến hoại của sự xoay vần khủng khiếp avidya-karman-samsara.

Upanishads ở thời kỳ giữa khai thác những khám phá mới này theo một cách khác. Hai thể dạng của Đại ngã đôi khi được diễn giải như đại diện cho một vị thần cá nhân, vượt trên vật chất. Svetasvatar còn cụ thể hơn khi liên kết suy cứu về Bản thể tuyệt đối (Đại ngã) với sự sùng bái Rudra-Siva. “Phạm thiên ba mặt,” thần tính nội tại trong tạo hóa và mọi dạng sự sống, được xác định là Rudra, kẻ sáng tạo cũng là kẻ hủy diệt các thế giới. Chính maya của Thần (Rudra-Siva), “phép thuật” sáng tạo đã bó buộc mọi sinh vật. Sự sáng tạo vũ trụ có thể hiểu hoặc là do phát xạ thần thánh hoặc là “cuộc chơi” trong đó con người – bị che phủ bởi vô minh – đã để mình vị vướng mắc. Giải thoát đạt được nhờ Samkhya và Yoga, nghĩa là bằng hiểu biết triết học và những kỹ thuật tâm sinh lý của thiền.

Chúng ta đã thấy những nghiên cứu và khám phá trong Upanishads phát triển thế nào. Một mặt, có một nỗ lực để tách biệt nguồn gốc tâm linh (tiểu ngã)khỏi đời sống tâm thần và hữu cơ. Chỉ có Tự ngã được tịnh hóa khỏi những kinh nghiệm tâm thầm mới định danh với Đại ngã và được coi là bất tử. Mặt khác, có một nỗ lực khác để giải mã và phân tích mối liên hệ giữa Bản thể tổng hợp (Đại ngã) và tự nhiên. Những kỹ thuật tu khổ hạnh và những phương pháp thiền định đều hướng đến việc tách rời Tự ngã khỏi trải nghiệm tâm thần sẽ được soạn thảo và lưu truyền trong những chuyên luận Yoga sớm nhất. Phân tích sâu sắc về trạng thái của Tự ngã và những cấu trúc và động lực của tự nhiên là mục tiêu của triết học Samkhya.

VI. Những vị thần của đỉnh Olympus và những anh hùng

Vị thần sa ngã vĩ đại và thợ rèn-pháp sư: Poseidon và Hephaestus

Poseidon là một vị thần cổ xưa vĩ đại vì nhiều lý do mà đã mất chủ quyền toàn thế ban đầu, điều này có thể truy dấu ở khắp nơi, bắt đầu với cái tên được Wilamowits giải thích là “chồng của Trái Đất” (Posis Das). Chỉ có Poseidon là dám phản đối sự lạm quyền của Zeus. Bởi lãnh nhận chủ quyền các vùng biển, Poseidon trở thành một vị thần Homer chân chính: vì tầm quan trọng của biển cả đối với cái nhìn của người Hy Lạp, rõ ràng là ông không bao giờ đánh mất thực tế tôn giáo của mình. Tuy nhiên, cấu trúc ban đầu của ông đã bị thay đổi hoàn toàn.

Thực tế, người Ấn-Âu tôn thờ Poseidon không hề biết đến biển cho đến khi họ đến miền nam Hy Lạp. Hoàng loạt những đặc tính của Poseidon chẳng liên quan gì đến biển. Là Poseidon Hippios, ông được biết đến như là thần ngựa, ở một vài nơi, đặc biệt là Arcadia, ông được thờ dưới hình dạng một con ngựa. Cũng ở Arcadia mà Poseidon gặp Demeter đang lang thang tìm Persephone. Để thoát khỏi ông bà đã biến thành 1 con ngựa cái (muốn chạy thoát dâm tặc ngựa mà biến hình tiện việc quá), nhưng Poseidon trong hình dạng một con ngựa đực đã “xử” bà thành công, sinh ra 1 người con gái và chiến mã Arion. Trong những cuộc phiêu lưu tình ái, Poseidon khá thân cận với Zeus, gợi lên cấu trúc ban đầu của ông là “chồng của Trái Đất” và là “kẻ làm mặt đất run rẫy.” Theo Hesiod, ông cưới Medusa, nàng cũng là một nữ thần mặt đất cổ xưa.

Mối liên hệ với ngựa cho thấy tầm quan trọng của súc vật đối với những kẻ xâm lược Ấn-Âu. Poseidon được giới thiệu là kẻ sáng tạo, là cha, là kẻ ban phát ngựa. Khi ngựa được liên kết với thế giới ngầm thì đặc tính của thần lại được gợi lên là “bậc thầy của Trái Đất.” Quyền năng nguyên thủy của ông cũng được chỉ ra từ lũ con với hình dạng quái vật hay khổng lồ: Orion, Polyphemus, Triton, Anteaus, v.v.

Hephaestus hưởng thụ một hoàn cảnh độc nhất trong thần thoại và tôn giáo Hy Lạp. Việc sinh ra ông rất đặc biệt: theo Hesiod, Hera sinh ra ông “thiếu sự hợp nhất bằng tình yêu, mà trong nỗi giận giữ và thù hằn đối với chồng.” Hơn, nữa, Hephaestus khác biệt với các vị thần trên đỉnh Olympus khác vì hình dạng xấu xí và yếu đuối. Chân thì tập tễnh xoắn quẩy, phải hỗ trợ mới bước được. Sự yếu ớt này là hậu quả của việc Zeus ném ông xuống đảo Lemmos từ đỉnh Olympus do ông đứng về phía mẹ. Thetis và Eurynome đã cưu mang ông trong 1 cái hang sâu giữa biển, ở đó ông đã học nghề thợ rèn và nghệ nhân.

Những tương đồng với những chủ đề về “đứa trẻ bị ngược đãi” hay “trẻ em phạm tội” đã được chỉ ra; trong cả hai trường hợp thì đứa trẻ đều vượt lên nghịch cảnh. Điều này không nghi ngờ gì là đại diện cho một thử thách thụ pháp. Marie Delcourt đã so sánh Hephaestus với những tra tấn để thụ pháp cho một shaman (một kiểu pháp sư) tương lai. Cũng như các vị thần-pháp sư khác, Hephaestus trả giá cho sự hiểu biết của 1 người thợ rèn và nghệ nhân bằng sự thiếu hụt thể chất.

Những tác phẩm của ông vừa là kiệt tác nghệ thuật, vừa là kỳ quan pháp thuật. Ông làm chiếc khiên nổi tiếng của Achilles, tạo ra những con chó vàng và bạc canh cửa cung điện của Alcinous, những căn nhà chói lọi của các thần, và những người máy automata, nổi tiếng nhất là 3 chân vàng có thể tự di chuyển cùng với “những hầu gái bằng vàng” giúp ông đi lại. Theo lệnh Zeus ông tạo ra Pandora từ đất sét và ban sự sống cho nàng. Nhưng trên tất cả, Hephaestus là một bậc thầy “trói buộc.” Bằng những tác phẩm của mình – ngai vàng, xích, lưới – ông liên kết nam thần và nữ thần, cũng như Titan Prometheus. Ông trao cho Hera ngai vàng mà khi ngồi vào thì những liên kết vô hình sẽ giữ bà ở đó. Vì không ai có thể gỡ bà ra, Dionysus được phái đi; ông đã chuốc cho Hephaestus say và mang ông về Olympus, nơi ông phải thả mẹ mình ra. Việc nổi tiếng nhất ông làm cũng là việc buồn cười nhất: Hephaestus giam Ares và người tình Aphrodite trong một cái lưới vô hình và mời những vị thần đỉnh Olympus đến xem pha “hành sự” của hai tội đồ. Các vị thần phá lên cười nhưng cùng lúc cảm thấy bị đe dọa bởi tác phẩm này, thứ mà tác giả của nó, hơn cả một nghệ nhân vĩ đại, còn là một pháp sư nguy hiểm.

Là một thần-pháp sư, Hephaestus cùng lúc là kẻ gắn kết và chia tách, do đó là thần-đỡ đẻ (chính ông hộ sinh Athena cho Zeus). Không đâu mang đến sự tương đương về pháp thuật và sự hoàn hảo kỹ thuật hơn thần thoại về Hephaestus. Thần thoại về Hephaestus liên kết với nguồn gốc của những quyền năng phù phép với những bí mật kinh doanh của những nhà luyện kim, thợ rèn, và nghệ nhân – nói ngắn gọn là những sự hoàn hảo kỹ nghệ và thủ công. Nhưng tất cả những kỹ thuật đều có nguồn gốc và điểm hỗ trợ từ việc làm chủ lửa, vật đặc hữu của các shaman và pháp sư trước khi nó trở thành bí quyết của thợ gốm, thợ luyện kim, và thợ rèn.

“Cội nguồn” của Hephaestus không được tìm ra. Giải thích theo di sản tiền-Hy Lạp hoặc truyền thuyết Ấn-Âu hoàn toàn thất bại. Cấu trúc cổ xưa của ông thì rõ ràng. Hơn cả 1 vị thần lửa, ông phải là 1 vị thần bảo trợ cho nhiều loại công việc ám chỉ việc làm chủ lửa, hay nói cách khác là một dạng cụ thể và hiếm hơn của phép thuật.

Apollo: Những mâu thuẫn được hòa giải

Có vẻ nghịch lý khi mà tên của 1 vị thần được coi là hiện thân hoàn hảo nhất của tài năng Hy Lạp lại không có ngữ nguyên học Hy Lạp. Không kém nghịch lý là những chiến công thần thoại nổi tiếng nhất của ông không hề minh chứng cho những đức hạnh gọi là “Apollo tính”: bình tĩnh, tôn trọng luật lệ và trật tự, hòa hợp thần thánh. Ông thường để mình thả trôi theo thù hằn, ghen tuông và ác cảm.

Bị Zeus làm cho dính bầu, nữ Titan Leto tuyệt vọng tìm nơi sinh nở khi mà không xứ sở nào dám cưu mang bà vì sợ Hera, kẻ thậm chí còn khiến Python, rồng của Delphi đuổi theo bà. Cuối cùng đảo Delos nhận bà, và bà sinh một cặp song sinh, Apollo và Artemit. Hành động đầu tiên của 1 trong 2 đứa bé là trừng phạt Python.

Apollo đã có một lịch sử thâm nhập và thay thế các thần thánh địa phương tiền-Hy Lạp khá tàn bạo, nhiều hay ít, một quá trình đặc trưng của toàn thể tôn giáo Hy Lạp. Sự thiết lập nổi tiếng nhất là ở Delphi, sau khi ông giết chủ cũ của vùng đất thiêng, Python. Chiến công thần thoại này quan trọng không chỉ với Apollo. Chiến thắng của 1 vị thần đối với Con Rồng, biểu tượng của “bản địa” và chủ quyền nguyên thủy của những những quyền năng thuộc đất là một trong những thần thoại phổ biến nhất. Điều đặc biệt với Apollo là ông phải chuộc tội cho việc giết chóc này, và do đó trở thành vị thần độc nhất của sự thanh tẩy. Và với sự thiết lập ở Delphi, giờ với cương vị là Pythian Apollo đã khiến ông có được địa vị cao quý toàn Hy Lạp.

“Cội nguồn” của ông đã được tìm kiếm ở những vùng phía bắc Eurasia hoặc Tiểu Á. Giả thiết đầu tiên dựa theo mối liên hệ giữa ông và người Hyperboreas (vượt ngoài Boreas), nghĩa là ngoài North Wind. Theo thần thoại Delphi, Zeus quyết định việc Apollo cư trú ở Delphi, nhưng vị thần trẻ bay đi bằng cỗ xe thiên nga đến xứ ở của người Hyperboreas, nơi ông ở suốt 1 năm. Nhưng vì người Delphi không ngừng khẩn cầu ông bằng những bài hát và những điệu múa nên ông quay lại. Sau đó ông dành 3 tháng mùa đông với người Hyperboreas và quay lại vào đầu hè. Lúc ông vắng mặt thì Dionysus cai quản Delphi.

Theo Pindar “không ai có thể khám phá ra con đường kỳ diệu đến với cuộc chơi của những người Hyperboreas”. Nói cách khác, xứ sở này thuộc về địa giới thần thoại. Đó là một thánh tộc, không biết đến ốm đau và già nua. Cũng vẫn Pindar tuyên bố rằng người Hyperboreas có thể sống 1000 năm; họ không biết đến công việc và chiến tranh, chỉ dành thời gian để vui chơi nhảy múa. Có vẻ đây là một chốn thiên đường.

Những vùng phía bắc – từ Thrace đến xứ sở của người Scythia và người Issedones – có một vị trí quan trọng trong những truyền thuyết liên hệ với Apollo. Vài đệ tử huyền thoại của ông (Abaris, Aristeas) là người Hyperboreas, và Orpheus luôn có liên hệ với Thrace. Nhưng nơi Phương Bắc này, dù dần dần được khám phá, vẫn giữ lại quanh nó một màn sương thần thoại. Chính nơi Phương Bắc tưởng tượng này đã nuôi dưỡng những sáng tạo thần thoại.

Đối với sự ủng hộ cho nguồn gốc Châu Á của Apollo thì thực tế được trích dẫn là những nơi thờ phụng ông vĩ đại nhất nằm ở Châu Á: Patara ở Lycia, Didymas ở Caria, Claros ở Ionia, v.v. Cũng như những vị thần trên Olympus khác, ông dường như là một kẻ mới đến tại những thánh địa của ông ở đại lục Hy Lạp. Thêm vào đó, trong một bia khắc Hittite tìm thấy gần một ngôi làng Anatolia, có thể giải mã cái tên Apulunas, “thần của những cánh cổng”, như là Apollo ở Hy Lạp cổ đại.

Những lời sấm và sự thanh tẩy

Mới sinh ra Apollo đã hét: “Đưa cho ta đàn và cung; Ta sẽ tuyên bố đến loài người ý chí kiên định của Zeus.” Sự tôn kính này giải thích ý tưởng liên hệ Apollo với luật lệ và trật tự. Ông truyền đạt những điều răn của mình qua những lời sấm tại Delphi, Athens, và Sparta liên quan đến những nghi lễ và trên hết là sự thanh trừng cần thiết cho những vụ giết người. Mỗi vụ giết người sinh ra một sự ô nhiễm ác tính, một sức mạnh gần như vật chất trong tự nhiên, gọi là miasma, một tai họa đáng sợ đe dọa toàn cộng đồng. Apollo đóng góp đáng kể đối với những tập tục cổ liên quan đến giết người để trở nên nhân đạo hơn. Chính ông đã thành công trong việc khiến Orestes được khoan hồng với tội giết mẹ.

Delphi có tiền sử là địa danh tiên tri khá lâu trước Apollo. Dù cho ngữ nguyên học của nó là gì, người Hy Lạp liên hệ cái tên với delphys, nghĩa là “tử cung.” Cái lỗ bí ẩn là một cái mồm, stomion, một thuật ngữ đồng thời cũng chỉ định cho âm đạo. Ompalos (cái rốn) của Delphi cũng có từ thời tiền-Hy Lạp, tuy biểu tượng cái rốn bị đặt nặng với những nghĩa liên quan đến bộ phận sinh dục, nhưng trên hết nó là “trung tâm của thế giới.” Theo truyền thuyết, 2 con đại bàng được Zeus thả ở 2 đầu thế giới gặp nhau ở omphalos.

Những lời sấm được truyền qua Pythia (người nữ tu) và nhà tiên tri, người tham gia vào việc tham vấn. Ban đầu những cuộc tham vấn diễn ra mỗi năm 1 lần, rồi sau đó là 1 tháng 1 lần, cuối cùng là vài lẫn mỗi tháng, trừ mùa đông, khi Apollo vắng mặt. Quá trình khởi đầu bằng việc hiến tế một con dê. Thường thì những nhà tham vấn đặt câu hỏi dưới nhiều dạng. Pythia trả lời bằng rút thăm đậu trắng đậu đen.

Với những ca nghiêm trọng nhất, Pythia với cảm hứng từ Apollo đưa ra tiên đoán trong hầm hộ của ngôi đền. Thuật ngữ “mê sảng Pythia” được sử dụng nhưng không chỉ ra điều gì liên quan đến trạng thái cuồng loạn hay “bị ám” theo kiểu Dionysus.

Bằng cách nào cô có được trạng thái thứ 2 này vẫn còn là 1 bí ẩn. Pythia, được chọn ra từ những người nông dân, tiên tri theo những ngày định sẵn. Lá nguyệt quế mà cô nhai, sự tẩy uế với nguyệt quế, nước từ suối Cassotis mà cô uống không có những đặc tính gây say và không giải thích được trạng thái xuất thần. Theo truyền thuyết, chân sấm ngữ của cô (ghế ngồi trong hình) được đặt trên một khe nứt dưới mặt đất, từ đó bốc lên những đức tính siêu nhiên. Tuy vậy khảo cổ học không tìm thấy khe nứt cũng như cái hang lớn mà Pythia đi vào (cũng có thể chúng đã biến mất do động đất). Kết luận hơi vội vàng được đưa ra là toàn bộ sự việc này chỉ là những hình ảnh thần thoại khá gần đây. Tuy thế, hành lang, adyton – nơi Pythia đi vào – có tồn tại. Khi mà không có nguyên nhân tự nhiên nào có thể gây ra trạng thái mê man đã thấy, tự gợi ý bởi chính Pythia hoặc những gợi ý từ xa bởi nhà tiên tri đã được đem vào giả định. Nhưng thực tế thì chúng ta vẫn chẳng biết gì hết về vấn đề này.

Từ “viễn ảnh” đến tri thức

Có thể nhận ra sự nối tiếp giữa hai khuynh hướng – shaman và Apollo. Các shaman khám phá những gì bị ẩn giấu và biết trước tương lai; những viễn ảnh, những món quà ưu việt của Apollo, ban cho những tín đồ của thần cùng một sức mạnh to lớn. Cũng như một số truyền thống shaman Siberia, những viễn ảnh trao cho bởi Apollo kích thích sự sáng suốt và hướng đến chiêm nghiệm; từ đó dẫn đến “sự khôn ngoan.” Các shaman chuẩn bị cho sự xuất thần của họ bằng hát hò và chiêng trống; thơ sử thi sớm nhất của Trung Á và Polynesia có hình mẫu là những chuyến phiêu lưu của các shaman trong hành trình xuất thần của họ. Thuộc tính chủ yếu của Apollo là chiếc đàn; khi ông chơi, ông mê hoặc các vị thần, thú hoang, và thậm chí cả những hòn đá.

Chiếc cung, thuộc tính thứ hai của Apollo, cũng là một trong những đồ dùng của shaman, nhưng đóng góp của nó thì vượt ra ngoài phạm vi shaman giáo. Biểu tượng của cung và tên mở ra những tình huống tâm linh mới: sự hiểu biết vượt qua khoảng cách, sự bình tâm và tĩnh lặng của tập trung tinh thần. Nói ngắn gọn thì Apollo đại diện cho một sự thần hóa mới, sự biểu hiện một hiểu biết tôn giáo của thế giới và sự tồn tại của con người một cách rất Hy Lạp và không thể lặp lại.

Heraclitus tuyên bố rằng “hòa hợp là kết quả của sự căng thẳng giữa những trái ngược, như giữa cung và đàn. Trong Apollo, những trái ngược được giả định và tích hợp vào một cấu hình mới, rộng lớn hơn và phức tạp hơn. Apollo hé lộ cho nhân loại con đường dẫn từ “viễn ảnh” thần thánh đến tư tưởng. Yếu tố ma mị ám chỉ tất cả những tri thức bí ẩn đã được khử tà. Bài học tối hậu mang tính Apollo được biểu thị trong phương thức nổi tiếng của Delphi “Biết chính mình!” Sự thông minh, tri thức, khôn ngoan được xem là những mô hình thần thánh được ban cho bởi các vị thần, đầu tiên là Apollo. Tĩnh lặng Apollo trở thành biểu tượng của sự hoàn hảo tâm linh và do đó cũng là của linh hồn đối với người Hy Lạp. Điều đáng nói là sự khám phá ra linh hồn hoàn thành một chuỗi dài những mâu thuẫn và hòa giải, và việc làm chủ những kỹ thuật xuất thần và tiên tri.

Hermes, “bạn đồng hành của con người”

Zeus nói về Hermes “việc nó thích làm nhất là đồng hành cùng con người.” Nhưng đối với con người chàng cùng lúc là một vị thần, một “kẻ lừa đảo”, và một nghệ nhân. Không ai vượt qua chàng trong việc cho tặng những thứ tốt đẹp: mọi điều may mắn được xem là món quà từ Hermes. Mặt khác, chàng cũng được ám chỉ cho những mưu mẹo xảo trá. Chàng sinh ra đã trộm bò của ông anh Apollo; do đó chàng trở thành hộ vệ của trộm cướp “Chúa tể của những người làm việc về đêm.”

Nhưng chàng cũng là kẻ bảo vệ những đàn gia súc và những người lữ hành. Chàng là vị thần của những con đường, và từ một trong những đống đá (hermaion) trên những con đường hành hương mà chàng đã được đặt tên; mỗi người đi qua đều ném 1 hòn đá lên đống đá. Ban đầu có lẽ Hermes là thần bảo vệ dân du mục, nhưng người Hy Lạp đã diễn giải sức mạnh của chàng theo một nghĩa sâu hơn. Chàng cai quản những con đường vì chàng đi rất nhanh (có “đôi tổ ong vàng”), và vì biết đường nên không bị lạc trong đêm. Vì thế chàng vừa dẫn lối và bảo vệ gia súc, vừa bảo trợ trộm cướp, và đó cũng là lý do chàng trở thành sứ giả của những vị thần.

Có lẽ đây cũng là nguyên nhân khiến Hermes trở thành kẻ dẫn đường cho những linh hồn, nhưng chàng không phải là thần chết dù những người hấp hối nói họ bị chàng tóm. Hermes không hề ngập ngừng khi đi qua lại giữa 3 tầng thế giới, nếu chàng đưa những linh hồn xuống cho Hades, thì cũng chính chàng mang chúng lại mặt đất, như trường hợp Persephone, Eurydice. Kẻ tìm đường trong bóng tối, dẫn lối linh hồn, và di chuyển với tốc độ của tia chớp cả hữu hình lẫn vô hình (có mũ tàng hình) phản ánh một hình thái của tinh thần: không những khôn ngoan mưu mẹo mà còn đạo ngộ và phù phép.

Những thuộc tính đầu tiên của Hermes – xảo trá và sáng tạo, làm chủ bóng đêm, thích thú với những hoạt động của con người, dẫn lối linh hồn – sẽ được tiếp tục tái diễn giải và kết thúc bằng việc biến chàng thành một nhân vật không thể phức tạp hơn, cùng lúc trở thành anh hùng văn minh, kẻ bảo trợ tri thức, và hình mẫu của những giác ngộ bí ẩn.

Hermes là một trong những vị thần của Olympus không bị mất đi giá trị tôn giáo sau cuộc khủng khoảng tôn giáo “cổ điển,” và không bị biến mất sau chiến thắng của Cơ Đốc giáo. Cũng như Thoth và Mercurius, chàng sẽ hưởng một sự tín nhiệm mới suốt thời kỳ Hy Lạp hóa, và sẽ sống sót với tên Hermes Trismegistus thông qua thuật giả kim và chủ nghĩa thần bí tiến vào thế kỷ 17. Những triết gia Hy Lạp sẽ coi Hermes như logios, sự nhân cách hóa của tư tưởng. Chàng sẽ được nói đến như là kẻ sở hữu mọi dạng tri thức, đặc biệt là giác ngộ bí mật; điều này sẽ biến chàng thành “thủ lãnh của tất cả các pháp sư,” chiến thắng sức mạnh của bóng tối bởi vì “chàng biết tất cả mọi thứ và có thể làm tất cả mọi thứ.” Và Hermes, được các triết gia định danh với Logos, sẽ được các Giáo Phụ so sánh với Christ, trong việc dự đoán vô số những tương đồng và nhận dạng thực hiện bởi những nhà giả kim thời Phục Hưng.

Những nữ thần. I: Hera, Artemit

Ban đầu Hera là nữ thần của Argos, nhưng nhờ Homer mà bà được phổ biến toàn Hy Lạp với địa vị là vợ Zeus. Khó mà quyết định được liệu người Achaea mang vị nữ thần theo họ hay chỉ mang theo mỗi cái tên. Không một vị thủ lãnh Achaea nào dám đối xử với vợ như hành vi của Zeus đối với Hera: ông đánh nàng và có lần còn treo nàng lên với vật nặng buộc vào chân, một kiểu tra tấn sau này được áp dụng cho nô lệ.

Theo Hesiod thì Hera sinh cho Zeus 3 đứa con Hebe, Ares, và Eileithyia, và bà tự mình sinh ra Hephaestus. Năng lực tự sinh sản này nhấn mạnh một thực tế rằng dù là nữ thần đứng đầu Olympus thì cũng vẫn giữ lại những đặc tính đặc biệt của Địa Trung Hải và Châu Á. Khó mà xác định được nguồn cội của việc Hera tắm suối Canthus để làm mới sự trinh tiết mỗi năm. Đây là tượng trưng cho khái niệm mang tính gia trưởng của hôn nhân. Cũng như đa số các nữ thần Aegea và Châu Á khác, Hera không chỉ là thần hôn nhân mà còn là thần phì nhiêu của vũ trụ. Hera có những thuộc tính thổ thần như đám cưới thần thánh với Zeus đã được đề cập ở nhiều nơi (mô hình thần bão cưới Mẹ Trái Đất), nàng là mẹ của quái vật như Hydra (đặc tính của thần đất là sinh ra quái vật), nhưng tất cả những thuộc tính và quyền năng này dần dần bị quên lãng, và từ thời Homer, Hera xuất hiện từ đầu đến cuối nổi bật như là một nữ thần hôn nhân.

Cái tên Artemit, được chứng thực là dạng Artimis ở Lydia, chỉ ra nguồn gốc Phương Đông của nàng. Đặc tính cổ xưa của vị nữ thần này rất rõ ràng: độc nhất và trên hết, nàng là Chủ nhân của Dã Thú, vừa thích săn bắn vừa là kẻ bảo vệ thú hoang. Biểu tượng ưa thích của nàng là sư tử và gấu; điều này gợi nhớ những nguyên mẫu Châu Á.

