Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 6

  PHẦN 5 : THẬP TỰ CHINH

11

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

 

THẬP TỰ CHINH

Hãy lên đường đến Mộ Thánh; giật lại mảnh đất từ tay chủng tộc độc ác và xáp nhập vào chúng ta.

-Giáo hoàng Urban II,  Phát biểu tại Clermont

Đối với chúng tôi Jerusalem là một đối tượng để tôn thờ khiến chúng tôi không thể từ bỏ cho dù chỉ còn lại một người chúng tôi.

-Richard Tim Sư Tử, Thư cho Saladin

Jerusalem là của chúng tôi cũng nhiều như của ngài – thật ra đối với chúng tôi nó còn linh thiêng hơn.

-Saladin, Thư cho Richard Tim Sư Tử

Chúng ta có di sản nào trừ những điện thờ của Thượng Đế đâu?

Nên làm sao chúng ta dễ quên Núi Đền nhiệm mầu?

Chúng ta đều có dù ở Đông hay ở Tây

Một nơi của hi vọng, của niềm tin tràn đầy

Một vùng đất với bao nhiêu cánh cổng

Mở ra cõi thiên đường mở rộng

-Judah Halevi

Khi tôi trở lại chủ đề của mình và hỏi

Khi nào từ chốn lưu đày Tây Ban Nha đến Zion tôi sẽ tới

Từ vực thẳm tâm hồn tôi bay vút đến bầu trời

Ôi biết bao hân hoan ngày nhìn thấy ngọn đồi của Chúa

 Ngày mà tôi mong đợi từ lúc mới thành người

-Judah al-Harizi

CHƯƠNG 21: TRẬN TÀN SÁT 1099

DUKE GODFREY: CUỘC VÂY HÃM

Chuyện xảy ra ngay giữa mùa hè năm 1099 trong vùng đồi Judaea khô cằn; Thành phố Thánh được phòng vệ cẩn mật bởi binh lính Ai Cập được dân quân Do Thái và Hồi ở Jerusalem hậu thuẫn. Họ dự trữ đầy ắp lương thực và tích trữ nước đầy tràn, trong khi các giếng nước ở vùng quê nóng cháy đã bị đánh thuốc độc. Các người Cơ đốc ở Jerusalem bị trục xuất. Các cư dân, nhiều nhất là 30,000, có thể yên tâm vì vị tể tướng Ai Cập đang hành quân tiến ra bắc để giải cứu họ, và họ đã trang bị đầy đủ: thậm chí họ còn sở hữu vũ khí phóng hỏa bí mật, Lửa Hy Lạp. * Phía sau tường thành đồ sộ, họ ắt hẳn khinh nhờn kẻ tấn công.

* 70,000 là con số truyền thuyết đối với dân số Jerusalem nhưng đây rõ ràng là phóng đại. Vào thế kỷ 11, Constantinople chỉ có 600,000 dân cư; Baghdad và Cairo, những thành phố lớn của Hồi giáo: 400,000 – 500,000; La Mã, Venice và Florence 30,000 – 40,000; Paris và London 20,000. Về phần ‘Lửa Trời’, một chế biến trên nền tảng dầu lửa được đốt qua ống phun, đã từng giải cứu Constantinople. Giờ người Hồi, chứ không phải người Cơ đốc, sử dụng nó.

 Quân số Frank quá nhỏ, chỉ có 1,200 hiệp sĩ và 12,000 lính, để vây hãm tường thành. Trong lối đánh trực diện, quân Ả Rập và kỵ binh Thổ áo giáp nhẹ không thể địch nổi sức tấn công đáng sợ của hiệp sĩ người Frank, tạo thành một quả đấm thép như sấm sét cưỡi trên lưng những thần chiến mã đồ sộ. Mỗi hiệp sĩ đều đội mũ sắt, mặc áo giáp sắt phủ lên một áo giáp dài đính khen sắt, và cuối cùng là lớp áo lót đệm bông, trang bị một cây thương, kiếm to bản, rựa và khiên.

Tuy nhiên những chiến mã Tây phương này đã chết từ lâu hoặc bị đoàn quân đói khát ăn thịt. Trong những hẻm núi phồng rộp quanh Jerusalem, những mũi tấn công đều không thể triển khai, ngựa chiến cũng vô dụng và áo giáp thì quá nóng: lực lượng quân Frank kiệt sức phải đánh nhau trên bộ, trong khi các thủ lĩnh của họ hiềm khích liên miên. Không có vị chỉ huy tối cao. Nổi bật hơn hết và cũng giàu hơn hết là Raymond, Bá tước vùng Toulouse. Một thủ lĩnh gan góc nhưng không tạo được hứng khởi, nổi bật vì tình lì lợm nhưng thiếu tế nhị, thoạt đầu Raymond hạ trại ở phía tây đối diện Thành lũy nhưng sau ít ngày chuyển về nam vây hãm Cổng Zion.

Điểm yếu của Jerusalem luôn là ở phía bắc: Công tước Robert xứ Flanders trẻ tuổi, có năng lực, con trai của một khách hành hương Jerusalem hạ trại ở chỗ giờ đây là Cổng Damascus; Công tước Robert xứ Normandy (con trai của William the Conqueror), dũng cảm nhưng bất tài, có biệt danh Curthose (ống chân ngắn), án ngữ Cổng Herod. Nhưng tinh thần tiến công là Godfrey xứ Bouillon, Công tước vạm vỡ, tóc vàng xứ  Lower Lorraine, 39 tuổi, ‘mẫu người lý tưởng của một hiệp sĩ phương bắc’, được ca tụng vì lòng mộ đạo và sự thuần khiết (ông không hề kết hôn). Ông chiếm vị trí chung quanh khu vực ngày nay là Cổng Jaffa. Trong khi đó Tancred de Hauteville 25 tuổi, hồ hỡi chinh phục một lãnh địa cho riêng mình, phi ngựa tách khỏi đạo quân để chiếm Bethlehem. Khi ông trở lại, ông sát cánh với lực lượng của Godfrey tại góc tây-bắc của thành phố. 

Quân Frank đã mất vài quân đoàn và vượt hàng ngàn dặm băng qua châu Âu và châu Á để đến được Thành phố Thánh. Mọi người đều nhận thức được rằng đây sẽ là tuyệt đỉnh hoàn hảo của Thập Tự Chinh Thứ 1.

GIÁO HOÀNG URBAN II: ĐÓ LÀ Ý CHÚA

Thập Tự Chinh là sáng kiến của một người. Vào ngày 27/11/1095, Giáo hoàng Urban II đã phát biểu trước tập thể các ông lớn và dân chúng tại Clermont đòi chinh phục Jerusalem và giải phóng Nhà Thờ Mộ Thánh.

Urban coi sứ mạng một đời của mình là phục hồi quyền lực và tiếng tăm của Giáo hội Thiên chúa. Ông đề ra một học thuyết mới về thánh chiến nhằm tái khởi động giáo triều Cơ đốc đứng đầu là giáo hoàng, minh chứng việc tẩy trừ bọn ngoại giáo là hành động được cứu rỗi. Đây là một động thái chưa từng có tiền lệ tạo thành một phiên bản Cơ đốc của jihad (thánh chiến Hồi giáo), ăn khớp với lòng tôn kính phổ biến đối với Jerusalem. Trong một thời kỳ của nhiệt tình tôn giáo, một thời đại của những dấu hiệu linh thiêng, Jerusalem là thành phố của Christ, được  xem như một điện thờ tối cao và một vương quốc thiên đường, thân thiết với mọi tin đồ Cơ đốc, được nêu ra trong các bài giảng, trong những câu chuyện hành hương, trong các vở kịch, tranh vẽ và thánh tích về khổ nạn của Jesus. Nhưng Urban ra sức đốt nóng nổi lo âu ngày càng tăng về sự an toàn của Mộ Thánh, thuật lại việc tàn sát người hành hương và hành động tàn bạo của quân Turkoman (chỉ chung những người du mục Hồi giáo: ND).

Đây là thời điểm chín mùi cho hàng ngàn người, thượng hay hạ lưu, đáp lại lời kêu gọi của Urban: ‘bạo lực thống trị trong các quốc gia, trò gian lận, lừa đảo và tranh chấp lấn át mọi thứ,’ sử gia Jerusalem William xứ Tyre nhận xét. ‘Mọi đức hạnh đã bỏ đi, mọi hình thức thông dâm được tiến hành công khai, thói xa xỉ, say sưa và tật đỏ đen.’ Thập Tự Chinh mang đến cơ hội phiêu lưu, loại ra hàng ngàn hiệp sĩ và bọn lục lâm gây rối, và bỏ nhà ra đi. Nhưng ý kiến ngày nay, được xiển dương trong các bộ phim Hollywood và trong thời gian sau thảm họa của chiến tranh Iraq 2003, cho rằng thập tự chinh chỉ là cơ hội để làm giàu có thêm phần chia lời bạo dâm, là sai lầm. Chỉ có một nhóm hoàng thân tạo ra những lãnh địa mới và một ít Thập Tự quân lập nên sự nghiệp, trong khi chi phí bỏ ra là gánh nặng và nhiều cuộc đời và sản nghiệp bị tiêu vong trong hoạt động hào hiệp và liều lĩnh nhưng mộ đạo này. Một tinh thần khoáng đạt mà người thời nay rất khó nắm bắt: người Cơ đốc được ban cho cơ hội để tìm kiếm sự tha thứ cho mọi tội lỗi của mình. Tóm lại, những chiến binh hành hương này là những tín hữu tràn đầy nhiệt huyết mong tìm sự cứu rỗi trên chiến trường Jerusalem.

Đám đông tại Clermont đáp lại Giáo hoàng: ‘Deus le volt! Đó là ý Chúa!’ Raymond xứ Toulouse là một trong những người đầu tiên gánh vác sứ mạng. 80,000 người, một số thuộc lực lượng có kỷ luật do các ông hoàng dẫn đầu, một số là băng đảng cầm đầu là những kẻ phiêu lưu, và còn lại là tập thể các nông dân mộ đạo dưới các ẩn sĩ dẫn dắt giương cao Thập giá. Khi làn sóng đầu tiên quét qua châu Âu hướng về Jerusalem, họ cưỡng bách cải đạo hoặc tàn sát hàng ngàn người Do Thái để trả thù tội giết Christ.

Hoàng đế Byzantine Alexios, nửa phần khiếp sợ bọn hung hãn Latinh này nghênh đón họ  – và vội vàng xua họ về hướng Jerusalem. Vừa đặt chân đến Antioch, đám nông dân Âu châu bị người Thổ giết hại, nhưng những hiệp sĩ có tổ chức và thiện chiến của lực lượng chính qui đánh đuổi quân Seljuk. Cuộc viễn chinh là khúc khải hoàn của niềm tin vượt qua trải nghiệm và lý lẽ: càng đến gần Miền Đất Thánh nhiệt huyết của họ càng bùng lên, chiến dịch quân sự như được dẫn dắt và cổ vũ bởi những thấu thị thiêng liêng, những chuyến viếng thăm của thiên thần và những phát hiện các dấu thánh có tầm quan trọng không kém những chiến thuật quân sự. Nhưng may mắn là người châu Âu đang tấn công trên một vùng đất đã chia rẽ một cách chết người giữa các kha-lip cấu xé nhau, các sultan (vua Hồi) và amir (tổng tư lệnh Hồi) Thổ và Ả Rập, vốn đặt sự tranh chấp của riêng mình lên trên khái niệm về tình đoàn kết Hồi giáo.

Antioch thất thủ là thắng lợi thực sự đầu tiên của các Thập Tự quân, nhưng rồi sau đó họ bị vây hãm trong thành. Đối mặt với chết đói và bế tắc, tưởng rằng Thập Tự Chinh sẽ kết thúc ở đó. Nhưng vào lúc cao điểm khủng hoảng ở Antioch, Peter Bartholomew, một thủ hạ của Bá tước Raymond, nằm mộng thấy Cây Giáo Thánh nằm bên dưới một nhà thờ: họ đào xuống và quả nhiên tìm được Cây Giáo. Việc phát hiện này vực dậy sĩ khí của binh lính. Khi Bartholomew bị tố cáo là lừa đảo, ông phải chịu ngọn lửa thử thách. Ông sống sót khi bước qua bãi sắt nung đỏ dài chín bộ và tuyên bố không bị thương tật. Nhưng ông chết 12 ngày sau đó.

Thập Tự quân sống sót sau trận Antioch và, khi họ hành quân, các amir Thổ và Fatimid ở Tripoli, Caesarea và Acre thương thảo với họ. Người Fatimid từ bỏ Jaffa, và Thập Tự quân đi sâu vào nội địa tiến về Jerusalem. Khi các đạo quân hạ trại chung quanh tường thành, một ẩn sĩ trên Núi Olives, được cổ vũ bởi một con thấu thị, bảo với các chỉ huy Thập Tự Chinh hãy tấn công ngay lập tức.

 Vào ngày 13/6, họ thử tràn vào tường thành nhưng bị đẩy lùi dễ dàng, chịu những tổn thất nặng nề. Các ông hoàng nhận ra rằng thắng lợi đòi hỏi phải lên kế hoạch thận trọng hơn, nhiều thang bắc, máy bắn đá và máy vây hãm nhiều hơn, nhưng không có đủ gỗ để xây dựng. Họ gặp may. Vào ngày 17, các thủy thủ xứ Geneva neo đậu ở Jaffa kéo gỗ lấy từ các con thuyền đã tháo rời về Jerusalem cho họ đóng những máy vây hãm có bánh xe được trang bị máy bắn đá.

Các ông hoàng đã bắt đầu cãi cọ về việc chia chác chiến lợi phẩm. Hai hoàng thân uy tín nhất đã tóm lấy những lãnh thổ của mình: Bohemond xứ Taranto đã được phép nắm Antioch trong khi người em năng động Baldwin của Godfrey đã chiếm Edessa, cách xa đó trên sông Euphrates. Giờ ngài Tancred  tham lam đòi Bethlehem cho mình, nhưng Giáo hội đã yêu sách địa điểm nơi Chúa Giáng Sinh. Cái nóng không thể chịu được, gió sa mạc thổi, nước khan hiếm, quân số quá ít, tinh thần xuống thấp, và quân Ai Cập đang tiến gần. Không thể mất thời gian.

Một thông điệp thần thánh đã giải cứu. Vào ngày 6/7, một giáo sĩ thông báo rằng mình đã (không phải là lần đầu tiên) được Adhemar xứ Le Puy đến thăm viếng. Adhemar là vị giám mục đáng kính đã chết ở Antioch, nhưng linh hồn ông giờ đang thúc giục người Frank tổ chức một đám rước quanh tường thành. Quân đội  ăn kiêng trong ba ngày rồi vào ngày 8/7, được các giáo sĩ mang thánh tích dẫn đầu, họ đi chân trần  tuần hành quanh tường thành Jerusalem, ‘với kèn, cờ xí và vũ khí’, trong khi người Jerusalem chế giễu họ từ trên bệ cao trên tường thành, buông lời sỉ nhục hình Jesus bị đóng đinh.  Đi hết một vòng, họ tụ họp trên Núi Olives để nghe các tuyên úy giảng đạo và làm chứng cho việc hòa giải giữa các thủ lĩnh của mình. Thang leo, máy vây hãm, máy bắn đá, đá phóng, tên, bó gỗ đệm – mọi thứ phải sẵn sàng, và mọi người quần quật suốt ngày đêm. Đàn bà và người già tiếp tay may những tấm da thú vào máy vây hãm. Sự lựa chọn thật là trần trụi: chết hay thắng lợi trên chiến địa của Thành phố Thánh.

TANCRED: LÒ SAT SINH TRÊN NÚI ĐỀN

Đêm 13/7, Thập Tự quân đã sẵn sàng. Các giáo sĩ lại giảng để tiêm vào người họ một cơn sốt quyết tâm hung tàn, phô trương lòng mộ đạo của mình. Những máy bắn đá phóng những quả cầu đá vào tường thành. Từ trên cao, quân phòng thủ đã treo những túi bông và rơm để làm giảm sức công phá cho đến khi thành lũy trông giống một sợi dây phơi đồ khổng lồ. Người Hồi cũng đáp trả bằng những máy bắn đá của họ. Khi quân Cơ đốc bắt được một tên do thám trong hàng ngũ họ, họ bắn y đang còn sống bay quá tường thành bằng máy bắn đá.

Thập Tự quân quần quật suốt đêm để đắp qua hào bằng những bó gỗ đệm. Ba máy vây hãm được mang qua hào từng bộ phận, rồi ráp lại thành một bộ máy kềnh càng, một cho Raymond trên Núi Zion, hai máy kia đặt ở phía bắc. Raymond là người đầu tiên đưa được máy vây hãm dựa vào tường thành, nhưng thống đốc Ai Cập, chỉ huy bộ phận phía nam, thúc đẩy sức kháng cự quyết liệt. Gần như đến phút cuối cùng, Godfrey xứ Bouillon mới tìm ra được điểm yếu trong tuyển bố trí phòng ngự (phía đông Cổng Herod ngày nay, đối diện với Bảo Tàng Viện Rockefeller). Các Công tước xứ Normandy và Flanders, cùng với Tancred, nhanh chóng điều quân đến góc đông bắc. Chính Godfrey leo lên tháp vây hãm khi nó được đẩy về phía trước đến một địa điểm lý tưởng: ông xuất hiện ở đỉnh tháp, tay nắm chặt cung nỏ trong khi cung thủ bắn tên như mưa rào, và máy bắn đá phóng đá lên tường thành yểm trợ.

Khi mặt trời lên cao, ông hoàng sử dụng gương phản chiếu ánh sáng lên Núi Olives để phối hợp các hoạt động của họ. Đồng thời Raymond tấn công xuống phía nam và quân Norman lên phía bắc. Vào bình minh thứ sáu ngày 15, họ lại mở cuộc tấn công mới. Godfrey trèo lên tháp gỗ rung rinh, bắn tên nỏ qua tường thành trong khi quân phòng vệ khai hỏa Đại Hoả (Lửa Hy Lạp) – nhưng không đủ để ngăn chặn quân Frank.  

Vào giữa trưa, bộ máy của Godfrey cuối cùng đến sát được tường thành. Quân Frank ném ván bắc qua và hai anh em trèo được vào thành phố, với Godfrey theo sau. Họ tuyên bố là đã trông thấy Giám mục Adhemar quá cố đang chiến đấu cùng với họ: ‘Nhiều người làm chứng ông là người đầu tiên leo qua  tường thành!’ Giám mục quá cố ra lệnh họ mở Cổng Cột (Cổng Damascus). Tancred và binh lính Norman ào ạt xông vào các đường phố nhỏ hẹp. Ở phía nam, trên Núi Zion, Bá tước xứ Toulouse nghe có tiếng hoan hô. ‘Tại sao chúng bây rảnh vậy hả,’ Raymond quở mắng bình sĩ. ‘Ngài nhìn kìa, quân ta đã đột nhập vào thành phố!’ Hừng chí, các chiến binh của Raymond đột phá vào Jerusalem và truy đuổi viên thống đốc và quân sĩ đồn trú đến tận Thành lũy. Thống đốc thỏa thuận đầu hàng Raymond với điều kiện quân đồn trú được toàn mạng. Dân chúng và binh lính chạy trốn đến Núi Đền, Tancred và binh sĩ đuổi theo. Trong cơn giao tranh, người Jerusalem đóng sầm các cổng của Núi Đền và kháng cự lại, nhưng các chiến binh của Tancred đập vỡ xông vào nơi thiêng liêng, chen chúc dân chúng đang tuyệt vọng.

Cuộc chiến đấu thật ác liệt kéo dài hàng giờ liền; quân Frank điên tiết và giết mọi người họ đụng đầu trên đường phố và ngõ hẹp. Họ không chỉ chém đầu mà còn cắt cụt chân tay, lấy làm vinh quang trong việc thanh tẩy bằng suối máu phun ra của bọn ngoại giáo. Mặc dù thực thi một trận tàn sát trong thành phố không phải là không có tiền lệ nhưng việc kẻ xuống tay ghi chép hành động này với sự phô trương đầy tự hào của  lòng sùng đạo quả là không có tiền lệ. ‘Những cảnh tượng tuyệt vời đã được chiêm ngưỡng,’  nhân chứng Raymond xứ Aguilers, tuyên úy của Bá tước xứ Toulouse, sôi nổi: ‘Quân ta cắt phăng thủ cấp của kẻ thù, hoặc bắn tên cho chúng rơi xuống tháp canh, hoặc tra tấn cho chúng chết lâu hơn bằng cách ném chúng vào lửa. Hàng đống thủ cấp, tay chân vương vãi khắp đường phố. Phải luồn lách mới đi qua được các xác chết của người và ngựa nằm ngổn ngang.’

Hài nhi bị giật khỏi vòng tay mẹ và đập đầu vào tường thành. Khi mức độ dã man leo thang, ‘người Saracen, Ả Rập và Ethiopia’ – nghĩa là những binh lính Sudan da đen của quân đội Fatimid – lên trú ẩn trên các mái của Vòm Đá và al-Aqsa. Khi tiến về Vòm Đá, các hiệp sĩ chém chặt mở con đường máu băng qua đám đông chen chúc, giết và thái nhỏ da thịt con người cho đến khi ‘trong Đền Thờ Solomon (theo cách Thập Tự quân gọi al-Aqsa), họ cưỡi ngựa trong bể máu bắn tung tóe đến dây cương. Đúng ra đó là sự phán xét tuyệt vời và công chính của Chúa Trời khiến nơi này phải chứa đầy máu của kẻ bất tín.’

10,000 người, kể cả những tăng lữ Hồi và những thầy tu khổ hạnh Sufi, đều bị giết trên Núi Đền, bao gồm 3,000 người ken cứng trong al-Aqsa. ‘Các đấu sĩ của chúng ta’, nhà biên niên sử Fulcher xứ Chartres viết, ‘bắt đầu bắn tên xuống bọn Hồi đang nấp trên mái al-Aqsa như mưa. Tôi phải kể thêm gì bây giờ? Không ai còn sống, không tha phụ nữ và con trẻ nào.’ Riêng Tancred gửi cờ hiệu của mình cho 300 người còn lại trên mái al-Aqsa, một vật bảo đảm nhằm bảo vệ họ. Ông ngưng chém giết, bắt một số tù binh đáng giá và được chỉ chỗ cất kho báu trong Núi Đền. Rồi ông lấy cướp những đèn treo lớn bằng vàng treo trong điện thờ tại đó. Người Do Thái tìm nơi trú ẩn trong các giáo đường của họ, nhưng bọn Thập Tự quân phóng hoả đốt trụi. Người Do Thái bị thiêu sống, gần như là vật hiến tế tột cùng nhân danh đấng Christ.

Godfrey xứ Bouillon thu lại kiếm và cùng với một số nhỏ cận vệ đi quanh thành phố và cầu nguyện, trước khi tìm đường đến Mộ Thánh.

Sáng hôm sau, trước cơn thịnh nộ của Tancred, binh sĩ của Raymond leo lên mái đền al-Aqsa, làm thất kinh dân chúng Hồi đang túm tụm tại đó, và chặt đầu tất cả đàn ông và đàn bà trong cơn say máu khác (dù được cờ hiệu của Tancred). Một vài người Hồi liều chết  nhảy khỏi mái đền xuống đất. Một nữ học giả đáng kính từ xứ Shiraz ở Ba Tư ẩn nấp cùng với một số phụ nữ trong Vòm Dây Xích – nhưng rồi cũng bị sát hại. Một khoái cảm ma quái bùng lên khi được phanh thây nạn nhân, một hành xử gần như một việc làm thánh thiện. ‘Khắp nơi những mảnh thi thể người vương vãi, những xác chết không đầu và tứ chi bị cắt rời rải rác khắp mọi nơi.’ Có điều gì đó càng khiếp sợ hơn trong cảnh tượng các Thập Tự quân mình bê bết máu và đôi mắt điên dại, ‘máu nhểu giọt từ đầu đến chân, một hình dáng gớm ghiếc gieo khủng khiếp với mọi người gặp mặt họ.’ Họ xục xạo các đường phố có cửa hàng tạp hóa, lôi ra nhiều nạn nhân hơn để ‘làm thịt như những con cừu’.

Mỗi Thập Tự quân được hứa hẹn sở hữu bất kỳ ngôi nhà nào có đánh dấu bởi ‘tấm khiên và vũ khí của y’: ‘do vậy bọn chiến binhNữ hành hương lục soát thành phố thận trọng nhất và giết bừa bãi dân chúng’, khử ‘các bà vợ, trẻ em, toàn bộ gia quyến,’ nhiều người trong số đó ‘bị phóng thẳng xuống mặt đất’ qua những khung cửa sổ trên cao.*

* Theo qui luật chiến tranh, thường sau một cuộc vây hãm và phá thành nghiệt ngã, bên tấn công sẽ không chừa một  khu vực nào an lành, nhưng các nhân chứng còn đi xa hơn khi quảng bá vụ làm thịt của mình và tuyên bố không có ai được chừa ra. Một số mô tả của họ lấy cảm hứng trực tiếp từ Sách Khải Huyền. Họ không nói rõ con số. Sau này, các sử gia Hồi cho rằng 700,000 hoặc thậm chí 100,000 người bị giết, nhưng các nghiên cứu mới nhất cho rằng trận tàn sát có qui mô nhỏ hơn, có lẽ chỉ khoảng 10,000, nhỏ đáng kể so với các vụ tàn sát trong tương lai của người Hồi tại Acre và Edessa. Người đương đại tín cậy nhất, Ibn al-Arabi, người gần đây sống ở Jerusalem và ở Ai Cập năm 1099, thuật rằng có 3,000 người bị giết ở al-Aqsa. Cũng không phải mọi người Do Thái đều bị tàn sát. Chắc chắn có người Do Thái và Hồi được tha mạng (để dọn dẹp thành phố, chẳng hạn). Thật bất thường khi các biên niên sử Thập Tự quân, vì mục tiêu tuyên truyền và tôn giáo, phóng đại quá đáng qui mô tội ác của mình. Thánh chiến là như thế.

Vào ngày 17, khách hành hương (bọn đồ tể này tự xưng như thế) cuối cùng cũng chán chê việc xả thịt và ‘nghỉ ngơi lấy sức và ăn uống thỏa thuê’. Các hoàng thân và giáo sĩ đi đến Mộ Thánh tại đó họ hát vang ngợi ca Chúa Jesus, hân hoan vỗ tay và những giọt nước mắt vui sướng làm ướt đẫm áng thờ, trước khi đi diễu hành qua đường phố đến Đền Thờ Chúa Trời (Vòm Đá) và Đền Thờ Solomon. Các đường phố này vương vãi những mảnh thi thể, phân hủy dưới nắng hè. Các hoàng thân ra lệnh cho những người Do Thái và Hồi còn sống sót dọn sạch những  mảnh thi thể và chất đống rồi thiêu đốt, sau đó chính họ cũng bị làm thịt và đi theo anh em mình vào ngọn lửa. Những Thập Tự quân chết được chôn cất trong Nghĩa trang Sư tử tại Mamilla hoặc trong vùng đất thánh ngay bên ngoài Cổng Vàng, lúc đó đã là nghĩa trang của người Hồi, để sẵn sàng đứng dậy vào Ngày Cuối Cùng.

Jerusalem đầy những kho báu, ‘đá quí, quần áo, vàng bạc’ và những tù binh có giá cao mà người Frank tổ chức bán đấu giá như nô lệ trong hai ngày. Một số các người Hồi đáng kính được cứu sống nhờ tiền chuộc: 1,000 dinar được rao giá cho học giả Sheikh Abd al-Salam al-Ansari, nhưng khi không có ai trả giá ông liền bị giết. Những người Do Thái và 300 sách Hebrew sống sót (trong đó có Aleppo Codex, một trong những Kinh thánh Do Thái cổ nhất còn sót lại một phần đến tận ngày nay) được người Do Thái ở Ai Cập chuộc lại. Việc chuộc lại các tù nhân là một trong những ngành hái ra tiền nhiều nhất trong Vương quốc Jerusalem. Không phải mọi mảnh thi thể con người đều được nhặt nhạnh hết, và Jerusalem bốc mùi thúi rất lâu sau đó – thậm chí đến 6 tháng sau đó, khi  Fulcher xứ Chartres trở lại: ‘Ôi mùi thúi bao trùm tường thành, bên trong lẫn bên ngoài, từ các xác chết phân hủy của quân Saracen, nằm xuống ngay tại nơi họ bị đốn ngã quỵ.’ Jerusalem vẫn chưa an toàn: quân Ai Cập đang tiến gần. Thập Tự quân cần khẩn cấp một tổng tư lệnh – vị Vua đầu tiên ở Jerusalem.

