Lạm phát của Hy Lạp trong thế chiến thứ hai

35

Hy Lạp vào năm 1944 chứng kiến ​​giá cả tăng gấp đôi sau mỗi 4,3 ngày. Siêu lạm phát ở Hy Lạp về mặt kỹ thuật bắt đầu vào tháng 10/1943, trong thời kỳ Đức chiếm đóng đất nước trong Thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, lạm phát nhanh nhất xảy ra khi chính phủ Hy Lạp lưu vong giành lại quyền kiểm soát Athens vào tháng 10/1944. Theo một nghiên cứu của Gail Makinen, giá đã tăng 13.800% trong tháng đó và 1.600% vào tháng 11.

Vào năm 1938, người Hy Lạp đã giữ trung bình một tờ tiền drachma trong 40 ngày trước khi sử dụng nó, nhưng đến ngày 10/11/1944, thời gian giữ trung bình đã giảm xuống còn 4 giờ. Năm 1942, mệnh giá tiền cao nhất là 50.000 drachma, nhưng đến năm 1944, mệnh giá cao nhất là tờ 100 nghìn tỷ drachma. Vào ngày 11/11, chính phủ đã ban hành quy định lại tiền tệ, quy đổi đồng drachma cũ sang đồng tiền mới là 50 tỷ ăn 1, mặc dù dân chúng vẫn tiếp tục sử dụng Bảng Anh làm đơn vị tiền tệ trên thực tế cho đến giữa năm 1945.

Các nỗ lực bình ổn tương đối thành công, với giá chỉ tăng 140% từ tháng 1 đến tháng 5, và thậm chí còn chứng kiến ​​mức giảm phát 36,8% vào tháng 6/1945 khi nhà kinh tế nổi tiếng Kyriakos Varvaressos được bổ nhiệm làm bộ trưởng kinh tế. Tuy nhiên, kế hoạch tăng cường hỗ trợ nước ngoài, phục hồi sản xuất trong nước và áp đặt các biện pháp kiểm soát đối với tiền lương và giá cả thông qua phân phối lại của cải đã làm trầm trọng thêm thâm hụt ngân sách của đất nước và Varvaressos đã từ chức vào ngày 1/9.

Năm 1946, người Anh đưa ra một kế hoạch ổn định đất nước, bao gồm tăng nguồn thu thông qua bán hàng viện trợ, điều chỉnh thuế suất cụ thể, cải tiến phương pháp thu thuế và thành lập Ủy ban tiền tệ (gồm ba Bộ trưởng trong Nội các Hy Lạp, một người Anh và một người Mỹ) chịu trách nhiệm tài chính. Đến đầu năm 1947, giá cả ổn định, niềm tin của công chúng được khôi phục và thu nhập quốc dân tăng, đưa Hy Lạp thoát khỏi vòng xoáy của siêu lạm phát.

Nguyên nhân chính dẫn đến siêu lạm phát của Hy Lạp là Chiến tranh thế giới thứ hai, khiến quốc gia này phải gánh thêm nợ, làm tan rã nền thương mại và bốn năm phe Trục chiếm đóng. Vào đầu Thế chiến thứ hai, Hy Lạp thặng dư ngân sách cho năm tài chính 1939 là 271 triệu drachma, nhưng con số này đã giảm xuống mức thâm hụt 790 triệu drachma vào năm 1940, phần lớn là do thương mại, sản xuất công nghiệp giảm do nguyên liệu thô khan hiếm và các khoản chi quân sự đột xuất. Thâm hụt của đất nước tiếp tục được tài trợ bởi các khoản tiền từ Ngân hàng Trung ương Hy Lạp, vốn đã tăng gấp đôi cung tiền trong hai năm.

Với nguồn thu từ thuế giảm và chi tiêu quân sự tăng gần 10 lần, tài chính của Hy Lạp đi xuống. Đất nước bị chiếm đóng vào tháng 5/1941, và chi phí quân sự của Hy Lạp được thay thế bằng chi phí từ sự hỗ trợ của 400.000 quân, thay đổi từ một phần ba đến ba phần năm chi phí của đất nước trong thời gian chiếm đóng, tất cả đều được tài trợ bởi in tiền của Ngân hàng Hy Lạp.

Chính phủ bù nhìn Hy Lạp – do lực lượng chiếm đóng thành lập – không đánh thuế để bù đắp chi phí và doanh thu chỉ chiếm dưới 6% chi phí trong năm cuối cùng của cuộc chiếm đóng. Điều này kết hợp với thu nhập quốc dân giảm từ 67,4 tỷ drachma năm 1939 xuống còn 20 tỷ vào năm 1942, một mức được duy trì cho đến năm 1944.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s