Xác định thời gian tự sự trong Vũ Trung Tuỳ Bút theo các chiếu ứng Thiên Mở Đầu với toàn sách

images.jpg

Lê Thời Tân

  1. Khởi dẫn

Vũ trung tùy bút (《雨中隨筆》) gồm 90 thiên văn xuôi Hán văn Việt Nam. Đây dường như là một văn tập tập hợp các thiên/bài tản văn từng viết rải rác đây đó tản mạn qua năm tháng của Phạm Đình Hổ (范廷琥1768 – 1839). Và rồi vào một lúc nào đó tác giả của chúng đã quyết định “kết tập” lại dưới một nhan đề chung nhắm tới việc khắc in thành “sách”.[1] Rất có khả năng chính vào lúc đó tác giả thấy cần phải viết lấy một thiên đặt lên đầu sách – thiên có tính cách như là một tự tựa hay một lời giới thiệu kiểu “cùng bạn đọc” mà ta thường thấy ở đầu các cuốn sách ngày nay. Thiên này như ta thấy có nhan đề Tự thuật (自述). Về phía tác giả, ta có thể nói thiên Tự thuật này là kết quả của việc Phạm Đình Hổ thuật chuyện bản thân thành thiên tự truyện (autobiographical)[2] – một sự trần thuật từ ngôi nhân xưng thứ nhất, trong đó tuyến tính của dòng thời gian sự kiện đã bị xáo trộn. Đối với quyển sách, tức xét về mặt kết cấu – ta thấy ở vào vị trí mở đầu tập sách, thiên Tự thuật có tác dụng chiếu ứng nối kết 89 thiên toàn sách.[3] Đọc kĩ thiên này ta sẽ bước đầu hình dung được hình tượng cái tôi tác giả tự sự, mường tượng được một khung cảnh với dằng dặc tháng ngày… Cái khung cảnh rồi sẽ thấp thoáng hiện dần lên những người-việc-cảnh khi ta đọc cuốn sách qua từng thiên, từng thiên. Cách đọc tác phẩm theo hai chiều như thế khiến độc giả như đang chìm vào trong một cuốn phim, và vào lúc đọc xong lại như đứng trước một bức tranh. Thao tác gọi là xác định thời gian tự sự trong Vũ trung tùy bút theo cách chiếu ứng thiên mở đầu với toàn sách thực chất cũng chỉ là một cách thức nhận trở lại cái hiệu ứng đọc hiểu tác phẩm như vừa mô tả. Dĩ nhiên thao tác đó đồng thời cũng còn nhắm tới tập trung sự chú ý của ta vào một hình tượng song trùng – vừa là chủ thể trước thuật nhưng cũng là nhân vật trong sách.

2.1. Hồi tưởng thiếu thời

Trước tiên hãy lưu ý tới cụm từ “niên hiệu Cảnh Hưng” trong câu mở đầu thiên Tự thuật – “Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng.” [1, tr.24][4]. Xác định niên hiệu Cảnh Hưng giúp hình dung được khoảng thời gian lịch sử nhằm xác định bối cảnh của phần đa các tình tiết kể trong Vũ trung tùy bút. Trong bối cảnh trần thuật cụ thể của thiên này cụm từ “niên hiệu Cảnh Hưng” trong câu mở đầu là căn cứ để độc giả ngày nay quy chuyển được mốc thời gian năm sinh “Mậu Tý” sang công lịch 1768. Dĩ nhiên, với bạn đọc đổi dùng công lịch việc xác định niên hiệu Cảnh Hưng giúp hình dung được khoảng thời gian lịch sử nhằm xác định bối cảnh của các tình tiết kể trong Vũ trung tùy bút. Ít ra ta cũng sẽ biết thời Cảnh Hưng kết thúc khi Phạm Đình Hổ 16 tuổi (1786). Và cho đến 1805 – thời điểm muộn nhất mà Vũ trung tùy bút trần thuật đến, trong vòng 20 năm non sông đã mấy lần đổi chủ (Chúa Trịnh đổ, Vua Lê chạy, nhà Tây Sơn mất, triều Nguyễn lên). Có thể nói cơn ba đào của lịch sử, cuộc tang thương của nhân thế in vết lên từng viên đá lát đường của phố phường Thăng Long – nơi đã thành quê hương thứ hai của tác giả. “Vũ trung tùy bút” diễn nghĩa là “cuốn tùy bút viết trong những ngày mưa”. Trong nhan đề này “vũ trung”- trong mưa ấy là một ẩn dụ. Nếu “tùy bút” cho ta thấy một tư thái viết lách thì “vũ trung” phác họa một hoàn cảnh cầm bút[5]. Thế nên hoàn toàn có thể nói tùy bút ngày mưa ấy cũng là ngẫu lục chuyện non sông thế cuộc, chuyện kinh lịch đời người.

