Minh Thục Lục viết về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dưới thời quân Minh cai trị


Hoi the Lung Nhai

Hồ Bạch Thảo

Dẫn nhập

Người yêu nước và lo cho nước đều khắc khoải hướng về tương lai, bởi kẻ thù phương Bắc vẫn là mối đe doạ lớn ; nếu chúng thực sự đặt chân đến nước ta, thì dân ta sẽ có phản ứng như thế nào ? Sự việc chưa xẩy ra, không thể dựa vào tình cảm nhất thời mà suy đoán ; cách làm việc khoa học và đáng tin cậy nhất là căn cứ vào lịch sử để xét tương lai, đúng như lời người xưa khuyên “ôn cố tri tân” (1).

Suốt chiều dài lịch sử, nước ta trải qua ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ, trong đó triều đại đặt guồng máy cai trị chặt chẽ toàn diện nhất, phải kể đến nhà Minh. Về hành chánh, lúc khởi đầu chúng chia nước ta thành 15 phủ, 41 châu, 208 huyện ; đứng đầu mỗi đơn vị lớn nhỏ là Tri phủ, Tri châu, Tri huyện. Về phương diện quân sự lúc bình thời đặt 10 vệ, 2 Thiên hộ sở ; theo biên chế quân đội nhà Minh mỗi vệ có 5.600 quân, mỗi Thiên hộ sở 1.210 quân, như vậy tổng số là 58.420 ; tại các địa điểm quan trọng như đầu mối lưu thông, các cửa sông rạch lại đặt thêm ty Tuần kiểm, khởi đầu có đến 100 ty. Ðó là không kể lúc có biến tại Ðô ty Giao Chỉ tăng thêm vệ, sở và những đạo quân của Mộc Thạnh, Trương Phụ, Vương Thông, Liễu Thăng lần lượt sang tiếp viện, mỗi lần trên dưới 10 vạn tên, số lượng ty tuần kiểm cũng được tăng thêm :

Ngày 12 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [5/7/1408]

Thượng thư bộ Lại bọn Kiễn Nghĩa, cùng Thượng thư 6 bộ tâu :

“ Tân thành hầu Trương Phụ bình định Giao Chỉ lập 472 vệ môn (2) cho quân dân ; mỗi Đô ty, Bố chánh ty, Án sát ty lập 1 ty ; 10 vệ, 2 Thiên hộ sở, 15 phủ, 41 châu, 208 huyện, 1 Thị bạc đề cử ty, 100 tuần kiểm ty, 92 vệ môn cho ty cục thuế khóa, đặt 12 thành trì, chiêu an hơn 3.120.000 nhân dân, bắt được dân man hơn 2.087.500 người, trử lương 1360 vạn thạch ; voi, ngựa, trâu bò cộng hơn 235.900 con, 8677 chiếc thuyền, hơn 2.539.850 vũ khí.”

Thiên tử phán :

“ Trẫm là vị chúa nhân dân trong bốn bể, há lại ưa dùng binh đến cùng, tham giàu có đất đai nhân dân ư ! Vì nghịch tặc không thể không tru diệt, dân cùng khổ không thể không giúp. Bọn Phụ tuân theo mệnh của Trẫm, phấn dõng ra mưu, giết bắt bọn hung đồ, bình định một phương, công đó có thể gọi là hùng vĩ phi thường vậy ! ”

Trương Phụ bước ra cúi đầu tạ ân và tâu :

“ Do Hoàng thượng trù hoạch cùng uy linh của quốc gia, còn kẻ ngu thần này có công gì ? ”

Thiên tử phán :

“ Công của ngươi sẽ được vĩnh viễn ghi trong sử sách không bao giờ lu mờ, tuy Hán Phục ba (3) cũng không hơn vậy.”

Rồi ra lệnh cho Nghĩa cùng với bộ Lễ bình nghị công lao thăng thưởng cho các tướng sĩ; chiếu theo lệ bình Vân Nam có tăng thêm. (Minh Thực Lục v. 11, tr. 1070-1071 ; Thái Tông q. 80, tr.3b-4a)

Song song với việc cai trị bằng biện pháp hành chánh và quân sự, nhà Minh thiết lập các tổ chức văn hoá tôn giáo xuống tận châu huyện để ràng buộc lòng người. Trong chỉ dụ tuyên bố cai trị nước ta vào ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407] cho lập ty Tăng đạo tại phủ Giao Châu ; qua bước đầu trắc nghiệm thử thách, đến năm Vĩnh Lạc thứ 14 [10/6/1416] ra lệnh thiết lập hàng loạt các ty Nho Học, Tăng, Ðạo, Âm Dương. Có thể tóm tắt các tổ chức này như sau :

– Nho Học : gồm 12 ty tại phủ, 19 ty tại châu, 62 ty tại huyện.

– Âm Dương Học : 6 ty tại phủ, 14 ty tại châu, 26 ty tại huyện.

– Phật Học : 3 ty Tăng Cang tại phủ, 14 dẫn Tăng Chính tại châu, 56 ty Tăng Hội tại huyện.

– Ðạo Học : 6 Ðạo Kỷ tại phủ, 15 Ðạo Chính tại châu, 37 Ðạo Hội tại các huyện.(4)

Riềng mối cai trị của nhà Minh chặt chẽ từ trên xuống dưới, chính sách cương nhu lẫn lộn, quản lý bằng mọi cách ; khiến một lần vùng dậy khó mà thoát khỏi xiềng xích. Tuy nhiên dân ta vốn kiên cường không chịu khuất, đấu tranh đến cùng ; đặc tính này được vua Càn Long nhà Thanh mô tả trong đạo dụ về việc từ chối mang quân sang nước ta để phục thù vua Quang Trung, như sau :

“…Xứ này thuỷ thổ ác liệt không thể ở lâu, dân tình lại trí trá phản phúc vô thường ; đời trước đã chia đất này thành quận huyện, rồi không bao lâu lại xẩy ra biến cố, lấy bánh xe trước đổ để làm răn, thực khó giữ được vài chục năm mà không gây ra việc.” (5)

Ðể làm sáng tỏ sự nghiệp đấu tranh của dân tộc, chúng tôi dùng tư liệu từ sử Trung Quốc và sử nước nhà, cố gắng thực lục từng năm một, kể từ năm 1407 là năm nhà Minh thiết lập nền cai trị, cho đến năm 1428 khi Vương Thông buộc phải mang quân về nước ; trong đó có những cao trào, thoái trào ; ưu điểm, nhược điểm, để rút kinh nghiệm và làm tài liệu tham khảo.

Chú thích

1. Ôn cố tri tân : Ôn việc xưa để biết việc mới ngày nay. (Khổng Tử, Luận Ngữ)

2. 472 vệ môn cho quân dân tức 472 cơ quan quân sự và dân sự. Gồm : 1 Đô ty + 1 Bố chánh ty + 1 Án sát ty + 10 vệ + 2 Thiên hộ sở + 15 phủ + 41 châu + 208 huyện + 1 ty Thị bạc + 100 ty Tuần kiểm + 92 ty cục thuế khóa = 472 vệ môn

3. Hán Phục ba tức Mã Viện, đánh dẹp hai bà Trưng nước ta, nên được nhà Hán phong là Phục ba Tướng quân.

4. Minh Thái Tông Thực Lục quyển 167, trang 1924-1927.

5. Hồ Bạch Thảo, Thanh Thực Lục, Hà Nội: NXB Hà Nội, 2007, trang 108-109

Năm Ðinh Hợi [1407]

Sau khi đại quân của Trương Phụ dẹp tan nhà Hồ, bắt cha con Hồ Quí Ly tại cửa biển Kỳ La thuộc Hà Tỉnh vào tháng 6 năm 1407 ; thì chiến tranh cũng chưa hoàn toàn chấm dứt. Tại Cao Bằng, Lạng Sơn, dư đảng nhà Hồ vẫn ra vào nơi rừng núi chống cự; vào tháng 9 năm 1407 giết được viên Tiền quân Ðô đốc Cao Sĩ Văn :

Ngày 29 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [30/9/1407]

Ngày hôm nay Tiền Quân Đô đốc Thiêm sự Cao Sĩ Văn mang binh đến Quảng Nguyên, giao tranh ác liệt với giặc tử trận. Lúc bấy giờ tuy đã bình định xong, nhưng các vùng khe núi tại các châu Thất nguyên (1), dư đảng giặc họ Hồ vẫn ra vào cướp phá. Quan Tổng binh Tân thành hầu Trương Phụ sai Cao Sĩ Văn đến đánh bắt. Đến Quảng Nguyên bọn giặc chặn đánh, bị Sĩ Văn đánh bại chém vài chục tên. Bọn chúng bèn tập trung lại, dựa vào núi lập trại cố thủ. Sĩ Văn ngày đêm công kích, trại sắp bị phá, giặc đột nhiên xuất hiện rồi bỏ chạy. Sĩ Văn mang lính cảm tử truy kích, giao tranh mãnh liệt, giặc dựa vào núi cao dùng tên và đá bắn xuống, Sĩ Văn trúng phi đạn chết. Bộ tướng tiếp tục truy kích rồi giao tranh, giặc bèn bỏ trốn vào châu Thất Nguyên. Phụ bèn sai Đô Chỉ huy Trịnh Sảng tiếp tục mang quân đến, bình định được.

Sĩ Văn người huyện Hàm Dương, Thiểm Tây. Vào thời Hồng Vũ (2) xuất thân từ Tiểu hiệu, tòng chinh tại Vân Nam và Kim Sơn, có công được thăng lên Yên Sơn Tả Hộ vệ Bách hộ. Lúc Thiên tử dẹp loạn trong nước, Sĩ Văn hăng hái đi đầu tham gia chiến trận, lập công mấy lần được thăng Tiền quân Đô đốc phủ, Đô đốc Thiêm sự. Khi đánh Giao Chỉ, ra sức cần lao phấn đấu, nhưng rốt cuộc bị tử trận. Văn là người cương trực, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung ; tử trận mọi người đều tiếc. ( Minh Thực Lục v.11, tr. 0984-0985 ; Thái Tông q. 70, tr. 2b-3a)

Tháng 10 năm Ðinh Hợi [1407] Giản Ðịnh Ðế lên ngôi tại Mô Ðộ, Ninh Bình. Giản Ðịnh vốn dòng dõi họ Trần, thấy quân Minh đánh dẹp họ Hồ xong không chịu lập nhà Trần, bèn chạy trốn đến Mô Ðộ, châu Trường Yên, phủ Thiên Trường [thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay]. Người trong phủ là Trần Triệu Cơ chiêu mộ dân lập lên làm vua, lấy niên hiệu là Hưng Khánh. (3)

Tại Ðông Triều [tỉnh Quảng Ninh ngày nay], viên Thổ hào Phạm Chân lập Trần Nguyệt Hồ làm vua tại Bình Than, đề cờ là Trung Nghĩa quân. (4)

Chú thích

1. Châu Thất Nguyên thời Minh thuộc phủ Lạng Sơn; theo Ðào Duy Anh, Ðất Nước Việt Nam Qua Các Ðời (viết tắt : Đ.N.V.N.Q.C.Đ.) Huế: NXB Thuận Hóa, thì đất này tương đương với huyện Tràng Định hiện nay.

2. Hồng Vũ : niên hiệu của vua Thái Tổ nhà Minh từ năm 1368-1389.

3. Bản dịch Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư (viết tắ t: Toàn Thư), Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội, tập 2, trang 222.4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 222.

Năm Mậu Tý [1408]

Theo Hoàng Trung Tuyên Công Văn Tập (1) trong năm Mậu Tý Vĩnh Lạc thứ 5 [1408] tại châu Tam Ðái [tỉnh Vĩnh Phú] đầu đảng Trần Nguyên Thôi nỗi dậy, bị quân Minh bắt rồi giết. Tại châu Hạ Hồng, phủ Tân An [tỉnh Hải Dương], Trần Nguyên Tôn nổi dậy. Tại huyện Tuyên Hoá [ tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên] Trần Nguyên Lộc nổi dậy, bị quân Minh bắt vào chính năm đó. Tại huyện Ma Lung phủ Quảng Oai [tỉnh Hà Tây] Bạch Sư Nhiễm nổi dậy, nhưng chưa dẹp được. (1)

Ðối phó với những khó khăn về quân sự trước mắt, quân lính tại Ðô ty Giao Chỉ không đủ dùng, nhà Minh cho điều động gấp 1 vạn quân từ Quảng Ðông sang tăng cường :

Ngày 19 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [10/8/1408]

Đô ty Giao Chỉ tâu số quân còn lưu tại các vệ, sở không đủ để phòng bị. Nay Đô chỉ Huy sứ Tôn Toàn, Quảng Đông, thống lãnh quân hơn 1 vạn, chở bằng thuyền hạm, khí giới đầy đủ ; xin cho tạm lưu lại để phòng ngự. Xét chấp nhận. (Minh Thực Lục v. 11, tr. 1090; Thái Tông q. 81, tr. 7b)

Lúc bấy giờ Giản Ðịnh Ðế được dân ủng hộ, nên thế lực lớn mạnh mau chóng. Lập căn cứ tại vùng Hoá Châu [Thừa Thiên, Quảng Trị] , Nghệ An ; tướng của Giản Ðịnh là Ðặng Tất mang quân đánh giết bọn Phạm Thế Căng tại cửa bể Nhật Lệ [tỉnh Quảng Bình]. Thế Căng lúc trước hàng quân Minh, đượcTrương Phụ trao chức Tri phủ Tân Bình [tỉnh Quảng Bình], sau phản lại tự xưng là Duệ Vũ Ðại Vương (2). Rồi đại quân tiếp tục xua ra Bắc, lược định vùng đất các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây, Vĩnh Phú ngày nay và uy hiếp thành Ðông Ðô [Hà Nội]. Tình hình khẩn trương, vua Minh Thái Tông vội ra lệnh Mộc Thạnh giữ chức Chinh Di Tướng quân điều động quân tại các Ðô ty Vân Nam, Quí Châu, Tứ Xuyên sang đánh :

Ngày 7 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [31/8/1408]

Đô ty Giao Chỉ cùng ty Bố chánh, Án sát tâu : Nghịch tặc Giản Định cùng bọn Đặng Tất tụ tập dân chúng làm loạn, xin tăng thêm binh để tiễu bình.

Định là quan cũ của họ Trần, khi đại quân đến dẹp giặc họ Lê, y ra hàng, bèn sai người đưa đến kinh sư. Rồi y cùng Trần Hy Cát bỏ trốn, cùng với ngụy quan đất Hoá Châu là bọn Đặng Tất, Nguyễn Suý mưu nổi loạn. Bọn chúng suy tôn Định làm vua, tiếm xưng kỷ nguyên Hưng Khánh, hoạt động tại các vùng núi non tại Hoá Châu và Nghệ An, chế tạo vũ khí, chiêu tập đồ đảng. Lúc này đại quân đã về nước, bọn Định mang quân ra đánh Bình Than và ải Hàm Tử ; chặn đường đi lại tại Tam Giang. Chúng đánh phá gần thành Giao Chỉ [Đông Đô], các châu huyện như Từ Liêm, Oai Man, Thượng Hồng, Đại Đường, Ứng Bình, Thạch Thất đều theo chúng ; thế giặc càng ngày càng thịnh, quan quân đánh mấy lần nhưng không lập được công, nên xin tăng thêm binh.

Thiên tử cho rằng Giao Chỉ mới được sáp nhập vào bản đồ, nhân tâm chưa vững vàng, mà bọn dư đảng tiếp tục nổi lên, nếu không kịp thời dẹp tan, sợ tràn lan ra thì không kiềm chế nổi. Mệnh điều Đô Chỉ huy Sứ ty Vân Nam, Quí Châu, Tứ Xuyên, Thành Đô Tam hộ vệ, tổng cộng 4 vạn binh ; ra lệnh Kiềm Quốc công Mộc Thạnh lãnh Chinh Di Tướng quân tổng suất từ Vân Nam sang đánh ; vẫn ra lệnh Thượng thư bộ Binh Lưu Tuấn tham mưu quân sự. Sắc dụ Giao Chỉ Đô ty bọn Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị, Hoàng Trung rằng bọn Giản Định làm phản, đã ra lệnh Kiềm Quốc công Mộc Thạnh mang quân sang đánh, các người hãy chỉnh đốn binh lính nghe theo sự điều động; hãy chuẩn bị thủy quân 2 vạn, cùng thuyền bè khí giới để đợi dùng. (Minh Thực Lụcv11,tr. 1101-1102; Thái Tông q. 82, tr. 5a-5b )

Ðể xoa dịu tình hình, cùng làm kế hoãn binh chờ khi lực lượng tiếp viện sẵn sàng tham chiến, vua Minh Thái Tông sai sứ ban sắc chiêu hàng Giản Ðịnh Ðế như sau :

Ngày 19 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [8/9/1408]

Sai sứ ban sắc dụ cho bọn nổi loạn Giản Định rằng :

“ Mới đây cha con giặc họ Lê gây việc soán đoạt, buông tuồng bạo lọan, độc hại người trong nước, chiếm đoạt biên cảnh ; bèn mệnh xuất sư điếu phạt, bọn ác đầu sỏ bị bắt, dư đảng bị tiêu diệt ; rồi thiết lập quận huyện, vỗ về thiện lương, một phương nhân dân đều được yên nghiệp. Chỉ riêng các ngươi ương ngạnh, lập đảng chống cự triều mệnh, cướp bóc dân chúng. Quần thần xin hưng sư tiêu diệt, Trẫm nghĩ dưới lằn tên mũi đạn, sợ liên lụy đến dân vô tội; mà những kẻ bất thiện như các ngươi cũng còn được cơ hội để có thể sửa đổi, nên ban sắc dụ này. Đại phàm cử sự cần phải hợp đạo trời, cha con giặc họ Lê tội ác đầy rẫy , trời đã phế thì không thể giữ được; các ngươi là đám tàn dư, trái đạo, nghịch mệnh trời , thì cũng đợi để tiêu diệt mà thôi ! Tuy nhiên vui được sống, ghét chết là sự thường tình của con người ta. Nếu trước đây các ngươi chưa nghĩ kỹ nên làm việc bội nghịch trái đạo, hoặc do bọn quan lại hà khắc phải liều lĩnh mưu đồ tự tồn, lòng muốn hối cải nhưng còn nghi ngờ chưa dám quyết ! Phàm con người ai mà không sai, sai mà biết sửa, còn gì tốt bằng. Bọn các ngươi hãy nhân lúc này, minh định lẽ nghịch thuận, xem xét cơ duyên họa phúc, tìm yên ổn có lợi cho bản thân, bảo vệ được gia tộc, mưu đồ kế vĩnh cữu. Hãy dốc lòng thành quy phụ, sự sai lầm trong quá khứ được tha hết không hỏi đến, còn được giao chức quan, trả lại đất để cai trị, con cháu đời đời được thế tập . Lời Trẫm phát xuất từ tâm lòng, thông với trời đất; nếu các ngươi chấp mê không theo, họa sẽ đến với bản thân và gia đình, lúc đó hối cũng không kịp ! ” (Minh Thực Lục v. 11, tr. 1104-1105; Thái Tông q. 82, tr. 6b-7a )

Chú thích

1. Dẫn theo Trịnh Vĩnh Thường, Chinh Chiến Dữ Khí Thủ : Minh Ðại Trung Việt Quan Hệ Nghiên Cứu (viết tắt: Minh Nghiên Cứu). Ðài Nam : Quốc Lập Thành Công Ðại Học Xuất Bản Tổ, trang 85-86.

2. Toàn Thư, sđd tập 2, trang 223.

Năm Kỷ Sửu [1409]

Chuẩn bị cho việc đánh dẹp quân khởi nghĩa của Giản Ðịnh Ðế, Minh Thái Tông ra lệnh Ðô đốc Lữ Nghị phối hợp chặt chẽ với đạo quân tiếp viện của Mộc Thạnh, cùng tạm thời đình chỉ việc khai thác mỏ vàng, để thao luyện lính thợ vào việc chiến đấu :

Ngày 21 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [6/1/1409]

Sắc dụ Đô ty Giao Chỉ bọn Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị rằng : nay lo việc điều quân chinh tiễu tàn dư giặc ; những chỗ khai mỏ vàng phải đình chỉ, triệu hồi các quan quân dưới cờ hoặc lính thợ cho thao luyện, không được phép chiếm lưu. (Minh Thực Lục v. 11, tr. 1143; Thái Tông q. 86, tr. 6a)

Lúc này tại nước ta lại có thêm cuộc nổi dậy của Nguyễn Công Trà tại huyện Tuyên Hóa phủ Thái Nguyên. Công Trà xúi dục các Thổ quan các châu huyện tại Thái Nguyên nổi lên chống quân Minh (1). Nhưng mãnh liệt hơn phải kể đến chiến thắng lớn của phe Giản Ðịnh Ðế tại trận Bồ Cô, trận này quân ta tiêu diệt được bộ chỉ huy quân Minh tại Giao Chỉ, trong đó có Ðô đốc Lữ Nghị và Thượng thư Lưu Tuấn. Bồ Cô là tên một bến đò thuộc xã Bồ Cô ; nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Hà Nam. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (2) chép về trận đánh này như sau :

“ Tháng 12, ngày 14, quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh tại Bồ Cô hãn. Bấy giờ nhà Minh sai tổng binh Mộc Thạnh mang tước Kiềm quốc công , đeo ấn Chinh di tướng quân, đem 5 vạn quân từ Vân Nam đến Bồ Cô, vừa khi vua Giản Định cũng từ Nghệ An tới, quân dung nghiêm chỉnh, gặp lúc nước triều lên gấp, gió thổi mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ đắp luỹ. Thạnh cũng chia quân thuỷ, quân bộ cùng cầm cự. Vua cầm dùi đánh trống, hạ lệnh các quân thừa cơ xông đánh từ giờ Tỵ [khoảng 11giờ] đến giờ Thân [16 giờ], quân Minh thua chạy, chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị , cùng quân mới đến, quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thoát trốn vào thành Cổ Lộng (3)

Sử liệu từ Minh Thực Lục cũng xác nhận chiến thắng này, còn cho biết rõ hơn về lý lịch các tướng lãnh, quan lại cao cấp của nhà Minh tử trận :

Ngày 24 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 6 [9/1/1409]

“ Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm quốc công Mộc Thạnh giao tranh với đầu đảng giặc Giao Chỉ, Giản Định, tại sông Sinh Quyết (4) bị thua. Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị, Binh Bộ Thượng thư Lưu Tuấn, Tham chính Giao chỉ Bố chánh ty Lưu Dục đều chết.

Lữ Nghị người đất Hạng Thành, Hà Nam ; khởi đầu giữ chức Bách hộ vệ Tế Dương ; thời Hoàng thượng Tĩnh Nạn, Nghị theo chinh phạt mấy lần lập kỳ công được thăng đến chức Đô Chỉ huy Đồng tri. Năm Vĩnh lạc thứ ba thăng Đô đốc Thiêm sự, cùng với Hoàng Trung luyện binh tại Quảng Tây ; lại cùng mang binh đem cháu Vương An Nam là Trần Thiên Bình về nước. Vì làm trái chiếu chỉ, nên Nghị không tránh được thất bại ở Kê Lăng ; rồi được tha tội cho giữ nguyên chức tòng chinh, mệnh sung Ưng Dương Tướng quân. Giao Chỉ bình, có công được giữ chức Đô ty Giao Chỉ. Nghị tính thâm trầm, dũng lược, đánh trận thâm nhập ; bị hãm chết trận.

Lưu Tuấn người đất Giang Lăng, Hồ Quảng ; đậu Tiến sĩ năm Ất Sửu; thời Hồng Vũ, giữ chức Chủ sự bộ Binh, rồi được thăng lên Tả Thị lang bộ này. Thời Kiến Văn (5) giữ chức Thị trung ; khi Thiên tử [Thành Tổ] tức vị, được thăng hàm Thượng thư. Tuấn cẩn thận, cần mẫn trong công việc, có mưu trí, giỏi ứng biến, nên được tín nhiệm. Trước đây quan Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ, mệnh Tuấn tham mưu quân vụ, góp nhiều công ích, nên sau khi bình Giao Chỉ được ban thưởng. Rồi lại được cử sang Giao Chỉ để tham mưu quân vụ cho Thạnh. Thạnh bại, Tuấn bị vây, bèn thắt cổ tự tử.

Lưu Dục người Vũ Thành, Sơn Đông ; xuất thân từ Lại khoa Cấp Sự trung, thăng Thông chính Sứ ty Tả Thông chính, rồi đến chức Tả Tham chính ty Bố chánh Hà Nam; được đổi đến Giao Chỉ giữ chức Hữu Tham chính. Dục tính hà khắc, ít nói, thiếu ân; tuy nhiên làm việc giỏi, đến nơi nào thuộc lại và dân cũng đều sợ, đến nay cùng chết với Tuấn.” (6)

Trận Bồ Cô là một thảm bại của quân Minh, nên Phó Ngự sử Lý Khánh phài đàn hặc Mộc Thạnh với lời lẽ nặng nề :

Ngày 29 tháng 1 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [13/2/1409] 

Đô sát viện phó Ngự sử Lý Khánh hặc tấu quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm quốc công Mộc Thạnh mang quân dẹp bọn nổi loạn tại Giao Chỉ, không phấn đấu dõng cảm chế ngự giặc để đến nỗi quân tan, khiến bọn Đô đốc Lữ Nghị, Thượng Thư Lưu Tuấn, Đô chỉ huy Liễu Tông bị hại ; chiếu pháp luật đáng trị tội. Thiên tử phán :

“ Làm tướng để quân tan không trị tôi sao được! Hãy tạm để đó, cho cố gắng báo đền. ” (Minh Thực Lục v 11., tr.1159-1160; q.87, tr. 5a-5b)

Tuy nhiên sau chiến thắng này, quan điểm về tiến, thủ của vua Giản Định và Quốc công Đặng Tất hoàn toàn khác nhau. Toàn Thư chép :

“ Vua bảo các quân :

– Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch, như sét đánh không kịp bịt tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc chắn phá được chúng.

Tất tâu :

– Hãy bắt hết bọn giặc còn sống sót, không nên để mối lo về sau.

Do dự mãi không quyết định được. Quân giữ thành Đông Quan đến cứu viện, đón Mộc Thạnh về.” (7)

Từ sự việc này, nội bộ vua tôi nhà hậu Trần trở nên chia rẽ, mấy tháng sau vua nghe lời dèm giết Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất. Con Nguyễn Cảnh Chân là Nguyễn Cảnh Dị, con Đặng Tất là Đặng Dung tức giận bỏ đi, phò Trần Quí Khoách lên làm vua, niên hiệu Trùng Quang. Riêng Mộc Thạnh sau khi thoát thân, vội tâu về việc quân bị bại, vua nhà Minh bèn điều Trương Phụ sang đánh dẹp :

Ngày 27 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 7 [11/2/1409]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm Quốc công Mộc Thạnh tâu xuất sư bị bại. Mệnh bộ Binh điều thêm quân, cùng mệnh Anh Quốc công Trương Phụ tổng chỉ huy dẹp giặc. (Minh Thực Lục v. 11, tr.1158; Thái Tông q. 87, tr. 4b)

Lần này điều động quân 13 vệ, thuộc 10 đô ty, cùng quân tại Sở, Liêu Ninh, Tam Phủ Hộ vệ. Theo biên chế thời Minh mỗi vệ 5600 quân, vậy tổng số 13 vệ là 72.800, nhưng văn bản dưới đây ghi 4 vạn, phải chăng sử triều Minh cố tình bớt quân số :

Ngày 28 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 7 [12/2/1409]

Sắc dụ các Đô chỉ huy sứ ty Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Tây, Quí Châu, Vân Nam, Trấn Giang gồm 13 vệ, tổng cộng phát binh 4 vạn. Sở, Liêu Ninh, Tam Phủ hộ vệ phát binh 7000. Tất cả theo Anh quốc công chinh tiễu giặc tại Giao Chỉ. (Minh Thực Lụcv.11, tr. 1158; Thái Tông q. 87, tr. 4b)

Sắc mệnh hành quân của vua nhà Minh giao Trương Phụ lãnh chức Tổng binh, Vương Hữu lãnh chức Phó Tổng binh, phối hợp với Mộc Thạnh thi hành việc đánh dẹp :

Ngày 9 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [23/2/1409]

Mệnh Anh quốc công Trương Phụ cầm ấn Chinh lỗ Phó tướng quân sung chức Tổng binh, Thanh viễn hầu Vương Hữu phó Tổng binh, mang quân đánh bọn giặc nỗi loạn tại Giao Chỉ. Phối hợp với Chinh di Tướng quân Kiềm Quốc công Mộc Thạnh hiệp lực thi hành phận sự. (Minh Thực Lục v. 11, tr.1170; Thái Tông q. 88, tr.5b)

Trước khi ra quân vua Minh Thái Tông cảnh cáo lực lượng tăng viện và trú phòng phải củng cố tinh thần, đánh mạnh, lập mưu sâu ; đừng để cho dân bản xứ khinh thường :

Ngày 19 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [5/3/1409]

Sắc dụ bọn quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ :

“ Từ khi Kiềm quốc công Mộc Thạnh ra quân thất luật, bọn giặc trở nên giảo hoạt. Nay nghe rằng tên Đặng Tất thuộc đảng giặc đã chết ; mà bọn Lão Qua, Bát Bách (8) vẫn còn cung cấp lương thực, vậy cung cấp cho ai ? Nghe giặc rêu rao rằng có đến 50.000 con voi, và bảo tướng soái ta dễ đánh ; đó là do tướng soái ta trước đây thiếu mưu kế, để cho man di khinh lờn. Các ngươi phải lấy đó làm răn, cùng đồng tâm hiệp lực dẹp đám giặc này, để được yên một phương. (Minh Thực Lục v.11, tr. 1174 ; Thái Tông q. 88, tr. 7b)

Về mối chia rẽ và nội bộ tình hình quân ta, thám báo của Trương Phụ đã nắm rõ ; nên y cho đóng thuyền bè để chuẩn bị thuỷ chiến tại vùng hạ lưu sông Hồng :

Ngày 22 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [5/7/1409]

Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ tâu rằng bọn giặc Giản Ðịnh giết hại lẫn nhau. Giặc Nguyễn Súy ôm hai lòng, nay suy tôn Giản Ðịnh làm Thượng hoàng Ngụy, riêng lập Trần Quí Khoách làm vua ngụy, kỷ nguyên Trùng Quang. Bọn chúng ra vào nơi sông nước, gây mối lo; nên phải dùng thủy quân mới thành công. Nay trú quân tại huyện Tiên Du, phủ Bắc Giang , tìm gỗ trong rừng Sất Lãm để đóng thuyền; chiêu dụ dân trốn giặc tại các phủ Lạng Giang, Bắc Giang, Thái Nguyên trở về với nghề nghiệp cũ. (Minh Thực Lục v. 11, tr.1224 ; Thái Tông q. 92, tr. 13 b)

Trong khi chờ đợi quân Trương Phụ sẵn sàng tham chiến, cùng âm mưu giải đãi lòng quân ta ; Mộc Thạnh sai sứ đến gặp vua Trùng Quang tại Thanh Hoá :

Tháng 7, Tổng binh nhà Minh là Mộc Thạnh sai Hoàng La tới. Vua sai người đến tiếp hắn tại Nỗ Giang (9), Thanh Hóa (10).

Thượng tuần tháng 9/1909 xẩy ra trận giao tranh đầu tiên giữa quân của Trương Phụ và quân của vua Trùng Quang do tướng Nguyễn Cảnh Dị chỉ huy, tại Bình Than (11) ; trận này quân Minh thua, Ðô chỉ huy Từ Chính tử trận :

Ngày 2 tháng 8 năm Vĩnh Lạc 7 [10/9/1409]

Giặc Giao Chỉ, bọn Đặng Cảnh Dị [Nguyễn Cảnh Dị] đánh Bàn Than [Bình Than], viên quan phòng thủ Từ Chính tử trận.

Chính người đất Nghi Chân, trước kia làm Phó Thiên hộ vệ Dương Châu. Lúc vua [Minh Thành Tổ] cử binh tĩnh nạn, Chính mang quân toàn thành theo, được thăng Đô Chỉ huy Đồng tri. Tòng chinh Giao Chỉ đoạt được thuyền giặc tại sông Tam Đái, chở quân đánh Tây Đô, ải Hàm Tử, lập được công. Trần Quí Khoách làm phản, Bình Than là nơi yếu địa, Anh quốc công Trương Phụ sai Chính đến đóng. Cảnh Dị mang quân vây đánh, Chính xua quân tận lực chống trả, bị đạn xuyên qua sườn, Chính vẫn tiếp tục tử chiến. Rồi giặc rút, Chính bị vỡ bụng mà chết. (Minh Thực Lục v.12, tr. 1255; Thái tông q. 95, tr. 2a )

Hạ tuần tháng 9/1409 lại có cuộc giao tranh lớn tại cửa ải Hàm Từ [tỉnh Hưng Yên]. Lần này quân của vua Trùng Quang do Nguyễn Thế Mỗi chỉ huy bị thua to :

Ngày 21 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [29/9/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ đánh bại đảng giặc Nguyễn Thế Mỗi tại ải Hàm Tử. Lúc này Đặng Cảnh Dị đóng tại các xứ châu Nam Sách, sông Lô Độ, cầu Thái Bình ; Trương Phụ xuất quân hướng ải Hàm Tử tiến quân. Kim ngô Tướng quân nguỵ lập trại phòng thủ đối diện bờ sông, cho hơn 600 chiếc thuyền bày trận trên sông, lại đóng cọc gỗ phía bờ đông nam để ngăn cản. Lúc bấy giờ gió tây bắc thổi mạnh, Phụ sai Vân dương bá Trần Húc, Đô đốc Chu Quảng ; Đô chỉ huy Du Nhượng, Phương Chính dùng thuyền lớn, thuyền nhỏ cùng tiến, hoả khí xé trời, tên bắn như mưa, giặc không đương nổi bị chém hơn 3000 thủ cấp, số chết chìm tính không hết, Bắt sống bọn Giám môn nguỵ, Vệ tướng quân Phan Đê 200 tên, tịch thu 400 chiếc thuyền, kỳ dư giặc bỏ chạy. (Minh Thực Lục v. 12, tr.1263; Thái tông q. 95, tr. 5a)

Trương Phụ tiếp tục xua quân xuống tận phía nam lưu vực sông Hồng Hà, Thái Bình ; tính từ phía bắc kiểm soát đến các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương ngày nay :

Ngày 25 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [3/10/1409]

Ngày hôm nay bọn quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ đem quân đến sông Lô Ðộ, cầu Thái Bình. Ðảng giặc Ðặng Cảnh Dị, bỏ doanh trại trốn trước ; bèn chiêu dụ các tên nghịch tặc trở về với nghiệp cũ. Nên các phủ như Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tân An, Kiến Xương, Trấn Di; các vệ sở Xương Giang, Thị Cầu đều được chiêu tập yên ổn. (Minh Thực Lục v. 11, tr.1264; Thái Tông q. 95, tr. 5b)

Rồi một trận đánh quan trọng xẩy ra tại cửa biển Thái Bình, quân Nguyễn Cảnh Dị thua to, quân Minh hầu như kiểm soát được miền bắc nước ta :

Ngày 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [9/10/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ đánh bại đảng giặc, bọn Đặng Cảnh Dị, tại cửa biển Thái Bình. Lúc này bọn Cảnh Dị thường qua lại cướp bóc tại cửa biển, Phụ tiến binh tiễu trừ. Khởi đầu gặp thuyền thám thính của giặc, bèn truy kích giết hết. Sau đó tiến thẳng, thấy đằng xa hơn 300 thuyền giặc đậu bờ phía nam cửa biển. Ngay lúc bọn Đô đốc Phương Chính, Lý Long công kích, giặc phân chia lực lượng, một nửa nghênh địch. Quan quân la hét tiến, tên đá cùng bắn ; rồi hăng hái tiến thẳng đánh giáp vào binh thuyền giặc, bọn chúng đại bại chém hơn 500 đầu giặc, chết trôi không kể, bắt sống hơn 300 tên. Số thuyền còn lại không đánh mà tan, bắt Ninh Vệ đại Tướng quân ngụy Phạm Tất Lật, riêng Cảnh Dị trốn thoát. (Minh Thực Lục v.12, tr. 1268; Thái Tông q. 96, tr. 1b)

Tuy vậy tại vùng biển huyện Vạn Ninh [tỉnh Quảng Ninh], vẫn còn quân nổi dậy mang thuyền sang đánh phá tại châu Khâm, Trung Quốc ; nhà Minh phài dùng thuỷ quân truy kích :

Ngày 22 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [30/10/1409]

Tuần biển Quảng Ðông Phó Tổng binh Chỉ huy Lý Khuê tâu :

“ Thuyền giặc đến thôn Ngư Hồng, châu Khâm [Quảng Ðông] cướp phá trăm họ, thiêu huỷ phòng ốc. Quan quân truy kích đến vùng biển huyện Vạn Ninh, Giao Chỉ. Gặp hơn 20 chiếc thuyền giặc, quan quân đánh hăng ; giặc bị giết cùng chết trôi không kể hết. Tịch thu 20 chiếc thuyền Ðằng Bộ, bêu đầu giặc trên biển, giải tống đầu sỏ giặc bọn Phạm Nha, Nguyễn Biên cùng người nhà trai gái về kinh đô.”

Mệnh pháp ty trị theo luật. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1275-1276; Thái Tông q. 96, tr.5a-5b)

Lúc này trên đà chiến thắng, quân Minh lộ rõ bộ mặt gian ác. Mới 3 tháng trước Mộc Thạnh cho Sứ giả đến tiếp xúc với vua Trùng Quang tại Thanh Hoá, nay nhà vua cho Sứ giả Ðoàn Tự Thuỷ đến gặp thì Trương Phụ trở mặt, giết Sứ giả rồi tiến quân :

Ngày 3 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [9/11/1409]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ trú binh tại Thanh Hoá. Lúc này tên cầm đầu giặc Trần Quí Khoách xưng càn là cháu Vương trước, sai nguỵ quan Đoàn Tự Thuỷ mang thư đến quan Tổng binh xin phong tước. Phụ nói rằng con cháu nhà Trần trước đây đã bị giặc họ Lê giết hết rồi, đã cho tìm hỏi khắp nhưng không còn ai. Nay chỉ phụng mệnh dẹp giặc, không biết điều gì khác; bèn đem Đoàn Tự Thuỷ giết, rồi xua binh tiến thẳng. Sai Đô đốc Chu Vinh, Thái Phúc mang bộ binh và kỵ binh đi trước, phụ mang quân đi thuyền tiếp tục. Trước đây tại các cửa sông, cửa biển giặc đều đóng cọc ngăn, lại dùng đất đá làm chướng ngại.Do đó Phụ điều quân từ sông Hoàng Giang, A Giang, cửa bể Đại An đến Phúc Thành rồi từ sông đến cửa biển Thần Đầu, di chuyển đến đâu đều phá chướng ngại vật tắc nghẽn, phải mất trên 10 ngày mới đến Thanh Hoá. Quân bộ và thuỷ họp lại, bọn Giản Định phải chạy về Diễn Châu, Trần Quí Khoách đến Nghệ An ; bọn giặc như Nguyễn Suý, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị đều chạy trốn ; bèn đóng quân tại Thanh Hoá để diệt hết tay chân đảng giặc. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1281; Thái Tông q. 97, tr. 2a)

Ðại Việt Sử ký Toàn Thư (12) còn ghi thêm hành động dã man của Trương Phụ như sau :

Phụ đi đến đâu, giết chóc rất nhiều, có nơi thây chất thành núi, có chỗ moi ruột quấn vào cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò, thậm chí có đứa mổ bụng lấy thai, cắt lấy hai tai để nộp theo lệnh. Kinh lộ các nơi lần lượt đầu hàng. Những dân còn sót lại bị bắt hết làm nô tỳ và bị đem bán, tan tác khắp bốn phương cả.

Vua Giản Định tuy được vua mới Trùng Quang [Trần Quí Khoách] tôn làm Thái Thượng hoàng, nhưng cũng không có thực quyền, rồi chẳng bao lâu bị đạo quân của Trương Phụ tăng viện cho Mộc Thạnh, truy kích và bắt sống. Sự việc được chép trong Minh Thực Lục như sau :

Ngày 10 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [16/12/1409]

“ Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh Quốc công Trương Phụ, chinh di Tướng quân Kiềm quốc công Mộc Thạnh bắt được bọn giặc Giản Định. Lúc bấy giờ Định tới sách Cự Lặc, rồi từ sách Địa đến trấn Thiên Quan tụ tập chống trả. Thạnh mang binh từ Lỗi Giang hướng về sách Cự Lặc ; bọn Đô đốc Chu Vinh, Đô Chỉ huy La Văn dùng lính đi thuyền theo sông Lỗi Giang lên Ngưu Tỵ quan ; Trương Phụ điều bọn Đô đốc Chu Quảng, Đô Chỉ huy Trần Hoài dùng bộ binh và kỵ binh từ Lỗi Giang lên sách Địa để kịp đến trấn Thiên Quan. Giản Định lại từ sách Đông Hoàng hướng đến sách Đa Bôi, quan quân đuổi tới huyện Mỹ Lương (13), sách Cát Lợi. Giản Định vừa mới trú tại nhà dân, nhìn đằng xa thấy quan quân đến, bèn bỏ các vật như ngựa, ấn tín, chạy trốn vào rừng. Quan quân lục soát không bắt được, bèn vây chặt rừng, rồi bắt sống được Giản Định cùng các tướng giặc Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ, Nguyễn Yến.” (Minh Thực Lục v.12,tr. 1290-1291; Thái Tông q. 98, tr. 1b-2a)

Xét về sự thất bại của Giản Ðịnh Ðế, nguyên do bởi sự nghi kỵ và chia rẽ. Trước kia Phạm Thế Căng tuy đã từng làm quan với nhà Minh, nhưng rồi chống lại và tự xưng là Duệ Vũ Ðại vương tại phủ Tân Bình [tỉnh Quảng Bình]. Nếu nhà vua không dung nạp hoặc liên minh được, thì nên bỏ qua với kẻ cùng chí hướng chống quốc thù ; đằng này mang quân đánh dẹp, tự làm suy yếu lực lượng chống đối giặc. Ðối với Nguyễn Cảnh Chân và Ðặng Tất là những bậc công thần lập nhiều công lao, nhưng vì nghe lời viên Hoạn quan Nguyễn Quỹ mật tâu rằng “ Nguyễn Cảnh Chân và Ðặng Tất chuyên quyền bổ nhiệm quan và cách chức, nếu không tính sớm thì sau khó kiềm chế ”. Vua cho gọi hai người đến, bóp cổ giết Tất. Chân chạy lên bờ, lực sĩ đuổi theo chém chết. Việc làm của vua Giản Ðịnh đã kéo dài thời gian hy sinh của đất nước gần 20 năm, mãi đến năm 1428 Bình định vương Lê Lợi mới quét sạch được quân Minh ra khỏi bờ cõi. Bàn về sự kiện này Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời nói như sau :

“ Vua may thoát khỏi vòng vây hãm nguy hiểm, cầu người cứu giúp nạn nước, được cha con Ðặng Tất có tài làm tướng, cha con Cảnh Chân giỏi bày mưu lược, đủ để lập công khôi phục, dựng được nghiệp trung hưng. Với trận thắng Bồ Cô, thế nước đã nổi. Thế mà nghe lời gièm pha ly gián của bọn Hoạn quan, một lúc giết hại hai người bầy tôi phò tá, tự mình chặt bỏ chân tay vây cánh của mình, thì làm sao nên việc được !… ” (14)

Chú thích

1. Minh Nghiên Cứu, Sđd, trang 86.

2. Toàn Thư, sđd, tập 2, trang 224.

3. Theo chú thích từ bản dịch Toàn Thư : Thành Cổ Lộng do người Minh đắp, thuộc xã Bình Cách, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà, tục gọi là thành Cách.

4. Sông Sinh Quyết gần núi Thiên Kiện ; theo Cương Mục, núi Thiên Kiện còn có tên là núi Địa Cận, ở xã Thiên Kiện, huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam Hà.

5. Kiến Văn : niên hiệu của Minh Huệ đế, cháu vua Thái Tổ.

6. Minh Thực Lục quyển 86 trang 1144.

7. Toàn Thư, Sđd, tâp 2, trang 224.

8. Bát bách : tên nước xưa Bát Bách Tức Phụ, nay thuộc phần đất Tiêm La. Tục truyền Tù trưởng nước này có 800 vợ nên có tên này.

9. Nỗ Giang :khúc sông Mã chảy qua làng Nguyệt Viên, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa, còn gọi là sông Nguyệt Thường.

10. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 226.