1

Năm 1099, sau 400 năm nằm dưới sự cai trị của Hồi giáo, các Thập Tự quân tràn vào Jerusalem thỏa thuê chém giết. Thành phố còn bốc mùi thịt thối phân hủy  sáu tháng sau.

GODFREY: NGƯỜI BẢO HỘ   MỘ THÁNH

Các nhà quí tộc và tăng lữ cao cấp điều tra về đạo đức của các ứng viên cho vương miện. Theo lẽ thường, họ cảm thấy mình phải giao ngôi báu cho vị hoàng thân lớn tuổi, ngài Raymond. Dù ông không được nhiều người ủng hộ, nhưng họ buộc lòng phải làm vậy. Raymond sốt sắng từ khước, nhấn mạnh rằng mình không thể làm vua trong thành phố của Jesus. Sau đó họ giao ngôi báu cho người họ thực sự muốn, Công tước thuần khiết và danh giá Godfrey, chấp nhận một tước hiệu mới đặt: Người Bảo Hộ Mộ Thánh.

Việc này khiến Raymond bực tức, nhận ra rằng mình đã bị đánh lừa, nên không chịu giao lại Tháp David cho đến khi các giám mục đứng ra làm trung gian. Dù thắng lợi như thế, các chiến binh-hành hương không thấy dễ chịu khi bị cưỡng bách phải có đạo đức trong một thành phố do chính Jesus cai trị. Họ bầu ra một tuyên úy xứ Norman, Arnulf, làm giáo trưởng nhưng chẳng bao lâu y phải tự bào chữa cho tội ngoại tình và tội làm cha với một phụ nữ Ả Rập.

Arnulf lắp đặt chuông trong các nhà thờ (việc kéo chuông nhà thờ bị người Hồi ngăn cấm). Đây phải là Jerusalem Thiên chúa, Latinh. Giờ ông tiến hành những động thái xấu xa dẫn đến  sự rạn nứt: ông cắt đặt các giáo sĩ Latinh cai quản Mộ Thánh, loại bỏ giáo trưởng và tăng lữ Hy Lạp. Qua đó ông phát khởi mối xung đột không thích hợp giữa các giáo phái Cơ đốc, tiếp tục gieo tai tiếng và làm vui thích cho các du khách cho đến tận ngày nay.  Arnulf không thể tìm ra khu vực chính của Thập Giá Thực và các giáo sĩ Chính thống giáo từ chối tiết lộ vị trí cất giấu của nó. Vị giáo trưởng tra tấn họ; một người Cơ đốc tra tấn một người Cơ đốc để giành lấy  Cây Ban Sự Sống cho Chiên Con của Chúa Trời. Cuối cùng họ nhượng bộ.

Vào ngày 12/8, để lại Jerusalem gần như không được phòng thủ, Người Bảo Hộ Godfrey dẫn dắt toàn bộ lực lượng Thập Tự quân đi về hướng Ashkelon và đánh bại quân Ai Cập tại đó. Khi Ashkelon xin được đầu hàng với Raymond, Godfrey không chịu chấp nhận trừ khi nhượng bộ với ông: Ashkelon bị mất – đây chỉ là vết thương đầu tiên trong nhiều vết thương tự gây ra bởi mối thâm thù giữa các thủ lĩnh của Jerusalem. Nhưng Jerusalem đã an ninh chỉ trừ giờ đây vắng bóng người.

Các Công tước Normandy và Flanders và nhiều Thập Tự quân lục tục trở về nhà, để lại cho Godfrey một thành phố hoang tàn, hôi thúi chỉ có 300 hiệp sĩ và 2,000 bộ binh, và hiếm khi có đủ số cư dân để lấp đầy một khu vực. Raymond xứ Toulouse đã thôi giận hờn và tiến hành tiểu trừ bờ biển Lebanon, cuối cùng thành lập triều đại của riêng mình là Bá tước xứ Tripoli. Có bốn thành bang của Thập Tự quân – Lãnh địa Antioch, các địa hạt Edessa và Tripoli, và Vương quốc Jerusalem. Những miếng vá bất thường gồm các thái ấp có quan hệ lẫn nhau này được biết dưới tên vùng Outremer.

Phản ứng của thế giới Hồi giáo – bị chia rẽ giữa các kha-lip yếu thế dòng Sunni ở Baghdad và dòng Shiite ở Cairo – câm lặng một cách đáng ngạc nhiên. Chỉ một ít thầy giảng kêu gọi jihad để giải phóng Jerusalem, và không có nhiều phản ứng trong các amir Thổ hùng mạnh, vốn vẫn đang bận bịu với thâm thù cá nhân của mình.

Vào ngày 21/12, Baldwin, em trai của Godfrey, là Bá tước xứ Edessa, và Hoàng thân Bohemond xứ Antioch đến vui lễ Giáng Sinh ở Jerusalem. Godfrey ra sức tự bảo vệ chống lại Giáo hội. Đại diện của Giáo hoàng, một gã vênh váo có tên Daimbert, giờ là giáo trưởng được chỉ định (để thay thế Arnulf tội lỗi). Quyết tâm thiết lập một chế độ thần quyền do mình cai trị, y cưỡng bách Godfrey nhượng lại thành phố và Jaffa cho Giáo hội. Vào tháng 6 1100, Godfrey ngã bệnh nặng ở Jaffa, ắt hẳn là viêm phổi. Được mang về Jerusalem, ông qua đời ngày 18/7 và được chôn cất 5 ngày sau đó, như tất cả người kế vị ông, tại chân Calgary (Gogoltha) trong Nhà Thờ Mộ Thánh.

Daimbert nắm quyền kiểm soát thanh phố, nhưng các hiệp sĩ của Godfrey không chịu giao nộp Thành lũy, và thay vào đó cho mời người em của người bảo hộ quá cố, Baldwin. Tuy nhiên, Bá tước xứ Edessa đang bận chiến đấu để phòng thủ phía bắc Syria, nên chỉ nhận được thông điệp vào cuối tháng 8.

Vào ngày 2/10 Baldwin lên đường với 200 hiệp sĩ và 700 quân, và bổng thấy rằng mình phải chiến đấu suốt chặn đường đến Jerusalem, đương đầu với các cuộc phục kích liên tiếp của quân Hồi. Ngày 9/11, với quân số ít hơn phân nửa quân số ban đầu, cuối cùng ông đặt chân tới Thành phố Thánh.

 CHƯƠNG 22  

SỰ TRỖI DẬY CỦA OUTREMER (1100–1131)

 BALDWIN LỚN CON: VÌ VUA ĐẦU TIÊN

Hai ngày sau, Baldwin được phong làm vua và Daimbert buộc phải công nhận việc lên ngôi của ông. Gần như ngay lập tức Baldwin xuất phát đánh phá Ai Cập. Khi ông trở lại, ông được Giáo trưởng Daimbert đội vương miện với đế hiệu ‘Vua Latinh ở Jerusalem’ trong Nhà Thờ Giáng Sinh ở Bethlehem.

Vua đầu tiên của Jerusalem không thánh thiện như anh mình nhưng có năng lực hơn nhiều. Baldwin có mũi quặp, nước da sáng, râu tóc đen, môi trên trề ra và cằm hơi thụt vào. Khi còn nhỏ ông đã học qua các dòng tu và không hề đánh mất vẻ trầm ngâm của một tu sĩ, luôn mặc áo choàng thầy tu quanh vai. Ông lấy vợ vì cần thiết về mặt chính trị, liều lĩnh lấy hai vợ vì lợi ích thiết thực, không có con và có thể đã không qua đêm tân hôn nào. Tuy nhiên, ông ‘kháng cự một cách vô ích với những dục vọng tội lỗi của xác thịt nhưng đủ thận trọng để tự hành xử khi theo đuổi những thói xấu này’ mà không xúc phạm đến ai. Một số người cho rằng ông đồng tính, nhưng bản chất của những lỗi vặt vãnh của ông vẫn còn là điều bí ẩn.

Chiến đấu không ngừng nghỉ là nghĩa vụ cấp bách và nhiệt tình đích thực của ông. Tuyên úy của ông gọi ông là ‘cánh tay của nhân dân mình, nỗi khiếp đảm của kẻ thù mình’. Chiến binh mưu mẹo với năng lực hầu như siêu phàm này tận tụy cho công cuộc giữ gìn an toàn và mở rộng vương quốc, chiến đấu liên miên với quân Ai Cập bên ngoài Ramallah. Có lần ông bị đánh bại, phải tẩu thoát trên mình ngựa, chiến mã Gazala, chạy đến bờ biển, và được một thuyền cướp biển Anh đi qua cứu mạng, giong buồm đến Jaffa, tại đó ông lên bờ, tập hợp các hiệp sĩ và đánh bại bọn Ai Cập một lần nữa. Lực lượng của ông quá mỏng, chắc hẳn không hơn 1,000 hiệp sĩ và 5,000 bộ bình, mà ông chiêu mộ tại chỗ (một số có thể là dân Hồi) được biết dưới tên Turcopoles. Một nhà chính khách mềm dẽo, ông biết lợi dụng những tranh chấp giữa các thủ lĩnh đạo Hồi, và kết đồng minh với các hạm thuyền xứ Geneva, Venice and Anh để chinh phục bờ biển Palestine từ Caesarea đến Acre và Beirut.

3fb9bce227aa54c0ca435621cbb94eccaa

2

Vua Jerusalem Baldwin I là một chiến binh không biết mệt mỏi và là một chính trị gia thế tục, nhưng cũng là người có hai vợ và bị lên án là kẻ ham mê thú vui xác thịt

Ở Jerusalem, Baldwin xoay sở để hạ bệ tên giáo trưởng Daimbert lộng quyền, thách thức chủ yếu đến quyền hành của mình. Các Thập Tự quân đã hủy diệt nhân dân Jerusalem nhưng may thay họ xung công những nơi linh thiêng của al-Quds hơn là san bằng chúng – chắc hẳn bởi vì chúng có xuất xứ ở kinh thánh. Baldwin củng cố Thành lũy, từ lâu được người Cơ đốc biết dưới tên Tháp David, trở thành cung điện, kho tàng, nhà tù, và căn cứ đồn trú: các cung vòm Thập Tự quân vẫn còn nhìn thấy được. Khi vào năm 1110 và một lần nữa vào 1113 bọn Ai Cập đột kích thành phố, kèn thổi vang dội từ Tháp David kêu gọi dân chúng trang bị vũ khí. Năm 1104, Baldwin biến Thánh đường al-Aqsa thành cung điện hoàng gia.

Nhiều Thập Tự quân tin rằng Vòm Đá và al-Aqsa là do vua Solomon hoặc ít ra do Constantine Đại Đế xây dựng lên, mặc dù một số biết rõ ràng chúng là của người Hồi. Một thánh giá được đặt trên chóp Vòm Đá giờ đây được gọi là Templum Domini, Đền Thờ  Chúa Trời. Như mọi nhà chinh phục Jerusalem, người Frank sử dụng chiến lợi phẩm của các kiến trúc khác để kiến tạo những đài tưởng niệm của mình: Baldwin lột mái chì của cung điện Aqsa của ông để tu bổ Mộ Thánh.

Năm 1110, Sigurd, Vua xứ Na Uy còn vị thành niên, đã dấn mình đi quanh Địa Trung Hải tàn sát những người ngoại giáo, rồi đổ bộ tại Acre với hạm thuyền 60 chiếc. Baldwin hộ tống Sigurd, vị vua đầu tiên đến thăm, bước trên đường trải thảm và lá cọ. Baldwin hứa tặng Sigurd một mảnh Thập Giá Thực nếu ông ta giúp ông đàn áp Sidon bằng hạm thuyền của mình. Sidon thất thủ – và quân Na Uy trải qua mùa đông ở Jerusalem.

Baldwin đẩy lùi các cuộc xâm lấn của các atabeg (thống đốc người Thổ) ở Damascus và Mosul: đây là một cuộc đời chiến đấu và mưu tính chính trị không ngừng nghỉ mà vị vua này rất thích hợp. Ngay từ đầu cuộc Thập Tự Chinh, ông đã cưới Arda, con gái của nhà cai trị Armenia, một đồng minh đã hỗ trợ ông chiếm được Edessa sáp nhập vào lãnh thổ của mình. Nhưng Arda đòi hỏi quá mức ở Jerusalem. Ông quản thúc nàng vào tu viện St Anne ngay phía bắc Núi Đền, trơ trẽn tuyên bố rằng nàng đã quyến rũ (hoặc bị hiếp dâm bởi) những tên cướp biển Ả Rập trên đường đến Antioch. Nàng đào thoát được đến Constantinople, tại đó nàng đắm say theo đuổi các lạc thú, cho thấy lời cáo buộc thứ nhất chứ không phải thứ hai mới đúng là sự thật. 

Baldwin thỏa thuận một cuộc hôn nhân có lợi với goá phụ Adelaide giàu có của Bá tước xứ Sicily: bà đến Acre đồng hành cùng với ba thuyền chiến chở các triều thần thanh lịch, các cận vệ Ả Rập – và của cải. Outremer chưa bao giờ trông thấy một đoàn người ngựa lộng lẫy như thế. Đường phố được treo cờ và trải thảm khi Baldwin hộ tống nàng Cleopatra đang luống tuổi này vào Jerusalem đang tưng bừng đón tiếp. Tuy nhiên, tính tình hống hách của bà hóa ra bất tiện, nét duyên dáng của bà không đủ và tài sản đã cạn kiệt. Bà không ưa thành phố Jerusalem tỉnh lẻ, thiếu thốn những xa hoa của Palermo. Khi Baldwin lâm trọng bệnh, tình trạng hai vợ càng thêm rắc rối và ông đưa Hoàng hậu trở lại Sicily.

Trong khi đó nhà vua tìm được lời giải cho sự trống vắng của Jerusalem. Năm 1115, ông càn quét khắp vùng Jordan, xây dựng lâu đài ở đó nhưng cũng gặp gỡ người Cơ đốc Armenia và Syria nghèo mạt, mời họ về định cư ở Jerusalem. Họ là tổ tiên của những người Cơ đốc xứ Palestine ngày nay.

Các Thập Tự quân ở Jerusalem đối đầu với một vấn nạn về chiến lược: họ nên bành trướng về phía bắc vào Syria và Iraq hay về phía nam vào lãnh địa các kha-lip đang xâu xé? Để đảm bảo an ninh cho vương quốc, Baldwin và các người kế vị ông biết rằng họ phải chinh phục một trong hai lãnh địa này. Ác mộng chiến lược của họ là sự hợp nhất giữa Syria và Ai Cập. Vì thế vào năm 1118 Baldwin đánh phá Ai Cập, nhưng, khi dừng chân câu cá trên bờ sông Nile, ông lại trở bệnh lần nữa. Được mang về, ông qua đời tại thị trấn biên giới El-Arish. Ông là một nhà phiêu lưu tài tình đã trở thành vua vùng Levant (vùng đất rộng lớn ở miền Đông Địa Trung Hải thuộc Tây Á, gồm các thành phố lớn Aleppo; Beirut; Damascus, Jerusalem ND) giờ ngạc nhiên thấy được ‘người Frank, Syria và thậm chí người Saracen’ thương tiếc.

Vào ngày chủ nhật Lễ Cọ, những cư dân Jerusalem trang trọng diễu hành vào Thung lũng Kidron tại đó họ đau lòng đứng đợi từ phía bắc Bá tước xứ Edessa sẽ về đến. Chỉ đến lúc đó họ mới trông thấy, tiến đến gần từ phương nam, đoàn đưa tang của vì vua quá cố của mình, uốn éo qua vùng đồi Judaea được quân sĩ đưa tang canh gác.

BALDWIN II NHỎ CON

Ngay sau khi Baldwin được an táng trong Thánh đường, các ông lớn duyệt xét những ứng viên lên kế vị. Vương quốc may mắn có sự lựa chọn của mình. Baldwin II, em họ của nhà vua quá cố, được biết dưới danh hiệu Nhỏ Con, trái ngược với người tiền nhiệm cao lêu nghêu, đã cai trị Edessa qua 18 năm chinh chiến không ngừng và thậm chí sống sót sau bốn năm bị quân Thổ tù đày. Mang bộ râu dài đến ngực, mái tóc nâu vàng giờ đã điểm bạc, ông có một cuộc hôn nhân vẹn toàn với một nữ thừa kế Armenia, Morphia, với bốn cô con gái, và sùng đạo đến nỗi đầu gối ông chai đi vì quì cầu nguyện. Baldwin là một ông vua có cá tính Levant cũng như Frank thậm chí còn hơn người tiền nhiệm: ông thấy thoải mái khi ở Trung Đông, thiết triều trong trang phục dài, ngồi bắt chéo chân trên gối. Người Hồi xem ông là người ‘nhiều trải nghiệm’ với ‘thiện ý và tài năng làm vua’ – một lời tán dương hiếm có cho một người ngoại giáo.

Ở Jerusalem, Baldwin Nhỏ Con cho một dòng tu mới gồm các hiệp sĩ ‘kính sợ Chúa’ mượn Đền Thờ Solomon, ‘thể hiện mong muốn được sống mãi mãi trong khổ hạnh, thuần khiết và tuân phục’, sẽ lấy tên  từ tên ngôi nhà mới của mình. Hiệp sĩ Đền Thánh khởi đầu chỉ có chín người bảo vệ lộ trình hành hương từ Jaffa nhưng rồi vươn lên thành một dòng tu quân-tôn cừ khôi gồm 300 hiệp sĩ, mang thập giá do giáo hoàng ban tặng, và chỉ huy hàng trăm trung sĩ và hàng ngàn bộ binh. Hiệp sĩ Đền Thánh cải biến Haram al-Sharif của Hồi giáo thành một phức hợp Cơ đốc gồm điện thờ, kho vũ khí và phòng ăn ở: al-Aqsa đã được phân chia thành phòng và căn hộ nhưng họ bổ sung một Sảnh Đền Thánh rộng mênh mông (đến nay vẫn còn tồn tại) chung quanh bức tường phía nam. Gần Tảng Đá, Vòm Dây Xích trở thành Nhà Nguyện St James. Thánh đường Hồi giáo  Chiếc Nôi của Jesus  trở thành Nhà Thờ St Mary của Cơ đốc. Những sảnh dưới mặt đất của Herod, mà họ gọi là chuồng ngựa của Solomon, chứa đến 2,000 ngựa và 1,500 lạc đà thồ của Dòng tu, đi vào qua một cổng đơn độc mới ở bức tường phía nam. Phía bắc Vòm Đá, họ xây dựng một khu kinh sách, phòng tắm và xưởng sửa chữa. Trên chóp của al-Aqsa, họ tạo ra, như thầy tu Đức Theodorich đến viếng thăm vào năm 1172 viết, ‘cơ man nào là sân vườn, tiền sảnh và bễ đựng nước mưa.’

Vào đầu năm 1113, Giáo hoàng Paschal II ban  một khu vực ngay phía nam Mộ Thánh cho một dòng tu mới, dòng Hiệp sĩ Cứu tế, sau này sẽ trở thành một đạo quân thần thánh thậm chi giàu có hơn cả Hiệp sĩ Đền Thánh. Thoạt đầu họ mặc áo choàng đen có hình thập giá trắng; sau đó giáo hoàng cho phép họ mặc áo khoác đỏ với thập giá trắng. Họ xây cất một khu vực riêng bao gồm một nhà tế bần với hàng ngàn giường và một Bệnh viện, tại đó bốn bác sĩ đi thăm bệnh ngày hai lần, kiểm tra nước tiểu và trích máu. Các bà mẹ mới đến mỗi người được cấp một giường nhỏ. Nhưng tiện nghi của họ cũng có giới hạn, vì thế mỗi bệnh nhân nhận một áo và giày ống da cừu để mặc khi đi ra nhà xí. Jerusalem lao xao nhiều thứ tiếng nói bao gồm tiếng Pháp, Đức và Ý- Baldwin cho người Venise đặc quyền buôn bán – nhưng nó còn là khu dành riêng cho người Cơ đốc: ông cho phép nhà buôn Hồi vào thành phố, nhưng không được phép ở lại qua đêm trong kinh đô của Chúa.

Ngay sau đó, Il-Ghazi, từng là người cai trị Jerusalem, giờ làm chủ xứ Aleppo, tấn công Antioch và giết ông hoàng của nó. Vua Baldwin chạy nhanh về bắc, mang theo Thập Giá Thực trong đoàn quân và đánh bại y. Nhưng vào năm 1123 nhà vua bị cháu của Il-Ghazi là Balak bắt được. 

Trong khi Baldwin còn là tù binh của nhà Ortug và Thập Tự quân vây hãm Tyre, quân Ai Cập từ Ashkelon tiến lên hi vọng chiếm được một Jerusalem không có vua và quân phòng thủ.

CHƯƠNG 23

THỜI HOÀNG KIM CỦA OUTREMER (1131–42)

 MELISENDE VÀ FULK: ĐÁM CƯỚI HOÀNG GIA

Người Jerusalem, được đốc quân Eustace xứ Grenier chỉ huy, hai lần nhìn thấy quân Ai Cập thua chạy. Niềm vui tràn ngập, Baldwin được chuộc lại: vào ngày 2/4/1125, toàn thành phố ùa ra cửa thành để nghênh đón nhà vua trở về. Trong thời gian ngồi tù Baldwin tập trung vào việc tìm người kế vị. Thừa kế của ông là một cô con gái Melisende, mà giờ đây ông gã cho người có kinh nghiệm và năng lực, Fulk, Bá tước xứ Anjou, dòng dõi của Fulk Độc Địa hư hỏng đi hành hương nhiều lần và là con trai của người có biệt hiệu buồn cười Fulk Gớm Ghiếc và chính ông đã là một cựu Thập Tự quân. 

Năm 1131, Baldwin lâm bệnh ở Jerusalem, và, lui về lâu đài Giáo trưởng, để chết như một kẻ khẩn cầu nhún nhường, ông thoái vị để nhường ngôi cho Fulk, Melisende và con trai còn bé của họ, nhà Baldwin III tương lai. Nghi lễ đăng quang ở Jerusalem đã tiến hóa theo cách riêng của mình. Tụ tập tại Đền Thờ Solomon, mặc áo thụng thêu, mang khăn choàng và đồ nữ trang hoàng gia, Fulk và Melisende trịnh trọng bước lên mình ngựa có phủ gấm hoa. Đi đầu là  viên thị thần giơ cao thanh kiếm của vua, theo sau là tổng nội thị cầm quyền trượng và đốc quân với nghi thức hoàng gia, họ cưỡi ngựa qua thành phố trong tiếng reo hò – vị nguyên thủ Jerusalem đầu tiên được đăng quang trong đại sảnh hình tròn trong Mộ Thánh mới được tu bổ.

Giáo trưởng điều hành buổi tuyên thệ hoàng gia, hỏi ba lần cử tọa để khẳng định đây là những người thừa kế hợp pháp: Vâng! đám đông hô to. Hai vương miện được mang ra về phía áng thờ. Cặp đôi hoàng gia được xức dầu thánh từ một sừng đựng dầu trước khi Fulk được trao chiếc nhẫn trung thành, quả cầu quyền lực và vương trượng để trừng phạt những tội đồ, và dây nịt với thanh kiếm của chiến tranh và và công lý. Sau đó họ được giáo trưởng đội vương miện và ôm hôn. Bên ngoài Mộ Thánh, quan chủ lễ giúp Vua Fulk lên ngựa và họ cưỡi ngựa trở lại Núi Đền. Tại đại yến tiệc ở

Templum Domini, nhà vua mở lời xin trả lại vương miện nhưng rồi thu hồi lại, một truyền thống dựa trên câu chuyện về việc cắt bì Jesus khi người ta kể rằng Mary dẫn Jesus đến Đền Thờ, trao ông cho Chúa Trời và mang ông trở lại đổi lấy một con chiên và hai chim bồ câu. Cuối cùng dân chúng mang đến thức ăn và rượu vang cho các thị thần và nội thị dâng lên hoàng gia trong khi quan chủ lễ cầm cờ giơ cao phía trên đầu họ. Sau khi hát xướng, khiêu vũ, đốc quân hộ tống vua và hoàng hậu về cung.

Melisende là hoàng hậu trị vì nhưng lúc đầu Fulk được kì vọng sẽ cai trị trên danh nghĩa của mình. Ông là quân nhân  bốn mươi tuổi, người béo lùn, tóc đỏ, ‘như Vua David’ theo lời William xứ Tyre, và một trí nhớ tồi, luôn là khuyết điểm của bậc vua chúa. Quen cai trị lãnh địa riêng của mình, ông thấy khó khăn khi quản lý, nói chi đến làm vui lòng, hoàng hậu độc đoán. Melisende, thon thả, da ngâm và thông minh. Chẳng bao lâu bà hoàng bỏ quá nhiều thời gian cho anh họ đẹp trai và bạn thân từ thuở nhỏ của mình, Bá tước Hugh xứ Jaffa, người có quyền thế giàu nhất ở Jerusalem. Fulk kết án họ tội dan díu.

BÀ HOÀNG MELISENDE: TAI TIẾNG

Việc Melisende lăng nhăng khởi đầu là tin đồn nhưng nhanh chóng trở thành một khủng hoảng chính trị. Là hoàng hậu bà không chắc bị trừng phạt; nhưng, theo luật xứ Frank, nếu một cặp bị phát hiện tội ngoại tình, người nữ sẽ chịu hình phạt xẻo mũi, còn người nam bị thiến. Một cách để chứng tỏ mình vô tội là đấu kiếm tay đôi: giờ một hiệp sĩ thách đấu kiếm với Bá tước Hugh để chứng tỏ mình vô tội. Nhưng Hugh trốn chạy đến lãnh thổ Ai Cập, tại đó ông ở ẩn cho đến khi Giáo hội dàn xếp một thỏa thuận theo đó ông phải bị lưu đày trong ba năm.

Khi trở về Jerusalem, một hôm Hugh ngồi chơi xúc xắc tại một quán rượu trên Phố Furriers, ông bị một hiệp sĩ xứ Breton đâm ông. Tuy vậy ông vẫn còn sống, nhưng Jerusalem ‘chấn động vì hành vi xúc phạm; một đám đông lớn tụ tập’ và lan truyền tin đồn là Fulk đã ra lệnh cho người giết tình địch của mình. Giờ thì chính nhà vua cần phải chứng tỏ mình vô tội: tên Breton bị xét xử và kêu án bị chặt hết tứ chi và cắt lưỡi. Nhưng Fulk ra lệnh để nguyên lưỡi của y để chứng tỏ mình không diệt khẩu. Cho dù tên Breton đã hoàn toàn bị chặt hết tứ chi chỉ còn lại đầu và thân mình (và lưỡi), y vẫn xác nhận nhà vua vô tội.

Nên không có gì ngạc nhiên khi sự khuất tất của nền chính trị Outremer trở nên bị tai tiếng ở châu Âu. Cai trị Jerusalem là một thách thức: nhà vua thực sự là người đầu tiên giữa những người bình đẳng, tranh chấp với các thủ lĩnh Thập Tự quân, các thế lực đầy tham vọng, những kẻ phiêu lưu lỗ mãng, bọn châu Âu mới đến dốt nát, nhóm hiệp sĩ thuộc dòng tu quân-tôn độc lập và các tên mưu mô trong giáo hội trước khi có thể đương đầu với kẻ thù Hồi giáo của mình.

