Bảo vệ tổng thống Mỹ- Phần 4

in-the-president-s-secret-service-2

Tác giả Ronald Kessler

Trần Quang Nghĩa dịch

 

Chương 14

Trung Tâm Huấn Luyện James J. Rowley

Người ta thường cho rằng một đặc vụ có bổn phận lãnh đạn dùm tổng thống. Nhưng chỉ thị thực sự cho đặc vụ được huấn luyện thì phức tạp hơn.

“Điều chúng tôi được huấn luyện để trở thành một đặc vụ trực nhiệm là che chắn và di tản nếu có tấn công xảy ra,” một đặc vụ nói. “Chúng tôi tạo một lá chắn người quanh đối tượng được bảo vệ và đem y ra khỏi vùng hiểm nghèo đến một chỗ bình yên. Nếu một đặc vụ bị bắn trong khi di tản, thế thì đó là điều được mong đợi. Chúng tôi trông cậy vào những lớp an ninh để xử lý kẻ tấn công, trong khi chức năng chính của kíp trực bên trong là dẫn đối tượng ra khỏi vùng lửa đạn.

Dowling tâm sự, “Người ta lúc nào cũng hỏi tôi, ‘Ê, bộ anh  phải lãnh đạn cho tổng thống thật sao?’ Tôi trả lời, ‘Bạn nghĩ tôi là thằng ngu hả?’ Điều chúng tôi phải làm là làm mọi thứ trong quyền hạn để giữ cho viên đạn không xuất hiện khi sự kiện diễn tiến. Và đó là chức năng của Mật Vụ. Đó là công tác chuẩn bị, đó là việc tiền sát chi ly, và đó là quá trình huấn luyện thích đáng để khi bạn làm nhiệm vụ của mình, bạn không phải gặp lấn cấn trong những bước thực hiện.”

Chìa khóa của việc đó là Trung tâm Huấn luyện James J. Rowley ở Laurel, Maryland. Khu vực huấn luyện nằm lọt giữa khu hoang dã và vùng bảo tồn sinh quyển. Rừng cây nuốt trọn tiếng súng, tiếng bánh xe nghiến, và tiếng nổ, là những âm thanh phát ra từ các đặc vụ và các sĩ quan thuộc Bộ phận Đồng phục đang được huấn luyện. Như nhiều tòa nhà trên khu vực rộng 440 mẫu này, trung tâm được đặt theo tên một cựu giám đốc Mật Vụ. Rowley cầm đầu Cơ quan Mật Vụ khi Kennedy bị ám sát, và ông đi tiên phong trong nhiều thay đổi sau tấn thảm kịch.

Tòa nhà học tập chính, xây dựng bằng đá có mái màu xanh lá cây, trông như được nhấc lên từ một trường cao đẳng cộng đồng rồi bỏ xuống nơi đây. Tòa nhà này mang tên Lewis C. Merletti, một cựu giám đốc Mật Vụ khác.

Trong khi hầu hết những ảnh chụp treo trên tường ở bộ chỉ huy kể về những ngày đầy nắng, những thời khác huy hoàng, và những yếu nhân được bảo vệ thắng lợi, thì những ảnh chụp treo ở tòa nhà Merletti kể về mặt trái của công tác, nổi nhọc nhằn khi xử lý sàng lọc chứng cứ; và mặt tối, những thất bại và ký ức nhói đau. Có những bức ảnh chụp vụ ám sát Kennedy và đám tang của Tổng thống McKinley vào năm 1901. Đó là năm Quốc hội chính thức yêu cầu Mật Vụ lãnh nhiệm vụ bảo vệ tổng thống, khi đã hơi muộn màng.

Dọc theo một bức tường, mỗi khóa tốt nghiệp đều trưng hình khóa đó, đi ngược đến khoá huấn luyện đặc vụ đầu tiên trong thập niên 50. Khi đó họ còn đội mũ phớt mềm. Rồi đến những bức ảnh thập niên 60, khi các đặc vụ để tóc như sinh viên, đến thập niên 70 tóc tai bù xù, đến những đặc vụ trông “bình thường” như hiện nay.

Trung tâm Huấn luyện James J. Rowley nhìn từ trên xuống

Tại đây, những đặc vụ mới nhận tổng cộng 16 tuần huấn luyện, phối hợp với 12 tuần rưỡi huấn luyện nữa ở Trung tâm Huấn luyện Chấp pháp Liên bang ở Glynco, Georgia. Để làm đơn xin gia nhập Mật Vụ, cá nhân phải là công dân Hoa Kỳ, ít nhất 21 tuổi và không quá 37 tuổi.

Đặc vụ cần có bằng cử nhân từ một cao đẳng hoặc đại học có tiếng hoặc có kinh nghiệm 3 năm trong ngành điều tra hình sự hoặc các lãnh vực thi hành án có yêu cầu kiến thức và vận dụng luật pháp đối với các vi phạm hình sự. Thị lực chưa được điều chỉnh của đặc vụ không được tệ hơn 20/60, và đạt đến 20/20 sau khi được điều chỉnh. Ngoài việc qua được kỳ thi cơ bản, các đặc vụ tiềm năng phải qua kiểm nghiệm ma túy và máy dò nói dối trước khi được thuê mướn và cấp quyền chính thức về an ninh tối mật.

Mỗi năm, trung tâm huấn luyện cấp tốt nghiệp cho 7 đến 11 khóa gồm 24 tuyển sinh Mật Vụ hoặc Bộ phận Đồng phục. Phần đông các con đường trong trung tâm huấn luyện đều có tên thích ứng với mục tiêu đào tạo tại chỗ – Đường Vũ khí, Đường Tác xạ, Đường Hành động, và Đường Ngoại biên.

Tại Hẻm Hogan một thân người đang nằm giữa đường.  Các thành viên UD (Bộ phận Đồng phục) ngồi trong một khán đài nhỏ nhìn xuống con đường trong khi bốn nhân viên UD trong BDU (đồng phục tác chiến) kiểm tra an ninh  các tòa nhà và triển khai cách thức trấn áp bọn xấu. Trừ một tòa nhà hai tầng và máy bán nước giải khát là thật, ngôi làng dài một dãy giống như một cảnh dựng trong phim trường của Hollywood, với các mặt tiền một cửa hàng đồ sắt, khách sạn, nhà hàng, quán ba, và nhà băng, và những ô tô thật đậu phía trước. Thình lình thân người cục cựa, đứng lên, và bước đi, báo hiệu kết thúc kịch bản diễn tập.

Các huấn luyện viên đóng các vai con tin, bọn xấu, và xác chết. Người đứng đầu đã nghỉ hưu của đội SWAT hạt Prince Georgia đang điều hành việc huấn luyện ở đây cùng với các chuyên gia hiệu quả đặc biệt. Họ bàn về toàn cảnh, những gì các đặc vụ phải đương đầu trong những vụ mưu sát, cũng như những tiểu tiết, như làm sao thu mình núp sau thùng rác. Quan trọng nhất, khi đặc vụ nghe tiếng súng, họ được huấn luyện phải đáp ứng hơn là nao núng – che chắn đối tượng mình bảo vệ và định vị lại cho y. Tuy nhiên, tại trung tâm huấn luyện, có một bảng thông báo nói rằng đây là khu vực tấn công mô phỏng và cảnh báo, “Không được mang vũ khí sống quá vị trí này.”

Liệt kê một số kịch bản huấn luyện, Bobbie McDonald, phụ tá huấn luyện, giải thích, “Chúng tôi huấn luyện cách thức họ tiếp cận vấn đề, cách thức họ báo động về vấn đề, cách thức họ cảnh báo với đồng đội, và cách thức họ phản ứng với tình huống. Họ có ẩn nấp không? Họ có rút vũ khí theo cách thích đáng không và tại một thời điểm thích hợp không? Họ có bắn khi cần phải bắn không? Và cú bắn đó là tốt hay tồi?

Trong một khu vực khác của làng chiến thuật, một chiếc xe màu đen chầm chậm lướt qua, trên xe đầy ắp đội phản công (CAT) đang được huấn luyện trong thời kỳ công tác. Mặc trang phục đen, súng trường sẵn sàng, họ dõi mắt ra ngoài cửa sổ xe, cau mày tập trung dưới cặp kính mát.

Phía dưới con đường, một quả bom khói phát nổ gần một đoàn xe hộ tổng. Đội CAT nhảy khỏi xe để giải quyết tình huống các thành viên đã gặp phải – một vụ đột kích đoàn hộ tống, một người đánh bom tự sát, một tay sát thủ. Có thể vụ nổ là đòn đánh lạc hướng mối đe doạ thực sự. Đội trưởng trông thấy có gì đó trong rừng cây, một tên bắn tỉa đang núp sau một thân cây. Tên bắn tỉa bị hạ, hướng dẫn viên cho biết vấn đề đã được giải quyết. Đội vội vã chui trở lại vào xe. Đoàn hộ tống chỉnh đốn lại và lái đi để tiếp tục tiến hành các kịch bản học tập khác.

Tại một khu vực khác của làng chiến thuật là cổng Nhà Trắng với một ki-ốt nơi thỉnh thoảng một con chim bị mắc bẫy vỗ cánh một cách tuyệt vọng tại các cửa sổ. Các bản sao các ki-ốt Nhà Trắng của Bộ phận Đồng phục, những nhà trắng thân thiết với mái nhọn, nằm rải rác trong khuôn viên Mật Vụ.

Mô hình Nhà Trắng dùng  để huấn luyện

Một kịch bản diễn ra tại một trong các trạm bảo vệ này có thể là tình huống một tên nhảy rào vào Nhà Trắng. Khu vực này gồm hai dãy phố với cùng tên đường và số nhà giống như ở khu Washington gần Nhà Trắng. Các tòa nhà ở đây không chỉ là mặt tiền mà được xây dựng kiên cố hơn, bao gồm một tháp 8 tầng có thể đẩy đi được dành cho các tay phản-bắn tỉa thực tập.

Ở đây, các học viên diễn tập các kịch bản khi dân chúng tiếp đón tổng thống sau các dây thừng giăng dọc lề đường. Họ thay phiên đóng vai đối tượng được bảo vệ. Khi các học viên tham vấn các nghi can trong phòng kín, nghi can thường là những người bên ngoài làm việc theo hợp đồng – có thể là kịch sĩ hoặc viên chức cảnh sát đã nghỉ hưu. Các đặc vụ học cách sử dụng các điểm áp lực để vùng ra khỏi cú ôm xiết của một tên tấn công hoặc của người hâm mộ quá khích. Bên ngoài là những “thao dượt hành động tức thời” nơi các đoàn hộ tống bị phục kích, những tên bắn súng từ các cửa sổ, và những vật phát nổ.

Nhiều vụ thực tập bắt đầu tại “sân bay”, nơi máy bay liên tục đáp xuống. Dán chặt vĩnh viễn trên đường nhựa là chiếc Không Lực Một Nửa, một mô hình phần trước của chuyên cơ tổng thống. Kế bên nó là chiếc Thủy Quân Một Nửa, một mô hình của chiếc trực thăng Thủy Quân Một của tổng thống.

