Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo không?

Côn Đảo

Bản đồ Côn Đảo của D’Après de Mannevillette do Robt. Sayer & Jno. Bennett phát hành tại Luân Đôn, năm 1778.

Trần Thanh Ái

Gần đây, có một số bài báo đăng trên một số diễn đàn học thuật trong nước đặt lại vấn đề Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo vào năm 1783 hay không, và sau một số lập luận, họ kết luận là “tháng 6 năm Quý Mão (1783) Nguyễn Ánh không chạy ra Côn Lôn có tên là Côn Đảo ngày nay” (Nguyễn Đắc Xuân, 2009, tr. 118). Để tìm hiểu kỹ hơn về sự kiện lịch sử này, chúng tôi sẽ điểm lại những lập luận của các nhà nghiên cứu phủ nhận sự việc Nguyễn Ánh ra Côn Đảo, đồng thời sẽ cố gắng lần ra manh mối những tình tiết trong sự kiện này.

  1. Những bài viết nêu nghi vấn về sự kiện Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo

Có lẽ Đỗ Đình Nghiêm là một trong những tác giả người Việt đầu tiên không tin rằng năm 1783 Nguyễn Ánh đã chạy ra ẩn náo ở Côn Đảo. Ngày 18 tháng 1 năm 1924, ông có một bài diễn thuyết dài ở Hội Trí Tri và sau đó tạp chí Nam Phong đăng lại toàn văn trong số 79, Janvier 1924 từ trang 13 đến trang 29 với tựa “Một đoạn lịch sử nước nhà. Đức Cao Hoàng và ông Giám mục Bá Đa Lộc”. Để soạn bài diễn thuyết, ông có nói rõ là ông dựa vào “quyển Nam sử cận cổ thời của quan tiến sĩ Maybon và mấy đoạn sách khác nữa”. Khi đề cập đến lần bôn ba ra Phú Quốc năm 1783 của Nguyễn Ánh, ông viết:

“Ngài sai đưa gia quyến ra Phú Quốc rồi ngài đến sau. Nhưng chẳng may được vài tháng quân Tây Sơn dò được; nhờ có một người cận thần tận tâm giúp đỡ, ngài mới thoát nạn. Ngài trốn ra cù lao Kok-Rong. Nhưng đến tháng bảy Nguyễn Văn Huệ lại đen thuyền đến vây cả cù lao ba vòng; may mắn có một cơn giông rất to nổi lên, sấm sét ầm ầm, trời tối sập lại, song bể nổi lên, thuyền giặc vừa trôi vừa đắm rất nhiều, thuyền đức Cao hoàng nhân thế mới ra khỏi vòng vây. Ngài lại chạy ra cù lao Kok-kút, đợi đến khi bể hơi yên lại về Phú Quốc.” (Đỗ Đình Nghiêm, 1924, tr. 18).

Trong bài diễn thuyết, tác giả không hề nhắc đến những tài liệu chính thống do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, như bộ Đại Nam thực lục, mà Maybon cũng đã tham khảo để viết tài liệu nói trên, như thế vô hình trung cho rằng suy luận của “quan tiến sĩ” này là tuyệt đối đúng, không còn gì phải bàn cãi nữa !

Gần 20 năm sau, người ta đọc thấy trên tạp chí Tri Tân (số 56 năm 1942) “Một bức thư Huế” do Dương Kỵ viết để lưu ý tác giả Long Điền về các bài viết trước đó (đăng trên các số báo 50 và 51) liên quan đến những lần thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc của Nguyễn Ánh. Trong thư, ông nhắc lại sự kiện ấy cùng với hoài nghi về tính chính xác của Quốc sử Quán triều Nguyễn.

“Nhưng chúng tôi thiết nghĩ Côn-lôn khi bấy giờ thuộc về hải phận của Tây Sơn, ở phía Đông giốc Cà Mâu. Đảo Phú-quốc ở phía Tây giốc ấy, hai đảo cũng khá xa nhau. Bảo rằng Chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn, nhuệ khí đương mãnh liệt, thuyền bè nhiều và khí cụ đủ, rượt đuổi thế mà ngài có thể chạy khỏi bị bắt từ Phú Quốc đến Côn-lôn, từ Côn-lôn đến Cổ Cốt, rồi lại đến Phú Quốc thì e không được đúng” (Dương Kỵ 1942, tr.9)

Nghi vấn của Dương Kỵ dựa trên suy luận rằng trong điều kiện cực kỳ khó khăn, Nguyễn Ánh không thể làm một lộ trình xa xôi Phú Quốc – Côn Lôn – Cổ Cốt – Phú Quốc. Như thể nhận thấy suy luận như thế chưa đủ thuyết phục, ông củng cố phản biện của mình bằng cách dựa vào nhận xét của Pelliot về lịch sử tên gọi K’ouen-louen mà người Việt thời ấy thường gọi là Côn Lôn:

“Huống nữa, các nhà viết sử ta hồi bấy giờ thường hay lạm dụng chữ Côn-lôn mà chỉ các hòn đảo. Quan sát về việc này, ông Pelliot đã nói: ‘nhan nhản nhiều chỗ, người ta cứ để Côn-lôn’ (On a mis des K’ouen-louen un peu partout (2). Nên vì thói quen, khi dịch hai chữ Cao-man ‘Koh-rong’, nhà làm sử ta không ngần ngại mà để Côn-lôn. […]…các nhà làm sử ta nghe thổ dân bảo hòn đảo ấy tên là Koh-rong, liền do thói quen ấy viết thành Côn-lôn (Kon-long: Kon long) vậy.” (Dương Kỵ, 1942, tr. 9)

Ít lâu sau đó, trong số 67 cũng của tạp chí Tri Tân, tác giả Long Điền đã hoan hỉ tiếp nhận sự góp ý của Dương Kỵ, và nhanh nhảu công nhận sự đúng đắn của Maybon cũng như xem nguồn tài liệu bằng chữ hán và chữ quốc âm là không đáng tin cậy:

“Từ xưa đến nay, trước tôi, có nhiều soạn giả viết sách hán và quốc âm đã nhận lầm chỗ đó như: 1. Quốc triều chánh biên toát yếu, trang 12; 2 Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim trang 94; 3 Việt Nam Tây thuộc sử, trang 47. Duy có ông Đỗ Đình Nghiêm có soạn một bài diễn thuyết ‘Một đoạn lịch sử nước nhà – Đức Cao Hoàng và ông Giám mục Bá Đa Lộc – diễn ở hội Trí Tri Hà Nội ngày 18 janvier 1924, may ông không lấy tài liệu ở các sách chữ hán và chữ quốc âm, mà chắc ông lấy tài liệu ở Histoire moderne du Pays d’Annam (1592-1820) của ông Charles B.- Maybon, nên ông không lầm.” (Long Điền 1942, tr. 14-15)