Cuộc hôn nhân hoàng gia trở nên cực kỳ lạnh giá, nhưng nếu Melisende đã đánh mất tình yêu của mình, bà còn lại quyền lực. Để làm bà ấm lại, Fulk tặng cho bà một món quà đặc biệt – Sách Thánh thi xa xỉ mang tên bà.* Nhưng khi vương quốc hưởng thụ thời hoàng kim của mình thì người Hồi đang tổng động viên.

 * Thánh thi Melisende với bìa bằng ngà có khắc hình nổi, chạm ngọc màu lam và đá ngọc bích, được các nghệ sĩ Syria và Armenia tạo tác trong phòng làm việc ở Mộ Thánh. Những phong cách Byzantine, Hồi giáo và Tây phương của nó cho thấy cách thức nghệ thuật Đông phương và Thập Tự quân hoà quyện với nhau trong thời trị vì của bà hoàng nửa Frank nửa Armenia này.

3

4

Vinh hiển Thập Tự Chinh: thành phố đạt tới đỉnh cao dưới triều Bà hoàng, kết hôn với Fulk xứ Anjou như trong hình trên. Ông kết tội bà dân díu với Hugh xứ Jaffa. Quyển Thánh Thi tinh xảo (dưới) có thể là món quà làm lành của ông chồng

ZANGI KHÁT MÁU: ÔNG HOÀNG CHIM ƯNG

Năm 1137, Zangi, Atabeg xứ Mosul và Aleppo (ngày nay thuộc Iraq và Syria), đầu tiên tấn công thành phố Thập Tự quân Antioch rồi sau đó Damascus của Hồi giáo: thất thủ của một trong hai thành phố này sẽ là quả đấm đối với Jerusalem. Trong gần bốn thập niên, việc để mất Jerusalem thật đáng ngạc nhiên khi không tạo ấn tượng nhiều đến thế giới Hồi giáo bị chia rẽ và xao nhãng. Như thường tình trong lịch sử Jerusalem, nhu cầu chính trị gây cảm hứng cho nhiệt tình tôn giáo. Giờ đây Zangi bắt đầu chế ngự cơn thịnh nộ dâng cao, về tôn giáo lẫn chính trị, đối với việc để mất Jerusalem, tự xưng là ‘Chiến bình Jihad, kẻ thuần hóa lũ vô thần, người hủy diệt bọn ngoại giáo’.

Vị kha-lip ban thưởng cho vị atabeg Thổ Nhĩ Kỳ này tước hiệu ‘Vua các Amir’ vì đã phục hồi lại niềm kiêu hãnh Hồi giáo. Đối với người Ả Rập ông tự xưng là Cột Trụ của Niềm tin; đối với đồng bào Thổ, Ông Hoàng Chim Ưng. Các thi sĩ, vật trang trí trọng yếu cho mọi nhà cai trị trong cái xã hội yêu thi ca đó, quây quần đến sân triều để hát hò về những vinh quang của họ, nhưng Zangi cục súc là một ông chủ khắc nghiệt. Ông lột da và lột da đầu những kẻ thù quan trọng, treo cổ những kẻ thù kém vai vế hơn, và đóng đinh binh sĩ nào giẫm đạp lên ruộng lúa. Ông hoạn các tình nhân trai để giữ gìn vẻ đẹp của họ. Khi ông lưu đày các tướng lãnh, ông nhắc nhở họ về quyền lực của mình bằng cách hoạn các con trai của họ. Nổi điên vì rượu, ông ly dị một trong các bà vợ và rồi cho các tên nài trong chuồng ngựa của mình hiếp dâm tập thể bà ta – trong khi ông đứng nhìn. Nếu một trong các binh sĩ đào ngũ, Usamah bin Munqidh nhớ lại, Zangi sẽ ra lệnh hai binh sĩ gần y nhất bị chặt làm hai khúc. Tính tàn bạo của ông được ghi lại trong sử liệu Hồi. Về phần các Thập Tự quân, họ đặt cho ông biệt danh Zangi Đỏ Máu.

Fulk vội vã đương đầu với ông ta nhưng Zangi đánh bại quân Jerusalem, dồn ông vào một pháo đài gần đó. William, Giáo trưởng Jerusalem, dẫn quân đến giải cứu, vung vẫy Thập giá Thực. Zangi, biết rằng quân cứu viện đang trên đường, đề nghị thả Fulk đổi lấy pháo đài. Sau cuộc thoát chết trên đường tơ kẽ tóc này, Fulk và Melisende làm hòa, nhưng Zangi, giờ đây đang ở tuổi lục tuần, vẫn tiếp tục gây sức ép, đe dọa không chỉ các thành phố Thập Tự quân Antioch và Edessa mà còn mở lại cuộc tấn công vào Damascus, tình trạng khẩn cấp đến nỗi nhà cai trị Unur buộc lòng phải kết đồng minh với Jerusalem ngoại giáo.

Năm 1140, Unur, vị Atabeg xứ Damascus, lên đường đi Jerusalem cùng với một cố vấn, một quí tộc Syria và tác giả Hồi giáo kiệt xuất nhất thế kỷ.

USAMAH BIN MUNQIDH: NHỮNG SỰ KIỆN VÀ TAI ÁCH LỚN

Usamah bin Munqidh là một trong các nhân vật tham gia có mặt khắp nơi, quen biết mọi người có máu mặt tại một thời điểm và nơi chốn nào đó trong lịch sử và luôn tìm thấy mình ở ngay trung tâm sự kiện. Trong sự nghiệp lâu dài của mình, quan triều này, vừa là chiến binh vừa là nhà văn, luân phiên phục vụ tất cả những thủ lĩnh Hồi giáo trong thế kỷ mình, từ Zangi và các kha-lip Fatimid đến Saladin, và quen biết ít nhất với hai vị vua Jerusalem.

Là thành viên của triều đại từng cai trị pháo đài Syria Shaizar, Usamah mất quyền thừa kế, và gia đình ông sau đó bị chôn vùi trong một trận động đất. Sau những tai ương này, ông trở thành một hiệp sĩ – một farist – sẵn sàng phục vụ bất cứ nhà cai trị nào ban cho mình những cơ hội thuận lợi nhất và, giờ đây ở tuổi 45, ông đang phục vụ dưới trướng của Unur xứ Damascus. Usamah sống để chiến đấu, săn bắn và viết văn. Việc theo đuổi phần nhiều do dun ruổi về quyền lực, của cải và vinh quang đều đẫm máu và như trò đùa. Cụm từ ‘lại một thảm họa khác’ xuất hiện rất thường trong hồi ký của ông, có tựa đề Sự Kiện và Tai Ách Lớn. Nhưng ông cũng là một nhà biên niên sử bẩm sinh: người ta cảm nhận được rằng, thậm chí khi những mưu tính của ông sụp đổ, con người mã thượng đầy tính nghệ sĩ Ả Rập này biết rằng các sự kiện này sẽ là chất liệu tuyệt vời cho những trang viết hoài niệm, sắc sảo và dí dỏm của ông. Usamah là nhà văn bậc thầy – viết sách và làm thơ về những lạc thú của phụ nữ, cung cách quí ông, chủ nghĩa dục tình và nghệ thuật chiến tranh. Trong tay ông, chuyện một cây gậy có thể trở thành một luận đề về tuổi già.

Atabeg Unur giờ đến Jerusalem với vị quan triều hớn hở, Usamah: ‘Tôi thường đi đến thăm viếng Vua người Frank trong thời gian hưu chiến,’ Usamah viết. Mối quan hệ giữa ông và Fulk lịch sự một cách đáng kinh ngạc.* Nhà vua và hiệp sĩ Hồi bông đùa nhau về bản chất của hiệp sĩ. ‘Người ta bảo với ta là ngài là một hiệp sĩ lớn,’ Fulk nói, ‘nhưng thực sự ta không tin điều đó.’ ‘Thưa đức ông, tại hạ chỉ là hiệp sĩ của chủng tộc và nhân dân mình,’ Usamah đáp. Chúng ta không biết gì về nhân dạng của Usamah, nhưng hình như người Frank rất ấn tượng về hình thể của ông.

*  Fulk không phải là vị vua đầu tiên của Jerusalem mà Usamah đã quen biết. Năm 1124, Baldwin II từng là tù binh ở Shaijar, lâu đài của gia đình Usamah. Ông được đối xử quá tử tế đến nỗi các Thập Tự quân đâm ra kinh trọng Usamah và gia đình. Phế tích của lâu đài Shaijar con có thể nhìn thấy được ở Syria.

Trong những chuyến viếng thăm Jerusalem, Usamah thích thú tìm hiểu về tính hạ cấp của các Thập Tự quân, mà ông coi ‘chỉ là những thú vật’, không sở hữu những phẩm chất nào khác hơn là lòng can đảm và kỹ năng chiến đấu’ – cho dù những tác phẩm của ông cũng tiết lộ nhiều hành động Hồi giáo cũng dã man và sơ khai không kém. Như mọi phóng viên lành nghề, ông ghi chép những điều mắt thấy tai nghe ở cả hai phía – tốt và xấu. Khi hồi tưởng trong tuổi già tại triều đình Saladin, ông ắt hẳn đã nhận ra rằng mình đã chứng kiến Jerusalem tại đỉnh cao của niềm vinh quang vương quốc Thập Tự quân.

JERUSALEM CỦA MELISENDE: CUỘC SỐNG THƯỢNG VÀ HẠ LƯU

Jerusalem của Melisende được nhiều người Cơ đốc coi là trung tâm thực sự của thế giới, rất khác với cuộc chinh phục hủy diệt và hôi hám của người Frank. Đúng ra, trên bản đồ thành phố từ thời điểm này, Jerusalem được thể hiện bằng một đường tròn với hai đường phố chính giang ra như cánh tay thập giá với trung tâm của nó nằm ngay Nhà Thờ Mộ Thánh, nhấn mạnh rằng Thành phố Thánh là cái rốn của thế giới.

5

Đối với người Cơ đốc thời Thập Tự Chinh, Jerusalem là trung tâm của thế giới – như trong nhiều bản đồ thế kỷ 12 chỉ rõ, như tấm bản đồ trên của thầy tu Robert

Vua và hoàng hậu họp triều trong Tháp David và các cung điện lân cận, trong khi Lâu đài Giáo trưởng là trung tâm sự vụ của Giáo hội. Cuộc sống của các ông lớn bình thường ở Outremer Jerusalem chắc chắn tốt hơn vua ở châu Âu, nơi thậm chí các người quyền thế còn mặc quần áo len không được ủi và sống trong những ngôi nhà có gió luồng với đồ đạc thô sơ. Mặc dù có ít chỉ huy Thập Tự quân có thế sống một cách hoành tráng như John xứ Ibelin, cuối thế kỷ sau đó – lâu đài của ông ở Beirut thể hiện phong cách: sàn nhà khảm tranh, tường lót đá quí, trần nhà có bích họa, suối nước trong hoa viên – thì thậm chí những nhà trưởng giả ở thị trấn có thể khoe khoang những thảm lót đắt tiền, gấm vóc Đa-mát treo tường, đồ sứ tinh xảo, bàn cẩn đá quí hoặc có chạm khắc, và dụng cụ nhà bếp tráng men. 

Jerusalem kết hợp nét thô thiển của thị trấn biên giới với vẻ xa hoa của một kinh đô hoàng triều. Thậm chí ở Jerusalem những phụ nữ bị tai tiếng, như nhân tình của giáo trưởng, cũng phô trương nữ trang và lụa là trước sự bất mãn của những phụ nữ danh giá hơn. Với hơn 30,000 cư dân và dòng người đổ xô đi hành hương, Jerusalem là Thành phố Thánh, nơi hội tụ Cơ đốc và bộ chỉ huy quân sự – được chiến tranh và Chúa Trời thống trị.

Người Franks, đàn ông và phụ nữ, giờ được tắm rửa đều đặn – có những nhà tắm công cộng trên Phố Furriers; cống thoát nước La Mã vẫn còn hoạt động và ắt hẳn nhiều hộ có nhà vệ sinh. Thậm chí những Thập Tự quân bài Hồi giáo nhất cũng phải thích ứng với phương đông. Lúc lâm trận, các hiệp sĩ mặc áo thụng nỉ và khăn trùm đầu Ả Rập qua lớp áo giáp để ngăn thép bị ánh nắng mặt trời nung nóng. Ở nhà các hiệp sĩ ăn mặc như người địa phương, áo lụa thậm chí áo khoác. Thiếu nữ Jerusalem mặc áo trong dài với áo chẽn ngắn hoặc áo khoác dài có thêu chỉ vàng; mặt đánh phấn dày; và ra đường thường che mặt. Cả nam nữ đều vận áo lông thú dù thói xa xỉ này đặc biệt bị cấm đối với Hiệp sĩ Đền Thánh kham khổ, hiện thân cho thủ đô của cuộc thánh chiến Cơ đốc. Các Hiệp sĩ Dòng tu là gương mẫu nền nếp: Hiệp sĩ Đền Thánh với áo khoác in thập giá đỏ và thắt ngang eo, Hiệp sĩ Cứu tế thì áo choàng đen có thập tự trắng trên ngực. Mỗi ngày 300 Hiệp sĩ Đền Thánh cưỡi ngựa ra khỏi Chuồng Ngựa Solomon để tập luyện bên ngoài thành phố. Trong Thung lũng Kidron, bộ binh luyện tập bắn cung.

Thành phố không chỉ nhộn nhịp lính và khách hành hương Pháp, Na Uy, Đức và Ý, mà còn những tín đồ Cơ đốc phương đông – những người Syria và Hy Lạp râu ngắn, người Amenia và Georgia râu dài và mũ cao, cư trú trong phòng ngủ các nhà tế bần hoặc nhiều quán rượu nhỏ. Cuộc sống đường phố tập trung quanh trục Cardo La Mã, dẫn từ Cổng St Stephen (nay là Cổng Damascus), băng qua Mộ Thánh và Khu Giáo trưởng ở bên phải và rồi đi vào ba đường phố song song đầy chợ búa, liên kết bằng những hẻm nhỏ zíc zắc tỏa mùi gia vị và thức ăn đang nấu. Khách hành hương mua thức ăn và nước quả mang đi từ Phố Nấu Ăn Tồi, Malcuisinat; đổi tiền trên Phố Đổi Tiền của người Syria sát bên Mộ Thánh; mua đồ tế nhuyễn trong các Phố Kim hoàn Latin, áo dạ thú trên Phố Lông Thú.

Thậm chí trước khi có Thập Tự Chinh người ta thường kháu nhau rằng ‘Không người du lịch nào xấu ác như khách hành hương đến Jerusalem.’ Outremer là phiên bản Trung cổ của Miền Tây Hoang Dã: bọn sát nhân, kẻ phiêu lưu và đĩ điếm bước ra để kiểm tiền, nhưng những nhà biên niên sử hành hương kể cho chúng ta rất ít về sinh hoạt ban đêm ở Jerusalem. Tuy nhiên, những bình lính bản địa, những người Latinh thuộc thế hệ thứ hai nghèo khổ và bị đông phương hóa, các nhà buôn Venise và Geneva và những hiệp sĩ mới đến cần quán rượu và những lạc thú của bất kỳ thị trấn quân sự nào. Mỗi quán rượu đều có dây xích chắn ngang lối ra vào để các hiệp sĩ hay quậy không phóng ngựa vào quán. Ở các khung cửa có thể trông thấy những bình lính chơi bài hoặc đổ xúc xắc. Gái làng chơi được chở từ châu Âu đến để phục vụ cho các binh sĩ ở Outremer. Sau này thư ký của sultan Saladin đã vui vẻ mô tả một chuyến hàng như thế từ quan điểm Hồi giáo.

Các phụ nữ đáng yêu người Frank, nở nang và tội lỗi, xuất hiện một cách kiêu hãnh nơi công cộng, bị xé toạc và vá lại, bị cắt đứt và mạng lại, làm tình và bán thể xác mình để đổi lấy vàng, có cặp mông hấp dẫn và duyên dáng, họ dâng hiến như vật hiến tế thần thánh cái mà họ cất giữ giữa cặp đùi, mỗi ả kéo theo sau phần đuôi của chiếc váy đang mặc, quyến rũ với vẻ đẹp sang ngời, đi lắc lư như cành cây, và mong được trút bỏ quần áo cho nhanh.

Phần đông hành nghề trong các cảng Acre và Tyre, nơi đường phố lũ lượt các thủy thủ Ý, còn Jerusalem ắt hẳn sẽ được các viên chức kiểm soát tệ nạn quyết liệt cưỡng chế đạo đức Cơ đốc, nhưng tất cả dục tình con người đều có mặt ở đó.

Khi khách hành hương đổ bệnh, các Hiệp sĩ Cứu tế săn sóc họ trong Bệnh viện, có sức chứa đến 2,000 người. Ngạc nhiên thay, họ cứu chữa cả người Hồi và Do Thái và thậm chí có bếp  kosher/halal để họ có thể ăn thịt. Nhưng cái chết luôn lãng vãng trong trí họ: Jerusalem là một đại nghĩa địa tại đó những khách hành hương già và bệnh đều bằng lòng chết và được chôn cất chờ Ngày Phục Sinh. Đối với người nghèo, có hầm xác miễn phí trong nghĩa địa  Mamilla và  Akeldama ở Thung lũng Địa ngục. Trong một trận dịch xảy ra sau này vào cùng thế kỷ, mỗi ngày có đến 50 khách hành hương chết và xe bò thu nhặt xác mỗi đêm sau buổi kinh chiều.

Về mặt vật lý cuộc sống xoay quanh hai đền thờ – Mộ Thánh và Đền Thờ Chúa Trời – và tuần tự theo lịch trình nghi lễ. Sử gia Jonathan Riley-Smith viết: trong thời kỳ kịch tính dữ dội này trong đó mỗi kỹ thuật được sử dụng để làm gia tăng cảm xúc quần chúng qua việc phô diễn, các điện thờ ở Jerusalem giống như cảnh trí sân khấu và liên tục được tái dựng và cải tiến để tăng cường tính hiệu quả. Việc đánh chiếm thành phố được kỷ niệm mỗi 15 tháng 7 khi vị giáo trưởng dẫn gần như toàn thành phố từ Mộ Thánh đến Núi Đền, tại đó ông cầu nguyện bên ngoài Đền Thờ Solomon và rồi dẫn đầu đám rước qua Cổng Vàng – cổng mà qua đó  Thập Tự quân đầu tiên, Hoàng đế Heraclius, vào năm 630 đã mang đến Thập giá Thực – đến chỗ bức tường phía bắc, được tôn dựng một thập giá khổng lồ, nơi Godfrey đã đột nhập vào thành phố. Lễ Phục Sinh là  cảnh bài trí hấp dẫn nhất. Trước khi mặt trời mọc trên Ngày Chủ nhật Lễ Cọ, vị giáo trưởng và tăng lữ, mang Thập giá Thực, đi bộ từ Bethany về phía thành phố, trong khi một đám rước khác mang cành cọ từ Núi Đền đến để gặp vị giáo trưởng trong Thung lũng Jehoshaphat. Sau đó họ cùng mở Cổng Vàng và diễu quanh khu vực thiêng liêng trước khi đến Đền Thờ Chúa Trời để cầu nguyện.

Vào ngày Thứ Bảy Thánh, dân Jerusalem tụ tập ở Nhà Thờ Mộ Thánh để xin Lửa Thánh. Một khách hành hương Nga nhìn thấy ‘đám đông ùa vào, xô đẩy và thúc cùi chỏ’, khóc mếu, rên rỉ và hét lên, ‘Có phải vì tội lỗi của con mà Lửa Thánh không hạ giới hay không?’ Nhà vua bước ra từ Núi Đền nhưng khi ông đến, đám đông ken cứng , tràn ra đến sân ngoài, đến nỗi binh sĩ phải xô dẹt một lối vào cho ông. Bước vào được rồi, nhà vua, đầm đìa nước mắt, ngồi sụp xuống một bên trước Nhà Mộ, xây quanh là các quần thần đang khóc nức nở, ngóng đợi Lửa Thánh. Khi giáo sĩ hát bài kinh chiều, cơn xuất thần tăng cường độ trong thánh đường tối ôm, cho đến khi thình lình ‘Lửa Thánh chiếu sáng Mộ Thánh, sáng lóa và rực rỡ’. Vị giáo trưởng xuất hiện, vung vẫy ngọn lửa rồi đốt vào cây đèn hoàng gia. Lửa lan truyền khắp đám đông, từ đèn này đến đèn khác – rồi được chuyền đi khắp thị trấn như rước đuốt Olympic, băng qua Cầu Lớn đến Đền Thờ Chúa Trời.

Melisende tô điểm Jerusalem như một Đền Thờ cũng như thủ đô chính trị, kiến tạo nhiều thứ như ta nhìn thấy ngày nay. Thập Tự quân đã phát huy một phong cách của riêng họ, một sự tổng hợp giữa La Mã, Byzantine và Levant với các cung vòm đầu tròn, những cột trụ bề thế, tất cả đều chạm khắc với những mô-típ hoa văn tinh tế. Hoàng hậu xây dựng Nhà Thờ St Anne khang trang, phía bắc Núi Đền, tại vị trí Hồ Bethesda – nó còn đứng đó tận giờ như một minh họa trần trụi nhất và đơn giản nhất của kiến trúc Thập Tự quân. Đã từng được sử dụng như một nơi chứa chấp các bà vợ hoàng gia bị ruồng bỏ và gần đây hơn nhà của Công nương Yvette, em gái của Melisende, nữ tu viện của nó trở thành nơi được quyên góp nhiều nhất Jerusalem. Một ít cửa hàng trong phố chợ vẫn còn đánh dấu ‘ANNA’ để chứng tỏ lợi tức của chúng đi đến đâu; những cửa hàng khác được đánh dấu ‘T’, có lẽ do các Hiệp sĩ Đền Thánh (Template) sở hữu.

Một nhà nguyện nhỏ, St Giles, được xây trên Cầu Lớn đi vào tận Núi Đền. Bên ngoài bức tường, Melisende bổ sung vào Nhà Thờ Đức Bà Jehoshaphat nhà mộ của Thánh Đồng Trinh Mary nơi bà được chôn cất sau đó (mộ bà còn sót lại đến ngày nay), và xây dựng Tu viện Bethany, chỉ định Công nương Yvette làm tu viện trưởng. Trong Đền Thờ Chúa Trời, bà bổ sung một lưới sắt trang trí để bảo vệ Tảng Đá (hiện giờ hầu hết ở trong Bảo tàng Haram mặc dù một bộ phận nhỏ còn ở tại chỗ, có thể đã giữ một phần da bì của Jesus,* và sau đó cất râu của Muhammad).

* Bao Da Quí Đầu Thánh chỉ là một trong bộ sưu tập đầy đủ các thánh tích trung cổ. Charlemagne tặng một phần cho Giáo hoàng Leo trước khi ông đăng quang vào năm 800, nhưng liền sau đó có đến từ 8 đến 18 thánh tích như thế trong thế giới Cơ đốc. Baldwin I gửi một miếng đến Antwerp vào năm 1100 nhưng Melisende sở hữu một phần khác. Hầu hết thánh tích đều bị thất lạc hoặc tiêu hủy trong thời Cải cách.

 Trong cuộc viếng thăm chính thức Fulk và Melisende, Usamah bin Munqidh và chủ nhân của ông, vị Atabeg xứ Damascus, được cho phép cầu nguyện trên Núi Đền, nơi họ chạm trán với tính cách thiếu văn hóa và tính quốc tế của các chủ nhà Frank.

USAMAH BIN MUNQIDH VÀ JUDAH HALEVI: NGƯỜI HỒI , NGƯỜI DO THÁI VÀ NGƯỜI FRANK

Usamah đã kết bạn với một số Hiệp sĩ Đền Thánh mà ông gặp trong chiến tranh và hòa bình. Giờ họ hộ tống ông và vị Atabeg Unur đến bộ chỉ huy đã được Cơ đốc hóa của Hiệp sĩ Đền Thánh.

Một số Thập Tự quân giờ nói được tiếng Ả Rập và cất nhà có hoa viên và giếng phun như các ông lớn Hồi giáo; một số thậm chí dùng thức ăn Ả Rập. Usamah gặp những người Frank không ăn thịt heo và ‘trình bày một bàn ăn rất đẹp, rất sạch sẽ và ngon lành’. Phần đông người Frank không tán thành bất kỳ ai có óc địa phương quá mức: ‘Chúa đã biến đổi người Tây phương thành Đông phương’, Fulcher viết. ‘Ai dù là La Mã hay Frank có đất đai ở đây đều biến thành người Galilee hay Palestine.’ Tất nhiên có giới hạn trong tình bạn của Usamah với Hiệp sĩ Đền Thánh và với những người có đầu óc phóng khoáng trong số họ. Khi một Hiệp sĩ trở về nhà, y vui vẻ mời Usamah gửi con trai đến châu Âu học tập để ‘khi nó trở về nó sẽ thực sự trở thành một người có lý trí’. Usamah khó có thể chịu được sự khinh thường này.

Khi họ cầu nguyện trong Vòm Đá, một người Frank tiến đến vị atabeg hỏi: ‘Ngài có muốn thấy Chúa khi ông ta còn trẻ không?’

‘Tại sao không,’ Unur đáp. Người Pháp liền dẫn ông và Usamah đến trước tượng thánh của Mary và chàng trai Jesus.

‘Đây là Chúa khi ngài còn trẻ ông,’ gã người Frank nói, trước sự khinh thị vui thích của Usamah.

Sau đó Usamah đi đến Đền Thờ Solomon, trước đây là al-Aqs để cầu nguyện. Ông được các bạn bè Hiệp sĩ Đền Thánh chào đón, cho dù ông đang công khai đọc câu kinh ‘Allahu Akhbar – Thượng Đế là Tối Cao’. Nhưng sau đó xảy ra một biến cố gây bối rối khi ‘một tên Frank chạy vội đến bên tôi và chụp lấy tôi và xoay mặt tôi về hướng đông, ‘Phải cầu nguyện như thế này!”‘ ‘Các Hiệp sĩ chạy vội về phía gã và kéo gã ra khỏi người tôi. “Tên này là một người lạ mới đến từ xứ Frank,”‘ Hiệp sĩ giải thích như xin lỗi. Usamah nhận ra rằng ‘bất kỳ ai mới đến’ đều ‘thô lỗ hơn những người đã quen với thủy thổ và thường làm bạn với người Hồi’. Những người mới đến này vẫn còn ‘là một chủng tộc bị nguyền rủa vì sẽ không làm quen được với bất kỳ ai không thuộc chủng tộc mình’.

Không chỉ có các nhà lãnh đạo Hồi mới đến thăm Jerusalem của Melisende. Những nông dân Hồi đến Jerusalem mỗi ngày để bán trai cây họ trồng và đến chiều phải trở về. Khoảng thập niên 1140, các luật lệ ngăn cấm người Do Thái và Hồi sống ở thành phố của Christ đã bắt đầu nới lỏng – từ đó nhà phóng sự du lịch Ali al-Harawi nói, ‘Tôi sống đủ lâu ở Jerusalem vào thời điểm có người Frank để biết trò lừa đảo Lửa Thánh đã được thực hiện ra sao.’ Đã có một số ít người Do Thái ở Jerusalem, nhưng chuyện đi hành hương vẫn còn nhiều nguy hiểm.

Ngay lúc đó, vào năm 1141, Judah Halevi,  một thi sĩ, triết gia và nác sĩ Tây Ban Nha, được biết là đã đi từ Tây Ban Nha đến. Trong những bài tình ca và bài thơ tôn giáo của ông, ông khẩn cầu ‘Zion hoàn hảo trong vẻ đẹp’ trong khi phải chịu đựng vì ‘Edom (Hồi) và Ishmael (Cơ đốc) gây hỗn loạn trong Thành phố Thánh’. Người Do Thái bị lưu đày là ‘chim bồ câu trên vùng đất lạ’ Suốt cuộc đời ông, Halevi, người sáng tác thơ bằng tiếng Hebrew (Do Thái cổ) nhưng nói tiếng Ả Rập, luôn tin tưởng người Do Thái sẽ trở về Zion:

Ôi thành phố của thế giới, xinh đẹp tinh khôi nhất,

Tận phía Tây xa xôi, hãy nhìn xem ta thở dài hiu hắt.

