Người Hy Lạp cổ đại- Phần 3

PHẦN 3: SỐNG CUỘC SỐNG HY LẠP

aa

Stephen Batchelor

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 13

TRÊN ĐỒNG RUỘNG:  LÀM NÔNG, CHĂN THẢ, VÀ ĐI ĐÂY ĐÓ

 

Trong chương này:

  • Làm nông và làm rượu nho
  • Chăn thả gia súc

Lang thang trên đất nước Hy Lạp cổ đại bằng đường bộ và đường biển

 Trong suốt lịch sử 2,000 năm, Hy Lạp cổ đại là một xã hội nông nghiệp, nghĩa là phần lớn dân cư gần như mỗi ngày đều phơi mình trên đồng ruộng cày cấy hoặc chăn nuôi gia súc. Hầu hết thị trấn và thành phố Hy Lạp đều xuất xứ từ những cộng đồng làm nông, và nhiều người tiếp tục như thế trong suốt thời Hy Lạp cổ đại. Nhiều người Hy Lạp tham gia vào công nghiệp hoặc thương mại (xem Chương 14 và 15 để biết thêm chi tiết về cuộc sống đô thị), nhưng đại đa số dân chúng kiểm lợi tức và sinh nhai bằng những thứ họ và gia súc họ sản xuất được.

Trong chương này, tôi bàn về việc mưu sinh từ đất đai. Tôi cũng xét qua cách thức người Hy Lạp đi lại và vận chuyển hàng hóa trên bộ và trên biển. Như bạn có thể đoán ra, sống một cuộc đời thành tựu – trong vùng quê Hy Lạp nghe có vẻ thơ mộng – đòi hỏi phải làm việc cật lực!

Bươn chải kiếm sống

Trong thế giới cổ đại việc đồng áng rất cực nhọc. Nông dân làm việc từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lặn. Ở vùng Địa Trung Hải, thời khóa này có nghĩa là ngày làm 14 tiếng hầu hết thời gian – và thậm chí họ không có ngày cuối tuần mong đợi để được xả hơi (mặc dù họ có nhiều ngày lễ hội và ngày nghỉ toàn dân).

Người nông dân Hy Lạp cổ đại điển hình làm việc trên một miếng ruộng tương đối nhỏ; một ngôi nhà với có lẽ hai hay ba mẫu đất thường được truyền qua nhiều thế hệ.

Những nông dân giàu hơn thì sở hữu những điền trang kết hợp bởi nhiều mảnh đất, có khi ở vài địa điểm khác nhau. Các trang trại lớn thì sử dụng nô lệ hoặc nông nô. Nông nô là những người làm được trả công và buộc phải gắn với điền trang, cũng là nơi ăn ở của mình. Làm việc trên đồng áng là công việc vô cùng vất vả, và chỉ một mùa dông bão hay khô hạn là sạt nghiệp. Hơn nữa, nếu một người nam bị gọi nghĩa vụ (xem Chương 5) và họ hàng của y không thể tiếp quản ruộng đất của y trong khi y vắng mặt, y có thể mất tất cả.

Các vụ mùa trồng trọt

Các truyền thống làm nông cơ bản trong Hy Lạp cổ  cũng tương tự như các truyền thống khác ở vùng Địa Trung Hải vào thời kỳ đó và vẫn không thay đổi qua một thời gian rất lâu dài. Đặc biệt, hầu hết mọi trại chủ nhỏ đều trồng hai vụ mùa lương thực cơ bản, vốn là thành phần chính trong thực đơn người Hy Lạp:

  • Lúa mì: Loại lúa mì thông thường nhất là lúa mì emmer cơ bản. Nông dân trồng những loại lúa mì khác ở nơi khác trong vùng Địa Trung Hải, và đôi khi được xuất khẩu ra nước ngoài. Lúa mì được xây thành bột mì và làm ra bánh mì.
  • Lúa mạch: Lúa mạch là loại ngũ cốc thấp kém dùng để thay thế lúa mì vì dễ trồng và chế biến thành loại bánh mì cứng hoặc bánh ngọt nhỏ. Nói chung, người nghèo hơn thì ăn bánh mì lúa mạch vi đất tốt hơn (được các trại chủ giàu có hơn sở hữu) có thể trồng được lúa mì hơn là lúa mạch. Lúa mạch cũng mọc nhiều ở Ai Cập nơi nó được dùng làm bia (người Hy Lạp không uống bia).

Nông dân Hy Lạp cũng trồng nho, ô liu, và rau củ (chủ yếu các loại đậu). Nông dân trồng các vụ mùa sử dụng các phương pháp canh tác khô, nghĩa là họ có thể trồng trọt mà không cần dùng thủy lợi. Điều này đặc biệt quan trọng vì lượng mưa tương đối thấp ở Hy Lạp.

 Người Hy Lạp cổ đại không có kiến thức về kỹ thuật canh tác ướt (có sử dụng thủy lợi) thường được sử dụng để trồng các vụ mùa như lúa. Tuy nhiên, canh tác ướt được vùng cận đông thực hiện ngay từ 1,500 TCN, và Alexander Đại Đế cùng bình sĩ ắt hẳn đã đi qua những ruộng lúa trên các chuyến chinh phạt của mình. Các nông dân thường gieo mạ vào thu (tháng chín theo thời điểm hiện tại) vì mùa mưa ở Hy Lạp khoảng giữa thu và xuân.

Thời khóa này có nghĩa mùa hè thường là thời gian lễ hội mừng mùa thu hoạch (tháng sáu/bảy). Mùa thu hoạch cần phải bội thu vì nông dân sống nhờ vào đó suốt thời gian cho đến mùa hè năm sau.

Chương 15 sẽ bàn về những loại lương thực hương xa và việc chuẩn bị bữa ăn.

Vinh danh Demeter, bạn của nông dân

Một số thần linh Hy Lạp có liên quan đến việc canh nông và sự màu mỡ nhưng người thích hợp nhất là nữ thần Demeter. Liên quan chính của bà là lúa mì, và tên bà có nghĩa là ‘mẹ thần’. Trong thần thoại bà có một con gái tên Persephone, và mẹ con đều được biết là ‘hai nữ thần’ hoặc ‘Cập đôi Thần Thánh’.

Thần thoại về Persephone là một câu chuyện thú vị. Là con gái của thần Zeus và Demeter, bà được Hades (thần Âm ty) chọn làm vợ. Điều này có nghĩa bà bị bắt xuống địa ngục sinh sống với Hades.. Demeter bị xốc khi thấy con gái mất tích và đi khắp nơi tìm con gái, giữ lại phước lành không ban bố cho con người. Thể là mặt đất cằn cỗi và nạn đói tràn lan. Cuối cùng bà phát hiện nơi trú ngụ của  Persephone và dẫn cô ra khỏi móng vuốt của Hades. Tuy nhiên, Zeus ra lệnh Persephone mỗi năm phải sống với Hades sáu tháng và với mẹ sáu tháng. Người Hy Lạp lý giải điều này là nguyên nhân khiến mặt đất mùa thu và đông lạnh giá khi Persephone về địa ngục, và ấm áp về mùa xuân và hè khi nàng trở lại dương thế. Đây là minh hoạ sống động nhằm giải thích một hiện tượng tự nhiên.

Lịch tôn giáo Hy Lạp cổ đại song hành với năm nông nghiệp, vì thế hầu hết lễ hội Demeter trùng với việc cày cấy hoặc thu hoạch. Một trong những lễ hội tưng bừng nhất là lễ Thesmophoria, xảy ra vào thời gian gieo hạt. Lễ hội chỉ dành cho phụ nữ; cánh đàn ông bị cấm tham dự nghiêm nhặt. Đặc quyền này là do người Hy Lạp coi sự màu mỡ trên ruộng đồng có liên hệ mật thiết với khả năng sinh sản của phụ nữ. Tính hợp lý này cũng là một phần lý do tại sao Demeter được gọi là ‘mẹ-thần’. Muốn biết thêm về những tập quán tín ngưỡng Hy Lạp cổ dai6, hay xâm Chương 22.

Làm đất

Các kỹ thuật làm đất người Hy Lạp cổ đại sử dụng khá đơn điệu. Nếu có thể, người nông dân sử dụng phương pháp truyền thống ‘nửa và nửa’,  tức chỉ cày bừa và trồng trọt phân nửa diện tích đất mỗi năm trong khi để nửa diện tích đất dưỡng sức, không trồng trọt. Năm sau họ sẽ đối lại, nhờ thế lúc nào cũng có nửa mảnh được nghỉ ngơi và phục hồi được chất dinh dưỡng tự nhiên cho vụ trồng năm sau.

Khổ thay, một số nông dân ít ruộng đất không thể xoay vòng canh tác vì họ cần khai thác tối đa. Kết quả là theo thời gian đất đai họ càng ngày càng kém màu mỡ.

Cày cấy

Cày cấy là hoạt động canh tác chủ yếu. Phương pháp cày cấy của người Hy Lạp rất thô sơ. Trên những cánh đồng lớn, hai bò kéo một cày gỗ. Đôi khi có gắn lưỡi cày sắt để cây sâu và chính xác hơn. Trên những nông trại nhỏ , việc cày cấy được thao tác bằng sức người hết sức nặng nhọc. Hình thức này không làm vỡ đất, mà chỉ làm tơi đất để cho phép trồng trọt được.

Gieo hạt và trồng trọt

Tương tự, việc gieo hạt được thực hiện chủ yếu bằng tay, với lực lượng nông nô những cánh đồng lớn cũng có thể được gieo hạt đều đặn. Trên cánh đồng nhỏ toàn bộ gia đình nông dân đều tham gia việc đồng áng. Như đã nói, người Hy Lạp canh tác khô nên việc tưới tiêu và dẫn thủy không thành vấn đề. Họ có sử dụng phân bón hữu cơ và hầu hết nông trại đều trữ cả đống phân chuồng bốc mùi.

Thu hoạch

Sau khi vụ mùa đã chín tới, chúng được cắt bằng một lưỡi liềm cong đơn giản, bỏ vào giỏ, và đem đi đập. Nông dân tiến hành việc đập lúa để tách hạt ra khỏi thân lúa trên nền đất khô ráo. Có khi họ sử dụng xe trượt do bò ngựa kéo. Sàn lúa mì và lúa mạch cũng làm thủ công với xẻng và giỏ.  Một công việc chả vui thú gì. Nông sản được cất giữ trong những nhà kho nhỏ. Người Hy Lạp không có kỹ thuật làm lạnh thành ra lương thực được bảo quản và sử dụng trước khi chúng bị hư hỏng.

Theo sau đàn gia súc

Các trang trại Hy Lạp cổ đại không lớn lắm, nên phần lớn nông dân không giữ nhiều  vật nuôi. Vùng đất chăn thả có hạn chế, vì vậy một vài con lợn, cừu hoặc dê cùng với một cặp bò là tất cả số vật nuôi hầu hết các trang trại có thể đáp ứng được. Loại vật nuôi mà các trang trại lớn hơn chăn giữ  phụ thuộc nhiều vào địa hình liên quan. Nói chung, vật nuôi lớn hơn,  như gia súc và bò, có xu hướng được nuôi  ở phía bắc Hy Lạp và Macedonia vì những khu vực này ẩm ướt hơn và nhiều đồng cỏ chăn thả có sẵn. Ở Peloponnese và miền Nam, cừu và dê là những lựa chọn tốt hơn vì vùng đất nhiều sỏi đá hơn. Dê và cừu đặc biệt hữu ích cho người Hy Lạp cổ đại vì chúng được sử dụng để sản xuất sữa, phô mai, len và thịt – tất cả những sản phẩm  mà nông dân có thể giao dịch với các mặt hàng khác trên thị trường. Dê và cừu cũng hữu ích vì nông dân có thể bán hoặc sử dụng chúng trong các lễ hiến tế; động vật khỏe mạnh, được  một mức giá rất tốt cho mục đích tín ngưỡng.

 Săn bắn

Phương tiện sinh nhai khác ngoài ruộng đất là trò  săn bắn. Săn bắn là hoạt động thường xuyên trong thần thoại Hy Lạp với lợn rừng là động vật nổi tiếng nhất cho các người anh hùng săn bắn. Săn bắn  được coi là một hoạt động giúp mài giũa các kỹ năng chiến tranh. Những người hùng này thường đi săn bằng giáo hoặc cung, nhưng săn bắn hàng ngày để sinh nhai khá khác biệt và chủ yếu để kiểm mồi như thỏ rừng sử dụng bẫy. Đây thường là hoạt động được thực hiện bởi các chàng trai trẻ.

Việc săn lợn rừng sau này có sử dụng chó săn và (khi được thực hiện bởi những người giàu có) trên lưng ngựa theo từng nhóm lớn.  Săn lợn rừng vẫn được coi là một nghệ thuật cao quý mà một người hành động nên thành thạo.

 Trồng nho và làm rượu

 Người Hy Lạp cổ đại uống rất nhiều rượu vang.  Nho tương đối dễ trồng vì thích hợp với khí hậu và thổ nhưỡng nên hầu hết các trang trại và điền trang đều trồng ít nhiều.

 Bằng chứng chỉ ra rằng tiền thân của người Hy Lạp cổ đại, Mycenaeans (xem Chương 2), trồng nho và làm rượu vang, vì vậy nghề trồng nho để làm rượu vang đã được hình thành khá rõ ràng vào thiên niên kỷ cuối trước Công nguyên.

 Mặc dù lịch sử làm rượu vang của khu vực có từ lâu đời, nhưng ít người biết và không có cuốn sách nào về chủ đề này tồn tại.  Tuy nhiên, các sử gia có biết rằng đồ uống này thường được pha với nước và nồng độ cồn không cao như rượu vang ngày nay.

 Các loại rượu vang đỏ và trắng khác nhau đã có sẵn.  Thông thường, địa lý và khí hậu của khu vực quyết định nông dân phải  trồng nho loại nào sản xuất loại rượu.  Ví dụ, đảo Ceos sản xuất ba loại cụ thể:

  • Austeros: Một loại rượu khô
  • Glukazon: Một loại rượu ngọt
  • Autokratos: Một loại ở đâu đó giữa hai loại – loại khô vừa, nếu bạn thích.

 Những giống cây này từ Ceos đã được định hình và nổi tiếng khắp Hy Lạp

 Rượu vang là một phần quan trọng trong cuộc sống của người Hy Lạp và mọi người uống nó vì rất nhiều lý do bao gồm cả việc cử hành lễ tín ngưỡng.  Xem Chương 15 và cả Chương 20, nơi tôi bàn về vị thần liên quan với rượu vang và lúc nào cũng say sưa – Dionysus.

Tham quan ở Hy Lạp cổ

 Giống như mọi thứ khác trong thời cổ đại, đi xuyên suốt Hy Lạp cổ là một công việc vô cùng nặng nhọc.  Nếu bạn sống trên vùng đất khô hạn, bạn đi bằng ngựa, xe đẩy, hoặc trên chính đôi chân của mình.  Trên mặt nước, bạn có tùy chọn đi bằng thuyền, nhưng phương tiện này không hoạt động bình thường và có nhiều rủi ro.

 Khái niệm đi đây đó vì việc riêng hay để du lịch nghỉ dưỡng không thực sự là một phần của cuộc sống Hy Lạp.  Chắc chắn, chỉ những người rất giàu mới có thể bỏ việc trong một thời gian dài, chưa nói đến chi phí của cuộc hành trình.  Nói chung, người Hy Lạp cổ đại chỉ đi xa nếu họ buộc phải làm vậy.  Các nhà giao dịch, chẳng hạn, đã hầu như liên tục di chuyển giữa các thị trấn, mua các sản phẩm địa phương và bán nó ở thị trấn tiếp theo.

 Đôi khi, những người Hy Lạp cổ đại đã thực hiện những cuộc hành trình lớn để di chuyển và định cư ở một nơi khác như Chương 3 và 4 đã đề cập.

 

 Đi bằng ngựa

 Nếu bạn có đủ khả năng mua  ngựa, cưỡi nó hoặc sử dụng nó để kéo một chiếc xe đẩy là phương thức giao thông ưa thích trong suốt thời Hy Lạp cổ đại.  Ngựa khá đắt tiền – về cơ bản là thêm một miệng ăn khác.  Có thể nuôi dưỡng và  trang bị một con ngựa là  dấu hiệu cho thấy bạn đã khá giả về tài chính.  Hơn nữa, thiết bị cưỡi ngựa là thô sơ;  bàn đạp không xuất hiện ở châu Âu cho đến khoảng thế kỷ thứ chín.  Thêm vào tình trạng thiếu đường xá tử tế và bạn có thể thấy chắc chắn việc cưỡi ngựa quả là khó khăn.

 Ngựa hoang rất hiếm ở hầu hết các vùng của Hy Lạp, ngoại trừ Thessaly,  nơi số lượng lớn ngựa đã được thuần hóa và nhân giống.  Người Thessaly  trở nên nổi tiếng với đội kỵ binh đáng gờm của họ.

 Đối với người nghèo hơn,  lừa là một sự thay thế có thể chấp nhận được.

 Không giống như ngựa đắt tiền, được nuôi dưỡng đầy đủ, cuộc sống của lừa không hề hạnh phúc. Chúng bị buộc phải lao động cực kỳ chăm chỉ như một loài động vật đa năng,

Đôi dép phồng rộp

 Hầu hết mọi người không có lựa chọn phương tiện nào khác ngoài việc đi bộ đến bất cứ nơi nào họ cần phải đi.  Do đó, mọi người đều cố gắng giới hạn các chuyến đi trừ khi chúng thực sự vô cùng cần thiết.

 Một ví dụ điển hình là chuyến đi bộ giữa Athens và một cảng ở Piraeus, một hành trình dài khoảng 7 cây số. Nó sẽ mất một lượng thời gian lớn trong ngày để đi và về, vậy mà một số người phải thực hiện việc đi về như vậy mỗi ngày, chẳng hạn những nông dân nghèo hoặc những người phải đi bộ để tham gia bồi thẩm đoàn trong các phiên tòa.

 Các thương gia giàu có ở Athen thường phải mua nhà hoặc căn hộ nhỏ ở cảng  khi họ có công việc kinh doanh thường xuyên ở đó trước khi trở về ngôi nhà chính của họ trong thành phố.

 Mạo hiểm vào lãnh địa Poseidon’s : Đi bằng đường biển

Một số cuộc hành trình chỉ có thể thực hiện được trên ‘Great Green’(Vùng Xanh Lớn), tên  người Ai Cập và người Hy Lạp gọi Địa Trung Hải.  Những thủy thủ Hy Lạp có khả năng và kinh nghiệm đi biển, và Chương 6 và 7 mô tả nhiều thành tựu của họ trong các cuộc hải chiến.

Vị thần biển của Hy Lạp là Poseidon (mặc dù còn có nhiều vị thần khác liên hệ).  Poseidon là một vị thần hung bạo, và người Hy Lạp cho rằng bão tố, động đất và rủi ro trên biển là hậu quả của các cơn thịnh nộ của ông ta.  Làm lễ  cúng dường cho ông ta trước một chuyến đi  và sau khi trở về bình an được cho là điều cần thiết và khôn ngoan.

 Đoạn văn sau đây của Homer’s Iliad gợi lên một ý tưởng tuyệt vời về cách người Hy Lạp hình dung về Poseidon:

 Poseidon lặn xuống và thắng những con ngựa có móng bằng đồng lên  chiến mã xa của mình .  .  .  lướt qua những con sóng, và trên những con sóng  đến, bọn con cá heo rời khỏi hang ổ của chúng để lướt đi cắt ngang cơn sóng rẽ nước của ông ta,  nhảy sang trái và phải – chúng biết rõ vị chúa tể của mình.  Và biển phập phồng trong niềm vui, rẻ một con đường cho ông tiến lên.

 Một mối nguy hiểm thực sự khác trong việc đi biển là rơi xuống biển.  Hầu hết người dân Hy Lạp cổ đại không biết bơi.  Ngay cả  thủy thủ cũng cho rằng học bơi sẽ mời gọi số phận xúi xẻo và khiến con thuyền của bạn bị đắm. 

 Ngoài ra, bản thân bơi lội không phải là một hoạt động giải trí như bây giờ.  Nếu  bạn là một cư dân thành phố trong một chuyến đi biển và bạn bị rơi khỏi thuyền, bạn phải  cầu khẩn rằng trong số các thủy thủ đoàn có người biết bơi!

 Tàu buôn bán và vận tải

 Hầu hết các thuyền quân sự đều dài, kiểu dáng đẹp và chạy bằng mái chèo, nhưng thuyền  buôn bán và vận tải thì lại rất khác.  Nói chung, chúng  có kích cỡ to hơn với mớn nước lớn hơn nhiều (có nghĩa là chúng có vị trí thấp hơn nhiều dưới mực nước so với nhiều thuyền khác) và trông một chút tròn trịa hơn.  Những thuyền vận chuyển lớn hơn này gần như luôn luôn được chạy chỉ bằng buồm mà thôi.

 Cánh buồm được làm bằng vải lanh.  Chúng thường được sơn và trang trí với các biểu tượng cho biết thuyền đến từ đâu hoặc chở hàng hóa gì.

Nếu thuận gió, thuyền buồm loại này có thể di chuyển với tốc độ khoảng 7 đến 10 km trên giờ (khoảng 4 đến 6 hải lý).

 Nhờ kích thước và nguồn cung cấp năng lượng chỉ là buồm, các thuyền buôn cung cấp nhiều chỗ hơn để chuyên chở hàng hóa và hành khách, nhưng thuyền cũng hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết và cũng xoay sở kém linh hoạt hơn rất nhiều so với chiến thuyền anh em  quân sự của chúng.

Đóng tàu

 Việc đóng tàu là một nghề kinh doanh đòi hỏi kỹ năng cao đã được truyền lại từ nhiều đời trong dòng họ.  Những ví dụ tuyệt vời về việc đóng tàu xuất hiện trong thần thoại, như quá trình xây dựng con tàu Argo của Jason, mà Homer’s Odyssey mô tả chi tiết.  Thật ngạc nhiên, các phương pháp xây dựng mà Homer mô tả trong khoảng năm 750 trước Công nguyên vẫn được sử dụng trong thời kỳ Hy Lạp hóa 600 năm sau.

 Phương pháp đóng tàu mà Homer mô tả  là đặt sống lưng dưới đáy rồi tiếp theo là lắp khung sườn và cuối cùng là lợp vỏ thuyền và các hoạt động khác.  Phương pháp này khá nhanh;  thuyền có thể được đóng tương đối nhanh chóng.  Tùy thuộc  số lượng thợ tham gia, một con thuyền có thể hoàn thiện trong vòng một tháng.

 Hải hành

 Đi biển rất nguy hiểm.  Mùa đi thuyền thường bị giới hạn từ tháng 3 đến tháng 10 bởi vì trong những tháng mùa đông,  thời tiết quá khó lường.

Người Hy Lạp không có khả năng đi biển bằng cách sử dụng bản đồ, nên họ thường lái gần bờ biển gần  như có thể hoặc sử dụng các hòn đảo riêng lẻ để đánh giá khoảng cách và xác định phương hướng.  Có thể thực hiện một số điều hướng nhờ các vì sao vào những đêm trời quang, nhưng các thủy thủ thường không dựa vào phương pháp này.

 Mặc dù biển rất nguy hiểm, một số người Hy Lạp đã cố gắng khám phá những chuyến đi dài.  Nhân vật nổi tiếng nhất trong số này là Pytheas. Vào khoảng năm 320 trước Công nguyên , ông tuyên bố đã đi thuyền từ Địa Trung Hải quanh Tây Ban Nha, vào Đại Tây Dương, quanh quần đảo Anh, và thậm chí xa hơn – gần đến Vòng Bắc Cực.  Khi trở về nhà, ông đã viết một cuốn sách về chuyến thám hiểm mang tên Trên đại dương. Không ai tin ông vào thời điểm đó nhưng nhiều nhà bình luận hiện đại cho rằng ông nói thật.

