Nghi vấn lịch sử thời Bắc thuộc

giaochiduoithoihan

Đặng Thanh Bình

 

1 . Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo khoảng năm 1856-1884 chép:

“Năm Giáp Ngọ (34 s.c.ng.) (Hán, năm Kiến Vũ thứ 10). Triều Hán dùng Tô Định làm thái thú Giao Chỉ.

Năm Canh Tí (40 s.c.ng.) (Hán, năm Kiến Vũ thứ 16). Tháng 2, mùa xuân. Người con gái quận Giao Chỉ là Trưng Trắc khởi binh đánh đuổi thái thú Tô Định; tự lập làm vua.

Vương vốn họ Lạc, lại có một tên họ nữa là Trưng. Là con gái quan lạc tướng huyện Mi Linh, quận Giao Chỉ và là vợ Thi Sách người huyện Chu Diên, bà là người rất hùng dũng. Lúc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm chỗ châu lỵ. Tô Định phải chạy về Nam Hải. Quân Bà đi đến đâu, như gió lướt đến đấy. Các dân tộc man, lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Lấy lại và dẹp yên được 65 thành ở đất Lĩnh Nam. Bà tự lập làm vua, đóng đô ở Mi Linh. Các thứ sử, thái thú ở quận Giao Chỉ đều chỉ bảo toàn được mình thôi.

Lời chữa – Huyện Chu Diên: Đặt từ đời Hán, thuộc quận Giao Chỉ; nhà Đường đổi làm Diên Châu; nhà Lê đổi làm phủ Tam Đái. Bây giờ là đất phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây.

Năm Tân Sửu (41 s.c.ng.) (Hán, năm Kiến Vũ thứ 17). Tháng 12, mùa đông. Nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm Phó tướng, đốc xuất bọn Lâu Thuyền Tướng quân là Đoàn Chí, sang đánh Trưng Vương.

Nhà Hán cho rằng Trưng thị tự xưng làm vua, đem quân đánh các thành ấp, làm cho các nơi biên giới bị khổ sở, bèn bắt các đất Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ sắm sửa đủ xe, thuyền, sửa sang cầu đường, khơi thông các khe suối, chứa sẵn lương thóc; phong Mã Viện làm Phục ba Tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm Phó tướng, đốc xuất bọn Lâu thuyền Tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng Vương.

Năm Nhâm Dần (42 s.c.ng.) (Hán, năm Kiến Vũ thứ 18). Tháng 3 mùa xuân. Quân Mã Viện đến Lãng Bạc, cùng quân Trưng Trắc đánh nhau và phá tan được. Trưng Trắc lui giữ đất Cấm Khê.

Mã Viện ven theo đường biển tiến quân, qua núi đốn cây, đi hơn nghìn dặm đến Lãng Bạc, đánh nhau với quân Trưng vương. Trưng vương thấy thế quân bên Hán mạnh nhiều, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không thể chống lại được. Quân của bà cũng cho rằng bà là đàn bà, không địch nổi với Hán; vì thế quân bà tự tan vỡ.

Lời chữa

– Lãng bạc: Còn có tên là Dâm Đàm, ở về phía Tây con đường mặt Tây thành Đại La. Về đời Lê, đổi gọi là Tây Hồ tức là Hồ Tây tỉnh Hà Nội ngày nay.

– Cấm Khê: Sách Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên chua rằng: Theo sách Việt chí, Cấm Khê là Kim Khê, ở phía Tây Nam huyện Mi Linh. Theo sách Nam Việt chí của Thẩm Hoài Viễn, Trưng Trắc chạy vào trong hang Kim Khê, hai năm mới bắt được. Theo sách Phù Nam Ký của Trúc Chi, trên chỗ khe núi nước chảy xói vào gọi là hang. Chương hoài thái tử Lý Hiền chua rằng tức là đất huyện Tân Xương, thuộc Phong Châu bây giờ. Theo thế, thì Cấm Khê phải ở vào địa hạt Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây, nhưng chưa rõ đích là nơi nào. Sử cũ cho là ở huyện Chân Lộc thuộc Nghệ An là nhầm.

Năm Quý Mão (43 s.c.ng.) (Hán, năm Kiến Vũ thứ 19). Tháng Giêng, mùa xuân. Trưng Trắc cùng em gái là Nhị cự chiến với quân án. Hai bà bị thua và mất.

Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương (chữ “Dương” trong Hán thư chép chữ là dê), đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện về rồi, người trong nước thương nhớ Trưng vương, lập đền thờ bà.

Lời phê – Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!

Lời chữa

– Cư Phong: Tên đất, do Hán đặt ra, thuộc quận Cửu Chân. Đời Tam Quốc, nước Ngô (222-280) đổi làm huyện Di Phong. Từ sau đời Tống (420-479), đời Tề (479-502), đây là lỵ sở của quận Cửu Chân. Nhà Tùy (581-619), bình được triều Trần, bỏ quận Cửu Chân, lấy huyện ấy cho thuộc Ai Châu. Đầu đời Đường (618-907), đất ấy lệ thuộc Nam Lục Châu. Đầu niên hiệu Thiên Bảo (742-755) bỏ tên đất ấy, cho vào huyện Nhật Nam. Theo sách Giao Châu ký của Tăng Cổn, ở huyện Cư Phong có núi, cứ đến đêm thường thấy trâu vàng hiện ra. Lại nói trên núi ấy có hang gió, cửa hang thường có gió thổi. Bây giờ ở về địa hạt tỉnh Thanh Hóa. Sử cũ chép là ở địa giới châu Vũ Ninh thuộc Bắc Giang là lầm.

– Cột đồng: Sách Thủy Kinh chú của Lịch Đạo Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên), dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc. Mốc đồng ấy tức là cột đồng. Theo Tùy sử, Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp, qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía nam tám ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806-820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba. Theo sách Thông điển của Đỗ Hữu, từ nước Lâm Ấp đi về phía nam, đi thủy, đi bộ hơn hai nghìn dặm đến đấy có nước Tây Đồ Di là chỗ Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu địa giới đấy. Theo Tân Đường thư, ở châu Bôn Đà Lãng của Lâm Ấp, phía Nam là năm bãi lớn, có núi “cột đồng” (đồng trụ sơn), hình núi như cái lọng dựng nghiêng, về phía Tây có nhiều núi đá, phía Đông là biển lớn. Cột đồng đó là do Mã Việndựng lên. Theo sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, Mã Viện đi đánh Lâm Ấp, đi từ Nhật Nam hơn 400 dặm đến Lâm Ấp, lại đi hơn 20 dặm nữa có nước Tây Đồ Di. Viện đến nước ấy rồi lập hai cái cột đồng ở nơi phân giới giữa Tượng Lâm và Tây Đồ Di. Về đường thủy, đi từ Nam Hải hơn 3000 dặm đến Lâm Ấp, rồi đến cột đồng ở Giao Châu phải 5000 dặm nữa. Sách Nhất Thống chí nhà Đại Thanh có chép: Tương truyền (cột đồng) ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã Viện có thề rằng: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Đó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gẫy.

Nay xét dã sử thấy có chép tỉnh Phú Yên có sông Đà Diễn. Phía Nam sông ấy có bãi lớn. Phía Tây Nam bãi ấy có núi Thạch Bi. Núi này chu vi tới mười dặm; phía Tây tiếp Đại Lĩnh, nhiều rặng trùng điệp, phía đông ra mãi bờ biển. Trên đỉnh núi ấy có một phiến đá trơ trọi cao hình như bị chẻ dọc. Thao lời ghi chép trong các sách Thông điển, Đường thư, ngờ rằng cột đồng có thể ở chỗ ấy. Chỉ có một điều, một phiến đá trơ trọi ở trên đỉnh núi ấy, cao chừng 10 trượng, rộng tới 6,7 trượng. Nhân dân ở quanh núi ấy nói rằng phiến đá ở trên đỉnh núi là một chỏm đá tự nhiên, không phải của ai lập thành cả. Vậy e rằng ta không thể bảo đấy là cột đồng. Sách Thủy kinh chú có nói: núi sông biến đổi, cột đồng bị lở mất vào trong biển. Lẽ ấy có lẽ đúng.

– Đền Trưng vương: Ở xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ ngày nay.

Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang.

Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập thành quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái tổ kén, nên gọi là thành Kiển Giang. Ba năm sau, Mã Viện về nước. Từ đấy về sau, trải qua các đời Minh đế (58-75 s.c.ng.), Chương đế (76-88), Hoa đế (89-105), Thương đế (106), An đế (107-125) gồm 5 đời vua, cộng tám mươi hai năm, mà chỉ thấy về đời Minh đế có Lý Thiện, người huyện Nam Dương, làm thái thú Nhật Nam có lòng yêu dân, làm chính sự có ơn huệ với dân, hấp dẫn được người phương xa. Về sau, Lý Thiện đổi đi làm thái thú Cửu Giang. Các quan lại có tài giỏi của mấy đời vua Hán chỉ thấy nói có một Lý Thiện. Đó có lẽ là những thiếu sót của việc ghi chép sử sách vậy.

Lời chữa

– Thành Kiển Giang: Theo Đại Thanh Nhất thống chí, thành Kiển Giang, thành Vọng Hải đều ở huyện An Lãng. Khoảng năm Kiến Vũ (25-56), trong khi Mã Viện nhà Hán sang bình Giao Chỉ, đắp hai thành ấy ở huyện Phong Khê và huyện Vọng Hải.

– Huyện Tây Vu: Do nhà Hán đặt, thuộc quận Giao Chỉ.

– Lý Thiện: Theo Độc hạnh truyện (truyện những người có đức tính đặc biệt) trong Hậu Hán thư, Lý Thiện là người có hạnh có nghĩa. Về thời Quang Vũ (25-57), Lý Thiện được triệu làm chức thái tử Xá Nhân. Về thời Minh đế (58-75), Thiện được cử làm quan ở Công phủ; vì có tài giải quyết việc phiền kịch, được thăng làm thái thú Nhật Nam. Vì làm chính sự theo đường ân huệ, yêu mến nhân dân, hấp dẫn được người phương xa, Thiện được thăng làm thái thú Cửu Giang, nhưng chưa đến nơi thì bị bệnh mất”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư do sử quán triều Hậu Lê khắc in và phát hành năm 1697 chép:

“Kỷ Hợi, [39], (Hán Quang Vũ Lưu Tú, Kiến Vũ năm thứ 15). Thái thú Giao Chỉ là Tô Định chính sự tham lam tàn bạo, Trưng Nữ Vương dấy binh đánh.

Trở lên là [kỷ] thuộc nhà Hán, từ năm Tân Mùi đến năm Kỷ Hợi, cộng 149 năm [110 TCN – 39].

Kỷ Trưng Nữ Vương

Trưng Vương. Ở ngôi 3 năm.

Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên công tái tạo.

Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên. (Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm). Đóng đô ở Mê Linh.

Canh Tý, năm thứ 1 [40], (Hán Kiến Vũ năm thứ 16). Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng là họ Trưng.

Tân Sửu, năm thứ 2 [41], (Hán Kiến Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương, cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.

Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ 18). Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng Bạc) đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi, lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim Khê). Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại mất.

Lê Văn Hưu nói: Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy.

Trở lên là Trưng Nữ Vương, bắt đầu từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần thì hết, tất cả 3 năm [40-42].

Kỷ Thuộc Đông Hán

Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], [43], (Hán Kiến Vũ năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. (Cột đồng tương truyền ở trên động Cổ Lâu châu Khâm. Viện có câu thề: “Cột đồng gãy thì Giao Châu diệt”. Người Việt ta đi qua dưới cột ấy, thường lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy gãy. Mã Tổng nhà Đường lại dựng hai cột đồng ở chỗ cũ của nhà Hán ghi công đức của Mã Viện để tỏ ra mình là dòng dõi của Phục Ba, nay chưa rõ ở chỗ nào. Hai sông Tả Giang, Hữu Giang mỗi nơi có một cột). Viện thấy huyện Tây Vu có 3 vạn 3 nghìn hộ, xin chia làm hai huyện Phong Kê và Vọng Hải, vua Hán nghe theo. Viện lại đắp thành Kiển Giang ở huyện Phong Khê. Thành đắp tròn như hình cái kén, cho nên lấy [chữ Kiển] làm tên. Nước Việt ta lại thuộc vào nhà Hán. Ba năm sau, Viện trở về. Người địa phương thương mến Trưng Nữ Vương, làm đền thờ phụng (đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc, ở đất cũ thành Phiên Ngung cũng có).

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa. Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực chính đại ấy ư ?

