Truyện Kể như là Diễn ngôn và Truyện Kể như là văn bản- Giới hạn tiếp cận của vài ba đại biểu Tự Sự Học Cấu trúc Luận

500_F_48766763_yoebCs1JziSouihn72skVvrFVGr2ZPtO.jpg

Lê Thời Tân

 

 1 .

F. de Saussure từng nói sự phân biệt ngôn ngữ và lời nói tạo nên ngã ba đầu tiên trong công việc kiến lập lí luận hoạt động ngôn ngữ. Không thể tiến lên đồng thời trên hai lối rẽ từ ngã ba đó, F. de Saussure chỉ bước đường ngôn ngữ học cấu trúc luận (tuy trước lúc khởi bước đường mình, ông cũng đã dự kiến viễn cảnh lối rẽ đường bên kia với cái tên “ngôn ngữ học lời nói”). F. de Saussure đã đi trọn đường mình và cũng từng dự kiến chân trời mới của khoa kí hiệu học. Ông nói ngôn ngữ học mà ông xây dựng sẽ chỉ là một bộ phận của một sémiologie général. Ngày nay đã xuất hiện thuật ngữ diễn ngôn. Có ý kiến đề xuất quan điểm xem diễn ngôn đối lập với văn bản như ngôn ngữ học cấu trúc luận đã đối lập lời nói và ngôn ngữ. Đây đó xuất hiện cách nói “phân tích cấu trúc diễn ngôn”. Vậy mà theo chúng tôi một khi đã coi diễn ngôn là lời nói thì làm thế nào để đặt được vấn đề tiếp cận diễn ngôn theo quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc luận được nữa. Mặc dù vậy,  tình thế mới – xem truyện kể như những diễn ngôn cũng là một dịp để chúng tôi cố gắng tiếp cận trở lại cách tiếp cận truyện kể của vài ba đại biểu tự sự học cấu trúc luận Pháp tiêu biểu như R. Barthes, Tz. Todorov và G. Genette. Trên thực tế các nhà nghiên cứu tự sự học cấu trúc luận này đều không phải là những nhà ngôn ngữ học thực sự. Cứ như những gì họ đã làm trong nghiên cứu các tác phẩm văn học tự sự thì họ là những người vận dụng ngôn ngữ học cấu trúc luận vào nghiên cứu văn bản tự sự. Không phải ngẫu nhiên mà Tz. Todorov đã tuyên xưng danh từ “tự sự học” (narratologie) để gọi hướng nghiên cứu mà cho đến thời điểm ông viết “Ngữ pháp Chuyện Mười Ngày” người ta vẫn quen nghĩ đó là thi pháp học. Mặc dù vậy, các nhà tự sự học này thực ra đã tiếp nối ý thức gạt qua một bên câu chuyện lời nói để nghiên cứu sáng tác tự sự dưới góc nhìn ngữ pháp học cấu trúc luận. Hoặc ta cũng có thể nói rằng các nhà tự sự học cụ thể như R. Barthes, Tz. Todorov, G. Genette đã “văn bản hóa” sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyện kể để tiếp cận chúng theo cách mà F. de Saussure xưa kia từng dùng để tiếp cận ngôn ngữ. Tiếp cận một thiên truyện như một “văn bản” – tập hợp trên câu rốt cuộc đã đưa họ đến với kết quả khái quát hóa cao độ cấu trúc ngôn ngữ nội tại của tác phẩm tự sự. Thế nhưng sáng tác văn chương nói chung, truyện kể nói riêng vốn chính phải là một sự giao tiếp ngôn từ. Chúng ta cần thấy ngay từ đầu một điều là loại sáng tác tự sự mà R. Barthes, Tz. Todorov, G. Genette tiếp cận những diễn ngôn tự sự – lời nói thứ sinh đặc biệt. Thuật ngữ “thứ sinh” ở đây dùng để chỉ tính cách “mô phỏng” dụng ngữ “nguyên sinh” của sáng tác truyện, trong lúc dụng ngữ “nguyên sinh” chính là trạng thái sinh hoạt nói viết nhật dụng thông thường. Dù cho trên thực tế có thể xem “kể chuyện” là một dạng dụng ngữ nguyên sinh trong đời sống sinh hoạt thông thường nhưng một khi đã là “truyện kể” thì đó chính là dụng ngữ “thứ sinh”. Từ một góc độ nhất định ta có thể nói sáng tác tự sự chính là biến Chuyện thành Truyện. Truyện là một diễn ngôn và nó cần phải được tiếp cận như là tiếp cận với một cách dụng ngữ đặc biệt. Phân tích lần lượt các dẫn liệu (không tránh khỏi cục bộ và thiên kiến) theo trình tự từ dưới đây cho ta thấy khuynh hướng ngược lại – tiếp cận truyện như những văn bản của tác giả cụ thể chứ không phải như những diễn ngôn giao tiếp nói chung. 