Trần thuật tiếp theo kể chuyện “Năm ta lên năm sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn Tây, bổng lộc đã dư dự, song những cách chơi cây, đá, hoa chim, ta không để bụng ham mê đến.” [1, tr.24]. Ấy là nói chuyện lúc còn là cậu ấm 5-6 tuổi. “Chơi” ở đây ấy cũng là nói cái chơi của trẻ con, chứ không phải là thú thưởng ngoạn của người trưởng thành như miêu tả ở thiên thứ 7 Hoa thảo về sau: “Ta khi nhỏ, lắm hồi gian truân, phải đi dạy học bốn phương, không lúc nào rỗi mà lưu ý đến cỏ hoa. Nhưng mỗi khi đến chơi nhà anh em bạn, thường thơ thẩn ở trong chốn vườn hoa bóng trúc. Khoảng năm Ất Mão, Bính Thìn (1795-1796), ta có vào chơi một nhà anh em bạn; khi vào đến cửa, ngửi thấy mùi thơm sực nức, hình như hương hoa lan mà lại có phần thanh hơn, chưa hiểu thứ lan gì, đến khi vào nhà khách, mới thấy thứ lan ấy vừa nở, mà trồng vào trong cái chậu vỡ, đất sỏi, để ở góc hè, cành lá lơ thơ, dài chỉ độ năm sáu tấc, hoa nhỏ mà cánh mỏng, sắc rất đậm, mà thơm tho ngát lừng.” [1, tr.45]. Mốc thời gian Ất Mão, Bính Thìn (1795-1796) nêu ở thiên Hoa thảo này ít ra cũng đã cho thấy bước đường suy vi của một gia thế. Cậu ấm con quan năm nào giờ đây vào thời thanh niên đã phải lang bạt dạy học kiếm sống, “không lúc nào rỗi mà lưu ý đến cỏ hoa”. Cậu ấm đó có thể thủa bé không để bụng ham mê những cách chơi cây, đá, hoa chim nhưng lớn lên không phải là không biết thú vui cao nhã đó. Hiềm rằng một nỗi giờ có muốn chơi lan trồng trúc cũng đành chịu. Trần thuật chân thành “…phải đi dạy học bốn phương, không lúc nào rỗi mà lưu ý đến cỏ hoa. Nhưng mỗi khi đến chơi nhà anh em bạn, thường thơ thẩn ở trong chốn vườn hoa bóng trúc” khiến người đọc không khỏi bội phần thương cảm. [1, tr.44][6]

Trên đây bằng cách xác định “niên hiệu Cảnh Hưng” ta đã quy đổi được năm sinh “Mậu Tý” của tác giả tự sự sang công lịch. Dựa vào thông tin năm sinh này, có thể xác định “lên năm lên sáu tuổi” tức vào khoảng năm 1773. Đọc đến thiên 71 Việc tai dị tới câu “Ta còn nhớ đời Cảnh Hưng năm Giáp Ngọ (1774), khi ta mới bảy tuổi, theo hầu đấng tiên đại phu ra nhà riêng ở phố Hà Khẩu.  Khi ấy thiên hạ thái bình, mấy năm được mùa liền, các cửa hàng hóa vật giá rất rẻ” [1, tr.236] ta biết thân phụ tác giả được thăng chức nhưng cũng chỉ làm quan khoảng một năm thì cáo về. Trần thuật ở thiên 28 Mấy năm được mùa – “Năm Giáp Ngọ (1774) đời Cảnh Hưng, đấng tiên đại phu ta tự Tuần phủ Sơn Tây cáo về ở phường Hà Khẩu” xác nhận chuyện kể trên. Không khó nhận ra, trần thuật thời thơ ấu trong Vũ trung tùy bút thường cũng hay gắn liền với kể chuyện thân phụ. Và hình ảnh sau cùng về người bố gắn liền với việc học của bản thân tác giả…