Giáp Thìn, [44], (Hán Kiến Vũ năm thứ 20). Từ đây về sau, trải các đời Hán Minh Đế, Chương Đế, Hòa Đế, Thượng Đế, An Đế, gồm 5 đời, cộng 82 năm, duy thời Minh Đế có Lý Thiện người huyện Nam Dương làm Tháu thú Nhật Nam, làm việc chính sự có ân huệ yên dân, khiến cho người khác phong tục cũng mến chuộng tìm đến. Sau Thiện đổi làm Thái thú Cửu Chân”.

Sách An Nam chí lược do Lê Tắc soạn vào nửa đầu thế kỷ 14 chép:

“Năm Kiến-Võ thứ 16 (40 sau công nguyên), đời vua Hán Quang-Võ, có người đàn bà Giao-Chỉ tên là Trưng-Trắc làm phản, năm thứ 19 (43), sai Mã-Viện qua đánh dẹp yên, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn nhà Hán.

(…..)

Lưu-Chiêu nói: Giao-Chỉ tức là nước An-Dương. Mã-Phục-Ba đời Hán dẹp yên giặc ở Giao-Chỉ, rồi dựng trụ đồng để làm giới hạn cho nhà Hán. Đời nhà Đường, Mã-Tống làm chức An-nam đô-hộ, lại dựng hai cái trụ đồng, vì Tống là con cháu của Phục-Ba. Xưa có truyền lại rằng: ở nơi động Cổ-Sum, tại Khâm Châu có cái cột đồng của Mã-Viện và lời thề rằng: “Hễ cái trụ đồng nầy gãy, thì nước Giao-Chỉ tiêu-diệt”, vì thế, người Giao-Châu, mỗi khi đi ngang qua đều lấy đá, ngói, ném vào dưới chân cột đồng, nên chẳng bao lâu, nơi ấy hóa thành gò.

Đổ-Phủ có câu thơ rằng: “Vũ lai đồng trụ bắc, ý tẩy Phục-Ba quân” nghĩa là: “mưa phía Bắc đồng trụ, muốn rửa quân Phục-Ba”.

Ở cương-giới nước Chiêm-Thành cũng có cột đồng. Mạnh-Hạo-Nhiên có câu thi: “Đồng trụ Nhật Nam đoan”, nghĩa là cột đồng đứng đầu đất Nhật-Nam.

Sách Cửu-Vực-Chí nói: “cái giếng tại Giao-Châu không phải người đào”.

Mã-Viện khi đã dẹp yên Giao-Chỉ, có làm trâu bò, lọc rượu để đãi quân-sĩ, trong lúc yến tiệc, Viện thong thả nói với liêu thuộc rằng: “Người em họ của ta tên là Thiếu-Du thường hay thương tôi khẳng khái có chí lớn và nói: “kẻ sĩ sinh ở đời, miễn sao vừa đủ ăn mặc, đi cái xe tầm thường, cỡi con ngựa xấu xí, làm chức lại thuộc trong quận, giữ phần mộ của tổ-tiên, làng xóm cho là người hiền-lành, như vậy thì đủ rồi. Còn như ham muốn cho dư dũ, thì chỉ là tự mình làm khổ cho mình đó thôi”. Hồi ta ở giữa Lãng Bạc và Tây-Lý, chưa diệt được giặc, dưới thì nước lụt, trên thì khói mù, khí độc hừng hực, xem lên thấy diều bay là là xuống nước, nhớ lại lời nói bình thời của Thiếu-Du, ta tiếc không làm sao được như vậy”.

(…..)

Năm Kiến-Võ thứ 16 của Hán Quang-Vũ-Đế (sau công nguyên 40), người đàn bà Giao-Chỉ là Trưng-Trắc làm phản, quận Cửu-Chân và quận Nhật-Nam đều hưởng ứng theo, đánh các quận, ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua. Quang-Vũ-Đế bèn hạ chiếu các quận Trường-Sa và Hợp-Phố chuẩn bị thuyền bè, sửa cầu, đường, mở rộng khe hỏi, tích trữ lương thực, rồi cử Mã-Viện làm Phục-Ba tướngquân, Phò-Lạc-Hầu Lưu-Long làm Phó, Đoàn-Chí giữ chức Lầu-Thuyền tướng-quân, do thuỷ lục hai đường cùng tiến đánh Giao-Chỉ. Mã-Viện do đường duyên-hải tiến quân, gặp núi thì làm đường, trải hơn 1.000 dặm, kéo quân tới Lãng-Bạc đánh nhau và đại phá quân Trưng-Trắc, rồi đuổi theo tới đất Kim-Khê.

Đến năm Kiến-Võ thứ 19 (43), Mã-Viện chém yêu tặc là Trưng-Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn cả dư đảng, bọn Đô-Lương, đến huyện Cư-Phong, bọn nầy chịu đầu hàng, đất Lĩnh-Nam đều được bình-định. Viện cùng người Việt thân minh chế-độ cũ để tiện việc cai-trị, từ đó Lạc-Việt phải tuân y quy-chế của Mã-tướng-quân.

Năm Kiến-Võ thứ 20 (44), Mã-Viện kéo quân về Kinh-sư. Bảy quận ở Giao-Chỉ, khi đi cống-hiến, đều phải do đường biển lên huyện Đông-dã (thuộc huyện Hầu-Quan Phước-Châu) mà dâng lễ vật.

(…..)

Đặng-Nhượng: Thân-thế thế nào chưa rõ, nhưng theo sách sử-ký của đời vua Quang-Võ trong Hậu-Hán-Thư, thời trong thời Vương-Mãng, các quận Giao-Chỉ, đều đóng cửa tự giữ lấy, có Sầm-Bành ngày thường có tình thân-mật với Đặng-Nhượng làm quan Mục ở đất Giao-Chỉ, đưa thư cho Nhượng, Nhượng bèn suất cả các Thái-Thú ở các quận, sai sứ đem lễ-vật về cống-hiến, sau đó đều được phong tước hầu.

Tích-Quang: Người Hán-Trung, trong thời vua Bình-Đế, làm Thái-Thú đất Giao-Chỉ, lấy lễ-nghĩa dạy dân. Nhậm-Diên Tự là Trường-Tồn, mới 12 tuổi đã thông hiểu Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân-Thu, nổi tiếng trong trường Thái-Học, người ta gọi là Nhâm-Thánh Đồng, nghĩa là Ông thánh con nít họ Nhâm. Đầu niên hiệu Kiến-Võ (25 sau Công-Nguyên), làm Thái-Thú quận Cửu-Chân. Theo phong-tục tập-quán thì dân Cửu Chân chỉ làm nghề đánh cá và săn thú, chứ không biết cày cấy.

Nhâm-Diên: Dạy dân vỡ đất hoang, trồng lúa, đất mỗi năm mỗi mở rộng thêm, dân được no đủ giàu có. Còn hạng dân nghèo không có tiền cưới vợ, thì Nhâm-Diên bắt từ quan Trưởng-Sử trở xuống phải chịu bới lương bổng để giúp kẻ nghèo. Vì vậy, số người cưới vợ trong một lúc tới 2.000 người. Năm ấy, mưa gió thuận hoà, các giống lúa đều được mùa. Nhà nào sinh được con cũng đặt tên Nhâm. Cai-trị được bốn năm, Nhâm-Diên trở về Trung-Quốc, người quận Cửu-Chân lập nhà sinh-từ để thờ.

Tô-Định: Đầu năm Kiến-Võ, làm Thái-Thú quận Giao-Chỉ, tính tham lam mà hung dữ, nên Trưng-Trắc giết Tô-Định làm phản. Sau đó, nhà Hán sai Mã-Viện qua dẹp yên cuộc loạn ấy.

Lý-Thiện: Tự là Thứ-Tôn, người đất Nam-Dương, làm chức Thái-Tử Xá-Nhân của nhà Hán. Trong thời vua Hiển-Tông, làm Thái-Thú quận Nhật-Nam, làm việc hay dùng ân-huệ, bác-ái đối với dân, nên dân ở các xứ khác cũng phục tùng, đổi làm chức Thái-Thú quận Cửu-Chân.

Trương-Khôi Trong triều vua Hiển-Tông, làm Thái-Thú Giao-Chỉ, vì ăn hối-lộ bị tội, của bị tịch thu vào kho. Vua nhà Hán ra lời chiếu lấy của ấy ban cho các quan”.

* Nhận xét:

– Các bộ sử nam đều viết về cuộc khởi binh của Hai Bà Trưng. Năm 40, bà Trưng Trắc và Trưng Nhị dấy binh đánh đuổi Thái thú Giao Chỉ bấy giờ là Tô Định. Định là người tham lam, hà khắc, dùng pháp luật để trói buộc lại giết hại chồng bà là ông Thi Sách. Cuộc khởi binh được các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố hưởng ứng. Chiếm được 65 thành ở Lĩnh Nam, bà Trưng Trắc tự lập làm vua. Tô Định chạy về Nam Hải.

– Năm 41 vua Hán lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố chuẩn bị quân thảo. Sai Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí nam phạt. Đoàn Chí tới Hợp Phố thì mất do bệnh. Quân Hán dùng thuyết tiến xuống Giao Chỉ, rồi vượt rừng núi. Năm 42 giao tranh xảy ra ở Lãng Bạc, Trưng Trắc rút lui về Cấm Khê. Năm 43, quân Hán tiến đánh, giết được Hai Bà. Rồi tiến đánh đồng đảng là Đô Dương ở Cửu Chân. Dựng cột đồng.

– Viện tấu xin chia đặt lại quận huyện, nói rõ luật cũ với hào trưởng Giao châu. Năm 44 Viện rút quân về bắc.

– Những bộ sử nam được ghi chép cách thời điểm xảy ra sự kiện tới hơn 10 thế kỷ. Tất cả những bộ sử này đều tham khảo những bộ sử bắc trước đó và ít nhiều thu lượm thông tin từ dã sử.

Sách Hậu Hán thư do Phạm Việp (398-445), người nước Tống (420-479) soạn vào thế kỉ thứ 5.

Phần Vũ Quang đế kỉ-hạ chép:

“Tháng Hai, mùa xuân năm thứ 16 [niên hiệu Kiến Vũ, tức năm 40], người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, chiếm các thành ấp.

[…] Tháng Tư năm thứ 18 [42], sai Phục ba tướng quân Mã Viện chỉ huy Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí đánh bọn giặc Trưng Trắc ở Giao Chỉ.

[…] Tháng Tư năm thứ 19 [43], Phục ba tướng quân Mã Viện phá được Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, nhân đó đánh phá được bọn giặc Đô Dương ở Cửu Chân, giặc hàng”.

Phần Nam man truyện chép:

“Năm [Kiến Vũ] thứ 16 [40], người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản, tấn công vào quận. [Trưng Trắc là người ở huyện Mi Linh, con gái Lạc tướng, được gả cho Thi Sách người huyện Chu Diên]. Trưng Trắc là người rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật ước chế họ, Trắc căm giận nên làm phản. Vì thế người man ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Chiếm được 65 thành, tự lập làm vua. Thứ sử Giao Chỉ cùng các Thái thú chỉ biết tự giữ. Quang Vũ bèn xuống chiếu cho Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe thuyền, tu sửa cầu đường, khai thông núi khe, trích trữ lương thảo. Năm thứ 18 [42], sai Phục ba tướng quân Mã Viện, Lâu thuyền tướng quân Đoàn Chí phát hơn vạn quân Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô đến chinh phạt. Tháng Tư năm sau [43], Viện phá được Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, dư đảng đều thua phải hàng. Tiến quân đánh bọn giặc Đô Dương ở Cửu Chân, phá được, chúng xin hàng. Dời hơn ba trăm tướng soái của y đến Linh Lăng, thế là đất lĩnh biểu thảy được bình định”.

Phần Mã Viện truyện chép:

“Lại có người đàn bà đất Giao Chỉ tên là Chinh [Trưng] Trắc cùng với em là Chinh [Trưng] Nhị làm phản, đánh chiếm quận này. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố [Quảng Ðông] đều hưởng ứng; chiếm nơi Lãnh ngoại [phía ngoài Ngũ Lãnh] hơn 65 thành trì; Trắc bèn lên làm Vương. Lúc đó [Thiên tử] ban tỷ thư phong Mã Viện làm Phục ba Tướng quân, dùng Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó, cùng Lâu thuyền Tướng quân Ðoàn Chí mang quân xuống phía Nam đánh Giao Chỉ. Khi quan quân đến Hợp Phố, Chí bị bệnh mất, chiếu thư sai Viện trực tiếp cầm cánh quân này.