Tại các khoá lái xe bảo vệ, các học viên chính qui nhận khoảng 24 tiếng huấn luyện về kỹ thuật lái xe. Nếu họ được giao nhiệm vụ lái xe trong phân đội, thì họ phải học thêm 40 tiếng nữa.

Khu đậu xe khổng lồ giống như một hành trình vượt chướng ngại vật trong các game show trên TV. Ở đây họ dùng những xe năng lượng cao, động cơ cao để phóng nhanh ra khỏi vùng sát thương. Họ học chạy thoát bằng cách lái chữ J, quay một góc 180 độ với tốc độ cao, giật bánh lái sang trái hay phải, và sang số đi tới.

Học viên học cách lái vòng vèo, lượn tránh các vật cản và ủi sập các chướng ngại vật, các rào cản đường, và các ô tô khác. Nếu xe của đối tượng được bảo vệ bị chặn, họ học cách quay vòng tránh hoặc ủi văng các chướng ngại vật.

 Khi chạy lùi để có thể quan soát nhiều hơn, các đặc vụ được huấn luyện không được quay nhìn đằng sau qua cửa sổ phía sau xe mà phải dùng kính chiếu hậu.

Tại vài trường bắn trong nhà hoặc ngoài trời, các học viên và các đặc vụ đang công tác phải định kỳ tập bắn kiểm tra súng tay, súng lục, và súng tự động.

“Mọi thứ chúng tôi dạy ở đây, chúng tôi hi vọng không bao giờ phải áp dụng,” Bobbie McDonald tâm sự.

Nếu phải hứng lấy một phát đạn, “đó là do bạn đã làm sai,” một đặc vụ nói. “Và nếu điều đó xảy ra, tôi không nghĩ đó là việc mà bạn phải suy nghĩ trước khi làm. Đơn giản việc cơ bản là bạn cố hết sức kéo đối tượng ra khỏi hiện trường, và nếu bạn nhận lấy vài viên, thì phải chịu thôi. Nhưng mục đích toàn diện là cả hai phải thoát ra khỏi đó mà không bị trầy xước.”

Tổng thống Trump đi thăm trung tâm huấn luyện, đứng trước khu vực huấn luyện lái xe bảo vệ

Chương   15

“Anh Quên Né”

Một hôm trở lại từ trang trại, Tổng thống Reagan tâm sự  với các đặc vụ của mình là làm tổng thống thật gay go, lúc nào bao quanh cũng có an ninh.

“Tôi muốn được đi vào cửa hàng như mọi người khác, muốn đi đến quầy báo và xục xạo các tạp chí như trước đây. Đi đó, đi đây,” Reagan nói.

Các đặc vụ đề nghị ông cứ đi cửa hàng đột xuất để giảm thiểu rủi ro. Trong khi ông vào cửa hàng, họ sẽ án ngữ cửa ra vào.

“Ngày Valentine sắp đến, và ông nói mình muốn đến cửa hàng văn hóa phẩm ở Washington để mua thiệp tặng bà xã,” cựu đặc vụ Dennis Chomicki nói. “Vì thế chúng tôi  hộ tống ông trên một đoàn xe nhỏ đến cửa hàng, tổng thống bước xuống xe và bước vào cửa hàng. Ông tới lui xăm xoi tìm thiệp, ra vẻ thích thú. Trong cửa hàng, có một người đàn ông cũng đang tìm thiệp. Reagan chọn được một thiệp, và ông đi đến người đàn ông nọ, chìa thiệp cho y xem và hỏi, ‘Này anh có nghĩ Nancy nhà tôi thích thiệp này không?’ Thoạt đầu, người khách hàng đó nói, ‘Ồ, được đó, bà xã anh sẽ thích nó cho coi ‘ Rồi ông ta nhìn lên, và thảng thốt, ‘Ôi, Chúa tôi, ngài tổng thống đây mà!’

Không lâu sau đó, Reagan sẽ được nhắc nhở tại sao tổng thống cần được bảo vệ. Lúc 2:35 chiều ngày 30/3/1981, John W. Hinckley Jr., 25 tuổi, bắn khẩu súng Rohm .22 RG-14 vào Reagan khi ông rời Khách sạn Washington Hilton sau khi đọc diễn văn.

Các thành viên công chúng  được phép chào đón Reagan khi ông rời khách sạn. Các máy từ dò kim loại  thời gian đó chỉ được đặt tại những vị trí qui định như Nhà Trắng nhưng không được sử dụng khi tổng thống ra ngoài Nhà Trắng. Kết quả là không ai bị rà tìm vũ khí. Bằng cách lẻn vào đám đông, trong đó có lực lượng báo chí, Hinckley xoay sở đến cách tổng thống trong vòng 20 bộ.

Theo bản năng, đặc vụ Timothy McCarthy ném mình tới trước Reagan và hứng một viên đạn nơi ngực phải. Nó xuyên qua lá phổi bên phải và xé rách lá gan của anh. Trong khi những đặc vụ và sĩ quan Bộ phận Đồng phục đã bị thương hoặc bị bắn chết trong nhiệm vụ bảo vệ, McCarthy là đặc vụ duy nhất thực sự hứng viên đạn cho tổng thống bằng cách nhảy vào đường đạn. Trong một giây rưỡi Hinckley bắn sáu phát. Ngoài McCarthy, cảnh sát thủ đô Thomas Delahanty và Thư ký Báo chí Jim Brady đều bị thương. Brady bị tổn thương não rất nặng.

Đặc vụ Dennis McCarthy – không có liên hệ gì với Timothy – là người đầu tiên chồm tới tên sát thủ. Lúc đầu, McCarthy nghĩ là mình nghe tiếng pháo nổ.

“Sau phát súng thứ hai, tôi biết đó là tiếng súng,” McCarthy nói. “Lúc đó, tôi có cảm giác kinh hoàng. Tôi biết mình phải ngăn nó lại.”

Đến phát thứ ba, McCarthy phát hiện  hai bàn tay nắm khẩu súng giữa hai camera truyền hình chỉ cách 8 bộ. McCarthy lao tới khẩu súng và ném mình lên người Hinckley khi y vẫn còn khai hỏa.

Đang khom mình trong tư thế bắn, tên sát thủ ngã sấp khi McCarthy rơi lên lưng y. Trong khi kẻ tấn công không tỏ ra kháng cự, McCarthy nhớ còn nghe tiếng clic, clic, clic liên tiếp khi tên sát thủ vẫn tiếp tục bóp cò dù đã bắn hết 6 viên đạn.

Như McCarthy, Tổng thống Reagan lúc đầu cũng ngỡ nghe tiếng pháo nổ. “Tôi hầu như đã đến được ô tô thì nghe tiếng gì kêu như hai, ba tiếng pháo ở bên trái tôi,” Reagan nói lại sau đó. “Tôi quay ra và hỏi, “Tiếng quái gì đó?’ Ngay lúc đó, Jerry Parr, người cầm đầu đơn vị Mật Vụ của chúng tôi, ôm tôi ngang hông và thiếu điều như ném tôi vào ghế sau chiếc limousine. Tôi té xuống mặt úp lên tay vịn của ghế phía sau, và Jerry nhảy đè lên người tôi.” Sau đó một đặc vụ đóng cửa và chiếc xe lao đi khỏi chỗ đó về phía Nhà Trắng. 

Tên sát thủ bị vật ngã

“Tôi kiểm tra tổng thống và không thấy máu,” Parr nói. ” Sau 15, 20 giây chạy rất nhanh, chúng tôi đã đi dưới DuPont Circle. Tổng thống Reagan lấy khăn tay chậm miệng. Ông nói, ‘Tôi nghĩ trong miệng bị thương.'”

Parr chú ý máu màu đỏ sáng và có bọt. Biết rằng đó là dấu hiệu nguy hiểm, ông ra lệnh tài xế hướng về Bệnh viện Đại học George Washington. Đó là bệnh viện đã được chọn trước trong tình huống cần hỗ trợ y tế.

Hóa ra nếu đến trễ chỉ vài phút thì tổng thống có thể đã mất mạng. Nhờ đi thẳng đến đó ngay đã cứu được mạng ông.

Reagan nhớ khi họ đến gần bệnh viện, ông bỗng thấy mình thở rất nặng nhọc. “Dù cố thế nào, tôi vẫn không thể hít đủ không khí,” ông nói. “Tôi đâm ra sợ và hơi hoảng hốt. Tôi không thể nào hít vào đủ hơi.”

Thật ra, Parr nói, “Tôi không biết ông bị bắn cho đến khi chúng tôi đến bệnh viện. Khi chúng tôi bước vào thì ông ta ngã quỵ.

Khi được đặt trên giường đẩy Reagan cảm thấy đau nhói gần xương sườn.

“Điều làm tôi lo lắng nhất là tôi vẫn còn không có đủ không khí, thậm chí sau khi các bác sĩ đã đặt ống thở vào cổ họng tôi,” Reagan nói. “Mỗi lần tôi hít vào, tôi hình như được ít không khí hơn. Tôi nhớ mình nhìn lên khi nằm trên giường đẩy, cố tập trung con mắt vào những thẻ vuông dán trên trần, và cầu nguyện. Rồi tôi nhớ hình như mình bất tỉnh một vài phút.”

Khi Reagan tỉnh dậy, ông bỗng ý thức có ai đó nắm lấy bàn tay mình.

“Đó là một bàn tay phụ nữ mềm mại,” ông nói. “Tôi cảm thấy nó chìa ra và chạm nhẹ vào bàn tay tôi và rồi xiết chặt. Nó cho tôi một cảm xúc tuyệt vời. Thậm chí đến bây giờ tôi khó lòng mà giải thích được những cảm giác trấn an, tuyệt diệu mà nó đem lại. Ắt hẳn đó là bàn tay của một cô y tá đang quì gối bên cạnh chiếc giường đẩy, nhưng tôi không thể trông thấy cô. Tôi bắt đầu hỏi, “Ai nắm tay tôi đó? Ai nắm tay tôi?”

Rồi Reagan mở mắt và nhìn thấy vợ mình, Nancy. “Em yêu, anh quên né,” ông đùa.

Thật may mắn, chiều đó hầu hết các bác sĩ làm việc tại bệnh viện đang dự một  cuộc hội thảo chỉ cách phòng cấp cứu một lượt thang máy.

Nên chỉ trong vài phút sau khi Reagan đến, phòng gần như đông đủ các bác sĩ chuyên khoa đủ mọi ngành. Reagan nhớ lại, “Khi một bác sĩ bảo tôi là họ chuẩn bị giải phẫu tôi, tôi nói, ‘Tôi hi vọng bác sĩ thuộc đảng Cộng Hòa.’ Ông nhìn tôi và đáp, ‘Hôm nay thưa Tổng thống, tất cả chúng tôi đều thuộc đảng Cộng Hòa.’

Các bác sĩ giải phẫu tìm thấy viên đạn đã đâm thủng và làm xẹp một lá phổi, dừng lại chỉ cách quả tìm Reagan một in-xơ. Nếu ông mặc áo chống đạn, viên đạn chắc chắn không thể xuyên qua cơ thể Reagan.