Hãy đọc tiếp: “Ta mới khi lên chín tuổi, đã học sách Hán Thư, được bốn năm thì đấng tiên đại phu ta mất.” [1, tr.26]. Theo lời kể này ta biết tác giả mất bố năm 13 tuổi (năm 1781). Bạn đọc sẽ biết thêm về cái chết của người bố khi đọc tới thiên thứ 4 Tả Chí Hầu – “Lại trỏ vào ta mà hỏi, thì Hầu đáp “Anh ấy cử chỉ thần tình, giống hệt như tôn phu nhân, chừng độ mười hai tuổi thì sợ không khỏi bóng cha khuất núi”. […] Đến năm Cảnh Hưng, Mậu Tuất (1778), chị dâu ta mất, lại hơn một năm sau, đấng tiên đại phu ta tạ thế.” [1, tr.32-33].

Trần thuật tiếp theo – “Trong mấy năm cư tang, gối đất nằm rơm, học hành buổi đực buổi cái, đến khi mãn tang rồi mới thôi không học sử nữa mà học đến kinh. Các sách cổ, thơ cổ, ta thường ham xem lắm, không lúc nào rời tay.” [1, tr.26]. Đọc tới thiên 34 Cuộc bình văn trong nhà Giám – “Khoảng năm Giáp Thìn (1784) đời Cảnh Hưng, ta mới ra du học đất kinh thành” [1, tr.131] ta biết tác giả ở nhà để tang bố và chăm sóc mẹ trong khoảng ba năm từ 1781 đến 1784.

2.2. Đoái trông hiện tại

Như đã nói từ đầu bài – thiên Tự thuật đọc thấy nơi đầu sách Vũ trung tùy bút này này là kết quả của việc Phạm Đình Hổ thuật chuyện bản thân thành thiên tự truyện – một trần thuật từ ngôi nhân xưng thứ nhất, trong đó tuyến tính của dòng thời gian sự kiện đã bị xáo trộn. Toàn thiên rõ ràng được được tạo nên từ ba trường đoạn, mỗi một trường đoạn hồi cố xong một vài chuyện quá vãng lại kết lại với một đoái nhìn hiện tại – “Thấm thoắt… Nay đến…”, “Còn nhớ… mà nay…”, “Cuối mùa đông năm ấy… Nay…”. Không khó nhận ra các hồi tưởng trong các trường đoạn thứ nhất rồi thứ hai đều liên quan đến song thân đã sớm khuất núi. Và rồi đến phần kết hồi tưởng thứ ba lại nhắc đến người anh thứ cũng đã mất đi. Đó cũng chính là lúc kết lại thiên Tự thuật. Hoặc ta cũng có thể nói đó là lúc ngòi bút tự sự rời dòng hồi tưởng quay về với “hiện tại” của việc kể chuyện đặng kết lại thiên mở đầu cuốn sách – “Nay anh hai ta đã mất rồi, cảnh gia đình thì tiêu điều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ.” [1, tr.27].

Để có thể biết được “Nay” ở trong lời thuật trên chỉ quãng thời gian nào, ta phải quay lại với đoạn trần thuật liên quan tới người mẹ ở phần đầu thiên 1 Tự thuật này: “Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những điều cờ bạc chè rượu làm răn. Mà ta nay đã ngoài ba mươi tuổi, […]”[1, tr.26]. Căn cứ vào câu mở đầu thiên truyện ta dễ dàng định vị cái “hiện tại” tự sự “Nay” này là ở vào quãng cuối thập niên 1790 đầu thập niên 1800. Cụ thể ta có thể phán đoán thiên Tự thuật này được hoàn thành không sớm hơn thời điểm 1798 – năm Phạm Đình Hổ bước vào tuổi tam thập nhi lập. Đối chiếu với cuộc đời ông và hoàn cảnh lịch sử xã hội lúc đó bạn đọc sẽ thấy mấy lời “ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ” kết thiên ấy chẳng phải là lời nói sáo![7]

