Các cuộc Thập tự chinh (bài 3)

Khoảng thời gian giữa cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất và lần thứ hai

 

Trong khoảng thời gia này đã xuất hiện những danh tướng tuyệt vời như Saladin của Ai Cập và đối thủ của ông-Baldwin IV-vua hủi thành Jerusalem. Trước khi bị bại trận trước Risa Sư tử tâm của nước Anh ( mặc dù những trận này cũng không hoàn toàn thay đổi được chiến cuộc) thì Saladin vĩ đại chỉ thua trận trước Baldwin IV và nếu người thanh niên chỉ sống đến có 22 tuổi này không đoản thọ thì không biết đến bao giờ người Hồi giáo mới chiếm được Jerusalem ( nếu bác nào đã xem cuốn phim Jeusalem thì ông này là nhân vật có đeo mặt nạ bằng vàng nhưng trên thực tế thì có thể chiếc mặt nạ chỉ là hư cấu) 

Saladin vị danh tướng-quân vương vĩ đại của người Hồi giáo

Salah ad-Din Yusuf ibn Ayyūbi ( từ năm 1138 – Ngày 04 tháng 3 năm 1193), được biết đến trong thế giới phương Tây như là Saladin, là một người Kurd theo Hồi giáo, người trở thành Sultan ( Hoàng đế) đầu tiên của Vương triều Ayyubid của Ai Cập và Syria. Ông đã lãnh đạo phe Hồi giáo để chiến đấu với người Frank và những người châu Âu khác tại vùng Levant ( tên gọi khác của vùng Trung Đông). Ở đỉnh cao quyền lực của mình, ông đã cai trị Ai Cập, Syria, Mesopotamia ( Lưỡng Hà), Hejaz và Yemen. ( Buồn thay cho ông là người Kurd-con cháu của ông ngày nay lại không có tổ quốc)Ông đã lãnh đạo người Hồi giáo chống lại quân Thập tự chinh và cuối cùng chiếm lại được Palestine từ tay của Vương quốc Jerusalem của quân Thập tự chinh sau chiến thắng của ông trong trận Hattin, vì vậy ông là một tượng đài của người Kurd, người Ả Rập và văn hóa Hồi giáo. Saladin có một quan hệ chặt chẽ với người Hồi giáo Sunni và các đệ tử của tổ chức Qadiri Sufi thần bí ( chẳng biết có phải là giống Ninja của Nhựt Bủn không nhỉ). Những hành vi nghĩa hiệp của ông đã được ghi nhận bởi các sử gia Kitô giáo, đặc biệt là trong các tài liệu về cuộc bao vây Kerak ở Moab, và mặc dù là địch thủ của Thập tự quân ông đã giành được sự tôn trọng của rất nhiều người trong số họ, bao gồm cả Richard Lionheart ( vua Risa Sư tử tâm của nước Anh), thay vì trở thành một nhân vật đáng ghét ở châu Âu, ông đã trở thành một ví dụ nổi tiếng của quy tắc về tinh thần thượng võ của các Hiệp sỹ châu Âu.

Thời trẻ

Saladin được sinh ra tại Tikrit, Iraq. Gia đình ông là một gia đình mang phong cách đặc trưng của người Kurd và có nguồn gốc từ thành phố Dvin ở vương quốc Armenia thời trung cổ. Cha của ông tên là Najm ad-Din Ayyu, đã bị trục xuất khỏi thành phố Tikrit năm 1139 , ông ( Saladin ) và chú của mình là Asad al-Din Shirkuh, chuyển đến Mosul. Sau đó ông tham gia phục vụ quân đội cho Imad ad-Din Zengi, người chỉ định ông làm chỉ huy pháo đài của ông ta ở Baalbek. Sau cái chết của Zengi năm 1146, Nur ad-Din con trai ông ta, trở thành nhiếp chính của Aleppo và thủ lãnh của vùng Zengids.

Thời trẻ Saladin sống ở Damascus nhưng thông tin về thời thơ ấu của ông thì khá là khan hiếm. Về giáo dục, Saladin đã viết rằng “trẻ em được nuôi dậy theo cách thức mà người lớn tuổi đã được hưởng” Theo al-Wahrani, một trong những người viết tiểu sử của ông thì Saladin có thể trả lời câu hỏi về toán học, số học và pháp luật nhưng đây là một ý tưởng chỉ mang tính truyền thuyết. Một số nguồn tin cho rằng trong quá trình học tập của mình, ông đã quan tâm nhiều về vấn đề tôn giáo hơn là quan tâm đến việc gia nhập quân đội. Một yếu tố khác có thể có ảnh hưởng quan tâm của ông về tôn giáo là cuộc Thập tự chinh đầu tiên, Jerusalem đã bị chiếm giữ bởi một cuộc tấn công bất ngờ của các Kitô hữu. Ngoài Hồi giáo, Saladin còn có kiến thức về các phổ hệ, tiểu sử và lịch sử của người Ả Rập, cũng như các giống ngựa Ả Rập. Quan trọng hơn ông thuộc lòng các bài thơ Hamasah của Abu Tammam ( thơ về lòng tự hào dân tộc của người Arab ).

Cuộc chinh phạt đầu tiên

Sự nghiệp quân sự của Saladin đã bắt đầu dưới sự giám hộ của người chú Asad al-Din Shirkuh của ông, ông này là một chỉ huy quân sự quan trọng dưới quyền của Nur ad-Din. Năm 1163, khi Shawar-vị tể tướng của al-Adid-vua triều Fatimid bị đuổi ra khỏi Ai Cập bởi Dirgham-đối thủ của ông ta và ông này cũng là một thành viên của bộ lạc Banu Ruzzaik hùng mạnh. Ông (Shawar ) đã yêu cầu sự ủng hộ bằng quân sự từ Nur ad-Din, ông này đã đồng ý và đã gửi Shirkuh ( chú của Saladin) đến để hỗ trợ cho Shawar trong để chống lại Dirgham trong năm 1164. Saladin lúc đó mới tuổi 26, đã đi cùng với đoàn quân chinh phạt. Sau khi Shawar thành công phục hồi chức vị tể tướng, ông yêu cầu Shirkuh rút quân đội của mình từ Ai Cập để đổi lấy một số tiền khoảng 30.000 dinar, nhưng ông này đã từ chối và khẳng định rằng Nur ad-Din muốn ông ở lại. Vai trò của Saladin trong cuộc viễn chinh này là rất nhỏ và người ta chỉ được biết rằng ông đã được lệnh của Shirkuh là phải thu thập đồ dự trữ từ Bilbais ( một thành phố pháo đài của Ai Cập) trước khi cuộc bao vây được tiến hành bởi một lực lượng liên quân của quân Thập tự chinh và quân đội của Shawar ( ông này đòi không được quay ra liên minh với Thập tự quân để chiếm lại đất của mình).

Sau khi công chiếm Bilbais, lực lượng liên quân Ai Cập và Thập tự chinh đã giao chiến một trận lớn với lực lượng của Shirkuh trên vùng biên giới sa mạc của sông Nile ở phía tây Giza. Saladin đã đóng một vai trò quan trọng trong trận đánh này, ông chỉ huy cánh phải của quân đội Zengid, trong khi một lực lượng của người Kurd ở cánh tráivà Shirkuh chỉ huy trung quân. Tuy nhiên nguồn tài liệu của người Hồi giáo vào thời điểm đó lại nói rằng Saladin chỉ huy toán quân ” vận chuyển hành lý ở trung quân” với nhiệm vụ là thu hút đối phương vào một chiếc bẫy bằng cách dàn dựng một cuộc rút lui giả vờ. Lực lượng Thập tự chinh đã thu được thành công thành ban đầu khi quân đội của họ tấn công vào Shirkuh, nhưng do địa hình quá dốc và cát trên sa mạc làm cho ngựa của họ không thể chạy nhanh và Hugh của xứ Caesarea-chỉ huy của họ đã bị bắt trong khi tấn công vào đội quân của Saladin. Sau những cuộc chiến rải rác trong các thung lũng nhỏ ở phía nam của vị trí trung quân, người Zengid tập trung lực lượng phản công ngược trở lại, Saladin tham gia cuộc phản công này từ phía hậu quân.

Trận đánh kết thúc với chiến thắng thuộc về người Zengid và Saladin được cho là đã trợ giúp Shirkuh ở một trong những ” những chiến thắng đáng được chú ý nhất trong lịch sử”, theo sử gia Hồi giáo Ibn al-Athir, mặc dù quân của Shirkuh đã thiệt mạng nhiều hơn và thậm chí trận chiến được xem xét bởi hầu hết các nguồn khác lại không phải là một chiến thắng ( của Shirkuh). Saladin và Shirkuh chuyển hướng tới Alexandria, nơi họ được chào đón, cung cấp tiền, vũ khí và một căn cứ để đóng quân. Đối mặt của một lực lượng liên quân Thập tự chinh-Ai Cập đông đảo hơn đang cố gắng bao vây thành phố, Shirkuh chia quân đội của mình ra làm hai. Ông này và một số lớn quân của mình rút ra khỏi Alexandria trong khi Saladin đã được để lại ( với ít quân hơn) với nhiệm vụ bảo vệ thành phố.

Tại Ai Cập

Ở cương vị tể tướng của Ai Cập

Shirkuh đã tham gia vào một cuộc tranh giành quyền lực ở Ai Cập với Shawar và Amalric I của Vương quốc Jerusalem, trong đó Shawar yêu cầu Amalric hỗ trợ. Năm 1169, Shawar được cho là đã bị ám sát bởi Saladin và Shirkuh qua đời một năm sau đó. Nur ad-Din đã chọn một người ( không biết ai) kế nhiệm cho Shirkuh, nhưng al-Adid ( vua của Triều Fatimid) lại bổ nhiệm Saladin làm tể tướng để thay thế Shawar.

Lý do đằng sau việc al Adid-một người theo Hồi giáo dòng Shia lại lựa chọn Saladin-một người theo dòng Sunni làm tể tướng ( người có thực quyền nhất trong vương quốc). Sử gia Hồi giáo Ibn al-Athir tuyên bố rằng vị quốc vương đã chọn ông sau khi nói với các cố vấn của ông rằng “không có một người nào yếu ớt hơn hoặc trẻ hơn” so với Saladin và “không có một người nào trong đám tiểu vương-emirs vâng lời ông ta hoặc phục vụ ông ta” Tuy nhiên cũng lại có một ý kiến khác là sau một số cuộc thương lượng và mặc cả, cuối cùng ông đã được chấp nhận bởi đa số các tiểu vương. Các cố vấn của Al-Adid bị nghi ngờ là cố gắng để chia rẽ vương quốc Zengid ở Syria bằng sự phong chức này. Al-Wahrani viết rằng Saladin đã được lựa chọn vì danh tiếng của “sự rộng lượng và sức mạnh quân sự” của ông ta trong họ. Imad ad-Din viết rằng sau thời gian ngắn tang lễ cho Shirkuh, bởi vì có quá nhiều các “ý kiến khác nhau”nên tiểu vương Zengid quyết định chọn Saladin và buộc quốc vương Ai Cập phải chấp nhận ” ông ta là tể tướng” của mình. Mặc dù vị trí là nguyên nhân của những cuộc đấu đá phức tạp giữa các nhà lãnh đạo Hồi giáo, phần lớn những người cai trị Syria đã hỗ trợ Saladin trong chuyến viễn chinh Ai Cập của ông, và trong chiến dịch này ông đã thể hiện một trình độ quân sự đỉnh cao.

Trở thành tể tướng vào ngày 26 tháng 3, Saladin đã sám hối “về việc uống rượu và bỏ những trang phục phù phiếm để mặc trang phục mang tính chất tôn giáo.” Có được nhiều quyền lực hơn và trở nên độc lập hơn bao giờ hết trong sự nghiệp của mình, ông vẫn phải đối mặt với vấn đề về lòng trung thành cuối cùng giữa al-Adid và Nur ad-Din. Có một tin đồn là tại một cuộc gặp mặt bí mật giữa Nur ad-Din với Saladin và người ta đã trích dẫn câu nói ( của Nur ad-Din) là “làm thế nào anh dám [Saladin] làm bất cứ điều gì mà không có mệnh lệnh của ta?” Ông này (Nur ad-Din) đã viết nhiều thư cho Saladin để yêu cầu ông này không được từ bỏ sự trung thành của mình với chính ông ta ( Nur ad-Din).

Cuối năm đó, một nhóm binh sĩ Ai Cập và các tiểu vương đã cố gắng ám sát Saladin, nhưng biết được âm mưu này, ông đã cho xử tử Mu’tamin al-Khilafa quan điện tiền của Triều Fatimid, người cầm đầu âm mưu này. Ngày hôm sau, 50.000 binh sĩ người Phi từ các chiến đoàn trong quân đội Fatimid phản đối sự cai trị của Saladin đã cùng với một số tiểu vương người Ai Cập và dân thường tổ chức một cuộc nổi dậy. Vào ngày 23 tháng Tám, Saladin đã quyết dẹp yên những cuộc nổi dậy và không bao giờ phải đối mặt với một thách thức quân sự nào nữa từ Cairo.

Đến cuối 1169, Saladin với quân tiếp viện từ Nur ad-Din đã đánh bại một lực lượng liên quân lớn của quân Thập tự chinh và người Byzantine ở gần Damietta. Sau đó, vào mùa xuân năm 1170, Nur ad-Din cho gửi cha của Saladin đến Ai Cập theo yêu cầu của Saladin, cũng như khuyến khích từ al-Mustanjid, quốc vương của triều Abbasid ở Baghdad, họ ( Nur ad-Din và al-Mustanjid ) gây áp lực để ép Saladin phế truất al-Adid, vị quốc vương đối thủ của mình. Bản thân Saladin đã được tăng cường được thế lực của mình ở Ai Cập và mở rộng các căn cứ ủng hộ ông ở đó. Ông bắt đầu bố trí các thành viên trong gia đình của mình vào những vị trí cao cấp trong vùng và gia tăng ảnh hưởng của người Sunni tại Cairo, ông đã ra lệnh xây dựng một trường đại học cho người Hồi giáo Maliki-chi nhánh của Hồi giáo Sunni trong thành phố, cũng như một trường nữa cho nhóm Hồi giáo Shafi’i mà ông là thành viên ở al-Fustat.

Sau khi đã vững chân ở Ai Cập, Saladin đã phát động một chiến dịch chống quân Thập tự chinh, bao vây Darum năm 1170. Vua Amalric phải rút những Hiệp sỹ dòng Đền của ông đang đồn trú ở Gaza đến để giúp ông ta bảo vệ Darum, nhưng Saladin đã lẩn tránh lực lượng của họ và thay vào đó là ông kéo quân vào Gaza. Ông cho phá hủy thị trấn được xây dựng bên ngoài lâu đài của thành phố và giết chết hầu hết các cư dân của nó vì họ không vào được tòa lâu đài. Không chính xác khi nào, nhưng cũng trong năm đó ông đã tấn công và chiếm được lâu đài của quân thập tự chinh ở Eila, đây là một pháo đài vốn được xây dựng trên một hòn đảo ngoài khơi Vịnh Aqaba. Nó là một mối đe dọa cho sự di chuyển của hải quân của người Hồi giáo, nhưng lại có thể quấy rối các đội tàu nhỏ hơn của họ và Saladin đã quyết định là phải xóa xổ nó trên con đường tiến quân của mình.

Làm Sultan của Ai Cập

Theo sử gia Imad ad-Din, Nur ad-Din đã viết thư cho Saladin trong tháng 6 năm 1171, và nói với ông rằng hãy thiết lập lại vương quốc Hồi giáo Abbasid ở Ai Cập, sau đó ông lại được khuyến khích thêm bởi Najm ad-Din al-Khabushani, faqih- người cầm đầu tòa án Hồi giáo của Shafi’i, ông này đã kịch liệt phản đối việc dòng Hồi giáo Shia trị vì Ai Cập. Một số tiểu vương người Ai Cập đã bị giết chết vì chống đối, nhưng al-Adid ( vua Ai Cập lúc đó) lại được báo cáo rằng họ đã bị giết bởi nổi loạn chống lại chính ông ta. Ông này sau đó đổ bệnh hoặc bị đầu độc. Trong khi bị bệnh, ông ta hỏi Saladin cung cấp tiền cho mình để chăm sóc những đứa con nhỏ của ông ta, nhưng Saladin từ chối vì sợ rằng ông ta sẽ sự dụng số tiền này để chống lại triều Abbasids và ông ( Saladin) được cho là đã hối hận vì hành động của mình sau khi nhận ra những gì al-Adid muốn. Ông ta (al-Adid) qua đời vào ngày 13 tháng 9 năm 1171 tức là năm ngày sau đó, nhà Abbas khutba đã được lên ngôi ở Cairo và al Fustat, và tuyên bố al-Mustadi ( quốc vương Triều Abba ở Baghdad ) là quốc vương.