2.1. Tác phẩm thể hiện tập trung lập trường tự sự học cấu trúc luận của R. Barthes là Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể (Introduction à l’analyse structurale des récits) [1]. Rõ ràng là ta không thể lập luận một cách đơn giản rằng truyện kể là văn bản viết để từ đó cho rằng Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể của R. Barthes là phân tích ngôn ngữ. Cần thấy rằng tác giả của công trình có tính cách dẫn luận cho một lí thuyết mới này tuy trực diện với một loại ngôn bản ngôn ngữ thứ sinh đặc biệt – tự sự truyện kể nhưng tinh thần của R. Barthes vẫn là ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển. Nhà khoa học dường như cố ý đông kết các diễn ngôn tự sự truyện thành đơn vị đồng đẳng với đơn vị câu của ngôn ngữ học hình thức để tái phát hiện cấu trúc ngôn ngữ tiềm ẩn. Có thể nói R. Barthes không phải không ý thức tới tính chất “lời nói” của truyện kể nhưng ông chỉ muốn quy chúng về ngôn ngữ, xem chúng là những văn bản tự sự kết quả của những sự vận dụng các khuôn ngữ pháp tự sự trừu tượng. Ở ta, từng có ý kiến muốn dùng thuật ngữ “ngôn bản” thay vì dùng thuật ngữ “diễn ngôn”. Nếu cho rằng thuật ngữ “ngôn bản” đã có sự chú ý tới “lời nói” (ngôn) thì trong trường hợp R. Barthes trọng tâm vẫn là “ngôn ngữ” (bản). Cái ý hướng cấu trúc luận mạnh tới nỗi dường như đã khiến cho R. Barthes thậm chí tìm cách định nghĩa lại nhà văn  và việc viết để “cắt chặn” tính hướng ngoại – vốn là đặc tính tự nhiên của diễn ngôn. Trong tác phẩm phê bình đầu tiên Độ không của Viết (Dégré Zéro de l’ecriture, 1953) [2] R. Barthes có phân biệt viết (văn) và khẩu ngữ, sáng tác và nói năng: “Viết biểu hiện ra tính phong bế khác với khẩu ngữ. Viết hoàn toàn không phải là phương tiện giao lưu, cũng chẳng phải con đường mở rộng cho thông hành của ý hướng ngôn ngữ” [3 tr. 32].[1] R. Barthes nói “Dùng từ “văn học”, tôi vừa không chỉ một người cũng chẳng chỉ một loạt tác phẩm. Thậm chí cũng chẳng chỉ một thứ giao lưu xã hội hay diễn giảng mà là chỉ những quanh co phức tạp của một lối đi thực tiễn – thực tiễn của viết. […] Văn học tức là viết hoặc văn bản”.[2] R. Barthes cho rằng nói hướng ra bên ngoài, là một cách giao lưu với người khác; viết hướng vào bản thân hành vi viết, là giao thiệp với chính mình. Phân biệt này chuyển hóa thành sự phân biệt nhà văn với người viết. Trong S/Z nhân phân tích sáng tác Flaubert, R. Barthes nhắc lại “Bản chất của viết cự tuyệt trả lời câu hỏi – ai đang nói?” – một câu hỏi mà trước đó R. Barthes đã nêu lên trong đầu đề một cuốn sách (câu mở đầu Nhà văn và Người viết:[3] “Ai nói? Ai viết?”). R. Barthes nhận thấy có một số tác giả viết đúng là để miêu tả một cái gì đó. Những người này thông qua việc viết khiến người ta chú ý tới đối tượng mà họ miêu tả. Đối với họ, ngôn ngữ chỉ là để thực hiện mục đích đó. Với những nhà văn đó, ngôn ngữ giúp đỡ chứ không cấu thành thực tiễn viết. R. Barthes gọi kiểu nhà văn này là “người viết”, gọi phương thức viết của họ là kiểu viết “cập vật”. Còn nhà văn thực sự lại là những người mà việc viết ở họ không khiến ta chú ý tới những thứ bên ngoài nó mà ngược lại, dẫn ta hướng về bản thân sự viết. Họ viết làm sản sinh viết, họ là nhà văn “bất cập vật”. R. Barthes nói, viết ở những người mà ông gọi là “người viết” khi nào cũng là để tức khắc nói lên điều mà họ suy nghĩ. Cái công năng viết biểu đạt trực tiếp tương tự khẩu ngữ của những người mà R. Barthes gọi là “người viết” đó đối lập với cái công năng viết thực sự ở những kẻ gọi được ông gọi là “nhà văn”. Nhà ngữ học Hoàng Dũng dẫn giải rất rất rõ về điều này: “R. Barthes phân biệt người viết (écrivant) với nhà văn (écrivain): người thứ nhất thực hiện một chức năng, còn người thứ hai thực hiện một hoạt động. Người viết dùng ngôn ngữ để nói về một sự vật nào đó, nói cách khác, để nhắm đến một mục đích ngoài ngôn ngữ; trong khi nhà văn không có ý định như vậy: anh ta chỉ muốn thu hút người đọc vào chính hoạt động viết của anh ta.” Có thể thấy, phân biệt tính cập vật của lối viết “người viết” và tính bất cập vật của sự viết “nhà văn” của R. Barthes ở đây gần gũi về mặt tinh thần với phân biệt “chức năng quy chiếu – referential function” và “chức năng thi ca – poetic function” nơi ngôn ngữ của R. Jakobson.