Quân theo đường biển mà tiến, rồi men theo núi sẻ đường hơn ngàn dặm, vào năm [Kiến Vũ] thứ 18 [42 ] đến Lãng Bạc [Hồ Tây] giao chiến với giặc; đánh phá chém được mấy ngàn thủ cấp, hàng vạn người hàng. Viện truy kích Trắc tại Cấm Khê, đánh bại mấy lần, giặc tan bỏ chạy. Vào tháng Giêng năm sau, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị; gửi đầu về Lạc Dương. Viện được phong tước Tân tức hầu, ăn thực ấp 3000 hộ. Nhân giết trâu, lọc rượu khao thưởng quân sĩ; trong tiệc thung dung kể rằng: 

“Em ta là Thiếu Du thường than phiền ta khẳng khái lo lập chí lớn, nên khuyên rằng: kẻ sĩ sống trên đời chỉ cần cơm áo no đủ, đi xe cửi ngựa, làm quan lại nơi địa phương, lo giữ phần mộ tổ tiên, được người làng khen hiếu thuận là đủ rồi; còn tham vọng nhiều, chỉ khổ thân mà thôi. 

Khi ta ở Lãng Bạc, Tây Lý, giặc chưa diệt xong; dưới chân nước lụt, trên đầu mây mù giăng mắc, khí độc vần vũ, nhìn lên trời thấy chim diều hâu bay rồi đột nhiên rơi phịch xuống nước; nghĩ đến lời Thiếu Du nói, lúc ấy hoàn cảnh ta làm sao có được như vậy. Nay nhờ sức lực của Sĩ Ðại phu, được Thiên tử ban thưởng ấn vàng dây thao tía trước các ngươi, nên vừa mừng và cùng vừa thẹn”. 

[Dứt lời] quan lại và quân sĩ đều tung hô vạn tuế. 

Mã Viện lại đưa lâu thuyền lớn nhỏ hơn 2.000 chiếc, quân sĩ trên 20.000 người đánh dư đảng Trưng Trắc là bọn Ðô Dương từ [huyện] Vô Công đến Cư Phong chém 5.000 tên; vùng Kiều Nam đều bình định. Viện tâu rằng huyện Tây Ư khoảng 3.200 hộ, có nơi xa cách huyện lỵ hơn 1000 dặm, xin chia làm 2 huyện Phong Khê và Vọng Hải, được chấp thuận. Viện đi đến đâu đều chia đất thành quận huyện, xây thành quách, thông ngòi rạch để lợi cho dân. Tâu rõ luật Việt và luật Hán, bác bỏ hơn 10 khoản. Dựa chế độ xưa [của nhà Hán], thân sức cho dân Việt rõ, để ràng buộc; từ đó dân Lạc Việt chấp hành theo Mã Tướng quân. 

Vào mùa thu năm Kiến Vũ thứ 20 [44] mang quân về kinh sư, quân sĩ và quan lại trải qua chướng lệ chết bốn, năm phần mười. Ban cho Viện một cổ xe, triều kiến đứng vào hàng Cửu khanh. 

Mã Viện thích ngựa, giỏi phân biệt ngựa hay; tại Giao Chỉ lấy được trống đồng Lạc Việt, bèn cho đúc thành ngựa mẫu; lúc trở về dâng lên Thiên tử. Lại dâng biểu như sau: 

“Phàm di chuyển trên trời không gì mau bằng rồng, dưới đất không vật gì bằng ngựa; ngựa là căn bản của giáp binh, đại dụng cho quốc gia. Khi thời bình sử dụng để phân biệt trên dưới, lúc biến dùng di chuyển xa gần. Xưa có ngựa Kỳ Ký một ngày rong ruổi một ngàn dặm, thấy Bá Nhạc cất tiếng hý vang. Gần đây có Tử Dư đất Tây Hạ giỏi về tướng pháp ngựa, Dư truyền cho Nghi Thường Phụ cũng đất Tây Hạ, Thường Phụ truyền cho Ðinh Quân Ðô đất Mậu Lăng, Quân Ðô truyền cho Dương Tử A đất Thành Kỷ; thần Viện, từng thờ Tử A làm thầy để học về mã cốt pháp, khảo về cách đi và thể nghiệm ở miệng. 
Thần ngu cho rằng nghe kể không bằng chính mắt được nhìn, xem cảnh không bằng quan sát hình. Nay muốn vẽ hình ngựa sống, nhưng không hoàn bị về cốt pháp, không thể truyền cho hậu thế. Thời Hiếu Vũ Hoàng đế, Ðông Môn Kinh giỏi tướng ngựa, đúc ngựa cốt pháp bằng đồng hiến lên, chiếu chỉ cho đặt ngoài cửa Lỗ Ban, nên cửa Lỗ Ban được gọi là Kim Mã môn. Thần cẩn thận noi theo phép họ Nghi bàn về miệng, phép họ Trung Bạch về miệng răng, phép họ Tạ về môi miệng, phép họ Ðinh về thân hình; nhắm hoàn bị cốt tướng pháp của các nhà. Ngựa cao 3 xích 5 thốn, chu vi 4 xích 5 thốn.”

Chiếu cho phép đặt tại dưới cửa Hoàn Ðức, để làm thể thức cho ngựa hay. 

… 
Buổi đầu Viện mang quân đánh đất Tuyển [tại Hồ Nam], có hai đường tiến quân. Ðường thứ nhất noi theo núi Hồ thì gần, nhưng đường thủy hiểm trở; đường thứ hai đi đến huyện Sung, tuy bằng phẳng nhưng chuyển vận xa; nên nhà vua còn do dự. Lúc quân đến, Cảnh Thư muốn đi theo đường huyện Sung; Viện cho rằng đi xa khó vận lương, không bằng đi theo đường núi Hồ, chặn yết hầu quân giặc, thì giặc tại huyện Sung cũng tự tan rã. Viện đưa việc đó tâu lên, được Thiên tử chấp thuận.

Tháng 3 tiến vào núi Hồ, giặc từ cao điểm giữ cửa ải, nước chảy xiết, thuyền không tiến được. Chần chờ, quân sĩ bị dịch chết, Viện cũng bị bệnh, tình trạng khốn khó phải khoét sâu vào bờ sông làm nơi trú ẩn để tránh nóng nực. Giặc từ chổ hiểm quát tháo, Viện thường kiễng chân lên quan sát, quân tả hữu cho là hùng tráng, ai cũng cảm động chảy nước mắt. Cảnh Thư viết thư cho anh là Hiếu tự hầu Yểm rằng: 

“Trước đây Thư dâng thư xin đánh vào huyện Sung, lương tuy khó vận chuyển nhưng quân có thể dùng được, quân sĩ mấy vạn muốn cùng phấn đấu. Nay theo ý kiến [Viện] quân tại núi Hồ tiến không được, bị chết, thực đáng thống hận. Buổi đầu khi đến Lâm Bang, giặc chưa kịp bố trí, nếu đánh ngay trong đêm có thể diệt sạch; Phục Ba dùng binh giống như dân buôn Tây Vức, đến nơi cho nghỉ ngơi; nay bị thất lợi, quân bị bệnh dịch, đúng như lời Thư tiên đoán.”

Yểm nhận được thư bèn tâu lên, Thiên tử sai Hổ bí Trung lang tướng Lương Tùng theo dịch trạm đến khiển trách Mã Viện và thay thế chỉ huy quân. Rồi Viện mất [năm 49], Tùng ôm mối bất bình, đặt điều vu hãm; Thiên tử giận tịch thu ấn Tân Tức hầu của Mã Viện. 
Chuyện trước kia, khi Mã Viện tại Giao Chỉ, thường dùng hạt ý dĩ làm thuốc để thân thể được nhẹ nhàng, tiết dục, chống lại chướng khí. Nam phương hạt ý dĩ rất lớn, Viện muốn trồng loại này, tải một xe chở về. Lúc bấy giờ người ta cho rằng đất đai phương Nam có nhiều thứ trân quí, những người quyền thế đều ham chuộng; nhưng lúc Viện còn sống được sủng ái, nên không ai dám nói gì. Ðến khi Mã Viện mất, có người dâng thư lên vua sàm tấu rằng trước đây Viện chở về đều là trân châu và sừng tê giác có hoa văn. Mã Vũ cùng con Tăng Vũ hầu trình bày tội trạng khiến Thiên tử giận. Vợ con Mã Viện sợ hãi không dám đưa thi thể về chôn tại mồ mả đất nhà; đành tạm vùi tại mấy mẫu đất gai góc nơi phía tây thành; khách khứa bạn bè người quen cũ không ai dám phúng điếu. Nghiêm lệnh vợ con Viện có liên quan, bắt đến triều đình định tội. 

Thiên tử ra khỏi thư phòng để xem án, trước sau có 6 lần kêu oan lời hết sức thảm thiết, mới được cho chôn cất lại.

Lại có Chu Bột, nguyên trước kia làm Thú lệnh đất Vân Dương, quen thân với anh em Mã Viện đến kinh khuyết dâng thư bênh vực, lời thư như sau: 

“Thần nghe rằng đức kẻ vương giả, chính trị của thánh nhân không quên công của bề tôi; chọn con người ở một điểm tốt đẹp, không cần phải hoàn bị. Bởi vậy nên [Hán] Cao Tổ tha Khoái Thông, lấy vương lễ chôn cất Ðiền Hoành, nên các đại thần an tâm không còn nghi ngờ.” 

… 
“Phàm Ðại tướng rong ruổi nơi cõi ngoài, lời sàm tấu thường xẩy ra nơi triều nội; một chút sai lầm nhỏ thì ghi vào, nhưng công lớn thì không thèm kể. Bởi vậy Chương Hàm sợ ghen ghét nên phải sang hàng Sở; tướng nước Yên hạ được thành Liêu, mà không trở về! Nào phải cam tâm không nghĩ đến vua, mà chỉ vì những lời xảo ngôn gây ra như vậy. 

Riêng [Mã] Viện phụng sự triều đình 22 năm, phía Bắc ra quân vùng quan ải sa mạc, phía Nam vượt biển sông, mạo hiểm nơi khí độc, rồi chết trong quân. Danh diệt, tước mất; nhưng trong nước không ai thấy sự sai lầm, không có lời hủy báng. Rồi như chuyện ba người đưa lời sàm tấu, người nhà bị cô lập, chết không được chôn vào mồ, tiếng oan dấy đất, bà con sợ hãi; đã đành kẻ chết không được trình bày mà người sống cũng không được kháng cáo, thần cảm thấy thương xót!”.

 * Nhận xét:

– Theo như sách Hậu Hán thư thì năm 40 Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị, làm phản, các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố hưởng ứng, chiếm được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vương. Quang Vũ xuống chiếu Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ chuẩn bị xe thuyền, lương thảo. Lệnh Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí xuất hơn vạn quân ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô nam phạt.

– Quân đến Hợp Phố, Chí bị bệnh mất, Mã Viện theo đường biển mà tiến, rồi men theo núi, vào năm 42 đến Lãng Bạc giao chiến với giặc; đánh phá chém được mấy ngàn thủ cấp, hàng vạn người hàng. Viện truy kích Trắc tại Cấm Khê, đánh bại mấy lần, giặc tan bỏ chạy. Vào tháng giêng năm 43, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị; gửi đầu về Lạc Dương. Viện được phong tước Tân tức hầu, ăn thực ấp 3000 hộ. Nhân giết trâu, lọc rượu khao thưởng quân sĩ.

– Mã Viện lại đưa lâu thuyền lớn nhỏ hơn 2.000 chiếc, quân sĩ trên 20.000 người đánh dư đảng Trưng Trắc là bọn Ðô Dương từ [huyện] Vô Công đến Cư Phong chém 5.000 tên; vùng Kiều Nam đều bình định. Viện tâu xin chia Tây Ư làm 2 huyện Phong Khê và Vọng Hải, được chấp thuận. Viện đi đến đâu đều chia đất thành quận huyện, xây thành quách, thông ngòi rạch để lợi cho dân. Tâu rõ luật Việt và luật Hán, bác bỏ hơn 10 khoản. Vào mùa thu năm 44 mang quân về kinh sư, quân sĩ và quan lại trải qua chướng lệ chết bốn, năm phần mười. Ban cho Viện một cổ xe, triều kiến đứng vào hàng Cửu khanh. 

– Sách Hậu Hán Thư do Phạm Diệp soạn là bộ chính sử có độ tin cậy cao nhưng cũng cách sự kiện khoảng 400 năm.