11. Bình Than nằm cuối sông Ðuống, giáp giới hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương.

12. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang227.

13. Mỹ Lương : Tên huyện thuộc tỉnh Sơn Tây, thời Minh thuộc châu Quảng Oai; giáp với Nho Quan, Ninh Bình.

14. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 225

Năm Canh Dần [1410]

Sau khi bắt được vua Giản Ðịnh, Tổng binh Trương Phụ cùng Phó Tổng binh Vương Hữu được lệnh mang quan quân trở về Bắc Kinh :

Ngày 28 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 7 [1/2/1410]

Triệu các quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ, Phó tổng binh Thanh viễn hầu Vương Hữu điều lãnh Đô đốc Chu Vinh, Thái Phúc, Lâm Thiếp Mộc Nhi, cùng các quan quân đã đưa đi trở về Bắc Kinh. ( Minh Thực Lục v. 12, tr. 1300; Thái Tông q. 99, tr. 3b)

Trước khi rút quân về, Trương Phụ làm một trận càn lớn, đánh dẹp lực lượng nổi dậy của Nguyễn Sư Cối tại châu Ðông Triều [Hải Phòng], chém giết hơn 2000 tù binh. Phụ làm một việc tàn bạo mà văn minh con người không cho phép, hành động này được sử Trung Quốc gọi là kinh quán [京 觀, quan đọc là quán], tức chồng chất thây người thành đống lớn, rồi lấy đất bùn phủ lên, để khoe khoang vũ công cùng răn đe quần chúng :

Ngày 9 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 8 [12/2/1410]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ đánh bại dư đảng giặc Nguyễn Sư Cối tại châu Đông Triều. Trước đây Sư Cối nguỵ xưng Vương cùng với bọn nguỵ Kim Ngô Thượng Tướng quân Đỗ Nguyên Thố đóng binh hơn 2 vạn tại xã Nghi Dương, huyện An Lão, châu Đông Triều ; thường đến sông Hoàng Giang, Ma Lao, cùng cửa biển Đại Toàn cướp phá để hưởng ứng theo Giản Định. Đến ngày hôm nay Trương Phụ cho vây xã Nghi Dương, bọn giặc chống cự, quan quân phấn khởi bắn tên đá như mưa, khiến giặc thua to. Chém hơn 4500 thủ cấp, chết trôi nhiều ; bắt sống nguỵ Giám Môn Tướng quân Phạm Chi, nguỵ Vũ Lâm Vệ Tướng quân Trần Nguyên Khanh, nguỵ Trấn Phủ sứ Nguyễn Nhân Trụ hơn 2000 tên bèn chém , chồng chất xác thành bãi tha ma tập thể để thị chúng. (Minh Thực Lục v. 12, tr .1303-1304; Thái Tông q. 100, tr. 1a-1b)

Lúc chuẩn bị rời khỏi nước ta, Trương Phụ và Vương Hữu tâu về triều rằng thực lực của vua Trùng Quang [Trần Quí Khoách] hiện diện từ Nghệ An trở về Nam, riêng tướng Ðặng Dung lãnh quân tiền tiêu kiểm soát các đường huyết mạch tại Thanh Hoá cùng các cửa sông tại vùng hạ lưu sông Hồng. Bởi vậy Trương Phụ xin lưu lại một số quân lớn cho Mộc Thạnh sử dụng :

Ngày 28 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 8 [3/3/1410]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ, Phó Tổng binh Thanh viễn bá Vương Hữu tâu :

“ Nhận được sắc chỉ mang quân trở về nước, bọn thần tuân mệnh lên đường. Nay đầu sỏ giặc là Trần Quí Khoách, bọn đồ đảng Nguyễn Súy, Hồ Kỳ, Đặng Cảnh Dị vẫn đóng tại Diễn Châu, Nghệ An, sát Thanh Hoá. Đặng Dung lãnh quân ngăn chặn cửa sông Thần Đầu, Phúc Thành ; chiếm cứ đường huyết mạch Thanh Hoá, ra vào vùng cửa biển Đại An cướp phá. Nếu điều động hết số quân trước đây trở về, sợ Kiềm quốc công Mộc Thạnh binh ít không địch nổi, khiến công sắp thành phải bỏ lỡ. Nay muốn lưu lại Đô đốc Giang Hạo, Đô Chỉ Huy sứ Du Nhượng, Hoa Anh, Sư Hữu lãnh 4 Đô ty Vân Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông, Giang Tây; 2 hành Đô ty Tứ Xuyên, Phúc Kiến ; các binh đoàn Hộ vệ cùng các đơn vị lập công chuộc tội thuộc các xứ Kinh Châu, Nam Xương, Vũ Xương, Quảng Tây dưới quyền điều động của Thạnh. Riêng thần suất lãnh quan quân tuỳ tòng, đơn vị Hổ-bôn (1), quan quân tại kinh Trực Lệ, cùng 4 Đô ty Hồ Quảng, Quí Châu, Tứ Xuyên, Chiết Giang trở về. Ngoài ra Thạnh nắm giữ đại quân một mình, xin cho Vân Dương bá Trần Húc giữ chức Phó, để cùng bàn bạc việc quân.” Thiên tử xem tờ tấu, ban chỉ dụ cho bọn Phụ, chấp nhận lời xin. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1308-1309; Thái Tông q. 100, tr.3b-4a)

Mộc Thạnh tiếp tục tổ chức hành quân lớn tại 3 tỉnh gồm : hạ lưu sông Mã thuộc Thanh Hoá, cùng các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình ngày nay :

Ngày 11 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 8 [13/6/1410]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm quốc công Mộc Thạnh thống suất quan quân truy tiễu đầu sỏ giặc Trần Quí Khoách đến Ngu Giang, giặc bỏ trại trốn ; bèn truy kích đến huyện Cổ Hoằng (2) cùng cửa biển Hội Triều, Linh Trường, chém hơn 3000 thủ cấp, bắt sống Phụng thần vệ Thần Long Tướng quân Lê Lộng. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1348; Thái tông q. 104, tr. 2b)

Tuy nhiên sau đó 1 ngày Ðô đốc Giang Hạo bị thua to tại sông Lỗ Giang, thuộc tỉnh Hà Nam ; viên Chỉ huy Tô Toàn bị tử trận tại sông Tranh thuộc tỉnh Ninh Bình.

[330] Ngày 12 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 8 [14/6/1410]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm quốc công Mộc Thạnh sai Trung Quân Đô đốc Thiêm sự Giang Hạo mang binh đến Lỗ Giang (3) giao tranh với bọn giặc Đặng Cảnh Dị bất lợi ; viên Đô Chỉ-huy Tô Toàn cũng bị thua tại sông Tranh (4), trúng thương chết. (Minh Thực Lục v.12, tr .1349; Thái Tông q. 104, tr. 

Riêng các cuộc nổi dậy có tính cách tự phát thì xảy ra khắp nơi, tính từ bắc vào nam như sau :

– Tại huyện Ðổng, phủ Lạng Sơn có Vi Quảng Liêu tuy nhận chức Thổ quan của nhà Minh, nhưng mưu giết quan lại (4).

– Tại châu Hạ Văn, phủ Lạng Sơn có Hoàng Thiêm Hữu cấu kết với Vi Quàng Liêu (5).

– Tại huyện Thoát ở phía bắc Khâu Ôn [Lạng Sơn], Nguyễn Nguyên Hách từng là Thổ quan cũng nổi lên (5).

– Tại phủ Thái Nguyên lực lượng nổi dậy mang tên là “ Giặc áo đỏ ” dấy lên từ năm Vĩnh Lạc thứ 8 [1410] đánh phá các làng huyện, liên kết với Ông Lão (5).

– Tại huyện Ðộng Hỷ, Phủ Thái Nguyên Ông Lão nổi dậy vào ngày 10 tháng 5 ; bị Thổ quan Ma Bá Hổ đánh. Sau đó chiêu tập đồ đảng, ban ngày đánh phá huyện Tư Nông, ban đêm tấn công huyện Ðộng Hỷ ; quân Minh mang đại quân tiễu trừ đến 2 năm mới dẹp được (6).

– Tại phủ Trấn Man [tỉnh Thái Bình] Trần Quán nổi dậy, bị Thổ quan Trần Hy Cấp bắt (6).

– Tại phủ Kiến Bình [tỉnh Nam Ðịnh] Nguyễn Ða Cấu nổi dậy, quân Minh chưa dẹp được (6).

– Tại huyện Thanh Ðàm [Hà Nội] Lê Khang nổi dậy (7)

– Tại Thanh Oai [Hà Tây], Lê Nhị giết cha con Ðô ty Lư Vượng tại cầu Ngọc Tân, lại đánh chiếm huyện Từ Liêm khiến quân Minh rất sợ hãi (7).

– Tại Trường Yên [Ninh Bình], Ðỗ Cối, Nguyễn Hiệu họp nhau chống quân Minh.(7)

-Tại Thanh Hoá Ðồng Mậc, Nguyễn Ngân Hà nổi lên. Riêng quân của Ðồng Mặc giết giặc rất nhiều, viên Chỉ huy quân Minh là Tả Ðịch bị bắt, Vương Tuyên thế cùng phải tự tử; Mặc được vua Trùng Quang cho làm Phủ quản quận Thanh Hoá (7)

Tuy nhiên phần lớn các cuộc nổi dậy không có sự chỉ huy chung, hiệu lệnh không thống nhất nên cuối cùng bị tan rã.

Chú thích

1. Hổ Bôn : đội quân đặc biệt thiện chiến.

2. Cổ Hoằng:thuộc huyện Hoằng Hoá, Thanh Hoá ngày nay. (Ðào Duy Anh, Ðất Nước Việt Nam Qua Các Ðời, (Viết tắt Ð.N.V.N.Q.C.Ð.) Thuận Hoá, NXB Thuận Hoá, 1995.)

3. Lỗ Giang : thuộc huyện Nam Xang, tỉnh Hà Nội. Nay thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục (Viết tắt : Cương Mục), Hà Nội : Bản dịch của NXB Giáo dục, 1998, do Viện Việt Học lưu hành trên mạng

4. Sông Tranh : tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. (Quốc Sử quán triều Nguyễn, Ðại Nam Nhất Thống Chí (viết tắt : Thống Chí), Huế : Bản dịch NXB Thuận Hoá, tập 3, trang 301)

5. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 87.

6. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 86.

7. Toàn Thư, Sđd tập 2, trang 228.

Năm Tân Mão [1411]

Sau khi Trương Phụ rút quân vảo tháng 3/1410, quân Minh tại nước ta bị tấn công nặng nề, nên vua Thái Tông buộc phải sai Trương Phụ sang tíếp viện một lần nữa. Tuy nhiên cũng như lần viện binh sang đánh vua Giản Ðịnh kỳ trước, khi quân chưa sang kịp, nhà Minh dùng kế hoãn binh bằng cách tiếp Sứ giả của vua Trùng Quang là Hồ Ngạn Thần, và ban chức cho vua Trùng Quang làm Bố chánh sứ Giao Chỉ :

Ngày 26 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 8 [20/1/1411]

Đầu đảng giặc là Trần Quí Khoách sai bọn Hồ Ngạn Thần dâng biểu xin hàng. Thiên tử cho rằng có thể chuyển biến chúng sang con đường thiện nên chấp thuận, ban chức Bố chánh sứ Giao Chỉ. Lại ban cho Trần Nguyên Tôn chức Tham chính ; Nguyễn Suý, Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung Đô Chỉ huy ; Phan Quý Hựu Phó sứ ty Án Sát. Sai bọn Hữu Thông chính Phương Tố Dị mang sắc đến dụ rằng :

“ Bọn các ngươi dâng biểu xin hàng, nay chấp nhận lời xin, mỗi người được nhận chức quan, nếu quả thành thực thì một phương hưởng phúc, vĩnh viễn thái bình. Nếu ôm lòng man trá không có lòng thành, đại quân tiến đánh thì chính các ngươi để hoạ lại cho dân chúng, hối cũng không kịp.” (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1425; Thái Tông q. 111, tr. 6a)

Chỉ 20 ngày sau đó, Trương Phụ mang đại quân gồm 6 Ðô ty, 14 vệ, sang đánh nước ta :

Ngày 18 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 9 [10/2/1411]

Mệnh Anh quốc công Trương Phụ đeo ấn Chinh lỗ Phó tướng quân sung chức Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ ; hợp lực với Kiềm quốc công Mộc Thạnh tiễu trừ phản tặc. Sắc cho 6 Đô ty Tứ Xuyên, Quảng Tây, Giang Tây, Hồ Quảng, Vân Nam, Quý Châu ; cùng 14 vệ như An Khánh phát 24 000 quân theo chinh phạt.

Sắc cho Đô ty, Bố chánh ty, Án sát ty Giao Chỉ : phàm những kẻ phạm tội trọng nhưng tình có thể thương, đưa cho Anh quốc công Trương Phụ để được lập công chuộc tội. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1432; Thái Tông q. 112, tr.2b)

Chính sách của nhà Minh vừa đánh vừa chiêu dụ, vua Minh Thái Tông ra sắc chỉ với những lời hứa hẹn như sau :

Ngày 24 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [19/3/1411]

Chiếu dụ Giao-Chỉ rằng :

“ Trẫm nhận mệnh trời, cai trị muôn phương, vĩnh viễn che chở soi xét tình cảnh kẻ dưới ; lòng đầy sự thương yêu, sớm chiều canh cánh. Nghĩ rằng Giao chỉ đã được sáp nhập vào bản đồ, nhưng suốt năm chưa được yên ổn nghỉ ngơi, sau buổi khốn khó giặc giả bèn ban ân khoan hồng như sau : Kể từ ngày 24 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 9 trở về trước, những người Giao Chỉ tụ tập trong núi rừng đều được xá tội, quân cho trở lại nguyên đơn vị, dân trở lại với nghề cũ, quan lại quân dân phạm tội chưa bị phát giác cũng được tha. Ngoài thuế lương thực, các loại thuế vàng, bạc, muối, sắt, cá, hoa quả được miễn trưng thu trong vòng 3 năm ; vàng, bạc vẫn cấm không được khai thác ; nội bộ trong dân được phép giao dịch bằng vàng, bạc, tiền đồng ; nhưng không được đưa ra khỏi lãnh thổ. Những Thổ quan Giao Chỉ có tài năng rõ ràng về việc cai trị quân dân, hãy tâu lên cho biết tên để thưởng cờ biển làm bằng. ” (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1443-1444; Thái Tông q. 113, tr.4a)

Tháng 8/1411, liên quân Trương Phụ Mộc Thạnh làm cuộc hành quân lớn tại vùng hạ lưu sông Mã [Thanh Hoá], lực lượng của vua Trùng Quang bị thiệt hại nặng :

Ngày 17 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [6/8/1411]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ, Kiềm quốc công Mộc Thạnh đánh thắng đảng giặc bọn Nguyễn Suý tại sông Nguyệt Thường (1). Lúc bấy giờ Thạnh điều quân bộ và quân kỵ, Phụ đốc suất thuỷ quân cùng tiến. Khi Phụ đến sông Nguyệt Thường, huyện Kết Duyệt, châu Cửu Chân; giặc chôn cọc gỗ giữa sông dày đến 40 trượng, hai bên bờ tại cửa sông đặt hàng rào liên hoàn đến 2, 3 dặm ; bên trong đặt phục binh khoảng hơn 300 chiếc thuyền tại bên phải núi ; bọn đầu sỏ gồm Hồ Cụ, Đặng Cảnh Dị, Đặng Dung mang quân đến cự.

Bèn điều Đô đốc Đồng tri Chu Quảng, Đô đốc Chỉ huy Trương Thắng, Du Quảng sử dụng thuyền chèo ; quan quân nhổ cọc mà tiến. Phụ suất Đô chỉ huy Phương Chính dùng quân bộ đánh phục binh, phá hàng rào gỗ, truy kích đến bờ sông, thuỷ lục cùng tiến công, giặc đại bại. Bọn Nguyễn Suý chạy trốn, bắt sống bọn Kim ngô tướng quân nguỵ quản lĩnh quân Dực hổ Đặng Tông Mục, nguỵ Ninh vệ Tướng quân Lê Đức Phấn, nguỵ Vũ vệ Tướng quân quản lãnh Hùng biên quân Nguyễn Trung, nguỵ Uy vệ Tướng quân Nguyễn Hiên; chém trên 400 tên giặc, số chết trôi không kể xiết ; tịch thu hơn 120 chiếc thuyền ; bắt được ấn Nhập nội Tư Không của Đặng Cảnh Dị và Diễn Châu Trấn phủ quân đại tướng quân. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1488-89; Thái Tông q.117, tr. 2b-3a)

Tuy nhiên tháng 9, Nguyễn Suý hành quân tại vùng ven biển, bắt được viên Chỉ huy Nguyễn Chính, chém bêu đầu rồi rút lui (2).

Tại Thanh Oai [Hà Tây] đảng của Lê Nhị lợi dụng lúc quân Minh lo hành quân tại vùng ven biển đánh dẹp quân của vua Trùng Quang ; bèn mang quân tấn công vùng sông Nhuệ thuộc phía tây thành Giao Châu, nhưng bị thua :

Ngày 6 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [21/11/1411]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh Quốc công Trương Phụ dùng binh thuyền truy bắt bọn đồ đảng Trần Quí Khoách tại vùng ven biển ; nghe tin các châu huyện Thạch Thất, Phúc An và bọn thảo khấu Lê Nhị, Phạm Khang tiến đến gần thành Giao Châu. Vì lo liệu giặc có thể phá cầu nổi bắc qua sông Nhuệ, ngăn chặn tại sông Sinh Quyết, cùng làm tắc nghẽn con đường đến Hậu vệ phủ Giao Châu, nên mang quân chinh phạt. Bọn Lê Nhị và Phạm Khang tập hợp được hơn 5000 quân chống cự với quan quân, bị bại. nguỵ Long Hổ Tướng quân Đại Đô đốc Lê Nhị trúng tên chết ; giết nguỵ Dực Vệ Tướng quân Đồng Tri Đô đốc Nguyễn Thi tại trận, bắt sống nguỵ Dực Vệ Tướng quân Dương Nhữ Mai, nguỵ Phòng Ngự sứ Phùng Ông; chém bêu đầu hơn 1500 tên để làm răn, bọn giặc còn lại chạy trốn vào rừng núi đầm lạch, sau đó bị truy kích giết hết. Tướng giặc Phạm Khang, Đỗ Cá Đán, Đặng Minh, Nguyễn Tư Hàm chạy trốn xa. Rồi sau đó bọn chúng bị bắt ; từ nay các châu huyện Từ Quảng, Phúc An đều được yên ổn. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1523-1524; Thái Tông q. 121, tr. 1a)

Ngoài ra phải kể đến : Tại châu Lợi Nhân [Hà Nam], Lê Mão nổi dậy, bị Thổ quan bắt giết (3). Tại châu Khoái, phủ Kiến Xương [Hải Hưng] Ðinh Bồ nổi dậy, Bố chánh Giao Chỉ Hoàng Phúc chiêu dụ nhưng không ra đầu thú (3). Tại châu Vạn Nhai, Lạng Sơn, Dương Cao Thiêm chiếm đất hiểm chống cự, sau đó ra đầu thú (3). Tại huyện Ma Lung, phủ Quảng Oai [Hà Tây], Bạch Sư Ðiểm thừa lúc quân Minh đi đánh Giậc Áo Ðỏ tại Thái Nguyên, bèn nổi dậy (4). Tại châu Hạ Hồng phủ Tân an [Hải Hưng] Trần Tồn Nhân nổi dậy (4).

Số lượng quân Minh chết lúc này khá nhiều, một văn bản tiết lộ nhà Minh dùng tiền uỷ lạo cho 3 420 tên quân tử trận :

Ngày 8 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [23/11/1411]

Ban cho quan quân tòng chinh Giao Chỉ, cùng những kẻ tử trận gồm 3420 người, 44.164 đỉnh tiền giấy. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1524; Thái Tông q. 121, tr. 1b)

Chú thích

1. Theo Thống Chí tập 2, t. 309 ; sông Nguyệt Thường là tên riêng của sông Mã.

2. Toàn Thư, Sđd tập 2, trang 229.

3. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 88.

4. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 89

Năm Nhâm Thìn [1412]

Tháng giêng năm Nhâm Thìn [1412] viên Phụ đạo huyện Ðại Từ phủ Thái Nguyên là Nguyễn Nhuế khởi binh, hoạt động tại vùng Tam Ðảo [Vĩnh Phú] bị Trương Phụ bắt.

Tháng 9/1412 xẩy ra cuộc thuỷ chiến lớn tại cửa biển Yên Mô [Ninh Bình], mỗi bên tham dự đến mấy trăm chiếc thuyền. Trận chiến xẩy ra suốt buổi sáng ; mặc dầu chiến đấu rất hăng nhưng rốt cuộc quân nhà Hậu Trần bị đại bại phải từ bỏ chiến trường vùng hạ lưu sông Hồng :

Ngày 1 tháng 8 Năm Vĩnh Lạc thứ 10 [6/9/1412]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ đóng thuỷ quân tại cửa biển Yên Mô, nhìn đằng xa thấy thuyền giặc từ Đại An vào cửa biển Thần Đầu, bèn sai bọn Đô chỉ huy Phương Chính đánh. Thuyền giặc trên 400 chiếc ra khỏi cửa biển Thần Đầu, chia làm 3 đội. Bấy giờ gió bắc thổi, Phụ suất quân đánh vào giữa trận ; khí thế giặc rất tinh nhuệ, quan quân phấn đấu tiến thẳng, thuyền sát cạnh thuyền, gươm giáo công kích, hoả khí tấn công, giặc chống không nổi bèn chèo thuyền rút lui. Quan quân truy kích bén gót, dùng câu liêm giết chết, đánh từ giờ Mão đến giờ Tỵ (1), giặc đại bại ; bắt sống bọn Dực vệ Đại tướng quân Trần Lỗi, Long hổ Tướng quân Đặng Nhữ Hý, Lê Mục ; các Tướng quân như Kim ngô, Vũ vệ, Uy vệ, Ninh vệ ; các Sứ như Hiệu uý, An phủ, Đoàn luyện, Tuần kiểm là bọn Nguyễn Lâm gồm 75 người ; cùng tuỳ tòng khác hơn 1000 ; chém chết trôi không tính hết. Đảng giặc bọn Nguyễn Sư [Suý] chạy trốn. Phụ đốc thúc quân đuổi theo nhưng không kịp, bèn quay lại. Bọn Lỗi 40 người bị thương nặng, bèn chém để làm răn. Bỏ vào cũi, giải bọn Đặng Nhữ Hý gồm 30 người về kinh. (Minh Thực Lục v. 12, tr. 1615; Thái Tông q.131, tr. 1a)

Tiếp tục tiến quân, Trương Phụ mang quân đến huyện Thổ Hoàng, phủ Nghệ An [nay thuộc huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh] lùng bắt Thiếu bảo nhà Hậu Trần là Phan Quí Hữu, viên này sai con là Phan Liêu xin hàng, các vùng Thanh Hoá, Nghệ An đều vào tay giặc :

Ngày 26 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 10 [30/11/1412]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Anh quốc công Trương Phụ mang quân đến sông Ác huyện Thổ Hoàng (2), phủ Nghệ An để lùng bắt bọn nguỵ Thiếu bảo Phan Quí Hữu, bọn giặc nghe tin đều trốn. Quý Hữu trốn tại núi Khả Lôi, sai con là Liêu xin hàng, bèn cấp bảng gọi đến. Cha con Quý Hữu cùng bọn Ngô Đạm 17 người cũng đến cửa quân xin hàng. Phụ nhận sắc chỉ ban cho Quí Hữu chức Phó sứ ty Án sát Giao Chỉ coi phủ Nghệ An để chiêu phủ quân dân. Rồi sau đó bọn Tướng quân nguỵ Tri phủ Quan sát An phủ Chiêu thảo sứ Trần Mẫn, Nguyễn Sĩ Cần, Trần Toàn Úc, Trần Toàn Mẫn, Trần Lập, Nguyễn Sảng, Nguyễn Yểm, Nguyễn Điệu tiếp tục xin hàng. (Minh Thực Lục v. 12, tr.1633-1634; Thái Tông q. 133, tr. 3a-4b)

Lúc này tại Lạng Sơn có Nông Văn Lịch tụ tập dân chúng chiếm lãnh đất đai, chẹn đường đi lại của quân Minh, giết bắt rất nhiều. Viên Tham chính người Việt là Mạc Thuý mang quân vào đánh, bị trúng tên thuốc độc mà chết (3). Nguyễn Liễu người Lý Nhân [Hà Nam] chiêu dụ người các huyện Lục Na [Hà Bắc], Vũ Lễ [Thái Nguyên] đánh quân Minh trong mấy năm. Tham nghị Nguyễn Huân vờ kết thông gia rồi dụ Liễu đến giết chết (3). Lưu Phụng đánh phá tại vùng Quảng Oai [Hà Tây], quân Minh tăng cường chinh tiễu nhưng chưa dẹp được (4). Giáp Giang nổi lên tại phủ Lạng Sơn, vẫn chưa chịu hàng phục (5). Phạm Khang chiếm cứ huyện Phù Lưu, phủ Giao Châu [huyện Phú Xuyên, Hà Tây], vẫn chưa hàng (5). Trần Nguyên Hiến chiếm châu Tam Ðái [Vĩnh Phú], vẫn chưa hàng (5).

Chú thích

1. Giờ Mão: từ 5 giờ sáng đến 7 giờ sáng ; giờ Tỵ từ 9 giờ đến 11 giờ sáng.

2. Huyện Thổ Hoàng tức huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Sông Ác còn gọi là sông Sâu, hay Ngàn Sâu tại huyện Hương Khê.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 232.

4. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 89.

5. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 90.

Năm Kỷ Hợi [1419]

Trong năm này nhiều cuộc nổi dậy xẩy ra, nên quân Minh phải đánh dẹp rất vất vả. Trước hết hãy đề cập tiếp đến lực lượng của Bình định vương Lê Lợi tại Thanh Hoá, Cương Mục chép như sau :

Tháng 4, mùa hạ. Bình Định vương đánh đồn Nga Lạc (1), bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao. Rồi Vương lại lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh kéo đến bức bách. Đô tổng quản Lê Lai chịu chết thay Vương. Vương tấn công đồn Nga Lạc, bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao, đem chém. Nhưng bấy giờ thế lực của giặc còn đang mạnh ; về phía Vương, tướng còn hiếm, quân còn ít, lại đánh nữa, không thắng được địch. Vương chạy vào Trịnh Cao, rồi lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh thường đến đánh úp : tình hình phía Vương khốn quẫn quá ! Vương phải nhóm họp các tướng, dụ bảo họ rằng : ” Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín (2) xưa, để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau ? “. Trong các tướng chẳng ai dám đáp ứng cả. Riêng có Lê Lai khảng khái xin vâng, tình nguyện trao đổi đồ mặc với Vương để đi chết thay. Lê Lai liền cho sắp xếp nghi trượng chỉnh tề, chính mình đem quân và voi, hướng ra phía địch, chỉ huy các tướng chia đường khiêu chiến. Tướng Minh lấy thêm quân bao vây Lê Lai. Lai chiến đấu kiệt sức, bị người Minh bắt và giết chết. Địch bèn rút quân về Tây Đô. (3) 

Toàn Thư chép thêm : 

Tháng 5 vua đóng tại sách Ðà Sơn, quân Minh tiến đánh. Vua phục kích tại Mường Chánh (4), cả phá quân giặc, rồi dời quân đến đóng tại sách Lư Sơn, ít lâu sau dời sang Mường Thôi, rồi lại về đóng bản doanh ở Vu Sơn (5).

Riêng Minh Thực Lục chép rằng quân của Bình định vương Lê Lợi thường giao tranh với quân Minh tại vùng Lam Sơn, rồi rút lui sang Ai Lao ; phải chăng muốn nói đến địa danh Mường Thôi (6) mà Toàn Thư đề cập ở trên, vì Mường Thôi nằm tại vùng biên giới Ai Lao :

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [26/5/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đầu sỏ giặc Lê Lợi trú tại sách Khả Lam. Sai Đô đốc đồng tri Phương Chính, Đô chỉ huy Sư Hữu mang quân đánh ; bắt được bọn ngụy Cấm vệ tướng quân Nguyễn Cá Lập. Số còn lại chạy trốn sang Lão Qua ; bèn lưu Đô Chỉ huy Hoàng Thành, Chu Quảng giữ đồn Khả Lam, bọn Chính trở về Giao Chỉ. Lê Lợi lại xuất hiện đánh phá, giết Tuần kiểm Vương Cục, Lương Hướng rồi đi. Thành mang quân truy kích, giặc thua chạy. Gặp mưa nắng nước dâng, lam chướng mới nổi lên, xin đợi mua thu tiến binh. Được chấp thuận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2137; Thái Tông q. 212, tr. 1a)

Ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [30/8/1419]

Lê Lợi đầu đảng giặc tại Thanh Hoá, Giao Chỉ ; mang quân đánh phá Lỗi Giang (7), bị bọn Đô chỉ huy Hoàng Thành đánh thua, lại chạy sang trốn tại Lão Qua. (Minh Thực Lục q. 215, tr. 2151; Thái Tông q. 215, tr.1a)

Cùng trong tháng 8/1419, tại Nghệ An có cuộc nổi dậy của hai nhân vật đầu não theo giặc, đó là Tri phủ Nghệ An Phan Liêu và Chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật. Lúc quân nổi dậy đang vây thành Nghệ An, thì Phong thành hầu Lý Bân đích thân tiếp cứu, nên buộc phải rút lui về châu Ngọc Ma tại vùng thượng du Nghệ An :

Ngày 11 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/8/1419]

Viên Thổ quan Giao Chỉ giữ chức Tri phủ Nghệ An Phan Liêu là con Quý Hữu. Trước đây Quý Hữu theo Trần Quý Khoách làm Thiếu bảo nguỵ. Bị đại quân đánh, thế cùng Quý Hữu bèn sai Liêu đến cửa quân xin hàng. Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ theo chế độ ban cho Quý Hữu chức Phó sứ ty Án Sát coi phủ Nghệ An, lại ban cho Liêu chức quan. Quý Hựu chết, cho Liêu thừa kế cha nhậm chức này. Nhân Mã Kỳ bạo ngược phi lý, Liêu bèn làm phản tại huyện Nha Nghi (8), cùng viên thổ quan Thiên hộ Trần Đài tụ tập đám đông đốt phá châu huyện giết quan lại ; viên thổ quan chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật cũng đi theo. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đến đánh, bọn giặc tan, Liêu chạy đến châu Ngọc Ma (9) nương dựa viên thổ quan Tri châu Cầm Trách, Bân sai người truy bắt. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2152 ; Thái Tông q. 215, tr. 1b)

Tại Phủ Thanh Hoá, lại có thêm cuộc nổi dậy của Phạm Nhuyễn tại huyện Nga Lạc, bị Ðô Chỉ huy Từ Nguyên đánh bắt được :

Ngày 1 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/10/1419]

Bọn phản loạn Giao Chỉ Phạm Nhuyễn tụ tập tại sách Cự Lặc, huyện Nga Lạc. Ngày hôm nay quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Từ Nguyên mang quân bắt được, bèn chém bọn Nhuyễn để thị chúng. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2161 ; Thái Tông q. 217, tr. 1a)

Tháng 11/1419 xẩy ra 2 cuộc nổi dậy của dân đãi vàng, thứ nhất xẩy ra tại huyện Phù Lưu [Nghệ An] do Vũ Cống chỉ huy ; thứ hai tại huyện Ðồng Lợi, châu Hạ Hồng [Hải Dương] do Trịnh Công Chứng cầm đầu. Ngoài ra còn có các cuộc nổi dậy của anh em Trần Trực Thành tại Nghệ An, Nông Văn Lịch tiếp tục đánh phá tại phủ Lạng Sơn, Trần Ðại Quả nổi lên tại châu Vũ Ninh [Bắc Ninh], Nguyễn Ðặc tại châu Khoái [Hưng Yên], Ngô Cự Lai tại châu Thiên Thệ [Bắc Ninh] :

Ngày 1 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [17/11/1419]

Ty Đô Chỉ huy Giao Chỉ tâu rằng tại huyện Kệ Giang (10), phủ Nghệ An có tên thổ quan Bách hộ Trần Trực Thành, cùng em là Trực Nguỵ tự xưng Kim Ngô Tướng quân ; cùng bọn Lãm Bàn giặc Áo Đỏ cướp phá xã Dương Biến giết tuần kiểm Trương Tú. Vũ Cống người trong hộ đãi vàng liên kết với kỳ lão Hoàng Nhữ Điển tụ tập dân chúng đốt phá huyện Phù Lưu (11). Các nhóm nổi dậy tại huyện Khâu Ôn (12) có Nông Văn Lịch, châu Vũ Định [Ninh] (13) có Trần Đại Quả, châu Khoái (14) có Nguyễn Đặc, huyện Thiện Thệ (15) có Ngô Cự Lai tiếp tục trước sau làm loạn giết hại quan binh. Tại huyện Đồng Lợi, châu Hạ Hồng, phủ Tân An, viên Xã chính coi việc đãi vàng là Trịnh Công Chứng tụ tập đám đông hơn 1000 người đốt phá bắt giết quan lại tại các ty tuần kiểm thuộc các huyện Đa Dực, Đồng Lợi, châu Hạ Hồng (16) và cửa biển sông Đản. Đô đốc Phương Chính mang quân đánh dẹp đánh bại giặc tại Đồng Lợi. Thám thính cho biết trước đó bọn chúng đến châu Nam Sách, bèn truy kích kịp thời đánh dẹp tại ty tuần kiểm A Côi (17) chém hơn 400 thủ cấp, số giặc chết trôi tính không hết ; Công Chứng bèn chạy trốn. Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2165-2166; Thái Tông q. 218, tr. 1a-1b)

Ngoài ra còn phải kể thêm nhóm Vũ Liên, Vũ Lợi tụ tập dân nổi dậy tại châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang [Hải Hưng] (18). Nguyễn Ða Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang (19) thấy thành Ðông Quan [Hà Nội] chỉ còn những quân lính ốm yếu, bèn dấy quân tiến đánh. Quân đến Lô Giang, đánh phá được cầu phao, nhưng ít lâu sau bị quân Lý Bân đánh bại (20)

Trong các nhóm mới nổi lên, vua Minh Thái Tông lưu ý đến Phan Liêu, nên gửi chiếu thư đòi đánh dẹp gấp :

Ngày 16 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [3/11/1419]

Thiên tử ban mệnh cho Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân :

“ Mặc dù giặc Phan Liêu tại Nghệ An đã bị đánh tan, nhưng chúng vẫn còn tồn tại. Trong một thời gian ngắn, ngươi cần chỉnh đốn quân ngũ tiêu diệt chúng như nhổ gốc, không để sót mối lo trong dân. ” (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2163; Thái Tông q. 217, tr. 2a)

Do đó Phong thành hầu Lý Bân đích thân chỉ huy cuộc hành quân lớn tại tỉnh Nghệ An, nhưng chỉ đuổi được bọn Phan Liêu ra khỏi biên giới để rồi tiếp tục trốn tránh tại Lão Qua :

Ngày 6 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [23/11/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân đến châu Ngọc Ma dẹp giặc ; đầu đảng giặc bọn Phan Liêu cùng giặc Áo Đỏ hơn 1000 tên chống cự bị quan quân đánh bại. Bắt sống Tù trưởng giặc Áo Đỏ là bọn Nửu Môn, Diệp Để ; bọn Liêu, Lộ Văn Luật, Trần Văn, Trần Tử Trực và quân còn lại bỏ trốn. Quan quân tiến đến mường Cự Đàm, núi Bồ Đàm thuộc châu Ngọc Ma ; giặc cậy hiểm đóng trại phòng thủ, bèn đánh phá. Bọn Liêu chạy sang Lão Qua ; lại sai Đô chỉ huy Tiết Tụ tiến đánh bắt được đồng đảng giặc là bọn Hồ Tử Kính cùng giặc Áo Đỏ là Thượng Bì, Thượng Tướng hơn 300 người.

Trước đó sai Bố chánh ty sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân, Chỉ huy Trần Nguyên Khôi giữ sông Ác bắt được tên phản loạn Thiên hộ châu Nam Linh Trần Thuận Khánh, Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành đem chém. Đô đốc Phương Chính, Tham chính Mã Ánh cũng bắt và giết đầu đảng giặc Trịnh Công Chứng tại Đồng Lợi, đồng đảng giặc là Lê Điệt bỏ trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2167-2168 ; Thái Tông q. 218, tr.2a-2b)

Ðang lo đánh dẹp tại Nghệ An, thì ở miền Bắc lại xẩy ra những mối lo khác. Tại châu Gia Lâm [Bắc Ninh] quân của Ðào Cường chiến thắng trong một cuộc phục kích, bèn chuẩn bị vượt sông đánh thành Giao Châu [Hà Nội], Lý Bân phải điều động quân kỵ mới ngăn chặn được :

Ngày 28 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [14/12/1419]

Tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, Giao Chỉ, Đào Cường làm phản. Đô Chỉ huy Lưu Chấn, Vu Tán, Ngô Hưng mang quân đánh dẹp. Bọn Chấn không nghiêm cấm, nên quân sĩ buông thả cướp phá. Giặc giả bộ vứt đồ vật bỏ chạy, rồi đặt phục binh đón đợi. Quan quân bi bại, giặc đưổi tới sông Phú Lương, định vượt sông. Đô Chỉ huy Trần Tuấn ra sức đánh, nên ngăn được. Nhưng thế giặc mạnh thêm, quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai ngay bọn Đô Chỉ huy Cảnh Vinh mang kỵ binh đi đánh, giặc bèn rút lui. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2169; Thái Tông q. 218, tr. 3a)

Tại phủ Phụng Hoá [Nam Ðịnh], quân Minh cầm đầu bởi Ðô Chỉ huy Trần Trung, đánh bại quân nổi dậy của Lê Ðiệt và Trần Dĩ Luật :

Ngày 3 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/12/1419]

Bọn Đô Chỉ huy Trần Trung tại Giao Chỉ đánh bại đảng giặc Lê Điệt tại sông Tiểu Hoàng huyện Kiến Xương bắt sống 350 tên, đốt cháy trên 160 chiếc thuyền. Tiếp tục truy kích đến xã Cổ Lôi, huyện Tây Chân, phủ Phụng Hoá đánh bại bọn giặc Trần Dĩ Luật chém hơn 600 tên, đốt hơn 250 chiếc thuyền.(Minh Thực Lục v. 14 tr. 2171; Th ái Tông q. 219, tr. 1a)

Tại phủ Kiến Bình [Ninh Bình], Lý Bân sai Chỉ huy Phương Chính đánh dẹp, nhưng chưa giết được chủ tướng Ðinh Tông Lão :

Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [24/12/1419]

Ngày hôm nay các huyện như Đại Loan thuộc phủ Kiến Bình, Giao Chỉ, có bọn giặc Đinh Tông Lão làm loạn. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Chỉ huy Giao Châu hậu vệ Phương Chính đốc xuất quân đánh dẹp. Giặc thua chạy, chém hơn 400 tên, đều bị bêu đầu để làm răn. (Minh Thực Lục v. 14 , tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Riêng Lý Bân đích thân chỉ huy hai cuộc hành quân : thứ nhất tiếp tục truy đánh quân Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình] :

Ngày 11 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [27/12/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân truy đánh bọn Lê Điệt tại huyện Đình Hà phủ Trấn Man, đánh bại giặc mấy lần ; chém hơn 500 tên, bắt sống bọn nguỵ Kim ngô tướng quân Vũ Lộ. (Minh thực Lục v. 14, tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Thứ hai, mở cuộc hành quân lớn tại châu Ðông Triều [Quảng Ninh] tấn công lực lượng nổi dậy của sư ông Phạm Ngọc tu tại chùa Ðồ Sơn, bắt được tướng là Phạm Thiện ; rồi làm cuộc tàn sát lớn, giết tù binh có đến mấy trăm người :

Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/12/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân bắt được Tù trưởng giặc Phạm Thiện tại châu Đông Triều. Trước đây tên yêu tăng Phạm Ngọc tại chùa Đồ Sơn, huyện An Lão phao rằng trời giáng ấn kiếm, lệnh làm chúa ; bèn tiếm xưng La Bình vương, kỷ nguyên Vĩnh Ninh, tụ tập đám đông làm loạn. Bọn Thiện và Đào Thừa đến theo. Ngọc cho Thiện làm Nhập Nội Kiểm Hiệu Tả Tướng quốc Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ngô Trung làm Nhập Nội Hành khiển Hữu Thượng thư Tri Quân Quốc Trọng Sự, Đào Thừa làm Xa Kỵ Đại Tướng quân, Lê Hành làm Tư không, tụ tập đám đông chiếm cứ đường thủy và bộ. Lúc đại quân đến đánh, Thiện dàn quân hai bên bờ, lại bày thuyền giữa sông, thuỷ bộ cùng chống cự. Bân xua quân đánh gấp, chém 1200 thủ cấp, bắt sống Thiện cùng bọn Trung gồm 780 người, tịch thu hơn 200 chiếc thuyền lớn nhỏ, Ngọc tẩu thoát ; lại bắt quân giặc hơn 260 tên, bèn xử chém để răn. Thiện, Trung, cùng bọn Vũ Lộ đều bị giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2174; Thái Tông q 219, tr. 2b)

Chú thích

1. Nga Lạc : ở gần Lam Sơn, thuộc vùng Bái Thượng, Thanh Hoá ngày nay.

2. Trung thần của Hán Cao Tổ. Khi Cao Tổ bị Hạng Vũ vây ở núi Huỳnh Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), tình hình nguy ngập quá, Tín phải ăn mặc giả làm Cao Tổ, thay Cao Tổ ra đầu hàng : bị Hạng Vũ đốt chết. Còn Cao Tổ nhờ đó trốn thoát.

3. Cương Mục, sđd, trang 357.

4. Mường Chánh : huyện Lang Chánh, Thanh Hoá sau này.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 242.

6. Mường Thôi : Theo Toàn Thư có lẽ là Man Xôi, ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá, giáp Lào.

7. Lỗi Giang : một nhánh sông Mã tại huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá.

8. Nha Nghi : Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, Nha Nghi tức huyện Nghi Xuân, thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

9. Ngọc Ma : Châu miền thượng du phủ Nghệ An.

10. Huyện Kệ Giang : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, huyện Kệ-Giang vị trí phía bắc huyện Thanh Chương, Nghệ An hiện nay.

11. Huyện Phù Lưu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Phù Lưu thuộc phạm vi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An ngày nay.

12. Huyện Khâu Ôn : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Khâu Ôn thuộc tỉnh Lạng Sơn hiện nay.

13. Châu Vũ Ninh: theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Vũ Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

14. Khoái châu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Khoái châu thuộc tỉnh Hưng Yên.

15. Huyện Thiện Thệ : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Thiện Thệ đời Minh tương đương với huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

16. Châu Hạ Hồng : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Hạ Hồng thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.

17. Huyện A Côi : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện A Côi thuộc phía bắc tỉnh Thái Bình hiện nay.

18. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 95.

19. Lộ Hoàng Giang thời Trần, Hồ tức phủ Kiến Bình thời Minh thuộc ; theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. hiện nay thuộc tỉnh Nam Định, Ninh Bình.

20. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 243.

Năm Canh Tý [1420]

Lúc này tình hình tại các phủ, huyện xung quang thành Ðông Ðô [Hà Nội] vẫn còn bị đe doạ, Lý Bân bèn mang quân đánh Lê Hành, Ðào Cường tại huyện Ða Cẩm thuộc phủ Lạng Giang [Hải Hưng] :

Ngày 26 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [11/1/1420]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân mang quân tới phủ Lạng Giang. Tin điệp báo cho biết Tù trưởng giặc Tư không Lê Hành, nguỵ Kim Ngô Đại Tướng quân Đào Cường tụ tập lực lượng hơn 8000 tên lập trại tại xã Ma Lãng, huyện Đa Cẩm (1) ; bèn tiến binh tiễu trừ. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2180; Thái Tông q. 219, tr. 5b)

Sau hai ngày hành quân truy kích, quân của Lý Bân đánh thắng, giết chết Ðào Cường :

Ngày 28 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [13/1/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân mang quân tới huyện Thiện Tài, gặp toán du binh của giặc hơn 1000 tên, đánh bại chúng rồi đuổi đến xã Ma Lãng. Giặc bỏ trống trại ra giao chiến, quan quân lại đánh bại ; bắt giết Đào Cường, cùng tướng sĩ của chúng hơn 3500 tên. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2181-2182; Thái Tông q. 219, tr. 6a-6b)

Riêng phía tây thành Ðông Ðô, Cấn Sư Lỗ và Phạm Công Trịch nổi lên tại huyện Thạch Thất [Hà Tây], Trịnh Công Chứng chuyển quân từ châu Oai Man [Hà Tây] sang Gia Lâm [Bắc Ninh] ; Lý Bân phải sai quan đi đánh dẹp. Tại Thanh Hoá thì quân của Ðô Chỉ huy Từ Nguyên tiếp tục dằng co với Bình Định Vương Lê Lợi tại vùng Lỗi Giang :

Ngày 4 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 18 [18/1/1420]

Giặc Giao Chỉ Cấn Sư Lỗ, Phạm Công Trịch tụ dân làm loạn. Quan Tổng binh Lý Bân sai người đến huyện Thạch Thất giao chiến. Sư Lỗ thua chạy, chém được bọn Dực vệ tướng quân Cấn Hoạch hơn 150 người. Lúc bấy giờ Công Chứng tại châu Oai Man nghe tin đưa quân về Khoái Châu. Nhưng bị Đô chỉ huy Giao Chỉ Tôn Lâm đánh tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, giết bọn tướng giặc Phạm Trầm, bắt sống đầu đảng giặc Lê Hành.