“Ở những lần ra ngoài trước đây, các đặc vụ bắt tôi phải mặc áo chống đạn bên dưới bộ vét của tôi,” Reagan giải thích sau đó. “Hôm đó, cho dù tôi đi nói chuyện với những người Dân chủ quá khích vốn không coi trọng chương trình phục hồi kinh tế của tôi, không ai nghĩ cần thiết phải mặc giáp sắt bên dưới bởi vì tôi chỉ lộ diện trước công chúng trên một đoạn đi bộ khoảng 30 bộ (khoảng 10 m) là đến xe.”

“Một số đồng nghiệp tôi đã nói, ‘Vâng, nếu là tôi, ắt hẳn tôi đã chở tổng thống về Nhà Trắng vì đó là nơi an toàn nhất,'” Parr nói. “Bạn phó cho may rủi khi mang tổng thống đến bệnh viện. Nếu ông không bị thương, bạn sẽ làm cả nước hoảng sợ. Nhưng trong trường hợp này, chúng tôi đã hành động đúng.” Parr nói thêm, “Chúng tôi không bao giờ quên chuyện này. Chúng tôi thật không muốn điều đó xảy ra. Khổ thay, nó đã xảy ra đối với chúng tôi.” Được biết, Parr gia nhập Mật Vụ vào năm 1962, một năm trước khi Kennedy bị ám sát.

Theo đặc vụ Albracht, đáng lẽ các đặc vụ khác nên nhảy lên ô tô bảo vệ và đi theo tổng thống thay vì ở lại lo trấn áp sát thủ Hinckley vì đã có cảnh sát làm việc đó. Mọi đặc vụ nên suy nghĩ về chuyện đánh lạc hướng: đây có phải mũi tấn công chính, hay bọn xấu chỉ cố rút hết lực lượng của ta ra khỏi đối tượng được bảo vệ rồi tấn công ta trên đường ta rút lui? Chúng tôi luôn dạy các đặc vụ phải tung hết lực lượng đi theo người phải bảo vệ để bảo đảm một cuộc tẩu thoát thành công.”

Tại bệnh viện, FBI tịch thu thẻ chứng thực của Reagan dành cho việc kích hoạt trận chiến hạt nhân, nói rằng tất cả vật dụng của Reagan đều cần đến để làm chứng cứ. Vì chưa có hướng dẫn nào đề cập đến tình huống khi một tổng thống phải trải qua một cuộc giải phẫu khẩn cấp, giờ không biết rõ ràng ai có quyền kích hoạt một cuộc giáng trả hạt nhân.

Tu chính Án 25 của Hiến pháp cho phép phó tổng thống hành động thay tổng thống chỉ khi được tổng thống đã viết đơn gởi cho Thượng viện và Hạ viện xác nhận rằng mình tàn phế và không thể thi hành bổn phận. Nếu phó tổng thống và và một đa số Nội các đồng y rằng tổng thống không thể thi hành bổn phận, họ có thể cho phép phó tổng thống làm quyền tổng thống. Những việc này sẽ tốn thời gian.

Phó Tổng thống George H. W. Bush có thể tự tay kích hoạt một cuộc giáng trả bằng cách tiếp xúc với bộ trưởng quốc phòng qua đường dây an ninh. Nhưng có vấn đề là không biết như vậy có hợp pháp không. Khi Bush trở thành tổng thống, chính quyền ông thảo ra một kế hoạch được xếp loại và chi tiết hơn về việc chuyển giao quyền lực tức thời trong trường hợp tổng thống đột ngột bệnh nặng.

Trước khi hạ thủ Reagan, Hinckley đã bị ám ảnh với bộ phim Taxi Driver (Tài Xế Taxi) do ngôi sao Jodie Foster đóng. Trong phim, một gã loạn trí âm mưu ám sát ứng cử viên tổng thống. Vai chinh, do Robert DeNiro đóng, dựa vào nhân vật Arthur Bremer, người đã bắn Thống đốc George Wallace. Sau khi xem phim nhiều lần, Hinckley bắt đầu rình rập Foster. Ngay trước vụ tấn công Reagan, y viết cho cô ta, “Cô sẽ tự hào về tôi, Jodie. Hàng triệu người Mỹ sẽ yêu tôi – chúng ta.”

Vào ngày 9/10/1980, khoảng 6 tháng trước khi ra tay với Reagan, Hinckley đã bị câu lưu vì đã lên một chiếc máy bay ở sân bay Nashville, Tennessee trong khi mang theo ba khẩu súng lục. Tổng thống Carter lúc đó đang ở Nashville. Còn Reagan, lúc đó đang tranh chức tổng thống với Carter, đã vừa hủy bỏ chuyến đi đến Nashville.

Theo sau sự kiện Reagan, Mật Vụ bắt đầu sử dụng máy từ để tầm soát đám đông tại các sự kiện có tổng thống đến dự. “Chúng tôi bắt đầu xem xét những khoảng cách chấp nhận được để giữ đám đông đứng cách xa ra,” Danny Spriggs nói. Anh là người đã bắt giữ Hinckley sau vụ bắn giết và trở thành phó giám đốc Mật Vụ. “Khoảng cách thay đổi theo hiện trường.”

Mật Vụ cũng học cách tách riêng báo chí với dân chúng và sử dụng những thẻ tên tốt hơn để bảo đảm không ai trà trộn vào giới báo chí, giả làm một phóng viên. Một đặc vụ được giao nhiệm vụ theo dõi báo chí, và các nhà báo cũng được yêu cầu báo cáo những kẻ trà trộn đáng nghi.

Tương tự, Mật Vụ học được những bài học từ vụ ám sát Kennedy. Nó tăng gấp đôi số đặc vụ bổ sung, vi tính hóa và tăng cường dữ liệu tình báo, tăng cường số đặc vụ được giao nhiệm vụ tiền sát và tình báo, thành lập những đội phản-bắn tỉa, mở rộng chức năng huấn luyện và cải thiện kết nối với các cục liên bang và thi hành luật.

Giờ Mật Vụ chia sẻ tin tình báo và kỹ thuật với một loạt các bộ phận an ninh nước ngoài. Sau vụ ám sát thủ tướng Israel Yitzhak Rabin, Mật Vụ và cơ quan Shin Bet của Israel bỏ ra một tuần lễ đối chiếu những ghi chép với nhau.

Cựu đặc vụ Dowling nói, “Vụ ám sát Rabin rất giống với vụ Hinckley ám sát Reagan. Nó xảy ra tại một địa điểm khởi hành của đoàn xe hộ tống.”

Các viên chức Shin Bet vạch trần những thiếu xót của mình. Theo Dowling, đó là một trải nghiệm đau buồn của họ. Gã sát thủ này đã lảng vảng quanh đoàn xe hộ tống một lúc mà không ai để ý. Giống như chúng tôi trong trải nghiệm với Hinckley. Rõ ràng chúng tôi biết có người đang rình rập tổng thống, có người đã rình rập tổng thống trước đây. Không phải vì y cho Reagan hay Carter là một tên xấu. Chính chức vụ và quyền lựcp của họ làm y thù ghét.”

Khoảng một năm sau vụ ám sát Reagan, trạm thực địa  Mật Vụ ở Washington nhận được một cuộc gọi từ một người đàn ông dọa giết Reagan. Y nói, “Tao sẽ bắn nó.” Rồi y cúp máy.

Một buổi sáng Đặc vụ Dennis Chomicki, đặc trách bộ phận tình báo bảo vệ, nghe chuông điện thoại ở đường dây chính của trạm thực địa, lúc đó ở góc Đường 19 và Đại lộ Pennsylvania . Vì ông là một trong những đặc vụ đầu tiên buổi sáng đó, ông nhấc máy.

“Hi, lại là tao đây,” người gọi nói. Mày biết tao.”

“Không, tao không quen biết mày,” Chomicki đáp.

“Được rồi, tao là người sẽ giết tổng thống,” gã nói.

“Này, mày làm việc này dùm tao đi. Tao đang đứng đây tại một điện thoại ở tường nhà vì vừa ra mở cửa ngoài. Tại sao mày không gọi lại điện thoại bàn của tao để tao có thể ngồi ghế và tâm sự với máy?”

Gã đồng ý, và Chomicki cho y số máy bàn trực tiếp của mình.

Chomicki liền gọi cho giám sát viên và số điện thoại bàn của anh để nhờ anh ta lần theo nơi điện thoại gọi đến. Anh nghĩ rằng gã kia không quá ngu để dám gọi điện thoại một lần nữa.

Anh vừa ngồi vào bàn thì gã đã gọi lại, Chomicki kể. “Vì thế chúng tôi bắt đầu nói chuyện, và tôi có thể ghi lại cuộc điện đàm ấy.”

Gã đàn ông nói mình sở hữu một khẩu súng trường có ống nhắm. “Tao sẽ nhắm kỹ, và xiết cò, và cái đầu y sẽ nổ nát như một quả dưa,” gã nói.

“Ê, việc này coi bộ nghiêm trọng đó nha. Tại sao chúng ta không gặp nhau?” Chomicki nói.

” Mày tưởng tao là thằng điên à?” Gã nói rồi cúp máy.

Công ty điện thoại gọi cho biết y đã  gọi từ điện thoại công cộng trên Đại lộ New York. Với địa chỉ của điện thoại công cộng trên Đại lộ New York, Chomicki và một đặc vụ khác vừa đến, chạy ù ra gara Mật Vụ và mỗi người nhảy vào một ô tô, cùng phóng đến Đại lộ New York và Đường 11, nơi điểm cuối của tuyến xe buýt Greyhound.

“Chúng tôi nhìn quanh quất và không thấy ai cả”, Chomicki nói. “Có xe bán cà phê mang đi ở gần đó. Chúng tôi tiến đến và hỏi người bán, ‘Anh có thấy ai nói điện thoại cách đây vài phút không?'”

“Có đấy, khoảng 8 giờ thiếu 15 có một gã,” y đáp. Y cho biết chiều cao và cân nặng ước tính của gã và mô tả y mặc quần xanh và áo sơ mi xanh. Thời gian người bán cà phê đưa ra khớp với cuộc gọi Chomicki nhận được ở bàn giấy. Chomicki hỏi người bán cà phê tại sao y lại để ý quá kỹ đến gã gọi điện công cộng.

“Thường thì tôi ở đây lúc 8 giờ,” người đàn ông giải thích. “Hôm nay bỗng dưng tôi ra sớm, và các thân chủ chỉ nghĩ là đến 8 giờ mới có mặt tôi, do đó tạm thời ế ẩm, nên tôi ngó chung quanh và để ý đến gã vào bốt điện thoại đó.”

Các đặc vụ nhảy vào ô tô, Chomicki lái theo hướng đông trên Đại lộ New York; còn người kia theo hướng tây. Và rồi Chomicki nhác thấy một người giống như anh bán cà phê mô tả. Gã đang sử dụng điện thoại công cộng trên tường ngoài của trụ sở xe buýt.

Chomicki quanh xe chữ U và đỗ xe bên kia đường. Anh đi bộ đến phía sau người đàn ông và nghe gã nói giọng miền Trung Tây. Đúng là giọng nói của gã đàn ông đã gọi anh ở văn phòng.

Anh chụp cổ gã và đẩy gã vào vách buồng điện thoại và chụp lấy ống nghe. Anh nói vào điện thoại, “Đặc vụ Chomicki của Cục Mật Vụ đây. Làm ơn cho biết ai ở đầu dây đó ạ?”

