Những yếu tố Lịch Sử trong vụ án Hoàng Công Lương – Bài 13

Hạnh phúc thay: BS Hoàng Công Lương được xử theo Luật 2015, thay vì 2003

aa.png

 Nguyễn Ngọc Lanh

  1. LUẬT HÌNH SỰ 2003: Lạc hậu; phải thay thế

 

  1. Luật này tiến bộ chưa từng thấy, nếu… so với quá khứ

– Đúng! Luật 2003 tiến bộ “chưa từng thấy” nếu so với quá khứ. Cách nói này đã được loại chính khách mỵ dân (thậm chí “dân túy”) sử dụng nhiều lần.

– Dẫu sao, bộ Luật hình sự năm 2003 đã hạn chế được khá nhiều di sản lạc hậu, bất công và tàn bạo do lịch sử của “nền tư pháp đấu tranh giai cấp” để lại từ thời Cải cách ruộng đất và Nhân Văn – Giai Phẩm. Dẫu đã hạn chế, nhưng những tồn dư của chúng vẫn rất đậm nét và dai dẳng. Luật này, sau 12 năm vận hành, cần phải sửa hoặc phải được thay thế vì những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sông: a) Nó chưa thể hiện một nền tư pháp nhân bản, tiếp cận công lý; b) Nó lạc hậu quá xa – so với thế giới.

– Nguyên nhân của nguyên nhân vẫn chỉ là nền tư pháp nước ta không độc lập.

– Trong 12 năm được vận hành (2003 – 2015 = -12 năm) Luật 2003 đã tạo ra ba vụ án tử mà nạn nhân thoát chết chỉ nhờ may mắn tình cờ hoặc nhờ công sức và tấm lòng của luật sư: Hàn Đức Long (bị giam 12 năm); Nguyễn Thanh Chấn (giam 10 năm); Nguyễn Minh Hùng (5 năm). Chưa nói tới những “tội chết’ (án tử) đến nay vẫn không thể thi hành án, mà cũng không thể tha ra (ví dụ, vụ Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh) do trình độ điều tra rất không đáp ứng; hoặc do thiếu những điều khoản phù hợp trong Luật để xét xử.

Đã có nhiều trăm (hoặc ngàn) người chết ngay ở giai đoạn bị tạm giam, tạm giữ. Chỉ riêng 3 năm cuối (từ tháng 10-2011 đến tháng 9-2014) trên toàn quốc đã có 226 trường hợp chết tại nhà tạm giữ, trại tạm giam. Còn số người “chết trong đồn công an” (chưa cần tạm giam) – nếu dựa vào con số công khai trên báo chí – cũng phải đo bằng đơn vị “trăm”, tới mức Việt Nam bị quốc tế chất vấn về điều này khi tới phiên nước ta phải giãi bày về nhân quyền. 

Năm 2015 khi quốc hội dự định thảo luận về Luật hình sự mới, Liên đoàn luật sư Việt Nam đã cung cấp cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội thông tin về 82 vụ án hình sự có dấu hiệu oan sai chỉ trong vòng 3 năm gần nhất (từ ngày 1/10/2011 đến ngày 30/9/2014).

– Các nguyên nhân nổi bật đưa đến oan sai là: a) Nghi phạm bị đánh đập, dụ dỗ để có lời khai vừa ý cơ quan điều tra; b) Chỉ cần bản khai “nhận tội” của bị cáo là đủ để tuyên án – mà không cần chứng cứ vật chất nào khác. Ví dụ, vụ Lê Văn Mạnh ở Thanh Hóa; c) Ngay từ đầu, bị cáo đã không được tiếp cận với luật sư biện hộ; d) Tại tòa, luật sư (gỡ tội) bị đặt ở vị trí “lép vế” so với vị trí của công tố viên (buộc tội) – cứ như “cánh tay phải” của Hội Đồng xét xử (xem hình dưới)… v.v.

– Ngoài ra, còn một nguyên nhân liên quan tới não trạng (tâm lý, nhận thức) của giới tư pháp nước ta, gồm cả Điều tra, Công tố, Xét xử – cũng bắt nguồn từ lịch sử. Chính nguyên nhân này khiến nhiều điều khoản tiến bộ trong Luật (2003) cũng bị vô hiệu hoặc chậm thực hiện. Nhưng quan trọng hơn, chính tư duy cũ kỹ này khiến Luật 2003 chậm được thay thế và quá trình chuyển đổi sang Luật mới là không dễ dàng.