Artemit đặc biệt là một nữ thần còn trong trắng. Ban đầu điều này có thể được hiểu là sự giải phóng khỏi gánh nặng hôn nhân. Nhưng người Hy Lạp thấy sự trinh tiết vĩnh cửu của nàng như là một sự lãnh đạm với tình yêu. Trong Hippolytus, Artemit tuyên bố sự ghét bỏ đối với Aphrodite.

Nàng cũng bày tỏ vài yếu tố của nữ thần mẹ. Herodotus nói rằng Aeschylus coi Artemit như con gái của Demeter, tức định danh với Persephone. Chức năng người mẹ thì được tìm thấy tại Ephesus. Phụ nữ Locheia tôn kính nàng như nữ thần sinh đẻ. Nàng cũng được biết đến là kourotrophos, “y tá” và giáo viên của những bé trai.

Quý Cô cổ đại của Những Ngọn Núi và Nữ Chủ Nhân của Dã Thú từ thời tiền sử Địa Trung Hải nhanh chóng được đồng hóa với những thuộc tính và sức mạnh của nữ thần mẹ, nhưng không làm mất đi những đặc tính cổ xưa hơn và riêng biệt hơn của nàng: kẻ cùng lúc bảo trợ cho thợ săn, thú hoang và các cô gái. Từ thời Homer, tiểu sử của nàng đã tự định nghĩa: Artemit cai quản sự linh thiêng của đời sống hoang dã, nơi có sự sinh sản và tình mẹ nhưng không có tình yêu và hôn nhân. Nàng luôn giữ lại những đặc điểm trái ngược, minh họa bởi sự đồng tồn tại của những chủ đề mâu thuẫn nhau (ví dụ: trinh tiết – thai sản). Những tưởng tượng sáng tạo của những nhà thơ, nhà thần học, thần thoại học đã tiên đoán rằng những sự đồng tồn tại đối lập như thế có thể gợi ý đến một trong những bí ẩn của thần thánh.

NHỮNG NỮ THẦN. II: ATHENA, APHRODITE

Athena rõ ràng là nữ thần quan trọng nhất sau Hera. Nàng văng ra từ đầu Zeus, được bọc trong giáp, vung vẩy cây thương và khóc tiếng khóc chiến tranh.

Tuy là nữ thần chiến tranh nhưng trong Iliad, Athena là kẻ thù khó chịu của Ares, kẻ mà nàng đã đè bẹp trong chận chiến nổi tiếng của các vị thần. Trái lại, nàng rất ngưỡng mộ Heracles (Héc-quyn), một hình mẫu anh hùng thực sự. Athena cũng ngưỡng mộ Tydeus và thậm chí còn muốn làm cho chàng bất tử; nhưng khi nàng thấy người anh hùng bổ sọ của kẻ thù và ăn não hắn, nàng đã bỏ đi trong sự chán ghét.

Nữ thần tình yêu Aphrodite không hề có quyền lực gì với Athena. Tại Athens nàng là “Trinh Nữ”, nhưng là một kiểu trinh nữ khác với Artemit: nàng không tránh né và giữ khoảng cách với đàn ông “Mọi thứ trong tim ta đều nghiên về phía đàn ông, trừ hôn nhân.” Athena trở thành bạn và hộ vệ của Odysseus, người mà nàng ngưỡng mộ vì cá tính mạnh mẽ và sự khôn ngoan. Hesiod xem nàng là “ngang hàng với cha về sức mạnh và sự khôn ngoan.” Athena là vị thần Olympus duy nhất không có mẹ. Trong Homeric Hymn to Athena, Zeus mang bầu cô trong đầu mình, nhưng cũng chính Hesiod lại đính chính lại: Zeus nuốt Metis, nữ thần trí khôn, khi bà đang mang bầu, và Athena sinh ra từ đầu cha cô. Phân đoạn này được xem là thêm vào sau, thần thoại ban đầu chỉ đơn giản mô tả sự hiện diện của Athena trên núi Olympus.

Sự sinh nở kỳ lạ của Athena minh họa và xác nhận mối quan hệ thân thiết của nàng với Zeus “Ta hoàn toàn đứng về phía cha.” Nàng tâm sự với Odysseus: “Trong số các vị thần, ta khoe khoang về trí tuệ (metis) và kỹ năng của mình.” Và thực tế, metis đúng là thuộc tính riêng biệt nhất của nàng. Nàng không chỉ là kẻ bảo trợ cho những món nghệ thuật đặc biệt của phái nữ như kéo sợi và dệt vải, mà trên hết nàng còn là một “kẻ bách nghệ”, kẻ truyền cảm hứng và thầy dậy của tất cả các nhân công chuyên biệt. Thợ rèn, thợ gốm học từ nàng “Đến với chúng tôi, Athena, giữ tay người trên lò của chúng tôi.” Nàng thuần hóa ngựa, phát minh ra cái kẹp và dạy cách dùng xe song mã.

Trong khi các thánh thần khác giải nghĩa cho vô số những thể dạng thiêng liêng của cuộc sống như sinh trưởng, cái chết, thể chế xã hội, v.v thì Athena lại hé lộ đặc tính thiêng liêng hay nguồn gốc thần thánh của một số nghề thủ công và những nghề nghiệp liên quan không chỉ đến trí tuệ, kỹ năng công nghệ, sáng tạo thực tiễn mà còn đến sự tự làm chủ, điềm tĩnh trước những thử thách, tự tin vào sự nhất quán. Do đó không khó để hiểu rằng làm thế nào mà kẻ bảo trợ metistrở thành biểu tượng của tri thức thần thánh và trí tuệ nhân loại trong thời kỳ của các triết gia.

Aphrodite đại diện cho một sáng tạo không hề kém cạnh của tài năng Hy Lạp, dù ở một mức độ hoàn toàn khác. Vị nữ thần rõ ràng là có nguồn gốc từ Phương Đông, nàng có những tương đồng với những thánh thần kiểu Ishtar. Homer nói rằng nàng là con của Zeus và Dione, là vợ của Hephaestus, nhưng Hesiod thì giữ lại một phiên bản cổ hơn về việc sinh ra nàng: nàng sinh ra từ cơ quan sinh dục bị cắt và ném xuống biển của Uranus. Như chúng ta đã biết, chủ đề thiến một vị thần vĩ đại có nguồn gốc từ Phương Đông.

Homeric Hymn to Aphrodite giới thiệu nàng là Nữ Chủ Nhân của Dã Thú chân chính, nhưng một đặc điểm mới của riêng Aphrodite được thêm vào: nữ thần “đặt khát khao vào ngực chúng, để tất cả chúng giao phối cùng nhau.” Aphrodite còn “đặt khát khao” vào cả thần và người; chính nàng đã khiến Zeus “dễ dàng giao cấu với người phàm mà Hera không biết.” Do đó Homeric Hymn to Aphrodite nhận dạng yếu tố hợp nhất phổ biến trong sự thúc đẩy nhục dục đối với 3 thể dạng tồn tại: súc vật, con người, và thánh thần. Mặt khác, bằng việc nhấn mạnh vào đặc tính không thể giản lược và phi lý của dục vọng, những lời ca đã biện hộ cho những cuộc phiêu lưu tình ái của Zeus (điều mà sau này sẽ được lặp lại vô hạn bởi các thần, những anh hùng, và con người). Nói ngắn gọn thì ở đây có một sự biện hộ tôn giáo cho tình dục; bởi vì, được khuyến khích bởi Aphrodite, ngay cả dâm dục thái quá và mang tính xúc phạm cũng phải được xem là có nguồn gốc thần thánh.

Aphrodite gợi cảm hứng, ca tụng và bảo vệ tình yêu thể xác, kết hợp xác thịt. Theo nghĩa này, người Hy Lạp có thể cảm ơn Aphrodite vì giúp họ khám phá ra bản chất thiêng liêng của thúc đẩy dục vọng.

NHỮNG ANH HÙNG

Pindar phân biệt ba dạng tồn tại: thần, anh hùng, và người. Đối với tính lịch sử của những tôn giáo thì điều này gợi lên các vấn đề như: đâu là nguồn gốc và cái gì là bản thể của những anh hùng Hy Lạp? Và họ tương thích đến mức nào với những dạng tồn tại trung gian giữa thần và người? Rohde cho rằng những anh hùng có liên hệ gần gũi, một mặt là với các thổ thần, mặt khác là với người chết. Họ là những linh hồn của người chết sống vĩnh viễn trong lòng đất như những vị thần.

Năm 1921, Farnell đề ra một thuyết khá hứa hẹn, rằng các anh hùng không có chung nguồn gốc. Ông phân biệt ra 7 nhóm khác nhau: anh hùng có nguồn gốc thần thánh hoặc tín ngưỡng, những nhân vật có thật (chiến binh hoặc thầy tu), anh hùng được sáng tác bởi những nhà thơ hay các học giả, v.v. Brelich thì mô tả về “cấu trúc hình thái” của những anh hùng như sau: họ là những nhân vật mà cái chết của họ có điều gì đó nổi bật, họ có liên hệ mật thiết với những trận chiến, những cuộc thi tài, tiên tri và y học, những thụ pháp dậy thì, và Thần Bí giáo; họ tìm ra những thành phố, việc sùng bái họ mang tính dân sự; họ là tổ tiên của những nhóm thân tín và là “đại diện nguyên mẫu” cho những hoạt động cơ bản nhất định của con người.

Có thể tổng kết rằng những anh hùng Hy Lạp là những dạng thức tồn tại sui generis (mang tính siêu nhân, nhưng không phải thần thánh) và hoạt động ở thời kỳ đầu – tức thời kỳ tiếp sau chiến thắng của Zeus, sau khi có sự xuất hiện của con người.

Sự sinh đẻ và thời thơ ấu của các anh hùng khác biệt với thông thường. Họ là hậu duệ của thần nhưng đôi khi lại có 2 cha (Heracles, Theseus) hoặc việc sinh ra họ không bình thường (Aegisthus). Ngay sau khi sinh họ bị bỏ rơi (Oedipus, Perseus, Rhesus, v.v.) và được thú nuôi, trải qua tuổi trẻ phiêu lưu qua các xứ sở, đính ước những hôn nhân thần thánh (Peleus và Thetis, Niobe và Amphion, Jason và Medea, v.v.)

Những anh hùng được tin là những có nguồn gốc địa phương (nghĩa là những cư dân đầu tiên của các vùng miền) và là tổ tông của những chủng tộc, những giống người, hay những gia đình. Họ phát minh ra những thể chế của con người: những bộ luật của những thành phố và những quy tắc của cuộc sống thành thị, chế độ 1 vợ 1 chồng, luyện kim, hát hò, viết lách, binh pháp, v.v., và cũng là những người đầu tiên làm thủ công. Hộ nổi bật là những người sáng lập những thành phố, họ cũng thiết lập ra những cuộc thi thể thao.

Một đặc điểm riêng của những anh hùng là cách họ chết. Một số ngoại lệ những anh hùng nhất định được chuyển đến Quần đảo của Những kẻ có phước, đến hòn đảo thần thoại của Leuce, đến Olympus hay biến mất trong lòng đất. Nhưng phần lớn phải chịu cái chết dữ dội trong chiến tranh, trong một trận đấu đôi, hay bị phản bội. Thường cái chết của họ là một bi kịch: Orpheus và Pentheus bị xé thành từng mảnh, Actaeon bị chó giết, Glaucus, Diomedes, Hippolytus bị ngựa giết; hay bị ăn thịt, bị Zeus đánh chết, hay bị rắn cắn chết.

Cái chết của họ xác nhận đặc tính siêu nhân của họ, không bất tử như những vị thần nhưng họ tiếp tục hoạt động sau khi chết. Những ngôi mộ, những thánh tích, thậm chí những bia tưởng niệm của họ vận hành giữa những người sống trong nhiều thế kỷ. Họ thưởng thức một cuộc sống vô hạn sau khi chết.

Những lễ hiến tế dành cho họ khác với cách thức dành cho những vị thần đỉnh Olympus nhưng giống với cách cho các thổ thần. Nạn nhân bị giết với cổ họng hướng lên trời để dâng cho các thần Olympus, và với cổ họng hướng xuống đất để dâng cho các thổ thần và những anh hùng. Đối với các thần Olympus, vật tế là màu trắng, còn với thổ thần và những anh hùng là mầu đen và vật tế phải được toàn thiêu, không người sống nào được ăn. Điện thờ các thần Olympus nằm trên cao, còn các thổ thần và những anh hùng thì dưới thấp hoặc trong hang. Lễ tế cho các thần Olympus thực hiện vào một buổi sáng nắng ráo, còn cho các thổ thần và những anh hùng là vào buổi tối hoặc nửa đêm.

Với cái chết của mình, các anh hùng trở thành thần hộ mệnh cho những thành phố thoát khỏi thiên tai, địch họa. Họ trở thành hình mẫu cho những ai muốn thoát khỏi hoàn cảnh mong manh của người phàm, muốn lưu danh muôn thủa.

Bản chất tự nhiên của các anh hùng cực kỳ khác thường, vừa tốt vừa xấu và có những thuộc tính đối lập. Họ bất khả xâm phạm nhưng lại bị giết, vừa khỏe vừa đẹp nhưng lại có những đạc điểm quái gở, có thể biến hình thành thú, lưỡng tính hoặc tự thay đổi giới tính. Hành vi tình dục thì thái quá hoặc biến thái: Heracles thụ tinh cho 50 người con cái của Thespius trong 1 đêm; Theseus nổi tiếng với vô số vụ hiếp dâm; Achilles cưỡng đoạt Stratonice; loạn luân với em gái hoặc mẹ. Họ tham gia vào những cuộc tàn sát do ghen tuông hay giận dữ, hoặc thường là chẳng vì lý do gì; họ thậm chí còn đồ sát cha mẹ hoặc những người thân.

Những hành vi biến thái trên cho thấy sự lỏng lẻo của thời kỳ “cội rễ,” khi mà “thế giới loài người” vẫn chưa hình thành. Sau khi những sáng tạo của những anh hùng – luật pháp, thể chế, kỹ thuật, nghệ thuật – có hiệu quả làm “thế giới loài người” trỗi dậy, nơi mọi vi phạm đều bị cấm.

Sự thái quá của những anh hùng không có giới hạn. Họ xâm phạm cả những nữ thần và không kiêng nể gì việc xúc phạm thánh địa. Những điều này biểu lộ sự ngạo mạn quá mức, một đặc tính tự nhiên riêng biệt của các anh hùng. Họ đối mặt với thần như những kẻ ngang hàng, và luôn luôn bị trừng phạt một cách tàn bạo. Chỉ trừ có Heracles, nhưng anh là một người anh hùng hoàn hảo, một “anh hùng-thần” như Pindar nói. Heracles là anh hùng duy nhất không biết mộ và thánh tích ở đâu; anh đã chinh phục sự bất tử và trở thành một vị thần, ngồi giữa những thần khác trên đỉnh Olympus.

VII. Chủ nghĩa Thần Bí Eleusis

Thần thoại: Persephone dưới Địa Ngục

“Hạnh phúc là người sống giữa loài người mà đã thấy những phép thần bí!” “Nhưng người mà chưa thụ pháp và không góp phần vào nó thì sẽ không bao giờ có nhiều điều tốt đẹp khi anh ta chết, khi rơi xuống bóng tối và sự ảm đạm.” – Hesiod, The Homeric Hymns, and Homerica.

Hymn to Demeter là thần thoại liên quan đến cả 2 nữ thần và sự sáng lập Thần Bí Eleusis. Khi đang hái hoa ở Nysa thì Kore (Persephone) bị Pluto (Hades) bắt đi. Demeter tìm con gái trong 9 ngày không ăn uống. Cuối cùng Helios nói cho bà biết sự thật: chính Zeus đã quyết định cho Pluto lấy Kore. Đau khổ và giận giữ, bà không quay trở lại Olympus. Cải trang thành một bà già, bà đi lang thang đến Eleusis rồi ngồi cạnh cái Giếng của những Thiếu Nữ. Bị con gái nhà vua hỏi, bà nói bà là Doso và bà vừa thoát khỏi bọn cướp biển đã bắt bà từ Crete. Bà nhận lời nuôi dưỡng đứa trẻ con của nữ hoàng Metaneira, và yêu cầu kykeon, một hỗn hợp của bột, nước, và thảo dược.

Demeter không săn sóc Demophoon mà thoa phấn hoa (ambrosia) lên cậu và ban đêm giấu cậu trong lửa “như một khúc củi.” Cậu bé càng ngày càng giống một vị thần, Demeter muốn cậu trở nên bất tử và trẻ mãi. Nhưng rồi 1 đêm Metareina thấy con mình trong lửa và bắt đầu ca thán. “Bọn phàm nhân ngu si, quá đần độn để thấy trước vận mạng, dù tốt hay xấu!” Demeter la lên. Thế là Demophoon không thể tránh khỏi cái chết được nữa. Rồi vị nữ thần hiện nguyên hình với tất cả ánh sáng tráng lệ rực rỡ phát ra từ cơ thể. Bà yêu cầu xây cho bà “một ngôi đền lớn với điện thờ,” nơi bà sẽ dạy những nghi lễ của bà cho loài người. Sau đó bà rời khỏi cung điện.

Ngay khi thánh đường được dựng lên, Demeter lui về đó ở ẩn, ngày ngày đau xót vì con gái. Chính khi đó bà gây ra cuộc hạn hán tàn phá mặt đất. Zeus gửi sứ giả khẩn nài bà trở lại với các vị thần. Demeter trả lời bà sẽ không quay lại Olympus và cũng không cho rau củ mọc cho đến khi và thấy con gái bà. Zeus phải xin Pluto đem Persephone lên và vị chúa tể Địa Ngục đồng ý. Tuy nhiên, ông đã khiến Persephone ăn mấy hạt lựu: việc này nhằm đảm bảo nàng sẽ quay về với chồng 4 tháng mỗi năm. Sau khi có lại con gái, Demeter đồng ý quay lại với các vị thần và mặt đất xanh tươi trở lại. Nhưng trước khi trở về Olympus,vị nữ thần đã tiết lộ những nghi lễ và dậy lại tất cả những phép thần bí của bà cho Triptolemus, Diocles, Eumolpuc, và Celeus – “những điều thần bí khủng khiếp mà không ai có thể vượt qua hoặc khám phá hoặc thốt ra bằng bất kỳ cách nào, vì sự kính sợ sâu sắc của các vị thần kìm hãm giọng nói.”

Hymn to Demeter thuật lại hai kiểu thụ pháp; chính xác hơn là nó giải thích nền tảng của Thần Bí Eleusis bằng cả sự đoàn tụ của hai nữ thần lẫn sự thất bại của việc bất tử hóa Demophoon. Lịch sử của Demophoon có thể so sánh với những thần thoại cổ xưa đã bãi bỏ khả năng bất tử hóa con người. Quyết định bất tử hóa cậu bé của Demeter có thể diễn giải như khao khát thu nhận cậu là con (người sẽ an ủi bà vì sự mất mát Persephone) và cùng lúc là sự trả thì Zeus và những vị thần ở Olympus. Chỉ vì Metaneira, bà không giấu nổi nỗi thất vọng với sự ngu dốt của con người. Nhưng đoạn thơ sau đó cũng không đề cập gì đến khả năng phổ biến ra kỹ thuật bất tử hóa này, tức là thiết lập một nghi lễ thụ pháp có thể biến người thành thần qua lửa.

Chỉ sau khi tìm lại con gái bà mới dậy lại những nghi lễ bí mật. Sự thụ pháp kiểu “thần bí” hoàn toàn khác biệt với sự thụ pháp bị làm ngắt quãng bởi Metaneira. Người gia nhập Thần Bí Eleusis không có được sự bất tử. Tại một thời điểm nào đó, ngọn lửa lớn sẽ tỏa sáng khắp thánh đường Eleusis, nhưng khả năng lửa không đóng vai trò trực tiếp trong lễ thụ pháp.

Những điều ít ỏi chúng ta biết được về những nghi lễ bí mật chỉ ra rằng bí ẩn trung tâm liên quan đến sự hiện diện của hai nữ thần. Qua sự thụ pháp, trạng thái con người được điều chỉnh, nhưng không giống với cách của Demophoon. Chỉ có vài văn bản cổ đề cập trực tiếp đến Phép Thần Bí nhấn mạnh vào phúc lạc sau khi chết của những người được thụ pháp. Linh hồn của những người được thụ pháp sẽ hưởng phúc lạc sau khi chết; chúng sẽ không là cái bóng tàn tạ bi ai không có ký ức và sức mạnh mà các các anh hùng Hesiod rất sợ hãi nữa.

Theo truyền thuyết, Demeter cử Triptolemus đi dậy nông nghiệp cho người Hy Lạp. Chúng ta có thể giả định, cùng với Walter Otto, rằng thần thoại gốc nói đến sự biến mất của rau củ không bao gồm lúa mì; vì Persephone bị bắt đi nên múa mì chưa được biết đến. Nhiều văn bản và tượng đài tượng trưng chứng thực rằng lúa mì được làm ra bởi Demeter sau bi kịch Persephone. Do đó chúng ta có thể giải mã thần thoại cổ giải thích sự tạo ra ngũ cốc bằng “cái chết” của một thánh thần. Kịch bản thần thoại-nghi lễ được nối tiếp và phát triển bởi Thần Bí Eleusis, tuyên bố sự liên hệ bí ẩn giữa hôn nhân thần thánh, cái chết dữ dội, nông nghiệp, và hy vọng về một sự sống hạnh phúc dưới nấm mồ.

Những nghi lễ thụ pháp: Lễ bái công khai và nghi lễ bí mật

Theo truyền thuyết, những cư dân đầu tiên của Eleusis là người Thrace. Bằng chứng khảo cổ gần nhất cho thấy Eleusis dường như bị thuộc địa hóa vào khoảng 1580-1500, nhưng thánh đường đầu tiên được xấy dựng vào khoảng thế kỷ thứ 15 cũng là lúc Thần Bí khởi đầu.

Thần Bí được tổ chức ở Eleusis trong gần 2000 năm; có thể một số nghi lễ đã bị thay đổi theo thời gian. Vị trí cận kề và sự bảo vệ của Athens rõ ràng là đóng góp cho việc đặt Eleusis vào trung tâm của đời sống tôn giáo toàn Hy Lạp. Các tài liệu đề cập cụ thể hơn đến những giai đoạn đầu của lễ thụ pháp, giai đoạn không yêu cầu sự bí mật. Do đó các nghệ sỹ có thể giới thiệu những tranh mô tả Eleusis lên bình lọ, phù điêu. Điều này bao hàm vài cấp độ khác nhau: gồm có Thần Bí Cấp Thấp, những nghi lễ của Thần Bí Cấp Cao (teletai), và trải nghiệm cuối cùng, gọi là epopreia. Những bí mật thực sự của teletai epopteia chưa bao giờ được hé lộ.

Thần Bí Cấp Thấp thường tổ chức mỗi năm 1 lần vào mùa xuân trong tháng Anthesterion tại Agrae, bao gồm hàng hoạt các nghi lễ dưới sự hướng dẫn của một thần bí sư. Thần Bí Cấp Cao cũng tổ chức lễ 1 năm 1 lần vào tháng Boedromion (tháng 9-10). Những buổi lễ kéo dài 8 ngày, “tất cả những ai có bàn tay sạch” và nói tiếng Hy Lạp đều được tham gia, kể cả nô lệ, miễn là họ đã trải qua lễ mào đầu ở Agrae vào mùa xuân.

Ngày thứ nhất của lễ hội diễn ra tại thánh đường Eleusinium ở Athens, nơi những vật thiêng (hiera) đã được mang đến tối hôm trước từ Eleusis. Ngày thứ 2 họ diễu hành ra biển, mỗi học viên đi cùng thầy phải mang theo 1 con lợn để rửa tại biển rồi hiến tế trên đường về Athens. Ngày tiếp theo, trước sự hiện diện của dân chúng, vị vua-phán quan cùng với vợ sẽ thực hiện đại hiến tế. Ngày thứ 5 là đỉnh điểm của những nghi lễ công khai. Một cuộc diễu hành lớn khỏi Athens diễn ra vào lúc bình minh. Những tín đồ mới cùng thầy và nhiều người dân Athens hộ tống những thầy tu mang hiera về. Đến cuối chiều đoàn diễu hành qua cây cầu bắc ngang sông Cephissus, nơi những người đeo mặt nạ tổng xỉ vả những công dân quan trọng nhất (không biết ý nghĩa của việc này là gì). Khi đêm xuống, những người hành hương đi vào vòng ngoài của thánh đường. Một phần buổi đêm dành cho hát hò nhảy múa để tôn vinh các nữ thần. Ngày hôm sau, những người mong mỏi sẽ nhịn ăn và dâng tế, nhưng vì là nghi lễ bí mật (teletai) nên chúng ta chỉ có những giả thuyết.

Chúng ta sẽ thảo luận về những nỗ lực thâm nhập bí mật của teletai. Những nghi lễ nhất định bao gồm legomena, những công thức lễ nghi và những lời kêu gọi mà chúng ta không biết nội dung nhưng có tầm quan trọng đáng kể; đây là lý do vì sao lễ thụ pháp cấm những người không nói tiếng Hy Lạp. Chúng ta không biết những gì xảy ra vào ngày thứ 2 ở Eleusis. Có thể đêm đó đạt tới đỉnh điểm của sự thụ pháp, viễn ảnh tối thượng, epopteia, chỉ dành cho những người đã được thụ pháp trong 1 năm. Ngày tiếp theo đặc biệt dành cho những nghi lễ và vẩy nước cho người chết, và sau ngày này – ngày thứ 9 cũng là ngày cuối cùng – những tín đồ trở về Athens.

Có thể biết được Phép Thần Bí không?