“Ôi trời! Anh làm sao túm được nó vậy?” một giọng nói ở đầu dây bên kia kêu lên. Đó là một đặc vụ khác ở văn phòng. Anh cho biết gã này vừa gọi,  lại đe đọa giết Reagan.

Nghi phạm nói mình đang gọi taxi. Khi gã cố lần đi thì Chomicki kéo lôi gã đến xe, khóa tay dựa vào thành xe rồi còng tay gã. Sau khi cho gã đi khám nghiệm tâm lý, một ban thẩm phán kết luận chỗ ở thích hợp của gã là một bệnh viện tâm thần.

Trong khi còn làm tổng thống, Reagan không có một biểu hiện gì là mình mắc bệnh Alzheimer, căn bệnh dẫn đến kết cục của đời ông. “Chúng tôi có 120 đặc vụ bảo vệ ông, và gần như ông nhớ tên mọi người,” Smith nói.

Nhưng vào tháng 3 1993, một năm trước khi thông báo mình mắc bệnh Alzheimer, cựu tổng thống Reagan đón tiếp thủ tướng Canada Brian Mulroney tại thư viện của ông rồi mời thủ tướng đến thăm trang trại. Khi ra về, thủ tướng hỏi đặc vụ Chomicki, “Anh có thấy gì hơi đặc biệt ở tổng thống không?

Chomicki nói có nhưng không hiểu vấn đề là gì.

“Ông thường dừng lại khi đang nói giữa chừng và quên mình đã nói gì,” Chomicki nhớ lại. “Rồi ông lại bắt đầu nhảy qua chuyện khác.”

Sau khi Reagan rời khỏi chức vụ ba năm, ông được mời nói chuyện  tại một sự kiện ở Akron, Ohio. Trái với trước kia có đoàn tùy tùng đi theo, Reagan giờ đây chỉ đi với một nhân viên và một tổ Mật Vụ nhỏ của ông. Đặc vụ trong đội Mật Vụ bảo vệ trước đây của ông bước vào trạm chỉ huy và nói với đặc vụ Dowling, “Anh biết không, tổng thống đang ngồi một mình trong phòng ông cả buổi sáng. Và coi bộ ông ta thực sự muốn có ai đó để tán gẫu. Các anh có vui lòng mời tổng thống qua đây và hàn huyên với các anh một lúc không?”

“Như vậy thì tuyệt quá. Mời ổng qua đi,” Dowling nói.

Thế là trong hai giờ, Reagan chuyện vãn với các đặc vụ trước đây của mình, nhắc lại kỷ niệm cũ và nói đùa.

“Ông ấy bảo mình và Mikhail Gorbachev có nói chuyện riêng,” Dowling thuật lại. “Họ đồng ý là đề tài nói chuyện không phải là thời sự hoặc nói về chúng ta. Đề tài là về con cháu của chúng ta và cuộc sống mà chúng sẽ sống.”

Chương 16

Timberwolf (Sói Xám)

Nơi cư ngụ của phó tổng thống là một dinh thự khang trang ba tầng rộng 9,150 bộ vuông (khoảng 900 mét vuông) nhìn qua Đại lộ Massachusetts. Với đầy đủ hồ bơi, nhà thay đồ, và phòng tập gym trong nhà, ngôi nhà bằng gạch trắng được xây dựng vào năm 1893 dành cho giám đốc Trạm Quan Trắc Hải quân Hoa Kỳ. Quốc hội biến nó thành nơi cư ngụ chính thức của phó tổng thống vào năm 1974 và cho nó địa chỉ Vòng Quan Trắc Một.

Phó tổng thống Mondale là người đầu tiên sống ở đó. Trong khi người tiền nhiệm của ông là Nelson Rockefeller có thể dời về đó, nhưng ông thích ở lại trong khu dinh cơ của mình ở Way và sử dụng khu cư ngụ của phó tổng thống làm nơi tiệc tùng.

Trong một ngày, ít nhất năm đầu bếp hải quân thỏa mãn mọi nhu cầu cá nhân của đệ nhị gia đình, bao gồm nấu ăn, đi chợ, vệ sinh nhà cửa và giặt giũ. Ban đêm, các nhân viên nướng bánh xô-cô-la và những món tráng miệng khác cho đệ nhị gia đình. Họ cũng cất giữ thức ăn thừa từ các buổi tiệc trong tủ lạnh.

Trở lại thời George H. W. Bush là tổng thống, đặc vụ William Albracht trực ca đêm tại khu cư ngụ của phó tổng thống.

Là người mới vào nghề, Albracht được đặc vụ Dowling dặn dò, “Này Bill, mỗi ngày các đầu bếp nướng bánh, và đó là công việc của họ, trách nhiệm của họ. Còn trách nhiệm của chúng ta vào nửa đêm là tìm kiếm những bánh trái đó hoặc những thứ còn lại từ ngày hôm trước và ăn chúng nhiều như có thể.”

Lúc 3 giờ sáng, Albracht, trực gác tầng hầm, thấy đói.

“Chúng tôi không hề được phép lấy thực ăn từ nhà bếp, trong khi nửa đêm lại thường đói bụng,” Albracht nói. “Tôi bước vào nhà bếp toạ lạc dưới tầng hầm và mở tủ lạnh. Tôi hi vọng còn lại snack từ buổi chiêu đãi ngày hôm đó. Thình lình, có tiếng ai nói đằng sau tôi, ‘Ê, trong đó còn gì ngon ăn được không?’ Tôi đáp, ‘Không, dường như họ đã ăn sạch cả rồi’, và quay lại hoá ra là George Bush ngay sau lưng tôi.”

Sau khi đã hoàn hồn, Albracht nghe phó tổng thống nói, “Vậy mà tôi cứ tưởng phải có thứ gì ăn chứ.”

Albracht nói, “Vâng, thưa ngài, mỗi ngày nhà bếp nướng bao nhiêu bánh, nhưng đến tối họ cất giấu ở đâu không biết.”

Với một cái nháy mắt, Bush nói, “Nào, chúng ta thử tìm xem.” Thế là chúng tôi lật tung nhà bếp đi tìm, và rồi cũng tìm được. Ông lấy một chồng bánh xô-cô-la và  một ly sữa rồi đi trở lại phòng ngủ, còn tôi cũng lấy một chồng và một ly sữa và trở lại chốt trực dưới tầng hầm.

Khi là phó tổng thống, Bush bay đến một buổi lễ vận động tài trợ cho đảng ở Boise, Idaho, trong chiến dịch tranh cử 1982. Ông ăn cơm tối tại nhà hàng hải sản Chart House trên Đường North Garden ở bờ sông Colorado.

“Theo cách thức bảo vệ ông, chúng tôi cắt đặt một số đặc vụ bên trong, điển hình là cử người túc trực bên ông ngay tại bàn ăn,” đặc vụ Dowling nói.

Dowling chỉ mới ngồi vài phút là nghe điện đàm báo rằng có hai nam thanh niên da trắng trong quần áo ngụy trang đang bò ở khu vực phía sau về hướng địa điểm của họ. Chúng có mang vũ khí trong tay  và đang trườn trên bụng và đi tới bằng khỷu tay.

Ngay lúc đó, Dowling nhìn lên và trông thấy hai kẻ xấu. Anh nhớ lại các báo cáo tình báo rằng Libya đã phái một đội ám sát đến Hoa Kỳ để giết các quan chức Mỹ. Theo bản năng, đặc vụ liền phóng ra khỏi ghế ngồi và ôm chặt Bush để bảo vệ ông. Các đĩa thức ăn rớt loạng xoạng khi Dowlinh kéo phó tổng thống xuống đất và chồm lên người ông.

“Có chuyện gì vậy?” Bush la lên.

“Tôi không biết, nhưng hãy cúi thấp đầu xuống,” Dowling trả lời.

Dowling nhìn lên và thấy khoảng một trăm nhân viên chấp pháp súng sẵn sàng trên tay – các đặc vụ, các cảnh sát và binh lính tiểu bang. Họ đang trực bảo vệ thường lệ trong thời gian viếng thăm của phó tổng thống. Hai kẻ xấu đang quì gối hai bàn tay đặt sau đầu.

“Chúng tôi đã di tản VIP ra khỏi nhà hàng tránh xa vùng có thể gây nguy hiểm,” Dowling nói. “Bạn ắt tưởng tôi vừa ngăn chặn được một mưu toan ám sát.”

Nhưng hóa ra không phải như vậy. Nhà hàng toạ lạc gần một chung cư tại đó bạn gái của một trong hai gã kia cư trú. Gã có bồ đến thăm bạn gái, và phát hiện cô ta đang ở nhà với một tên khác. Vì thế gã bạn trai lồng lộn vì ghen. Tên tình dịch kia liền rút dao, xả cho gã một nhát, nhưng chỉ gây một vết thương nhẹ. Gã này tức tối liền quay về và dẫn theo người bạn dự định trở lại nhà người yêu, và giết tên tình địch kia ngày trong đêm đó cho thỏa cơn ghen.

Không biết có phó tổng thống hiện diện trong khu vực, chúng đậu xe trong khu nhà hàng và quyết định lẻn qua rừng cây để đến chúng cư. Chúng bị xét xử và kêu án tàng trữ vũ khí bất hợp pháp và âm mưu sát hại.

Khác với nhiều tổng thống, Bush – mật danh Timberwolf (Sói Xám) – đối xử với các đặc vụ và mọi người khác quanh ông với sự trân trọng và ân cần, cũng như vợ ông, Barbara. Trong thời gian  Bush 41 (các đặc vụ quen kêu như thế, 41 là thứ tự đời tổng thống) trở thành tổng thống, có lần cháu nội 12 tuổi của ông, George Prescott Bush, đang đánh bóng dội tường ở cuối sân quần vợt ở Nhà Trắng, thì hai đặc vụ tiến vào sân định chơi. Hai đặc vụ đã đăng kí chơi trước, nhưng khi nhìn thấy cháu nội tổng thống đang chơi, họ quay lưng trở lại Nhà Trắng.

Nhưng ngay lúc đó, Barbara Bush – mật danh Tranquility – tiến đến và bảo cháu nội nhường sân cho hai đặc vụ. Bà thực sự luôn dặn dò các cháu phải cư xử lễ độ không chỉ với gia đình mà còn với nhân viên.

Theo các đặc vụ, Bush 41 là một người vĩ đại, lúc nào cũng tử tế. Cả ông và bà Bush đều rất ân cần và tế nhị, biết nghĩ đến người khác.

Bush nói rõ với các đặc vụ là ông và vợ không rành về an ninh, nên nếu Mật Vụ có quyết định gì thì ông đều chấp nhận , họ không phải hỏi ý kiến của ông. Nhờ thế công tác bảo vệ ông rất hiệu quả và trơn tru.

Bush rất quan tâm đến những đặc vụ bảo vệ mình đến nỗi ông ở lại Nhà Trắng trong đêm Giáng Sinh để các đặc vụ có thể tranh thủ xum họp với gia đình họ. Một ngày sau Giáng Sinh ông mới bay về Texas. Điều duy nhất mà các đặc vụ phàn nàn về Bush cho đến tận hôm nay là ông quá năng động.

