Phụ chính đại thần Lê Trinh

PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN LÊ TRINH VỚI NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC

LeTrinh_phobang

Trúc Diệp Thanh

Nhân ngày Giỗ lần thứ 100 của Phó bảng Lê Trinh, một nhân vật lịch sử của Quảng Trị, ngày 12/9/2009 tại TP Đông Hà (Quảng Trị) Hội Di sản Văn hóa tỉnh Quảng Trị phối hợp cùng gia tộc cụ Lê Trinh đã tổ chức cuộc Hội thảo về”Thân thế và sự ngiệp Phó bảng Thượng Thư Lê Trinh”. Tham luận của nhiều nhà nghiên cứu sử học có tên tuổi ở Quảng Trị, Thừa thiên-Huế, Hà-Nội tại Hội thảo đã làm sáng rỏ thêm về tài năng, đức độ cùng những đóng góp của Phụ chính đại thần Lê Trinh cho quê, hương, dân tộc, đất nước…

Lê Trinh sinh năm 1850 thuộc tộc họ “Lê Cảnh” (1) ở Bích La Đông (nay thuộc xã Triệu Đông huyện Triệu Phong, Quảng Trị) xuất thân từ một gia đình đại quan, thông minh, học giỏi từ nhỏ. Năm 20 tuổi thi Hương đổ Giải Nguyên, năm 25 tuổi thi Hội đổ Phó bảng và ra làm quan từ năm 1975 dưới triều Tự Đức, qua đời năm 1909 dưới triều vua Duy Tân. Từ ngày ông qua đời cho đến cuối thế kỷ XX, trải qua hơn 90 năm không mấy ai biết về thân thế, sự nghiệp của phó bảng Lê Trinh kể cả người thân trong dòng họ. Cho đến những năm đầu thế kỷ XXI nhờ sự nổ lực tìm kiếm của một số cháu nội của ông, đã phát hiện một số tư liệu lịch sử quan trọng giúp hé lộ thân thế, sự nghiệp của ông từng bị lớp bụi thời gian che phủ! Số tư liệu lịch sủ mới đựợc tìm thấy có:

– 4 bản chép văn bản của triều đình gồm: 1 bài “Chế”của nhà vua chuẩn thăng thực thụ Vinh Lộc Đại phu, Hiệp biện Đại Học sĩ cho Phụ chính đại thần Thượng thư Lê Trinh , một bài “Dụ”, một bài “Chế” của nhà vua đánh giá công lao của cố Thượng thư Lê Trinh và truy phong cho ông tước “Vệ Nghĩa Tử” cùng một bài “Tế” của nhà vua trong lễ tang của vị đại thần quá cố. Tất cả các văn bản trên đều chép bằng chữ Hán, có niên đại Duy Tân 3 (1909).

một tập di cảo thơ, câu đối chữ Hán của Phó bảng Lê Trinh sáng tác và tự ghi chép với bút hiệu Bích Phong.

một bản trích yếu lý lịch có ghi thời gian và các chức vụ Phó bảng Lê Trinh đã đảm nhận qua các triều vua từ Tự Đức đến Duy Tân do Nam triều làm sau ngày ông qua đời (12/9/1909).

Kể từ ngày Phó bảng Lê Trinh qua đời (1909) đến cuối thế kỷ XX, các tài liệu trên vẫn nằm im trong đống hồ sơ tài liệu lưu trữ của dòng họ chưa một lần khai thác. Đầu thế kỷ XXI các tài liệu quý hiếm đó mới được tìm thấy. Qua biên dịch và khai thác các tài liệu trên đã có cơ sở khách quan khoa học phục dựng thân thế và sự nghiệp người đã quá cố từ đầu thế kỷ trước.