Để thâm nhập vào bí mật của teletaiepopteia, các học giả không chỉ tham khảo những tác giả cổ xưa mà còn cả những nhà biện giải Cơ Đốc giáo. Kể từ đề xuất của Foucart thì phần tài liệu được thực hiện từ 1 đoạn văn của Themistius, trong đó nói về những trải nghiệm của linh hồn ngay sau khi chết được so sánh với những chướng ngại thụ pháp của Thần Bí Cấp Cao: ban đầu, anh ta lang thang trong bóng tối và kinh qua đủ thứ kinh khủng; rồi đột nhiên anh ta bị đánh trúng bởi một luồng sáng diệu kỳ và khám phá ra những vùng đất và những đồng cỏ thuần khiết, nghe thấy tiếng nói và nhìn thấy nhảy múa. Người thụ pháp, với vương miện trên đầu, gia nhập vào “những thánh nhân thuần khiết”: anh ta trông thấy những kẻ không được thụ pháp túm tụm lại trong bùn rêu, ngập trong thống khổ với nỗi sợ cái chết và sự hồ nghi về phúc lạc ở thế giới bên kia. Foucart cho rằng những nghi lễ liên quan tương tự đến việc đi vào bóng tối, xuất hiện những thứ khủng khiếp, và sự tiến vào cánh đồng ánh sáng một cách bất thình lình. Nhưng lời chứng của Themistius muộn hơn và phản ánh những khái niệm Orpheus. Các cuộc khai quật thánh đường của Demeter không tìm thấy một căn phòng nào dưới lòng đất.

Cũng có những cố gắng tái cấu trúc lễ thụ pháp dựa trên nền tảng là những công thức bí mật, gọi là synthema hay mật mã, được truyền lại bởi Clement của Alexandria: “Tôi nhịn ăn, tôi uống kykeon; tôi lấy khỏi lồng ngực; sau khi thao tác tôi đặt nó vào rổ, sau đó lấy nó khỏi rổ và đặt lại vào ngực.” Vài tác giả tin rằng đây chỉ là 2 mệnh đề đầu tiên của công thức Eleusis, phần còn lại của synthemavẫn còn là một bí ẩn. Vài học giả tin rằng ngực và rổ là thay thế của tử cung, hay dương vật, hay một con rắn, hay những cái bánh có hình dạng cơ quan sinh dục. Không giả thuyết nào thuyết phục. Khó mà chấp nhận một nghi lễ kiểu này lại thực hiện cả bởi trẻ em. Nếu như nghi lễ có synthema được diễn giải là tượng trưng của sinh và tái sinh thì đáng lẽ lễ thụ pháp phải hoàn thành ngay lúc đó, chứ không thể có thêm giai đoạn cuối cùng epopteia.

Có giả định cũng hợp lý rằng những người thụ pháp tham dự một bữa ăn thiêng. Một nghi lễ khác cũng được suy luận từ một biểu lộ của Proclus: người thụ pháp nhìn lên trời và hét “Mưa!”, họ nhìn xuống đất và ca thán “Tưởng tri!”. Hippolytus phát biểu rằng 2 từ này cấu thành bí mật vĩ đại của Phép Thần Bí. Rõ ràng đây là công thức liên hệ với hôn nhân thần thánh điển hình của những giáo phái cây cỏ; nhưng nếu thế nó sẽ không còn gì là bí mật vì cũng những từ này xuất hiện trên một tấm bia của 1 cái giếng gần cổng Dipylon của Athens.

Một thông tin khá nhạc nhiên đến từ Giám mục Asterius. Ông sống vào khoảng năm 440 khi Cơ Đốc giáo đã trở thành tôn giáo chính thức của đế chế, do đó không còn lo vấn đề dị giáo. Asterius nói về một lối đi ngầm, bao quanh bởi bóng tối nơi cuộc gặp trang trọng giữa đại tư giáo và nữ tu diễn ra, những ngọn đuốc bị dập tắt và được bao quanh bởi “một đám đông lớn những người tin rằng sự cứu rỗi của họ liên quan đến những gì hai vị này làm trong bóng tối.” Nhưng các cuộc khai quật không tìm thấy gì dưới lòng đất tại nơi đại sảnh thánh đường. Khả năng là Asterius đề cập đến Phép Thần Bí được thực hiện vào thời kỳ Hy Lạp hóa tại Eleusinium ở Alexandria. Dù trong trường hợp nào, nếu hôn nhân thần thánh thực sự tồn tại thì rất khó để hiểu được tại sao mà Clement lại gọi Christ là “vị đại tư giáo thật sự” sau khi nói về Eleusis.

Vào thế kỷ thứ 3, Hippolytus có thêm vào 2 mẩu thông tin. Ông nói rằng epopteia được thấy là một nhánh lúa mì trong “sự im lặng trang nghiêm.” Ông nói thêm rằng “suốt cả đêm, trong ánh lửa bập bùng kỷ niệm Phép Thần Bí vĩ đại và không thể diễn tả, vị đại tư giáo hét lên: “Kẻ Mạnh Mẽ (tính nữ) đã sinh ra Kẻ Mạnh Mẽ (tính nam).” Sự hiện diện trang nghiêm của nhánh lúa mì có phần hồ nghi khi mà những tín đồ được cho là mang theo mình những nhánh lúa mì và những hình khắc nhánh lúa mì có đầy ở những tượng đài tại Eleusis. Khó mà tin rằng sự hé lộ một nhánh lúa mì tươi lại là những bí mật lớn của epopteia, trừ khi chúng ta chấp nhận diễn giải của Walter Otto, người nói về một “phép mầu” riêng của Thần Bí Eleusis: “Nhánh lúa mì lớn lên và chín đột ngột một cách siêu nhiên là một phần trong những phép thần bí của Demeter cũng như cành nho lớn lên trong vài giờ là một phần của những mặc khải của Dionysus.” Tuy thế Hippolytus nói rằng nhánh lúa mì được người Phrygia xem là một phép thần bí được mượn bởi người Athens về sau này. Do đó có khả năng là tác giả Cơ Đốc đã chuyển những gì ông biết về Thần Bí của Attis cho Eleusis (Attis là vị thần mà Hippolytus nói rằng người Phrygia đã gọi ông là “nhánh lúa mì tươi”).

Dù trong trường hợp nào, viễn ảnh cuối cùng epopteiacũng được biết đến là diễn ra trong ánh sáng chói lòa. Vài tác giả cổ nói đến ngọn lửa cháy trong một tòa nhà nhỏ, Anactoron, những ngọn lửa và khói thoát ra từ lối mở trên nóc có thể nhìn thấy từ xa. Heracles nói, trong những cuộn giấy cói từ thời Hadrian, rằng “Ta đã được thụ pháp từ lâu…Ta đã thấy lửa…Ta đã thấy Kore.” Theo Apollodorus của Athens thì khi đại tư giáo cầu gọi Kore, ông đánh 1 cái chiêng đồng và tình huống ám chỉ rằng vương quốc của người chết mở ra.

Những bí mật” và “Những Phép Thần Bí”

Có thể chấp nhận rằng sự hiện thân của Persephone và sự hội ngộ giữa 2 mẹ con cấu thành phân đoạn chính của epopteia và trải nghiệm tôn giáo quyết định được gợi cảm hứng từ sự hiện diện của các nữ thần. Chúng ta không biết sự hội ngộ này diễn ra ở đâu hay được nhận thấy bằng cách nào. Chúng ta cũng không biết tại sao việc này lại thay đổi tình cảnh sau khi chết của người được thụ pháp. Nhưng không có gì để nghi ngờ việc một epopt (người thụ pháp ở cấp cao nhất) nhận thức được một bí mật thần thánh, thứ làm cho anh ta “quen thuộc” với các nữ thần; kiểu như anh ta được “nhận nuôi” bởi các thánh thần Eleusis. Việc “mặc khải” sự tiếp nối bí ẩn giữa sống và chết dàn xếp epopt với cáí chết của chính anh ta.

Việc thụ pháp của Thần Bí Eleusis không hình thành nên một “giáo hội” hoặc một sự liên kết bí mật như Thần Bí ở thời kỳ Hy Lạp hóa. Khi trở về nhà, các tín đồ tiếp tục tham dự những giáo phái công khai. Thực tế thì những người được thụ pháp chỉ gặp lại nhau sau khi chết, tách biệt với những người không được thụ pháp. Đóng góp chính của Eleusis là sự cứu rỗi trong tự nhiên, do đó Phép Thần Bí được chấp nhận và bảo trợ bởi Athens từ rất sớm.

Giá trị tôn giáo và văn hóa của “sự bí mật” vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Tất cả những khám phá và những phát minh – nông nghiệp, luyện kim, những kỹ thuật khác nhau, nghệ thuật. v.v. – vào thủa ban đầu đều ám chỉ sự bí mật, vì chỉ những “người được thụ pháp” vào những bí mật mới đảm bảo khả năng thành công của công việc này. Theo thời gian, việc thụ pháp vào những kỹ thuật cổ xưa có thể được thực hiện cho toàn cộng đồng. Tuy vậy, vẫn có nhiều kỹ thuật không mất đi đăc tính bí mật của nó.

Có thể thừa nhận rằng Thần Bí Eleusis gắn với một bí mật nông nghiệp, và có thể là cả sự thiêng liêng của hoạt động tình dục, sự sinh trưởng cỏ cây, và cả thức ăn ít nhất hình thành 1 phần kịch bản thụ pháp. Trong trường hợp này chúng ta phải giả định sự hiện diện ẩn tàng của những bí tích đã bị lãng quên một phần. Nếu thụ pháp Eleusis có khả năng tạo ra những trải nghiệm nguyên thủy như thế thì nó xứng đáng với danh tiếng là một địa điểm thiêng liêng và là một nguồn sản sinh các phép mầu. Tuy nhiên điều này hơi khó tin. Eleusis rõ ràng đã khám phá ra một chiều kích tôn giáo mới. Phép Thần Bí đã từng nổi tiếng hơn tất cả vì những “mặc khải” nhất định liên quan đến hai nữ thần.

Những mặc khải như vậy yêu cầu sự bí mật như một điều kiện tiên quyết. Phương pháp đều giống nhau đối với những sự thụ pháp khác nhau trong những xã hội cổ đại, nhưng cái làm nên sự độc nhất của bí mật Eleusis là việc nó trở thành một hình mẫu cho những giáo phái Thần Bí. Việc thần thoại hóa những bí mật thụ pháp và những chú giải của chúng sẽ khuyến khích vô số những suy nghiệm sau này, và kết thúc bằng việc định hình cho phong cách của cả một thời kỳ. Trong những ngày thuộc về những nhà Tân Pythagore và Tân Platon, một trong những hình thức sáo rỗng được dùng nhiều nhất là phong cách bí ẩn của những triết gia.

Bên cạnh vai trò trung tâm trong lịch sử sùng bái Hy Lạp, Thần Bí Eleusis còn gián tiếp đóng góp đáng kể cho văn hóa Châu Âu, và nổi bật là những diễn giải về sự bí mật của thụ pháp. Ấn tượng độc nhất của nó kết thúc với việc khiến Eleusis trở thành biểu tượng của sự sùng tín đa thần. Việc đốt phá các thánh đường và áp bức Thần Bí chính thức đánh dấu sự kết thúc của đa thần giáo. Điều này tất nhiên không ám chỉ sự biến mất của đa thần giáo mà chỉ đơn giản là che đậy nó đi. Đối với “bí mật” của Eleusis, nó vẫn tiếp tục ám ảnh trí tưởng tượng của những kẻ kiếm tìm.

VIII. Zarathustra và Tôn giáo Iran
 

Mặc khải của Ahura Mazda: Con người được tự do lựa chọn giữa thiện và ác

Zarathustra nhận được mặc khải trực tiếp về một tôn giáo mới từ Ahura Mazda. Bằng việc chấp nhận nó, ông theo gương hành động sơ khai của vị Thần – lựa chọn Cái Thiện, và ông không yêu cầu gì hơn từ môn đồ của mình. Dù con người được kêu gọi đi theo tấm gương của Ahura Mazda, nhưng họ được tự do lựa chọn. Họ không cảm thấy mình là kẻ phục dịch hay nô lệ của Chúa (như những tín đồ của Varuna, Yahweh, Allah thừa nhận).

Trong các gatha, Ahura Mazda nắm vị trí chủ đạo. Ngài tạo ra thế giới bằng tư tưởng. Đoàn tùy tùng của ngài là các thực thể thần thánh (gọi là các Amesha Spenta): Asha (Công lý), Vohu Manah (Tư tưởng tốt), Armaiti (Mộ đạo), Xshathra (Vương quốc, Quyền lực), Haurvatat và Ameratat (Toàn vẹn [sức khỏe] và Bất tử). Zarathustra cầu khẩn và ca ngợi những Thực thể này cùng với Ahura Mazda.

Ahura Mazda là cha của một số Thực thể và của 1 trong hai Thần Linh song sinh, Spenta Mainyu (Thiện Thần). Nhưng điều này cũng ám chỉ rằng ngài cũng có thể sinh ra kẻ kia của cặp song sinh, Angra Mainyu (Thần Hủy Diệt). Vào thủa ban đầu, cặp song song này đã lựa chọn, một kẻ chọn cái thiện và sự sống, kẻ kia chọn cái ác và cái chết. Ở thời điểm “bắt đầu tồn tại”, Spenta Mainyu tuyên bố với Thần Hủy Diệt: “Tư tưởng của chúng ta, học thuyết của chúng ta, sức mạnh tinh thần của chúng ta, sự lựa chọn của chúng ta, lời nói của chúng ta, hành động của chúng ta, lương tâm của chúng ta, tâm hồn của chúng ta, sẽ không có sự đồng thuận.” Điều này cho thấy hai thần linh khác nhau do lựa chọn, không phải do bản chất.

Thần học của Zarathustra là nhị nguyên nhưng không theo một nghĩa khắt khe của thuật ngữ. Cái Thiện và Cái Ác tiếp nối từ Ahura Mazda, nhưng vì Angra Mainyu được tự do lựa chọn trạng thái tồn tại và khuynh hướng tà ác của mình nên vị Thần Khôn Ngoan không thể là kẻ chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của Cái Ác. Mặt khác, Ahura Mazda với sự toàn tri của mình đã biết từ trước sự lựa chọn của Thần Hủy Diệt nhưng không ngăn cản việc đó; điều này có thể mang nghĩa rằng Chúa vượt trên mọi mâu thuẫn đối lập, hoặc sự tồn tại của cái ác cấu thành điều kiện ban đầu cho tự do của con người.

Sự chia tách ban đầu của cái thiện và cái ác lại được lặp lại vởi cặp Thần Song Sinh, với việc lần lượt chọn lựa Asha (Công lý) và Drug (Lừa lọc). Vì các daeva, các vị thần của tôn giáo truyền thống Iran, chọn Lừa lọc, Zarathustra yêu cầu môn đồ của ông ngừng tôn thờ họ và từ bỏ việc hiến tế trâu bò cho họ. Tôn trọng trâu bò đóng vai trò đáng kể trong Bái Hỏa giáo, một phản ánh lại của mâu thuẫn giữa những người trồng chọt định cư và những người chăn nuôi du mục.

Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây cho thấy nghi lễ haomakhông hoàn toàn bị kết án bởi Bái Hỏa giáo. Thêm vào đó, hiến tế động vật vẫn được thực hành không gián đoạn, ít nhất vì lợi ích của người thường. Dường như là Zarathustra chủ yếu chống đối những sự thái quá của những nghi lễ truy hoan, những nghi lễ liên quan đến vô số huyết tế và dùng haoma vô tội vạ.

Được biết rằng mặc cho những “cải cách” của mình, Zarathustra thực tế chấp nhận nhiều niềm tin và ý tưởng tôn giáo truyền thống, và đồng thời đem cho chúng những giá trị mới. Ông nhặt lấy truyền thống Ấn-Iran về hành trình của người chết nhưng nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự phán xét: mỗi người chết sẽ bị phán xét bởi những lựa chọn khi còn sống. Người liêm chính sẽ được nhận lên thiên đường, “Ngôi nhà Hát hò”; còn kẻ có tội sẽ “mãi mãi là những người khách trong Ngôi nhà Tà ác.” Con đường qua thế giới bên kia phải băng qua cầu Cinvat Bridge, chính tại nơi này kẻ xấu người tốt được phân loại.

Sự biến hình” của thế giới

Nhà Tiên tri không nghi ngờ gì việc các daeva sẽ bị tiêu diệt và người chính trực sẽ chiến thắng kẻ xấu xa, nhưng khi nào thì việc đó xảy ra? Ông đã nhiều lần hỏi Ahura Mazda.

Có khả năng là Zarathustra đã hy vọng “sự biến hình” của thế giới sẽ xảy ra sớm. “Mong chúng con là những người sẽ làm mới đời sống này!” Nhiều lần ông gọi mình là saosyant, “đấng cứu thế,” một khái niệm mà sau này sẽ làm trỗi dậy những thần thoại phi thường. Thử thách mạt thế bằng lửa và kim loại nóng chảy mà ông thông báo có đối tượng của nó là cả sự trừng phạt kẻ xấu và sự tái tạo đời sống. Hơn một lần trong lịch sử, việc mong đợi sự phán xét và sự đổi mới của thế giới dần dần được phản chiếu vào một tương lai mạt thế mà có thể được tính toán theo nhiều cách khác nhau. Nhưng điều quan trọng cần nhấn mạnh là cách diễn giải mới của Zarathustra về ý tưởng đổi mới thế giới. Những kịch bản thần thoại-nghi lễ cổ xưa được biết đến ở vùng Cận Đông với nghi lễ hồi phục vũ trụ hàng năm, nhưng Zarathustra phản đối kịch bản tái tạo thế giới mỗi năm này và thông báo một “sự biến hình” triệt để và tối hậu, ảnh hưởng một lần và mãi mãi. Hơn nữa, sự đổi mới sẽ không thu được nhờ thực hiện nghi lễ mà nhờ ý chí của Ahura Mazda. Sự đổi mới này bao gồm việc phán xét từng cá nhân, ám chỉ hình phạt cho kẻ xấu và phần thưởng cho người chính trực. Nếu các gatha là tác phẩm của Zarathustra như các học giả đồng thuận, thì Nhà Tiên tri đã tận lực trong việc bãi bỏ ý tưởng cổ xưa về việc tái tạo vũ trụ theo chu kỳ, và tuyên bố sự mạt thế không thể tránh khỏi trong tương lai gần, được quyết định và thực hiện bởi Ahura Mazda.

Nói ngắn gọn, điểm bắt đầu cho việc truyền đạo của Zarathustra là mặc khải về sự toàn năng, thánh thiện, và tốt lành của Ahura Mazda. Nhà Tiên tri nhận được mặc khải trực tiếp từ vị Thần, nhưng không phải là một giáo độc thần. Điều mà Zarathustra tuyên bố và làm gương cho các môn đồ là việc lựa chọn Chúa và các Thực Thể thần thánh khác. Bằng việc chọn Ahura Mazda, các tín đồ Bái Hỏa chọn cái thiện hơn là cái ác, chọn tôn giáo chân thực hơn là các daeva. Sự căng thẳng này sẽ sớm đóng đinh vào thuyết nhị nguyên. Một sự đối lập khác gần như không thấy được nhưng sẽ có một tương lai sáng lạn trong suy cứu Iran: sự đối lập giữa vật chất và tinh thần, giữa tư tưởng và “thế giới xương xẩu.”

Tâm linh theo nghĩa “triết học”, bản chất của tôn giáo Zarathustra rất nổi bật. Việc biến đổi các thần Aryan quan trọng nhất thành các Amesha Spenta (Những kẻ Phúc Thánh), đoàn tùy tùng của Ahura Mazda, và thực tế rằng mỗi Thực Thể này bao hàm một giá trị trừu tượng (Trật Tự, Quyền Lực, Mộ Đạo, v.v.) cùng lúc lại cai quản các yếu tố vũ trụ (hỏa, kim, địa, v.v.) cho thấy vừa có sự tưởng tượng sáng tạo vừa có sự phản ánh chân thực. Bằng việc liên kết các Amesha Spenta với Ahura Mazda, Zarathustra thành công trong việc định nghĩa phương pháp mà Ahura Mazda can thiệp vào thế giới và cũng làm rõ việc bằng cách nào mà vị Thần thông qua các “tổng lãnh thiên thần” của mình có thể giúp đỡ và hỗ trợ các tín đồ. Nhà Tiên tri nhấn mạnh vào sự mới mẻ của thông điệp: chức năng và giá trị tôn giáo của sự khôn ngoan, nghĩa là của khoa học, của tri thức đúng đắn và hữu ích. Chắc chắn, đó không phải là vấn đề khoa học trừu tượng theo nghĩa hiện đại của thuật ngữ này mà là một tư tưởng sáng tạo nhằm khám phá và đồng thời tạo ra các cấu trúc của thế giới và vũ trụ của các giá trị tương quan giữa chúng. Từ góc nhìn này, có thể so sánh nỗ lực suy cứu của Zarathustra với những chiêm nghiệm và khám phá của những nhà hiền triết trong Áo Nghĩa Thư, những người đã biến đổi tận gốc những khái niệm Vệ Đà về thế giới và sự tồn tại của con người.

Bái Hỏa giáo đã cho phép phát triển chiều kích bí mật, tuy không bị cấm nhưng cũng không dành cho tất cả tín đồ. Đặc tính thụ pháp và mạt thế là hiển nhiên trong sự cúng tế mà Zarathustra đưa ra thay cho những nghi lễ điên cuồng và dã man. Khi Ahura Mazda tiếp cận ông như “Thiện Tư Tưởng” và hỏi, “ngươi sùng bái ai?” Zarathustra trả lời, “ngọn lửa của người!”. Hiến tế là nguyên nhân, hay chính xác hơn là “sự hỗ trợ” đối với chiêm nghiệm thần học. Và dù những diễn giải sau này của các thầy tu là gì, thì điều quan trọng vẫn là hỏa đàn đã trở thành và duy trì như tâm điễm tôn giáo của Bái Hỏa giáo. Cũng như Zarathustra nhận thức về ngọn lửa mạt thế, mặc cho chức năng trừng phạt của nó, là sự thanh tẩy và tâm linh hóa thế giới.

Nhưng chức năng của cúng tế còn lớn hơn thế. Theo diễn giải gần đây, qua nghi lễ mà người hành lễ có được trạng thái maga: nghĩa là anh ta hưởng thụ trải nghiệm xuất thần mang đến sự khai sáng (cisti). Trong suốt thời gian khai sáng anh ta thành công trong việc tách nguyên thể tâm linh (menok) khỏi bản chất thân thể (getik); nói cách khác, anh ta hồi phục lại trạng thái thuần khiết và vô tội trước khi bị “trộn lẫn”. Hiện tại, sự trộn lẫn này là kết quả của sự tấn công của Ahriman. Vì thế, người hiến tế đóng góp vào sự hồi phục của trạng thái sơ khai, vào sự biến hình của thế giới.

Trạng thái maga đạt được chủ yếu nhờ hiến tế haoma, “thức uống của sự bất tử,” thứ mà thầy tu hấp thụ suốt buổi lễ. Haoma có nhiều xvarenah, thứ chất lỏng Ahura Mazda sở hữu, nhưng “ngọn lửa” thần thánh này cũng được sinh ra từ trán của Mithra, và như ánh thái dương phát ra từ đầu các vị chúa. Tuy nhiên, mỗi người đều có xvarenah, và vào ngày biến hình tức là sự Đổi Mới cuối cùng, “ánh sáng vĩ đại dường như từ cơ thể sẽ bùng cháy liên tục trên mặt đất này.” Bằng nghi lễ hấp thụ haoma, người dâng tế vượt ra khỏi trạng thái con người, tiến gần đến Ahura Mazda và dự báo một cách cụ thể sự Đổi Mới vũ trụ.

Theo truyền thuyết, Zarathustra bị giết ở tuổi 77 bởi người Turan Bratvarxsh trong một hỏa đền. Những nguồn tin sau này thêm vào rằng những kẻ giết người đã ngụy trang như những con sói. Truyền thuyết biểu thị sự ngưỡng mộ ý nghĩa về vận mệnh của Zarathustra, vì “những con sói” là thành viên của những xã hội con người Aryan bị nhà Tiên Tri kiên cường kỳ thị.

Quá trình thần thoại hóa tiếp tục kéo dài ít nhất 15 thế kỷ. Chúng tôi chỉ đề cập một vài ví dụ của việc phong thần Zarathustra trong truyền thuyết Bái Hỏa giáo. Trong thế giới Hy Lạp, Zoroaster được tôn vinh như hình mẫu Magus, và các triết gia của thời Phục Hưng Italy luôn luôn gọi ông lên như “Magus”. Cuối cùng, thần thoại đẹp nhất về ông được phản ánh qua tác phẩm Faust của Goethe.

Tôn giáo của các thành viên Achaemenid

Sự đối địch giữa Ahura Mazda và các daeva đã định hình từ thời Ấn-Iran khi Vệ Đà Ấn Độ cũng có sự đối chọi giữa các devaA-tu-la, chỉ khác là theo hai hướng đối nghịch nhau. Trong khi các devaẤn Độ chiến thắng các cổ thần A-tu-la A-tu-la được coi là yêu quỷ thì một quá trình tương tự lại biến deava ở Iran thành yêu quỷ, và vị thần tương ứng của Iran đối với A-tu-la Varuna vĩ đại của nguyên Ấn Độ trở thành Ahura Mazda.

Ahura Mazda đã được tôn thờ ở những xứ sở Iran trước thời Zarathustra. Tên ngài được tìm thấy từ những chữ khắc của những vị vua Achaemenid. Vào thời của các Achaemenid, tên của Zarathustra, các thuật ngữ quan trọng như spenta, Angra Mainyu, Amesha Spenta (trừ Arta) không tìm thấy trong bất kỳ văn bản chữ khắc nào.

Tuy nhiên, nếu các Achaemenid không phải là những tín đồ Bái Hỏa thì thần học của họ cũng ở cùng mặt phẳng với các gatha: nó có đầy những diễn đạt trừu tượng, và “mang nặng những cân nhắc đạo đức.” Trong bản khắc đầu tiên do Darius chỉ đạo, Ahura Mazda được tôn vinh là vị thần sáng tạo thế giới, tạo ra hạnh phúc cho nhân loại và đưa Darius lên làm vua. Nói cách khác Darius được làm vua để duy trì sáng tạo của Ahura Mazda và hạnh phúc của nhân loại.