 

  1. Nhu cầu nghiệp vụ đáp ứng với sự đòi hỏi của hội nhập

Trong khi giới luật sư có điều kiện (ngoại ngữ) và có nhu cầu nâng cao nghiệp vụ – qua tiếp xúc với nền tư pháp tiến bộ trên thế giới – để thu được những hiểu biết bổ ích và đắc dụng, đặng đấu tranh đòi quyền lợi chính đáng… thì giới tư pháp nước ta lại không có điều kiện và nhu cầu như vậy. Họ rất vừa ý, kể cả thỏa mãn, với vị thế của mình trong nền tư pháp nước nhà.

Ví dụ, ngay từ năm 2010 Liên Đoàn luật sư VN đã tổ chức hội thảo 2 ngày (phối hợp với tổ chức quốc tế UNDP) về Quyền im lặng và vị trí của luật sư trong tố tụng… Vậy mà tới 5 năm sau (2015) khi rộ lên cuộc thảo luận rộng rãi về Luật hình sự – trong xã hội, tại quốc hội và trên truyền thông – rất nhiều vị đại diện tư pháp nước ta vẫn phát ngôn khá lạc lõng; trong khi đó, các luật sư nói năng “đâu ra đấy”, được dư luận đồng tình.

 

  1. Vài ví dụ về các quan điểm lạc hậu, ngược đời

Tranh luận khá gay gắt xảy ra trong kỳ họp quốc hội, tháng 5 – 2015, nhưng trước đó – bên ngoài nghị trường – đã có nhiều ý kiến xung đột nhau trên báo chí hoặc trong một số hội thảo, một số trả lời phỏng vấn. Đối lập rõ ràng nhất là quan điểm của giới tư pháp chuyên nghiệp (ít muốn thay đổi) và giới luật sư (đòi hỏi thay đổi – để sớm có các quyền tranh tụng, quyền sớm tiếp cận bị cáo…). 

Xin nêu vài ví dụ

  1. a) Bài viết đe dọa “mất chủ nghĩa xã hội” của ông Đinh Văn Quế năm 2012.

Ông này nguyên là Chánh tòa Hình sự, thuộc Tòa án nhân dân tối cao. Khi nghe rục rịch chuyện công nhận nguyên tắc Suy Đoán vô tộithực hiện Tranh Tụng tại phiên tòa, ông đã viết một bài đăng trên trang web của Tòa Án tối cao, nhan đề là một câu hỏi: Có cần ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội”? Trong bài, ông chứng minh rằng “không cần”, đồng thời cảnh báo nguy cơ “mất chế độ” để đảng CS phải sợ hãi mà không dám thực thi hai điều trên.  Cuối bài, ông đưa ra kết luận (nguyên văn) như sau:

Nếu Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc “suy đoán vô tội” cùng với nguyên tắc “tranh tụng” – thay cho tố tụng thẩm vấn – thì không chỉ phải “gỡ bỏ toàn bộ Bộ luật tố tụng hình sự (chú thích: Luật 2003) để viết lại”, mà toàn bộ hệ thống pháp luật của nước ta, từ Hiến pháp đến các đạo luật, từ việc tổ chức Bộ máy nhà nước đến các thiết chế thượng tầng kiến trúc cũng phải thay đổi. Và như vậy, định hướng xã hội chủ nghĩa cũng khó mà giữ được”.

Liệu bài này xứng đáng sẽ đi vào Lịch Sử?.

 

  1. b) Ý kiến ông Đỗ Văn Đương năm 2014.

Ông này sinh năm 1960, tiến sĩ luật, phó ban Dân Nguyện và ủy viên thường trực Ủy ban Tư Pháp của quốc hội. Ông từng được dân chúng gọi là “ông nghị rau muống” và khi ông thấy Quyền im lặng được đưa vào Luật, ông có những phát ngôn còn “rau muống” hơn nữa. Là dân biểu, lẽ ra ông phải bênh vực các quyền của người dân, thì ông lại nói “ngược”. Ví dụ, ông dám nói “quyền im lặng không phải là quyền con người”; và trong xét xử phải “dung hòa quyền Nhà Nước với quyền người dân”… Để kết luận, ông khẳng định Quyền im lặng không thể đưa vào trong luật.