“Ông ấy không thể ngồi yên,” một đặc vụ nói. “Lúc nào cũng di chuyển.”

Tại mỗi khách sạn, Mật Vụ phải bảo đảm có máy tập đạp trong phòng ông. Nếu khách sạn không có, các đặc vụ phải đi thuê. Ông ấy không bao giờ đọc sách. Ông phải đi bộ trên máy hoặc sử dụng StairMaster. Đi, đi, lúc nào cũng đi. Như vậy là có thêm việc cho đặc vụ. Đánh gôn, cởi ngựa, đi thuyền buồm. Luôn phải làm gì đó. 

Thời kỳ đầu Bush cũng tỏ ra bực bội với việc bảo vệ vì chưa quen. Có tuần, đoàn xe hộ tống hú còi hai lần đưa ông đi dù những sự kiện tổ chức chỉ cách Nhà Trắng vài dãy phố. Bush bực dọc về những đề phòng và muốn biết tại sao ông không thể chỉ cần đi bộ đến đó. Phân đội bảo vệ quyết định chọc ghẹo ông. Trong khi chiếc limousine của tổng thống và xe dự phòng do các đặc vụ lái, những xe cộ khác trong doàn hộ tống được lái bởi những người gọi là kỹ thuật viên hỗ trợ thể chất. Billy Ingram, một trong những tài xế đặc biệt này, là một cựu binh Chiến tranh Triều Tiên tóc đã hoa râm.

Lúc nào ông cũng vắt vẻo một điếu thuốc trên môi vương vãi tàn thuốc quanh cho ngồi. Chiếc ô tô của ông đã 20 năm tuổi và móp méo, bốc mùi thuốc lá.

Các đặc vụ dán huy hiệu tổng thống và cờ Mỹ lên xe của Ingram. Khi tổng thống bước ra cho chuyến đi tiếp theo, ông không thấy chiếc limousine đâu cả. Thay vào đó, xe của Ingram đứng đầu đoàn xe hộ tống. Ông nhìn nó rồi quay sang Barbara, thắc mắc,”Có chuyện gì vậy?” “Thì ông lúc nào cũng phàn nàn về chiếc limos mà. Bữa nay đổi xe đi,” đệ nhất phu nhân trả lời.

Bush chui vào chiếc xe xập xệ của Ingram và nói với các đặc vụ, “Các cậu thắng rồi.”

Khi xe đi ra ngoài cổng Nhà Trắng thì kia là chiếc limousine của tổng thống.

Mặc dù có lời cảnh báo của phân đội bảo vệ, Bush vẫn có thói quen ra khỏi Phòng Bầu Dục qua cánh cửa dẫn ra Vườn Hồng và gặp gỡ các du khách đi dọc hàng rào trên Đại lộ Pennsylvania. Phân đội phải vội vã cắt người ra hàng rào ngay khi có tiếng chuông báo động có người mở cửa ra bên ngoài. Ngay lập tức, tờ Washington Post đăng câu chuyện dân chúng vui mừng khi bất ngờ được tổng thống ra chào đón họ. Sau lần đó, khi Bush một lần nữa ra chào đón các fan hâm mộ tại hàng rào, các đặc vụ phát hiện thấy một người trông như một sát thủ tiềm năng điển hình.

Tên này mặc áo khoác mùa hè, tóc tai bù xù và cặp mắt láo liên. Các đặc vụ liền đến trấn áp, và hoá ra hắn có lận một khẩu súng lục 9 li và có thể dự tính nhắm vào tổng thống.

Phân đội trưởng chỉ cho Bush thấy rằng việc ra chào đón dân chúng đột xuất không những gây nguy hiểm cho ông mà còn cho các đặc vụ của mình. Sau chuyện này, mỗi lần ra ngoài hàng rào giao tiếp với dân chúng, ông cho các đặc vụ thời gian để thành lập vùng an toàn tại hàng rào.

Các đặc vụ được dạy phải phớt lờ mọi cuộc trao đổi xảy ra dưới sự hiện diện của họ, nhưng tất nhiên họ nghe mọi thứ. Có lần đặc vụ đang lái xe chở Tổng thống Bush, Barbara cùng hai đứa cháu, ngồi phía sau.

Họ đang trao đổi về một đề tài nào đó, rồi thình lình xao nhãng. Khi bắt chuyện lại, họ hỏi nhau vừa mới trao đổi về đề tài gì, nhưng không ai nhớ. Lúc đó đặc vụ tài xế mới buột miệng, “Nhà ta đang nói về An ninh Xã hội”.

Điều này là vi phạm nghi thức Mật Vụ, và đặc vụ giám sát ngồi bên cạnh tài xế sau đó khiển trách đặc vụ lái xe. Thời hạn công tác của anh buộc phải chấm dứt. Nhưng tổng thống thích người này. Khi ông thấy đã lâu không gặp y, ông yêu cầu Mật Vụ cử y trở lại làm tài xế cho ông. Điều này không chấp nhận được đối với những giám sát.

Vì toàn thể gia đình của Bush tập trung tại ngôi nhà mùa hè ở

Kennebunkport, các đặc vụ gọi nó là Trại Sói Xám. Vì ngôi nhà cất trên mặt nước, Mật Vụ yêu cầu quân đội đến tầm soát các chất nổ dưới nước và tuần tra biển bằng thuyền máy. 

“Thuyền loại cigarette của chúng tôi chạy nhanh hơn thuyền máy tổng thống, nhưng nếu chúng tôi bảo với ông chuyện này, ông sẽ lập tức đi mua một chiếc lướt nhanh hơn,” một đặc vụ tâm sự.

Có lần, Bush và Barbara bay về nhà Kennebunkport vào mùa đông, và tổng thống cùng vợ ra ngoài trời đi dạo.

Đặc vụ Sullivan nhớ lại, “Tôi đội nón, và hai đặc vụ khác cũng có nón, riêng đặc vụ thứ tư được phân công bảo vệ đệ nhất phu nhân quên mang theo nón.”

“Nón cậu đâu?” Bà Bush hỏi đặc vụ không nón.

“Thưa bà, tôi quên mang nón. Tôi không ngờ ở đây trời lạnh đến thế,” anh nói.

“George, chúng ta cần lấy nón cho đặc vụ này,” Barbara nói với chồng.

“Được rồi, Bar,” ông đáp.

Bà trở vô nhà, lấy một chiếc nón lông thú của Bush, và trao cho đặc vụ.

“Không dám đâu, bà Bush, không sao mà,” người đặc vụ ngần ngại.

“Này, đừng cãi lời bà Bush nha,” Bush nói.

Người đặc vụ liền đội nón của tổng thống.

“Bà Bush là như vậy đó,” Sullivan nói. “Bà là mẹ của mọi người, và bà không muốn chàng đặc vụ 40 tuổi này đi bộ ngoài trời ở  Kennebunkport mà không đội nón. Bà thật đáng yêu.”

Theo lời đặc vụ Albracht, vợ chồng Bush yêu nhau chân thật. Họ có một cuộc hôn nhân đặc biệt khắng khít, là bạn tốt nhất của nhau mà bạn hiểm thấy. Có người đồn Bush có dan díu với một phụ nữ trong ban nhân viên, nhưng Albracht không hề tin điều ấy vì trong suốt bốn năm nhiệm kỳ ông chưa bao giờ gặp họ làm gì xấu.

Mặc dù Barbara “có thể dịu dàng và lịch sự, nhưng nếu bạn làm điều gì chống đối người khác trong gia đình , lập tức bạn bị xóa sổ,” một cựu đặc vụ nói. “Tôi nhớ nhà Bush có một nhóm bạn thường đến chơi với họ, và một trong số đó khẳng định mình sẽ bầu cho Ross Perot (ứng cử viên tranh chức tổng thống với Bush và Clinton), thể là bà tẩy chai người đó. Tổng thống Bush cản ngăn, ‘Barb à, chỉ là chuyện chính trị mà.’ Nhưng bà khăng khăng, “Làm vậy là không đúng.’ Và nếu có ai đó ly dị vợ để cưới một phụ nữ trẻ hơn, bà cũng không thích điều đó chút nào.”

Chương 17

CON MẮT CỦA NHÀ NGOẠI CẢM

Chạy đua tranh chức tổng thống nhiệm kỳ hai với Bill Clinton của đảng Dân chủ, Bush 41 phải đọc một bài diễn văn vào ngày 17/9/1992, tại một thính phòng ở Enid, Oklahoma. Đặc vụ Norm Jarvis được cử điều tra tình báo trước cuộc viếng thăm. Anh nhận được một cú điện thoại từ một thám tử công tác ở Văn phòng Điều tra Tiểu bang Oklahoma.

Anh thám tử này cho biết một nhà nữ ngoại cảm đã báo với viên cảnh sát đã từng làm việc với bà trong một vụ án sát nhân ở Texas, là bà thấy trước là Tổng thống Bush sắp sửa bị một tên bắn tỉa ám sát.

Rất nhiều người đã gọi về sở Mật Vụ suốt để báo là mình đã thấy trước được tổng thống bị bắn. Họ thường là những người hoang tưởng hay tự thổi phòng. Nhưng trong trường hợp này, anh thám tử bảo với Jarvis là bà ngoại cảm này đã từng giúp cảnh sát tìm ra những thi thể bị chôn giấu và đã cung cấp những đầu mối hữu ích trong việc điều tra tội ác bằng những gì bà thấy trong trí. Anh khẳng định bà là nhà ngoại cảm thứ thiệt. Một điều tra viên hình sự nhiều kinh nghiệm cũng khuyên Jarvis cần để tâm đến bà ta.

Jarvis nhớ đã từng trông thấy bà trên TV. Để đầu tóc như tổ quạ, mang đôi giày bốt kiểu cao bồi, bà báo cho cảnh sát không chỉ thi thể bị chôn giấu để phi tang mà còn nạn nhân bị giết hại như thế nào. Buổi chiều trước cuộc viếng thăm của Bush, Jarvis và cộng sự lái xe đến nhà bà ngoại cảm ở Enid. Bà mới họ vào, và Jarvis nói rõ lý do họ đến gặp. Nhà ngoại cảm khẳng định rằng mình đã nhìn thấy Bush 41 sắp sửa bị ám sát.

Ngay lúc đó, chồng bà về tới, bước vào nhà, nhìn Jarvis, rồi nói, “Bộ bả lại nhìn thấy cái gì nữa phải không?” Jarvis đáp là có. Người đàn ông lắc đầu và bước vào phía sau nhà bếp.

Jarvis gật đầu với cộng sự ngầm bảo anh ta vào trong moi tin của ông chồng. Jarvis có cảm giác là y xem ra không tin tưởng vào những việc làm của bà vợ mình lắm. Anh hỏi nhà ngoại cảm bà thấy gì trong đầu mình. Bà nói tổng thống đang đến thăm Oklahoma: Ông ta sắp sửa xuống máy bay, và bước vào một chiếc limousine.

“Tôi nhìn thấy ông ấy ngồi sau tài xế,” bà nói. “Khi xe chạy dưới một cầu vượt cửa sổ xe bị vỡ nát và ông ấy bị giết chết.” Điều tiếp theo bà ta thấy là Bush đang ở trước nhà mình ở Kennebunkport. Lúc đó, ông không còn làm tổng thống.