Những hạn chế về việc định hướng có nghĩa là các thủy thủ chỉ thực sự biết một số lượng nhỏ các tuyến đường địa phương quen thuộc trong vùng lãnh hải  nơi họ đã có  kiến ​​thức chuyên môn về các dòng chảy địa phương và cách chúng ảnh hưởng đến hành trình.  Vì vậy, nếu bạn muốn đi du lịch giữa Athens và Tiểu Á, bạn phải thực hiện một số hành trình nhỏ và thay đổi thuyền, nhảy giữa các hòn đảo, thay vì một chuyến đi dài.

 Đánh bắt cá

Cũng giống như săn bắn, câu cá là một hình thức kiếm thức ăn từ biển.

 Đánh cá là một ngành công nghiệp quan trọng ở Hy Lạp cổ đại, mặc dù có thể không lớn như bạn có thể nghĩ.  Dự đoán sự dịch chuyển của các ngư trường thật khó khăn cho ngư dân Hy Lạp vì họ không có sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, và Địa Trung Hải không có nhiều cá như các đại dương lớn hơn.

 Hầu hết việc đánh bắt đều diễn ra gần bờ với những tấm lưới lớn.  Chỉ những người rất dũng cảm mới dám đánh bắt cá xa hơn ngoài biển khơi do hạn chế về khả năng hàng hải.  Vì vậy các loại cá ở vùng biển sâu hơn được  đánh giá rất cao và bán được  giá cao hơn.

 Người Hy Lạp yêu thích cá và cá  là một thực phẩm  chính trong chế độ ăn uống cho những người khá giả. Để biết thêm chi tiết, hãy xem Chương 15.

 Cướp biển Địa Trung Hải

Giả sử bạn sống sót khi đi biển, vượt qua được những cơn bão khủng khiếp do thần Poseidon nổi cơn thịnh nộ, thế thì  bạn cũng còn phải đề phòng bọn cướp biển!  Nạn cướp biển là một vấn đề lớn đối với việc đi biển.  Thần thoại Hy Lạp cổ đại có đầy đủ các tình tiết có thể được hiểu là hành vi cướp biển.

  • Jason và các Argonauts đi thuyền đến Biển Đen và đánh cắp Bộ lông cừu vàng, một hành động cướp biển rõ ràng.
  • Nhiều sự kiện trong Homer’s Odyssey là hành vi cướp biển, nhưng chúng không bị trừng phạt và không bị chỉ trích.

Nạn hải tặc phát triển mạnh vì không ai (cho đến thời La Mã) có thể trấn áp chúng.  Cũng thế, trong các cuộc chiến như Chiến tranh Peloponnesia (xem Chương 8), việc phân biệt giữa hành động chiến tranh và hành động cướp biển là rất khó.  Nói chung, cướp biển hoạt động phổ biến trên các tuyến đường thương mại qua lại giữa các đảo nhỏ thường là nơi ẩn náu của bọn hải tặc. Đặc biệt, khu vực xung quanh Rhodes được biết đến là một điểm nóng của cướp biển với năm bến cảng trên đảo cung cấp các món hàng cướp bóc phong phú.

Chương 14

 Nhà và gia đình

 

 Trong chương này

  • Tổ chức hộ gia đình Hy Lạp
  • Đánh giá cao vai trò của phụ nữ
  • Hiểu về hôn nhân và ly hôn
  • Nuôi dạy và giáo dục trẻ em
  • Xem xét nô lệ

 Phần I và II của cuốn sách này đề cập đến một số trận chiến tàn khốc nhất trong  lịch sử, nhưng chương này tôi xem xét một số điều có thể khiến bạn gây sốc  – những tương tác hàng ngày trong các gia đình Hy Lạp cổ đại.  Vì vậy, hãy chuẩn bị tinh thần: Thái độ của người Hy Lạp cổ đại về phụ nữ, tình dục, cái chết và bạo lực rất khác với những gì chúng ta quen thuộc hôm nay.

 Chương này (cũng như Chương 15) xem xét cuộc sống ở các thị trấn và thành phố Hy Lạp.  Phần lớn, tôi tập trung vào Athens vì đây là thành phố lớn nhất và thành công nhất vào thời điểm đó, và vì nó cũng cấp một số lượng bằng chứng khảo cổ và tài liệu khổng lồ, được các sử gia biết đến nhiều nhất.

 Phần lớn những gì tôi mô tả trong chương này  bạn có thể coi là chuẩn mực xã hội.

 Chuẩn mực  xã hội của người Hy Lạp cổ đại rất cao, và rất nhiều người đã  không – thực sự, không thể – sống theo chuẩn mực suốt thời gian đó.  Bạn sẽ khám phá ra khung tâm trí của người Hy Lạp và cách họ nhìn thế giới.  Trong một thế giới hoàn hảo đây là những chuẩn mực mà mọi người mong muốn  bản thân mình và những người khác phải sống theo. Tuy nhiên, các vở kịch, truyện tranh và tiểu thuyết từ thời Hy Lạp cổ đại chỉ ra rằng mức sống mọi người  thấp hơn nhiều so với chuẩn mực  được cho là có thể chấp nhận được.  Hãy nghĩ theo cách này: Ngày nay hầu hết mọi người coi việc vừa nhai vừa nói  là cử chỉ thô lỗ – nhưng nhiều người vẫn làm điều đó!

 Đánh giá cao hộ gia đình: Oikos

 Oikos là đơn vị cơ bản của xã hội Hy Lạp.  Theo thuật ngữ hiện đại, oikos

 có thể dịch thành “hộ gia đình”, nhưng từ này có nghĩa nhiều hơn là chỉ ngôi nhà của bạn.  Oikos bao gồm:

  • Bản thân ngôi nhà thực tế.
  • Những người sống trong đó.
  • Tất cả tài sản gắn liền với gia đình và ngôi nhà.

 Người Hy Lạp coi oikos là một thực thể, giống như một phiên bản rất nhỏ của  polis hay thành bang.  Tốt nhất bạn nên tránh xa người đàn ông khác oikos, hoặc rắc rối lớn đang ở phía trước.

 Tham quan ngôi nhà Hy Lạp điển hình

  Như Hình 14-1 cho thấy, một ngôi nhà trung bình ở một thị trấn Hy Lạp cổ đại không phải là lớn.  Sơ đồ tầng đơn giản và tương tự:

 Tất cả các phòng đều mở ra sân trong có hình chữ nhật, có ô cửa ra phố ở một bên. Mỗi ngôi nhà có một phòng khách chính, nơi các thành viên trong gia đình có mặt nhiều nhất trong ngày.

 Một căn phòng phụ, được gọi là andron (nghĩa đen là ‘phòng của các ông’) được được sử dụng để tiếp khách.  Như tên của nó, căn phòng này  chủ yếu là lãnh địa của nam giới.  Bọn đàn ông ngủ trong khu tiếp giáp với andron.

 Khu dành cho phụ nữ được đặt ở những nơi khác trong nhà – thường là xa andron, thường ở tầng trên.  Bọn phụ nữ sẽ làm việc và ngủ ở đây.

 Trong Odyssey của Homer, Odysseus đã rời xa tổ ấm của mình ở đảo Ithaca nhiều năm dài vì vướng vào cuộc chiến thành Troy (xem Chương 21 để biết thêm về Homer).  Trong khi Odysseus đi vắng, nhiều quý tộc địa phương đến nhà ông ta và cố gắng ve vãn  vợ ông, Penelope, tuyên bố rằng chồng bà rõ ràng đã chết.  Penelope ắt hẳn là rất hấp dẫn, nhưng thứ mà bọn người cầu hôn này thực sự muốn là đất đai và tài sản của Odysseus – oikos của ông ta – đi kèm với Penelope xinh đẹp.

 Trong phiên bản truyền hình gần đây của The Odyssey (2000), Odysseus trở về nhà và giết những kẻ rù quến vợ mình, đã xâm chiếm ngôi nhà của mình.  Ông ta biện minh cho việc sát hại họ, nói, “Chúng đã âm mưu đánh cắp thế giới của tôi.” Đó là  cách tuyệt vời để thể hiện ý nghĩa thực sự của oikos.

 Bản thân tòa nhà khá cơ bản với những bức tường bằng gạch bùn hoặc gạch vụn và các tầng có nhiều khả năng xây bằng đất bùn nén cứng. Nhà thường có thang trong (hoặc một cầu thang bên ngoài với những ngôi nhà giàu có hơn) mà các thành viên trong gia đình sử dụng để lên mái nhà, nơi họ sử dụng như một không gian sống khác.

Nhà ở Hy Lạp không có phòng tắm hoặc nhà bếp cụ thể.  Nấu ăn thường được thực hiện bên ngoài sân.  Tắm rửa thường bằng nước lạnh trong chốn riêng tư của khu ngủ nghỉ.

Bất kể bạn có bao nhiêu tiền, phong cách ngôi nhà sẽ chủ yếu là tương tự.  Sự sang trọng được thể hiện bằng quy mô của bất động sản và chất lượng của đồ trang trí hoặc nội thất.

1

Hình 14-1: Bố trí của một ngôi nhà tiêu chuẩn Hy Lạp.

Kho/ Chuồng

 Thang / Cầu thang dẫn lên mái

 Sân

 Phòng khách

 Cửa

 Andron

 Khu dành cho nữ

 Gặp gỡ đại gia đình

 Nói chung, khái niệm về gia đình rất mạnh mẽ.  Có nhiều người sống trong  không gian nhỏ của một ngôi nhà Hy Lạp.  Ngoài ‘gia đình hạt nhân’ hiện đại  (chồng, vợ và có thể từ hai đến năm con), một số thân nhân khác cũng là một bộ phận của hộ gia đình.  Các phụ nữ chưa kết hôn hoặc góa chồng thường sống dưới sự bảo vệ của những người thân nam giới gần nhất và những  ông  bà của họ,  các cháu gái và chị em gái  về mặt pháp lý thường phải tìm nơi trú ẩn trong một hộ gia đình đã bận rộn.  Thêm vào tập hợp này là một số nô lệ và một hộ gia đình trung bình thường có sĩ số từ 9 đến 12 người.

 Tuy nhiên, trong gia đình, sự bình đẳng không tồn tại.  Đàn ông là những người có quyền hành tuyệt đối và phụ nữ có  địa vị rất thấp kém.

 

 Kurios: Người đàn ông của ngôi nhà

Nam giới  thống trị tuyệt đối trong oikos. Ông ta được biết đến với  tên kurios, có nghĩa là “người đàn ông phụ trách”.  Kurios thực sự có quyền uy  sống và  chết đối với mọi thành viên  bên trong, bao gồm cả vợ và con của ông ta. 

 Một ông giết vợ có thể bị thách thức về mặt pháp lý bởi các mối quan hệ của cô ấy nhưng nếu cô ấy đã được chứng minh là không chung thủy thì hành động của y là hợp pháp.  Ông ta có toàn quyền  thực hiện mọi giao dịch tài chính và pháp lý của oikos.  Không ai khác có quyền giao thiệp với oikos theo  bất kỳ cách nào nếu không có sự đồng ý của ông ta.  Một người chồng trong một ngôi nhà mới sẽ tự động trở thành kurios và nắm giữ vị trí này cho đến khi y chết, mặc dù trong một số hộ gia đình, con trai cả sẽ đảm nhiệm vai trò này nếu người cha đã  quá già hoặc ốm yếu không thể đảm đương trách nhiệm.

Bên ngoài oikos

 Mặc dù bản thân oikos là một đơn vị độc lập, nhưng khái niệm về gia đình rất mạnh mẽ và được mở rộng ra ngoài oikos cho các nhóm khác:

  • Ankhisteia là một mạng lưới họ hàng rộng hơn mà gia đình Hy Lạp thuộc về.  Mạng lưới này thường bao gồm  những  anh em họ thứ hai và mở rộng đến đại gia đình của mọi người.

 Nếu một người phụ nữ góa chồng, động thái đầu tiên của cô ấy là tìm kiếm một người chồng mới ngay lập tức.

 Nhóm này cũng đóng một vai trò rất lớn trong quá trình kế thừa.  Luật thừa kế rất phức tạp nhưng về cơ bản  tuân theo quy luật là người họ hàng nam gần nhất được thừa hưởng.  Nếu không có một người thừa kế hiển nhiên thì  một người họ hàng nam từ ankhisteia sẽ bước vào và kết hôn với người phụ nữ góa, để được thừa kế tài sản.

  • Phratiati : Các hiệp hội tôn giáo có lẽ được mô tả tốt nhất là hội huynh đệ vì tất cả các thành viên đều là nam giới, đại diện cho các oikos của họ.  Mặc dù các thành viên có thể không có quan hệ họ hàng với nhau, nhưng gia đình của họ thường có một số loại liên kết thông qua hôn nhân hoặc kinh doanh trong quá khứ.

 Giống như oikos, những hiệp hội  này rất mạnh mẽ.  Đàn ông được mong đợi là sẽ dành lòng trung thành tuyệt đối cho chúng.  Nếu một người đàn ông khiến cho ankhisteia hay phratiai thất vọng, y bị phần còn lại xa lánh và sẵn sàng công kích.

 Với tất cả yêu cầu về lòng trung thành này, cuộc sống có thể trở nên rất phức tạp.  Lòng trung thành tối hậu của một người đàn ông là đối với oikos của y và sau đó, sự trung thành đối với ankhisteia nhưng lợi ích của các  phratiai cũng rất mạnh mẽ bởi vì chúng thường gồm những thành phần doanh nghiệp hoặc tài chính mạnh. May mắn thay, lợi ích của những nhóm này thường  không  xung đột nhau bởi vì tất cả chúng đều đại diện cho cùng một thứ – sự thăng tiến của oikos và những người thành viên của chúng trên một  cơ sở rộng lớn hơn.

 Dành thời gian với phụ nữ Hy Lạp cổ đại

 Phụ nữ Hy Lạp cổ đại tốt nhất chỉ là công dân hạng hai – hoặc thậm chí ít hơn ở nhiều thành phố.  Ví dụ, phụ nữ Athens không được coi là công dân;  thay vào đó, họ được phân loại là ‘Phụ nữ Attica’ (Attica là vùng phía đông Hy Lạp thuộc về Athens).  Mục đích là để tách phụ nữ ra khỏi thành phố – họ gắn liền với thành phố nhưng không thuộc tầng lớp thống trị của thành phố.

 Phụ nữ có rất ít tự do ở Hy Lạp cổ đại.  Họ  được mong đợi dành phần lớn thời gian của họ trong phạm vi  oikos và  không được khuyến khích giao thiệp  với bất kỳ ai khác.  Ví dụ, nếu khách nam đến nhà và thăm andron, phụ nữ không chắc sẽ được yêu cầu tiếp chuyện cùng họ.  Trong các hộ gia đình truyền thống hơn nếu phụ nữ được mời, họ buộc phải đeo mạng che mặt mọi lúc hoặc thậm chí ngồi sau bình phong.

 Nhà thơ – và người cố vấn  hôn nhân – Hesiod  – coi thường giới  phụ nữ.  Trong bài thơ dài Ngày Tháng và Công việc, ông ấy lên án gay gắt những vấn đề mà phụ nữ có thể mang lại:

 Đối với một người đàn ông không có gì tốt hơn là được  một người vợ – một người vợ tốt, nhưng  không có gì đau khổ hơn nếu cưới một ả vợ xấu, một kẻ ăn bám, một người ngay cả khi chồng còn mạnh khỏe  cầm đuốc thiêu cháy y và khiến y già trước tuổi.

Người Hy Lạp cổ đại coi phụ nữ là thứ cần được kiểm soát và họ giới hạn loại tài sản và số lượng tài sản mà phụ nữ có thể sở hữu.  Ví dụ:  Về mặt kỹ thuật, phụ nữ không được phép sở hữu tài sản cao hơn giá trị của một medimnos   lúa mạch (đơn vị đo lường Hy Lạp khoảng 52 lít) dùng để nuôi  ăn một gia đình trong một tuần.

 Bất kỳ tài sản nào mà người phụ nữ đang sử dụng, như quần áo hoặc đồ trang sức, đều là một phần của  oikos, như vậy thuộc về chồng cô.

 Ngay cả khi chồng chết,  phụ nữ cũng không thể níu kéo tài sản gia đình – cô ấy cần phải tái hôn nhanh chóng (tốt nhất là với một thành viên của ankhisteia) để tài sản này không bị một nam giới khác chiếm đoạt.

Mặc dù hạn chế, vị trí mà phụ nữ được mong đợi có thể được  vận dụng trong các hộ gia đình giàu có, nơi có nhiều nô lệ điều hành các oikos.  Tuy nhiên, phụ nữ thuộc các gia đình nghèo phải tích cực hơn nhiều vì họ phải chu toàn mọi công việc cần thiết để duy trì hoạt động của hộ gia đình. Ngoài ra, một số phụ nữ thậm chí còn làm việc cùng chồng trong công việc buôn bán hoặc kinh doanh của gia đình ở xưởng hoặc ở chợ.  Dù vất vả nhưng phụ nữ vẫn bị ràng buộc và phụ thuộc tài chính vào nam giới.  Những phụ nữ duy nhất độc lập về tài chính là một số gái mãi dâm sống đơn thân.

 Quái vật thần thoại

 Phụ nữ trong thần thoại Hy Lạp và các  bi kịch thường có cảnh ngộ khó khăn.  Hầu hết được miêu tả là không đáng tin cậy và tính khí thất thường.  Ví dụ như:

  • Clytemnestra, vợ của Agamemnon.  Cô ấy đã sát hại chồng mình khi ông trở về nhà sau cuộc chiến thành Troy.
  • Medea: Vợ của Jason trong câu chuyện Argonauts (kể trong Chương 20).  Khi ông ta bỏ cô đi theo một phụ nữ khác, cô ta đã sát hại những đứa con riêng của họ và cô dâu mới của ông ta.
  • Pandora: Người phụ nữ đầu tiên.  Bà ấy chịu trách nhiệm đã đưa tất cả các tai họa vào thế gian. 

Tất nhiên, mọi thứ không hoàn toàn đơn giản và hầu hết đàn ông cũng cư xử kinh khủng trong các câu chuyện thần thoại.  Nhưng những hình ảnh phụ nữ trong thần thoại này đã ảnh hưởng đến người Hy Lạp cổ đại.  Đàn ông nghi ngờ và cố gắng kiểm soát chặt chẽ phụ nữ.  Cũng không quên neo giữ cô ấy;  nhưng cô ta vẫn tìm cách bứt đứt dây neo của mình. Thường vào ban đêm để tìm một bến cảng khác.

Kết hôn và ly hôn

 Một phần lý do tại sao xã hội Hy Lạp cổ kiểm soát phụ nữ quá chặt chẽ là để không làm hỏng cơ hội có được một cuộc hôn nhân tốt đẹp của họ.  Kết hôn  là sự kiện chính trong cuộc đời của một  phụ nữ – thứ mà cô ấy đã dành cả tuổi thanh xuân của mình để  chuẩn bị.

 Các cô gái kết hôn khi còn trẻ, thường khoảng 14 tuổi, với những người đàn ông lớn tuổi hơn đáng kể, có thể từ 25 đến 30 tuổi.  Thông thường, phụ nữ kết hôn với người đàn ông lớn tuổi hơn nhiều, nếu y là người mới góa vợ.

 Nhà thơ Theognis mô tả những thử thách khi kết hôn với một cô dâu trẻ, đặc biệt là khi chồng lớn tuổi:

 ‘Vợ trẻ không hợp với chồng già. Vì cô ấy là con thuyền không tuân theo bánh lái.’

Bị kẹt: Tất cả là về tiền

 Đám cưới là việc  phức tạp để tổ chức vì nó tập trung phần lớn vào  việc chuyển nhượng tài sản.  Khi một cô dâu chuyển đến sống với chồng mới, cô ấy  mang theo của hồi môn.  Của hồi môn thường là một khoản tiền lớn đại diện cho một phần tài sản mà  cha cô ấy tặng cho cô ấy thay vì nhường đất bản thân  sẽ rất phức tạp.  Người vợ không được sở hữu của hồi môn và  ngay lập tức nó trở thành tài sản của chồng – mặc dù y có thể phải trả lại cho cô nếu họ ly hôn.

 Hôn nhân diễn ra trong hai giai đoạn: hứa hôn  và kết hôn.

 Lời hứa hôn

 Phần đầu tiên của cuộc hôn nhân được gọi là eggue tương tự như khái niệm hiện đại về đính hôn – mặc dù thuật ngữ này thực sự có nghĩa  như ‘giao kết’ nhiều hơn.

 Cuộc hôn nhân sắp tới  được thông báo công khai (tuyên bố trước mặt các thành viêncủa ankhisteia) để bà con có thể được cha cô dâu thông tin ​​cả  về kích cỡ của hồi môn và  lời đảm bảo rằng con gái mình vẫn còn trinh tiết. Cuộc hứa hôn thường diễn ra rất sớm trong cuộc đời của một cô gái khi cô ấy vẫn là một đứa trẻ có thể lên 5 hoặc 6.

 Một người đàn ông trẻ chọn vợ trên cơ sở địa vị và mối quan hệ gia đình, thường là kết quả của các cuộc thảo luận  kỹ lưỡng  trong ankhisteia được thực hiện bởi hai ông bố.  Cặp đôi có  thể chưa bao giờ gặp nhau trước khi hứa hôn. Sự lãng mạn thậm chí còn không có mặt.  Toàn bộ quá trình là một giao dịch kinh doanh, thuần túy và đơn giản.

 Đám cưới – hay ngày chuyển nhà

 Bản thân cuộc hôn nhân thực tế rất đơn giản.  Cô gái đơn giản bước vào oikos của người chồng mới và bắt đầu sống với anh ta.  Cặp đôi đã đi qua một buổi lễ trang trọng nhỏ để được họ hàng chúc phúc, nhưng tất cả đều rất  riêng tư.  Bạn không cần đăng ký kết hôn vì hôn nhân là giao dịch riêng tư giữa hai kurios.

 Tiệc cưới thường diễn ra sau đó và đôi khi kéo dài hai hoặc ba ngày.  Tất cả các thành viên họ hàng sẽ tham dự,  phụ nữ tụ tập với cô dâu trong khu dành riêng cho phụ nữ trong nhà.

 Tiệc cưới như thường lệ gồm ăn, uống và khiêu vũ – không quá khác biệt so với các tiệc cưới thông thường hiện nay.

  Xếp hành lý và ra đi

 Cuộc ly hôn của người Hy Lạp cổ đại, giống như hôn nhân, khá đơn giản: Cô dâu chỉ đơn giản là chuyển ra ngoài.  Cô quay trở lại nhà của cha mình, nếu ông ấy vẫn còn sống, hoặc đến nhà của người thân nam gần nhất.

 Vợ hoặc chồng đều có thể yêu cầu ly hôn, nhưng thường không phải là đàn ông là người đòi ly hôn sau một cáo buộc ngoại tình.  (Đàn ông thường ngủ  với những phụ nữ và gái mãi dâm khác, nhưng những người vợ được cho là phải hoàn toàn chung thủy.) Điển hình thì việc các bà vợ không chung thủy thường bị tuyên bố công khai và họ phải chấp nhận những điều sỉ nhục.

 Lý do chính khác mà các ông đòi ly hôn  có thể là vì họ muốn làm lại  một cuộc hôn nhân hấp dẫn về mặt xã hội và có lợi về mặt tài chính.  Đã từng kết hôn không phải là rào cản đối với việc kết hôn lần nữa – đối với đàn ông hay đàn bà – nhưng một người đàn ông có nhiều lựa chọn hơn về người mà anh ta kết hôn lần thứ hai hoặc thứ ba.  Không giống như các nền văn hóa cổ đại khác, Hy Lạp chỉ cho phép tình trạng một vợ hoặc chồng cùng một lúc!