Long Điền không hề biết rằng khi trích dẫn Pelliot, Dương Kỵ không trích dẫn từ tài liệu gốc, mà trích lại từ tài liệu của Maybon (ghi ở chú thích (2) bên dưới bức thư Huế) mà không hề kiểm tra lại; việc “trích lại” này được phát hiện vì nó lặp lại sai sót của Maybon về thông tin tài liệu được trích dẫn (năm xuất bản, trang). Nhưng nếu chỉ có sai sót liên quan đến các thông tin ấy thì cũng không đáng để nói nhiều. Vấn đề là Maybon đã cắt xén đoạn trích để làm cho người đọc dễ dàng chấp nhận giả thuyết của mình, và do đó, Dương Kỵ vô tình trở thành người truyền bá sự cắt xén của Maybon! Chúng tôi sẽ nói rõ hơn về sai sót này trong phần sau của bài viết.

Gần đây một số tác giả hâm nóng lại nghi vấn Nguyễn Ánh có ra Côn Đảo không. Nguyễn Đắc Xuân cho rằng một số chi tiết trong Đại Nam thực lục là không hợp lý:

“Chu vi Côn Đảo (hòn đảo lớn) trên 30km. Tài liệu 1 [Đại Nam thực lục chính biên] viết, quân của “Trương Văn Đa vây ba vòng” tức gần hơn 90km (gần bằng đoạn đường quốc lộ Huế-Đà Nẵng). Muốn vây bắt Nguyễn Ánh ít nhất mỗi km có khoảng 10 thuyền chiến, tức đội thủy quân của Trương Văn Đa đã đưa ra đảo Côn Lôn tháng 7-1783 có đến 900 thuyền (90km X 10 thuyền chiến). (Nguyễn Đắc Xuân, 2009, tr. 115)

Từ nghi vấn ấy, tác giả này suy luận rằng Nguyễn Ánh không lánh nạn ở Côn Đảo, mà ở một hòn đảo nhỏ nào đó gần Phú Quốc hơn:

“Phải chăng hòn đảo được tài liệu 1 và 2 [Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim] đề cập trên có tên là Côn Lôn hay Côn Nôn nhưng không phải là Côn Lôn được gọi là Côn Đảo mà là một hòn đảo nhỏ hơn nhiều lần so với Côn Đảo ngày nay?” (Nguyễn Đắc Xuân, 2009, tr. 115)

Một tác giả khác là Nguyễn Thanh Lợi cũng dựa vào lập luận của Maybon như nhiều tác giả khác để cho rằng Nguyễn Ánh chạy ra đảo Koh Rong để trú ẩn chớ không phải Côn Đảo. Thậm chí, tác giả này còn đi xa hơn khi pha trộn những chi tiết thiếu chứng cứ trích từ quyển Nhà Tây Sơn của Quách Tấn & Quách Giao, cùng với những cảm nhận chủ quan lẫn lộn trong những sự kiện khách quan, một cách làm không được chấp nhận trong nghiên cứu khoa học:

“Theo thư của Bá Đa Lộc ngày 20/3/1785, Trương Văn Đa đánh Nguyễn Ánh ở đảo Cổ Long (NTL nhấn mạnh) 5 ngày sau khi hai giáo sĩ Tây Ban Nha bị quân Tây Sơn bắt và theo thư của cố đạo Việt Nam André Tôn thì hai giáo sĩ Tây Ban Nha bị bắt ngày 13/8/1783. Nên có thể Trương Văn Đa đánh đảo Cổ Long ngày 18/8/1783 (Thư André Tôn viết ở Sa Đéc ngày 1/7/1784, trong Lettres édifiantes et curieuses, Paris, 1843, tome VI, p.624).[23]” (Nguyễn Thanh Lợi, 2014)

Tác giả cho biết ở chú thích [23] là đoạn trích trên đây được lấy từ tài liệu “Quách Tấn, Quách Giao, Nhà Tây Sơn, Sở Văn hóa và Thông tin Nghĩa Bình, 1988”, và tác giả “dẫn theo Nguyễn Đắc Xuân, Bđd, tr.117.”

Thứ nhất, trong thư của Bá Đa Lộc ngày 20 tháng 3 năm 1785 không hề nhắc đến tên Trương Văn Đa, cũng không hề đề cập đến việc Trương Văn Đa đánh Nguyễn Ánh ở đâu cả, mà chỉ nói chung chung là “Bốn hoặc năm ngày sau khi hai giáo sĩ Tây Ban Nha bị quân Tây Sơn bắt, nhà vua còn phải chiến đấu với quân phiến loạn với cả lực lượng thủy quân còn sót lại, và ông đã thua trận” (Nouvelles Lettres, 1821, tr. 426). Vì thế, câu “có thể Trương Văn Đa đánh đảo Cổ Long ngày 18/8/1783” là cách viết nhập nhèm khiến người đọc nghĩ rằng việc đánh đảo Cổ Long là một sự kiện đã được xác minh chứ không phải là một suy luận.

Thứ hai, quyển “Lettres édifiantes et curieuses, Paris, 1843, tome VI” chỉ có 488 trang, do đó không thể có trang 624 như trích dẫn và do đó cũng không thể có thư của André Tôn[1]. Thứ ba, trong bài viết của Nguyễn Đắc Xuân mà tác giả đã nêu cũng không đề cập đến thư của hai nhà truyền giáo này.

Tóm lại, các tác giả trên đây nghi vấn là Côn Lôn được Quốc sử quán triêu Nguyễn ghi (hay Côn Nôn trong một số tài liệu khác) không phải là Côn Đảo ngày nay. Nói các khác, họ cho rằng năm 1783 Nguyễn Ánh chạy ra một đảo nào đó chứ không phải Côn Đảo. Thế là họ nhanh chóng đồng ý với giả thuyết của Maybon để quả quyết rằng Côn Lôn đó chính là đảo Koh Rong nằm trong hải phận Campuchia ngày nay!