Địa vị độc quyền tôn giáo này được biện hộ bằng thần thoại về sự thành lập triều đại Achaemenid. Sau 2 giấc mơ được các Magi diễn giải là điềm xấu, vua Astyages của Medes gả con gái ông cho một người Ba Tư tên là Cambyses, và khi nàng sinh con, tên là Cyrus, thì Astyages ra lệnh giết đứa trẻ. Nhưng đứa trẻ đã được cứu bởi vợ của 1 người chăn gia súc Mithradates. Cyrus trải qua tuổi trẻ giữa những người chăn nuôi gia súc, nhưng cung cách hoàng tử của ông đã làm lộ thân phận ông. Cuối cùng, qua nhiều cuộc phiêu lưu, ông chiến thắng Medes, phế truất ông ngoại và thành lập đế chế Achaemenid.

Chủ đề thần thoại kiểu này về người anh hùng có thể tìm thấy ở nhiều dân tộc. Chúng ta chỉ quan tâm đến những mô-tip quan trọng: (a) những trở ngại Cyrus phải trải qua tương đương với một kiểu thụ pháp quân sự; (b) vị vua tương lai là con của thần Mithra một cách biểu tượng (tên cha nuôi Mithradates của ông có nghĩa “món quà từ Mithra”); (c) sau chiến thắng ông thành lập một đêc chế và triều đại mới; (d) điều này cũng tương đương với việc ông tạo ra một thế giới mới và khánh thành một kỷ nguyên mới, nói cách khác, ông hoàn tất một vũ trụ vĩ mô; (e) vì nguồn gốc vũ trụ được lặp lại một cách nghi thức vào hội Năm Mới nên sẽ có lý khi giả định rằng kịch bản thần thoại-nghi lễ về sự thành lập triều đại là một phần của những nghi lễ Nawroz.

Vua Iran và lễ hội Năm Mới

Darius xây Persepolis như một thủ đô thiêng liêng, dành cho lễ kỷ niệm Năm Mới, gọi là Nawroz. Nawzor cũng như mọi kịch bản về nghi lễ Năm Mới làm mới thế giới qua việc lặp lại một cách biểu tượng nguồn gốc vũ trụ.

Nguồn gốc vũ trụ liên quan đến trận chiến giữa 1 vị thần hay một anh hùng thần thoại với một con thủy quái hay một con rồng phổ biến trong một khoảng địa lý rộng lớn. Trận chiến giữa anh hùng Thraetona và con rồng Azi Dahaka đề cập trong kinh Avesta được kể lại bởi Firdausi như là sự đấu tranh giữa vua Faridun (<Freton<Thraetona) và kẻ chiếm ngôi, con rồng Azdahak, kẻ đã bắt giữ và cưới hai người chị em của vị vua hợp pháp Jamsed (<Yima Xsaeta). Faridun, cũng như Thraetona, đã giết được con rồng và cưới hai nàng công chúa. Những truyền thuyết sau này thêm vào rằng nhà vua đã chinh phục con rồng và Ngày Đầu Năm Mới. Ở Iran và những nơi khác, quá trình lịch sử hóa thần thoại và những nhân vật được cân bằng bởi một quá trình đối lập: kẻ thù thật sự được hình dung như những con quái vật, đặc biệt là rồng.

Điều quan trọng cần nhớ lúc này là việc vua Iran chịu trách nhiệm cho việc bảo tồn và tái thiết thế giới. Zarathustra đã tìm kiếm một sự tái thiết vũ trụ bằng một Tôn Giáo Thiện. Vị thầy tế hy vọng hàng năm sẽ nhận thấy được những gì các vị vua đạt được thủa ban đầu và mỗi năm – và vị Saoshyant sẽ tạo ra ảnh hưởng mãi mãi vào thời điểm của Sự Đổi Mới cuối cùng.

Vấn đề của Magi. Người Scythia

Khi lan rộng về hướng tây, Bái Hỏa giáo gặp phải những loại tôn giáo khác và chịu ảnh hưởng từ chúng. Xerxes, con của Darius cấm những giáo phải của các deava, việc này mang ông đến gần với tôn giáo của Zarathustra. Nhưng sau này, chính xác là vào thời Artaxersex II (405-359), Mithra và Anahita lại xuất hiện bên cạnh Ahura Mazda.

Một chủ đề không kém tranh cãi là vấn đề của các Magi và mối liên hệ của họ với Bái Hỏa giáo. Họ được coi là một bộ lạc sơ khai của những thầy phù thủy và những kẻ gọi hồn, những kẻ chịu tránh nhiệm cho sự suy thoái của Bái Hỏa giáo, hoặc ngược lại, họ là những môn đồ thực sự của Zarathustra và sứ mệnh của ông ở tây Iran. Suốt thời kỳ Đế Chế Media (thế kỷ thứ 7), dường như họ nối nghiệp những thầy tu Media, tương đương với người Levi hoặc Bà-la-môn. Dưới thời Achaemenid họ nổi bật là đại diện cho giáo giới. Họ phân tích giấc mơ, tiên đoán qua hiến tế ngựa và là hộ vệ của một truyền thống thơ ca tôn giáo. Trong trường hợp nào thì các Magi cũng thu nhận một số lượng các nghi lễ và phong tục của Bái Hỏa giáo và cuối cùng được coi là môn đồ của Zarathustra; thực tế, 1 số tác giả Hy Lạp coi ông là một Magus.

Herodotus đưa ra thông tin về những người Iran phương bắc, đặc biệt là người Scythia, có những vị thần như thần trời (Papaios), Mithra (Helios-Apollo), “Ares,” thần chiến tranh, Nữ Thần Đất Mẹ, và Aphrodite Urania. Herodotus cũng báo cáo về thần thoại quốc gia liên quan đến nguồn gốc của các bộ lạc Scythia và quyền lực hoàng gia. Thần thoại này giải thích bằng ý tưởng tam phân của người Ấn-Âu, và nó sống sót trong sử thi dân gian của người Ossetia, hậu duệ của người Scythia và Alan.

Nhà sử học Hy Lạp tuyên bố rằng người Scythia không có đền đài, bàn thờ hay tượng. Tuy nhiên, họ hiến tế ngựa và cừu hàng năm, cũng như 1% tù nhân chiến tranh cho “Ares”. Những sự hiến tế người và ngựa sống chôn cất cùng với vua. Cuối cùng, một đặc tính shaman quan trọng của 1 nghi lễ cần được chú ý: người Scythia ném hạt cây gai lên những hòn đá nóng đỏ và đám khói khiến họ “thật hạnh phúc đến nỗi hú lên những tiếng sung sướng.” Rất có khả năng chúng ta tìm thấy ở đây một trải nghiệm xuất thần tương tự như đã thấy trong truyền thống Bái Hỏa giáo.

Khía cạnh mới của Bái Hỏa giáo: Giáo phái thờ Haoma

Yasna with Seven Chapters được viết ở dạng văn xuôi của gatha 35-42 phản ánh sự bắt đầu của một quá trình thu nhận và tích hợp tương đối phức tạp. Bắt đầu với sự đổi mới về từ vựng; các Amesha Spenta được đề cập lần đầu tiên như một nhóm, và chúng ta thấy có thuật ngữ yazata (“các vị thần”) mà sau này sẽ trở nên quan trọng trong Bái Hỏa. Chúng ta có thể tách biệt được một số khuynh hướng tái định nghĩa các thực tế vũ trụ. Lửa được định danh với Thánh Linh Spenta Mainyu; cùng với mặt trời, lửa được liên kết với Ahura Mazda. Mặt trời là dạng thấy được của vị Thần. Asha, Sự Thật, cũng như vậy được liên kết với ánh sáng. Asha trở nên ưu việt hơn, Asha được cầu khẩn cùng với Ahura Mazda và sự hợp nhất của vị Thần và Sự Thật được “mãi mãi” thừa nhận. Asha giờ đây biểu thị nhiều hơn cả Sự Thật, Công Lý, Trật Tự; đây là một sự nhân cách hóa mang cả cấu trúc vũ trụ lẫn tâm linh. Vohu Manah, nguồn cảm hứng của Zarathustra trong các gatha thì bị hạ cấp.

Ngạc nhiên hơn, “những người vợ thiện” của Ahura (Ahuranis) cũng được đề cập, họ là Nước. Và Haoma có được một vị trí quan trọng trong giáo phái: “Chúng con tôn thờ Haoma hoàng kim, chúng con tôn thờ Haoma sáng chói người làm cho cuộc sống thịnh vượng, chúng con tôn kính Haoma nơi mà cái chết tránh xa.” Một số lớn các tác giả phân tích sự tôn vinh Haoma này như là bằng chứng của sự đồng bộ hóa giữa thông điệp của Nhà Tiên Tri và tôn giáo truyền thống sau cái chết của ông. Tuy nhiên, nếu thực tế đúng là Zarathustra chấp nhận thờ cúng Haoma, dù ông cùng lúc kỳ thị sự thái quá của nó, thì câu hỏi không phải là về sự đồng bộ mà đúng hơn là sự nâng tầm nghi thức của những giá trị trong vũ trụ tôn giáo Ấn-Iran cũ.

Các gatha của Zarathustra và Gatha with Seven Chapters hình thành một phần của nghi lễ bí tích yasna với phần lớn là những lời cầu khẩn đơn điệu với các đấng thánh thần. Mặt khác, các Yast lại là các thánh ca riêng biệt về các thánh thần khác nhau. Một số lượng các vị thần đã bị Zarathustra lờ đi – ví dụ như Mithra – nhưng lại cũng là những nhân vật thánh thần, hoặc những nhân cách hóa của những thực tế tôn giáo như Haoma. Hom-yast biện hộ cho giáo phái của haoma bằng một nguồn gốc thần thoại táo bạo: trong khi Zarathustra đang tụng lại các gatha thì haoma tiến đến ông, mời ông gom chúng lại và vắt ép chúng. Nghi vấn về chúng, Nhà Tiên Tri học được rằng Vivahvant là kẻ đầu tiên vắt ép haoma và có được một đứa con, vua Yima, như một phần thưởng.

Cũng cần chú ý rằng Yima và nghi lễ haoma được tôn vinh cùng với huyết tế. Việc nâng tầm di sản Ấn-Iran kiểu như vậy rõ ràng đôi khi sẽ gây ra những phản kháng mạnh mẽ; thực tế thì huyết tế sau này bị bãi bỏ mãi mãi, và haoma biến mất như một thứ đồ uống gây say, được thay thế bằng hỗn hợp của nước ép thực vật, nước, và sữa.

Sự tôn vinh thần Mithra

Ngạc nhiên hơn và quan trọng hơn trong lịch sử Bái Hỏa giáo là Mihr Yast, trường ca vinh danh Mithra. “Khi ta tạo ra Mithra của những đồng cỏ rộng lớn,” Ahura Mazda tuyên bố, “Ta khiến ông cũng đáng được tôn sùng và kính trọng như ta.” Tất cả sự vĩ đại, sức mạnh, và sáng tạo của Mithra là kết quả của vị Thần Khôn Ngoan. Mihr Yast kể lại và biện hộ cho sự nâng tầm Mithra đến tầm cao trước đây, khi chưa có sự cải cách của Zarathustra. Đến đoạn cuối của thánh ca, hai vị thần được sáp nhập, tác giả đã dùng thể thức Mithra-Ahura, một bản sao của nhị nguyên Vệ Đà quen thuộc Mitra-Varuna.

Tuy nhiên, vị thần được tôn vinh trong Mihr Yast không tái hợp vào Bái Hỏa giáo mà thiếu vắng một số thay đổi: một chuỗi các hành động và cử chỉ của Ahura Mazda nhắm chính xác vào sự tôn vinh và sự thăng tiến của Mithra. Đầu tiên là sự đa dạng. Ông là thần của những giao ước, bằng lời hứa tôn thờ ông, những tín đồ không phá vỡ những giao ước. Ông cũng là thần chiến tranh và tỏ ra mình mạnh mẽ và dữ tợn (ông thảm sát các deavavà những kẻ bất kinh trong cơn cuồng nộ với cây trùy vazra của mình, một đặc điểm đưa ông đến gần với Indra). Ông cũng là thần mặt trời, liên kết với Ánh Sáng. Ông có 1000 tai và 10.000 mắt, tức là ông toàn tri toàn thức như bất kỳ vị thần tối cao nào; nhưng ông cũng là nguồn cung toàn thế đảm bảo sự màu mỡ của những cánh đồng và những đàn gia súc. Hiện tượng này lưu hành trong dòng lịch sử của các tôn giáo: một vị thần được gán cho những sức mạnh và những thuộc tính đa nhiệm, những thứ đôi khi mâu thuẫn nhau để có được một “tính toàn thể” cần thiết cho sự leo thang của ông đến cấp bậc của những vị thần vĩ đại.

Ahura Mazda và các Amesha Spenta xây cho ông một ngôi nhà trên núi Hara ở thế giới tâm linh vượt xa vòm trời. Nhưng Mithra vẫn phàn nàn với vị Thần rằng ông không được tôn thờ bởi những người cầu nguyện như các vị thần khác. Có lẽ ông đã nhận được sự thờ phụng như ông yêu cầu, vì sau đó thánh ca cho thấy Mithra trên một cỗ xe kéo bởi những con ngựa trắng, hoặc đi cùng với Sraosha và Rashnu quanh mặt đất vào ban đêm tiêu diệt các deava, hoặc truy bắt những kẻ không tôn trọng giao ước. Đáng nói hơn là những giai đoạn Mithra leo lên cấp bậc của vị thần tối cao. Đầu tiên Ahura Mazda thừa nhận Haoma là tư tế của Mithra, và Haoma tôn thờ ông, tức là dâng đồ tế lên ông. Sau đó Ahura Mazda mô tả nghi lễ riêng cho sự thờ cúng Mithra và ông tự mình thực hiện nghi lễ này trên thiên đường, Ngôi Nhà Hát Hò. Sau đỉnh điểm sự nghiệp này, Mithra quay trở lại trái đất để chiến đấu với deava, trong khi Ahura Mazda ở lại Ngôi Nhà Hát Hò. Sự tái hợp của Ahura Mazda và Mithra đóng khung số phận của các deava. Mithra được tôn thờ như ánh sáng soi sáng toàn thế giới. Và thánh ca kết thúc với những lời này: “bên cây barsom chúng con tôn thờ Mithra và Ahura, những vị Thần Sự Thật vẻ vang, mãi mãi bất hoại: chúng con tôn thờ những vì sao, mặt trăng, và mặt trời. Chúng con tôn thờ Mithra, vị Thần của mọi miền.”

Mithra đã thăng tiến trong Bái Hỏa giáo đặc biệt như một vị thần vô địch trong cuộc chiến chống lại các deava và những kẻ bất kính. Thực tế là Ahura Mazda hoàn toàn từ bỏ phận sự này cho Mithra chỉ ra khuynh hướng lười biếng về sau; nhưng bởi vì chiến đấu chống lại các lực lượng tà ác là nghĩa vụ chính của Bái Hỏa giáo, nên bài thánh ca có thể diễn giải như một “sự cải đạo” của Mithra, do đó cũng là một chiến thắng của vị Thần.

Ahura Mazda và hiến tế mạt thế

Quá trình đồng hóa giữa tôn giáo dân tộc cổ xưa và thông điệp của Zarathustra có thể được giải mã trong những thánh ca khác. Ví dụ như trong Yast 8 dành cho Tistrya (nhân cách hóa của sao Thiên Lang). Tistrya than rằng ông không đánh bại được quỷ Apaosa – kẻ kìm giữ Nước và đe dọa hủy diệt mọi Sáng Tạo – vì con người lờ ông đi trong các nghi lễ. Sau đó Ahura Mazda tôn vinh Tistrya và dâng một lễ tế cho ông (yasna); kết quả là Tistrya chiến thắng deava đó và đảm bảo cho sự sinh trưởng của mặt đất. Cũng vậy Ahura Mazda hiến tế tới Anahita và nhờ cô “ban cho ông một ơn huệ: ‘Ta có thể xui khiến kẻ mộ đạo Zarathustra nghĩ gì, nói gì, và làm gì theo Thiện Tôn Giáo được không?’” Ahura Mazda còn tuyên bố là nếu không có sự giúp đỡ của các Fravashi – những linh tồn tồn tại trước con người – thì nhân loại và muông thú sẽ biến mất và thế giới vật chất sẽ sụp đổ dưới đế chế của Giả Dối.

Zaehner hiểu những đoạn văn này như là một sự đối lập với học thuyết của Zarathustra, nghĩa là sự tự làm nhục mình của Ahura Mazda, kẻ không những tôn vinh những thực thể thấp kém hơn mà lại còn phải nhờ họ giúp đỡ. Điều này gợi nhớ đế một kiểu thần trì trệ, khi Kẻ Sáng Thế dường như thấy “mệt mỏi về tinh thần” khiến ông phải cầu khẩn một số loài vật và thậm chí cả kẻ thù. Nhưng những việc làm của Ahura Mazda không nhất thiết mang nghĩa ông tự đặt mình ở địa vị thấp hơn. Bằng việc dâng tế, Ahura Mazda khiến cho sức mạnh phép thuật-tôn giáo của kẻ nhận tăng lên gấp 10 lần. Điều rõ ràng từ các thánh ca là tầm quan trọng đặc biệt của hiến tế – một khái niệm rõ ràng là Ấn-Iran nhưng được phát triển cụ thể trong các Phạm Thư và sẽ ngày càng trở thành trung tâm của Bái Hỏa giáo.

Giữa những dân tộc Ấn-Âu khác, hỏa lễ đóng vai trò chính. Yasna “bản chất là hiến tế haoma trước ngọn lửa.” Với mỗi vị vua Mazda, hành động tôn giáo tối thượng bao gồm việc tìm một ngọn lửa, nghĩa là xây 1 ngôi đền, ban lợi tức cho nó, và chỉ định một thầy tế cho nó. Dù Zarathustra kết án một số huyết tế, nhưng không chắc chắn là ông bãi bỏ toàn bộ. Trong trường hợp nào thì hiến tế động vật cũng được tìm thấy trong kinh Avesta.

Chúng ta đã biết Zarathustra ám chỉ mình là Saoshyant. Trong Bái Hỏa giáo, chủ ý mạt thế của hiến tế tiếp tục được củng cố. Vì thế giới được tái tạo một cách biểu tượng và thời gian tự đổi mới qua nghi lễ Năm Mới, nên Sự Đổi Mới mạt thế cuối cùng cũng sẽ diễn ra theo kịch bản tương tự. Việc hiến tế thực hiện bởi thầy tế Bái Hỏa giáo dự báo sự hiến tế cuối cùng thực hiện bởi Saoshyant sẽ thực thi Sự Đổi Mới. Hệ quả là người làm lễ định danh mình với Saoshyant, tức ám chỉ là với Zarathustra.

Sau này hai chủ ý của hiến tế – mạt thế và vũ trụ – lại được mang lại cùng nhau. Các văn bản Pahlavi nhấn mạnh một chuỗi hiến tế mà qua đó Ahura Mazda đã tạo ra vũ trụ, con người đầu tiên, và Zarathustra. Sự Đổi Mới mạt thế sẽ diễn ra trong thời gian lễ hội Năm Mới, và người chết sẽ sống lại, chịu phán xét, và cuối cùng là được “bất tử hóa.” Cần chú ý rằng việc làm mới vũ trụ cũng như sáng thế ban đầu đều là kết quả của hiến tế.

Chức năng chuộc tội của Thiện Tôn Giáo dần dần đc làm cho vững chắc bởi sự tôn vinh sức mạnh sáng tạo của nghi lễ. Vì mục đích tối thượng là tái thiết vũ trụ, giá trị vũ trụ nền tảng của hiến tế được nâng cao: Sự Đổi Mới mạt thế không chỉ “cứu” mà còn tạo mới nhân loại bằng việc thi hành sự hồi sinh cơ thể. Điều này ám chỉ một Sáng Thế mới, bất hoại, trường tồn. Như Yast 19.90 tuyên bố “Thế giới vật chất sẽ không còn chết đi nữa… Giả Dối sẽ diệt vong.”

Hành trình của linh hồn sau khi chết

Nghi lễ ở miền tây Iran, đặc biệt là việc thiêu xác và chôn bình tro cốt truyền theo Bái Hỏa giáo lan ra các vùng khác. Cổ hơn là phong tục của những vùng thảo nguyên Trung Á: phơi xác ở những nơi dành riêng để cho chó hay kền kền ăn. Những người Iran phía Đông thực hiện nghi lễ than khóc và tự đánh đập mình, thậm chí dẫn đến tự sát. Nhưng Bái Hỏa giáo kịch liệt cấm đoán “nước mắt và khóc than,” tuyên bố rằng đó là sáng tạo của Angra Mainyu.

Về hành trình của linh hồn thì có một số mô-típ quen thuộc như băng qua cầu, lên thiên đường, sự phán xét, nhưng cũng có cả việc gặp mặt với Tự Ngã của mình. Một đoạn thơ trong Hadoxt Nask kể rằng linh hồn (urvan) của một người công chính vẫn ở gần cơ thể trong 3 ngày. Đến cuối đêm thứ 3, một cơn gió thơm thổi tới từ phía Nam, và daena của người chết xuất hiện “trong hình dạng một thiếu nữ trẻ đẹp, tỏa sáng, tay trắng, đầy sức sống, ngoại hình xinh đẹp, dáng người thẳng, cao, với bộ ngực nhô cao … 15 tuổi”. Nói đến danh tính của mình, daena thêm rằng: “Đáng yêu như em đã từng, chàng đã làm em càng đáng yêu hơn bằng những hành động tốt đẹp, tôn giáo tốt đẹp; xinh đẹp, chàng vẫn làm em càng xinh đẹp hơn; khát khao, vẫn còn khát khao hơn.” Sau đó, trong 4 bước chân, linh hồn đi qua 3 tầng trời và chạm tới “những Ánh Sáng không có khởi nguồn”, nghĩa là thiên đường. Một trong số những người chết hỏi anh ta làm thế nào mà anh ta vượt “từ tồn tại thể xác sang tồn tại linh hồn, từ sự tồn tại đầy nguy hiểm sang sự tồn tại không còn những hiểm nguy”, nhưng Ahura Mazda xem vào: “Đừng hỏi, vì sẽ làm anh ta nhớ lại con đường khủng khiếp, hiểm trở kết nối sự chia cắt mà anh ta đã vượt qua, thứ bao gồm sự chia tách giữa thể xác và ý thức” – một sự liên hệ tới những chướng ngại bi kịch trong hành trình. Ahura Mazda thu xếp để anh ta được dâng món “bơ xuân,” là “thực phẩm sau khi chết” của một người công chính. Ngược lại, linh hồn của một kẻ xấu thì gặp một người đàn bà cáu kỉnh đáng sợ trong Gió Bắc, đáp đến một vùng Bóng Tối không có Khởi Nguồn, nơi Angra Mainyu ra lệnh đem thuốc độc cho hắn ta.

Chúng ta hãy tách ra từng đặc tính riêng: (1) linh hồn gặp daena của nó, tức là Tự Ngã, thứ đã tồn tại từ trước (“Đáng yêu như em đã từng”) nhưng thứ cũng đồng thời là kết quả của những hoạt động tôn giáo của nó (“ chàng đã làm em càng đáng yêu hơn”); (2) daena hiện hình dưới dạng nguyên mẫu nữ tính, đồng thời bảo tồn một diện mạo cụ thể; (3) rõ ràng chúng ta có 1 khái niệm Ấn-Iran vì trong Kausitaki Upanishad có kể: linh hồn của người bước “con đường của những vị thần” được chào đón giữa những thánh thần bởi Manasi và Cakshushi; sau đó nó băng qua một cái hồ và một dòng suối, tiến vào một thành phố, và đến trước Brahman, kẻ hỏi nó: “Ngươi là ai.”

Cầu Cinvat không được đề cập trong Hadoxt Nask. Tuy nhiên, Zarathustra nói về nó khá nhiều. Nó đại diện cho một khái niệm Ấn-Iran, được biết đến bởi những dân tộc Ấn-Âu khác và được tìm thấy ở nơi khác trong lịch sử của những tôn giáo. Mô tả cổ điển có kể daenađến cùng với những con chó của nó và dẫn linh hồn qua Cầu Cinvat, qua Hara Berezaiti – núi vũ trụ (cây cầu ở “trung tâm thế giới” nối liền mặt đất và thiên đường). Được Vohu Manah tiếp nhận, linh hồn đến trước Ahura Mazda và các Amesha Spenta. Việc tách biệt người tốt kẻ xấu diễn ra trước cây cầu hoặc ở lối vào. Về việc phán xét với thẩm phán là Mithra thì không được đề cập trong các gatha. Dù sao thì sự phán xét cũng là thừa với kịch bản này, vì việc qua cầu có thể so sánh với 1 chướng ngại thụ pháp, bản thân nó đã cấu thành sự phán xét: cây cầu sẽ mở rộng dưới bàn chân người công chính và thu hẹp như một lưỡi dao khi kẻ vô đạo đến gần nó.

Sự hồi sinh của cơ thể

Trong khi thần thoại về Yama của Ấn Độ lấy cảm hứng từ Người Chết Đầu Tiên, thì Yima của Iran lại trở thành Vị Vua Đầu Tiên và hình mẫu của vị chúa tể hoàn hảo. Truyền thống Iran liên hệ thiên đường ban đầu với sự trị vì của Yima: trong suốt hàng nghìn năm cái chết và đau khổ không tồn tại, và con người trẻ mãi không già. Nhưng từ khi Yima bắt đầu nói dối, xvarenah của ông từ bỏ ông và cuối cùng cả ông cũng mất đi sự bất tử.

Một thần thoại mạt thế có nguồn gốc độc lập được thần học Bái Hỏa tích hợp vào thần thoại về Yima. Ahura Mazda cảnh báo Yima rằng mùa đông kéo dài 3 năm sẽ hủy diệt toàn bộ sự sống trên mặt đất; ông nhờ Yima xây một vòng vây (vara) để cứu những người tốt nhất trong loài người và những mầm mống của mọi loài động vật. Vara được tưởng tượng là nơi ở dưới lòng đất vì không có mặt trời, mặt trăng, và các vì sao chiếu sáng nơi đây. Đây là một thuyết mạt thế cổ xưa không thể nào liên hệ với tầm nhìn của Bái Hỏa giáo. Tuy vậy, có thể hiểu được tại sao Yima lại được giới thiệu trong kịch bản thần thoại tận thế này: ông là vua của Thời Hoàng Kim tưởng tượng, và trong vara những mầm mống của nhân loại được bảo tồn, sẵn sàng để trải nghiệm sự sống thiên đường bắt đầu sau thảm họa mạt thế.