 Tất nhiên, một số cuộc hôn nhân đã diễn ra không phù hợp với những cấu trúc xã hội được xác định rõ ràng này.  Tầng lớp nghèo hơn và thấp hơn cũng kết hôn nhưng tất nhiên không có sự chuẩn bị công phu và các thảo luận kỹ lưỡng về môn đăng hộ đối như những hộ có tiền.   Nhiều cuộc hôn nhân loại này ắt hẳn là vì tình yêu chân thật.  Rất tiếc, các  sử gia không biết quá nhiều về chúng bởi vì tất cả bằng chứng chỉ liên quan đến  lớp người biết chữ có tiền.

 Bắt đầu trong cuộc sống: Trẻ em

 Nhìn chung, thái độ của người Hy Lạp cổ đại đối với trẻ em rất khắc nghiệt.

Một số điều tôi nói trong phần này khá khó chịu – vì vậy xin được cảnh báo.

 Đàn ông Hy Lạp cổ  khá hoang tưởng về việc ngoại tình của người phối ngẫu và điều đó giải thích phần nào sự thiếu tin tưởng và hạn chế phụ nữ của họ.  Một phần lo lắng của họ là vì khả năng có con ngoài giá thú.  Luật của Hy Lạp về thừa kế rất nghiêm ngặt và sự xuất hiện của bất kỳ đứa con ngoài giá thú nào thực sự có thể làm phức tạp tình hình và dẫn đến các vụ án pháp lý kéo dài.

 Vượt qua rào cản khó khăn đầu tiên: Sinh nở

Hy Lạp cổ không có phương pháp tránh thai khoa học nên phụ nữ thường mang bầu.  Hơn nữa vì họ kết hôn khi còn khá trẻ (14 hoặc 15 tuổi) nên sẽ có nhiều lần  sinh nở  trước mắt.  Bốn hoặc năm đứa trẻ trong một gia đình là điều thường thấy.

 Chuyển dạ

 Trong phần lớn các trường hợp, việc sinh nở là chuyện của giới phụ nữ, trong đó vai trò chính là là nữ hộ sinh có kinh nghiệm và nhất là các bà mụ lớn tuổi.    Các thầy thuốc nam chỉ được gọi đến trong những ca khó nhất.  Việc sinh nở diễn ra trong hộ gia đình mà người sản phụ sẽ dành toàn bộ thời gian hậu sản ở đó.

 Rủi ro đối với người phụ nữ sinh con cũng cao như đối với trẻ sơ sinh.  Khả năng băng huyết và các tai biến trong quá trình sinh nở mà ngày nay có thể kiểm soát được có khả năng gây tử vong cao ở Hy Lạp cổ đại.  Trong nhiều trường hợp, sự cố này hay sự cố khác  đều vượt khỏi  kinh nghiệm.

Tội giết trẻ con

 Mặc dù nghe khủng khiếp, tội giết trẻ con  không phải là hiếm ở Hy Lạp cổ đại.  Hầu hết đàn ông Athen muốn có con trai bởi vì người nam có thể làm  công việc kinh doanh của gia đình và sinh ra một người thừa kế cho oikos.  (Nhà thơ Hesiod trong tác phẩm Ngày tháng và Công việc  khuyên rằng tốt nhất là chỉ nên có một con trai và không có con cô con gái nào cả.) Con gái được coi là có vấn đề.  Nuôi dưỡng họ tốn kém và khi họ đến tuổi kết hôn lại mất của hồi môn.

 Giải pháp Hy Lạp thật kinh khủng nhưng đơn giản.  Nếu kurios của oikos quyết định rằng anh ấy đã có đủ con, thể thì những đứa con tiếp theo, đặc biệt là các con gái, sẽ bị bỏ rơi. Tập quán kinh khủng này liên quan đến việc bỏ đứa trẻ sơ sinh ra  vùng nông thôn để mặc cho chết đói hoặc thú dữ ăn thịt.

 Tôi không bào chữa cho việc thực hành khủng khiếp việc giết hại trẻ sơ sinh, nhưng sự hiện diện hàng ngày của chiến tranh, chết chóc và bệnh tật đã làm người Hy Lạp cổ đại dạn dày.  Ngoài ra, bạn cần ghi nhớ rằng tuổi thọ ở Hy Lạp cổ đại chỉ khoảng 30 năm.  Tất nhiên, rất nhiều người sống hơn 30 tuổi, nhưng mức trung bình đã bị giảm xuống bởi số  lượng lớn các ca tử vong ở trẻ sơ sinh.  Dù cái chết và sự mất mát những người thân yêu là một trải nghiệm phổ biến, nhưng điều đó  không làm cho nỗi đau mất đi ai đó trở nên vơi bớt hơn.

 Oedipus: Một trường hợp điển hình

 Có lẽ vở kịch nổi tiếng nhất của Hy Lạp là Oedipus Tyrannus của Sophocles.  Vở kịch xoay quanh sự thật rằng, sau khi nhận được một  lời tiên tri không thuận lợi, cha của Oedipus bỏ rơi con trai mình khi còn là một đứa trẻ sơ sinh.  Người chăn cừu được ông yêu cầu bỏ rơi đứa trẻ lại có cảm tình với Oedipus và nhận em  làm con nuôi, bắt đầu một chu kỳ bi thảm nổi tiếng nhất của các sự kiện trong cuộc đời.

 Những khán giả ở thế kỷ thứ năm trước Công nguyên khi xem vở kịch này ban đầu sẽ không bị sốc bởi quyết định của cha Oedipus vì họ đã quen và cảm thấy thoải mái với  quyền lực tối thượng của một người đàn ông đối với oikos của mình.  Bạn có thể đọc thêm về vở kịch trong Chương 16.

 Đón nhận một nền giáo dục

Nếu bạn vượt qua được thời thơ ấu, giai đoạn tiếp theo của cuộc đời  là theo đuổi việc học vấn của bạn.  Điều này rất khác nhau tùy thuộc vào việc bạn là trai hay gái.

 

 Trường nam sinh

 Không có yêu cầu về độ tuổi đi học.  Nhiều cậu bé được giáo dục chính quy từ 5 đến 6 tuổi cho đến khi trưởng thành (16).

 Hy Lạp cổ đại không có hệ thống giáo dục do nhà nước tài trợ.  Tất cả học phí đều được người giám hộ kurios của cậu bé đài thọ.  Các gia đình giàu có hơn thì nuôi hẳn  gia sư  tại nhà, giảng dạy cho một số bọn trẻ.

 Các bé trai trải qua ba lĩnh vực giáo dục chính:

  • Trường Grammar: Dạy các môn học chính thức như toán học, đọc hiểu và viết.  Các bé trai dành nhiều thời gian để ghi nhớ các tác phẩm của Homer và các nhà thơ khác.  Người Hy Lạp cho  rằng các tác phẩm văn học vĩ đại sẽ rèn luyện đạo đức thông qua cách cư xử của các nhân vật trong truyện.
  • Trường Kitharistes:  Dạy nhạc và thơ.  Con trai học cách chơi đàn lia và biểu diễn các bài hát và làm thơ.
  • Trường Palaestra: Dạy thể dục dụng cụ và rèn luyện thể lực, chắc chắn tại những sân tập.

 Một cậu bé thường phải học mỗi ngày lần lượt tại tất cả các trường này  (ngoại trừ ngày lễ hội), thường phải đi chuyển  đến những nơi khác nhau cho các buổi học.

 Đối với những người giàu có, điều kiện học tập  sâu cao chờ đón các cậu bé khi trở thành người lớn nhờ thuê mướn các nhà triết gia làm gia sư. Đến đầu thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, Học viện của Plato, và sau đó là Lyceum của Aristotle, chính thức mở ra, trở thành trường chính thức của nền giáo dục đại học.  Tôi nói thêm về tất cả những điều này trong Chương 23.

 Giáo dục cho người nghèo

Giáo dục rất tốn kém.  Đối với những gia đình không có tiền, giáo dục có nghĩa là làm việc trong môi trường kinh doanh hoặc trang trại của gia đình.  Nền giáo dục này chủ yếu dạy nghề để con cái có thể tiếp quản công việc kinh doanh từ cha mẹ.

 Các bé gái cũng sẽ tham gia vào công việc này cho đến khi chúng đến tuổi  có thể kết hôn.  Những người nghèo hơn sẽ cam chịu tình trạng mù  chữ.

 

 Các cô gái: Họ không cần học hành!

 Giống như rất nhiều điều ở Hy Lạp cổ đại, giáo dục cho các bé gái cũng có nhiều điều khác nhau.  Đó là việc rất bất thường khi một người cha chi tiền cho con gái mình theo đuổi việc học vấn.  Những cậu trai được giáo dục bởi vì họ cần rèn luyện những kỹ năng cần thiết để thành công trong cuộc sống ngoài xã hội.  Ngược lại, các cô gái được mong đợi là người nội tướng nên chỉ cần học  những kỹ năng may vá, nấu nướng  và  điều hành một ngôi nhà.

 Một số phụ nữ có học vấn cao và không có gì ngăn cản họ học tập lên cao sau này trong cuộc sống, nhưng những phụ nữ có trình độ học thức cao chỉ là thiểu số và chưa bao giờ giữ được địa vị để thể hiện tài năng của mình.

Bàn về chế độ nô lệ

 Ngoài các thành viên trong gia đình, một oikos bao gồm các nô lệ trong hộ gia đình.  Chế độ nô lệ đã hình thành nên bộ phận lớn trong xã hội Hy Lạp, và  Athens chứa một số lượng lớn nô lệ.  Các tác giả hiện đại đã ước tính rằng vào đầu Chiến tranh Peloponnesia năm 431 trước Công nguyên (xem Chương 8),

ở Athens có khoảng 50.000 nam công dân cư trú. Đồng thời, khoảng 100.000 nô lệ cũng sống trong thành phố.  Nếu bạn kể cả phụ nữ và trẻ em, các  sử gia cho rằng tổng dân số của Athens được phân chia khoảng 50:50 giữa nô lệ và không nô lệ.  Cả đàn ông và phụ nữ đều có thể  là nô lệ mặc dù họ hoàn thành các vai trò khác nhau, phụ nữ chủ yếu bị giới hạn trong các nhiệm vụ giúp việc và  chăm sóc trẻ em.

Định nghĩa nô lệ

Nô lệ là tài sản của oikos và không có quyền lợi hợp pháp nào.

 Về mặt kỹ thuật và pháp lý, nô lệ giống hệt như một cái nồi hay một con cừu. Bất cứ ai sở hữu nô lệ đều có quyền sinh sát đối với họ và có thể làm bất cứ điều gì y muốn.  Nếu một người đàn ông thường xuyên đánh đập và thậm chí giết chết nô lệ của mình, y không bị cho là tàn nhẫn một cách phi lý.

 Ngoài tranh đấu chống chiến tranh và viết lịch sử, Xenophon cũng biên soạn

 về triết học.  Trong cuốn sách Memorabilia của mình, ông ấy tái hiện lại một cuộc đối thoại trong đó Socrates thảo luận về các hình phạt thích hợp cho nô lệ lười biếng và cư xử sai trái.  Phương pháp chữa trị mà ông ấy mô tả  có lẽ khá phổ biến:

 Socrates: Họ không thể kiểm soát sự phóng túng của chúng bằng cách bỏ đói chúng sao? Ngăn chặn chúng ăn cắp bằng cách khóa bất cứ thứ gì chúng có thể ăn cắp?  Ngăn chúng bỏ  trốn bằng cách xích chúng vào gông cùm?  Trừng trị tính biếng nhác của chúng bằng roi vọt?

 Một số người được sinh ra đã là  nô lệ  (con cái của nô lệ), nhưng phần lớn  được bán vào  kiếp nô lệ, chủ yếu là do chiến tranh.  Ví dụ,  Alexander Đại đế  đã bán toàn bộ dân chúng của một số thành phố làm nô lệ.  Ông ta chỉ có thể làm được điều đó nếu thị trường mua nô lệ đang phát triển mạnh.

Định giá một nô lệ

 Chợ nô lệ thường xuyên diễn ra ở hầu hết các thành phố, và Athens cũng không ngoại lệ.  Các cá thể được rao bán chủ yếu đến từ phía bắc ở Thrace và Dalmatia nhưng cũng từ Tiểu Á qua Địa Trung Hải.

 Sau đây là giá một số nô lệ từ một cuộc đấu giá diễn ra ở 415 trước Công nguyên:

  • Một phụ nữ Thracia: 165 drachmas
  • Một người đàn ông Syria: 240 drachmas
  • Một người đàn ông Scythia: 144 drachmas
  • Một đứa trẻ người Carian: 72 drachmas

 Để hiểu rõ về giá cả, cần biết 1 drachma là mức lương trung bình hàng ngày của một công nhân lành nghề (khoảng  25 bảng Anh  hoặc 50 đô la Mỹ).  Những năm thanh niên trẻ tuổi có giá trị nhất (và do đó đắt tiền) bởi vì họ có thể  làm việc chăm chỉ hơn và không có nguy cơ mang thai.  Người lớn tuổi có thể đắt giá nếu họ có trình độ học vấn, vì họ thường được mua để làm gia sư cho chủ nhân.

 

 Phân chia lao động

Sau khi được chủ nô mua, một nô lệ có thể đi đến một số điểm và giữ vai trò được giao phó:

  • Hầu hết các hộ gia đình đều có ít nhất một oiketes, tức một nô lệ làm việc nhà cơ bản.
  • Một số nô lệ có kỹ năng chuyên môn được giao những công việc tương xứng trong cơ sở kinh doanh như làm gốm, mộc, nề, thủ công. . .
  • Nhà nước Athen cũng sở hữu những nô lệ được gọi là demosioi đảm nhiệm  các chức năng chính thức, chẳng hạn như làm việc trong xưởng đúc tiền hoặc làm thư ký, kế toán trong triều đình.  ‘Lực lượng cảnh sát’ Athen được lập ra từ những nô lệ người Scythia  thường được gọi là ‘Cung thủ Scythia’.

 Nhiều nô lệ làm việc bên ngoài thành phố trong các trang trại thuộc sở hữu của công dân. Một số trở nên đáng tin cậy có thể giữ chức vị điều hành và quản lý trang trại.

 Những nô lệ bất hạnh nhất bị xua đi làm việc trong các mỏ bạc ở Laureion gần Athens.  Công việc của họ thật vất vả và cay nghiệt, và cái chết là điều duy nhất được mong đợi.

 Số lượng nô lệ khổng lồ ở Athens và Attica nói chung đã làm một  khối lượng công việc đồ sộ.  Nhờ họ gánh vác những công việc nặng nhọc tẻ nhạt,  các công dân nam tầng lớp trên mới có thể dành phần lớn thời gian của mình  tham gia vào các hoạt động  chính trị và hưởng thụ những thú vui tao nhã. Thật là điều mỉa mai khi biết rằng một trong những lý do chính khiến người Athen có thể phát triển tính dân chủ là vì hệ thống của họ đã  tước bỏ các quyền làm người của các dân tộc mà họ chinh phạt.

Trách nhiệm pháp lý

 Một trong những khía cạnh khó chịu nhất khi làm nô lệ là vị thế pháp lý của họ.  Nếu nô lệ được yêu cầu cung cấp bằng chứng trong các trường hợp pháp lý, chỉ có những lời khai được đưa ra khi bị tra tấn mới được coi là hợp lệ vì tòa cho rằng  nếu không tra tấn thì họ sẽ nói dối để tự bảo vệ mình (nghèo thì họ bị coi là dễ mua chuộc bằng hối lộ và xúi giục).

 Cả hai bên trong một vụ án pháp lý đã đồng ý trước hình thức tra tấn và bồi thường nếu nô lệ bị tàn tật.  Điển hình các hình thức tra tấn bao gồm câu rút, đánh đập, và đổ giấm vào mũi.

 Nói chung, tốt nhất là  nô lệ nên khai là mình không nghe, không thấy gì cả.

 Mua quyền tự do của bạn

 Các nô lệ về mặt kỹ thuật có thể mua hoặc được trao quyền tự do của mình bởi chủ của mình, một quá trình được gọi là manumission. Giành được tự do khỏi chế độ nô lệ ở Hy Lạp không phổ biến như ở một số nền văn minh khác (chẳng hạn như Đế chế La Mã).

 Và tự do cũng  có những vấn đề của nó.  Những nô lệ được tự do thường ở vào tình thế khó xử vì  họ không thể có quốc tịch Athen mà phải trở thành metoikoi hoặc metics (người nước ngoài cư trú.

Kết nối với người ngoại quốc: Metics

 Ngoài gia đình và nô lệ, Athens còn có thành phần khác có thể là thành viên gia đình: người nước ngoài hợp pháp, được gọi là metics hoặc metoikoi.

 Metoikoi là những người nước ngoài cư trú ở Athens nhưng không được cấp tư cách công dân. Tư cách của họ hơi khác so với những khách  bình thường vào  thành phố ngắn hạn  vì metoikoip đã trả một loại thuế đặc biệt và cần phải có người bảo lãnh cho họ khi họ ở lại thành phố.  Thông thường, điều kiện bảo lãnh bao gồm việc  cung cấp chỗ ăn ở cho metoikoi.

 Đôi khi Metic đến làm gia sư tại nhà  những người bảo trợ  họ.  Một số  các nhân vật nổi tiếng đã trải qua quá trình này, bao gồm những người sau đây:

  • Sử gia và nhà du hành Herodotus đã làm việc nhiều năm ở Athens và rất nổi tiếng, nhưng ông ta rời đi khi thành phố từ chối cấp cho ông tư cách công dân.
  • Nhà triết học vĩ đại Aristotle đã sống nhiều năm ở Athens trong một ngôi nhà ngay bên ngoài  tường thành.  Là một metoikos, ông ấy không được phép mua tài sản trong thành phố và buộc phải xây cất một ngôi nhà bên ngoài thành.

 Chương 15

 Về cuộc sống hàng ngày  trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại

 Trong chương này

  • Quan sát lịch và thời khóa của người Hy Lạp
  • Ăn uống và ăn mừng
  • Kiếm tiền
  • Khám phá giới tính và tình dục
  • Đi khám bệnh

 Như phần lớn những trải nghiệm của người Hy Lạp cổ đại, nhiều thứ dường như rất gần gũi  với cách sinh hoạt ngày nay, trong khi các khía cạnh khác dường như rất xa lạ.  Sau khi làm sáng tỏ cách người Hy Lạp cổ đại giữ gìn nếp sống hàng ngày của họ, chương này tập trung vào ba hoạt động tồn tại chính hàng ngày của con người: ăn, uống và sinh sản.  Trên đường đi, tôi cũng chạm vào hai thứ cần thiết khác: tiền và thuốc.

Đặt thời khóa: Lịch và đồng hồ Hy Lạp

 Người trong thế giới cổ đại thường tính niên đại mọi thứ theo các sự kiện hơn là một năm thực tế.  Ví dụ, họ có thể nói “Vào năm Pericles chết” hoặc “năm sau trận chiến Marathon”, mà không nói chính xác hơn là 429 TCN hoặc 479 TCN.

 Mặc dù quy ước này rất đơn giản, nhưng lịch Hy Lạp thực tế rất phức tạp.  Những điều sau đây là cơ bản.

 Tìm ra ngày

Một phần thách thức khi làm việc với niên đại Hy Lạp cổ đại là các khu vực không hoạt động theo một lịch duy nhất.  Mặc dù mỗi thành phố đều căn cứ lịch của họ vào âm lịch (tuần trăng), họ đặt tên các tháng riêng lẻ và các ngày cố định theo các vị thần và lễ hội tôn giáo địa phương.

 Trên thực tế, không chỉ mỗi thị trấn hoặc thành phố có một tên khác nhau cho mỗi tháng, mà mỗi nơi còn có thể sử dụng một ngày khác nhau để bắt đầu một năm mới.  Vì vậy, nếu bạn  đã ăn mừng Năm mới ở Athens, dân chúng ở Thebes có thể vẫn còn trong năm cũ.  Sự khác biệt không quá lớn và có lẽ không tạo ra chênh lệch nhiều.  Cho nên đón năm mới ở Athens xong, bạn lên đường đếnThebes, là vừa kip  đón năm mới ở đó!

 

 Khám phá lịch Athens

 Bảng 15-1 phác thảo lịch của người Athens

 Bảng 15-1 Các tháng của Lịch Athen

 Mùa hè

 1 Hekatombaion Tháng 6 / Tháng 7

 2 Metageitnion Tháng 7 / Tháng 8

 3 Boedromion Tháng 8 / Tháng 9

 Mùa thu

 4 Pyanepsion Tháng 9 / Tháng 10

 5 Maimakterion Tháng 10 / Tháng 11

 6 Poseidon Tháng 11 / Tháng 12

 Mùa đông

 7 Gamelion Tháng 12 / Tháng 1

 8 Anthesterion Tháng Giêng / Tháng Hai

 9 Elaphebolion Th

 Mùa xuân

 10 Mounichion Tháng 3 / Tháng 4

 11 Thargelion Tháng 4 / Tháng 5

 12 Skirophorion Tháng 5 / Tháng 6

 Mỗi 12 tháng của Athens dài 29 hoặc 30 ngày, có nghĩa là mỗi năm thường chỉ có  khoảng 354 ngày.  Nhưng hệ thống không thực sự thật đơn giản như thế.  Các nhà cai trị chỉ định một số năm là năm nhuận và thêm vào  nguyên cả tháng để bù trừ.  Trong năm nhuận, hội đồng thành phố chọn ra một tháng được lặp lại hai lần, thường là thêm tháng Poseideon.  Phong tục kỳ lạ này có nghĩa là một năm nhuận dài tới 384 ngày.

 Mặc dù đây là lịch âm và người Hy Lạp sử dụng tuần trăng để tính toán nó, nhưng đây không phải là lý do chính để thực hiện các thay đổi.  Luôn luôn các thay đổi được sử dụng để tạo thêm thời gian.  Vào năm 271 trước Công nguyên, người Athens đã thêm bốn ngày vào tháng Elaphebolion để có thêm thời gian chuẩn bị cho lễ hội City Dionysia. Có lẽ công bằng khi cho rằng các thành phố khác cũng làm điều tương tự.

 Ngày nào nó trở lại?

 Những ngày trong mỗi tháng thậm chí còn phức tạp hơn.  Người Athen không đặt tên cho ngày (thứ Hai, thứ Ba, v.v.) – thay vào đó, họ đánh số chúng.  Nhưng ngay cả quy ước này cũng không đơn giản như ta tưởng.

 Một tháng bắt đầu với trăng non và người Athens sau đó chia nó thành ba phần: lưỡi liềm, đầy và khuyết.  Hai phần đầu tiên được tính 21 ngày tới.  Tuy nhiên, ở ngày thứ 22, mọi thứ đã thay đổi.  Khi mặt trăng bắt đầu khuyết dằn, người Athen đếm ngược từ 10 cho đến cuối tháng, kết thúc vào ngày 1. Ngày cuối cùng này được gọi là ngày ‘cũ và mới’.

 Vì vậy, mặc dù có 30 ngày trong tháng, chẳng hạn như ngày cuối cùng của Poseideon, thực sự là ngày đầu tiên.  Nó rất khó hiểu.  Tôi thật bối rối khi viết về nó.

 Lịch bổ sung

 Thật đáng kinh ngạc, việc ấn định thời gian thực sự còn phức tạp hơn.  Ngoài các quy ước lịch mà tôi mô tả trong phần trước, Người Athens sử dụng hai hình thức lịch khác: Lịch để lên lịch cho các lễ hội tôn giáo. Một lịch khác để ghi ngày tháng các văn bản chính trị và luật pháp.

  Các lịch khác nhau được đối chiếu với nhau và có những dịp mọi người cần phải được cho biết đó là ngày nào!  Các công chức nô lệ được giao trách nhiệm lưu giữ ngày tháng và ghi chép.