Sách Tam quốc chí do Trần Thọ (233-297) soạn, chép:

“Lữ Đại từ Giao Châu được gọi về, Tống lo không có ai thay được Đại, dâng sớ nói: “Ngày xưa vua Thuấn đi tuần phía nam, chết ở quận Thương Ngô. Nhà Tần đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, vậy thì bốn quân ấy đã nối thuộc rồi, truyền đến ngày nay. Triệu Đà nổi dậy ở Phiên Ngu, vỗ về quân trưởng của người Bách Việt ở tại phía nam quận Châu Quan vậy. Vũ Đế của nhà Hán giết Lữ Gia, lập chín quận, đặt quan Giao Chỉ Thứ sử để trông coi chỗ ấy. Sông sâu núi cao, phong tục không lành, tiếng nói đều khác, phiên dịch mới hiểu, dân như cầm thú, già trẻ không chia, tóc búi chân trần, đầu quấn cúc trái, dẫu đặt quan lại, dẫu có như không. Từ đấy đến nay, có dời tội nhân Trung Quốc đến ở lẫn chỗ ấy, dần dần đọc sách, biết qua tiếng nói, xe ngựa qua lại, hiểu biết lễ nghĩa. Sau đó Tích Quang làm Giao Chỉ Thái thú, Nhậm Diêm làm Cửu Chân Thái thú, bèn dạy dân ấy cày bừa, đội mũ đi giày, sắp đặt mai mối, mới biết cưới hỏi, dựng lập trường học, giảng dạy kinh truyện. Do đó chịu phục, hơn bốn trăm năm, có phần chuyển hóa. Từ thời trước thần làm khách đến đấy, người quận Châu Nhai bỏ phép cưới hỏi của châu huyện, đều hẹn đến tháng tám thì mở cửa, vào lúc người dân tụ tập, trai gái tự kén chọn nhau, nếu vừa ý thì làm vợ chồng, cha mẹ không cấm được. Ở hai huyện Mi Linh quận Giao Chỉ, huyện Đô Lung quận Cửu Chân, có tục anh chết thì em lấy chị dâu, nhiều đời cho đấy là thói thường, quan lại nghe biết cũng không ngăn được. Trai gái quận Nhật Nam cởi trần, không cho là thẹn. Do đó mà nói, có thể ví như sâu bọ có tai mắt mặt mũi vậy. Vậy nhưng đất rộng người đông, hiểm trở độc hại, dễ gây phản loạn, khó đến đánh dẹp. Quan lại chỉ ràng buộc, diễu oai vỗ về mà thôi, còn như tô thuế của ruộng nhà, chuyển chở cung cấp,chỉ thích các đồ ngọc trai, thuốc thơm, ngà voi, sừng tê, đồi mồi, san hô, ngọc sáng, chim vẹt, phỉ thúy, khổng tước, vật lạ, vật báu chất đầy, không chỉ có tô thuế để làm giàu cho Trung Quốc vậy. Lại ở ngoài chín điện, phép chọn quan lại không được kĩ càng. Phép tắc thời Hán rộng lượng, nhiều chỗ nới lỏng, cho nên nhiều lần làm trái phép cấm. Phế quận Châu Nhai là do quan lại ở đấy thấy tóc đẹp thì cắt tóc của dân để làm tóc giả. Lúc thần đến đấy, người quận Nam Hải là Hoàng Cái làm Nhật Nam Thái thú, xuống xe mà người hầu đỡ không đủ, liền đánh chết quan Chủ bạ, nhưng rồi cũng bị xua đuổi. Cửu Chân Thái thú Đam Manh giúp cha vợ là Chu Kinh bày hội tiệc, cùng mời các quan lại đến, rót rượu hát nhạc, quan Công tào Phan Hâm đứng dậy mời Kinh múa cùng, Kinh không chịu đứng dậy, Hâm vẫn ép buộc, do đó Manh giận đánh chết Hâm ở trong quận. Em Hâm là Miêu đem quân đánh phủ, lấy tên độc bắn Manh, Manh cũng bị chết. Giao Chỉ Thái thú Sĩ Tiếp sai quân đến đánh, rút cuộc chẳng thắng được. Lại nữa quan Thứ sử ngày trước người quận Cối Kê là Chu Phù nhiều lần dùng người cùng quê là bọn Ngu Bao, Lưu Ngạn chia nhau làm trưởng lại, xâm lấn trăm họ, đánh thuế nặng với dân, một con cá vàng dài một trượng mà thu một hộc lúa, do đó trăm họ oán giận mà làm phản, bọn giặc núi cùng kéo ra, đánh châu phá quận. Phù chạy vào biển, trôi nổi chết chìm. Sau đó người quận Nam Dương là Trương Tân, vốn có hiềm khích với Kinh Châu Mục là Lưu Biểu, quân yếu địch mạnh mà vẫn hằng năm phát binh, các tướng lo sợ, bỏ trốn hết cả. Tân nắm quyền trông coi nhưng uy vũ không đủ, bị kẻ dưới lấn lướt, bèn bị giết chết. Sau lại có người quận Linh Lăng là Lại Cung, nhân hậu cẩn thận nhưng không hiểu thời thế, Biểu lại sai người quận Trường Sa là Ngô Cự làm Thường Ngô Thái thú. Cự là kẻ vũ dũng cứng khỏe, không chịu kính phục, do đó oán giận nhau, xua đuổi Cung, xin cứu với Bộ Chất. Bấy giờ tướng cũ của Tân là bọn Di Liệu, Tiền Bác còn nhiều, do đó Chất đến sửa trị, lập lại phép tắc, vừa lúc lại gọi về. Rồi đó Lữ Đại đến, có cuộc biến của họ Sĩ, đem quân đánh phía nam, đến ngày dẹp xong, đặt lại quan lại, nêu rõ kỉ cương, diễu oai vạn dặm, lớn nhỏ cúi phục. Do đó mà nói, vỗ về biên giới, thực là người ấy. Làm quan ở phương xa phải nên trong sạch, ở ngoài cõi hoang phục thì họa phúc rất lắm. Ngày nay Giao Châu dẫu mới định nhưng ở huyện Cao Lương còn có giặc ẩn nấp; bốn quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Châu Quan vẫn chưa yên, dựa vào đó mà cướp bóc, trở thành nơi ẩn nấp của bọn phản loạn trốn tránh. Nếu Lữ Đại không còn ở phương nam, quan Thứ sử mới đến phải cẩn thận, trông coi tám quận, mưu lược phải rõ ràng mới dần dần dẹp được giặc ở Cao Lương, phải dựa vào oai sủng, cậy vào hình thế, noi theo phép tắc của Đại mới mong sửa sang được. Nếu chỉ dùng người tầm thường, chọn lấy phép tắc sơ qua, không có mưu hay kế lạ thì bọn giặc càng thêm đông, lâu ngày gây hại. Cho nên sự an nguy của nhà nước trông chờ vào việc dùng người, không thể không xét kĩ vậy. Thần lo triều đình coi thường việc kén chọn, cho nên dám bày tỏ ý ngu để nêu rõ đức thánh”.

Hậu hán thư chép:

“Thời Bình Đế (năm 1Tcn – năm 5), người quận Hán Trung là Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, dạy bảo dân chúng dần dần theo lễ nghĩa. Tên tuổi sánh ngang với Diên. Cuối thời Vương Mãng, đóng bờ cõi tự giữ. Đầu năm Kiến Vũ, sai sứ giả nạp cống, phong làm Diêm Thủy Hầu. Phong tục ở đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai quan Thái thú ấy”.

Hậu Hán thư chép:

“Nhâm Diên tự Trường Tôn, người huyện Uyển, quận Nam Dương. Năm mười hai tuổi làm học trò, học ở thành Trường An, hiểu rõ kinh “Thi”, “Dịch”, “Xuân thu”, tên tuổi lẫy lừng ở nhà Thái học” và “Đầu năm Kiến Vũ (năm 25 đến năm 56), Diên dâng thư lên nhà vua muốn xin về quê, quỳ bái ở triều đình. Chiếu lệnh đi làm Thái thú Cửu Chân. Quang Vũ sai dẫn đến gặp, ban cho ngựa, lụa, ra lệnh cho vợ con ở lại thành Lạc Dương” và “Diên coi việc được bốn năm, nhà vua gọi về thành Lạc Dương, bị bệnh ở lại đấy, rồi chuyển làm quan Lệnh huyện Tuy Dương, quan dân quận Cửu Chân dựng đền thờ sống Diên”.

* Nhận xét:

– Căn cứ vào bản tấu của Tiết Tống viết về Tích Quang và Nhâm Diên thì có thể xác nhận những ghi chép của Phạm Diệp trong Hậu Hán thư là đáng tin cậy.

– Bản tấu cũng xác nhận Tích Quang và Nhâm Diêm là những người phương bắc đầu tiên khai hoá cho dân bản xứ Giao Chỉ hay bắc triều cử quan sứ xuống phương nam từ sau công nguyên chứ không phải từ khi nước Nam Việt của Triệu Đà mất. Câu bình của Tiết Tống “dẫu đặt quan lại, dẫu có như không” đã mô tả được chính xác mức độ cai trị của phương bắc đối với phương nam.

– Chỉ tiếc rằng bản tấu không nói thêm về việc Trưng Trắc chiếm châu và Mã Viện nam chinh. Đây là một sự kiện lớn và chỉ cách thời điểm Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân có gần 10 năm.

– Có một điểm cần xem xét thêm ở đây là câu bình của Tiết Tống “sau đó Tích Quang làm Giao Chỉ Thái thú, Nhậm Diêm làm Cửu Chân Thái thú, bèn dạy dân ấy cày bừa, đội mũ đi giày, sắp đặt mai mối, mới biết cưới hỏi, dựng lập trường học, giảng dạy kinh truyện. Do đó chịu phục, hơn bốn trăm năm, có phần chuyển hóa”. Từ thời điểm của Tích Quang đến thời điểm của Tiết Tống không thể nào “hơn bốn trăm năm” được, chắc phải có gì đó nhầm lẫn! Vấn đề là: Tiết Tống nhầm hay Hậu Hán thư nhầm ?

Hậu Hán thư, phần Quận quốc chí chép:

“Quận Giao Chỉ thành lập thời Hán Vũ đế (143-87TCN), [tức là nước của An Dương Vương] cách Lạc Dương 1 vạn 1 ngàn dặm về phía Nam, gồm 12 thành: Long Biên, Liên Lâu, Yên Định, Câu Lậu, Mi Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Kê Từ, Tây Vu, Chu Diên, Phong Khê, đặt ra vào năm thứ 19 niên hiệu Kiến Vũ [43]; Vọng Hải, được lập vào năm thứ 19 niên hiệu Kiến Vũ [43].

Quận Cửu Chân lập thời Vũ đế, cách Lạc Dương 11.050 dặm, gồm 5 thành (46.513 hộ, 209.914 khẩu): Tư Phố, Cư Phong, Hàm Hoan, Vô Công, Vô Biên.

Quận Nhật Nam, thời Tần là Tượng Quận, Vũ đế đổi tên, cách Lạc Dương 13.400 dặm về phía nam, gồm 5 thành (18.263 hộ, 10.676 khẩu): Tây Quyển, Chu Ngô, Lư Dung, Tượng Lâm, Tỉ Cảnh”.

Hậu Hán thư, phần Quận quốc chí cho biết thêm:

Hợp Phố có “5 thành (23.121 hộ, 86.617 khẩu): Hợp Phố, Từ Văn, Cao Lương, Lâm Nguyên, Chu Nhai”

Nam Hải có “7 thành (71.477 hộ, 250.282 khẩu): Phiên Ngung, Bác La, Trung Túc, Long Xuyên, Tứ Hội, Yết Dương, Tăng Thành”.

 Thương Ngô có “11 thành (111.395 hộ, 466.975 khẩu): Quảng Tín, Tạ Mộc, Cao Yếu, Phong Dương, Lâm Hạ, Đoan Khê, Phùng Thừa, Phú Xuyên, Lệ Phố, Mãnh Lăng, Chương Bình”.

Uất lâm có “11 thành: Bố Sơn, An Quảng, A Lâm, Quảng Úc, Trung Lưu, Quế Lâm, Đàm Trung, Lâm Trần, Định Chu, Tăng Thực, Lĩnh Phương”.

* Nhận xét: 

– Như vậy toàn bộ Lĩnh Nam mới gồm 56 thành chứ không phải là 65 thành ?

– Theo như Hậu Hán thư thì Hai Bà khởi binh ở Giao Chỉ, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố hưởng ứng. Như vậy không gian của cuộc chiến chỉ bao gồm 4 quận và như thế Trưng Trắc chỉ nắm giữ có 27 thành.

– Tuy nhiên Hậu Hán thư cũng chép rằng Thứ sử Giao Chỉ và các Thái thú chỉ biết tự giữ, như vậy thì rất có thể các quận Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải, ở các huyện trực thuộc cũng xảy ra tình trạng bất tuân chính quyền địa phương, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, các Thái thú thì vẫn tự giữ ở trị sở quận.