Phó bảng Lê Trinh làm quan trong một giai đoạn lịch sử đất nước, triều đình có nhiều biến động phức tạp. Ông đã phục vụ qua 5 triều vua với tinh thần mẫn cán, gương mẩu, liêm khiết, đã trải qua công tác ở hầu hết khắp các Bộ: biện lí bộ Hộ, bộ Lại, tham tri bộ Hình, bộ Binh, tham biện Viện Cơ mật, Chưởng ấn Viện Đô Sát, năm 1982 sung phái đoàn đi sứ nhà Thanh. Qua thử tài sứ thần nước Việt, vua Thanh rất khâm phục ban cho ông mũ áo tiến sĩ. Trong lĩnh vực giáo dục ông từng được cử làm chánh, phó chủ khảo một số trường thi ở các tỉnh, làm giáo đạo các ông hoàng (trong số các ông hoàng thụ giáo có hoàng tử Bửu Lân con vua Dục Đức sau này là vua Thành Thái). Năm Thành Thái 10 (1898) đang lúc làm tổng đốc An-Hà (Nghệ An-Hà Tĩnh) được tin mẹ ốm nặng, ông xin từ quan về quê phụng dưỡng mẹ già. Sau ngày mẹ qua đời vừa mãn cư tang, năm Thành Thái 15 (1903) ông được triệu về Kinh nhận chức Phụ chính đại thần, Lễ bộ Thượng thư Sung Cơ Mật Viện đại thần. Trên cương vị đại thần trụ cột của triều đình, ông đã có những đóng góp có ý nghĩa lịch sử cho quê hưong đất nước.

1-Người có ý kiến quyết định để chọn Duy Tân lên ngôi kế vị vua Thành Thái.

Năm 1907 người Pháp viện cớ vua Thành Thái bị “điên” đã phế truất ngôi vua và giam lỏng nhà vua. Một Hội đồng Phụ chính được thành lập để tạm điều hành công việc thay vua. Hội đồng do đại thần Trương Như Cương đứng đầu, Phụ chính đại thần Lê Trinh là một trong số thành viên.

Việc chọn người kế vị Thành Thái rất căng thẳng vì giữa Tòa Khâm sứ Pháp và Hội đồng phụ chính Nam triều không thống nhất ý kiến: phía Pháp chọn người thì Nam triều bác, người Nam triều chọn thì phía Pháp bác. Cuối cùng Phụ chính đại thần Lê Trinh đề xuất ý kiến: ”chọn một người con còn nhỏ của vua Thành Thái (không quá 10 tuổi và không dưới năm tuổi) để kế vị và duy trì một Phủ Phụ chính để giúp ấu vương cai trị đất nước”. Ý kiến trên đã đảm bảo truyền thống “cha truyền con nối” nên đã được Nam triều nhất trí và Pháp cũng không phản đối vì cho rằng”một đứa bé làm vua cũng chẳng có gì đáng lo ngại”! Từ đó Hoàng Tử Vĩnh San con trai thứ 5 của Thành Thái được chọn kế vị ngôi vua. Lễ đăng quang cử hành ngày 5-9-1907, niên hiệu Duy Tân. Phủ Phụ chính được thàmh lập để giúp ấu vưong nhiếp chính gồm có: Thượng thư (TT) Cao xuân Xuân Dục (Bộ Học), TT Lê Trinh (Bộ Lễ), TT Tôn Thất Hân (Bộ Hình), TTNguyễn Hửu Bài (Bộ Lại), TT Huỳnh Côn (Bộ Hộ) và Hoàng thân Miên Lịch (Phụ chính Thân thần) Ngay những năm đầu lên ngôi, vua Duy Tân đã tỏ ra rất yêu mến, tin cậy đại thần Lê Trinh.

Trong bài “Chế” thăng hàm cho Lê Trinh năm Duy Tân 3 (1909) có đoạn: ”Yêu mến nghỉ đến ông họ Lê chức Phụ chính đại thần Lễ bộ thượng thư: xuất thân khoa bảng, rường cột nước nhà…thanh liêm ngay thẳng, nhân tài xưa sánh Di Quỳ;cần mẫn rõ ràng, tướng nghiệp như Bính Ngụy. Vua cha gặp lúc nhọc nhằn, bèn trao tông miếu;con nhỏ đang khi thơ ấu, phải nhận ngôi trời. Cậy một lời mà định kế, hợp hai nước mà suy tôn…Trẩm lúc tuổi thơ, kính đương ngôi báu. Tháo gở khó khăn, đã có công lao phò tá;ân cần dạy dỗ, lại còn giúp đỡ học hành. Đã mến yêu nhiều, nên ban hàm lớn. Nay chuẩn thăng cho ông được thực thụ Vinh Lộc đại phu, Hiệp biện đại học sĩ, lãnh chức như cũ…” (2) Khi được tin Lê Trinh đột ngột qua đời ngày 12/9/1909, nhà vua rất thương tiếc đã ban bài “Dụ”, bài “Chế” về việc truy phong cho Lê Trinh tước “Vệ Nghĩa Tử”. Nhà vua còn sai làm bài “Tế”đọc trong lễ tang có đoạn:

“Khanh sinh ở thế, tài giỏi tót vời

Năm triều để tiếng, khuôn mẩu cho đời…

Trẩm là con nhỏ, hiểu biết nông khơi.