Ngày 25 Tháng Chín, Saladin rời Cairo để triển khai một cuộc tấn công phối hợp vào Kerak và Montreal, những lâu đài trên sa mạc của Vương quốc Jerusalem, còn Nur ad-Din thì sẽ tấn công từ Syria. Trước khi đến Montreal, Saladin đã rút lui vì nhận ra rằng nếu ông gặp Nur ad-Din ở Shaubak, ông sẽ không được quay trở lại Ai Cập vì Nur ad-Din sẽ giữ ông để kiểm soát lãnh thổ của Saladin. Ngoài ra, để vương quốc của người Thập tự chinh tồn tại như một quốc gia làm vùng đệm giữa Syria và Ai Cập, nó có thể đã sụp đổ nếu hai thủ lãnh của người Hồi giáo cùng tấn công từ phía đông và bờ biển. Điều này cũng sẽ trao cho Nur ad-Din cơ hội thôn tính Ai Cập. Saladin tuyên bố rằng ông rút lui vì tàn dư của Triều Fatimid âm mưu chống lại ông, nhưng Nur ad-Din đã không chấp nhận “mọi lý do”

Trong mùa hè năm 1172, một đội quân người Nubian cùng với một đội quân khác người tị nạn Armenia trên biên giới Ai Cập, được hồi báo là đang chuẩn bị cho một cuộc bao vây chống lại Aswan. Vị tiểu vương của thành phố yêu cầu sự trợ giúp của Saladin và nhận được quân tiếp viện dưới sự chỉ huy của Turan-Shah- anh trai của Saladin. Do đó, người Nubians đã xuất phát, nhưng lại quay lại trong năm 1173 và lại một lần nữa bỏ đi. Có được sự kiện này là do lực lượng Ai Cập tiến về phía Aswan và chiếm được thị trấn Nubian của Ibrim. Mười bảy tháng sau cái chết của al Adid, Nur ad-Din đã không tiến hành bất kỳ hành động liên quan đến Ai Cập, mà ông dự định trả một số tiền 200.000 dinar mà ông đã nhận để sử dụng quân đội của Shirkuh để chiếm giữ đất nước này. Saladin trả khoản nợ này với 60.000 dinar bằng những ” hàng hoá được sản xuất tuyệt vời”, một số đồ trang sức, một con lừa giống tốt nhất và một con voi. Trong khi vận chuyển hàng hoá đến Damascus, Saladin đã có cơ hội để tàn phá các vùng nông thôn của quân thập tự chinh. Ông không tạo ra một cuộc tấn công trực tiếp chống lại những lâu đài sa mạc, mà cố gắng để xua người Hồi giáo Bedouins ( mấy bác này thì ai cũng chén hết bất kể là Hồi giáo hay Phật giáo) vào sống ở lãnh thổ của quân Thập tự chinh với mục đích làm người Frank mất phương hướng.

Ngày 31 tháng 7 năm 1173, Ayyub-cha của Saladin bị thương trong một tai nạn cưỡi ngựa, cuối cùng dẫn đến cái chết của ông vào ngày 09 tháng 8. Năm 1174, Saladin đã cử Turan Shah đi để chinh phục Yemen và chiếm vùng Aden cho nhà Ayyubid. Yemen là một lãnh thổ dành cho hợp khẩn cấp, nơi mà Saladin có thể chạy trốn trong trường hợp xảy ra một cuộc xâm lược của Nur ad-Din.

Mua lại Syria

Chiếm Damascus

Trong đầu mùa hè năm 1174, Nur ad-Din tập hợp một đội quân và gửi giấy triệu tập tới Mosul, Diyarbakir và al-Jazira với một mục đích rõ ràng là chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào Ai Cập của Saladin. Triều đại Ayyubid đã tổ chức một hội đồng để thảo luận về mối đe dọa có thể và Saladin thu thập quân đội của mình ở bên ngoài Cairo. Ngày 15 tháng 5, Nur ad-Din chết sau khi bị đầu độc và ngai vàng của ông đã được giao cho con trai mười một tuổi as-Salih Ismail al-Malik . Cái chết của ông đã làm cho Saladin có sự độc lập về mặt chính trị và trong một bức thư được cho là gửi Salih, ông hứa sẽ ” như một thanh kiếm” để chống lại kẻ thù của mình và gọi cái chết của cha as-Salih như là một “cú sốc từ động đất”.Với dư chấn từ cái chết của Nur ad-Din, Saladin phải đối mặt với một quyết định khó khăn, ông nên cho quân đội của mình hành quân chống lại quân Thập tự chinh từ Ai Cập hay chờ cho đến khi được mời bởi Salih ở Syria để đến viện trợ cho ông kia và khởi động một cuộc chiến tranh từ lúc đó. Ông cũng có thể chiếm Syria cho mình trước khi nó có thể có thể bị rơi vào tay đối thủ, nhưng ông sợ rằng tấn công vào một vùng đất trước đây thuộc về ông chủ của mình- là điều bị cấm trong các nguyên tắc của Hồi giáo mà ông đang theo-có thể miêu tả ông là đạo đức giả và do đó, ông không phù hợp để dẫn đầu cuộc chiến chống quân Thập tự chinh. Saladin thấy rằng để có được Syria, ông cần một lời mời từ như-Salih hoặc cảnh báo cho ông kia về tiềm năng của tình trạng hỗn loạn và nguy hiểm khi mà quân Thập tự chinh nổi được lên.Khi Salih bị ép chuyển đến Aleppo vào tháng Tám, Gumushtigin-vị tiểu vương của thành phố Aleppo kiêm chỉ huy trưởng của một đội chiến binh kỳ cựu của Nur ad-Din đã tự nhận làm người giám hộ cho Salih. Vị tiểu vương này chuẩn bị để lật đổ tất cả các đối thủ của mình tại Syria và al-Jazira, ông ta bắt đầu đầu tiên với Damascus. Trong trường hợp khẩn cấp này, tiểu vương của Damascus đã kêu gọi Saif al-Din (một người anh em họ của Gumushtigin) của Mosul để trợ giúp chống lại Aleppo, nhưng ông này đã từ chối buộc người Syria phải yêu cầu sự trợ giúp của Saladin và ông này đã nhận lời. Saladin cưỡi ngựa vượt sa mạc cùng với 700 lính kỵ binh đi qua al-Kerak và sau đó đến Bosra, ông được sự tham gia của các tiểu vương, chiến binh, người Kurd và người Bedouins. Vào ngày 23, ông đã tới Damascus giữa sự hoan hô nhiệt liệt của dân chúng và nghỉ ngơi tại ngôi nhà cũ của cha mình ở đó cho đến khi cửa của tòa thành của Damascus được mở ra để đón ông vào bốn ngày sau đó. Ông sống trong tòa lâu đài và nhận được sự kính trọng và lời chúc mừng của các công dân của thành phố.

Các cuộc chinh phục xa hơn nữa

Để anh trai của ông là Tughtigin làm Thống đốc Damascus, Saladin tiến quân để chiếm các thành phố khác vốn thuộc về Nur ad-Din, nhưng thực tế lúc này đã trở thành độc lập. Ông đã chiếm được Hamah một cách tương đối dễ dàng, nhưng phải lui quân trước Homs vì sức mạnh của bức tường thành của nó. Sau đó ông chuyển về phía bắc Aleppo và bao vây nó vào ngày 30 tháng 12 sau khi Gumushtigin từ chối thoái vị. Có vẻ như Salih đã hoảng sợ trước Saladin, nên đã đi ra khỏi cung điện của mình và kêu gọi người dân không từ bỏ ông ta và trao thành phố quân xâm lược. Một trong những tuyên bố của các sử gia của Saladin là “mọi người đi theo lời thần chú của ông”Gumushtigin yêu cầu Rashid ad-Din Sinan, đại sư phụ của Assassins ( tổ chức sát thủ) người đã có xung đột với Saladin kể từ khi ông thay thế triều Fatimids của Ai Cập, để ám sát Saladin trong doanh trại của ông. Một nhóm mười ba sát thủ của Assassins dễ dàng đột nhập vào doanh trại của Saladin, nhưng đã bị phát hiện ngay trước khi họ tiến hành cuộc tấn công. Một người bị giết bởi một viên tướng của Saladin và những người khác đã bị giết trong khi cố gắng trốn thoát. Để làm cho tình hình của ông ta thêm khó khăn, Raymond của Tripoli đã cho tập hợp lực lượng của mình ở Nahr al-Kabir nơi ông có một vị trí rất tốt để bắt đầu một cuộc tấn công vào lãnh thổ của người Hồi giáo. Sau đó ông chuyển về hướng phía Homs nhưng rút lui sau khi nghe nói có một lực lượng tiếp viện đã được gửi đến từ thành phố của Saif al-Din.Trong khi đó, các đối thủ của Saladin ở Syria và Jazira đã tiến hành một cuộc chiến tuyên truyền khi tuyên bố rằng ông đã “ông đã quên rằng ông là đầy tớ của Nur ad-Din ” và cho thấy ông không có lòng biết ơn đối với chủ cũ của mình khi bao vây con trai của ông ta, và dấy lên ” cuộc nổi loạn chống lại Chúa của mình “. Saladin nhằm để chống lại những lời tuyên truyền này bằng cách khởi động các cuộc bao vây để bảo vệ người Hồi giáo từ quân Thập tự chinh, quân của ông quay trở lại Hama và tấn công một lực lượng Thập tự quân ở đó. Các Thập tự quân rút đi từ trước đó và Saladin tuyên bố đó là “một chiến thắng mở cửa của trái tim của người Hồi giáo” Ngay sau đó, Saladin đã tiến đến Homs và chiếm được thành phố vào tháng 3 năm 1175, sau khi đánh bại những quân phòng thủ cứng đầu của nó.

Những thành công của Saladin đã báo động đến Saif al-Din. Người đứng đầu các hậu duệ của Zengid bao gồm cả Gumushtigin, ông này coi Syria và Lưỡng Hà như là tài sản riêng của gia tộc và đã cực kỳ tức giận khi Saladin cố gắng để chiếm đoạt phần của họ. Saif al-Din tập trung một đội quân lớn và gửi nó đến Aleppo nơi quân phòng thủ đang lo lắng để chờ đợi họ. Các lực lượng kết hợp của Mosul và Aleppo đã hành quân để chống lại Saladin ở Hama. Ít hơn đối thủ rất nhiều, ban đầu ông cố gắng để thương lượng với những người thuộc dòng tộc Zengids bằng cách từ bỏ tất cả các cuộc chinh phục phía bắc của Damascus, nhưng họ đã từ chối và khẳng định rằng ông phải trở về Ai Cập. Thấy rằng một cuộc đối đầu là điều không thể tránh khỏi, Saladin chuẩn bị cho trận chiến, chiếm một vị trí cao hơn trên những ngọn đồi của các hẻm núi của con sông Orontes. Ngày 13 tháng 4 năm 1175, quân Zengid hành quân đến để tấn công lực lượng của ông nhưng ngay sau đó họ lại thấy mình bị bao quanh bởi các chiến binh Ayyubid kỳ cựu của Saladin và họ đã bị tiêu diệt. Trận đánh kết thúc với một chiến thắng quyết định cho Saladin, ông truy kích nhà Zengid đến tận cửa của Aleppo, buộc của các cố vấn Salih phải trao cho ông các tỉnh của Damascus, Homs và Hama, cũng như một số thị trấn bên ngoài Aleppo như al-Numan Ma’arat.

Sau khi ông chiến thắng trước dòng tộc Zengid, Saladin tự xưng làm vua và xóa tên của Salih trong lời cầu nguyện Hôm thứ sáu và tiền đúc của Hồi giáo. Từ đó, ông ra lệnh cho những buổi cầu nguyện trong tất cả các nhà thờ Hồi giáo của Syria và Ai Cập như là một vị vua có chủ quyền và ông đã cho ban hành tại Cairo tiền vàng đúc tên của ông al-Malik an-Nasir Yusuf Ayyub, ala ghaya . Quốc vương Hồi giáo Abbasid ở Baghdad chào đón ân cần Saladin và tuyên bố ông là “vua của Ai Cập và Syria”.

Trận Hama đã không kết thúc cuộc tranh giành quyền lực giữa dòng Ayyubids và nhà Zengid, cuộc đối đầu cuối cùng xảy ra vào mùa xuân năm 1176. Saladin đã mang lực lượng của mình đến từ Ai Cập và quân của Saif al-Din là lính mới tuyển ở giữa các bang nhỏ của Diyarbakir và al-Jazira. Khi Saladin vượt qua Orontes để rời Hama, mặt trời đã khuất bóng và đây được xem là một điềm xấu nhưng ông tiếp tục cuộc hành quân về phía bắc của mình. Ông đến được núi của Sultan, 15 dặm (24 km) từ Aleppo, nơi mà lực ng của ông đã gặp phải quân đội của Saif al-Din. Một cuộc cận chiến nổ ra ngay sau đó và nhà Zengids đã cố gắng để đánh bại cánh trái của Saladin, đẩy họ về phía trước ông ta, trong khi ông tấn công trực diện về phía lực lượng cận vệ của nhà Zengid. Lực lượng của nhà Zengid đã hoảng sợ và nhất là khi các sỹ quan của Saif al-Din đã bị giết hoặc bị bắt sống, ông này (Saif al-Din ) cũng suýt tự trốn thoát. Doanh trại, ngựa nghẽo, hành lý, lều trại và đồ dự trữ của quân đội nhà Zengid đều bị chiếm bởi quân Ayyubids. Tuy nhiên các tù nhân nhà Zengid đã được phóng thích và trao quà tặng bởi Saladin và tất cả các chiến lợi phẩm trong chiến thắng của ông đã được chia cho quân đội, ông không giữ lấy một thứ gì cho chính mình.

Ông tiếp tục hướng tới Aleppo lúc này vẫn đóng cửa trước mặt mình và tạm dừng trước khi đến thành phố. Trên đường đi, quân đội của ông đã chiếm Buza’a sau đó là Manbij. Từ đó họ hướng về phía Tây để bao vây pháo đài A’zaz vào ngày 15 tháng 5. Một vài ngày sau đó, trong khi Saladin đang nghỉ ngơi ở chiếc lều của mình, một sát thủ xông tới và đâm vào đầu ông bằng một con dao. Nhưng con dao đã không xuyên qua được chiếc mũ sắt của ông và ông đã cố gắng nắm được bàn tay của tên sát thủ và kẻ tấn công đã nhanh chóng bị giết chết. Saladin đã không bị mất bình tĩnh trước nỗ lực để lấy đi cuộc sống của mình, mà ông đã cáo buộc là âm mưu của Gumushtugin và Assassins và do đó ông cho tăng các nỗ lực trong cuộc bao vây.

A’zaz đầu hàng vào ngày 21 và sau đó Saladin vội vã cho lực lượng của mình hành quân để trừng phạt Aleppo của Gumushtigin. Cuộc tấn công của ông lại một lần nữa thất bại, nhưng ông đã cố gắng để đảm bảo không chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn mà là một liên minh với Aleppo, trong đó Gumushtigin và Salih được phép tiếp tục giữ thành phố này cho họ và ngược lại, họ công nhận Saladin có chủ quyền trên tất cả các lãnh địa mà ông đã chinh phục. Các tiểu vương của Mardin và Keyfa-đồng minh Hồi giáo của Aleppo, cũng công nhận Saladin là vua của Syria. Khi hiệp ước đã được ký kết, em gái của Salih đã được gửi đến chỗ Saladin để làm con tin và ông phải trả lại pháo đài A’zaz; điều kiện được tuân thủ và ông trả cô bé lại cho Aleppo với rất nhiều quà tặng.

Trận chiến và thỏa thuận ngừng bắn với Baldwin

Triều Ayyubids đã cho phép vua Baldwin chiếm được Ascalon và Gaza dựa trên lực lượng Hiệp sỹ dòng Đền mà không tiến hành bất cứ biện pháp phòng ngừa nào chống lại một cuộc tấn công bất ngờ. Mặc dù lực lượng Thập tự quân chỉ gồm 375 hiệp sĩ, Saladin đã do dự trong việc phục kích họ do có sự hiện diện của các võ sỹ có trình độ lão luyện. Ngày 25 tháng 11, trong khi phần lớn hơn của quân đội Ayyubid đã ở chỗ khác, Saladin và người của ông đã tấn công bất ngờ vào Tell Jezer ở gần Ramla. Trước khi họ có thể lập đội hình, lực lượng Templar (Hiệp sỹ dòng Đền) đã tấn công vào quân đội Ayyubid. Ban đầu, Saladin đã cố gắng tổ chức để những người của mình vào trận chiến, nhưng các vệ sĩ của ông đều bị giết, ông thấy rằng thất bại là không thể tránh khỏi và như vậy với phần còn lại của đội quân của mình, ông nhanh chóng nhảy lên lưng một con lạc đà chạy bán xới về lãnh thổ của Ai Cập.

Không nản lòng bởi thất bại của ông tại Tell Jezer, Saladin đã chuẩn bị kỹ càng để chiến đấu chống lại quân Thập tự chinh lại một lần nữa. Vào mùa xuân 1178, ông đóng trại dưới các bức tường của Homs và một vài cuộc giao tranh xảy ra giữa quân đội của ông và quân Thập tự chinh, lực lượng của ông ở Hama đã giành được một chiến thắng trước kẻ thù của họ và mang chiến lợi phẩm, cùng với nhiều tù binh chiến tranh. Saladin đã ra lệnh cho chặt đầu các tù binh vì tội “cướp bóc và làm xú uế các vùng đất của các tín đồ sùng đạo” Ông dành phần còn lại của năm ở Syria mà không có một cuộc đối đầu nào với kẻ thù của mình.