Làm việc từ bình minh đến tối

 Một ngày trung bình của người Athens bắt đầu vào lúc bình minh, hoặc ngay trước đó và kéo dài cho đến khi tắt ánh sáng mặt trời (trung bình khoảng 15 giờ).  Bởi vì hầu hết các công việc và  các hoạt động cần ánh sáng, chúng thường kết thúc vào buổi tối, sau đó là thời gian ăn uống và giao lưu – nếu bạn là nam. 

 Tuy nhiên, giống như theo dõi ngày cụ thể, việc xác định  thời gian trong cổ Hy Lạp rất khó.  Người Hy Lạp chỉ thực sự làm việc dựa trên giờ hơn  phút.  Hai phương pháp chính là:

  • Đồng hồ mặt trời: Người Hy Lạp đã phát hiện đồng hồ mặt trời từ Babylon ở Ba Tư nơi thiết bị được phát triển và lần đầu tiên bắt đầu sử dụng các phiên bản kém tinh tế hơn của mình  từ thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên.  Các thiết bị Hy Lạp không thật chính xác cho đến thế kỷ thứ ba trước Công nguyên khi các học giả thời  Hy Lạp hóa tìm ra công thức toán học tạo ra đồng hồ mặt trời hoạt động bình thường.
  • Đồng hồ nước: Vào ban đêm và khi không có ánh sáng mặt trời, một số người chuyển sang đồng hồ nước thô sử dụng dòng chảy của nước để ấn định thời gian.  Một lần nữa, những thiết bị này không chính xác cho lắm và học giả, Ctesibius ở Alexandria, đã tinh chỉnh cơ chế trong thế kỷ thứ 3 trước CN.

 Người Hy Lạp ấn định thời gian bằng cách sử dụng mốc  bình minh, giữa trưa và hoàng hôn làm điểm tham chiếu và sau đó thêm giờ, chẳng hạn như “trong giờ thứ ba sau bình minh”.

 Sau khi bạn thức dậy vào buổi sáng, những gì bạn thực sẽ phải làm trong phần còn lại của ngày khá phụ thuộc vào việc bạn là ai.  Athens cổ đại không có nhiều loại nghề nghiệp: nông dân, nghệ nhân, lao động, hoặc nô lệ chiếm đa số tuyệt đối.  Đối với những người này, hầu hết các ngày đều rất giống nhau và rất vất vả.

 Thú vị hơn là cuộc sống của những người giàu có để  không phải làm việc mỗi ngày.  Đối với họ cuộc sống ở thành phố – đặc biệt Athens – gồm nhiều tổ chức khác nhau để tham dự như hội đồng thành phố, hội đồng giám khảo, phòng tập thể dục và nhà hát.  Những thú vui của rượu vang, gái gú và hát xướng cũng phổ biến.

Phù, thể là qua một tuần dài!

Nếu bạn đọc qua chi tiết của phần ‘Khám phá lịch Athen’, bạn có thể tự hỏi làm thế nào hệ thống đánh số để lại bất kỳ thời gian nào cho những ngày cuối tuần.  Vâng, nó đã không để lại ngày nào cả.  Không có ngày chính thức “không làm việc” ngoài lễ hội và thời gian bạn làm việc phụ thuộc vào việc gì bạn làm.  Đối với nhiều người, nếu họ không làm việc thì họ không có miếng ăn.  Nông dân hoặc những người kinh doanh giàu có hơn có thể chọn được việc gì họ phải làm và khi nào cần làm.  Vào những thời điểm nhất định, có khi dồn lại nhiều việc phải hoàn tất trong thời gian nhất định, đặc biệt là trong  thời vụ của nhà nông.

 Ở Athens, hầu hết mọi ngày đều là ngày làm việc trừ những ngày tổ chức các lễ hội tôn giáo.

 Người Athen dành khoảng 60 ngày cho các lễ hội hàng năm, và có lẽ khoảng 20 ngày nữa là những ngày không làm việc khác được ấn định cho những người tham gia: công dân, phụ nữ của Attica, và trong một số trường hợp là metics.  Nô lệ hầu như bị loại trừ.

Hiện nay với hai ngày cuối tuần, người hiện đại được nghỉ nhiều hơn khoảng 20 ngày mỗi năm so với người Hy Lạp cổ đại – nhưng suy cho cùng, họ cũng có hàng nghìn nô lệ để làm rất nhiều việc cực nhọc cho mình!

 Quản lý tiền của bạn

Cũng giống như ngày nay, người Hy Lạp cổ đại phải trả tiền để điều hành một hộ gia đình và mua sản phẩm tại chợ và người Hy Lạp là những người đầu tiên ở Địa Trung Hải giới thiệu khái niệm thực tế về tiền.

 Tiền bắt đầu được coi là thước đo để đánh giá mức độ giàu có của những người sở hữu.  Đến năm 800 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã giới thiệu những thanh gỗ nhỏ gọi là obeloi, nghĩa là ‘que xiên’.  Những cây gậy này là thước đo lượng của cải, giống như một tấm séc thời hiện đại hoặc giấy bạc.

 Trong vòng vài trăm năm, người Hy Lạp đã chuyển sang sử dụng tiền xu thực tếtrong đó đơn vị tiền tệ cơ bản chính được gọi là obol.  Tiền xu Hy Lạp,như trong Hình 15-1, được làm từ hợp kim vàng, bạc hoặc đồng.  Trọng lượng của chúng xác định giá trị của tiền xu vì vậy điều này được quy định chặt chẽ bởi các quan chức do hội đồng quản trị bổ nhiệm.  Nhờ đó một giao dịch mới xuất hiện : đổi tiền. Khi bạn đến thăm một thành phố, bạn cần tiếp xúc với người đổi tiền xu và họ sẽ nhận một khoản hoa hồng cho dịch vụ  này.

Mỗi mặt đồng tiền xu được minh họa bằng một hình ảnh cho biết xuất xứ của chúng. Thông thường hình đại diện là một vị thần hoặc vị thần địa phương.  Demeter rất được sử dụng  vì bà ấy là nữ thần của mùa màng và sự màu mỡ, được thể hiện bằng bông lúa mạch. 

 Ăn uống và thưởng thức

Một số văn bản đầu tiên mô tả về bữa ăn trong văn học Hy Lạp xuất hiện trong tác phẩm Iliad và  Odyssey của Homer.  Cả hai trường thi đều mô tả nhiều cảnh liên quan đến lễ hiến tế và  bữa ăn tiếp theo.  Mô tả được lặp lại bất cứ khi nào các anh hùng hiển tế  và sau đó ngồi xuống chè chén.  Trong Odyssey  chuyện này thường xảy ra khi Odysseus và người của ông ta cập tàu của họ trên một hòn đảo – hãy nghĩ về việc họ làm điều này trên bãi biển!

 Sau khi đã cầu nguyện, họ giết mổ và lột da gia súc, họ cắt xương  đùi ra rồi bọc chúng trong mỡ.  .  .  một khi xương đã được thui cháy, họ nếm  nội tạng, và xẻo phần còn lại thành nhiều mảnh, rồi xuyên qua chúng bằng những que xiên.

 Đúng vậy – Odysseus và người của ông ấy đang làm món thịt bò nướng kebap.

 Người dân Athens cổ đại thích ăn uống, và vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, khi Athens là một hải cảng giàu có và phát đạt, thành phố có nhiều loại thực phẩm cao cấp.

2

 Hình 15-1:

Một đồng tiền xu của Hy Lạp.

 Thưởng thức một bữa ăn đơn giản

Tùy thuộc vào việc bạn là ai ở Athens cổ đại, hầu hết các bữa ăn đều khá cơ bản.

 Như tôi đã viết trong Chương 13, chủ yếu trong chế độ ăn của người Hy Lạp là các loại  ngũ cốc như lúa mạch và lúa mì.  Điều đó có nghĩa là hầu hết các bữa ăn liên quan đến bánh mì kết hợp với những thứ khác.  Người Hy Lạp mô tả bất cứ thứ gì được ăn với bánh mì  (có thể là pho mát, mật ong, hoặc một món ăn kèm khác chẳng hạn như được nhúng vào rượu gia vị) là opson. 

 Bữa sáng có thể chỉ là một ít bánh mì nhúng dầu ô liu.  Một bữa ăn phong phú hơn thường bao gồm đậu, đậu Hà Lan, đậu lăng hoặc đậu gà – một lần nữa với bánh mì.  Một bữa ăn trưa điển hình bao gồm mật ong hoặc pho mát như một món opson – đúng hơn là như bữa trưa của thợ cày.  Có sẵn rất nhiều loại pho mát, loại truyền thống nhất là pho mát dê ‘feta’ nhưng, giống như rượu vang, các vùng có người Hy Lạp cổ đại thường dùng bữa trưa đơn giản vì công việc vẫn tiếp tục vào buổi chiều.

 Bữa ăn lớn trong ngày là vào buổi tối sau khi làm việc.  Trong bữa ăn này, nhiều loại thức ăn hơn đã có sẵn (đặc biệt là trong những bữa tiệc trang trọng ở buổi trà dư tửu hậu –  Cá thường có mặt trên thực đơn.  Thịt bò, thịt lợn và thậm chí cả thịt gia cầm ít được ưa chuộng hơn và thường  ít được ăn hơn – mọi người thường ăn thịt sau khi tế lễ và xem thịt như một thứ  thực phẩm cao cấp.

 Ưa thích cá

Người Athens yêu thích cá.  Trong thời cổ đại, cá khá khó bắt ở Địa Trung Hải vì ngư dân thiếu kỹ thuật đánh bắt cá trên biển sâu.  Do đó, cá được săn lùng rất nhiều.

 Văn học Hy Lạp có đầy đủ các tài liệu tham khảo về cá và các đặc sản khác nhau. Lươn từ Boeotia và cá chó ở Rhodes được coi là những món khoái khẩu thực sự.  Nếu bạn đến thăm Athens ngày nay, bạn vẫn tìm thấy nhiều nhà hàng cung cấp những món khoái khẩu này!

 Ngoài cá tươi, cá ngâm chua là những món ngon được đánh giá cao.  Thường cá được sử dụng để tạo hương vị cho các loại thực phẩm khác, và loại đắt tiền nhất là nước sốt, sau này được gọi là garum, phổ biến khắp Hy Lạp và sau đó là thế giới La Mã.

 Chế độ ăn  của người Hy Lạp cổ đại không chỉ có bánh mì và cá.  Một số lễ kết hợp với nhau cho bữa tối trang trọng đắt tiền bao gồm tất cả các loại thành phần.

 Nhiều loại rau bổ sung cho các món chính nhưng mọi người không thường ăn chỉ món rau.  Cũng có người ăn chay  nhưng họ được coi là những người khác thường.

 Các loại rau phổ biến nhất là hành tây, củ cải, tỏi tây và cần tây.  (Khoai tây vẫn chưa được phát hiện.) Có  trái cây, nhưng hầu như chỉ có nho, táo và sung.  Người Hy Lạp không có chuối hoặc cam quýt, và họ cũng không có cà chua.

Nấu ăn

Mặc dù không tiến bộ như ngày nay, người Hy Lạp cũng sử dụng một số kỹ thuật nấu nướng. Nướng bánh là hoạt động thông thường, trong đó bánh mì là thực phẩm chính yếu của thực đơn. Các đầu bếp thường luộc rau củ và đậu, và đun nóng các thực phẩm khác trên một bếp lò nhỏ mang đi được, tỏa hơi nóng khiến đổ mồ hôi. Trong thời tiết tốt, việc nấu nướng được tiến hành ngoài sân và đồ ăn nấu xong được mang vào nhà để ăn.

Kỹ năng nấu nướng chủ yếu là cách thức nêm gia vị và sốt để làm thực phẩm thêm đậm đà. Những người mà dân Hy Lạp cho là sành điệu về thức ăn và nấu nướng là những người nêm nếm khéo léo hơn là nấu ăn. Đầu bếp thường dùng rượu vang để tăng thêm đậm đà cho một món ăn, cùng với dầu ô liu và nguyên liệu làm từ thịt cá. Ướp thịt là một kỹ thuật bí mật để làm gia tăng những nguyên liệu binh thường.

Mua sắm nguyên liệu

Phần đông người Hy Lạp mua thực phẩm nấu nướng ngoài chợ ở trung tâm thành phố. Các trại chủ Attica mỗi tháng họp chợ một lần, mang nông sản họ sản xuất được ra thành phố bán cho những con buôn trung gian. Các chợ ở Athens và những nơi khác lập nên bởi những xạp hàng hoặc gian hàng cá nhân hơn là những cửa hiệu.

Thỉnh thoảng, dân Athens đi một đoạn đường xa, trực tiếp đến tận nơi để mua lương thực. Những người thích cá thường phải đi bộ nửa ngày đường đến Piraeus để mua cá tươi từ các thuyền đánh cá.

Dô! Dô!

Bạn đồng hành thân thiết nhất với ăn là nhậu, và uống rượu là một hoạt động sôi nổi của cuộc sống Hy Lạp. Tất nhiên, rượu vang là thức uống chính, mặc dù người Hy Lạp có biết về bia vì người Ai Cập, Syria, và khu vực phía đông uống bia.

Người Hy Lạp uống nhiều rượu vang, nhưng họ pha với nước. Người vùng Macedonia được coi là thô lỗ khí uống rượu vang không pha. Rượu vang thuở đó không mạnh như bây giờ, nhưng người Hy Lạp cổ đại vẫn cứ say xỉn và đôi khi uống để say.

Lại rai nơi công cộng và ở chốn riêng tư

Những chầu lai rai nổi tiếng nhất là ở những buổi trà dư tửu hậu, nhưng còn có những nơi khác bạn có thể đến để nhâm nhi. Địa điểm phổ biến nhất là các quán rượu, dĩ nhiên.

Những địa điểm này là những nơi cơ bản chỉ bán rượu và những người quản lý vừa điều hành vừa pha rượu vừa đổi phó với những tên phá đám, tương tự như các quán rượu ngày nay.

Người Hy Lạp có một quan điểm thú vị về sự say xỉn. Ở nơi riêng tư (như trong các buổi trà dư tửu hậu), say sưa hoàn toàn được cho phép và thậm chí cổ xúy.

Đúng ra, sự say xỉn là một thành phần chính trong nhiều lễ hội tôn giáo. Tuy nhiên, say xỉn một mình nơi công cộng vẫn bị coi là khả ố và thiếu văn hóa.

Nhâm nhi tại các buổi trà dư tửu hậu

Nói một cách đơn giản, buổi trà dư tửu hậu là một chầu uống dành cho các ông chỉ thêm một chút trao đổi triết lý và thưởng thức các cô gái thổi sáo. Phụ nữ cũng có khi tụ họp với nhau nhưng họ hiếm khi tham gia buổi trà dư tửu hậu. Phụ nữ duy nhất thường  có mặt là các cô gái thổi sáo và có khi các gái mãi dâm. Được tổ chức trong các andron (khu vực nam giới) của một hộ gia đình tư nhân, một buổi trà dư tửu hậu xảy ra vào chiều tối gồm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là deipnon, hay bữa ăn chính thức. Giai đoạn tiếp theo là việc thù tạc. Thường thường, một buổi thù tạc gồm có 14 đến 30 khách tham dự uống rượu vang bằng thứ cốc đặc biệt.  Trong khi thù tạc, tửu khách bàn luận về những vấn đề triết lý. Các nghệ sĩ chuyên nghiệp như thi sĩ, ca sĩ, và kịch sĩ biểu diễn chiêu đãi các thực khách. Đôi khi các chàng trai nô lệ và các gái bán hoa hạng sang cũng có mặt để chìu theo thị hiếu của mọi người.

Buổi tối kết thúc bằng một đám rước cầm đuốc qua đường phố, để biểu thị mối gắn bó những thành viên trong nhóm.

Trong một bài thơ của mình Hedylos gợi lên hương vị của những buổi trà dư tửu hậu:

Hãy cạn chén: với rượu vang, những lời tôi nói độc đáo biết bao, bay bổng biết bao, tuyệt vời biết bao! Hãy tưới tôi bằng một bình rượu Chian, và nói, ‘Vui lên nào, Hedylos.’ Bởi vì tôi ghét phí thì giờ nếu không nhậu thật đả.

Những lời ồn ào của Hedylos chắc chắn đã nói lên chất lượng của buổi biện bác triết lý sau khi đã vô một vài vại rượu!

Suy nghĩ về tình dục và người Hy Lạp cổ

Những quan niệm về tình yêu và tình dục rất khác với quan niệm về hôn nhân. Như đã bàn trong Chương 14, người Hy Lạp thường qua lại với các phụ nữ khác – và trong một vài trường hợp, với các chàng trai trẻ. Luôn luôn qua lại khác giới ngoài luồng là với gái mãi dâm hoặc những  đối tác tình dục khác, và đôi khi những mối quan hệ này được coi là vấn đề tình yêu.

Tình yêu, tình dục, và rượu vang liên kết với nhau trong tâm trí người Hy Lạp. Bài thơ sau đây của Asklepiades xứ  Samos mô tả rất gợi cảm rượu vang và tình yêu  phụ bạc.

Rượu là phép thử của tình yêu. Nicagoras bảo với chúng tôi anh ta không có người yêu, nhưng rượu đã  khai ra  tất cả. Những giọt lệ của anh và đôi0 mắt buồn bã, vòng hoa quấn chặt quanh cái đầu  cúi gục đã lệch đi.

Cái nghề xưa nhất trái đất

Mãi dâm là nghề hợp pháp ở Athens. Đúng ra đó là ngành kinh doanh phát đạt có đóng thuế cho thành phố. Các phụ nữ hành nghề này không ắt là người Athens mà thường là từ Tiểu Á đến.

Mặc dù gái bán hoa là cái tên thông dụng để mô tả những phụ nữ này, đúng ra có ba loại khác nhau tồn tại:

  • Pallakai(thê thiếp): Những phụ nữ này gắn kết ‘thường trực’ với một ông duy nhất và thậm chí sống hẳn trong hộ gia đình y. Nhưng thường thì y sử dụng một căn hộ riêng cho các pallakai này và đến thăm cô ta đều đặn. Những phụ nữ này giống các người tình nhiều hơn là gái mãi dâm, cho dù họ có nhận tiền và quà.
  • Hetairai (gái cao cấp): Những phụ nữ này rất cao giá và kén khách. Thường có học thức cao, họ giống như hạng kỷ nữ (geisha) Nhật Bản. Họ thường được thuê mướn vì sự lịch thiệp và có duyên ăn nói cũng như có sự hấp dẫn tình dục.
  • Pornai (đỉ điểm): Thuật ngữ này dùng để gọi tắt cả hạng gái mãi dâm từ những chị em làm trong nhà thổ đến những gái đắt tiền hơn, trong đó bao gồm các cô thổi sáo thường được mời đến chốn trà dư tửu hậu. Phân loại này cũng bao gồm mãi dâm nam, mặc dù số này rất hiếm hoi.

Xét giới đồng tính

Người Hy Lạp không coi đồng tính là bất thường. Nếu một người nam thấy phụ nữ là hấp dẫn, thể thì không có gì ngạc nhiên khi y cũng thấy các chàng trai mới lớn cũng hấp dẫn và tìm cách theo đuổi anh ta ráo riết.

Tình trạng phổ biến là một ông lớn tuổi (eraste nghĩa là ‘người yêu’) tranh thủ tình cảm với một chàng trai trẻ (eromenos nghĩa là ‘người được yêu’).

Nơi thông thường nhất để những quan hệ như thế xảy ra là tại các vận động trường nơi các ông già nhìn ngắm các chàng trai tập luyện. Trường hợp này rõ ràng là chỉ có các ông đại quí tộc ham vui có thời gian rảnh rỗi để thực sự tham gia vào những trò đồng tính.

Điều này không có nghĩa là người Hy Lạp không chế nhạo sự đồng tính – những vở kịch của  Aristophanes đầy dẫy những trò đùa. Nhưng sự miệt thị của họ đãc biệt dành riêng cho bọn đàn ông kéo dài mối quan hệ tận tuổi trung niên và những người có dấu hiệu nữ tính. Thấy một chàng trai mới lớn hấp dẫn là điều chấp nhận được – nhưng một gã đứng tuổi tự cho phép mình bị đối xử như một phụ nữ thì không.  

Tình yêu và tình dục giữa hai phụ nữ ắt hẳn xảy ra đều đặn ở Hy Lạp cổ đại nhưng nó không bao giờ công khai và có rất ít chứng cứ về chuyện đó. Liên hệ nổi tiếng nhất là với nữ sĩ Sappho (thế kỷ 7 TCN) đến từ xứ đảo Lesbos (từ đó mới có thuật ngữ lesbian để chỉ người đồng tính nữ). Sappho trước tác những bài thơ tình đẹp đẽ đầy giai điệu nói về tình yêu và Nữ thần Aphrodite, nhiều bài có thể được lý giải như giữa đàn ông và phụ nữ và chúng ta biết rất ít về cuộc sống thực của bà. Người Hy Lạp cổ không cho Sappho là đồng giới, mà chỉ có độc giả hiện đại mà thôi. Các bài thơ của Sappho gợi lên một cách sống động về thời đại bà ấy sống trước khi người Hy Lạp bắt đầu ghi chép lại lịch sử.

Tìm kiếm hỗ trợ y tế

Bạn làm thế nào nếu bạn sa đà vào ăn nhậu hoặc tình dục? Đi khám bệnh là việc tương đối dễ dàng trong Athens cổ đại, những cũng rất mắc mỏ – và một số phép chữa bệnh cũng khá hãi.

Các thầy thuốc là những người chuyên nghiệp khá giống các thợ thủ công hay mỹ nghệ, và các phương pháp của họ cũng biến hóa tương tự. Các thầy thuốc đi khắp Hy Lạp, tìm việc bất cứ nơi đâu có thể. Tuy nhiên, trong các thành phố lớn như Athens, họ mở tiệm hành nghề và tính giá cao.

Hướng đến thần linh

Trong suốt lịch sử Hy Lạp nhiều người tin rằng những cơn thịnh nộ của thần linh gây nên bệnh tật cho người. Nhiều thần có mối liên hệ với sức khỏe và sự khỏe mạnh trong đó có Apollo, nhưng quan trọng nhất là thần Asclepius.

Asclepius là một nhân vật thú vị, sinh ra là người phàm nhưng hóa thần sau khi chết. Là con trai của Apollo, ông sinh ra đã được ban tặng quyền lực chữa bệnh phi thường, và ông đi đây đi đó chữa bệnh cho người ốm. Cuối cùng, quyền năng của Asclepius không giúp ích gì cho ông vì, khi ông cố cứu sống một người đã chết, Zeus nổi giận giết ông bằng một tầm sét vì dám hành động như một người bất tử! Apollo can thiệp và Asclepius được biến thành thần.

Người Hy Lạp trên khắp vùng Địa Trung Hải tôn thờ Asclepius và cúng kiến ông, hi vọng sẽ được ông chữa lành. Ông được lập điện thờ ở một vài nơi, nhưng quan trọng nhất là điện thờ ở Cos, được nhiều người đến viếng.

Thỏa thuận là nếu bạn cúng tế thần Asclepius (như cúng tiền, tượng, hoặc tế một con vật nhỏ như một con gà), thần có thể ban đêm đến thăm viếng bạn và chữa lành bệnh cho bạn. Và nếu ông ta không đến? Vâng, thể thì có lẽ bạn cúng chưa đủ lễ! Một số đền thờ quảng cáo những dịch vụ chữa bệnh, nhưng không chắc các tăng lữ có được huấn luyện về y tế. Niềm tin lớn lao là điều tốt nhất mà bệnh nhân nhận được.

Gặp gỡ Ông tổ nghề thuốc: Hippocrates

Cũng có người cố chữa lành bệnh. Thầy thuốc nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng nhất là Hippocrates xứ Cos (460-377 TCN). Cha ông cũng theo nghề thuốc và Hippocrates nối nghiệp tổ. Sau đó ông rời Cos và đến Athens trong cuộc chiến Peloponnesia, tại đó ông chữa những nạn nhân của một trận dịch.