 

Những câu nói Lịch Sử của đồng chí Đỗ Văn Đương:

“Trong dự luật này gần như đã quy định quyền im lặng của người phạm tội.

“Luật không buộc phải khai, không buộc phải nhận tội, như vậy ngầm hiểu là im mồm rồi”.

“Tội phạm không khai báo gì cả thì sao xử lý? Cái này phải làm rõ là bị can, bị cáo được phép trình bày ý kiến và quan trọng nhất là chống lại bức cung nhục hình”.

“Chứ không phải cứ khăng khăng im mồm như thế, nếu cứ nghĩ như thế là diễn biến hòa bình, chống lại nhân dân”…

Quan điểm của tôi là không để oan sai nhưng cũng không để bỏ lọt tội phạm”.

     

  1. c) Hầu hết đại diện của cơ quan điều tra (công an) đều phản đối hoặc ngại ngùng, hoặc bầy tỏ sự lo lắng nếu Quyền im lặng được đưa vào Luật.

Điều này chứng tỏ rằng “trước đây” quan điều tra đã buộc can phạm phải lên tiếng nhận tội bằng những biện pháp “nghiệp vụ” rất mạnh tay. Ngay từ khi bị bắt giam, can phạm đã cô đơn giữa các đồng chí công an (có mọi oai quyền) khiến can phạm không thể im lặng, mà buộc phải có bản khai ngoài ý muốn, có hại cho chính mình. Rất hiếm, nhưng đã có trường hợp 5 đồng chí công an bị ra tòa vì “quá tay” khi giam giữ, khiến phạm nhân chết.

Nếu can phạm có quyền im lặng cho tới khi gặp được luật sư, sẽ gây nhiều khó khăn cho điều tra, nhưng đồng thời cũng giúp giới điều tra phấn đấu nâng cao nghiệp vụ – chứ không thiên về cách truy bức, tra vấn, đánh đập…. Đây là thứ quyền làm giảm bớt (hoặc xóa bỏ) nạn bức cung, nhục hình…; do vậy được áp dụng phổ biến trên thế giới. Nếu (giả sử) ngay khi bước vào thiên niên kỷ XXI Việt Nam đã thực thi quyền này, chúng ta đâu có thua kém ai?

  1. d) Những người không muốn luật sư “được phép” ngồi ngang hàng với công tố viên (để tranh tụng bình đẳng) phần lớn là các đồng chí thuộc biên chế Viện Kiểm Sát hoặc biên chế Tòa Ấn.

Một trong những “lý lẽ” của các đồng chí này là: Kiểm sát viên thuộc biên chế Nhà Nước (luật sư thì không) do vậy, ngoài chức trách buộc tội, họ còn chức trách giám sát phiên tòa. Do vậy, họ phải ngồi ngang hàng với Hội Đồng xét xử.

  1. e) Mô hình phiên tòa trước đây cho thấy rất rõ điều đó (hình, sơ đồ).

Ngồi ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất, là Hội Đồng xét xử – ngay dưới quốc huy biểu tượng của “Nhà Nước Công-Nông” – gồm bánh xe và bông lúa. Bên phải, ngang hàng, là vị trí của công tố viên (phía buộc tội). Bên trái, là thư ký phiên tòa. Đây chính là “hai cánh tay” của Hội Đồng xét xử. Thấp hơn, là vị trí của luật sư (phía gỡ tội), bị cáo và các thành phần khác. Cách bố trí phiên tòa như vậy rất thích hợp với lối xét xử “thẩm vấn”, đến nay hầu như thế giới không còn áp dụng nữa. Cảm giác chung khi quan sát cách phân bố vị trí này… là Hội Đồng xét xử và Công Tố viên hùa nhau (thông đồng, kết hợp) để kết tội bị can. Bài này không muốn nhấn mạnh rằng họ đều là đảng viên CS – liên quan đấu tranh giai cấp.