Trinh sát của Saladin báo cáo với ông rằng quân Thập tự chinh đang lập kế hoạch cho một cuộc tấn công vào Syria. Như vậy, ông ra lệnh cho Farrukh-Shah, một trong số các tướng lĩnh của ông bảo vệ biên giới Damascus với một ngàn chiến binh của mình để đánh chặn một cuộc tấn công, sau đó tìm cách hưu chiến và truyền tin cho ông bằng ánh sáng đèn hiệu trên những ngọn đồi mà Saladin sẽ diễu hành qua đó. Trong tháng 4 năm 1179, quân Thập tự chinh do vua Baldwin chỉ huy dự kiến sẽ không có đề kháng mạnh mẽ và chờ đợi để khởi động một cuộc tấn công bất ngờ vào khu chăn thả đàn gia súc của người Hồi giáo ở phía đông của cao nguyên Golan. Baldwin đã tiến quá xa khi truy đuổi Farrukh-Shah, lực lượng vốn được tập trung ở phía đông nam Quneitra và sau đó bị đánh bại bởi quân Ayyubids. Với chiến thắng này, Saladin đã quyết định gọi thêm quân từ Ai Cập, ông đã yêu cầu 1.500 kỵ sỹ được gửi bởi al-Adil.

Vào mùa hè năm 1179, vua Baldwin đã thiết lập một tiền đồn trên đường đến Damascus và nhằm để củng cố một đoạn trên sông Jordan, tiền đồn này được gọi là Ford of Jacob, và pháo đài này đã kiểm soát việc tiếp cận đồng bằng Banias (đồng bằng này được phân chia giữa những người Hồi giáo và các Kitô hữu). Saladin đã trả 100.000 dinar vàng cho Baldwin để từ bỏ công việc xây dựng pháo đài vốn xâm phạm đến quyền lợi của người Hồi giáo nhưng vô ích. Sau đó ông giải quyết bằng cách tiêu diệt chiếc pháo đài này và cho di chuyển sở chỉ huy của mình về phía Banias. Khi quân Thập tự chinh vội vã lao ra để tấn công lực lượng Hồi giáo, họ rơi vào rối loạn với việc bộ binh bị tụt lại phía sau. Mặc dù có thành công ban đầu, họ đã quá ham truy đuổi người Hồi giáo và đủ để trở thành quá rải rác và Saladin đã lợi dụng thời cơ này để tập hợp quân đội của mình và tấn công vào quân Thập tự chinh. Trận chiến đã kết thúc với chiến thắng quyết định thuộc về Ayyubid và nhiều hiệp sĩ thất thủ đã bị bắt sống. Sau đó Saladin tiến lên bao vây pháo đài và nó thất thủ vào ngày 30 tháng 8 năm 1179.

Vào mùa xuân 1180, khi Saladin ở trong vùng Safad, lo rằng sẽ có một chiến dịch mạnh mẽ nhằm vào Vương quốc Jerusalem, King Baldwin đã gửi sứ giả tới ông ta và đề nghị ký hiệp ước hòa bình. Do hạn hán và mất mùa làm đồ quân nhu của ông bị hao hụt, Saladin đã đồng ý một cuộc ngừng bắn. Raymond của Tripoli lên án cuộc ngưng bắn, nhưng đã buộc phải chấp nhận sau một cuộc đột kích của Ayyubid vào lãnh thổ của mình trong tháng 5 và sau khi có sự xuất hiện hạm đội hải quân của Saladin ở ngoài khơi cảng Tartus.

Mở rộng Đế quốc

Chinh phục nội địa Mesopotamian ( Lưỡng hà-Iraq ngày nay)

Saif al-Din đã chết trước đó trong tháng 6 năm 1181 và anh trai của ông Izz al-Din kế thừa quyền cai trị Mosul. Ngày 04 tháng 12, thái tử của nhà Zengid, as-Salih đã chết ở Aleppo. Trước khi chết, ông đã bắt trưởng quan của mình thề trung thành với Izz al-Din, vì ông này là người cai trị nhà Zengid đủ mạnh để chống lại Saladin. Izz al-Din đã được chào đón ở Aleppo, nhưng đồng sở hữu nó và Mosul là quá tải đối với khả năng của ông ta. Vì thế ông giao Aleppo cho anh trai của ông là Imad al- Din Zangi để đổi lấy Sinjar. Saladin không đưa ra sự phản đối nào với những giao dịch này để tôn trọng hiệp ước trước đây của ông với nhà Zengids.

Ngày 11 tháng 5 năm 1182, Saladin cùng với một nửa của quân đội Ayyubid Ai Cập và nhiều người phục vụ chiến đấu rời Cairo đến Syria. Vào buổi tối trước khi xuất quân, ông ngồi với bạn đồng hành của mình và là người đỡ đầu của một trong những con trai của ông rồi đọc một dòng thơ: “tận hưởng hương thơm của cây mắt bò của Najd, để sau buổi tối này sẽ không bao giờ còn dịp này nữa. ” Saladin được mô tả như là biết trước một điềm xấu và ông không bao giờ được nhìn thấy Ai Cập một lần nữa. Biết rằng lực lượng của người Thập tự chinh đã dồn đến biên giới để ngăn chặn ông ta, ông đã chọn con đường qua sa mạc trên bán đảo Sinai để đến Ailah ở đầu Vịnh Aqaba. Không gặp đối thủ Saladin tàn phá vùng nông thôn của Montreal, trong khi lực lượng của Baldwin chỉ theo dõi mà từ chối can thiệp ( ông này vẫn còn tởn vì trận trước). Ông tới Damascus vào tháng 6 và được biết rằng Farrukh-Shah đã tấn công vào Galilee, chiếm Daburiyya và bắt Habis Jaldek, một pháo đài có tầm quan trọng rất lớn của quân Thập tự chinh. Trong tháng 7, Saladin cử Farrukh-Shah đi tấn công al-Hawa Kawkab. Sau đó vào tháng 8, triều Ayyubids phát động một cuộc tấn công bằng cả thủy bộ để chiếm Beirut, Saladin đã dẫn quân đội của mình tiến vào thung lũng Bekaa. Nhưng cuộc tấn công có vẻ trở nên là một thất bại và Saladin cho dừng chiến dịch để tập trung vào các vấn đề ở Lưỡng Hà.

Kukbary, tiểu vương của Harran, mời Saladin đến và chiếm đóng khu vực Jazira, chiếm miền bắc Lưỡng Hà. Ông tuân thủ và các thỏa thuận ngừng bắn giữa ông và nhà Zengids nó chính thức kết thúc vào tháng 9 năm 1182. Trước cuộc hành quân của ông đến Jazira, căng thẳng đã tăng lên giữa những người cai trị nhà Zengid trong khu vực, chủ yếu liên quan đến việc họ không muốn trả tiền để chiều theo Mosul. Trước khi ông vượt qua Euphrates, Saladin bao vây Aleppo trong ba ngày để báo hiệu rằng cuộc ngưng bắn đã kết thúc.

Sau khi ông đến Bira ở gần sông, ông đã bị tấn công bởi Kukbary và Nur al-Din của Hisn Kayfa và các lực lượng này cùng phối hợp để chiếm giữ thành phố Jazira đội quân này tiếp đội quân kia. Trước tiên, Edessa thất thủ tiếp theo Saruj và sau đó là ar-Raqqah, Karkesiya và Nusaybin. Ar-Raqqah là một cứ điểm quan trọng và được tổ chức phòng thủ bởi Qutb al-Din Inal, người đã bị mất Manbij trước Saladin ở năm 1176. Khi nhìn thấy số lượng lớn của quân đội của Saladin, ông đã có rất ít nỗ lực để chống lại và đầu hàng với điều kiện rằng ông sẽ giữ lại tài sản của mình. Saladin đã kịp thời tạo ấn tượng với các cư dân của thành phố bằng cách đưa ra một sắc lệnh rằng một số loại thuế sẽ được hủy bỏ và xóa tất cả các giấy nhận nợ và nêu rõ “người cai trị tồi tệ nhất là những người rất chất béo nhưng người dân của họ lại gầy” Từ ar-Raqqah, ông chuyển đến chinh phục al-Fudain, Husain al-, Maksim, Durain, ‘Araban, và Khabur-tất cả đều đã thề trung thành với ông.

Saladin chiếm được Nusaybin mà không hề có kháng cự. Là một thành phố cỡ trung bình, Nusaybin không quá quan trọng, nhưng nó lại được đặt tại một vị trí chiến lược giữa Mardin và Mosul và dễ di chuyển đến Diyarbakir. Trong bối cảnh gặt hái hàng loạt những chiến thắng, Saladin nhận được tin rằng quân Thập tự chinh lại đột kích vào các ngôi làng của Damascus. Ông trả lời: “Hãy để họ … trong khi họ tấn công các làng mạc thì chúng ta lại chiếm các thành phố, khi chúng ta trở lại, chúng ta sẽ có tất cả các sức mạnh hơn nữa để chống lại chúng.” Trong khi đó, ở Aleppo, tiểu vương của thành phố Zangi đã đột kích vào các thành phố của Saladin ở phía bắc và phía đông, chẳng hạn như Balis, Manbij, Saruj, Buza’a, al-Karzain. Ông cũng cho phá hủy thành phố A’zaz của riêng mình để ngăn chặn việc nó được sử dụng bởi quân Ayyubids nếu họ tái chiếm nó.

Sở hữu Aleppo

Saladin chuyển sự chú ý từ Mosul tới Aleppo, và cử anh trai của ông al-Mulk Taj để chiếm Tell Khalid, 80 dặm (130 km) về phía đông bắc của thành phố. Một cuộc bao vây đã được thiết lập, nhưng thống đốc của Tell Khalid đã đầu hàng khi bản thân Saladin xuất hiện vào ngày 17 tháng 5 trước khi một cuộc bao vây có thể diễn ra. Theo Imad ad-Din, sau Tell Khalid, Saladin đã đi một đường vòng về phía Bắc để đến Ain Tab, nhưng ông đã sở hữu được nó khi quân đội của ông hướng về phía nó, cho phép ông di chuyển nhanh chóng theo chiều ngược lại 60 dặm (97 km) về phía Aleppo. Ngày 21 tháng 5, ông đóng trại bên ngoài thành phố về phía đông của thành lũy của Aleppo, trong khi lực lượng của mình bao quanh các khu ngoại ô của Banaqusa ở phía đông bắc và Bab Janan ở phía tây. Ông cho quân của mình đóng gần thành phố một cách quá mạo hiểm, và hy vọng cho một thành công tức thì.

Zangi đã không thể kéo dài sự kháng cự. Ông không được lòng dân và muốn trở về Sinjar của mình, thành phố mà trước đó ông đã cai trị và một cuộc đàm phán đã được tiến hành và Zangi sẽ bàn giao Aleppo cho Saladin để đổi lấy sự phục hồi quyền kiểm soát của ông với Sinjar, Nusaybin và ar-Raqqa. Zangi sẽ nắm giữ các lãnh thổ này như là chư hầu của Saladin về các điều khoản của phục vụ quân sự. Ngày 12 táng Sáu, Aleppo được chính thức đặt vào tay Ayyubid. Những người dân của Aleppo đã không được biết về các cuộc đàm phán và đã bị bất ngờ khi cờ hiêụ của Saladin được treo trên tường thành. Hai tiểu vương trong đó có một người bạn cũ của Saladin, Izz al-Din Jurduk, hoan nghênh và cam kết về sự phục vụ của họ với ông ta. Saladin thay thế quan tòa Hanafi bằng Thống đốc Shafi’i, mặc dù ông có một lời hứa là sẽ không can thiệp vào sự lãnh đạo tôn giáo của thành phố. Mặc dù ông đang thiếu tiền, Saladin vẫn cho phép Zangi khởi hành với tất cả các đồ dự trữ của thành phố mà ông ta có thể mang đi và bán phần còn lại cho Saladin.

Mặc dù có những do dự trước đó, ông không hề nghi ngờ gì về thành công của mình và nói rằng Aleppo là “chìa khóa để tiến vào các vùng đất” và “thành phố này là mắt của Syria và tòa thành là học trò của nó” Đối với Saladin, bản thân việc chiếm được thành phố đã đánh dấu sự kết thúc hơn tám năm chờ đợi kể từ khi ông nói với Farrukh-Shah “chúng ta đã chỉ làm công việc vắt sữa và Aleppo ( con bò sữa) sẽ là của chúng ta.” Theo quan điểm của mình, bây giờ ông có thể đe dọa toàn bộ bờ biển của quân Thập tự chinh.Sau khi nghỉ một đêm tại của thành Aleppo, Saladin đã hành quân đến Ha-rim, nơi ở gần thành phố Antioch vốn nằm trong tay Thập tự quân . Thành phố này (Ha-rim ) đang được quản lý bởi Surhak, một “Mamluk trẻ tuổi-một đẳng cấp chiến binh có nguồn gốc là nô lệ trong thế giới Hồi giáo thời đó ” Saladin đề nghị đổi thành phố Busra và tài sản tại Damascus để lấy Ha-rim, nhưng khi Surhak đòi hỏi thêm nữa thì chính quân đồn trú của ông tại Ha-rim đã buộc ông phải ra đi. Sau đó ông này bị bắt bởi Phó tướng của Saladin là Taqi al-Din và bị cáo buộc rằng ông đã lập kế hoạch để nhường Ha-rim cho Bohemond III của Antioch ( thủ lĩnh quân Thập tự chinh). Khi Saladin nhận đầu hàng của mình, ông ( Surhak) đã tiến hành sắp xếp việc phòng thủ Ha-rim trước quân Thập tự chinh. Ông cũng báo lại với vị quốc vương và thuộc cấp của mình tại Yemen và Baalbek ( vùng thuộc Lebannon ngày nay) khi họ đang hành quân để tấn công người Armenia. Saladin đã đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn với Bohemond để đổi lấy các tù nhân Hồi giáo bị binh bắt tù bởi ông ta và sau đó ông đã giao thành phố A’zaz cho Alam ad-Din Suleiman và giao Aleppo cho Saif al-Din al-Yazkuj quản lý. Người đầu tiên vốn là một tiểu vương của Aleppo đã đi theo Saladin và và người thứ hai là một cựu Mamluk của Shirkuh, người đã cứu ông khỏi những âm mưu ám sát tại A’zaz.Chiến tranh với MosulKhi Saladin đến gần Mosul, ông phải đối mặt với vấn đề tấn công vào trong một thành phố lớn và biện minh cho hành động của mình. Nhà Zengids của Mosul kêu gọi an-Nasir, tể tướng của triều Abbasid ở Baghdad ủng hộ họ. An-Nasir gửi Badr al-Badr (một nhân vật tôn giáo cao cấp) đến để hòa giải giữa hai bên. Saladin đến thành phố vào ngày 10 tháng 11 năm 1182. Izz al-Din đã không chấp nhận các điều khoản của ông vì ông này coi nó (các điều khoản của Saladin ) là không trung thực và đòi hỏi quá nhiều và Saladin ngay lập tức bao vây thành phố vốn có hệ thống phòng thủ hạng nặng.Sau một vài cuộc đụng độ nhỏ và bế tắc trong các cuộc bao vây được khởi xướng bởi vị quốc vương này, Saladin có ý định tìm một cách để rút lui khỏi cuộc bao vây mà không thiệt hại tới danh tiếng của mình trong khi vẫn giữ một số áp lực về quân sự. Ông quyết định tấn công Sinjar, giờ đây được quản lý bởi Izz al-Din Sharaf, anh trai của al-Din. Thành phố thất thủ sau một cuộc bao vây 15 ngày, đó là ngày 30 tháng 12. Các chỉ huy và binh sĩ của Saladin đã trở nên mất kỷ luật của họ và cướp bóc thành phố; Saladin chỉ bảo vệ viên thống đốc và các sỹ quan của ông này bằng cách gửi họ đến Mosul. Sau khi thiết lập một đơn vị đồn trú tại Sinjar, ông chờ đợi một liên minh được tập hợp bởi Izz al-Din bao gồm các lực lượng của chính ông ta, những người khác đến từ Aleppo, Mardin và Armenia. Saladin và quân đội của ông đã gặp quân liên minh ở Harran vào tháng Hai năm 1183, nhưng khi nghe thấy rằng ông ( Saladin ) đang đến gần, Izz al-Din gửi sứ giả đến Saladin để cầu hòa. Các lực lượng trở lại thành phố của họ.Ngày 02 tháng 3, al-Adil từ Ai Cập đã viết thư cho Saladin và báo rằng Thập tự quân đã tấn công các vùng “trung tâm của đạo Hồi.” Raynald de Châtillon đã gửi tàu đến từ vùng Vịnh Aqaba để đột kích các thị trấn và làng mạc ngoài khơi bờ biển Hồng hải. Đây không phải là một nỗ lực nhằm mở rộng ảnh hưởng của Thập tự quân về phía miền duyên hải hoặc chiếm giữ các tuyến đường thương mại của họ ( người Arab Hồi giáo), mà chỉ đơn thuần là một động thái tựa như cướp biển. Tuy nhiên, Imad al-Din ghi các cuộc tấn công để báo động cho người Hồi giáo vì họ không quen với các cuộc tấn công từ phía biển và Ibn al-Athir cho biết thêm rằng người dân không có kinh nghiệm với Thập tự quân như các chiến binh hoặc thương nhân.Ibn Jubair đã cho biết, mười sáu chiếc tàu của người Hồi giáo đã bị đốt bởi quân Thập tự chinh, sau đó họ lại bắt giữ một con tàu và một đoàn hành hương tại Aidab. Ông cũng cho biết họ dự định tấn công Medina ( đất thiêng của đạo Hồi) và phá hủy l.ă.ng mộ Muhammad. Al-Maqrizi còn cho biết thêm có tin đồn là họ tuyên bố ngôi mộ Muhammad sẽ được chuyển đến lãnh thổ của thập tự quân và như vậy sẽ làm cho người Hồi giáo phải đến và hành hương ở đó. May mắn cho Saladin, al-Adil có tàu chiến của mình di chuyển từ Fustat và Alexandria đến Biển Hồng hải dưới sự chỉ huy của một lính đánh thuê người Armenia. Họ đã phá vỡ vòng phong tỏa của quân Thập tự chinh, phá hủy hầu hết các tàu bè của họ và truy kích bắt giữ những người đang thả neo và chạy trốn vào sa mạc. 170 Thập tự quân bị bắt tù binh và Saladin đã ra lệnh hành quyết họ ở các thành phố Hồi giáo.Từ quan điểm riêng của Saladin thì về lãnh thổ, cuộc chiến tranh chống lại Mosul đang tiến triển tốt, nhưng ông vẫn không đạt được mục tiêu của mình và quân đội của ông đã phải thu hẹp lại; Taqi al-Din đưa người của ông ta trở lại Hama, trong khi Nasir al-Din Muhammad và các lực lượng của ông này cũng rút lui. Điều này khuyến khích Izz al-Din và các đồng minh của mình tổ chức những cuộc tấn công. Quân liên minh lúc này tập hợp lại tại một địa điểm cách Harzam 90 dặm (140 km) từ Harran. Trong đầu tháng 4, không cần chờ đợi sự trở lại của Nasir al-Din và Taqi al -Din, Saladin bắt đầu tiến quân để tấn công quân liên minh, ông tiến quân về hướng đông để không bị ngăn cản bởi Ras al-Ein. Đến cuối tháng Tư, sau ba ngày kể từ ngày “chiến đấu thực sự” dưới sự chỉ huy của Saladin, quân đội Ayyubids đã chiếm được Amid. Ông bàn giao thành phố cho Nur al-Din Muhammad cùng với đồ quân nhu của nó-đó bao gồm 80.000 ngọn nến, rất nhiều mũi tên, và 1.040.000 cuốn sách. Để đáp lại Nur al-Din đã thề trung thành với Saladin, hứa sẽ theo ông trong mỗi chuyến chinh phạt trong cuộc chiến chống quân Thập tự chinh và cho sửa chữa các thiệt hại của thành phố. Sự sụp đổ của Amid, ngoài mặt lãnh thổ nó còn thuyết phục Il-Ghazi của Mardin chạy sang phe Saladin và làm suy yếu liên minh của Izz al-Din.