Điều đặc biệt ở Hippocrates là ông là một trong những người Hy Lạp cổ đại đầu tiên lập luận rằng bệnh hoạn gây ra bởi những nhân tố tự nhiên chứ không do thần thánh trừng phạt. Ông kêu gọi ăn uống lành mạnh, giữ gìn vệ sinh và sử dụng cây thuốc và thuốc dán để chữa trị. Vì phong cách sống lành mạnh của mình ông được thiên hạ đồn thổi là sống thọ đến 120 tuổi – nhưng không phải vậy! Sau Cuộc Chiến Peloponnesia, Hippocrates trở về Cos và thành lập trường y khoa của mình và biên soạn bộ Hippocratic Corpus. Bô sách đồ sộ này gồm 60 tiểu luận khác nhau về nghề y, trong đó có Lời Thề Hippocrates lừng danh.

  Trước  Tôn sư Apollo và Asclepius và Hygieia và Panaceia và tất cả thần và nữ thần, tôi xin thề có họ chứng giám, rằng tôi sẽ hoàn thành nghĩa vụ của lời thề và giao ước này theo khả năng.

 Lời Thề Hippocrates được Hippocrates soạn ra như một kim chỉ nam cho các tân y sĩ về những điều họ nên tuân theo. Trong đó có lời hứa không được phá thai, làm chết không đau đớn, hoặc mổ xẻ mà mình chưa được huấn luyện, và  giao cấu với bệnh nhân. Phần nhiều ngôn ngữ và triết lý của lời thề  giờ đây đã lỗi thời, nhưng một số bác sĩ ngày nay vẫn còn lập lại lời thề trên trước  khi tốt nghiệp bác sĩ!

Chữa đủ thứ bệnh

Hầu hết cách chữa bệnh y học thời cổ đại đều bao gồm  việc sử dụng cây thuốc hoặc gia vị và một số liên quan đến việc làm mát hoặc hâm nóng thân thể như một phương pháp chữa trị. Phần đông thầy thuốc đều nhấn mạnh đến ý tưởng cho rằng sự mất cân bằng là nguyên nhân gây bệnh. Vì thế nếu bạn quá sốt, bạn cần được làm mát, và ngược lại.

Giải phẫu hiếm khi được thực hiện vì người ta hiểu rất ít về hoạt động bên trong cơ thể. Người Hy Lạp cho việc thám sát và mổ xẻ thi thể là vô đạo, và những cơ hội để khám phá những gì sau khi bệnh nhân qua đời rất ít ỏi. Chẳng hạn, phần đông người Hy Lạp còn tin trái tim ở trong đầu chứ không phải trong thân mình.

Đối với những ai lỡ mắc phải bệnh ngặt nghèo, cơ hội hồi phục rất mỏng manh. Những binh sĩ bị thương trong chiến trận thường chết vì vết thương  bị nhiễm trùng.

Tình hình thay đổi chút ít khi triết gia Aristotle bắt đầu nghiên cứu về cơ thể người, nhưng những tiến bộ chính yếu trong y học chỉ xảy ra cho đến cuối Đê chế La Mã với những nhân vật như Galen (khoảng 200 SCN). Lời khuyên tốt nhất là rằng đừng để mắc bệnh!

Chương 16

Kịch nghệ và Võ thuật: Thưởng thức trò tiêu khiển Hy Lạp Cổ Đại

Trong chương này

  • Dự khán hí trường Hy Lạp
  • Hài kịch và bi kịch
  • Giữ dáng thể hình
  • Tranh đua trong các trò Olympic nguyên gốc
  • Các trò thi đấu

Khi tìm những trò vui, người Hy Lạp cổ đại có sở thích rất khác nhau. Một bên thích hí trường nơi những người hùng cao quý đấu tranh với những nghịch cảnh khủng khiếp và gặp gỡ những số phận bi thương. Phía bên kia là những người thích hài kịch với đầy ắp những chuyện đùa bẩn thỉu hợp khẩu vị khán giả và những trò khôi hài hạ cấp như đánh dấm và chuyện tục tĩu. Người Hy Lạp cũng ưa chuộng các trò điền kinh gắng sức và quyết liệt, trong đó có hình thức đánh đấm dữ dội có thể gây tử vong với người tham gia.

Thậm chí kỳ lạ hơn, một số người thưởng thức tất cả những hoạt động thật khác biệt nói trên. Những trò thi đấu và lễ hội mà người Hy Lạp yêu thích đều bao gồm điền kinh và kịch nghệ – và họ xem cả hai nỗ lực đều đáng ca ngợi.

Sân khấu và điền kinh phối hợp nhiều tiết mục: tranh đua, quần chúng tôn vinh, vinh danh các thần, và văn chương. Trò tiêu khiển trong Hy Lạp cổ đại dành cho mọi người và được mọi người thưởng thức.

Loại giải trí mà tôi bàn trong chương này có niên đại khoảng 600 TCN đến cuối kỷ nguyên Hy Lạp vào thế kỷ 1 TCN. Tuy nhiên, như các bạn sẽ thấy, chúng có nguồn gốc xa xôi trong quá khứ và ảnh hưởng của chúng còn kéo dài đến tận ngày nay.

Tạo ra nghệ thuật sân khấu: hí trường Hy Lạp

Đi xem hát trong Hy Lạp cổ đại rất khác với trải nghiệm ngày nay về những xô diễn ăn khách phổ biến diễn suốt nhiều năm liền và những khu vực giải trí với nhiều nhà hát khác nhau.

Hòa mình vào không khí lễ hội

Những dịp được xem hát và thi đấu hoàn toàn hạn chế vào thời Hy Lạp cổ9. Khi có kịch phẩm hoặc thi đấu   được tổ chức gần như mọi người đều muốn đi dự, vì  những vở kịch và trò thi đấu là một bộ phận của một điều gì khác, một điều gì to lớn hơn – lễ hội.

Những vở kịch Hy Lạp cổ đại được biểu diễn chỉ vài lần mỗi năm, đồng thời với những lễ hội tín ngưỡng đặc biệt. Những buổi trình diễn này là những sự kiện quần chúng liên quan đến toàn cộng đồng.

Những lễ hội chính ở Athens là Lenaia vào tháng giêng và lễ Trọng hoặc Lễ Dionysia Thành phố vào tháng 3. Những vở bi kịch được công diễn trong cuộc  tranh tài do chính quyền tổ chức, và không khí thi đua thật quyết liệt.

Đi một vòng hí trường

Nơi gặp gỡ cốt lõi cho lễ hội là chính hí trường. Ở Athens điểm hẹn chính là hí trường Dionysus. Không gian rộng lớn và chắc chắn chứa đến khoảng 14,000 khán giả. hí trường Dionysus là một trong những nhà hát thường trực đầu tiên được người Hy Lạp xây dựng vì thế thiết kế của nó rất có ảnh hưởng. Hí trường là một một không gian công cộng chủ yếu toạ lạc kế bên Acropolis. Hí trường Dionysus giờ đây vẫn còn ở chỗ cũ nhưng được người La Mã tái dựng theo thiết kế gốc vào thế kỷ thứ hai SCN. 

Đối với một địa điểm quan trọng và được dự khán đông đúc  ‘việc xây dựng’ thực sự khá là cơ bản. Những cuộc biểu diễn được diễn ra lộ thiên với khán giả ngồi trên những băng ghế giản dị hoặc có khi ngồi trên bậc đất đắp cao. Tất cả tầm nhìn đều tuyệt hảo và, trừ một số ghế đặc biệt hàng trước dành cho nhà cai trị và các viên chức liên quan trong cuộc tranh tài, thì ai ngồi ở đâu cũng được.

Mọi tầng lớp xã hội đều đến tham dự – giống như hí trường Globe ở nước Anh thời Elizabeth nơi mọi người thuộc mọi tầng lớp đều đến xem kịch của Shakespeare, Marlowe, và những tác giả nổi tiếng khác. Vào cửa hoặc tự do hoặc giá thấp tùy theo bản chất của sự kiện. Dường như phụ nữ cũng có xem hát nhưng chiếm thiểu số tuyệt đối.

Hí trường Dionysus và những hí trường khác thời đó có thiết kế gần như hình bán nguyệt. Như Hình 16-1 chỉ rõ, hí trường gồm:

  • Orchestra: Vòng tròn lớn ở trung tâm hầu hết được sử dụng cho nhóm hợp xướng. Người Hy Lạp gọi nó là ‘vòng tròn nhảy nhót’ vì nhóm hợp xướng phần lớn thời gian ở đó và họ luôn chuyển động và nhảy nhót so với các diễn viên chính.
  • Paradoi: Cả diễn viên và khán giả đều sử dụng hai lối vào này để vào sân khấu và chỗ ngồi xem hát.
  • Skene: Khu vực này giống như sân khấu hiện nay. Phía sau sân khấu là một tòa nhà dài với mái bằng được sử dụng vừa làm cảnh trí và phòng thay y phục của diễn viên.
  • Theatron: Các nền đất đắp cao này thường được cắt ra từ sườn đồi và cung cấp chỗ ngồi cho hàng ngàn khán giả.

3

Hình 16-1:

Sơ đồ một hí trường Hy Lạp điển hình

Thưởng thức giải trí Hy Lạp Cổ

Các hí trường Hy Lạp không phải là nhà hát vòng tròn (amphitheatres)! Nhà hát vòng tròn chỉ những hí trường có hình tròn, thường được xây dựng trong thời kỳ La Mã (khoảng 300 TCN – 330 SCN) và được sử dụng cho những trò giác đấu. Ví dụ cụ thể nhất là Colosseum  ở  La Mã, lúc đầu có tên là Flavian Amphitheatre.

Hầu hết những thành phố lớn đều có nhà hát thường trực nhưng những thị trấn nhỏ hơn chỉ dựng tạm thời những nhà hát dã chiến khi cần biểu diễn.

Diễn kịch

Diễn kịch là một kỹ năng rất đặc trưng của Hy Lạp cổ – và là loại hình hoạt động chỉ dành cho nam giới. Phụ nữ không hề xuất hiện trên sân khấu và các ông phải đóng luôn các vai nữ. Kết quả là người Hy Lạp xem các kịch sĩ là bất thường về khía cạnh họ cho phép mình xuất hiện như các phụ nữ ẻo lả.

Được nghe và nhìn

Độ vang âm trong các hí trường Hy Lạp cổ đại thật ghê gớm. Những khán giả ngồi ở cuối hí trường  vẫn có thể nghe rõ từng lời diễn viên nói trên sân khấu, mặc dù diễn viên đứng cách nhóm hợp xướng khoảng 20 mét và thêm 80 mét đến hàng cuối của khán giả. Diễn viên phải cần một kỹ năng phát âm khủng khiếp mới truyền đạt lời mình nói trong suốt một vở kịch  (khoảng 90 phút). Tôi đã từng đến thăm nhiều hí trường Hy Lạp và độ vang âm đến bây giờ còn hoạt động – bạn có thể đứng tại vị trí orchestra và nói tương đối lớn tiếng và rõ ràng để hàng khán giả cuối cùng vẫn nghe được. Thật phi thường!

Tầm nhìn thì khác. Không có kỹ thuật chiếu truyền hình, tất cả những  gì khán giả nhìn thấy chỉ là các kịch sĩ đứng trước sân khấu hoặc trong nơi hợp xướng. Hạn chế về tầm nhìn này có nghĩa việc diễn kịch phải rất mạnh mẽ và không đặc biệt hiện thực. Các cử chỉ ắt phải dữ dội, cường điệu.

Y trang và mặt nạ

Để thích nghi với không gian to rộng, các kịch sĩ Hy Lạp phải nhờ đến các y phục rất to và mặt nạ. Mặt nạ được làm bằng gỗ , sơn phết màu sắc rực rỡ với những họa tiết dễ thấy biểu thị hai điều: tuổi tác nhân vật và tâm trạng của họ. Những yếu tố này giúp giảm thiểu việc diễn xuất có tính tự nhiên và tinh tế, đòi hỏi các kịch sĩ sử dụng các cử chỉ cường điệu và cách phát âm rõ ràng  để truyền đạt lời thoại đến khán giả.  (Không phải ngẫu nhiên mà các nhân vật trong kịch Hy Lạp luôn được giới thiệu và mô tả ngắn gọn trong đối thoại – nó giúp cho khán giả ở cuối dãy có thể nhận diện ai vừa xuất hiện trên sân khấu.)

Tranh tài: Và người thắng là. . .

Trong lễ hội, tất cả vở kịch tranh tài với nhau cho giải thưởng chung cuộc. Các giải hạng nhất, nhì, và ba được trao cho những vở kịch và các thi sĩ đoạt giải.

Hệ thống giám khảo hơi kỳ lạ. Các viên chức thành phố chỉ định 10 giám khảo từ thành phần công dân và họ bỏ phiếu kín vào cuối ngày biểu diễn. Mỗi người bỏ một viên sỏi vào lọ, màu sắc của viên sỏi tương ứng với thi sĩ họ đã chọn. Trong 10 ‘sỏi’ bầu này chỉ được rút ra 5 viên và đếm. Việc này ắt hẳn nảy sinh những kết quả gây tranh cãi, nhưng không thấy ghi chép nào về những khiếu nại được đưa ra.

Theo như chúng ta biết không có giải thưởng mang tính vật chất; mà chỉ có vinh dự của kẻ thắng cuộc.

Tuy nhiên,  các thí sĩ đoạt giải có thể được yêu cầu trình diễn một số tác phẩm của họ tại những buổi tọa đàm cao cấp thuộc loại trà dư tửu hậu sau khi đoạt giải để ít nhất họ sẽ được chiêu đãi những buổi tiệc tương xứng và chắc hẳn sẽ được trả công.

Các kịch tác gia (người Hy Lạp gọi họ là ‘thi sĩ’) nộp các tác phẩm của mình cho vị cai trị, và vị này sẽ chọn ra ba vở cho mỗi thành viên tranh tài. Vào thế kỷ 5 TCN các thi sĩ viết nhiều vở kịch, nên cuộc tranh tài rất dữ dội. Ví dụ, trong số 92 vở kịch mà kịch tác gia vĩ đại Euripides, chỉ có 6 vở đoạt giải nhất tại  lễ hội (vì mọi tác phẩm đều được nộp mỗi người ba vở nên kết quả này có nghĩa 6 trong số 30 lần dự thi đoạt giải chứ không phải 6 trong số 90 lần). Như vậy là một phần năm lần dự thi!

Mỗi thi sĩ trong cuộc tranh tài được một công dân giàu có bảo trợ chi phí sản xuất, bao  gồm cát sê cho diễn viên, vũ công, và mọi chi phí khác. Được bảo trợ cho một vở kịch được coi như một vinh dự vô cùng to lớn.

Thi sĩ cũng được giao phó một diễn viên chính bằng cách bóc thăm. Người Hy Lạp coi diễn viên chính là vai chính diện của vở kịch. Thi sĩ tự mình đạo diễn vở kịch của mình.

Tại mỗi lễ hội, một thi sĩ điển hình trình diễn ba bi kịch và một vở kịch châm biếm – một phiên bản hài kịch ngắn về một thần thoại tạo cho khán giả phút thư giãn nhẹ nhàng vào cuối ngày. Các vở kịch không cần thiết là một bộ  ba tập, mặc dù chúng thường có những chủ đề tương tự. Khán giả ngồi suốt buổi biểu diễn trong ngày – ắt hẳn kéo dài không dưới 6 giờ!

Đại đa số các vở kịch được sản xuất chỉ đúng một lần vì các kịch tác gia không muốn nộp kịch bản hai lần cho lễ hội. Những vở kịch phố biển hơn được đem đi tua diễn đến những lễ hội nông thôn nhỏ hoặc đôi khi được phục dựng nhiều năm sau đó. Chẳng hạn, Alexander Đại đế rất yêu bi kịch và thường yêu cầu được diễn lại những vở kịch mình yêu thích tại những lễ hội, đôi khi đã được trình diễn lần đầu  hơn 100 năm trước.

 Kịch có hai thể loại: bi kịch và hài kịch. Hai thể loại này rất khác nhưng đều được tôn trọng như nhau.

Đào sâu vào bi kịch: Nước mắt và số phận

Bị kịch là thể loại ra đời sớm nhất của sân khấu Hy Lạp. Nó chắc chắn được sáng chế ngay từ 550 TCN, thoát thai từ những thánh thi tôn giáo truyền thống mà người Hy Lạp hát tại các lễ hội. Những thánh thi này dựa trên chủ đề thần thoại và tôn giáo và được hát đơn ca. Theo thời gian một giọng hát thứ hai được thêm vào, biến thành màn đối thoại, rồi cuối cùng thành kịch. Vở kịch sớm nhất còn lưu lại là Người Ba Tư của

 Aeschylus, được sản xuất năm 472 TCN. Thể kỷ thứ 5 TCN cũng là thời kỳ ba kịch tác gia vĩ đại nhất hoạt động:

  • Aeschylus (525–456 TCN): Viết 80 vở kịch trong đó có 7 vở còn lưu lại.
  • Euripides (485–406 TCN): Viết 92 vở trong đó có 19 vở còn sống sót.
  • Sophocles (496–406 TCN): Viết 120 vở trong đó 7 vở còn lưu lại.

Chủ đề của những bi kịch rất quen thuộc với khán giả vì cốt truyện gần như đều dựa vào thần thoại Hy Lạp. Điều này có nghĩa khán giả gần như biết chắc chắn kết cục trước khi vở diễn bắt đầu. Đối với người Hy Lạp, cốt truyện và sự hồi hộp theo dõi để biết kết cục là không quan trọng lắm. Các tác giả bi kịch quan tâm hơn đến sự thể hiện của nhân vật và ý tưởng mà vở kịch thể hiện ra. Đó không phải là điều bất thường đối với chúng ta bây giờ. Mọi người đều biết cách thức những bộ phim như Titanic sẽ kết thúc như thế nào nhưng chúng vẫn vô cùng ăn khách. Những vở kịch như Hamlet hoặc  Macbeth kết thúc giống nhau – nhưng chính cái cách mà chúng được thể hiện và lý giải mới là điều khán giả lấy làm thú vị.

Người Hy Lạp cổ đại thực sự không có lịch sử, và cũng không có một tôn giáo để đặt ra bộ luật đạo đức về hành vi. Do đó, các thần thoại tồn tại nhiều thế hệ lấp đầy những lỗ hổng trong kiến thức và tín ngưỡng của họ. Trong những bi kịch, các nhân vật thần thoại khám phá những hành xử luân lý và đạo đức thích hợp với cách con người sống, cung cấp điều gì đó mà lịch sử và tôn giáo không làm được.

Gặp gỡ người hùng bi kịch điển hình

Phương cách chủ yếu để khám phá những hành xử đạo lý và luân lý là qua vai trò của của vai chính diện. Trong vở kịch, nhân vật chính diện điển hình sẽ trải nghiệm những hành trình triết lý và kết thúc bằng sự mất mát và tổn thất lớn lao, và thường là cái chết.  Thường những cuộc hành trình là kết quả của những lỗi lầm hoặc việc vượt quá giới hạn mà nhân vật chính phạm phải. Rất thường, nhân vật chính được cho là phải gánh chịu một số mệnh không sao cưỡng lại. Hậu quả là, các vai chính – và khán giả – biết bản thân mình nhiều hơn và nhận thức được lỗi lầm va tội lỗi của mình. Người Hy Lạp gọi tiến trình này là pathos (chịu đựng), mathos (thấu hiểu), hoặc anagnorisos (nhìn nhận).

Phụ nữ thường là những vai chính trong vở kịch. Các nhân vật như Medea, Hecuba, Antigone, Clytemnestra, Electra làm chủ sân khấu khi họ xuất hiện và mê hoặc khán giả vì tính cách đa tầng của họ. Tuy nhiên, họ đều được các diễn viên nam đóng.

Bị kịch: Những vở ăn khách nhất

Một số bí kịch Hy Lạp vẫn còn sót lại. Sau đây là một số bi kịch Hy Lạp tốt nhất để các bạn tìm hiểu.

Aeschylus

  • Agamemnon: Agamemnon trở về nhà sau Cuộc Chiến thành Troy và bị bà vợ Clytemnestra cùng nhân tình   Aegisthus mưu sát. Orestes (người con trai lưu vong của Agamemnon) sau đó trở về nhà và giết hết những người sát hại cha mình rồi sau đó bị ám ảnh bởi chính tội lỗi của mình. 

Sophocles

  • Oedipus: Một bi kịch cổ điển (xem phần dưới)
  • Antigone: Con gái của Oedipus tranh đấu đòi quyền chôn cất anh mình đã bị giết khi chiến đấu chống lại thành phố quê hương họ.
  • Philoctetes: Philoctetes, người hùng bị lưu đày, nắm giữ cây cung nổi tiếng của Heracles mà người Hy Lạp cần có để đánh thắng cuộc chiến thành Troy. Odysseus được phái đi để chiếm đoạt nó với bất cứ giá nào.
  • Ajax: Anh hùng Hy Lạp vĩ đại Ajax giận dữ vì bị từ chối tấm áo giáp của Achilles sau khi vị anh hùng này bị bắn chết và cơn thịnh nộ khiến ông trở nên như điên dại.

Euripides

  • Medea: Bị khích động tàn bạo bởi người hùng Hy Lạp Jason, người mà mình đã giúp để lấy cắp được bộ lông cừu vàng, Medea bày mưu kế trả thù.
  • Phụ nữ thành Troy: Số phận các bà vợ và mẹ của các chiến binh đã ngã xuống sau khi Troy sụp đổ được phơi bày trong vở kịch bi thương này.
  • The Bacchae: Cadmus, vua xứ Thebes, xúc phạm đến thần Dionysus và phải trả một cái giá khủng khiếp dưới tay của những bộ hạ của thần.

Oedipus: Một tình huống phức tạp

Oedipus Tyrannual (cũng có tên là Oedipus Rex tức Vua Oedipus) chắc chắn là bi kịch Hy Lạp lừng danh nhất.

Aristotle cho rằng đây là bi kịch vĩ đại nhất từng được viết. Câu chuyện về chàng Oedipus, vua xứ Thebes, như sau:

Trước khi vào vở kịch, Oedipus khi còn trẻ trốn thoát khỏi Thebes sau một lời sấm truyền tiên tri cho biết chàng sẽ giết cha và lấy mẹ mình. Sau đó Oediphus trở về Thebes, đánh bại Nhân sư đáng sợ, và  cưới được bà hoàng góa chồng Jocasta, và trở thành vua như một phần thưởng cho kỳ công của mình.

Khi vở kịch mở ra, Thebes đang bị bệnh dịch khủng khiếp hoành hành. Lời sấm ở đền Delphi bảo Oedipus rằng chàng phải trừng trị hung thủ đã sát hại vị vua trước Laius, chồng của hoàng hậu Jocasta. Oedipus quyết tâm thực hiện lời sấm truyền dù có cảnh báo của nhiều người . (Trong những đối thoại này, Oedipus phát hiện rằng Laius và Jocasta từng có với nhau một đứa con trai đã bị bỏ rơi ngoài rừng nhưng cuối cùng được những người khác nhận nuôi.)  Cuối cùng chàng khám phá ra rằng chính mình đã giết chết Laius trong một cuộc tranh cãi trên đường – và tệ hơn nữa, Laius chính là cha chàng và hoàng hậu, Jocasta, chính là mẹ chàng. Đau đớn tột cùng, chàng tự đâm mù mắt mình và thốt lên những lời sau: Ôi trời, ôi trời: mọi sự đã thành sự thật và ai cũng biết! Hãy cho hôm nay là ngày cuối cùng ta nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Cha mẹ ta đã bị nguyền rủa, hôn nhân ta đã bị nguyền rủa, dòng máu ta làm đổ đã bị nguyền rủa!