Thật ra, các tài liệu nói trên đều không có nêu ra nghi vấn nào mới mẻ, mà chỉ nhắc lại những gì mà Ch. Maybon đã viết, đều dựa vào suy luận về khoảng đường di chuyển của Nguyễn Ánh, về khả năng bao vây 3 vòng Côn Đảo, và về sự mơ hồ của tên gọi Côn Lôn trong các tài liệu viết bằng chữ hán mà Ch. Maybon đã nêu ra. Tưởng cũng nên nói thêm là, ngay sau “Bức thư Huế” của Dương Kỵ được công bố, thì Lê Thọ Xuân cũng viết bài “Chúa Nguyễn Ánh có chạy thấu Côn Lôn không?” để tranh luận với Dương Kỵ, và được đăng trên tạp chí Tri Tân, số 61 (1942). Thế nhưng sau đó Dương Kỵ không có phản hồi về bài viết này, còn Long Điền thì khi đọc được ý kiến phản bác của Dương Kỵ, rồi vội vàng kết luận là Maybon nói đúng. Các nhà nghiên cứu sau này cũng chỉ quan tâm đến những tác giả dựa vào Maybon để phản bác Quốc sử quán triều Nguyễn. Vậy Maybon đã viết gì mà nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam bị thuyết phục đến thế?

  1. Charles Maybon đã đặt lại vấn đề như thế nào?

Maybon không phải là học giả phương Tây đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử Việt Nam: trước ông đã có rất nhiều người, có cả giáo sư đại học tìm hiểu về Việt Nam nói riêng và Đông dương nói chung. Nhưng Maybon là người phương Tây đầu tiên đặt lại vấn đề Nguyễn Ánh đã ra Côn Đảo hay ra đảo nào khác để tránh sự truy kích của quân Tây Sơn năm 1783. Ông cũng là người đầu tiên làm luận án tiến sĩ về lịch sử Việt Nam. Năm 1909, ông cùng với Russier biên soạn tài liệu Notions d’histoire d’Annam nhằm cung cấp cho độc giả kiến thức sơ lược về lịch sử Việt Nam. Năm 1910 ông biên soạn tài liệu Lectures sur l’Histoire Moderne et Contemporaine de Pays D’Annam de 1428 à 1926 trong đó ông trình bày lịch sử Việt Nam dưới dạng các bài đọc tham khảo. Đến năm 1919 ông phát triển những ý tưởng đã viết trước đó thành luận án tiến sĩ, và được Plon (Paris) xuất bản thành sách với tựa đề Histoire moderne du pays d’Annam (1592-1820) kèm theo tiểu tựa Etude sur les premiers rapports des européens et des annamites et sur l’établissement de la dynastie annamite des Nguyễn[2]. Vì tài liệu thứ ba là kết quả của nhiều năm nghiên cứu công phu có hệ thống và phương pháp, nên rất nhiều nhà nghiên cứu sau này thường hay tham khảo và trích dẫn khi nói về lịch sử Việt Nam hơn là hai tài liệu đã viết trước đó chỉ mang tính chất thường thức mà thôi.

Liên quan đến sự kiện năm 1783, Maybon đã không ngần ngại viết là Nguyễn Ánh chạy qua đảo Koh Rong, rồi từ điều võ đoán đó mà tác giả vạch ra lộ trình chạy trốn hợp lý của Nguyễn Ánh là Phú Quốc – Koh Rong – Koh Kut:

“Nguyễn Ánh cũng không thoát khỏi vòng nguy hiểm; từ Phú Quốc, có vẻ như [TTA nhấn mạnh] ông đã đến đảo Koh Rong (3), nằm ở cửa ngõ vào vịnh Kompong-som; nhưng trong tháng 7 âm lịch (từ 29/7 đến 27/8), khi đã khám phá ra chổ ẩn náo của Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ cho thuyền bao vây ba vòng. May thay, một cơn bão dữ dội ập tới; biển động dữ dội, sóng dâng cao và trời đất tối xầm; nhiều thuyền bị đánh chìm, nhiều chiếc khác bị dòng nước cuốn trôi và thuyền của Nguyễn Ánh thoát khỏi vòng vây một cách may mắn, nó cập bến đảo Cô-côt (Koh Kut).” (Maybon 1919, tr.201-202)

Thực ra đó chỉ là một giả thuyết mà Maybon đã dựng lên dựa trên sự suy luận lôgich mà thôi, và ông cũng không đưa ra được dữ liệu nào chứng minh là giả thuyết ấy đã được kiểm chứng. Chú thích (3) dưới cuối trang 201 liên quan đến địa danh Koh Rong chẳng những không chứng minh Nguyễn Ánh chạy qua đảo Koh Rong để phản bác các tài liệu của triều đình nhà Nguyễn, mà Maybon lại còn trách các nhà viết sử Pháp chấp nhận không chút do dự chuyện Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo[3]. Thậm chí ông còn phê bình Aubaret là đã “dịch một cách mù quáng” bộ Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức sang tiếng Pháp mà không hề có ý kiến về chi tiết chạy ra Côn Đảo. Và thế là Maybon tiếp tục phát triển suy luận của minh: “Có vẻ gần với sự thật hơn nếu dịch Côn-lôn bằng Koh Rong hơn là giả định nhà vua đào tẩu đang bị kẻ thù ra sức truy đuổi, lại có thể chạy từng ấy đoạn đường.” (Maybon 1919, tr. 201)

Từ suy luận dựa trên chiều dài của lộ trình, vị trí của các đảo cũng như tình thế nguy cấp của người thua trận, Maybon tiếp tục suy luận bằng cách xoáy vào sự mơ hồ đã có từ nhiều thiên niên kỷ trước của tên gọi Côn-Lôn bằng chữ hán:

“Nếu Nguyễn Ánh chạy ra được đảo Koh Kut như sách sử Việt viết, thì lộ trình từ Koh Rong đến Koh Kut vô cùng gần với sự thật hơn là lộ trình từ Côn Đảo đến Koh Kut. Địa danh Côn-lôn [trong sách Việt] cũng có thể chỉ đảo Rong Sam lem [tức Koh Rong Sanloem] nằm phía Nam của Koh Rong […]. Về việc dùng hai chữ hán có nghĩa là Poulo Condore và nhiều địa danh khác để chỉ Koh Rong (hoặc Koh Rong Sam lem) (như M. Pelliot đã viết ‘on a mis des K’ouen-louen un peu partout’, trong Bull. Ec. fr. E.-O., 1894, p. 218), ta có thể nghĩ rằng chính vì việc sử dụng tràn lan các chữ này mà người viết cảm thấy hai chữ Côn-lôn rất tự nhiên dưới nét cọ của mình khi phiên chuyển địa danh tiếng khmer.” (Maybon Ch. 1919, tr.201-202)