Saladin đã cố gắng để có được các hỗ trợ của Quốc vương an-Nasir trong việc chống lại Izz al-Din bằng cách gửi cho ông một lá thư về một tài liệu mà có thể làm cho ông ta được biện hộ về mặt pháp luật khi tiếp quản Mosul và vùng lãnh thổ của mình. Saladin nhằm thuyết phục vị quốc vương tuyên bố rằng trong khi ông chinh phục Ai Cập và Yemen dưới lá cờ của triều Abbasids, nhà Zengids của Mosul công khai hỗ trợ người Seljuks (đối thủ của vương quốc Hồi giáo) và chỉ xuất hiện khi vị quốc vương yêu cầu. Ông cũng cáo buộc lực lượng của al-Din Izz gây rối công cuộc “Thánh chiến” của người Hồi giáo chống lại quân Thập tự chinh và nêu rõ “họ không thể chiến đấu ( chống lại quân Thập tự chinh, nhưng họ lại ngăn chặn những người có thể.” Saladin bảo vệ hành vi của mình khi chính ông tuyên bố rằng đến Syria để chống quân Thập tự chinh, để tiêu diệt tổ chức sát thủ Assassins và để kết thúc những sai lầm ngớ ngẩn của người Hồi giáo. Ông cũng hứa rằng nếu Mosul được trao vào tay ông ta thì hậu quả của nó là thành phố Jerusalem, Constantinople, Georgia, và các vùng đất Almohad trong Maghreb “cho đến khi lời của Chúa là tối cao và vương quốc Hồi giáo Abbasid sẽ lan rộng ra khắp thế giới và biến nhà thờ Kitô giáo thành nhà thờ Hồi giáo. ” Saladin nhấn mạnh rằng tất cả điều này sẽ xảy ra do ý muốn của Chúa và thay vì yêu cầu sự hỗ trợ tài chính và quân đội từ quốc vương nhà Abbasid, ông lại cho chiếm và chuyển giao cho họ lãnh thổ của Tikrit, Daquq, Khuzestan, Kish Island và Oman.

Cuộc thánh chiến của Saladine chống quân Thập tự chinh

Trận Hattin – Saladin chiến thắng
Cuộc bao vây Jerusalem – Saladin chiến thắng
Trận Montgisard – Vua Baldwin IV chiến thắng ( Sa ladin bị tiêu diệt 90% tổng số gần 3 vạn quân của mình)
Trận Jacob’s Ford – Saladin chiến thắng
Trận Kerak – Vua Baldwin IV chiến thắng
Trận Cresson – Saladin chiến thắng các hiệp sỹ dòng Đền

Các trận chiến trong cuộc thập tự chinh lần thứ 3
Cuộc bao vây Arce – Vua Richard the Lionheard chiến thắng
Trận Arsuf – Vua Richard the Lionheard chiến thắng
Trận Jaffa – Vua Richard the Lionheard chiến thắng

Các trận đánh này sẽ được lần lượt giới thiệu ở các phần sau

Quan hệ giữa Saladin và Richard the Lionheard của Anh quốc

Các đội quân của Saladin tham chiến với quân đội của vua Richard trong trận Arsuf trong ngày 07 tháng 9 năm 1191, tại đó Saladin đã bị đánh bại. Mọi nỗ lực được thực hiện bởi Richard the Lionheart để chiếm lại Jerusalem đều thất bại. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Saladin và Richard là một trong những sự tôn trọng lẫn nhau giữa các hiệp sỹ và cũng như sự đối đầu của hai thủ lĩnh quân sự. Khi Richard bị mắc bệnh với triệu chứng sốt, Saladin đã gửi hai bác sĩ riêng của mình đến để điều trị cho ông ta. Saladin cũng đã gửi cho ông này những trái cây tươi được ướp trong tuyết lạnh để làm mát đồ uống như là một cách để điều trị bệnh ( nên nhớ là tại Trung Đông quân Thập tự chinh bị chết khát và nắng nóng nhiều hơn bị quân địch giết chết, vậy mà Saladin có tuyết để làm mát đồ uống thì đúng là Tần Thủy Hoàng rồi). Tại Arsuf, khi Richard bị chết mất con ngựa của mình thì Saladin đã gửi tặng ông này hai con thay thế. Richard đã đề xuất với Saladin rằng tại Palestine, Kitô giáo và Hồi giáo có thể có thể được chung sống qua cuộc hôn nhân của Joan của Anh quốc-chị gái của ông kiêm Nữ hoàng của Sicily với anh trai của Saladin và rằng Jerusalem có thể sẽ chở thành món quà cưới [ điều này không bao giờ được thực hiện]. Tuy nhiên hai người đàn ông không bao giờ gặp mặt một cách trực tiếp và giao tiếp giữa hai người đều qua văn bản thư từ hoặc bằng tin nhắn.

Như là các thủ lĩnh của các phe phái của mình, hai người đã đi đến một thỏa thuận trong Hiệp ước Ramla năm 1192, theo đó Jerusalem sẽ vẫn còn trong tay người Hồi giáo nhưng sẽ được mở cho các cuộc hành hương của người Kitô giáo. Theo Hiệp ước này thì các Thành bang Latin của người Thập tự chinh chỉ còn lại một dải dọc theo bờ biển từ Tyre đến Jaffa. Hiệp ước này đã được hai bên nhất trí tôn trọng trong ít nhất ba năm.

Cái chết của Saladin

Saladin chết vì một cơn sốt trong ngày 4 tháng 3 năm 1193, tại Damascus, không lâu sau khi Richard khởi hành về Anh quốc. Tài sản riêng của Saladin tại thời điểm ông qua đời là 1 đồng tiền vàng và 47 đồng bạc. Ông đã cho phần tài sản lớn của mình cho những thần dân nghèo đói của mình và không có đủ tiền để trả cho đám tang của chính ông. Ông được chôn cất trong một l.ă.ng mộ trong khu vườn bên ngoài nhà thờ Hồi giáo Umayyad ở Damascus, Syria.

Bảy thế kỷ sau đó, Hoàng đế Wilhelm II của Đức trao tặng chiếc quách bằng đá cẩm thạch mới ở l.ă.ng mộ của ông. Tuy nhiên Saladin lại không được đặt ở trong đó. Thay vào đó l.ă.ng mộ được mở cửa cho du khách, hiện nay có hai chiếc quách: một chiếc để trống làm bằng đá cẩm thạch và các chiếc kia được làm bằng gỗ có thể thực sự là dùng để an táng Saladin.

 

Một số trận đánh giữa Saladin và quân thập tự chinh trước khi nổ ra cuộc Thập tự chinh lần 3

Trận Hattin

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: ngày 4 tháng 7 năm 1187
Địa điểm: tại làng Hittin ở gần vùng Tiberia
Kết quả: Triều Ayyubid chiến thắng chiến lượcCác bên Tham chiếnNgười Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem
Hiệp sĩ Templar
Knights Hospitaller
Hiệp sỹ St. Lazarus
Công quốc Antioch

Chỉ huy

Guy của Lusignan
Raymond III của Tripoli
Gerard de Rideford
Balian của Ibelin
Raynald của Châtillon

Lực lượng : 20.000 quân

  • 15.000 bộ binh
  • 1.200 hiệp sĩ
  • 500 cung kỵ

Thương vong và thiệt hại : Khoảng 17.000 người cả bị chết và bắt tù binh

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy :Saladin

Lực lượng : Khoảng 30.000 quân

Thương vong và thiệt hại : Không có số chính xác nhưn nhẹ hơn quân Thiên chúa giáo nhiều lần

Trận Hattin diễn ra vào ngày thứ Bảy mồng 4 tháng 7 năm 1187, giữa Vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh và lực lượng của triều đại Ayyubid ( của Ai Cập và Syria).

Quân đội Hồi giáo dưới sự chỉ huy của Saladin đã bắt hoặc giết chết phần lớn lực lượng của người Thập tự chinh và loại bỏ khả năng theo đuổi chiến tranh của họ. Kết quả trực tiếp của trận chiến là lực lượng Hồi giáo lại một lần nữa trở thành quyền lực quân sự hùng mạnh nhất tại vùng Đất Thánh, người Hồi giáo đã tiến hành tái chiếm thành công Jerusalem và các thành phố cứ điểm chiến lược khác của Thập tư quân tại Palestine. Việc người Kitô giáo bị đánh bại đã dẫn đến một cuộc Thập tự chinh lần thứ ba được bắt đầu hai năm kể từ sau trận Hattin.

Trận chiến diễn ra gần Tiberias ở Israel ngày nay. Bãi chiến trường ở gần thị trấn Hittin, về mặt địa lý thì đây là một ngọn đồi đôi ( “Sừng của Hattin”) bên cạnh một con đèo nối vùng núi phía bắc giữa Tiberias và đường từ thành phố Acre ở phía tây. Con đường Darb al-Hawarnah được xây dựng bởi người La Mã là con đường đông-tây nối giữa các pháo đài ở Jordan, bờ biển Galilee với bờ biển Địa Trung Hải.

Bối cảnh nổ ra trận đánh

Guy của Lusignan trở thành vua của Jerusalem năm 1186, để thay mặt Sibylla-vợ ông, sau cái chết của Baldwin V-con trai của Sibylla. Vương quốc Jerusalem là vào thời gian này bị chia rẽ giữa “phe Triều đình” của Guy, Sibylla, và những người có liên quan đến vương quốc như Raynald của Châtillon, cũng như Gerard của Ridefort-đại sư phụ của Hiệp sĩ Templar và “‘phe quý tộc” dẫn đầu bởi Raymond III của Tripoli, người đã là nhiếp chính cho nhà vua trẻ Baldwin V ( cháu trai của vua bị bệnh hủi Baldwin IV) và đã phản đối kế của Guy. Quá chán nản Raymond của Tripoli chỉ còn cách ngồi nhìn những quý tộc trẻ tuổi của Jerusalem l.ă.ng xăng làm lễ cúi đầu trước nhà vua Guy và hoàng hậu Sibylla. Vị thủ lĩnh vĩ đại của xứ Tripoli quyết định phi ngựa theo chiều ngược lại, lên thung lũng sông Jordan để đến Tiberias. Tình hình rất căng thẳng và gần như sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh giữa Raymond và Guy-người đã muốn bao vây Tiberias, một pháo đài được nắm giữ bởi Raymond qua hôn nhân, vợ ông là Eschiva-Quận chúa của Galilee. Chiến tranh đã được tránh khỏi thông qua sự hòa giải của Balian xứ Ibelin người ủng hộ Raymond.

Trong khi đó, các quốc gia Hồi giáo xung quanh vương quốc Jerusalem đã được thống nhất trong những thập kỷ 1170 và 1180 bởi Saladin. Saladin đã được bổ nhiệm làm tể tướng của triều đình Ai Cập trong năm 1169 và nhanh chóng cai trị đất nước như một ông vua. Năm 1174, ông đã áp đặt sự cai trị của mình vào Damascus, quyền lực của ông kéo dài đến Aleppo vào năm 1176 và Mosul vào năm 1183. Lần đầu tiên, Vương quốc Jerusalem bị bao quanh bởi một lãnh thổ thống nhất của người Hồi giáo dưới sự cai trị của duy nhất một quân vương. Quân viễn chinh đã đánh bại Saladin ở Trận Montgisard trong năm 1177, và trong những năm đầu của thập kỷ 1180 hai bên đã có một thỏa thuận ngừng bắn mà nó vốn không làm thỏa mãn cả hai phe, rồi thỏa thuận này bị phá vỡ bởi các cuộc đột kích của Raynald vào các đoàn xe Hồi giáo đi qua lãnh địa của ông ở Oultrejordain. Raynald lại còn đe dọa sẽ tấn công vào chính thánh địa Mecca của người Hồi giáo.

Khi Guy trở thành vua, Raymond đã thực hiện một thỏa thuận ngừng bắn riêng rẽ với Saladin và năm 1187 cho phép quốc vương Hồi giáo gửi một đội quân vào phía bắc của vương quốc Jerusalem. Đồng thời, lúc đó có một phái đoàn đang trên đường từ Jerusalem đến Tripoli để thương lượng một cuộc hòa giải giữa Raymond và Guy. Phái đoàn này đã bị đánh bại tại trận Cresson vào tháng 1, bởi một lực lượng nhỏ dưới sự chỉ huy của Al-Afdal. Raymond ăn năn với tội lỗi của mình ( vì đã để cho người Hồi giáo vượt qua đất của mình và đột kích vào Jerusalem) đã tìm cách hòa giải với Guy, người lúc này đang tập hợp toàn bộ quân đội của vương quốc và tiến về phía Bắc để ứng chiến với Saladin.

Cuộc vây hãm Tiberias

Sau khi hòa giải, Raymond và Guy đã gặp nhau ở Acre với số lượng lớn của quân đội thập tự chinh. Theo tuyên bố của một số nguồn tin châu Âu, đội quân này bao gồm 1.200 hiệp sĩ, một số lượng lớn kỵ binh hạng nhẹ và có lẽ có tới 10.000 lính bộ binh bao gồm cả lính bắn nỏ vốn được bổ sung từ các hạm đội thương đoàn của Ý cùng một số lượng lớn lính đánh thuê ( lính cung kỵ Turcopoles khả năng là người Thổ?) với tiền thuê được tài trợ bởi quốc vương Henry II của nước Anh. Ngoài ra họ còn mang theo với quân đội thánh tích của True Cross bởi giám mục của Acre, mang nó thay cho giáo trưởng Heraclius ốm yếu.