“Làm sao ông ấy có thể bị giết rồi tiếp theo bà lại thấy ông ấy không còn làm tổng thống nữa và ở tại Kennebunkport?” Jarvis hỏi bà.

Nhà ngoại cảm không chắc chắn, nhưng khi Jarvis hỏi dồn, bà đưa ra nhiều chi tiết hơn về dự cảm của mình. Khi Bush bước vào chiếc limousine, ông không có mặc áo vét, bà nói. Thay vào đó, ông ta mặc một áo jacket nhẹ và một sơ mi hở cổ.

Jarvis biết rằng khi tổng thống bay trên Không Lực Một, ông luôn luôn bước ra với bộ đồ vét và cà vạt, và trang phục viếng thăm lúc nào cũng là bộ vét và cà vạt. Hơn nữa, khi tổng thống ngồi trong xe limousine, ông không ngồi sau tài xế; ông ngồi bên phải băng sau, chỗ ngồi danh dự.

Ngay lúc đó, cộng sự của Jarvis bước ra khỏi nhà bếp. “Ông ấy nói gì?” Jarvis hỏi. “Hắn nói nếu bà có thấy gì đó, thì ắt nó sẽ xảy ra,” cộng sự trả lời.

Một làn khí lạnh chạy dọc sống lưng Jarvis, anh hỏi người phụ nữ hãy mô tả chiếc limo. Bà nói rất đúng là chiếc xe đang ở tại Enid. Mật Vụ luôn luôn cho xe cộ của họ đến địa điểm tổng thống sẽ viếng thăm trên một phi cơ hàng hóa trước cuộc viếng thăm, cất giữ chúng trong các trạm cứu hỏa hoặc trong các nhà ga máy bay ở phi trường nơi Không Lực Một sẽ đáp xuống. Tại điểm nào chiếc limo được cất giữ chính Jarvis cũng mù tịt.

Jarvis hỏi bà hãy chỉ ra chiếc limo đang ở đâu. Bà nói nó ở căn cứ không lực gần Enid. Anh hỏi liệu bà có thể dẫn anh đến đó không; bà đồng ý.

Khi họ lái xe đến căn cứ, Jarvis hỏi bà một loạt câu hỏi để xem liệu bà có phải biết được địa điểm của xe cộ nhờ qua một phương tiện nào khác ngoài cặp mắt thấu thị của mình: Bà có quen ai làm việc ở căn cứ không? Có ai kể với bà là họ đã trông thấy một máy bay hàng hóa dỡ xuống một chiếc limousine tại căn cứ hay không?

Khi họ lái về phía 5 nhà kho chứa máy bay trong căn cứ, nhà ngoại cảm chỉ dẫn Jarvis. Đến sát một nhà kho, bà bảo Jarvis chạy chậm lại. Bà chỉ nhà kho gần nhất, nói, “Có cái gì trong nhà kho đó.”

“Ý bà là gì?” Jarvis hỏi.

“Có cái gì quan trọng trong nhà kho đó.”

“Được rồi, nhưng không phải chiếc limo chứ?”

“Không,” người phụ nữ nói.

Khi họ lái qua một nhà kho khác, bà nói trong này mới chứa chiếc limo. Rồi bà nhận diện một nhà kho khác chứa một thứ quan trọng nữa.

Jarvis đoán chiếc limo nằm trong nhà cứu hỏa sát đường băng. Hỏi ra mới biết anh đoán sai còn nhà ngoại cảm chỉ đúng. Các đặc vụ canh gác chiếc limo của tổng thống cho đến khi ông bước chân lên đó. Jarvis kiểm tra với họ và biết rằng nhà kho mà nhà ngoại cảm nhận diện có chứa chiếc limo thật ra chứa đến hai chiếc limo của tổng thống.

Jarvis cho người phụ nữ biết là tổng thống thường ngồi ở bên phải. Bà nhất định cho rằng ông sẽ ngồi sau tài xế. Khi bà trở lại xe của Jarvis, anh hỏi sĩ quan đặc trách an ninh cho các chiếc limo có cái gì trong hai nhà kho kia mà nhà ngoại cảm nhận diện là chứa thứ gì đó quan trọng. Anh ta nói một kho chứa Thủy Quân Một  (trực thăng của tổng thống), và kho kia chứa những vật dụng quan trọng khác cho tổng thống trong tình huống khẩn cấp.

Jarvis ngay lập tức báo tin và kể cho các giám sát viên tại bàn trực của Bộ phận Tình báo Mật Vụ ở Washington các tình tiết ly kỳ mà anh đã chứng kiến.

“Các anh chắc đang nghĩ tôi đã bị điên,” anh nói. “Thật ra tôi cũng muốn mình điên vì chẳng thể nào tin là có thật.”

Lúc 1 giờ sáng, Jarvis gọi cho đội trưởng tiền sát và kể lại vắn tắt. Nhưng có điều nhà ngoại cảm hình như đã sai về quần áo Bush mặc và vị trí ông ngồi trên xe, nên họ không mấy quan tâm. Dù vậy, sáng đó trước khi Bush khởi hành đi Oklahoma, đội trưởng tiền sát cũng không quên báo lại cho các trưởng phân đội đóng tại W-16 ở Nhà Trắng về câu chuyện ly kỳ này.

Jarvis sau đó bàn bạc vấn đề với đặc vụ giám sát đoàn xe hộ tống. Anh hỏi liệu lộ trình đoàn xe chở tổng thống có đi dưới một cầu vượt hay không. Đặc vụ bảo rằng có.

“Cậu có thể dự trù một lộ trình khác được không”

“Sao không. Chúng tôi thường phải làm như thế mà,” đặc vụ trả lời.

Sáng hôm đó, Không Lực Một hạ cánh. Được biết dưới mật danh Angel (Thiên thần), Không Lực Một có được tên của nó khi Dwight D. Eisenhower – mật danh Providence (Thượng đế) – là tổng thống. Trước đó, phi cơ được các tổng thống Franklin D. Roosevelt và Harry S. Truman sử dụng được định danh bởi không lực. Vì một kiểm soát viên phi hành lầm lẫn máy bay của tổng thống với máy bay thương mại, các cơ trưởng đề nghị gọi máy bay dùng chở tổng thống là Không Lực Một.

Máy bay tổng thống hiện giờ là chiếc  Boeing 747-200B được George H. W. Bush sử dụng đầu tiên vào năm 1990 khi ông lên làm tổng thống. Nó có tầm bay 9,600 dặm và cao độ tối đa là 45,100 bộ. Nó bay với tốc độ 600 dặm một giờ nhưng có thể đạt tới tốc độ 700 dặm một giờ. Ngoài cơ trưởng, cơ phó, hoa tiêu, và kỹ sư hàng không, chiếc chuyên cơ dài 231 bộ còn chở theo tiếp viên Không Lực Một và 76 hành khách. Trên máy bay có 87 điện thoại.

Trong khi máy bay 747 thông thường có tổng chiều dài dây điện là 485,000 bộ, máy bay tổng thống có đến 1.2 triệu bộ, tất cả dây điện đều được che chắn khỏi xung điện từ có thể   phát ra từ một vụ nổ hạt nhân. Gần phía trước của chiếc chuyên cơ cao 6 tầng, tổng thống có phòng điều hành với phòng ngủ, phòng trang điểm, phong tắm có vòi hoa sen. Tổng thống cũng có văn phòng riêng gần phòng ngủ và phòng ăn kết hợp phòng hội họp. Các khu vực phía sau dành cho nhân viên, đặc vụ, quan khách, và nhà báo.

Không Lực Một và Phòng Bầu Dục Bay

Theo qui định của FAA (Cơ quan Quản trị Hàng không Hoa Kỳ), Không Lực Một ưu tiên hơn tất cả máy bay khác. Khi tiến đến gần một sân bay, nó chiếm quyền ưu tiên của các máy bay khác đến trước nó trong không phận. Trước khi đáp xuống, các đặc vụ trên mặt đất kiểm tra đường băng xem có chất nổ hoặc vật cản nào không, như bánh xe cũ chẳng hạn. Nói chung, 15 hay 20 phút trước khi Không Lực Một đáp xuống, không máy bay nào được đáp xuống đường băng mà nó sắp hạ cánh.

Khi Bush bước ra ngoài khung cửa máy bay để bước xuống thang, Jarvis trố mắt nhìn ông kinh ngạc. Bush không mặc bộ vét. Ông mặc áo jacket và sơ mi hở cổ, giống như nhà ngoại cảm “nhìn thấy”. Jarvis trao đổi ánh mắt với tiền sát viên trưởng cũng đang lộ vẻ sửng sờ trên nét mặt. Rồi Bush bước xuống các bậc thang và ngồi vào chiếc limousine bên phía phải, vị trí quen thuộc của ông. Jarvis nhẹ nhõm. Nhưng sau buổi nói chuyện ngắn ở Enid, Bush mời vài người bạn ngồi với mình trong chiếc limo để lái về sân bay. Họ lên trước – ngồi vào ghế phải, vì thế Bush phải đi vòng và ngồi vào bên trái, ngay phía sau tài xế. Một lần nữa nhà ngoại cảm lại đúng.

Tiền sát viên trưởng quyết rằng nhà ngoại cảm không thể sai. Mặc kệ những ai cho họ là điên rồ và mê tín. An toàn tốt hơn là ân hận, anh và Jarvis cùng nghĩ như vậy.

Tiền sát viên trưởng ra lệnh đoàn xe hộ tống đi theo lộ trình khác, không đi qua cầu vượt. Và Bush không hề hấn gì.  Ngoài ra, sau khi thất cử tổng thống nhiệm kỳ hai trước đối thủ Bill Clinton, Bush trở về Kennebunkport nghỉ ngơi, đúng như hình ảnh cuối cùng nhà ngoại cảm nhìn thấy.

Tổng thống không hề được biết về những gì đã xảy ra.

Chương 18

Eagle

 Các đặc vụ có một danh từ tham khảo mới Giờ Tiêu chuẩn Clinton. Sở dĩ có biệt danh này vì Bill Clinton – mật danh Eagle (Đại bàng) – thường muộn từ 1 đến 2 tiếng.  Đối với Clinton, một lộ trình với những điểm hẹn được lên thời biểu chỉ là các “gợi ý”, cựu đặc vụ William Albracht nói.

Thỉnh thoảng Clinton trễ nải vì ông đang chơi bài heart với nhân viên. Có lúc ông phớt lờ lịch trình vi ông muốn trò chuyện với một bảo vệ hoặc một  nhân viên khách sạn mà ông tình cờ gặp mặt gỡ.

Trở lại tháng 5 1993, Clinton ra lệnh cho Không Lực Một đợi trên đường băng tại sân bay quốc tế Los Angeles trong khi ông cắt tóc. Thợ cắt tóc là Christophe Schatteman ở Beverly Hills, chuyên cắt tóc cho những nhân vật tiếng tăm trong ngành điện ảnh như Nicole Kidman, Goldie Hawn, và Steven Spielberg.