Một ý tưởng mạt thế khác được thêm vào, đó là sự hồi sinh cơ thể. Niềm tin này có vẻ tương đối cổ xưa, nhưng nó được tuyên bố rõ ràng trong Yast 19, nói về “hồi sinh người chết” cùng với sự đến của “Kẻ Đang Sống”, tức là Saoshyant tuyên bố bởi Zarathustra. Vậy là Sự Hồi Sinh tạo thành một phần của Sự Đổi Mới. Vài ý tưởng, một số tương đối cổ xưa, giờ được biểu thị trong tầm nhìn mạt thế vĩ đại: sự làm mới triệt để hoàn toàn vũ trụ đại diện cho một Sáng Thế mới không còn bị hủy hoại bởi sự tấn công của ma quỷ; sự hồi sinh người chết tương đương với một khởi nguồn vũ trụ bằng vũ trụ vi-vĩ mô song song, một khái niệm cổ xưa phổ biến với vài dân tộc Ấn-Âu nhưng sự phát triển đáng kể thì diễn ra ở Ấn Độ và Iran.

Ba sự kiện mang tính quyết định với vũ trụ và bi kịch con người được đặt gần Năm Mới: Sự Sáng Thế, sự mặc khải của “Tôn Giáo,” và Sự Đổi Mới mạt thế. Vì một năm ám chỉ toàn bộ thời gian vũ trụ, nên 10 ngày cuối năm báo trước bi kịch mạt thế. Đó là khoảng thời gian thần kỳ mà các linh hồn trở lại mặt đất: có một Yast cầu khẩn các Fravashi, những kẻ tự do đi lại suốt 10 ngày cuối năm. Niềm tin này rải rác rộng rãi, nhưng những tín đồ Bái Hỏa đặt nó trong một hệ thống lớn hơn nhiều: theo truyền thuyết Pahlavi, Ohrmazd hoàn thành việc tạo ra con người trong suốt 10 ngày cuối năm; vậy thì, các Fravashi đến mặt đất vào thời điểm tạo ra con người và trở lại khi thời gian kết thúc, nghĩa là tại thời điểm hổi sinh các thể xác.

Văn bản sau này phát triển sự tương đồng giữa lễ hội Năm Mới và Sự Đổi Mới mạt thế, thời điểm sự hồi sinh sẽ xảy ra. Vào dịp Năm Mới, quà cáp và quần áo mới được nhận, và đến khi thời gian kết thúc, Ohrmanzd sẽ tặng những trang phục đẹp đẽ cho những kẻ được hồi sinh. Như chúng ta đã biết, sau khi Saoshyant hoàn thành hiến tế thì Sự Đổi Mới vũ trụ và sự hồi sinh thể xác sẽ xảy ra. Sự hiến tế mạt thế này lặp lại hiến tế vũ trụ theo một cách nào đó; đó là lý do vì sao nó tương tự như “sáng thế.” Sự hồi sinh với hệ quả là những cơ thể bất hoại đại diện cho một sự phát triển táo bạo của tư tưởng mạt thế Zarathustra; thực tế, nó đại diện cho một khái niệm mới về sự bất tử.

 IX. Tôn giáo của Israel trong Thời đại của những Vị vua và những Ngôn sứ

Vương quyền và chế độ quân chủ: Cao điểm của chủ nghĩa hỗn tạp

“Khi ông Sa-mu-en đã già, ông đặt các con trai ông làm thủ lãnh Ít-ra-en.” Nhưng các con trai ông không đi theo đường lối của ông, và toàn thể các kỳ mục tập hợp lại đến với ông và nói: “Xin ông cho chúng tôi một vua để xét xử chúng tôi như những quốc gia khác.” Vương quyền do đó là một thể chế ngoại quốc. Một số phe đối lập không do dự phản đối vì trong mắt họ Yahweh là vị vua duy nhất của Israel. Tuy thế, ban đầu chế độ quân chủ được xem như để làm vui lòng Yahweh. Sau khi được Samuel xức dầu, Saul nhận được “thần khí của Yahweh.” Nhà vua được Yahweh thu nhận và theo một cách nào đó trở thành con của ngài: “Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con.” Nhưng nhà vua không phải được Yahweh sinh ra; ông chỉ là được công nhận, được “hợp pháp,” bởi 1 tuyên cáo đặc biệt. Yahweh ban cho ông quyền thống trị và ông ngồi trên ngai vàng bên cạnh Chúa. Nhà vua đại diện cho Yahweh; do đó ông thuộc về địa hạt thần thánh. Nhưng địa vị độc nhất của Yahweh lại khiến “việc phong thần” là bất khả thi; nhà vua trên hết là “tôi tớ” của Yahweh (từ này được dùng cho David 60 lần).

Là đại diện của Yahweh, vua của Israel hoàn toàn giống những vị chúa tể của Phương Đông cổ đại, phải duy trì trật tự vũ trụ, thi hành công lý, bảo vệ kẻ yếu, đảm bảo sự sinh trưởng của vùng đất: “Mong Người xuống tựa mưa sa nội cỏ,…Mong cho xứ sở đầy dư gạo thóc, đỉnh non cao sóng lúa rì rào.” Chúng ta nhận ra những hình ảnh truyền thuyết của sự trị vì thiên đường, những hình ảnh mà các ngôn sứ Messiah sẽ tân trang một cách xuất sắc. Chế độ quân chủ được diễn giải như một giao kèo mới giữa Yahweh và triều đại của David, một sự tiếp nối với giao kèo ở Sinai. Chính việc định giá một thể chế ngoại quốc như một sự thực hành mới của lịch sử thiêng liêng mà chúng ta có thể đánh giá tính nguyên bản của hệ tư tưởng Israel về vương quyền.

Solomon xây dựng Đền Thờ tại Jerusalem gần cung điện hoàng gia; do đó, ông liên kết sự thờ cúng của thánh địa với chế độ quân chủ cha truyền con nối. Đền Thờ trở thành nơi cư ngụ của Yahweh giữa những người Israel. Hòm Bia Chứng Ước, trước đó được tháp tùng bởi quân đội, giờ được đặt trong bóng tối của nơi Thánh trong số những nơi Thánh (debir). Từ nơi này thánh linh của Yahweh tỏa ra khắp thành phố và khắp mặt đất. Núi Zion nơi xây Đền Thờ là “trung tâm của thế giới.” Đền Thờ ở Jerusalem trở thành thánh đường quốc gia, và giáo phái hoàng gia trở thành quốc giáo. Chức phận bao gồm các nghi lễ chuộc tội và đền tội cho cả cộng đồng, nhưng cũng bao gồm cả cầu nguyện công khai cho nhà vua, cho vinh quang của ông, và cho việc thi hành công lý của ông để đảm bảo “đem lại cảnh hoà bình trăm họ” và thịnh vượng toàn cầu. Việc thực hành phụng vụ làm đổi mới các cấu trúc của thế giới.

Cũng như Đền Thờ được xây theo 1 hình mẫu ngoại quốc, thờ phụng cũng vay mượn hình thức từ Canaan. Chủ nghĩa hỗn tạp đã thành công với 1 tỷ lệ không rõ ràng, vì chế độ quân chủ đã khuyến khích sự dung hợp những ý tưởng và thực hành tôn giáo chia sẻ bởi hai tầng lớp dân cư, người Israel và người Canaan. Thêm vào đó, Solomon cũng chấp nhận những giáo phái của những người vợ ngoại quốc của ông và cho phép những tòa thánh đường vinh danh những vị thần của họ. Những vị vua coi mình là những kẻ đứng đầu của quốc giáo, nhưng chúng ta biết rất ít về chức năng tư tế của họ. Khi Hòm Bia được vận chuyển đến Jerusalem, David hành động như một mục sư: ông nhảy múa quay cuồng, dâng lễ toàn thiêu đến Yahweh…và “nhân danh Yahweh các đạo binh chúc phúc cho dân”. Cũng vậy, Solomon chúc phúc cho hội chúng trong cuộc thánh hiến Đền Thờ. Và Thánh Vịnh 110:4 tuyên bố vị vua “Muôn thuở, Con là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê.” Nhưng trong những dịp khác, những vị vua lại bị phê phán vì đã thực hiện nghi lễ dành riêng cho các thầy tế. Rất có thể nhà vua đóng một phần vai trò trong những lễ chuộc tội Năm Mới. Mặt khác, một số Thánh Vịnh dường như đề cập đến một nghi lễ tượng trưng cho cái chết và sự hồi sinh của nhà vua. Do đó chúng ta có thể giả định có sự liên hệ giữa lễ hội Năm Mới – bao gồm cả sự tái hiện thực hóa Sáng Thế một cách tượng trưng – và nghi lễ “chết và hồi sinh” của nhà vua.

Khi Solomon chết vương quốc chia làm hai nửa: phía Bắc hay Israel, và phía Nam hay Judah. Vì Hòm Bia vẫn giữ ở Jerusalem và những bộ lạc phía bắc không còn tiếp cận được thánh đường chung, nên Jeroboam – vị vua đầu tiên của Israel – đã thiết lập 2 thánh đường tại Bethel và Dan, nơi Yahweh được tôn thờ dưới dạng 2 con bò mộng bằng vàng. Cũng có thể những pho tượng hình bò này được dùng như chỗ ngồi của vị Chúa vô hình. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của Canaan đã khiến điều cấm kỵ liên quan đến hình ảnh bị vi phạm, và sự đổi mới rất gần với sự bỏ đạo này đã làm trầm trọng thêm sự hiểu lầm giữa hai vương quốc.

Yahweh và tạo vật

Cả một nhóm các Thánh Vịnh tôn vinh Yahweh như một vị vua. Ngài là “là Đại Vương trổi vượt chư thần”; Yahweh “là Vua hiển trị: chư dân phải rụng rời…Ngài là vua uy dũng yêu chuộng công bình, chính Ngài ấn định đường ngay lẽ phải”. Nhưng ý tưởng vương quyền thần thánh không phụ thuộc vào thể chế của quân chủ. Khái niệm này khá cổ: Chúa là chủ nhân của thế giới vì ngài tạo ra nó. Yahweh chinh phục những quái vật sơ khởi (Rahab, Leviathan, Con Rồng Tannin) biểu tượng của hỗn loạn. Là kẻ sáng thế, Chúa ở trên thiên đường và biểu lộ bản thân qua những hiện tượng khí tượng – sấm, chớp, mưa. Yahweh phân biệt thiện và ác, ngài ban sự sống và cái chết, ngài hạ thấp và tôn vinh. Cơn giận của ngài rất khủng khiếp, nhưng ngài cũng từ bi. Yahweh, trên hết, là thánh (qados), nghĩa là ngài vừa không thể tiếp cận, vừa nguy hiểm và cũng vừa mang đến sự cứu rỗi.

Là kẻ sáng thế và là vua của thế giới, Yahweh cũng phán xét những tạo vật của ngài “Vào thời Ta ấn định, Ta sẽ xử công minh.” “Công lý” của ngài cùng lúc vừa luân lý, rộng khắp, vừa xã hội, cấu thành những quy tắc nền tảng của vũ trụ. Yahweh là “Vị Thần Sống”, hay nói cách khác, ngài khác biệt với các ngẫu tượng – những thứ “không biết nói” và “phải mang chúng đi, vì chúng không bước được” – và với con người – những kẻ “như cỏ mọc lên”. Con người cũng là một sinh vật sống vì Chúa thổi ‘hơi thở” hay “thần khí” vào chúng; nhưng sự tồn tại này ngắn ngủi. Hơn nữa, trong khi Chúa là thần khí thì con người là xác thịt. Sự đối lập này không ám chỉ việc phản đối thân xác; nó nhấn mạnh sự bấp bênh và phù du của sự tồn tại của con người trái ngược với sự toàn năng và vĩnh cửu của Chúa. Khoảng cách không thể ước định giữa hai trạng thái tồn tại này được giải thích bằng thực tế rằng con người là tạo vật của Chúa. tuy thế, họ khác biệt với những tạo vật khác, vì họ được tạo ra theo hình ảnh của Chúa, và họ làm chủ thiên nhiên.

Con người phải chết vì hậu quả của tội tổ tông. Con người tạo ra từ cát bụi và sẽ trở về với cái bụi. Sống thọ là điều tốt đẹp nhất của họ. Cũng như bao truyền thống văn hóa khác, cái chết là sự suy thoái: nó biến con người sau khi chết thành dòi bọ trong nấm mồ hoặc trong sheol, một vùng tối tăm và đáng sợ ở sâu trong lòng đất. Vì cái chết là mặt tiêu cực trong công trình sáng tạo của ngài, Yahweh không cai trị sheol. Do đó, người chết bị tước đoạt khỏi mối liên hệ với Chúa, điều mà đối với các tín đồ là sự xét sử khủng khiếp nhất. Tuy nhiên, Yahweh mạnh hơn cái chết, nếu ngài muốn, ngài có thể làm con người sống lại từ những nấm mồ. “từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống.” “Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống …; Sửa phạt tôi, vâng Yahweh sửa phạt tôi, nhưng không nỡ để tôi phải chết.” Chỉ duy có những câu vừa rồi là đề cập đến sự hồi sinh trước sự kiện Giam Cầm ở Babylon (587-538 trước công nguyên), khi mà một phần dân số sẽ bị ảnh hưởng bởi thuyết mạt thế Iran.

Là “nô lệ” hay “tôi tới” của Yahweh, con người phải sống trong sự kính sợ Chúa. Tuân phục là hành động tôn giáo hoàn hảo. Ngược lại, tội lỗi là không tuân phục, phá vỡ những Điều Răn. Tuy nhiên, ý thức về sự mong manh không loại mất lòng tin vào Yahweh hay niềm vui được sinh ra bởi phước lành thần thánh. Nhưng mối liên hệ giữa con người và Chúa không vượt quá mặt phẳng này, sự hợp nhất bí ẩn giữa linh hồn và kẻ tạo ra chúng là điều không thể tượng tượng được trong thần học của Cựu Ước. Vì Bộ Luật (torah) tuyên bố chi tiết thánh ý, điều nhất thiết cần làm là tuân theo những Điều Răn, tức là cư xử theo lẽ phải và công lý. Ý tưởng tôn giáo của con người là “công chính,” là biết và tôn trọng Bộ Luật – trật tự thần thánh. Như ngôn sứ Micah nhắc nhở người nghe: “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Yahweh đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Chúa của bạn.” Tội lỗi làm mất phước lành, nhưng tội lỗi là 1 phần của trạng thái con người, và vì Yahweh, dù nghiêm khắc, nhưng từ bi nên hình phạt không bao giờ là cuối cùng.

Job, người công chính bị thử thách

Một chú giải đã cho rằng “cuộc gặp gỡ giữa quyền năng và sự tốt lành tóm tắt cách thức mà Cựu Ước nhận thức về Chúa. Việc tất cả những người đọc Sách Job xác nhận đồng tình với ý kiến này có thể còn là một dấu hỏi. Đây là một câu chuyện bi thảm đơn giản: đối tượng là sự khổ sở của một người công chính, một người Yahweh rất tự hào. “Ngươi có để ý đến Gióp, tôi tớ của Ta không? Thật chẳng có ai trên cõi đất này giống như nó: một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác!” Nhưng Satan trả lời rằng Job mộ đạo vì ông phát đạt; nghĩa là do phước lành thần thánh. Và Yahweh sau đó cho phép “kẻ tố cáo” Satan thử thách tôi tớ trung thành nhất của ngài. Job mất hết con cái và tài sản, và phủ phục vì “những vết lở loét ác tính từ lòng bàn chân đến tận đỉnh đầu,” ông ngồi xuống giữa đống tro tàn. Ông than khóc, nguyền rủa cái ngày mà ông sinh ra, nhưng ông không trách móc Chúa. Ba người bạn đến thuyết phục ông, rằng thực tế đơn giản là ông đang chịu đau khổ, có nghĩa là ông đang bị trừng phạt,minh chứng rằng ông có tội. Do vậy ông phải nhận ra tội lỗi và thú “tội”. Nhưng Job từ chối lời giải thích về vận đen của ông là do bị trừng phạt. Ông biết rõ rằng “Trước nhan Thiên Chúa, phàm nhân cho mình là công chính thế nào được?” rằng với Yahweh “đứa gian ác cũng như kẻ vẹn toàn, chính Người tiêu diệt hết!” tuy thế, với Chúa ông dám nói: “mặc dầu Ngài biết: con không tội lỗi gì, và không ai thoát khỏi tay Ngài được.” Ông không hiểu được tại sao Chúa lại không ngừng tấn công tạo vật của mình, vì Job không nghi ngờ gì sự nhạt nhẽo của sự tồn tại con người: “Có phải điều Ngài muốn là làm run rẩy chiếc lá gió thổi bay, hay đuổi theo một cọng rơm khô héo?” Ông không thể xác định nổi bản chất về tội lỗi của ông: “Con đã phạm bao nhiêu tội lỗi? Bao nhiêu lần con đã phản nghịch, đã đắc tội với Ngài, xin cho con được biết.”

Một trong những người bạn đổ lỗi cho cách nói năng này của ông, vì tạo vật mang tội theo định nghĩa: “Phàm nhân là gì để tự cho mình là thanh sạch, và đứa con do người phụ nữ sinh ra là gì, để tự cho mình là công chính? Ngay các thánh của Người, Thiên Chúa còn không tin tưởng, ngay các tầng trời, cũng chẳng thanh sạch trước mắt Người.” Nhưng Job khăng khăng rằng trường hợp của ông là một quyết định mang tính cá nhân của Yahweh, ông không hiểu nổi mục đích của ngài là gì. Một người bạn khác nói với ông về sự trừng phạt những kẻ tội lỗi, Job nhắc nhở anh ta về những kẻ ác vẫn “tiếp tục sống” và giàu có. Nếu ông biết làm sao để tới chỗ ngài, ông sẽ tranh cãi với Yahweh, nói cho ngài biết rằng những hành vi độc ác không hề bị trừng phạt; nhưng Chúa thì xa xôi, vắng mặt, vô hình. Rõ ràng vì ông không từ bỏ đức tin và lòng tin vào Chúa mà Job tuyên bố rằng: “Chẳng đời nào tôi công nhận các anh có lý! Cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, không bao giờ tôi từ bỏ sự vẹn toàn của tôi. Tôi vững bước theo đường công chính, không rời bỏ, lòng tôi không xấu hổ thẹn thùng về bất cứ ngày nào trong đời tôi.” Và Job kêu gào với Chúa, kẻ không hề hồi đáp: “Con kêu lên Ngài, nhưng Ngài không đáp, con trình diện Ngài, nhưng Ngài chẳng lưu tâm. Ngài đối xử với con tàn nhẫn, giương cánh tay mạnh mẽ đánh phạt con.”

Người bạn thứ tư, Elihu, “vẫn còn trẻ”, xen vào quyết liệt. Anh ta tức giận vì Job nói “Tôi trong sạch, không phạm tội bất trung, tôi tinh tuyền, chẳng hề vương tội lỗi.” Vì Elihu tuyên bố “Quả thật, Chúa không làm điều dữ, Đấng Toàn Năng không bẻ quặt lẽ công minh.” “Chúa toàn năng chẳng khinh thường ai cả.” Sau bài diễn thuyết dài của Elihu, câu trả lời của Chúa gây thất vọng vì sự vô nhân tính: Chúa lên tiếng “giữa cơn bão táp”, trong một hóa hiện chân thật; nhưng ngài phớt lờ những câu hỏi của Job. Yahweh tự bằng lòng với việc nhắc nhở Job về sự toàn năng của ngài, công trình vũ trụ của ngài, sự phức tạp của vũ trụ, sự đa dạng vô hạn của các biểu hiện của sự sống. Sau lời kêu gọi làm chứng những cấu trúc vũ trụ vĩ đại và những quy luật vận hành trời và đất, Chúa nói với anh ta về sư tử và dê và những sinh vật khác mà ngài bảo đảm sự sống và sự sinh sôi nảy nở, sau khi đã tạo dựng chúng, mỗi loài có hình dạng cụ thể và hành vi đặc trưng. Và ngài kết luận bằng lời mắng mỏ: “kẻ kêu trách Thiên Chúa, có gì để trả lời?” Job cố gắng trốn tránh trong im lặng một cách vô ích: “Vâng, con đây tầm thường bé nhỏ, biết nói chi để trả lời Ngài? Con sẽ đưa tay lên che miệng.”

Trong bài diễn thuyết thứ 2, Yahweh mô tả chi tiết cho ông về dã thú Behemoth và quái vật Leviathan. Để trả lời, Job thể hiện rằng ông đã hiểu ý nghĩa bí nhiệm trong bài học của Yahweh: sự tồn tại của vũ trụ là một phép màu, trạng thái tồn tại của Kẻ Sáng Thế thách thức sự hiểu biết, mục đích những hành động của ngài là không thể hiểu được. “Con biết rằng việc gì Ngài cũng làm được … Phải, con đã nói dù chẳng hiểu biết gì về những điều kỳ diệu vượt quá sức con … Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến. Vì thế, điều đã nói ra, con xin rút lại, trên tro bụi, con sấp mình thống hối ăn năn.” Job nhận ra rằng ông đã mắc tội với Chúa. Yahweh ngay lập tức khôi phục lại hoàn cảnh trước đó của ông, và thật ra còn nhân đôi tài sản của ông, và Job sống thêm 140 năm nữa.

Sau ba thiên niên kỷ, cuốn sách gây sốt, bí ẩn và không ngủ yên này vẫn tiếp tục gây cuốn hút. Thực tế rằng Chúa tự cho mình bị Satan cám dỗ vẫn còn gây rắc rối cho nhiều tâm hồn tôn giáo ngay ngơ. Tuy nhiên, Job đã hiểu tốt bài học: nếu tất cả mọi thứ phụ thuộc vào Chúa, và nếu Chúa là không thể hiểu thấu, thì phán xét hành động của ngài là bất khả thi, và do đó cũng bất khả thi trong việc đánh giá thái độ của ngài đối với Satan. Bài học bí mật của Yahweh đi xa hơn “trường hợp của Job.” Nó được gửi cho tất cả những người không thể hiểu được sự hiện diện – và sự chiến thắng – của cái ác trên thế giới. Nói ngắn gọn, đối với những tín đồ, sách Job là lời giải thích cho cái ác và sự bất công, cho sự bất toàn và sự khủng khiếp. Vì mọi thứ là ý Chúa và được điều hành bởi Chúa, nên dù điều gì xảy đến với tín đồ đều được gán cho ý nghĩa tôn giáo. Nhưng sẽ là vô ích – và cũng là bất tín – nếu tin rằng con người có thể nắm bắt được “bí ẩn của cái ác” mà thiếu sự giúp đỡ từ Chúa.

Thời đại của những ngôn sứ

Một người là ‘”ngôn sứ” (nabi) ngày nay thì ngày xưa gọi là “thầy thị kiến”’. Thực tế, tổ chức “thầy thị kiến” (roeh) của thời kỳ du mục đã được điều chỉnh sau cuộc chinh phạt dưới sự ảnh hưởng của nebiim (các ngôn sứ), những kẻ mà người Israel đã tìm thấy ở Palestine. Khoảng 1000 năm trước công nguyên, các “thầy thị kiến” Yahweh giáo và các nebiim vẫn cùng tồn tại. Dần dần 2 tổ chức này hợp nhất, và kết quả của nó là lời sấm cố điển trong Cựu Ước. Cũng giống như nebiim, các ngôn sứ được liên kết với các thánh đường và sự thờ phụng, và có những trải nghiệm xuất thần.

Elijah và Elisha giảng giải thời kỳ chuyển tiếp, nhưng ơn gọi và hoạt động tôn giáo của họ tuyên bố lời sấm cổ điển. Elijah xuất hiện ở Vương Quốc Phía Bắc, dưới triều vua Ahab và Ahazias (847-850 trước công nguyên). Ông nổi dậy chống lại chính sách của Ahab. Ahab muốn tích hợp người Israel và Canaan bằng cách ban cho họ quyền bình đẳng và khuyến khích chủ nghĩa hốn tạp tôn giáo với sự thờ cúng Baal hay Malkart, một giáo phái được bảo trợ bởi Nữ hoàng Jezebel, một người Tyre bản xứ. Elijah tuyên bố Yahweh là chúa tể duy nhất trong Israel. Là Yahweh chứ không phải Baal đã ban mưa và đảm bảo sự sinh trưởng của xứ sở. Trong 1 phân đoạn nổi tiếng trên núi Carmel, ông thi thố với những ngôn sứ của Baal để chấm dứt 3 năm hạn hán, Elijah cho thấy thần Canaan bất lực trong việc soi sáng điện thờ và do đó bất lực trong việc đem mưa tới. Thêm vào đó, Elijah phản đối kịch liệt vua Ahab vì đã giết 1 công dân của mình để chiếm vườn nho của anh ta, và ông cũng dự đoán vị vua sẽ chết bởi bạo lực. Danh tiếng sau khi chết của Elijah đưa ông đến gần với Moses. Huyền thoại kể rằng Yahweh đã đưa ông lên thiên đường trên một hỏa xa. Tiểu sử người môn đệ Elisha của Elijah thì đầy những điều kỳ diệu. Elisha tập hợp quanh ông một nhóm những ngôn sứ. Ông hoạt động tích cực về mặt chính trị, truyền những lời sấm cho nhà vua và thậm chí còn cùng ông tham chiến.

Ngoài những thánh thần lang thang và những kẻ thấy viễn ảnh, thì có 2 ngôn sứ được phân biệt với nhau. Nhóm thứ nhất gồm những ngôn sứ thờ cúng, sống gần các ngôi đền, góp phần vào các nghi lễ cùng với các thầy tế, và là ngôn sứ triều đình, liên kết với các thánh đường hoàng gia. Họ rất thường xuyên dự đoán một chiến thắng mà nhà vua khao khát. Đây là loại ngôn sứ chuyên nghiệp với số lượng lớn, bao gồm cả những người được coi là ngôn sứ giả trong Cựu Ước.