Ngày 02 tháng 7, Saladin muốn thu hút Guy di chuyển quân đội của ông ta ra khỏi Saffuriya nên bản thân ông đã dẫn đầu một cuộc bao vây của pháo đài của Tiberias Raymond, trong khi lực lượng chính của quân Hồi giáo đã ở lại Kafr Sabt. Các đơn vị đồn trú tại Tiberias tìm cách trả tiền cống nộp cho Saladin nhưng ông đã từ chối. Pháo đài bị thất thủ trong cùng ngày hôm đó, một tháp canh bị đào hầm và nó đã sụp đổ, quân của Saladin xông vào và chỉ chém giết những người còn cố gắng chống cự số còn lại thì bắt tù binh.

Eschiva-vợ của Raymond bị bao vây trong tòa thành này. Và khi việc đào hầm được bắt đầu để phá các bức tường thành, Saladin đã nhận được thông tin là Guy đã cho di chuyển quân đội người Frank ( người Hồi giáo gọi chung những Thập tự quân đến từ châu Âu là người Frank) của mình về phía Đông. Vị thủ lĩnh Thập tự quân đã bị mắc bẫy.

Quyết định của Guy rời khỏi hệ thống phòng thủ an toàn của ông cũng là kết quả của một cuộc họp của hội đồng chiến tranh của Thập tự quân được tổ chức vào đêm ngày 02 tháng 7. Mặc dù các báo cáo về những gì đã xảy ra tại cuộc họp này là bị ảnh hưởng bởi thành kiến do mối hận thù cá nhân giữa những người Frank, có vẻ như Raymond đã lập luận rằng một cuộc hành binh từ Acre để đến Tiberias chính xác là những gì mà Saladin mong muốn trong khi Sephoria là một vị trí mạnh mẽ cho quân Thập tự chinh để phòng thủ. Hơn nữa, Guy không nên lo lắng về Tiberias vì đây chỉ là một tài sản cá nhân của Raymond và sẵn sàng từ bỏ nó vì sự an toàn của vương quốc. Để đối phó với lập luận này, và mặc dù đã có sự hòa giải giữa họ (phe Triều đình mạnh hơn), Raymond đã bị buộc tội hèn nhát bởi Gerard và Raynald. Hai người kia đã gây ảnh hưởng vào Guy để ông này hạ lệnh tấn công ngay lập tức.

Do đó Guy ra lệnh cho quân đội hành quân để tấn công vào Saladin ở Tiberias, đó thực sự là những gì mà Saladin đã lên kế hoạch, vì ông đã tính toán rằng đánh bại quân viễn chinh chỉ trong một trận trên chiến trường thì dễ dàng hơn là đào công sự bao vây của họ.

Trận chiến

Quân viễn chinh bắt đầu hành quân từ Sephoria vào ngày 03 tháng 7. Raymond dẫn đầu đội tiên phong; Guy chỉ huy đội trung quân còn Balian, Raynald và các Hiệp sỹ thánh chiến thì tạo thành các hậu đội. Các quân viễn chinh đã gần như ngay lập tức bị theo đuôi và quấy rối từ các khinh binh của Hồi giáo từ trên lưng ngựa.

Vẫn còn chín dặm nữa (14 km) mới đến được Tiberias. Mới chỉ hành quân được có nửa ngày, bất kỳ mọi cố gắng để đi tìm nguồn nước chắc chắn sẽ chở thành mục tiêu ( của người Hồi giáo ) trong ngày hôm đó, trong khi họ vẫn phải chịu đựng các cuộc tấn công quấy rối liên tục của quân đội của Saladin, thật quá là dại dột. (Năm 1182 quân đội Frank chỉ có thể tiến 8 dặm (13 km) trong một ngày để đối mặt với đối phương và năm 1183 Guy đã rất cố gắng nhưng chỉ tiến được sáu dặm (10 km) trong một tình huống tương tự, trong một ngày.) Tuy nhiên, là Saladin đã viết, “quỷ Satan đã xúi giục Guy làm những gì đi ngược lại mục đích của mình.” Đó là, vì lý do gì không rõ, Guy tiếp tục ra lệnh trong buổi chiều hôm đó, tiếp tục tiến binh về phía trước và về phía Tiberias.

Trong các trận giao tranh sau đó, hậu đội của quân Frankish đã bị buộc phải ngừng lại bởi các cuộc tấn công liên tục và do đó đã giữ cho toàn bộ quân đội của họ phải đóng trên cao nguyên. Do đó quân viễn chinh bị buộc phải hạ trại và họ lúc này hoàn toàn bị bao quanh bởi người Hồi giáo. Vào lúc này họ hoàn toàn không còn nước uống cũng không hy vọng nhận được bất kỳ quân nhu hay tiếp viện.

Sáng ngày 04 tháng 7, quân viễn chinh đã bị mất tầm nhìn do khói từ các đám cháy mà lực lượng của Saladin đã đốt để thêm vào đau khổ cho quân đội của người Frank, qua các làn khói này kỵ binh Hồi giáo đã bắn vào họ 400 bó tên vốn đã được đưa đến trong buổi đêm. Gerard và Raynald khuyên Guy tạo thành đường chiến đấu và tấn công và nó đã được thực hiện bởi Amalric- anh trai của Guy. Raymond chỉ huy đạo quân đầu tiên với Raymond của Antioch, con trai của Bohemund III của Antioch, trong khi Balian và Joscelin III của Edessa tạo nên các hậu đội. Trong khi việc ngày được tiến hành có năm hiệp sĩ của Raymond đã đào thoát sang phía Saladin và kể với họ về tình hình khủng khiếp trong doanh trại của quân thập tự chinh.

Quá khát và mất tinh thần, quân viễn chinh đã bỏ trại của họ và đổi hướng quay về khúc đường cong ở Hattin, nhưng các đợt tấn công của họ rất lẻ tẻ và bị nghiền nát bởi quân đội của Saladin đang chặn đường và không cho phép xẩy ra bất cứ một cuộc rút lui nào. Bá tước Raymond tung ra hai đợt tấn công trong một nỗ lực để đột phá và để tìm nguồn cung cấp nước tại Biển Galilee. Sau đợt tấn công lần thứ 2 ông thấy mình bị cắt ra khỏi đội quân chính và bị buộc phải rút lui. Hầu hết các lính bộ binh của quân thập tự chinh đã bỏ chạy bằng cách di chuyển trên các sừng của Hattin. Guy đã cố gắng một lần nữa để ngăn chặn kỵ binh Hồi giáo, nhưng vì không có bộ binh bảo vệ ngựa của các hiệp sĩ đã bị bắn hạ bởi các cung thủ Hồi giáo và thế là các kỵ binh đã buộc phải bỏ ngựa để chiến đấu. Sau đó, họ cũng rút về phía Horns.

Giờ đây, quân viễn chinh đã bị bao vây và, mặc dù họ đã tung ra ba cuộc phản công đầy tuyệt vọng vào vị trí của Saladin, cuối cùng tất cả các cuộc phản công này đều đã bị đánh bại. Một tài liệu được ghi lại bởi nhân chứng của sự kiện này-chính là al-Afdal, con trai của Saladin. Được trích dẫn bởi Ibn al-Athir:

Khi vua của người Frank [Guy] rút lên trên ngọn đồi với binh lính của ông ta, họ đã tiến hành một đợt xung phong cực kỳ ghê gớm vào những người Hồi giáo phải đối mặt với họ, và họ đã xua được những người này ( người Hồi giáo ) xuống chỗ của cha tôi [Saladin]. Tôi nhìn về phía ông và ông đã khắc chế được sự lo lắng ( sợ người Thập tự chinh phá được vây ) và da của ông xám lại. Ông đã giữ lấy bộ râu của mình rồi tiến lên và hô to “Hãy bắt Quỷ dữ nằm xuống!” người Hồi giáo tập hợp, quay trở lại để chiến đấu và leo lên ngọn đồi. Khi tôi thấy rằng người Frank rút lui và bị truy đuổi bởi những người Hồi giáo, tôi hét lên vì vui mừng, “Chúng tôi đã đánh bại họ!” Tuy nhiên, người Frank đã tập hợp lại và lại tấn công một lần nữa cũng dữ dội như lần đầu tiên rồi lại đẩy người Hồi giáo xuống chỗ cha tôi. Ông lặp lại hành động như ông đã làm vào lần đầu tiên và người Hồi giáo lại quay lại và đẩy người Frank trở lại ngọn đồi. Tôi lại hét lên, “Chúng ta đã đánh bại họ!” nhưng cha tôi nhìn thẳng vào tôi và nói, “Hãy yên lặng đi! Chúng ta vẫn chưa đánh bại họ cho đến khi chiếc lều [của Guy] đổ xuống” Đúng lúc ông đang nói chuyện với tôi, thì chiếc lều đổ xuống. Nhà vua xuống ngựa và làm lễ lạy tạ ơn Chúa Toàn Năng và khóc trong niềm vui sướng.

Hậu quả

Người Hồi giáo đã chiếm được chiếc lều hoàng gia của vua Guy, cũng như chiếc Thánh tích True Cross sau khi Đức Giám mục của Acre bị giết trong cuộc chiến. Các tù binh bao gồm Guy, Amalric II-anh trai của ông, Raynald, William V của Montferrat, Gerard de Ridefort, Humphrey IV của Toron, Hugh của Jabala, Plivain của Botron, Hugh của Gibelet, và nhiều người khác. Có lẽ chỉ khoảng 3.000 Kitô hữu chạy thoát khỏi chiến trường. Tài liệu ẩn danh De Expugnatione Terrae Sanctae per Saladinum Libellus cho rằng Raymond, Joscelin, Balian và Reginald của Si-đôn đã chạy trốn khỏi bãi chiến trường vào lúc giữa trận đánh và chà đạp lên cả “các Kitô hữu, người Thổ Nhĩ Kỳ và cả thập giá” trong quá trình chạy trốn, nhưng điều này không được chứng thực bởi các tài liệu khác và phản ánh thái độ thù địch của tác giả với Polein-phe quý tộc của Raymond xứ Tripoli.

Những kẻ bị giam cầm đã kiệt sức được đưa đến lều của Saladin, nơi Guy được mời một cốc nước đá như thể hiện một dấu hiệu của sự hào phóng của Saladin. Khi Guy chuyển chiếc cốc cho Raynald-người đồng bào của ông, Saladin đã cho phép ông già này uống (Raynald đã khoảng 60 tuổi), nhưng ngay sau đó nói rằng ông không muốn mời nước cho Raynald và không bị ràng buộc bởi các quy tắc hiếu khách của người Hồi giáo. Khi Saladin buộc tội Raynald phá bỏ lời tuyên thệ ( về hiệp ước đình chiến trước đó ), Raynald trả lời ” các vị vua vẫn luôn luôn hành động như vậy, tôi cũng làm như vậy. Không có gì hơn.” sau đó Saladin tự tay chặt đầu Raynald và chặt đầu ông ta bằng thanh kiếm của mình. Guy quỳ xuống ( để đợi bị chặt đầu) khi nhìn thấy xác chết của Raynald nhưng Saladin ra lệnh cho binh lính của mình đỡ ông ta đứng lên, nói rằng “người đàn ông này đã bị giết chết chỉ vì bản tính tàn ác và sự phản trắc của mình.”

Thánh tích True Cross đã bị đóng lộn ngược trên đầu một giáo và được gửi tới Damascus. Một số người của Saladin lúc này rời khỏi quân ngũ, mang theo các tù nhân người Frank với họ như những nô lệ.

Ngày chủ nhật mùng 5 tháng bảy, Saladin hành quân thêm sáu dặm (10 km) để chiếm Tiberias và Nữ bá tước Eschiva đã ra lệnh cho chiếc pháo đài của thành phố đầu hàng. Bà ta được phép rời đến Tripoli với tất cả gia đình và tài sản. Raymond của Tripoli, sau khi thoát khỏi trận chiến đã chết vì viêm màng phổi vào cuối năm 1187 ( khả năng bác này hít quá nhiều khói trong trận đánh ).

Ngày thứ hai mùng 6 tháng 7, hai ngày sau khi trận chiến nổ ra, Các tù binh là hiệp sỹ dòng Đền ( Templar ) và Hiệp sỹ cứu tế ( Hospitaller) có cơ hội để chuyển đổi sang đạo Hồi ( khả năng là có ít người xin chuyển, đa số nhận cái chết).

Cuộc hành quyết được tiến hành (một trong chỉ hai mệnh lệnh hành quyết tù nhân được ra lệnh bởi Saladin). Trong một hành động để tỏ tình đoàn kết, nhiều người trong số các thập tự quân bị bắt cũng nhận làm hiệp sĩ Templar, để người của Saladin chặt luôn đầu của họ. Saint Nicasius, một Hiệp sỹ cứu tế (Hospitaller Knight) được tôn kính như là một liệt sĩ của Kitô giáo, được cho là một trong những nạn nhân. Guy được đưa tới Damascus như là một tù nhân và những người khác cuối cùng đã được chuộc. Đến giữa tháng Chín, Saladin đã chiếm Acre, Nablus, Jaffa, Toron, Sidon, Beirutn và Ascalon. Tyre được cứu bởi sự xuất hiện bất ngờ của Conrad của Montferrat. Jerusalem đã được bảo vệ bởi Nữ hoàng Sibylla, Giáo trưởng Heraclius và Balian, người sau đó thương lượng đầu hàng của Jerusalem với Saladin trong ngày 02 tháng 10

Tin tức về sự thất bại thảm hại tại Hattin được đưa đến châu Âu bởi Joscius, Đức-giám-mục của Tyrre, cũng như những người hành hương khác. Kế hoạch đã ngay lập tức thực hiện cho một cuộc thánh chiến mới; Giáo hoàng Gregory VIII đã ban hành sắc lệnh Audita tremendi và ở Anh và Pháp thuế thập phân Saladin đã được ban hành để tài trợ chi phí của cuộc Thập tự chinh mới.

Tuy nhiên cuộc Thập tự chinh lần thứ ba đã không được tiến hành cho đến năm 1189, nó cũng đã tạo ra ba đội ngũ Thập tự quân riêng biệt do Richard Lionheart, Philip Augustus, và Frederick Barbarossa chỉ huy.

Trận chiến

Saladin tiếp tục cuộc hành binh của ông về hướng Jerusalem và nghĩ rằng Baldwin sẽ không dám bám theo ông chỉ với một toán quân lèo tèo vài người như vậy. Ông đã tấn công các vùng Ramla, Lydda và Arsuf, nhưng vì cho rằng Baldwin không phải là một mối nguy hiểm, ông cho phép quân đội của mình dàn trải ra trên một diện tích lớn để cướp bóc và tìm kiếm lương thực. Tuy nhiên, Saladin lại chưa biết rằng lực lượng mà ông để lại để ngăn chặn vị vua của Jerúalem là không đủ và bây giờ cả Baldwin và các Hiệp sỹ Templar đã hành quân để đánh chặn ông ta ( Saladin) trước khi ông tới được Jerusalem.

 

Cuộc vây hãm Jerusalem (1187)

Cuộc vây hãm Jerusalem đã diễn ra từ ngày Ngày 20-02 tháng 10, 1187. Nó dẫn đến sự tái chiếm của Jerusalem của Saladin, và làm sụp đổ gần như toàn bộ Vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh. Điều này đã kích động cuộc Thập tự chinh lần thứ ba bằng cách tạo ra mục tiêu chính của nó – chiếm lại Jerusalem cho người Thiên Chúa giáo lần thứ hai.Bối cảnhVương quốc Jerusalem, bị suy yếu do tranh chấp nội bộ, đã hoàn toàn đánh bại trong trận Hattin vào ngày 04 tháng 7 năm 1187. Hầu hết các quý tộc của vương quốc này đã bắt làm tù binh, trong đó có vua Guy và trong suốt mùa hè Saladin nhanh chóng tràn vào vương quốc. Đến giữa tháng 9, Saladin đã chiếm được Acre, Nablus, Jaffa, Toron, Sidon, Beirut và Ascalon. Những người sống sót trong những trận chiến và người tị nạn khác đã trốn sang Tyre, thành phố chỉ có thể cầm cự chống lại Saladin do có sự xuất hiện bất ngờ của Conrad của Montferrat.Tình hình tại JerusalemTại Tyre, Balian của Ibelin đã yêu cầu Saladin cho ông ta đến Jerusalem an toàn để đón vợ là Maria Comnena và gia đình của họ. Saladin chấp nhận yêu cầu của ông, miễn là Balian không cầm vũ khí để chống lại ông và không ở Jerusalem nhiều hơn một ngày. Tuy nhiên, khi đến thành phố thánh, giáo trưởng Heraclius, Nữ hoàng Sibylla và những người dân còn lại xin ông phụ trách bảo vệ thành phố. Heraclius-người đã lập luận rằng ông phải ở lại vì lợi ích của Kitô giáo cấp sự tha thứ cho việc ông vi phạm lời thề và Balian đã đồng ý.Ông đã gửi tin nhắn về quyết định của mình đến Saladin ở Ascalon, thông qua một đại diện của tầng lớp thị dân, những người đã từ chối lời đề nghị của quốc vương Hồi giáo về một cuộc thương lượng cho sự đầu hàng của Jerusalem. Tuy nhiên, Saladin vẫn bố trí một đội hộ tống để đưa Maria cùng con cái và tất cả gia đình của họ đến Tripoli. Bởi vì ông ta là lãnh chúa có thứ hạng cao nhất còn lại ở Jerusalem, theo nhà sử gia Ibn al-Athir, Balian được nhìn thấy bởi những người Hồi giáo như là đang nắm giữ vị trí “ít nhiều ngang ngửa với một vị vua.”Balian thấy tình hình ở Jerusalem cực kỳ thảm khốc. Thành phố lúc này đầy ắp những người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc chinh phục của Saladin và tiếp tục kéo đến đông hơn hàng ngày. Có ít hơn mười bốn hiệp sĩ trong toàn thành phố, do đó, ông đã phong sáu mươi hiệp sĩ mới từ cấp bậc Squiresvõ-sinh thực tập (con cái những quý tộc muốn chở thành Hiệp sỹ phải đi làm võ sinh cho một Hiệp sỹ càng danh tiếng càng tốt) và thị dân. Ông chuẩn bị lưu trữ thực phẩm và tiền bạc cho một cuộc vây hãm không thể tránh khỏi do. Quân đội của Syria và Ai Cập đã được dưới sự chỉ huy của Saladin và sau một cuộc bao vây ngắn vào Tyre không thành công, quân đội của Sultan đã đến bên ngoài Jerusalem vào ngày 20.