Đọc thiên Tự thuật mở đầu Vũ trung tùy bút ta hình dung lên được hình tượng tác giả trần thuật – viết sách: một người mà từ thủa ấu thơ đã lánh xa những thú vui tiêu khiển thông thường, ham học, hướng thượng, hiếu cổ, lấy việc “lập thân hành đạo” làm bổn phận, yêu mến cảnh sắc làng quê non sông yên bình, chân thành mơ ước được nổi tiếng văn chương với đời để làm rạng danh dòng dõi. Kẻ đó như ta đọc thấy chỗ cuối thiên – tới lúc vào đời thì đã “cảnh nhà tiêu điều”, “non sông mờ mịt”, bản thân “lưu lạc giang hồ”.

Hoàn toàn có thể khẳng định rằng chính là trên những nẻo đường “lưu lạc giang hồ” đó, 89 thiên xếp sau thiên Tự thuật tạo thành Vũ trung tùy bút này đã được viết dần ra. Giờ đây khi đọc cả tập sách, đặt mình trong tư thái của một người thụ thuật (tiếp nhận tự sự) một mặt ta cố chắp nối trở lại dòng thời gian được kể đến (thời gian của chuyện), một mặt ta cố gắng phỏng đoán dòng thời gian của việc kể (thời gian của truyện) [3, tr.40, 50][8]. Và trong trường hợp chấp nhận đồng nhất thời gian của việc kể này với thời gian viết (kí thuật), ta có thể đoán định Vũ trung tùy bút là một tập sách gom kết những thiên tự sự được hoàn thành trong quãng nửa sau thập niên 1790 nửa đầu thập niên 1800.

Giữ tư thế đọc đối chiếu thiên Tự thuật với các thiên về sau ta dường như có thể đoán định Vũ trung tùy bút ra đời như là để kỉ niệm một chặng đường cùng lưu lạc đó. Và sự quán xuyến từ đầu đến cuối của hình tượng một cái tôi tác giả cầm bút thuật sự, cảm hoài chính là sợi dây vô hình kết nối tản mạn 89 thiên bút lục thành cuốn sách. Cái tôi đó như ta thấy hiện diện ngay từ thiên mở đầu – một sự hiện diện chứa đựng trong nó cái “quá khứ” chuyện ngày qua cũng như cả cái “hiện tại” giờ đây ngồi viết truyện. Thực tế ta đều thấy chuỗi tiếp nối các thiên không xếp theo nhóm đề tài hay thể cách văn bản nhất định nơi Vũ trung tùy bút quả cũng là một cách đưa người đọc theo chân một cái tôi tác giả tự sự dạo bước giữa dặm dài cuộc thế với bao Người-Việc-Cảnh. Kĩ thuật montage của điện ảnh giúp ích rất nhiều cho nhà làm phim. Độc giả Vũ trung tùy bút cũng chẳng ngại dùng kĩ xảo ấy mà “cắt ghép” kết nối các thiên trong khi đọc nó. Trong êm đềm một sáng vắng bên song, lần giở những trang văn của Phạm Đình Hổ có thể bạn sẽ thấy Người-Việc-Cảnh trong tác phẩm này hiện lên như những thước phim… Thực tế là chỉ khi ta đọc cuốn sách-tác phẩm như chính ta là người đang định hay muốn viết ra nó thì ta mới có thể đọc ra nhiều điều thú vị; Vũ trung tùy bút do tính cách “tùy-bút” trong từng thiên cũng như tính cách “ngẫu-biên” trên toàn sách yêu cầu ta không nên chỉ đọc theo cách thông thường từ trước ra sau…