Ôi! Giá ta có đôi cánh đại bàng, ta sẽ bay đến bên nàng,

Và sẽ rơi thấm đẫm mảnh đất dòng nước mắt chứa chan.

Halevi, người mà các bài thơ của mình còn là một bộ phận trong nghi thức tế lễ tại giáo đường Do Thái, viết một cách đau lòng như bất kỳ ai đã từng viết về Jerusalem: ‘Khi tôi mơ về ngày nàng được trở về khỏi chốn tù đày, tôi sẽ là cây đàn hạc cho những bài ca của nàng.’ Không biết chuyện xảy ra có đúng như truyền thuyết, cho rằng khi ông đi bộ qua các cổng ở Jerusalem, ông bị một kỵ mã đâm ngã, chắc hẳn là một tên Frank, và qua đời, một số phận như đã báo trước trong những lời ông viết: ‘Tôi sẽ rơi úp mặt xuống vùng đất của nàng, và tìm thấy lạc thú trong những tảng đá và sự dịu dàng trong cát bụi của nàng.’

Cái chết này không làm Usamah ngạc nhiên, vì ông đã khảo sát về tính bạo lực trong luật lệ của người Frank. Trên đường đến Jerusalem ông đã trông thấy hai gã Frank giải quyết một tranh chấp pháp lý bằng cách đánh nhau – người này đập vỡ sọ người kia. ‘Đó chỉ là một khẩu vị trong hệ thống pháp lý của họ và cách tiến hành tố tụng của họ.’ Khi một người bị kết tội sát hại khách hành hương, y bị xét xử bằng cách trói gô lại rồi nhúng vào hồ nước. Nếu y chìm y vô tội, nhưng nếu y nổi y bị kết là có tội và, theo như Usamah, ‘họ đắp phấn côn vào mắt y’ – và y bị mù.

Về phần tập quán tình dục, Usamah hứng thú thuật lại chuyện một người Frank bắt gặp một tên khác đang trên giường với vợ mình nhưng lại cho hắn đi chỉ với lời cảnh cáo, và chuyện một người khác ra lệnh cho thợ cắt tóc cạo lông mu cho vợ mình. Về y khoa Usamah mô tả trong khi một thầy thuốc Đông y chữa khối áp-xe trên chân một người Frank bằng cách đắp thuốc cây cỏ lên vết thương, thì bác sĩ người Frank xông vào với cây rìu trên tay và chặt đứt chân bệnh nhân, với một câu hỏi vô đạo lý là y thích sống còn một chân hay chết đủ hai chân? Nhưng y vẫn chết có một chân. Khi một thầy thuốc Đông y ra chế độ dinh dưỡng đặc biệt cho một phụ nữ bị chứng ‘khô thể dịch’, thì cũng bác sĩ người Frank ấy, chẩn đoán là ‘quỷ ám đầu óc bà ta’, và rạch một đường thập giá sâu lên hộp sọ, giết chết bà. Những thầy thuốc giỏi nhất là người Cơ đốc và Do Thái nói tiếng Ả Rập: ngay cả các vì vua Jerusalem giờ đây cũng chuộng các thầy thuốc Đông y hơn. Nhưng Usamah không hề phiến diện – ông thuật hai trường hợp mà thuốc Tây y có hiệu quả tuyệt vời. Nhưng nói rập khuôn cho rằng Thập Tự quân là bọn man rợ và người Hồi có óc thẩm mỹ có thể đã đi quá xa. Suy cho cùng, Usamah đã phục vụ vị Zangi bạo dâm và, nếu đọc đầy đủ, ghi chép của ông thể hiện một bức tranh vè tính bạo lực của người Hồi không kém gây sốc đối với cảm nhận của người thời nay: việc chất đống thủ cấp người Cơ đốc, việc đóng đinh và phân thây binh lính và người ngoại giáo của họ, hành vi  trừng phạt khắc nghiệt của luật sharia Hồi giáo- và câu chuyện về việc cha ông, trong một cơn nóng giận, chặt phăng cánh tay một người hầu. Bạo lực và những luật lệ tàn nhẫn tương tự đều xảy ra ở cả hai bên. Hiệp sĩ Frank và hiệp sĩ Hồi có nhiều điểm chung: họ đều được dẫn dắt bởi những kẻ phiêu lưu tự phát như các Baldwin và Zangi, muốn lập ra những triều đại chiến binh cho riêng mình. Cả hai hệ thống đều dựa vào sự ban phát thái ấp hoặc nguồn lợi tức cho các chiến binh hàng đầu. Người Ả Rập dùng thi ca để khoa trương, để mua vui và để tuyên truyền. Khi Usamah phục vụ dưới trướng vị atabeg ở Damascus, ông thương thảo với người Ai Cập bằng thơ, trong khi các hiệp sĩ Thập Tự dệt những vần thơ yêu đương tán tỉnh. Cả hai loại hiệp sĩ đều sống theo những giới luật tương tự về hành xử cao quí và chia sẻ cùng những ám ảnh: tôn giáo, chiến tranh, ngựa – và những trò chơi thể lực.

Có ít người lính, ít nhà văn đã nắm bắt được nỗi phấn khích và hào hứng của chiến tranh như Usamah. Đọc ông ta như đang cưỡi ngựa xông giữa trận đột kích của cuộc Thánh Chiến trong Vương quốc Jerusalem. Ông tìm kiếm vinh quang trong những giai thoại chiến trường của những hiệp sĩ quả cảm, liều mạng, những cuộc tẩu thoát nhiệm mầu, những cái chết khốc liệt, và những nỗi hân hoan khi xung kích dữ dội, ánh thép loé sáng, chiến mã đầm đìa mồ hôi và máu nóng vọt ra. Nhưng ông cũng là một triết gia về Định mệnh và Lòng Thương Xót của Thượng Đế: ‘Ngay cả những thứ nhỏ nhặt và vô nghĩa nhất cũng có thể dẫn đến sự hủy diệt.’ Trên hết, cả hai bên đều tin rằng, theo lời của Usamah, ‘thắng lợi trong cuộc chiến là do một mình Thượng Đế quyết định.’ Tôn giáo là tất cả. Lời khen ngợi cao nhất Usamah dành cho một người bạn là: ‘một học giả đích thực, một hiệp sĩ thực sự và một tín đồ Hồi giáo mộ đạo đúng nghĩa.’

Giờ sự yên tĩnh tại Jerusalem của Melisende thình lình bị phá tan vì một tai nạn xảy ra trong một môn thể thao cả ông lớn Hồi lẫn Frank cùng chia sẻ.

 CHƯƠNG 24

SỰ BẾ TẮC (1142–1174)

 ZANGI: HUBRIS VÀ NEMESIS

Khi không đánh nhau hoặc đọc sách, Usamah đi săn hưu, sư tử, chó sói, linh cẩu cùng với báo đốm, chim ưng và chó săn – và trong môn thể thao này ông không khác Zangi hoặc Vua Fulk, cũng hay đi săn khi nào có thể. Khi Usamah và vị Atabeg xứ Damasus đến thăm Fulk, họ bái phục một con chim ưng, thế là nhà vua tặng nó cho họ làm quà.

Vào ngày 10/11/1142, chẳng bao lâu sau chuyến thăm Jerusalem của Usamah, Vua Fulk đang cưỡi ngựa gần Acre thì ông thoáng thấy một con thỏ rừng và thế là ông giật cương đuổi theo. Dây nịt yên của ông bỗng dưng đứt và ông té ngã xuống đất. Bộ yên bay xuống và đập nứt sọ đầu ông. Ông mất ba ngày sau đó. Dân Jerusalem đưa tiễn ông đến nơi an táng trong Mộ Thánh. Vào ngày Giáng Sinh, Melisende cho con trai 12 tuổi của mình đăng quang lên ngôi lấy vương hiệu Baldwin III, nhưng bà mới là nhà cai trị thực sự. Trong một thời đại do phái mạnh khống chế, bà là một ‘phụ nữ rất khôn ngoan’ mà, theo lời William xứ Tyre, ‘đã vượt rất xa vị thế bình thường của phụ nữ đến nỗi bà dám đảm đương những trọng trách quan trọng, và cai trị vương quốc sáng suốt như các tiên vương. *

*   Melisende là bà hoàng thứ ba cai trị thực sự Jerusalem – sau Athaliah, con gái của Jezebel và Alexandra, vợ góa của Alexander Jannaeus trong triều đại Maccabee. Bà được đội vương miện ba lần, một lần với vua cha vào năm 1129, rồi với Fulk vào năm 1131 và lần nữa với con trai vào năm 1143.

Mặc dù vị thế thấp kém của phụ nữ ở cả hai bên, Usamah bin Munqidh kể về cả hai phụ nữ Hồi giáo lẫn Thập Tự quân mà trong những thời khắc hiểm nghèo phải khoác áo giáp và chiến đấu với kẻ thù trên trận địa. Melisende không quên mình xuất xứ Armenia. Sau khi Edessa thất thủ, bà định cư cho dân tị nạn Armenia ở Jerusalem và vào năm 1141 người Amenia bất đầu tái dựng Thánh đường St James gần cung điện hoàng gia.  

 Tại thời điểm đắng cay này, tai họa lại giáng xuống. Năm 1144, Zangi Khát Máu đánh chiếm Edessa, tàn sát người Frank, bắt làm nô lệ phụ nữ Frank (mặc dù bảo vệ người Cơ đốc Armenia), và do đó hủy diệt nhà nước Thập Tự đầu tiên và cái nôi của triều đại Jerusalem. Thế giới Hồi giáo hớn hở. Người Frank không phải là vô địch và chắc chắn tiếp theo sẽ là Jerusalem. ‘Nếu Edessa là vùng biển mở,’ Ibn al-Qaysarani viết, ‘thì Jerusalem là bờ biển.’ Kha-lip Abbasid ban thưởng Zangi các tước hiệu Niềm Vinh Dự của Hồi giáo, Phụ tá Chỉ huy các Tín hữu,  Người Bảo Hộ Thiêng liêng của Vua. Nhưng thói rượu chè của ông đã  hạ gục ông trong chốn phòng the.

Tại một cuộc vây hãm ở Iraq, một tên hoạn quan bị sỉ nhục, có lẽ một trong số những người bị hoạn để làm Zangi vui thích, lẻn vào lều được canh gác cẩn mật và đâm ông đang say mèm ngay trên giường, khiến ông khó sống. Một quân triều tìm thấy ông đang xuất huyết, năn nỉ một cách vô ích xin ông ráng sống: ‘Ông ta nghĩ là tôi đang dự tính giết ông. Ông ra dấu với tôi bằng ngón trỏ, cầu cứu với tôi. Tôi dừng lại sợ hãi và nói, ‘Thưa đức ông, ai gây ra việc này với ngài?’ Ông Hoàng Chim Ưng đã chết như thế.

Bộ hạ của ông giành giật của cải chung quanh thi hài còn ấm của ông và hai con trai thì chia đất đai của bố: đứa trẻ hơn, Nur al-Din 28 tuổi, tuốt chiếc nhẫn ấn ra khỏi ngón tay bố và chiếm lấy lãnh thổ Syria. Có tài năng nhưng không hung ác như cha mình, Nur al-Din đẩy mạnh thánh chiến chống người Frank. Bị sốc trước việc Edessa thất thủ, Melisende cầu cứu với Giáo hoàng Eugenius II, và ông này kêu gọi tiến hành cuộc Thập Tự Chinh Thứ Hai.

ELEANOR XỨ AQUITAINE VÀ VUA LOUIS: TAI TIẾNG VÀ THẢM BẠI

Louis VII, vị Vua trẻ thánh thiện của nước Pháp, đồng hành với vợ Eleanor, Nữ Công tước xứ Aquitaine, và Conrad III, Vua Đức, một người đã từng đi hành hương, đáp lời kêu gọi của giáo hoàng. Nhưng khi vượt qua Anatolia, đạo quân Đức và Pháp của họ bị quân Thổ đánh tơi tả. Vua Louis VII chỉ về được Antioch sau một cuộc hành quân chiến đấu thảm hại ắt hẳn đã làm Hoàng hậu Eleanor khiếp đảm. Bà đánh mất nhiều hành lý – và cả sự tôn trọng đối với ông chồng bất lực và sùng đạo hảo huyền.

Ông hoàng Raymond xứ Antioch khẩn cầu Louis hỗ trợ mình đánh chiếm Aleppo nhưng Louis quyết tâm hành hương đến Jerusalem trước đã. Raymond là cậu của Eleanor và là ‘ông hoàng đẹp trai nhất.’ Sau chuyến đi khổ nhọc, Eleanor ‘bất chấp lời thề hôn nhân và không còn trung thành với chồng nữa’, theo William xứ Tyre. Chồng bà mụ người cưng chiều bà, nhưng coi chuyện ân ái, dù giữa vợ chồng, cũng là điều buông thả. Không ngạc nhiên khi Eleanor gọi ông là ‘thầy tu hơn là người thường’. Trong khi Eleanor, thông minh sắc sảo, tóc đen tuyền, mắt đen và thân hình khêu gợi, là người thừa kế giàu nhất châu Âu, lớn lên giữa triều đình Aquitaine ham nhục dục. Các nhà biên niên sử tu sĩ cho rằng dòng máu tội lỗi chảy trong huyết mạch của bà vì ông nội bà là William the Troubadour (Người Hát Rong), một thị sĩ-chiến binh phóng đãng, trong khi bà ngoại bà, biệt danh La Dangereuse (Ả Nguy Hiểm), lại là nhân tình của ông.

Không rõ Eleanor và Raymond có ngoại tình thật không, hành vi của họ cũng đủ khiêu khích để làm mất mặt ông chồng và dấy lên tai tiếng có tầm quốc tế. Vua nước Pháp giải quyết vấn nạn hôn nhân của mình bằng cách bắt cóc Eleanor và bỏ đi nhập bọn với vua Đức đã đến Jerusalem. Khi Louis và Eleanor tiến gần đến thành phố, ‘tất cả tăng lữ và dân chúng ra ngoài thành nghênh đón ông và hộ tống ông đến Mộ Thánh ‘trong tiếng thánh ca và kinh cầu’. Cặp vợ chồng Pháp này cư ngụ trong Đền Thờ Solomon cùng với Conrad, nhưng ắt hẳn Eleanor được triều thần canh chừng cẩn mật. Bà bị quản thúc ở đó vài tháng.

Vào ngày 24/6/1148, Melisende và con trai Baldwin III họp hội đồng tại Acre và tán thành mục tiêu của cuộc Thập Tự Chinh: Damascus. Thành phố này gần đây là đồng minh của Jerusalem, nhưng chỉ là vấn đề thời gian trước khi nó rơi vào tay của Nur al-Din. Vào ngày 23/7, các vua Jerusalem, Pháp và Đức tiến quân vào những vườn cam ở mặt tây Damascus nhưng hai ngày sau bí mật di chuyển trại đến mặt đông. Bốn ngày sau, Thập Tự Chinh tan rã và ba vua nhục nhã rút quân.

Unur, Atabeg xứ Damascus, có thể đã hối lộ cho các ông lớn Jerusalem, thuyết phục họ rằng các Thập Tự quân Tây phương chỉ muốn giành chiến lợi phẩm về phần mình. Tính dễ bị mua chuộc hai mang như thế có thể tin được nhưng, chắc chắn hơn, Thập Tự quân chỉ đơn giản hay tin Nur al-Din, con trai của Zangi, đang tiến đến với một đạo quân tiếp ứng. Giờ thì Jerusalem khô héo dưới sức căng của thảm họa. Conrad giong buồm về nhà; Louis, đắm mình trong sự ăn năn khổ hạnh, vẫn còn ở lại để mừng Phục Sinh ở Thành phố Thánh. Eleanor chỉ mong họ sớm về cho rồi: hôn nhân bị hủy bỏ khi họ trở về.*

* Ngay khi được tự do, Eleanor lấy Henry, Công tước xứ Normandy và Bá tước xứ Anjou, cháu nội Vua Fulk của Jerusalem,người sớm sẽ lên ngôi vua nước Anh với vương hiệu Henry II. Con cái họ bao gồm Vua John và Thập Tự quân tương lai, Vua Richard Tim Sư Tử.

Khi họ đi rồi, Hoàng hậu Melisende ăn mừng cuộc khải hoàn lớn nhất và trải qua nỗi nhục nhã lớn nhất của mình. Vào ngày 15/7/1149, bà và con trai dâng cúng một lần nữa Nhà Thờ Mộ Thánh mới, lúc đó – và hiện giờ – là kiệt tác và cuộc bài trí linh thiêng chói lóa của Jerusalem thời Thập Tự quân. Các kiến trúc sư, tìm thấy một mê cung chen chúc các nhà nguyện và điện thờ trong phức hợp được xây dựng năm 1048 và phục hồi vào năm 1119, giải quyết thách thức này bằng một ý tưởng táo bạo đến kinh ngạc. Họ lợp mái qua tổ hợp bằng cấu trúc hình tròn vươn cao và bao gồm tất cả địa điểm của nó vào trong một tòa nhà kiểu La Mã bề thế, mở rộng đến Vườn Thánh cũ ở phía đông. Họ mở lên bức tường phía đông của Nhà Tròn để bổ sung thêm nhà nguyện và một khu đi bộ rộng rãi. Tại địa điểm của Vương cung Thánh đường Constantine, họ đặt một lối đi lớn có mái che. Họ giữ lại lối đi phía nam năm 1048, tạo một mặt tiền kiểu La Mã với hai khung cổng vào. Hình điêu khắc độc nhất vô nhị trên cầu thang dẫn lên Nhà Nguyện Hill ò Calgary có lẽ là tạo tác tinh xảo nhất của nghệ thuật thời Thập Tự quân.

Con trai của Melisende bất mãn mẹ và yêu cầu được toàn quyền cai trị. Giờ đã 20 tuổi và được ca tụng về trí não lẫn cơ bắp, Baldwin III được cho là vị vua người Frank hoàn hảo – với một ít tật xấu. Ông cũng được biết là một tay cờ bạc và quyến rũ phụ nữ có chồng. Nhưng vụ khủng hoảng phía bắc chứng tỏ Jerusalem cần có một nhà vua-chiến binh năng động trên yên ngựa: con trai của Zangi, Nur al-Din, đánh bại Antioch và giết chết cậu Raymond của Eleanor.

Baldwin phóng đến phương bắc cứu được Antioch kịp thời nhưng khi ông trở lại mẹ ông Melisende, giờ đã 47 tuổi, chống đối việc ông đăng quang ngôi vua vào lễ Phục Sinh như ông yêu cầu. Nhà vua quyết định chiến đấu.

MẸ CHỐNG CON: MELISENDE CHỒNG BALDWIN III

Melisende giao ông các cảng giàu có ở Tyre và Acre, nhưng phần mình vẫn giữ Jerusalem. ‘Ngọn lửa còn đang âm ỉ được khơi bùng lên’ khi Baldwin củng cố lực lượng để giành lấy vương quốc. Melisende chạy từ Nablus đến Jerusalem với Baldwin đuổi theo bén gót. Jerusalem mở cổng thành cho nhà vua. Meli rút lui vào Tháp David và Baldwin vây hãm. Ông dựng bộ phận tấn công, bắn đá và tên vào thành trong vài ngày. Cuối cùng thái hậu nhượng bộ quyền lực – và Jerusalem.

Baldwin chỉ vừa chiếm được quyền thừa kế thì Antioch một lần nữa bị  Nur al-Din tấn kích. Trong khi nhà vua bận bịu một lần nữa ở phương bắc thì dòng họ Ortuq, vốn đã cai trị Jerusalem từ 1086 đến 1096, hành quân từ thái ấp của họ ở Iraq mong chiếm lấy Thành phố Thánh. Họ tập quân trên Núi Olives, nhưng người Jerusalem xông ra và tàn sát họ trên đường Jericho. Sĩ khi dâng cao, Baldwin dẫn quân và mang Thập giá Thực đến Ashkelon, đã thất thủ sau một cuộc vây hãm kéo dài. Nhưng ở phía bắc, Damascus cuối cùng cũng sụp đổ dưới chân  Nur al-Din,  giờ đã trở thành chủ nhân ông của Syria và đông Iraq. 

Nur al-Din, một người cao lớn nước da ngâm đen, có râu cằm, trán rộng và dáng dấp hấp dẫn nhờ cặp mắt nồng nàn, có thể tàn bạo không kém Zangi, nhưng biết kềm chế hơn và tình tế hơn. Ngay cả những Thập Tự quân cho ông là người quả cảm và khôn ngoan. Ông được triều thần yêu mến, giờ có cả chính trị gia dày dạn Usamah bin Munqidh đó. Nur al-Din cũng thưởng thức trò polo (cưỡi ngựa dùng gậy đánh banh vào lưới) mà ông chơi ban đêm dưới ánh nến. Chính ông là người khơi dậy mối căm thù của người Hồi đối với cuộc chinh phục của người Frank và biến nó thành sự trỗi dậy và một lòng tự tin mới về sức mạnh quân sự của dòng Sunni. Nguồn suối thi ca tươi tắn ca tụng Jerusalem, xiển dương cuộc thánh chiến của Nur al-Din để ‘thanh tẩy Jerusalem khỏi sự ô nhiễm của Thập Giá’ – mỉa may thay vì có lần các Thập Tự quân đã cho rằng người Hồi làm ô nhiễm Mộ Thánh.

Baldwin lâm vào cảnh bế tắc cùng với Nur al-Din. Họ đồng ý hưu chiến trong khi nhà vua nhắm nhờ đến sự hỗ trợ của Byzantine: ông đã cưới cháu gái của hoàng đế Manuel là Theodora. Cuộc hôn nhân vẫn chưa đem lại đứa con nào thì Baldwin lâm bịnh nặng ở Beirut và mất vào ngày 10/5/1162, ắt hẳn là do bệnh tiêu chảy.

Đoàn đưa tang đi từ Beirut đến Jerusalem giữa cảnh tượng đau buồn và tiếc thương sâu sắc chưa từng có tiền lệ. Các vua Jerusalem, cũng như những gia đình cựu Thập Tự quân khác, đã trở thành các ông lớn vùng Levant (miền đất ở bờ đông Địa Trung Hải, bao gồm Israel, Jordan, Lebanon, Palestine, và Syria) thành ra bây giờ, theo nhận xét của William of Tyre, nhiều người ngoại giáo đã từ vùng núi xuống đưa tang và than khóc. Thậm chí Nur al-Din còn nói rằng ‘người Frank đã mất một ông hoàng mà thế giới chưa có ai giống như thế.’

AMAURY VÀ AGNES: ‘KHÔNG XỨNG LÀM HOÀNG HẬU CHO MỘT THÀNH PHỐ THÁNH NHƯ JERUSALEM’

Tai tiếng của một người đàn bà đã làm lệch đi việc kế vị ở Jerusalem. Em trai của Baldwin Amaury, Bá tước Jaffa và Ashkelon, là người thừa kế, nhưng giáo trưởng từ chối đội vương miện cho ông trừ khi ông hủy hôn với Agnes, cho rằng hai người liên hệ quá gần nhau – cho dù họ đã có một đứa con với nhau. Nhưng lý do thực sự là ‘bà ta không xứng làm hoàng hậu cho thành phố thánh như Jerusalem’, một nhà biên niên sử nhận xét. Agnes tai tiếng là phóng đãng, nhưng thật không thể hiểu bà có đáng bị như thế không vì mọi sử gia đều có thành kiến chống lại bà. Dù sao thì bà là đối tượng được nhiều người thèm muốn và, ở những thời điểm khác nhau, người tình của bà được cho là gồm có quản gia, giáo trưởng và bốn ông chồng.

Amaury vì trách nhiệm phải ly dị bà và đăng quang ở tuổi 27. Cung cách đã vụng về, ông lại nói lắp và có kiểu cười khùng khục và chẳng bao lâu ‘phát phì với bộ ngực như ngực phụ nữ xệ xuống đến tận hông’. Người Jerusalem chế giễu ông ngoài đường phố, nhưng ông phớt lờ ‘như thế không nghe thấy gì’. Dù vậy, ông vừa là người trí thức vừa là chiến binh giờ đang đương đầu với thách thức chiến lược nản lòng nhất kể từ ngày thành lập vương quốc. Syria đã mất về tay  Nur al-Din, nhưng cuộc chinh phục Ashkelon của Baldwin III đã mở cửa đến Ai Cập. Amaury sẽ cần đến mọi năng lực và nhân lực của mình để chiến đấu với Nur al-Din giành lấy phần thưởng tột cùng đó.

Đây là một lý do tại sao ông chào đón đến Jerusalem tên đểu cáng đầy tai tiếng thời đó, Andronikos Komnenos, một ông hoàng Byzantine cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo các hiệp sĩ và lực lượng yểm trợ. Là anh em họ với Hoàng đế Manuel, Andronikos đã rù quến cháu gái của hoàng đế, suýt bị các anh em của cô ta nổi giận giết chết  và phải ngồi tù 12 năm trước khi được khoan hồng và được bổ nhiệm làm Thống đốc Cilicia. Sau đó y bị cách chức vì thiếu năng lực và bất trung, và phải chuồn đến Antioch. Tại đây y ve vãn Philippa, con gái của ông hoàng đang trị vì, và phải đào tẩu lần nữa – đến Jerusalem. ‘Nhưng như một con rắn cuộn trong lòng hay một con chuột trong tủ áo,’ quan triều của Amaury, William xứ Tyre, nhớ lại, ‘y minh họa tính đúng đắn của câu nói, “Tôi sợ người Hy Lạp ngay cả khi họ mang đến quà biếu.”‘ Amaury cho y làm chủ vùng Beirut, nhưng Andronikos, giờ gần đến 60, vứt bỏ Công chúa Philippa và dụ dỗ cô vợ góa của Vua Jerusalem  Baldwin III, Theodora, chỉ mới 23 tuổi. Jerusalem nổi giận:  Andronikos phải trốn chạy một lần nữa. Dắt theo Theodora, y đào ngũ đến với Nur al-Din ở Damascus.*

* Ít ra y hình như đã yêu Theodora lâu bền hơn những người khác. Khi bà bị hoàng đế bắt, Andronikos đầu hàng và được khoan hồng. Sau đó hoàng đế mất, và tên vô lại này đoạt lấy quyền lực vào năm 1182 và trở thành một trong những hoàng đế đáng khinh bỉ nhất trong lịch sử Constantinople. Trong thời trị vì khủng bố của y, y giết gần hết thành viên hoàng gia kể cả phụ nữ. Ở tuổi 65 nhưng vẫn còn đẹp như trai trẻ, y cưới một công chúa 13 tuổi. Khi y bị lật đổ, dân chúng tra tấn y đến chết theo cách rùng rợn nhất, một cánh tay bị chặt đứt, một con mắt bị khoét mất, tóc và răng bị nhổ sạch, mặt bị tưới nước sôi để không còn nét bánh bao. Số phận của Theodora không nghe nói tới.

 Không ai buồn khi ‘con rắn’ này bỏ đi, nhất là giáo sĩ thân thiết của Amaury,  William xứ Tyre. Ông sinh ra ở Jerusalem. Sau khi học xong ở Paris, Orleans và Bologna, William trở về để trở thành cố vấn thân cận nhất của Amaury. Hơn 20 năm, làm Tổng Giám mục xứ Tyre và sau đó Quan Chưởng Ấn, William là chứng nhân trung thực nhất của bi kịch hoàng gia giờ đây trùng hợp với cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của Jerusalem.

WILLIAM XỨ TYRE: TRẬN CHIẾN AI CẬP

Vua Amaury ủy thác cho William viết lịch sử về các cuộc Thập Tự quân và các vương quốc Hồi giáo, đúng là một dự án lớn lao. William không gặp vấn đề gì khi viết lịch sử Outremer nhưng, dù ông biết tiếng Ả Rập, ông phải viết về đạo Hồi cách nào đây?