Người ta không biết Saladin đã mang đến Jerusalem bao nhiêu binh sĩ. Một số người tin rằng quốc vương Hồi giáo đã tập trung quân Hồi giáo, những người còn sống sót tại Horn của Hattin, cùng với một vài ngàn binh sĩ khác đến từ Syria và Ai Cập. Nhưng những người khác lại tin rằng những con số có thể đã lên tới 200.000 người, đó là số binh sĩ lớn nhất mà Saladin có trong toàn bộ quân đội của mình.

Trận vây hãmCác cuộc đàm phán đã được tiến hành giữa Saladin và Balian, thông qua sự trung gian của Batit Yusuf, một trong những giáo sĩ củaChính thống giáo phương Đông, phần lớn trong số họ bị đàn áp bởi sự cai trị của Thiên chúa giáo La tinh và biết rằng họ sẽ có nhiều quyền tự do hơn nếu thành phố được trả lại cho người Hồi giáo. Saladin muốn có thành phố mà không có đổ máu, nhưng những người bên trong lại từ chối rời khỏi thành phố thánh của họ, và họ thề sẽ phá hủy nó trong chiến đấu cho đến chết còn hơn là nhìn thấy nó được chuyển giao một cách hòa bình. Do đó cuộc bao vây được bắt đầu.

Quân đội của Saladin đã phải đối mặt với Tháp David và cổng Damascus. Các cung thủ của ông liên tục dội tên vào hệ thống đồn lũy kiên cố. Mỗi lần.những chiếc Tháp công thành được đẩy về phía các bức tường nhưng lại bị đẩy trở lại. Trong sáu ngày, các cuộc giao tranh đã có kết quả là hàng ngàn người Hồi giáo và Saracens thiệt mạng. Ngày 26 tháng 9, Saladin đã cho di chuyển trại của mình đến một phần khác của thành phố, trên núi Olives, nơi không có cửa chính mà từ đó quân viễn chinh có thể phản công. Các bức tường được liên tục bị bắn phá bởi các máy công thành catapult, mangonel, petrary, lửa Hylạp, cung nỏ… Một phần của bức tường đã bị đào hầm và nó sụp đổ vào ngày 29. Quân viễn chinh đã không thể đẩy quân đội của Saladin trở vị trí ban đầu nhưng đồng thời người Hồi giáo không thể chiếm được lối vào thành phố. Người Hồi giáo lúc này đông hơn quân viễn chinh nhiều lần và ( Quân thập tự chinh ) chỉ còn có độ hai tá hiệp sĩ và một số binh sỹ còn lại có khả năng mang vũ khí và bảo vệ các bức tường, không còn tìm ra nhiều người nữa ngay cả khi hứa trả một khoản tiền rất lớn.

Một số lớn thường dân đã tỏ ra cực kỳ tuyệt vọng. Theo một đoạn văn có thể được viết bởi Ernoul, một võ sinh của Balian, trong bản Old French Continuation of của William xứ Tyre, các giáo sĩ đã tổ chức một đám rước chân trần trên các bức tường, nhiều giáo sĩ tham gia vào cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng đã tiến hành một đám rước chân trần bên ngoài các bức tường năm 1099. Tại Mount Calvary, phụ nữ trẻ em cắt tóc của họ, sau khi ngâm chúng sâu tới cằm trong những chậu nước lạnh. Những hành động thể hiện sự sám hối được nhằm chuyển cơn thịnh nộ của Thiên Chúa ra khỏi thành phố, nhưng ” … Chúa Giêsu đã không đoái hoài đến để nghe những lời cầu nguyện hoặc tiếng ồn đã được thực hiện trong thành phố nghìn năm. Đối với mùi hôi thối của tội ngoại tình, sự kinh tởm của lãng phí và các tội khác chống lại con người sẽ không làm cho lời cầu nguyện của họ đến được tai của Thiên Chúa. “

Các cuộc đàm phán giữa Balian và Saladin

Vào cuối tháng Chín, Balian đã cử ra một sứ giả để đáp lại yêu cầu của quốc vương Hồi giáo, đó chính là việc đầu hàng mà ông đã bước đầu từ chối. Saladin đã không chấp nhận sự đàn phán này vì có thể thấy rằng khi họ đang nói chuyện thì người của ông ( Saladin) tiếp tục bắn phá các bức tường và lại tiến lên với những chiếc thang của họ. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau thập tự quân lại đẩy lùi được cuộc tấn công của họ. Saladin bằng lòng, và hai đồng ý rằng thành phố sẽ được bàn giao cho Saladin một cách hòa bình, và tìm cách ngăn ngừa các cuộc thảm sát hàng loại đã xảy ra khi quân viễn chinh chiếm thành phố vào năm 1099. Vị sultan nhận được một khoản tiền chuộc hai mươi đồng bezant cho nam giới, mười đồng cho phụ nữ, và năm đồng cho trẻ em, nhưng những người không thể trả được sẽ bị bán làm nô lệ. Balian lập luận rằng yêu cầu này là vô nghĩa vì có nhiều người không thể trả nổi tiền, có lẽ có đến 20.000 người tị nạn từ các nơi khác đến tại vương quốc này.

Sau khi ( Balian) trở về Jerusale, người ta đã quyết định rằng bảy ngàn trong số những người dân nghèo có thể được chuộc từ tiền lấy ra từ kho bạc mà vua Henry II của Anh quốc đã lập nên ở đó, vốn dĩ kho bạc này được bảo vệ bởi các Hospitaller ( Hiệp sỹ cứu tế). Tiền này được sẽ sử dụng bởi Henry cho một cuộc hành hương hay một cuộc thánh chiến, trong việc đền tội cho cái chết của Thomas Becket ( còn cụ thể là ntn thì lại phải xem tiểu sử của Henry II của Anh quốc) nhưng nhà vua không bao giờ đến Jerusalem và một phần ngân quỹ đã được sử dụng để trả tiền cho lính đánh thuê trong trận Hattin.

Balian và Saladin lại gặp một lần nữa và lần này vị quốc vương Hồi giáo đã đồng ý giảm khoản tiền chuộc xuống mười bezant cho một người nam giới, năm cho phụ nữ, và một cho trẻ em. Balian vẫn cho rằng thế là quá lớn và Saladin đề nghị một khoản tiền chuộc là 100.000 bezant cho tất cả các cư dân. Balian vẫn nói là điều không thể và Saladin nói rằng ông sẽ đòi tiền chuộc bảy ngàn người không thấp hơn 50.000 bezant. Cuối cùng, cả hai đã quyết định phí để trả cho Saladin để có sự tự do của bảy ngàn người là 30.000 bezants; hai người phụ nữ hoặc mười trẻ em sẽ được phép thay thế bởi một người đàn ông cho cùng một giá ( tức là cứ một người đàn ông chấp nhận bị bắt làm nô lệ sẽ cứu được 2 phụ nữ hoặc 10 trẻ em – đã số binh lính của Jerusalem đã chấp nhận làm điều này).

Jerusalems đầu hàng

Balian bàn giao chìa khóa của tháp David, các thành lũy vào ngày 02 tháng 10. Người ta đã được thông báo rằng mọi người dân có khoảng một tháng để trả tiền chuộc của họ, nếu họ có thể (độ dài của thời gian có lẽ là 3-50 ngày, tùy thuộc vào nguồn). Saladin đã hào phóng và giải phóng một số trong những người bị buộc làm nô lệ; anh trai của ông Saphadin cũng làm như vậy ( tiền chuộc được chia cho từ vua đến lính Hồi giáo-về phần của Saladin ông đã không nhận tiền), và cả Balian và Heraclius tìm cách giải phóng nhiều người khác với tiền riêng của họ. Họ đã tự làm con tin cho các công dân còn lại (ít nhất là vài nghìn người) vì không có tiền chuộc để trả nhưng Saladin đã từ chối.

Saladin cho phép cho một cuộc ra đi trong trật tự từ Jerusalem. Các cư dân đã trả tiền chuộc đi trong ba cột; các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller dẫn đầu hai cột đầu tiên còn Balian và vị giáo trưởng dẫn đầu cột thứ ba. Balian được phép đoàn tụ với gia đình nhà vợ và sống ở Tripoli. Heraclius đã được cho là có sơ tán một số bảo vật của nhà thờ và các hòm đựng thánh tích theo nhà sử gia Hồi giáo Imad ad-Din al-Isfahani mặc dù ông đã góp phần vào việc quyên góp tiền chuộc.

Saladin cho phép người Kitô giáo được hành hương tới Jerusalem, và cho phép Nhà thờ của Thánh Sepulchre vẫn còn thuộc về Thiên chúa giáo. Để quảng bá tuyên bố của Hồi giáo về Jerusalem, nơi có nhiều địa điểm mang tính Đất thánh bao gồm những được gọi là Đền thờ Hồi giáo Al-Aqsa Mosque đã được tiến hành nghi thức thanh tẩy với nước hoa hồng. Ông ( Saladin ) tiếp tục chiếm giữ một số pháo đài khác vẫn ra sức chống lại ông ta, bao gồm cả Belvoir, Kerak và Montreal và quay lại Tyre để bao vây nó lần thứ hai.

Cùng với thất bại thảm hại của Quân Thập tự chinh ở trận Hattin, sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem đã làm chấn động châu Âu thời bấy giờ. Thậm chí người ta nói rằng khi nghe tin Jerusalem thất thủ Giáo hoàng Urban III đã ngã lăn ra chết vì đau tim. Nhà thờ Thiên chúa giáo Tây Âu sôi lên sùng sục để kêu gọi một cuộc thập tự chinh lần thứ 3, và sau 2 năm chuẩn bị cuộc thập tự chinh lần thứ 3 đã được bắt đầu bởi 3 nhà lãnh đạo của 3 vương quốc Thiên chúa giáo hùng mạnh nhất Tây Âu, đó là: Richard Lionheart của Ang quốc, Philip Augustus của Pháp quốc, và Frederick Barbarossa của Đức quốc. Nhưng tiếc thay ba người này lại chẳng ưa gì nhau mà có khi họ lại ghét nhau hơn cả ghét người Hồi giáo, kết quả là cuộc Thập tự chinh lần thứ 3 lại thất bại.

 

Balian của Ibelin

Balian của Ibelin (đầu những năm 1140-1193) là một nhà quý tộc quan trọng trong vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh trong thế kỷ 12.

Tuổi trẻ

Sau cái chết của người anh trai cả của Balian tên là Hugh năm 1169, lâu đài của nhà Ibelin được truyền lại cho Baldwin- em trai kế tiếp của ông này. Nhưng Baldwin lại thích ở lại lãnh chúa của Ramla nên đã trao nó cho Balian. Balian nhận Ibelin và chở thành một chư hầu của anh trai mình và gián tiếp chở thành một chư hầu của nhà vua Jerusalem kể từ khi Baldwin tiếp tục giữ Ramla.

Tranh chấp thừa kế ngai vàng của JerusalemBaldwin hỗ trợ Raymond III của Tripoli trong phe đ.ả.ng quý tộc Miles of Plancy như là nhiếp chính cho vua Baldwin IV năm 1174 và năm 1177 anh em họ đã có mặt tại trận Montgisard, nơi mà đội tiên phong hàng đầu đã xung phong và đánh thắng những vị trí mạnh nhất trong đội hình của quân Hồi giáo. Năm đó Balian kết hôn với Maria Comnena, góa phụ của vua Amalric I và trở thành cha dượng của công chúa Isabella ( con riêng của Maria Comnena). Ông đã nhận được lãnh địa Nablus, vốn được coi như một món quà cho Maria sau cuộc hôn nhân với Amalric. Năm 1179, Baldwin đã bị bắt bởi Saladin sau trận của Ford Jacob và Balian đã giúp thu xếp để lo tiền chuộc cho anh trai mình và ông này được thả vào năm sau, cuối cùng tiền chuộc đã được trả bởi Hoàng đế Byzantine Manuel I Comnenus, chú của Maria.

Năm 1183 Balian và Baldwin ủng hộ Raymond chống lại Guy của Lusignan, chồng của Sibylla của Jerusalem và lúc này ( Guy) đã chở thành nhiếp chính của Baldwin IV, người đã chết vì bệnh phong. Nhà vua mới 5 tuổi cháu của ông Baldwin của Montferrat cũng được đăng quang làm vua ( mặc dù Baldwin IV chưa chết nhưng Baldwin V đã được đăng quang làm vua) trong một nỗ lực để ngăn chặn Guy thừa kế làm vua. Ngay trước khi qua đời vào mùa xuân 1185, Baldwin IV đã ra lệnh chính thức ra lệnh đội vương miện cho cháu trai của ông tại Nhà thờ Thánh Sepulchre. Trong đó Balian-một người đàn ông cao một cách đáng chú ý-người mang cậu bé con Baldwin V trên vai của mình tại buổi lễ, đánh dấu sự hỗ trợ của gia đình Isabella cho cháu trai của cô. Ngay sau đó, ở 8 tuổi cậu bé đã trở thành vị vua duy nhất (Baldwin IV chết). Và rồi thì nhà vua trẻ tuổi Baldwin V cũng chết nốt trong 1186, Balian và Maria, với sự hỗ trợ của Raymond, đã đưa ra Isabella-con gái của Maria, sau đó khoảng 14, như là một ứng cử viên cho ngai vàng. Tuy nhiên, Humphrey IV của Toron-chồng cô bé đã từ chối vương miện và thề trung thành với Guy. Balian cũng phải miễn cưỡng tỏ lòng tôn kính với Guy, trong khi anh trai của ông từ chối không làm như vậy và bị đi đày tới Antioch. Baldwin giao mhiệm vụ cho Balian nuôi dạy Thomas-con trai ông và sẽ là vua tương lai của Ramla, người không đi cùng với cha mình đến Antioch. ( và thực sự thì đúng Guy của Lusignan là kẻ bất tài nên đã dẫn đến thảm bại ở Hattin và sau đó là sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem)

Hòa giải tranh chấp giữa Raymond và GuyBalian vẫn ở vương quốc Jerusalem như là một cố vấn cho Guy. Vào cuối năm 1186 Saladin đã trở thành quốc vương Hồi giáo của Ai Cập và Damascus, đã đe dọa biên giới của vương quốc sau khi đồng minh của Guy là Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, đã tấn công một đoàn người Hồi giáo. Saladin đã liên minh với các đơn vị đồn trú của Tiberias ở phía bắc của vương quốc, một lãnh thổ được nắm giữ bởi Raymond III. Guy tập hợp quân đội của mình ở Nazareth và lên kế hoạch để bao vây Tiberias, nhưng Balian không đồng ý với điều này và thay vào đó ông cho rằng Guy nên cử một sứ giả đến chỗ Raymond ở Tripoli, hy vọng cả hai có thể hòa giải trước khi Guy lại thực hiện một cuộc tấn công điên cuồng lớn hơn vào quân đội của Saladin. Đoàn thương thuyết đầu tiên đã thất bại và tình hình vẫn không thay đổi trong suốt những tháng đầu 1187. Sau sau lễ Phục Sinh năm đó, Balian, Gerard của Ridefort ( Đại thủ lĩnh của Knights Templar), Roger des Moulins(Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller ), Reginald của Sidon và Joscius Đức Tổng-Giám-Mục của Tyre đã được đến như là một đoàn thương thuyết mới tới Tripoli . Trong suốt cuộc hành trình của họ dừng lại ở Nablus-thái ấp của Balian và Balian có kế hoạch ở lại đó một thời gian ngắn trong khi những người khác vẫn tiến về phía trước. Ngày 01 Tháng 5, các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller bị đánh bại bởi al-Afdal, con trai của Saladin ở trận Cresson; Balian vẫn còn ở lại một ngày sau và ông cũng đã dừng lại tại Sebastea để chào mừng một ngày lễ. Sau khi gặp nhau tại lâu đài La Fève, nơi mà các hiệp sỹ Templar và Hospitaller cắm trại, ông thấy rằng nơi này bị bỏ hoang và sớm được nghe tin tức về cuộc chiến thảm khốc từ số ít người sống sót. Raymond nghe nói về trận chiến và cũng đã gặp phái đoàn tại Tiberias và đồng ý đi cùng họ trở về Jerusalem.