Oedipus Tyrannus chứng minh rằng con người không thể thoát ra khỏi thân phận và định mệnh là điều không sao tránh khỏi. Lỗi lầm chết người của Oedipus là sự kiêu hãnh và xấc xược của chàng đã khiến chàng mù quáng trước những lời cảnh báo khuyên chàng ngưng việc tìm kiếm trước khi chàng phát hiện ra sự thật thảm khốc.

Nhóm hợp xướng bất mãn

Nhóm hợp xướng đứng ở vị trí Orchestra và phê phán  những hành động mà những nhân vật đang diễn trên sân khấu, đôi khi đưa ra bối cảnh của câu chuyện. Thường thì nhóm hợp xướng hay chống đối với nhân vật chính và hành động của y hay ả. Hầu hết những tương tác giữa nhóm hợp xướng và các diễn viên chính đều thông qua người trưởng nhóm hợp xướng, người duy nhất được nói trực tiếp với những diễn viên trên sân khấu.

Chúng ta không có chứng cứ nào về loại âm nhạc được chơi phụ họa, vì không có bản nhạc nào còn lưu truyền. Tuy nhiên, nếu bạn có dịp đọc được bản dịch tốt của một kịch bản  bạn có thể thấy những đối thoại có giai điệu có thể dễ dàng được hát lên thay vì nói.

Cuối cùng thần linh cũng xuất hiện!

Trong nhiều vở kịch để giải quyết những vấn đề khủng khiếp của câc nhân vật phải nhờ đến sự xuất hiện của thần linh trên núi Olympus. Thường các vị thần làm gì đó để gỡ ra nút thắt mà người trần bó tay. Điều này có vẻ như một sự tránh né nhưng nhớ rằng ý tưởng chứ không phải cốt truyện mới là điều quan trọng! ‘Vị thần’ xuất hiện được thả xuống ở phần cuối sân khấu trên một chiếc nôi.

Xem xét hài kịch: Tình dục và châm biếm

 Hài kịch Hy Lạp rất khác với bi kịch nhưng vẫn tuân theo các quy luật tương tự. Hài kịch cũng đưa vào thi đua tại các lễ hội và được các mạnh thường quân bảo trợ.

Các ý tưởng trong hài kịch rất quan trọng, nhưng kỹ thuật  biểu diễn thì cũng  được chăm chút. Nhóm hợp xướng thường mặc những y phục ấn tượng và diễn những tiết mục hát xướng ồn ào và nhảy múa phức tạp.

Các cốt truyện trong hài kịch thường phi lý. Bằng cách pha trộn sự tưởng tượng với các yếu tố đời thực, các tác giả hài kịch Hy Lạp thực sự đã sáng tạo kịch châm biếm, một thể loại nhằm chế giễu những định kiến và dùng hài kịch để phê phán nó. Chẳng hạn, trong những kịch phẩm Hy Lạp còn sót lại,  người ta bay đi để đến sống trên vùng đất do chim điều hành (Chim), một người bán xúc xích trở thành chính trị gia chủ chốt ở Athens (Những người Acharnia), và Euripides và Aeschylus có những cuộc tranh tài thi ca tưởng tượng ở Âm ty (Những Con Cóc).

 

Aristophanes: thiên tài hài kịch

Kịch tác gia hài kịch Hy Lạp tiếng tăm nhất là  Aristophanes (447–385 TCN), người có một sự nghiệp thành tựu đáng kinh ngạc và đoạt được nhiều giải thưởng. Một số vở kịch của ông đến nay còn tồn tại.

Kịch phẩm thường là những điều tưởng tượng phong phú và thô tục giải quyết những vấn đề đương đại và rất thường dè biểu các quyết định của các chính trị gia. Chẳng hạn: Trong  Lysistrata, các phụ nữ Athens từ chối ăn nằm với các ông chồng của mình cho đến khi họ ngừng tham dự Cuộc Chiến Peloponnesia. Chính trị gia hoạt đầu của Athens Kleon tìm cách truy tố Aristophanes vì tội vu khống Athens trong vở kịch người Babylone vào năm 425  TCN. Kleon không thành công, và Aristophanes trả thù bằng cách chế giễu không thương tiếc Kleon trong bốn vở kịch tiếp theo của mình. Ắt hẳn Kleon có mặt trong số khán giả xem các buổi diễn này.

Các hài kịch của Aristophanes có một cấu trúc rất đặc biệt với các yếu tố chủ chốt:

  • Cảnh tượng nhóm hợp xướng bước vào lúc nào cũng rất ngoạn mục với các diễn viên nhảy múa và cả hát trong những y trang cực kỳ phức tạp.
  • Tiếp theo là phần chính của vở kịch. Hai bên tranh luận những vấn đề thông qua bài hát và đối thoại.
  • Yếu tố chủ chốt cuối cùng là lúc nhóm hợp xướng  lần nữa chiếm trung tâm săn khẩu. Trưởng nhóm hợp xướng nói trực tiếp với khán giả và trình bày một bài nói chuyện dài về ‘vấn đề lớn’ của vở kịch.

Aristophanes đưa vào nhiều châm biếm chính trị sắc bén, nhưng ông cũng chìu theo thị hiếu khôi hài rẻ tiền. Vở kịch ông đầy dẫy những ẩn ý tình dục và chọc cười thô tục cho khán giả. Một số người Athens trong đời thực bị chế giễu là ẻo lả, các bà vợ bị vu khống, cả người nước ngoài bị nhại giọng nói nghe tức cười.

Các khán giả xem hài kịch biết họ sẽ được cho xem những gì và thực sự mong chờ được thưởng thức những chiêu trò quen thuộc. Hài kịch của Aristophanes cung cấp điều gì đó cho mọi người: cảnh tượng dữ dội, cốt truyện phi lý, châm biếm sắc bén, và những trò đùa như Heracles (Hercules) đánh dấm sau khi ăn quá nhiều súp đậu. Bạn còn muốn gì hơn nữa?

Menander: Hài kịch ‘thay thể’

Hài kịch Hy Lạp không dừng lại sau khi Aristophanes qua đời nhưng có thay đổi. Kịch tác gia hài kịch tiên phong sau  Aristophanes là Menander (341–291 TCN). Các vở kịch của Menander loại bỏ nhiều thủ pháp châm biếm quen thuộc của Aristophanes và thay vào đó là phơi bày cuộc sống của những người Athens bình thường trong những tình huống lầm lẫn nhân dạng và nghe trộm. Kịch bản còn sót lại đầy đủ là Dyskolos, một hài kịch hóm hĩnh nói về một ông lão hay gắt gỏng.

Hài kịch Hy Lạp cổ đại cũng  chịu được thử thách của thời gian. Lối diễn xuất phóng khoáng đối với khán giả của các diễn viên và  các nhân vật chủ chốt thường thấy trong các vở kịch của Aristophanes được chuyển tiếp cho sân khấu La Mã và hài kịch Ý khá phổ biến trong thời Phục Hưng. Và nghệ thuật châm biếm đã trở thành một truyền thống hài kịch vững chắc, được phát hình mỗi đêm trên các xô tấu hài trên truyền hình.

Kéo dài đến ngày nay: ảnh hưởng của sân khấu Hy Lạp

Những vở kịch mà người Hy Lạp cổ đại thưởng  thức vẫn còn gây tác động mạnh mẽ đến sân khấu hôm nay – cũng như đến sách, truyền hình, và phim ảnh.

William Shakespeare biết rõ về các kịch tác gia bi kịch và chịu ảnh hưởng của họ trong các tác phẩm của mình. Những khủng hoảng tâm trí và những hành động thiếu sáng suốt của các nhân vật như Hamlet và Macbeth ắt hẳn sẽ được Aeschylus, Sophocles, và Euripides nhận ra ngay.

Luyện tập thể hình: Các nhà điền kinh và các Trò Thi đấu Olympic

Điền kinh là trò hấp dẫn tại Hy Lạp cổ đại. Tập luyện thể hình cho bé trai và nam thanh niên được coi  là yếu tố sống còn của một người hạnh phúc và có  giáo dục. Và vì mọi thành bang Hy Lạp đều tự phòng vệ bởi lực lượng dân quân, nên các bộ phận nam công dân cần phải cường tráng để sẵn sàng chiến đấu.

Vì lý do này nhiều thành bang, trong đó có Athens, đều có những vận động trường công cộng để mọi công dân nam đến luyện tập. Nhiều địa điểm luyện tập khác cũng có sẵn, kể cả các palaestra hay sân đấu vật. Sân đấu vật giống như các gym tư nhân nơi bọn nhà giàu lui tới gặp gỡ và luyện tập. Ngoài ra nơi này còn là chỗ để các ông già Hy Lạp đến ve vãn bọn trai tơ và gặp gỡ để xã giao, và thương thảo những đề tài chính trị và công việc làm ăn.

Sinh hoạt ở gym

referee-watches-greek-wrestlers-in-ancient-olympic-games

Từ hiện đại gymnasium đến từ tiếng Hy Lạp gymnasia. Từ này có gốc từ gumnoi, nghĩa là ‘trần như nhộng’, vì ở Hy Lạp mọi việc tập luyện đều diễn ra trong y phục của Adam. Nên không có gì ngạc nhiên, chỉ có đàn ông mới được bước vào vận động trường. Đối với người Hy Lạp, các trò điền kinh tranh đua rất quyết liệt. Dù bạn tham gia sự kiện nào, điều tiên quyết là nỗ lực hết mình để chiến thắng.

Các tiết mục tại vận động trường đều khá tiêu chuẩn, bao gồm chạy, đua xe ngựa, đánh quyền thuật, đấu vật, và một số tiết mục trên sân bãi như ném. Tất cả những hoạt động này rèn luyện khả năng thể chất rất hữu dụng khi chiến đấu trên chiến trường.

Người Hy Lạp xem những thắng lợi điền kinh như là những chủ đề cho thi ca, và thi sĩ nổi danh Pindar xứ Boeotia (518–438 TCN) dệt nên biết bao vần thơ đẹp về nó. 

Tinh thần thì đấu rất sống động trong khắp thế giới Hy Lạp cổ đại, và những sự kiện quốc tế đều đặn được tổ chức. Phần đông thành phố đều có tổ chức riêng các trận thi đấu của họ nhưng các sự kiện quốc tế quan trọng hơn là Vận hội Pythia, Nemea, và Isthmia. Lớn hơn mọi vận hội này, tuy nhiên, phải kể đến trận tranh tài ở Olympia – Vận Hội Olympic

Tham dự Vận Hội Olympic nguyên gốc

Vận Hội Olympic có tầm ảnh hưởng lớn lao. Người ta có thể cho rằng chúng là sự kiện đơn lễ kéo dài nhất trong thời cổ đại. Mỗi bốn năm từ 776 TCN đến 395 SCN các nhà điền kinh tài ba nhất trong vùng Địa Trung Hải (và đôi khi ở nơi khác đến) tụ họp nhau để tranh tài tại thị trấn Olympia.

Như các lễ hội kịch nghệ, các trò chơi được tổ chức để vinh danh một vị thần – trong trường hợp này là thần Zeus, chúa tể các thần. Các cuộc tranh tài đem đến của cải và tiếng tăm cho Olympia. Sau này thị trấn xây dựng một phức hợp những đền thờ, vận động trường, và những tòa nhà, phế tích của chúng đến nay bạn có thể đến xem. 

Hàng ngàn người ắt hẳn đã đổ về Olympia. Họ chắc chắn giàu có thì mới có thể bỏ cả công ăn việc làm trong nhiều ngày như vậy.

Người Hy Lạp quá đỗi tự hào về Vận Hội Olympic đến nỗi họ sử dụng chúng để ấn định niên đại lịch sử. Các ghi chép thường chỉ các sự kiện xảy ra chẳng hạn trong ‘năm Olympiad thứ 28’ hơn là ghi một năm cụ thể nào đó.

Lịch trình thi đấu Olympic

Các sự kiện tại Olympic khá tiêu chuẩn từ các vận hội đầu tiên đến vận hội cuối cùng. Mặc dù theo thời gian người Hy Lạp có bổ sung một số môn, các môn chính như sau:

  • Võ thuật : Môn thể thao này tương tự như quyền anh hiện đại nhưng các võ sĩ không mang găng tay và thay bằng các dây da quấn bàn tay. Cứ đánh không tính hiệp (chỉ một hiệp kéo dài) và kết thúc khi có đối thủ bị nốc ao.
  • Ném đĩa: Sự kiện này cũng tương tự như môn ném đĩa hiện nay vì người Hy Lạp sử dụng những viên đá tròn dẹt nặng khoảng 4 kí. Ai ném được xa nhất thì thắng.
  • Đua ngựa: Olympic cũng có tiết mục đua ngựa, phổ biến nhất là xe ngựa và cưỡi ngựa, nhưng cũng có đua xe lừa. Nhưng món này không hấp dẫn nên sau 14 kỳ tổ chức, nó bị loại bỏ.
  • Phóng lao: Môn này rõ ràng là kỹ năng có liên quan đến chiến đấu, nhưng các vận động viên sử dụng một loại lao nhẹ hơn để ném được xa, chứ không dùng loại giáo đâm thủng áo giáp. Một số ghi chép cho biết các vận động viên thường đạt được thành tích ném xa hơn 90 mét.
  • Nhảy xa: Sự kiện này khó hơn nhiều so với ngày nay. Các vận động viên phải nhảy không được lấy trớn mà tay còn ôm tạ!
  • Pankration: Môn này ác liệt không thể tin được, trong đó họ đánh nhau và mọi cách ra đòn đều được cho phép xài. Chỉ trừ hai món bị cấm: cắn và móc mắt. Trận tranh tài thật ác liệt và nhiều người tham gia phải bỏ mạng.
  • Pentathlon (5 môn phối hợp): Sự kiện này gồm ném đĩa, ném lao, nhảy xa, chạy bộ và đấu vật. Bộ môn này đúng là gian khổ, nhưng nếu có ai thắng cả ba sự kiện đầu, thì giám khảo cho ngừng cuộc thi.
  • Chạy: Giống như Olympic ngày nay, môn chạy bộ có nhiều tiết mục, bao gồm:
  • stadion: chạy hết chiều dài vận động trường (khoảng 200 mét).
  • diaulos: chạy hết chiều dài vận động trường rồi trở lại.
  •   dolichos: 12 vòng vận động trường.
  • Chạy một vòng vận động trường có mặc áo giáp.
  • Đấu vật: Người thắng là người khiến lưng, hông, hoặc vai đối thủ chạm mặt đất ba lần.

Vận Hội Olympic kéo dài trong 5 ngày với lễ khai mạc và bế mạc. Mỗi ngày tranh tài ở những bộ môn khâc nhau. Chẳng hạn, tất cả bộ môn đối kháng diễn ra vào ngày thứ tư. Ngày cuối cùng là đám rước của tất cả người chiến thắng đến Đền Thờ Zeus, tại đó họ được đội vòng ô liu dại và hứng một trận mưa lá.

Vòng nguyệt quế là tất cả những gì người đoạt giải nhận được kèm thêm tiếng tăm bắt tử của người chiến thắng Olympic. Các mạnh thường quân tài trợ cho các  sự kiện không Olympic khác  thưởng tài vật cho vận động viên đoạt giải, nhưng không có phần thưởng nào cao hơn là vinh dự chiến thắng trong kỳ Olympic – như huy chương vàng Olympic ngày nay.

Gian lận không hề khá

Cho dù vinh dự đoạt giải trong kỳ Olympic là cao cấp nhất, nỗi nhục nhã khi bị bắt vì  gian lận cũng gay gắt không kém. Các trận tranh tài được nhóm binh sĩ giám sát gọi là đội alytai, được quyền phạt roi bất cứ ai gian lận. Ngoài ra, tên những người chiến thắng được khắc trên bia đá dựng quanh vận động trường, và cũng thế tên những vận động viên gian lận cũng được khắc lên đá.

Tiền thân Thể Vận Hội hiện đại

Olympic cổ đại chắc chắn kết thúc khoảng 390 SCN, khi hoàng đế Byzantine, vốn là người Cơ đốc, cấm tất cả những lễ hội ngoại giáo. Một số những nỗ lực được tiến hành nhằm làm sống lại các trò tranh đua, và các vận động viên tranh tài ở nơi khác trên khắp vùng Địa Trung Hải. Tuy nhiên, Vận Hội Olympic chính thức được tổ chức tại Athens tiếp theo chỉ diễn ra vào năm 1896. Người cổ xúy là một nhà quý tộc  Pháp có tên Hầu tước Pierre de Coubertin.

Một trong những tiết mục và biểu tượng chính của Thế Vận Hội ngày nay là lễ rước đuốc và hành trình mang đuốc đi từ địa điểm tổ chức kỳ vừa qua đến kỳ hiện tại (năm 2008, từ Athens đến Beijing). Phần đông nghĩ rằng đây là truyền thống cổ xưa, nhưng không phải. Đuốc chỉ dùng trong Olympic cổ đại như một gậy tiếp sức trong cuộc đua xe sáu ngựa tiếp sức diễn ra trong ngày khai mạc. De Coubertin làm lễ rước đuốc vì ông cho rằng nó thích hợp cho sự kiện phục sinh của một truyền thống cổ.

Vận động viên Olympic vĩ đại nhất: Milo xứ Croton

Các Olympic cổ đại vinh danh nhiều nhà quán quân vĩ đại, nhưng người vĩ đại nhất lừng lẫy hơn tất cả chắc chắn là Milo xứ Croton. Một nhà đấu vật vĩ đại, ông đã thắng trong năm lần vận hội liên tiếp (một khoảng thời gian 20 năm.

Milo tuân thủ một phương pháp rèn luyện thể lực trong đó có việc vác tới lui một con bò khoảng bốn tuổi trong vài tháng để nâng cấp cơ bắp vai. Chắc là sau đó ông thịt luôn con bò. Một câu chuyện khác nói rằng Milo uống một hơi ba bình rượu vang (khoảng 9 lít) trong một lần cá độ. Rủi thay, Milo thiệt mạng trong một lần ông ra sức tách đôi một thân cây bằng đôi tay trần và bị kẹt cứng bàn tay trong đó. Ông phải ở lại tại chỗ và trong đêm ông bị thú dữ tấn công và ăn thịt.

Không biết những giai thoại này có thực không, nhưng Milo quả là một vận động viên Olympic cự phách và chắc chắn là vĩ đại nhất của mọi thời.

Chương 17

Mô tả Đàn ông, Đàn bà, và các Vị Thẫn

Trong chương này. . .

 Biết được quan niệm về nghệ thuật của người Hy Lạp

  • Điêu khắc tượng
  • Trang trí bình gốm
  • Bàn về y phục và những thủ công mỹ nghệ khác

Nghệ thuật là gì? Đó là một câu hỏi triền miên không ai có thể thực sự trả lời.

Ngày nay, nghệ thuật xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau – hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, in ấn, điện ảnh, và kỹ thuật số, chỉ liệt kê một số ít. Mỗi hình thái nghệ thuật đưa ra một cách thức lý giải thế giới. Những con người khác nhau chọn những hình thức quan trọng khác nhau đối với họ hoặc hành động vì những lý do khác nhau.

Trong Hy Lạp cổ đại các loại hình nghệ thuật tồn tại khá tuân thủ hình thức và hợp với quy luật. Chúng thuộc những phạm trù khác nhau. Những ví dụ rõ ràng nhất về nghệ thuật Hy Lạp cổ đại là các hiện vật điêu khắc và hội họa, như đĩa gốm, cốc, và bình sứ – mà tôi sẽ bàn đến trong chương này. Những thể loại nghệ thuật khác cũng tồn tại – như trang trí nội thất – nhưng hầu hết các công trình này đã thất lạc.

Tuy nhiên điều dễ nhận biết nhất trong nghệ thuật Hy Lạp không phải thể loại mà là đề tài của nó. Các thần linh và anh hùng của thần thoại Hy Lạp là các chủ đề thống trị  các tác phẩm điêu khắc và hội họa. Những chủ đề khác phát triển và bắt đầu xuất hiện sau đó. Vào thời kỳ Hy Lạp hóa, các nghệ sĩ bắt đầu quan tâm đến thế giới bình thường chung quanh mình.

Số lượng lớn nghệ phẩm Hy Lạp còn sống sót trong hàng trăm bảo tàng trên khắp thế giới. Trong chương này, tôi bàn về những thể loại và kỹ thuật cơ bản, và những chi tiết có thể giúp bạn hiểu rõ hơn ý nghĩa đằng sau những ‘người đàn ông khỏa thân gãy mũi’ này.

Định hình nghệ thuật Hy Lạp

Người Hy Lạp cổ đại thực sự không có từ nào có nghĩa ‘nghệ thuật’. Thuật ngữ tương đương gần nhất là tekhne, có nghĩa gần với ‘kỹ năng’ hơn. Vì thế người Hy Lạp không nghĩ nghệ thuật là điều gì trừu tượng và cảm hứng, mà nhiều hơn là một khả năng thủ công và kỹ thuật.

Thật ra, nhiều sản phẩm mà con mắt người ngày nay xếp loại chúng là nghệ thuật Hy Lạp thực ra tại thời điểm  được tạo tác chúng không được nghĩ là các tác phẩm nghệ thuật. Người Hy Lạp sử dụng đĩa, bát và cốc mà các bảo tàng viện ngày nay trưng bày trong tủ kính để ăn uống mỗi ngày. Theo một nghĩa nào đó, đây là vật dụng hàng ngày của người Hy Lạp. (Rõ ràng có đĩa tốt hơn những đĩa khác, và chủ nhân ắt hẳn phải trả giá cao hơn đối với những vật dụng có thiết kế tinh xảo hơn – như chúng ta hôm nay).

Các học giả phân loại nghệ thuật Hy Lạp ra nhiều thời kỳ, tất cả đều bắt đầu sau khi thời kỳ Mycenaea kết thúc vào khoảng 1200 TCN. Gồm có:

  • Thời kỳ Hình học (1100-700 TCN): Các hình thái nghệ thuật sớm sủa nhất gồm phần lớn đồ gốm với các kiểu dạng hình học lập đi lập lại và một ít biểu diễn hình người.
  • Thời kỳ Cổ (700 TCN-480 TCN): Hình thài nghệ thuật chịu ảnh hưởng nặng nề của Ai Cập và châu Á. Cách biểu thị nguòi và vật trong điêu khắc trông khá giống châu Á.
  • Thời kỳ cổ điển (480-330 TCN): Nghệ thuật trong thời kỳ này mô tả đẹp đẽ và lý tưởng người và thần linh, thường khoả thân và đề cao hình thể và tư thế điền kinh mạnh mẽ.
  • Thời kỳ Hy Lạp hóa (330-30 TCN): Tính hiện thực rõ nét hơn và mối quan tâm lớn hơn đối với loại chủ đề bình thường là nét điển hình của nghệ thuật trong thời kỳ này.

Xem xét điêu khăc Hy Lạp: Người không mũi

Điêu khắc Hy Lạp là hình thái nghệ thuật nổi tiếng nhất ở thế giới cổ đại. Những pho tượng lớn của họ đúc người phàm và thần linh với những chi tiết bỏ thiếu đã ảnh hưởng đến những điêu khắc gia và hoạ sĩ trong hàng trăm năm. Đây là câu chuyện đằng sau một trong những đóng góp nghệ thuật vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ đại: điêu khắc, phong cách trường phái cũ.

Đối với người Hy Lạp cổ đại, điêu khắc là một kỹ năng thường được truyền xuống nhiều đời. Đó là công việc toàn thời gian và một nghề được tôn trọng. Các điêu khắc gia thường làm việc một mình  trừ trong những dự án lớn, họ có thể mướn thêm những đồng nghiệp để làm chung với mình.

Các điêu khắc gia làm việc dưới hai hình thức – đá và đồng:

Các tượng đá được cắt ra từ những khối đá lớn. Đó là một công việc tinh tế khó tin; vì chỉ cần một vài nhát đục sai lầm là nhà điêu khắc có thể làm hỏng một tượng đang hoàn tất.