Lúc này, triều đại Fatimid ở Ai Cập đang tan rã. Có nhiều món bở cho kẻ cơ hội tinh tường – bởi thế tất nhiên Usamah bin Munqidh có mặt ở Cairo. Ở đó, trò chơi quyền lực nguy hiểm chết người nhưng hái ra tiền. Usamah làm giàu và lập ra một thư viện; tuy nhiên, không thể tránh khỏi gặp sự cố và ông buộc phải đào tẩu để được toàn mạng. Nhưng ông gửi gia đình, vàng bạc và thư viện yêu quí của mình đi bằng thuyền. Khi thuyền đắm ở ngoài khơi Acre, gia sản mất hết còn thư viện thì bị Vua Jerusalem xung công: ‘Nghe tin con cái và các phụ nữ của tôi đều bình yên khiến nhẹ nhõm hơn cho dù tài sản tiêu tan. Trừ ra các quyển sách: 4,000 cuốn. Nỗi đau này kéo dài đến suốt cuộc đời.’ Sự mất mát của Usamah lại là lợi lộc của William vì ông thừa hưởng các bộ sách của Usamah và sử dụng chúng hiệu quả để viết ra lịch sử đạo Hồi.

Trong khi đó Amaury lao vào cuộc chiến Ai Cập, phát động không dưới 5 cuộc xâm lược. Rủi ro rất cao. Trong cuộc xâm lược lần 2, Amaury suýt chính phục được Ai Cập. Nếu ông đã thành công trong việc giữ được của cải và tài nguyên của xứ sở đó, Vương quốc Cơ đốc ắt hẳn đã lâu bền và toàn bộ lịch sử của miền đất đỏ sẽ đã rất khác. Nhưng thay vào đó viên tể tướng Ai Cập bị hạ bệ chuồn đến Nur al-Din, và ông này liền phái vị tướng người Kurd của mình, Shirkuh người tròn trịa nhưng năng nổ, đi chinh phục Ai Cập. Amaury đánh bại Shirkuh, chiếm Alexandria, nhưng thay vì củng cố ông chấp nhận triều cống và trở về Jerusalem.

Nhờ chiến lợi phẩm Ai Cập, kinh đô của Amaury phồn thịnh lên. Căn phòng kiểu Gô-tich diễm lệ trong Cenacle trên Núi Đền được xây dựng tại thời điểm này và nhà vua cho xây lên một hoàng cung mới ở phía nam Tháp David. * Nhưng Ai Cập còn lâu mới sợ sệt.

*  Cung điện này xuất hiện trên bản đồ khá chính xác của Jerusalem được vẽ ra ở Cambrai khoảng thời gian này. Theodorich nhìn thấy cung điện vào năm 1169. Nó được giao cho Thập Tự quân Đức vào năm 1229, nhưng nó biến mất, chắc chắn do quân Thổ phá hủy vào năm 1244. Các nhà khảo cổ phát hiện một phần nền móng của nó vào năm 1971 và 1988 bên dưới Vườn Armenia và doanh trại Thổ Nhĩ Kỳ.

 Bế tắc trong cuộc xung đột tốn kém này, Amaury nhắm đến sự hỗ trợ của hoàng đế Manuel ở Constantinople, bằng cách cưới cháu nội họ Maria của ông ta và phái sử gia của mình là William đi thương thảo việc hợp tác quân sự – nhưng khoá biểu của cuộc chiến và thời điểm hỗ trợ thường không ăn khớp. Ở Ai Cập, Amaury và các đồng minh Ai Cập của ông chuẩn bị đánh chiếm Cairo khi tư lệnh Shirkuh của Nur al-Din trở lại. Nhà vua rút lui khi được hứa hẹn sẽ được trả tiền thêm.

 Khi Amaury lâm bẹnh ở Gaza, ông nhờ các đồng minh Ai Cập gởi đến mình những thầy thuốc giỏi nhất của họ – nhà vua rất ngưỡng mộ Đông y. Người Ai Cập giao nhiệm vụ này cho một trong những ngự y Do Thái của vị kha-lip, mà may thay ông cũng vừa trở về từ Jerusalem.

MOSES MAIMONIDES: CẨM NANG CHO NGƯỜI BỐI RỐI

Maimonides từ chối chữa bệnh cho ông vua Thập Tự quân vì ông ta chỉ đến Ai Cập triều Fatimid gần đây, và việc kết đồng minh với Jerusalem chỉ ngắn ngủi. Maimonides là người tị nạn từ chế độ bức hại người Hồi giáo ở Tây Ban Nha, nơi thời hoàng kim của nền văn minh Do Thái-Hồi đã qua rồi. Giờ đây nó bị chia cắt giữa  các vương quốc Cơ đốc hung hăng ở phía bắc và phía nam là Hồi giáo, đã bị các bộ tộc Berber người Almohad cuồng tín chinh phục. Họ đã cho người Do Thái lựa chọn giữa sự cải đạo hay là chết. Chàng thanh niên Maimonides giả vờ cải đạo nhưng vào năm 1165, anh trốn thoát và lên đường hành hương đến Jerusalem. Vào ngày 14/10, trong dịp Tishri, tháng Năm Mới Do Thái và ngày lễ Đền Tội, một mùa ưa chuộng cho những cuộc hành hương đến Jerusalem, Maimonides đứng trên Núi Olives với em trai và cha. Ở đó anh trước tiên ngắm nhìn ngọn núi của Đền Thờ Do Thái, và theo đúng nghi thức anh xé rách áo như tập tục của khách hành hương Do Thái.

Vào thành phố qua Jehoshaphat phía đông, anh tìm thấy một Jerusalem Cơ đốc mà người Do Thái còn bị chính thức ngăn cấm – mặc dù thực sự có bốn người thợ nhuộm Do Thái đang sống gần Tháp David, dưới sự bảo hộ của hoàng gia.

Sau đó, ông lập nghiệp ở Ai Cập, tại đó, người Ả Rập biết ông dưới tên Musa ibn Maymun, ông nổi tiếng là một học giả thông thái, cho ra đời những tác phẩm về những đề tài thay đổi từ y khoa đến giáo luật Do Thái, trong đó có tuyệt tác Cẩm Nang cho Người Bối Rối, trong đó hòa quyện triết lý, tôn giáo và khoa học; ông cũng được phong là ngự y.

 Nhưng Ai Cập đang chao đảo khi Amaury và Nur al-Din đang giao chiến để giành thế thượng phong đối với triều kha-lip Fatimid đang nguy khốn. Amaury thấm mệt nhưng gặp may.

Năm 1169, là chủ nhân của Syria, Nur al-Din hoàn tất công cuộc bao vây Jerusalem khi vị amir của ông là Shirkuh đánh thắng Trận Ai Cập. Shirkuh được sự hỗ trợ của người cháu: Saladin. Khi Shirkuh béo phì mất vào năm 1171, Saladin chiếm Ai Cập cho mình, bổ nhiệm Maimonides làm Rais al-Yahud, Thủ lĩnh Do Thái – thầy thuốc riêng của mình. Trở lại Jerusalem, cảnh ngộ của người thừa kế ngôi báu đặt y khoa là trung tâm sân khấu.

CHƯƠNG 25

VUA HỦI (1174–87)

 WILLIAM XỨ TYRE: THẦY DẠY HOÀNG GIA

Vua Amaury bổ nhiệm William xứ Tyre làm thầy dạy cho con trai mình, Baldwin. William rất yêu quí hoàng tử:

Chàng trai, lúc đó chỉ mới 9 tuổi, được giao cho tôi chăm sóc và dạy dỗ những môn học khai phóng. Tôi hết lòng vì người học trò hoàng gia của mình. Cậu có dáng dấp dễ thương và không ngừng tiến bộ trong việc theo đuổi văn học và không ngừng hứa hẹn sẽ phát triển những tố chất đáng yêu. Cậu là một kỵ mã điêu luyện. Tri thức cậu sắc sảo. Cậu có trí nhớ thật dai.

‘Như cha cậu,’ William nói thêm, ‘cậu hăng hái lắng nghe lịch sử và sẵn sàng nghe theo lời khuyên hữu ích’ – chắc mẫm là lời khuyên của William. Cậu rất ham vui và nhờ đó thầy học của cậu mới phát hiện được cảnh ngộ của cậu.

Cậu chơi đùa với các bạn, và như bọn trẻ thường làm, chúng bắt đầu cấu véo nhau bằng móng tay của mình. Nhưng chỉ có Baldwin là chịu đựng việc đó rất nhẫn nại như thể cậu không có cảm giác gì. Sau khi việc này xảy ra một vài lần, người ta thông báo với tôi. Tôi gọi cậu lại, tôi phát hiện rằng cánh tay và bàn tay phải của cậu tê dại một cách kỳ lạ. Tôi bắt đầu lo lắng. Nhà vua được báo tin, các thầy thuốc hội chẩn. Sau một thời gian, chúng tôi nhận ra những triệu chứng đầu tiên. Không sao cầm được nước mắt.

CĂN BỆNH CỦA BALDWIN IV

Cậu học trò vui tươi của William mắc bệnh phong* – éo le khi cậu lại là người thừa kế của một vương quốc đang chinh chiến. Vào ngày 15 tháng 5 1174, Lãnh chúa của Syria và Egypt, bộ óc của cuộc thánh chiến mới, Nur al-Din, qua đời. Ngay cả William cũng khâm phục ông là một ‘ông hoàng công chính và một con người mộ đạo.’

* Bệnh phong (hủi) là bệnh thường gặp vào thời đó. Thật ra Jerusalem có dòng tu riêng là Dòng St Lazarus dành cho các hiệp sĩ mắc bệnh phong. Bệnh phong rất khó lây: đứa trẻ phải có hàng tháng trời tiếp xúc, có lẽ với một bà vú bị phong mà không biết. Bệnh phong gây bởi vi khuẩn đi qua những giọt mồ hôi và do tiếp xúc. Trong phim Vương Quốc của Thiên Đường ông được thể hiện đeo mặt nạ sắt để che giấu gương mặt không còn mũi, hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng thực sự ông từ khước việc che giấu thân phận làm vua của mình cho dù khi bệnh đã tàn phá ông.

6

Lời nguyền của Jerusalem: chàng trai Baldwin IV chỉ cho thầy mình William xứ Tyre sao cậu không thấy đau khi chơi đùa với chúng bạn, triệu chứng đầu tiên của bệnh phong. Vua Hủi là biểu tượng thời kỳ suy sụp của vương quốc. 

Vua Amaury tiến nhanh ra bắc để tận dụng cái chết của Nur al-Din, nhưng vào ngày 11/7, ông mắc bệnh tiêu chảy. Ông chỉ mới 38 tuổi, khi các thầy thuốc Ả Rập và Frank bàn cãi về việc trị liệu, ông mất ở Jerusalem. Nhà vua mới Baldwin IV phải trải qua một loạt liệu pháp khác nhau – trích máu, xoa bóp dầu, thụt hậu môn. Sức khỏe ông được một thầy thuốc Ả Rập Abu Sulayman Dawud theo dõi, còn người em thì dạy Baldwin cách cưỡi ngựa bằng một tay khi bệnh ông tiến triển.

Thật khó để tìm ra một trường hợp nào về lòng quả cảm cao quí dưới đạn lửa hơn vị vua trẻ tuổi chịu kiếp nạn này, luôn được người thầy tận tâm theo dõi sát sao: ‘Ngày qua ngày, bệnh trạng của ông càng tệ hơn, nhất là mũi ông bị tấn công đến nỗi những bộ hạ trung thành đều mũi lòng vì lòng trắc ẩn khi họ nhìn ông.’ Ông đã lớn lên xa cách mẹ nhưng giờ đây bà Agnes đã trở về để giúp đỡ con trai, lúc nào cũng đồng hành cùng ông trong chiến dịch.

Em họ vua là Bá tước Raymond III xứ Tripoli yêu sách quyền nhiếp chính và vãn hồi sự ổn định, bổ nhiệm ông thầy hoàng gia William làm  Quan Chưởng Ấn. Nhưng ác mộng chiến lược đã luôn ám ảnh Jerusalem giờ đã thành hiện thực: Saladin, Lãnh chúa Cairo, đánh chiếm Damascus, dần dần nhưng chắc chắn thống nhất Syria, Ai Cập, Yemen và phần lớn Iraq thành một vương quốc hùng mạnh, bao vây Jerusalem. Raymond xứ Tripoli, một trong những ông vua vùng Levant đó nói tiếng Ả Rập, hoãn binh bằng cách thỏa thuận hưu chiến với Saladin. Và Saladin cũng muốn câu giờ.

Baldwin thể hiện khí phách của mình bằng cách công kích vào tận Syrỉa và Lebanon, nhưng trong khi phải chống chọi với bệnh tật, các ông lớn đấu đá nhau quanh giường bệnh. Thủ lĩnh Hiệp sĩ Đền Thánh càng ngày càng tỏ ra bất phục tùng trong khi các Hiệp sĩ Cứu tế đang dấy lên một cuộc chiến riêng tư chống giáo trưởng, thậm chí bắn tên vào Mộ Thánh. Trong khi đó một người mới đến, cựu hiệp sĩ Reynald xứ Chatillon, Lãnh chúa xứ Kerak và  Outrejourdain, bên kia Jordan, tài sản cũng lắm mà nợ nần cũng nhiều, phô trương sự tự mãn và vênh váo.

Saladin bất đầu thăm dò vương quốc, tấn công Ashkelon và phi ngựa về hướng Jerusalem, khiến dân chúng kinh hoảng và trốn chạy vào Tháp David. Ashkelon sắp sửa thất thủ khi vào cuối tháng 11 1177 vua hủi, Reynald và vai trăm hiệp sĩ tấn công 26,000 quân của Saladin tại Montgisard, tây-bắc Jerusalem. Tình thần binh sĩ lên cao khi trong thấy Thập giá Thực và một số binh sĩ bảo có nhìn thấy St George trên chiến trường, Baldwin thắng một trận lừng lẫy. 

ÂN SỦNG DƯỚI ÁP LỰC: THẮNG LỢI CỦA VUA HỦI

Vua hủi trở về trong khải hoàn trong khi Saladin phải tẩu thoát trên lưng lạc đà. Nhưng vị sultan này còn làm chủ Ai Cập và Syria, và chẳng bao lâu ông sẽ gầy dựng những quân đoàn mới.

Năm 1179, trong một cuộc đột kích vào Syria của Saladin, Baldwin bị phục kích, ngựa ông bỏ chạy và ông thoát được chỉ nhờ vào lòng quả cảm của Đốc quân Vương quốc hi sinh mạng sống cứu vua. Phục hồi với tính can trường cá tính, ông lại dẫn quân kháng cự lại các trận đánh phá của Saladin. Sát bên sông Litani, ông ngã ngựa và lâm vào tình thế nguy cấp: chứng tê liệt lan rộng khiến ông không sao lên ngựa được. Một hiệp sĩ phải cõng ông trên lưng chạy khỏi trận địa. Nhà vua trẻ không thể cưới vợ – người ta cho rằng bệnh phong có thể lây qua đường tình dục và giờ đây ông khó thể nào cầm đầu quân đội.

Ông bày tỏ nỗi phiền muộn của mình và ý muốn tìm một ông vua mới mạnh mẽ ở châu Âu với Vua Louis VII của Pháp: ‘Bị tước đoạt khả năng sử dụng một chi không giúp ích gì nhiều cho một người thực thi trách nhiệm của chính quyền. Phải chi tôi có thể được chữa lành bệnh của Naaman nhưng tiếc là không tìm được Elisha nào (Theo Kinh thánh Do Thái, tướng Naaman bị bệnh phong nhưng được nhà tiên tri Elisha chữa lành bằng cách ngâm mình bảy lần trong dòng sông Jordan: ND). Một bàn tay quá yếu không thích hợp để nắm quyền lực khi bọn Ả Rập hung hăng đè nặng áp lực lên Jerusalem.’ Nhà vua càng bệnh nặng, cuộc đấu tranh giành quyền lực càng nóng bỏng. Nhà vua suy sụp cũng là lúc bạo loạn chính trị và đạo đức nổi lên. Khi Bá tước Raymond xứ Tripoli và Hoàng thân Bohemond xứ Antioch tiến về thành phố với một đoàn kỵ binh, nhà vua nổi giận vì nghi ngờ họ chuẩn bị đảo chính, một lần nữa câu giờ bằng cách hưu chiến với Saladin.

Khi giáo trưởng mất, thái hậu Agnes, đáng lẽ phải bổ nhiệm chức giáo trưởng cho Tổng Giám mục William xứ Tyre mới đúng lệ, lại giao chức vụ này cho Heraclius xứ Caesarea, được cho là người tình của bà ta. * Thích mặc quần áo lụa là, mang nữ trang lấp lánh, người xực nức dầu thơm đắt tiền, tên thầy tu đĩ thỏa này giữ cô vợ một người bán vải, Paschia de Riveri, làm nhân tình. Giờ cô ta chuyển đến Jerusalem, và thậm chí còn sinh cho y một cô con gái: người Jerusalem gọi cô nàng là  Giáo trưởng phu nhân.

* Giờ thì William xứ Tyre ‘phiền muộn vì những tai họa đau buồn, hoàn toàn chán ghét với hiện tại, quyết định buông bỏ cây bút và ném biên niên sử các sự kiện vào cõi tĩnh lặng của nấm mồ vì chúng chỉ gợi lên tiếng khóc than và những dòng nước mắt. Chúng tôi thiếu can đảm để viết tiếp.’ Biên niên sử Outremer của ông còn sống sót nhưng cuốn Lịch Sử Đạo Hồi thì thất lạc. Ông tranh cãi với Giáo trưởng Heraclius và bị ông này rút phép thông công. William cầu cứu lên La Mã nhưng qua đời ngay khi chuẩn bị lên đường đi Ý. Có thể ông bị đầu độc.

 Nhà vua sắp chết. Agnes phải gấp rút giải quyết vấn đề thừa kế.

GUY: NGƯỜI THỪA KẾ KHIẾM KHUYẾT

Agnes do đó sắp xếp cuộc hôn nhân giữa em gái nhà vua Sibylla với Guy xứ Lusignan, người em trai 27 tuổi hấp dẫn của người tình cuối cùng của bà, vị Đốc quân của Vương quốc. Quận chúa Sibylla, một góa phụ trẻ đã có một đứa con từ cuộc hôn nhân trước, là người duy nhất vui sướng với cuộc phối ngẫu này. Đối với hầu hết các ông lớn, người chồng mới của bà dường như thiếu kinh nghiệm cũng như thấp kém về địa vị để có thể xử lý được cuộc khủng hoảng hiện thời của Jerusalem. Guy, giờ là Bá tước xứ Jaffa và Ashkelon, chắc chắn không có đủ quyền hành. Ông chia rẽ vương quốc ngay lúc nó cần sự đoàn kết nhất.

Reynald xứ  Kerak phá vỡ thế hưu chiến khi tấn công một đoàn xe đang trên đường hành hương đến Mecca. Không có nghĩa vụ nào thiêng liêng cho một nhà cai trị Hồi giáo hơn là việc bảo vệ sự kiện haj. Saladin điên tiết. Nhưng tiếp sau đó Reynald trang bị một hạm thuyền và đánh phá xuống Hồng Hải, đổ bộ lên bờ biển gần Mecca và Medina nhất. Mang chiến tranh đến đất địch là động thái ấn tượng nhưng cũng là một trò chơi nguy hiểm. Reynald bị đánh bại trên đất liền và biển cả và Saladin ra lệnh đem các thủy thủ người Frank bắt được ra cắt cổ công khai bên ngoài Mecca. Sau đó ông lập một đạo quân khác từ đế chế không ngừng bành trướng của mình. Về phần Reynald, Saladin thề, nguyên văn câu nói của ông, ‘sẽ lấy máu tên độc tài xứ Kerak’.

Baldwin, mũi và các chi đều bị hủy hoại, không còn có thể sử dụng tay chân, người lúc nào cũng sốt. Ông bổ nhiệm Guy làm nhiếp chính, gìn giữ Jerusalem như đất phong của mình. Guy không thể nào không thấy hãnh diện về sự trỗi dậy của mình, cho đến tháng 9 năm 1183, Saladin xâm lược Galilee. Guy huy động 1,300 hiệp sĩ và 15,000 bộ binh gần suối Sephoria nhưng hoặc  sợ hoặc không thể tấn công Saladin. Saladin cuối cùng tiến đánh pháo đài Kerak bên kia Jordan. Baldwin ra lệnh đốt lửa hiệu trên Tháp David để báo tin cho Kerak biết viện binh đang trên đường tới. Một cảnh tượng đau lòng khi chứng kiến ông vua hủi quả cảm – được mang trên cáng, mắt giờ như mù, thân thể biến dạng kỳ cục và phân hủy – cầm đầu quân đội đến giải cứu Kerak.

Khi trở về, nhà vua sa thải Guy và bổ nhiệm Raymond làm nhiếp chính và ra lệnh cho đứa cháu 8 tuổi, con trai của Sibylla, lên kế vị, hiệu là Baldwin V. Sau lễ đăng quang, ông vua bé được mang trên vai của nhà quí tộc cao lớn nhất, Lãnh chúa xứ Ibelin. Vào ngày 16/5/1186, Baldwin IV chết ở tuổi 23. Nhưng nhà vua trẻ con Baldwin V trị vì đúng một năm, được chôn trong một quách tô điểm công phu mô tả Christ hai bên là thiên thần và trang trí lá cây ô rô.

Jerusalem cần một tổng tư lệnh già dặn. Ở Nablus, Raymond xứ Tripoli và các ông lớn tụ họp để ngăn Guy trở lại, nhưng ở Jerusalem ngai vàng thuộc về Sibylla, giờ là hoàng hậu trị vì – và bà lại kết hôn với chàng Guy bị khi dễ. Sibylla thuyết phục Giáo trưởng Heraclius đội vương miện cho bà, hứa là sẽ ly dị chồng và bổ nhiệm một quân vương khác. Nhưng trong lễ đăng quang, bà triệu Guy đến để được đội vương miện làm vua bên cạnh mình. Bà đã lừa gạt mọi người nhưng vị vua mới và hoàng hậu không thể kềm chế

Reynald và Thủ lĩnh Hiệp sĩ Đền Thánh, cả hai đang làm hỏng trận chiến với Saladin. Mặc dù có hưu chiến, Reynald phục kích một đoàn xe đi hành hương Mecca từ Damascus, bắt được em gái Saladin, chế giễu Muhammad và tra tấn tù binh của mình. Saladin yêu cầu Vua Guy bồi thường, nhưng Reynard không chịu bồi thường.

Vào tháng 5, con trai của Saladin đánh phá Galilee. Hiệp sĩ Đền Thánh và Cứu tế tấn công ông một cách khinh suất và bị tàn sát tại Suối Cresson, Thủ lĩnh Hiệp sĩ Đền Thánh và ba hiệp sĩ là những người duy nhất trốn thoát được. Nhờ thảm họa này mà họ tạm thời đoàn kết.

VUA GUY: MẮC BẪY

Vào ngày 27/6/1187, Saladin dẫn đầu đạo quân 30,000 người, hành quân đến Tiberias, hi vọng dụ được quân Frank ra ngoài để giáng ‘một cú đấm như trời giáng trong cuộc thánh chiến’.

Vua Guy huy động 12,000  hiệp sĩ và 15,000 bộ binh tại

Sephoria ở Galilee, nhưng tại một cuộc họp trong lều đỏ của các nhà vua Jerusalem, ông lo lắng trước những giải pháp khó nuốt đang đối đầu.  Raymond xứ Tripoli thúc giục phải kềm chế cho dù bà vợ mình đang bị vây hãm ở Tiberias. Reynald và Thủ lĩnh Hiệp sĩ  Đền Thánh đáp ứng bằng cách gọi Raymond là tên phản trắc và yêu cầu lâm chiến. Cuối cùng Guy mắc bẫy. Ông dẫn quân băng qua vùng đồi Galilee nóng như nung suốt một ngày trời cho đến khi, bị binh lính Saladin quấy nhiễu, bị cái nóng rát da nuốt chửng và cơn khát hành hạ, ông hạ trại trên vùng cao nguyên núi lửa hai ngọn đồi Horns xứ Hattin. Sau đó họ đi tìm nước – nhưng mọi giếng đều khô cạn. ‘Ôi Chúa Trời,’ Raymond kêu lên, ‘cuộc chiến thua rồi; chúng ta chết hết; vương quốc đã tiêu tùng.’

Khi các Thập Tự quân tỉnh dậy vào buổi sáng ngày thứ bảy 4/7, họ có thể nghe tiếng cầu nguyện trong doanh trại Hồi giáo dưới chân đồi. Họ đã chịu khát trong cái nóng mùa hè, giờ binh lính Hồi lại đang thi nhau đốt cây cỏ khô. Chẳng mấy chốc lửa bùng lên chung quanh họ.

CHƯƠNG 26

SALADIN (1187–1189)

SALADIN: TRẬN ĐÁNH

Saladin không ngủ, suốt đêm mãi lo tổ chức lực lượng và khí tài, bố trí hai cánh quân vào vị trí. Ông đã bao vây người Frank. Vị Sultan của Ai Cập và Syria quyết tâm không để vuột mất cơ hội. Quân đội quốc tế của ông, với các đạo quân người Kurd, Ả Rập, Thổ, Armenia và Sudan, tạo ra một cảnh tượng đáng sợ, được thư ký của Saladin là Imad al-Din hào hứng ghi lại:

Một đại dương cuồn cuộn các kỵ mã tấn công ngựa hí vang, gươm và áo giáp, giáo đầu bịt sắt hình ngôi sao, và kiếm hình lưỡi liềm, dao xứ Yemen, cờ vàng, cờ hiệu đỏ như màu cò chân ngỗng và những áo giáp khoen sắt lấp lánh như nước hồ, những thanh gươm trắng sáng như suối nước, cung gắn lông xanh như chim, mũ sắt lập loè trên những chiến mã phóng như bay.

Lúc bình minh, Saladin, chỉ huy đạo trung quân trên mình ngựa, cùng với con trai trẻ Afdal, và được bảo vệ như luôn luôn bởi các cận vệ mamluk trung thành (chiến binh-nô lệ) người Thổ, khởi đầu cuộc tấn công, bắn tên như mưa vào quân Frank và chỉ huy cuộc đột kích của các hiệp sĩ và cung thủ trên lưng ngựa để dồn quân địch vào chốn nguy khốn. Đối với Guy, mọi sự đều tùy thuộc vào việc duy trì được sự che chắn của bộ binh chung quanh hiệp sĩ trên lưng ngựa; đối với Saladin, mọi sự tùy thuộc vào việc tách họ ra.

Khi Giám mục Acre giơ cao Thập giá Thực trước mặt nhà vua, binh sĩ của Guy đẩy lùi được đợt tấn công thứ nhất, nhưng chẳng bao lâu quân Frank chết khát phải chạy lên chỗ cao, khiến các hiệp sĩ không được che chắn. Các hiệp sĩ của Guy phát động mũi tấn công. Khi  Raymond xứ Tripoli và Lãnh chúa xứ Ibelin phi ngựa về phía các lực lượng của vị sultan, Saladin chỉ cần ra lệnh cho người cháu mình, đang chỉ huy cánh phải, mở rộng hàng ngũ  cho Thập Tự quân phi ngựa qua, rồi khép lại đội hình, khép chặt vòng vây. Các cung thủ Hồi, phần lớn gốc Armenia, bắn ngã các chiến mã địch với trận mây tên như đàn châu chấu, các hiệp sĩ không ngựa như sư tử hóa thành nai tơ. Vào ngày nóng như thiêu đốt đó, các binh lính của Guy, ngã ngựa và lâm vào thế nguy hiểm không được che chắn, môi phù lên vì khát, bị lửa bao vây, mất dấu vị chỉ huy, chỉ còn biết chết như rạ hoặc tháo chạy hoặc đầu hàng.