Nhờ Khanh chỉ bảo dạy đạo làm người… (3)

2-Hai Phụ chính đại thần đầu triều: Lê Trinh và Cao Xuân Dục ra bản án cứu Phan Chu Trinh thoát tội chết.

Cũng đầu thế kỷ XXI, bà Lê Thị Kinh (Phan Thị Minh (cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh) đã công bố một tư liệu lịch sử do bà mới phát hiện có liên quan đến Phó bảng Lê Trinh gây chấn động dư luận. Đó là biên bản ghi lại cuộc họp của Khâm sứ Pháp và Phủ Phụ chính triều Duy Tân về việc buộc tội và xử án cụ Phan Chu Trinh. Ngày 31-03-1908 nhà yêu nước Phan Chu Trinh bị bắt ở Hà Nội, ngay sau đó, ngày 1-04 Pháp đưa ông về Huế giao cho Nam triều xử án “trảm quyết” (chém ngay) về tội “sách động dân chúng chống lại Chính phủ Bảo hộ” (phong trào chống sưu, thuế ở Quảng Nam).

Hai Phụ chính đại thần Cao Xuân Dục (TT Bộ Học) và Lê Trinh (TT BộLễ) vốn không lạ gì cụ Phan, một nhà khoa bảng có tài nhưng cũng có chí hướng khác thường. Năm 1901, sau khi thi đổ Phó bảng, Phan Chu Trinh từng nhận một chức quan ở bộ Học dưới quyền TT Cao Xuân Dục sau được đề bạt làm Thừa biện bộ Lễ dưới quyền TT Lê Trinh (1903), sau đó Phan tiên sinh từ quan đi hoạt động cách mạng. Sau khi tiếp nhận người tù đặc biệt, ngày 10-04-1908, Hội đồng viện Cơ mật xử cụ Phan mức án “trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá bất nguyên” (giam rồi chém sau, lưu đày 3 ngàn dặm, gặp kỳ ân xá cũng không dược giảm án). Ngày 11-04. Tòa Khâm sứ Pháp bác, bắt phải làm lại với mức ám”trảm quyết”.

Ngay ngày hôm sau 12-04 hai Thượng thư đứng đầu Phủ Phụ chính là Cao Xuân Dục và Lê Trinh đã xử dụng quyền nhiếp chính thay vua ra quyết định “bảo lưu án trảm giam hậu”. Hai cụ Cao, Lê còn ra lệnh thi hành án ngay để Pháp không kịp trở tay can thiệp. Cụ Phan đã được đưa ra an trí ở Côn Đảo. Bản án đã cứu cụ Phan thoát tội chết, tạo cơ hội để dư luận tiến bộ trong nước và cả ở chính quốc (Pháp) lên tiếng phản đối việc bắt giữ cụ Phan.

Tháng 6/1910 thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho cụ Phan. Tháng 04/1911, cụ Phan đã sang Pháp để tiếp tục hoạt động cứu nước, cứu dân. Đây cũng chính là thời kỳ hình thành mối quan hệ giữa cụ Phan với số người Việt nam yêu nước hoạt động ở Pháp trong đó có luật sư Phan Văn Trường và anh thanh niênNguyễn Ái Quốc (sau này là chủ tịch Hồ Chí Minh). Tháng 6/1925 cụ Phan về nước để tiếp tục sứ mệnh cứu nước, chưa kịp làm gì thì lâm bệnh và qua đời ngày 14-03-1926.

Sự kiện trên cho thấy: ”Thượng thư Lê Trinh dẫu làm quan trong thế kẹt, vận nước nghìn cân treo sợi tóc, không ít vị quan chỉ là bù nhìn hoặc cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp, ông vẫn tìm cách lo nước, thương đời theo cách riêng của mình, trường hợp đó đã chứng tỏ phẩm chất, tiết tháo nhà Nho đáng quý, đáng trân trọng của ông. ” (4)

3-Hai cụ Thượng Lê Trinh và Cao Xuân Dục đã cưu mang Phó bảng Nguyễn Sinh Huy cùng 2 con lúc khó khăn, ngặt nghèo.