– Quang Vũ hạ chiếu các quận Trường Sa, Hợp Phố chuẩn bị xe thuyền, lương thảo rồi phát hơn vạn quân ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô, lệnh Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí nam chinh. Chí tới Hợp Phố thì bệnh mà chết.

– Trong hoàn cảnh này thật khó để tin rằng Chí chết vì bệnh. Rất có thể xung đột đầu tiên diễn ra ở Hợp Phố. Tuy nhiên do sự ngăn cách giữ Giao Chỉ và Hợp Phố, nên quân chống lại Mã Viện không thể nào là binh lính của Trưng Trắc (Hậu Hán thư chép rằng Hợp Phố hưởng ứng!). Chí có thể đã tử trận trong cuộc chiến ấy!

– Sau khi dẹp yên quân nổi loạn ở phía bắc Giao Chỉ bộ, Mã Viện dùng thuyền tiến xuống quận Giao chỉ, sau khi cập bờ thì hành quân theo đường rừng núi cả ngàn dặm, đến năm 42 thì tới Lãng Bạc, giao chiến với Trưng Trắc, chém mấy ngàn thủ cấp, hàng vạn người hàng. Viện truy kích Trắc tại Cấm Khê, đánh bại mấy lần, giặc tan bỏ chạy. Vào tháng giêng năm 43, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị; gửi đầu về Lạc Dương. Viện được phong tước Tân tức hầu, ăn thực ấp 3000 hộ. Nhân giết trâu, lọc rượu khao thưởng quân sĩ.

– Có những thông tin được ghi chép trong Hậu Hán thư là chưa chính xác hoặc chúng ta chưa hiểu đúng những ghi chép ấy.

Sách Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên (446 hoặc 472-527) thời Bắc Ngụy (380-534) chép :

“Huyện Mi Linh bắt đầu được lập từ năm thứ 6 niên hiệu Nguyên Đỉnh thời Hán Vũ đế [tức năm 111], có quan Đô úy cai trị. Sách Giao Châu ngoại vực kí viết: ‘Quận Giao Chỉ cho đến châu, vốn trị sở ở đó, tên châu là Giao Châu. Về sau, con trai Lạc tướng tên là Thi Sách lấy vợ là Trưng Trắc con gái Lạc tướng ở Mi Linh. Trắc là người có đảm lược và dũng mãnh, cùng Thi Sách dấy binh làm giặc, đánh phá châu quận, thu phục các Lạc tướng, họ đều theo, Trưng Trắc lên làm vua, trị sở đóng ở huyện Mi Linh, dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân đều phải đóng thuế. Sau nhà Hán sai Phục ba tướng quân Mã Viện đem quân đánh, Trưng Trắc, Thi Sách chạy vào khe núi Kim Khê, ba năm thì bắt được, lúc đó Tây Thục cũng đem quân cùng đánh Trưng Trắc, bình định được các quận huyện rồi lập ra quan Lệnh trưởng vậy”.

“Tháng Chín năm thứ 19 niên hiệu Kiến Vũ [43], Mã Viện tâu rằng: ‘Thần kính xin cùng 1 vạn 2 ngàn tinh binh Giao Chỉ, cùng đại binh hợp lại thành 2 vạn, 2 ngàn lâu thuyền lớn nhỏ, tự mình vào Giao Chỉ, đến nay đã đầy đủ. Tháng Mười, Viện vào Cửu Chân, đến huyện Vô Thiết, bọn giặc hàng. Tiến đến Dư Phát, tướng giặc là Chu Bá bỏ quận, trốn vào rừng sâu. Nơi ấy tê tượng tụ hợp thành từng đàn. Viện lại chia quân tiến vào huyện Vô Biên, đình Cửu Chân của Vương Mãng, đến huyện Cư Phong, tướng không hàng, bèn chém mấy trăm thủ cấp, Cửu Chân bèn yên”.

* Nhận xét:

– Có sự khác biệt trong 2 cuốn sử phương bắc. Thuỷ kinh chú có chép về chồng bà Trưng Trắc, trong khi Hậu Hán thư thì không! Lịch Đạo Nguyên thì cho rằng: Ba năm sau Hai Bà mới bị bắt trong khi Phạm Diệp thì chép năm 43 Mã Viện chém và gửi thủ cấp về Lạc Dương.

– Bản thân Hậu Hán thư cũng có chút sai lệch với thời gian, trong Nam man truyện thì chép chém đầu Hai Bà vào tháng 4 trong khi trong Mã Viện truyện thì chép vào tháng giêng. Trong Mã Viện truyện thì chép Đô Dương là đồng đảng trong khi Nam man truyện thì chép Đô Dương là giặc. Có thể Đô Dương chính là người đứng đầu hưởng ứng (cuộc khởi binh của Hai Bà) tại Cửu Chân. Và sử sách cũng không cho biết giới tính của Đô Dương.

– Mã Viện dùng 2.000 thuyền lớn nhỏ cùng 20.000 quân tiến đánh Đô Dương ở Cửu Chân, chém hơn 5.000 người. Chia đất Tây Vu, tấu luật Việt khác luật Hán, được ban một cỗ xe, mùa thu năm 43 thì dẫn quân về phương bắc, chết đến bốn, năm phần.

– Khi đi Viện có hơn 10.000 lính, đi bằng thuyền, nhưng khi dẫn quân vào Cửu Chân cũng bằng thuyền thì có trên 20.000 người. Vậy thì số 10.000 người thêm này từ đâu? Có khi nào đó là quân lính mà Thứ sứ Giao Chỉ bộ nắm giữ để tự giữ tại trị sở đặt ở quận Giao Chỉ.

– Nói thêm về việc năm 111 TCN, nhà Hán diệt Nam Việt lập chín quận, sau này đặt thành bộ Giao Chỉ, đứng đầu là Thứ sử, đứng đầu các quận là Thái thú. Trị sở của Giao Chỉ bộ được cho là đặt tại quân Giao Chỉ.

Theo tôi không phải như vậy, vì: Thứ nhất nơi đặt trị sở phải là nơi trung tâm, đô hộ, người Hán dễ dàng cai trị, theo đó Nam Hải phù hợp hơn Giao Chỉ.

Thứ hai sử sách ghi chép lại 2 người quan lại phương bắc cai trị ở 3 quận phía nam là Tích Quang và Nhâm Diên thì mãi tới công nguyên mới xuống Giao Chỉ, có chăng thì thêm những người Hán đi buôn bán vì đường đi rất khó khăn.

Thứ ba theo Hậu Hán thư thì “Trước đây, Bành thân thiết với quan Mục bộ Giao Chỉ là Đặng Nhượng, gửi thư nêu rõ oai đức của nhà nước, lại sai Thiên tướng quân là Khuất Sung gửi hịch đến các quận miền phía nam sông Giang”. Việc “thân thiết” giữa Bành và Nhượng cho thấy giữa hai người có thời kỳ dài qua lại. Nếu như Nhượng ở trị sở đặt tại Giao Chỉ, thì việc thân thiết này có thể xảy ra không? Lại thêm “Nhượng cùng bọn Thái thú Giang Hạ là Hầu Đăng, Thái thú Võ Lăng là Vương Đường, Thừa tướng Tràng Sa là Hàn Phúc, Thái thú Quế Dương là Trương Long, Thái thú Linh Lăng là Điền Hấp, Thái thú Thương Ngô là Đỗ Mục, Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang cùng nhau sai sứ nạp cống”.

Chúng ta thấy không có Thái thú Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố  và Uất Lâm? Vì sao vậy? Vì các Thái thú không biết? Không thể nào vì như Thái thú Tích Quang ở tận Giao Chỉ còn biết thì sao Thái thú Hợp Phố không biết? Hay Hợp Phố không có Thái thú?

Như vậy trong thời nhà Tân, 3 quận phía nam Giao Chỉ bộ bị tách biệt với 4 quận phía bắc. Với việc khó khăn trong đi lại thì việc đặt trị sở tại Giao Chỉ là việc không hợp lý để quản các quận trong bộ. Do đó mà tôi cho rằng: Tuy sách sử có nói việc đặt trị sở bộ Giao Chỉ tại quận Giao Chỉ song trên thực tế, trị sở và các Thứ sự vẫn ở Nam Hải. Không những Nhượng ở Nam Hải mà e rằng ngay cả Tích Quang cũng ở Nam Hải như Lê Mạnh Thát đã từng đề cập đến.

– Quang Vũ gom quân của Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô mà có hơn 10.000 lính, trong khi đến Giao Chỉ Viện đã bổ sung thêm bằng đấy lính nữa để tiến đánh Cửu Chân? Nếu trị sở đặt ở quận Giao Chỉ với đúng bằng quân của Viện mang xuống phương nam, lại chỉ có thể tự giữ thôi sao? Quân lính này có thể nào là tàn quân của Hai Bà hàng phục Viện không?

– Khi Nhâm Diên xuống phương nam không mang theo lính và bị Trương Du buộc phải chạy về phương bắc, như vậy thì ở Giao Chỉ, quân Hán không đồn trú! Vậy thì Tích Quang có thể cai trị được không? Làm Thái thú như thế nào? Nếu để ý thì thấy rằng phần lớn các quận cống nạp đều nằm phía bắc sông Tây Giang trừ trường hợp của quận Giao Chỉ!

Quận Giao Chỉ cống nạp và Thái thú được phong hầu do đó đây là lần cống nạp quan trọng, có thể hiểu là sự nội thuộc. Trong khi các quận xung quanh không hề có động tĩnh gì? Khả năng rất lớn là Tích Quang nhậm chức Thái thú Giao Chỉ nhưng không đến trị sở của quận, lưu sống ở Nam Hải, do vậy khi có hịch gửi các quận, thì duy chỉ có quận Giao Chỉ trong các quận phía nam sông Tây Giang vào triều cống. Nếu 10.000 lính đồn trú tại Giao Chỉ từ phương bắc xuống trước Mã Viện thì khả năng cao là do Tô Định dẫn xuống. Sau khi Nhâm Diên bị đuổi về bắc, nhà Đông Hán cử Tô Định dẫn quân xuống phương nam, nhưng Định đã thất bại và lần này là Viện.

Tiểu kết: Về chuyện chồng bà Trưng Trắc tên là Thi hay Thi Sách cũng như chuyện về cột đồng Mã Viện đã được bàn luận nhiều. Những thông tin ấy đều khởi từ Thuỷ kinh chú, trong khi Hậu Hán thư lại không có ghi chép gì. Vì thế mà, căn cứ vào Hậu Hán thư loại bỏ ra 2 biến số này. [Xét Hậu Hán thư ghi chép về những sự kiện từ khi Mã Viện xuống nam tới lúc trở về bắc thì rất tỉ mỉ, vậy có lý gì mà một sự kiện dựng trụ đồng phân định ranh giới lại không ghi chép?]

2 . Sau khi Mã Viện dẹp yên Giao Chỉ, thời gian không lâu sau đó vị Phục Ba này lại tham gia cuộc dẹp loạn ở Hồ Nam. Quang Vũ lưỡng lự giữ 2 đường tiến quân vào đất Tuyển, đường thứ nhất noi theo núi Hồ gần nhưng hiểm trở, đường thứ hai đi huyện Sung bằng phẳng nhưng xa, khi ấy Cảnh Thư muốn đi đường huyện Sung, còn Viện tấu đi xa khó vận lương, không bằng đi đường núi Hồ, chặn yết hầu quân giặc, thì giặc cũng tự tan, do vậy Vũ chấp thuận cho Viện dẫn quân đi dẹp loạn.

Tuy nhiên mọi sự không như Viện tính, giặc giữ cửa ải từ cao điểm, nước chảy xiết, thuyền không thể tiến, chần chờ, quân sĩ bị bệnh dịch mà chết, bản thân Viện cũng mắc bệnh. Quân Hán rơi vào tính thế tiến thoái lưỡng nan. Lúc này Cảnh Thư viết thư cho anh là Yểm nói rõ tình hình. Yểm nhận thư tấu lên vua, Vũ sai Lương Tùng theo dịch trạm đến khiển trách Viện và thay thế chỉ huy quân.