Ông rút lui đến vùng đồi Horns và hạ trại, dựng lều đỏ. Các hiệp sĩ bao quanh ông tử thủ. ‘Khi vua Frank đã rút quân lên đỉnh đồi,’ con trai Afdal của Saladin nhớ lại, ‘các hiệp sĩ của ông mở cuộc đột kích anh dũng và đẩy lùi người Hồi trở lại phía cha tôi.’ Trong một lúc, dường như lòng quả cảm của quân Frank đã đe đọa ngay cả Saladin. Afdal bắt gặp nổi khốn đốn của cha: ‘Ông biến sắc mặt, vuốt râu rồi thúc ngựa tiến lên hô vang, “Hãy cho bọn quỉ biết tay!”‘ Nghe thấy thế quân Hồi lại xuất kích, phá vỡ thế trận Thập Tự quân. ‘buộc họ phải rút lên đồi. Khi tôi nhìn quân Frank tháo chạy, tôi la lên khoái trá,”Chúng ta đã đánh đuổi được chúng!”‘ Nhưng ‘bị tra tấn vì khát’, họ ‘xuất kích lần nữa và đuổi quân chúng tôi trở lại đến chỗ cha tôi đứng’. Saladin tập kết quân mình rồi phá vỡ cuộc tấn công của Guy. ‘Chúng ta đã đánh đuổi được chúng rồi,’ Afdal lại hét lên lần nữa.

‘Im lặng,’ Saladin quát lại, chỉ về phía chiếc lều đỏ. ‘Chiếc lều đỏ còn đứng đó là chúng ta chưa đánh thắng!’ Ngay lúc đó, Afdal trông thấy chiếc lều đỏ lật nhào. Giám mục xứ Acre bị giết, Thập giá Thực bị lấy mất. Chung quanh chiếc lều đỏ, Guy và các hiệp sĩ kiệt sức đến nỗi họ phải nằm bất lực trên mặt đất trong chiếc áo giáp. ‘Rồi cha tôi xuống ngựa,’ Afdal nói, ‘và cúi đầu sát đất, cảm tạ Thượng Đế, nước mắt vui sướng.’

Saladin thiết triều trong căn lều lộng lẫy của mình, vẫn còn đang được dựng lên khi các amir của ông giao nộp các tù binh. Khi lều đã dựng xong, ông tiếp Vua Jerusalem và Reynald xứ Kerak. Guy quá khô khốc đến nỗi Saladin cho ông một ly nước quả ướp lạnh bằng tuyết Núi Hermon. Nhà vua đỡ khát rồi đưa ly mình cho Reynald, nhưng Saladin đã ngăn lại: ‘Ngài là người muốn cho y uống. Ta không muốn cho y uống.’ Reynald không nhận  được lòng hiếu khách người Ả Rập.

Saladin phi ngựa ra ngoài để chúc mừng các binh sĩ của mình và thanh sát trận địa, với ‘tứ chi của những binh sĩ địch đã ngã xuống, trần truồng trên chiến trường, từng mảnh thi thể vương vãi, bị cắt xén và đứt lìa, phanh thây, mắt bị móc, ruột phèo bị xổ ra, thi thể bị cắt làm hai,’ cảnh chém giết của chiến tranh trung cổ. Khi  trở lại lều,  ông cho gọi Guy và Reynald. Nhà vua được giữ ở tiền phòng còn Reynald được đưa vào: ‘Thượng đế đã ban cho ta thắng lợi trước nhà ngươi,’ Saladin nói. ‘Ngươi bẻ gãy lời hứa bao nhiêu lần rồi?’

‘Đây là cách các ông hoàng luôn xử sự,’ Reynald thách thức đáp lại.

Saladin ra điều kiện ông cải đạo Hồi. Reynald từ chối một cách khinh thị, khiến Saladin chồm người lên, rút thanh mã tấu chém đứt lìa cánh tay ông đến tận vai. Binh sĩ kết liễu mạng ông. Thi hài không đầu của Reynald được kéo ra ngoài qua mặt Guy và ném ra ngoài cửa lều.

Vua Jerusalem được dẫn vào trong. ‘Vua không có thói quen giết vua,’ Saladin nói, ‘nhưng con người này đã vượt quá giới hạn vì thế y phải chịu hậu quả xứng đáng.’

Vào buổi sáng, Saladin mua tất cả 200 Hiệp sĩ Đền Thánh và Cứu tế từ các chỉ huy của mình với giá 50 dinar mỗi người. Các chiến binh Cơ đốc được đề nghị cải sang đạo Hồi, nhưng chỉ có ít người nhận lời. Saladin cho gọi những người tình nguyện từ các học giả Hồi giáo Sufi và ra lệnh cho họ tàn sát tất cả hiệp sĩ. Hầu hết đều xin nhận đặc quyền, mặc dù có một số chỉ định người thay thế vì sợ bị chê cười nếu làm hỏng việc. Từ trên bục Saladin theo dõi việc làm của các đồ tể nghiệp dư và vụng về giờ đang hủy diệt những gì còn lại của sức mạnh Jerusalem. Các thi thể vẫn bị bỏ lại ngay tại nơi họ ngã xuống. Cho đến một năm sau đó, chiến địa vẫn còn bị che phủ bởi xương cốt của họ.

Saladin gửi Vua Jerusalem đến Damascus cùng với cây Thập Giá Thực, bị treo một cách bất lực trên một cây giáo, cùng với các tù binh đông đến nỗi, theo lời một tùy tùng của Saladin,  ‘mỗi người phải nắm giữ dây thừng kéo đi 30 tù binh’. Các tù binh Frank có giá 3 dinar và có người được mua bằng giá một đôi giày.

Vị sultan sau đó tiến lên chinh phục phần còn lại của vùng Outremer, đánh chiếm các thành phố ven biển Sidon, Jaffa, Acre và Ashkelon nhưng thất bại khi chiếm Tyre khi chiến binh dũng cảm Conrad, Hầu tước xứ Montferrat (mà anh ông vừa kết hôn với Sybilla) đến đúng lúc giải cứu cảng pháo đài chiến lược này. Thay vào đó, vị tể tướng Ai Cập của Saladin, cũng là em ông, khuyên ông điều binh cấp tốc về Jerusalem tránh trường hợp ông ngã bệnh trước khi lấy được Thành phố Thánh: ‘Nếu anh mất vì bệnh đau bụng tối nay, Jerusalem sẽ vĩnh viễn ở trong tay người Frank.’

CUỘC VÂY HÃM CỦA SALADIN: CHỊU TÀN SÁT HOẶC ĐẦU HÀNG?

Vào chủ nhật 20/9/1187, Saladin bao vây Jerusalem, truớc tiên hạ trại ở phía tây bên ngoài Tháp David rồi chuyển về phía đông-bắc, nơi Goldftey có lần đã tràn vào tường thành.

Thành phố đông nghẹt người tị nạn nhưng chỉ còn hai hiệp sĩ chiến đấu dưới sự chỉ huy của giáo trưởng và hai hoàng hậu của Jerusalem, Sibylla và vợ góa của Vua Amaury Maria, giờ đã kết hôn với Lãnh chúa xứ Ibelin. Heraclius chật vật mới kiếm được 50 người phòng thủ tường thành.

May mắn thay Lãnh chúa Ibelin vừa đến, với phép thông hành của Saladin, để giải cứu vợ mình Hoàng hậu Maria và con cái của họ. Lãnh chúa đã hứa với Saladin là mình sẽ không tham chiến, nhưng giờ thì người Jerusalem van xin ông hãy chỉ huy. Lãnh chúa không thể từ chối và viết thư như giữa một hiệp sĩ với một hiệp sĩ, xin lỗi Saladin, và được  tha thứ cho sự bội ước này. Vị sultan thậm chí còn sắp xếp một đoàn hộ tống cho Maria và con cái ra khỏi chiến trường một cách an lành.

Cấp cho họ y phục có cẩn đá quí và đãi họ tiệc tùng, vị sultan đặt đứa bé lên đùi mình và ông khóc, biết rằng đây là lần cuối cùng chúng nhìn thấy Jerusalem. ‘Những vật chất của thế gian này chỉ cho chúng ta vay mượn mà thôi,’ ông trầm ngâm.

Lãnh chúa phong hiệp sĩ cho mỗi thanh niên hoàng tộc trên 16 tuổi và 30 nhà trưởng giả, trang bị vũ khí cho mọi người, phát động những trận phá vòng vây. Khi Saladin bất đầu tấn công, các bà cầu nguyện ở Mộ Thánh, cạo đầu để sám hối, còn các thầy tu và nữ tu diễu hành chân trần dưới chân tường thành. Vào ngày 29/9, các công bình của Saladin phá hỏng tường thành. Quân Frank sẵn sàng liều chết như những người tử đạo, nhưng Heraclius  làm họ thối chí khi nói rằng như vậy chỉ khiến các phụ nữ bị làm nô lệ tình dục. Những người Cơ đốc Syria, vốn không ưa người Latinh, đồng y mở cổng thành cho Saladin. Vào ngày 30, khi các lực lượng Hồi tấn công thành phố, Lãnh chúa đến gặp Saladin để nghị hòa. Cờ của Saladin thậm chí đã được kéo lên tường thành, nhưng binh lính ông bị đẩy lui.

‘Chúng tôi sẽ giải quyết với các ngươi như các người đã từng giải quyết với dân chúng Jerusalem (vào năm 1099) bằng hành động sát nhân và nỗ lệ hóa và những trò dã man khác,’ Saladin bảo với Lãnh chúa

‘Thưa Sultan,’ Lãnh chúa trả lời, ‘có nhiều người như chúng tôi trong thành phố. Nếu chúng tôi thấy cái chết là không tránh khỏi, chúng tôi sẽ giết vợ con chúng tôi, và giật sập Nhà Thờ Vòm Đá và Thánh đường al-Aqsa.’

Nghe thế, Saladin đồng ý thương thảo. Ông ưu ái giải phóng Hoảng hậu Sibylla và ngay cả người vợ goá của Reynald, nhưng toàn bộ người Jerusalem phải chịu trả tiền chuộc mạng hoặc bị bắt làm nô lệ.

SALADIN: CON NGƯỜI

Saladin không hề là quí ông hoàn toàn cấp tiến, xử sự cao thượng hơn những người Frank tàn ác như các tác giả Tây phương thường thể hiện trong thế kỷ 19. Nhưng theo chuẩn mực của những nhà xây dựng đế chế thời trung cổ ông cũng xứng đáng nhận được danh thơm đó. Khi ông khuyên con về cách thức mình đã tạo dựng đế chế, ông bảo con: ‘Ta chỉ đạt được những gì mình có nhờ vỗ về muôn dân. Không căm thù bất cứ ai vì Tử thần không chừa ai cả. Hãy chăm lo mối quan hệ của con với nhân dân.’ Saladin trông không lấy gì ấn tượng và thiếu tính khoa trương. Khi áo ông bị vấy lấm lem bởi một triều thần bất cẩn phi ngựa qua một vũng bùn ở Jerusalem, Saladin chỉ bật cười to. Ông không hề quên rằng ngả rẽ của số phận đã mang đến vinh quang như thế nào cho mình cũng sẽ dễ dàng làm ngược lại. Trong khi sự trỗi dậy của ông sinh ra trong biển máu, bản thân ông không ưa bạo lực. Ông khuyên người con yêu quí của mình: ‘Cha cảnh báo với con đừng dấy máu, đắm chim trong đó và sau đó sẽ nghiện ngập nó, vì máu không bao giờ ngủ.’ Khi các tên cướp phá người Hồi bắt đi một đứa con của một phụ nữ Frank, bà vượt chiến tuyến để cầu cứu với Saladin. Ông xúc động đến rơm rơm nước mắt, ra lệnh ngay lập tức phải tìm kiếm và trả đứa con về cho người mẹ. Trong một trường hợp khác, khi một trong các con ông xin được phép giết một số tù binh người Frank, ông quở trách và từ chối, sợ rằng anh ta sẽ đâm ra nghiện giết người.

Yusuf ibn Ayyub, con trai của một người lính đánh thuê xứ Kurd, ra đời vào năm 1138 tại Tỉkit (thuộc Iraq ngày nay –  Saddam Hussein cũng sinh ra tại đấy). Cha và chú ông, Shirkuh, phục vụ dưới trướng Zangi và con trai ông ta  Nur al-Din. Chàng trai lớn lên tại Damascus, hưởng thụ cuộc sống với rượu vang, bài bạc và gái gú. Ông đã từng chơi polo ban đêm dưới ánh nến cùng với Nur al-Din, người phong chức cảnh sát trưởng Damascus cho ông. Ông học tập Kinh Koran nhưng cũng nghiên cứu về phả hệ ngựa nòi. Trong trận chiến giành lấy Ai Cập, Nur al-Din phái Shirkuh đi và ông này dẫn theo đứa cháu của mình, Yusuf, giờ đã 26 tuổi.

Họ chỉ dẫn theo một đạo quân 2,000 kỵ mã người nước ngoài và khắc phục được thế bất lợi tuyệt vọng, chú và cháu xoay sở lấy được Ai Cập từ các quân đoàn của nhà Fatimid và Jerusalem. Vào tháng 1 năm 1169, Yusuf, giờ có tên Saladin,* ám sát vị tể tướng để chú mình lên kế vị. Nhưng chú Shirkuh mất vì nhồi máu cơ tim. Ở tuổi 31, Saladin trở thành vị tể tướng cuối cùng của triều đại Fatimid. Năm 1071, khi vị kha-lip cuối cùng chết, Saladin phế bỏ triều kha-lip dòng Shiite ở Ai Cập (từ đó duy trì dòng Sunni), và tàn sát lực lượng vệ binh hùng mạnh người Sudan ở Cairo, trong khi bổ sung Mecca, Medina, Tunisia và Yemen vào lãnh địa đang lớn mạnh của mình.

* Saladin là từ viết tắt của Thập Tự quân cho tên hiệu Salah al-Dunya al-Din (Sự Tốt đẹp của Thế giới và Niềm tin). Em của Saladin, được Thập Tự quân biết dưới tên Safadin, có tên khai sinh là Abu Bakr ibn Ayyub, nhận tước hiệu là  Safah al-Din (Thanh Gươm Tôn giáo) và sau đó tên hoàng gia là al-Adil (Người Công Chính) được gọi trong hầu hết sách lịch sử.

 Khi Nur al-Din mất vào năm 1174, Saladin tiến ra bắc và chiếm Damascus, dần dần bành trướng đế chế để ôm trọn hầu hết Iraq và Syria cũng như Ai Cập, nhưng mối liên kết giữa hai lãnh thổ mà ngày nay là Jordan một phần bị Thập Tự quân kiểm soát. Chiến tranh với Jerusalem  không chỉ là vấn đề tôn giáo, mà còn là chính trị của đế chế. Saladin thích Damascus, coi Ai Cập như con gà đẻ trứng vàng: ‘Ai Cập là con điếm,’ ông nói đùa, ‘lúc nào cũng muốn níu kéo tôi ra khỏi người vợ trung thành (Damascus).

7

Nhẫn tâm khi cần thiết, nhẫn nại và bao dung khi có thể, Saladin tạo ra một đế chế ôm trọn Syria và Ai Cập, hủy diệt  quân đội Jerusalem và chiếm thành phố

Saladin không phải là nhà độc tài.* Đế chế ông là mớ vá víu những amir tham lam, các ông hoàng con cậy thế và các anh em đầy tham vọng, con trai và cháu mà ông phân phát các thái ấp để đổi lấy lòng trung thành, thuế má và chiến binh. Ông lúc nào cũng cạn tiền và thiếu binh lính. Chỉ nhờ cá tính thu hút của ông đã gắn kết họ lại với nhau. Thường bị các Thập Tự quân đánh bại, ông không phải là một vị tướng nổi bật, nhưng tránh xa bọn đàn bà và những lạc thú, ông là người rất kiên cường. Ông bỏ gần hết thời gian trong cuộc đời để chiến đấu với các dân Hồi khác nhưng giờ sứ mạng cá nhân ông, cuộc Thánh Chiến để giành lại Jerusalem, trở thành mục tiêu  cai trị chính của ông. ‘Tôi đã từ bỏ những lạc thú trần gian,’ ông nói. ‘Tôi  đã hưởng thụ chúng đầy đủ.’

 *  Jerusalem một ông lão cả gan dám đâm đơn kiện chính vị sultan về khối tài sản nào đó. Saladin bước xuống ngai để được xét xử công bình, và thắng kiện. Nhưng sau đó ông tặng cho người thưa ông bao nhiêu là quà cáp.

 Có lần khi đi tản bộ trên bờ biển giữa hai trận đánh, ông bảo với bộ trưởng Ibn Shaddad, ‘Ta có ý định là khi Thượng Đế đã cho phép ta chinh phục được phần còn lại của bờ biển, ta sẽ chia đất đai, soạn ra di chúc và giong buồm ra biển đi khắp nơi để trên mặt đất không còn có ai dám khước từ Thượng Đế – dù phải hi sinh vì mục tiêu ấy.’

Thời khắc hạnh phúc nhất của ông là về đêm ngồi xuống, vây quanh là quần thần, tướng sĩ và các hiền nhân, cùng tán gẫu trong lúc chờ đợi tin tức chiến trường. Ông khâm phục những học giả và thi sĩ, và triều đình sẽ khiếm khuyết nếu không có Usamah bin Munqidh, giờ đã tuổi 90. Ông nhớ lại ‘ngài đã nhắm đến tôi từ bên kia lãnh thổ. Nhờ thiện chí của ngài, tôi đã giật thoát ra khỏi nanh vuốt của vận rủi. Ngài đối xử với tôi như người thân trong gia đình.’ Saladin đi khập khiễng và thường bị bệnh, được 21 thầy thuốc săn sóc – 8 Hồi, 8 Do Thái (trong đó có Maimonides) và 5 Cơ đốc. Khi vị sultan đứng lên để cầu nguyện hoặc ra lệnh đốt nến, các quần thần nhận ra dấu hiệu cho biết buổi chiều đã trôi qua. Nếu chính bản thân đứng trên mọi phê phán, thì các người thân của ông theo chủ nghĩa khoái lạc và đầy tham vọng lại hoàn toàn trái ngược.

GÁI NHẢY VÀ THUỐC KÍCH DỤC: TRIỀU ĐÌNH SALADIN

Các ông hoàng trẻ, theo nhà văn châm biếm al-Wahrani, tổ chức các đêm khoái lạc tập thể tại đó chủ nhân bò trần truồng  hú hét như chó và húp rượu vang từ rún các vũ nữ trong khi mạng nhện giăng đầy các thánh đường. Ở Damascus, người Ả Rập ta thán về nền cai trị của Saladin. Nhà văn

Ibn Unain chế giễu những viên chức Ai Cập của Saladin, đặc biệt các người Sudan da đen: ‘Nếu tôi da đen với cái đầu to như voi, cánh tay lực lưỡng và một dương vật rõ to, thì ngài sẽ quan tâm đến nhu cầu của tôi.’ Saladin cho ông đi đày vì tội bất kính.

Cháu của Saladin, Taki al-Din, là vị tướng xuất sắc nhất của ông nhưng cũng là người có nhiều tham vọng nhất và hư đốn nhất trong số các hoàng thân. Y ham mê nhục dục quá độ đến nỗi người sụt cân, mất hết năng lượng và sự cương cứng. Y tư vấn ngự y Do Thái Maimonides. Đối với cộng đồng của mình thì ông khuyên không được ăn uống và giao hợp quá mức, nhưng ông chữa khác đối với các bệnh nhân là hoàng thân. Thầy thuốc hoàng gia viết cho cháu của Saladin một tiểu luận đặc biệt có tựa đề Về Sự Giao Hợp, ra toa thuốc điều trị: điều độ, hạn chế rượu, phụ nữ không quá già không quá trẻ, một cốc tai gồm cây lưỡi bò và rượu vang và, cuối cùng, một ‘bí quyết gia truyền’ của Viagra thời trung cổ: mát-xa dương vật hoàng gia trong hai giờ trước khi giao hợp với dầu trộn với kiến có màu vàng nghệ. Maimonides bảo đảm là sự cương cứng sẽ kéo dài rất lâu sau khi hành sự.

Saladin yêu quí Taki, và ông thăng y đến chức tể tướng Ai Cập, nhưng rồi phẫn nộ khi thấy cháu mình dự tính thành lập lãnh địa riêng. Ông bèn thuyên chuyển y đến cai trị những dải đất ở Iraq. Giờ thì người cháu này và hầu hết gia đình của Saladin đều có mặt để chứng kiến việc giải phóng Jerusalem.

THÀNH PHỐ CỦA SALADIN

Saladin nhìn người Cơ đốc Latinh rời Jerusalem ra đi mãi mãi: người Jerusalem phải trả số tiền chuộc 10 dinar mỗi đàn ông, 5 dinar mỗi đàn bà, 1 dinar mỗi đứa trẻ. Không ai được phép bỏ đi nếu không có giấy biên nhận đã nộp tiền, nhưng các viên chức của Saladin kiếm được bộn tiền nhờ hối lộ để người Cơ đốc được thả xuống từ tường thành trong những chiếc giỏ hoặc ngụy trang trốn ra khỏi thành. Saladin bản thân không quan tâm đến tiền bạc và, mặc dù ông nhận được 220,000 dinar, phần lớn tiền bạc đều đi đâu mất. 

Hàng ngàn người Jerusalem không có khả năng chi trả. Họ bị bắt làm nô lệ hoặc vào hậu cung. Lãnh chúa trả 30,000 dinar để chuộc cho 7,000 dân nghèo Jerusalem, trong khi em trai của Saladin là Safadin xin cho 1,000 người không của cải được giải phóng. Saladin cho Lãnh chúa và Giáo trưởng Heraclius mỗi người được bảo lãnh 500 người miễn nộp tiền. Người Hồi rất sốc khi thấy vị giáo trưởng chỉ nộp có 10 dinar và được phép rời thành phố với những xe ngựa chở vàng và thảm. ‘Biết bao nhiêu gái khuê các bị xúc phạm, những gái mới lớn bị ép lấy chồng, trinh nữ bị làm nhục, các phụ nữ kiêu kỳ bị phá trinh, bao nhiêu cặp môi đỏ thắm của những phụ nữ đáng yêu bị hôn hít, các ả ngang tàng được thuần hóa,’ thư ký của Saladin Imad al-Din nhớ lại với sự hể hả đáng sợ. ‘Biết bao nhiêu nhà quí tộc mua chúng làm thê thiếp, biết bao nhiêu mệnh phụ bị bán với giá rẻ mạt!’

Dưới ánh mắt của vị sultan, hai hàng người Cơ đốc nhìn lại thành phố lần cuối cùng và khóc than trước sự mất mát Jerusalem, suy nghĩ, ‘Cô nàng vốn được gọi là người yêu của những thành phố khác giờ đã trở thành nô lệ và người hầu.’

Vào ngày thứ sáu 2/10, Saladin tiến vào Jerusalem và ra lệnh dọn sạch Núi Đền, mà người Hồi gọi là Haram al-Sharif, không còn dấu vết ngoại giáo. Thập giá trên Vòm Đá bị ném xuống trong tiếng la  ‘Allahu Akhbar’, bị kéo lê qua thành phố và đập nát, các bức họa Jesus bị xé toạc, các nhà tu kín phía bắc Vòm Đá bị phá hủy, những gian phòng trong Aqsa bị tháo dỡ. Em gái của Saladin từ Damascus đến mang theo một đoàn lạc đà chở nước hoa hồng. Chính vị sultan và người cháu Taki đich thân kỳ cọ sân của Haram bằng nước hoa hồng, được tiếp tay bởi các đội vệ sinh gồm các hoàng thân và amir. Saladin mang áng thờ bằng gỗ có chạm khắc của Nur al-Din từ Aleppo đến và dựng nó trong Thánh đường al-Aqsa nơi nó yên vị trong bảy thế kỷ.

Vị sultan phá hủy và tái xây dựng không nhiều bằng thích nghi và thêm thắt trang trí, tái sử dụng những chiến lợi phẩm lộng lẫy của các Thập Tự quân với những kiểu dáng hoa lá, chữ viết, lá ô rô; kiến trúc của ông do đó được kết cấu bằng chính những biểu tượng của kẻ thù, khiến khó phân biệt giữa các công trình của Thập Tự quân và Saladin.

Mỗi thành viên tôn kính của utema, giới tăng lữ và học giả Hồi giáo, từ Cairo đến Baghdad, đều muốn giảng đạo tại những buổi cầu nguyện thứ sáu, nhưng Saladin chọn Qadi vùng Aleppo, trao cho ông một áo thụng đen để mặc: bài giảng của ông ở al-Aqsa ca ngợi Fadail – những phẩm chất – của Jerusalem thuộc Hồi  giáo. Chính Saladin cũng đã trở thành ‘ánh sáng chiếu rọi bình minh quét tan bóng tối khỏi những tín hữu’ bằng cách ‘giải phóng điện thờ anh em với Mecca’. Rồi Saladin bước đến Vòm Đá để cầu nguyện trong nơi mà ông gọi là ‘chiếc nhẫn ấn báu vật của đạo Hồi’. Tình yêu dành cho Jerusalem của Saladin ‘lớn như núi’. Sứ mạng của ông là sáng tạo một Jerusalem Hồi giáo và ông xem xét có cần phải phá hủy Đống Phân – Mộ Thánh hay không. Một số ông lớn kêu gọi nên phá hủy, nhưng ông trầm ngâm cho rằng nơi này vẫn còn thiêng liêng cho dù Nhà Thờ Mộ Thánh có đứng đó hay không. Noi gương Omar Công chính (một kha-lip, bạn chiến đấu của Muhammad, có tinh thần phóng khoáng đối với người Do Thái và Cơ đốc), ông chỉ đóng cửa Nhà Thờ Mộ Thánh ba ngày và rồi giao nó cho Chính thống giáo Hy Lạp. Nói chung, ông khoan thứ hầu hết nhà thờ, nhưng tập trung vào việc giảm tinh chất phi Hồi giáo của Khu Cơ đốc. Chuông nhà thờ lần nữa bị ngăn cấm. Thay vào đó, cho hàng trăm năm tận đến thế kỷ 19, các muezin giữ độc quyền về âm thanh thông báo phiên cầu nguyện còn người Cơ đốc buộc phải thông báo giờ cầu nguyện cho giáo dân bằng cách đập hai miếng gỗ hoặc đánh chập chã. Ông phá hủy một vài nhà thờ bên ngoài tường thành và xung công nhiều cơ sở Cơ đốc nổi tiếng để xây dựng Salahiyya của mình – đến nay còn tồn tại.

 Saladin mang nhiều học giả và nhà thần bí Hồi đến thành phố; nhưng một mình người Hồi giáo không thể chiếm đủ dân số của Jerusalem, vì thế ông mời trở lại nhiều người Armenia, lập thành một cộng đồng đặc biệt còn tồn tại đến ngày nay (họ tự xưng là người Kaghakatsi); và nhiều người Do Thái từ Ashkelon, Yemen và Morocco.

Saladin đã yếu nhiều nhưng cũng phải miễn cưỡng rời Jerusalem để xóa sạch những thành lũy Thập Tự cuối cùng. Ông chiếm căn cứ biển lớn Acre. Nhưng ông không bao giờ xóa sạch Thập Tự quân: ông mã thượng phóng thích Vua Guy và thất bại không chinh phục được Tyre, để lại cho người Cơ đốc một cảng biển sống còn từ đó phóng ra những cuộc phản công. Có lẽ ông đánh giá quá thấp phản ứng của Cơ đốc triều nhưng tin tức về vụ Jerusalem thất thủ đã làm chấn động châu Âu, từ vua và giáo hoàng đến hiệp sĩ và nông dân, huy động một Thập Tự Chinh mới hùng mạnh Cuộc Thập Tự Chinh Thứ 3.