Đúc khuôn tượng đồng thậm chí còn nhiều rủi ro hơn điêu khắc đá. Nhà điêu khắc tạo ra một mẫu tượng bằng đất sét hay thạch cao rồi họ đổ đồng chảy vào khuôn. Sau khi đồng nguội, họ mới hoàn thiện tác phẩm, loại đi bất cứ sơ suất nào và đánh bóng đồng. Hiệu quả cuối cùng rất bóng láng, lấp lánh như vàng. Những tượng đồng còn sống sót đến ngày nay màu sắc trông hơi xỉn vì hiệu quả của thời gian. Tuy nhiên, người Hy Lạp cổ đại giữ gìn tượng đồng của mình bóng sáng rực rỡ. Đồng đắt tiền hơn đá nhiều và nhiều tượng đồng phổ biến được sao chép bằng đá.

Những pho tượng lớn này được sử dụng theo nhiều cách. Một số được đặt nơi công cộng (như các pho tượng các vận động viên điền kinh đoạt giải); những pho tượng khác được các nhà giàu mua làm của riêng. Tuy nhiên, mục đích sử dụng thông thường nhất là để trang trí cho những tòa nhà công cộng lớn như đền thờ.

Sự kiện xuất phát từ đâu?

Một điều kỳ lạ về nghệ thuật Hy Lạp là làm thế nào nó bất ngờ thay đổi khoảng 500 TCN. Như Hình 17-1 chứng tỏ, gần như là người Hy Lạp bổng quyết định bắt đầu sáng tạo những tượng điêu khắc tuyệt vời bằng người thật  bất ngờ tại thời điểm giữa thời kỳ Cổ và Cổ điển!

Trong nhiều năm liền người ta thắc mắc từ đâu sự điêu luyện này xuất hiện thình lình. Các tác phẩm tương đối gần đây của các học giả và nhà khảo cổ, nổi bật nhất là Sir Arthur Evans (1851–1941), chỉ ra là do nền văn hóa Mycenaea. Việc khám phá ra thế giới Myceneae có nghĩa là các sử gia có thể liên kết một dân tộc cổ hơn nói tiếng Hy Lạp, sáng tạo nghệ thuật với người Hy Lạp cổ đại. Mặc dù nghệ thuật Mycenaea rất khác, ít chính xác hơn nhiều khi thể hiện con người và vật thể, nhưng mối liên hệ chứng tỏ rằng nghệ thuật Hy Lạp không phải là một sáng tạo đột phá..

Phân tích điêu khắc thời kỳ Cổ:

Người Ai Cập khoả thân

Các ví dụ sớm nhất về điêu khắc Hy Lạp cổ đại xuất hiện trong thời kỳ Cổ (700-480 TCN). Những tượng Hy Lạp sớm sủa này giống như được người Ai Cập làm ra, nhưng chúng khác về hai phương diện trọng yếu:

Tượng Hy Lạp đứng độc lập, chứ không được điêu khắc trong tường hoặc cột như điển hình nghệ thuật Ai Cập cùng thời.

Các hình người Hy Lạp hoàn toàn khoả thân trong khi tượng Ai Cập thì thích mặc váy che vùng kín.

4

Hình 17-1: Một kouros

Hay nhìn vào tượng điêu khắc trong Hình 17-1. Tượng kouros, nghĩa là hình người khỏa thân nam thanh niên, được tạo tác khoảng 550 TCN. Hình dạng người này hoàn toàn hiện thực và có kích cỡ khoảng hai phần ba người thật. Nhà điêu khắc Hy Lạp cổ đại này có khả năng mô tả chính xác thân thể người, các đường nét, và cơ bắp.

Trong thời kỳ này, các nhà điêu khắc cũng chế tác người nữ gọi là korai, nhưng ăn mặc kín đáo. Việc này phù hợp với quan điểm của nam giới Hy Lạp cho rằng phụ nữ nên dè dặt và kín đáo.

Tư thế của kouros rất cứng nhắc và đối xứng. Đây là vị trí tiêu chuẩn của thời kỳ Cổ. Chú ý tư thế đứng của nhân vật – y trông như đang muốn bước tới. Đây là điểm khác biệt có ý nghĩa với các bức tượng Ai Cập cứng nhắc và một nỗ lực đầu tiên để chuyển tải sự di chuyển. Mặc dù vậy gương mặt còn được thể hiện kiểu rất Ai Cập: mắt lớn và tóc quăn.

Xem xét điêu khắc thời Cổ điển: Thậm chí còn tốt hơn người thật

Trong thời Cổ điển  (480–330 TCN), người Hy Lạp chạy trước các nền văn minh cổ đại khác trong khả năng thể hiện tượng người lớn như thật. Ý tưởng bắt chước cho giống hiện thực trở thành một lý tưởng quan trọng. Một tác phẩm điêu khắc được coi là thành công nếu nó gần giống thực tế nhưng nó cũng biểu thị khát vọng một hình ảnh lý tưởng muốn vươn tới.

Điêu khắc trong Hình 17-2 là một bản sao của một tác phẩm được tạo tác khoảng 444 TCN bởi Polyclitus. Đây là tượng lớn bằng người thực có tên doryphoros (người mang lao) mô tả một vận động viên trẻ. Nhìn vào sự khác biệt giữa tượng này với tượng kouros cổ. Chủ đề cũng tương tự nhưng cách thể hiện rất khác:

5

Hình 17-2: Bản sao của tượng Doryphorus của Polyclitus

Cả hai tượng đều chuyển tải sự chuyển động trng tư thế, nhưng sức nặng của toàn bộ hình người Cổ điển giờ được đặt vào một chân. Các cơ trên thân thể của tượng người Cổ điển được rõ ràng hơn – một loại thể chất phải mất biết bao giờ tập luyện  trong vận động trường mới có được!

Gương mặt của tượng điêu khắc Cổ điển cũng khác biệt. Anh chàng biểu cảm hơn, tập trung vào một điều gì đó trong tư tưởng. Các đặc điểm trông có vẻ Tây phương hơn ở tượng kouros.

Phụ nữ trong nghệ thuật

Một tiến bộ quan trọng khác trong thời kỳ Cổ điển là những tượng người nữ thường được thể hiện khoả thân giống như tượng nam. Phần lớn những tượng khỏa thân nữ này mô tả Aphrodite, nữ thần tình dục, thường được thể hiện chui ra sau khi tắm táp.

Những nữ thần khác được điêu khắc trong thời kỳ này (Athena, Demeter, và Hera là những chủ đề quen thuộc) thường được thể hiện có quần áo. Tạo được vải vóc đúng được xem là một kỹ năng tối quan trọng về phía nghệ sĩ, và những nếp gấp trong y phục được mô tả hiện thực đáng kinh ngạc trong những tác phẩm điêu khắc thời kỳ Cổ điển.

Một hình giả thật đẹp!

Nhiều tượng Hy Lạp còn sống sót thực sự không phải là Hy Lạp gì hết. Thường những tượng này là bản sao cao cấp từ các bản gốc Hy Lạp được thực hiện bởi người La Mã. Đặc biệt, những tác phẩm bằng đá còn sót lại thường là những phiên bản của La Mã từ những tượng đồng Hy Lạp. Các tượng gốc thường bị thất lạc qua lịch sử khi người đời sau nấu chảy chúng để tạo tác những thứ khác. Nhưng vì tượng gốc quá nổi tiếng và được quý trọng, nên trước khi nấu chảy tượng người ta yêu cầu chế tác những bản sao. Giới yêu nghệ thuật ngày nay thực sự may mắn khi người La Mã cũng yêu quý nghệ thuật Hy Lạp, vì ít nhất cũng còn những bản sao để nhìn ngắm. 

Các nghệ sĩ tài danh

Trong thời kỳ Cổ điển các tác phẩm điêu khắc trở nên rất phổ biến như một phương tiện trang trí đền thờ và những tòa nhà công cộng khác, và những nghệ sĩ tạo tác ra những tác phẩm hoàn hảo nhất sẽ trở nên nổi tiếng. Đây là những điêu khắc gia lừng danh nhất Hy Lạp:

  • Pheidias (khoảng 460-400 TCN: Chắc chắn là điêu khắc gia Hy Lạp lừng danh nhất, Pheidias có một xưởng điêu khắc hoạt động thường xuyên trong khu phức hợp điện thờ tại Olympia nơi ông làm cho điện thờ bức tường thần Zeus nổi tiếng ngồi trong điện thờ ngài. Bức tường đã lạc mất từ lâu chỉ còn lại hình vẽ (Hình 17-3). Ông cũng trang trí điện Parthenon (xem Chương 18). Ông bị giết bởi dân xứ Elis vì ganh tị việc làm ăn phát đạt của ông ở Olympia.
  • Polyclitus xứ Argos (khoảng 460–410 TCN): Polyclitus chuyên làm tượng đồng và nổi tiếng nhất với những bức tượng người phàm (như tượng Doryphorus trong Hình 17-2).
  • Myron (khoảng 470–420 TCN): Được biết tiếng là người thực nghiệm vĩ đại, Myron tạo ra những tượng thần và người phàm trong những tư thế mới và bất thường. Myron là một trong những nghệ sĩ đầu tiên mô tả con người đang chuyển động thực sự. Ví dụ tốt nhất là tượng Discobolus, hay người ném đĩa, được minh họa trong Hình 17-4.

6

Hình 17-3: Tượng thần Zeus của Pheidias’s

  • Lysippus xứ Sicyon (khoảng 370–315): Lysippus sáng tạo nhiều tác phẩm đa dạng vào cuối thời kỳ Cổ điển và đầu thời kỳ Hy Lạp hóa. Phần đông đây là những phiên bản mới và khác về các vị thần, nhưng tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tượng đầu Alexander Đại Đế (Hình 17-5), mà theo tài liệu cổ cho biết đây là chân dung giống nhà vua nhất.

aaa

Hình 17-4: Tượng người ném đĩa của Myron

7

Hình 17-5: Đầu của Alexander Đại Đế, do Lysippus tạc

Mắt sáng và nhiều màu sắc

Hai yếu tố quan trọng trong điêu khắc Hy Lạp của mọi thời kỳ là việc sử dụng màu sắc và những chi tiết hoạ hình. Ngày nay, khi bạn đến thăm viếng một viện bảo tàng  hoặc nhìn các bức ảnh về những tượng người còn sống sót, bạn thấy những hình người bằng đồng và đá u tối với cặp mắt mở lớn, mù loà.

Nhưng những bức tường này nguyên gốc rất khác: Tròng mắt và con ngươi được sơn cũng như quần áo, vải vóc và bất kỳ vũ khí cũng như các vật dụng khác. Những bức tượng thần được tô vẽ để gây khiếp sợ cho dân chúng trong dạng nguyên gốc rất màu sắc. Được sơn bằng màu đỏ, đen, và vàng hình ảnh nhằm nhấn mạnh quyền lực đáng sợ của các thần linh.

Xem xét điêu khắc thời Hy Lạp hóa: Nghệ thuật là gương soi của cuộc sống

Trong thời kỳ Hy Lạp hóa (330–30 TCN) khuynh hướng thẩm mỹ mới xuất hiện. Sau khi Alexander Đại Đế chinh phục những chân trời mới cho thế giới Hy Lạp, các chủ đề và lối diễn tả mà những điêu khắc gia chọn cũng thay đổi. Trong khi vẫn còn sáng tạo những hình tượng anh hùng và thần linh, họ cũng phát triển một mối hứng thú đối với những chủ đề người hơn thuộc loại khác, như trẻ con và người già, chứ không phải chỉ những thành niên tuấn tú của thời Cổ điển.

Mặc dù các tác phẩm vẫn còn thể hiện một chân dung chính xác của hình thể người , nhưng cách miêu ít ước lệ hơn và có tính hiện thực hơn. Một trong tượng điêu khắc nổi tiếng nhất của thời Hy Lạp hóa là tượng một bà lão say rượu (hình dưới) – một chủ đề và xử lý chưa hề được các điêu khắc gia thuở trước quan tâm.

9

Hãy nhìn vào bức tường đồng của một võ sĩ trong Hình 17-6. Tượng này được tạo tác vào thế kỷ thứ hai TCN. Ông trong có vẻ mệt mỏi sau một trận đấu – như điều bạn có thể mong đợi. Thể hình ông trông rất nở nang như một võ sĩ đô vật ngày nay, và nếu nhìn kỹ bạn có thể trông thấy mũi ông ta bị gãy và hai tai bông cải bị thương tích. Đây là một võ sĩ đã kiệt sức, đã qua thời sung mãn, sau quá nhiều tháng năm thì đấu.

10

Hình 17-6:

Tác phẩm người võ sĩ, thể kỷ 2 TCN

Mời mọc thần linh đến dự tiệc: Tranh vẽ bình

Cùng với các tượng đồng và đá, lãnh vực chủ yếu khác của nghệ thuật Ai Cập cổ đại là tranh vẽ bình.

Đất sét là một trong các tài nguyên tự nhiên phong phú nhất của Hy Lạp, được sử dụng làm ngói lợp nhà, tượng điêu khắc nhỏ, và gạch xây nhà. Chất lượng của đất sét thay đổi tùy theo vùng miền nhưng kỹ năng sử dụng bánh xe làm gốm và nung chính xác bình gốm có tầm quan trọng đối với chất lượng sản phẩm hơn là chính đất sét.

Việc buôn bán bình gốm là một trong những ngành nghề thịnh hành nhất và việc sản xuất đại trà bình gốm của Hy Lạp gần như là một kỹ nghệ sản xuất thời nay. Gốm Hy Lạp được xuất khẩu trên khắp Địa Trung Hải. Những vùng khác phát triển theo phong cách riêng của họ, và một số được nhiều người săn đón. Một số thợ vẽ bình nhờ đó nổi tiếng, nhưng tất nhiên không sao bù được với các điêu khác gia vốn là ngành nghề cao cấp hơn. Trong nhiều trường hợp thợ vẽ bình cũng là người tự làm ra bình do mình vẽ.

Xem xét hinh dạng

Mặc dù kiểu dạng và thiết kế trên bình thay đổi, nhưng bình thì thực sự chỉ có những hình dạng sau:

  • Amphora: Đây là loại tiêu chuẩn của bình lớn được dựng để vận chuyển số lượng lớn rượu vang hoặc dầu. Cái tên có nghĩa là có hai quai hai bên hông.
  • Crater: Tô lớn, người Hy Lạp sử dụng để pha rượu với nước.
  • Skyphos: Cốc tiêu chuẩn thường có một quai cầm ở mỗi bên. Thường đáy cốc bên trong cũng được trang trí hình vẽ.
  • Lekythos: Những hủ nhỏ tinh tế này được dùng để chứa dầu hoặc, đôi khi dầu thơm.

Nhiều đồ gốm hình dạng khác tồn tại trong thời Hy Lạp cổ đại, bao gồm nhiều loại bình như  hydria thậm chí những bình làm lạnh rượu vang như  psykters. Những bình còn sót lại trong các bảo tàng thường là những món đồ quí giá nhất thời Hy Lạp cổ đại không chắc là được sử dụng thường ngày, mà chỉ bày ra khi có những tiệc tùng đặc biệt.

Cơ bản vẽ tranh bình

Cũng giống như điêu khắc việc vẽ tranh bình cũng trải qua một số giai đoạn rõ ràng, như được giải thích trong phần sau.

Tranh bình thời đầu (1050–700 BC): Như điêu khắc, những bình Hy Lạp buổi đầu trộn lẫn kiểu dáng hình học với hình người và thú mô tả theo phong cách Ai Cập, có dáng dấp Đông phương. Đôi khi hình minh họa những sinh vật tưởng tượng trong thần thoại như quái thú đánh nhau với Heracles.

Tranh người đen (600 TCN trở về sau): Thể loại hình vẽ thực sự có tính Hy Lạp sớm sủa nhất được biết dưới tên tranh người đen. Những bình đất sét đỏ trong giai đoạn này được trang trí hình trong đó  người thường được thể hiện màu đen với chút đỏ và trắng làm điểm nhấn. Hoạ sĩ khắc tinh tế những chi tiết trên hình người được vẽ và trên đất sét. Nhiều học giả hiện đại gắn việc phát triển phong cách vẽ  này cho thành phố Corinth khoảng 720 TCN. Vào giữa thế kỷ thứ 7 TCN các nghệ sĩ trên khắp khu vực đều đã sử dụng kỹ thuật này.

Các chủ đề phổ biến nhất trong thời kỳ này lấy ra từ các câu truyện trong thần thoại. Những hình ảnh thường miêu tả theo phong cách tranh tường, nghĩa là các hình vẽ bao quanh mặt bình và phô bày những hình người tương tác nhau. Những cảnh tượng phức tạp và sống động nắm bắt một dãy những cảm xúc thường được gom vào trong hình minh họa. Hình 17-7 trình bày hình người đen trên bình amphora được vẽ bởi Exekias khoảng 540 TCN.

Bình cho thấy chiến binh Hy Lạp Achilles đánh nhau với nữ hoàng Amazon Penthesilea trong cuộc Chiến thành Troy. Theo thần thoại, khi Achilles giáng cú đánh chết người, mắt ông chạm mắt Penthesolea và ông lập tức rơi vào lưới tình với nàng. Người họa sĩ đã xoay sở để chuyển tải được giây phút phức tạp và đau đớn này bằng cách sử dụng kỹ thuật vẽ bóng đơn giản.

Một điều cần chú ý khác về Hình 17-7 là chính cái gưong mặt trắng bệt của Penthesolea. Trong thời kỳ này đàn bà thường sơn mặt trắng, trong khi đàn ông hoàn toàn sơn đen. Lý do là vì các phụ nữ Hy Lạp tầng lớp trên được kỳ vọng là suốt ngày ở trong nhà. Đàn ông cháy nắng và sạm da còn phụ nữ thì xanh tái.

11

Hình 17-7: Một ví dụ về bình hình người đen do Exekias vẽ trên bình amphora.

Tranh hình người đỏ (khoảng 525 TCN trở đi)

Khoảng 525 TCN một phong cách vẽ mới – được biết dưới tên tranh hình người đỏ – được phát triển ở Athens.  Kỹ thuật này là sự đảo ngược hoàn toàn với lối vẽ hình người đen, với nền bây giờ đen và tất cả hình người đều có màu đỏ của đất sét. Cách tiếp cận này cho phép vẽ được nhiều chi tiết tinh tế hơn trên đất sét thay vì được chạm khắc như trên tranh người đen. Theo thời gian, những miêu tả bộ phận người và quần áo trở nên chính xác hơn – giống như hiệu quả tạo bởi các  điêu khắc gia của thời kỳ này.

Các nghệ sĩ có thể sáng tạo nhiều cảnh tượng phức tạp hơn. Đáng chú ý là các họa sĩ tranh người đỏ bắt đầu vẽ nhiều hơn một cảnh trên một bình, những cảnh có liên hệ trong một chủ đề.

Một cốc hình người đỏ được vẽ vào khoảng 470 TCN cho thấy Heracles thời trẻ trên đường đến trường đi theo sau là một bà lão. Hình chi tiết một cách không thể tin được, và bạn có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt về tuổi của hai nhân vật. Heracles đứng theo phong cách điêu khắc Cổ điển, và bạn có thể nhìn ra hình xăm trên người phụ nữ, cho thấy có thể bà đến từ Thrace nơi có tục xăm mình.

Tranh nền trắng (khoảng 475 TCN trở đi)

Một phong cách  tranh bình cuối cùng lấy cảm hứng từ một kỹ thuật vẽ trên những dự án nội thất qui mô lớn. Mặc dù không còn nhiều loại vẽ trên nền trắng còn sót lại, các sử gia tin rằng các nghệ sĩ thường sơn các mặt tường bên trong nhà hay vách gỗ bằng sơn trắng hoặc thạch cao để có một nền trung tính. Trong thế kỷ thứ 5 TCN, một số hoạ sĩ bắt đầu vận dụng phong cách này vào tranh vẽ bình. Việc sử dụng thông thường nhất cho lối vẽ trên nền sơn trắng trên bình là để trang trí những  lekythos mà người Hy Lạp chôn theo người chết. Những lekythos này chứa đầy dầu và đi theo người quá cố qua thể giới âm ty (hình dưới). Hầu hết những bình nền trắng không còn sót lại nguyên vẹn vì binh không có mục đích để sử dụng thường xuyên.

12

Một tranh bình lekythos trên nền trắng

Nổi tiếng nhất trong số các họa sĩ vẽ theo phong cách này là Apellez xứ Colophon, hoạt động vào thế kỷ thứ 4 TCN. Sau này các tác giả hết lời ca tụng tài năng của Apelles, cho rằng những tác phẩm của ông giống thực đến nỗi người ta tưởng thật,  định ăn những trái cây ông vẽ và những chú ngựa thật hí vang khi nhìn  hình ngựa ông vẽ. Buồn thay, các sử gia hiện đại đành phải tin theo lời ghi chép cổ đại lưu lại, chứ không tìm thấy tác phẩm nào của ông để lại.

Tìm kiếm vẻ đẹp ở nơi khác: Những nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ khác

Tất nhiên, người Hy Lạp không chỉ tạo ra bình gốm và tượng điêu khắc. Họ cũng thành thạo một số loại hình nghệ thuật khác: Tượng đất sét của họ cũng rất được ưa chuộng. Những điêu khác nhỏ này cũng có tính thẩm mỹ của những tác phẩm cỡ lớn.

Những đồ đồng trang trí được đúc theo cùng kỹ thuật như các tượng điêu khắc lớn. Những vật này dùng để trang trí trong đền thờ, trong nhà riêng và thỉnh thoảng được dâng cúng cho thần linh để khẩn cầu được phù hộ.

Những phần sau bàn về một ít hoạt động nghệ thuật khác của người Hy Lạp cổ đại.

Ăn mặc

May vá và thời trang không thực sự là loại hình nghệ thuật vào thời cổ Hy Lạp, nhưng những y phục người Hy Lạp mặc khi đi ra ngoài làm việc thường ngày cũng có một nét đẹp và giản dị đến nay vẫn còn tạo cảm hứng cho các nhà thiết kế trang phục.

Chất liệu

Phần đông người Hy Lạp cổ đại – nam cũng như nữ, giàu cũng như nghèo – ăn mặc cùng một cách. Điều khác biệt chỉ ở chất lượng của chất liệu được sử dụng. Hầu hết quần áo được làm bằng len, mặc dù trong một số trường hợp vải lanh được sử dụng. (Vải lanh thông dụng hơn cho áo dài ngoài hoặc áo lót; len ắt hẳn hơi ngứa ngáy vào ngày nóng nực trên bình nguyên Attica). Trắng là màu tiêu chuẩn nhưng người Hy Lạp cũng nhuộm len của họ. Những phụ nữ giàu có hơn có thể sắm lụa được nhập khẩu từ Tiểu Á trên con đường tơ lụa phương Đông.

Các loại y phục.

Gần như tất cả y phục đều có dạng của một áo choàng – một miếng vải đơn lẻ có thể được mặc theo nhiều cách khác nhau. Y phục này luôn không có tay áo, nhưng thường trong thời tiết lạnh nó được khoác bên ngoài một áo chẽn có tác dụng như một áo lót.

Y phục tiêu chuẩn cho phụ nữ là peplos, một loại phối hợp giữa  áo choàng và áo chẽn (hình dưới). Hầu hết những miêu tả nghệ thuật của nữ thần đều ăn vận bộ peplos gợi cảm.

13

Các phụ nữ cũng thường mang mạng che mặt khi ra ngoài để che dấu bộ mặt mình khỏi cặp mắt các ông.

Người Hy Lạp không mặc quần ống dài và cho rằng như thế là ẻo lả. Quần ống dài được mặc phố biển ở Để chế Ba Tư, và khi Alexander Đại Đế bắt đầu mặc nó sau khi chinh phục Ba Tư, các tướng Macedonia của ông bất bình và không hề bắt chước vị tư lệnh của mình.