Quan trọng hơn đối với lịch sử tôn giáo Israel là nhóm thứ hai, tạo thành những ngôn sứ vĩ đại của Kinh Sách, từ Amos cho đến “Isaiah Đệ Nhị.” Họ không tuyên ngôn thông điệp như một thành viên của nhóm chuyên nghiệp mà có ơn gọi đặc biệt. Họ không đại diện cho những bè phái hay thánh đường nhất định hay cho nhà vua mà tuyên bố mình là sứ giả của Chúa. Ơn gọi của họ được định đoạt từ lời gọi trực tiếp của Yahweh. Như Jeremiah nói: “Có lời Yahweh phán với tôi rằng: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” Isiah thì bỗng một ngày nhìn thấy trong Đền Thờ “Chúa Yahweh ngồn trên ngôi cao” vây quanh bởi các thiên thần, và ông nghe giọng ngài nói: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta? ” Tôi thưa: “Dạ, con đây, xin sai con đi.” Và Chúa đọc cho ông những gì ngài muốn nói cho mọi người. Lệnh triệu tập được tuân theo mặc cho sự phản đối của người nghe, nhưng đôi khi việc truyền đạo bị gián đoạn do cưỡng bức, hoặc do chính vị ngôn sứ khi họ cảm thấy mình đã thất bại với nhiệm vụ.

Tất cả các ngôn sứ vĩ đại đều chân thành và say mê thuyết phục về tính chân thật của ơn gọi và tính cấp thiết của sứ điệp. Họ không nghi ngờ gì việc họ đang tuyên bố lời Chúa, vì họ đã cảm nhận thấy bàn tay của Yahweh, hay thần khí của ngài trên họ. Chiến hữu thần thánh của họ đôi khi biểu thị qua xuất thần, mặc dù sự kích thích hay mê man dường như không bắt buộc. Một số ngôn sứ còn bị cáo buộc là “bị điên,” nhưng chúng ta cũng không thể nói về một căn bệnh tâm thần thật sự. Đúng hơn là đã có những cú sốc cảm xúc, gây ra bởi sự hiện diện đáng sợ của Chúa và áp lực của nhiệm vụ mà ngôn sứ đảm đương. Hiện tượng này được biết đến khá rõ, từ những “bênh tật thụ pháp” của các shaman cho đến những “sự điên rồ” của những huyền bí lớn trong mọi tôn giáo. Ngoài ra, giống như “các chuyên gia trong lĩnh vực thiêng liêng” của các xã hội và truyền thống cổ xưa, các ngôn sứ được phú cho khả năng bói toán và hiển thị những năng lực kỳ diệu, thứ được gọi là phép thuật trong tự nhiên: họ hồi phục người chết sống lại, nuôi số đông với một lượng nhỏ thực phẩm, làm cho một số người đổ bệnh, v.v. Một số lượng những hành động thực hiện bởi các ngôn sứ có giá trị tượng trưng như: Elijah liệng chiếc áo choàng của ông lên Elisha; tuân theo chỉ thị của Yahweh, Jeremiah đập vỡ một cái bình đất để minh họa cho sự đổ nát sắp tới của Israel; ông đeo 1 cái gông để thuyết phục dân chúng phục tùng vua Babylon.

Dù cội nguồn cảm hứng có đến từ đâu (giấc mơ, viễn ảnh, thính giác, tri thức diệu kỳ, v.v.) thì lời nói mà ngôn sứ nhận được cũng luôn là của Yahweh. Những mặc khải cá nhân trực tiếp này rõ ràng được diễn giải trong sự soi sáng của đức tin sâu sắc và truyền đạt theo một số mô hình truyền thống nhất định. Các ngôn sứ thời tiền lưu đày này đều có điểm chung là họ tuyên bố phán xét của Chúa chống lại Israel: Yahweh sẽ gửi những kẻ chinh phạt tàn nhẫn đến để hủy diệt nó; Chúa sẽ sử dụng những đế chế quân sự vĩ đại như là công cụ hành hình chống lại người của chính ngài, những kẻ đã phản bội ngài. Liệu có thể giải mã được một lời hứa của hy vọng trong sự phán xét khủng khiếp này không? Lời sấm trong Cựu Ước được cho là đại diện của một biến thể của sự thay thế được biết rõ ở vùng Cận Đông, giữa những thời điểm bất hạnh và thời điểm may mắn, nhưng lược đồ này dường như không được áp dụng cho tất cả các trường hợp đã xác nhận. Rồi chúng ta sẽ thấy, hy vọng duy nhất nằm trong “tàn tích” của những người được chọn sẽ sống sót qua thảm họa. Chính với tàn tích này mà Yahweh sẽ lập một giao kèo mới.

Amos người chăn cừu. Hosea kẻ yêu đương vất vả

Amos hoạt động như một người truyền đạo dưới thời vua Jeroboam II (782/780-753/46 trước công nguyên). Ông không phải là 1 nabi chuyên nghiệp: “Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. Chính Yahweh đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Yahweh đã truyền cho tôi: “Hãy đi tuyên sấm cho Ít-ra-en dân Ta.”Ông nói Chúa sẽ xét xử các dân tộc lân cận – Damacus, Gaza, và Philistia, Tyre và Phoenicia – những kẻ có tội về mặt luân lý. Điều này ám chỉ mọi quốc gia đều dưới quyền Yahweh. Tuy nhiên, Amos đặc biệt chống lại Israel, Vương Quốc Phía Bắc, chống lại xã hội bất công và tôn giáo bất trung. Kẻ giầu “đã bán người công chính để lấy tiền,…. Vì chúng đạp đầu kẻ yếu thế xuống bùn đen.” Nhưng tài sản của chúng sẽ bị hủy hoại. Những kẻ thừa tội này làm lễ hiến tế 1 cách vô ích. Amos nghe và lặp lại lời Yahweh: “Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường; hội hè của các ngươi, Ta chẳng hề thích thú.” Chúa mong đợi từ những tín đồ tính ngay thẳng và công bằng.

Sau đó, giáo phái cũng bị biến chất bởi sự du nhập các yếu tố truy hoan của Canaan. Sự tôn kính bề ngoài với những nơi thánh là vô dụng: “cứ đến Bết Ên mà phản bội, đến Ghin-gan mà phản bội nữa đi!” Chỉ có trở lại với đức tin mới cứu được: “Hãy tìm điều lành chứ đừng tìm điều dữ, rồi các ngươi sẽ được sống, và như vậy Yahweh, Chúa các đạo binh sẽ ở cùng các ngươi. Biết đâu, Yahweh sẽ dủ lòng thương số còn sót của Giu-se.”

Như Amos, Hosea là 1 đồng nghiệp trẻ hơn, truyền đạo ở Vương Quốc Phía Bắc. Ơn gọi của ông và lời sấm truyền dường như liên kết với những thăng trầm trong hôn nhân của ông. Nhưng việc phân tích những điều ám chỉ trong bài giảng của ông còn nhiều tranh cãi. Theo như lần đầu ông kể lại, Yahweh yêu cầu ông cưới một “người đàn bà làm điếm để sinh những đứa con đàng điếm,” những đứa trẻ mà ông đặt cho những cái tên tượng trưng – “Không-được-thương” và “Không-phải-dân-Ta” – để tuyên bố công khai rằng Yahweh không còn yêu Israel và Israel không còn là người của ngài. Theo lời kể thứ 2, Yahweh bảo ông đính ước một cuộc hôn nhân khác, lần này là với “người đàn bà đang có tình nhân và đang ngoại tình, cũng như Yahweh yêu thương con cái Ít-ra-en, trong khi chúng lại quay lưng đi theo các thần khác.” Có thể người vợ đầu là người đã góp phần trong những nghi lễ sinh trưởng Canaan. Với người vợ thứ 2, được chọn bất chấp quá khứ nhơ nhuốc, bà cho thấy thái độ nhân từ của Yahweh, sẵn sàng tha thứ cho Israel.

Trong trường hợp nào thì tuyên cáo của Hosea cũng chủ yếu là sự cay đắng của Chúa khi bị người của mình phản bội. Israel đã từng là hôn phu của Yahweh, nhưng nàng đã không chung thủy với ngài; nàng đã trở thành “đĩ điếm”, nói cách khác là nàng đã bỏ mình cho những vị thần sinh trưởng Canaan. Israel không hề biết rằng sinh trưởng là món quà từ Yahweh. “Nàng nói: ‘Tôi đi theo các tình nhân của tôi, chính họ cho tôi bánh và nước, cho len, cho vải, cho dầu ăn, cho thức uống.’” Nàng đâu biết rằng “chính Ta đã ban cho nàng lúa mì, rượu mới với dầu tươi, cũng chính Ta đã tặng cho nàng bạc vàng nhiều vô kể, vậy mà chúng lại đem chế tạo đồ dâng kính Ba-an!” Chúng ta sẽ lại thấy mâu thuẫn kịch liệt không thể hòa giải giữa Baal và Yahweh một lần nữa.

Hosea tấn công sự hỗn tạp Baal-Yahweh không mệt mỏi. “Chúng bỏ Thiên Chúa của mình mà đi làm điếm. Chúng sát tế, chúng dâng hương trên các đỉnh núi, trên các ngọn đồi, dưới bóng mát cây sồi, cây hương, cây sến.” Israel đã quên lịch sử của mình: “Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó, từ Ai-cập Ta đã gọi con Ta về. Nhưng Ta càng gọi chúng, chúng càng bỏ đi.” Sư tức giận được khuấy động từ sự vong ân này bùng nổ. Hình phạt sẽ rất khủng khiếp: “Nên đối với chúng, Ta khác nào sư tử, tựa con báo, Ta rình rập bên đường. Như gấu mất con, Ta chồm lên chúng, Ta xé chúng cho nát tan lồng ngực; Ta ăn thịt chúng tại chỗ như sư tử cái, chúng sẽ bị mãnh thú ngoài đồng phanh thây.”

Thờ cúng bề ngoài là vô ích, “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu.” Các nơi cao, nơi những nghi lễ hỗn tạp được tiến hành sẽ bị phá hủy. sự cứu rỗi duy nhất là thành tín quay lại với Yahweh. “Hỡi Ít-ra-en, hãy trở về với Yahweh là Thiên Chúa của ngươi. Chính vì tội ác của ngươi mà ngươi đã vấp ngã. Hãy thưa với Người: “Xin thứ tha mọi gian ác, xin vui nhận lời ngợi khen chúng con dâng lên Ngài làm lễ vật thay thế bò tơ.” Hosea nhận thức được rằng sự sụp đổ của họ không cho phép những kẻ tội đồ “quay lại với Chúa.” Tuy nhiên, tình yêu của Yahweh mạnh hơn cơn giận. “Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Ép-ra-im nữa, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ.” Đây sẽ là một sự trở lại điểm khởi đầu của hôn lễ thần bí giữa Yahweh và Israel. Tình phu thê này đã tuyên cáo niềm tin vào sự cứu rỗi: ân điển của Chúa không sẽ đến trước chứ không chờ đợi sự thay đổi của con người. Biểu tượng phu thê này sẽ sẽ được sử dụng bởi tất cả những ngôn sứ vĩ đại sau Hosea.

Isaiah: “Tàn tích của Israel” sẽ trở lại

Mặc cho sự tương đồng về ơn gọi, mỗi ngôn sứ vĩ đại của Kinh Sách vẫn khác biệt về phóng cách tồn tại, và bằng cách này họ giả định số mệnh của mình. Isaiah thấy và nghe lời Chúa trong Đền Thờ vào khoảng năm 746 hoặc 740. Vợ ông cũng là 1 nữ ngôn sứ, và cũng như nabiim chuyên nghiệp, ông cũng có môn đệ. Bài giảng cuối cùng của ông là vào năm 701.

Đầu tiên, Isaiah chủ yếu phê phán tình trạng xã hội và đạo đức của hai vương quốc Judah và Israel. Ông không ngần ngại tấn công cả nhà vua và các quan chức cấp cao. Ông tuyên bố rằng sự phán xét của Chúa sẽ không chừa một ai. Cũng như những người tiền nhiệm, ông nói việc thờ cúng không phù hợp: “Ngần ấy hy lễ của các ngươi, đối với Ta, nào nghĩa lý gì? Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm!” Cầu nguyện là vô ích vì “Vì tay các ngươi đầy những máu.” Tín ngưỡng chân chính duy nhất là ở việc thực hành công lý và làm điều tốt: “Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bình, sửa phạt người áp bức, xử công minh cho cô nhi, biện hộ cho quả phụ.”

Việc người Assyria tấn công Syria và Palestine đã thêm vào một yếu tố mới trong việc truyền đạo của Isaiah. Vị ngôn sứ thấy rằng trong những sự kiện chính trị và quân sự nghiêm trọng này có sự can thiệp của Yahweh trong lịch sử: Assyria chỉ là công cụ của ngài. Đối với Isaiah đây là 1 cuộc báo thù thần thánh: Yahweh trừng phạt những kẻ bội tín tuôn ra như thác từ những bất công xã hội và sự suy sụp của các giá trị đạo đức. Đây là lý do ông phản đối chính sách ngoại giao của nhà vua. Các liên minh và thao diễn chính trị là vô nghĩa. Chỉ có 1 hy vọng duy nhất: đức tin và tin cậy nơi Yahweh. “Nếu các ngươi không vững tin, thì các ngươi sẽ không đứng vững.” Chỉ có đức tin vào Yahweh, chứ không phải Ai Cập, mới có thể cứu giúp. Để khuyến khích nhà vua, Isaiah tuyên bố “một dấu” từ Chúa: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” “Trước khi con trẻ biết bỏ cái xấu mà chọn cái tốt,” Yahweh sẽ làm nhiều điều lạ. Lời sấm này đã là cảm hứng cho vô số diễn giải. Suy cứu thần học Cơ Đốc đã thấy trong cái tên của đứa trẻ, Immanuel (“Chúa ở cùng chúng ta”), lời tuyên bố về sự đản sinh của Christ. Dù là gì thì ý nghĩa cứu thế cũng rõ ràng: Yahweh sẽ dựng lên từ dòng dõi David một vị vua công minh, người sẽ chiến thắng và dòng dõi ông sẽ cai trị đời đời.

Khi vua của Assur xâm lược Palestine, Isaiah tuyên bố rằng ông ta không còn là công cụ của Yahweh nữa mà chỉ đơn giản là một bạo chúa ham muốn quyền lực vô độ. Hậu quả là ông ta cũng sẽ bị tiêu diệt. Vị ngôn sứ lặp lại không mệt mỏi sức mạnh và quyền tối thượng của Chúa, và ông tuyên bố về “ngày của Yahweh,” ngày mà Chúa sẽ xét xử thế giới. Đó là lý do vì sao ông kết án không những sự ngạo mạn của vua Assur mà còn cả những tội lỗi xã hội và chính trị của Judah – áp bức người nghèo, xa hoa, phóng đãng, bất công, cướp ruộng đất – những tội lỗi được xem như rất nhiều những cuộc nổi loạn chống lại Yahweh. Ông cũng kết án cả những kẻ cầm quyền xấu xa, những thầy tế và những ngôn sứ thờ phụng đã nhạo báng ông.

Isaiah tin vào sự bất khả xâm phạm của Zion: ngọn núi thánh đã, đang và sẽ được Yahweh bảo vệ chống lại những cuộc công kích của kẻ thù. Ông cũng giữ hy vọng về “một tàn tích của Israel” sẽ trở về “với Thần Linh dũng mãnh.” Nhưng cái tinh túy trong thông điệp của ông đã không được tuân theo, và vị ngôn sứ không giấu nổi sự vỡ mộng. Bài giảng cuối cùng của ông dự đoán về sự hủy hoại cho những “cánh đồng tươi mát, cho vườn nho sai quả”; tại “mọi nhà đang truy hoan trong thành phố vui nhộn,” bụi rậm và gai góc sẽ mọc đầy bởi vì “lâu đài bị bỏ hoang, thành thị đông dân nên hiu quạnh.”

Lời hứa với Jeremiah

Là hậu duệ của 1 gia đình thầy tế, Jeremiah nhận được ơn gọi vào năm 626 và theo đuổi nó trong 4 thập kỷ, với vài lần gián đoạn . Ban đầu, do dự trước nhiệm vụ được giao, ông dùng tuổi trẻ để biện hộ: “con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói!” Nhưng chúa chạm vào miệng ông cho ông mạnh mẽ hơn. Bài thuyết đầu tiên của Jeremiah bao trùm bởi 1 bi kịch cụ thể: thảm họa gần kề gây ra bởi “một dân từ phương Bắc đến.” “Chúng nắm chắc cung nỏ, gươm đao. Man rợ hung tàn, không mảy may thương xót.” Sẽ là vô ích nếu tìm kiếm hình mẫu lịch sử của đám người man rợ này. “Dân từ phương Bắc đến” nằm trong những tư tưởng thần thoại về sự tàn phá hoàn toàn. Vì cuộc xâm lăng sẽ đem đến hủy hoại tối hậu của xứ sở nên “Tôi nhìn xuống đất: toàn là trống rỗng, tôi ngước lên trời: chỉ thấy tối om.” Suy thoái về hỗn loạn sẽ là hình phạt thần thánh cho sự bội tín; tuy thế vẫn có chuẩn bị cho một sáng thế mới, một Giao Ước Mới mà sau này Jeremiah sẽ tuyên bố. Vì Yahweh nhân từ, và vị ngôn sứ truyền đạt sự hiệu triệu của ngài: “Trở về đi, hỡi lũ con phản bội, Ta sẽ chữa lành tội phản bội của các ngươi!”

Với cái chết của vua Josiah năm 609, con ông Jehoikim kế thừa ngôi báu. Ông cho thấy mình là 1 tên bạo chúa đáng ghét, và Jeremiah không ngần ngại tấn công ông. Đứng trước cổng Đền Thờ, ông phản đối tất cả những thầy tế, ngôn sứ, và những người đã tự lừa dối mình trong sự yên ổn giả tạo từ hoạt động tôn giáo. “Đừng ỷ vào lời giả dối sau đây: ‘Đền Thờ của CHÚA!’” Sẽ là vô ích cho những kẻ trộm cắp, giết người, ngoại tình, thề gian, đốt hương tế thần Baal rồi lại chạy đến Đền Thờ mà nói: “Chúng ta được an toàn!”, bởi sau đó chúng “cứ tiếp tục làm những điều ghê tởm ấy.” Vì Chúa thấy rõ hết. Chúa nhắc chúng nhớ về số phận thánh đường của Shiloh, bị phá hủy bởi người Philistia: “nơi Ta đã lưu ngụ thuở ban đầu. Hãy xem: vì tội ác của dân Ta là Ít-ra-en, Ta đã làm gì cho nơi ấy.” Jeremiah đã bị bắt giữ, nếu không nhờ sự che chở của 1 số quan chức cấp cao thì có lẽ ông đã bị kết án tử hình. Trong 1 thời gian dài vị ngôn sứ không thể nói nơi công cộng nữa.

Giai đoạn cuối trong sự nghiệp truyền đạo của Jeremiah bắt đầu vào năm 595, khi Nebuchadnezzar chinh phục Jerusalem và trục xuất một phần giới tinh hoa Judah. Trong khi vị vua mới Zedekiah chuẩn bị nổi dậy với sự giúp đỡ của Ai Cập thì Jeremiah cố gắng xoa dịu lòng người. Ông bị bắt và bỏ tù như 1 kẻ phản quốc, sau đó được người Babylon trả tự do. Ngay lập tức ông rời đi Ai Cập cùng với 1 số người đồng hương bỏ xứ. Ông diễn bài thuyết cuối cùng cho “tất cả những người Giu-đa đang cư ngụ trên đất Ai-cập.” Qua ngôn sứ của mình, Chúa thuật lại tất cả những thảm họa gần đây: “Các ngươi đã chứng kiến mọi tai hoạ Ta giáng xuống Giê-ru-sa-lem và tất cả các thành Giu-đa: Này, các thành ấy hiện vẫn còn hoang tàn, không ai cư ngụ.” Ngài đã gửi những tôi tớ là các ngôn sứ trong vô vọng vì chúng “chẳng thèm lắng tai và từ bỏ điều gian ác của mình.” Để kết luận, Yahweh đã tuyên bố 1 sự hủy diệt khác: “tàn tích của Judah,” những kẻ đã định cư ở Ai Cập cũng sẽ bị thủ tiêu như vậy.

Một trong những đặc trưng trong thông điệp của Jeremiah là một số lượng lớn những lời thú tội và những cảm xúc cá nhân của ông. Ông dám nói với Chúa: “Phải chăng đối với con, Ngài chỉ là ngọn suối trong ảo mộng, là dòng nước mơ hồ?” Cũng như Job, ông hỏi: “Tại sao kẻ gian ác thịnh đạt trên đường đời, tại sao mọi quân phản bội cứ bình an vô sự?” Ông muốn hiểu được con đường của Chúa. Mặc cho những thảm họa ông đã dự đoán, và đúng thực đã xảy ra, Jeremiah không mất lòng tin vào sự cứu chuộc thậm chí trong một Sáng Thế mới. Như 1 người thợ gốm, Yahweh có thể đập nát tác phẩm của mình, làm 1 cái mới đẹp hơn. Và thực vậy, qua ngôn sứ của mình, Yahweh tuyên bố một Giao Ước Mới: “Này sẽ đến những ngày Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới … Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta.”

Amos đã mong đợi sự cứu chuộc từ một hành động yêu thương mới ở phía Chúa, điều có thể khiến cho Israel quay trở lại “những ngày của tuổi trẻ.” Jeremiah thì dám hy vọng một sự tái tạo mới hoàn toàn con người. Bởi “con biết rằng: Con đường mình đi, người ta không làm chủ.” Đây là lý do Chúa hứa về một sự tái tạo mới sắp tới của dân ngài. “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau này được hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một giao ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta để chúng không xa rời Ta nữa.” Điều này tương đương với một sáng tạo ra con người mới, một ý tưởng sẽ gây ra những hệ quả to lớn (cùng với những điều khác, khái niệm Giao Ước Mới của Cơ Đốc giáo đã được mặc khải trong Cựu Ước).

Jerusalem sụp đổ. Nhiệm vụ của Ezekiel

“Vua chúa trần gian cùng dân cư thế giới không làm sao tin nổi rằng kẻ thù cùng với quân áp bức lại qua được cửa thành Giê-ru-sa-lem.” Tác giả vô danh đã thốt lên trong Ai Ca, người đã chứng kiến sự sụp đổ của Jeremiah năm 587. “Yahweh, xin nhìn xem cho kỹ, Ngài đối xử thế này với ai đây? Làm sao người mẹ đành ăn thịt những đứa con mình bồng bế trên tay? Làm sao tư tế và ngôn sứ lại bị giết ngay trong thánh điện Ngài?” Thảm họa này đã gây ra những hậu quả mang tính quyết định trong lịch sử Israel và cho sự phát triển của Yahweh giáo. Sự sụp đổ của thủ đô chính trị và tôn giáo đồng nghĩa với sự biến mất của nhà nước và sự kết thúc chế độ quân chủ David. Đền Thờ bị đốt và phá hủy kéo theo việc chấm dứt cúng tế. Phần lớn dân số bị trục xuất. Nhưng Babylon lại là một đất nước ô uế nên sự thờ cúng không thể được thực hành. Vị trí Đền Thờ bị chiếm bởi một trường học tôn giáo, và theo thời gian sẽ trở thành giáo đường Do Thái; tại đây, cộng đồng tập trung định kỳ để cầu nguyện, hát thánh ca, và giảng kinh. Sự huỷ hoại của Đền Thờ là một ghi nhớ đời đời về sự biến mất của một quốc gia. Đó là lý do mà cầu nguyện cho sự khôi phục một quốc gia độc lập không thể tách rời với việc cầu nguyện cho việc xây dựng lại Đền Thờ.

Rất nhiều người, tại Jerusalem hay đi lưu đày, đã nghi ngờ quyền năng của Yahweh và thu nhận những vị thần của kẻ chinh phạt. Một số thậm chí còn nghi ngờ sự tồn tại của Yahweh. Tuy nhiên đối với những người khác thì thảm họa này là bằng chứng tối hậu về cơn thịnh nộ của Chúa đã được các ngôn sứ liên tục nhắc đi nhắc lại. Đã có một phản ứng phẫn nộ chống lại các “ngôn sứ tích cực.” Mặt khác, các ngôn sứ Kinh Sách vĩ đại đã có được sự kính trọng và ngưỡng mộ, những thứ họ đã bị tước đoạt trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, giới tinh hoa đã bị trục xuất tới Babylon sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ có khả năng bảo vệ Israel từ nơi khác trong truyền thống tôn giáo.

Chính tại Babylon, nơi nhóm người bị trục xuất đầu tiên cập bến năm 597, vị ngôn sứ vĩ đại cuối cùng Ezekiel đã thực hiện thánh chức của mình cho đến năm 571. Ông là một thầy tu, điều này giải thích cho tầm quan trong ông gán cho nghi lễ thanh khiết. Đối với Ezekiel thì tội lỗi – trước hết là việc thời ngẫu tượng – đã khiến Israel ô uế. Yahweh sẽ mang đến sự cứu chuộc cho người của ngài bằng cách làm sạch họ với “nước thanh sạch.” Ban đầu, Ezekiel coi công việc của ông tuy là vô ơn nhưng lại không thể thiếu để làm cho sáng tỏ: nhất thiết phải dập tắt hy vọng của những người Judah bị trục xuất về sự bất khả xâm phạm của Jerusalem, sau đó sẽ an ủi họ vì sự sụp đổ của thánh thành. Thời kỳ đầu truyền đạo, Ezekiel đã tuyên bố sự kết thúc gần kề của Jerusalem. Một hậu quả không thể thay đổi cho sự bội tín của Israel. Một câu chuyện ngụ ngôn đã so sánh Israel và Samaria (Judah) với hai chị em gái, những kẻ đã được Yahweh yêu thương nhưng lại “đàng điếm ở Ai-cập; ngay từ thời thơ ấu, chúng đã đàng điếm” và tiếp tục bội tín cùng với người Assyria và người Babylon.