2.2. Xin nhắc lại không phải các nhà cấu trúc luận như R. Barthes hay Tz. Todorov không chú ý tới hoạt động ngôn ngữ lời nói. Todorov thậm chí khi bàn về các thể loại văn học đã chú ý phân biệt văn bản texte với discours diễn ngôn. Thử đọc một đoạn chuyên luận “Xung quanh Khái niệm Văn học” của Tz. Todorov (La Notion de Littérature et Autres Essais, Seuil xuất bản 1983): “Thể tài chính là chủng loại văn bản. Định nghĩa này đã sử dụng thêm một thuật ngữ thế nhưng vẫn không che khuất đi được một đặc trưng đồng nghĩa trở đi trở lại: thể tài tức chủng loại, văn học tức văn bản. Thêm một tên gọi chả bằng đi tìm hiểu nội hàm của khái niệm. Điều đầu tiên cần tìm hiểu là văn bản hoặc dùng một từ đồng nghĩa khác để nói – từ diễn ngôn (discours). Văn bản hoặc diễn ngôn như người ta nói, là một chuỗi câu. Ấy thế nhưng cũng chính vì quan điểm đó mà sự hiểu nhầm đầu tiên đã hình thành. [Người trích tô đậm và lược đi một đoạn] Câu là một thực thể ngôn ngữ cũng là một thực thể của nhà ngôn ngữ học. Nó là tổ hợp từ ngữ có thể chứ không phải là một hành vi lời nói cụ thể. Cùng một câu có thể được nói trong những hoàn cảnh khác nhau. Đối với nhà ngôn ngữ học mà nói, thân phận câu đó không có gì thay đổi dù ý nghĩa thì đã thay đổi tùy theo hoàn cảnh ngôn thuyết. Diễn ngôn không phải là do câu cấu thành mà là do câu được trần thuật cấu thành. Hoặc nói đơn giản hơn do câu trần thuật tổ thành. Vậy mà việc giải thích sự thực nói năng đó một mặt bị quyết định từ câu được trần thuật, mặt khác cũng chịu quyết định từ bản thân hành vi nói năng. Hành vi nói năng này bao gồm người nói, người nghe, thời gian-địa điểm, lời phía trước và lời phía sau. Tóm lại, nó bao gồm một ngữ cảnh. Nói cách khác, lời nói trước sau và thế tất phải là hành vi nói năng (acte de parole)” [4].[4] Đây là một đoạn trong phần I (Nguồn gốc thể tài) của chuyên luận La Notion de Littérature et Autres Essais. Đoạn đó cho ta thấy Tz. Todorov có chú ý phân biệt văn bản texte với discours diễn ngôn. Thế nhưng tiếp đó ở phần II bước sang phân tích các sản phẩm “do câu được trần thuật cấu thành” như Chuyện Mười Ngày, Gulliver Du thì ông trước sau dường như chỉ quan tâm tới cấu trúc ngôn ngữ. Tz. Todorov trên thực tế đã mở đầu phần II nhan đề “Hai nguyên tắc của tự sự” bằng việc dẫn dụng Propp (Hình thái truyện cổ tích Nga). Tới lúc kết thúc phần này, cha đẻ của danh xưng “tự sự học” (narratologie) lại viện dẫn R. Jakobson – người được xem là đã khai sinh danh xưng “chủ nghĩa cấu trúc”. Và ngay sau khi luận giải về sự khu biệt ẩn dụ và hoán dụ (đi kèm với việc chỉ rõ thơ chịu sự chi phối của của nguyên tắc tính tương tự trong lúc văn xuôi hoạt động trong quan hệ tương cận) của R. Jakobson, Tz. Todorov đã đề xuất quan điểm cho rằng tiếp nối và chuyển hoán là hai nguyên tắc của tự sự. Nói chung, có thể thấy ở đây Tz. Todorov trước sau hoàn toàn đứng trên lập trường ngôn ngữ học cấu trúc luận. Một lần nữa ta lại thấy mô tả của tác giả Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương về hai mối quan hệ tổ hợp lân cận đồng hiện (syntagmatique) và liên tưởng tiềm tàng (in absentia) đổ bóng xuống thao tác phân tích cấu trúc thơ ca và văn xuôi nơi R. Jakobson, R. Barthes và Tz. Todorov như thế nào.[5]