Giặc Lê Lợi tại Thanh Hoá tụ tập quân đóng trại tại Lỗi Giang, bị Đô chỉ huy Từ Nguyên suất quân công phá, Lợi chạy trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2185; Thái Tông q. 220, tr.1a)

Trước tình hình loạn lạc xẩy ra khắp nơi, vua Minh Thái Tông xuống chiếu quở trách Phong thành hầu Lý Bân ; cùng điều thêm quân từ các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam đến và bổ nhiệm Vinh dương bá Trần Trí sang phụ tá cho Lý Bân :

Ngày 18 tháng giêng nhuần năm Vĩnh Lạc thứ 18 [4/3/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân rằng :

“ Trẫm ra lệnh người cai trị một phương, muốn cho quân dân được yên chổ; nay để cho giặc giã nổi lên rầm rộ, làm sao ngươi từ chối trách nhiệm được. Nay điều quân từ các xứ Vân Nam, Tứ Xuyên; quan quân nhiều ngươi phải hết sức trù tính sớm diệt bọn giặc. Nếu lần lữa ngày tháng, khiến bọn giặc ngày một lớn, thì căn cứ vào quốc điển khó mà khoan thứ được. ” (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2191; Thái Tông q. 221, tr. 2a)

Ngày 21 tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/5/1420]

Mệnh Vinh dương bá Trần Trí giữ chức Tả tham tướng phụ tá Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân trong việc đánh dẹp man di phản loạn. (Minh Thực Lụcv. 14, tr. 2201 ; Thái Tông q. 223, tr. 3a)

Có thêm quân, thêm tướng ; Lý Bân buộc phải tỏ ra năng nổ hơn ; đánh tan quân nổi dậy của Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình, Nam Ðịnh].

Ngày 4 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [16/5/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Trương Quý đánh giặc Lê Điệt tại huyện Đình Hà, phủ Trấn Man (2), bắt sống nguỵ Long Hổ Đại Tướng quân Đinh Thung, riêng tên Điệt mang dư đảng trốn. Bân tự xuất binh đánh bắt, do đó nguỵ Long Hổ Tướng quân Phan Dương, Phạm Canh đều hàng. Quân của Bân truy kích đến cùng, bắt sống Điệt, vợ y, cùng tướng giặc Nguyễn Thừ, Đỗ Đức Lăng, Nguyễn Như Lôi, giết trên 600 người, cùm giải bọn Điệt về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2205; Thái Tông q. 224, tr. 1a)

Lại bắt được thủ lãnh cuộc nổi dậy tại Ðông Triều là Sư ông chùa Ðồ Sơn, La Bình vương Phạm Ngọc :

Ngày 20 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân bắt cựu thủ lãnh giặc nguỵ La Bình vương Phạm Ngọc. Trước đây Ngọc thua bỏ chạy, lại trở về châu Đông Triều tụ tập đám đông cướp phá ; cuối cùng bị bắt, cùm giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, t 2206; Thái Tông q. 224, tr. 1b)

Tuy nhiên qua sự theo dõi tình hình một cách chặt chẽ của vua Thái Tông, thì việc làm của Lý Bân vẫn chưa đạt được yêu cầu ; vì chưa dẹp được những cuộc nổi dậy lớn của Lê Lợi, Phan Liêu, Xa Tam, Nông Văn Lịch :

Ngày 10 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [20/6/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân rằng bọn phản loạn Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nông Văn Lịch đến nay vẫn chưa bắt được, không biết việc binh đến khi nào mới hết, dân đến lúc nào mới được yên ; nên ngày đêm hết lòng trù hoạch phương lược, sớm diệt bọn giặc này, để khỏi phụ sự uỷ nhiệm của Trẫm. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2211 ; Thái Tông q. 225, tr. 1a)

Lý Bân sai Ðô Chỉ huy Chu Quảng làm cuộc càn quét lớn bắt được các nhóm nổi dậy khác như Khai thánh vương Nguyễn Ða, Chiêu tín hầu Ðàm Dữ Bang, Tư đồ Ngô Gia, Thái sư Vi Ngũ :

Ngày 15 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [25/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Chu Quảng đánh bắt được bọn nguỵ Khai Thánh vương Nguyễn Đa, nguỵ Chiêu Tín hầu Bình chương Quân quốc trọng sự Đàm Dữ Bang, nguỵ Nhập Nội Kiểm hiệu Bình chương Tư đồ Nguyễn Gia, nguỵ Thái sư Trung liệt công Vi Ngũ ; lại bắt vợ con, cùng ấn nguỵ ; đem tất cả đến kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2212; Thái Tông q. 225, tr. 1b)

Tại đây cần có sự đối chiếu giửa hai bộ sử Hoa, Việt : Minh Thực Lục chép lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi giết hai viên quan cao cấp của nhà Minh là Hữu Tham chính Giao Chỉ Hầu Bảo, và Tả Tham chính Phùng Quý. Riêng Toàn Thư (3) chép rằng :

Hầu Bảo giữ đồn Hoàng Giang, bị Nguyễn Thuật người Kiến Xương (4) đánh giết.

Vậy phải chăng Nguyễn Thuật là bộ hạ của Bình Định vương Lê Lợi, lại theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð. của Ðào Duy Anh thì lộ Hoàng Giang tức phủ Kiến Bình đời Minh, nay thuộc các tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình. Nếu vậy thì tại thời điểm năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1420] quân của Bình Định vương Lê Lợi đã có mặt tại hai tỉnh miền Bắc gần Thanh Hoá. Sau đây là văn bản trong Minh Thực Lục về vụ giết hai Tham chính Hầu Bảo và Phùng Quý :

Ngày 23 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/7/1420]

Giao chỉ Hữu Tham chính Hầu Bảo đốc suất dân binh chống giặc tử trận. Tả Tham chính Phùng Quý cũng đánh giặc tử trận.

Bảo người đất Tán Hoàng, Chân Định ; từ Sinh viên Quốc Tử bổ dụng làm Tri huyện 3 huyện Cổn Thành, Cống Du, Đôn Hưng ; rành việc hành chính. Lúc mới lập Giao Chỉ, chọn người cai trị phủ huyện, bèn thăng Bảo làm Tri phủ Giao Châu, rồi được thăng chức Hữu Tham chính Giao Chỉ. Bấy giờ giặc Lê Lợi cướp phá các quận, huyện tại vùng Hoàng Giang (1), Bảo đôn đốc dân binh xây đồn tại các nơi quan trọng để chống cự. Giặc đến đánh, bọn Bảo đánh không thắng, bị chết.

Quý người đất Vũ Lăng, Hồ Quảng ; trúng Tiến sĩ giữ chức Binh khoa Cấp sĩ. Lúc Anh quốc công Trương Phụ giữ chức Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ, Quý đôn đốc lương thực, cần lao gắng sức. Được tâu công việc hoàn thành xứng chức, chiếu chỉ thăng chức Giao Chỉ Hữu Tham nghị ; rồi giữ chức Đề đốc các hầm mỏ vàng bạc, thăng chức Tả Tham chính. Biết cách chiêu tập dân lưu vong quy phụ, có một đội thổ binh hơn 2000 người, đều dõng cảm chịu chiến đấu ; mỗi lần ra quân đánh nhau đều lập công. Sau bị Trung quan Mã kỳ ghen tỵ, đoạt hết thổ binh ; đến lúc Lê Lợi làm phản quân mạnh, Quý chỉ có vài trăm lính đến đánh. Binh ít gặp quân giặc đông, Quý ra sức đánh rồi tử trận. Bảo lo chính trị thanh liêm khoan thứ, Quý có tài ; tử trận mọi người đều tiếc. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2213; Thái Tông q. 225, tr. 2a)

Tiếp đến cũng cần nêu thêm điểm dị đồng giữa Toàn Thư và Minh Thực Lục về việc Bình Định vương Lê Lợi giao tranh với quân Minh trong tháng 10 Âm lịch, tại vùng biên giới Việt Lào. Cả hai nguồn đều xác nhận có Phương Chính chỉ huy đạo quân Minh, tuy nhiên Toàn Thư khẳng định rằng Bình Định vương thắng, Minh thực Lục chép quân Minh thắng. Sau đây là sử liệu trong Toàn Thư (5) : 

Mùa đông tháng 10, vua nghe tin quân Minh sắp đến, đặt mai phục ở bến Bổng (6) chờ giặc, chém giết quân giặc nhiều vô kể, bắt được hơn 100 con ngựa. Vua cho nghỉ chân tại Mường Nanh, rồi lại dời quân đến Mường Thôi. Tên Ðồng tri Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn bọn Lý Bân, Phuơng Chính đem hơn 10 vạn quân theo đường Quỳ Châu đến thẳng Mường Thôi (7). Vua phục kích chúng ở Thi Lang. Bân và Chính chỉ chạy thoát được thân mình.

Tháng 11, vua tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm thuộc huyện Lỗi Giang, khiêu khích cho giặc ra đánh. Tướng giặc là bọn Ðô ty Tạ Phượng, Hoàng Thành bỏ đồn Nga Lạc về giữ trại Quan Du (8) để phòng bị cho thành Tây Ðô, cố giữ không ra đánh. Vua ngày đêm dùng nhiều cách tiến công uy hiếp để giặc mỏi mệt, rối loạn. Lại sai Lê Sát, Lê Hào chia nhau đến đánh, cả phá bọn giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp, thu được rất nhiều chiến cụ, từ đó thế giặc ngày một suy. Vua bèn chiêu tập nhân dân các xứ. Các huyện bên cạnh đều sôi nổi hưởng ứng, cùng nhau tiến đánh và uy hiếp các đồn giặc.

Riêng Minh Thực Lục chép như sau :

Ngày 25 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [30/11/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân sai Hậu vệ Giao Châu Chỉ huy sứ Phương Chính truy kích Lê Lợi, đánh bại giặc tại sông Mường Tâm, Lão Qua ; Lợi bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2231 ; Thái Tông q. 230, tr. 2a)

Chú thích

1. Huyện Đa Cẩm : thời Minh cai trị thuộc châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. nay thuộc huyện Cẩm Giàng, phía tây tỉnh Hải Dương.

2. Phủ Trấn Man tức lộ Long Hưng đời Trần, theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. gồm một phần đất của tỉnh Thái Bình và Nam Định ngày nay.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2 trang 244.

4. Kiến Xương : là vùng đất các huyện Vũ Thư, Kiến Xương tỉnh Thái Bình ngày nay.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 244-245.

6. Bến Bổng : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ nằm trên thượng lưu sông Chu.

7. Mường Thôi : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ là Man Xôi, phía tây bắc Thanh Hoá, giáp Lào.

8. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Năm Tân Sửu [1421]

Các cuộc hành quân tại Thanh Hoá năm trước không dẹp được Bình định vương Lê Lợi, Lý Bân sai Ðô chỉ huy Sư Hữu truy kích Phan Liêu tại Nghệ An ; tuy có thắng lợi, nhưng vẫn chưa bắt được Liêu :

Ngày 6 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/2/1421]

Tháng này quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô chỉ huy Sư Hữu truy kích bọn giặc Phan Liêu, Cầm Trách. Khi đến Ngọc Ma(1) thì Liêu đến Lão Qua xin viện binh ; riêng Trách dùng voi xung kích đánh trả tại rừng Nông Ba. Bọn Chỉ huy Trương Minh, Thiên Hộ Trương Bản xông vào trận giặc bắn lính cữi voi, lại dùng hoả khí bắn vào khiến voi phải chạy lùi ; giặc tan rã. Chém hơn 100 tên, bắt sống hơn 30 tên. Em Trách là Kết mang 200 quân dưới quyền đầu hàng. (Minh Thực Lục v 14, tr. 2248-2249; Thái Tông q. 233, tr. 1b-2a)

Trước tình hình chiến tranh kéo dài, quân lính đông, lương thực tốn kém ; Lý Bân đề ra chính sách đồn điền, sử dụng phần nhiều lính bản xứ làm công việc này. Lời tâu được vua nhà Minh chấp thuận :

Ngày 29 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [28/6/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đất nội phụ Giao chỉ xa xôi, không dễ dàng vận chuyển lương thực ; xin cho các ty, vệ, sở chia lính lập đồn điền để cung cấp. Hoạch định một phần căn cứ vào đất đai hiểm hay dễ, tình thế gấp hay hoãn để dùng quân đồn điền hoặc chinh điều nhiều hay ít. Quân lính người bản xứ tuy được liệt vào sổ binh, nhưng lúc đánh nhau còn lưỡng lự hai lòng, thường không liều chết ; nay bàn định tỷ số đồn điền phần nhiều là lính bản xứ, quan quân ít.

Trong 7 vệ gồm Giao Châu tả, hữu, trung, tiền, cùng Trấn Di, Xương Giang, Thanh Hoá ; hoạch định quan quân 1 phần đồn điền, 9 phần chinh thủ ; quân lính người bản xứ 7 phần đồn điền, 3 phần chinh điều. Hậu vệ Giao Châu, vệ Tam Giang, Thiên Hộ-sở Thị Cầu ; quan quân 2 phần đồn điền, 8 phần chinh thủ ; lính bản xứ 8 phần đồn điền, 2 phần chinh điều. Mỗi người làm đồn điền hàng năm trưng thu 35 thạch lúa.

Ba vệ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá quan quân đồn điền 3 phần, 7 phần chinh thủ ; lính bản xứ 6 phần đồn điền, 4 phần bị chinh điều. 3 Thiên Hộ sở tại Diễn Châu, Nam Tĩnh, Thanh An ; tất cả quan quân không phụ trách đồn điền, quân bản xứ 3 phần đồn điền, 7 phần chinh điều. Quân đồn điền hằng năm trưng thu 18 thạch lúa mỗi người. Lời tâu được chấp nhận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2275-2276; Thái Tông q. 237, tr. 2a-2b)

Sử dụng chiến thuật du kích “ tị nhuệ thừa tệ ” [tránh quân tinh nhuệ, thừa cơ đánh quân yếu] ; gặp lúc giặc đông mạnh, Bình Định vương Lê Lợi thường cho quân ẩn náu tại biên giới Ai Lao. Nhắm phá vỡ kế sách này, nhà Minh cưỡng bức sứ giả Ai Lao sang Bắc Kinh để gây sức ép :

Ngày 11 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân tâu :

“ Phản tặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua, ra lệnh cho quân truy bắt. Nhưng Lão Qua sai Đầu mục Lãm Kỳ Tức Cốc xin quan quân đừng vào biên cảnh, sẽ cho quân lính đi lục soát, nếu có Lê Lợi sẽ đem đến cửa quân. Từ đó đến nay đã lâu, không thấy tung tích Lê Lợi.”

Thiên tử xem tấu, nghi Lão Qua giấu giặc nên sắc dụ Bân đưa bọn Lãm Kỳ Tức Cốc đến Bắc Kinh để cật vấn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2289-2290; q 241, tr. 1a-1b)

Ðó là lý do tại sao Ai Lao phản bội, mang quân tập kích Bình Định vương Lê Lợi, sự việc được Toàn Thư (2) chép như sau :

Mùa đông tháng 11, ngày 20, Tham tướng nhà Minh là Trần Trí đem quân các vệ Giao Châu cùng nguỵ binh, gồm hơn 10 vạn tên đánh sát đến ải Kinh Lộng (3), sách Ba Lẫm. Vua họp các tướng bàn rằng :

“ Quân giặc nhiều, quân ta ít, nhưng quân giặc mệt, quân ta nhàn. Binh pháp có nói được hay thua là ở tướng chứ không phải ở quân nhiều hay ít, nay quân giặc tuy nhiều, nhưng ta đem quân nhàn đợi đánh quân mệt mỏi, chắc chắn sẽ đánh bại chúng.”

Ðến đêm, vua chia quân đánh úp doanh trại giặc. Quân ta đánh trống reo hò xông tới, phá được 4 doanh trại giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp. Sau Trí khinh vua ít quân, lại phá núi mở đường để tiến đánh. Vua ngầm phục kích tại đèo Ống (4) để đợi giặc. Ðến trưa, Trí quả nhiên đem quân đi theo đường núi đến. Quân phục hai bên xông ra, đánh bại giặc. Quân Trí phải rút.

Nhưng đúng lúc ấy, Ai Lao đem 3 vạn quân và 100 thớt voi thình lình tới doanh trại của vua phao tin là cùng hợp sức với vua để đánh giặc. Vua tin lời họ, không phòng bị. Đến nửa đêm, bị họ đánh úp. Vua phải đích thân đốc chiến từ giờ Tỵ đến giờ Mão, đánh tan bọn Ai Lao, chém hơn vạn thủ cấp, bắt được 4 con voi, thừa thắng truy kích liền 4 ngày đêm, đuổi đến tận sào huyệt của chúng rồi về.

Tháng 12 vua tiến quân ra đóng ở sách Thuỷ.

Tù trưởng Ai Lao là Mãn Sát đã cùng quẫn, muốn vua hoãn đánh để đợi viện binh, mới giả vờ xin hoà. Vua biết đó là mưu kế xảo quyệt, không cho. Các tướng cố xin cho hoà, nói là quân lính khó nhọc đã lâu, nên cho nghỉ ngơi một chút. Chỉ có Bình Chương Lê Thạch cho là không thể cho giặc giải hoà, liền tự mình hăng hái xông lên trước, chẳng may trúng phải chông ngầm mà chết.

Một điều thú vị xảy ra, lúc này chiếu thư vua nhà Minh thường đòi hỏi bắt cho được Lê Ngã tức Dương Cung tự xưng là Thiên thượng Hoàng đế, nổi dậy tại vùng An Bang [Quảng Ninh]. Ðể cho qua sự đòi hỏi, bọn Bân dối trá bắt một người tên là Phạm Luận, buộc phải nhận là Dương Cung, rồi tống giải về Tàu. Tri huyện Dặc Khiêm biết được dâng thư tố cáo :

Tổng binh Lý Bân và Nội quan Lý Lượng của nhà Minh bắt Phạm Luận là Sinh viên huyện Giáp Sơn, buộc Luận nhận là Dương Cung để cho qua chiếu lệnh lung bắt, bắt cả gia thuộc Luận là bọn Phạm Xá giải về Yên Kinh. Tri huyện Dặc Khiêm nhận thực không phải tên Cung. Bân không nghe, Khiêm lấy bao vàng dâng đại cáo tâu thẳng về kinh. Bân sai người chận đường bắt về. Hoàng Phúc khuyên Khiêm rằng :

‒ Mọi người đều cho là đúng, chỉ riêng ngươi bảo không phải là làm sao ?

Khiêm nói :

‒ Ai ra ngoài mà chẳng qua cửa ngõ (5).

Bèn cho giải cả Khiêm và Luận về Yên Kinh, giao xuống cho pháp ty xét hỏi (6).

Cuối cùng có lẽ để giữ uy tín cho triều đình, mọi việc đều ém nhẹm, Minh Thực Lục chép đã bắt được Dương Cung :

Ngày 19 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [15/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Vương Trung bắt được đầu đảng giặc Dương Cung. Trước đây Cung tiếm xưng Vương, tụ tập đám đông làm loạn, quan quân truy đánh, Cung chạy trốn không bắt được. Đến nay bắt người cậu là Đỗ Cô, sai chỉ đường truy tới huyện Giáp Sơn(7), phủ Tân An thì bắt được ; bèn cùm giải đến Bắc Kinh. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2290; Thái Tông q. 241, tr. 1b)

Chú thích

1. Châu Ngọc Ma : thời Lê thuộc Nghệ An, thời Nguyễn đổi làm phủ Trấn Ðịnh gồm các huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh.

2. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247.

3. Kinh Lộng : tức ải Cổ Lộng, thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá.

4. Ðèo Ống : ở xã Thiết Ống, trên tả ngạn sông Mã.

5. Ý nói ai cũng hùa theo sự gian dối của Lý Bân.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247

7. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Giáp Sơn tức huyện Kinh Môn thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.

Năm Nhâm Dần [1422]

Ðầu năm Nhâm Dần [1422] Phong thành hầu Lý Bân mất, người phụ tá là Vinh Dương Bá Trần Trí lên thay :

Ngày 14 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 20 [5/2/1422]

Phong thành hầu Lý Bân mất. Bân người châu Phượng Dương, cha là Tín lập quân công, quan đến Chỉ huy Thiêm sự vệ Tế Châu. Khi Tín già, Bân thay chức.

Bân là người có trí lược, khi Thiên tử bình nội nạn nhiều lần lập công, được thăng đến Hữu Quân Ðô đốc Ðồng tri Phong thành hầu. Lúc đầu trấn thủ Giang Tây, chiến dịch Giao Chỉ làm Tả Tham tướng, Khi Giao Chỉ bình, trở về nước đánh dẹp giặc Nuỵ, giữ Cam Túc có công ; sau đó trấn thủ Giao Chỉ, lo đánh dẹp bọn giặc làm loạn. Nay bị tật mất, được ban tế ; truy phong Mậu quốc công thuỵ Cương Nghị, cấp phương tiện đưa linh cữu về tống táng.(Minh Thực Lục v. 14, tr. 2303; Thái Tông q. 245, tr. 1a)

Trần Trí theo sách lược đã thực hiện 2 năm trước, phối hợp với Ai Lao làm một một cuộc hành quân lớn tại vùng Quan Du (1), sách Khôi (2), thuộc các huyện Quan Hoá, Thạch Thành ngày nay. Quân của Bình Định vương Lê Lợi bị thiệt hại nặng, phải rút lui về núi Chí Linh (3) :

Mùa đông, tháng 12, vua tiến quân đóng ở Quan Da [Du?]. Ai Lao lại ước hẹn với quân Minh đánh vào trước mặt và sau lưng, quân ta nhiều người chết và bị thương. Vua bèn bí mật lui về sách Khôi. Mới được 7 ngày, giặc Minh lại đem đại binh đến vây. Vua bảo các tướng sĩ :

‒ Giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Ðây chính là tử địa, mà binh pháp nói đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết.

Vua nói xong chảy nước mắt. Các tướng sĩ đều xúc động, tranh nhau liều chết quyết chiến.

Bọn Lê Linh, Lê Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên tước phá trận, chém được Tham tướng nhà Minh Là Phùng Quý (4) và hơn nghìn thủ cấp giặc, bắt được trăm con ngựa. Mã Kỳ và Trần Trí chỉ thoát được thân mình chạy về Ðông Quan, quân Ai Lao cũng bỏ trốn.

Vua đem quân về đóng ở núi Chí Linh. Quân lính hết lương, hơn hai tháng chỉ ăn rau củ và măng tre mà thôi. Vua giết 4 con voi và cả ngựa của mình cưỡi để nuôi quân sĩ ; song thỉnh thoảng vẫn có kẻ bỏ trốn. Vua bèn cấm giữ nghiêm ngặt, bắt được kẻ nào bỏ trốn thì chém, để rao cho mọi người biết. Quân lính lại nghiêm túc như trước. (5)

Phối hợp quân hai nước, nhắm bắt cho được Bình Định vương Lê Lợi nhưng không thành công, vua Thái Tông nhà Minh quở trách Vinh dương bá Trần Trí nặng nề :

Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh lạc thứ 20 [21/12/1422]

Bọn giặc Lê Lợi làm loạn tại Giao Chỉ đã lâu, nhưng chưa bắt được. Giáng sắc trách nặng nề bọn Vinh dương bá Trần Trí. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2359; Thái Tông q. 254a, tr. 1a)

Lúc này quân ta đã mệt mỏi ; nên thể theo lời khuyên của các tướng, Bình Định vương tạm thời hoà với quân Minh :

Bấy giờ, do trải nhiều phen hoạn nạn, quân lính đã mỏi mệt, muốn được nghỉ ngơi, đều khuyên vua giảng hòa với giặc. Vua bất đắc dĩ phải vờ hoà hiếu với bọn tướng giặc Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, để yên lòng quân. Sai bầy tôi thân thích là bọn Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hoà.(6)

Chú thích

1. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

2. Sách Khôi : tức Khôi huyện, thuộc trấn Thiên Quan, ở giữa hai huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình và huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá.

3. Chí Linh : tức núi Pù Rinh, thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.

4. Theo Minh Thực Lục, xin xem phần trên, Phùng Quý chết vào năm Canh Tý [1420]

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 247-248.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.

Năm Quý Mão [1423]

Trước khi tạm thời giảng hoà, lại có cuộc giao tranh tại vùng giáp giới Thanh Hoá, Ninh Bình ngày nay :

Ngày 21 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 21 [3/3/1423]

Tham tướng Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí đánh phản tặc Lê Lợi tại huyện Đông Lai, châu Ninh Hoá (1). Lợi thua bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14 tr. 2366; Thái Tông q. 255, tr. 1b)

Sau đó vào tháng 4, Bình Ðịnh Vương cho rút quân về Lam Sơn (2). Qua giai đoạn đầu cuộc hoà hoãn, quan lại nhà Minh thường mang đồ vật đến cho, để mua chuộc ; nhưng sau đó thấy Bình Định vương bề ngoài thân thiện, nhưng bề trong có mưu kế đánh úp ; bèn bắt giữ sứ giả và tuyệt giao :

Mùa hạ, tháng 4, ngày 14, vua lại đem quân về Lam Sơn.

Bọn Tham tướng Trần Trí, Nội quan Sơn Thọ nhà Minh đưa biếu vua nhiều trâu ngựa, cá muối cùng thóc giống và nông cụ để dụ dỗ. Vua cũng sai bọn[Lê] Trăn đưa tặng vàng bạc để đáp lễ, nhưng vẫn bí mật phòng bị. Bọn Trí biết ý của vua bề ngài giả cách thân thiện, nhưng bên trong thì ngầm mưu đánh úp. Liền bắt giữ bọn Trăn không cho về. Vua nổi giận cắt đứt giảng hoà. Các tướng sĩ cũng sôi sục căm thù, đều xin liều chết quyết chiến (3)

Chú thích

1. Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140, cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

2. Lam Sơn : nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.

Năm Giáp Thìn [1424]

Trong giai đoạn này, ảnh hưởng của Bình Định vương Lê Lợi toả rộng thu hút lòng người, nên các cuộc nổi dậy khác hầu như vắng bóng ; tuy vậy tại tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhóm Ðinh sĩ Nghiêm nổi lên, rồi bị dập tắt :

Ngày 1 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [1/3/1424]

Giặc Giao Chỉ Ðinh Sĩ Nghiêm tụ tập đám đông cướp phá huyện Lục Na (1). Tham tướng Vinh Dương bá Trần Trí sai hữu vệ Giao Châu Chỉ huy Thiêm sự Trần Lân mang binh đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2429; Thái Tông q. 268, tr. 1a)

Riêng các cuộc giao tranh giửa Bình Định vương Lê Lợi và quân Minh lại bộc phát. Lúc này vua Thái Tông nhà Minh mới mất, Vinh xương bá Trần Trí báo động vua con là Nhân Tông như sau :

Ngày 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Giao Chỉ Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí tâu rằng :

“ Giặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua ; bị Lão Qua đuổi bèn quay về huyện Côi, châu Ninh Hoá (2). Quan quân tiến đánh, viên Đầu mục nguỵ là bọn Phạm Ngưỡng đem trai, gái 1600 người ra hàng. Lê Lợi tuy nói rằng sẽ đưa hơn 480 nam nữ ra hàng, nhưng rồi dừng lại tại huyện Nga Lạc, phủ Thanh Hoá ; lại nghe rằng vẫn không ngừng tiếp tục tạo khí giới ; dối trá như vậy, đáng mang quân đánh dẹp.”

Thiên tử sai mang sắc dụ bọn Trí rằng :

“ Ngươi hãy ước tính mưu kế giặc, trù hoạch đúng nên tiến hay chưa ? Nhưng ta nghe rằng nguyên nhân gây ra bọn giặc này, do quan ty nhũng nhiễu áp bức, bọn chúng cùng quẫn bất đắc dĩ gây ra như vậy. Nay dùng phép đại xá để thiên hạ cùng đổi mới, đối với Giao Chỉ lại càng tăng thêm sự khoan tuất. Nếu trong muôn một, lương tâm bọn giặc này chưa mất hết, chúng có thể suy nghĩ sửa đổi. Nay nếu quan quân chưa tiến, thì mang thư đến chiêu dụ, sẽ không hỏi đến lỗi xưa, lệnh cho về đất cũ an cư lạc nghiệp. Nếu bọn này chấp mê không chịu ra, vẫn tiếp tục hành động như trước, thì hãy tâu đầy đủ sự thực, để có cách khu xử khác. Nếu quan quân đã tiến, thế không thể dừng lại, phải hết sức cẩn thận. Giặc âm mưu quỷ quyệt, dựa vào chổ hiểm đặt phục binh, hãy sử dụng thám thính đằng xa để không lầm vào kế giặc. Lúc hành quân, phải ước thúc quân lính, đừng nhiễu hại nhân dân.” (Minh Thực lục v. 15,tr. 0040 ; Nhân Tông q.2 thượng, tr. 2b)

Trong thời gian tạm hoà quân ta có dịp chuẩn bị, vào tháng 9 thình lình đánh úp đồn Ða Căng (3), quân Minh bị thiệt hại nặng :

Mùa thu, tháng 9, ngày 20, vua chỉ huy quân và voi đánh úp đồn Ða Căng, phá được đồn này. Tham chính nhà Minh là Lương Nhữ Hốt chỉ chạy thoát được thân mình, ta thu hết khí giới, đốt phá đồn giặc. (4)

Tiếp tục, quân ta tiến thẳng sang Nghệ An, gặp quân Minh tại Quỳ Châu, lại chiến thắng trong một cuộc phục kích lớn :

Bình Định vương, sau khi đã hạ được đồn Đa Căng, cho ghi vào sổ lấy những trai tráng, rồi sắp xếp hàng ngũ bộ thuộc một cách nghiêm chỉnh, thẳng rảo đến Nghệ An. Dọc đường, khi qua Bồ Liệp (5) thuộc Quỳ châu, gặp bọn chỉ huy Sư Hựu, tham tướng Trần Trí và Phương Chính nhà Minh đón đường chẹn cả mặt trước lẫn mặt sau. Chiều đến, Vương đặt quân mai phục ở khoảng rừng rú, nhử địch đến, đánh bại được giặc : chém Ðô ty Minh, Trần Trung, và hơn hai nghìn thủ cấp quân địch, tước được hơn một trăm ngựa. Quân Minh phải lùi chạy. (6)

Sử nhà Minh cũng xác nhận Ðô Chỉ huy Trần Trung tử trận, tuy nhiên ghi sự việc xẩy ra tại Thanh Hoá và trước trận Ða Căng 5 ngày (đúng ra trận Bồ Liệp phải xẩy ra sau trận Ða Căng, nhưng dưới đây Minh thực Lục ghi vào ngày 15 tháng 9 Âm Lịch, còn trận Ða Căng sử nước ta ghi vào ngày 20 tháng 9) . Ðiều này có thể hiểu được, vì vị trí Bồ Liệp thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu ngày nay, nằm sát biên giới Thanh Hoá. Còn nhật kỳ thì theo sự khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn (7), ngày ghi trong Thề Lũng Nhai của Lê Lợi cũng không đúng với lịch Ðại Thống nhà Minh, tác giả cho rằng nghĩa binh lúc bấy giờ sống trong núi rừng không có lịch hiện hành ; như vậy ngày tháng sai lầm mà sử ta ghi về trận Ða Căng cũng rơi vào tình trạng tương tự. Sau đây Minh Thực Lục ghi về cái chết của Trần Trung như sau :

Ngày 15 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [7/10/1424]

Ngày hôm nay Đô chỉ huy Đồng tri Trần Trung tại Giao Chỉ, đánh giặc bị thiệt mạng.

Trung người đất Lâm Hoài, xuất thân từ Phó Thiên hộ vệ Khoan Hà ; thời Tĩnh Nạn có công được thăng chức Chỉ huy Đồng tri vệ Tuy Đức. Rồi có tội bị đày làm lính tại Quảng Tây, bèn theo quan Tổng binh đánh Giao Chỉ. Tại chợ Cá Chiêu, khiêng thuyền nhỏ vào sông, đánh úp thuỷ trại của Lê Quý Ly, lại theo Hoành Hải Tướng quân đánh thành Đa Bang, liều thân leo lên thành, nên được phục chức Chỉ huy Đồng tri Tả vệ Giao Châu. Trung cùng quan quân lập thành tích trong các trận tại ải Hàm Tử, các cửa biển, những trận thuỷ chiến tại An Mô, Hải Dương, chém và bắt được rất nhiều. Lại theo đại quân lập công đánh bại giặc tại Kỳ La, cửa biển Hà Hoa, núi Côn Truyền ; nơi mà bọn cha con giặc họ Lê, Trần Quý Khoách, Nguyễn Suý bị bắt, nên được thăng chức Chỉ huy Đồng tri Giao Chỉ. Tiếp tục đánh tại châu Ðông Hồ bắt được Đai tướng quân nguỵ Ngô Trung. Đến nay bọn giặc Lê Lợi đánh phá Thanh Hoá, Trung giao chiến bị trúng đạn tử trận. Được tin triều đình sai bộ Lễ chiếu theo điển lệ cấp tuất rất hậu. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 66-67; Nhân Tông q. 2 hạ, tr. 2b-3a)

Mấy ngày sau quân ta giao tranh với quân Minh tại trang Trịnh Sơn (8) thuộc châu Trà Lân, trong trận này viên Chỉ huy vệ Xương Giang chết :

Ngày mồng 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Ngày hôm nay Đô Chỉ huy Sứ ty Đô đốc Đồng tri Phương Chính tại Giao Chỉ mang binh đánh giặc, giao tranh với Lê Lợi tại châu Trà Long, phủ Nghệ An ; viên Chỉ huy vệ Xương Giang Ngũ Vân chết. Vân người Định Viễn, Phượng Dương ; trước đây giữ chức Chỉ huy Đồng tri vệ Kinh Châu. Tòng chinh Giao Chỉ có công trong việc đánh phá Pha Luỹ, Ải Lưu, thành Đa Bang ; chiếm hai đô Đông, Tây [Đông Đô, Tây Đô]. Giao Chỉ bình ; điều đến Xương Giang, lập nhiều chiến công ; lại chiêu dụ kẻ đầu hàng được ân thưởng mấy lần. Đánh nhau với Lê Lợi, thâm nhập bị hãm trận chết. Nghe tin, sai bộ Lễ phúng điếu.(Minh Thực Lục, tr. 0040-0041 ; Nhân Tông q. 2 thượng, tr. 2b-3a)

Nhắm xoa dịu tình hình, vua Nhân Tông nghe lời Sơn Thọ cho mang sắc dụ Bình Định vương Lê Lợi :

Ngày 13 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [5/10/1424]

Sai trấn thủ Giao Chỉ Trung quan Sơn Thọ mang sắc dụ Đầu mục Giao Chỉ Lê Lợi. Sắc rằng :

“ Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ lâu có lòng thành quy phụ. Nhưng quan ty cai trị không đúng cách, sinh ra nghi sợ ; rồi ẩn trốn nơi núi rừng, không toại chí nguyện. Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai lầm quá khứ, hàm chứa sự canh tân. Đặc cách sai người mang sắc dụ ban cho ngươi chức Tri phủ Thanh Hoá, cai trị dân một quận. Hãy đến nhận chức ngay, để đáp lại sự cứu xét đến lòng thành và bao dung đãi người của Trẫm.”

Sở dĩ có sắc dụ này, vì Thọ tâu trước mặt Thiên tử rằng Lê Lợi và y hợp ý nhau, nay đến dụ sẽ trở về. Thiên tử nói :

‒ Bọn giặc gian trá, ngươi không biết được ; nếu bị lừa, đây là dịp giúp cho thế giặc ngày một lớn, khó mà chế ngự.

Thọ khấu đầu tâu rằng :

‒ Nếu như thần dụ mà nó không quay về, thì tội thần đáng vạn lần chết.

Bèn giáng sắc này. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 0057-058 ; Nhân Tông q. 2 Trung, tr.5a-6b)

Tiếp đến bọn Vinh dương bá Trần Trí báo cáo tình hình chiến sự tại nước ta, nhưng vua Nhân Tông muốn chờ kết quả chuyến đi của Sơn Thọ rồi mới có quyết định mới :

Ngày 4 tháng 11 năm Vĩnh lạc thứ 22 [24/11/1424]

Tham tướng Bảo định hầu Mãnh Anh, Vinh dương bá Trần Trí tại Giao Chỉ tâu sự việc về Lê Lợi. Ban sắc báo rằng :

“ Đã ban sắc xá tội cho Lê Lợi, mệnh cho làm Tri phủ phủ Thanh Hoá, lệnh Nội quan Sơn Thọ đến nơi hiểu dụ. Ý ta muốn đợi Sơn Thọ đến đó, bọn ngươi xem tình hình tại chỗ như thế nào, cùng Sơn Thọ bàn bạc chu tất rồi tâu về.” (Minh Thực Lục v. 15, tr. 134 ; Nhân Tông q. 4 hạ, tr.3b)

Chú thích

1. Lục Na : nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Ninh Hoá : theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140. cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

3. Ða Căng : theo Toàn Thư, có lẽ là Bất Canh, thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 250.

5. Bồ Liệp : tên núi cũng gọi là Bồ Ðằng, thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 362.

7. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, trang 936.

8. Trang Trịnh Sơn : là Kẻ Trịnh, nay thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông ; cách thành Trà Lân hơn 10 km.

Năm Ất Tỵ [1425]

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc viên Tri phủ châu Trà Lân (1) Cầm Bành đầu hàng ; về việc này sử Trung quốc chép khác sử nước ta, ghi rằng y đánh thua bị tử trận. Sử quan nhà Nguyễn nghiên cứu kỹ, viết Cẩn án như sau :

Lời cẩn án ‒ Theo Minh sử, khi Vương đánh phá châu Trà Long, thổ tri phủ là Cầm Bành bị chết. Sử cũ chép Cầm Bành đầu hàng. Nay xét Lam sơn thực lục chép Cầm Bành tự biết mưu chước đã cùng, quân cứu viện lại không có, nên Bành mở cửa đầu hàng. Thông sử của Lê Quý Đôn chép Bành thấy viện binh không đến, bèn đầu hàng. Bài Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi cũng viết : “ Cầm Bành sụp lạy mà dâng đất ”. Như vậy, Minh sử chép như thế là không đúng sự thực. Nay xin cải chính. (2)

Nay xin dựa theo chánh sử hai nước, cố gắng tìm hiểu sự thực. Toàn Thư chép như sau :

Mùa đông, tháng 11 [Giáp Thìn 1424], vua sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, mình hắn với 1000 quân dựng rào luỹ trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Vua đem quân tới bao vây.

Tháng 12, Sơn Thọ nhà Minh sai Nguyễn Sĩ đưa trả Lê Trăn để cầu hoà. (3)

Tuy không nói ra, nhưng người đọc sử hiểu rằng việc trả Lê Trăn là món quà ngoại giao, để Sơn Thọ trao sắc phong của vua Nhân Tông cử Lê Lợi làm Tri phủ Thanh Hoá, mà y đã nhận từ tay vua nhà Minh vào tháng 9. Tương kế tựu kế, Bình Định vương Lê Lợi nói thác rằng bị Cầm Bành ngăn đường nên không trở về Thanh Hoá nhậm chức được, xin nhờ can thiệp :

Bọn Phương Chính, Sơn Thọ đến Nghệ An, muốn cứu Cầm Bành nhưng không dám tiến quân, bèn sai người xin vua giải vây cho Cầm Bành.

Bấy giờ, Cầm Bành cố thủ, vây đã hơn một tháng mà chưa lấy được, lại nghe tin quân cứu viện tới. Vua gọi các tướng lên bảo rằng :

‒  Cầm Bành đang nguy khốn, bọn Chính đáng lẽ phải cấp tốc cứu viện, nay lại dùng dằng hẳn là có ý sợ. Chi bằng ta giả cách cho hoà để xem tình thế ra sao, tin đi tin lại mất hàng tuần hàng tháng, thì Cầm Bành lúc ấy chắc đã bị bắt rồi.

Vua bèn viết thư để trên bè cho thuận dòng tôi xuống. Trong thư vua nói thác là vẫn muốn theo lời thỉnh cầu của họ, trở về Thanh Hoá. Nhưng lại bị Cầm Bành chặn đường, nếu có thương thì xin gửi cho một người tạm đến hoà giải để thông đường về.

Bọn Chính nhận được thư, sai Trần Ðức Nhị chạy đến bảo Cầm Bành hoà giải, Cầm Bành biết là viện binh không đến, mở cửa thành ra hàng.(4)

Thực sự Cầm Bành chưa đầu hàng ngay ; thời gian dằng co kéo dài có đến 7, 8 tháng trời, là dịp tốt để nghĩa quân bồi dưỡng và củng cố thực lực. Sau mấy tháng, vua Nhân Tông nhà Minh hiểu ra điều đó, nên đã giáng sắc quở trách bọn Trần Trí như sau :

Ngày 19 tháng giêng năm Hồng Hy thứ nhất [7/2/1425]

Giáng sắc khiển trách nặng nề Tham tướng Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính tội đánh chậm dưỡng giặc ; lệnh sửa đổi sai lầm, tự phấn đấu. Lại mệnh cùm giải Đô chỉ huy Sư Hữu, Trương Hùng về kinh đô giam cấm ; thể theo lời Giám sát Ngự sử, hặc tội bọn này tham bạo làm sai luật rất nhiều. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 221 ; Nhân Tông q. 6 hạ, tr.7a)

Tiếp theo, khi được tin Trà Lân vẫn tiếp tục bị vây, vào thời điểm này vua Tuyên Tông mới lên ngôi kế vị, ra lệnh cấp cứu :

Ngày 16 tháng 7 nhuần năm Hồng Hy thứ nhất [29/8/1425]

Tuần án, Giám sát, Ngự sử Giao Chỉ tâu đầu đảng giặc Lê Lợi tại phủ Thanh Hoá tụ dân làm loạn vây châu Trà Lung [Trà Lân]. Viên Thổ quan coi châu Tri phủ Cầm Bành chống giữ trong vòng 7 tháng, lương gần hết, quân gặp nguy khốn, xin mang binh cứu viện.

Thiên tử xem tờ tâu bùi ngùi sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí cùng ba ty (5) tại Giao Chỉ rằng :

“ Triều đình mệnh các ngươi trấn thủ Giao Chỉ là để yên ổn một phương ; nay được biết bọn đầu đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện, ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi xin đợi mùa thu mát đến Thanh Hoá nhậm chức. Nay đã mùa thu rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm chức chưa ? Trẫm ước tính tên giặc này nguỵ trá, không có lòng quy thuận ; chỉ dùng lời lẽ hoãn binh để bọn chúng được thung dung tụ tập, tương lai tất gây hậu hoạn, các ngươi không suy nghĩ đến hay sao ? Về việc Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7 tháng nay rồi, lương thảo sắp hết, quân chết đến một phần ba, Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao Chỉ có được người như vậy cũng không dễ kiếm ! Các ngươi từng chứng kiến lòng trung thành của con người này, sao không điều binh cứu viện ?

Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê Lợi không có bụng quy thuận hãy tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hĩ, để bồi dưỡng lòng kiên cường trung thuận. Các ngươi đều là đại thần của triều đình, cần đồng tâm hiệp lực làm tròn uỷ nhiệm, đừng lo việc ban thưởng phong tước không được công bằng ! ” (Minh Thực Lục v. 16, tr.148-149; Tuyên Tông q. 6, tr. 1b-2a)

Áp dụng chiến thuật “ điệu hổ ly sơn ”, nghĩa quân bao vây và tấn công Trà Lân trong thời gian dài ; quân Minh như cọp trong thành Nghệ An, buộc phải đi tiếp cứu, hoặc tìm cách chiếm lại sau khi thành mất. Nhìn trên bản đồ, con đường tiếp cứu của quân Minh ắt phải đi dọc theo sông Lam ; hoặc muốn tránh né thì đi ngược dòng sông Phố, theo ngả Hương Sơn, Hà Tĩnh ; rồi băng qua các huyện Thanh Chương, đến huyện Con Cuông tức Trà Lân. Lịch sử ghi nhận rằng quân Minh đã đi qua những chiến trường do vua Lê Lợi chọn lựa, chúng như con cọp ra khỏi rừng, nên bị thảm bại nhiều lần trên các tuyến đường này.