2.3. Ngó sang Tang thương ngẫu lục

Để hiểu rõ hơn câu chuyện thời gian tự sự Vũ trung tùy bút không ngại liên hệ một chút với Tang thương ngẫu lục (《桑滄偶錄》) – tác phẩm mà Phạm Đình Hổ đồng tác giả[9]. Như dưới thiên Bài kí chơi Núi Phật Tích (Phật Tích sơn kí -Chùa Thầy, thiên thứ 24 trong Tang thương ngẫu lục) thấy có đề “Ngày 15 giờ Ngọ, Đông Dã Tiều Tùng Niên phủ chép” [2, tr.83]. Xem lại câu mở đầu thiên bút kí thì biết đó là năm Bính Thìn (1796).[10] Tới thiên Chùa Kim Liên (thiên thứ 89 trong Tang thương ngẫu lục) ta biết một năm sau Tùng Niên Phạm Đình Hổ đã cùng bạn Kính Phủ Nguyễn Án viếng thăm Chùa Kim Liên bên Hồ Tây. Câu mở đầu thiên du kí: “Mùa thu năm Đinh Tỵ (1797) tôi cùng các ông Nguyễn Thạch Hiên, Nguyễn Kính Phủ, Hoàng Hy Đỗ đến vãn cảnh chùa Kim Liên ở làng Nghi Tàm…” [2, tr.231]. Đọc sang Vũ trung tùy bút tới các thiên thứ 10 Cách uống chè, thiên 12 Rằm tháng Tám ta biết những người bạn đó tới thu sau thì đã mỗi người một ngả. Trần thuật trong hai thiên vừa kể cho thấy những năm kế đó tác giả đã lâm cảnh đất khách quê người, gặp tiết Trung Thu lại viếng ngôi chùa ở vùng ông đang ngồi dạy học. Như vậy là bằng cách kết nối các thiên trần thuật cách rời nhau như trên, ta dường như đã có thể tái “biên niên” chuỗi sự kiện thăm chùa vãng cảnh của chính tác giả trong một tư cách “kép” (chủ thể kí thuật mà cũng là nhân vật của truyện) theo trình tự năm thời gian: Thìn-Tỵ-Ngọ-Mùi (1796-1797-1798-1799). Nhân tiện cũng nên biết năm Mậu Ngọ (1798) là mốc thời gian muộn nhất được trần thuật trong Tang thương ngẫu lục (xem thiên 49 Tượng Già Lam tại ngôi chùa ở ngoài cánh đồng)[11] trong lúc mốc thời gian muộn nhất trần thuật đến trong Vũ trung tùy bút là năm 1805 (thiên thứ 36 Điềm quái gở: “Mùa thu năm Ất Sửu (1805) đời Gia Long, ở Sơn Nam, huyện Tiên Lữ, có một người đàn bà sinh ra một đứa con trai hai đầu[1, tr.139]). Tất nhiên tự sự các thiên truyện không phải lúc nào cũng dùng hình thức “thời gian xác định”. Cũng có lúc “thời gian được kể” cần được suy ra từ cách ta nối kết, đối chiếu các trần thuật. Ví dụ mở đầu thiên 5 Cảnh chùa Sơn Tây: “Khi tiên đại phu ta làm quan Tuần phủ tỉnh Sơn Tây, ta có theo lên chơi…”, kết thúc: “Đến nay thấm thoắt hơn ba mươi năm, phong cảnh nước non vẫn còn như phảng phất ở trước mắt ta.” [1, tr.35]. Một người đã đọc thiên Tự thuật đầu sách (ngay những dòng trần thuật đầu tiên đã cho ta biết thời gian làm quan ở Sơn Tây của vị tuần phủ này – “Năm ta lên năm, sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn Tây”) đến đây sẽ suy được “Đến nay thấm thoắt hơn ba mươi năm” đấy là quãng những năm 1804-1805. Như đã chỉ ra, có thể cho rằng “Đến nay” trong câu kết thiên dường như là quy chỉ năm 1805 – mốc thời gian được xem là muộn nhất được trần thuật đến trong dòng tự sự Vũ trung tùy bút. Mốc muộn thứ nhì có thể là mốc 1803 – Thiên Đoàn Thượng: “Khoảng năm Quý Hợi (1803) đời Gia Long, có chiếc thuyền buôn ghé vào bến Trường Tân.” [1, tr.172].[12]

Phân tích trên giúp ta tạm đoán định Vũ trung tùy bút hoàn thành sớm nhất không trước 1805 cũng như Tang thương ngẫu lục hoàn thành sớm nhất không trước 1798. Tất nhiên đó cũng chỉ là một phỏng đoán. Hai mốc thời gian 1798 và 1805 nói trên là hai mốc được trần thuật xác định (nói rõ năm “Mậu Ngọ” và “Ất Sửu”), có thể có những thiên khác viết về những chuyện xảy ra sau hai mốc thời gian vừa kể nhưng lại không có sự xác định thời gian cụ thể như thế trong trần thuật. Và thực ra, những phỏng đoán thời gian vừa trình bày có lẽ cũng chỉ tỏ ra quan trọng đối với nhà nghiên cứu. Đối với bạn đọc thông thường, câu hỏi tác giả còn làm những việc gì trong cùng thời gian đó dường như mới là điều quan trọng hơn.