Ngoài ra, người đọc còn bắt gặp trong chú thích này lập luận “không thể bao vây ba vòng ở Côn Đảo” vì chu vi đảo lớn, phải cần một lực lượng rất đông mới làm được. Đó là tất cả suy luận đã khiến Maybon không ngần ngại viết “ông đã đến đảo Koh Rong”, sau khi thêm mấy chữ “có vẻ như” (nguyên văn là il paraît) để thể hiện sự chừng mực, nhằm phủ nhận những ghi chép trong bộ chính sử Đại Nam thực lục

  1. Maybon đã khiến nhiều người đọc Việt Nam bị hố như thế nào?

Trong đoạn suy luận trên đây, Maybon đã trích không đầy đủ câu của Pelliot (“như M. Pelliot đã viết ‘on a mis des K’ouen-louen un peu partout’.”), và ghi xuất xứ không đúng (“trong Bull. Ec. fr. E.-O., 1894, p. 218”), khiến nhiều nhà nghiên cứu dựa vào đó mà cho rằng Quốc sử quán triều Nguyễn có thể đã gọi nhầm một hòn đảo nào đó là Côn-lôn, chứ không phải là Poulo Condore, tức Côn Đảo ngày nay.

Đi tìm tạp chí Bull. Ec. fr. E.-O. (là cách viết tắt quen thuộc tên của tạp chí Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême-Orient) thì chúng tôi mới biết được là mãi đến năm 1901 số đầu tiên của tạp chí này mới được phát hành (nên không thể có bài viết năm 1894). Còn bài nghiên cứu của Pelliot có liên quan đến Côn Đảo được đăng trong số 4 năm 1904 của tạp chí này, có tựa là “Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle” (từ trang 131 đến 413). Và câu được trích bên trên nằm ở trang 219-220, chớ không phải trang 218). Sai sót này chỉ gây một chút khó khăn cho những ai muốn tìm hiểu ngọn nguồn của vấn đề, và không nguy hiểm như là việc Maybon đã bỏ đi đoạn đứng trước câu trích. Việc “cắt ngang” này khiến người đọc có thể hiểu rằng đến tận thế kỷ XIX (lúc soạn Đại Nam thực lục) địa danh này cũng vẫn còn mơ hồ. Đoạn văn ấy như sau:

 “K’ouen-louen [Côn-lôn] là tên nổi tiếng trong địa lý Trung Hoa: đó là tên của những ngọn núi ở Trung Á, theo truyền thuyết đó là nơi mà hoàng tử Mou của nước Tần có lẽ đã đến viếng thăm ‘hoàng thái hậu Tây phương’ vào thế kỷ X trước công nguyên. Từ đó người ta thường dùng chữ K’ouen-louen để chỉ nhiều nơi.” (Pelliot P., 1904, tr. 219-220)

Thật vậy, nếu chỉ trích dẫn một câu duy nhất “người ta thường dùng chữ K’ouen-louen để chỉ nhiều nơi” thì người đọc sẽ nghĩ là ngay khi Pelliot viết thì sự nhầm lẫn vẫn còn. Đúng là từ quá khứ xa xưa, K’ouen-louen đã từng được dùng để chỉ một vùng đất rất xa xôi phía Tây Trung Hoa, và từ đó cách dùng địa danh này đã được mở rộng ra để chỉ những nơi xa xôi, khó xác định. Thậm chí trong nhiều văn bản cổ bằng chữ hán, nó còn được dùng để chỉ dân tộc của một vương quốc mù mờ nào đó ở phương Nam. Nhưng cách dùng mơ hồ ấy chỉ tồn tại trong những thời kỳ đầu của nền văn minh chữ viết mà thôi, và đến một lúc nào đó mọi việc sẽ rõ ràng hơn chứ không phải là mãi mãi. Cũng chính trong bài viết trên, Pelliot có nói thêm: “Tôi đã gặp nhiều văn bản thời nhà Minh [thế kỷ XIV-XVII] và nhà Thanh [thế kỷ XVII-đầu XX] trong đó đảo Poulo Condore được gọi là ‘đảo’ K’ouen-louen [Côn-lôn] hoặc núi K’ouen-louen, chứ không còn gọi là vương quốc K’ouen-louen” (Pelliot P. 1904, tr. 299). Điều đó chứng tỏ là Maybon chưa hề đọc kỹ càng bài viết của Pelliot!

  1. Địa danh “Côn Lôn” được dùng để chỉ “Côn Đảo” từ khi nào?

Để xem xét sự xác đáng của các lập luận làm nên giả thuyết của Maybon, trong phần này, chúng tôi sẽ cố gằng làm sáng tỏ mấy vấn đề sau đây:

– Trong nguồn tư liệu của Trung Hoa, chữ “Côn Lôn” được dùng để chỉ “Côn Đảo” từ khi nào?

– Quốc sử quán triều Nguyễn có lẫn lộn tên gọi các đảo phía Nam như Maybon nghi ngờ không?

– Bằng chứng phương Tây góp phần xác định “Côn Lôn” chính là Côn Đảo như thế nào?

4.1. Văn bản Trung Hoa dùng chữ Côn Lôn để chỉ Côn Đảo từ khi nào?

Chân Lạp phong thổ ký là một ghi chép về hành trình đi đến nước Chân Lạp (Campuchia ngày nay) mà Chu Đạt Quan đã làm trong hai năm 1296-1297. Trong bản dịch của quyển sách này ra tiếng Pháp, Pelliot chú thích về địa danh biển Côn lôn mà Chu Đạt Quan đã nhắc đến khi chuẩn bị vào cửa sông Cửu Long:

“Hai chữ K’ouen-louen được dùng để chỉ xứ Mã Lai theo nghĩa rộng, và quần đảo Poulo Condore theo nghĩa hẹp. Chúng ta thấy rằng theo sách này thì biển Côn Đảo trải dài lên phía Bắc nhiều hơn so với vị trí của quần đảo này.” (Pelliot P. 1902, tr.138)

  1. Ferrand nói cụ thể hơn khi cho biết là nghĩa hẹp của địa danh này càng ngày càng phổ biến trong các văn bản bằng chữ Hán:

“Từ cuối thế kỷ XIII, trong một số văn bản 崑崙[4] K’ouen-louen [Côn Lôn] chỉ được dùng để chỉ riêng Poulo Condore [Côn Đảo] mà thôi. Poulo Condore là cách ghi âm bình dân từ chữ Mã Lai Pulaw Kundur có nghĩa là ‘đảo bí đỏ’, mà người Khmer dịch ra là Koh Tralách, cũng có nghĩa như vậy. Người An Nam thì ngược lại, họ xuất phát từ chữ hán K’ouen-louen rồi biến nó thành 崑 𡽫 Côn-nôn. Kundur biến thành Condur trong sách của Marco Polo.” (Ferrand G. 1919, tr. 327)