Sử nước ta, Toàn Thư [trang 252-253], chép về chiến thắng lớn tại Khả Lưu (6) và Bồ Ải (7) như sau :

…Vừa có tin báo quân Minh đã sắp đặt voi ngựa, thuyền bè, tiến quân cả hai đường thuỷ và bộ… Ðộ ba bốn hôm, quân Minh quả nhiên đến quán Lậu và cửa Khả Lưu, bày doanh trại ở hạ lưu. Vua ở thượng lưu, ban ngày dựng cờ đánh trống, ban đêm thì đốt lửa sáng trưng. Nhưng ngầm sai binh tượng vượt sông, phục sẵn ở chổ hiểm yếu. Trời gần sáng, giặc bèn đem quân đến đánh dinh vua. Vua giả vờ rút lui, dẫn giặc tói chỗ quân mai phục. Giặc không để ý, đem quân tiến vào sâu, quân mai phục 4 mặt nổi dậy, xông ra đánh phá. Quân giặc bị chém đầu và chết đuối tới hàng vạn tên.

Hôm sau dựa vào thế núi, đắp hào luỹ để ở không ra đánh nữa.

…Ngày hôm sau vua cho quân tinh nhuệ ra khiêu chiến. Giặc đem quân ra ngoài luỹ để đánh.Vua phục sẵn ở Bồ Ải, giữa nơi hiểm yếu. Giặc lại không ngờ tới, đem hết quân ra đánh. Vua bèn tung phục binh xông vào trận giặc… phá quân giặc, chém đầu giặc không kể xiết. Thuyền giặc trôi ngổn ngang, xác chết đuối nghẹn tắc khúc sông…

Để tránh thiên kiến, xin tham khảo thêm Minh Thực Lục. Trong một chiếu dụ trách phạt bọn Trần Trí, Phương Chính, Sơn Thọ về việc thất bại tai Trà Lân, vua Tuyên Đức nhà Minh đã có lời lẽ nghiêm khắc như sau :

Ngày 5 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [12/4/1426]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính đánh dẹp bọn giặc Lê Lợi ; tiến quân đến châu Trà Long, bị thua. Nguyên nhân Chính dõng, Trí khiếp nhược, vốn không hoà thuận với nhau ; Nội quan Sơn Thọ lại chủ trương chiêu dụ nên đóng binh một chỗ không cứu, đến nỗi bị bại. Thượng thư Trần Hiệp tâu cho biết ; Thiên tử nghiêm thiết trách Trí và Chính rằng :

“ Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá ; rồi các ngươi ngồi yên không lo tính, dưỡng giặc nên trở thành mối hoạn. Nay nghe tin mang binh tới ải Khả Lưu và châu Trà Lung [Lân], cả hai nơi đều nhục vì tổn thất. Do bọn ngươi ngày thường dựa vào ý riêng tranh hơn thua, không ai chịu nhường ; lúc đụng việc thì kẻ dõng, tiến quân một mình nhưng vô mưu ; người khiếp nhược thì sợ co lại không cứu ; như vậy thì làm sao thành công được ? Luận tội há có thể tha được ư ! Nay tạm khoan dung, các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc lỗi trước.”….. (Minh Thực Lục q. 15, t. 0395-396)

Trong thời gian này Cầm Bành đầu hàng (sử nước ta không ghi rõ ngày tháng), nhưng sau đó mưu phản nên bị Bình Định Vương giết chết. Có lẽ mong tiếp tục thực hiện kế sách “điệu hổ ly sơn”, nên Bình Định vương không công khai việc Cầm Bành đầu hàng, do đó khi được tin y chết, nhà Minh cho rằng Bành đã chết trận. Thành quả chiến thắng nêu trên, khiến quân Minh co cụm lại trong các thành lớn như Nghệ An, Diễn Châu ; dân chúng nơi thôn quê được giải phóng, đều hân hoan ủng hộ nghĩa quân :

Vương kéo quân đến Đa Lôi thuộc huyện Thổ Du [huyện Thanh Chương, Nghệ An]. Trẻ già đua nhau đem rượu và trâu bò đến đón tiếp khao quân. Họ nói:  “ Không ngờ ngày nay lại được trông thấy oai nghi cố quốc ”. Cầm Quý, tri phủ Ngọc Ma, đem quân và voi đến quy thuận, được Vương phong làm thái uý. (8)

Ðược dân ủng hộ, nghĩa quân lớn mạnh mau như cậu bé Phù Ðổng, vào tháng 5 Ðinh Lễ đánh bại quân Minh tại Diễn Châu :

Vương sai Đinh Lễ đi tuần Diễn Châu. Khi kéo quân đến gần thành, Lễ đặt quân mai phục. Bấy giờ đô ty Minh, Trương Hùng đem ba trăm thuyền lương thực từ Đông Quan đến. Trong thành Diễn Châu kéo ra đón lương thực : gặp phục binh nổi dậy, chúng đều thua chạy. Đinh Lễ cướp được thuyền lương, rồi đuổi Hùng đến tận Tây Đô. (8)

Tháng 7, Bình Định vương sai Tư đồ Trần Hãn, và Thượng tướng Lê Nỗ đi tuần các xứ Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình ngày nay, đều đánh dẹp được cả : 

Vương liệu trước rằng Tân Bình, Thuận Hoá bị đứt liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã từ lâu, bèn dụ bảo các tướng : “ Người giỏi chiến trận thường bỏ chỗ kiên cố, đánh chỗ sơ hở, tránh chỗ vững chắc, đánh vào chỗ trống rỗng ; như thế thì chỉ dùng sức một phần mà thành công gấp bội ”. Vương bèn sai tư đồ Trần Hãn và thượng tướng Lê Nỗ đem hơn nghìn quân đi đánh giặc và vỗ về nhân dân. Khi đến Bố Chính, gặp tướng Minh, Nhâm [Nhậm] Năng, bọn Hãn giữ chỗ hiểm yếu, đặt quân phục, rồi tìm kế nhử địch. Tên Năng lùa hết quân tiến lên. Phục binh nổi dậy, đánh khép lại : quân Minh thua vỡ tan tành, bị chém và bị bắt rất nhiều. (9)

Thất bại trong việc đánh dẹp Bình Định vương Lê Lợi, vua Tuyên Tông cùng Vinh dương bá Trần Trí tìm cách chiêu dụ những đám nổi dậy còn lại, bằng cách hứa cấp cho chức tước, nông cụ, hứa miễn thuế 5 năm :

Ngày 29 tháng 8 năm Hồng Hy thứ nhất [10/10/1425]

Tham chính Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí tâu rằng :

“ Bọn giặc làm phản Lộ Văn Luật, Phan Liêu, Trần Văn, Nguyễn Hạnh, Nguyễn Quang Liệt, Hồ Cương, Nguyễn Tử Dực, Nguyễn Nhữ Ngôn, Trần Giang, Trần T hanh, Trần Nguyên Trung, Hồ Tướng, cùng bọn quân dân đều nói xin sửa sai, nguyện đổi mới ; vậy xin ban sắc phủ dụ.”

Thiên tử nhân lời tâu, bảo các quan hầu cận rằng bọn Man Di làm phản rồi phục tòng, từ xưa đã có như vậy, không phải là điều quái lạ. Nếu dùng binh đến cùng không phải là thịnh đức của đế vương, chi bằng nhân sự trình bày kêu xin mà tha, để giúp cho quan quân bớt mệt mỏi. Bèn ban sắc cho bọn Luật như sau :

“ Các ngươi vốn là dân lương thiện, nhưng do quan ty cai trị không đúng cách, nên trốn vào núi rừng, tập hợp dân chúng chống lại mệnh triều đình. Tâm lòng vốn bất đắc dĩ, mà phải xa cách cha, mẹ, vợ, con, anh, em ; không được sống yên ổn ; bệnh tật sống chết không có người lo. Thời gian đã lâu, sự đau khổ thực đáng thương ! ”

“ Nay ta ngự trị tước vị lớn, coi sóc vạn phương, trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, tội không kể lớn nhỏ đều xá trừ. Nay quan Tổng binh tâu bọn ngươi có lòng cải hối, thực đáng khen. Đặc cách sai người mang sắc đến dụ các ngươi rằng nếu như thành tâm chuyển biến sang điều thiện, thì hãy trở về đất cũ. Trường hợp trước kia làm quan, thì đến quan Tổng binh tự trình bày tên tuổi, để tâu lên, sẽ trao chức cũ nhiệm dụng. Nếu là dân thì được cấp hạt giống, nông cụ miễn thuế 5 năm. Sự sai lầm cũ giống như băng tuyết mùa đông, xuân đến sẽ tan đi, không còn tra vấn. Lời nói này của Trẫm cảm thông với trời cao, các ngươi chớ có hoài nghi, chần chừ. Nếu lỡ mất cơ hội này, hối cũng không kịp.”

Thiên tử còn ban sắc cho bọn Trí rằng :

“ Nếu chúng trở về, cần khéo vỗ về cai trị.” (Minh Thực Lục v. 16, tr. 220-222; Tuyên Tông quyển 8, tr. 9b-10b)

Chú Thích

1. Châu Trà Lân : hay Trà Long là đất huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ngày nay.

2. Cương Mục, Sđd, trang 363.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251-252.

5. Tam ty : tức 3 cơ quan đầu não trông coi Giao Chỉ gồm Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

6. Khả Lưu : là tên một cửa ải xưa, ở phía bắc sông Lam, thuộc xã Vinh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

7. Bồ Ải : là một địa điểm ở phía trên ải Khả Lưu không xa.

8. Cương Mục, Sđd, trang 364.

9. Cương Mục, Sđd, trang 364.

Năm Bính Ngọ [1426]

Theo lời tâu của Thượng thư Trần Hiệp, người thay thế Hoàng Phúc cai quản hai ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ lúc bấy giờ, thì việc chiêu dụ Bình Định vương Lê Lợi và ngay cả các nhóm nổi dậy khác như Phan Liêu, Lộ Văn Luật đều không thành ; vua Tuyên Tông đốc thúc bọn Trần Trí, Phương Chính tiến binh đánh dẹp :

Ngày 26 tháng 11 năm Hồng hy thứ nhất [4/1/1426]

Tổng cai quản ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng cầm đầu giặc Lê Lợi tuy xin hàng ; nhưng thực chất hai lòng, chiêu dụ tụ tập đảng nghich kháng cự quan binh, đánh vây châu Trà Lung [Lân], giết Tri châu Cầm Bành, ngầm liên kết với viên Thổ quan châu Ngọc Ma Cầm Quý, cùng Tù trưởng Lão Qua để gây ác. Thái giám Sơn Thọ ban sắc, xá tội cho Lợi, ban chức Tri phủ Thanh Hoá, Lợi xin đến mùa thu mát đến nhậm chức ; nay lại tâu vốn kết oán với Tham chính Lương Nhữ Hốt, nên xin bỏ chức Tri phủ để coi châu Trà Lung. Gần đây người Diễn Châu phần đông theo Lợi làm loạn ; Lợi lại sai bọn tay chân là Phan Liêu, Lộ Văn Luật đến châu Gia Hưng, Quảng Oai chiêu tập đồ đảng. Giặc một ngày một lan tràn, xin cho viện binh sớm diệt giặc này để yên nơi biên thuỳ.

Thiên tử xem tờ tâu sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí, An bình bá Lý An, Đô đốc Phương Chính, cùng 3 ty Giao Chỉ rằng :

“ Phản tặc Lê Lợi manh tâm gây hoạ không phải chỉ mới một sớm, nếu lúc khởi đầu bắt nó dễ như nhặt một gọng cỏ. Nhưng nghe lời người ngu, chỉ lo việc chiêu phủ kéo dài đến nay đã 8 năm trời. Cuối cùng chúng không tuân mệnh, dưỡng thành cái thế độc dữ ; khiến trung thần và dân lương thiện bị hại, mối hoạ triền miên. Khi sắc tới bọn Trần Trí, Phương Chính chuyên trách tiến binh, lo hoà hợp để thành công, không hứa trì hoãn để lỡ việc. Nếu mùa xuân tới không có tin chiến thắng báo về, sẽ bị qui tội. ” (Minh Thực Lục v. 16, tr.313-314 ; Tuyên Tông q. 11, tr. 10a-10b)

Tuy sắc dụ đã gửi đi, nhưng vua Tuyên Tông cũng không tin mình đã quyết định đúng, nhà vua lưỡng lự mơ tưởng đến chính sách hoà bình từng thực hiện dưới thời Hồng Vũ đầu triều Minh :

Ngày 27 tháng 11 năm Hồng Hy thứ nhất [5/1/1426]

Thiên tử ngự tại điện Văn Hoa, triệu Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh đến hỏi rằng :

‒  Hôm qua ra sắc dụ cho bọn Vinh Xương bá [ Trần Trí ], sắc đã gửi đi chưa ?

Tâu đáp :

‒  Đã gửi rồi.

Thiên tử nói :

‒  Trẫm có một điều để trong lòng đã lâu, nay nói riêng với 2 khanh, chưa nên khinh suất tiết lộ ra ngoài. Trước kia tại Nam Kinh, nhân giải bọn giặc Giao Chỉ đến, Hoàng Khảo [vua cha] nói với ta rằng :

“ Khi Thái Tổ Hoàng đế mới bình định thiên hạ, An Nam là nước đầu tiên trong các nước bốn phương đến quy thuận. Sau này họ Lê cướp ngôi họ Trần, mang quân đánh dẹp xong, tìm con cháu nhà Trần nhưng không gặp, nên đặt quận huyện cai trị. Nay nếu còn con cháu nhà Trần, tuyển chọn đưa lên ngôi, cũng hợp với bụng của Thái Tổ, mà một phương lại được yên tĩnh.”

Trẫm thưa rằng :

“ Triều đình làm được như vậy, thật là thịnh nghiệp cho Đế Vương.”

Hoàng khảo cười và nói :

“ Chuyện này chưa nên khinh suất tiết lộ.”

Trẫm giữ trong lòng, không quên. Thường suy nghĩ rằng nếu quả họ Trần còn con cháu, tuyển lấy một người lập lên làm phiên thần, giữ chức cống 3 năm một lần, như qui chế thời Hồng Vũ, thì dân được yên ổn mà Trung Quốc cũng không mệt về binh nhung; tuy nhiên có kẻ cho rằng Trẫm bỏ cơ nghiệp của tổ tông, nhưng thực ra phục hưng nước bị diệt nối dòng bị đứt là ý của Hoàng tổ.

Kỳ và Vinh tâu đáp :

– Vào đầu năm Vĩnh Lạc thứ 3, khi mệnh tướng đánh giặc họ Lê, phàm chiếu sắc văn từ đều do bọn thần trực tiếp nhận mệnh viết, lúc bấy giờ Thái Tông Hoàng đế chí tại “ hưng diệt kế tuyệt ”; lời châu ngọc đó trong triều ngoài cõi đều nghe biết.”

Thiên tử nói :

‒  Lúc bấy giờ ta còn ở tuổi búi tóc trái đào (1), nhưng cũng được nghe ít nhiều như lời các khanh nói. Hai khanh hiểu ý Trẫm nhưng đừng tiết lộ, đợi hai ba năm nữa Trẫm sẽ thi hành.

Rồi ban rượu, trước khi hai người rút lui. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 315-316 ; Tuyên Tông q. 11, tr.11b-12a)

Lúc bấy giờ vùng đất tiếp giáp với Vân Nam thuộc phía tây bắc nước ta như phủ Gia Hưng, Quy Hoá, châu Ninh Viễn, giặc Áo đỏ liên kết với các nhóm khác tiếp tục đánh phá. Vua Tuyên Tông mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng Vinh dương bá Trần Trí đánh dẹp :

Ngày 3 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [10/4/1426]

Mệnh quan Tổng binh Thái truyền Kiềm quốc công Mộc Thạnh đôn đốc thổ quan châu Ninh Viễn Tri châu Đèo Cát Hãn bắt giặc tại châu Ninh Viễn. Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí chiêu hàng và bắt bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên thuộc Giao Chỉ. Lúc bấy giờ Đô đốc Trần Tuấn giữ chức Đô ty Giao Chỉ tâu rằng :

“ Bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Gia Hưng, đầu đảng là bọn Chu Trang cấu kết với giặc Áo Đỏ bọn Trương Kình tại Vân Nam và châu Ninh Viễn ; chúng cướp giết nhân dân, thiêu huỷ châu huyện nhà cửa. Tại châu Quy Hoá, bọn giặc Hoàng Am tụ họp đám đông trộm cướp ; lại thêm tại huyện Phù Lưu, giặc Phan Khả Lợi theo tên đầu đảng Lê Lợi cướp phá. Vì hai phủ Thái Nguyên, Tuyên Hoá có những châu huyện lân cận với Vân Nam ; riêng tại châu Ninh Viễn có bọn giặc mặc áo đỏ bụng đen, nên gọi là giặc áo đỏ ; thổ quan Tri châu Đèo Cát Hãn để chúng lộng hành cướp phá, quan quân mang quân thảo phạt thì trốn sâu vào trong rừng, quân rút lại xuất hiện cướp phá ; xin mang quân đánh dẹp.”

Vì vậy nên ra sắc mệnh này. (Minh Thực Lục v. 16, t. 0392; Tuyên Tông q. 15, t. 1b)

Xét tình hình tại nước ta, lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi càng ngày càng lớn mạnh, quân Minh dưới quyền Vinh dương bá Trần Trí không đảm đương nổi, nên nhà Minh điều quân đến tăng viện ; cùng sắc dụ Ai Lao không được dung nạp lực lượng nổi dậy :

Ngày 13 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [20/4/1426]

Sắc dụ Sở vương, Thục vương mỗi người điều lính bộ binh hộ vệ 1000 người ; các Đô chỉ huy ty Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Quảng ; cùng các vệ Nam Trực Lệ tuyển điều quân kỵ cộng 15.000 người đến Giao Chỉ đánh giặc. Tại các phủ Tư Minh (2), Điền Châu tỉnh Quảng Tây tuyển điều Thổ binh bắn cung hơn 3000 tên đợi lệnh và làm hướng đạo. Lại sắc Lão Qua không được dung nạp bọn phản tặc. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 406; Tuyên Tông q. 15, tr.6b)

Sau khi quân lính chuẩn bị sẵn sàng, bèn chọn Thành sơn hầu Vương Thông sung chức Tổng binh đi đánh dẹp :

Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1826]

Mệnh Thái tử Thái bảo Thành sơn hầu Vương Thông mang ấn Chinh Di Tướng quân sung chức Tổng binh, Đô đốc Mã Ánh sung Tham tướng, đến Giao Chỉ chinh tiễu giặc, trị an phủ dụ quân dân; vẫn ra lệnh Thượng thư Trần Hiệp làm Tham tán quân vụ. (Minh Thực Lục v.17, t. 419; Thái Tông q. 16, tr. 1a)

Lại mệnh Tam ty (3) tại Giao Chỉ, tuyển 3 vạn quân dưới sự điều động của Thông, cùng đình chỉ các công trình khác để dồn nỗ lực vào việc binh :

Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1426]

Sắc dụ Tam ty tại Giao Chỉ rằng :

“ Nay mệnh bọn Thành sơn hầu Vương Thông mang quân dẹp giặc. Khi Thông đến, hãy tuyển dân bản xứ 3 vạn người theo sự điều động của Thông, nhắm diệt giặc này để yên một phương. Các quan lại quân dân dưới quyền lấy việc cung ứng quân lữ làm trọng; tất cả các việc nhỏ mọn khác đều phải đình chỉ không được làm nhọc dân thêm nữa.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0419 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a)

Cùng lúc vua Tuyên Tông nhà Minh giáng phạt cấp chỉ huy hàng đầu tại Giao chỉ như bọn Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc bắt làm Sự quan (4), và phải phục vụ dưới quyền Vương Thông để lập công chuộc tội :

Ngày 3 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [9/5/1426]

Cách chức Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính quan tước ; giáng xuống sung vào Sự quan, tuân theo sự điều động của quan Tổng binh Vương Thông, làm tiên phong lập công chuộc tội. Những sắc dụ cùng ấn Chinh Di Phó tướng trước kia được lãnh, hãy giao cho Thông để nạp lên. Sắc dụ bọn Trí rằng :

“ Triều đình mệnh ngươi thống suất quân lính trấn đóng Giao Chỉ để dẹp tan giặc cướp, yên ổn dân chúng ; bọn ngươi ôm lòng riêng trục lợi, không hoà mục, để đến nổi giặc hoành hành, quan quân thua chết, tàn ngược dân lương thiện ; xét về tội các ngươi đáng vạn lần chết, không chuộc được. Nay tạm khoan hồng, cách chức tước, theo bọn Thành sơn hầu Vương Thông lập công để chuộc tội. Thái Phúc ngu đần, làm hỏng việc, cũng được tha tội chết để lập công, nếu giáp trận không biểu hiện vũ dõng, sẽ bị tru lục không tha thứ.” (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0419-0420 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a-1b)

Lại giống như mấy lần tăng viện trước, từng áp dụng chính sách vừa đánh vừa dụ dỗ, lần này khi Vương Thông ra quân, cũng có chiếu thư xá tội đi kèm :

Ngày 3 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/6/1426]

Xuống chiếu tha những người có tội tại Giao Chỉ. Chiếu rằng :

“ Đạo trị nước của Trẫm nhắm thương dân ; thể hiện lòng nhân từ xót xa, khoan tuất sự lầm lỗi. Giao Chỉ kể từ ngày sáp nhập vào bản đồ đến nay đã đến hai mươi năm ; mấy lần gây phản nghịch, làm bận đến vương sư. Nhưng ghét chết thích sống, lòng người không ai nghĩ khác ; đâm xuống vực, nhảy vào lửa không phải là bản tâm của con người. Tìm hỏi nguyên nhân đều do quan lại cai trị không đúng, không ngừng cướp đoạt ; cảnh tình kẻ dưới không đào đạt được lên, người trên lại không ân trạch ban xuống. Dân chúng lâm cảnh khốn khổ, đâm ra nghi ngờ, bèn trốn vào rừng núi, hô nhau làm loạn, tình cảnh thực bất đắc dĩ. Xét về tội cũng có chỗ đáng thương, nên ban ân mưa móc để đều được thấm nhuần.

Phàm quân dân Giao Chỉ phạm vào tội phản nghịch, bị phát giác hoặc chưa phát giác, bị kết án hoặc chưa kết án ; khi chiếu thư đến, tội không kể lớn nhỏ, đều được tha. Lê Lợi, Phan Liêu, Lộ Văn Luật, vốn đã quy phụ triều đình, từng được bổ nhiệm sử dụng, rồi suy nghĩ lệch lạc, để đến nỗi sai trái như vậy. Nay đặc biệt mở con đường đổi mới, nếu thành thực hối cải, trở lại theo điều thiện, giữ tiết bề tôi thì được tha tội, vẫn được trao quan chức. Những kẻ bị Lê Lợi bức hiếp theo nghịch, cùng những dư đảng của Trịnh Công Chứng trốn tránh chưa xuất hiện, nay có thể đích thân ra quy thuận, hoặc đến quan sở tại đầu thú cũng đều được tha, quan sẽ trở lại nguyên chức, quân trở lại nguyên đơn vị, dân trở lại với nghề cũ. Sau khi chiếu thư ban ra, như bọn Lê Lợi cùng những kẻ bị cưỡng bách, chấp mê không hối tội, vẫn chống mệnh như cũ, thì quân Thiên tử gia tăng thảo phạt, hối cũng không kịp nữa.

Từ nay trở về sau tại đất Giao Chỉ, ngoài việc nạp thuế lương thực, những việc trưng điều khai mỏ vàng, bạc, muối, sắt, hương liệu, cá, hoa quả đều đình chỉ ; vàng, bạc, đồng, tiền, muối, cá ướp được lưu hành trong lãnh thổ, quan phủ không cấm, để tỏ lòng thể tuất của Trẫm đối với dân chúng.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0448-0450; Tuyên Tông q. 17, tr. 1b- 2b)

Trước tình hình quân tác chiến bị thiếu hụt, Trần Trí xin tạm thời dẹp bỏ đồn điền, đem quân sản xuất dồn vào việc chiến đấu :

Ngày 24 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [29/6/1426]

Sự quan Giao Chỉ Trần Trí tâu rằng :

“ Thủ lãnh giặc Lê Lợi tụ tập đám đông chiếm cứ châu Trà Lung [Long], quan quân đánh nhưng chưa bắt được. Tại Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hoá cũng cần dùng quan quân để tuần tiễu phòng bị, nhưng các vệ lính không đủ ; nên đã hội bàn cho triệt thoái hết 14 vệ giữ đồn điền, gồm hơn 2600 tên, tại phần đất phía trái Giao chỉ. Nay tại cửa biển Điển Canh, châu Cửu Chân, có thuyền giặc cướp bóc dân ta ; tại châu này lại có bọn giặc tụ tập làng xã để chiêu mộ đồ đảng. Tại châu, huyện thuộc các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên có bọn giặc Áo Đỏ quấy nhiễu. Để lo việc chính tiễu tuần phòng xin trích ra 5000 tên trong số tổng cộng hơn 8900 tên từ các vệ Tả, Hữu, Trung, Tiền, Hậu tại Giao Châu ; cùng 9 vệ tại Xương Giang, Trấn Di, Tam Giang, Thị Cầu ; số quân các vệ này đang phụ trách về đồn điền. Những người lấy ra được miễn phải trưng thu gạo hàng năm, chờ khi bình xong giặc, lại trở về với đồn điền như cũ.”

Lời tâu được chấp thuận. (Minh thực Lục v. 17 tr. 0468-469 ; Tuyên Tông q. 17, tr.10b-11a)

Bộ Binh lại tâu trình thêm về lỗi lầm của một số cấp chỉ huy tại Giao Chỉ, để vua Tuyên Tông kịp thời trách phạt uốn nắn, nhắm giúp cho Vương Thông uy tín, đánh dẹp có hiệu quả hơn :

Ngày 9 tháng 7 năm Tuyên Đức thứ nhất [11/8/1426]

Bộ Binh nơi hành tại tâu rằng :

“ Bọn Sự quan Giao Chỉ Phương Chính đánh Lê Lợi ; nhưng bọn An bình bá Lý An ; Đô chỉ huy Vu Tán, Tạ Phượng, Tiết Tụ, Chu Quảng, Trần Phong đụng trận thì lui trước ; Chính có thành tích dũng cảm.”

Thiên tử mệnh tạm tha. Sắc dụ Thành sơn hầu Vương Thông lệnh An, cùng bọn Tán, Phượng, Tụ, Quảng, Phong được đái tội làm Sự quan, cùng bọn Trần Trí dẫn đầu lập công ; nếu không có công bị trừng trị theo quân pháp. (Minh Thực Lục v. 17, tr, 500-501 ; Tuyên Tông q. 19, tr. 5a-5b)

Lúc này Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng Bình định vương Lê Lợi đánh thành Nghệ An rất gấp, nhưng chưa hạ được :

Ngày 28 tháng 8 Tuyên Ðức thứ nhất [29/9/1426]

Người cầm đầu ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp sai người tâu rằng : đầu sỏ giặc Lê Lợi, đến thành Nghệ An khí thế rất mạnh, ngày đêm đánh thành. Bị Sự quan Lý An, Phương Chính hợp quân đánh bại. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 546; Tuyên Ðức q. 20, tr. 15b)

Sau khi thử thách tại thành Nghệ An, Bình Định vương Lê Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của giặc đều đóng tại nơi này, lực lượng địch tại miền Bắc nhất định suy yếu. Ngài quyết định để một phần nghĩa quân cầm chân giặc tại Nghệ An, mang đại quân ra bắc tấn công vùng biên giới và uy hiếp thành Đông Quan [Hà NộI]. Nếu như một người tầm thường, lần lượt cho quét sạch quân địch trên đường tiến quân, thì mất không biết bao nhiêu ngày tháng ; hơn nữa số quân địch bị tổn thất, sẽ có quân tiếp viện vượt biên giới sang tăng cường, thì chiến tranh còn lâu mới chấm dứt được. Bởi vậy trên đường tiến quân ra Bắc, Bình Định vương quyết định chỉ uy hiếp giặc co cụm lại trong thành, dùng lực lượng địa phương khống chế; rồi mang đại quân ra bắc :

Vương cho rằng quân tinh nhuệ của nhà Minh ở cả Nghệ An, Đông Đô trở thành yếu ớt trống rỗng bèn sai :

Bọn Thái uý Lý Triện, Xu mật Phạm Văn Xảo, thái giám Trịnh Khả và Đỗ Bí ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quy Hoá, Đà Giang, Tam Đái và Tuyên Quang để diệt đạo viện binh nhà Minh từ Vân Nam kéo xuống ; 

Bọn Thiếu uý Lưu Nhân Chú và Bùi Bị ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang và Lạng Sơn để diệt đạo viện binh từ Lưỡng Quảng kéo xuống ;

Bọn Tư đồ Đinh Lễ và Lê Xí thống suất toán quân tinh nhuệ kế tiếp xuất phát, thọc ngay vào Đông Quan để phô trương thanh thế, rồi sau mới thừa cơ mà tiến thủ.

Các tướng trẩy đến đâu cũng giữ quân luật nghiêm túc, không tơ hào xâm phạm đến của nhân dân. Bấy giờ các lộ ở Đông Đô và các thổ tù ở ven biên giới chẳng ai là không vui vẻ hả hê.

Cánh quân của các tướng Lý Triện từ mạn Quốc Oai và Tam Đái đe doạ bức bách thành Đông Quan. Tham tướng Minh, Trần Trí dốc hết quân ra mạn Ninh Kiều (5) và Ứng Thiên để chống cự. Triện cùng bọn Xảo, Khả và Bí hợp sức đánh hăng, quân của Trí phải thua chạy. Bọn Triện tiến đóng ở bờ phía tây sông Ninh Giang.

Chợt được tin hơn vạn quân cứu viện của nhà Minh sang từ Vân Nam, sắp đến thành Tam Giang, mà đạo quân do Lễ và Xí chỉ huy chưa kịp đến, bọn Triện e rằng hai đạo quân của địch nếu phối hợp được với nhau thì mình khó chế trị được. Triện bèn chia cho Xảo và Khả hơn nghìn quân, đi thẳng lên trước và đón đường chặn đánh địch ; còn mình và bọn Xí đem vài nghìn quân tinh nhuệ, thừa thắng đuổi theo cánh quân của Trí. Khi đến Nhân Mục, bắt sống được đô ti Minh, Vi Lượng, và chém được hơn nghìn thủ cấp địch, rồi lại quay về Ninh Giang, làm thanh thế tiếp ứng cho bọn Xảo.

Còn cánh quân của bọn Xảo, khi đến cầu Xa Lộc, gặp đạo quân của Vương An Lão, đô ti Vân Nam của Minh : quân ta đón đánh, cả phá được địch, chém và bắt được không biết bao nhiêu mà kể. Số quân còn sót lại của địch phải rút vào giữ thành Tam Giang. (6)

Minh Thực Lục cũng xác nhận việc Ðô Chỉ huy Vi Lượng thất trận bị bắt như sau :

Ngày 13 tháng 10 năm Tuyên đức thứ nhất [12/11/1426]

Quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tấu rằng Đô Chỉ huy Vi Lượng hành quân tại Giao Chỉ bị thất lợi. Lúc bấy giờ đồ đảng của Lê Lợi là Lê Thiện chiếm cứ châu Quảng Oai ; Sự quan Trần Trí sai Lượng cùng các Chỉ huy Vương Miễn, Tư Quảng mang quân chống cự. Khi quân đến đất này, Lượng muốn vượt sông, nhưng viên quan Thổ quan là Chỉ huy Hà Kháng nói :

“ Chắc bọn chúng đặt phục binh, phải cẩn thận đừng coi thường mà tiến.”

Lượng không nghe, sai Chỉ huy Đào Sâm, Tiền Phụ vượt sông đánh, giặc đặt phục binh và mang quân chặn đoạn hậu ; giết Sâm, Phụ, Thiên hộ Triệu Trinh cùng hơn 500 quân, Lượng cũng bị bắt. Thông, cùng Tuần, Án, Ngự sử đem việc này tâu lên. Thiên tử cho rằng Vương Miễn và Tư Quảng không cứu viện, sắc mệnh Thông phạt Miễn, Quảng sung quân lập công chuộc tội ; vẫn ra lệnh Thông tiến binh dẹp giặc. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0579-580 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 5b)

Tháng 10 quân Vương Thông đến thành Ðông Quan (Hà Nội). Lý Triện làm cuộc tấn công thử thách, rồi nhử quân Minh đến Ninh Kiều, khiến đại quân của Vương Thông sa vào trận phục kích lớn :

Bấy giờ nhà Minh sai Thành Sơn hầu Vương Thông làm chinh di tướng quân, và đô đốc Mã Anh làm tham tướng, đem năm vạn quân sang cứu Đông Quan, bóc hết chức tước của bọn Trần Trí và Phương Chính, cho sung làm sự quan, lệ thuộc trong quân để lập công chuộc tội ; còn Trần Hiệp thì vẫn cho làm tham tán quân vụ. Tất cả đều ở dưới quyền chỉ huy của Thông.

Thông mới đến, tinh thần rất hăng, điều động tất cả mười vạn quân, cùng bọn Hiệp chia làm ba đường, đồng thời xuất phát. Thông đóng ở bến Cổ Sở; Phương Chính đóng ở Sa Đôi ; Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai. Doanh trại của chúng đằng dăng đến vài mươi dặm, cờ xí rợp cả đồng nội. Chúng tự cho rằng chỉ một chuyến này có thể dẹp yên được.

Các tướng Triện và Bí từ Ninh Kiều tiến đến Sốm (7), chia quân và voi cho mai phục sẵn để đợi giặc. Họ cho toán du binh xông xáo đến sát trại Mã Kỳ, khiêu chiến, giả cách thua chạy. Mã Kỳ lùa hết quân đuổi theo. Khi chúng đến cầu Ba La (8) : quân phục của ta nổi dậy, đánh cắt ngang trận địch. Quân Minh tan vỡ, chạy bừa, sa lầy, bị chém hơn nghìn thủ cấp. Quân ta ruổi dài đến cống Mọc (9), bắt được hơn năm trăm địch. Thây giặc rải rác đến vài mươi dặm. Mã Kỳ chỉ kịp một người một ngựa trốn về.

Các tướng Lý Triện thừa thắng, muốn chẹn phía sau Phương Chính, nhưng Phương Chính đã rút quân lui rồi. Bấy giờ trời đã chiều hôm, các tướng bên ta phải đem quân quay về. Bọn Kỳ và Chính nhân lúc ban đêm, lén đem quân đến hội với Vương Thông.

Ngày hôm sau, các tướng Lý Triện đến bến Cổ Sở, bổ vây quân Thông. Trước đó, Thông đã đặt quân mai phục, và đã đan tre làm cái khiên, phía trong khiên có cài chông sắt. Khi thoạt giao chiến, quân của Thông đã quăng bỏ khiên, giả vờ chạy. Bọn Triện đuổi theo : voi giẫm phải chông, không lợi. Bọn Triện bèn thu quân vào giữ Cao Bộ.

Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng quân ở Thanh Đàm, Triện liền sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy ba nghìn quân tinh nhuệ và hai thớt voi, tức tốc ngay ban đêm, đến hội quân ở Cao Bộ. Họ chia quân đặt phục ở Tốt Động (10) và Chúc Động.

Bắt được gián điệp của địch, ta biết rằng Thông đã tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh đi rảo đến phía sau quân Triện, còn chính binh của Thông thì sẽ qua sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau rằng hễ nghe nổ pháo thì các đạo quân địch đồng thời đánh khép lại. Hồi trống canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân nổ pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa địch. Địch nghe tiếng pháo, mọi đứa đều đổ xô đi chiếm lấy thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội. Chúng kéo đến Tốt Động, bị quân phục của ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức lại, hăng hái chiến đấu, cả phá được địch : chém thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng. Ta lại đuổi kẻ chạy, dượt kẻ thua, hoặc giết chết, hoặc bắt  sống. Quân Minh cùng giày đạp chồng chất lên nhau, chết đến hơn năm vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang. Ta bắt sống được hơn một vạn địch, tước được quân nhu và khí giới vô kể.

Bọn Chính và Kỳ chạy trốn. Thông bị thương, chạy về Đông Quan, đóng chặt cửa thành, cố giữ.

Thông sai phá huỷ chuông Quy Điền (11) và vạc Phổ Minh (12) để làm chiến xa và vũ khí. (13)

Nhà Minh, phía thua trận không dám huênh hoang nói nhiều, nhưng Minh Thực Lục cũng đã xác nhận quân bại, Thượng thư Trần Hiệp, Ðô chỉ huy Lý Ðằng chết, Vương Thông bị thương :

Ngày 6 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ nhất [4/12/1426]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc, bị thua to giặc bèn vây thành Đông Quan. Trước đó tướng giặc Lê Thiện chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao-Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh Oai, một đạo từ Giáo Trường đánh Hạ Quan ; bị Đô đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hoả tiễn đánh lui ; một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham tướng Đô đốc Mã Ánh mang quân đến Thanh Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng Bình, trú quân tại Ninh Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại ; Thượng thư Trần Hiệp chết, Đô Chỉ huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh Đàm, đánh các xứ tại Bắc Giang, rồi vây thành Đông Quan. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0593-0594 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 12a-12b)

Chú thích

1. Tuổi búi tóc trái đào : ý nói tuổi thiếu niên.

2. Tư Minh : phủ trị Tư Minh xưa tại huyện Ninh Minh hiện nay, vị trí cách ải Nam Quan khoảng 30km.

3. Tam ty : gồm 3 ty Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

4.  Sự quan : theo quychế nhà Minh, quan bị tội, cho tạm thời giữ chức để lập công chuộc tội, gọi là Sự quan.

5. Ninh Kiều : vùng Ninh Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 365-366.

7. Hán văn gọi là Cổ Lãm.

8. Hán văn gọi là “Tam La kiều”. Cái cầu chỗ giáp giới ba làng La, tức là La Khê, La Cả và La Nội, nay thuộc xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

9. Nguyên văn là “Nhân Mục kiều”. Nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

10. Tốt Ðộng : nay có xã Tốt Ðộng, thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây.

11. Chuông Quy Điền : Thôn Thanh Bảo, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội có chùa Một Cột. Tục truyền rằng đời Lý đúc quả chuông lớn, để ở trong chùa, đánh không kêu, bèn đem bỏ chuông ấy ở ruộng Quy Điền. Ruộng này trũng thấp ẩm ướt, có sản nhiều rùa, nên gọi tên như vậy.

12. Phổ Minh : Tên chùa. Năm Thiệu Long thứ 5 (1262) đời Trần Thánh Tông làm chùa này, có đúc cái vạc và khắc bài minh vào vạc.

13. Cương Mục, Sđd, trang 367-368.

Năm Kỷ Hợi [1419]

Trong năm này nhiều cuộc nổi dậy xẩy ra, nên quân Minh phải đánh dẹp rất vất vả. Trước hết hãy đề cập tiếp đến lực lượng của Bình định vương Lê Lợi tại Thanh Hoá, Cương Mục chép như sau :

Tháng 4, mùa hạ. Bình Định vương đánh đồn Nga Lạc (1), bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao. Rồi Vương lại lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh kéo đến bức bách. Đô tổng quản Lê Lai chịu chết thay Vương. Vương tấn công đồn Nga Lạc, bắt được chỉ huy Minh, Nguyễn Sao, đem chém. Nhưng bấy giờ thế lực của giặc còn đang mạnh ; về phía Vương, tướng còn hiếm, quân còn ít, lại đánh nữa, không thắng được địch. Vương chạy vào Trịnh Cao, rồi lui giữ núi Chí Linh. Quân Minh thường đến đánh úp : tình hình phía Vương khốn quẫn quá ! Vương phải nhóm họp các tướng, dụ bảo họ rằng : ” Bây giờ ai có thể làm như Kỷ Tín (2) xưa, để ta ẩn náu trong rừng núi, mưu tính cử sự về sau ? “. Trong các tướng chẳng ai dám đáp ứng cả. Riêng có Lê Lai khảng khái xin vâng, tình nguyện trao đổi đồ mặc với Vương để đi chết thay. Lê Lai liền cho sắp xếp nghi trượng chỉnh tề, chính mình đem quân và voi, hướng ra phía địch, chỉ huy các tướng chia đường khiêu chiến. Tướng Minh lấy thêm quân bao vây Lê Lai. Lai chiến đấu kiệt sức, bị người Minh bắt và giết chết. Địch bèn rút quân về Tây Đô. (3) 

Toàn Thư chép thêm : 

Tháng 5 vua đóng tại sách Ðà Sơn, quân Minh tiến đánh. Vua phục kích tại Mường Chánh (4), cả phá quân giặc, rồi dời quân đến đóng tại sách Lư Sơn, ít lâu sau dời sang Mường Thôi, rồi lại về đóng bản doanh ở Vu Sơn (5).