Rồi Viện cũng mất ngay sau đó vào năm 49. Đây là cuộc cầm binh thất bại lớn của Viện, vị Phục Ba này đã lựa chọn đường tiến quân sai khi không đánh giá được hết thiên thời (thời tiết nóng nực) và địa lợi (địch giữ cao điểm, nước chảy xiết, thuyền mất tác dụng), đồng thời cũng chọn sai thời điểm, thời cơ. Thay vì nhân giặc chưa bố trí kịp, đánh ngay trong đêm có thể giết sạch (theo kế của Cảnh Thư) thì lại chần chừ, chặn yết hầu để giặc tự tan. Trong bức thư mà Thư gửi cho anh là Yểm có 2 lưu ý: Thứ nhất là cuộc dẹp loạn diễn ra đúng như “Thư tiên đoán” cho thấy Cảnh Thư thực là người tài và thứ hai là nhận xét của Thư giành cho Viện “Phục ba dùng binh giống như dân buôn Tây Vực”.

Tuy nhiên việc binh có thắng có thua, cũng là chuyện thường, không vì một trận thua mà có thể đánh giá tài của Phục Ba Mã Viện. Như trong thư tấu của Chu Bột thì “Riêng [Mã] Viện phụng sự triều đình 22 năm, phía Bắc ra quân vùng quan ải sa mạc, phía Nam vượt biển sông, mạo hiểm nơi khí độc, rồi chết trong quân. Danh diệt, tước mất; nhưng trong nước không ai thấy sự sai lầm, không có lời hủy báng”. Theo đó Viện chinh nam phạt bắc, rong ruổi yên ngựa hơn hai chục năm. Nếu là người tầm thường thì thật khó làm được!

Bột cũng tấu rằng: trong nước không ai thấy sự sai lầm, không có lời huỷ báng. Có lẽ lời tấu này có phần phóng đại, vì thực tế vẫn có người tấu chuyện sai của Viện, mà nhiều người đương thời và người đời sau cho là sàm tấu. Tấu thư của Chu Bột viết: “Rồi như chuyện ba người đưa lời sàm tấu, người nhà bị cô lập, chết không được chôn vào mồ, tiếng oan dấy đất, bà con sợ hãi; đã đành kẻ chết không được trình bày mà người sống cũng không được kháng cáo, thần cảm thấy thương xót!”. Chúng ta biết được 1 trong 3 người đưa lời sàm tấu là Trung lang tướng qua Hậu Hán thư: “Rồi Viện mất [năm 49], Tùng ôm mối bất bình, đặt điều vu hãm; Thiên tử giận tịch thu ấn Tân Tức hầu của Mã Viện”. Và điều thú vị lại chính là lời sàm tấu về Mã Viện thời điểm nam chinh Giao Chỉ.

Kết cục của Viện thực sự thê thảm: “Danh diệt, tước mất”, “người nhà bị cô lập, chết không được chôn vào mồ, tiếng oan dấy đất, bà con sợ hãi”, “Vợ con Mã Viện sợ hãi không dám đưa thi thể về chôn tại mồ mả đất nhà; đành tạm vùi tại mấy mẫu đất gai góc nơi phía tây thành; khách khứa bạn bè người quen cũ không ai dám phúng điếu. Nghiêm lệnh vợ con Viện có liên quan, bắt đến triều đình định tội”. Về sau có 6 lần kêu oan cho Viện thảm thiết nên được cho chôn cất lại.

Những lời sàm tấu xuất hiện sau khi Viện mất vì “lúc Viện còn sống được sủng ái, nên không ai dám nói gì. Ðến khi Mã Viện mất, có người dâng thư lên vua sàm tấu” và hãy xem những ai có liên quan tới lời sàm tấu, trước hết là Phó tướng của Viện là Cảnh Thư, anh của Thư là Hiếu tự hầu Cảnh Yểm, Phò mã Lương Tùng, “Mã Vũ cùng con Tăng Vũ hầu trình bày tội trạng khiến Thiên tử giận”, đây toàn là những người không thua kém Viện là bao.

Viện bị sàm tầu vì việc gì? Hậu Hán thư viết: “Chuyện trước kia, khi Mã Viện tại Giao Chỉ, thường dùng hạt ý dĩ làm thuốc để thân thể được nhẹ nhàng, tiết dục, chống lại chướng khí. Nam phương hạt ý dĩ rất lớn, Viện muốn trồng loại này, tải một xe chở về. Lúc bấy giờ người ta cho rằng đất đai phương Nam có nhiều thứ trân quí, những người quyền thế đều ham chuộng; nhưng lúc Viện còn sống được sủng ái, nên không ai dám nói gì. Ðến khi Mã Viện mất, có người dâng thư lên vua sàm tấu rằng trước đây Viện chở về đều là trân châu và sừng tê giác có hoa văn”.

Trong Hậu Hán thư có chép việc “ban cho Viện một cỗ xe” sau khi dẹp giặc Giao Chỉ, trong tư duy của Phạm Diệp thì cỗ xe này có liên quan đến việc dùng để chở hạt ý dĩ rất lớn từ phương nam về trồng, với mục đích làm thuốc để thân thể được nhẹ nhàng, tiết dục, chống lại chướng khí. Thế nhưng trong lời sàm tấu thì lại viết cỗ xe mà Viện chở về toàn “trân châu và sừng tê giác có hoa văn”. Do vậy mà khiến cho thiên tử tức giận.

Cỗ xe của Mã Viện thực sự thì chở gì? Mã Viện chia đặt huyện Tây Vu, tấu rõ luật Việt sai khác luật Hán, nói rõ với chúng dân Giao Chỉ về luật lệ, thu gom trống đồng Lạc Việt đúc thành ngựa để dâng vua, thì rõ ràng Viện rất sâu sát với thực tế Giao Chỉ, hoàn toàn có cơ hội tiếp xúc với châu báu và sừng tê giác. Giao Chỉ bộ thời ấy, châu báu thì nhiều nhưng đồ quý nhất lại không phải châu báu hay sừng tê mà là trống đồng. Viện thu gom trống đồng Lạc Việt đúc ngựa dâng Quang Vũ thì sao không thể thu gom vàng bạc, châu báu, sừng tê chứ? Trong khi lại chở về một xe hạt ý dĩ chỉ vì hạt ấy ở phương nam lớn hơn. Rõ ràng ở đây, các sử gia phương bắc có phần bênh Viện.

Nhưng giả sử như Viên chở về châu báu và sừng tê đúng như lời sàm tấu thì sau 22 năm chinh nam dẹp bắc, lập nhiều công lớn, được Quang Vũ yêu thích, thì câu hỏi là: việc Viện chở về châu báu, sừng tế có đến mức bị Vũ xử phạt nặng đến vậy không? Tức hầu thì bị thu, vợ con bị bắt tới triều đình định tội. Thậm chí thi thể không giám chôn ở đất nhà, vùi tạm ở mẫu đất gai góc, khách khứa bạn bè người quen cũ không giám phúng viếng. Cho thấy sự việc rất nghiêm trọng! Không ai muốn bị liên luỵ nên đều tránh xa, không giám làm cả những việc nghĩa cuối cùng nữa. Một xe châu báu, sừng tê có đến mức ấy không? Trong khi Viện cũng đã dâng Vũ con ngựa đồng.

Khi Mã Viện nam chinh, dùng tàu thuyền, Quang Vũ ban cỗ xe cho Viện để làm gì? Có khi nào khi quay về bắc, Viện lại dùng đường bộ? Khi nghe tin Trưng Trắc chiếm quận, Vũ lệnh các quận Trường Sa, Hợp Phố chuẩn bị xe thuyền, lương thảo. Vậy thì trong cuộc hành quân nam chinh của Mã Viện, cỗ xe rất nhiều, Vũ còn ban cỗ xe làm gì nữa? Nên nói “ban cỗ xe” chỉ là ý đồ của người chép sử.

Vua Quang Vũ xem án, trước sau có 6 lời kêu oan, cuối cùng chỉ cho chôn cất lại, chứ không tuyên bố minh oan hay phục hồi tước phẩm cho con cháu. Việc xét án trong sự kiện này thực không khó, Đoàn Chí thì đã chết, nhưng Lưu Long thì còn sống tới năm 57, không chỉ có Long mà hàng ngàn quân lính nam chinh đều biết cả. Nhưng không thấy phục tước hầu hay minh oan thì lời tấu không hẳn là sàm, mà có khi là sự thật.

Một điều thú vị nữa chúng ta cần bàn tới là: Suốt một thời gian dài từ sau khi Mã Viện nam chinh, xuất hiện sự vắng bóng của các quan lại cai trị Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam? Thông thường, mỗi khi có vị quan phương bắc nào xuống phương nam cai trị, thì đều được sử phương bắc chép lại ngày tháng, thế nhưng sau khi Mã Viện, Lưu Long rút về phương bắc thì ai sẽ đảm nhận chức Thái thú Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam? Như Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Từ đấy về sau, trải qua các đời Minh đế (58-75 s.c.ng.), Chương đế (76-88), Hoa đế (89-105), Thương đế (106), An đế (107-125) gồm 5 đời vua, cộng tám mươi hai năm, mà chỉ thấy về đời Minh đế có Lý Thiện, người huyện Nam Dương, làm thái thú Nhật Nam có lòng yêu dân, làm chính sự có ơn huệ với dân, hấp dẫn được người phương xa. Về sau, Lý Thiện đổi đi làm thái thú Cửu Giang. Các quan lại có tài giỏi của mấy đời vua Hán chỉ thấy nói có một Lý Thiện. Đó có lẽ là những thiếu sót của việc ghi chép sử sách vậy”.

Thật vậy Hậu Hán thư ghi nhận trường hợp của Lý Thiện làm Thái thú Nhật Nam, Trương Khôi làm Thái thú Giao Chỉ, Hồ Cống làm Đô uý quận Giao Chỉ trong khoảng từ năm 57 đến năm 88. Rồi vào năm 84 người Man Di ở cõi ngoài Nhật Nam dâng sừng tê, chim trĩ trắng. Năm 100 người Man Di ở Tượng Lâm làm phản, đánh phá quận huyện. Rõ ràng là có sự thiếu hụt một lượng lớn thông tin, cũng như những quan lại cai trị ở 3 quận phía nam trong một thời gian khá dài. Hãy để ý những sự kiện rất nhỏ, đều được Phạm Diệp chép vào, thì rõ ràng đây là sự thiếu hụt thông tin chứ không phải việc lược chép của tác giả. Lại nhớ đến câu của Tiết Tống, có đặt quan lại cũng như không, chứ đừng nói gì đến vài quan lại lẻ tẻ.

Trước và sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thì 3 quận phía nam, xã hội như thế nào?

Trong tấu thư của Tiết Tống có viết: “Ở hai huyện Mi Linh quận Giao Chỉ, huyện Đô Lung quận Cửu Chân, có tục anh chết thì em lấy chị dâu, nhiều đời cho đấy là thói thường, quan lại nghe biết cũng không ngăn được. Trai gái quận Nhật Nam cởi trần, không cho là thẹn”. Tục anh chết thì em lấy chị dâu, ngày nay vẫn còn. Ở quận Châu Nhai thì trai gái tự tìm hiểu, cha mẹ không thể sắp đặt.

Thêm nữa ở phía nam người Chăm có xã hội mẫu hệ. Do vậy có thể chắc rằng: 3 quận phía nam ở thời điểm trước và sau khởi nghĩa của Hai Bà thì xã hội theo mẫu hệ. Xã hội mẫu hệ thì rất khó để tổ chức được chính quyền với chế độ quân chủ. Khu vực đồng bằng sông Hồng tới sông Cả sẽ gồm những thị tộc mẫu hệ hoặc liên thị tộc mẫu hệ (cộng đồng siêu lớn). Việc này cũng phù hợp với việc “người đàn bà” ở Giao Chỉ chiếm châu làm phản. Trong chế độ mẫu hệ, người phụ nữ mới có tiếng nói đủ để phát động một cuộc khởi binh toàn Giao Chỉ.

Nhưng sau khi chiếm được châu thì chuyện gì xảy ra? Việc xưng vương (thiết lập chế độ quân chủ) có lẽ còn quá mới với người Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Trưng Trắc và em có lẽ chỉ là đứng đầu một thị tộc nào đó, sau khi phát động, những người đứng đầu các thị tộc (là phụ nữ) hưởng ứng, tạo thành liên kết quân sự, sau khi đánh đuổi Tô Định, liên kết quân sự (tự) tan vỡ, những người đứng đầu lại quản lý thị tộc của mình như trước đây. Nên việc sử bắc viết Trưng Trắc tự lập làm vua có lẽ là sự phỏng đoán của các sử gia.