Một nhân viên trên Không Lực Một kể: Chúng tôi bay từ San Diego đến Los Angeles để đón ông. Một gã nào đó xuất hiện, nói rằng y đến để cắt tóc cho tổng thống. Christophe cắt tóc xong và chúng tôi cất cánh. Chúng tôi ở trên mặt đất gần một tiếng.

Trong khi Clinton cắt tóc trên máy bay, 2 đường băng của sân bay tạm đóng lại. Điều này có nghĩa tất cả các chuyến bay đến và đi đều phải dừng lại, hành khách trên cả nước đều bực bội.

Báo chí đăng tin giá cắt tóc là 200 đô, đó là giá Christophe tính tại tiệm của y cho mỗi lần cắt tại thời điểm đó. Nhưng một nhân viên Không Lực Một cho biết giá Christophe tính trên máy bay là 500 đô, bằng 750 đô theo thời giá bây giờ điều chỉnh theo mức lạm phát. Tiền này do quỹ đảng Dân chủ trả.

Khi hay tin về những chuyến bay bị đình hoãn, Clinton biểu lộ sự tức giận với các nhân viên về việc bày ra cắt tóc. Nhưng chính tóc ông được cắt kia mà, và chính ông đã ra lệnh hoãn lại chuyến bay. Là tổng thống, ắt ông phải biết nếu Không Lực Một đỗ trên đường băng, việc lưu thông máy bay trên đường băng đó phải dừng lại.

Nếu Clinton thường trễ nải, thì Hillary Clinton có thể khiến Richard Nixon thành ra tử tế. Mọi nhân viên nhớ lại chuyện gì xảy ra khi Christopher B. Emery, một tiếp viên Nhà Trắng, phạm cái tội là trả lời điện thoại của Barbara Bush sau khi bà rời Nhà Trắng. Emery đã hướng dẫn Barbara cách sử dụng laptop. Hiện giờ bà đang gặp rắc rối, nên điện thoại hỏi Emery. Hai lần Emery hướng dẫn bà qua điện thoại. Vì việc đó, Hillary đuổi việc ông ta.

Là cha của bốn đứa con, Emery không thể xin được việc làm khác trong suốt một năm trời. Theo W. David Watkins, một phụ tá tổng thống về quản trị, Hillary cũng đứng đằng sau việc đuổi hàng loạt những nhân viên lo về việc đi lại của Nhà Trắng.

Khi Hillary thấy một thợ điện Nhà Trắng xui xẻo đang đứng trên thang  thay bóng đèn trong khu vực cư ngụ, bà liền quát tháo ông vì bà đã ra lệnh mọi việc sửa chữa chỉ được tiến hành khi đệ nhất gia đình đi ra ngoài.

“Khi bà đứng trước ánh đèn, bà rực sáng lên, và khi hết ánh sáng và quay đi khỏi đó, bà trở thành một con người khác,” một đặc vụ trong phân đội bảo vệ bà nói. “Bà hay nổi nóng và cứng rắn với nhân viên. Bà la hét họ và hay cằn nhằn.”

Trong tự truyện Chuyện Đời, Hillary Clinton nói về lòng biết ơn của mình đối với các nhân viên Nhà Trắng. Sự thật là, theo lời một đặc vụ, “Hillary không hề nói chuyện với chúng tôi. Chúng tôi ở với bà hàng năm trời nhưng chưa hề nghe bà nói lời cảm ơn.”

Vị trí hiện thời của tổng thống được hiển thị bởi một hộp điện tử tại các văn phòng chủ chốt trong Nhà Trắng và Cục Mật Vụ. Ông ta được lên danh sách với tên POTUS. Gọi là máy định vị bảo vệ, hộp cũng hiển thị vị trí của đệ nhất phu nhân (FLOTUS), phó tổng thống (VPOTUS), và những con cái của tổng thống và phó tổng thống. Nếu họ không ở Washington, hộp định vị hiển thị thành phố họ đang ở. Ngoài ra, các sĩ quan Bộ phận Đồng phục ở Nhà Trắng cập nhật với nhau bằng điện đài về vị trí của tổng thống và đệ nhất phu nhân bên trong Tòa nhà Hành pháp (Nhà Trắng).

Khi Clinton ở trong Nhà Trắng, một cựu sĩ quan Bộ phận Đồng phục nói, hơi buồn cười khi trên điện đài cho biết bà đi đến đâu đó, thì một lát sau nghe tin ông cũng đến đó, và mỗi lần ông đi đến bà, bà lại bỏ ra chỗ khác.

Như hầu hết tổng thống, Clinton thích thú khi được tiếp đón người hâm mộ. Một buổi chiều, ông phải đến dự một buổi họp mặt trung học ở Little Rock. Mật Vụ đã niêm phong tầng của phòng tổng thống ở khách sạn và đã kiểm tra các nhân viên khách sạn được phép làm việc trên tầng đó. Hai cô bồi phòng đã được khám xét xin đặc vụ cho mình nán lại ở cuối hành lang để nhìn tận mắt Clinton khi ông xuống dưới đoàn xe hộ tống. Đã muộn, nhưng khi thấy hai phụ nữ vẫy tay chào mình, Clinton tiến về cuối hành lang và chuyện trò với họ.

Họ vô cùng phấn khích khi được vinh hạnh tiếp chuyện với nhà lãnh đạo của thế giới tự do trong ba phút. Họ cám ơn đặc vụ rối rít đã cho họ cơ hội vinh dự đó.

Clinton không chỉ thích tiếp đón dân chúng mà còn có năng khiếu nhớ những người ông đã gặp. Sau một cuộc diễn thuyết ở New York, Clinton đang bắt tay mọi người. Các đặc vụ chú ý một bồi bàn đang nhìn ông và tiến gần hơn về phía ông. Clinton nhìn thấy y liền gọi tên. Tổng thống bắt tay y và hỏi thăm ba của y. Anh bồi bàn mắt đỏ hoe bảo rằng cha mình đã qua đời. An ủi y, Clinton quay qua một phụ tá, cho biết cha của người bồi bàn mắc bệnh ung thư.

Albracht nói, “Khi các tổng thống gặp gỡ đám đông, họ hình như tiếp nhận năng lượng từ dân chúng chìa tay ra xiết lấy tay họ. Họ có thể mệt nhoài sau một ngày dài di chuyển và hoạt động, nhưng khi chạm đến sợi thừng giăng ngang chận các đám đông đứng chờ gặp tổng thống, là họ lại được tiếp thêm năng lượng và hưng phấn trở lại. Tôi đã chứng kiến hiện tượng ấy hết lần này đến lần khác. Nhưng hình như đối với Clinton tác dụng mạnh mẽ hơn cả.”

Clinton thích chạy bộ, đặt ra những vấn đề an ninh phải tiên liệu. Theo Dowling, người đứng ở vị trí thứ hai trong phân đội Clinton, luôn có người đứng đợi ông chạy bộ mỗi buổi sáng. Ông thì tốt rồi nhưng thành thật mà nói, đối với chúng tôi, đó là những vị khách không mong muốn. Họ chưa được tầm soát; chúng tôi không rõ họ là ai. Họ cố trao tay ông những chai nước, chúng tôi thực sự quan tâm đến việc đó. Nếu tổng thống chạy đến Thương xá mỗi ngày theo đúng giờ giấc, ông dễ làm mồi cho nhóm khủng bố, chỉ cần gài một một quả bom trong thùng rác. Nếu ông không chạy hôm đó, chúng chỉ cần mang bom về và trở lại lần sau. Việc này đưa ra một mối đe doạ mới mà chúng tôi chưa từng biết trước đây.

Mật Vụ thảo luận việc này với Clinton, nhưng ông tiếp tục chạy. Tình hình thay đổi sau khi ông ngã xuống lúc bước xuống cầu thang tại sân gôn Greg Norman ở Florida vào những giờ đầu sáng sớm ngày 14/3/1997. Trung tâm Hoạt động Phối hợp Mật Vụ đánh thức Norm Jarvis tại nhà và yêu cầu anh liên lạc với Trung tâm Y khoa Hải quân Quốc gia ở Bethesda, Maryland, để tiến hành giải phẫu đầu gối phải của tổng thống nối lại dây chằng bị đứt.

Giữa sáng hôm đó, Clinton  từ Căn cứ Không Lực Andrews đến bệnh viện trên đoàn xe hộ tống. Jarvis sắp xếp một đặc vụ đứng trực trong phòng mổ trong suốt cuộc giải phẫu.

“Tôi không chắc họ có biết chúng tôi giấu súng dưới lớp áo giải phẫu không, nhưng những dụng cụ mổ xẻ bén nhọn quá gần tổng thống – cho dù trong tay một bác sĩ quân y đáng tin cậy – cũng cần một công cụ đối phó trong tay một đặc vụ đáng tin cậy,” Jarvis nói.

Bác sĩ của Clinton, Đô đốc  E. “Connie” Mariano, người đi theo tổng thống, giám sát cuộc phẫu thuật. Nhưng Jarvis giật mình khi nhìn thấy một hàng dài trật tự gồm một tá bác sĩ trong phòng mổ đợi đến lượt mình bước lên và làm phần việc tái tạo đầu gối.

“Mỗi người có y cụ khác nhau, ống thông, gậy dò, dao đủ loại, kéo, cưa, đợi đến lượt mình để chọc, cắt, xẻ, cưa. . . để có thể tự hào mình đã giải phẫu cho tổng thống Hoa Kỳ. Đối với nhiều người, được dịp tiếp xúc với tổng thống, nhất là trong tình huống thi thố này là điểm sáng của sự nghiệp họ,” Jarvis nói. “Sau khi đã cho thuốc mê, bác sĩ giải phẫu đầu tiên lãnh việc cắt xẻ. Người thứ hai vạch ra dây chằng. Rồi người khác cắt dây chằng để làm bằng phẳng phần còn lại đã rách tươm. Một bác sĩ khác rửa sạch và cắt mở nắp đầu gối. Và cứ thế hàng giờ.”

Clinton đối mặt với khoảng tám tuần đi nạng và hàng tháng tập vật lý trị liệu. Ông phải mang nẹp bó chân điều chỉnh được để giới hạn sự di chuyển của đầu gối. Sau sự cố đó, Clinton thôi chạy bộ và sử dụng máy tập ở nhà.

Trong lúc này, Mật Vụ phải cố học cách thích ứng với phong cách của Clinton.

Theo lời Jarvis, tổng thống Clinton, khi nhìn thấy đám đông tụ tập sau sợi dây thừng giăng ngang giới hạn khu vực an ninh, đợi để được nhìn mặt ông, là ông liền bước phăng tới bắt tay họ. Tất nhiên tình huống đột xuất này khiến chúng tôi cuống cuồng, phải lập tức triển khai phương án “dây thừng”. Trong phương án này, có đặc vụ đi trước tổng thống và theo hướng di chuyển của tổng thống, tiếp theo là tổng thống, và rồi những đặc vụ khác khóa đuôi, cùng một số gần đó.

Có lần, trong một dịp như thế, Jarvis nhác thấy một phụ nữ hai bàn tay dấu dưới áo khoác. Điều nổi bật là trong khi mọi người đều nhìn tổng thống, vổ tay, la hét, tươi cười, thì cô ta nhìn xuống và gương mặt ngượng nghịu, bối rối.