Sau khi thi đổ Phó bảng (1901) trong hoàn cảnh vợ (bà Hoàng Thị Loan) mất, con mới sinh (Nguyễn Sinh Xin) cũng chết, ông Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) đã mang 2 con là Nguyễn Sinh Khiêm vàNguyễn Sinh Cung (Côn) về lại quê nhà (Nghệ An). Năm 1905, ba cha con ông Huy lại trở lại Huế để cho các con theo Tây học trong hoàn cảnh không nơi nương tựa, giữa đô thành “gạo châu củi quế”, đầy rẫy tay sai mật thám dò la người nghi vấn nhất là với số nhà Nho đổ đại khoa mà không chịu ra là quan!

Biết được hoàn cảnh khó khăn của ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, hai cụ Thượng Cao Xuân Dục và Lê Trinh , đã ra tay cứu giúp tạo điều kiện cho ông Huy có chốn dung thân và 2 con nhỏ có điều kiện học hành. Phó bảng Nguyễn Sinh Huy vốn không có chí làm quan nhưng trước lời khuyên thấu tình đạt lý của cụ Thượng Cao Xuân Dục, ông Huy nhận làm một chức quan nhỏ ở bộ Học dưới quyền Thượng thư Cao Xuân Dục. Tiếp đến ông được chuyễn sang làm Thừa biện bộ Lễ thay chỗ Phó bảng Phan Chu Trinh để trống, trở thành thuộc viên của Thượng thư Lê Trinh (1903). Hai cụ Thượng Cao còn bố trí cho ông Huy và 2 con ở một căn nhà ở dãy trại Đông Ba. Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung được đổi tênNguyễn Tất ĐạtNguyễn Tất Thành theo học trường Pháp-Việt Đông Ba sau vào học trường Quốc học.

Việc hai cụ Thượng Cao giúp đỡ gia đình Phó bảng Nguyễn Sinh Huy lúc bấy giờ chỉ là việc làm tình nghĩa theo đạo lý nhà Nho không sách sử nào ghi chép và cũng sẽ bị quên lãng với thời gian nếu nó không được khơi dậy trong quá trình nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế. Trong những năm đầu sau ngày Huế được giải phóng (1975), Đắc Xuân đã tìm gặp cụ Lê Du, con trai và ông Lê Xuyến, cháu đích tôn của cụ Thượng Lê Trinh là số người hiếm hoi còn sống từng chứng kiến gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Huy trong hai lần sống ở Huế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nhất là những năm ông Huy nhận công tác ở bộ Lễ.

Từ những thông tin do 2 nhân chứng này cung cấp, Đắc Xuân đã tìm được vị trí chính xác ngôi nhà vợ chồng ông Cử Sắc (Nguyễn Sinh Huy) ở trọ lần đầu ở Huế, (1895-1901) hiện nay là nhà số 112 Mai Thúc Loan, một di tích lịch sử của TP Huế được công nhận là di sản quốc gia (5). Từ một việc làm đơn thuần về về đạo lý, hai Cụ Thượng Cao không hề biết rằng hai cụ đã tạo điều kiện về vật chất, tinh thần cho một mầm non sau này trở thành một vĩ nhân của dân tộc VN và của cả nhân loại: chủ tịch Hồ Chí Minh.

4 – Nhà thơ Bích Phong:

Những lúc nhàn rỗi việc quan, để trải lòng, chia vui với bạn bè, người thân, hoặc đột xuất có thi hứng trước cảnh đẹp thiên nhiên …Thượng thư Lê Trinh thường làm thơ hoặc câu đối phần lớn bằng chữ Hán với bút hiệu Bích Phong và tự tay ông ghi chép vào một tập bản thảo. Tác giả không đặt tên cho tập thơ của mình là “Bích Phong thi tập”, không đưa in như các nhà thơ nổi tiếng đương thời ông có thơ thù ứng: Hồng Đài Nguyễn Phúc Hồng Vịnh với “Đào trang thi tập”Bùi Ân Niên với “Tốn Am thi tập”, Nguyễn Thuật với “Hà Đình văn sao”…Tập di cảo thơ và câu đối chữ Hán của Bích Phong ( Lê Trinh ) sau gần một thế kỷ được lưu giữ, đầu những năm 2000 đã được biên dịch và xuất bản dưới nhan đề “Bích Phong di thảo” (Lê Ngân biên soạn-Lê Nguyễn Lưu biên dịch-NXB Thuận Hóa 2006) đã góp phần làm sáng tỏ thêm về tài năng, nhân cách Phó bảng Thượng thư Lê Trinh .