 

bb.png

  1. LUẬT HÌNH SỰ 2015

Luật 2015 có được những thay đổi lớn: a) Công nhận Quyền Im Lặng; b) Áp dụng nguyên tắc Suy Đoán vô tội khi xét xử; và c) Đặt luật sư ở vị trí ngang hàng với công tố viên (xem dưới). Nguyên nhân là:

  1. a) Việt Nam buộc phải hội nhập sâu hơn với nền tư pháp tiến bộ thế giới;
  2. b) Chiến lược cải cách tư pháp đã đi được 2/3 chặng đường dự kiến;
  3. c) Đòi hỏi của giới luật sư VN (đã trưởng thành cả về lượng và chất).

 

Tiến trình chuyển đổi tất nhiên không suôn sẻ, nhưng không phải là điều mà bài này muốn làm rõ. Do vậy chỉ xin nêu vài ví dụ. 

 

  1. Ba điều mới mẻ ở Luật 2015

– Đó là:

  1. a) Công nhận Quyền im lặng của bị can, bị cáo.

Lẽ ra, phải có một điều khoản riêng để thể hiện quyền này với các chi tiết thật đầy đủ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Tiếc rằng, quyền này đã bị “pha loãng” ra và cài vào các điều khoản khác nhau. Nói khác, Luật 2015 chưa phải đã toàn bích.

Dù đã được đưa vào Luật, nhưng việc vô hiệu hóa Quyền Im Lặng vẫn là di căn khó xóa bỏ mà nền tư pháp đấu tranh giai cấp để lại. Trong hoàn cảnh cô độc giữa vòng vây của các đồng chí điều tra viên, nhiều can phạm đã viết Bản Tự Khai trong đó nêu “nguyện vọng”… từ chối luật sư (!).

 

Luật sư Trần Đình Triển kể với nhà báo.

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=1093

 

Ông Triển là người bảo vệ lợi ích hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc Quyền (vốn là bí thư thành ủy thành phố Vĩnh Yên, mắc sai phạm về đất đai). Bị cáo này giao cho luật sư của mình một đĩa ghi âm ghi lại lời của ông Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Vĩnh Phúc (để tố cáo) khi ông ta đã tới tận gia đình bị cáo để khuyên rằng: Chớ thuê luật sư (sẽ bị xử nặng đấy) mà cứ thành khẩn nhận tội (sẽ được xử nhẹ)…

 

 

  1. b) Đưa Suy Đoán vô tội thành nguyên tắc trong xét xử.

Nếu đã thành nguyên tắc, thử hỏi: Các thành viên trong Hội Đồng Xét xử nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ bị xét xử ra sao?

Trong thâm tâm những người ngồi trong Hội Đồng xét xử (thẩm phán, chánh án) phải luôn luôn nghĩ rằng bị cáo (đang đứng trước tòa) hiện vẫn là người “vô tội” và trên thực tế phải được đối xử như vậy. Phía khởi tố (Viện Kiểm Sát) có nghĩa vụ đưa ra các chứng cứ buộc tội. Các chứng cứ này phải được Hội Đồng Xét Xử đề nghị phía gỡ tội bác bỏ – chỉ khi “không bác bỏ nổi” thì chứng cứ mới có giá trị buộc tội. Một chứng cứ chưa rõ ràng, chưa đủ sức nặng để buộc tội… thì phải suy đoán có lợi cho bị cáo. Đó là “suy đoán vô tội”.

Như vậy, chỉ khi nào Hội Đồng Xét Xử là độc lập, vô tư, khách quan, công bằng… (như trọng tài) thì nguyên tắc Suy Đoán vô tội mới thật sự thành nguyên tắc trong xét xử.

Để rồi coi thử: BS Hoàng Công Lương có diễm phúc này hay không.

 

  1. c) Thay đổi vị trí (chỗ ngồi) của các thành phần tham gia phiên tòa để thực hiện quyền biện hộ của luật sư.