Ở một chỗ khác trong cùng tài liệu, Ferrand dẫn chứng những tác giả đã dùng chữ K’ouen-louen tức Côn Lôn để chỉ Côn Đảo ngày nay:

“Từ thế kỷ XIII và nhất là thế kỷ XIV nhiều bằng chứng mà các nhà du hành Trung Hoa cung cấp cho chúng ta như Tcheou Ta-Kouan [Chu Đạt Quan], Wang Ta-yuan [Wang Dayuan, Uông Đại Uyên], Ma Houan [Mã Hoan], Fei sin [Fei Xin, Phi Tín] đã đi lại trong vùng này và đã lấy được nhiều thông tin tại chỗ. Những địa danh huyền thoại hoặc mơ hồ không còn xuất hiện trong các ghi chép của họ nữa. Từ đó K’ouen-louen sẽ được dùng để chỉ một cụm đảo nhỏ nằm ở biển Đông, đảo Pulaw Kundur.” (Ferrand G. tr. 328-329)

Điều này cũng đã được Phạm Hoàng Quân cho biết khi khảo sát bộ Nguyên sử (chép việc nhà Nguyên giai đoạn 1279- 1368):

“Tên biển lớn Hỗn Độn 混沌, là một cách phiên âm từ tên Condore [Pulo Condore/ Kundor], tên gọi này hồi thời Đường được Giả Trầm ký âm là Quân Đột Lộng Sơn 軍突弄山(69), trong Đảo Di chí lược viết theo cách phiên khác là Quân Đồn 軍屯 hoặc Côn Lôn 崑崙.” (Phạm Hoàng Quân, 2011, tr. 38)

Kèm theo đoạn trên là chú thích (69) ở cuối bài viết có nội dung như sau:

Đảo Di chí lược mục Côn Lôn viết là Côn Lôn Dương 崑崙洋, lời hiệu khám và chú của Tô Kế Khoảnh : “Côn Lôn Dương, Nguyên Sử – Sử Bật truyện còn viết là Hỗn Độn Đại Dương, là vùng biển quanh đảo Côn Lôn.” (Phạm Hoàng Quân, 2011, tr. 50)

Trog một nghiên cứu về các chuyến hải hành về phương Tây của người Trung Hoa trong lịch sử, Pelliot cũng có ghi lại lộ trình 7 chuyến đi của đô đốc Trịnh Hòa, trong đó có các chi tiết liên quan đến lượt về chuyến thám hiểm cuối cùng của ông ta diễn ra vào năm 1433 như sau:

“Trong bộ sách Các chuyến du hành trên biển Tây 下西洋 [Hạ Tây dương], người ta có ghi lại hành trình lượt về của chuyến thám hiểm cuối cùng của Trịnh Hòa (1433): “Ngày 20 (tức 9 tháng 5 năm 1433), đến Man-la-kia (tức Malacca). Ngày 10 tháng 5 âm lịch (tức 27 tháng 5 năm 1433), băng qua 崑崙洋 biển Côn Lôn theo hướng ngược lại [so với lượt đi]. Ngày 23 (tức 9 tháng 6 năm 1433), đến 坎 Tch’e-k’an [Xích Khảm?]. Ngày 26 (tức 13 tháng 6 năm 1433) đến Tchan-tch’eng (Champa, Chiêm Thành).” (Pelliot 1933, tr. 310)

Trong Hải quốc văn kiến lục ra đời năm 1730, Trần Luân Quýnh đã dành hẳn chương 7 để mô tả Côn Lôn tương ứng với vị trí Côn Đảo của Việt Nam, chứ không còn mù mờ như nhiều thế kỷ trước: “Côn Lôn 崑崙, ghi chép về đảo Côn Lôn trong biển Nam Dương [nay gọi Côn Đảo, Việt Nam]” (Phạm Hoàng Quân, 2009, tr. 106)

Tóm lại, ngay từ thế kỷ XIII chữ Côn Lôn đã được sử dụng trong nhiều tài liệu chữ hán để chỉ Côn Đảo ngày nay của Việt Nam, và có thể khẳng định rằng trong các thế kỷ sau đó người Trung Hoa không còn sử dụng chữ Côn Lôn để chỉ mọi nơi chốn như thời xa xưa. Dựa trên mối quan hệ văn hóa và giáo dục khá mật thiết giữa Việt Nam và Trung Hoa thời ấy, chúng ta có thể tin rằng đến thế kỷ XIX là thời gian biên soạn Đại Nam thực lục có lẽ không có sử quan Việt nào lạc hậu đến độ mơ hồ về địa danh Côn Lôn như Maybon đã khiến nhiều người lầm tưởng. Thật vậy, chẳng hạn như trong Việt sử thông giám cương mục khảo lược, Nguyễn Thông cũng đã có trích dẫn Hải quốc văn kiến (1730) của Trần Luân Quýnh, một tác giả thời nhà Thanh (Nguyễn Thông 2009, tr.152-153). Nhưng để có thể xác định chắc chắn là Côn Lôn trong các tài liệu của Quốc sử quán triều Nguyễn chính là Côn Đảo ngày nay, chúng tôi làm thêm kiểm chứng khác.

4.2. Văn bản nước ta dùng chữ Côn Lôn để chỉ Côn Đảo từ khi nào?

Để biết Quốc sử quán triều Nguyễn có lẫn lộn về tên của các đảo phía Nam như Maybon nghi ngờ hay không, trước hết ta hãy cùng khảo sát những đoạn có nói về Côn Lôn và các đảo Cổ Long, Cổ Cốt được nhắc tới trong Đại Nam thực lục.