Vào thời Hy Lạp hóa đàn ông và phụ nữ ăn mặc quần áo chính thức đơn giản hơn gọi là himation. Đó là một tấm vải rất dài (lên đến 3 mét và rộng 2 mét) mà bạn quấn quanh người và thường vắt quá cánh tay trái (hình dưới).

14

Các tượng thần trong Điện Parthenon mặc nó và sau này người La Mã dựa vào kiểu y phục thuận tiện này để chế áo choàng toga của họ.

Đồ trang sức

Ngoài điêu khắc và vẽ bình, những nghề thủ công sản xuất  lớn khác trong Hy Lạp cổ đại, và ở nơi khác trong thế giới cổ đại nói chung, là việc chế tác nữ trang.

Người Hy Lạp dùng quý kim (vàng và bạc) và đá bán quý như ngọc thạch với số lượng lớn để sản xuất nhẫn, khoen tai, vòng tay, vòng cổ theo những thiết kế trang nhã đến nay còn sử dụng. Phong cách nhận một viên đá quý lên một vòng kim loại (như nhẫn kim cương ngày nay) chỉ trở nên thịnh hành khoảng vào cuối thế kỷ thứ 5 TCN.

Những lược vàng và kẹp tóc cũng rất được ưa chuộng. Đôi khi chúng được chạm những hình người tí xíu không lớn hơn vài phân. Là những đồ tạo tác chi tiết và tình xảo không thể tin được, những chiếc lược này rất đắt tiền. Những món đồ tình tế và có tính cách cá nhân này cho ta một cảm xúc đặc biệt là chúng đã được cầm nắm và chăm chút cách đây 2,500 năm.

Chương 18

Xây dựng Kiến trúc Hy Lạp Tuyệt hảo

Trong chương này. . .

  • Thán phục các đền thờ Hy Lạp
  • Kiến tạo và trang trí các đền thờ
  • Mở rộng thiết kế Hy Lạp cho những tòa nhà khác

Kiến trúc là nghệ thuật xây dựng, thiết kế và xây dựng các tòa nhà đảm bảo chúng được xây cất đúng kỹ thuật và thẩm mỹ bắt mắt. 

Trong mọi di sản mà người Hy Lạp cổ đại để lại, các tòa nhà của họ là bằng chứng rõ ràng nhất. Bạn có thể tìm thấy cả khối các kiến trúc – một số còn trong điều kiện hoàn hảo đến kinh ngạc – nằm khắp vùng Địa Trung Hải. Và các viện bảo tàng trên khắp thế giới đã gìn giữ một số các tòa nhà hoặc một bộ phận của tòa nhà.

Thậm chí còn hiển nhiên hơn những tàn tích vật chất là ảnh hưởng của kiến trúc Hy Lạp đối với những công trình thời sau này. Thật ra, nhiều công trình trong vài thành phố nổi tiếng nhất thế giới lập tức nhắc ta nhớ đến các đền thờ Hy Lạp – như Nhà Trắng ở Washington chẳng hạn.

Xây dựng cho quần chúng: Các đền thờ Hy Lạp Cổ Đại

Người Hy Lạp cổ đại yêu thích việc xây dựng – và đặc biệt xây dựng các đền thờ. Hội đồng nhà nước thường chi phí cho những công trình được trang hoàng đặc sắc này, thường được sử dụng cho những hoạt động chính trị. Người Hy Lạp có khuynh hướng xây dựng những tư gia nhỏ hơn như nhà ở hoặc cửa hiệu bằng bất cứ vật liệu sẵn có và không theo một thiết kế đặc biệt nào.

Đánh giá vai trò của đền thờ

Đền thờ là một bộ phận trọng yếu của kinh đô và thành phố. Mục đích chính của đền thờ là vinh danh thần linh dâng cúng đền thờ ấy, như Zeus, Poseidon, hoặc Apollo. Mỗi đền thờ bình thường chứa một bức tượng thờ lớn của vị thần bên trong phòng trung tâm, hoặc cella. Bức tượng lớn hơn người thật rất nhiều và có thể cao đến 10 hay 15 mét. Đền thờ được xem là nơi cư ngụ của vị thần. Khi bạn bước vào đền thờ, bạn đang đứng trước vị thần. Đó là một phần lý do tại sao người Hy Lạp sử dụng những bức tượng đồ sộ như thế – để tạo ra cảm xúc kính sợ trước thần linh. Các đền thờ mở cửa cho tất cả mọi người và người ta sẽ chạy đến đó ấn nấp trong những thời khắc khủng hoảng. Các lễ hội, lễ hiến tế, và nghi lễ đều được tổ chức ở đền thờ. Đền thờ thường là một bộ phận của một phức hợp tín ngưỡng toàn diện ở bên cạnh các kho tàng, hoặc những tòa nhà nhỏ dùng để chứa quà cúng cho thần linh.

Một ví dụ tốt của phức hợp tín ngưỡng là Acropolis ở Athens, gồm bốn đền thờ khác nhau (dâng cúng nữ thần Athena và Thần Poseidon)  và cũng được sử dụng như một căn cứ của thành phố trong thời buổi nhiễu loạn.

Nhà xây dựng tốc độ

Người Hy Lạp thực sự yêu kính đền thờ của họ. Các học giả hiện đại đã tính tổng cộng số đền thờ được xây dựng trong khoảng 599 và 301 TCN, thời đỉnh cao bùng nổ việc xây dựng đền thờ: Người Hy Lạp sống trong nội địa xây dựng khoảng 53 đền thờ. Trên khắp thế giới Hy Lạp, người Hy Lạp xây dựng 120 đền thờ.

Có lẽ những con số này nghe không có vẻ ấn tượng lắm, nhưng nếu bạn nghĩ về chi phí liên quan, những công cụ xây dựng thô sơ, và nỗ lực to lớn đã bỏ ra, công sức này tương đương với việc xây dựng một Vận động trường Wembley mới hoặc Nhà Vòm Thiên niên kỷ mỗi hai năm một lần.

Mặc dù những chức năng dân sự của đền thờ, mỗi tòa nhà thực sự dành cho việc tôn thờ vị thần cư ngụ trong đền thờ đó. Theo cách nào đó, chỉ phí tốn kém cho việc xây dựng đền thờ là bước đầu của việc dâng cúng thần linh. Tôn giáo Hy Lạp dựa trên cơ sở dâng cúng thần linh và hy vọng mọi điều tốt đẹp sẽ xảy đến cho người cúng.

Trở Lại thời buổi đầu của đền thờ

Kiến trúc Hy Lạp phát triển rất nhiều dọc theo hành trình của lịch sử Hy Lạp. Người Minoan (đã đề cập trong Chương 2) là những nhà xây dựng vĩ đại nhưng họ không có khuynh hướng xây dựng những công trình độc quyền cho mục đích tín ngưỡng. Trong Thời kỳ Tăm tối người Hy Lạp dường như rất ít những công trình đồ sộ. Chỉ đến thế kỷ thứ 7 người Hy Lạp mới bắt đầu những công việc xây dựng qui mô lớn các đền thờ.

Giữa 650 và 500 TCN hình thể cổ điển của đền thờ bắt đầu xuất hiện khi các thị trấn và thành phố trên khắp vùng Địa Trung Hải bắt đầu xây dựng đền thờ dưới phong cách hơi đồng bộ.  Các đền thờ được xây dựng trong thời kỳ này tất cả đều được phân loại là hekatompedon,  có nghĩa ‘100 bộ’. Vì đền thờ là nguồn gốc lớn lao của lòng tự hào, xây dựng điều gì nhỏ hơn được xem là miễn bàn. Các đền thờ đều theo sơ đồ giống nhau hình hộp bên trong một hình hộp, như Hình 18-1.

Đền thờ trong Hình 18-1 là một hình chữ nhật bao quanh bởi các cột tròn đồ sộ. Bên trong hình chữ nhật là một hình chữ nhật khác nhỏ hơn tạo thành phòng trong. Khu vực này gọi là cella và là nơi hoạt động thờ cúng xảy ra. Thường cella có một cổng ngoài dẫn đến nó, như trong Hình 18-1. Chính tại chính diện nằm sâu nhất bên trong là nơi lễ vật được dâng cúng

15

Hình 18-1: Sơ đồ mặt bằng cơ bản của đền thờ với Rear Porch (Cổng sau), Cella, Porch (Cổng), Colonnade (Hàng cột).

Kiểu cơ bản này duy trì ít nhiều không mấy thay đổi trong suốt lịch sử Hy Lạp. Một phần lý do cho sự nhất quán này là vì kỹ thuật xây dựng.

Những thiết kế khác về đền thờ có phát triển và người Hy Lạp đưa vào vật liệu mới, nhưng sơ đồ mặt bằng chữ nhật trong chữ nhật thì là tiêu chuẩn.

Khởi thủy, các đền thờ ắt hẳn được xây cất bằng gỗ, nhưng vào khoảng thế kỷ 6 TCN người Hy Lạp dùng đá, thường nhất là đá cẩm thạch.

Phong cách tiến hóa: Ba kiểu kiến trúc cơ bản

Mặc dù thiết kế của đền thờ Hy Lạp chính quy đến khó tin, vẫn còn chỗ để mở rộng và tinh tế hóa dạng thức cơ bản. Thật ra, bắt kỳ dự án đền thờ lớn nào cũng là dịp để thành phố thi thố sự giàu có và trình độ nghệ thuật. Cách các đền thờ được trang trí và tô điểm dẫn đến sự phát triển của ba phong cách nổi bật, hay còn gọi là kiểu kiến trúc: Doric, Ionic, và Corinthian.

Doric và Ionic có nguồn gốc từ hai vùng chủ yếu của Hy Lạp (xem Chương 3). Doris chủ yếu chỉ phần nội địa Hy Lạp, còn Ionic là vùng Ionia, chỉ bờ biển Tiểu Á. Phong cách Corinthian được gán cho một điêu khắc gia và kiến trúc sư có tênCallimachus hoạt động trong thế kỷ thứ 5 TCN và được cho là xuất thân từ Corinth.

Bảy Kỳ quan Thế giới Cổ Đại

Một số công trình Hy Lạp quá ấn tượng đến nỗi chúng có mặt trong danh sách Bảy Kỳ quan Thế giới! Các tác giả cổ đại khác nhau tạo ra danh sách bảy kỳ quan, bao gồm sử gia Hy Lạp Herodotus. Thật ra, từ mà người Hy Lạp sử dụng để mô tả những công trình tuyệt vời này là thaumatai, có nghĩa là ‘phải đến xem’! Đây là danh sách đầy đủ của Herodotus:

  • Đai Kim tự tháp Giza
  • Vườn treo Babylon
  • Lăng tẩm Maussollos tại Halicarnassus
  • Hải đăng Pharos ở Alexandria
  • Tượng thần Zeus tại Đền thờ Zeus ở Olympia.
  • Đền thờ Artemis tại Ephesus

Như bạn có thể thấy, sau Đại Kim tự tháp và Vườn Treo, năm tiết mục còn lại là của người Hy Lạp. Nhưng vì người Hy Lạp soạn ra danh sách này mà!

Thú vị nhất đối với các sử gia là Đền Thờ Artemis ở thành phố Hy Lạp Ephesus trên bờ biển Tiểu Á. Ngày nay, chỉ có nền và vài cột của công trình này còn sót lại, nhưng đền này được coi là một minh họa tốt nhất thuộc loại của nó.

Những phong cách này phát triển trong thế kỷ thứ 5 và 4 TCN. Chúng không phải là những cách thức xây dựng nghiêm nhặt mà đúng hơn là các phong cách mà các kiến trúc sư đương thời cảm thấy có thể thực nghiệm được.

Như bạn có thể thấy qua ba kiểu cột trụ đền thờ trong Hình 18-2, sự khác biệt giữa Doric, Ionic, và Corinth khá rõ ràng.

16

Hình 18-2:

Kiểu cột Doric, Ionic, và Corinthian

Xây dựng đền thờ

Việc quan trọng nhất về bất kỳ dự án đền thờ mới là chọn địa điểm. Thường thường người Hy Lạp xây dựng một đền thờ mới tại một nơi linh thiêng như một phức hợp tín ngưỡng  (một địa điểm có nhiều đền thờ và trụ sở tín ngưỡng), nhưng nó cũng thường là nơi quang đãng nhất của thành phố.

Đền thờ lớn nhất ở Athens là Điện Parthenon dâng cúng nữ thần Athena và được xây dựng trên địa điểm Acropolis, trên một ngọn đồi đồ sộ chế ngự khung cảnh. Tương tự, người Do Thái xây dựng nhiều đền thờ ở Hy Lạp và Tiểu Á nhìn ra biển và tại những vị trí đẹp và bao quát.

Gánh chịu chi phí

Xây dựng một đền thờ không rẻ chút nào. Chi phí do nhà nước chịu và được yểm trợ bởi các công dân giàu có. Để xây dựng một đền thờ tại Athens cổ đại, bộ phận  ekklesia phải tán thành và chi ngân sách cho dự án trước khi thợ xây dựng bắt tay khởi công. Sau đó  ekklesiathen thành lập ủy ban giám sát dự án và chỉ định kiến trúc sư trưởng.

Để có một ý tưởng về chi phí, hãy xét Parthenon ở Athens. Công trình này tốn 469 ta-lăng bạc, trong khi chi phí đóng  và trang bị một thuyền chiến ba hàng chèo như thuyền chiến trong hạm thuyền Athens chỉ là 1 ta-lăng bạc.

 Chọn lựa một kiến trúc sư

Vai trò của kiến trúc sư cực kỳ quan trọng. Vị trí này chịu trách nhiệm lớn lao, vừa là vai trò của nhà thiết kế, giám sát, và kế toán. Kiến trúc sư không chỉ thiết kế công trình, mà ông còn giám sát việc xây dựng tại công trường, thuê mướn nhân công, mua vật liệu, và đảm bảo mọi việc đều đúng ngân sách.

Nhưng mặc dù trách nhiệm nặng nề, người Hy Lạp vẫn xem kiến trúc sư là một người thợ thủ công hơn là nghệ sĩ.

Làm đẹp thiết kế

Các kiến trúc sư thiết kế các đền thờ dựa theo các tính toán hơn là tạo hình. Chẳng hạn, nếu đền thờ yêu cầu nhiều cột hơn hoặc khoảng trống giữa hai cột lớn hơn, kiến trúc sư đơn giản phải điều chỉnh việc tính toán phù hợp. Một vấn đề chủ yếu khác là entasis, hoặc đường gờ lồi dọc cột,  thể hiện độ sai biệt giữa bề rộng đáy cột và đầu cột. Kiến trúc sư phải tính toán kỹ lưỡng để đảm bảo cột có thể nâng đỡ trọng lượng hàng tấn đá của mái đền. Và nếu kiến trúc sư tính sai, mái sẽ sụp đổ!

Tất nhiên, việc xây dựng không có nhiều rủi ro như thế. Dạng thiết kế khá chuẩn mực có nghĩa các kiến trúc sư làm việc bên trong những kim chỉ nam chuẩn mực đã có sẵn.

Thuê mướn nhân công

Các kiến trúc sư quản lý hàng trăm nhân công khác nhau trong một dự án xây đền. Họ thuê mướn những thợ thủ công và thợ mỹ  nghệ lành nghề, cùng với các thợ công nhật và tù binh bị cưỡng bách lao động.

Khi một dự án lớn đang khai triển nhiều nhân công từ xa đến xin việc vì họ biết công việc sẽ kéo dài nhiều năm. Điện Parthenon được khởi công 447 TCN, và mất 15 năm mới hoàn thành.

Động vật được sử dụng để chuyên chở vật liệu và công cụ. Chẳng hạn, khi xây dựng Parthenon phải cần khoảng 400 bò để chuyển chở vật liệu.

Làm nó xảy ra: Công cụ và kỹ thuật xây dựng

Các công cụ và kỹ thuật xây dựng thời Hy Lạp cổ đại khá cơ bản – vậy mà họ có thể xoay sở để xây cất được những tòa nhà lộng lẫy một cách thật ấn tượng! Một vấn đề mà mọi người xây dựng Hy Lạp cổ đại phải giải quyết là thiếu bê tông (bê tông chỉ được khám phá vào đầu thời kỳ La Mã, vào thế kỷ 1 TCN). Đó là lý do tại sao các kiến trúc sư Hy Lạp quá chăm chút về cột; những cấu trúc này giúp nâng đỡ sức nặng khủng khiếp của mái đền.

Chỉ việc tập trung các vật liệu xây dựng đã là khó khăn. Mỗi đền thờ cần hàng ngàn mét khối đá đã cắt và, vì việc vận chuyển một khối lượng lớn là khó khăn, mỏ đá phải ở gần bên.

Người Hy Lạp thích sử dụng đá, nhưng điều này vô cùng tốn kém. Thường thì họ dùng đá bình thường và rồi bao phủ chúng bằng thạch cao có màu để trông giống đá cẩm thạch.

Mỗi khối đá phải được đục sẵn (nghĩa là, được tạo hình đúng mục đích bằng cách đẽo gọt và đục) tại chỗ và rồi chèn vào vị trí. Thay vì sử dụng một khối đá ống dài để làm cột, cột được tạo bởi nhiều khối lắp vào nhau bằng những chốt phủ chì để trét kín các khe hở.

Di chuyển đá rất khó khăn và nguy hiểm. Phần lớn, một cần cẩu dùng sức người  với hệ thống ròng rọc đơn giản và nhiều nhân lực mới nâng cao được khối đá và chuyển vào vị trí thích hợp, và rồi mới bẩy vào đúng vị trí.

Truyền thông điệp qua việc trang trí

Sau khi cấu trúc đền đã dựng xong, một phần thông điệp của đền thờ đã được truyền tải: Kích cỡ và vị trí ngoạn mục của đền ắt hẳn gây ấn tượng cho nhiều người. Tuy nhiên người Hy Lạp còn muốn chuyển tải nhiều hơn qua hình trang trí của đền.

Như mọi thứ khác liên hệ đến kiến trúc và xây dựng, việc trang trí cũng tuân theo những qui tắc khá đồng bộ. Diện tích trang trí chính là phía trên đầu cột trong một chuỗi những bộ phận gọi là mũ cột (xem lại Hình 18-2).

Vùng trang trí chính là những vùng sau:

  • Frieze (Trụ ngạch): Trong kiểu Ionic trụ ngạch thường trình bày một hình chạm khắc nổi dài mô tả một chủ đề nhất quán như đám rước hoặc cảnh trận chiến liên tục.
  • Metope (Bảng trang trí): Trong kiểu Doric không gian này được chiếm liên tiếp bởi những pa-nô ba rãnh và pa-nô trống trên đó có thể chạm nổi hình ảnh được gọi là Thường ở hai đầu của đền thờ được thể hiện hai chủ đề khác nhau.
  • Pediment (Trán tường): Trán tường thường được sử dụng làm không gian cho những hình điêu khắc cỡ lớn, thường các vị thần lớn hơn người thực.

Như các tượng điêu khắc tôi bàn trong Chương 17, đền thờ được tô màu rực rỡ – thậm chí chúng được xây bằng đá cẩm thạch. Nền của hình chạm khắc ở metope và pediment đều được sơn màu, cũng như các pa-nô ba rãnh và một số chi tiết trên cột. Những màu sắc táo bạo (như đỏ, vàng, hoàng kim và xanh lam sáng) ắt hẳn tương phản đẹp đẽ với màu trắng toát của phần đá còn lại.

Parthenon: đài tuyên truyền 230 bộ!

Trang trí của Điện Parthenon là một mình họa tuyệt vời của trình độ kiến trúc,  xây dựng, và trang trí của Hy Lạp cổ đại. Người Hy Lạp xây dựng đền trong 15 năm trong  thời kỳ đỉnh cao của Athens, ngay trước bắt đầu Cuộc Chiến Peloponnesia. Họ xây dựng Parthenon để thay thế một ngôi đền đã bị người Ba Tư đốt rụi vào thế kỷ thứ 5 TCN. Ngôi đến mới vinh danh sự ưu việt của đế chế Athens và vai trò lãnh đạo của nó trong việc đánh bại người Ba Tư tại Marathon và nơi khác. Đó là một chủ đề tuyệt hảo để trang trí đền.

Mọi thứ về công trình tuyệt vời này đều khớp với mục đích coi đền thờ là nơi để thờ phụng và cũng là nơi để thi thố sự giàu có và ưu việt của Athens.

Đền thờ được dâng cúng Athena, nữ thần bảo hộ cho Athens, và một bức tượng đồ sộ của bà chế ngự phần bên trong cella của đền .

Vì đền theo kiểu Doric, nó không có trụ ngạch ở ngoài, nhưng bên trong đền có một trụ ngạch chạy quanh đền mô tả lễ hội Panathena tưng bừng tôn vinh Athena bốn năm một lần.

Những hình điêu khắc ở trán tường cũng vinh danh Athena. Tại một đầu của đền mô tả cảnh tượng tất cả vị thần ở Olympia đang nghỉ ngơi, còn đầu kia minh họa câu chuyện Athena đánh nhau với Poseidon để giành quyền bảo hộ Athens.

Metope thể hiện những cảnh khác nhau trong đó người Hy Lạp đánh nhau với các kẻ thù ngoại bang như bọn Amazon và Lapith. Những hình ảnh này mình họa không mấy tế nhị sư ưu việt của Hy Lạp đối với ngoại bang.

Ngày nay bạn có thể trông thấy Parthenon trong tình trạng khá tốt. Những phế tích của đền vẫn ở đó tại Athens mặc dù nhiều tượng trang trí đã được mang đi gìn giữ tại Bảo tàng Acropolis ở Athens và Bảo tàng British ở London.

Xây dựng những công trình khác

Khi các thành phố Hy Lạp phát triển, các loại công trình công cộng cũng được thiết kế và xây dựng. Mặc dù đền thờ tiếp tục thống trị, người Hy Lạp cũng xây dựng những công trình cộng đồng.

Ngày nay khi bạn nhìn vào các phế tích Hy Lạp, bạn có thể gặp khó khăn khi phân biệt đền thờ và các công trình khác. Sự tương đồng là bởi vì các kiến trúc sư sử dụng nhiều kỹ thuật xây dựng đền để xây dựng những tòa nhà khác, trong đó có agora, stoa, vận động trường, và hí trường.

Agoras (Quảng trường)

Agora là tâm điểm của thành phố Hy Lạp. Đó là nơi các bộ phận công dân tụ họp để trao đổi, mua bán, và đôi khi để phản đối hoặc bỏ phiếu.

Thực chất, nó là một không gian rộng rãi lộ thiên, nhưng theo thời gian nhiều tòa nhà được cất thêm vào vì các hoạt động cần có chỗ để quản trị và điều hành. Vì thế mặc dù ban đầu là một không gian trống trải rộng mở, dần dần agora có nghĩa là một nhóm những tòa nhà.

Stoas

Khi agora phát triển thành một tổ hợp các tòa nhà, các phần tử kiến trúc bao quanh nó, stoa, giống như một hệ thống cột, như một đường phố có cột và mái che.

Theo thời gian, những stoa này trở thành các cấu trúc phức tạp và được trang trí theo cách riêng của chúng. Dần dần, chúng trở thành một loại khu vực, với các buồng làm cửa hàng và văn phòng cũng như hành lang nổi liền agora với những khu vực khác của thành phố.

Một số agora và stoa còn tồn tại một phần quanh vùng Địa Trung Hải. Thị trấn thờ cúng cổ đại Delphi chứa một số di tích còn tốt.

Vận động trường và hí trường

Những công trình công cộng quan trọng khác người Hy Lạp sử dụng để giải trí. Các cuộc tranh đua điền kinh và biểu diễn kịch nghệ xảy ra lộ thiên, vì thế các tòa nhà xây dựng không cần mái che. Chứng cứ  không đòi hỏi nhiều thiết kế, chỉ cần chọn xây dựng đúng địa điểm. Các công trình này thường được cắt vào sườn đồi với hệ thống vang âm là mối quan tâm lớn nhất đối với hí trường.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s