– Sự thay đổi này góp phần quan trọng để biến “phiên tòa thẩm vấn” (trong đó quan tòa chỉ có một việc là truy vấn bị cáo) trở thành “phiên tòa tranh tụng” (trong đó, công tố và luật sư tranh cãi bình đẳng, còn Hội đồng xét xử chỉ đóng vai “trọng tài” (công minh) khi lắng nghe hai bên tranh tụng và sau đó cân nhắc các chứng cứ để ra một bản án công bằng, phù hợp. Hình (ảnh) dưới đây cho thấy phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ Hoàng Công Lương đã bố trí phù hợp với Luật mới (2015)

aa.png

Chú thích. Hội Đồng Xét Xử (5 vị) ngồi ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất, có nhiệm vụ điều khiển phiên tòa (trọng tâm là để cuộc tranh tụng đạt hiệu quả mong muốn: Vụ án phải trở thành minh bạch, ai cũng “tâm phục, khẩu phục”). Công tố viên (buộc tội) và luật sư (gỡ tội) có vị trí bình đẳng. Vành móng ngựa (biểu tượng của “suy đoán có tội” được thay thế. Bên cạnh vị trí của Kiểm Sát Viên (công tố) là vị trí (chiếc bàn) để các nhân chứng khai báo…

 

  1. Tính nhân đạo của nguyên tắc “suy đoán vô tội”

     a) Khẩu hiệu nhắc đi, nhắc lại

Tháng 6-2019 (chỉ cách nay ít bữa), khi trả lời chất vấn trước quốc hội, đồng chí bộ trưởng Bộ Công An đã nói: “Không để lọt tội phạm nhưng cũng không để xảy ra oan, sai. Đây là khẩu hiệu được nhiều nhân vật quan trọng của nền tư pháp nước nhà cứ nhắc đi nhắc lại. Nhắc hoài…, chúng ta nghe mãi, thành quen tai và tưởng rằng (không sớm thì muộn) nó sẽ thành hiện thực…

Trên thực tế, hầu như không dễ mà hiện thực hóa cái khẩu hiệu “quá lý tưởng” này. Nếu trong xét xử – vẫn chịu ảnh hưởng của nền tư pháp phục vụ đấu tranh giai cấp – thì di sản của nguyên tắc “suy đoán có tội” khó mà tẩy rửa cho sạch. Ngay khi không đủ chứng cứ kết tội, nó vẫn đưa ra nguyên tắc: Thành khẩn, nhận tội, sẽ được xử nhẹ. Hễ tự bào chữa, rất dễ bị quy chụp là “ngoan cố, quanh co chối tội”. Tóm lại: Mục tiêu của xét xử là phải “gọi ra cho kỳ được” tội trạng của bị cáo. Cứ như thầy thuốc giỏi phải “gọi ra bệnh” để chữa cho người bệnh.

Ngay ông Đinh La Thăng (nguyên ủy viên Bộ Chính Trị) đã phải kêu lên trước phiên tòa: “Tôi càng giải thích, càng bị cho là chối tội (18-1-2018).  

Bởi vậy, không thể tránh chuyện đầy rẫy những vụ án oan sai. Tội đáng tù 1 năm, bị xử tù 1,5 năm đã đủ coi là oan sai lớn.

 

  1. b) Đau đáu trong lòng nỗi lo: Liệu con người này có bị kết tội oan?

Đó là đạo đức tối cao của những con người được giao sứ mệnh xét xử những con người. Chỉ có cách thực thi nguyên tắc “suy đoán vô tội”. Nguyên tắc này chấp nhận “thà bỏ lọt những tội phạm” (nào đó) còn hơn là để con người chịu oan sai, dù nhỏ.

Nói khác, mục tiêu của nguyên tắc xét xử Suy đoán vô tội là tránh tối đa các vụ án oan sai. Quả vậy! Thà bỏ lọt những tội phạm (không lớn) hoặc kết tội nhẹ những tội lẽ ra phải xử nặng hơn.

 

  1. Vụ án Hoàng Công Lương được xét xử theo Luật 2015.

Đây là sự may mắn lớn. Không hiểu BS Hoàng Công Lương có cảm nhận đầy đủ được sự may mắn tột đỉnh này không?

Ra tòa là bất hạnh. Nhưng nếu được xử theo đúng tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội lại là hạnh phúc trong bất hạnh.

Qua hai phiên tòa sơ thẩm, điều mà dư luận “té ra” là… việc lồng ghép những câu chữ đẹp đẽ vào Luật là một chuyện; còn thực tế diễn ra rành rành tại phiên tòa – lại là chuyện khác.

 

(còn tiếp)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s