Riêng Minh Thực Lục chép rằng quân của Bình định vương Lê Lợi thường giao tranh với quân Minh tại vùng Lam Sơn, rồi rút lui sang Ai Lao ; phải chăng muốn nói đến địa danh Mường Thôi (6) mà Toàn Thư đề cập ở trên, vì Mường Thôi nằm tại vùng biên giới Ai Lao :

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [26/5/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đầu sỏ giặc Lê Lợi trú tại sách Khả Lam. Sai Đô đốc đồng tri Phương Chính, Đô chỉ huy Sư Hữu mang quân đánh ; bắt được bọn ngụy Cấm vệ tướng quân Nguyễn Cá Lập. Số còn lại chạy trốn sang Lão Qua ; bèn lưu Đô Chỉ huy Hoàng Thành, Chu Quảng giữ đồn Khả Lam, bọn Chính trở về Giao Chỉ. Lê Lợi lại xuất hiện đánh phá, giết Tuần kiểm Vương Cục, Lương Hướng rồi đi. Thành mang quân truy kích, giặc thua chạy. Gặp mưa nắng nước dâng, lam chướng mới nổi lên, xin đợi mua thu tiến binh. Được chấp thuận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2137; Thái Tông q. 212, tr. 1a)

Ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [30/8/1419]

Lê Lợi đầu đảng giặc tại Thanh Hoá, Giao Chỉ ; mang quân đánh phá Lỗi Giang (7), bị bọn Đô chỉ huy Hoàng Thành đánh thua, lại chạy sang trốn tại Lão Qua. (Minh Thực Lục q. 215, tr. 2151; Thái Tông q. 215, tr.1a)

Cùng trong tháng 8/1419, tại Nghệ An có cuộc nổi dậy của hai nhân vật đầu não theo giặc, đó là Tri phủ Nghệ An Phan Liêu và Chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật. Lúc quân nổi dậy đang vây thành Nghệ An, thì Phong thành hầu Lý Bân đích thân tiếp cứu, nên buộc phải rút lui về châu Ngọc Ma tại vùng thượng du Nghệ An :

Ngày 11 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/8/1419]

Viên Thổ quan Giao Chỉ giữ chức Tri phủ Nghệ An Phan Liêu là con Quý Hữu. Trước đây Quý Hữu theo Trần Quý Khoách làm Thiếu bảo nguỵ. Bị đại quân đánh, thế cùng Quý Hữu bèn sai Liêu đến cửa quân xin hàng. Quan Tổng binh Anh quốc công Trương Phụ theo chế độ ban cho Quý Hữu chức Phó sứ ty Án Sát coi phủ Nghệ An, lại ban cho Liêu chức quan. Quý Hựu chết, cho Liêu thừa kế cha nhậm chức này. Nhân Mã Kỳ bạo ngược phi lý, Liêu bèn làm phản tại huyện Nha Nghi (8), cùng viên thổ quan Thiên hộ Trần Đài tụ tập đám đông đốt phá châu huyện giết quan lại ; viên thổ quan chỉ huy vệ Nghệ An Lộ Văn Luật cũng đi theo. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đến đánh, bọn giặc tan, Liêu chạy đến châu Ngọc Ma (9) nương dựa viên thổ quan Tri châu Cầm Trách, Bân sai người truy bắt. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2152 ; Thái Tông q. 215, tr. 1b)

Tại Phủ Thanh Hoá, lại có thêm cuộc nổi dậy của Phạm Nhuyễn tại huyện Nga Lạc, bị Ðô Chỉ huy Từ Nguyên đánh bắt được :

Ngày 1 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/10/1419]

Bọn phản loạn Giao Chỉ Phạm Nhuyễn tụ tập tại sách Cự Lặc, huyện Nga Lạc. Ngày hôm nay quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Từ Nguyên mang quân bắt được, bèn chém bọn Nhuyễn để thị chúng. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2161 ; Thái Tông q. 217, tr. 1a)

Tháng 11/1419 xẩy ra 2 cuộc nổi dậy của dân đãi vàng, thứ nhất xẩy ra tại huyện Phù Lưu [Nghệ An] do Vũ Cống chỉ huy ; thứ hai tại huyện Ðồng Lợi, châu Hạ Hồng [Hải Dương] do Trịnh Công Chứng cầm đầu. Ngoài ra còn có các cuộc nổi dậy của anh em Trần Trực Thành tại Nghệ An, Nông Văn Lịch tiếp tục đánh phá tại phủ Lạng Sơn, Trần Ðại Quả nổi lên tại châu Vũ Ninh [Bắc Ninh], Nguyễn Ðặc tại châu Khoái [Hưng Yên], Ngô Cự Lai tại châu Thiên Thệ [Bắc Ninh] :

Ngày 1 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [17/11/1419]

Ty Đô Chỉ huy Giao Chỉ tâu rằng tại huyện Kệ Giang (10), phủ Nghệ An có tên thổ quan Bách hộ Trần Trực Thành, cùng em là Trực Nguỵ tự xưng Kim Ngô Tướng quân ; cùng bọn Lãm Bàn giặc Áo Đỏ cướp phá xã Dương Biến giết tuần kiểm Trương Tú. Vũ Cống người trong hộ đãi vàng liên kết với kỳ lão Hoàng Nhữ Điển tụ tập dân chúng đốt phá huyện Phù Lưu (11). Các nhóm nổi dậy tại huyện Khâu Ôn (12) có Nông Văn Lịch, châu Vũ Định [Ninh] (13) có Trần Đại Quả, châu Khoái (14) có Nguyễn Đặc, huyện Thiện Thệ (15) có Ngô Cự Lai tiếp tục trước sau làm loạn giết hại quan binh. Tại huyện Đồng Lợi, châu Hạ Hồng, phủ Tân An, viên Xã chính coi việc đãi vàng là Trịnh Công Chứng tụ tập đám đông hơn 1000 người đốt phá bắt giết quan lại tại các ty tuần kiểm thuộc các huyện Đa Dực, Đồng Lợi, châu Hạ Hồng (16) và cửa biển sông Đản. Đô đốc Phương Chính mang quân đánh dẹp đánh bại giặc tại Đồng Lợi. Thám thính cho biết trước đó bọn chúng đến châu Nam Sách, bèn truy kích kịp thời đánh dẹp tại ty tuần kiểm A Côi (17) chém hơn 400 thủ cấp, số giặc chết trôi tính không hết ; Công Chứng bèn chạy trốn. Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân mang quân đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2165-2166; Thái Tông q. 218, tr. 1a-1b)

Ngoài ra còn phải kể thêm nhóm Vũ Liên, Vũ Lợi tụ tập dân nổi dậy tại châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang [Hải Hưng] (18). Nguyễn Ða Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang (19) thấy thành Ðông Quan [Hà Nội] chỉ còn những quân lính ốm yếu, bèn dấy quân tiến đánh. Quân đến Lô Giang, đánh phá được cầu phao, nhưng ít lâu sau bị quân Lý Bân đánh bại (20)

Trong các nhóm mới nổi lên, vua Minh Thái Tông lưu ý đến Phan Liêu, nên gửi chiếu thư đòi đánh dẹp gấp :

Ngày 16 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [3/11/1419]

Thiên tử ban mệnh cho Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân :

“ Mặc dù giặc Phan Liêu tại Nghệ An đã bị đánh tan, nhưng chúng vẫn còn tồn tại. Trong một thời gian ngắn, ngươi cần chỉnh đốn quân ngũ tiêu diệt chúng như nhổ gốc, không để sót mối lo trong dân. ” (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2163; Thái Tông q. 217, tr. 2a)

Do đó Phong thành hầu Lý Bân đích thân chỉ huy cuộc hành quân lớn tại tỉnh Nghệ An, nhưng chỉ đuổi được bọn Phan Liêu ra khỏi biên giới để rồi tiếp tục trốn tránh tại Lão Qua :

Ngày 6 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [23/11/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân đến châu Ngọc Ma dẹp giặc ; đầu đảng giặc bọn Phan Liêu cùng giặc Áo Đỏ hơn 1000 tên chống cự bị quan quân đánh bại. Bắt sống Tù trưởng giặc Áo Đỏ là bọn Nửu Môn, Diệp Để ; bọn Liêu, Lộ Văn Luật, Trần Văn, Trần Tử Trực và quân còn lại bỏ trốn. Quan quân tiến đến mường Cự Đàm, núi Bồ Đàm thuộc châu Ngọc Ma ; giặc cậy hiểm đóng trại phòng thủ, bèn đánh phá. Bọn Liêu chạy sang Lão Qua ; lại sai Đô chỉ huy Tiết Tụ tiến đánh bắt được đồng đảng giặc là bọn Hồ Tử Kính cùng giặc Áo Đỏ là Thượng Bì, Thượng Tướng hơn 300 người.

Trước đó sai Bố chánh ty sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân, Chỉ huy Trần Nguyên Khôi giữ sông Ác bắt được tên phản loạn Thiên hộ châu Nam Linh Trần Thuận Khánh, Bách hộ vệ Nghệ An Trần Trực Thành đem chém. Đô đốc Phương Chính, Tham chính Mã Ánh cũng bắt và giết đầu đảng giặc Trịnh Công Chứng tại Đồng Lợi, đồng đảng giặc là Lê Điệt bỏ trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2167-2168 ; Thái Tông q. 218, tr.2a-2b)

Ðang lo đánh dẹp tại Nghệ An, thì ở miền Bắc lại xẩy ra những mối lo khác. Tại châu Gia Lâm [Bắc Ninh] quân của Ðào Cường chiến thắng trong một cuộc phục kích, bèn chuẩn bị vượt sông đánh thành Giao Châu [Hà Nội], Lý Bân phải điều động quân kỵ mới ngăn chặn được :

Ngày 28 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [14/12/1419]

Tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, Giao Chỉ, Đào Cường làm phản. Đô Chỉ huy Lưu Chấn, Vu Tán, Ngô Hưng mang quân đánh dẹp. Bọn Chấn không nghiêm cấm, nên quân sĩ buông thả cướp phá. Giặc giả bộ vứt đồ vật bỏ chạy, rồi đặt phục binh đón đợi. Quan quân bi bại, giặc đưổi tới sông Phú Lương, định vượt sông. Đô Chỉ huy Trần Tuấn ra sức đánh, nên ngăn được. Nhưng thế giặc mạnh thêm, quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai ngay bọn Đô Chỉ huy Cảnh Vinh mang kỵ binh đi đánh, giặc bèn rút lui. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2169; Thái Tông q. 218, tr. 3a)

Tại phủ Phụng Hoá [Nam Ðịnh], quân Minh cầm đầu bởi Ðô Chỉ huy Trần Trung, đánh bại quân nổi dậy của Lê Ðiệt và Trần Dĩ Luật :

Ngày 3 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [19/12/1419]

Bọn Đô Chỉ huy Trần Trung tại Giao Chỉ đánh bại đảng giặc Lê Điệt tại sông Tiểu Hoàng huyện Kiến Xương bắt sống 350 tên, đốt cháy trên 160 chiếc thuyền. Tiếp tục truy kích đến xã Cổ Lôi, huyện Tây Chân, phủ Phụng Hoá đánh bại bọn giặc Trần Dĩ Luật chém hơn 600 tên, đốt hơn 250 chiếc thuyền.(Minh Thực Lục v. 14 tr. 2171; Th ái Tông q. 219, tr. 1a)

Tại phủ Kiến Bình [Ninh Bình], Lý Bân sai Chỉ huy Phương Chính đánh dẹp, nhưng chưa giết được chủ tướng Ðinh Tông Lão :

Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [24/12/1419]

Ngày hôm nay các huyện như Đại Loan thuộc phủ Kiến Bình, Giao Chỉ, có bọn giặc Đinh Tông Lão làm loạn. Quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân sai Chỉ huy Giao Châu hậu vệ Phương Chính đốc xuất quân đánh dẹp. Giặc thua chạy, chém hơn 400 tên, đều bị bêu đầu để làm răn. (Minh Thực Lục v. 14 , tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Riêng Lý Bân đích thân chỉ huy hai cuộc hành quân : thứ nhất tiếp tục truy đánh quân Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình] :

Ngày 11 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [27/12/1419]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân truy đánh bọn Lê Điệt tại huyện Đình Hà phủ Trấn Man, đánh bại giặc mấy lần ; chém hơn 500 tên, bắt sống bọn nguỵ Kim ngô tướng quân Vũ Lộ. (Minh thực Lục v. 14, tr.2173; Thái Tông q.219, tr. 2a)

Thứ hai, mở cuộc hành quân lớn tại châu Ðông Triều [Quảng Ninh] tấn công lực lượng nổi dậy của sư ông Phạm Ngọc tu tại chùa Ðồ Sơn, bắt được tướng là Phạm Thiện ; rồi làm cuộc tàn sát lớn, giết tù binh có đến mấy trăm người :

Ngày 15 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [31/12/1419]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân bắt được Tù trưởng giặc Phạm Thiện tại châu Đông Triều. Trước đây tên yêu tăng Phạm Ngọc tại chùa Đồ Sơn, huyện An Lão phao rằng trời giáng ấn kiếm, lệnh làm chúa ; bèn tiếm xưng La Bình vương, kỷ nguyên Vĩnh Ninh, tụ tập đám đông làm loạn. Bọn Thiện và Đào Thừa đến theo. Ngọc cho Thiện làm Nhập Nội Kiểm Hiệu Tả Tướng quốc Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ngô Trung làm Nhập Nội Hành khiển Hữu Thượng thư Tri Quân Quốc Trọng Sự, Đào Thừa làm Xa Kỵ Đại Tướng quân, Lê Hành làm Tư không, tụ tập đám đông chiếm cứ đường thủy và bộ. Lúc đại quân đến đánh, Thiện dàn quân hai bên bờ, lại bày thuyền giữa sông, thuỷ bộ cùng chống cự. Bân xua quân đánh gấp, chém 1200 thủ cấp, bắt sống Thiện cùng bọn Trung gồm 780 người, tịch thu hơn 200 chiếc thuyền lớn nhỏ, Ngọc tẩu thoát ; lại bắt quân giặc hơn 260 tên, bèn xử chém để răn. Thiện, Trung, cùng bọn Vũ Lộ đều bị giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2174; Thái Tông q 219, tr. 2b)

Chú thích

1. Nga Lạc : ở gần Lam Sơn, thuộc vùng Bái Thượng, Thanh Hoá ngày nay.

2. Trung thần của Hán Cao Tổ. Khi Cao Tổ bị Hạng Vũ vây ở núi Huỳnh Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), tình hình nguy ngập quá, Tín phải ăn mặc giả làm Cao Tổ, thay Cao Tổ ra đầu hàng : bị Hạng Vũ đốt chết. Còn Cao Tổ nhờ đó trốn thoát.

3. Cương Mục, sđd, trang 357.

4. Mường Chánh : huyện Lang Chánh, Thanh Hoá sau này.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 242.

6. Mường Thôi : Theo Toàn Thư có lẽ là Man Xôi, ở phía tây bắc tỉnh Thanh Hoá, giáp Lào.

7. Lỗi Giang : một nhánh sông Mã tại huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hoá.

8. Nha Nghi : Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, Nha Nghi tức huyện Nghi Xuân, thuộc tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.

9. Ngọc Ma : Châu miền thượng du phủ Nghệ An.

10. Huyện Kệ Giang : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ., Sđd, huyện Kệ-Giang vị trí phía bắc huyện Thanh Chương, Nghệ An hiện nay.

11. Huyện Phù Lưu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Phù Lưu thuộc phạm vi huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An ngày nay.

12. Huyện Khâu Ôn : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Khâu Ôn thuộc tỉnh Lạng Sơn hiện nay.

13. Châu Vũ Ninh: theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Vũ Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

14. Khoái châu : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Khoái châu thuộc tỉnh Hưng Yên.

15. Huyện Thiện Thệ : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện Thiện Thệ đời Minh tương đương với huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

16. Châu Hạ Hồng : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. châu Hạ Hồng thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.

17. Huyện A Côi : theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. huyện A Côi thuộc phía bắc tỉnh Thái Bình hiện nay.

18. Minh Nghiên Cứu, Sđd trang 95.

19. Lộ Hoàng Giang thời Trần, Hồ tức phủ Kiến Bình thời Minh thuộc ; theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. hiện nay thuộc tỉnh Nam Định, Ninh Bình.

20. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 243.

Năm Canh Tý [1420]

Lúc này tình hình tại các phủ, huyện xung quang thành Ðông Ðô [Hà Nội] vẫn còn bị đe doạ, Lý Bân bèn mang quân đánh Lê Hành, Ðào Cường tại huyện Ða Cẩm thuộc phủ Lạng Giang [Hải Hưng] :

Ngày 26 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [11/1/1420]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân mang quân tới phủ Lạng Giang. Tin điệp báo cho biết Tù trưởng giặc Tư không Lê Hành, nguỵ Kim Ngô Đại Tướng quân Đào Cường tụ tập lực lượng hơn 8000 tên lập trại tại xã Ma Lãng, huyện Đa Cẩm (1) ; bèn tiến binh tiễu trừ. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2180; Thái Tông q. 219, tr. 5b)

Sau hai ngày hành quân truy kích, quân của Lý Bân đánh thắng, giết chết Ðào Cường :

Ngày 28 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 17 [13/1/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân mang quân tới huyện Thiện Tài, gặp toán du binh của giặc hơn 1000 tên, đánh bại chúng rồi đuổi đến xã Ma Lãng. Giặc bỏ trống trại ra giao chiến, quan quân lại đánh bại ; bắt giết Đào Cường, cùng tướng sĩ của chúng hơn 3500 tên. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2181-2182; Thái Tông q. 219, tr. 6a-6b)

Riêng phía tây thành Ðông Ðô, Cấn Sư Lỗ và Phạm Công Trịch nổi lên tại huyện Thạch Thất [Hà Tây], Trịnh Công Chứng chuyển quân từ châu Oai Man [Hà Tây] sang Gia Lâm [Bắc Ninh] ; Lý Bân phải sai quan đi đánh dẹp. Tại Thanh Hoá thì quân của Ðô Chỉ huy Từ Nguyên tiếp tục dằng co với Bình Định Vương Lê Lợi tại vùng Lỗi Giang :

Ngày 4 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 18 [18/1/1420]

Giặc Giao Chỉ Cấn Sư Lỗ, Phạm Công Trịch tụ dân làm loạn. Quan Tổng binh Lý Bân sai người đến huyện Thạch Thất giao chiến. Sư Lỗ thua chạy, chém được bọn Dực vệ tướng quân Cấn Hoạch hơn 150 người. Lúc bấy giờ Công Chứng tại châu Oai Man nghe tin đưa quân về Khoái Châu. Nhưng bị Đô chỉ huy Giao Chỉ Tôn Lâm đánh tại huyện Thiện Tài, châu Gia Lâm, giết bọn tướng giặc Phạm Trầm, bắt sống đầu đảng giặc Lê Hành.

Giặc Lê Lợi tại Thanh Hoá tụ tập quân đóng trại tại Lỗi Giang, bị Đô chỉ huy Từ Nguyên suất quân công phá, Lợi chạy trốn. (Minh Thực Lục v.14, tr. 2185; Thái Tông q. 220, tr.1a)

Trước tình hình loạn lạc xẩy ra khắp nơi, vua Minh Thái Tông xuống chiếu quở trách Phong thành hầu Lý Bân ; cùng điều thêm quân từ các tỉnh Tứ Xuyên, Vân Nam đến và bổ nhiệm Vinh dương bá Trần Trí sang phụ tá cho Lý Bân :

Ngày 18 tháng giêng nhuần năm Vĩnh Lạc thứ 18 [4/3/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân rằng :

“ Trẫm ra lệnh người cai trị một phương, muốn cho quân dân được yên chổ; nay để cho giặc giã nổi lên rầm rộ, làm sao ngươi từ chối trách nhiệm được. Nay điều quân từ các xứ Vân Nam, Tứ Xuyên; quan quân nhiều ngươi phải hết sức trù tính sớm diệt bọn giặc. Nếu lần lữa ngày tháng, khiến bọn giặc ngày một lớn, thì căn cứ vào quốc điển khó mà khoan thứ được. ” (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2191; Thái Tông q. 221, tr. 2a)

Ngày 21 tháng 3 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/5/1420]

Mệnh Vinh dương bá Trần Trí giữ chức Tả tham tướng phụ tá Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân trong việc đánh dẹp man di phản loạn. (Minh Thực Lụcv. 14, tr. 2201 ; Thái Tông q. 223, tr. 3a)

Có thêm quân, thêm tướng ; Lý Bân buộc phải tỏ ra năng nổ hơn ; đánh tan quân nổi dậy của Lê Ðiệt tại phủ Trấn Man [Thái Bình, Nam Ðịnh].

Ngày 4 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [16/5/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Trương Quý đánh giặc Lê Điệt tại huyện Đình Hà, phủ Trấn Man (2), bắt sống nguỵ Long Hổ Đại Tướng quân Đinh Thung, riêng tên Điệt mang dư đảng trốn. Bân tự xuất binh đánh bắt, do đó nguỵ Long Hổ Tướng quân Phan Dương, Phạm Canh đều hàng. Quân của Bân truy kích đến cùng, bắt sống Điệt, vợ y, cùng tướng giặc Nguyễn Thừ, Đỗ Đức Lăng, Nguyễn Như Lôi, giết trên 600 người, cùm giải bọn Điệt về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2205; Thái Tông q. 224, tr. 1a)

Lại bắt được thủ lãnh cuộc nổi dậy tại Ðông Triều là Sư ông chùa Ðồ Sơn, La Bình vương Phạm Ngọc :

Ngày 20 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân bắt cựu thủ lãnh giặc nguỵ La Bình vương Phạm Ngọc. Trước đây Ngọc thua bỏ chạy, lại trở về châu Đông Triều tụ tập đám đông cướp phá ; cuối cùng bị bắt, cùm giải về kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, t 2206; Thái Tông q. 224, tr. 1b)

Tuy nhiên qua sự theo dõi tình hình một cách chặt chẽ của vua Thái Tông, thì việc làm của Lý Bân vẫn chưa đạt được yêu cầu ; vì chưa dẹp được những cuộc nổi dậy lớn của Lê Lợi, Phan Liêu, Xa Tam, Nông Văn Lịch :

Ngày 10 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [20/6/1420]

Sắc dụ quan Tổng binh Phong thành hầu Lý Bân rằng bọn phản loạn Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nông Văn Lịch đến nay vẫn chưa bắt được, không biết việc binh đến khi nào mới hết, dân đến lúc nào mới được yên ; nên ngày đêm hết lòng trù hoạch phương lược, sớm diệt bọn giặc này, để khỏi phụ sự uỷ nhiệm của Trẫm. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2211 ; Thái Tông q. 225, tr. 1a)

Lý Bân sai Ðô Chỉ huy Chu Quảng làm cuộc càn quét lớn bắt được các nhóm nổi dậy khác như Khai thánh vương Nguyễn Ða, Chiêu tín hầu Ðàm Dữ Bang, Tư đồ Ngô Gia, Thái sư Vi Ngũ :

Ngày 15 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [25/6/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Chu Quảng đánh bắt được bọn nguỵ Khai Thánh vương Nguyễn Đa, nguỵ Chiêu Tín hầu Bình chương Quân quốc trọng sự Đàm Dữ Bang, nguỵ Nhập Nội Kiểm hiệu Bình chương Tư đồ Nguyễn Gia, nguỵ Thái sư Trung liệt công Vi Ngũ ; lại bắt vợ con, cùng ấn nguỵ ; đem tất cả đến kinh sư. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2212; Thái Tông q. 225, tr. 1b)

Tại đây cần có sự đối chiếu giửa hai bộ sử Hoa, Việt : Minh Thực Lục chép lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi giết hai viên quan cao cấp của nhà Minh là Hữu Tham chính Giao Chỉ Hầu Bảo, và Tả Tham chính Phùng Quý. Riêng Toàn Thư (3) chép rằng :

Hầu Bảo giữ đồn Hoàng Giang, bị Nguyễn Thuật người Kiến Xương (4) đánh giết.

Vậy phải chăng Nguyễn Thuật là bộ hạ của Bình Định vương Lê Lợi, lại theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð. của Ðào Duy Anh thì lộ Hoàng Giang tức phủ Kiến Bình đời Minh, nay thuộc các tỉnh Nam Ðịnh, Ninh Bình. Nếu vậy thì tại thời điểm năm Vĩnh Lạc thứ 18 [1420] quân của Bình Định vương Lê Lợi đã có mặt tại hai tỉnh miền Bắc gần Thanh Hoá. Sau đây là văn bản trong Minh Thực Lục về vụ giết hai Tham chính Hầu Bảo và Phùng Quý :

Ngày 23 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [3/7/1420]

Giao chỉ Hữu Tham chính Hầu Bảo đốc suất dân binh chống giặc tử trận. Tả Tham chính Phùng Quý cũng đánh giặc tử trận.

Bảo người đất Tán Hoàng, Chân Định ; từ Sinh viên Quốc Tử bổ dụng làm Tri huyện 3 huyện Cổn Thành, Cống Du, Đôn Hưng ; rành việc hành chính. Lúc mới lập Giao Chỉ, chọn người cai trị phủ huyện, bèn thăng Bảo làm Tri phủ Giao Châu, rồi được thăng chức Hữu Tham chính Giao Chỉ. Bấy giờ giặc Lê Lợi cướp phá các quận, huyện tại vùng Hoàng Giang (1), Bảo đôn đốc dân binh xây đồn tại các nơi quan trọng để chống cự. Giặc đến đánh, bọn Bảo đánh không thắng, bị chết.

Quý người đất Vũ Lăng, Hồ Quảng ; trúng Tiến sĩ giữ chức Binh khoa Cấp sĩ. Lúc Anh quốc công Trương Phụ giữ chức Tổng binh chinh phạt Giao Chỉ, Quý đôn đốc lương thực, cần lao gắng sức. Được tâu công việc hoàn thành xứng chức, chiếu chỉ thăng chức Giao Chỉ Hữu Tham nghị ; rồi giữ chức Đề đốc các hầm mỏ vàng bạc, thăng chức Tả Tham chính. Biết cách chiêu tập dân lưu vong quy phụ, có một đội thổ binh hơn 2000 người, đều dõng cảm chịu chiến đấu ; mỗi lần ra quân đánh nhau đều lập công. Sau bị Trung quan Mã kỳ ghen tỵ, đoạt hết thổ binh ; đến lúc Lê Lợi làm phản quân mạnh, Quý chỉ có vài trăm lính đến đánh. Binh ít gặp quân giặc đông, Quý ra sức đánh rồi tử trận. Bảo lo chính trị thanh liêm khoan thứ, Quý có tài ; tử trận mọi người đều tiếc. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2213; Thái Tông q. 225, tr. 2a)

Tiếp đến cũng cần nêu thêm điểm dị đồng giữa Toàn Thư và Minh Thực Lục về việc Bình Định vương Lê Lợi giao tranh với quân Minh trong tháng 10 Âm lịch, tại vùng biên giới Việt Lào. Cả hai nguồn đều xác nhận có Phương Chính chỉ huy đạo quân Minh, tuy nhiên Toàn Thư khẳng định rằng Bình Định vương thắng, Minh thực Lục chép quân Minh thắng. Sau đây là sử liệu trong Toàn Thư (5) : 

Mùa đông tháng 10, vua nghe tin quân Minh sắp đến, đặt mai phục ở bến Bổng (6) chờ giặc, chém giết quân giặc nhiều vô kể, bắt được hơn 100 con ngựa. Vua cho nghỉ chân tại Mường Nanh, rồi lại dời quân đến Mường Thôi. Tên Ðồng tri Quỳ Châu là Cầm Lạn dẫn bọn Lý Bân, Phuơng Chính đem hơn 10 vạn quân theo đường Quỳ Châu đến thẳng Mường Thôi (7). Vua phục kích chúng ở Thi Lang. Bân và Chính chỉ chạy thoát được thân mình.

Tháng 11, vua tiến quân đóng ở sách Ba Lẫm thuộc huyện Lỗi Giang, khiêu khích cho giặc ra đánh. Tướng giặc là bọn Ðô ty Tạ Phượng, Hoàng Thành bỏ đồn Nga Lạc về giữ trại Quan Du (8) để phòng bị cho thành Tây Ðô, cố giữ không ra đánh. Vua ngày đêm dùng nhiều cách tiến công uy hiếp để giặc mỏi mệt, rối loạn. Lại sai Lê Sát, Lê Hào chia nhau đến đánh, cả phá bọn giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp, thu được rất nhiều chiến cụ, từ đó thế giặc ngày một suy. Vua bèn chiêu tập nhân dân các xứ. Các huyện bên cạnh đều sôi nổi hưởng ứng, cùng nhau tiến đánh và uy hiếp các đồn giặc.

Riêng Minh Thực Lục chép như sau :

Ngày 25 tháng 10 năm Vĩnh Lạc thứ 18 [30/11/1420]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân sai Hậu vệ Giao Châu Chỉ huy sứ Phương Chính truy kích Lê Lợi, đánh bại giặc tại sông Mường Tâm, Lão Qua ; Lợi bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2231 ; Thái Tông q. 230, tr. 2a)

Chú thích

1. Huyện Đa Cẩm : thời Minh cai trị thuộc châu Thượng Hồng, phủ Lạng Giang. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. nay thuộc huyện Cẩm Giàng, phía tây tỉnh Hải Dương.

2. Phủ Trấn Man tức lộ Long Hưng đời Trần, theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. gồm một phần đất của tỉnh Thái Bình và Nam Định ngày nay.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2 trang 244.

4. Kiến Xương : là vùng đất các huyện Vũ Thư, Kiến Xương tỉnh Thái Bình ngày nay.

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 244-245.

6. Bến Bổng : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ nằm trên thượng lưu sông Chu.

7. Mường Thôi : theo chú thích Toàn Thư, có lẽ là Man Xôi, phía tây bắc Thanh Hoá, giáp Lào.

8. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Năm Tân Sửu [1421]

Các cuộc hành quân tại Thanh Hoá năm trước không dẹp được Bình định vương Lê Lợi, Lý Bân sai Ðô chỉ huy Sư Hữu truy kích Phan Liêu tại Nghệ An ; tuy có thắng lợi, nhưng vẫn chưa bắt được Liêu :

Ngày 6 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/2/1421]

Tháng này quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô chỉ huy Sư Hữu truy kích bọn giặc Phan Liêu, Cầm Trách. Khi đến Ngọc Ma(1) thì Liêu đến Lão Qua xin viện binh ; riêng Trách dùng voi xung kích đánh trả tại rừng Nông Ba. Bọn Chỉ huy Trương Minh, Thiên Hộ Trương Bản xông vào trận giặc bắn lính cữi voi, lại dùng hoả khí bắn vào khiến voi phải chạy lùi ; giặc tan rã. Chém hơn 100 tên, bắt sống hơn 30 tên. Em Trách là Kết mang 200 quân dưới quyền đầu hàng. (Minh Thực Lục v 14, tr. 2248-2249; Thái Tông q. 233, tr. 1b-2a)

Trước tình hình chiến tranh kéo dài, quân lính đông, lương thực tốn kém ; Lý Bân đề ra chính sách đồn điền, sử dụng phần nhiều lính bản xứ làm công việc này. Lời tâu được vua nhà Minh chấp thuận :

Ngày 29 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [28/6/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân tâu rằng đất nội phụ Giao chỉ xa xôi, không dễ dàng vận chuyển lương thực ; xin cho các ty, vệ, sở chia lính lập đồn điền để cung cấp. Hoạch định một phần căn cứ vào đất đai hiểm hay dễ, tình thế gấp hay hoãn để dùng quân đồn điền hoặc chinh điều nhiều hay ít. Quân lính người bản xứ tuy được liệt vào sổ binh, nhưng lúc đánh nhau còn lưỡng lự hai lòng, thường không liều chết ; nay bàn định tỷ số đồn điền phần nhiều là lính bản xứ, quan quân ít.

Trong 7 vệ gồm Giao Châu tả, hữu, trung, tiền, cùng Trấn Di, Xương Giang, Thanh Hoá ; hoạch định quan quân 1 phần đồn điền, 9 phần chinh thủ ; quân lính người bản xứ 7 phần đồn điền, 3 phần chinh điều. Hậu vệ Giao Châu, vệ Tam Giang, Thiên Hộ-sở Thị Cầu ; quan quân 2 phần đồn điền, 8 phần chinh thủ ; lính bản xứ 8 phần đồn điền, 2 phần chinh điều. Mỗi người làm đồn điền hàng năm trưng thu 35 thạch lúa.

Ba vệ Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá quan quân đồn điền 3 phần, 7 phần chinh thủ ; lính bản xứ 6 phần đồn điền, 4 phần bị chinh điều. 3 Thiên Hộ sở tại Diễn Châu, Nam Tĩnh, Thanh An ; tất cả quan quân không phụ trách đồn điền, quân bản xứ 3 phần đồn điền, 7 phần chinh điều. Quân đồn điền hằng năm trưng thu 18 thạch lúa mỗi người. Lời tâu được chấp nhận. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2275-2276; Thái Tông q. 237, tr. 2a-2b)

Sử dụng chiến thuật du kích “ tị nhuệ thừa tệ ” [tránh quân tinh nhuệ, thừa cơ đánh quân yếu] ; gặp lúc giặc đông mạnh, Bình Định vương Lê Lợi thường cho quân ẩn náu tại biên giới Ai Lao. Nhắm phá vỡ kế sách này, nhà Minh cưỡng bức sứ giả Ai Lao sang Bắc Kinh để gây sức ép :

Ngày 11 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [7/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong Thành hầu Lý Bân tâu :

“ Phản tặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua, ra lệnh cho quân truy bắt. Nhưng Lão Qua sai Đầu mục Lãm Kỳ Tức Cốc xin quan quân đừng vào biên cảnh, sẽ cho quân lính đi lục soát, nếu có Lê Lợi sẽ đem đến cửa quân. Từ đó đến nay đã lâu, không thấy tung tích Lê Lợi.”

Thiên tử xem tấu, nghi Lão Qua giấu giặc nên sắc dụ Bân đưa bọn Lãm Kỳ Tức Cốc đến Bắc Kinh để cật vấn. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2289-2290; q 241, tr. 1a-1b)

Ðó là lý do tại sao Ai Lao phản bội, mang quân tập kích Bình Định vương Lê Lợi, sự việc được Toàn Thư (2) chép như sau :

Mùa đông tháng 11, ngày 20, Tham tướng nhà Minh là Trần Trí đem quân các vệ Giao Châu cùng nguỵ binh, gồm hơn 10 vạn tên đánh sát đến ải Kinh Lộng (3), sách Ba Lẫm. Vua họp các tướng bàn rằng :

“ Quân giặc nhiều, quân ta ít, nhưng quân giặc mệt, quân ta nhàn. Binh pháp có nói được hay thua là ở tướng chứ không phải ở quân nhiều hay ít, nay quân giặc tuy nhiều, nhưng ta đem quân nhàn đợi đánh quân mệt mỏi, chắc chắn sẽ đánh bại chúng.”

Ðến đêm, vua chia quân đánh úp doanh trại giặc. Quân ta đánh trống reo hò xông tới, phá được 4 doanh trại giặc, chém được hơn ngàn thủ cấp. Sau Trí khinh vua ít quân, lại phá núi mở đường để tiến đánh. Vua ngầm phục kích tại đèo Ống (4) để đợi giặc. Ðến trưa, Trí quả nhiên đem quân đi theo đường núi đến. Quân phục hai bên xông ra, đánh bại giặc. Quân Trí phải rút.

Nhưng đúng lúc ấy, Ai Lao đem 3 vạn quân và 100 thớt voi thình lình tới doanh trại của vua phao tin là cùng hợp sức với vua để đánh giặc. Vua tin lời họ, không phòng bị. Đến nửa đêm, bị họ đánh úp. Vua phải đích thân đốc chiến từ giờ Tỵ đến giờ Mão, đánh tan bọn Ai Lao, chém hơn vạn thủ cấp, bắt được 4 con voi, thừa thắng truy kích liền 4 ngày đêm, đuổi đến tận sào huyệt của chúng rồi về.

Tháng 12 vua tiến quân ra đóng ở sách Thuỷ.

Tù trưởng Ai Lao là Mãn Sát đã cùng quẫn, muốn vua hoãn đánh để đợi viện binh, mới giả vờ xin hoà. Vua biết đó là mưu kế xảo quyệt, không cho. Các tướng cố xin cho hoà, nói là quân lính khó nhọc đã lâu, nên cho nghỉ ngơi một chút. Chỉ có Bình Chương Lê Thạch cho là không thể cho giặc giải hoà, liền tự mình hăng hái xông lên trước, chẳng may trúng phải chông ngầm mà chết.

Một điều thú vị xảy ra, lúc này chiếu thư vua nhà Minh thường đòi hỏi bắt cho được Lê Ngã tức Dương Cung tự xưng là Thiên thượng Hoàng đế, nổi dậy tại vùng An Bang [Quảng Ninh]. Ðể cho qua sự đòi hỏi, bọn Bân dối trá bắt một người tên là Phạm Luận, buộc phải nhận là Dương Cung, rồi tống giải về Tàu. Tri huyện Dặc Khiêm biết được dâng thư tố cáo :

Tổng binh Lý Bân và Nội quan Lý Lượng của nhà Minh bắt Phạm Luận là Sinh viên huyện Giáp Sơn, buộc Luận nhận là Dương Cung để cho qua chiếu lệnh lung bắt, bắt cả gia thuộc Luận là bọn Phạm Xá giải về Yên Kinh. Tri huyện Dặc Khiêm nhận thực không phải tên Cung. Bân không nghe, Khiêm lấy bao vàng dâng đại cáo tâu thẳng về kinh. Bân sai người chận đường bắt về. Hoàng Phúc khuyên Khiêm rằng :

‒ Mọi người đều cho là đúng, chỉ riêng ngươi bảo không phải là làm sao ?

Khiêm nói :

‒ Ai ra ngoài mà chẳng qua cửa ngõ (5).

Bèn cho giải cả Khiêm và Luận về Yên Kinh, giao xuống cho pháp ty xét hỏi (6).

Cuối cùng có lẽ để giữ uy tín cho triều đình, mọi việc đều ém nhẹm, Minh Thực Lục chép đã bắt được Dương Cung :

Ngày 19 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 19 [15/10/1421]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Phong thành hầu Lý Bân sai Đô Chỉ huy Vương Trung bắt được đầu đảng giặc Dương Cung. Trước đây Cung tiếm xưng Vương, tụ tập đám đông làm loạn, quan quân truy đánh, Cung chạy trốn không bắt được. Đến nay bắt người cậu là Đỗ Cô, sai chỉ đường truy tới huyện Giáp Sơn(7), phủ Tân An thì bắt được ; bèn cùm giải đến Bắc Kinh. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2290; Thái Tông q. 241, tr. 1b)

Chú thích

1. Châu Ngọc Ma : thời Lê thuộc Nghệ An, thời Nguyễn đổi làm phủ Trấn Ðịnh gồm các huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh.

2. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247.

3. Kinh Lộng : tức ải Cổ Lộng, thuộc huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá.

4. Ðèo Ống : ở xã Thiết Ống, trên tả ngạn sông Mã.

5. Ý nói ai cũng hùa theo sự gian dối của Lý Bân.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 246-247

7. Theo Đ.N.V.N.Q.C.Đ. Giáp Sơn tức huyện Kinh Môn thuộc tỉnh Hải Dương hiện nay.

Năm Nhâm Dần [1422]

Ðầu năm Nhâm Dần [1422] Phong thành hầu Lý Bân mất, người phụ tá là Vinh Dương Bá Trần Trí lên thay :

Ngày 14 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 20 [5/2/1422]

Phong thành hầu Lý Bân mất. Bân người châu Phượng Dương, cha là Tín lập quân công, quan đến Chỉ huy Thiêm sự vệ Tế Châu. Khi Tín già, Bân thay chức.

Bân là người có trí lược, khi Thiên tử bình nội nạn nhiều lần lập công, được thăng đến Hữu Quân Ðô đốc Ðồng tri Phong thành hầu. Lúc đầu trấn thủ Giang Tây, chiến dịch Giao Chỉ làm Tả Tham tướng, Khi Giao Chỉ bình, trở về nước đánh dẹp giặc Nuỵ, giữ Cam Túc có công ; sau đó trấn thủ Giao Chỉ, lo đánh dẹp bọn giặc làm loạn. Nay bị tật mất, được ban tế ; truy phong Mậu quốc công thuỵ Cương Nghị, cấp phương tiện đưa linh cữu về tống táng.(Minh Thực Lục v. 14, tr. 2303; Thái Tông q. 245, tr. 1a)

Trần Trí theo sách lược đã thực hiện 2 năm trước, phối hợp với Ai Lao làm một một cuộc hành quân lớn tại vùng Quan Du (1), sách Khôi (2), thuộc các huyện Quan Hoá, Thạch Thành ngày nay. Quân của Bình Định vương Lê Lợi bị thiệt hại nặng, phải rút lui về núi Chí Linh (3) :

Mùa đông, tháng 12, vua tiến quân đóng ở Quan Da [Du?]. Ai Lao lại ước hẹn với quân Minh đánh vào trước mặt và sau lưng, quân ta nhiều người chết và bị thương. Vua bèn bí mật lui về sách Khôi. Mới được 7 ngày, giặc Minh lại đem đại binh đến vây. Vua bảo các tướng sĩ :

‒ Giặc vây ta bốn mặt, có muốn chạy cũng không có lối nào. Ðây chính là tử địa, mà binh pháp nói đánh nhanh thì sống, không đánh nhanh thì chết.

Vua nói xong chảy nước mắt. Các tướng sĩ đều xúc động, tranh nhau liều chết quyết chiến.

Bọn Lê Linh, Lê Vấn, Lê Hào, Lê Triện xông lên tước phá trận, chém được Tham tướng nhà Minh Là Phùng Quý (4) và hơn nghìn thủ cấp giặc, bắt được trăm con ngựa. Mã Kỳ và Trần Trí chỉ thoát được thân mình chạy về Ðông Quan, quân Ai Lao cũng bỏ trốn.

Vua đem quân về đóng ở núi Chí Linh. Quân lính hết lương, hơn hai tháng chỉ ăn rau củ và măng tre mà thôi. Vua giết 4 con voi và cả ngựa của mình cưỡi để nuôi quân sĩ ; song thỉnh thoảng vẫn có kẻ bỏ trốn. Vua bèn cấm giữ nghiêm ngặt, bắt được kẻ nào bỏ trốn thì chém, để rao cho mọi người biết. Quân lính lại nghiêm túc như trước. (5)

Phối hợp quân hai nước, nhắm bắt cho được Bình Định vương Lê Lợi nhưng không thành công, vua Thái Tông nhà Minh quở trách Vinh dương bá Trần Trí nặng nề :

Ngày 8 tháng 12 năm Vĩnh lạc thứ 20 [21/12/1422]

Bọn giặc Lê Lợi làm loạn tại Giao Chỉ đã lâu, nhưng chưa bắt được. Giáng sắc trách nặng nề bọn Vinh dương bá Trần Trí. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2359; Thái Tông q. 254a, tr. 1a)

Lúc này quân ta đã mệt mỏi ; nên thể theo lời khuyên của các tướng, Bình Định vương tạm thời hoà với quân Minh :

Bấy giờ, do trải nhiều phen hoạn nạn, quân lính đã mỏi mệt, muốn được nghỉ ngơi, đều khuyên vua giảng hòa với giặc. Vua bất đắc dĩ phải vờ hoà hiếu với bọn tướng giặc Sơn Thọ, Mã Kỳ, Trần Trí, để yên lòng quân. Sai bầy tôi thân thích là bọn Lê Vận, Lê Trăn đi giảng hoà.(6)

Chú thích

1. Quan Du : sau đổi là châu Quan Hoá, nay thuộc huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

2. Sách Khôi : tức Khôi huyện, thuộc trấn Thiên Quan, ở giữa hai huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình và huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hoá.

3. Chí Linh : tức núi Pù Rinh, thuộc xã Giao An, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.

4. Theo Minh Thực Lục, xin xem phần trên, Phùng Quý chết vào năm Canh Tý [1420]

5. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 247-248.

6. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.

Năm Quý Mão [1423]

Trước khi tạm thời giảng hoà, lại có cuộc giao tranh tại vùng giáp giới Thanh Hoá, Ninh Bình ngày nay :

Ngày 21 tháng giêng năm Vĩnh Lạc thứ 21 [3/3/1423]

Tham tướng Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí đánh phản tặc Lê Lợi tại huyện Đông Lai, châu Ninh Hoá (1). Lợi thua bỏ trốn. (Minh Thực Lục v. 14 tr. 2366; Thái Tông q. 255, tr. 1b)

Sau đó vào tháng 4, Bình Ðịnh Vương cho rút quân về Lam Sơn (2). Qua giai đoạn đầu cuộc hoà hoãn, quan lại nhà Minh thường mang đồ vật đến cho, để mua chuộc ; nhưng sau đó thấy Bình Định vương bề ngoài thân thiện, nhưng bề trong có mưu kế đánh úp ; bèn bắt giữ sứ giả và tuyệt giao :

Mùa hạ, tháng 4, ngày 14, vua lại đem quân về Lam Sơn.

Bọn Tham tướng Trần Trí, Nội quan Sơn Thọ nhà Minh đưa biếu vua nhiều trâu ngựa, cá muối cùng thóc giống và nông cụ để dụ dỗ. Vua cũng sai bọn[Lê] Trăn đưa tặng vàng bạc để đáp lễ, nhưng vẫn bí mật phòng bị. Bọn Trí biết ý của vua bề ngài giả cách thân thiện, nhưng bên trong thì ngầm mưu đánh úp. Liền bắt giữ bọn Trăn không cho về. Vua nổi giận cắt đứt giảng hoà. Các tướng sĩ cũng sôi sục căm thù, đều xin liều chết quyết chiến (3)

Chú thích

1. Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140, cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

2. Lam Sơn : nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 248.

Năm Giáp Thìn [1424]

Trong giai đoạn này, ảnh hưởng của Bình Định vương Lê Lợi toả rộng thu hút lòng người, nên các cuộc nổi dậy khác hầu như vắng bóng ; tuy vậy tại tỉnh Bắc Giang vẫn còn nhóm Ðinh sĩ Nghiêm nổi lên, rồi bị dập tắt :

Ngày 1 tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [1/3/1424]

Giặc Giao Chỉ Ðinh Sĩ Nghiêm tụ tập đám đông cướp phá huyện Lục Na (1). Tham tướng Vinh Dương bá Trần Trí sai hữu vệ Giao Châu Chỉ huy Thiêm sự Trần Lân mang binh đánh bắt. (Minh Thực Lục v. 14, tr. 2429; Thái Tông q. 268, tr. 1a)

Riêng các cuộc giao tranh giửa Bình Định vương Lê Lợi và quân Minh lại bộc phát. Lúc này vua Thái Tông nhà Minh mới mất, Vinh xương bá Trần Trí báo động vua con là Nhân Tông như sau :

Ngày 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Giao Chỉ Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí tâu rằng :

“ Giặc Lê Lợi chạy trốn sang Lão Qua ; bị Lão Qua đuổi bèn quay về huyện Côi, châu Ninh Hoá (2). Quan quân tiến đánh, viên Đầu mục nguỵ là bọn Phạm Ngưỡng đem trai, gái 1600 người ra hàng. Lê Lợi tuy nói rằng sẽ đưa hơn 480 nam nữ ra hàng, nhưng rồi dừng lại tại huyện Nga Lạc, phủ Thanh Hoá ; lại nghe rằng vẫn không ngừng tiếp tục tạo khí giới ; dối trá như vậy, đáng mang quân đánh dẹp.”