Ezekiel liên tục quay lại với chủ đề người phụ nữ bất trung mà Yahweh đã chậm chạp trong việc từ bỏ vì tôn trọng danh ngài. Trạng thái đặc quyền của Israel chưa bao giờ là do đức hạnh mà có; đó là do Yahweh đã lựa chọn Israel giữa những dân tộc khác. Nhưng một điều quan trọng hơn cả những phân tích lịch sử về thảm họa như một cuộc khủng hoảng hôn nhân giữa Chúa và Israel là ý tưởng về sự hiện diện khắp mọi nơi của Yahweh. Sự hiện diện của Chúa không bị giới hạn trong một không gian đặc quyền nhất định. Do đó việc tín đồ tôn thời Yahweh ở quốc gia bản xứ hay ở ngoại bang không phải là vấn đề. Vấn đề là đời sống nội tâm và phẩm hạnh đới với những người đồng hương của anh ta. Ezekiel đề cập đến cá nhân nhiều hơn bất cứ ngôn sứ nào khác.

Sự sụp đổ của Jerusalem thấy trước sự khởi đầu của một thời kỳ mới trong việc truyền đạo của Ezekiel, đã được đặc tính hóa bằng hy vọng về sự cứu chuộc Israel. Đối với Chúa không gì là không thể. Trong trạng thái xuất thần, Ezekiel thấy một “thung lũng đầy xương cốt”; được thần khí nhập vào, những bộ xương “được hồi sinh và đứng thẳng lên.” Chúa cũng sẽ làm vậy với nhà Israel. Nói cách khác, dù Israel đã chết, nó vẫn có thể được hồi sinh bằng phép màu thần thánh. Trong một lời sấm khác, Yahweh hứa hẹn về sự trở lại của những kẻ bị trục xuất, sự tái thiết và sinh sôi của mọi người. Nhưng trên hết ông tuyên bố về sự cứu chuộc của Israel: “Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi … Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.” Cũng như Jerusalem, sẽ có 1 Giao Ước Mới, và thực tế là một sáng tạo mới. Nhưng vì sự phân tán của Israel đã làm dấy lên một dấu hỏi về sự toàn năng và danh Chúa. Ezekiel đã giải thích sự sáng tạo mới này bằng khao khát của Yahweh muốn thánh hóa danh thánh “đã bị nhà Ít-ra-en xúc phạm giữa các dân mà chúng đi đến.” David, một hoàng tử và cũng là gã chăn cừu, một “tôi tớ” mẫu mực của Chúa, sẽ trị vì Israel mới. Và trong những chương cuối cùng (40-48), Ezekiel đưa ra một mô tả chi tiết về Đền Thờ tương lai (mà ông đã thấy trong lúc xuất thần) và sự cúng tế lễ kỷ niệm một Israel mới.

Sự đánh giá tôn giáo về “nỗi kinh hoàng của lịch sử”

Các ngôn sứ không hề biến mất trong những năm cuối cùng lưu đày và thời kỳ hậu lưu đày. Mà thông điệp của họ phát triển thành một thứ có thể gọi là “thần học cứu thế” được phác thảo bởi Jeremiah. Do đó đánh giá vai trò lời sấm trong lịch sử tôn giáo Israel tại thời điểm này là khá hợp lý. Điều khiến chúng ta chú ý đầu tiên về những ngôn sứ là sự chỉ trích của họ dành cho việc thờ cúng và sự tấn công một cách hung dữ chủ nghĩa hỗn tạp, tức là những ảnh hưởng từ Canaan, thứ mà họ gọi là “đàng điếm.” Nhưng sự “đàng điếm” mà họ không ngừng phản đối kịch liệt này lại đại diện cho một trong những dạng thức phổ biến nhất của tôn giáo vũ trụ. Là đặc tính đặc biệt của những nhà nông nghiệp, tôn giáo vũ trụ tiếp tục biện chứng pháp cơ bản nhất của tính thiêng liêng, đặc biệt là niềm tin rằng thần thánh hiện thân hoặc biểu hiện trong những nhịp điệu và đối tượng vũ trụ. Giờ đây, niềm tin kiểu này lại bị bài bác bởi những tín đồ của Yahweh như một sự sùng bái ngẫu tượng tồi tệ nhất kể từ khi họ xâm nhập vào xứ Palestine. Chưa bao giờ tôn giáo vũ trụ bị tấn công dã man như vậy. Các ngôn sứ cuối cùng cũng thành công trong việc trút sạch bản chất của bất kỳ sự hiện diện thần thánh nào. Toàn bộ những khu vực của thế giới tự nhiên – “những nơi cao,” những tảng đá, những con suối, cây cối, một số loại cây trồng, một số loại hoa – sẽ bị tố giác là không thanh sạch bởi vì chúng đã bị làm ô uế bởi sự thờ cúng những thánh thần sinh trưởng Canaan. Những vùng thánh đặc biệt thanh sạch chỉ có mỗi sa mạc, vì đó là nơi Israel duy trì được lòng trung tín với Chúa. Chiều kích thiêng liêng của thảm thực vật, và nói chung là của những hiển linh hoa lệ từ thiên nhiên sẽ chỉ được khám phá lại sau này trong Do Thái giáo thời trung cổ.

Sự thờ cúng, trước nhất là những cuộc huyết tế cũng đã bị chỉ trích; không chỉ bởi vì nó bị tha hóa bởi những yếu tố Canaan, mà còn vì việc những thầy tế cũng như người dân coi hoạt động nghi lễ là dạng thức hoàn hảo của sự tôn thờ. Trong khi các ngôn sứ đã tuyên bố tìm Yahweh trong những thánh đường là một việc làm vô ích; Chúa khinh bỉ cúng tế, hội hè, và nghi lễ; ngài yêu cầu sự ngay thẳng và công lý. Những ngôn sứ tiền lưu đày chưa bao giờ xác định hoạt động thờ cúng của các tín đồ là phải thế nào. Vấn đề thậm chí còn không nảy sinh chừng nào dân chúng chưa quay trở lại với Yahweh. Các ngôn sứ không theo đuổi sự cải cách việc thờ cúng mà theo đuổi sự thay đổi của con người. Mãi cho đến sau khi Jerusalem sụp đổ thì Ezekiel mới đề nghị một văn phòng thánh có sửa đổi.

Loại bỏ thiêng tính của tự nhiên, loại bỏ giá trị của hoạt động thờ cúng, hay nói ngắn ngọn là sự bãi bỏ mạnh mẽ hoàn toàn tôn giáo vũ trụ, và trên hết, tầm quan trọng mang tính quyết định của sự tái tạo tâm linh cá nhân qua việc mãi mãi quay về với Yahweh là trách nhiệm của những ngôn sứ đối với những khủng hoảng mang tính lịch sử đã đe dọa sự tồn tại của 2 vương quốc Do Thái. Mối nguy là rất lớn và tức thời. “Niềm vui trong cuộc sống,” thứ liên kết với mọi tôn giáo vũ trụ không chỉ là sự bội giáo, mà còn là sự hão huyền nhất định sẽ biến mất trong thảm họa quốc gia sắp tới. Những dạng thức truyền thống của tôn giáo vũ trụ, tức là bí ẩn của sự sinh trưởng, trạng thái liên hệ biện chứng giữa sự sống và cái chết kể từ giờ chỉ còn đem đến trạng thái an toàn giả tạo. Thật vậy, tôn giáo vũ trụ đã khuyến khích ảo giác rằng sự sống không ngừng tiếp diễn và do đó quốc gia và nhà nước có thể sống sót mặc cho sức nặng của những khủng hoảng lịch sử. Nói cách khác, không chỉ người dân và các quan chức cấp cao mà ngay cả những thầy tu và những ngôn sứ tích cực đã có xu hướng đồng hóa những nghịch cảnh trên bình diện lịch sử với các thảm họa thiên nhiên (hạn hán, lũ lụt, đại dịch, động đất, v.v). Giờ thì những thảm họa như vậy không bao giờ là toàn thể hoặc cuối cùng. Những ngôn sứ tiền lưu đày đã tuyên bố không chỉ sự hủy hoại của xứ sở và sự biến mất của nhà nước, mà còn tuyên bố mối nguy hiểm của sự hủy diệt hoàn toàn quốc gia.

Các ngôn sứ phản ứng lại với những sự lạc quan chính trị và tấn công chế độ quân chủ David vì khuyến khích chủ nghĩa hỗn tạp thay vì thiết lập Yahweh giáo là tôn giáo quốc gia. “Tương lai” mà họ tuyên bố thực tế đã gần kề. Các ngôn sứ chưa bao giờ ngừng dự báo về nó, để thay đổi hiện tại bằng cách mang lại sự chuyển đổi nội tâm của những tín đồ trung thành. Mối quan tâm nồng nhiệt của họ với chính trị đương đại có bản chất là tôn giáo. Trên thực tế, các sự kiện liên tiếp đã có thế ép buộc sự cải đạo chân thành của quốc gia và do đó dẫn đến “sự cứu vớt” nó, khả năng sống sót duy nhất của Israel trong lịch sử. Những dự báo thốt lên bởi các ngôn sứ được lấp đầy đã chứng nhận thông điệp của họ, và đặc biệt là quan niệm cho rằng những sự kiện lịch sử là công trình của Yahweh. Nói cách khác, những sự kiện lịch sử đã thu được một ý nghĩa tôn giáo, và được chuyển đổi thành những “sự hiển linh tiêu cực,” thành “cơn cuồng nộ” của Yahweh. Bằng cách này, những sự kiện lịch sử đã vén màn một sự nhất quán từ bên trong bằng việc chứng minh rằng chúng là biểu hiện cụ thể của một ý chí thần thánh duy nhất.

Do vậy, lần đầu tiên các ngôn sứ đã giá trị hóa lịch sử. Những sự kiện lịch sử từ đó về sau sẽ tự chúng có một giá trị, vì chúng được xác định bởi ý Chúa. Những thực tế lịch sử vì vậy mà trở thành những “tình huống” mà con người đối mặt với Chúa, và như vậy sẽ thu được một giá trị tôn giáo, thứ mà cho đến nay chúng chưa từng được ban tặng. Vì thế, sẽ là đúng khi nói rằng người Do Thái là những kẻ đầu tiên khám phá ra ý nghĩa của lịch sử như một sự hiển linh của Chúa, quan niệm này sẽ được dùng lại một lần nữa và được khuyếch đại bởi Cơ Đốc giáo, như đã kỳ vọng. Nhưng chúng ta phải nói thêm rằng việc khám phá ra lịch sử như là sự hiển thánh không được chấp nhận ngay lập tức và đối với toàn bộ người Do Thái; những quan niệm cổ xưa vẫn sẽ còn tồn tại suốt một khoảng thời gian rất dài.

X. Dionysus, hay là Phúc lạc được Khôi phục

Những sự hiển linh và những điều huyền bí về vị thần “sinh hai lần”

Sau hơn 1 thế kỷ nghiên cứu, Dionysus vẫn còn là một ẩn số. Ông đứng tách biệt với những vị thần Hy Lạp vĩ đại khác bởi nguồn gốc của ông, bởi trạng thái tồn tại cụ thể của ông, bởi loại trải nghiệm tôn giáo mà ông khơi mào. Theo như thần thoại thì ông là con của Zeus và công chúa Semele, con gái của Cadmus, vua của Thebes. Hera đặt bẫy nàng, và nàng yêu cầu Zeus cho xem hình dạng thật sự của một vị thần trời. Nàng công chúa tự phụ bị lưỡi tầm sét của Zeus đánh trúng và sinh non. Nhưng Zeus khâu đứa bé vào đùi ông, sau vài tháng thì Dionysus trào đời. Vì thế mà ông được “sinh hai lần.” Nhiều thần thoại nguồn gốc biến những người sáng lập của các gia đình hoàng tộc thành kết quả của sự kết hợp giữa những vị thần với các nữ nhân người phàm. Nhưng Dionysus lại sinh ra lần thứ 2 từ Zeus. Vì lý do này mà trong đống con cháu của những kiểu kết hợp nói trên thì chỉ có mình ông là thần.

Kretschmer đã cố gắng giải thích cái tên Semela bằng một từ tiếng Thraco-Phrygia chỉ định cho nữ thần đất, và ngữ nguyên này đã được chấp nhận bởi những học giả xuất chúng chẳng hạn như Nilsson và Wilamowitz. Dù đúng hay không, ngữ nguyên này cũng không giúp hiểu được thần thoại này. Đầu tiên, khó mà nhận thức được việc một hôn ước thần thánhgiữa thần trời và Mẹ Trái Đất lại kết thúc với sự diệt vong của nữ thần đất do lửa. Mặt khác, và điều này mới là quan trọng, những truyền thuyết thần thoại sớm nhất nhấn mạnh vào 1 thực tế: một nữ nhân người phàm, Semele, lại sinh ra một vị thần. Chính nghịch lý nhị nguyên này của Dionysus đã gây hứng thú cho người Hy Lạp, vì chỉ mình nó cũng có thể giải thích được nghịch lý về trạng thái tồn tại cụ thể của ông.

Do một nữ nhân người phàm sinh ra, Dionysus không thuộc về thần điện của các thần Olympus; ấy thế mà ông đã thành công trong việc khiến cho mình được chấp nhận, và cuối cùng còn giới thiệu thêm cả mẹ ông Semele vào. Homer biết ông, nhưng cả ông và độc giả đều không hứng thú với “thần ngoại” có nhiều khác biệt với các thần Olympus. Vậy mà vẫn là từ Homer mà chúng ta có được lời chứng đầu tiên về Dionysus. Iliadđề cập đến một phân đoạn nổi tiếng: Vị anh hùng người Thrace Lycurgus đuổi theo các vú nuôi của Dionysus, “và tất cả họ cùng nhau quẳng các khí cụ của giáo phái xuống đất,” trong khi vị thần, “kinh hoàng tột độ, nhảy vào những con sóng của biển cả, và Thetis đón nhận kẻ run rẩy đó vào lòng: vì nỗi khiếp sợ khủng khiếp đã vây lấy anh ta khi các chiến binh la hét.” Lycurgus đã “tự giáng lên mình cơn thịnh nộ của các vị thần,” và Zeus đã làm chàng mù, và chàng cũng không sống được lâu vì chàng “đã bị ghét bởi tất cả các vị thần bất tử.”

Trong phân đoạn bao gồm sự truy đuổi của một “người sói” và 1 cú nhảy xuống biển này, chúng ta có thể giải mã được ký ức về một kịch bản thụ pháp cổ xưa. Tuy nhiên, vào thời điểm mà Homer kể thì thần thoại này mang ý nghĩa và mục đích khác. Nó cho chúng ta thấy một trong những đặc tính riêng biệt về số mệnh của Dionysus: “cuộc truy bắt” ông bởi những nhân vật phản diện. Xa hơn, nó làm chứng rằng Dionysus được nhận ra như một thành viên của gia đình thần thánh, vì không chỉ Zeus cha ông, mà cả những vị thần khác cũng thấy bị xúc phạm bởi hành động của Lycurgus.

“Cuộc truy bắt” này biểu thị sự chống đối với trạng thái tồn tại của vị thần và thông điệp tôn giáo của ông. Perseus cùng đoàn quân tiến tới chống lại Dionysus, và “những người đàn bà biển” đồng hành cùng ông đã thả ông xuống đáy hồ Lerna theo như 1 truyền thuyết khác. Chúng ta sẽ gặp lại chủ đề truy bắt khi phân tích Bacchaecủa Euripides. Đã có những cố gắng giải thích những tình tiết như vậy như là những hồi ức được huyền thoại hóa về phe đối lập mà giáo phái Dionysiac gặp phải. Giả thuyết nền tảng là Dionysus đến Hy Lạp tương đối muộn, ám chỉ ông là một “thần ngoại.” Sau Erwin Rohde, phần lớn học giả coi Dionysus là một vị thần Thrace, thâm nhập vào Hy Lạp từ Thrace hoặc Phrygia. Nhưng Walter Otto thì lại nhấn mạnh vào đặc tính cổ xưa toàn Hy Lạp của Dionysus, và thực tế là tên ông – di-wo-nu-so-jo– đã được tìm thấy trong chữ khắc Mycanae dường như xác nhận giả thuyết này. Tuy thế mà Herodotus vẫn coi Dionysus là “được giới thiệu muộn”; và trong Bacchaecủa Euripides Pentheus nói “vị thần đến muộn này, bất kể ông có thể là ai.”

Dù cho lịch sử thâm nhập của giáo phái Dionysus vào Hy Lạp là gì, những câu chuyện và những mẩu thần thoại đề cập đến sự chống đối nó gặp phải có 1 ý nghĩa sâu sắc hơn: nó thông báo rằng chúng ta cần lưu tâm đến cả trải nghiệm tôn giáo Dionysus và cấu trúc cụ thể của vị thần. Dionysus được gắn liền với sự kích động phản kháng và bắt bớ, vì trải nghiệm tôn giáo mà ông truyền cảm hứng đã đe dọa toàn bộ phong cách sống và cả một vũ trụ các giá trị. Rõ ràng là đã có một sự đe dọa đến quyền tối thượng của tôn giáo các vị thần Olympus và thể chế của nó. Nhưng sự phản đối cũng là biểu hiện của một màn kịch rõ ràng hơn, và một điều được ghi chép nhiều trong lịch sử các tôn giáo: sự chống lại mọi trải nghiệm tôn giáo tuyệt đối, bởi vì trải nghiệm đó chỉ có thể được nhận ra bằng cách phủ nhận mọi thứ khác(bằng bất kỳ thuật ngữ nào điều này có thể là được chỉ định: trạng thái cân bằng, tính cách, ý thức, lý trí, v.v.).

Walter Otto đã nhận thức rõ sự liên đới giữa những “cuộc truy bắt” Dionysus và phân loại học về rất nhiều hiện thân khác nhau của ông. Dionysus là vị thần đột ngột hiện ra và rồi biến mất một cách bí ẩn. Tại lễ hội Agriona ở Chaeronea, những người phụ nữ tìm kiếm ông trong vô vọng và trở về với tin tức rằng vị thần đã đến nhà của các Muse, những kẻ đã giấu ông. Ông biến mất bằng cách lặn xuống đáy hồ Lerna hoặc xuống biển, và ông xuất hiện trở lại — như trong lễ hội Anthesteria — trên một con tàu cưỡi sóng. Những ám chỉ về sự “thức tỉnh” của ông trong cái nôi cũng chỉ về cùng một chủ đề thần thoại. Những điều huyền bí và hiển linh định kỳ này đặt Dionysus vào một trong số các vị thần của thảm thực vật. Và thực tế ông cho thấy một sự liên đới nhất định đến đời sống của cây cỏ: cây thường xuân và cây thông gần như trở thành thuộc tính của ông, và các lễ hội phổ biến nhất của ông trùng với lịch nông nghiệp. Nhưng Dionysus cũng có liên hệ đến toàn bộ sự sống, như được thể hiện qua mối quan hệ của ông với nước và sự nảy mầm, máu hoặc tinh trùng, và bởi sự dư thừa sức sống thể hiện trong các hóa hiện động vật của ông (bò, sư tử, dê). Những sự hóa hiện và sự biến mất bất ngờ của ông theo một cách nào đó phản ánh sự có mặt và sự huyền bí của cuộc sống — nghĩa là, sự luân phiên của sự sống và cái chết và sự thống nhất của chúng. Nhưng đây không phải là một quan sát “khách quan” về hiện tượng vũ trụ đó, thứ mà sự tầm thường của nó không thể gợi cảm hứng cho những ý tưởng tôn giáo và không thể sinh ra những thần thoại. Bằng những sự hiển linh và sự huyền bí của ông, Dionysus hé lộ điều bí ẩn và thiêng liêng của sự liên hiệp giữa sống và chết. Sự mặc khải này là tôn giáo về mặt bản chất vì nó bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện thực sự của vị thần. Vì những sự hiển linh và sự biến mất này thường không có lý do. Dionysus hiện thân vào mùa đông, và ông biến mất tại cùng một lễ hội mùa xuân nơi có sự hiển linh vinh quang nhất của ông.

Sự biến mất, sự huyền bí là những biểu thị thần thoại cho việc xuống Địa Ngục, nghĩa là cái chết. Thực vậy, lăng mộ của Dionysus được trưng bày tại Delphi; ông cũng được nói là bị chết ở Argos. Cũng vậy, trong 1 nghi lễ Argos, Dionysus được gọi lên từ trong lòng biển sâu, ông trỗi dậy từ vùng đất của người chết. Theo một thánh ca Orpheus, khi Dionysus vắng mặt, ông được cho là ở với Persephone. Cuối cùng, thần thoại về Zagreus-Dionysus mà chúng ta sẽ thảo luận sau, liên quan đến cái chết của 1 vị thần bị giết, bị chặt, và thịt bị ngấu nghiến bởi các Titan.

Những khía cạnh khác biệt nhưng bổ túc nhau của Dionysus vẫn có thể được nhận thấy trong những nghi lễ công khai, mặc dù chúng không thể tránh khỏi những “sự thanh lọc” và diễn giải lại.

Sự cổ xưa của một số lễ hội công cộng

Từ thời của Pisistratus, có 4 lễ hội vinh danh Dionysus được tổ chức tại Athens. Lễ hội Rural Dionysia vào tháng 12 là những lễ hội làng mạc. Một cái dương vật lớn được mang theo trong 1 cuộc diễu hành với nhiều đám đông hát hò. Bản chất là một lễ hội cổ xưa được phát tán rộng rãi trên thế giới, việc rước dương vật hiển nhiên có việc thờ phụng Dionysus. Các nghi lễ biến tính khác bao gồm các cuộc thi và cạnh tranh và trên hết là các cuộc diễu hành của những người đeo mặt nạ hoặc những người cải trang thành động vật. Những nghi lễ này cũng có trước Dionysus, nhưng nó giúp hiểu được tại sao vị thần rượu vang lại cầm đầu cuộc diễu hành của những người đeo mặt nạ.

Chúng ta có ít thông tin hơn nhiều về lễ hội Lenaea diễn ra vào giữa đông. Một trích dẫn từ Heraclitus nói rằng từ Lenaivà động từ “tiến hành Lenai” được dùng tương đương với “Bacchants” và “vui chơi Bacchant.” Vị thần được cầu khấn với sự hỗ trợ của daidouchos. Theo lời chú giải trên một câu thơ của Aristophanes, thầy tu Eleusis với “ngọn đuốc trong tay, thốt lên: ‘Hãy gọi thần!’ và người nghe hô: ‘Con trai của Semele, Iacchus, kẻ ban sự giầu có!’”

Lễ Anthesteria được tiến hành khoảng tháng 2/3 và Greater Dionysia trong tháng 3/4. Thucydides coi Anthesteria như là lễ hội Dionysus sớm nhất. Nó cũng là lễ hội quan trọng nhất. Ngày đầu tiên gọi là Pithoegia, những hũ đất được mở, bên trong có rượu vang được giữ từ vụ thu hoạch mùa thu. Các thùng được chuyển đến thánh đường của Dionysus ở Marsh để rẩy nước thánh, và sau đó là nếm rượu vang mới. Ngày thứ hai (gọi là Choes)là cuộc thi uống rượu, mỗi người được đưa cho một cốc to đầy rượu và thi xem ai uống nhanh nhất.Cũng như Rural Dionysia, cuộc thi này cũng khớp với những kịch bản nổi tiếng của những cuộc thi và những cuộc chơi đủ thể loại (về thể thao, hùng biện, v.v.) thúc đẩy sự đổi mới cuộc sống. Nhưng sự hưng phấn và say sưa thì dự đoán một cuộc sống ở một nơi vượt xa thế giới u ám của Homer.

Ngày Choes cũng là dịp cho cuộc diễu hành đại diện cho việc vị thần tiến vào thành phố. Vì ông được tin là đến từ biển nên cuộc diễu hành bao gồm cả 1 chiếc thuyền có 4 bánh xe chở Dionysus cầm 1 cành nho với 2 thần dê thổi sáo. Đoàn diễu hành với nhiều người tham gia, có thể cải trang, và có 1 con bò tế dẫn trước bởi 1 người thổi sáo và những người mang vòng hoa tiến vào Lenaeum, một thánh đường cổ chỉ mở đúng vào ngày hôm đó. Có nhiều nghi lễ khác diễn ra với sự tham gia của basilinna, “nữ hoàng,” tức vợ của vị vua-trưởng tòa và bốn thiếu-nữ-đang-chờ-sẵn. Từ thời điểm này, basilinna, người kế thừa của những nữ hoàng cổ đại của thành phố, được xem như là vợ của Dionysus. Nàng cưỡi ngựa cạnh ông trên cỗ xe, và 1 cuộc diễu hành mới theo kiểu hôn lễ hướng đến Boucoleum, cung điện hoàng gia cũ. Aristotle nói rằng chính tại boucoleum (nghĩa đen “chuồng bò”) mà vị thần và nữ hoàng động phòng. Việc chọn Boucoleum cho thấy rằng hiện thân dạng bò của Dionysus vẫn rất quen thuộc.

Đã có những cố gắng giải nghĩa sự hợp nhất này theo nghĩa tượng trưng, và vị trưởng tòa được giả định là đóng vai của thần. Nhưng Walter Otto nhấn mạnh vào lời chứng của Aristotle. Basilinna tiếp nhận vị thần trong ngôi nhà của chồng nàng, người thừa kế của những vị vua – và Dionysus bộc lộ bản thân là một vị vua. Có thể sự hợp nhất này tượng trưng cho cho hôn nhân của vị thần với toàn thành phố, đi cùng với những hệ quả may mắn. Đó là một đặc điểm hành động của Dionysus, một vị thần có những sự hiển linh hung tợn và người yêu cầu quyền tối cao của mình phải được công bố công khai. Chúng ta không biết về một giáo phái Hy Lạp nào khác, trong đó một vị thần được tin là hợp nhất ông ta với nữ hoàng.