Phải, Phạm Đình Hổ đang làm gì khi “Pho tượng Già Lam tại ngôi chùa ở ngoài cánh đồng (nhan đề thiên thứ 49 trong Tang thương ngẫu lục) làng Kim Ngưu huyện Văn Giang” [2, tr.140] nọ bị đạp đổ năm Mậu Ngọ 1798? Hay vào dịp “Thu năm Ất Sửu (1805) đời Gia Long” khi “Quan địa phương vẽ hình (đứa con trai hai đầu, từ rốn trở lên chia ra hai thân thể có ngấn liền nhau – LTT) chuyển tư lên quan trấn Bắc Thành” [1, tr.139] (thiên Điềm quái gở trong Vũ trung tùy bút) thì bản thân tác giả đang ở đâu? Câu trả lời có thể tìm thấy theo cách đọc và đối chiếu các thông tin trần thuật nhất định từ các thiên khác trong cùng cuốn sách (ví dụ: “Năm Mậu Ngọ (1798), ta dạy học ở thôn Khánh Vân, tổng Hà Liễu (Thường Tín)” – thiên 10 Cách uống chè [1, tr.58]). Và dĩ nhiên nếu như tản mạn giữa sách khó tìm thì giản tiện hơn – ta hãy lần lại thiên Tự thuật đầu sách. Quả thực, thiên Tự thuật với các mốc thời gian cuộc đời của chính tác giả – kẻ xuất hiện ngay trong các thiên truyện giữa cuốn sách vừa như một chủ thể kí thuật vừa như một nhân vật tham gia hoặc chứng kiến bao chuyện – chính là một chỗ dựa để ta “định vị” bối cảnh thời gian chung cho toàn thể tự sự trong toàn sách.

  1. Thay lời kết

Công việc gọi là xác định trên đại thể thời gian tự sự của tác phẩm nói rõ trong nhan đề bài viết này thực ra là kết quả của cách đọc nối kết các thông tin trần thuật trong nội bộ thiên Tự thuật với các thông tin trần thuật trên quy mô toàn sách. Dĩ nhiên công việc đó sở dĩ có thể thực hiện được – một phần lớn điều kiện nằm ở việc quy chiếu rõ sở chỉ thời gian niên lịch ở cụm từ “niên hiệu Cảnh Hưng” – cụm từ xuất hiện ngay từ câu đầu tiên của thiên đầu tiên tập sách. Giới hạn thời gian tự sự tạo lên nhờ ở cụm từ mở đầu thiên mở đầu cuốn sách này đồng thời cũng đã dựng lên khung thời gian chung “bao chứa” thời gian “trứ thuật” tất cả các thiên còn lại. Đặt vấn đề tương tự đối với một cuốn tiểu thuyết hư cấu có lẽ là thừa nhưng đối với một kết tập các thiên bút kí người thật việc thật kiểu Vũ trung tùy bút thì đó lại là một cách đọc giúp ta cảm nhận sâu hơn chân dung hình tượng tác giả tự thuật cũng như bản thân kết cấu cụ thể của cuốn sách. Bởi vì mở đọc một thiên bút kí là ta đã ở vào một tư thái đọc hiểu khác với lúc ta đến với sáng tác truyện ngắn hay tiểu thuyết – nơi mà tác giả tên đề ngoài bìa giữ một “khoảng cách” với hình tượng cái tôi trần thuật trong truyện, kẻ đang thao thao thuật kể về mọi việc nhưng không hề để ý hay chấp chuyện nhắm tới một hiện thực ngoại tại xác chỉ (definite) có thể kiểm chứng hay tâm tư của cá nhân có thực (real person) ngoài đời.[13] Chính là từ ý nghĩa này mà ta có thể nói – chính là nhờ Vũ Trung tùy bút mà tác giả của nó đã có thể “lấy văn thơ nổi tiếng ở đời” – không phải là cái mơ ước nổi tiếng cá nhân vị kỉ mà nổi tiếng “để cho người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia”[14], cái nổi tiếng còn giúp cho hậu nhân soạn sách khảo cứu văn học sử ngày nay còn có điều mà viết, chẳng đến nỗi bó bút như đối trường hợp văn nhân ngoài vẻn vẹn một cái tên đề bìa tiểu thuyết quyết không để lại tài liệu nào cho biết thêm về nhân thân.