Thiên tử sai mang sắc dụ bọn Trí rằng :

“ Ngươi hãy ước tính mưu kế giặc, trù hoạch đúng nên tiến hay chưa ? Nhưng ta nghe rằng nguyên nhân gây ra bọn giặc này, do quan ty nhũng nhiễu áp bức, bọn chúng cùng quẫn bất đắc dĩ gây ra như vậy. Nay dùng phép đại xá để thiên hạ cùng đổi mới, đối với Giao Chỉ lại càng tăng thêm sự khoan tuất. Nếu trong muôn một, lương tâm bọn giặc này chưa mất hết, chúng có thể suy nghĩ sửa đổi. Nay nếu quan quân chưa tiến, thì mang thư đến chiêu dụ, sẽ không hỏi đến lỗi xưa, lệnh cho về đất cũ an cư lạc nghiệp. Nếu bọn này chấp mê không chịu ra, vẫn tiếp tục hành động như trước, thì hãy tâu đầy đủ sự thực, để có cách khu xử khác. Nếu quan quân đã tiến, thế không thể dừng lại, phải hết sức cẩn thận. Giặc âm mưu quỷ quyệt, dựa vào chổ hiểm đặt phục binh, hãy sử dụng thám thính đằng xa để không lầm vào kế giặc. Lúc hành quân, phải ước thúc quân lính, đừng nhiễu hại nhân dân.” (Minh Thực lục v. 15,tr. 0040 ; Nhân Tông q.2 thượng, tr. 2b)

Trong thời gian tạm hoà quân ta có dịp chuẩn bị, vào tháng 9 thình lình đánh úp đồn Ða Căng (3), quân Minh bị thiệt hại nặng :

Mùa thu, tháng 9, ngày 20, vua chỉ huy quân và voi đánh úp đồn Ða Căng, phá được đồn này. Tham chính nhà Minh là Lương Nhữ Hốt chỉ chạy thoát được thân mình, ta thu hết khí giới, đốt phá đồn giặc. (4)

Tiếp tục, quân ta tiến thẳng sang Nghệ An, gặp quân Minh tại Quỳ Châu, lại chiến thắng trong một cuộc phục kích lớn :

Bình Định vương, sau khi đã hạ được đồn Đa Căng, cho ghi vào sổ lấy những trai tráng, rồi sắp xếp hàng ngũ bộ thuộc một cách nghiêm chỉnh, thẳng rảo đến Nghệ An. Dọc đường, khi qua Bồ Liệp (5) thuộc Quỳ châu, gặp bọn chỉ huy Sư Hựu, tham tướng Trần Trí và Phương Chính nhà Minh đón đường chẹn cả mặt trước lẫn mặt sau. Chiều đến, Vương đặt quân mai phục ở khoảng rừng rú, nhử địch đến, đánh bại được giặc : chém Ðô ty Minh, Trần Trung, và hơn hai nghìn thủ cấp quân địch, tước được hơn một trăm ngựa. Quân Minh phải lùi chạy. (6)

Sử nhà Minh cũng xác nhận Ðô Chỉ huy Trần Trung tử trận, tuy nhiên ghi sự việc xẩy ra tại Thanh Hoá và trước trận Ða Căng 5 ngày (đúng ra trận Bồ Liệp phải xẩy ra sau trận Ða Căng, nhưng dưới đây Minh thực Lục ghi vào ngày 15 tháng 9 Âm Lịch, còn trận Ða Căng sử nước ta ghi vào ngày 20 tháng 9) . Ðiều này có thể hiểu được, vì vị trí Bồ Liệp thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu ngày nay, nằm sát biên giới Thanh Hoá. Còn nhật kỳ thì theo sự khảo cứu của Hoàng Xuân Hãn (7), ngày ghi trong Thề Lũng Nhai của Lê Lợi cũng không đúng với lịch Ðại Thống nhà Minh, tác giả cho rằng nghĩa binh lúc bấy giờ sống trong núi rừng không có lịch hiện hành ; như vậy ngày tháng sai lầm mà sử ta ghi về trận Ða Căng cũng rơi vào tình trạng tương tự. Sau đây Minh Thực Lục ghi về cái chết của Trần Trung như sau :

Ngày 15 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [7/10/1424]

Ngày hôm nay Đô chỉ huy Đồng tri Trần Trung tại Giao Chỉ, đánh giặc bị thiệt mạng.

Trung người đất Lâm Hoài, xuất thân từ Phó Thiên hộ vệ Khoan Hà ; thời Tĩnh Nạn có công được thăng chức Chỉ huy Đồng tri vệ Tuy Đức. Rồi có tội bị đày làm lính tại Quảng Tây, bèn theo quan Tổng binh đánh Giao Chỉ. Tại chợ Cá Chiêu, khiêng thuyền nhỏ vào sông, đánh úp thuỷ trại của Lê Quý Ly, lại theo Hoành Hải Tướng quân đánh thành Đa Bang, liều thân leo lên thành, nên được phục chức Chỉ huy Đồng tri Tả vệ Giao Châu. Trung cùng quan quân lập thành tích trong các trận tại ải Hàm Tử, các cửa biển, những trận thuỷ chiến tại An Mô, Hải Dương, chém và bắt được rất nhiều. Lại theo đại quân lập công đánh bại giặc tại Kỳ La, cửa biển Hà Hoa, núi Côn Truyền ; nơi mà bọn cha con giặc họ Lê, Trần Quý Khoách, Nguyễn Suý bị bắt, nên được thăng chức Chỉ huy Đồng tri Giao Chỉ. Tiếp tục đánh tại châu Ðông Hồ bắt được Đai tướng quân nguỵ Ngô Trung. Đến nay bọn giặc Lê Lợi đánh phá Thanh Hoá, Trung giao chiến bị trúng đạn tử trận. Được tin triều đình sai bộ Lễ chiếu theo điển lệ cấp tuất rất hậu. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 66-67; Nhân Tông q. 2 hạ, tr. 2b-3a)

Mấy ngày sau quân ta giao tranh với quân Minh tại trang Trịnh Sơn (8) thuộc châu Trà Lân, trong trận này viên Chỉ huy vệ Xương Giang chết :

Ngày mồng 1 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [23/9/1424]

Ngày hôm nay Đô Chỉ huy Sứ ty Đô đốc Đồng tri Phương Chính tại Giao Chỉ mang binh đánh giặc, giao tranh với Lê Lợi tại châu Trà Long, phủ Nghệ An ; viên Chỉ huy vệ Xương Giang Ngũ Vân chết. Vân người Định Viễn, Phượng Dương ; trước đây giữ chức Chỉ huy Đồng tri vệ Kinh Châu. Tòng chinh Giao Chỉ có công trong việc đánh phá Pha Luỹ, Ải Lưu, thành Đa Bang ; chiếm hai đô Đông, Tây [Đông Đô, Tây Đô]. Giao Chỉ bình ; điều đến Xương Giang, lập nhiều chiến công ; lại chiêu dụ kẻ đầu hàng được ân thưởng mấy lần. Đánh nhau với Lê Lợi, thâm nhập bị hãm trận chết. Nghe tin, sai bộ Lễ phúng điếu.(Minh Thực Lục, tr. 0040-0041 ; Nhân Tông q. 2 thượng, tr. 2b-3a)

Nhắm xoa dịu tình hình, vua Nhân Tông nghe lời Sơn Thọ cho mang sắc dụ Bình Định vương Lê Lợi :

Ngày 13 tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 22 [5/10/1424]

Sai trấn thủ Giao Chỉ Trung quan Sơn Thọ mang sắc dụ Đầu mục Giao Chỉ Lê Lợi. Sắc rằng :

“ Ngươi vốn là kẻ lương thiện, từ lâu có lòng thành quy phụ. Nhưng quan ty cai trị không đúng cách, sinh ra nghi sợ ; rồi ẩn trốn nơi núi rừng, không toại chí nguyện. Nay sau khi đại xá, bỏ hết sai lầm quá khứ, hàm chứa sự canh tân. Đặc cách sai người mang sắc dụ ban cho ngươi chức Tri phủ Thanh Hoá, cai trị dân một quận. Hãy đến nhận chức ngay, để đáp lại sự cứu xét đến lòng thành và bao dung đãi người của Trẫm.”

Sở dĩ có sắc dụ này, vì Thọ tâu trước mặt Thiên tử rằng Lê Lợi và y hợp ý nhau, nay đến dụ sẽ trở về. Thiên tử nói :

‒ Bọn giặc gian trá, ngươi không biết được ; nếu bị lừa, đây là dịp giúp cho thế giặc ngày một lớn, khó mà chế ngự.

Thọ khấu đầu tâu rằng :

‒ Nếu như thần dụ mà nó không quay về, thì tội thần đáng vạn lần chết.

Bèn giáng sắc này. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 0057-058 ; Nhân Tông q. 2 Trung, tr.5a-6b)

Tiếp đến bọn Vinh dương bá Trần Trí báo cáo tình hình chiến sự tại nước ta, nhưng vua Nhân Tông muốn chờ kết quả chuyến đi của Sơn Thọ rồi mới có quyết định mới :

Ngày 4 tháng 11 năm Vĩnh lạc thứ 22 [24/11/1424]

Tham tướng Bảo định hầu Mãnh Anh, Vinh dương bá Trần Trí tại Giao Chỉ tâu sự việc về Lê Lợi. Ban sắc báo rằng :

“ Đã ban sắc xá tội cho Lê Lợi, mệnh cho làm Tri phủ phủ Thanh Hoá, lệnh Nội quan Sơn Thọ đến nơi hiểu dụ. Ý ta muốn đợi Sơn Thọ đến đó, bọn ngươi xem tình hình tại chỗ như thế nào, cùng Sơn Thọ bàn bạc chu tất rồi tâu về.” (Minh Thực Lục v. 15, tr. 134 ; Nhân Tông q. 4 hạ, tr.3b)

Chú thích

1. Lục Na : nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

2. Ninh Hoá : theo Ð.N.V.N.Q.C.Ð., Sđd. trang 140. cho biết đời Minh châu Ninh Hoá gồm 3 huyện : Xích Thố, Xa Lai, và Khôi. Xích Thố khoảng huyện Gia Vĩễn, Ninh Bình ; Xa Lai (hoặc Ðông Lai) khoảng huyện Lạc Sơn, Hoà Bình ; huyện Khôi tức huyện Nho Quan, Ninh Bình ngày nay.

3. Ða Căng : theo Toàn Thư, có lẽ là Bất Canh, thuộc xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 250.

5. Bồ Liệp : tên núi cũng gọi là Bồ Ðằng, thuộc xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 362.

7. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 1, trang 936.

8. Trang Trịnh Sơn : là Kẻ Trịnh, nay thuộc xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông ; cách thành Trà Lân hơn 10 km.

Năm Ất Tỵ [1425]

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc viên Tri phủ châu Trà Lân (1) Cầm Bành đầu hàng ; về việc này sử Trung quốc chép khác sử nước ta, ghi rằng y đánh thua bị tử trận. Sử quan nhà Nguyễn nghiên cứu kỹ, viết Cẩn án như sau :

Lời cẩn án ‒ Theo Minh sử, khi Vương đánh phá châu Trà Long, thổ tri phủ là Cầm Bành bị chết. Sử cũ chép Cầm Bành đầu hàng. Nay xét Lam sơn thực lục chép Cầm Bành tự biết mưu chước đã cùng, quân cứu viện lại không có, nên Bành mở cửa đầu hàng. Thông sử của Lê Quý Đôn chép Bành thấy viện binh không đến, bèn đầu hàng. Bài Chí Linh sơn phú của Nguyễn Trãi cũng viết : “ Cầm Bành sụp lạy mà dâng đất ”. Như vậy, Minh sử chép như thế là không đúng sự thực. Nay xin cải chính. (2)

Nay xin dựa theo chánh sử hai nước, cố gắng tìm hiểu sự thực. Toàn Thư chép như sau :

Mùa đông, tháng 11 [Giáp Thìn 1424], vua sai người chiêu dụ Cầm Bành. Bành cự tuyệt không theo, mình hắn với 1000 quân dựng rào luỹ trên đỉnh núi để đón quân cứu viện. Vua đem quân tới bao vây.

Tháng 12, Sơn Thọ nhà Minh sai Nguyễn Sĩ đưa trả Lê Trăn để cầu hoà. (3)

Tuy không nói ra, nhưng người đọc sử hiểu rằng việc trả Lê Trăn là món quà ngoại giao, để Sơn Thọ trao sắc phong của vua Nhân Tông cử Lê Lợi làm Tri phủ Thanh Hoá, mà y đã nhận từ tay vua nhà Minh vào tháng 9. Tương kế tựu kế, Bình Định vương Lê Lợi nói thác rằng bị Cầm Bành ngăn đường nên không trở về Thanh Hoá nhậm chức được, xin nhờ can thiệp :

Bọn Phương Chính, Sơn Thọ đến Nghệ An, muốn cứu Cầm Bành nhưng không dám tiến quân, bèn sai người xin vua giải vây cho Cầm Bành.

Bấy giờ, Cầm Bành cố thủ, vây đã hơn một tháng mà chưa lấy được, lại nghe tin quân cứu viện tới. Vua gọi các tướng lên bảo rằng :

‒  Cầm Bành đang nguy khốn, bọn Chính đáng lẽ phải cấp tốc cứu viện, nay lại dùng dằng hẳn là có ý sợ. Chi bằng ta giả cách cho hoà để xem tình thế ra sao, tin đi tin lại mất hàng tuần hàng tháng, thì Cầm Bành lúc ấy chắc đã bị bắt rồi.

Vua bèn viết thư để trên bè cho thuận dòng tôi xuống. Trong thư vua nói thác là vẫn muốn theo lời thỉnh cầu của họ, trở về Thanh Hoá. Nhưng lại bị Cầm Bành chặn đường, nếu có thương thì xin gửi cho một người tạm đến hoà giải để thông đường về.

Bọn Chính nhận được thư, sai Trần Ðức Nhị chạy đến bảo Cầm Bành hoà giải, Cầm Bành biết là viện binh không đến, mở cửa thành ra hàng.(4)

Thực sự Cầm Bành chưa đầu hàng ngay ; thời gian dằng co kéo dài có đến 7, 8 tháng trời, là dịp tốt để nghĩa quân bồi dưỡng và củng cố thực lực. Sau mấy tháng, vua Nhân Tông nhà Minh hiểu ra điều đó, nên đã giáng sắc quở trách bọn Trần Trí như sau :

Ngày 19 tháng giêng năm Hồng Hy thứ nhất [7/2/1425]

Giáng sắc khiển trách nặng nề Tham tướng Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính tội đánh chậm dưỡng giặc ; lệnh sửa đổi sai lầm, tự phấn đấu. Lại mệnh cùm giải Đô chỉ huy Sư Hữu, Trương Hùng về kinh đô giam cấm ; thể theo lời Giám sát Ngự sử, hặc tội bọn này tham bạo làm sai luật rất nhiều. (Minh Thực Lục v. 15, tr. 221 ; Nhân Tông q. 6 hạ, tr.7a)

Tiếp theo, khi được tin Trà Lân vẫn tiếp tục bị vây, vào thời điểm này vua Tuyên Tông mới lên ngôi kế vị, ra lệnh cấp cứu :

Ngày 16 tháng 7 nhuần năm Hồng Hy thứ nhất [29/8/1425]

Tuần án, Giám sát, Ngự sử Giao Chỉ tâu đầu đảng giặc Lê Lợi tại phủ Thanh Hoá tụ dân làm loạn vây châu Trà Lung [Trà Lân]. Viên Thổ quan coi châu Tri phủ Cầm Bành chống giữ trong vòng 7 tháng, lương gần hết, quân gặp nguy khốn, xin mang binh cứu viện.

Thiên tử xem tờ tâu bùi ngùi sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí cùng ba ty (5) tại Giao Chỉ rằng :

“ Triều đình mệnh các ngươi trấn thủ Giao Chỉ là để yên ổn một phương ; nay được biết bọn đầu đảng Lê Lợi cướp phá châu huyện, ngăn cắt đường sá. Các ngươi mới đây tâu rằng đã chiêu dụ Lê Lợi xin đợi mùa thu mát đến Thanh Hoá nhậm chức. Nay đã mùa thu rồi, thực sự Lợi đã đến nhậm chức chưa ? Trẫm ước tính tên giặc này nguỵ trá, không có lòng quy thuận ; chỉ dùng lời lẽ hoãn binh để bọn chúng được thung dung tụ tập, tương lai tất gây hậu hoạn, các ngươi không suy nghĩ đến hay sao ? Về việc Thổ quan Tri phủ Cầm Bành tại châu Trà Lung bị Lợi đánh vây 7 tháng nay rồi, lương thảo sắp hết, quân chết đến một phần ba, Bành vẫn kiên thủ cự địch, Giao Chỉ có được người như vậy cũng không dễ kiếm ! Các ngươi từng chứng kiến lòng trung thành của con người này, sao không điều binh cứu viện ?

Khi sắc dụ đến nơi, như thấy Lê Lợi không có bụng quy thuận hãy tìm cánh đánh bắt. Gấp phát binh tiếp viện Cầm Bành, vỗ về hậu hĩ, để bồi dưỡng lòng kiên cường trung thuận. Các ngươi đều là đại thần của triều đình, cần đồng tâm hiệp lực làm tròn uỷ nhiệm, đừng lo việc ban thưởng phong tước không được công bằng ! ” (Minh Thực Lục v. 16, tr.148-149; Tuyên Tông q. 6, tr. 1b-2a)

Áp dụng chiến thuật “ điệu hổ ly sơn ”, nghĩa quân bao vây và tấn công Trà Lân trong thời gian dài ; quân Minh như cọp trong thành Nghệ An, buộc phải đi tiếp cứu, hoặc tìm cách chiếm lại sau khi thành mất. Nhìn trên bản đồ, con đường tiếp cứu của quân Minh ắt phải đi dọc theo sông Lam ; hoặc muốn tránh né thì đi ngược dòng sông Phố, theo ngả Hương Sơn, Hà Tĩnh ; rồi băng qua các huyện Thanh Chương, đến huyện Con Cuông tức Trà Lân. Lịch sử ghi nhận rằng quân Minh đã đi qua những chiến trường do vua Lê Lợi chọn lựa, chúng như con cọp ra khỏi rừng, nên bị thảm bại nhiều lần trên các tuyến đường này.

Sử nước ta, Toàn Thư [trang 252-253], chép về chiến thắng lớn tại Khả Lưu (6) và Bồ Ải (7) như sau :

…Vừa có tin báo quân Minh đã sắp đặt voi ngựa, thuyền bè, tiến quân cả hai đường thuỷ và bộ… Ðộ ba bốn hôm, quân Minh quả nhiên đến quán Lậu và cửa Khả Lưu, bày doanh trại ở hạ lưu. Vua ở thượng lưu, ban ngày dựng cờ đánh trống, ban đêm thì đốt lửa sáng trưng. Nhưng ngầm sai binh tượng vượt sông, phục sẵn ở chổ hiểm yếu. Trời gần sáng, giặc bèn đem quân đến đánh dinh vua. Vua giả vờ rút lui, dẫn giặc tói chỗ quân mai phục. Giặc không để ý, đem quân tiến vào sâu, quân mai phục 4 mặt nổi dậy, xông ra đánh phá. Quân giặc bị chém đầu và chết đuối tới hàng vạn tên.

Hôm sau dựa vào thế núi, đắp hào luỹ để ở không ra đánh nữa.

…Ngày hôm sau vua cho quân tinh nhuệ ra khiêu chiến. Giặc đem quân ra ngoài luỹ để đánh.Vua phục sẵn ở Bồ Ải, giữa nơi hiểm yếu. Giặc lại không ngờ tới, đem hết quân ra đánh. Vua bèn tung phục binh xông vào trận giặc… phá quân giặc, chém đầu giặc không kể xiết. Thuyền giặc trôi ngổn ngang, xác chết đuối nghẹn tắc khúc sông…

Để tránh thiên kiến, xin tham khảo thêm Minh Thực Lục. Trong một chiếu dụ trách phạt bọn Trần Trí, Phương Chính, Sơn Thọ về việc thất bại tai Trà Lân, vua Tuyên Đức nhà Minh đã có lời lẽ nghiêm khắc như sau :

Ngày 5 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [12/4/1426]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính đánh dẹp bọn giặc Lê Lợi ; tiến quân đến châu Trà Long, bị thua. Nguyên nhân Chính dõng, Trí khiếp nhược, vốn không hoà thuận với nhau ; Nội quan Sơn Thọ lại chủ trương chiêu dụ nên đóng binh một chỗ không cứu, đến nỗi bị bại. Thượng thư Trần Hiệp tâu cho biết ; Thiên tử nghiêm thiết trách Trí và Chính rằng :

“ Giặc Lê Lợi vốn chỉ là tên nhãi con, nếu sớm tận tâm đánh bắt, thì dễ như nhặt một cọng lá ; rồi các ngươi ngồi yên không lo tính, dưỡng giặc nên trở thành mối hoạn. Nay nghe tin mang binh tới ải Khả Lưu và châu Trà Lung [Lân], cả hai nơi đều nhục vì tổn thất. Do bọn ngươi ngày thường dựa vào ý riêng tranh hơn thua, không ai chịu nhường ; lúc đụng việc thì kẻ dõng, tiến quân một mình nhưng vô mưu ; người khiếp nhược thì sợ co lại không cứu ; như vậy thì làm sao thành công được ? Luận tội há có thể tha được ư ! Nay tạm khoan dung, các ngươi ngày đêm hãy đồng tâm hiệp lực, luyện tập sĩ tốt tinh nhuệ, lo diệt giặc này để chuộc lỗi trước.”….. (Minh Thực Lục q. 15, t. 0395-396)

Trong thời gian này Cầm Bành đầu hàng (sử nước ta không ghi rõ ngày tháng), nhưng sau đó mưu phản nên bị Bình Định Vương giết chết. Có lẽ mong tiếp tục thực hiện kế sách “điệu hổ ly sơn”, nên Bình Định vương không công khai việc Cầm Bành đầu hàng, do đó khi được tin y chết, nhà Minh cho rằng Bành đã chết trận. Thành quả chiến thắng nêu trên, khiến quân Minh co cụm lại trong các thành lớn như Nghệ An, Diễn Châu ; dân chúng nơi thôn quê được giải phóng, đều hân hoan ủng hộ nghĩa quân :

Vương kéo quân đến Đa Lôi thuộc huyện Thổ Du [huyện Thanh Chương, Nghệ An]. Trẻ già đua nhau đem rượu và trâu bò đến đón tiếp khao quân. Họ nói:  “ Không ngờ ngày nay lại được trông thấy oai nghi cố quốc ”. Cầm Quý, tri phủ Ngọc Ma, đem quân và voi đến quy thuận, được Vương phong làm thái uý. (8)

Ðược dân ủng hộ, nghĩa quân lớn mạnh mau như cậu bé Phù Ðổng, vào tháng 5 Ðinh Lễ đánh bại quân Minh tại Diễn Châu :

Vương sai Đinh Lễ đi tuần Diễn Châu. Khi kéo quân đến gần thành, Lễ đặt quân mai phục. Bấy giờ đô ty Minh, Trương Hùng đem ba trăm thuyền lương thực từ Đông Quan đến. Trong thành Diễn Châu kéo ra đón lương thực : gặp phục binh nổi dậy, chúng đều thua chạy. Đinh Lễ cướp được thuyền lương, rồi đuổi Hùng đến tận Tây Đô. (8)

Tháng 7, Bình Định vương sai Tư đồ Trần Hãn, và Thượng tướng Lê Nỗ đi tuần các xứ Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình ngày nay, đều đánh dẹp được cả : 

Vương liệu trước rằng Tân Bình, Thuận Hoá bị đứt liên lạc với Nghệ An và Đông Đô đã từ lâu, bèn dụ bảo các tướng : “ Người giỏi chiến trận thường bỏ chỗ kiên cố, đánh chỗ sơ hở, tránh chỗ vững chắc, đánh vào chỗ trống rỗng ; như thế thì chỉ dùng sức một phần mà thành công gấp bội ”. Vương bèn sai tư đồ Trần Hãn và thượng tướng Lê Nỗ đem hơn nghìn quân đi đánh giặc và vỗ về nhân dân. Khi đến Bố Chính, gặp tướng Minh, Nhâm [Nhậm] Năng, bọn Hãn giữ chỗ hiểm yếu, đặt quân phục, rồi tìm kế nhử địch. Tên Năng lùa hết quân tiến lên. Phục binh nổi dậy, đánh khép lại : quân Minh thua vỡ tan tành, bị chém và bị bắt rất nhiều. (9)

Thất bại trong việc đánh dẹp Bình Định vương Lê Lợi, vua Tuyên Tông cùng Vinh dương bá Trần Trí tìm cách chiêu dụ những đám nổi dậy còn lại, bằng cách hứa cấp cho chức tước, nông cụ, hứa miễn thuế 5 năm :

Ngày 29 tháng 8 năm Hồng Hy thứ nhất [10/10/1425]

Tham chính Giao Chỉ Vinh dương bá Trần Trí tâu rằng :

“ Bọn giặc làm phản Lộ Văn Luật, Phan Liêu, Trần Văn, Nguyễn Hạnh, Nguyễn Quang Liệt, Hồ Cương, Nguyễn Tử Dực, Nguyễn Nhữ Ngôn, Trần Giang, Trần T hanh, Trần Nguyên Trung, Hồ Tướng, cùng bọn quân dân đều nói xin sửa sai, nguyện đổi mới ; vậy xin ban sắc phủ dụ.”

Thiên tử nhân lời tâu, bảo các quan hầu cận rằng bọn Man Di làm phản rồi phục tòng, từ xưa đã có như vậy, không phải là điều quái lạ. Nếu dùng binh đến cùng không phải là thịnh đức của đế vương, chi bằng nhân sự trình bày kêu xin mà tha, để giúp cho quan quân bớt mệt mỏi. Bèn ban sắc cho bọn Luật như sau :

“ Các ngươi vốn là dân lương thiện, nhưng do quan ty cai trị không đúng cách, nên trốn vào núi rừng, tập hợp dân chúng chống lại mệnh triều đình. Tâm lòng vốn bất đắc dĩ, mà phải xa cách cha, mẹ, vợ, con, anh, em ; không được sống yên ổn ; bệnh tật sống chết không có người lo. Thời gian đã lâu, sự đau khổ thực đáng thương ! ”

“ Nay ta ngự trị tước vị lớn, coi sóc vạn phương, trong ngoài bốn biển đều là con đỏ, tội không kể lớn nhỏ đều xá trừ. Nay quan Tổng binh tâu bọn ngươi có lòng cải hối, thực đáng khen. Đặc cách sai người mang sắc đến dụ các ngươi rằng nếu như thành tâm chuyển biến sang điều thiện, thì hãy trở về đất cũ. Trường hợp trước kia làm quan, thì đến quan Tổng binh tự trình bày tên tuổi, để tâu lên, sẽ trao chức cũ nhiệm dụng. Nếu là dân thì được cấp hạt giống, nông cụ miễn thuế 5 năm. Sự sai lầm cũ giống như băng tuyết mùa đông, xuân đến sẽ tan đi, không còn tra vấn. Lời nói này của Trẫm cảm thông với trời cao, các ngươi chớ có hoài nghi, chần chừ. Nếu lỡ mất cơ hội này, hối cũng không kịp.”

Thiên tử còn ban sắc cho bọn Trí rằng :

“ Nếu chúng trở về, cần khéo vỗ về cai trị.” (Minh Thực Lục v. 16, tr. 220-222; Tuyên Tông quyển 8, tr. 9b-10b)

Chú Thích

1. Châu Trà Lân : hay Trà Long là đất huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An ngày nay.

2. Cương Mục, Sđd, trang 363.

3. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251.

4. Toàn Thư, Sđd, tập 2, trang 251-252.

5. Tam ty : tức 3 cơ quan đầu não trông coi Giao Chỉ gồm Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

6. Khả Lưu : là tên một cửa ải xưa, ở phía bắc sông Lam, thuộc xã Vinh Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.

7. Bồ Ải : là một địa điểm ở phía trên ải Khả Lưu không xa.

8. Cương Mục, Sđd, trang 364.

9. Cương Mục, Sđd, trang 364.

Năm Bính Ngọ [1426]

Theo lời tâu của Thượng thư Trần Hiệp, người thay thế Hoàng Phúc cai quản hai ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ lúc bấy giờ, thì việc chiêu dụ Bình Định vương Lê Lợi và ngay cả các nhóm nổi dậy khác như Phan Liêu, Lộ Văn Luật đều không thành ; vua Tuyên Tông đốc thúc bọn Trần Trí, Phương Chính tiến binh đánh dẹp :

Ngày 26 tháng 11 năm Hồng hy thứ nhất [4/1/1426]

Tổng cai quản ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng cầm đầu giặc Lê Lợi tuy xin hàng ; nhưng thực chất hai lòng, chiêu dụ tụ tập đảng nghich kháng cự quan binh, đánh vây châu Trà Lung [Lân], giết Tri châu Cầm Bành, ngầm liên kết với viên Thổ quan châu Ngọc Ma Cầm Quý, cùng Tù trưởng Lão Qua để gây ác. Thái giám Sơn Thọ ban sắc, xá tội cho Lợi, ban chức Tri phủ Thanh Hoá, Lợi xin đến mùa thu mát đến nhậm chức ; nay lại tâu vốn kết oán với Tham chính Lương Nhữ Hốt, nên xin bỏ chức Tri phủ để coi châu Trà Lung. Gần đây người Diễn Châu phần đông theo Lợi làm loạn ; Lợi lại sai bọn tay chân là Phan Liêu, Lộ Văn Luật đến châu Gia Hưng, Quảng Oai chiêu tập đồ đảng. Giặc một ngày một lan tràn, xin cho viện binh sớm diệt giặc này để yên nơi biên thuỳ.

Thiên tử xem tờ tâu sắc dụ Vinh xương bá Trần Trí, An bình bá Lý An, Đô đốc Phương Chính, cùng 3 ty Giao Chỉ rằng :

“ Phản tặc Lê Lợi manh tâm gây hoạ không phải chỉ mới một sớm, nếu lúc khởi đầu bắt nó dễ như nhặt một gọng cỏ. Nhưng nghe lời người ngu, chỉ lo việc chiêu phủ kéo dài đến nay đã 8 năm trời. Cuối cùng chúng không tuân mệnh, dưỡng thành cái thế độc dữ ; khiến trung thần và dân lương thiện bị hại, mối hoạ triền miên. Khi sắc tới bọn Trần Trí, Phương Chính chuyên trách tiến binh, lo hoà hợp để thành công, không hứa trì hoãn để lỡ việc. Nếu mùa xuân tới không có tin chiến thắng báo về, sẽ bị qui tội. ” (Minh Thực Lục v. 16, tr.313-314 ; Tuyên Tông q. 11, tr. 10a-10b)

Tuy sắc dụ đã gửi đi, nhưng vua Tuyên Tông cũng không tin mình đã quyết định đúng, nhà vua lưỡng lự mơ tưởng đến chính sách hoà bình từng thực hiện dưới thời Hồng Vũ đầu triều Minh :

Ngày 27 tháng 11 năm Hồng Hy thứ nhất [5/1/1426]

Thiên tử ngự tại điện Văn Hoa, triệu Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh đến hỏi rằng :

‒  Hôm qua ra sắc dụ cho bọn Vinh Xương bá [ Trần Trí ], sắc đã gửi đi chưa ?

Tâu đáp :

‒  Đã gửi rồi.

Thiên tử nói :

‒  Trẫm có một điều để trong lòng đã lâu, nay nói riêng với 2 khanh, chưa nên khinh suất tiết lộ ra ngoài. Trước kia tại Nam Kinh, nhân giải bọn giặc Giao Chỉ đến, Hoàng Khảo [vua cha] nói với ta rằng :

“ Khi Thái Tổ Hoàng đế mới bình định thiên hạ, An Nam là nước đầu tiên trong các nước bốn phương đến quy thuận. Sau này họ Lê cướp ngôi họ Trần, mang quân đánh dẹp xong, tìm con cháu nhà Trần nhưng không gặp, nên đặt quận huyện cai trị. Nay nếu còn con cháu nhà Trần, tuyển chọn đưa lên ngôi, cũng hợp với bụng của Thái Tổ, mà một phương lại được yên tĩnh.”

Trẫm thưa rằng :

“ Triều đình làm được như vậy, thật là thịnh nghiệp cho Đế Vương.”

Hoàng khảo cười và nói :

“ Chuyện này chưa nên khinh suất tiết lộ.”

Trẫm giữ trong lòng, không quên. Thường suy nghĩ rằng nếu quả họ Trần còn con cháu, tuyển lấy một người lập lên làm phiên thần, giữ chức cống 3 năm một lần, như qui chế thời Hồng Vũ, thì dân được yên ổn mà Trung Quốc cũng không mệt về binh nhung; tuy nhiên có kẻ cho rằng Trẫm bỏ cơ nghiệp của tổ tông, nhưng thực ra phục hưng nước bị diệt nối dòng bị đứt là ý của Hoàng tổ.

Kỳ và Vinh tâu đáp :

– Vào đầu năm Vĩnh Lạc thứ 3, khi mệnh tướng đánh giặc họ Lê, phàm chiếu sắc văn từ đều do bọn thần trực tiếp nhận mệnh viết, lúc bấy giờ Thái Tông Hoàng đế chí tại “ hưng diệt kế tuyệt ”; lời châu ngọc đó trong triều ngoài cõi đều nghe biết.”

Thiên tử nói :

‒  Lúc bấy giờ ta còn ở tuổi búi tóc trái đào (1), nhưng cũng được nghe ít nhiều như lời các khanh nói. Hai khanh hiểu ý Trẫm nhưng đừng tiết lộ, đợi hai ba năm nữa Trẫm sẽ thi hành.

Rồi ban rượu, trước khi hai người rút lui. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 315-316 ; Tuyên Tông q. 11, tr.11b-12a)

Lúc bấy giờ vùng đất tiếp giáp với Vân Nam thuộc phía tây bắc nước ta như phủ Gia Hưng, Quy Hoá, châu Ninh Viễn, giặc Áo đỏ liên kết với các nhóm khác tiếp tục đánh phá. Vua Tuyên Tông mệnh Kiềm quốc công Mộc Thạnh cùng Vinh dương bá Trần Trí đánh dẹp :

Ngày 3 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [10/4/1426]

Mệnh quan Tổng binh Thái truyền Kiềm quốc công Mộc Thạnh đôn đốc thổ quan châu Ninh Viễn Tri châu Đèo Cát Hãn bắt giặc tại châu Ninh Viễn. Tham tướng Vinh xương bá Trần Trí chiêu hàng và bắt bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên thuộc Giao Chỉ. Lúc bấy giờ Đô đốc Trần Tuấn giữ chức Đô ty Giao Chỉ tâu rằng :

“ Bọn giặc tại các phủ Tuyên Hoá, Gia Hưng, đầu đảng là bọn Chu Trang cấu kết với giặc Áo Đỏ bọn Trương Kình tại Vân Nam và châu Ninh Viễn ; chúng cướp giết nhân dân, thiêu huỷ châu huyện nhà cửa. Tại châu Quy Hoá, bọn giặc Hoàng Am tụ họp đám đông trộm cướp ; lại thêm tại huyện Phù Lưu, giặc Phan Khả Lợi theo tên đầu đảng Lê Lợi cướp phá. Vì hai phủ Thái Nguyên, Tuyên Hoá có những châu huyện lân cận với Vân Nam ; riêng tại châu Ninh Viễn có bọn giặc mặc áo đỏ bụng đen, nên gọi là giặc áo đỏ ; thổ quan Tri châu Đèo Cát Hãn để chúng lộng hành cướp phá, quan quân mang quân thảo phạt thì trốn sâu vào trong rừng, quân rút lại xuất hiện cướp phá ; xin mang quân đánh dẹp.”

Vì vậy nên ra sắc mệnh này. (Minh Thực Lục v. 16, t. 0392; Tuyên Tông q. 15, t. 1b)

Xét tình hình tại nước ta, lực lượng của Bình Định vương Lê Lợi càng ngày càng lớn mạnh, quân Minh dưới quyền Vinh dương bá Trần Trí không đảm đương nổi, nên nhà Minh điều quân đến tăng viện ; cùng sắc dụ Ai Lao không được dung nạp lực lượng nổi dậy :

Ngày 13 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ nhất [20/4/1426]

Sắc dụ Sở vương, Thục vương mỗi người điều lính bộ binh hộ vệ 1000 người ; các Đô chỉ huy ty Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Hồ Quảng ; cùng các vệ Nam Trực Lệ tuyển điều quân kỵ cộng 15.000 người đến Giao Chỉ đánh giặc. Tại các phủ Tư Minh (2), Điền Châu tỉnh Quảng Tây tuyển điều Thổ binh bắn cung hơn 3000 tên đợi lệnh và làm hướng đạo. Lại sắc Lão Qua không được dung nạp bọn phản tặc. (Minh Thực Lục v. 16, tr. 406; Tuyên Tông q. 15, tr.6b)

Sau khi quân lính chuẩn bị sẵn sàng, bèn chọn Thành sơn hầu Vương Thông sung chức Tổng binh đi đánh dẹp :

Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1826]

Mệnh Thái tử Thái bảo Thành sơn hầu Vương Thông mang ấn Chinh Di Tướng quân sung chức Tổng binh, Đô đốc Mã Ánh sung Tham tướng, đến Giao Chỉ chinh tiễu giặc, trị an phủ dụ quân dân; vẫn ra lệnh Thượng thư Trần Hiệp làm Tham tán quân vụ. (Minh Thực Lục v.17, t. 419; Thái Tông q. 16, tr. 1a)

Lại mệnh Tam ty (3) tại Giao Chỉ, tuyển 3 vạn quân dưới sự điều động của Thông, cùng đình chỉ các công trình khác để dồn nỗ lực vào việc binh :

Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/5/1426]

Sắc dụ Tam ty tại Giao Chỉ rằng :

“ Nay mệnh bọn Thành sơn hầu Vương Thông mang quân dẹp giặc. Khi Thông đến, hãy tuyển dân bản xứ 3 vạn người theo sự điều động của Thông, nhắm diệt giặc này để yên một phương. Các quan lại quân dân dưới quyền lấy việc cung ứng quân lữ làm trọng; tất cả các việc nhỏ mọn khác đều phải đình chỉ không được làm nhọc dân thêm nữa.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0419 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a)

Cùng lúc vua Tuyên Tông nhà Minh giáng phạt cấp chỉ huy hàng đầu tại Giao chỉ như bọn Trần Trí, Phương Chính, Thái Phúc bắt làm Sự quan (4), và phải phục vụ dưới quyền Vương Thông để lập công chuộc tội :

Ngày 3 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ nhất [9/5/1426]

Cách chức Vinh xương bá Trần Trí, Đô đốc Phương Chính quan tước ; giáng xuống sung vào Sự quan, tuân theo sự điều động của quan Tổng binh Vương Thông, làm tiên phong lập công chuộc tội. Những sắc dụ cùng ấn Chinh Di Phó tướng trước kia được lãnh, hãy giao cho Thông để nạp lên. Sắc dụ bọn Trí rằng :

“ Triều đình mệnh ngươi thống suất quân lính trấn đóng Giao Chỉ để dẹp tan giặc cướp, yên ổn dân chúng ; bọn ngươi ôm lòng riêng trục lợi, không hoà mục, để đến nổi giặc hoành hành, quan quân thua chết, tàn ngược dân lương thiện ; xét về tội các ngươi đáng vạn lần chết, không chuộc được. Nay tạm khoan hồng, cách chức tước, theo bọn Thành sơn hầu Vương Thông lập công để chuộc tội. Thái Phúc ngu đần, làm hỏng việc, cũng được tha tội chết để lập công, nếu giáp trận không biểu hiện vũ dõng, sẽ bị tru lục không tha thứ.” (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0419-0420 ; Tuyên Tông q. 16, tr. 1a-1b)

Lại giống như mấy lần tăng viện trước, từng áp dụng chính sách vừa đánh vừa dụ dỗ, lần này khi Vương Thông ra quân, cũng có chiếu thư xá tội đi kèm :

Ngày 3 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [8/6/1426]

Xuống chiếu tha những người có tội tại Giao Chỉ. Chiếu rằng :

“ Đạo trị nước của Trẫm nhắm thương dân ; thể hiện lòng nhân từ xót xa, khoan tuất sự lầm lỗi. Giao Chỉ kể từ ngày sáp nhập vào bản đồ đến nay đã đến hai mươi năm ; mấy lần gây phản nghịch, làm bận đến vương sư. Nhưng ghét chết thích sống, lòng người không ai nghĩ khác ; đâm xuống vực, nhảy vào lửa không phải là bản tâm của con người. Tìm hỏi nguyên nhân đều do quan lại cai trị không đúng, không ngừng cướp đoạt ; cảnh tình kẻ dưới không đào đạt được lên, người trên lại không ân trạch ban xuống. Dân chúng lâm cảnh khốn khổ, đâm ra nghi ngờ, bèn trốn vào rừng núi, hô nhau làm loạn, tình cảnh thực bất đắc dĩ. Xét về tội cũng có chỗ đáng thương, nên ban ân mưa móc để đều được thấm nhuần.

Phàm quân dân Giao Chỉ phạm vào tội phản nghịch, bị phát giác hoặc chưa phát giác, bị kết án hoặc chưa kết án ; khi chiếu thư đến, tội không kể lớn nhỏ, đều được tha. Lê Lợi, Phan Liêu, Lộ Văn Luật, vốn đã quy phụ triều đình, từng được bổ nhiệm sử dụng, rồi suy nghĩ lệch lạc, để đến nỗi sai trái như vậy. Nay đặc biệt mở con đường đổi mới, nếu thành thực hối cải, trở lại theo điều thiện, giữ tiết bề tôi thì được tha tội, vẫn được trao quan chức. Những kẻ bị Lê Lợi bức hiếp theo nghịch, cùng những dư đảng của Trịnh Công Chứng trốn tránh chưa xuất hiện, nay có thể đích thân ra quy thuận, hoặc đến quan sở tại đầu thú cũng đều được tha, quan sẽ trở lại nguyên chức, quân trở lại nguyên đơn vị, dân trở lại với nghề cũ. Sau khi chiếu thư ban ra, như bọn Lê Lợi cùng những kẻ bị cưỡng bách, chấp mê không hối tội, vẫn chống mệnh như cũ, thì quân Thiên tử gia tăng thảo phạt, hối cũng không kịp nữa.

Từ nay trở về sau tại đất Giao Chỉ, ngoài việc nạp thuế lương thực, những việc trưng điều khai mỏ vàng, bạc, muối, sắt, hương liệu, cá, hoa quả đều đình chỉ ; vàng, bạc, đồng, tiền, muối, cá ướp được lưu hành trong lãnh thổ, quan phủ không cấm, để tỏ lòng thể tuất của Trẫm đối với dân chúng.” (Minh Thực Lục v. 17, t. 0448-0450; Tuyên Tông q. 17, tr. 1b- 2b)

Trước tình hình quân tác chiến bị thiếu hụt, Trần Trí xin tạm thời dẹp bỏ đồn điền, đem quân sản xuất dồn vào việc chiến đấu :

Ngày 24 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ nhất [29/6/1426]

Sự quan Giao Chỉ Trần Trí tâu rằng :

“ Thủ lãnh giặc Lê Lợi tụ tập đám đông chiếm cứ châu Trà Lung [Long], quan quân đánh nhưng chưa bắt được. Tại Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hoá cũng cần dùng quan quân để tuần tiễu phòng bị, nhưng các vệ lính không đủ ; nên đã hội bàn cho triệt thoái hết 14 vệ giữ đồn điền, gồm hơn 2600 tên, tại phần đất phía trái Giao chỉ. Nay tại cửa biển Điển Canh, châu Cửu Chân, có thuyền giặc cướp bóc dân ta ; tại châu này lại có bọn giặc tụ tập làng xã để chiêu mộ đồ đảng. Tại châu, huyện thuộc các phủ Tuyên Hoá, Thái Nguyên có bọn giặc Áo Đỏ quấy nhiễu. Để lo việc chính tiễu tuần phòng xin trích ra 5000 tên trong số tổng cộng hơn 8900 tên từ các vệ Tả, Hữu, Trung, Tiền, Hậu tại Giao Châu ; cùng 9 vệ tại Xương Giang, Trấn Di, Tam Giang, Thị Cầu ; số quân các vệ này đang phụ trách về đồn điền. Những người lấy ra được miễn phải trưng thu gạo hàng năm, chờ khi bình xong giặc, lại trở về với đồn điền như cũ.”

Lời tâu được chấp thuận. (Minh thực Lục v. 17 tr. 0468-469 ; Tuyên Tông q. 17, tr.10b-11a)

Bộ Binh lại tâu trình thêm về lỗi lầm của một số cấp chỉ huy tại Giao Chỉ, để vua Tuyên Tông kịp thời trách phạt uốn nắn, nhắm giúp cho Vương Thông uy tín, đánh dẹp có hiệu quả hơn :

Ngày 9 tháng 7 năm Tuyên Đức thứ nhất [11/8/1426]

Bộ Binh nơi hành tại tâu rằng :

“ Bọn Sự quan Giao Chỉ Phương Chính đánh Lê Lợi ; nhưng bọn An bình bá Lý An ; Đô chỉ huy Vu Tán, Tạ Phượng, Tiết Tụ, Chu Quảng, Trần Phong đụng trận thì lui trước ; Chính có thành tích dũng cảm.”