Trận Hattin

Kể từ lúc quân đội của al -Afdal được phép tiến vào vương quốc Jerusalem qua liên minh của họ với Raymond, lúc này vị Bá tước lại hối hận về hành động của mình và tìm cách hòa giải với Guy. Guy hành quân ở phía bắc và đóng trại tại Sephoria và ra lệnh cho quân đội tiến vào một đồng bằng và khô để giải vây cho Tiberias. Quân đội của Thiên Chúa giáo không có nước uống và bị liên tục quấy nhiễu bởi quân đội của Saladin, và cuối cùng họ bị bao vây ở Horn của Hattin ở bên ngoài Tiberias vào đầu tháng 7. Trong trận chiến tiếp theo vào ngày 4, Balian và Joscelin III của Edessa chỉ huy lực lượng hậu đội, nhưng đội quân thập tự chinh đã hoàn toàn bị đánh bại. Tài liệu ẩn danh De Expugnatione Terrae Sanctae per Saladinum Libellus cho rằng Raymond, Joscelin, Balian và Reginald của Si-đôn đã chạy trốn khỏi bãi chiến trường vào lúc giữa trận đánh và chà đạp lên cả “các Kitô hữu, người Thổ Nhĩ Kỳ và cả thập giá” trong quá trình chạy trốn, nhưng điều này không được chứng thực bởi các tài liệu khác và phản ánh thái độ thù địch của tác giả với các Polein-phe đả.ng quý tộc của Raymond của Tripoli.

Sự thất bại là một thảm họa đối với Vương quốc Jerusalem: vua Guy bị bắt làm tù binh, và gần như tất cả các thành phố và lâu đài nhanh chóng rơi vào Saladin. Balian, Raymond, Reginald, và Payen của Haifa là trong số ít các quý tộc đã chốn thoát đến Tyre. Raymond và Reginald ngay lập tức tham gia vào việc bảo vệ lãnh thổ của mình và bảo vệ Tyre dưới sự lãnh đạo của Conrad của Montferrat, chú của Baldwin V, người đã đến không lâu sau trận Hattin. Balian đã trở thành một trong những đồng minh thân cận nhất của ông. Tại Tyre Balian hỏi Saladin liệu có được phép quay trở lại qua con đường tới Jerusalem để hộ tống vợ và con cái của ông ta đến Tripoli. Saladin cho phép việc này, miễn là Balian rời khỏi thành phố và có một lời thề không bao giờ cầm vũ khí chống lại ông.

Phòng thủ Jerusalem

Khi Balian và nhóm nhỏ các hiệp sĩ của ông đến được thành phố, người dân cầu xin họ ở lại, và Balian được từ bỏ lời thề của mình với Saladin và được tha tội bởi Giáo trưởng Heraclius, người cho rằng yêu cầu của Thiên Chúa giáo là mạnh mẽ hơn lời tuyên thệ của ông với một người không phải là Thiên Chúa giáo. Balian đã được chỉ định để chỉ huy phòng thủ thành phố, nhưng ông thấy chỉ còn mười bốn Hiệp sỹ ,vì vậy ông đã phong thêm sáu mươi hiệp sĩ mới từ những thị dân tham gia phòng thủ. Nữ hoàng Sibylla dường như có có đóng chút gì đó trong công cuộc phòng thủ thành phố và đã tuyên thệ để bầu Balian làm lãnh chúa. Với Eraclius, ông chuẩn bị cho cuộc vây hãm không thể tránh khỏi bằng cách lưu trữ thực phẩm và tiền bạc. Saladin thực sự đến và bao vây thành phố trong tháng Chín, sau khi ông đã chinh phục gần như tất cả các phần còn lại của vương quốc này, bao gồm Ibelin, Nablus, Ramla, và Ascalon. Nhà vua cảm thấy không có ác ý gì trong việc Balian đã vi phạm lời thề của mình và sắp xếp cho một hộ tống để đi cùng với Maria và con của họ đến Tripoli. Khi là lãnh chúa có thứ bâ cao nhất còn lại ở Jerusalem, Balian, như Ibn al-Athir đã viết, đã được xem bởi những người Hồi giáo là “ít nhiều tương đương với một vị vua.”

Saladin đã có thể phá sập một phần của các bức tường, nhưng không thể chiếm được lối vào thành phố. Sau đó Balian đã cưỡi ngựa ra ngoài để nói với quốc vương Hồi giáo, để nói với ông rằng những người bảo vệ sẽ tự giết nhau và phá hủy thành phố hơn là nhìn thấy nó bị chiếm bởi lực lượng Hồi giáo. Sau các cuộc đàm phán, người ta đã quyết định rằng thành phố phải được bàn giao một cách hòa bình và rằng Saladin sẽ thả tự do bảy ngàn người để đổi lấy 30.000 bezant; hai người phụ nữ hoặc 10 trẻ em sẽ thay thế cho một người đàn ông. Balian bàn giao chìa khóa cho tháp của David vào ngày 02 tháng 10. Người dân thành Jerusalem có một thời hạn 50 ngày để trả tiền chuộc. Những người không thể trả tiền cho tự do của họ bị buộc làm nô lệ; Saladin đã giải phóng một số người trong số họ, tuy nhiên ông cho phép một cuộc ra đi trật tự từ Jerusalem và ngăn chặn các thảm sát như đã xảy ra khi quân Thập tự chinh chiếm thành phố vào năm 1099. Balian và Giáo trưởng Eraclius đã tưự nguyện làm con tin cho những công dân người Frank còn lại, nhưng Saladin đã từ chối. Các cư dân được chuộc đi trong ba cột. Balian và Giáo trưởng đi theo cột thứ ba, họ là những người cuối cùng rời khỏi thành phố, có thể là khoảng ngày 20 tháng 11. Balian cùng vợ và con của ông về sống ở Tripoli.

Balian kẻ tạo vua và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba

Sự sụp đổ của Jerusalem và cái chết của Sibylla tại cuộc vây hãm Acre năm 1190, đã dẫn đến một cuộc tranh chấp ngôi vua của vương quốc. Isabella-con gái riêng của Balian giờ đây trở thành nữ hoàng hợp pháp, nhưng Guy đã từ chối thừa nhận danh hiệu của mình, và Humphrey-chồng của Isabella người đã bỏ cô trong năm 1186, vẫn trung thành với ông. Nếu Isabella được thừa kế, cô cần chấp nhận sự cố vấn về chính trị và quân sự của chồng, ứng cử viên rõ ràng là Conrad của Montferrat, người cũng có một số yêu cầu như chú về đằng nội của Baldwin V. Balian và Maria giữ Isabella và ép cô phải đồng ý ly dị Humphrey. Có tiền lệ: việc bãi bỏ hôn nhân của Amalric I với Agnes của Courtenay và những nỗ lực không thành công để buộc Sibylla ly dị Guy.

Cuộc hôn nhân của Isabella được bãi bỏ bởi Ubaldo Lanfranchi-Đức Tổng-Giám-Mục của Pisa và là người thừa kế của giáo hoàng và Philip của Dreux, Đức Giám-mục-của Beauvais. Sau đó Đức Giám Mục của Beauvais gả cô ta cho Conrad ( điều còn đang tranh cãi). Việc tranh chấp thừa kế được kéo dài bởi sự xuất hiện của Richard I của Anh và Philip II của Pháp ở cuộc Thập tự chinh thứ ba: Richard hỗ trợ Guy, như là một chư hầu ở Poitevin, trong khi Philip hỗ trợ Conrad, người người em họ của người cha đã quá cố.

Balian và Maria có nhiều vai trò trong vụ ly dị của Isabella và sự hỗ trợ của họ để lên làm vua Conrad đã nhận được những sự hận thù sâu sắc của Richard và những người ủng hộ ông này. Ngày 28 tháng 4 năm 1192, chỉ vài ngày sau khi vương quyền của ông được khẳng định bởi một cuộc bầu cử, Conrad đã bị ám sát trong Tyre. Người ta nói rằng một trong hai sát thủ-Hashshashin chịu trách nhiệm đã chà trộn vào gia đình Balian ở Tyre vài tháng trước đây và giả vờ làm một người đầy tớ để lén theo nạn nhân, còn người kia thì tương tự có thể thâm nhập vào gia đình Reginald của Sidon hay của Conrad. Richard bị nhiều người nghi ngờ rằng ông có tham gia trong vụ giết người này. Isabella, người lúc này đang chờ đợi để sinh đứa con đầu lòng ( Maria của Montferrat ) lại kết hôn với Henry II của Champagne chỉ một tuần sau đó.

Balian đã trở thành một trong những cố vấn của Henry và cuối năm đó (cùng với William của Tiberias), ông chỉ huy đội hậu quân của Richard tại trận Jaffa. Sau đó, ông đã giúp hai bên thương lượng Hiệp ước Ramla giữa Richard và Saladin, kết thúc cuộc thập tự chinh. Theo hiệp ước này, Ibelin vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Saladin, nhưng nhiều địa điểm dọc theo bờ biển đã được chinh phục trong cuộc thập tự chinh vẫn được phép ở lại trong tay của người Thiên chúa giáo. Sau khi Richard bỏ về nước Anh, Saladin đã bồi thường cho Balian lâu đài Caymont và năm lâu đài khác ở gần đó, tất cả các lâu đài này đều ở bên ngoài Acre.

 

Các trận chiến của Saladin với Vua Baldwin IV ( Xảy ra trước trận Hattin)

Baldwin IV của Jerusalem

Baldwin IV của Jerusalem (1161-16 tháng 3 năm 1185 ), được gọi là vua cùi hoặc vua bị bệnh phong, con trai của Amalric I của Jerusalem và người vợ đầu tiên của ông, Agnes của Courtenay, là vua của Jerusalem từ 1174-1185. em gái cùng bố mẹ với ông là Nữ hoàng Sibylla của Jerusalem và cháu trai của ông-con của em gái (người kế vị ông) là vua Baldwin V. Ông là một người em gái cùng cha khác mẹ từ cuộc hôn nhân lần thứ 2 của cha mình là công chúa Isabella của Jerusalem, và một người em trai nữa nhưng người này đã chết rất trẻ.

Tuổi trẻ

Baldwin đã dành tuổi trẻ của mình trong triều đình của cha của ông ở Jerusalem, ông cũng có chút ít liên lạc với mẹ của ông-Agnes của Courtenay, Nữ bá tước của Jaffa và Ascalon và sau đó là Nữ hoàng của Sidon, người mà cha của ông đã bị buộc phải ly dị. Baldwin IV được giáo dục bởi nhà sử gia William của Tyre (sau này là Đức Tổng-Giám-Mục của Tyre và cũng là một viên tướng của vương quốc), người đã phát hiện ra một biểu hiện đáng lo ngại của Hoàng tử: trong một ngày ông ( Baldwin IV ) và bạn bè của mình chơi với nhau và cố gắng để làm tổn thương lẫn nhau bằng cách cào móng tay của họ vào các cánh tay của mỗi ngươ, nhưng Baldwin cảm thấy không đau đớn. William ngay lập tức nhận ra đây là một dấu hiệu của một căn bệnh nghiêm trọng, nhưng ông cũng đã không kết luận được xác định đây là bệnh phong cho đến khi một vài năm sau đó: vào lúc có sự khởi đầu của tuổi dậy thì của Baldwin IV, thì căn bệnh phong của ông mới trở nên nghiêm trọng nhất.

Cha của Baldwin qua đời vào năm 1174 và cậu bé đã lên ngôi ở tuổi mười ba, ngày 15 tháng 7 năm đó. Vương quốc bé nhỏ của ông được cai trị bởi hai nhiếp chính kế tiếp, đầu tiên là Miles của Plancy mặc dù không phải là chính thức và sau đó Raymond III của Tripoli, người anh em họ của cha ông. Năm 1175, Raymond III, thay mặt nhà vua của Jerusalem đã ký một hiệp ước với Saladin.

Là một người bị bệnh phong, Baldwin đã không được dự kiến sẽ trị vì lâu dài hoặc sản hoặc tạo ra được một người thừa kế, và các cận thần và lãnh chúa tự cố tạo ảnh hưởng nhiều hơn vào những người thừa kế của Baldwin, như vào Sibylla-công chúa chị em ruột và Isabella-công chúa cùng cha khác mẹ của ông. Sibylla đã được mang đi bởi Ioveta-người dì của cô và sống trong tu viện Bethany, trong khi Isabella sống tại cung điện của mẹ cô- hoàng thái hậu Maria Comnena tại Nablus.

Sự cai trị của Baldwin

Raymond kết thúc thời kỳ nhiếp chính vào ngày kỷ niệm lễ đăng quang thứ hai của Baldwin: nhà vua trẻ bây giờ đã đủ tuổi. Ông đã không phê chuẩn hiệp ước của Raymond với Saladin và thay đó là tiến hành đột kích vào Damascus và các vùng xung quanh Thung lũng Beqaa. Ông bổ nhiệm Joscelin III-người chú về đằng mẹ làm Bá tước trên danh nghĩa của Edessa, và là người quản gia sau khi ông này được chuộc về ( ông bị bắt bởi người Hồi giáo). Joscelin là người có quyền thừa kế gần nhất ( đàn ông ) nhưng ông này không tuyên bố quyền thừa kế ngôi vị, vì vậy ông được đánh giá là một người ủng hộ đáng tin cậy, ông cũng đã chứng tỏ lòng trung thành thực sự của mình.

Khi còn làm nhiếp chính, Raymond của Tripoli đã bắt đầu đàm phán về việc kết hôn của công chúa Sibylla với William của Montferrat, một người anh em họ đầu tiên của Louis VII của Pháp và Frederick I, Hoàng đế La Mã Thần thánh. William đã đến vào đầu tháng Mười và trở thành Bá tước của Jaffa và Ascalon sau cuộc kết hôn của mình. Người ta hy vọng rằng ông sẽ có thể trở thành người điều hành cho nhà vua khi ông này trở thành bất lực và kế thừa ngai vàng của ông ta cùng với Sibylla.

Trong khi đó, Baldwin đã lập kế hoạch cho một cuộc tấn công vào căn cứ của Saladin ở Ai Cập. Ông đã gửi Raynald của Châtillon (cựu hoàng tử của Antioch qua hôn nhân với Constance của Antioch-họ hàng của Amalric I ) đến Constantinople làm phái viên để họp với Manuel I Comnenus, để có được sự hỗ trợ của hải quân Byzantine. Raynald lúc đó mới được thả từ nơi ông ta bị giam cầm ở Aleppo: Manuel chịu trả tiền chuộc ông ta vì ông này ( Manuel) là người cha dượng của Hoàng hậu Maria của Antioch. Manuel tìm kiếm sự phục hồi của ảnh hưởng của Chính thống giáo tại vương quốc này và sắp xếp cuộc hôn nhân của Bohemond III của Antioch với cháu gái lớn của ông-Theodora Comnena, em gái của hoàng thái hậu Maria. Reynald trở lại vào đầu năm 1177, và được khen thưởng bằng cách kết hôn với Stephanie của Milly, một nữ thừa kế góa bụa và giàu có. Cuộc hôn nhân này làm cho ông ta chở thành lãnh chúa của Kerak và Oultrejourdain. Baldwin đã cố gắng để đảm bảo rằng Reynald và William của Montferrat hợp tác để phòng thủ miền Nam. Tuy nhiên vào tháng Sáu, William qua đời ở Ascalon sau một số tuần, để lại Sibylla góa bụa đang mang thai nhà vua tương lai-Baldwin V.

Vào tháng 8 anh em họ đầu tiên của nhà vua, Philip của Flanders, đã đến Jerusalem để tham gia vào cuộc thập tự chinh. Philip yêu cầu cưới của chị gái của Baldwin để chở thành chư hầu của ông. Philip là họ hàng gần gũi nhất của về đằng nhà nội của Baldwin (ông là cháu trai của Fulk và là anh em họ đầu tiên của Baldwin, Raymond là cháu trai của Melisende và do đó là anh em họ đầu tiên của cha của Baldwin), tuyên bố nhiếp chính thay thế cho Raymond. Cour Hautetừ chối không đồng ý điều này và Baldwin của Ibelin công khai xúc phạm Philip. Bị xúc phạm, Philip rời vương quốc và thay vào đó thì ông này tiến hành các chiến dịch ở Quận quốc Antioch. Gia đình Ibelin được bảo trợ của nữ hoàng thái hậu Maria và có thể là Baldwin của Ibelin hành động theo cách này với hy vọng rằng bản thân ông sẽ được kết hôn với một trong các chị em gái của Baldwin.