Saladin phải trả giá đắt cho những sơ suất nhỏ của mình. Vào tháng 8 1189, Vua Guy xuất hiện trước Acre với một lực lượng nhỏ và tiến lên bao vây thành phố. Saladin không coi việc quật khởi táo bạo của Guy là quá quan trọng nên chỉ phái một đạo quân nhỏ ra tiêu diệt. Nhưng Guy đã cầm chân được binh lính của Saladin và chiêu tập lại cuộc chiến đấu Thập Tự quân. Saladin bao vây Guy nhưng Guy bao vây Acre. Khi hạm thuyền Ai Cập của Saladin bị đánh bại, Guy được tiếp sức bởi những đoàn chiến thuyền chở quân Thập Tự từ Đức, Anh và Ý đến. Ở châu Âu, các vua Anh và Pháp và Hoàng đế Đức đều tuyên thệ chiến đấu vì Christ; các hạm thuyền được tập kết; các binh sĩ được tuyển mộ để tiếp viện cho trận chiến Acre. Đây là khởi đầu của cuộc chiến hai năm đẫm máu, chẳng bao lâu sẽ được các vì vua hùng mạnh nhất châu Âu tham gia, quyết tâm lấy lại Jerusalem.

Đến đầu tiên là quân Đức. Khi Saladin nghe tin Hoàng đế Râu Đỏ Frederick Barbarossa đang hành quân đến Đất Thánh với quân đoàn Đức, ông cuối cùng mới triệu tập lực lượng của mình và kêu gọi jihad. Nhưng rồi có tin tốt lành hơn đến.

Vào tháng 6 năm1190, Barbarossa bị đuối nước trên một con sông ở Civilian; con trai ông, Công tướ Frederick xứ Swabia, luộc sôi thi thể và ngâm bộ xương vào dấm, chôn da thịt ông ở Antioch. Rồi sau đó con ông hành quân đến Acre mang theo xương cốt cha dự tính sẽ chôn cất ở Jerusalem. Cái chết của Barbarossa đã tạo ra truyền thuyết về ngày tận thế, cho rằng Hoàng đế của Ngày Tận Thế đang ngủ, một ngày nào đó sẽ đứng dậy lần nữa. Công tước xứ Swabia cũng chết vì bệnh dịch bên ngoài Acre và cuộc Thập Tự quân của Đức bị vỡ trận. Nhưng sau nhiều tháng chiến đấu tuyệt vọng với hàng ngàn người chết vì bệnh dịch (trong đó có Heraclius giáo trưởng và Sibylla, Hoàng hậu Jerusalem),  Saladin nhận được tin xấu là chiến binh cự phách của Cơ đốc triều đang trên đường đến đây.

CHƯƠNG 27

THẬP TỰ CHINH LẦN 3: SALADIN VÀ RICHARD (1189–93)

 

TIM SƯ TỬ: TÍNH MÃ THƯỢNG  VÀ CUỘC TÀN SÁT

Vào ngày 4/7/1190, Richard Tim Sư Tử, Vua nước Anh, và Philip II Augustus, Vua nước Pháp, lên đường tiến hành cuộc Thập Tự Chinh Thứ 3 để giải phóng Jerusalem. Richard 33 tuổi vừa kế thừa từ vua cha Henry II đế chế Angevin – gồm nước Anh và phân nửa nước Pháp. Sở hữu một sức sống đầy năng động, thân thể cường tráng và tóc đỏ, xô bồ và hướng ngoại trong khi Saladin nhẫn nại và tinh tế. Ông là một người của thời đại mình, vừa là một người viết ra những bài hát rong ướt át vừa và một người Cơ đốc thuần thành, người đã thắng được tội lỗi của mình, nằm dài trần truồng trước giáo sĩ và tự phạt roi.

Con trai yêu quý của Eleanor xứ Aquitaine tỏ ra không mấy quan tâm đến phụ nữ, nhưng cáo buộc vào thế kỷ 10 cho rằng ông đồng tính đã bị bác bỏ. Chiến tranh là tình yêu đích thực của ông và ông vắt kiệt không thương xót dân chúng Anh để tài trợ cho cuộc Thập Tự Chinh của mình, nói đùa, ‘Tôi sẽ bán London nếu có người mua.’ Khi nước Anh sôi động vì Thập Tự Chinh sống lại, người Do Thái lại trở thành mục tiêu bị ‘làm thịt’ mà đỉnh cao là vụ tự sát tập thể ở vùng York. Nhưng lúc ấy, Richard đã khởi hành. Ông giong buồm đến Jerusalem và ở bất cứ đâu ông đổ bộ ông thể hiện mình là hiện thân của chiến binh hoàng gia.  Ông luôn mặc màu tía, màu của chiến tranh, và vung thanh gươm mà ông cho là Excalibur (thanh gươm truyền thuyết của Vua Arthur). Ở Sicily, ông giải cứu em gái, Bà hoàng goá bụa Joanna, khỏi tay ông vua mới, và tổng khứ Messina. Khi ông đến Cyprus, do một ông hoàng Byzantine cai trị, ông chỉ đơn giản chinh phục hòn đảo và rồi giong buồm đến Acre với 25 chiến thuyền.

Vào ngày 8/6/1191, Richard đổ bộ và bắt tay với Vua Pháp vây hãm, tại đó những đợt giao tranh xen kẽ với đàm phán thân thiện giữa hai bên. Saladin và triều thần theo dõi ông ta đến và ấn tượng trước vẻ phô trương của các chiến binh hùng mạnh này và nhiệt quyết chiến đấu của họ.

Trận địa đã trở thành nơi đóng quân bị dịch bệnh gồm các lều lớn hoàng gia, những căn lều bẩn thỉu, láng bếp, chợ búa, nhà tắm và nhà thổ. Chuyện các gái bán hoa mê hoặc người Hồi giáo hiện rõ trong ghi chép của Imad, thư ký Saladin, từng viếng thăm doanh trại của Richard. ‘Những đào hát và các ả đỏm đáng này, nhuộm tóc và trét phấn, mắt xanh lơ và đùi nung núc, đeo trang sức từ mắt cá chân đến dái tai, khiến những lưỡi gươm phải tra vào vỏ, ngọn giáo phải chĩa vào khiên và viết phải cắm vào lọ mực’.

Năng lực của Richard đã thay đổi bản chất của cuộc chiến. Saladin đã nhuốm bệnh; chẳng bao lâu cả hai vua Âu châu cùng lâm bệnh, nhưng thậm chí trên giường bệnh  Richard giương nỏ, bắn tên qua trại giặc trong khi hết hạm thuyền này đến hạm thuyền khác chở đến những hiệp sĩ tinh hoa của châu Âu. 

Saladin, như ‘một người mẹ mất con, ngồi trên lưng ngựa thúc giục dân chúng tham gia nghĩa vụ jihad’, bị áp đảo về quân số và bại trận. Sau khi Philip Augustus ra đi sớm vì đố kị, Richard nắm quyền chỉ huy – ‘Ta cai trị và không ai cai trị ta’ – nhưng lực lượng ông cũng đang bị khốn đốn. Ông mở lời thương thảo. Saladin phái người em Safadin đến đàm phán. Họ đồng tài ngang sức, mỗi bên đều có 20,000 quân, đều muốn chiến đấu để áp đặt ý muốn của mình lên người khác.

Trong khi đó Acre không thể cầm cự lâu hơn nữa và thống đốc bắt đầu nghĩ đến việc đầu hàng. Saladin không còn lựa chọn nào khác trừ ra đồng ý cho Acre đầu hàng, hứa sẽ trả lại Thập Giá Thực và phóng thích 1,500 tù binh. Nhưng ưu tiên của ông là bảo vệ Jerusalem. Ông rề rà cù cưa những điều khoản để khuyến khích sự chia rẽ trong nội bộ Thập Tự quân, tiết kiệm tiền bạc và đình hoãn chiến dịch. Nhưng Richard Tim Sư Tử thực sự muốn xốc tới chứ không đùa nên cho là Saladin tháu cáy.

Vào ngày 20/8, ông lùa 3,000 tù binh Hồi bị trói gô ra  đồng trống cho binh sĩ Saladin trông thấy và rồi làm thịt tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ con. Truyền thuyết về tính mã thượng còn đâu nữa. Saladin khiếp đảm vội vàng lên ngựa, nhưng đã quá muộn. Sau đó ông đáp lễ bằng cách chặt đầu tấtl mở p cả tù binh Frank trong tay ông.

Năm ngày sau, Richard hành quân xuống bờ biển về hướng Jaffa, cảng của Jerusalem, binh lính của ông khẩn cầu ‘Sanctum Sepulchrum adjuva! Hãy hỗ trợ chúng con, Mộ Thánh!’ Vào ngày 7/9, Tim Sư Tử thấy Saladin án ngữ con đường tại Arsuf. Chiến thuật của Richard là dùng lực lượng bộ binh làm tiêu hao làn sóng xung kích của kỵ binh và cung thủ cưỡi ngựa cho đến khi ông có thể phóng ra sức mạnh như sấm sét của hiệp sĩ. Richard kềm quân cho đến khi một Hiệp sĩ Cứu tế lao về phía trước. Rồi ông dẫn đầu mũi xung kích đập tan quân Hồi. Saladin tuyệt vọng rút vào vòng bảo vệ của đội cận vệ mamluk. Đối mặt với một cuộc vỡ trận hoàn toàn, vị sultan cho rút lui kịp thời đạo quân được dành để phòng vệ Jerusalem. Có lúc, ông chỉ được 17 người bảo vệ. Sau đó ông vụt thoát ra được và thối chí chả thiết gì ăn uống.

Saladin cưỡi ngựa về Jerusalem để mừng lễ Ramadan và chuẩn bị việc phòng ngự. Richard hiểu rằng khi mà quân đội và đế chế Saladin còn nguyên vẹn, Thập Tự quân không thể nào giữ được Jerusalem cho dù họ có thể chiếm được nó – cho nên đàm phán là thượng sách. ‘Người Hồi và người Frank đã chịu tổn thất,’ Richard viết cho Saladin, ‘đất đai bị tàn phá do bàn tay của cả hai bên. Tất cả điều chúng tôi phải bàn đến là Jerusalem, Thập Giá Thực và những lãnh thổ này. Jerusalem là trung tâm của tín ngưỡng chúng tôi nên chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ.’ Saladin giải thích al-Quds có nghĩa thế nào đối với người Hồi: ‘Jerusalem thuộc về chúng tôi cũng nhiều như của các ngươi. Đúng ra đối với chúng tôi  nhiều hơn là đối với các ngươi, vì đó là nơi mà Tiên Tri chúng tôi đến đó trong cuộc Dạ Hành của Người và là nơi quần tụ của các thiên thần.’

Là người mềm dẻo và có óc tưởng tượng, Richard giờ đề nghị một hiệp ước: em gái mình Joanna sẽ kết hôn với Safadin. Người Cơ đốc sẽ được bờ biển và được đi đến Jerusalem; người Hồi sẽ có nội địa, với Jerusalem là kinh đô của Vua Safadin và Hoàng hậu Joanna dưới quyền hành tối cao của Saladin. Saladin đồng ý với điều này để Richard về nước nhưng Joanna bất bình: ‘Làm sao bà có thể cho phép một người Hồi chiếm được thể xác của mình?’ Richard nói trớ là mình chỉ nói đùa, và rồi bảo với Safadin: ‘Ta sẽ gả cháu gái ta cho ngài.’ Saladin bối rối: ‘Lộ trình tốt nhất của chúng tôi là tiếp tục thánh chiến – hoặc bỏ mình.’

Vào ngày 31/10, Richard hành quân chầm chậm về hướng Jerusalem trong khi vẫn thương thuyết với ngài Safadin lịch sự. Họ gặp nhau trong những căn lều lộng lẫy, trao đổi quà tặng và tiệc tùng cùng nhau. ‘Chúng tôi phải có một căn cứ ở Jerusalem,’ Richard khăng khăng. Khi các hiệp sĩ chỉ trích việc ông thương thảo với kẻ địch, ông liền trảm thủ một số tù binh Thổ và treo thủ cấp quanh doanh trại.

Tại thời điểm khó khăn này, Saladin nhận được tin xấu: đứa cháu hư đốn của ông, Taki al-Din, người đã toan tính thiết lập đế chế riêng cho mình, đã chết. Saladin giấu bức thư, ra lệnh vệ sinh lều, rồi ‘khóc cay đắng, tức tửi’, sau đó rửa mặt với nước hoa hồng và trở lại công việc chỉ huy: không phải lúc để tỏ ra yếu đuối. Ông thanh sát Jerusalem và quân đồn trú mới người Ai Cập.

Vào ngày 23/12, Richard tiến đến Le Thoron des Chevaliers (Latrun) tại đó ông, vợ và em gái mừng lễ Giáng Sinh. Vào ngày 6/1/1192, giữa con mưa, gió lạnh và sình lầy, Richard đến Bayt Nuba, cách thành phố 12 dặm. Các ông lớn Pháp và Anh muốn lấy Jerusalem bằng mọi giá nhưng Richard cố thuyết phục họ là mình không đủ người cho cuộc vây hãm. Saladin chờ đợi trong Jerusalem hi vọng rằng mưa và tuyết giá sẽ làm nhụt chí Thập Tự quân. Vào ngày 13/1, Richard rút quân. *

* Vào tháng 4 1192, Richard cuối cùng biết rằng Guy, người từng là vua Jerusalem chỉ vì kết hôn với người vợ đã quá cố, là một con ngáo ộp. Thay vào đó ông công nhận Conrad xứ Montferrat, chồng của Hoàng hậu Isabella, là vua Jerusalem. Nhưng vài ngày sau, Conrad bị nhóm sát thủ Assasin giết chết. Henry, Bá tước Champagne, một người cháu của cả Richard nước Anh và Philip nước Pháp, cưới Hoàng hậu Isabella của Jerusalem, còn ở tuổi 21, có thai với Conrad và đang có đời chồng thứ ba. Ông trở thành Vua Henry của Jerusalem. Để đền bù cho Guy, Richard bán cho ông Cyprus, tại đó dòng họ ông cai trị trong ba thế kỷ.

 Đang trong thế bế tắc. Saladin sử dụng 50 thợ nề và 2,000 tù binh Frank để tái củng cố Jerusalem, phá vỡ các tầng cao của Thánh đường Our Mary of Jehoshaphat ở chân Núi Olives và Coenaculum trên Núi Zion để lấy đá xây. Saladin, Safadin và các con họ đều làm việc tại tường thành.

Trong khi đó Richard đánh chiếm và củng cố Ashkelon, cửa ngõ đến Ai Cập, đề nghị với Saladin một phần của Jerusalem, với người Hồi giữ Haram và Tháp David. Nhưng những đàm phán này, có thể so sánh được về độ phức tạp với những cuộc đàm phán giữa người Israel và Palestine trong thế kỷ 21, đều chẳng đi đến đâu: hai bên còn hi vọng sở hữu toàn bộ Jerusalem. Vào ngày 20/3, Safadin và con trai Kamil đến thăm Richard với đề nghị cho phép đi vào Mộ Thánh và trả lại Thập Giá Thực: trong một cử chỉ cổ điển về sự mã thượng, Tim Sư Tử phong tước hiệp sĩ cho chàng trai Kamil, buộc quanh người anh sợi dây nịt hiệp sĩ.

Nhưng việc phô trương tính hào hiệp này không hợp khẩu vị của những hiệp sĩ Pháp hay nổi loạn, đòi tràn vào Jerusalem ngay lập tức. Vào ngày 10/6 Richard dẫn họ trở lại Bayt Nuba, tại đó họ tiến hành dựng doanh trại dưới cái nóng như thiêu đốt và trong ba tuần tranh cãi nên làm gì tiếp theo. Để bớt căng thẳng  Richard cưỡi ngựa ra ngoài thị sát, có lúc đến tận Montjoie, tại đó ông xuống ngựa để cầu nguyện nhưng vẫn dựng đứng tấm khiên để khỏi trông thấy Jerusalem, và dường như đã nói, ‘Chúa Trời, con cầu xin ngài đừng để con nhìn thấy Thành phố Thánh khi mà con chưa thể giải cứu nó khỏi tay kẻ thù của ngài!’

Tìm Sư Tử sử dụng gián điệp trong quân ngũ của vị sultan, nhận được tin báo một hoàng tử của Saladin đang dẫn một đoàn quân lương tiếp tế từ Ai Cập đến. Richard, mặc quần áo người Bedouin, dẫn 500 hiệp sĩ và 1,000 bộ binh, đi phục kích quân Ai Cập. Ông đánh tan tác quân địch, bắt đoàn quân lương, với 3,000 lạc đà và ngựa thồ lương thảo – có lẽ đủ để hành quân vào Jerusalem hoặc Ai Cập. ‘Việc này khiến Saladin càng sầu não,’ bộ trưởng Ibn Shaddad của ông nói, ‘và tôi cố an ủi ông.’ Bên trong một Jerusalem nguy khốn, Saladin gần như hoảng loạn, mức căng thẳng gần như không thể chịu được. Ông cho đánh độc các giếng quanh thành phố và bố trí số quân còm cõi dưới sự chỉ huy của các con trai mình. Quân số không đủ và ông lo lắng triệu hồi Safadin từ Iraq.

Vào ngày 2/7, ông hợp hội đồng chiến tranh, nhưng các amir của ông cũng chỉ là bọn không đáng tin cậy như các ông lớn của Richard. ‘Điều tốt nhất chúng ta có thể làm,’ Ibn Shaddad phát biểu, mở đầu buổi họp, ‘là tập họp tại Vòm Đá để sẵn sàng tử thủ.’ Tiếp theo là im lặng, các amir ngồi bất động đến nỗi ‘như thể có chim đậu trên đầu họ’. Hội đồng tranh luận hoặc thủ lĩnh nên lập một cứ điểm cuối cùng hoặc tránh bị sập bẫy trong cuộc vây hãm. Vị sultan bản thân cũng hiểu rằng không có sự hiện diện của mình các bộ hạ sẽ sớm đầu hàng. Cuối cùng Saladin nói, ‘Các bạn là đoàn quân của đạo Hồi. Chỉ cần quay dây cương đi là họ sẽ cuốn lãnh thổ này như cuốn một cuộn giấy. Đây là nghĩa vụ của các bạn – đó là lý do các bạn đã được cấp phát bổng lộc trong những năm qua.’ Các amir đồng ý đánh, nhưng ngay hôm sau họ trở lại để nói họ sợ một cuộc vây hãm giống như ở Acre. Không phải tốt hơn là nên đánh bên ngoài tường thành và tệ nhất, tạm thời cho mất Jerusalem? Các vị tướng nhấn mạnh rằng Saladin hoặc một đứa con của ông phải ở lại Jerusalem nếu không quân Thổ và quân Kurd của ông sẽ quay ra đánh nhau.

Saladin ở lại – và các gián điệp của ông liên tục cung cấp tin về những hoạt động của Richard. Khi ngày 15/7, ngày lễ kỷ niệm cuộc đánh chiếm Jerusalem vào năm 1099, đến gần, các Thập Tự quân phát hiện ra một mảnh khác của Thập Giá Thực, một phép lạ đúng thời cơ làm cả quân ngũ lên tinh thần. Nhưng quân Pháp dưới quyền Công tước Burgundy và quân Anglo-Angevins dưới quyền Richard gần như đã rút dao hăm he, châm chọc nhau bằng những khẩu hiệu ngớ ngẩn và những câu hát bẩn thỉu.

Saladin gần như nhuốm bệnh vì quá căng thẳng. Tại buổi cầu nguyện thứ sáu vị sultan hành lễ hai ritualrakas, cúi đầu từ thắt lưng rồi nằm xấp xuống đất, và khóc công khai. Khi đêm xuống, tin tình báo cho biết người Frank đang khăn gói. Vào ngày 4/7, Richard dẫn đầu cuộc rút lui.

 Saladin vô cùng hớn hở, cưỡi ngựa ra ngoài thành để gặp đứa con trai yêu quí của mình Zahir, hôn lên trán anh và hộ tống anh về Jerusalem, tại đó hoàng tử ở với cha mình tại lâu đài của Thủ lĩnh Hiệp sĩ Cứu tế. Nhưng cả hai bên đều kiệt sức: Richard nhận được các báo cáo từ Anh cho biết em ông John gần như công khai nổi loạn. Nếu ông muốn cứu lãnh thổ mình, ông cần phải về nhà gấp.

Được cổ vũ bởi tình trạng của Richard, vào ngày 28/7 Saladin giáng một cuộc tấn công bất ngờ vào Jaffa, và nhanh chóng chiếm được sau một trận oanh kích bằng máy bắn đá. Trong khi Ibn Shaddad đang thỏa thuận điều kiện đầu hàng của đối phương, thì con trai Zahir của ông ngủ quên trong phiên gác. Thỉnh lình Richard Tim Sư Tử xuất hiện ngoài khơi trên con thuyền ga-lê kéo cờ tía. Ông đã đến đúng lúc: một số binh lính Frank còn giữ được thành. Bắn một phát nỏ, ông bì bõm bước lên bãi biển – ‘tóc đỏ, áo choàng đỏ, cờ đỏ.’ Không mất thời gian cởi bỏ đôi giày ống không thấm nước và mặc áo giáp, tay vung lưỡi rìu Đan Mạch, theo sau hộ vệ chỉ là 17 hiệp sĩ và vài trăm bộ binh, Richard tả xông hữu đột chiếm lại thị trấn trong một màn trình diễn đột kích lẫm liệt.

Sau đó, ông chế giễu bộ trưởng của Saladin: ‘Vị sultan của ngài là một con người vĩ đại vậy tại sao nghe tin ta đến đã bỏ đi? Ta chỉ mang độc đôi ủng lội nước và thậm chí không mặc tấm giáp lót ngực!’ Saladin và Safadin được cho rằng đã gởi đến Tim Sư Tử các con ngựa Ả Rập làm quà tặng, nhưng những hành vi hào hiệp như thế thường là chiến thuật câu giờ vì chẳng mấy chốc họ sẽ phản công. Richard đẩy lùi họ và rồi thách đấu tay đôi. Ông cầm giáo phi ngựa lên xuống hàng quân – nhưng không có ai dám giao đấu.

Saladin ra lệnh một mũi tấn công khác, nhưng các amir của ông từ khước. Ông quá tức tối đến nỗi ông cân nhắc đến việc sử dụng hình phạt đóng đinh kiểu Zangi đối với những tướng lĩnh cứng đầu. Tuy nhiên, ông bình tĩnh trở lại và sau đó mời họ chia sẻ những quả mơ ngọt vừa được mang đến Damascus.

Nhà vua và vị sultan đã quần thảo đến thế bế tắc. ‘Ngài và ta đều cùng bị tổn hại,’ Richard thổ lộ với Saladin. Khi họ đi đến thương thảo, cả hai tướng soái đều kiệt quệ, bệnh trầm trọng, tài nguyên và ý chí đều cạn kiệt hoàn toàn.

CHƯƠNG 28

TRIỀU ĐẠI SALADIN (1193–1250)

 

CÁI CHẾT CỦA VỊ SULTAN

Vào ngày 2/9/1192, sultan và vua đồng ý với Hiệp ước Jaffa, sự chia cắt Palestine đầu tiên: vương quốc Cơ đốc nhận một cơ hội sống với Acre là kinh đô, trong khi Saladin nắm giữ Jerusalem, và cho phép người Cơ đốc toàn quyền đến Mộ Thánh.

Trên đường trở lại Jerusalem, Saladin gặp người em Safadin. Họ cùng cúi hôn mặt đất để cảm tạ Thượng Đế và cầu nguyện ở Vòm Đá. Mặc dù Richard từ chối đi thăm Jerusalem của người Hồi, các hiệp sĩ của ông tụ tập ở đó để hành hương và được Saladin đón tiếp. Vị sultan cho họ thấy Thập Giá Thực, nhưng sau đó thánh tích tột đỉnh này bị thất lạc – và biến mất mãi mãi. Khi cố vấn nhà vua Hubert Walter đến Jerusalem, ông luận bàn với Saladin về Richard. Theo quan điểm của Saladin, Richard thiếu khôn ngoan và kềm chế. Nhờ Walter, Saladin cho phép các thầy tu Latinh trở lại Mộ Thánh. Khi hoàng đế Byzantine Isaac Angelus cũng yêu cầu điều đó cho Chính thống giáo, Saladin quy định rằng họ phải chia sẻ cùng nhau dưới sự giám sát của mình và bổ nhiệm Sheikh Ghanim al-Khazraji làm  Quản đốc Nhà Thờ, một vai trò còn được thi hành tận ngày nay bởi các hậu duệ của ông, dòng họ Nusseibeh.

Hai kình dịch không hề gặp nhau. Vào ngày 9/10, Richard giong buồm về châu Âu. * Saladin bổ nhiệm thư ký Ibn Shaddad làm giám sát các dự án của ông ở Jerusalem, rồi lên đường về Damascus. 

 * Trên đường về, Richard bị bắt và chuyển giao cho hoàng đế Đức Henry VI, và ông bị tống giam hơn một năm trời, cho đến khi nước Anh nộp đủ số tiền chuộc lớn. Ông tiếp tục đánh nhau với vua Pháp, mang về nhà một số chiến binh Saracen và bí quyết làm ra Lửa Hy Lạp. Năm 1199, bao vây một lâu đài Pháp nhỏ, ông bị giết bởi một phát tên của cung thủ. Steven Runciman viết, ‘Ông là một đứa con trai tồi, một người chồng tổi và một vị vua tồi nhưng là một chiến binh quả cảm và phi thường.’

Ở đó, những niềm vui gia đình đang chờ đợi ông – ông có đến 17 con trai – nhưng giờ đây ông đã 54 và đã mệt mỏi. Con trai ông Zahir bịn rịn không đành rời xa cha, dường như linh cảm họ sẽ không bao giờ gặp nhau lần nữa: xúc động, anh cứ nói lời chia tay, rồi quay ngựa lại để hôn từ biệt cha lần nữa. Tại hoàng cung, Ibn Shaddad trông thấy Saladin đang chơi đùa với một trong các con trai bé con của mình dưới cổng ngoài hoa viên trong khi các ông lớn người Frank và các amir đang đợi để được vào yết kiến.

Một vài ngày sau, sau khi tiếp đón đoàn người đi hành hương Mecca về, ông bị một cơn sốt nặng, ắt hẳn là do viêm phổi. Các thầy thuốc trích máu ông, nhưng bệnh ông càng nặng hơn. Khi ông đòi nước ấm, ông thấy nước mang đến sao quá lạnh. ‘Trời đất ơi!’ ông kêu lên. ‘Bộ không ai có thể đem đến nước đúng ý ta hay sao!’ Vào bình minh ngày 3/3 1193, ông mất khi đang nghe đọc Kinh Koran. ‘Nếu được, tôi và nhiều người khác sẵn sàng thế mang cho ngài,’ Ibn Shaddad viết, và suy gẫm:

Rồi những năm tháng này và những kẻ tham dự này rồi sẽ ra đi

 Như thế tất cả họ chỉ từng là những giấc mơ

MUAZZAM ISA: MỘT JESUS KHÁC

Các con trai của Saladin trải qua sáu năm tiếp theo nồi da xáo thịt với những cấu kết luôn thay đổi, được người chú Safadin sắc sảo hoà giải. Ba con trai lớn nhất Afdal, Zahir và Aziz nhận được Damascus, Aleppo và Egypt, trong khi Safadin cai trị Outrejourdain và Edessa.

Afdal, giờ đã 22, thừa hưởng Jerusalem mà ông yêu quí. Ông cho xây Thánh đường Omar ngay sát bên Mộ Thánh và cho người bắc Phi định cư trong khu Maghrebi tại đó ông xây dựng Afdaliyya Madrassa cách Bức Tường Tây vài mét.

Afdal, say sưa và bất tài, thấy khó khơi dậy lòng trung thành và Jerusalem bị ném qua ném lại giữa các anh em đấu đá nhau. Ngay khi Aziz chiến thắng cuộc chiến và nổi lên như một sultan, ông liền bị giết khi ra ngoài săn bắn. Các anh em còn lại Afdal và Zahir cấu kết chống lại chú mình, nhưng bị Safadin đánh bại cả hai và ôm trọn đế chế, cai trị như một sultan trong 20 năm. Lạnh lùng, lịch lãm và khó lay chuyển, Safadin không như Saladin: không người đương đại nào dành cảm tinh cho ông, nhưng ai cũng tôn trọng ông. Ông thành công một cách xuất sắc, chắc chắn là người có năng lực nhất trong thời đại mình. Ở Jerusalem, Safadin ủy thác việc xây cổng đôi – Cổng Dây Xích và Cổng Sự Hiện Diện Linh Thiêng, chắc chắn tại vị trí Cổng Đẹp của Thập Tự quân – sử dụng chiến lợi phẩm sắc sảo của địch  từ nhà nguyện của Hiệp sĩ Đền Thánh – đến nay vẫn còn là lối vào chính phía tây đến Núi Đền. Nhưng thậm chí trước khi ông trở thành sultan, vào năm 1198, con trai thứ hai của ông, Muazzam Isa (Isa tiếng Ả Rập của từ Jesus), được ban cho đất Syria.