2.3. Dường như lập trường cấu trúc luận nhị nguyên kiểu F. de Saussure mà R. Barthes và Tz. Todorov bộc lộ ra khi phân tích diễn ngôn tự sự nói trên đã được cải thiện ít nhiều nhờ việc đề xuất phương pháp tam phân chú ý thêm tới hành vi trần thuật bên cạnh câu chuyện và lời kể ở G. Genette. Chúng tôi từng đề cập đến G. Genette trong bài “Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết” [6 tr.15]. Khi đó chúng tôi dùng từ “thoại ngữ” với nghĩa tương đương với từ “diễn ngôn” mà bài chúng tôi đang viết ở đây dùng. Nói như vậy cũng có nghĩa rằng trong bài đã viết, từ “diễn ngôn” được chúng tôi dùng với nghĩa hẹp hơn nghĩa của từ “thoại ngữ”. Xin dẫn lại một đoạn từ bài này: “Học giả người Pháp G. Genette đi tiên phong đề xuất phương pháp tam phân (Discours du récit. Seuil, 1972; J.E. Lewin dịch  ra tiếng Anh Narrative Discourse. Ithaca: Cornell Univ. Press, 1980. Discours du récit là một bộ phận trong sách Figures III, Paris: Seuil, 1972): 1) câu chuyện (histoire) tức nội dung được kể; 2) thoại ngữ tự sự/trần thuật (récit) tức diễn ngôn kể, đó là văn bản tác phẩm tự sự mà độc giả đọc; 3) hành vi trần thuật (narration) tức quá trình hoặc hành động làm nảy sinh thoại ngữ. “Narration” trong tam phân của G. Genette đề cập đến quan hệ người nói/tác giả (“tiếng nói” tự sự) và người nghe/độc giả (kẻ thụ thuật). Có thể tạm hình dung tam phân của của G. Genette chính là tiếp tục nhị phân thoại ngữ tự sự thành diễn ngôn lời kểhành vi sản sinh lời kể. G. Genette nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của hành vi tự sự: không có hành vi tự sự thì không có thoại ngữ tự sự, tức cũng không có chuyện được kể ra” [5 tr. 16]. Với một chút thay đổi – khẳng định “ba bình diện đó phải được hình dung là tam diện nhất thể, chúng đồng sinh đồng tồn” chứ không phải là một sự tiếp tục lưỡng phân thoại ngữ tự sự thành diễn ngôn lời kểhành vi sản sinh lời kể, chúng tôi đã chuyển hóa tam phân của G. Genette thành hình ảnh “tam giác tự sự” như sau:

Untitled.png

Theo chúng tôi việc đề cập thêm chiều hành vi trần thuật ở tác phẩm tự sự chứng tỏ sự chú ý của học giả này tới tính động của nói ở lời kể, tính cách hướng ngoại của chủ thể tự sự. Nói cách khác, G. Genette đã cố gắng tiếp cận truyện kể trong nỗ lực hướng về nó như hướng về diễn ngôn chứ không chỉ là hướng về ngôn ngữ.

 2.4. Nói chung, cách làm coi văn bản tự sự là một đơn vị như câu và thực hiện quy nạp hình thức hóa ngữ pháp cao độ đối với diễn ngôn truyện kể nói một cách quá quắt – có khác gì việc phân tích các hư từ trong ngữ pháp ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển? Các nhà nghiên cứu văn học theo cấu trúc luận đã gạt tính cách diễn ngôn lời nói của các tác phẩm văn xuôi tự sự (truyện kể) ra và làm việc với các tác phẩm đó như làm việc với một đơn vị cấp trên câu – đơn vị văn bản. Mà với thực thể diễn ngôn thì những nhị nguyên chủ-vị, âm-nghĩa, nội dung-hình thức không phải chuyện cơ bản. Bởi vì mỗi một tác phẩm văn chương dù có thể phân quy được thành cặp bình diện năng biểu và sở biểu, nhưng để có thể thưởng thức nó ta còn muốn thấy bình diện dụng pháp. Ta muốn biết vì sao nhà văn lại dùng hình thức đó, anh ta giao tiếp với người khác (ngay cả trong trường hợp “độc thoại” viết cho mình) về chủ đề gì? Ngữ pháp của một thiên truyện là kết quả một quy nạp cấu trúc trừu tượng nhưng thiên truyện được viết để đi vào đọc-nghe-xem (tức đi vào ngôn quyển tự ngã – tha nhân hoán đổi khôn cùng) chứ đâu phải chỉ để chờ ngày được phát hiện thấy một cấu trúc trừu tượng nào đó.[6] Có lẽ đó cũng là một phần nguyên nhân vì sao mà ngôn ngữ học hậu cổ điển, cụ thể là ngữ pháp tạo sinh và cải biến, ngữ pháp chức năng tuy không chuyên biệt hóa loại diễn ngôn TRUYỆN kể (chứ không phải là CHUYỆN kể; tức không đặt vấn đề “ngôn ngữ thứ sinh”) thành đối tượng quan tâm riêng nhưng lại ý thức rất rõ về việc thoát ra khỏi sự chật chội của ngôn ngữ học cổ điển để đưa lời nói vào trong tầm nhìn của mình. Nhận xét của Cao Xuân Hạo “Dù ngữ pháp chức năng của giai đoạn hiện nay vẫn còn là một ngữ học của ngôn ngữ nhiều hơn là một ngữ học của ngôn từ (hay của lời nói) thì nó cũng khác hẳn ngôn ngữ học cấu trúc cổ điển” [7 tr. 16] giờ đây có thể đã phần nào lạc hậu nhưng sự phân biệt giữa hai hướng nghiên cứu mà ông nêu ra thì vẫn còn nguyên đó. Vấn đề có thể là trong ngôn ngữ học, ngữ pháp chức năng là tiến bộ nhưng trong nghiên cứu cấu trúc luận văn học làm như R. Barthes cũng không hẳn là bảo thủ. Điều đáng phàn nàn có chăng chính là ở chỗ phân tích cấu trúc hình thức hóa cực đoan cuối cùng đã khiến cho hình thức hóa không còn là công cụ / phương tiện mà lại biến thành mục đích tự thân. Trong nghiên cứu sáng tác tự sự bằng lời (loại diễn ngôn ngôn ngữ thứ sinh mà khi nhìn ở hành nghề sáng tác của nhà văn ta có thể gọi là viết nhưng nhìn trong giao tiếp tiếp nhận thì đó là nói-kể) đây là điều cần phải phê bình.