Jarvis kể tiếp, “Tổng thống  cách chúng tôi hai cánh tay. Tôi ra dấu  cho kíp trưởng biết có vấn đề, và nhanh chóng ôm xiết người phụ nữ này vì không có thì giờ lục soát người cô.”

Jarvis vẫn ôm chặt cô ta cho đến khi  đặc vụ và tổng thống đã đi qua anh. “Cô ta giật mình, nhưng tôi nhất định ghì chặt không để cô ta rút tay ra khỏi áo khoác, đợi có thêm người đến. Và rồi đội tình báo bảo vệ đứng gần đó đến hỗ trợ.”

Đội thẩm vấn người phụ nữ tình nghi. Cô ta không có vũ khí nhưng đội nhanh chóng xác định cô ta bị tâm thần. Trong những tình huống khẩn trương như thế, đặc vụ cần đưa ra quyết định đáp ứng cấp kỳ, và chẳng thà hành động có vẻ hơi quá đáng nhưng còn hơn hứng chịu một thảm họa không lường trước được hậu quả.

Vào buổi sáng chủ nhật, ngày 26/2/1995, đặc vụ Dowling đọc được trong tạp chí Parade một mục có tựa đề Diễn đàn Nhân Vật và  biết rằng tổng thống gặp rắc rối. Mục này hỏi “có bao nhiêu sự thật trong những lời đồn rỉ tai từ Washington cho rằng Bill Clinton vẫn còn tình ái lăng nhăng bất trị.” Và cũng đưa ra câu trả lời, “Nếu có chứng cứ vững chắc nào về việc tổng thống Hoa Kỳ là người lăng nhăng, bạn có thể chắc chắn rằng nó sẽ xuất hiện lúc này trên phương tiện truyền thông. Những ngày mà cơ quan báo chí Nhà Trắng tôn trọng sự riêng tư của tổng thống và phớt lờ những hoạt động ngoại hôn của ông ta  – như đối với tổng thống Kennedy – đã qua từ lâu rồi.”

Nhục nhã hơn cho Mật Vụ, bài báo tiếp tục: “Những người trong cuộc nói rằng những tin đồn dâm ô về Bill Clinton thường xuất phát từ các đặc vụ, vốn có thể đang hiềm khích với đệ nhất phu nhân. Bà được cho là nghi ngờ một số đặc vụ rình mò đời tư và muốn chia cách vợ chồng bà. Một đặc vụ gần đây còn loan tin là bà Clinton đã quá mệt mỏi với thói trăng hoa của chồng nên hăm dọa tìm cách ly dị và tranh với chồng chức đại diện phe dân chủ làm ứng cử viên tổng thống vào năm 1996. Không ai tin câu chuyện vu khống đó, nhưng khổ thay nó len lỏi vào cỗ máy đàm tiếu Washington.”

Dowling, đặc vụ phụ tá đặc biệt trong phân đội Clinton, làm việc vào chủ nhật đó. Nhà Clinton đang đi lễ nhà thờ, và tổng thống không nói gì với anh về bài viết trong Parade. Tuy nhiên, hai giờ sau, khi Dowling đang ở văn phòng tại Phòng 62 trong Nhà Trắng thì chuông điện thoại reo.

“Ông Dowling, xin chờ máy tổng thống gọi,” một tổng đài viên Nhà Trắng nói. 

“Cậu có đọc tạp chí Parade sáng nay không?” Clinton hỏi.

“Có, thưa ngài,” Dowling đáp. “Tôi rất bức xúc về bài viết đó.”

“Chuyện đó xảy ra quá thường, khi cho là dường như Mật Vụ đã nói chuyện này,” Clinton nói.

“Lần đầu tiên trong nghề, thưa tổng thống, cho phép tôi bảo vệ danh dự của chúng tôi liên quan đến khả năng giữ gìn chuyện  đời tư của gia đình những người chúng tôi bảo vệ,” Dowling nói. “Nhưng hãy suy nghĩ một giây về chuyện này. Ngài nghĩ nếu chúng tôi có nói điều gì đó, chúng tôi có thể nào nói một điều lố bịch như thế không? Như việc phu nhân tranh chức với ngài?”

“Vâng, cậu nói đúng,” Clinton nói.

Thật ra, nhiều chuyện đồn thổi không đúng với sự thật. Hillary không hề ném chiếc đèn bàn vào Bill, Mật Vụ không thấy có biểu lộ gì cho thấy bà là người đồng tính, và Bill không bao giờ rời Nhà Trắng để đến thăm bồ tại khách sạn Marroitt như lời đồn. Nhưng vào ngày 17/8/1998, Bill Clinton khai tại Phòng Bản đồ ở Nhà Trắng trên kênh truyền hình quốc gia về mối quan hệ của ông với thực tập sinh Nhà Trắng Monica Lewinsky. “Thật ra  tôi có mối quan hệ không thích đáng với cô Lewinsky. Đúng là điều đó là sai quấy,” Clinton nói.

Ngay hôm sau, nhà Clinton đáp Không Lực Một đi về Vườn Nho của Martha.

“Tôi đang ở Vườn Nho Martha ngày sau khi ông cung khai trên TV quốc gia về toàn bộ vụ tai tiếng với Monica Lewinsky,” Albracht nói. Trong khi Albracht đang trực ở trạm chỉ huy, thì Hillary gọi cho anh, hỏi, “Ổng đâu rồi?

“Thưa bà, tổng thống đang ra phố ngay lúc này. Tôi nghĩ là ông vừa đến quán Starbuck.”

“Hãy xác minh,” Hillary nói. Albracht làm theo và Hillary ra lệnh cho anh hãy bảo tổng thống “về nhà ngay, và tôi nhấn mạnh là ngay lập tức.”

Ôi trời ơi, Clinton thích giao lưu với dân chúng, thích chơi gôn, còn bà thì không ưa món nào cả. Clinton phải cấm cố trong khu Vườn Nho Martha như một hình phạt cho tội ông đã phạm với bà.

Trước mặt công chúng, Hillary lúc nào cũng tươi cười và lịch lãm. Nhưng khi máy quay phim bỏ đi, cá tính bốc hỏa của bà liền bộc lộ. Công khai, Hillary – mật danh Evergreen – ve vãn các tổ chức chấp pháp, nhưng bà không ưa cảnh sát ở gần bà. Bà cũng không muốn Mật Vụ bảo vệ ở gần. Bà muốn bình sĩ tiểu bang và cảnh sát khu vực mặc vét và đi xe không đặc chủng. Nếu có tình huống xảy ra, có thể thành một vấn đề lớn. Dân chúng không biết có cảnh sát trong khu vực trừ khi có cảnh sát mặc sắc phục và đi xe cảnh sát. Nếu  không biết có cảnh sát hiện diện, dân chúng có thể gây hỗn loạn.

Các nhân viên chiến dịch tranh cử cho Hillary (chống lại Obama để đại diện đảng Dân chủ làm ứng viên tổng thống)  lên kế hoạch thăm một câu lạc bộ 4-H trong khu vực nuôi bò sữa ở tiểu bang New York. Khi họ tiến gần đến địa điểm sự kiện được tổ chức ngoài trời và bà thấy những người mặc quần jean và chung quanh toàn bò là bò, Hillary nổi cơn thịnh nộ.

Bà quay sang nhân viên và nói, “Làm cái quái gì chúng ta phải đến đây vậy? Ở đây không có tiền.”

Trái với Hillary, từ khi rời Nhà Trắng, Bill Clinton “rất thân thiện với các đặc vụ,” một đặc vụ nói. “Theo tôi, chỉ khi ra khỏi Nhà Trắng ông mới nhận ra chúng tôi là tất cả những gì ông có được, và ông đối xử với bọn này thực đẹp.”

Cho đến năm 1997, các cựu tổng thống được sự che chở của Mật Vụ đến suốt đời, người hôn phối của họ cũng vậy, nếu họ không tái giá. Tuy nhiên, từ năm 1997 về sau quốc hội quyết định chỉ tiếp tục bảo vệ cựu tổng thống  nhiều nhất là 10 năm kể từ ngày rời bỏ chức vụ. Bill Clinton là vị tổng thống đầu tiên chấm dứt được bảo vệ sau 10 năm. Con cái của cựu tổng thống được bảo vệ đến năm 16 tuổi. Vào tháng 9 2008, Quốc hội thông qua đạo luật kéo dài thời gian bảo vệ phó tổng thống, vợ, và con cái dưới 16 tuổi đến 6 tháng sau khi rời chức vụ.

Bổ sung

Gormley, tác giả The Death of American Virtue: Clinton vs Starr (Cái Chết của Đức Hạnh Mỹ: Clinton chống Starr), tiết lộ trong cuốn sách ông rằng Clinton đã thoát chết trong gang tấc trong âm mưu ám sát ở Philippin vào tháng 11 1996. Trong chuyến viếng thăm diễn đàn Hợp Tác Kinh Tế Á châu-Thái Bình Dương (APEC) tổ chức ở Manila, khi ông trên đường đến gặp một thành viên cao cấp của chính quyền Philippin, Clinton được giải cứu vài phút trước khi đoàn xe hộ tống ông theo lịch trình sẽ vượt qua một cây cầu có gài thiết bị nổ tự tạo có định giờ (IED). Theo các viên chức, IED đủ lớn có thể “làm nổ tung toàn bộ đoàn xe tổng thống”. Những chi tiết của âm mưu được Lewis C. Merlett, cựu đặc vụ bảo vệ Clinton và Giám đốc Cục Mật Vụ  tiết lộ cho Gormley biết. Các nhân viên tình báo chận được một tin điện cho biết có một bánh cưới dưới một cây cầu. Tin này đánh động Merletti và những người khác vì đoàn xe Clinton theo dự kiến sẽ đi qua một cây cầu chính ở khu buôn bán Manila. Thêm một lần nữa, từ “cưới” là mật hiệu được bọn khủng bố sử dụng trong vụ ám sát ở quá khứ. Merletti muốn thay đổi lộ trình, nhưng lộ trình mới phải mất thêm 45 phút thời gian đi. Clinton rất bực tức vì đã muộn cho cuộc họp, nhưng ông cũng nghe theo lời khuyên của đặc vụ. Nhờ đó có thể đã cứu được mạng sống của ông. Hai quả bom khác đã được phát hiện ở Manila vào đầu tuần cho thấy mức độ đe doạ ngày hôm đó rất cao. Nhân viên an ninh tại Phi trường Quốc tế Manila cũng phát hiện một số lựu đạn và thiết bị định giờ trong một túi du lịch. Các viên chức cũng khám phát một quả bom gần một căn cứ hải quân Mỹ chủ chốt. Tổng thống dự kiến đến thăm cả hai địa điểm này vào cuối tuần. Một cuộc điều tra sâu rộng được tiến hành về các sự kiện này và người ta phát hiện ra rằng nhóm khủng bố đứng đằng sau vụ đặt bom ở cầu là nhóm khủng bố của Ả rập Saudi ở Afghanistan được biết dưới tên al-Qaeda và âm mưu được thiết kế bởi tổ sư khủng bố Osama bin Laden. Chỉ đến gần đây, âm mưu ám hại bất thành từ trước được xem là tối mật này mới được biết đến.


(Còn tiếp)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s