Vào năm 1204, Muazzam lập Jerusalem làm thủ đô, và cung điện của Amaury là nơi ở của mình. Là thành viên được yêu mến nhất của gia tộc kể từ sau bác Saladin, Muazzam là người dễ gần và cởi mở. Khi ông đến thăm các học giả để học tập triết học, ông đơn giản đi bộ đến nhà họ như một sinh viên bình thường. ‘Tôi gặp ông ở Jerusalem,’ sử gia Ibn Wasil nhớ lại. ‘Đàn ông, đàn bà và trẻ em xô đẩy ông và không ai đuổi họ đi. Mặc dù có tính táo bạo và ý thức cao về danh dự, ông không mấy ưa sự phô trương. Ông đi ngựa mà không cần những nghi thức hoàng gia, chỉ đem theo đội hộ tống ít người. Đầu đội chiếc mũ vải vàng, ông đi qua chợ và đường phố mà không cần người dẹp đường cho mình.’

Là một trong những người xây dựng nhiều nhất của Jerusalem, Muazzam phục dựng tường thành, xây 6 tháp canh đồ sộ và biến cải những công trình Thập Tự quân trên Núi Đền thành những điện thờ Hồi giáo.

Vào năm 1209, ông định cư 300 gia đình Do Thái từ Pháp và Anh đến Jerusalem. Khi thi sĩ Do Thái ở Tây Ban Nha là Judah al-Harizi thực hiện chuyến hành hương của mình, ông ca tụng triều đại Muazzam và  Saladin cho dù ông thương tiếc Đền Thờ: ‘Chúng tôi ra ngoài mỗi ngày để khóc than cho Zion, chúng tôi sầu não cho các cung điện bị tàn phá, chúng tôi leo lên Núi Olives để nằm xấp người trước Sự Vĩnh Cữu. Lòng dạ dày vò xiết bao khi nhìn thấy những vuông sân linh thiêng của chúng tôi biến thành một đền thờ xa lạ.’ Thình lình, vào năm 1218, những thành tựu của Muazzam bị lâm nguy khi John xứ Brienne, Vua Jerusalem trên danh nghĩa, * dẫn đầu Cuộc Thập Tự Chinh thứ 5 tấn công Ai Cập. Các Thập Tự quân bao vây cảng Damietta. Safadin, giờ đã tuổi 74, cầm đầu quân đội xuất chinh nhưng mất trước khi ông nghe tin Tháp Dây Xích của Damietta đã thất thủ. Muazzam vội vã từ Jerusalem đến Ai Cập để cứu viện anh Kamil của mình, là vị Sultan mới của Ai Cập. Nhưng hai anh em hoảng loạn và hai lần đề nghị giao Jerusalem cho Thập Tự quân nếu họ chịu từ bỏ Ai Cập. Vào mùa xuân 1219, trong khi đế chế của gia tộc bị lâm nguy, Muazzam ra một quyết định đau lòng là phá hủy tất cả những tường thành của mình ở Jerusalem, lập luận rằng ‘nếu người Frank chiếm được nó, họ sẽ giết hết mọi người ở đó và thống trị Syria’.

* Hoàng hậu Isabella của Jerusalem không gặp may mắn trong hôn nhân: người chồng thứ ba của bà Henry xứ Champagne cai trị Acre như vua Jerusalem và có hai con gái với bà – nhưng, trong lúc duyệt binh đoàn Thập Tự quân Đức, ông đãng trí bước lui và rơi ra ngoài cửa sổ. Sau đó bà cưới Amaury xứ Lusignan, Vua xứ Cyprus, rồi cũng chết vì bội thực cá đối trắng vào năm 1205. Khi bà mất, còn gái bà Maria – giờ là bà hoàng Jerusalem – lấy hiệp sĩ John  xứ Brienne, và họ có với nhau cô con gái Yolande.

Jerusalem bỏ ngỏ và chỉ còn phân nửa người ở – dân cư đã bỏ đi hàng loạt. ‘Đàn bà, con gái và ông lão tụ tập trên Haram, xén tóc và quần áo và vung vãi khắp nơi’ như thể đó là ‘Ngày Phán Xét’. Vậy mà Thập Tự quân từ khước một cách điên rồ lời đề nghị của hai anh em về Jerusalem – và Thập Tự quân cũng tự nó tan rã.

Khi Thập Tự quân đã bỏ đi, Kamil và Muazzam, mới đây đã đoàn kết quá khắng khít trong cơn khủng hoảng tột cùng, lại lao vào trận huynh đệ tương tàn xấu xa để chiếm thế thượng phong. Jerusalem không thực sự phục hồi cho đến thế kỷ 19. Thành phố phải chịu cảnh không có tường thành trong ba thế kỷ.  Nhưng nó sắp sửa trao tay một lần nữa trong một thỏa thuận hoà bình mong manh nhất.

HOÀNG ĐẾ FREDERICK II: KỲ QUAN CỦA THỂ GIỚI, QUÁI THÚ NGÀY KHẢI HUYỀN

Vào ngày 9/11/1225, tại thánh đường ở Brindisi, Frederick II, Hoàng đế La Mã Thần Thánh và Vua xứ Sicily cưới Yolande, Hoàng hậu 15 tuổi của Jerusalem. Ngay khi lễ cưới đã xong, Frederic nắm tước vị vua Jerusalem, sẵn sàng lên đường cho cuộc Thập Tự Chinh. Kẻ thù của ông phao tin rằng ông bắt đầu quyến rũ các cô hầu của người vợ mới trong khi vẫn ve vãn các nàng hầu Saracen của mình. Điều này làm khiếp đảm cha vợ John xứ Brienne của ông và làm giáo hoàng bực bội. Nhưng Frederick đã là vị vua hùng mạnh nhất châu Âu – sau này ông được biết dưới danh hiệu Stupor Mundi, Kỳ quan của Thế giới – và ông làm mọi việc theo ý mình. 

Frederick xứ Hohenstaufen, mắt xanh lá và tóc đỏ, nửa Đức nửa Norman, lớn lên ở Sicily và không ở đâu khác trong châu Âu có một triều đình như của ông ở Palermo, phối hợp các nền văn hóa Norman, Ả Rập và Hy Lạp trong một sự hòa quyện của Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Chính môi trường trưởng thành này đã khiến Frederick hóa ra bất thường và ông không ngại khoa trương tính lập dị của mình. Đoàn tùy tùng của ông thường gồm có một hậu cung, một sở thú, 50 người huấn luyện chim ưng (ông đã viết một bộ sách về Nghệ Thuật Săn với Chim Ưng), một đội vệ sĩ Ả Rập, các học giả Hồi giáo và thường một nhà ma thuật và huyền bí thuật. Ông chắc chắn có nhiều đặc tính Levant về mặt văn hóa hơn bất kỳ ông vua nào trong Cơ đốc triều nhưng điều này không khiến ông thôi đánh dẹp thẳng tay các cuộc nổi dậy Ả Rập ở Sicily. Ông trục xuất người Ả Rập khỏi Sicily nhưng xây cất cho họ một thị trấn Ả Rập ở Lucera với thánh đường riêng và một cung điện mà ông thường lui tới. Tương tự ông áp đặt những luật bài Do Thái trong khi vẫn bảo trợ cho các bác học Do Thái, chào đón những người định cư Do Thái và ra lệnh đối xử họ công bằng.

 Frederick xem trọng quyền lợi của mình và gia đình một cách rất nghiêm túc: ông thực sự là một tín đồ Cơ đốc chuẩn mực,  tin tưởng rằng là hoàng đế minh phải là một nhà cai trị thần thánh theo khuôn mẫu Byzantine và là hậu duệ bao thế hệ những Thập Tự quân và người kế thừa Charlemagne, ông có nghĩa vụ phải giải phóng Jerusalem. Ông đã hai lần tuyên thệ nhận sứ mạng nhưng cứ hoãn lại ngày lên đường.

Giờ là vua Jerusalem, ông lên kế hoạch cuộc viễn chính của mình một cách hăng hái – nhưng tất nhiên theo phong cách của ông. Ông để hoàng hậu Jerusalem có bầu ở lại hậu cung Palermo, hứa với giáo hoàng rằng mình đang lên đường Thập Tự Chinh – nhưng Yolande, tuổi 16, chết sau khi sinh con trai. Vì Frederic là vua Jerusalem qua hôn nhân, con trai ông giờ nắm giữ tước vị. Nhưng ông sẽ không để chi tiết ấy ảnh hưởng đến cuộc viễn chính đang đến gần.

Hoàng đế hi vọng chiếm lại được Jerusalem bằng cách khai thác sự tranh chấp trong dòng họ Saladin. Thật ra vị sultan Kamil đã đề nghị giao cho ông Jerusalem đổi lại việc ông hỗ trợ ông ta chống lại Muazzam, người đang làm chủ thành phố. Frederick cuối cùng cũng xuất binh vào năm 1227, nhưng rồi phát bệnh phải quay về – vì vậy mà Giáo hoàng Gregory IX rút phép thông công của ông, quả là một sự bất tiện đối với một Thập Tự quân. Ông cho các Hiệp sĩ Teutonic và bộ binh đi trước và đến khi ông hợp quân  với họ tại Acre vào tháng 9 1228, thì Muazzam đã mất và Kamil đã chiếm lấy Palestine – và tất nhiên đã rút lại đề nghị trước đây của mình.

Tuy nhiên, Kamil giờ đang phải đánh nhau với các con trai của Muazzam cũng như với Frederic và quân đội của ông. Y không thể xử lý cả hai mối đe doạ. Hoàng đế và sultan quá yếu để có thể đánh nhau giành lấy Jerusalem vì thế họ mở những cuộc đi đêm với nhau.

Kamil cũng không chuẩn mực như Frederick. Khi còn trẻ y đã từng được Tim Sư Tử phong chức hiệp sĩ. Trong khi hoàng đế và sultan thương thảo việc phân chia Jerusalem, họ tranh luận về triết học của Aristotle và hình học Ả Rập. ‘Ta thực sự không có tham vọng giữ lấy Jerusalem,’ Frederick bảo với phái đoàn đàm phán của Kamil, ‘ta chỉ muốn bảo vệ danh tiếng của mình với người Cơ đốc.’ Người Hồi tự hỏi có phải đạo Cơ đốc chỉ là ‘một trò chơi đối với ông ta hay không’. Vị sultan gởi cho hoàng đế ‘các nữ vũ công’ trong khi hoàng đế khoản đãi các quan khách Hồi những nữ vũ công Cơ đốc. Giáo trưởng Gerold lên án những gái gú xướng ca và bọn xiếc tung hứng là ‘những người không chỉ bị tai tiếng mà còn không xứng đáng được người Cơ đốc nhắc đến’, nhưng ông bỏ ngoài tai. Giữa các phiên đàm phán, Frederick đi săn với chim ưng và quyến rũ các nhân tình mới, và sáng tác những bài hát rong ướt át. 

Khi cuộc đàm phán chao đảo, Frederick dẫn quân dọc bờ biển đến Jaffa theo bước chân của Richard trước đây, đe đọa Jerusalem. Vậy mà mẹo này có hiệu quả và vào  ngày 11/2/1229, ông đạt được điều chưa từng mơ đến: để đổi lấy 10 năm hoà bình, Kamil nhượng bộ Jerusalem và Bethlehem với một hành lang đi ra biển. Ở Jerusalem, người Hồi làm chủ Núi Đền nhưng cho phép đi lại và thờ cúng tự do dưới quyền giám sát của các qadi (quan tòa) của họ. Thỏa thuận phớt lờ người Do Thái (hầu hết đã trốn khỏi thành phố), nhưng hiệp ước chia sẻ chủ quyền này vẫn còn là thỏa thuận hòa bình táo bạo nhất trong lịch sử Jerusalem.

Vậy mà cả hai khu vực đều khủng hoảng. Ở Damascus, con trai của Muazzam Nasir Daud ra lệnh quốc tang. Dân chúng khóc gào nức nở khi nghe tin. Kamil nhấn mạnh, ‘chúng tôi chỉ nhượng bộ một số nhà thờ và các tòa nhà bị phá hủy. Các khu vực linh thiêng và Vòm Đá tôn kinh vẫn là của chúng tôi.’ Nhưng hiệp ước có kết quả đối với ông – nhờ đó ông có thể thống nhất đế chế Saladin dưới quyền trị vì của mình. Về phần Frederick, Giáo trưởng Gerold ngăn cấm nhân vật bị rút phép công đến thăm Jerusalem, và các Hiệp sĩ Đền Thánh lên án ông không giành được Núi Đền.

Vào thứ bảy ngày 17 tháng 3, Frederick, được cận vệ người Ả Rập và tùy tùng, binh lính Đức và Ý, Hiệp sĩ Teutonic, và hai giám mục Anh, được đại diện sultan Shams al-Din đón tiếp tại Cổng Jaffa để giao chìa khóa của Jerusalem.

Đường phố vắng ngắt, nhiều người Hồi đã bỏ thành phố ra đi, người Syria Chính thống giáo cau có vì người Latinh lại trỗi dậy – và thời gian của Frederick lại quá ngắn: Giám mục xứ Caesarea đang lên đường để áp đặt lệnh cấm của giáo trưởng và đặt thành phố dưới lệnh cấm.

CUỘC ĐĂNG QUANG CỦA FREDERICK II: JERUSALEM THUỘC ĐỨC

Sau khi qua một đêm trong lâu đài của Thủ lĩnh Hiệp sĩ Cứu tế, Frederick tổ chức lễ Mét trong Mộ Thánh, giờ không còn giáo sĩ mà chỉ chứa đầy những binh lính Đức. Ông đặt vương miện lên áng thờ Calgary rồi đội nó lên đầu, một nghi lễ đăng quang với mục tiêu tự phóng chiếu mình là một vị quân vương lẫm liệt và phổ quát của Cơ đốc triều. Ông giải thích với Henry III nước Anh: ‘Chúng ta là Hoàng đế Cơ đốc đội vương miện mà Đấng Toàn Năng đã ban cho chúng ta từ ngôi báu của Ngài, với hồng ân của Ngài Ngài thăng hoa chúng ta lên cao tột trong số những ông hoàng của thế giới trong ngôi nhà của tôi tớ Ngài là David.’

Frederick không phải là người đánh giá thấp tầm quan trọng của mình: việc đạo diễn hoành tráng và kỳ quái  là lễ đăng quang của một vì vua thiêng liêng, một Hoàng đế thần bí của Ngày Tận Thế, trong Nhà Thờ mà ông coi là đền thờ Vua David.

Sau đó, hoàng đế đi tham quan Núi Đền, khâm phục Vòm Đá và al-Aqsa, ca tụng mihrab (hốc tường quay về hướng Mecca để cầu nguyện) diễm lệ của nó, treo lên tận áng thờ của Nur al-Din. Khi ông trông thấy một giáo sĩ tay cầm cuốn Tân Ước tính bước vào al-Aqsa, ông xô ngã y, quát: ‘Đồ con lợn! Nói có Trời nếu có ai trong số các ngươi đến đây lần nữa mà chưa được phép, ta sẽ lấy mắt các ngươi!’

8

Hoàng đế Frederick II, được biết dưới biệt hiệu Stupor Mundi – Kỳ Quan Thế Giới đối với một số người, Kẻ Chống-Christ đối với người khác – đang bước vào Thành phố Thánh trong hình trên.

Người bảo vệ Hồi không biết phải làm gì với thủ lĩnh tóc đỏ này: ‘Nếu y là một nô lệ, y sẽ không có giá đến 200 dinar,’ một người trong số họ lẩm bẩm. Đêm đó Frederick nhận xét là không nghe tiếng hô của các muezzin; ông hỏi người đại diện của vị sultan, ‘Sao đêm qua không nghe các muezzin loan báo giờ cầu nguyện?’

‘Tôi căn dặn các muezzin không kêu gọi vì tôn trọng ngài,’ vị  đại diện đáp.

‘Vậy là ngươi sai rồi,’ Frederick nói. ‘Mục đích chính của ta khi ngủ qua đêm ở Jerusalem là để nghe các muezzin và tiếng họ vang lên ca tụng Thượng Đế giữa đêm khuya.’ Khi các muezzin phát lời kêu gọi cầu nguyện buổi trưa, ‘tất cả tôi tớ và nội thị của ông cũng như thầy dạy của ông’ đều nằm sấp để cầu nguyện.

Sáng hôm đó, Giám mục xứ Caesarea đến với lệnh cấm. Hoàng đế rời đội quân đồn trú của mình trong Tháp David và hướng về Acre nơi ông đối mặt  với sự hiềm khích vô ơn của các ông lớn và Hiệp sĩ Đền Thánh. Giờ trước sự công kích của giáo hoàng ở Ý, hoàng đế hoạch định một chuyến khởi hành bí mật, nhưng vào bình minh ngày ⅕ đám đông dân chúng Acre, thu nhặt bộ đồ lòng bị loại bỏ trên Phố Đồ tể, thi nhau ném vào ông nào ruột rà, nào phèo phổi.

Ông không nán lại Jerusalem lâu và không hề quay lại, nhưng Frederick vẫn chính thức là ông chủ của Jerusalem trong 10 năm. Frederick giao Tháp David và hoàng cung cho các Hiệp sĩ Teutonic. Ông ra lệnh thủ lĩnh của họ, Hermann xứ Salza và Giám mục Peter xứ Winchester, tu sửa Tháp (một số công trình còn tồn tại đến ngày nay) và củng cố Cổng St Stephen (ngày nay là Damascus). Người Frank lấy lại nhà thờ và nhận lại những sở hữu cũ’. Người Do Thái lần nữa bị cấm cửa. Không có tường thành, Jerusalem không được an toàn: nhiều tuần sau, những imam của Hebron và  Nablus dẫn 15,000 nông dân vào thành phố trong khi người Cơ đốc chui rúc trong Tháp. Acre phái một đạo quân đến đánh đuổi bọn xâm chiếm Hồi giáo và Jerusalem trở lại của người Cơ đốc. *

*   Frederick và Kamil duy trì mối quan hệ bạn bè: vị sultan gửi tặng hoàng đế một mô hình thiên văn có chạm đá quí, vừa là đồng hồ vừa là bản đồ chuyển động của bầu trời – và một con voi; Frederick gửi tặng Kamil một gấu bắc cực. Frederick bỏ ra phần thời gian còn lại của đời mình trong cuộc chiến dai dẳng với giáo hoàng đế bảo vệ quyền thừa kế ở Đức và Pháp. Chính các giáo hoàng là người mạ lỵ ông là Quái vật của Ngày Khải Huyền. Con trai cả của ông Vua Henry của người La Mã phản bội ông; Frederick tống giam y suốt đời, bổ nhiệm Conrad làm Vua Jerusalem, con trai ông với Yolande, làm người kế vị ông ta. Kỳ quan chết vì bệnh tiêu chảy vào năm 1250, và được chôn cất ở Palermo. Conrad chết trẻ, vương miện Jerusalem được con trai còn nhỏ của Conrad là Conradin thừa kế, nhưng rồi cũng bị chặt đầu lúc 16 tuổi. Nhưng tiếng tăm của Frederick vẫn tăng lên: khi thời gian đi qua, những người cấp tiến ca ngợi tính khoan thứ mang tính hiện đại của ông; trong khi Hitler và Quốc xã ngưỡng mộ ông là một siêu nhân theo kiểu mẫu của triết gia Đức Nietzsche. 

Năm 1238, Sultan Kamil qua đời, ném triều đại Saladin lún sâu hơn vào những xâu xé nội bộ, và tình hình càng trầm trọng hơn với cuộc thập tự chinh mới dưới sự lãnh đạo của Bá tước Thibault xứ Champagne. Khi các Thập Tự quân bị đánh bại, con trai của Muazzam, Nasir Daud, phi ngựa về Jerusalem và bao vây Tháp David trong 21 ngày cho đến khi nó thất thủ vào ngày 7/12/1239. Rồi ông phá hủy tất cả tường thành công sự mới xây, và các ông hoàng đang hiềm khích nhau của dòng họ Saladin cùng nhau tuyên thệ trên Núi Đền sẽ sống chung hòa bình. Nhưng mối xung đột trong gia quyến và sự xuất hiện của Thập Tự Chinh của Anh dưới quyền chỉ huy của em trai Henry III, Richard, Bá tước xứ Cornwall, một lần nữa buộc Jerusalem phải đầu hàng trước người Frank. Lần này các Hiệp sĩ Đền Thánh trục xuất người Hồi và chiếm lại Đền Thánh: Vòm Đá và al-Aqsa một lần nữa trở thành nhà thờ. ‘Tôi trông thấy những thầy tu đang quản lý Tảng Đá Thiêng,’ Ibn Wasil nhớ lại. ‘Tôi nhìn thấy trên đó nhiều chai rượu thánh dành cho lễ Mét.’ Hiệp sĩ Đền Thánh bắt đầu củng cố Thành phố Thánh – nhưng không đủ nhanh: để trấn áp những đối thủ trong gia quyến, vị sultan mới Salih Ayyub đã thuê một bầy rợ Tác-ta cướp bóc, những tay ngựa du mục vùng Trung Á bị đế chế Mông Cổ mới nổi lên dồn về phía nam. Nhưng ông ta không kềm chế được chúng. Trước sự khiếp đảm của người Cơ đốc xứ Acre, 10 vạn rợ Tác-ta ào ạt tiến về Jerusalem.      

BARKA KHAN VÀ RỢ TÁC-TA: ĐẠI THẢM HOẠ

Vào ngày 11/7/1244, rợ Tác-ta do Barka Khan dẫn đầu phí ngựa vào Jerusalem, vừa đi vừa chém giết trên đường phố, xông vào  tu viện Armenia và tàn sát thầy tu và nữ tu. Họ đập phá nhà thờ và nhà dân, cướp bóc Mộ Thánh và phóng hỏa nó. Tiến đến nhóm giáo sĩ đang làm lễ Mét, rợ Tác-ta chặt đầu và moi ruột họ ngay tại áng thờ. Thi hài các nhà vua Jerusalem bị đào lên, các quách tinh xảo bị đập nát; tảng đá trước nhà mộ của Jesus bị đập nát vụn. Người Frank, bị vây hãm trong Tháp, cầu cứu Nasir Daud. Ông này thuyết phục Barka cho phép quân đồn trú ra đi an toàn.

6,000 người Cơ đốc rời đi định đến Jaffa, nhưng khi thấy cờ Frank trên tường thành, tưởng rằng cứu viện đã đến, nhiều người bèn quay lại. Bọn Tác-ta tàn sát 2,000 trong số đó. Chỉ non 300 người Cơ đốc đến được Jaffa. Khi họ đã hoàn toàn phá hủy thành phố, rợ Tác-ta phóng ngựa bỏ đi.* Bốc khói nghi ngút và tan hoang Jerusalem sẽ không thuộc về Cơ đốc lần nữa cho đến năm 1917.

  * Lũ Tác-ta này cuối cùng bị dòng dõi của Saladin đánh bại vào năm 1246. Say sưa trong chiến thắng, Barka Khan bị bêu đầu, thủ cấp ông được treo ở Aleppo. Nhưng con gái ông cưới một thủ lĩnh Mamluk Baibars, vị sultan tương lai; các con trai của ông trở thành những amir hùng mạnh.

 Vào năm 1248, Vua Louis XI dẫn đầu một cuộc Thập Tự Chinh hiệu quả cuối cùng và thêm một lần nữa, Thập Tự quân hi vọng chiếm lại Jerusalem bằng cách chinh phục Ai Cập. Vào tháng 11 1249 Thập Tự quân tiến vào Cairo, tại đó Sultan

Salih Ayyub vừa mất. Vợ góa của ông, vị sultana, Shajar al-Durr, nắm quyền, triệu hồi người con riêng của chồng Turanshah từ Syria về. Thập Tự quân đã đi quá xa và bị quân mamluk, trung đoàn thiện chiến gồm những chiến binh nô lệ, đánh tan. Louis bị bắt. Nhưng vị sultan mới Turanshah phớt lờ công lao của các chiến binh này: vào ngày 2/5/1250, giữa lúc y đang mở tiệc chiêu đãi mừng chiến thắng, có sự tham dự của nhiều tù binh Thập Tự, thì quân mamluk, được một người to lớn tóc vàng tên Baibars, khi đó mới 27 tuổi, cầm đầu, ùa vào, kiếm tuốt ra.

Baibars chém vị sultan, y chạy về phía sông Nile máu tuôn trên bước chân khi quân mamluk bắn tên vào người y. Y đứng giữa sông, mình đầy thương tích, van xin tha mạng nhưng một tên mamluk đã bì bõm bước về phía y, cắt lấy đầu y và chém toang ngực y. Trái tim y được cắt ra và đưa cho Vua Louis của Pháp xem tại bữa tiệc; ẳt hẳn nhà vua ăn uống hết ngon.

Thế là kết thúc triều đại Saladin ở Ai Cập, một sự sụp đổ xô đẩy Jerusalem, giờ nửa vắng vẻ, nửa tan hoang, vào 10 năm hỗn loạn bị ném qua lại giữa các tướng quân và hoàng thân quốc thích khác nhau giành giật quyền lực * trong khi một bóng đen đáng sợ đang buông xuống vùng Trung Đông. Vào năm 1258, người Mông Cổ, dân tộc theo Saman giáo từ vùng Viễn Đông đã chinh phục đế chế rộng lớn nhất mà thể giới từng biết, cướp phá Baghdad, tàn sát 80,000 người và giết hại vị kha-lip. Họ chiếm Damascus và phi ngựa xa tận  Gaza, trên đường cướp phá Jerusalem. Đạo Hồi cần một vị thủ lĩnh vô địch hung dữ để đánh bại chúng. Người đứng lên chấp nhận thách thức là Baibars.

 * Có lúc, Jerusalem được cai trị từ Syria, có lúc từ Cairo nơi Shajar al-Durr tự phong là sultana trong quyền hạn của mình. Đây là thành tựu duy nhất của nữ giới Hồi giáo và là khởi nguồn của nhiều truyền thuyết. Khi là một hầu thiếp trẻ, cô đã lọt vào cặp mắt của sultan bằng cách diện một chiếc áo kết hoàn toàn bằng ngọc trai, từ đó có tên Shajar al-Durr, Cây Ngọc Trai.

Giờ bà cần một người nam hậu thuẫn vì thế bà lấy một sĩ quan mameluk, Aibeg, người sẽ trở thành sultan. Nhưng cặp vợ chồng sớm chia tay nhau và bà cho người đâm ông khi đang tắm. Sau 80 ngày cai trị người mamluk hạ bệ bà. Trước khi trốn thoát, bà nghiền tất cả kim cương nổi tiếng của mình thành bột để không phụ nữ nào sở hữu được chúng. Khi bà bị bắt, các hầu thiếp của Aibeg (có lẽ phẫn nộ vì không được thừa hưởng số nữ trang) đập bà đến chết bằng những chiếc guốc của họ.

9

Saladin và gia tộc ông tái Hồi giáo hóa Jerusalem, thường sử dụng chiến lợi phẩm của Thập Tự quân. Người Hồi coi Vòm Thăng Thiên, được xây dựng năm 1200 trên Núi Đền, là địa điểm chuyến Dạ Hành của Muhammad. Nhưng chính người Mamluk mới thực sự tạo ra Khu Hồi giáo ngày nay. Sultan Nasir al-Muhammad xây Chợ Bông Vải theo phong cách Mamluk đặc biệt; Sultan  Qaitbay ủy thác xây dựng giếng nước này trên Núi Đền

10

Bản đồ Jerusalem thời Thập Tự Chinh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s