  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Đình Hổ (2012), Vũ Trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến), Nxb. Trẻ-Nxb. Hồng Bàng, Tp.HCM.

[2] Phạm Đình Hổ-Nguyễn Án (1962), Tang thương ngẫu lục (Đạm Nguyên dịch), Bộ Quốc gia Giáo dục Xuất bản, Saigon.

[3] Lê Thời Tân (2014), Dẫn luận Tự sự học, Nxb. ĐHQGHN, Hà Nội.

 

 

[1] Có thể vào lúc viết từng thiên cụ thể, Phạm Đình Hổ quả cũng đã nghĩ tới những “thể thức” văn chương từng có (tiểu truyện/truyện kí/phả kí/liệt truyện/truyền kì/thi thoại/du kí/bút kí/tự thuật/biên khảo). Và cũng có thể là vào lúc viết xong mỗi thiên, tác giả từng có viết vài dòng “lạc khoản” ghi lại thời gian và nơi chốn viết bài. Nhưng rồi tới lúc gom biên thành sách những chỗ đó đã được lược đi. Hệ quả là ngày nay lướt nhìn mục lục hay giở nhanh một lượt toàn sách ta thấy tính cách “ngẫu lục”, “tùy bút” hoặc cũng có thể nói “tạp kí” của tập sách nổi lên rất rõ.

[2] Hoàn toàn có thể phỏng đoán thiên này nếu không gọi là “tự thuật” thì rất có thể sẽ được đặt là – chẳng hạn “Tùng Niên tiểu truyện” (tác giả tự đề) hay “Chiêu Hổ tiên sinh tiểu truyện” (Nguyễn Án viết cho chẳng hạn) hay “Đông Dã Tiều tiểu truyện”. Bất kể là thế nào đi nữa thì hai chữ “tự thuật” trong nhan đề  thiên mở đầu Vũ trung tùy bút này cũng đã góp phần vào việc phác họa cái tư thái trước tác của người danh sĩ.

[3] Vũ trung tùy bút văn bản gốc nay không còn, chỉ còn lại những tập tạm gọi là truyền bản. Tất nhiên trong tình hình như thế ta không còn có thể nói đến “nguyên văn”, “nguyên cảo” hay “nguyên tác” tác phẩm này được nữa. Trật tự các thiên mà bài viết này trích dẫn trước sau dựa theo Vũ trung tùy bút (bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến)[1]. Giả định thiên Tự thuật là thiên sau cùng trong chuỗi 90 thiên, tức ở vào vị trí cuối sách – cái vị trí có thể dành cho một lời bạt hay “hậu tự” thì nó vẫn giữ nguyên cái tác dụng chiếu ứng ngược tới 89 thiên toàn sách như thường!

[4] Cổ Hán văn có ba đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất , ngô, ngã (余,吾,我). Phạm Đình Hổ sử dụng tùy theo văn cảnh một trong ba đại từ đó khi thuật kể. Bản dịch Việt văn Vũ Trung Tùy Bút của Nguyễn Hữu Tiến đành nhất loạt dịch là “ta” (Tang thương ngẫu lục bản dịch Đạm Nguyên dùng đại từ “tôi”). Nói chung trong truyện kí khi tự sự xưng “tôi” để thuật kể thì hình tượng cái tôi chủ thể trần thuật dĩ nhiên hiện lên một cách trực tiếp.

[5] Xin lưu ý “vũ trung” trong nhan đề sách Phạm Đình Hổ (hay “kí sự” trong Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác) là hai từ (chữ) chứ không phải là một từ hoặc nói đúng hơn – là một thuật ngữ chỉ thể loại văn xuôi theo phân định của lí luận văn học hay văn học sử ngày nay.