Trong 3 ngày của Anthesteria, đặc biệt là ngày thứ hai khi Dionysus chiến thắng, là những ngày của điềm xấu, vì những linh hồn của người chết trở lại và cùng với chúng còn có các kere, những kẻ mang những ảnh hưởng ác độc từ âm phủ. Hơn nữa, ngày cuối cùng của Anthesteria lại dâng hiến cho chúng. Những lời cầu nguyện được dành cho người chết, và panspermia, một loại đồ ăn làm từ nhiều loại hạt khác nhau được chuẩn bị và phải ăn trước khi trời tối. Khi đêm xuống có tiếng kêu chung: “Về phía cổng, các kere! Lễ Anthesteria đã kết thúc!” Kịch bản nghi lễ này khá nổi tiếng và được ghi chép gần như tại mọi nơi trong những nền văn minh nông nghiệp. Người chết và sức mạnh từ thế giới khác cai quản sự sinh trưởng, sự giầu có, và những người nắm quyền lực. “Chính là từ người chết mà thực phẩm, sự tăng trưởng, và hạt giống đến với chúng ta.” Trong tất cả những nghi lễ dành cho ông, Dionysus biểu lộ bản thân cùng lúc như một thần sinh trưởng và thần chết. Heraclitus đã nói “Hades và Dionysus là một và như nhau.”

Ở trên chúng ta đề cập sự liên kết của Dionysus với nước, độ ẩm, nhựa cây. Những “phép mầu” xuất hiện cùng hoặc báo trước sự hiển linh của ông cũng cần được đề cập: nước phun ra từ đá, những dòng sông phủ đầy sữa và mật. Tại Teos, 1 dòng suối toàn rượu vang chảy ra vào ngày lễ hội của ông. Tại Elis, 3 cái bát rỗng khóa trong phòng kín được thấy có đầy rượu vang sau một đêm. Những “phép mầu” tương tự được tìm thấy ở các nơi khác. Nổi tiếng nhất là “những cành nho của 1 ngày,” đã nở hoa và cho quả chỉ trong vài giờ; điều này xảy ra ở nhiều nơi khác nhau vì 1 số lượng các tác giả đều đã đề cập đến nó.

Truy hoan Euripides và Dionysus

Những “phép màu” như vậy là đặc trưng của sự sùng bái điên cuồng và ngây ngất Dionysus, phản ánh nguyên bản nhất và, trong tất cả các khả năng, là yếu tố cổ xưa nhất của vị thần. Trong Bacchaecủa Euripides chúng ta có lời chứng vô giá về thứ có thể là kết quả của cuộc chạm chán giữa những tài năng Hy Lạp và truy hoan Dionysus. Bản thân Dionysus là nhân vật chính trong Bacchae, một tiền lệ chưa từng có của kịch nghệ Hy Lạp cổ. Phẫn nộ vì giáo phái của ông vẫn không được công nhận tại Hy Lạp, Dionysus từ Châu Á kéo theo một đội quân các maenad (bà đồng tế thần rượu) và dừng chân ở Thebes nơi sinh ra mẹ ông. Ba người con gái của Vua Cadmus từ chối việc người chị em Semele được Zeus yêu và sinh ra 1 vị thần. Bị Dionysus đánh đập trong “cơn điên,” những bà cô của ông cùng với những phụ nữ Thebes khác vội vàng chạy lên những ngọn núi, nơi họ tổ chức những nghi lễ truy hoan. Pentheus kế vị ngai vàng của người ông Cadmus và ra lệnh cấm đối với giáo phái, mặc kệ những lời khuyên, ông không hề nhượng bộ. Giả dạng như 1 người làm lễ trong giáo phái của chính mình, Dionysus bị bắt và tống giam bởi Pentheus. Nhưng ông đã trốn thoát 1 cách thần kỳ và thậm chí còn thuyết phục thành công Pentheus đi do thám những người phụ nữ trong những buổi lễ truy hoan của họ. Bị các maenad phát hiện, Pentheus bị xé xác thành từng mảnh; mẹ ruột của ông Agave mang đầu ông lại trong chiến thắng, tin rằng đây là đầu của 1 con sư tử.

Dù mục đích lúc cuối đời của Euripides là gì khi ông viết Bacchae, thì kiệt tác thảm kịch Hy Lạp này cũng là tài liệu quan trọng nhất liên quan đến giáo phái Dionysus. Chủ đề “kháng chiến, bắt bớ, và chiến thắng” đã tìm thấy minh họa tuyệt vời nhất của nó ở đây. Pentheus chống lại Dionysus vì anh ta là một “người nước ngoài, một nhà thuyết giáo, một thầy phù thủy… với những lọn tóc vàng thơm ngát tuyệt đẹp, đôi má ửng hồng, và trong đôi mắt anh ta là sự duyên dáng của Aphrodite. Dùng cái cớ là dạy các cách thực hành ngọt ngào và quyến rũ của evoe, anh ta làm hư hỏng các cô gái.” Phụ nữ được truyền cảm hứng để bỏ nhà chạy lên núi vào ban đêm, nhảy nhót trong tiếng nhạc của trống và sáo. Và Pentheus chủ yếu kinh sợ sức mạnh của rượu, vì “với phụ nữ, ngay khi thứ nước của thứ hình quả nho xuất hiện trong bữa tiệc, mọi thứ đều bất thiện trong những việc sùng bái này.”

Tuy nhiên, không phải rượu vang gây nên sự say mê của các bacchante. Một trong những đầy tớ của Pentheus đã tiến tới chỗ họ lúc bình minh trên núi Cithaeron, mô tả rằng họ mặc da hươu, đội vòng thường xuân, thắt lưng bằng những con rắn, bế những con hươu hoặc sói hoang trên tay và cho chúng bú. Đặc biệt là có nhiều phép màu kiểu Dionysus: các bacchante dùng trượng đập những tảng đá và rượu hoặc nước từ đó chảy ra; họ bới đất và sữa nổi bọt chỗ đó; cây trượng quấn thường xuân rỏ mật. “Chắc chắn rằng,” người đầy tớ nói tiếp, “nếu ngài ở đó, ngài sẽ cải đạo sang vị thần mà ngài khinh bỉ, và sẽ chuyển lời cầu nguyện của mình đến ông sau khi thấy một cảnh tượng như vậy.”

Bị phát hiện bởi Agave, người đầy tớ và những kẻ đi cùng bị xé xác thành từng mảnh. Các bacchante sau đó nhảy tới những con vật lang thang trên cánh đồng và, “không có kiếm trong tay,” xé chúng ra từng mảnh. “Dưới tác dụng của hàng nghìn bàn tay,” những con bò hung hăng bị xé thành từng mảnh trong nháy mắt. Các maenad sau đó trượt xuống vùng đồng bằng. “Họ bắt trẻ sơ sinh từ nhà của họ. Bất cứ thứ gì họ khoác lên vai vẫn ở nguyên đó không cần buộc, không rơi xuống bùn, dù là đồng, dù là sắt. Tóc của họ tóe lửa, nhưng không cháy. Tức giận vì con bị bacchae cướp, mọi người lao đi tìm vũ khí. Và đây là điều kỳ diệu đã được nhìn thấy, thưa ngài: những mũi lao ném vào họ mà máu không chảy, và họ phóng trượng làm bị thương người dân.”

Việc nhấn mạnh về sự khác biệt giữa những nghi lễ đêm điên cuồng man rợ và những lễ hội Dionysus công cộng đã nói ở trên chẳng nhằm mục đích gì. Euripides giới thiệu với chúng ta một giáo phái bí mật, một đặc điểm đặc trưng của những Phép Thần Bí. “Những bí ẩn này, theo ngươi thì chúng là gì?” Pentheus hỏi. Và Dionysus trả lời: “Sự bí mật của họ ngăn cấm sự giao tiếp giữa họ với những người không phải là bacchant.” “Chúng có ích gì với những người tiến hành chúng?” “Ngài không được phép biết điều đó, nhưng đó là những thứ rất đáng được biết.”

Bí ẩn bao gồm cả sự tham gia của các bacchante trong sự hiển linh hoàn toàn của Dionysus. Các nghi lễ tổ chức ban đêm, xa các thành phố, trên những ngọn núi và trong những khu rừng. Qua sự hiến tế bằng cách xé vật tế ra thành từng mảnh (sparagmos) và ăn tươi nuốt sống (omophagia), việc giao tiếp với thần được thực hiện. Bởi vì những con thú bị xé xác và ăn tươi là những sự hiển linh hay hiện thân của Dionysus. Tất cả những trải nghiệm khác – sức mạnh thể chất phi thường, không bị tổn thương bởi lửa và vũ khí, những sự kiện kỳ lạ (nước, rượu, sữa chảy ra từ đất), “quen thuộc” với những con rắn và dã thú nhỏ – khả dĩ bởi lòng nhiệt tâm, bởi sự định danh với vị thần. Xuất thần Dionysus trên hết có nghĩa là vượt qua trạng thái con người, là khám phá sự giải thoát hoàn toàn, thu được sự tự do và tự phát mà người thường không thể tiếp cận được. Trong số những sự tự do này, sự giải thoát tượng trưng khỏi những cấm đoán, luật lệ, và những quy ước của một xã hội đạo đức có trật tự có vẻ như rõ ràng – điều này giải thích một phần tại sao số đông thành viên là phụ nữ. Nhưng trải nghiệm Dionysus còn chạm đến những tầm mức sâu nhất.Các bacchante ăn thịt tươi đã tái hòa nhập một hành vi đã bị đè nén hàng chục nghìn năm: những sự điên rồ này biểu lộ một sự giao cảm với những sức mạnh vũ trụ mang tính sống còn mà chỉ có thể diễn giải như một sự chiếm hữu thần thánh. Sự chiếm hữu này gây nhầm lẫn với “cơn điên,” mania, là điều đã được dự đoán trước. Bản thân Dionysus cũng trải nghiệm “cơn điên,” và bacchante chỉ chia sẻ những thử thách và nỗi thống khổ của vị thần; đây là 1 trong những phương pháp chắc chắn nhất để giao tiếp với ông.

Người Hy Lạp biết những trường hợp khác dẫn đến maniabởi các vị thần. Trong bi kịch Heraclescủa Euripides, cơn điên của người anh hùng là do Hera gây ra; trong Ajaxcủa Sophocles, chính Athena sinh ra chứng điên loạn. Corybantism (một loại điên) mà những người cổ xưa so sánh với truy hoan Dionysus, là một maniagây ra bởi sự chiếm hữu của Corybantes, và việc điều trị kết thúc như một sự thụ pháp. Nhưng điều phân biệt Dionysus và giáo phái của ông không phải là những cuộc khủng hoảng tâm thần này, mà do thực tế rằng chúng được giá trị hóa như một trải nghiệm tôn giáo,dù cho có là một hình phạt hay một ơn huệ từ vị thần. Mối quan tâm của sự so sánh các nghi thức tương tự hay các phong trào tập thể – ví dụ như một số điệu nhảy co giật thời Trung Cổ, hay các nghi lễ ăn đồ sống của Aissawa, một nhóm huynh đệ thần bí ở Bắc Phi – nằm ngay ở thực tế rằng chúng tiết lộ sự dị biệt của tôn giáo Dionysus.

Rất hiếm khi trong thời kỳ lịch sử lại đột ngột xuất hiện một vị thần mang đầy những di sản cổ xưa: nghi lễ gồm có mặt nạ thú, rước dương vật, sparagmos, ăn đồ tươi, ăn thịt người, mania, enthousiamos (chiếm hữu bởi thần). Điều đáng kinh ngạc là trong khi vẫn giữ được những di sản tiền sử này, giáo phái của Dionysus một khi tích hợp vào vũ trụ tâm linh của người Hy Lạp thì không ngừng sản sinh ra những giá trị tôn giáo mới. Sự điên cuồng gây ra bởi chiếm hữu thần thánh – “cơn điên” – đã giành được sự quan tâm của rất nhiều tác giả, và thường kích động sự mỉa mai và chế giễu.

Herodotus đã mãn nguyện khi kể lại 1 câu chuyện ông được nghe tại Olbia. Demosthenes khi chế nhạo kẻ thù Aeschines đã hé lộ cho chúng ta một số nghi lễ thực hiện bởi thiasoi (những tổ chức tôn giáo kín) tại Athens vào thế kỷ thứ 4 vinh danh Sabazius, một vị thần Thrace tương đồng với Dionysus. (Người cổ xưa coi ông như Thrace Dionysus dưới cái tên bản xứ.)

Tại trung tâm của nghi lễ Dionysus. chúng ta luôn tìm thấy một trải nghiệm xuất thần dù dạng này hay dạng khác, ít hay nhiều cuồng loạn: mania. “Cơn điên” này theo 1 cách nào đó là bằng chứng rằng kẻ thụ pháp là một entheos, “lấp đầy với thần.” Trải nghiệm này chắc chắn là không thể nào quên, vì có sự chia sẻ giữa sự tự phát sáng tạo và say mê tự do, giữa sức mạnh siêu nhân và sự bất khả xâm phạm của Dionysus. Sự hiệp thông với thần đã phá vỡ tình trạng con người trong một khoảng thời gian, nhưng không thể chuyển đổi nó. Sự bất tử không được đề cập trong Bacchaehay tác phẩm muộn hơn Dionysiacacủa Nonmus. Điều này đủ để phân biệt Dionysus và Zalmoxis, kẻ được so sánh với ông và đôi khi còn bị nhầm lẫn với nhau, vì Rohde; vị thần của Getae “bất tử hóa” những kẻ thụ pháp vào phép thần bí của ông. Nhưng người Hy Lạp vẫn chưa dám nối liền khoảng cách bất tận mà trong mắt họ đã tách biệt thần thánh với con người.

Khi người Hy Lạp khám phá lại sự hiện diện của Vị Thần

Đặc điểm thụ pháp và bí mật của hội kín thiasoidường như là chắc chắn, mặc dù ít nhất có 1 phần nghi lễ đã được công khai (ví dụ như cuộc diễu hành). Khó mà xác định được khi nào, và trong hoàn cảnh nào mà những nghi lễ thụ pháp và bí mật Dionysus đảm đương những chức năng cụ thể của các tôn giáo Thần Bí. Các học giả được kính trọng (Nilsson, Festugière) phủ nhận sự tồn tại của Thần Bí Dionysiac trên cơ sở thiếu hoàn toàn các tham chiếu xác định về bất kỳ hy vọng mạt thế nào. Nhưng, nhất là thời cổ đại, chúng ta có rất ít thông tin về những nghi lễ bí mật, chưa nói đến những ý nghĩa bí truyền của chúng (thứ hẳn là phải tồn tại, vì những ý nghĩa bí truyền của các nghi lễ thụ pháp bí mật được ghi chép rộng khắp trên thế giới ở mọi tầng lớp văn hóa).

Thêm vào đó, hình thái học của hy vọng mạt thế không nên giới hạn trong những biểu thị quen thuộc của giáo phái Orpheus hay Phép Thần Bí của thời kỳ Hy Lạp hóa. Sự huyền bí và sự hóa hiện của Dionysus, những lần xuống Địa Ngục, và trên hết là giáo phải của Dionysus Sơ Sinh, với những nghi lễ kỷ niệm sự “tỉnh thức” của ông cho thấy ý muốn và hy vọng về một sự đổi mới tâm linh. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, đứa trẻ thần thánh được gán cho một biểu tượng thụ pháp tiết lộ bí ẩn về sự “tái sinh” của một bản chất thần bí. (Với trải nghiệm tôn giáo thì việc một biểu tượng như vậy được hiểu theo nghĩa trí tuệ hay không không thật sự là vấn đề.) Cần nhớ lại rằng giáo phái của Sabazius, định danh với Dionysus, đã cho thấy sẵn cấu trúc của một phép thần bí (“Ta đã trốn thoát khỏi cái ác!”). Chắc chắn là Bacchaekhông đề cập đến sự bất tử; tuy nhiên, sự hiệp thông với thần, dù là tạm thời, không phải là không có ảnh hưởng đến tình trạng sau khi chết của các bacchos. Sự hiện diện của Dionysus trong Thần Bí Eleusis cho phép chúng ta nghi ngờ ý nghĩa mạt thế của, ít nhất, cũng là một số trải nghiệm truy hoan.

Nhưng đặc biệt chỉ từ thời điểm của Dionysus-Zagreus mà đặc tính Thần Bí của giáo phái trở nên rõ ràng. Thần thoại về việc chặt xác đứa trẻ Dionysus-Zagreus mà chúng ta được biết đến chủ yếu là từ những tác giả Cơ Đốc. Đúng như dự đoán, họ trình bày nó như đã-được-thổi-phồng-hóa, không đầy đủ và với ác cảm. Nhưng cũng bởi vì họ đã được tự do nói công khai về những thứ bí mật và linh thiêng, nên những tác giả Cơ Đốc đã truyển tải nhiều chi tiết quý giá. Hera gửi các Titan, những kẻ ban đầu đã thu hút sự chú ý của đứa bé Dionysus-Zagreus bằng những món đồ chơi (trống lắc, crepundia, 1cái gương, xương đốt tay, 1 quả bóng, 1 con quay, 1cái phát tiếng bò)sau đó giết hại cậu và cắt cậu thành nhiều mảnh. Theo 1 số tác giả, họ đã luộc những mảnh này và ăn chúng. Một nữ thần – Athena, Rhea, hoặc Demeter – nhận được, hoặc cứu lấy trái tim và đặt nó trong một cái quan tài. Được báo cáo về tội ác này, Zeus dùng lưỡi tầm sét hủy diệt các Titan. Các tác giả Cơ đốc giáo không đề cập đến sự sống lại của Dionysus, nhưng tình tiết này đã được người xưa biết đến. Epicurean Philodemus, người cùng thời với Cicero, nói về ba lần sinh của Dionysus, “lần đầu tiên từ mẹ ông, lần thứ hai từ đùi, và lần thứ ba, sau khi bị các Titan chặt xác, Rhea tập hợp các chi của ông lại và ông lại sống lại lần nữa.” Firmicus Maternus kết thúc bằng cách nói thêm rằng ở Crete (nơi ông bản địa hóa câu chuyện đã-được-thổi-phồng-hóa của mình) vụ giết người được truy niệm theo nghi thức hàng năm, lặp lại những gì “đứa trẻ đã làm và phải chịu đựng vào lúc chết”: “Trong sâu thẳm của những khu rừng, bởi những tiếng kêu lạ lùng mà họ thốt ra, họ ngụy tạo sự điên rồ của một linh hồn đang thịnh nộ,” cho rằng tội ác đã được thực hiện bởi cơn điên và “họ dùng răng xé xác một con bò đực còn sống.”

Chủ để thần thoại-nghi lễ của nỗi thống khổ và sự hồi sinh của sơ sinh Dionysus-Zagreus đã làm dấy lên vô số những tranh cãi, đặc biệt là những diễn giải kiểu “Orpheus giáo”. Cái tên Zagreus được đề cập lần đầu tiên trong một sử thi của chu kỳ Thebes, Alcmaeonis (thế kỷ thứ 6 trước công nguyên): nghĩa là “thợ săn vĩ đại,” thứ liên hệ với đặc tính hung dữ, truy hoan của Dionysus. Về tội ác của các Titan, Pausanias đã cung cấp cho chúng ta 1 thông tin quý giá, mặc cho sự bảo thủ của Wilamowits và những học giả khác. Ông báo cáo rằng, Onomacritus, người sống ở Athens vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên vào thời của Pisistratids, đã viết 1 bài thơ về chủ đề này: “Lấy tên của các Titan từ Homer, ông ấy đã thành lập orgiacủa Dionysus, biến các Titan trở thành tác giả cho những đau khổ của vị thần.” Theo thần thoại này, khi các Titan tiếp cận đứa trẻ thần thánh, họ đã bôi bột thạch cao để không bị nhận ra. Trong những phép thần bí của Sabazius tiến hành tại Athens, một trong những nghi lễ thụ pháp có bao gồm cả việc phủ bụi các ứng viên với bột hoặc thạch cao. Hai thực tế này đã có liên kết từ thời cổ đại. Nhưng thứ chúng ta có ở đây là một dạng thức của những xã hội nguyên thủy: những học viên xoa mặt bằng bột hoặc tro để giả làm các hồn ma; nói cách khác là họ trải qua một cái chết lễ nghi. Về những “món đồ chơi thần bí” thì đã được biết đến từ lâu; một cuộn giấy cói của thế kỷ thứ ba trước công nguyên tìm thấy tại Faiyum, không may là khá rách nát, đề cập đến con quay, cái phát tiếng bò, xương đốt tay và chiếc gương.

Phân đoạn kịch tính nhất của thần thoại đã được biết từ trước với đầy đủ chi tiết vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, đặc biệt là đoạn sau khi chặt xác đứa bé, các Titan ném các chi vào vạc luộc và sau đó lại nướng; hơn thế nữa, tất cả những chi tiết này đã được thuật lại trong sự liên kết với “lễ kỷ niệm của những phép thần bí.” Jeanmaire đã chỉ ra rằng đun sôi trong một cái vạc hoặc đi qua lửa là những nghi lễ thụ pháp mang lại sự bất tử (ví dụ như việc Demeter làm với Demophoon) hoặc sự hồi xuân (con gái của Pelias cắt rời cha ra và luộc ông trong 1 cáivạc). Và cả 2 nghi lễ này – chặt xác và luộc hoặc hơ lửa – đều là đặc điểm của thụ pháp shaman.

Vậy là chúng ta có thể nhận ra trong “tội ác của các Titan” một kịch bản thụ pháp cổ xưa mà ý nghĩa ban đầu của nó đã bị quên lãng. Các Titan thể hiện như những Bậc Thầy Thụ Pháp, họ “giết” học viên để khiến anh ta được “tái sinh” vào một trạng thái tồn tại cao hơn (trong ví dụ của chúng ta, họ ban tặng thần tính và sự bất tử cho sơ sinh Dionysus). Nhưng trong 1 tôn giáo mà quyền của Zeus là tối thượng tuyệt đối thì các Titan chỉ có thể đóng vai ác quỷ, và họ đã bị thiêu đốt bởi lưỡi tầm sét của Zeus. Theo một số biến thể, con người được tạo ra từ tro tàn của họ, và thần thoại này đóng một vai trò đáng kể trong giáo phái Orpheus.

Đặc điểm thụ pháp của các nghi lễ Dionysus còn có thể nhận thấy tại Delphi, khi những người phụ nữ kỷ niệm sự tái sinh của vị thần; vì sàng thóc Delphi “chứa một mảnh xác của Dionysus sẵn sàng để tái sinh, một Zagreus,” như Plutarch đã làm chứng, và Dionysus này, “kẻ đã được tái sinh như một Zagreus, cùng lúc cũng là Thebes Dionysus, con của Zeus và Semele.” Diodorus Siculus dường như đề cập đến thần bí Dionysus khi ông viết rằng “Orpheus truyền đạt trong những buổi lễ một phép thần bí xé-thành-từng-mảnh của Dionysus.” Và trong 1 đoạn văn khác Diodorus giới thiệu Orpheus như một nhà cải cách của thần bí Dionysus: “Đây là lý do những sự thụ pháp do Dionysus được gọi là Orphic.” Truyền thuyết do Diodorus truyền đạt có giá trị ở mức xác nhận sự tồn tại của thần bí Dionysus. Nhưng có khả năng là ngay từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên thì những phép thần bí này đã vay mượn một số yếu tố “Orpheus”. Và thực tế Orpheus sau đó được tuyên bố là “ngôn sứ của Dionysus” và “kẻ sáng lập tất cả các thụ pháp.”

Dionysus gây kinh ngạc hơn bất cứ vị thần Hy Lạp nào khác bởi những sự hiển linh phức tạo và mới lạ của ông, bởi rất nhiều sự biến hóa khác nhau. Ông luôn luôn hoạt động; ông đi khắp mọi nơi, đến mọi quốc gia, mọi dân tộc, vào mọi môi trường tôn giáo, sẵn sàng liên kết bản thân với nhiều vị thần khác nhau (ngay cả với những vị thần đối nghịch như Demeter và Apollo). Ông chắc chắn là vị thần Hy Lạp duy nhất, kẻ tiết lộ bản thân dưới nhiều khía cạnh khác nhau, làm lóa mắt và thu hút cả nông dân lẫn tầng lớp trí thức, cả các chính trị gia lẫn các nhà chiêm nghiệm, cả những kẻ truy hoan và các thầy tu khổ hạnh. Say sưa, khêu gợi, sự sinh trưởng vũ trụ, nhưng cũng là những trải nghiệm khó quên được truyền cảm hứng bởi sự xuất hiện định kỳ của người chết, hoặc bởi mania, bằng cách đắm mình trong sự vô thức động vật, hoặc bởi sự xuất thần của enthousiasmos— tất cả những nỗi kinh hoàng và những sự mặc khải này sinh ra từ một nguồn duy nhất: sự hiện diện của vị thần. Trạng thái tồn tại của ông biểu thị sự thống nhất đối nghịch của sự sống và cái chết. Đó là lý do Dionysus cấu thành một kiểu thần thánh khác biệt hoàn toàn với các vị thần Olympus. Liệu ông có gần với con người hơncác vị thần khác? Dù trong trường hợp nào thì 1 người cũng có thể tiếp cận ông, thậm chí kết hợp với ông; và sự xuất thần của maniachứng minh rằng trạng thái con người có thể được vượt qua.

Những nghi lễ này có khả năng phát triển theo những chiều hướng không thể dự đoán. Thánh ca dithyramb, một bi kịch, vở kịch thần dê này ít hay nhiều trực tiếp là sáng tạo mang tính Dionysus. Nó tiếp thu để tuân theo sự biến đổi của một nghi thức tập thể, dithyrambos, liên quan đến sự xuất thần điên loạn, thành một cảnh tượng và cuối cùng thành một hình thức văn học. Nếu một số nghi lễ công cộng trở thành những cảnh tượng và biến Dionysus thành vị thần trên sân khấu; thì các nghi lễ khác mang tính bí mật và thụ pháp lại phát triển thành Phép Thần Bí. Giáo phái Orpheus mang nợ đối với những truyền thuyết Dionysus, ít nhất cũng là gián tiếp. Hơn bất cứ vị thần Olympus nào khác, vị thần trẻnày không ngừng thỏa mãn những tín đồ của ông với những sự hiển linh mới, những thông điệp bất ngờ, và những hy vọng mạt thế.


 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s