Lần đầu tiên Đại Nam thực lục nói về Côn Lôn liên quan đến sự kiện người Anh xây dựng cơ sở trên đảo này vào năm 1702:

“Giặc biển là người Man An Liệt [tức người Anh] có 8 chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn. Trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban (mấy ban cũng như mấy bực, nguyên người Tây phương dùng những tên ấy để gọi bọn đầu mục của họ) cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lập trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác..” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, tr.115)

Lần thứ hai là nói về việc tổ chức đánh đuổi người Anh ra khỏi Côn Lôn năm 1705:

“Mùa đông, tháng 10, dẹp yên đảng An Liệt. Trước là Trấn thủ Trấn Biên Trương Phúc Phan mộ 15 người Chà Và sai làm kế trá hàng đảng An Liệt để thừa chúng sơ hở thì giết. Bọn An Liệt không biết. Ở Côn Lôn hơn một năm không thấy Trấn Biên xét hỏi, tự lấy làm đắc chí. Người Chà Và nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết nhất ban, nhị ban, bắt được ngũ ban trói lại, còn tam ban, tứ ban thì theo đường biên trốn đi.” (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, tr. 117)

Hai sự kiện này đều được ghi chép khá chi tiết trong hồ sơ của Công ty Đông Ấn Anh và của nhiều nhà hàng hải như Lockyer, Hamilton…[5], và được ghi là đã xảy ra ở Pulo Condore, tức là Côn Đảo! Điều đó chứng minh hùng hồn rằng các quan triều Nguyễn chẳng những không gọi tên sai, mà còn hơn thế nữa, là họ đã kiểm soát khá tốt tình hình trên đảo ngay từ đầu thế kỷ XVIII. Hơn nữa, trong Đại Nam thực lục phần chính biên đệ nhất kỷ quyển 2 khi nói về các sự kiện năm 1783, các đảo Cổ Long, Côn Lôn và Cổ Cốt đều được nhắc tới vì chúng đều gắn liền với những sự việc khác nhau. Đặc biệt là trong giai đoạn này, đảo Cổ Long thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Xiêm (Phạm Hoàng Quân, 2013, tr. 60), còn Côn Lôn thuộc quyền kiểm soát của xứ Đàng Trong. Điều đó cho thấy là khả năng nhận diện nhầm đảo Cổ Long thành đảo Côn Lôn không thể xảy ra:

“Tướng Xiêm là Vinh Li Ma đến xin theo. Vinh Li Ma lánh loạn Oan Sản ra ở đảo Cổ Long, nghe tin vua đến Hà Tiên, đem hơn 200 quân của mình, hơn chục chiến thuyền, tình nguyện theo về. Vua nhận. Tháng 6, vua đóng ở hòn Điệp Thạch [hòn Đá Chồng] thuộc Phú Quốc. Thống suất giặc là Phan Tiến Thận thình lình đem quân đến. Cai cơ Lê Phước Điển xin mặc áo ngự mà đứng ở đầu thuyền. Giặc tranh nhau đến bắt. Vua bèn đi thuyền khác ra đảo Côn Lôn.” (Quốc sử quán triều Nguyễn 2002, tr. 217)

Tác phẩm Gia Định thành thông chí được Trịnh Hoài Đức (1765-1825) biên soạn khoảng năm 1820; ông là một nguyên lão của nhà Nguyễn, sinh ra và lớn lên ở Gia Định, do đó những ghi chép của ông sát với thực tế hơn một số sử gia cùng thời nhưng sống ở các vùng miền khác:

“Đảo Côn Lôn: Ở giữa biển đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy ghe hướng về phía mặt trời mọc đi xuống phía đông 2 ngày đêm mới đến. Đảo lớn 100 dặm có ruộng núi trồng lúa bắp khoai đậu nhưng cũng không nhiều, thường phải mua gạo ở Gia Định để bổ túc. Thổ sản là ngựa và trâu, không có hùm beo. Dân ở đảo đoàn kết làm binh sĩ gọi là Tiệp nhất đội, Tiệp nhị đội, Tiệp tam đội, thuộc đạo Cần Giờ, đều có đủ khí giới để phòng bị quân cướp ở xứ Đồ Bà […].” (Tập thượng, tr.49)

Trên đây là vài ghi chép rất rõ ràng, rành mạch mà các sử quan triều Nguyễn còn để lại, và thậm chí còn được kiểm chứng qua những ghi chép của phương Tây về sự kiện 1702-1705 mà hai phía đều quan tâm.

4.3. Bằng chứng phương Tây góp phần xác định “Côn Lôn” chính là Côn Đảo

Để tiếp tục kiểm chứng xem độ tin cậy của những kiến thức về địa lý của các quan chép sử triều Nguyễn, chúng tôi tìm hiểu những ghi chép độc lập của các nhà truyền giáo và các nhà du hành phương Tây. Kết quả tìm kiếm cho thấy rằng ngay từ cuối thế kỷ XVII, người dân xứ Đàng Trong đã ra Côn Đảo sinh sống. W. Dampier cho biết tháng 3 năm 1687 ông đã đặt chân lên đảo và ở lại đó hơn 1 tháng để tu bổ thuyền, và qua tiếp xúc với dân cư đảo, ông cho biết:

 “Dân cư trên đảo này là người Đàng Trong, như họ đã nói với chúng tôi, dù một người trong số họ nói giỏi tiếng Mã Lai, là ngôn ngữ mà chúng tôi đã biết nói lõm bõm, và một số người trong thuyền của chúng tôi đã học nói khá tốt, khi chúng tôi neo đậu tại Mindanao; và đó là ngôn ngữ chung trong giao dịch và buôn bán ở đa số các quần đảo Đông Ấn (mặc dù nó không phải là tiếng mẹ đẻ của nhiều người trong bọn họ).” (Dampier 1699, tr. 394)

Một nhà du hành khác còn nói rõ hơn, là năm 1695 Côn Đảo đã thuộc quyền kiểm soát vua xứ Đàng Trong: trong quyển Giro Del Mondo xuất bản lần đầu năm 1699 bằng tiếng Ý, và bản dịch sang tiếng Anh xuất bản năm 1704 trong bộ A Collection of Voyages and Travels (quyển 4), Gemelli Careri cho biết:

 “Ngày thứ sáu 22 [tháng 7 năm 1695], chúng tôi trông thấy Côn Đảo, một hòn đảo thuộc quyền cai trị của vua xứ Đàng Trong, nhưng không có người định cư, một số dân Đàng Trong thường tới lui đảo vào một khoảng thời gian nào đó trong năm để đốn gỗ và thu hoạch sản phẩm của đảo, như bắp, chuối và cam[6]. Đảo dài 8 dặm và bề ngang cũng chừng ấy. Những cơn mưa bão ập xuống mỗi ngày như chúng tôi đã trải nghiệm, là nguyên nhân khiến người ta không định cư ở đó. Tất cả tàu thuyền đi Manila thường đánh dấu đảo này để nhận biết hải trình.” (Careri, 1704, tr.283)

Trong thư gửi linh mục E. Souciet, viết từ Côn Đảo ngày 23 tháng 2 năm 1722, nhà truyền giáo Gaubil đã ghi chép cẩn thận những quan sát về địa lý, khí tượng, tài nguyên thiên nhiên, dân cư, và sinh hoạt của họ,  trên đảo:

“Dân cư của đảo này là thần dân của vua xứ Đàng Trong. Chỗ ở của họ trên đảo không cố định. Đó là những ngư dân nghèo khổ. Họ chế biến dầu từ mỡ của con vích, làm ván ốp tàu, bó đuốc, ủ nước mắm để nộp cho các quan lại trong đất liền. Họ bị đối xử khắc nghiệt. Họ thường xuyên đi đi về về đất liền: có những ngày có đến 200 – 300 người trên đảo, thậm chí đến 400, nhưng cũng có những ngày trên đảo vắng hoe.” (Souciet E. 1729, tr.121)

Những ghi chép trên đây được thực hiện bởi nhiều người thuộc các quốc tịch Ý, Anh, Pháp, làm nhiều nghề khác nhau như nhà du hành, sứ giả, nhà truyền giáo, kỹ sư; họ chỉ dựa trên quan sát thực địa chứ không hề bị chi phối bởi tài liệu của nhà Nguyễn. Những ghi chép này cho chúng ta thấy là các sử quan triều Nguyễn không hề mơ hồ về hòn đảo mang tên Côn Lôn như Maybon đã nghi vấn.

4.4. Về tên gọi Côn Nôn

Trong thư đề ngày 23 tháng 2 năm 1722, Gaubil có ghi:

“Poulo-Condor là đảo lớn nhất, và là đảo duy nhất có người ở. […] Dân cư ở đây gọi đảo này là Conon [người Pháp đọc cách ghi âm này là Cô-nôn, từ cách phát âm Côn Nôn của dân trên đảo], một số người Pháp gọi là đảo Orléans. Poulo-Condor có nghĩa là đảo Condor.” (Souciet E. 1729, tr. 111)

Trong hồ sơ do Renault biên soạn năm 1723 tên là Mémoire sur l’isle de Poulo Condor, surnommée Isle d’Orléans, en Chine[7] để trình cho lãnh đạo Công ty Đông Ấn Pháp về tình hình Côn Đảo cũng có ghi tên gọi Côn Đảo là Côn Nôn:

 “Poulo Condor, hoặc Isle de Condor, mà người dân ở đây gọi là Conon [Côn-nôn], là đảo quan trọng nhất và là nơi duy nhất [trong quần đảo này] có người ở.” (Cordier 1883, tr. 306)

Khi dịch Gia Định thành thông chí, Aubaret cũng dịch Pulo-Condor là Côn Nôn: “Thế là Hoàng đế chạy về đảo Con-non (2); nhưng cuộc rút chạy của ngài nhanh chóng bị quân nổi loạn phát hiện” (Aubaret 1863, tr.52) kèm theo chú thích dưới chân về chữ Con-non là Pulo-Condor !

Ngoài ra, nhiều từ điển được biên soạn trong thế kỷ XIX cũng dùng Côn Nôn:

– Từ điển Dictionarium anamitico-latinum của Taberd (1838), ta có thể đọc thấy như sau: “崑 : côn; 𡽫崑𡉕 nghĩa là “hòn Côn Nôn” (tr. 86)

– Từ điển Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của (1895) giải thích: “崑 Côn : tên núi. Côn nôn: tên cù lao ở ngay cửa Vĩnh Thanh. Côn lôn: như trên” (tr. 187)

– Từ điển Dictionnaire annamitefrançais của Génibrel (1898) ghi: “崑 côn: núi Côn: rặng núi cao ở Tây Tạng. Hòn Côn nôn: đảo Poulo Condor.” (tr. 81)

– Từ điển Dictionnaire annamitefrançais của Bonet J. (1899, ghi: “Hòn côn non 𡉕崑𡽫, các đảo núi non Poulo-Condore.” (tr.111)

Pelliot cũng ghi nhận cách gọi đảo Poulo Condore là Côn Nôn và giải thích như sau:

“Cách gọi Côn-nôn không phải có nguồn gốc Mã Lai, và cũng không có diện mạo của từ ngữ Mã Lai. Nó cũng không thể là từ tiếng khmer, và vì thế ta thấy rằng cách gọi đảo bằng ‘từ bản xứ’ Côn-nôn này không gì khác hơn là cách gọi hiện tại 崑𡽫 của người An Nam.” (Pelliot 1904, tr. 219)

Nhận xét của Pelliot hoàn toàn có cơ sở: chẳng phải dân cư một số vùng ở nước ta vẫn có thói quen phát âm những từ bắt đầu bằng phụ âm l thành n đó sao? Vì thế Côn Lôn được phát âm thành Côn Nôn cũng là điều tự nhiên. Tưởng cũng nên nhắc lại chính sách cấm đạo của chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn đã khiến nhiều giáo dân theo đạo Thiên Chúa đã phải rời bỏ quê hương tìm nơi nương náo. Chúng ta có thể đọc được ghi chép của Pierre Poivre về việc di dân của người Việt vào giữa thế kỷ XVIII để trốn tránh sự hà khắc của vua quan nhà Nguyễn:

“Nhiều người dân xứ Đàng Trong rời bỏ quê hương và đến định cư ở các hòn đảo lân cận; nhiều người khác vượt núi sang tận Campuchia, thậm chí đến cả Xiêm. Người ta còn nói với tôi là có nhiều người đi đến tận Côn Đảo.” (Poivre 1887, tr. 93)

  1. Kết luận

Qua các phân tích trên đây, chúng tôi muốn chứng minh rằng các nhà viết sử nước ta vào thế kỷ XIX không hề nhầm lẫn Côn Lôn với đảo nào khác: đó chính là Côn Đảo ngày nay, mà thế giới từ lâu quen gọi là Poulo Condor hoặc Pulo Condor. Vì thế, những nghi vấn của Maybon và một số nhà nghiên cứu khác không hề có cơ sở, và cũng chưa thể phủ định được những gì đã ghi chép trong Đại Nam thực lục.

Tưởng cũng nên nói qua về cách viết “đem hết thủy binh đến vây ba vòng”: chắc chắn rằng không ai hiểu câu nói đó theo kiểu chân phương (cho thuyền xếp thành hàng dài vây quanh đảo tạo thành vòng tròn khép kín), bởi vì không có vị chỉ huy nào cho quân án ngữ cả những nơi có vách núi hiểm trở. Vì phần lớn chu vi Côn Đảo có hàng rào thiên nhiên như vậy, và chỉ có hai lối vào bến đỗ thuyền để lên đảo, nên Trương Văn Đa chỉ cần canh phòng hai lối ấy là đủ!


(đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay số tháng 2 năm 2020)

Tài liệu tham khảo

Aubaret G. 1863. Histoire et Description de la Basse-Cochinchine. Paris: Imprimerie Impériale.

Careri Gemelli G.F. 1704. A Voyage round the World, trong A Collection of Voyages and Travels, Vol. IV, London: Awnsham & J. Churchill.

Cordier H. 1883. Mémoires divers sur la Cochinchine. Revue de l’Extrême-Orient, no 2. Paris: Ernest Leroux.

Dampier W. 1699. A New Voyage round the World. Vol. I. London: James Knapton.

D’Après de Mannevillette 1745. Routier des côtes des Indes Orientales et de la Chine. Paris: Ch. J. B. Delespine.

Dương Kỵ 1942. Một bức thư Huế. Trong tạp chí Tri Tân, số 56, từ ngày 23-28 tháng 7/1942.

Đỗ Đình Nghiêm 1924. Một đoạn lịch sử nước nhà. Đức Cao Hoàng và ông Giám mục Bá Đa Lộc. Trong tạp chí Nam Phong, số 79 tháng 1 năm 1924, Tr. 13-29.

Ferrand G. 1919. Le Kouenlouen et les anciennes navigations interocéaniques dans les Mers du Sud. Trong Journal Asiatique, số 13 năm 1919.

Lê Thọ Xuân 1942. Chúa Nguyễn Ánh có chạy thấu Côn Lôn không? Trong tạp chí Tri Tân, số 61, từ ngày 26 tháng 8 đến ngày 1 tháng 9 năm 1942.

Long Điền 1942. Một nghi điểm về lịch sử đã được biện minh. Trong tạp chí Tri Tân, số 67, từ ngày 7 đến ngày 13 tháng 10 năm 1942.

Maybon Ch., 1919. Histoire moderne du pays d’Annam (1592-1820). Paris: Plon.

Nguyễn Đắc Xuân 2009: Năm 1783 Nguyễn Ánh có chạy ra Côn Đảo hay không? Trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3 (74) tr.113-119.

Nguyễn Thanh Lợi 2014. Về sự kiện Nguyễn Ánh đến Côn Đảo năm 1783. Trang mạng Nghiên cứu lịch sử, tại địa chỉ: https://nghiencuulichsu.com/2014/05/23/ve-su-kien-nguyen-anh-den-con-dao-nam-1783/ (truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2019).

Nguyễn Thông, 2009. Việt sử thông giám cương mục khảo lược. Hà Nội: Văn hóa Thông tin.

Nouvelles Lettres édifiantes des missions de la Chine et des Indes orientales, Tome 6. 1821 Paris: Ad Le Clere.

Pelliot P. 1902. Mémoire sur les coutumes du Cambodge. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient. Tome 2 (1902) tr. 123-177;

Pelliot P. 1904. Deux itinéraires de Chine en Inde à la fin du VIIIe siècle. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, Tome 4 (1904) pp. 131-413.

Pelliot P. 1933. Les grands voyages maritimes chinois au début du XVe siècle. Trong tạp chí T’oung Pao, số 30 (năm 1933).

Phạm Hoàng Quân, 2009. Hải quốc văn kiến lục: Khảo sát và trích dịch. Trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 6 (77).

Phạm Hoàng Quân, 2011. Những ghi chép liên quan đến Biển Đông Việt Nam trong chính sử Trung Quốc. Trong tạp chí Nghiên cu Trung Quc, số 6 (118), tr. 22-54.

Phạm Hoàng Quân, 2012. Về địa danh và vị trí Vạn lý Trường sa – Vạn lý Thạch đường trên địa đồ hàng hải thời Minh ở Thư viện Đại học Oxford. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 8-9.

Phạm Hoàng Quân, 2013. Xiêm La quốc lộ trình tập lục. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 8.

Poivre P. 1887. Description de la Cochinchine 1749-1750. Trong tạp chí Revue de l’Extrême-Orient, số 3.

Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002. Đại Nam thực lục, tập 1 (Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch sang tiếng Việt). Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.

Souciet E. 1729. Observations mathématiques, astronomiques, géographiques, chronologiques, et physiques. Paris: Rollin Libraire.

Bản đồ Côn Đảo của D’Après de Mannevillette do Robt. Sayer & Jno. Bennett phát hành tại Luân Đôn, năm 1778.

[1] Có lẽ tác giả nhầm với quyển Lettres édifiantes et curieuses, Paris, 1843, tome IV. Trong quyển này cũng có trích đăng một đoạn thư của Bá Đa Lộc ngày 20 tháng 3 năm 1785 và bản dịch thư của André Tôn ngày 1 tháng 7 năm 1784. Bức thư của Bá Đa Lộc ngày 20 tháng 3 năm 1785 được trích đăng lần đầu năm 1787 trong quyển Nouvelles des missions orientales reçues au séminaire des Missions étrangères à Paris (Première Partie) và được đăng toàn văn năm 1821 trong quyển Nouvelles Lettres édifiantes des missions de la Chine et des Indes orientales, (Tome sixième) từ trang 415 đến 437.

[2] Các tài liệu này có nghĩa là: Một số khái niệm về lịch sử An Nam (1909); Bài đọc lịch sử hiện đại và đương đại nước An Nam từ 1428 đến 1926 (1910); Lịch sử hiện đại nước An Nam. Nghiên cứu về những mối quan hệ đầu tiên giữa người châu Âu và người An Nam, và về việc xây dựng triều đại nhà Nguyễn (1919).

[3] A. Faure trong quyển Les Français en Cochinchine au XVIIIe siècle. Monseigneur Pigneau de Béhaine (xuất bản năm 1891), A. Schreiner  trong quyển Abrégé de l’histoire d’Annam (1906) và P. Cultru trong quyển Histoire de la Cochinchine française : des origines à 1883 (1910) cũng ghi là Nguyễn Ánh chạy ra Côn Đảo ẩn náo.

[4] Chữ hán trong nguyên văn tiếng Pháp. Khi trích và dịch ra tiếng Việt, chúng tôi cố gắng ghi lại những chữ hán được dùng trong văn bản nguồn.

[5] Xem các bài viết về Côn Đảo của chúng tôi trên tạp chí Xưa & Nay các số tháng 7, 9 và 10 năm 2019.

[6] Nguyên văn tiếng Ý là grano d’India, fichi, melaranci, bản tiếng Anh là Indian wheat, figs, oranges; bản tiếng Pháp là bled d’Inde, bananes, oranges.

[7] Có nghĩa là Hồ sơ về đảo Poulo Condor, còn được gọi là đảo Orléans, ở Trung Hoa.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s