Qua tác phẩm cho thấy Bích Phong không chỉ có tâm hồn thi nhân mà còn là nhà trí thức uyên bác, thông thạo cổ kim, hiểu biết sâu về nhiều lĩnh vực tự nhiên, xã hội (có cả về Phật giáo). Thơ của ông phần lớn thuộc loại thù ứng, nhưng không phải lối thù ứng nghi thức hời hợt, mà chan chứa một tình cảm bạn bè chân thật. Qua thơ của Bích Phong người đọc sẽ bắt gặp nhiều nhân vật nổi tiếng đương thời như: TT Cao Xuân Dục,, phụ đạo Bùi Ân NiênTT Đào TấnTế tửu Khiếu Năng TĩnhHà Đình Nguyễn ThuậtĐặng Thụy…nhiều nhà khoa bảng các tỉnh miền Trung, một số học giả Trung quốc ông kết bạn khi đi sứ nhà Thanh.. Điều đáng quý là tác giả tự nêu rõ chính kiến của mình là thiên về“lễ trị”để cải tạo xã hội không đồng tình với các phương pháp bạo lực song Lê Trinh vẫn giành tình cảm ái mộ nhiều nhà khoa bảng đồng triều dũng cảm chống Pháp như: Hồ Sĩ Tạo, Hồ Bá Ôn, Bùi Ân NiênNguyễn Thuật,Hoàng Hửu Xứng (nội tổ nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) …Qua thơ còn cho thấy tác giả là nguời yêu thiên nhiên, thích thú ẩn dật thanh nhàn, cũng là người sống khiêm tốn giản dị như trong bài thơ “Tự đề chân dung” (tác giả chép trên bức ảnh chụp năm 1906) :

(Trích) Phiên âm: .. ”Bất tài phùng thịnh thế, bị vị đáo xuân quan.

Cổ mạo hình lai dị, đan tâm chiếu xuất nan”…

Dịch thơ;…”Không tài đời thịnh trị, vị hão chức cao dày.

Dáng cổ càng lộ diện, lòng son khó tỏ bày”… (6)

Một số nhà nghiên cứu đọc “Bích Phong di thảo”đã nhận định tập thơ có giá trị về văn học, về lịch sử, về nhân văn. Nhà nghiên cứu Lương An từng xếp Bích Phong trong số “thi nhân của thế kỷ XIX” (Tuyển tập Lương An-NXB Thuận Hóa-2005).

Trong bài “Kết luận Hội thảo về thân thế sự nghiệp Phó bảng, Thượng thư Lê Trinh” tổ chức ngày 12-9-2009 tại Đông Hà-Quảng Trị (nhân ngày Giỗ lần thứ 100 của Cụ Lê Trinh), tiến sĩ Nguyễn Bình, phó chủ tịch Hội Di sản Văn hóa tỉnh Quảng Trị đã đúc kết: ”Với những phẩm chât trong sáng và cao đẹp, cùng những cống hiến, đóng góp cho quê hương, dân tộc và lịch sử, có thể nói rằng cụ Phó bảng Lê Trinh là một nhân vât lịch sử đáng quý trong và cần được tôn vinh của quê hương, đất nước”. (7)

 

 

Hà Nội Đông Kỷ Sửu (01/2010)

Trúc Diệp Thanh

 

Chú thích:

(1) “Lê Cảnh” là một trong 4 chi họ Lê ở Bích La (Lê Mậu, Lê Văn, Lê Bá, Lê Cảnh) đều cùng gốc Thủy tổ là ông Chánh chưởng Trung tể triều Lê Chiêu Tông (1522) Lê Mậu Tài quê làng Mỹ Đức, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh cùng tùy tùng và lưu dân từ Bắc vào Quảng Trị lập làng Bích La, dưới triều Nguyễn ông được phong tước Doãn Lộc hầu.

(2, 3, 6) trích“Bích Phong Di thảo” (Lê Ngân biên soạn-Lê Nguyễn Lưu biên dịch-NXB Thuận Hóa-2006).

(4) Tham luận của Nguyễn Hoàn tại Hội thảo về Phó bảng Lê Trinh (12/9/2009)

(5) Sách: “Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế” (Nguyễn Đắc Xuân-NXB Văn học 2003).

(7) TS. Nguyễn Bình phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Quảng Trị vừa

Được bầu làm Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Quang Trị tai Đại hội cuối năm 2009 của Hội.

 

nguồn bài đăng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s