3 . 

Thế nhưng trách móc là việc dễ, tìm hiểu nguồn gốc của cái tạm gọi là “tội tổ tông” phạm ngay từ thủa gạt Lời-Nghĩa sang một bên của ngôn ngữ học cấu trúc luận mới là việc khó. Vả chăng ở đây còn có vấn đề giới hạn tự thân của phương pháp và công cụ. Hoặc nói như Chomsky khi nhận xét về ngôn ngữ học cấu trúc luận – đó là “hạn chế cần thiết” (limited necessary) [8 tr. 54]. Cha đẻ ngôn ngữ học cấu trúc luận F. de Saussure có nói đến tương lai có thể hình thành nên một khoa “ngôn ngữ học của lời nói” (linguistique de la parole) trong khi ngôn ngữ học ngôn ngữ mà ông đã xây dựng lại sẽ là tiền đề của ngành lớn hơn – ngành kí hiệu học (sémiologie) [9]. Có thể xem nghiên cứu diễn ngôn ngày nay là khoa học về lời nói hoặc bao quát hơn khoa học nghiên cứu hoạt động lời nói. Nếu bằng lòng với cách gọi “khoa học diễn ngôn” hay “diễn ngôn học” (the discourse reader) với ít nhiều sắc thái “phiếm chỉ” như thế thì ta sẽ thấy “khoa học” này có nhiều hướng nhiều nhánh. Có hướng “siêu ngôn ngữ” muốn trực diện với đời sống đích thực của lời nói đối thoại phức điệu của M. Bakhtin hồi đầu thế kỉ XX. Đến cuối thế kỉ XX lại có hướng đặt lại vấn đề diễn ngôn trong bối cảnh hậu-giải cấu trúc luận của J. Derrida, M. Foucault. Giữa thời gian đó có việc các nhà ngữ pháp tạo sinh, ngữ pháp chức năng muốn thoát ra khỏi tù túng của lưỡng phân ngôn ngữ/lời nói của ngôn ngữ học cấu trúc luận cổ điển trong lúc một số đại biểu của tự sự học chủ nghĩa cấu trúc – như bài viết này vừa dẫn giải, lại quay về với lập trường ngữ pháp cấu trúc luận để tiếp cận diễn ngôn truyện kể. Dẫn giải chủ đề chính trong bài viết này thực tế chỉ dựa trên một sự phân tích có giới hạn các dẫn chứng lấy từ các tác phẩm tiêu biểu của R. Barthes, Tz. Todorov và G. Genette. Cách làm đó khiến cho luận giải trong bài viết này dường như không tránh khỏi bất cập và thậm chí có thể bị xem là tư biện. Vậy mà chúng tôi trước sau vẫn tin tưởng rằng ý hướng quy tác phẩm tự sự về diễn ngôn để tiếp cận chúng như là tiếp cận giao tiếp lời nói chắc là một điều đáng được cổ vũ. Ý hướng đó giúp chúng ta vượt lên trên nhị nguyên luận trừu tượng đến với tự sự như đến với “đời sống đích thực của lời nói” – nơi nhà văn-tác phẩm-bạn đọc hoạt hiện trong một ngôn quyển sống động bất tuyệt.