[6] Tự thuật có đoạn tả cảnh vườn nhà nơi cố hương tác giả: “…Trong ao thả hồng liên và bạch liên, chung quanh bờ trồng thanh liễu và cam quít. Cách nhà khách năm sáu bước, lại chắn ngang một rặng rào trúc, từ phía nam nhà trung đường đến bờ ao phía tây; phía bắc thì dựng một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có trồng năm ba cây hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn. Trông xa ra ngoài cánh đồng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái quán trơ trọi.” [1, tr.26-27].

[7] Tạm tính từ 1786 Quang Trung ra Bắc dẹp Trịnh cho đến 1802 Quang Toản chết, Gia Long nhất thống giang sơn, sĩ phu Bắc Hà quả có thể mục kích cuộc tang thương chưa từng có trong lịch sử. Ta chả có thể mong những kí thuật của một số kẻ sĩ thời đó còn có thể đi kèm ghi chú niên hiệu đời vua được nữa.

[8] Trong Dẫn luận Tự sự học chúng tôi dùng thêm cặp cụm từ “thời gian trần thuật” và “thời gian câu chuyện” để chỉ sự phân biệt này.

[9] Đọc Vũ trung tùy bút ta thấy không ít chỗ nhắc đến Tang thương ngẫu lục (chẳng hạn ở các thiên Phép thi nghiêm mật, Bùi Thế Vinh, Đoàn Thượng). Căn cứ vào những chỗ đó ta có thể đoán định vào lúc Phạm Đình Hổ viết những thiên rồi sẽ tập hợp lại dưới nhan đề chung Vũ trung tùy bút thì Tang thương ngẫu lục chí ít cũng đã được kết tập.

[10] Quan hệ giữa hai tuyến thời gian (thời gian được kể và thời gian kể) diễn ra rất phức tạp trong các tác phẩm tự sự nói chung. Riêng ở thể kí mối quan hệ này có những nét riêng đặc biệt. Khác với chẳng hạn thiên Tự thuật, Phật Tích Sơn kí duy trì một tiến trình song song giữa thời gian được kể và thời gian kể.

[11] Nguyên văn: “Mậu Ngọ tuế Quý hạ”. Thế kỉ 18 có hai năm Mậu Ngọ tương ứng công lịch 1738 và 1798. Phạm Đình Hổ sống cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19 nên câu mở đầu thiên truyện này có thể dịch là “Tháng Ba năm Mậu Ngọ 1798”.

[12] Như ta thấy Cảnh chùa Sơn Tây là thiên thứ 5, Đoàn Thượng là thiên thứ 43. Điều này phần nào cho thấy trong tính cách là một cuốn sách – Vũ trung tùy bút dường như là một sự gom kết tự do các thiên đã viết thành tập. Đặc điểm này càng ủng hộ cách đọc “tung hoành” xuyên nối các thiên theo những chủ đích đọc hiểu nhất định.

[13] Các thông tin tiểu sử Phạm Đình Hổ thực tế được chắt lọc từ chính tác phẩm của ông, gia phổ dòng họ Phạm (cụ thể: Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả – 唐安丹鑾范家世譜, bản chép tay lưu tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm số hiệu VHV.1353), các cuốn sử (chẳng hạn Đại Nam chính biên liệt truyện -大南列傳正編) và các tài liệu thành văn hiện có. Suy cho cùng soạn tiểu sử đó cũng là một cách tự sự về một nhân vật từng xuất hiện giữa lịch sử-nhân quần (Short Biography – a historical account or biography written from personal knowledge or special sources), một người có thực!

[14] Xem lại phần đầu thiên Tự thuật: “Bà bảo mẫu họ Hoàng thường hỏi ta:“Về sau có muốn làm gì không? Ta nói: “Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia, chí tôi chỉ muốn như thế thôi”. Bà bảo mẫu nghe ta nói thế, lại mách cho đấng Tiên đại phu và bà cung nhân ta biết, các vị đều ban khen cả. Thấm thoắt hơn hai mươi năm trời mà lời dạy bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai.” [1, tr.24]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s