Sau khi Viện chết, gia đình rơi vào khủng hoảng, tuy nhiên con gái của Viện làm Minh Đức Mã hoàng hậu (vợ của Hán Minh Đế) tại vị từ năm 60 đến năm 79. Với quyền hạn như vậy, thì những ghi chép đương thời về cha của bà có bị tác động hay không? Và những thông tin mà các sử gia phương bắc có được về cuộc chiến của Viện ở Giao Chỉ là dựa vào tầu thư, lời kể của Mã Viện. Nhưng chúng ta phải nhớ một điều là khi Viện còn sống thì không có ai dám kể sai khác đi với lời kể của Viện. Hãy nhớ lại sự kiện Viện giết trâu, nấu rượu khao tướng sĩ khi chém đầu Hai Bà, trong cuộc rượu Viện kể về người em Thiếu Du và sau tâm sự ấy, quân lính hô “vạn tuế”. Qua đó cho thấy thực Viện là người quyền lực, khi còn sống không ai giám động đến.

Tiểu kết: Chúng ta đã tìm hiểu một số ý như sau

– Sách sử chép gần nhất với sự kiện là sách Hậu Hán thư, tuy nhiên sách này cũng cách sự kiện tới khoảng 400 năm.

– Một số sự kiện ghi chép trong Hậu Hán thư còn nhiều nghi vấn

– Mã Viện tuy chinh chiến nam bắc, trong 22 năm song có ý kiến cho rằng: Phục Ba không giỏi cầm binh.

– Những thông tin về cuộc chiến của Viện ở Giao Chỉ, đến nay được biết thông qua những tấu thư, lời kể của Phục Ba.

– Khi Viện còn sống không ai dám động đến, nhưng sau khi Viện chết thì ngay lập tức có tấu về việc Viện chở châu báu, sừng tê từ Giao Chỉ về bắc. Vua Hán đã phạt rất nặng Viện về việc này.

– Kể từ khi dẹp xong loạn ở Giao Chỉ, Cửu Chân sử bắc ghi chép rất ít về những quan cai trị ở 3 quận phía nam trong thời gian dài.

– Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà, đánh đuổi Tô Định, thực ra là cuộc chiến giữa hai dân tộc Hán-Việt, cũng đồng thời là cuộc chiến của 2 chế độ (quân chủ và thị tộc) thì nghĩa quân của Hai Bà tự tan theo chế độ thị tộc cũ mà không có đủ điều kiện để hình thành chế độ quân chủ mới (Trưng Trắc làm vua, quản lý và thu thuế 3 quận phía nam).

Kết luận:

Từ lâu tôi cho rằng sự việc đã diễn ra như sau: Nhà Tây Hán diệt Nam Việt đặt ra 9 quận, nhưng trên thực tế thì chỉ cai trị được Nam Hải và Thương Ngô. Khi nhà Tân dựng các quận thuộc bộ Giao Chỉ tự chủ.

Đặng Nhượng làm Mục bộ. Tích Quang làm Thái thú quận Giao Chỉ, tuy nhiên cả 2 vị này đều ở Nam Hải.

Sau khi quy thuận nhà Đông Hán, Nhâm Diên được cử làm Thái thú quận Cửu Chân, thực ra là Sứ quan của nhà Hán cai trị ở 3 quận phía nam Giao Chỉ bộ. 3 quận phía nam (theo cách đặt của nhà Hán) của Giao Chỉ bộ thời điểm này có xã hội theo chế độ mẫu hệ, những nhóm người có chung hôn nhân và huyết thống về phía mẹ sinh sống trong những vùng lãnh thổ nhất định, từ đồng bằng sông Hồng tới sông Cả tồn tại nhiều những nhóm người như vậy, những nhóm người này tiếp xúc với nhau theo cả nghĩa hợp tác và xung đột.

Khi Nhâm Diên tiến xuống phía nam, muốn áp đặt luật pháp và cấu trúc quyền lực phương bắc vào phương nam, đã dẫn đến xung đột, kết quả là Trương Du ở ngoại cõi Cửu Chân đuổi Diên về phương bắc.

Nhà Đông Hán liền cử Tô Định dẫn quân nam tiến, tuy nhiên sự cứng rắn của Định đã đẩy xung đột trở thành cuộc chiến thực sự, giữa Hán và Việt, giữa chế độ quân chủ và chế độ thị tộc, kết quả là người đứng đầu một thị tộc ở vùng đồng bằng sông Hồng tên là Trưng Trắc dẫn người trong thị tộc của thị tấn công Định, những thị tộc khác ở Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam hưởng ứng, tạo thành một liên minh quân sự rất lớn mạnh và nhanh chóng đánh bại Định.

Định phải chạy về bắc, người ở quận Hợp Phố và các quận khác ở Uất Lâm, Thương Ngô được tin cũng hưởng ứng, chiếm và tự quản các huyện, Thái thú các quận tự giữ trị sở. Sau khi đuổi Tô Định về phương bắc, liên minh quân sự do Trưng Trắc cầm đầu tự tan rã, xã hội lại trở về như thời xưa cũ.

Vua Đông Hán lệnh cho Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô chuẩn bị xe thuyền, lương thảo, cử Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí xuất hơn 10.000 quân dẹp loạn phương nam. Các cuộc chiến giành lại đất do giặc phương nam chiếm giữ diễn ra, trong đó ác liệt nhất là cuộc chiến tại Hợp Phố, tại đây Đoàn Chí chết.

Sau khi dẹp loạn, bình đất 4 quận phía bắc bộ Giao Chỉ, Mã Viện cho gom trống đồng đúc thành ngựa dâng lên triều đình, đồng thời vơ vét châu báu chở về phương bắc làm của riêng. Viện đã không dẫn quân xuống 3 quận phía nam bộ Giao Chỉ. Tuy nhiên trong tấu thư lại viết có dẫn quân xuống dẹp loạn Giao Chỉ và Cửu Chân. Để cho triều đình tin, Viện gửi về Lạc Dương 2 cái đầu giả. Những người theo Viện đều biết, tuy nhiên phần lớn những người này ở vùng Lĩnh Nam, rất xa với triều đình, những người gần với triều đình thì sợ quyền thế của Viện mà không giám nói.

Chỉ đến khi Viện chết thì bắt đầu có những lời tấu, nhưng ngay sau đó con gái của Viện cũng lại rất quyền thế, vì thế mà những quan lại chép sử đường thời, e rằng đã chép sử dưới ảnh hưởng của chính trị, nên đã để lại những nguồn sử liệu mà sau này Phạm Diệp sử dụng và cũng không loại trừ ngay cả Diệp chép sử cũng với tâm thế tự tôn, dân tộc.

Với những gì được ghi chép lại thì sau cuộc nam chinh của Mã Viện, 3 quận phía nam Giao Chỉ bộ tiếp tục tự chủ, không có sự xuất hiện của quan lại nhà Đông Hán và dù có thì cũng như không? (xã hội tiếp tục theo chế độ mẫu hệ) cho đến năm 137 khi ở huyện Tượng Lâm xảy ra sự kiện Khu Liên lập quốc.

Hãy lưu ý rằng từ thời trước sự kiện Mã Viên nam chinh và sau đó một thời gian dài, luôn có những dòng người ở phương bắc tiến xuống phương nam vì trước là do trốn chiến tranh và sau vì buôn bán. Nên phong tục, văn hoá, tư tưởng phương bắc cũng tiến xuống phương nam. Thậm chí người phương bắc còn lập được vùng đất để sinh sống ngay cạnh người bản địa. Tất nhiên là trong quá trình sống giữa họ lúc thì xung đột, lúc thì hoà hợp. Cái đáng chú ý nhất mà người phương bắc mang xuống phương nam là tư tưởng, chế độ phụ hệ và do đó tất yếu sẽ sản sinh ra chế độ quân chủ?

 

PHỤ LỤC: NGHI VẤN LỊCH SỬ THỜI BẮC THUỘC

Trong bài viết Nghi vấn lịch sử thời bắc thuộc tôi có kết luận đại ý: Sau khi liên minh quân sử của Hai Bà đuổi Tô Định, nhà Đông Hán cử Mã Viện, Lưu Long, Đoàn Chí nam chinh. Cuộc chinh phạt đất Lĩnh Nam diễn ra ban đầu ở 4 quận phía bắc bộ Giao Chỉ, cuộc chiến ác liệt nhất tại Hợp Phố khiến Đoàn Chí chết. Tuy nhiên sau khi giành thắng lợi ở 4 quận phía bắc, Mã Viện lại không tiến xuống 3 quận phía nam bộ Giao Chỉ như tấu thư. Sau khi Viện chết, xuất hiện những lời sàm tấu mà như sử sách ghi chép lại là Viện chở châu báu về bắc làm của riêng. Kết cục Viện danh bại, gia đình khủng hoảng. Tuy nhiên trong nội dung bài viết có một số điểm mấu chốt cần phải làm rõ hơn, do đó mà có Phụ lục này.

Câu hỏi đầu tiên và có lẽ là quan trọng nhất, đó là: Như đã viết trong bài chính, việc Quang Vũ xét án không khó, chỉ cần vời Lưu Long đến để hỏi việc nam chinh là rõ? Không biết Vũ có làm không, chỉ biết là không có lời giải oan cũng như phục tước lại cho Viện, vậy thì ít nhất là Vũ vẫn tin rằng Viện có tội trong khi có 6 người trước sau kêu oan cho Viện, trong đó chúng ta biết được một người quen thân với gia đình Viện là Chu Bột. Các sử gia đời sau mà tiêu biểu là Phạm Diệp thì vẫn cho rằng Viện bị oan, có thể là họ không tìm thấy chứng cớ xác thực để kết án Viện có tội, nên vẫn chỉ cho rằng đó là những lời sàm tấu. Hoặc cũng có thể họ muốn xây dựng một hình tượng, một sự bênh vực? Chúng ta giả thuyết rằng: Quang Vũ tức giận Viện không phải vì việc chở 1 xe châu báu về bắc, mà là tức giận vì Viện đã không xuống 3 quận phía nam trong khi tấu rằng đã bình Giao Chỉ bộ, trong khi gửi đầu giả của Hai Bà về Lạc Dương thì lại tấu rằng đã giết được Trưng Trắc, Trưng Nhị. Vũ thực sự tức giận là việc đó, nhưng nếu như việc nam chinh không thành công như Viện tấu thì vì sao Lưu Long lại không bị gì, trong khi Lưu Long là phó tướng, đáng lý cũng phải chịu trách nhiệm? Chúng ta hãy xem Hậu Hán thư viết gì?

Phần Quang Vũ đế kỷ hạ chép:

“Năm thứ 16 (năm 40) mùa xuân tháng 2, người con gái ở Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, chiếm thành ấp (…)

Năm thứ 17 (năm 41) mùa thu tháng 7, Lý Quảng nổi dậy chiếm Hoàn thành, điều trung lang tướng Mã Viện, phiêu kỵ tướng quân Đoàn Chí đánh. Tháng 9, phá Hoàn thành chém Lý Quảng (…)

Năm thứ 18 (năm 42) (…) mùa hạ tháng 4 (…) khiển phục ba Mã Viện, lâu thuyền Đoàn chí đánh giắc Giao Chỉ là Trưng Trắc (…)

Năm thứ 19 (năm 43) (…) mùa hạ tháng 4 (…) phục ba tướng quân Mã Viện phá Giao Chỉ chém Trưng Trắc. Nhân đó đánh phá Cửu Chân, giặc Đô Dương hàng (…)

Năm thứ 20 (năm 44) (…) mùa xuân tháng 2 (…) mùa hạ tháng 4 (…) tháng 5 tân hợi, đại tư mã Ngô Hán chết (…) tháng 6 nhâm thìn, trung lang tướng Lưu Long làm phiêu kỵ tướng quân, giữ đại tư mã (…) mùa thu, Đông di (…) mùa đông tháng 10 (…) tháng 12 (…)

Năm thứ 21 (năm 45) (…) mùa đông tháng 10 khiển Mã Viện đánh Ô Hoàn (…)

Năm thứ 25 (năm 49) (…) tháng 3 (…) Phục Ba đánh phá man Võ Lăng, mùa đông tháng 10 giặc hàng

Năm thứ 27 (năm 51) (…) tháng 5 đinh sửu, chiếu viết: đổi đại tư mã thành thái uý, bãi nhiệm Lưu Long”.

Phần Lưu Long truyện chép:

“(năm 40) phục phong Phù Nhạc hương hầu, làm trung lang tướng – phó theo Mã Viện đánh Trưng Trắc ở Giao Chỉ. Long phá giặc ở Cấm Khê, bắt Trưng Nhị, chém hơn nghìn đầu, thu hàng hai vạn người. Trở về, được phong Trường Bình hầu. Gặp lúc đại tư mã Ngô Hán chết, Long làm phiêu kỵ tướng quân, hàng đại tư mã.