Thiên tử mệnh tạm tha. Sắc dụ Thành sơn hầu Vương Thông lệnh An, cùng bọn Tán, Phượng, Tụ, Quảng, Phong được đái tội làm Sự quan, cùng bọn Trần Trí dẫn đầu lập công ; nếu không có công bị trừng trị theo quân pháp. (Minh Thực Lục v. 17, tr, 500-501 ; Tuyên Tông q. 19, tr. 5a-5b)

Lúc này Thượng thư Trần Hiệp tâu rằng Bình định vương Lê Lợi đánh thành Nghệ An rất gấp, nhưng chưa hạ được :

Ngày 28 tháng 8 Tuyên Ðức thứ nhất [29/9/1426]

Người cầm đầu ty Bố chánh, Án sát Giao Chỉ Thượng thư Trần Hiệp sai người tâu rằng : đầu sỏ giặc Lê Lợi, đến thành Nghệ An khí thế rất mạnh, ngày đêm đánh thành. Bị Sự quan Lý An, Phương Chính hợp quân đánh bại. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 546; Tuyên Ðức q. 20, tr. 15b)

Sau khi thử thách tại thành Nghệ An, Bình Định vương Lê Lợi nhận thấy quân tinh nhuệ của giặc đều đóng tại nơi này, lực lượng địch tại miền Bắc nhất định suy yếu. Ngài quyết định để một phần nghĩa quân cầm chân giặc tại Nghệ An, mang đại quân ra bắc tấn công vùng biên giới và uy hiếp thành Đông Quan [Hà NộI]. Nếu như một người tầm thường, lần lượt cho quét sạch quân địch trên đường tiến quân, thì mất không biết bao nhiêu ngày tháng ; hơn nữa số quân địch bị tổn thất, sẽ có quân tiếp viện vượt biên giới sang tăng cường, thì chiến tranh còn lâu mới chấm dứt được. Bởi vậy trên đường tiến quân ra Bắc, Bình Định vương quyết định chỉ uy hiếp giặc co cụm lại trong thành, dùng lực lượng địa phương khống chế; rồi mang đại quân ra bắc :

Vương cho rằng quân tinh nhuệ của nhà Minh ở cả Nghệ An, Đông Đô trở thành yếu ớt trống rỗng bèn sai :

Bọn Thái uý Lý Triện, Xu mật Phạm Văn Xảo, thái giám Trịnh Khả và Đỗ Bí ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Quốc Oai, Quảng Oai, Gia Hưng, Quy Hoá, Đà Giang, Tam Đái và Tuyên Quang để diệt đạo viện binh nhà Minh từ Vân Nam kéo xuống ; 

Bọn Thiếu uý Lưu Nhân Chú và Bùi Bị ra từ Thiên Quan, đi tuần vùng Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang và Lạng Sơn để diệt đạo viện binh từ Lưỡng Quảng kéo xuống ;

Bọn Tư đồ Đinh Lễ và Lê Xí thống suất toán quân tinh nhuệ kế tiếp xuất phát, thọc ngay vào Đông Quan để phô trương thanh thế, rồi sau mới thừa cơ mà tiến thủ.

Các tướng trẩy đến đâu cũng giữ quân luật nghiêm túc, không tơ hào xâm phạm đến của nhân dân. Bấy giờ các lộ ở Đông Đô và các thổ tù ở ven biên giới chẳng ai là không vui vẻ hả hê.

Cánh quân của các tướng Lý Triện từ mạn Quốc Oai và Tam Đái đe doạ bức bách thành Đông Quan. Tham tướng Minh, Trần Trí dốc hết quân ra mạn Ninh Kiều (5) và Ứng Thiên để chống cự. Triện cùng bọn Xảo, Khả và Bí hợp sức đánh hăng, quân của Trí phải thua chạy. Bọn Triện tiến đóng ở bờ phía tây sông Ninh Giang.

Chợt được tin hơn vạn quân cứu viện của nhà Minh sang từ Vân Nam, sắp đến thành Tam Giang, mà đạo quân do Lễ và Xí chỉ huy chưa kịp đến, bọn Triện e rằng hai đạo quân của địch nếu phối hợp được với nhau thì mình khó chế trị được. Triện bèn chia cho Xảo và Khả hơn nghìn quân, đi thẳng lên trước và đón đường chặn đánh địch ; còn mình và bọn Xí đem vài nghìn quân tinh nhuệ, thừa thắng đuổi theo cánh quân của Trí. Khi đến Nhân Mục, bắt sống được đô ti Minh, Vi Lượng, và chém được hơn nghìn thủ cấp địch, rồi lại quay về Ninh Giang, làm thanh thế tiếp ứng cho bọn Xảo.

Còn cánh quân của bọn Xảo, khi đến cầu Xa Lộc, gặp đạo quân của Vương An Lão, đô ti Vân Nam của Minh : quân ta đón đánh, cả phá được địch, chém và bắt được không biết bao nhiêu mà kể. Số quân còn sót lại của địch phải rút vào giữ thành Tam Giang. (6)

Minh Thực Lục cũng xác nhận việc Ðô Chỉ huy Vi Lượng thất trận bị bắt như sau :

Ngày 13 tháng 10 năm Tuyên đức thứ nhất [12/11/1426]

Quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tấu rằng Đô Chỉ huy Vi Lượng hành quân tại Giao Chỉ bị thất lợi. Lúc bấy giờ đồ đảng của Lê Lợi là Lê Thiện chiếm cứ châu Quảng Oai ; Sự quan Trần Trí sai Lượng cùng các Chỉ huy Vương Miễn, Tư Quảng mang quân chống cự. Khi quân đến đất này, Lượng muốn vượt sông, nhưng viên quan Thổ quan là Chỉ huy Hà Kháng nói :

“ Chắc bọn chúng đặt phục binh, phải cẩn thận đừng coi thường mà tiến.”

Lượng không nghe, sai Chỉ huy Đào Sâm, Tiền Phụ vượt sông đánh, giặc đặt phục binh và mang quân chặn đoạn hậu ; giết Sâm, Phụ, Thiên hộ Triệu Trinh cùng hơn 500 quân, Lượng cũng bị bắt. Thông, cùng Tuần, Án, Ngự sử đem việc này tâu lên. Thiên tử cho rằng Vương Miễn và Tư Quảng không cứu viện, sắc mệnh Thông phạt Miễn, Quảng sung quân lập công chuộc tội ; vẫn ra lệnh Thông tiến binh dẹp giặc. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0579-580 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 5b)

Tháng 10 quân Vương Thông đến thành Ðông Quan (Hà Nội). Lý Triện làm cuộc tấn công thử thách, rồi nhử quân Minh đến Ninh Kiều, khiến đại quân của Vương Thông sa vào trận phục kích lớn :

Bấy giờ nhà Minh sai Thành Sơn hầu Vương Thông làm chinh di tướng quân, và đô đốc Mã Anh làm tham tướng, đem năm vạn quân sang cứu Đông Quan, bóc hết chức tước của bọn Trần Trí và Phương Chính, cho sung làm sự quan, lệ thuộc trong quân để lập công chuộc tội ; còn Trần Hiệp thì vẫn cho làm tham tán quân vụ. Tất cả đều ở dưới quyền chỉ huy của Thông.

Thông mới đến, tinh thần rất hăng, điều động tất cả mười vạn quân, cùng bọn Hiệp chia làm ba đường, đồng thời xuất phát. Thông đóng ở bến Cổ Sở; Phương Chính đóng ở Sa Đôi ; Mã Kỳ đóng ở Thanh Oai. Doanh trại của chúng đằng dăng đến vài mươi dặm, cờ xí rợp cả đồng nội. Chúng tự cho rằng chỉ một chuyến này có thể dẹp yên được.

Các tướng Triện và Bí từ Ninh Kiều tiến đến Sốm (7), chia quân và voi cho mai phục sẵn để đợi giặc. Họ cho toán du binh xông xáo đến sát trại Mã Kỳ, khiêu chiến, giả cách thua chạy. Mã Kỳ lùa hết quân đuổi theo. Khi chúng đến cầu Ba La (8) : quân phục của ta nổi dậy, đánh cắt ngang trận địch. Quân Minh tan vỡ, chạy bừa, sa lầy, bị chém hơn nghìn thủ cấp. Quân ta ruổi dài đến cống Mọc (9), bắt được hơn năm trăm địch. Thây giặc rải rác đến vài mươi dặm. Mã Kỳ chỉ kịp một người một ngựa trốn về.

Các tướng Lý Triện thừa thắng, muốn chẹn phía sau Phương Chính, nhưng Phương Chính đã rút quân lui rồi. Bấy giờ trời đã chiều hôm, các tướng bên ta phải đem quân quay về. Bọn Kỳ và Chính nhân lúc ban đêm, lén đem quân đến hội với Vương Thông.

Ngày hôm sau, các tướng Lý Triện đến bến Cổ Sở, bổ vây quân Thông. Trước đó, Thông đã đặt quân mai phục, và đã đan tre làm cái khiên, phía trong khiên có cài chông sắt. Khi thoạt giao chiến, quân của Thông đã quăng bỏ khiên, giả vờ chạy. Bọn Triện đuổi theo : voi giẫm phải chông, không lợi. Bọn Triện bèn thu quân vào giữ Cao Bộ.

Nghe nói các tướng Đinh Lễ và Lê Xí đang đóng quân ở Thanh Đàm, Triện liền sai báo gấp cho họ đến tiếp ứng. Bọn Lễ và Xí lựa lấy ba nghìn quân tinh nhuệ và hai thớt voi, tức tốc ngay ban đêm, đến hội quân ở Cao Bộ. Họ chia quân đặt phục ở Tốt Động (10) và Chúc Động.

Bắt được gián điệp của địch, ta biết rằng Thông đã tiến đóng ở Ninh Kiều, ngầm cho kỳ binh đi rảo đến phía sau quân Triện, còn chính binh của Thông thì sẽ qua sông tiến lên phía trước. Chúng hẹn nhau rằng hễ nghe nổ pháo thì các đạo quân địch đồng thời đánh khép lại. Hồi trống canh năm đêm ấy, bọn Lễ sai quân nổ pháo ở nơi yếu hại để đánh lừa địch. Địch nghe tiếng pháo, mọi đứa đều đổ xô đi chiếm lấy thuận lợi. Chúng lùa quân đi tắt vào. Bấy giờ trời mưa, đường lầy lội. Chúng kéo đến Tốt Động, bị quân phục của ta bốn bề nổi dậy. Quân ta hợp sức lại, hăng hái chiến đấu, cả phá được địch : chém thượng thư Trần Hiệp và nội quan Lý Lượng. Ta lại đuổi kẻ chạy, dượt kẻ thua, hoặc giết chết, hoặc bắt  sống. Quân Minh cùng giày đạp chồng chất lên nhau, chết đến hơn năm vạn. Số quân địch chết đuối cũng rất nhiều, làm nghẽn cả khúc sông Ninh Giang. Ta bắt sống được hơn một vạn địch, tước được quân nhu và khí giới vô kể.

Bọn Chính và Kỳ chạy trốn. Thông bị thương, chạy về Đông Quan, đóng chặt cửa thành, cố giữ.

Thông sai phá huỷ chuông Quy Điền (11) và vạc Phổ Minh (12) để làm chiến xa và vũ khí. (13)

Nhà Minh, phía thua trận không dám huênh hoang nói nhiều, nhưng Minh Thực Lục cũng đã xác nhận quân bại, Thượng thư Trần Hiệp, Ðô chỉ huy Lý Ðằng chết, Vương Thông bị thương :

Ngày 6 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ nhất [4/12/1426]

Ngày hôm nay quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông tiến binh đánh giặc, bị thua to giặc bèn vây thành Đông Quan. Trước đó tướng giặc Lê Thiện chia quân làm 3 đạo, tới đánh thành Giao-Chỉ. Một đạo từ cửa phía tây đánh vào thành đất Thanh Oai, một đạo từ Giáo Trường đánh Hạ Quan ; bị Đô đốc Trần Tuấn dùng súng lửa, hoả tiễn đánh lui ; một đạo đánh vào cửa nhỏ tại ven sông gặp Sự quan Lý An mang quân tinh nhuệ giao chiến, giặc bị chết rất nhiều, nửa đêm bèn rút lui.

Lúc này Thông điều quân chia đường mà tiến. Tham tướng Đô đốc Mã Ánh mang quân đến Thanh Oai gặp giặc, đánh bại chúng. Rồi đến huyện Thạch Thất họp quân với Thông, cả hai mang quân đến huyện Ứng Bình, trú quân tại Ninh Kiều. Các tướng nói đất này hiểm trở nên lập trại để xem tình hình, không nên coi thường mà tiến. Thông không nghe, cho điều quân qua cầu, đường sá lầy trơn, người ngựa lặn lội, phục binh nổi lên, quan quân bị bại ; Thượng thư Trần Hiệp chết, Đô Chỉ huy Lý Đằng bị chết vào tay giặc, Thông trúng thương nên quay về. Lê Lợi tại Nghệ An nghe tin bèn mang đại quân tới Thanh Đàm, đánh các xứ tại Bắc Giang, rồi vây thành Đông Quan. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0593-0594 ; Tuyên Tông q. 22, tr. 12a-12b)

Chú thích

1. Tuổi búi tóc trái đào : ý nói tuổi thiếu niên.

2. Tư Minh : phủ trị Tư Minh xưa tại huyện Ninh Minh hiện nay, vị trí cách ải Nam Quan khoảng 30km.

3. Tam ty : gồm 3 ty Ðô ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

4.  Sự quan : theo quychế nhà Minh, quan bị tội, cho tạm thời giữ chức để lập công chuộc tội, gọi là Sự quan.

5. Ninh Kiều : vùng Ninh Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ngày nay.

6. Cương Mục, Sđd, trang 365-366.

7. Hán văn gọi là Cổ Lãm.

8. Hán văn gọi là “Tam La kiều”. Cái cầu chỗ giáp giới ba làng La, tức là La Khê, La Cả và La Nội, nay thuộc xã Văn Khê, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.

9. Nguyên văn là “Nhân Mục kiều”. Nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

10. Tốt Ðộng : nay có xã Tốt Ðộng, thuộc huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây.

11. Chuông Quy Điền : Thôn Thanh Bảo, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội có chùa Một Cột. Tục truyền rằng đời Lý đúc quả chuông lớn, để ở trong chùa, đánh không kêu, bèn đem bỏ chuông ấy ở ruộng Quy Điền. Ruộng này trũng thấp ẩm ướt, có sản nhiều rùa, nên gọi tên như vậy.

12. Phổ Minh : Tên chùa. Năm Thiệu Long thứ 5 (1262) đời Trần Thánh Tông làm chùa này, có đúc cái vạc và khắc bài minh vào vạc.

13. Cương Mục, Sđd, trang 367-368.

Năm Đinh Mùi [1427]

Tháng giêng, mùa xuân. Bình Định vương đóng quân ở bên sông Nhị Hà, phân phái các tướng tiến sát đến thành Đông Quan để đánh thành này.

Vương tiến quân đóng ở bờ bên bắc sông Nhị Hà : đồn luỹ đối ngang với thành Đông Quan. Vương sai bọn Trịnh Khả đóng quân ở phía cửa Đông, Đinh Lễ đóng quân ở phía cửa Nam, bọn Lê Cực đóng quân ở phía cửa Tây, Lý Triện đóng quân ở phía cửa Bắc : tất cả đều bao vây nhằm đánh thành Đông Quan. Vương lại sai đóng chiến thuyền, tập thuỷ chiến, điểm duyệt võ khí, bổ sung quân đội, chế thứ xe đánh thành. (1)

Trước khí thế của nghĩa quân, Vương Thông sợ Bình Định vương Lê Lợi tấn công tiếp, nên tỏ ra hoà hoãn ra lệnh rút quân từ Thanh Hoá trở vào nam trở về thành Ðông Ðô ; nhưng viên Chỉ huy thành Thanh Hoá không tuân, sợ bị giết dọc đường, nên vẫn tiếp tục cố thủ :

Ngày 5 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ nhất [2/1/1427]

Ngày hôm nay giặc họ Lê đánh châu Thanh Hoá không hạ được, bèn rút đi.

Trước đó, từ khi thất bại tại Ninh Kiều Thành sơn hầu Vương Thông không còn vững lòng như trước, tự tiện cho Lê Lợi cai quản từ Thanh Hoá trở vào nam, truyền hịch cho quan quân tại nơi này rút về thành Đông Quan. Riêng châu Thanh Hoá không chịu nghe lệnh. Trước kia Lê Lợi đánh Thanh Hoá, Tri châu La Thông, Chỉ huy Đả Trung suất quân dân kiên thủ, có lúc mang quân đánh núi đất (2), sát thương giặc nhiều, thế giặc bớt căng thẳng. Lúc này hịch tới, người trong thành kinh sợ. Thông nói với Trung rằng :

“ Bọn chúng ta chống cự, mấy lần đánh bại giặc, ra khỏi thành thì không sống được ; nay tại đây thành cao, hào sâu, lương nhiều, dân đông ; so với việc chịu trói, chi bằng tận trung mà chết, mà chưa chắc đã chết đâu ! Bọn [Vương] Thông bán thành cho giặc, lệnh này không thể theo được.”

Rồi cùng với Trung tưởng lệ quân sĩ, giữ thành vững thêm ; giặc đánh không hạ được, bèn bỏ đi. Khi Vương Thông bỏ Giao Chỉ, bọn [La] Thông cũng trở về kinh đô. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 606; Tuyên Tông q. 23, tr. 2b)

Về phía gần biên giới phía bắc, trên tuyến đường từ Trung Quốc sang thành Ðông Ðô [Hà Nội], quân ta bao vây và tấn công đồn Ải Lưu tại Lạng Sơn :

Ngày 18 tháng 12 năm Tuyên Ðức thứ nhất [15/1/1427]

Đêm hôm nay, giặc hơn một vạn người địa phương Giao Chỉ, đến bao vây và tấn công Ải Lưu, bọn Bách hộ Hoàng Bưu giữ thành bị hại. Bách hộ Vạn Tông bí mật San trèo lên thành hô lớn, cầm đao cùng quân cảm tử từ cửa nam ra đánh ; giặc rút chạy. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 617 ; Tuyên Tông q. 23, tr. 8a)

Tình thế khẩn trương, Vương Thông phải xin thêm quân cứu viện :

Trước kia, chiến dịch Tốt Động, Trần Hiệp thua trận, bị chết ; Vương Thông xin với nhà Minh cho thêm quân. Vua Minh được tin, vô cùng sợ hãi, bèn sai :

Tổng binh chinh lỗ phó tướng quân thái tử thái phó An Viễn hầu là Liễu Thăng, tham tướng Bảo Định bá là Lương Minh, đô đốc là Thôi Tụ, Binh bộ thượng thư là Lý Khánh, Công bộ thượng thư là Hoàng Phúc và hữu bố chính sứ là Nguyễn Đức Huân thống lĩnh mười vạn quân, hai vạn ngựa, do đường Quảng Tây tiến đánh cửa ải Pha Lũy (3) ;

Chinh nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công là Mộc Thạnh, tham tướng Hưng An bá là Từ Hanh và Tân Ninh bá là Đàm Trung, do đường Vân Nam, tiến đánh cửa ải Lê Hoa (4).

Minh Thực Lục chép chi tiết hơn, tường thuật kế hoạch điều động, theo trình tự như sau :

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Ðức thứ nhất [23/1/1427]

Do bọn Thành sơn hầu Vương Thông tâu giặc Giao Chỉ trở nên càn dữ, mệnh Thái tử Thái truyền An viễn hầu Liễu Thăng mang ấn Chinh Lỗ Phó Tướng quân giữ chức Tổng binh, Bảo định bá Lương Minh sung Phó Tổng binh, Đô đốc Thôi Tụ sung Hữu Tham tướng, mang quan quân đến Giao Chỉ phối hợp với bọn quan Tổng binh Kiềm quốc công Mộc Thạnh đánh bắt man khấu. Các quan quân lãnh đi, cùng các vệ quan quân, thổ quân, thổ dân tại Giao Chỉ đều dưới quyền điều động tiết chế. (Minh Thực lục v. 17, tr. 619-620; Tuyên Tông q. 23, tr. 9a-9b)

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Ðức thứ nhất [23/1/1427]

Mệnh Thái truyền Kiềm quốc công Mộc Thạnh mang ấn Chinh Di Tướng quân sung chức Tổng binh, Hưng an bá Từ Hanh sung chức Tả Phó Tổng binh, Tân ninh bá Đàm Trung sung chức Hữu Phó Tổng binh ; mang quan quân đến Giao Chỉ phối hợp với quan Tổng binh An viễn hầu Liễu Thăng đánh bắt man khấu. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 620; Tuyên Tông q. 23, tr. 9b)

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Ðức thứ nhất [23/1/1427]

Sắc Thái tử Thiếu bảo Thượng thư bộ Binh Lý Khánh rằng :

“ Nay mệnh quan Tổng binh An viễn hầu Liễu Thăng mang quân từ Quảng Tây, Thái truyền Kiềm quốc công Mộc Thạnh mang quân từ Vân Nam ; hai đạo quân cùng tiến để chinh tiễu bọn phản tặc tại Giao Chỉ. Khanh là bậc lão thành có kinh nghiệm, đặc mệnh tham mưu việc binh, phàm công việc nên đồng lòng mưu với nhau, thoả đáng thì cho thi hành ; lại lo chiêu phủ quân dân, xứng với sự uỷ nhiệm quan trọng. Đợi Liễu Thăng đến Nam Kinh, thì cùng khởi hành. Cần dùng những tay văn học, cùng những người có tài liệu biện ; có thể lựa chọn trong các nha môn tại Nam Kinh để đi cùng ; chỉ cần trình cho biết tên họ và chức vụ.” (Minh Thực Lục v. 17, tr. 620; Tuyên Tông q. 23, tr. 9b)

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ nhất [ 23/1/1427]

Sắc dụ Thượng thư bộ Công, kiêm Chiêm sự tại phủ Chiêm sự Hoàng Phúc :

“ Khanh trước kia nhậm chức tại Giao Chỉ thành tín cần mẫn, ban ân huệ một phương. Tiên Hoàng đế khen, nghĩ đến bậc lão thành nơi vạn dặm, bèn triệu về để giúp Trẫm. Nay dân Giao Chỉ quyến luyến khanh khôn xiết ; Trẫm vốn không muốn khanh bỏ đi, nhưng cũng không muốn trái ý nguyện của dân. Nay hãy vì Trẫm trấn nhậm thêm một lần nữa. Phàm vua tôi tương đắc với nhau, không kể xa hay gần ; khanh vốn đem hết tâm lực, thì dân chúng sẽ được yên chỗ, ngõ hầu xứng với lòng của Trẫm. Khanh hãy chỉ huy mọi việc tại hai ty Bố chánh và Án sát Giao Chỉ. Khâm tai ! ” (Minh Thực Lục v. 17, tr. 620; Tuyên Tông q. 23, tr. 9b-10a)

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ nhất [23/1/1427]

Sắc mệnh điều các vệ tại hai kinh Nam, Bắc ;Trung đô Lưu thủ ty, Vũ xương Hộ vệ ; các Đô ty Hồ Quảng, Giang Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Sơn Đông, Hà Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu ; Phúc Kiến Hành Đô ty, cùng các vệ quan quân phía nam Trực Lệ do An viễn hầu Liễu Thăng thống lãnh. Thành Đô Hộ vệ, các Đô ty Tứ Xuyên, Vân Nam ; Tứ Xuyên Hành Đô ty do Kiềm quốc công Mộc Thạnh thống lãnh ; tổng cộng gồm 7 vạn tên, để sang đánh dẹp tại Giao Chỉ. Cần khí giới tinh nhuệ, y giáp tốt mới, dọc đường gia tăng ước thúc, không được nhiễu hại. Lương bổng quân dân tính từ ngày khởi hành ; tất theo lệ kỳ đánh Giao Chỉ lần trước chi cấp. Tại Nam kinh cùng các Đô-ty, vệ sở ; tiền thưởng lúc khởi trình do quan sở tại chi cấp, nếu tiền không đủ có thể dùng vải bố, quyên để chiết khấu ra tiền. Thưởng tiền giấy cho Đô Chỉ huy 500 quan, Chỉ huy 400 quan, Thiên hộ Trưởng quan vệ, trấn 300 quan ; Bách hộ Trấn-phủ sở 200 quan, Tổng kỳ 150 quan, Tiểu kỳ 120 quan ; quân lính, thổ quân 100 quan. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0621-0622; Tuyên Tông q. 23, tr. 10a-10b)

Ngày 26 tháng 12 năm Tuyên Đức thứ nhất [23/1/1427]

Sắc dụ quan Tổng binh Giao Chỉ Thành sơn hầu Vương Thông, Tham tướng Đô đốc Mã Ánh. Nay mệnh An viễn hầu Liễu Thăng, Kiềm quốc công Mộc Thạnh xuất sư do hai đường Quảng Tây, Vân Nam cùng tiến ; để hợp với bọn ngươi diệt giặc này. Các ngươi nên cố thủ thành trì, thao luyện quân mã, đợi bọn Thăng đến thì tiến binh. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0622; Tuyên Tông q. 23, tr. 10 b)

Ngày 2 tháng 3 năm Tuyên Ðức thứ 2 [ 30/3/1427]

Sắc dụ điều thêm quan quân hộ vệ Vũ Xương 1.000 người, hộ vệ Thành Ðô 1.200 người. quan quân tinh nhuệ tại Nam Kinh, Nguyên Hạ, Tây Dương 10.000 người ; Trung đô lưu thủ ty, Ðô ty Hồ Quảng, Chiết Giang, Hà Nam, Sơn Ðông, Quảng Ðông, Phúc Kiến, Giang Tây, Vân Nam, Tứ Xuyên ; cùng Tứ Xuyên hành Ðô ty 33.000 người ; theo An viễn hầu Liễu Thăng, Kiềm quốc công Mộc Thạnh sang đánh Giao Chỉ. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 673; Tuyên Tông q. 26, tr. 2a)

Trong khi chờ quân tăng viện từ Trung Quốc sang, quân Minh đánh thắng hai trận xung quanh thành Ðông Ðô, nhưng Vương Thông không dám triển khai sự thành công này, cuối cùng lâm vào thế hoàn toàn bị động :

Tháng 2. Phương Chính nhà Minh đánh úp huyện Từ Liêm : thái úy Lý Triện tử trận.

Các tướng Lý Triện, Đỗ Bí đóng quân ở huyện Từ Liêm, bị Phương Chính bí mật ra quân đánh úp. Triện cố sức chiến đấu, chết tại trận ; Bí bị bắt, kịp khi việc giảng hoà đã xong, được người Minh lấy lễ độ mời về. (5)

Tư không Đinh Lễ và thượng tướng quân Lê Xí đánh nhau với người Minh ở Mi Động (6) : bị thua, Lễ tử tiết.

Vương Thông đem quân tinh nhuệ trong thành lén đánh Lê Nguyễn ở Tây Phù Liệt. Bình Định vương sai các tướng Lễ và Xí đi cứu. Khi đến Mi Động, Thông thấy bọn Lễ ít quân, bèn chia binh đánh kẹp lại. Bọn Lễ thống lĩnh hơn năm trăm quân Thiết Đột, cố sức chiến đấu: voi bị sa lầy, Lễ và Xí đều bị bắt về thành Đông Quan. Đinh Lễ không chịu khuất phục, bị giặc giết chết. Còn Xí, nhân một đêm mưa gió, dùng mẹo trốn thoát được.

Vương cho rằng các tướng Đinh Lễ và Lý Triện đều có công lớn, chết vì việc nước, bèn phong em Lễ là Đinh Liệt làm nhập nội thiếu uý, phong cha của Triện là Lý Ba Lao làm quan sát sứ và cấp cho hơn một trăm mẫu ruộng, con của Triện là Lăng làm phòng ngự sứ. (7)

Minh Thực Lục chép gộp hai trận này làm một, và chê trách Vương Thông không dám vượt sông Hồng để đánh vào đại bản doanh của Bình định vương Lê Lợi :

Ngày 7 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 2 [4/3/1427]

Ngày hôm nay giặc Lê Lợi tại Giao Chỉ [Đông Đô]. Bọn Thành sơn hầu Vương Thông mang binh đánh bại, chém bọn ngụy Tư đồ Lê Trỉ [Triện], Tư không Đinh Lễ, Thái giám Lê Bí, và bọn Thái uý, Thiếu uý, Chánh đốc, Đồng đốc bọn Trần Chửng ; giặc bị giết có đến vạn tên, số còn lại bỏ chạy, Lê Lợi hoảng sợ đến vỡ mật. Trên đường, các tướng, cùng quan lại tại tam ty nói với Thông rằng :

“ Giặc bại tẩu, không phòng bị ; nên thừa thế vượt sông đánh bất thình lình, có thể bắt giặc được ; nếu trì hoãn, giặc chiêu tập được tàn dư tất sẽ liều chết chống lại quân ta.”

Thông do dự không quyết, trả lời :  “ Đợi xem xét .”

Qua ba ngày không chịu ra quân, giặc dò xét biết Thông sợ, bèn tập trung dư đảng xây đồn trại, đào hào, tu sửa khí giới, tiến công bốn phía. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 654-655; Tuyên Tông q. 25, tr. 3b-4a)

Tiếp tục quân ta tấn công Khâu Ôn [Lạng Sơn], nhờ Ðô ty Quảng Tây Cố Hưng Tộ sai quân đến cứu viện, nên thành không bị mất :

Ngày 11 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ 2 [7/4/1427]

Ngày hôm nay giặc họ Lê tại Giao Chỉ đánh và vây Khâu Ôn, Đô Chỉ huy Tôn Tụ suất binh cố thủ ; dùng phi pháo, súng thần công bắn ra từ địch lâu, nên giặc không dám đến gần. Nhưng trong thành lương ít, ngầm sai người chạy đến báo cho Chinh man Tướng quân Trấn viễn hầu Cố Hưng Tổ. Hưng Tổ sai Chỉ huy sứ Dương Chính mang quân hộ tống, theo đường tắt đến cấp lương. (Minh Thực Lục v. 17, t. 0678; Tuyên Tông q. 26, tr. 4b)

Tuy nhiên mấy tháng sau, hai thành Khâu Ôn và Ải Lưu đều bị đánh tan, Cố Hưng Tộ bị đàn hạch vì không cứu viện kịp thời :

Ngày 13 tháng 7 năm Tuyên Đức thứ 13 [ 5/8/1427]

Chiếu mệnh bắt Trấn viễn hầu Cố Hưng Tổ. Lúc bấy giờ giặc Giao Chỉ phá Ải Lưu, tấn công Khâu Ôn ; Hưng Tổ đặt quân tại Nam Ninh (8), Thái Bình (9)không cứu viện, để cho giặc chiếm được thành. Hưng Tổ trước kia tâu rằng đã chém được giặc Vi Vạn Hoàng, bêu đầu thị chúng ; nhưng Vạn Hoàng vẫn ra vào cướp phá như xưa ! Hưng Tổ lại sai bọn Chỉ huy Trương Ban giả mạo việc quân đoạt của quan, dân hơn 2500 lượng bạc, 100 con ngựa ; lại cưỡng bách dân ép cưới con gái ; bị Tuần Án Ngự sử hặc tâu.

Thiên tử thấy tội ác không chừa, mệnh hành tại Đô sát viện bắt và điều tra, sai công hầu Đại thần cử tướng giỏi thay thế. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 763; Tuyên Tông q. 29, tr. 4a)

Về việc này sử nước ta xác nhận rằng Cố Hưng Tổ thực sự có mang quân đến cứu viện, nhưng bị đánh thua tại ải Pha Lũy [Nam Quan] :

Nhà Minh sai Trấn Viễn hầu Cố Hưng Tổ, tổng binh Quảng Tây, đem năm vạn quân, năm nghìn ngựa, sang cứu Đông Đô. Khi đến cửa ải Pha Luỹ, bị các thủ tướng của ta là Trần Lựu và Lê Bôi đón đánh : giặc phải bỏ chạy. (10)

Ðô đốc thiêm sự Sơn Vân được cử thay thế Cố Hưng Tổ để trấn thủ Quảng Tây và lo việc hành quân vùng biên giới :

Ngày 23 tháng 7 năm Tuyên Ðức thứ 2 [15/8/1427]

Mệnh Hậu quân Ðô đốc phủ, Ðô đốc Thiêm sự Sơn Vân mang ấn Chinh Man Tướng-quân giữ chức Tổng binh, thay thế Trấn viễn hầu Cố Hưng Tổ trấn thủ Quảng Tây ; cùng suất lãnh quan quân do 3 Ðô-ty Hồ Quảng, Quảng Tây, Quí Châu điều đến để đánh bắt phản tặc. Trước đây Hưng Tổ có tội bị bắt, Thiên tử mệnh các quan Công, Hầu, Ðại -thần cử một tướng giỏi thay thế ; nay các quan Ðại thần đều nói Vân thanh liêm, uy dõng, có trí lược.

Thiên tử cũng công nhận như vậy, nên có mệnh này. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 770 ; Tuyên Tông q. 29, tr. 7b)

Sau khi Vương Thông đại bại tại Ninh Kiều, rồi bị vây tại thành Ðông Quan ; các thành Nghệ An, Thị Cầu, Ðiêu Diêu, Tam Giang lần lượt ra hàng. Ðặc biệt chỉ huy thành Tam Giang là Lưu Thanh tỏ ra biết kính trọng Bình Định vương Lê Lợi, đã quở mắng người lính bản xứ nói lời vô lễ về Vương ; khi đã đầu hàng không cho hàng binh dưới quyền dính líu vào âm mưu nổi loạn, nên quân thành này không bị giết :

Vương chia sai các tướng Trịnh Khả đi đánh các thành. Người Minh ban đầu còn đóng chặt cửa thành, đợi quân cứu viện ; về sau, bị quân ta bao vây đánh phá, lâu dần chúng càng cùng quẫn kiệt quệ.

Các thành Nghệ An, Diễn Châu, Thị Cầu và Điêu Diêu đều lần lượt đầu hàng.

Vương sai Nguyễn Trãi đem theo viên chỉ huy họ Tăng, là người Minh đã đầu hàng ta, đến dụ thành Tam Giang, thành này đầu hàng.

Trước kia, khi Vương còn ở Thanh Hoá, người bản thổ thành Tam Giang theo quân Minh, bị điều động đi trận, khi thua rút về, có kẻ nói ra những lời láo xược phạm thượng, Lưu Thanh bèn mắng ngay rằng :

“ Quân mán xá này vô lễ ! Người là vua của các nị (11) đấy ! ”.

Đến đây, Lưu Thanh đầu hàng. Sau đó ít lâu, nhiều người ở các thành khác đã hàng vì âm mưu làm phản đều bị giết cả, riêng có thành Tam Giang này không dính líu gì đến việc làm phản ấy (12).

Trong một văn bản chép về việc xét xử các cấp chỉ huy quân Minh từng đầu hàng, rồi hợp tác với nghĩa quân của Bình Định vương, sau đó được thả về ;Minh Thực Lục xác nhận Ðô đốc Thái Phúc bỏ thành Nghệ An, sai người tố cáo âm mưu nổi loạn của hàng binh, cùng đích thân đi kêu gọi các thành ra hàng :

Ngày 30 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ 3 [12/7/1428]

Thái Phúc, Chu Quảng, Tiết Tụ, Chu Tán, Lỗ Quý, Lý Trung bị xử tử. Phúc là Đô đốc ; Quảng, Tụ, Tán đều giữ chức Đô chỉ huy, Quý là Chỉ huy, Trung là Thiên hộ.

Bọn Phúc trước đây tại Giao Chỉ trấn thủ Nghệ An, bị giặc vây, Phúc không đánh, lại đem bọn Quảng hàng giặc, chỉ cho giặc tạo chiến cụ để đánh thành Đông Quan. Lúc bấy giờ hơn 9000 quân định đốt trại giặc, bọn Phúc lệnh Bách hộ Mưu Anh tố cáo ; giặc giết sạch 9500 người, rồi đánh các thành như Xương Giang. Phúc đi thuyết dụ những người trong các thành ra hàng ; đến Thanh Hoá phi ngựa đến dưới thành, kêu to rằng :

“ Thủ thành lợi dụng cơ hội đầu hàng có thể bảo tồn mạng sống, không nghe thì gan não phơi mặt đất.”

Bị bọn Tri châu La Thông chửi mắng nên bỏ đi.

Nay bọn Lợi đưa bọn Phúc đến kinh sư. Mệnh Công, Hầu, Bá, 5 phủ, 6 bộ, Đô sát viện, cùng các quan 3 bốn lần hặc tội. Đều phúc tấu tội trạng, mệnh hành quyết phơi thây ngoài chợ và tịch thu gia sản. (Minh Thực Lục v. 18, t. 1075-1076; Tuyên Tông q. 43, t. 17a-17b)

Vụ quân Minh ra hàng rồi âm mưu nổi loạn nên bị giết, còn được chép kỹ hơn trong văn bản truy tặng viên Chỉ huy thiêm sự Chu An, y bị giết vì đã xúi dục hàng binh nổi loạn :

Ngày 20 tháng 5 năm Tuyên Đức thứ 3 [2/7/1428]

…Chu An từ Chỉ huy thiêm sự vệ Chấn Vũ được điều đi đánh giặc họ Lê, cải nhiệm tiền vệ Giao Chỉ, trấn thủ Nghệ An. Gặp lúc giặc Lê Lợi lộng hành, Đô đốc Thái Phúc triệu các tướng đến bàn :

“ Nay tại đây thiếu lương thực, khó khăn, nên không thể giữ được, hãy thu thập về Đông Quan.”

Tất cả đều đồng ý. Riêng Thiên hộ Bảo Tuyên lĩnh binh hơn 100 tên chạy đến trại giặc. An đốc suất kẻ dưới quyền, cùng quân dân vệ Diễn Châu trở về thành Đông Quan. Đi đến sông Phú Lương gặp giặc ; vì binh ít, yếu nên bị giặc bắt, Phúc bị giặc bức bách lệnh đến các thành dụ các chỉ huy thành ra hàng. An phẫn nộ cùng đồng đội mưu :

“ Quan quân sẽ đến diệt giặc, mỗi người chuẩn bị gậy, dao, súng ; chờ quan quân đến sẽ làm nội ứng chắc sẽ phá được giặc.”

Tuyên biết được mưu, đem sự việc cáo với Lê Lợi ; Lợi giận đem giết hết. Khi sắp bị giết An nói :

“ Ta là quan của Thiên triều, há lại chết dưới tay các ngươi.” Rồi cùng Chỉ huy Trần Lân Cựu nhảy lên cướp đao giặc, giết một vài người rồi tự tử. (Minh Thực Lục v. 18, tr. 1057-1062 ; Tuyên Tông q.43, tr. 8a-10b)

Tuy phần đông các thành ra hàng, nhưng cá biệt có thành Xương Giang, vị trí chiến lược nằm trên đường quân Minh tiếp viện phải qua lại vẫn cố thủ ; nghĩa quân phải vây đánh trong thời gian dài mới hạ được :

Các tướng Trần Hãn và Lê Sát đánh thành Xương Giang : hạ được.

Xương Giang là đường lối quân Minh tất phải qua lại. Bọn chỉ huy Minh là Kim Dận và Lý Nhiệm (Nhậm) bị vây hàng hơn sáu tháng, liều chết cố giữ để đợi viện binh ; quan quân không hạ được. Đến đây, các tướng Trần Hãn khoét đất thành đường hầm đi xuyên vào thành, đánh kẹp lại, mới phá được thành này. Bọn Kim Dận đều bị chết.

Minh Thực Lục mô tả sự khốc liệt của trận đánh này như sau :

Ngày 2 tháng 4 năm Tuyên đức thứ 2 [28/4/1427]

Ngày hôm nay giặc Giao Chỉ Lê Lợi công hãm thành Xương Giang. Lợi cho rằng Xương Giang là nơi quan trọng, [trên đường] đại quân ra vô ; bèn dùng hơn 8 vạn quân đánh. Quan giữ thành Đô Chỉ huy Lý Nhiệm, Chỉ huy Cố Phúc ra lệnh già, trẻ, phụ nữ đều lên mặt thành, dương cờ hò hét, ngày đêm chống cự ; Bọn Nhiệm bất ngờ mang quân tinh nhuệ ra công kích, đốt phá dụng cụ đánh thành. Bốn phía giặc đều xây núi đất, dùng phi minh bắn vào thành ; Nhiệm sai quân cảm tử ban đêm mở cửa thành ra đánh, giết giặc giữ núi đất. Mưu tập kích doanh trại, giặc đào địa đạo vào thành, Nhiệm sai đào hào ngang chặn địa đạo, rồi ném đá xuống, khiến giặc chết nhiều.

Giặc nghe tin đại binh của Chinh di Tướng quân sắp tới, sợ sẽ dùng thành này làm chổ dựa, bèn tăng cường thêm quân và voi tấn công. Tên đá bắn vào như mưa. Nhiệm dùng trăm cách để chống cự, trải qua 9 tháng trời, giao tranh hơn 30 trận ; khởi đầu trong thành có hơn 2000 tướng sĩ, lúc này chết và tật bệnh đến một nửa, nhưng giặc vẫn quyết vây đánh, dùng thang mây leo lên thành, rồi đoạt cửa, Nhiệm điều lính quyết tử ba lần đánh lui, nhưng giặc lại xua voi và lính vào. Bọn Nhiệm kiệt sức, đánh không xuể, Nhiệm và Phúc đều tự tử ; quan trong thành là Phùng Trí khóc ròng, hướng về phía bắc bái tạ, rồi cùng Chỉ huy Lưu Thuận, Tri phủ Lưu Tử Phụ thắt cổ chết. Trong thành các quan quân, cùng trai gái chết rất đông ; giặc phóng hoả đốt, cướp phá đến sạch không. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0701-702; Tuyên Tông q. 27, tr.2b)

Tình thế quẫn bách, Vương Thông triệu tập các quan lại nhắm thông qua quyết định giảng hoà với Bình Định vương Lê Lợi để rút quân về ; nhưng không được đám dưới quyền hoàn toàn nhất trí :

Ngày 11 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ 2 [7/5/1427]

Ngày hôm nay bọn quan Tổng binh Giao Chỉ Thành sơn hầu Vương Thông bị giặc đánh vây gấp, nhưng gom binh lại không dám ra đánh, giặc bèn gữi thư cho Thông xin hoà. Thông từ khi quân bại tại Ninh Kiều, tinh thần suy sụp rất nhiều ; tuy thắng một trận dưới thành nhưng chí khí không vững, bèn hứa cho giặc những đất tại các châu Thanh Hoá. Ý của Thông cho rằng Liễu Thăng đã xuất sư nhưng chưa đến ngay được, đường sá có nhiều sự ngăn trở ; nay Lê Lợi cầu hoà, thành tâm dâng biểu tạ tội ; thuận theo lời xin của y còn có đường sống, để có thể thu xếp cách tiến thủ sau này ; vả lại Thiên tử nhân từ không muốn giết, dùng binh nên thể theo ý của Thiên tử.

Tướng hiệu dưới quyền có kẻ cho là đúng, có kẻ im lặng không có ý kiến, có người phản đối nhưng chưa ra mặt ngăn cản ; chỉ một mình Án sát sứ Dương Thời Cập can :

“ Phụng mệnh đánh giặc lại chịu hoà với giặc. Tự tiện bỏ đất mang quân về, làm sao tránh tội được ; việc này không thể làm được ! ”

Thông to tiếng nạt rằng :

“ Việc phi thường, chỉ có con người phi thường mới làm được, ngươi làm sao hiểu nổi ! ”

Từ đó không có ai dám nói. Bèn sai thuộc hạ cùng đi với người của Lê Lợi để dâng biểu, cùng phương vật. (Minh Thực Lục v. 17, tr. 0713-714; Tuyên Tông q. 27, tr. 8a-8)

Tháng 9 viện quân của Liễu Thăng sang đến nước ta, Bình Định vương sai các tướng Trần Lựu, Lê Sát đón đánh, cả phá được quân địch, Cương Mục(13) trình bày về chiến dịch này như sau :

Trước kia, các tướng sĩ ta được tin quân cứu viện của Minh sắp kéo sang, phần đông đều khuyên Vương nên đánh gấp Đông Đô để diệt địch ở trong làm nội ứng. Vương bảo rằng : 

“ Đánh thành, là mưu thấp ; chi bằng nuôi sức quân, tích luỹ lấy tinh thần sắc bén, đợi giặc đến, ta đánh phá ngay. Một khi viện binh đã bị tuyệt diệt thì thành Đông Đô tất phải đầu hàng. Đó là mưu chước vạn toàn : làm một việc mà được lợi cả hai ”.