  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Lai Thúy chủ biên, Sự đỏng đảnh của phương pháp, Nxb. Văn hóa Thông tin – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2004.
  2. Barthes, Độ không của lối viết, Nxb. Hội Nhà văn, 1997.
  3. 耿秋壯”书写的神话-西方文化中的文学–The Myth of Writings: Literature in Western Culture” 中国人民大学出版社 – China Renmin University Press, 2006.
  4. 托多洛夫著 蒋子华张萍译 “巴赫金-对话理论及其他” 百花文艺出版社 2001年版.
  5. Lê Thời Tân, “Nhận thức lại vấn đề kết cấu tác phẩm văn học dưới góc nhìn Cấu trúc luận”, Thi pháp học ở Việt Nam, Giáo Dục, Hà Nội, 2010
  6. Lê Thời Tân, “Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số vấn đề lí thuyết”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10, tháng 10/2008.
  7. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp Chức năng, Nxb. KHXH, 2005.
  8. Noam Chomsky, Ngôn ngữ & Ý thức (Hoàng Văn Vân dịch), Nxb. ĐHQGHN, 2013.
  9. de Saussure, Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương (Cao Xuân Hạo dịch), Nxb. KHXH, 2005.

 

[1] Susan Sontag, “Writing Degree Zero”, A Barthes Reader, New York: Hill & Wang Inc., 1982, p. 38. Dẫn lại từ  耿 秋壯, “书写的神话-西方文化中的文学 – The Myth of  Writings: Literature in Western Culture”, 中国人民大学出版社 – China Renmin University Press, 2006.

[2] Roland Barthes, “Inaugural Lecture, Collège de France”, A Barthes Reader, p. 406. Dẫn lại từ sách vừa dẫn.

[3] Xem thêm Lã Nguyên dịch: R. Barthes, “Nhà văn và Người viết”, in trong Lí luận và Văn học – Những vấn đề hiện đại, Nxb. ĐHSP, HN 2012, tr. 248.  “Cập vật” và “bất cập vật” mà chúng tôi dùng ở đây tương đương với hai cụm từ “ngoại động” và “nội động” ở bản dịch của Lã Nguyên. Xin được dẫn thêm giải thích của PGS. TS Hoàng Dũng: “R. Barthes dùng cặp thuật ngữ “cập vật” (= ngoại động – transitif) và “bất cập vật” (= nội động – intransitif), vốn chỉ một phạm trù ngữ pháp của động từ, để biểu đạt sự khác biệt đó – “cập vật” là lối viết của người viết; “bất cập vật” là lối viết của nhà văn.”

[4] Chúng tôi dịch lại từ bản dịch tiếng – “巴赫金-对话理论及其他”托多洛夫著蒋子华张萍译百花文艺出版社2001年版 (Tz. Todorov, Bakhtin, lý thuyết đối thoại và các vấn đề khác, Tưởng Tử Hoa, Trương Bình dịch. Nxb. Bách hoa, Thiên Tân, 2001). Bản tiếng Trung đã dịch discours là “話語” (thoại ngữ). Chúng tôi cũng đọc thấy tên gọi công trình “Проблемы речевых жанров” (bản dịch tiếng Việt của Lã Nguyên “Vấn đề thể loại lời nói”) trong tiếng Trung là “話語的各種形式”  (Các hình thức thoại ngữ;  âm Hán Việt: “Thoại ngữ đích các chủng hình thức”).

[5] Chúng tôi cũng có luận giải thêm về vấn đề giải thích hai nhóm quan hệ in praesentiain absentia trong cấu trúc tác phẩm văn học ở bài  [5] “Nhận thức lại vấn đề kết cấu tác phẩm văn học dưới góc nhìn Cấu trúc luận”.

[6] Tương tự, cấu trúc luận Jakobson miêu tả được “Chức năng thi ca đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp” (bản dịch Cao Xuân Hạo) nhưng điều rõ ràng là có phải bất cứ một sự chiếu xạ nào của trục tuyển lựa lên trục kết hợp cũng tạo ra được thơ. Tiếng nói trữ tình thơ ca vang lên trong một sự chiếu xạ liên nhân giữa đời sống động.  

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s