Long làm được tám năm, triều đình trao lại ấn thụ tướng quân, bãi nhiễm chức vụ, ban trâu, rượu. Cho làm liệt hầu, khi được triệu mới vào triều. Năm 54 phong Thận hầu, năm 57 chết, thuỵ Tĩnh hầu, con là An kế tự”

Nếu để ý chúng ta sẽ nhận thấy, trong phần Quang Vũ đế kỷ thì nhà Đông Hán chỉ cử Mã Viện và Đoàn Chí đi đánh dẹp Trưng Trắc ở Giao Chỉ mà thôi, không hề có Lưu Long. Lưu Long chỉ được nhắc đến với vai trò làm phó đoàn quân nam chinh trong phần Mã Viện truyện và Lưu Long truyện. Bản thân những ghi chép trong Mã Viện truyện và Lưu Long truyện cũng khác nhau. Trong phần Mã Viện truyện thì có chép Viện truy kích Trắc ở Cấm Khê, chép đầu Hai Bà rồi gửi về Lạc Dương trong khi trong Lưu Long truyện thì chép, Long bắt được Trưng Nhị, chém hơn ngàn thủ cấp, 2 vạn người hàng ở Cấm Khê. Tôi cho rằng: Việc sử chép Long bắt được Nhị chứ không phải Trắc chẳng qua là dụng ý của sử bắc. Bắc sử chép vậy một mặt là muốn ghi công cho Long, nhưng mặt khác muốn ghi công lớn hơn cho Viện vì đã bắt được người đứng đầu (còn Long cũng có công, nhưng công lao ít hơn vì chỉ bắt được người quan trọng thứ 2).

Chúng ta chưa biết chính xác thì Lưu Long có tham gia đoàn quân nam chính hay không nhưng rõ ràng là Hậu Hán thư chép còn có những nghi vấn. Nếu nói rằng trong phần Đế kỷ, do là sử gia chép tóm lược nên vô tình thiếu mất tên của Lưu Long thì cũng không hẳn như thế. Lưu Long là phó tướng nghĩa là vị trí này đứng thứ 2 trong đoàn quân nam chinh, một vị trí quan trọng như vậy sử có thể bỏ khuyết sao, trong khi Đoàn Chí lại được nhắc đến?

Thêm vào đó Lưu Long là người rất nổi tiếng, ông là người cùng với Quang Vũ khởi binh từ thời khắc đầu tiên, lại được xếp vào nhóm 28 người với tên gọi là Vân Đài nhị thập bát tướng, đây là những người có công lớn với nhà Đông Hán (28 người gồm có: Đặng Vũ, Mã Thành, Ngô Hán, Vương Lương, Giả Phục, Trần Tuấn, Cảnh Yểm, Đỗ Mậu, Khấu Tuân, Phó Tuấn, Sầm Bành, Kiên Đàm, Phùng Dị, Vương Bá, Chu Hữu, Nhiệm Quang, Sái Tuân, Lý Trung, Cảnh Đan, Vạn Tu, Cái Duyên, Bi Đồng, Diêu Kỳ, Lưu Thực, Cảnh Thuần, Tang Cung, Mã Vũ, Lưu Long). Mã Viện so với Lưu Long, e rằng cũng không có gì vượt trội. Thêm đó sau khi Ngô Hán chết, Lưu Long giữ chức đại tư mã, đây là chức vụ lớn, có thể nói là đứng đầu về quân sự, từ đó cho thấy Lưu Long không phải là tầm thường, so với Mã Viện thì không thua kém gì, nói gì tới so sánh với Đoàn Chí, vậy mà trong Đế kỷ lại không thấy ghi chép?

Có một sự kiện nữa cũng rất đáng chú ý, đó là sử sách ghi chép rất rõ giữa tháng và mùa năm 44, ví dụ như: mùa xuân tháng 2, mùa hạ tháng 4, mùa đông tháng 10. Theo như đó tháng 4, tháng 5 và tháng 6 thuộc về mùa hạ, nên tháng 7, tháng 8 và tháng 9 thuộc về mùa thu. Tháng 5 có một sự kiện lớn là đại tư mã Ngô Hán chết, do đó tháng 6 Lưu Long được bổ giữ chức đại tư mã.

Tuy nhiên theo như ghi chép trong Mã Viện truyện thì “mùa thu năm Kiến Vũ thứ 20 (năm 44) đưa quân về kinh sư”. Câu mang quân về kinh sư không rõ ý là quân đã về tới kinh thành hay đang chuẩn bị về, nhưng dù là gì thì rõ ràng có mâu thuẫn ở đây. Giả sử mùa thu đoàn nam chinh có mặt ở kinh sư thì làm sao tháng 6 (mùa hạ) Lưu Long có thể nhậm chức đại tư mã được? Có khi nào Lưu Long dẫn tiền quân về trước, tấu báo thiên tử tin mừng? Hay là Long thực sự không theo đoàn quân nam tiến? Có khi nào triều đình phong chức vắng mặt không?

Thật khó để biết chính xác việc gì xảy ra? Ở đây tôi giả thuyết rằng: Lưu Long đã không tham gia cuộc nam chinh hoặc nếu có thì chỉ tham gia những trận đánh vào thời điểm ban đầu của cuộc chiến ở 4 quận phía bắc Giao Chỉ bộ, sau đó thì rời khỏi Lĩnh Nam khi cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn. Do đó mà khi tra án, Quang Vũ đã không thể dựa vào lời tấu của Lưu Long vì Long không biết gì, dẫn đến tình trạng nghi hoặc, không rõ ràng. Cũng vì thế mà Long không bị trị tội dối vua như Viện!

Thực ra Long giữ chức đại tư mã khoảng 8 năm, đến năm 51 thì bị bãi nhiễm, tức là sau 2 năm Viện mất, đây cũng là khoảng thời gian khá trùng hợp. Trong Lưu Long truyện có nhắc tới việc “khi nào triệu mới vào triều”. Nếu chúng ta nhìn nhận 2 sự kiện này đối với Long là sự trừng phạt của Quang Vũ cũng không phải không có cơ sở.

Trước khi nam chinh, Long từng mắc phải việc chia ruộng đất nên bị phế làm thứ dân, sau được phục hồi, cho thấy Quang Vũ không phải là người bội bạc và sau khi Long bị bãi nhiệm năm 51 thì đến năm 54 được phong làm Thận hầu.

Nếu việc bãi nhiễm Lưu Long cũng liên quan tới vụ án của Viện, thì câu hỏi là: Long bị trách phạt vì tội gì? Không lẽ Long cũng giống Viện, chờ 1 xe châu báu về sao? Nếu việc bãi nhiễm Long, chẳng qua vì tính chất thời cuộc, không hề liên quan tới việc nam chinh năm xưa và trên hết là sử sách cũng không chép rõ ràng rằng: Long bị Vũ trách phạt, trong khi Long lại không thể đứng ra làm chứng thì rất có thể Long không tham gia suốt cuộc chiến.

Câu hỏi thực sự của chúng ta là Lưu Long có tham gia nam chinh không? Việc bị bãi nhiệm có liên quan tới lời sàm tấu hay không? Tôi giả thuyết rằng Long có nam chinh, nhưng chỉ tham gia thời điểm đầu của cuộc chiến, sau đó rời khỏi Lĩnh Nam, vì thế mà không thể làm chứng trong vụ Mã Viện cũng như không bị Quang Vũ phạt nặng.

Một điểm nữa cũng cần làm rõ là: Giữ Phò mã Lương Tùng và Mã Viện có mâu thuẫn gì mà Tùng dâng lời sàm tấu đối với Viện? Hậu Hán thư – Mã Viện truyện chép:

“Khi Viện ở Giao chỉ, viết thư về nhà răn dạy: “Ta muốn các cháu nghe được chuyện lỗi lầm của người khác giống như nghe được tên của cha mẹ, có thể nghe được mà không thể nói được vậy. Thích bàn luận chuyện người thế này thế khác, tuỳ ý giễu cợt thời sự là điều mà ta rất cực căm ghét. Ta thà chết cũng không muốn nghe đám con cháu có những chuyện này. Các cháu biết ta rất ghét những chuyện như thế, ta phải nói lại điều này cũng giống như chuyện cha mẹ dạy bảo con cái khi thành gia lập thất, để các cháu luôn nhớ không quên. Long Bá Cao là người đôn hậu, chu đáo cẩn thận, miệng không lời nói khác, khiêm ước tiết kiệm, thanh liêm công chính có uy vọng, ta rất kính trọng ông ấy, muốn các cháu học theo. Đỗ Quý Lương tính hào hiệp, trọng nghĩa khí, lo mối lo của người, vui điều vui của người, không mất lòng kẻ xấu người tốt, khi cha chết mà có người trong mấy quận đều đến điếu tang, ta cũng kính trọng ông ấy nhưng không muốn các cháu học theo. Học theo Long Bá Cao, nếu chưa tới nơi thì vẫn là người cẩn thận, cần kiệm, ví như khắc con chim hồng không thành thì cũng giống được con vịt. Học theo Đỗ Quý Lương không xong thì thành ra kẻ ác khiến người đời khinh bạc, giống như vẽ hổ không nên lại thành vẽ chó. Đến giờ còn chưa biết Đỗ Quý Lương sẽ ra sao, quan tướng trong quận mỗi lần xuống xe đều nghiến răng căm hận ông ấy, châu quận đều nhắc tới, ta vẫn thường lo cho ông ấy, vậy nên ta không muốn con cháu học theo”.

Khi Mã Viện ở Giao Chỉ có nghe tin con của người anh của ông bắt chước và học theo Đỗ Quý Lương tuy nhiên Viện không muốn bọn họ học theo Lương, do đó viết thư về khuyên răn, do Đỗ Quý Lương là bạn thân của Lương Tùng, do vậy mà Tùng căm ghét Viện, nên nhân việc dẹp giặc ở đất Tuyển mà Tùng dâng lời sàm tấu lên thiên tử. Qua việc Viện ở Giao Chỉ gửi thư về răn dạy con cháu, cho thấy 2 việc:

Thứ nhất, việc Viện gửi thư về nhà củng cố sự kiện những thông tin mà các quan chép sử có được là thông qua những bản tấu của Viện.

Thứ hai, nếu Viện ở 3 quận phía nam Giao Chỉ bộ, thì thực tế với những ngăn cách, hiểm trở trong việc đi lại thì liên lạc phải rất khó khăn, tuy nhiên như bức thư viết thì thông tin liên lạc không hề khó khăn, Viện biết được tin ở nhà là đám con cháu học theo và bắt chước những hành động nghĩa hiệp của Đỗ Quý Lương, đồng thời còn gửi thư về bắc để khuyên răn chúng? Việc này cũng củng cố giả thuyết rằng Viện ở 4 quận phía bắc bộ Giao Chỉ chứ không phải ở 3 quận phía nam, vì nếu Viện ở 4 quận phía bắc bộ Giao Chỉ thì thông tin liên lạc sẽ dễ dàng và thông suốt hơn rất rất nhiều so với 3 quận phía nam.

 

 

 

 

 

Advertisements

4 thoughts on “Nghi vấn lịch sử thời Bắc thuộc

  1. Đặng Thanh Bình đưa ra giả thiết nhiều quá mà không giải quyết rốt ráo được một cái nào. Không thể có chuyện Viện không xuống Giao Chỉ và Cửu Chân mà dám tâu lên vua là có được. Trong 2 vạn quân ấy không có người báo cáo sự thật sao? Viện có dối trá để tâng công cũng không ngu đến mức ấy.

    • Cháu rất vinh hạnh và luôn sẵn sàng, chỉ là cháu ở tận Sài Gòn rất xa với Nghệ An 🙂 bài viết của cháu có thể cung cấp được chút thông tin mà chú cần là điều rất có ý nghĩa với cháu. Đúng như bác Yên Tử cư sĩ có bình, hiện cháu mới chỉ nêu được ra những nghi vấn mà thôi. Có lẽ sẽ phải làm rất nhiều việc nữa mới có thể đưa ra được kết luận cuối cùng và có lẽ mình cháu không thể làm nổi, cần rất nhiều người, những gì cháu cố gắng chỉ là mở 1 con đường mới, có thể đó là con đường cụt, nhưng vẫn phải đi tới tận cùng của con đường đó, thì mới biết đó là con đường cụt.
      Hôm nay fb có nhắc đến 1 bài viết cách đây 1 năm của cháu và cháu nghĩ chú sẽ thấy thú vị https://nghiencuulichsu.com/2016/08/15/ban-ve-khoi-nghia-duong-thanh/ Dương Thanh người Hoan Châu khởi nghĩa năm 820 còn Dương Đình Nghệ người Ái Châu coi giữ An Nam năm 930 ??? Rất hy vọng 1 ngày nào đó được trò chuyện với chú.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s