Vương bèn sắp xếp việc phòng thủ một cách nghiêm mật, ra lệnh cho các lộ Lạng Giang, Bắc Giang, Tam Đái, Tuyên Quang và Quy Hoá làm cho đồng ruộng sạch quang (14) để tránh mũi dùi sắc bén của địch. Đến đây, hay tin bọn Thăng đã kéo nhau đến đầu biên giới. Vương nhóm họp các tướng, bàn rằng :  “ Quân địch cậy mạnh lấn yếu, ỷ đông hiếp phía ít người. Ý chúng chỉ cốt chạy theo mối lợi chứ không đoái nghĩ gì đến chuyện gì khác. Chúng đi gấp suốt ngày đêm từ hàng nghìn dặm sang đây để cứu viện. Thế là đúng như Binh pháp đã nói : ‘Quân đi hàng năm trăm dặm mà chỉ vội nhằm lấy lợi thì viên thượng tướng tất phải kiệt quệ !’. Bây giờ thừa cơ chúng nó mới đến, người mệt, ngựa mỏi, chúng ta với cái thế lấy sức thong thả chờ đợi quân giặc đang nhọc nhằn, đánh ngay cho đòn phủ đầu để làm bạt tinh thần của chúng thì không còn chệch đâu mà không thắng nữa ”.

Vương liền sai các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Linh , Đinh Liệt và Lê Thụ đem hơn một vạn quân và năm thớt voi trước đặt phục binh ở cửa ải Chi Lăng (15) để đợi giặc. Lại sai Lê Lý và Lê Văn An lĩnh ba vạn quân, lục tục tiến lên.

Bấy giờ Trần Lựu phòng thủ cửa Pha Luỹ, thấy giặc đến, lui giữ cửa Ải Lưu (16). Giặc tràn đến, giành lấy Ải Lưu, Trần Lựu lại lui giữ cửa ải Chi Lăng. Phía trước cửa ải này cứ cách từng quãng lại có rào luỹ để chống giữ. Liễu Thăng thừa thắng đánh gấp, phá luôn được : tiến đến đâu cũng không còn ai dám chống cự nữa. Thăng rất đắc ý.

Vương sai người đem thư đến cửa quân của Thăng, cầu xin nhà Minh làm theo cái ý  “ tiếp nối cho dòng vua một họ đã bị tuyệt diệt ” do Minh Thành Tổ(1403-1424) đề xướng trước và cho lập Trần Cao làm chủ trong nước, bãi việc binh đao, khiến dân được yên nghỉ.

Sau mấy tháng, bức thư này được trình lên vua Tuyên Tông, bản dịch nguyên văn như sau :

Ngày 28 tháng 10 năm Tuyên Đức thứ 2 [16/11/1427]

Hồng lô tự tâu trình Thiên tử bức thư của Lê Lợi gửi qua quan Tổng binh An viễn hầu Liễu Thăng. Thư như sau :

“ Kẻ hèn này được nghe thầy Mạnh Tử dạy : Duy bậc nhân mới có thể dùng đức người trên vỗ về kẻ dưới ; kẻ trí lấy lễ người dưới để thờ người trên. Lấy đức người trên vỗ về kẻ dưới là vui với đạo trời, lấy lễ kẻ dưới thờ người trên là sợ trời.

Trước đây khi Thái tổ Hoàng đế mới lên ngôi báu, tiên Quốc vương nước An Nam là nước đầu tiên đến triều cống ; được đặc biệt khen thưởng và ban tước Vương, đời đời giữ đất, triều cống không khuyết. Từ khi Lê Quý Ly làm điều thoán nghịch, lật cả một dòng họ, trên thì lừa dối triều đình, dưới hành hạ dân khổ. Thái tông Hoàng đế hưng sư thảo phạt, một lần ra quân đều bình định, ban chiếu tìm con cháu nhà Trần để phụng thừa tổ miếu. Bấy giờ vì lâm vào cảnh độc hại của Quý Ly, con cháu họ Trần đều phiêu dạt trốn tránh nơi xa xôi, nên nhất thời không tìm ra được.

Nay con cháu họ Trần có người tên Cảo, trốn tránh tại Lão Qua đã 20 năm. Người trong nước không quên ân trạch của Tiên vương, tìm Cảo tại chốn ky lữ, muốn được Cảo kế thừa tổ tiên. Trăm vạn tấm lòng không hẹn cùng đồng lòng, do vậy bọn Lợi không dám mạo phạm uy trời với lời ngông dại, chỉ mong được ơn Thiên tử thể theo chiếu thư của Thái tông Hoàng đế với lời ghi rõ “ kế tuyệt ” khiến họ Trần đã diệt lại được phục hồi, thì chẳng riêng Cảo được hưởng đại ân, mà mọi người trong nước đều được đội ơn Thiên tử vô cùng vậy.” (Minh Thực Lục v. 17,tr. 0830-0831; Tuyên Tông q. 32, tr. 8b-9a)

Tiếp theo, Cương Mục kể thêm :

Thăng nhận thư, không mở xem, liền cho chạy trạm đem về tâu với vua Minh, còn mình thì cứ kéo quân ruổi dài thẳng tiến. Khi Thăng đến chỗ còn cách Chi Lăng vài dặm, các tướng Lê Sát sai Trần Lựu ra đánh, giả cách thua chạy. Thăng hí hửng mừng, chính hắn cầm đầu hơn trăm quân kỵ xông xáo lên trước, xa lìa toán quân hậu đội, rồi hắn, vì lầm lỡ, sa xuống lầy. Phục binh của ta thình lình nổi dậy : đánh cho quân địch phải thua xiểng liểng, chém Thăng ở sườn núi Đảo Mã và hơn vạn thủ cấp quân Minh.

Đạo quân của các tướng Lê Lý vừa vặn kéo đến, hội với đạo quân của các tướng Lê Sát. Bấy giờ quân phục lại trổ sức đánh khép lại : chém Lương Minh ở vòng trận và làm cho Lý Khánh phải tự vẫn chết. Thôi Tụ và Hoàng Phúc sắp xếp lại quân đội, rảo thẳng xuống Xương Giang. Các tướng Lê Sát đón đánh : phá được địch. Bọn Tụ thu lượm số quân còn sót, gượng gạo tiến lên. Kịp khi biết tin Xương Giang đã bị phá, chúng cả sợ, phải đắp luỹ đất ở ngoài đồng để tự vệ. Vương sai quân thuỷ và quân bộ bao vây chúng. Rồi ra lệnh cho Trần Hãn cắt đứt đường vận tải lương thực của địch, các tướng Phạm Vấn, Lê Khôi và Lê Xí thống lĩnh ba nghìn quân Thiết đột đi tiếp ứng. Mặt trận quân Minh rối loạn. Quan quân chém hơn năm vạn thủ cấp địch, bắt sống bọn Tụ, Phúc và ba vạn quân Minh. Thôi Tụ không chịu khuất phục, Vương sai giết chết.

Bấy giờ Mộc Thạnh đang cầm cự với các tướng Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả ở cửa ải Lê Hoa. Vương liệu trước rằng Mộc Thạnh là tay lão luyện, tất còn phải nghe ngóng cánh quân Liễu Thăng được thua ra sao đã, chứ không chịu vội vã tiến quân một cách khinh thường. Vương bèn sai mật dặn các tướng Văn Xảo và Trịnh Khả đừng giao chiến với địch vội. Kịp khi Liễu Thăng thua trận, Vương sai đem những tì tướng nhà Minh đã bị bắt làm tù binh và những sắc thư, phù tín, ấn chương đã bắt được đưa đến chỗ quân Mộc Thạnh cho Thạnh biết. Thạnh quá kinh hãi. Quân Thạnh tự tan vỡ, lẩn chạy. Các tướng Trịnh Khả nhân đà đang sắc bén, tung quân ra đánh phá ; chém hơn vạn thủ cấp, bắt được hơn một nghìn quân địch và hơn một nghìn ngựa. Mộc Thạnh chỉ kịp một người một ngựa chạy thoát. (13)

Tuy chép theo quan điểm của kẻ địch, nhưng Minh Thực Lục cũng phải công nhận phần lớn những sử liệu nêu trên qua văn bản dưới đây :

Ngày 10 tháng 9 năm Tuyên Đức thứ 2 [1/10/ 1427]

Ngày hôm nay quân của quan Tổng binh An viễn hầu Liễu Thăng đến Ải Lưu quan ; Lê Lợi cùng các đầu mục lớn nhỏ sai người đến cửa quân dâng thư xin bãi binh để yên dân và lập con cháu họ Trần làm chủ đất này. Bọn Thăng nhận thư, không mở ra xem, sai người tâu về kinh. Lúc này những chỗ quan quân đi qua, giặc làm trại để thủ, quan quân liên tiếp công phá, đến ngay ải Trấn Di như vào chỗ không người. Ý Thăng xem thường, Thăng là người võ dõng nhưng ít mưu. Bấy giờ Tả Phó Tổng binh Bảo định bá Lương Minh, Tham tán quân sự Thượng thư Lý Khánh đều bệnh ; Lang trung bộ Lễ Sử An, Chủ sự Trần Dung nói với Khánh rằng :

“ Xem lời lẽ, sắc mặt của chủ tướng, có vẻ kiêu ; kiêu là điều tối kỵ của nhà binh. Vả lại bọn giặc nguỵ trá, hoặc có thể làm ra vẻ yếu để dụ chúng ta ; huống tỷ thư dụ rõ ràng là phải phòng ngừa giặc đặt phục binh. Đây là phút an nguy, Ngài nên nói gấp.”

Khánh rán ngồi dậy gặp Thăng, hết sức can gián. Thăng ừ ào, nhưng vẫn không nghiêm chỉnh phòng bị. Đến eo núi Đảo Mã, cùng với hơn trăm quân kỵ qua cầu ; nửa chừng cầu bị sập, quân đằng sau không tiến được. Thăng rơi xuống vũng lầy, phục binh giặc nổi lên bốn phía, Thăng bị đâm chết bằng giáo ; đám quân theo Thăng cũng bị giết sạch. Lúc này Hữu Tham tướng Đô đốc Thôi Tụ thu thập quan quân, chỉnh đốn đội ngũ. Cũng ngày hôm đó Lương Minh bệnh chết, lại ngày hôm sau Lý Khánh cũng chết. Rồi đến ngày hôm sau nữa, Thôi Tụ điều quan quân tiến ; đến Xương Giang gặp giặc, quan quân ít giặc thì đông, cố gắng đánh nhưng giặc xua voi vào trợ chiến, nên quân lọan, Thôi Tụ bị bắt sống. Giặc hô lớn :

“ Kẻ hàng không bị giết.”

Quan quân hoặc tử trận, hoặc chạy về biên giới, không một ai hàng. Lang trung Sử An, Chủ sự Trần Dung, Lý Tông Phương đều chết vào ngày hôm đó ; duy một mình Chủ sự Phan Hậu thoát trở về được.

Liễu Thăng người đất An Khánh, huyện Hoài Ninh. Cha tên là Đức, thời Hồng Vũ giữ chức Bách hộ vệ Trung Cẩn, tại Yên Sơn. Thăng thay chức, theo Thái tông Hoàng đế dẹp yên nội nạn, tham dự trên hai mươi trận đều có công, mấy lần được thăng đến chức Đô Chỉ huy Đồng tri giữ Trung Đô. Năm Vĩnh Lạc thứ 3 thăng chức Tả quân Đô đốc Thiêm sự. Năm Vĩnh Lạc thứ 4 theo Anh Quốc công Trương Phụ bình Giao Chỉ, năm thứ 6 được thăng An Viễn bá. Năm thứ 8 sung chức Phó Tổng binh hỗ tòng Thiên tử chinh phạt phía bắc, đến sông Huyền Minh đánh bại giặc, được đặc cách phong tước Phụng Thiên Tĩnh Nạn Suy Thành Tuyên Lực Vũ thần Đặc Tiến Vinh Lộc Đại phu Trụ Quốc An viễn hầu, hưởng lộc 1500 thạch, trấn tại Ninh Hạ. Rồi tuân chiếu chỉ về kinh, giữ chức Tổng binh đại doanh, lại hỗ tòng Thiên tử bắc chinh, tiến đến Thương Nhai, Hiệp Quỉ, sông Lực Nhi, Khánh Châu ; đều có công lao.

Nhân Tông Hoàng đế lên ngôi, được gia phong Thái tử Thái truyền, đến nay sung chức Tổng binh quan, đem quân đánh giao chỉ, tử trận. Thăng tính trực, giản, điềm tĩnh ; xử sự bình dị ; dõng cảm lúc lâm địch, thắng sinh kiêu, mà lại ít mưu lược nên đi đến chỗ thất bại.

Lương Minh người huyện Nhữ Dương, Hà Nam ; thời Hồng Vũ tập ấm chức của cha làm Bách hộ Tiền vệ Yên Sơn. Lúc Thái Tông Hoàng đế tĩnh nội nạn, theo hầu Hoàng đế Nhân Tông ở lại giữ Bắc Kinh. Bấy giờ quân địch vây thành, Minh ra sức chiến đấu, lập kỳ công mấy lần thăng đến chức Hậu quân Đô đốc Thiêm sự. Khi Hoàng đế Nhân Tông giám quốc tại Nam Kinh, Minh can tôi nhận hối lộ, bị hạ ngục. Năm Vĩnh Lạc thứ 19 được tha và phục chức rồi nhận sắc mệnh đến Quảng Đông đánh giặc Nụy. Lúc vua Nhân Tông lên ngôi, được thăng Đô đốc Đồng tri mệnh trấn Ninh Hạ ; lại được hậu thưởng về công thủ thành, được phong tước Bảo định bá, đến nay bị bệnh mất.

Minh tính rộng rãi, công việc ưa giản dị ; nhưng quả cảm, gặp giặc hăng đi trước, rành chỉ huy quân lính ; phút cuối nếu Minh không chết, Tụ không đến nỗi bị bại.

Thôi Tụ người đất Phượng-Dương, huyện Hoài Viễn. Theo vua Thái Tông bình nội nạn có công, được thăng đến chức Chỉ Huy sứ vệ Tô Châu. Năm Vĩnh Lạc thứ 8, hỗ tòng Thiên tử chinh phạt phương bắc, đánh bại giặc tại Quảng Hán, được thăng Đô Chỉ huy Thiêm sự Hà Nam. Năm Hồng Hy thứ nhất thăng Tả quân Đô đốc Thiêm sự, đến nay theo bọn Liễu Thăng đánh Giao Chỉ. Sau khi Thăng chết quân bại, Tụ thu liễm thực lực đánh tiếp, nhưng sức không đương nỗi, bị giặc bắt. Giặc ép Tụ dụ chúng hàng, Tụ không theo ; giặc dùng trăm kế để cưỡng dụ, Tụ không nghe, nên bị giết.

Lý Khánh người huyện Thuận Nghĩa, phủ Thuận Thiên. Vào thời Hồng Vũ, từ Sinh viên Quốc Tử giữ chức Đô sát viện Hữu thiêm Đô Ngự sử, sau đó được trao chức Viên ngọai lang bộ Hình, rồi thăng lên Tri phủ Thiệu Hưng. Năm Vĩnh Lạc thứ nhất chiếu ban Thị lang bộ Hình, năm thứ 5 cải sang Hữu Phó Đô Ngự sử Đô sát viện, xây dựng Bắc Kinh được thăng Thượng thư bộ Công, năm thứ 22 điều sang bộ Binh, kiêm Thái tử Thiếu bảo ; Nhân Tông Hoàng đế mệnh thị tòng yết Hiếu lăng. Khánh ước thúc, nên tùy tùng tướng sĩ không dám xâm phạm mảy may của dân. Thiên tử muốn săn bắn, mấy lần dâng thư can gián. Rồi lưu tại bộ Binh, Nam Kinh. Khi An viễn hầu Liễu Thăng chinh Giao Chỉ, mệnh Khánh tham tán quân sự, đến Quảng Tây phát bệnh, vào đất Giao Chỉ thì mất… (Minh Thực Lục q. 31, tr. 0797-0801; Tuyên Tông q. 31, tr. 2a-4a)

Thế cùng lực kiệt, không còn chỗ nương dựa, Vương Thông gấp rút điều đình với Bình Định vương Lê Lợi lập đàn tuyên thệ tại bờ sông phía nam thành Đông Quan [Hà Nội], để được rút quân về an toàn :

Ngày 26 tháng 10 năm Tuyên Đức thứ 2 [12/11/1427]

Quan Tổng binh Giao Chỉ Thành Sơn hầu Vương Thông tập hợp đông quân dân quan lại tại bờ sông thuộc vòng đai phòng thủ, lập đàn cùng Lê Lợi thề, ước hẹn rút quân ; sau đó ban yến tiệc, tặng hàng dệt kim tuyến, lụa nõn hoa văn hai lớp trong ngoài. Lê Lợi cũng tạ bằng bảo vật. (Minh Thực Lục q. 32, t. 0828)

Cùng với việc lập đàn thề, hai bên thoả thuận để Bình Định vương Lê Lợi đưa ra một người được gọi là tôn thất nhà Trần tên Cảo, với danh nghĩa làm quốc chúa, để thuận tiện giao thiệp với nhà Minh. Vương Thông sai viên Chỉ huy Hám Trung hướng dẫn Sứ giả mang tờ biểu của Trần Cảo gửi đến vua Tuyên Tông :

Ngày 29 tháng 10 năm Tuyên Đức thứ 2 [17/11/1427]

Giặc Lê Lợi tại Giao Chỉ sai người dâng biểu cùng sản vật địa phương.

Trước đó quan Tổng binh Thành Sơn hầu Vương Thông hoà với giặc, bèn sai Chỉ huy Hám Trung cùng người của Lợi sai đi dâng biểu cùng phương vật, đến nay tới kinh. Biểu rằng :

“ Cháu ba đời dòng đích Quốc vương cũ Trần Hiệt thuộc nước An Nam, thần là Trần Cảo thành hoàng thành khủng, dập đầu cúi đầu dâng lời như sau :

“ Trước đây bị tặc thần cha con Lê Quý Ly soán đoạt ngôi vua, giết hại dòng họ đến gần hết, thần Cảo chạy trốn sang Lão Qua, mong kéo dài hơi tàn, đến nay đã 20 năm. Mới đây người trong nước được tin thần còn sống, bèn ép thần trở về, bọn chúng đều nói rằng : “ Trước đây khi Thiên binh mới dẹp xong giặc họ Lê, có chiếu chỉ tìm hỏi con cháu nhà Trần để lập làm vua, lúc đó tìm chưa được bèn đặt quận huyện. Nay muốn thần trần tình sự việc, để xin mệnh được lập.” Thần tự biết tội đáng chết vạn lần, nhưng nghĩ đến ơn sinh thành của trời đất bèn kính cẩn dâng biểu lên.

Thần Cảo nghĩ rằng Nam Giao vốn là đất hải ngoại, thời Thiên triều Thái Tổ mới mở vận nước, tổ phụ thần là nước đầu tiên cho người đến triều, hàng năm nạp cống, mấy đời được phong tước vương. Mới đây giặc họ Lê chất chứa tội ác, khiến mệt nhọc Thiên binh từ xa đến thảo phạt, rồi tìm hỏi con cháu họ Trần để kế tục ; lúc này họ hàng bôn ba phiêu tán tại làng mạc nên không tìm ra được ; vì nhu cầu cai trị nhân dân, nên đặt ra châu huyện.

Nay dân địa phương vẫn nghĩ đến việc kế tục sự nghiệp tổ phụ thần, may mắn chiếu chỉ của Thiên triều cũng thường nhắc đến “ phục hưng nước bị diệt, nối lại dòng bị đứt ” ; Thần lọc máu viết lời trần tình, cầu Thiên triều thỉnh mệnh. Duy Hoàng đế Bệ hạ rộng lòng che chở như trời đất, chiếu rọi tựa mặt trời mặt trăng, như mùa xuân ban khắp bốn biển, mây bay mưa móc đượm nhuần ; nghĩ đến tổ phụ thần chết không trọn kiếp, riêng thần linh đinh cô khổ, cho thần có được nước cũ, thần Cảo há dám không khắc vào xương, ghi vào lòng, trung thành quy thuận, mãi mãi kính mệnh trời, chăm chăm với lòng thành thờ nước lớn. Bọn thần Cảo trong lòng sợ hãi ngưỡng cầu ơn Trời, Thánh.”

Thiên tử đọc xong tờ biểu, bèn dụ quần thần văn võ như sau :

“ Trước đây khi Thái Tổ Hoàng đế mới định thiên hạ, An Nam đến triều cống trước tiên. Đến lúc tặc thần soán ngôi chúa, độc hại người trong nước, Thái Tông Văn Hoàng đế vì cớ đó phát binh diệt, rồi hỏi tìm con cháu họ Trần để lập ; tìm không được nên phải đặt quận huyện ; sau này vua cha ta [Nhân Tông] than tiếc khi nghĩ đến việc họ Trần không có người nối dõi. Mấy năm nay nước này không yên, vương sư bị mệt nhọc, Trẫm há lại vui vì việc dùng binh ư ! Nay họ Trần có người nối dõi, lời cầu xin nên chấp nhận, hay không nên ? Quần thần đều tâu : “ Lòng của Bệ hạ cũng giống như lòng của tổ tiên, vả lại xếp việc binh để yên dân, trên hợp với lòng trời, nay chấp nhận cho họ là đúng.” Vua bảo : “ Có người dùng lối chiết tự “ chỉ qua vi vũ (17) 止 戈 爲 武 ” cho rằng không dùng vũ lực không ngừng được can qua, nhưng nếu dân được yên thì Trẫm sá kể gì lời bàn đó ! ” (Minh Thực Lục q. 32, t. 0832-0834).

Lúc này vua Tuyên Tông không còn lòng dạ nào nghe theo lời bàn của phe chủ chiến, họ lập luận bằng cách dùng phép chiết tự “ Chỉ qua vi vũ ” để khuyến khích tiếp tục chiến tranh. Qua mấy lần tăng viện bị thất bại, trong đầu óc nhà vua chỉ còn ý nghĩ duy nhất là làm sao ngưng chiến, mà khỏi mất mặt. Nhân việc Trần Cảo dâng biểu văn, vua Tuyên Tông dựa vào đó, để hoạch định ngay một lộ trình [roadmap] chấm dứt chiến tranh với những nét sau đây :

– Gửi chiếu thư tha An Nam mọi tội lớn nhỏ. Sau khi Sứ giả hỏi han kỳ lão tại An Nam, xác nhận Trần Cảo là hậu duệ nhà Trần, thì sẽ phong tước.

– Đại quân của Vương Thông cùng toàn bộ quan lại, quân lính, gia nhân thuộc guồng máy cai trị Đô ty, Bố chánh ty, Án sát ty đều rút về.

Khổ công vạch lộ trình, vua Tuyên Tông mưu tránh tiếng bị thua phải rút quân, lại muốn lên mặt Thiên tử ban phát hoà bình cho nước ta. Thực hiện gấp việc này, nội trong ngày 1 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ 2 [19/11/1427] nhà vua ban hành 3 chiếu dụ : Văn kiện thứ nhất để phủ dụ An Nam, văn kiện thứ hai gửi cho vua Lê Lợi, văn kiện thứ ba gửi Vương Thông :

a. Chiếu phủ dụ An Nam

Ngày 1 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ 2 [19/11/1427]

Mệnh Tả Thị lang bộ Lễ Lý Kỳ, Hữu Thị lang bộ Công La Nhữ Kính làm Chánh sứ, Hữu Thông chính thuộc ty Thông chính Hoàng Ký, Hồng Lô Tự khanh Từ Vĩnh Đạt làm Phó sứ mang chiếu phủ dụ An Nam. Chiếu thư như sau :

“ Đạo trời chí nhân, dựa theo sự mong muốn của con người ; vua cũng thể theo lòng trời để cai trị. Trước đây khi Thái Tổ Cao Hoàng đế mới nhận mệnh trời thống ngự Trung Hoa và các Di Địch, Quốc vương An Nam Trần Nhật Khuê đầu tiên cung thuận xưng thần, đời sau con cháu nối tiếp một lòng theo. Rồi bị tặc thần Lê Quý Ly thí vua soán đọat ngôi vị, giết họ hàng nhà Trần, độc hại người trong nước, không có chỗ tố cáo. Bấy giờ vua Thái Tổ Văn Hoàng-đế ta, mệnh tướng xuất sư thay trời thảo phạt, trừ kẻ tàn bạo, nối dòng bị đứt, bản chất thực là bực thánh nhân. Cha con Hồ Quý Ly bị bắt sống, hỏi han trong nước về con cháu nhà Trần nhưng không có tin tức ; bèn ra lệnh đặt quận huyện để cai trị. Trải qua năm tháng, quan lại cai trị thất sách khiến dân không yên, phải mệt nhọc quân lính. Trẫm là chúa thiên hạ, há nỡ để một phương chịu cảnh tệ hại, nên ngày đêm lo nghĩ làm cách nào thu xếp để được an ninh.

Nay viên Tổng binh cho người mang thư của bọn Lê Lợi đến bảo rằng con cháu nhà Trần hiện còn sót lại, lòng người nghĩ đến triều trước, vậy xin ân mệnh được thừa kế, vĩnh viễn phụng chức cống. Xem lời lẽ khẩn thiết, làm đẹp lòng Trẫm, nên ban ân mệnh để được đổi mới. Phàm các quan lại lớn nhỏ, quân dân tại Giao Chỉ, phạm tội không kể lớn nhỏ đều được tha. Về việc cháu của Vương An Nam họ Trần xưa, lệnh đầu mục kỳ lão trình bày đầy đủ sự thực, rồi sai sứ sách phong ; triều cống thì vẫn theo chế độ cũ thời Hồng Vũ. Bọn quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông hãy điều động quan quân trở về nguyên vệ sở. Các quan lại văn võ, quân nhân các hiệu cờ, thuộc Giao Chỉ Đô ty, Bố chánh ty, Án sát ty, vệ, sở, phủ, châu, huyện được mang gia thuộc trở về. Trấn phủ, công sai, nội quan, nội sứ đều trở về kinh.

Y Hy ! Hưng diệt kế tuyệt thể theo lòng của tổ tiên, xếp võ yên dân thuận đức chở che của trời đất. Nay chiếu chỉ đặc cách, biểu thị tấm lòng ! Bọn Hành nhân Lý Kỳ được ban tiền giấy 5000 quan. (Minh Thực Lục q. 33, t. 0835-836)

2. Sắc dụ Ðầu mục Giao chỉ Lê Lợi :

Ngày 1 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ 2 [19/11/1427]

Sắc dụ bọn Đầu mục Giao Chỉ Lê Lợi : Trước đây tại thời vua Thái Tổ Cao Hoàng đế nước ta mới thống ngự xã tắc, An Nam là nước đầu tiên đến quy thuận, kính cẩn giữ tiết bề tôi, trước sau không trái. Đến lúc tặc thần cha con Lê Quí Ly soán thí chúa, giết cả họ Trần, tàn độc với người trong nước, xâm hại lân cảnh ; vua Thái Tông Văn Hoàng đế nước ta thể theo lòng trời mang quân điếu phạt, vì muốn trừ tàn bạo, nối dòng bị đứt để yên ổn một phương. Tội nhân đã bắt được, nhưng bỏ thời gian lâu tìm kiếm con cháu họ Trần thì không gặp, bèn ra lệnh chia đất này thành quận huyện, đặt quan lại để cai trị. Ngày tháng lâu dài, quan lại cai trị hiền ác không đều, nên dân chúng không yên, lại phải mệt nhọc đến quân lính, trải qua năm này đến năm khác, việc binh giáp không chấm dứt được.

Trẫm cho rằng dân trong bốn biển đều là con đỏ (18) của ta, làm cha mẹ há để một phương bị chìm đắm, nên ngày đêm lo tính sự yên ổn. Nay viên Tổng binh tâu việc thư từ của ngươi trình rằng con cháu họ Trần An Nam xưa vẫn còn, xin thể theo mệnh của Thái Tông Văn Hoàng-đế “ nối dòng bị đứt ”; lời lẽ khẩn khoản, hợp với lòng Trẫm. Phàm đạo của bậc Đế Vương thuận theo dân để trị, lời nói có lợi cho dân tất nghe theo ; đã hạ chiếu đại xá Giao Chỉ, mọi việc đều được đổi mới. Lệnh Đầu mục, kỳ lão tâu trình đầy đủ rõ ràng việc con cháu nhà Trần vẫn còn, để sai sứ sang sách phong. Nay sai bọn Thị lang Lý Kỳ mang sắc dụ ngươi, từ nay trở đi nên yên dân, giữ gìn biên cảnh, thể theo lòng kính trời thương người của Trẫm. Khâm tai ! (Minh Thực Lục q. 33, t. 836-838)

3. Sắc dụ bọn quan Tổng binh Thành-Sơn hầu Vương Thông

Ngày 1 tháng 11 năm Tuyên Đức thứ 2 [19/11/1427]

Sai Đô Chỉ huy Trương Khải, Chỉ huy Thiêm sự Điền Khoan mang sắc dụ bọn quan Tổng binh Thành sơn hầu Vương Thông, Hữu Tham tướng Đô đốc Mã Ánh rằng : “ Nhân quan Tổng binh An Viễn hầu Liễu Thăng tiến đến An Nam, nên nhận được thư của bọn Đầu mục Lê Lợi, cùng cháu đích tôn của Vương An Nam trước là Trần Cảo khẩn khoản xin phục hồi họ Trần để nối dõi, lời thiết tha hợp với lòng Trẫm. Trẫm là chúa thiên hạ, đều muốn cho dân trong bốn biển vạn nước được an cư lạc nghiệp, há nỡ để cho Giao Chỉ riêng chịu cảnh tệ hại. Gần đây dân nước này không yên, cũng do quan lại cai trị sai, ngược đãi ; xét về bản tâm cũng có chỗ đáng thương. Nay đều chấp nhận theo lời xin, đặc biệt ban chiếu xá tội cùng canh tân. Sắc đến, bọn ngươi hãy suất lãnh quan quân cùng mọi người trở về.” (Minh Thực Lục q. 33, t. 837-838)

Chú thích

1. Cương Mục, Sđd, trang 374.

2. Núi đất : tức Thổ sơn, quân đánh thành thường đắp ụ đất cao gọi là thổ sơn, để quan sát trong thành, cùng đặt súng lớn bắn vào.

3. Pha Luỹ : tức ải Nam Quan.

4. Cương Mục, Sđd, trang 378-379.

5. Cương Mục, sđd, trang 377.

6. Mi Động : Tên xã. Nay là Hoàng Mai thuộc huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội.

7. Cương Mục, Sđd, trang 378.

8. Nam Ninh :hiện nay Nam Ninh là thủ phủ tỉnh Quảng Tây, vị trí cách ngã ba các sông Tả Giang, Hữu Giang khoảng trên 10 km.

9. Phủ Thái Bình đời Minh vị trí tại sông Tả Giang, gần biên giới Việt Nam ; Bằng Tường, Long Châu nằm trong phủ này.

10. Cương Mục, sđd, trang 382.

11. Các nị : Chúng mày.

12. Cương Mục, sđd, trang 278.

13. Cương Mục, sđd, trang 382-384.

14. Ðồng ruộng sạch quang : tức tiêu thổ kháng chiến.

15. Chi Lăng : thuộc xã Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn ngày nay.

16. Ải Lưu : là cửa ài trên đường từ Khâu Ôn đến Chi Lăng ; nay thuộc giáp giới xã Nhân Lý và Sao Mai huyện Chi Lăng ngày nay.

17. Câu này lấy từ điển “ Chỉ qua vi vũ 止 戈 爲 武 ” Hán Thư giảng như sau : Thánh nhân dùng vũ lực để cấm bạo loạn, ngừng can qua ; do đó chữ vũ 武 được cấu tạo theo phép hội ý gồm chữ chỉ 止 và qua 戈 gộp lại.

18. Con đỏ tức “ xích tử ”, chữ vua dùng chỉ dân chúng.

Năm Mậu Thân [1428]

Cho dù cố gắng vớt vát phần đuôi, nhưng thời cuộc vẫn dửng dưng tiến theo xu thế tất nhiên, không thuận theo lòng vua Tuyên Tông xếp đặt. Sau khi hội thề, Vương Thông sợ bị vua Lê Lợi đổi ý thì tính mệnh y khó vẹn toàn, bèn vội vã mang quân về nước, không kịp chờ lệnh của triều đình.

Về đến nơi an toàn, đóng quân tại Nam Ninh, Quảng Tây ; bấy giờ Vương Thông mới sai người dâng lời tâu nhắm trần tình gỡ tội :

Ngày 7 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 3 [21/2/1428]

Bọn quan Tổng binh Giao Chỉ Thành sơn hầu Vương Thông sai người đến tâu rằng :

“ Năm ngoái Lê Lợi tấn công và vây [thành] Giao Chỉ, Thần mang quân đánh, mấy lần thắng, chém bọn Tư đồ nguỵ Lê Chích, bắt sống bọn Tư không nguỵ Đinh Lễ, cùng đuổi hàng vạn giặc đến sông Phú Lương, chết trôi nhiều không kể xiết, giặc sợ không dám đánh tiếp. Gần đây Lê Lợi tập trung dân bản xứ, tự phong nguỵ Vương để làm vững lòng dân chúng, bất ngờ mang đại quân vượt sông xâm lược. Bọn thần mong đại quân đến tăng viện gấp, lại nghe An viễn hầu Liễu Thăng đến quan ải Trấn Di tử trận, Bảo định bá Lương Minh, Thượng thư Lý Khánh đều bị bệnh chết, Đô đốc Thôi Tụ mang quân tới Xương Giang thì bị giặc tập kích, Kiềm quốc công, Tân ninh bá đến châu Quy Hoá bị giặc ngăn trở không tiến được.

Thần đôn đốc ngày đêm công kích, Lê Lợi sợ triều đình lại mang đại quân đến đánh bắt, bèn sai người đưa thư xin hàng, đem đầu mục lớn nhỏ đến cửa quân chịu tội, cùng nguỵ Vương Trần Cảo sai người dâng biểu trần tình tạ tội, cống người vàng, người bạc thay thân. Lại tiễn Đô đốc Thái Phúc, Đô chỉ huy Lỗ Tăng đưa 13.391 người cùng 1.200 lừa ngựa về kinh trước xin toàn bộ ban sư ; kế tiếp lại sai con cháu đến cửa quân nạp lễ xin qui thuận triều đình.

Thần trộm nghĩ phụng mệnh diệt giặc, đáng dốc lòng trung thành liều chết để đợi viện binh, nhưng trong thành quân ít, lòng người kinh sợ, chí không vững ; bọn giặc lại điên cuồng giảo hoạt hơn trước, các đường thuỷ bộ quan trọng đều bị chúng chiếm, cho dù có viện binh cũng khó đến ngay được. Nếu thành trì bị hãm, không khỏi phải hưng binh một lần nữa ; vì một góc đất mà mệt nhọc nhiều người trong thiên hạ, khiến đấng quân phụ phải lo, không hợp với lòng trung thành của kẻ thần tử. Thần và chúng [quan] bàn rằng nhân cơ hội này, chỉnh đốn quân lữ, vượt trở về đất sống rồi tái mưu đồ hậu sự. Thần đã đốc suất các nha lại trực thuộc Giao Chỉ cùng quan quân trở về Nam Ninh, Quảng Tây để phục mệnh, và trông đợi Hoàng thượng xét Trần Cảo có đúng danh nghĩa con cháu nhà Trần không ; sai sứ qua lại xem xét, nếu có sự giả mạo, xin lượng cho thêm quân mã thuỷ bộ chia đường cùng tiến thảo ; nếu còn một lần nữa không có hiệu quả, bọn thần xin chịu tru lục. Kính cẩn phủ phục đợi mệnh.”

Thiên tử xem tờ tấu, nói với thị thần rằng : “ Quan Tổng binh ở ngoài tự tiện liên lạc với giặc, không đợi mệnh lệnh của triều đình mang quân trở về, không còn theo lễ của bề tôi nữa ! ” (Minh Thực Lục q. 36 t. 0897-0899)

Mấy ngày sau đó, vua Tuyên Tông gửi sắc dụ đòi bọn Vương Thông trở về kinh đô. Tức giận trút trên đầu kẻ dưới, nhà vua không còn úp mở, bộc bạch rõ về kế hoạch của mình đã bị Vương Thông vì tham sống sợ chết muốn giữ an toàn cho bản thân mà làm hỏng, để rước lấy nỗi nhục nhã bị người nước “ man di ” chê cười :

Ngày 10 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 3 [24/2/1428]

Sắc dụ Thành sơn hầu Vương Thông, Đô đốc Mã Ánh. Nhận tờ tấu của các ngươi, được biết quan quân đã về tới Nam Ninh, Quảng Tây. Trước đây nghe tin An viễn hầu Liễu Thăng, Đô đốc Thôi Tụ bị bại ; Trẫm cho rằng các ngươi sẽ đem hết dạ trung thành, tiếp tục chiến đấu không ngừng. Nghĩ rằng sinh linh có tội tình gì mà gan óc phải phơi bày nơi đất cát, nên muốn tìm kế vẹn toàn, vốn là ý nguyện của Trẫm.

Mới đây nhận tờ biểu của Trần Cảo, cùng thư của Lê Lợi gửi quan Tổng binh xin lập hậu duệ họ Trần, lời lẽ phù hợp lòng Trẫm, nên sai bọn Thị lang bộ Lễ Lý Kỳ mang chiếu xá tội quân dân quan viên Giao Chỉ, lệnh con cháu nhà Trần đến trình bày sự thực để sai sứ sắc phong ; lại sắc dụ các ngươi suất lãnh quan quân, cùng Trấn thủ, Nội quan, quan lại thuộc tam ty (1) trở về. Làm việc này chứng tỏ rằng không phải vì bọn giặc cường ngạnh đại binh không tiêu diệt được, mà chỉ vì không nỡ để con đỏ bị lầm than quá lâu.

Các ngươi đáng nên giữ vững thành trì để đợi mệnh lệnh của Trẫm, cớ sao thông đồng với giặc, bỏ thành trở về nước. Các ngươi lo gấp kế bảo toàn cho bản thân, còn về quốc thể thì sao ; lại thất lễ vua tôi, há không bị bọn man di chê cười hay sao ! Khi sắc tới, phải đưa quân lính mang về, cùng quân rã ngũ bị Lê Lợi tống về, cho trở về nguyên vệ, sở ; lại sắc Nội quan Sơn Thọ, Mã Kỳ, cùng Thông tới kinh. (Minh Thực Lục q. 36, t. 0900)

Riêng đối với Bình định vương Lê Lợi thì vua Tuyên Tông cũng chẳng làm gì hơn được. Tuy tỏ lòng giận dữ kết tội nhà vua “ nghị hoà riêng với Vương Thông để chiếm thành trì, tiếm quyền vô lễ không phải chỉ có một chuyện ” nhưng cũng đành nuốt hận tiếp tục “ khoan hồng ” cho xong việc, để tìm cách mang về hết số quân lính và khí giới đang còn bị kẹt lại :

Ngày 1 tháng 4 năm Tuyên Đức thứ 3 [21/2/1428]

Giao Chỉ sai Đầu mục Lê Thiếu Dĩnh từ giã trước bệ rồng ; ban cho áo văn ỷ, sa, cùng sắc dụ Đầu mục Lê Lợi rằng :

Tháng 10 năm ngoái trong quân gửi đến thư trần tình cùng biểu văn của các ngươi xin lập con cháu họ Trần. Trẫm thể theo lòng hiếu sinh của trời đất, cùng ý lúc khởi đầu của Thái Tông Văn Hoàng đế, thuận theo lời thỉnh. Đặc cách sai bọn Thị lang bộ Lễ Lý Kỳ mang chiếu thư đại xá Giao Chỉ ; lệnh cho ngươi, cùng các Đầu mục, kỳ lão trong nước trình bày đầy đủ sự thực về cháu đích tôn họ Trần.

Đáng ra các ngươi phải kính cẩn đợi mệnh của triều đình, nhưng lại ôm lòng xảo trá nghị hoà riêng với bọn Vương Thông, dụ rút quan quân để vào chiếm thành trì, tiếm quyền vô lễ không phải chỉ một chuyện. Tuy hiện nay ngươi dâng lời xin tạ tội, nhưng các quan văn võ quần thần hợp tấu rằng tội ngươi không thể tha được. Trẫm đã ban ân mệnh cho ngươi, nay vẫn giữ sự khoan hồng, nhưng việc làm sau này phải hợp lòng dân, ngươi không thể tự chuyên được. Khi sắc tới ngươi phải cùng với kỳ lão Giao Chỉ trình bày đầy đủ sự thực về cháu đích tôn họ Trần, đợi tâu lên, để căn cứ vào đó mà ban chiếu sách phong. Ngươi phải đem những người còn bị câu lưu cùng binh khí về kinh, để một phương được an định. Tấu chương của quần thần (4) cũng được giao cho Lê Thiếu Dĩnh đưa cho ngươi để ngươi hiểu rõ. (Minh Thực Lục q. 41, t. 993)

Chú thích

1.Tam ty: gồm Đô Chỉ huy sứ ty, Bố chánh ty, Án sát ty.

2. Lời tâu của quần thần nhà Minh về cách đối xử với vua Lê Lợi. Ý vua nhà Minh muốn dùng thêm lời quần thần để gây áp lực.

Kết Luận

Trên 20 năm đấu tranh không ngưng nghỉ, dòng lịch sử khởi đầu tựa những khe suối, nguồn lạch trong rừng, trải qua ghềnh thác cheo leo, biết bao sinh mệnh nổi trôi hy sinh nơi vực sâu triền đá, cuối cùng biến thành sông lớn êm đềm, toả ra muôn ngàn sức sống. Hàng trăm cuộc nổi dậy từng dấy lên, ví như ánh đèn, đuốc, lửa thuyền chài le lói trong đêm trường ; để rồi mặt trời mọc, đèn đuốc tự nhiên tắt dần, hoà nhập với ánh bình minh của dân tộc. Còn địa vị thì phải xứng đáng với công nghiệp ; dù nhất thời phải dùng Trần Cảo để tiện giao thiệp với nhà Minh, nhưng rồi tất nhiên người áo vải đất Lam Sơn, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi vua.

Ðất nước chẳng những độc lập thống nhất ; mà dư oai của cuộc chiến thắng oai hùng, khiến nước ta lấy lại được Ninh Viễn, Lộc Châu, tức phần đất thuộc các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Ðiện Biên và một phần Lạng Sơn ngày nay, trước đó đã bị mất dưới thời nhà Hồ :

Ngày 4 tháng 7 năm Thiên Thuận thứ 8 [6/8/1464]

Đầu mục châu Ninh Viễn Thứ Mãnh Thứ Tiễn dẫn thổ dân Di trắng chân đen [Thái Trắng] đến cướp phá vùng La Mai thuộc phủ Lâm An, Vân Nam ; viên Tri phủ Chu Anh giấu việc này không trình. Rồi có một số hơn 80 người gồm cả trai gái thuộc trại Ha tại An Nam đến theo ; y trưng công việc này và che giấu lỗi cũ. Bọn quan Tổng binh Đô đốc Đồng tri Mộc Toản tâu lên. Đô sát viện xin Tuần Án Ngự sử bắt điều tra. Châu Ninh Viễn vốn là đất của Trung Quốc (1), hồi đầu triều [Minh] thuộc ty Bố chánh Vân Nam ; năm đầu Tuyên Đức Lê Lợi làm phản, triều đình cho lại đất cũ. Chúng bèn chiếm cả châu Ninh Viễn và Lộc Châu thuộc phủ Thái Bình, Quảng Tây ; lúc bấy giờ cơ quan hữu trách không kiểm soát, nên nay bị mất vào tay người Di (2). (Minh Thực Lụcv. 39, t. 163-164; Hiến Tông q. 7, t.1a-1b)

Chú thích

1. Do Hồ Quí Ly bị áp lực, nhường cho Trung Quốc. Xin xem thêm Việt Sử Tư Liệu và Lời Bàn, bài số 27, trang 350, Vua Lê Lợi lấy lại được phần đất bị mất bởi triều đại trước, tác gỉả Hồ Bạch Thảo.

2. Di : người Trung Quốc kỳ thị gọi lân bang bốn phương là tứ Di, tại bài này chỉ Việt Nam.

Nguồn bài đăng

Advertisements

One thought on “Minh Thục Lục viết về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dưới thời quân Minh cai trị

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s