Trong tháng 11, Baldwin và Raynald của Châtillon đã đánh bại Saladin với sự giúp đỡ của các Hiệp sĩ Templar ở trận Montgisard. cùng năm đó, Baldwin cho phép mẹ kế của ông được kết hôn với Balian của Ibelin, một động thái để thu phục được cả hai, nhưng nó mang những rủi ro cho tham vọng của nhà Ibelins. Với sự bảo trợ của Maria, nhà Ibelins đã cố gắng để tổ chức cho các công chúa Sibylla và Isabella kết hôn vào gia đình của họ.

Năm 1179, nhà vua đã gặp một số thất bại quân sự ở miền Bắc. Ngày 10 tháng Tư, ông đã dẫn đầu một cuộc đột kích vào bãi thả gia súc của người Hồi giáo ở Banias, nhưng bị tấn công bất ngờ bởi Farrukh Shah-cháu trai của Saladin. Baldwin không thể leo lên ngựa và để cứu ông Humphrey II của Toron-vị hộ quốc công có nhiều uy tín của vương quốc đã phải bị tử thương. Ngày 10 tháng 6, để đáp lại các cuộc tấn công bằng kỵ binh ở gần Sidon, Baldwin dẫn đầu một lực lượng cùng với Raymond của Tripoli và Odo của St Amand-Đại thủ lĩnh của các Hiệp sỹ Templar đánh trận Marj Uyun. Họ đánh bại các toán cướp và sau đó lội con sông Litani, nhưng sau đó đã bị phản kích bởi lực lượng chính của Saladin. Nhà vua (không thể đi điều khiển ngựa chạy ngược lại mà không có trợ giúp – chân tay của ông bị phong nên phải quấn băng kín mít) và ông đã được mang ra khỏi chiến trường trên lưng của hiệp sĩ hộ vệ của mình. Bá tước Raymond phải chạy trốn sang Tyre và cha dượng của vua Reginald của Sidon đã cứu được một số kẻ bỏ chạy, nhưng những người bị bắt làm tù binh bao gồm Đại thủ lĩnh của các Hiệp sỹ Templar, Baldwin của Ibelin và Hugh của Tiberias, một trong các con riêng của vợ của Raymond. Trong tháng 8 chiếc lâu đài dở dang-Ford Jacob đã bị Saladin chiếm sau một cuộc bao vây chớp nhoáng với việc tàn sát một nửa các Hiệp sỹ Templar đang đồn trú trong pháo đài.

Baldwin và Guy của Lusignan

Vào mùa hè năm 1180, Baldwin IV tổ chức kết hôn giữa Sibylla với Guy của Lusignan, anh trai của Hộ quốc công Amalric của Lusignan. Trước đó các sử gia cho rằng cuộc hôn nhân thứ hai của Sibylla là hoàn toàn do ảnh hưởng của bà mẹ nhà vua, tuy nhiên, Hamilton lập luận rằng điều này là để phản ánh những lời than phiền cá nhân của William của Tyre và của nhà Ibelins. Một kế hoạch kết hôn giữa Sibylla và Hugh III của Burgundy đã bị hỏng; Raymond của Tripoli dường như đã cố gắng để cưới cô này cho Baldwin của Ibelin để củng cố cơ sở quyền lực của mình. Một đám cưới với người nước ngoài là cần thiết cho vương quốc này, nó mang lại khả năng trợ giúp bên ngoài. Với vị vua mới của Pháp Philip II lúc này đang ở tuổi vị thành niên, tình trạng của Guy như là một chư hầu của người anh em họ-vua Henry II của Anh – người còn nợ Đức Giáo Hoàng một cuộc hành hương đền tội – là hữu ích trong khía cạnh này. Baldwin cũng cho đính hôn Isabella-em gái của ông mới 8 tuổi rưỡi với Humphrey IV của Toron, để trả một khoản nợ cứu mạng của người ông của Humphrey ở Banias và loại bỏ Isabella khỏi sự kiểm soát của mẹ cô và phe cánh nhà Ibelin.

Guy trước đó đã liên minh với Raynald, người lúc này lợi dụng vị trí của mình tại Kerak để sách nhiễu các đoàn lữ hành giữa Ai Cập và Damascus. Sau khi Saladin đã trả đũa cho các cuộc tấn công trong chiến dịch Belvoir Castle trong 1182, Baldwin IV lúc này đã bị mù và không thể đi lại, ông phải bổ nhiệm Guy làm nhiếp chính của vương quốc.

Tuy nhiên, năm 1183, Baldwin IV đã trở nên bị xúc phạm bởi hành động của Guy trong cương vị một nhiếp chính. Guy đã tham dự lễ hội cưới của Isabella (lúc đó khoảng 11 tuổi ) và Humphrey, được tổ chức tại Kerak, tuy nhiên, buổi lễ hội với các khách dự đám cưới bên trong vẫn bị gián đoạn bởi Saladin, người đã tổ chức bao vây pháo đài. Baldwin đã thống lĩnh quân đội đến cứu viện và cuộc bao vây bị dỡ bỏ, nhưng Guy đã từ chối chiến đấu với Saladin và quân đội của Saladin chỉ đơn giản là đi về nhà. Baldwin không thể chịu đựng được điều này và phế bỏ quyền nhiếp chính của Guy. Trong ô nhục, Guy đã về nghỉ tại Ascalon và mang theo vợ mình là công chúa-Sibylla đi cùng với ông ta.

Đồng làm vua với Baldwin V và cái chết của ông

Mặc dù Baldwin dường như đã có một di chúc không ác ý đối với em gái mình, Baldwin IV bổ nhiệm người cháu trai mới 5 tuổi của ông ở Montferrat như mình là người thừa kế và kế nhiệm mình với sự hỗ trợ của Agnes và chồng là Reginald của Sidon, Raymond và nhiều thủ lĩnh khác mà loại trừ Sibylla khỏi việc kế vị. Raymond trở thành người giám hộ của người thừa kế trẻ tuổi, và sau đó là nhiếp chính nếu Baldwin IV chết, nhưng bản thân Baldwin IV vẫn tiếp tục cai trị. Người cháu trai lên ngôi như là vua Baldwin V vào ngày 20 tháng 11 năm 1183.

Trong những tháng đầu năm 1184 Baldwin đã cố gắng để bãi bỏ cuộc hôn nhân giữa Sibylla và Guy. Cặp đôi này đã làm thất bại nỗ lực này bằng cách nhanh chóng chiếm giữ Ascalon và không tham dự các thủ tục bãi bỏ cuộc hôn nhân. Cuộc chinh phạt quân sự để giải vây cho Karak và các cuộc đấu đã trong nội bộ triều đình đã làm suy yếu đáng kể sức khỏe của Baldwin. Ông qua đời tại Jerusalem vào mùa xuân 1185 vài tháng sau cái chết của Agnes-mẹ của ông ở Acre vào cuối năm 1184. Mặc dù thường xuyên bị ảnh hưởng của bệnh phong và phải cầm quyền cùng với các nhiếp chính, Baldwin đã có thể tự mình duy trì làm vua lâu hơn thời gian mà người ta dự kiến. Như đã được quyết định, Baldwin V đã kế nhiệm ngai vàng của chú của mình và Raymond của Tripoli trở thành nhiếp chính.

Trận Montgisard

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: Ngày 25 tháng 11 năm 1177
Địa điểm: Montgisard, gần Ramla
Kết quả: Quân Thập tự chinh chiến thắng chiến lượcCác bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo: Vương quốc Jerusalem, Hiệp sĩ Templar

Chỉ huy :

Baldwin IV của Jerusalem
Raymond III của Tripoli
Odo de St Amand
Raynald của Châtillon
Lực lượng : 475 Hiệp sỹ Templar, Vài nghìn lính bộ binh

Thương vong và thiệt hại : 1.100 người thiệt mạng, 750 người bị thương

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Khoảng 26.000 quân

Thương vong và thiệt hại : Khoảng 23,000 người bị giết và bắt tù binh

Trận Montgisard là trận chiến giữa Triều Ayyubids và Vương quốc Jerusalem vào ngày 25 tháng 11 năm 1177. Vào năm 16 tuổi vua Baldwin IV đang bị ảnh hưởng một cách trầm trọng bởi bệnh phong, nhưng ông vẫn dẫn đầu một số lực lượng Thiên chúa giáo chiến đấu chống lại quân đội của Saladin. Lực lượng Hồi giáo đã bị phá hủy và thương vong của họ là rất lớn, chỉ có một phần quân đội đã cố gắng chạy trốn đến được nơi an toàn.

Bối cảnh của trận đánh

Năm 1177, vua Baldwin IV và Philip của Alsace, người vừa đặt chân vào cuộc hành hương, đã lên kế hoạch liên minh với đế quốc Byzantine cho một cuộc tấn công bằng hải quân vào Ai Cập nhưng không số nào trong các kế hoạch này được thực hiện.

Trong khi đó, Saladin lại có kế hoạch xâm lược của riêng mình vào Vương quốc Jerusalem từ Ai Cập. Biết được kế hoạch này của Saladin, Baldwin IV rời Jerusalem và mang theo William của Tyre và đi cùng chỉ với có 375 hiệp sĩ để cố gắng lập một phòng tuyến ở Ascalon, nhưng Baldwin đã bị chặn lại bởi một đội quân được cử đi bởi Saladin, người mà theo William của Tyre, phải có đến 26.000 lính. Cùng đi với Baldwin có Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, người chỉ mới được thả từ nơi bị giam cầm ở Aleppo trong năm 1176. Raynald là một kẻ thù quyết liệt của Saladin và là người chỉ huy quân đội có hiệu quả thay mặt vua Baldwin lúc này quá đau ốm với bệnh phong. Ngoài ra với quân đội Thiên chúa giáo còn được giúp đỡ bởi Odo de St Amand, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Templar, Baldwin của Ibelin-anh trai của Balian ( người chỉ huy trận Jerusalem), Reginald của Sidon và Joscelin III của Edessa. Một lực lượng Templar nữa đã cố gắng để gia nhập với Baldwin ở Ascalon, nhưng họ cũng lại bị bao vây tại Gaza.

Trận chiến

Saladin tiếp tục cuộc hành binh của ông về hướng Jerusalem và nghĩ rằng Baldwin sẽ không dám bám theo ông chỉ với một toán quân lèo tèo vài người như vậy. Ông đã tấn công các vùng Ramla, Lydda và Arsuf, nhưng vì cho rằng Baldwin không phải là một mối nguy hiểm, ông cho phép quân đội của mình dàn trải ra trên một diện tích lớn để cướp bóc và tìm kiếm lương thực. Tuy nhiên, Saladin lại chưa biết rằng lực lượng mà ông để lại để ngăn chặn vị vua của Jerúalem là không đủ và bây giờ cả Baldwin và các Hiệp sỹ Templar đã hành quân để đánh chặn ông ta ( Saladin) trước khi ông tới được Jerusalem.

Các Kitô hữu, được dẫn đầu bởi nhà vua Baldwin IV đã đuổi theo người Hồi giáo dọc theo bờ biển, cuối cùng đã chộp được kẻ thù của họ ở Mons Gisardi, gần Ramla. Saladin đã bị tấn công hoàn toàn bất ngờ. Quân đội của ông đang ở trong tình trạng lộn xộn, không có đội hình chiến đấu và mệt mỏi từ một cuộc hành quân kéo dài. Quân đội Hồi giáo, trong trạng thái hoảng loạn, đã tranh giành để lập phòng tuyến chiến đấu chống lại kẻ thù. Tuy nhiên, ở phía xa, quân đội Kitô giáo hoàn toàn câm lặng. Vua Baldwin đã ra lệnh đưa di tích của True Cross lên ở phía trước của các hàng quân. Nhà vua với một cơ thể thiếu niên đã bị tàn phá ghê gớm bởi bệnh phong, đã xuống ngựa dưới sự giúp sức của các võ sỹ hộ vệ của mình và quỳ xuống trước cây thánh giá. Ông đã cầu nguyện để Thiên Chúa mang cho họ chiến thắng và đứng lên trên đôi chân của mình để cổ vũ quân đội. Khi quân đội của Saladin vội vàng để chuẩn bị chiến đấu, Baldwin đã bắt đầu cho phi ngựa tấn công trên mặt cát.

Quân đội Jerusalem lao ầm ầm như núi lở vào người Hồi giáo lúc này vẫn đang cố gắng nhanh chóng sắp xếp đội hình và gây thương vong rất lớn cho người Hồi giáo. Nhà vua chiến đấu với hai bàn tay băng bó để che dấu vết thương khủng khiếp và nỗi đau đớn của mình và lao trận hỗn chiến dày đặc, quân đội của Saladin đã nhanh chóng bị áp đảo. Họ đã cố gắng chạy trốn nhưng rất khó để trốn thoát. Bản thân Saladin phải tránh để bị bắt sống bằng cách nhảy lên trên lưng một con lạc đà đua.

Vua Baldwin đã chiến thắng hoàn toàn. Ông đã hoàn toàn phá hủy lực lượng xâm lược, chiếm lại được đoàn hành lý của Saladin và giết chết Ahmad-cháu trai của ông (con trai của Taqi ad-Din).

Baldwin đã cho truy kích Saladin cho đến khi màn đêm xuống và sau đó rút về nghỉ ngơi ở Ascalon. Bị ngập lụt bởi mười ngày mưa lớn và đau khổ mất đến khoảng chín mươi phần trăm của quân đội của mình, bao gồm cả vệ sĩ riêng người Mamluk của ông, Saladin bỏ chạy trở lại Ai Cập và bị quấy rối bởi người Bedouins trên đường rút quân. Chỉ có chưa đến một phần mười quân đội của ông đã quay được trở lại Ai Cập cùng với ông ta.

Hậu quả

Baldwin kỷ niệm chiến thắng của mình bằng cách dựng một tu viện Benedictine trên chiến trường, dành riêng cho St Catherine of Alexandria, người có ngày lễ trùng hợp vào ngày xẩy ra trận đánh. Tuy nhiên, đó là một chiến thắng khó nhọc; Roger des Moulins, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller, ghi lại rằng phe Thập tự quân có 1.100 người bị giết và 750 người bị thương và trở về được nhà. Saladin, vì sợ rằng liên minh lỏng lẻo của Ai Cập với chư hầu Syria của ông sẽ bị tan vỡ bởi thất bại này nên đã cho tuyên truyền rằng các Kitô hữu đã bị bại trận trong trận chiến này.

Trong khi đó, Raymond III của Tripoli và Bohemund III của Antioch đang hợp tác với Philip của Alsace để tiến hành một cuộc chinh phạt hiểm vào thành phố Ha-rim ở Syria, những cuộc vây hãm Ha-rim kéo dài đến tận năm 1178, và việc Saladin bị đánh bại tại Montgisard đã ngăn cản ông này giải vây cho chư hầu Syria của mình. Mặc dù vậy chit sau một năm tương đối hòa bình, vào năm 1179 Saladin đã có thể tiếp tục các cuộc tấn công của mình trên vương quốc Jerusalem, bao gồm cả chiến thắng của ông ta tại trận Marj Ayyun năm đó. Sự kiện này đã dẫn đến các cuộc chiến liên tục kéo dài gần một thập kỷ mà đỉnh cao của chiến thắng của Saladin trước Thập tự quân tại trận Hattin vào năm 1187.

Trận Ayyun Marj

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: Ngày 10 tháng 6 năm 1179
Địa điểm: Marjayoun, Lebanon
Kết quả: Chiến thắng chiến lược của Triều Ayyubid

Các bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem ,Hiệp sĩ Templar

Chỉ huy :

Baldwin IV của Jerusalem
Odo de St Amand của Hiệp sỹ dòng Đền
Raymond III của Tripoli

Lực lượng: Vài trăm Hiệp sỹ + Hiệp sỹ thánh chiến, Một nghìn lính bộ binh

Thương vong và thiệt hại : Không có con số chính xác nhưng thiệt hại nặng nề
Odo de St Amand của Hiệp sỹ dòng Đền bị bắt sống Baldwin của Ibelin ( anh trai của Bailan Ibelin bị bắt sống)

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Không rõ số lượng nhưng lực lượng kỵ binh đông hơn quân Thiên chúa giáo nhiều lần

Thương vong và thiệt hại : Tử vong cũng tương đương nhưng không bị bắt tù binh

Trận Marj Ayyun hay còn được gọi là trận Marj Ayyoun, là một trận đánh của quân đội của Triều đình Ayyubid dưới sự chỉ huy của Saladin đã đánh bại một đội quân Thập tự chinh do vua Baldwin IV của Jerusalem dẫn đầu vào ngày 10 tháng 6 năm 1179. Nhà vua Kitô giáo vì tàn tật do bệnh phong đã suýt bị bắt trên đường tháo chạy.

Bối cảnh

Năm 1177 quân đội Ayyubid của Saladin xâm lược Vương quốc Jerusalem của người Latin từ Ai Cập. Trong năm đó, vua Baldwin đã tấn công bất ngờ và đánh bại quân đội Ai Cập-Saracen trong trận Montgisard.

Năm 1179 một lần nữa Saladin lại tiến hành xâm chiếm các thành bang của Thập tự quân từ Damascus. Ông lập căn cứ cho quân đội của mình ở Banias và cử các lực lượng đột kích để cươ ́p bóc làng và phá hoại cây trồng ở gần vùng Sidon và các vùng ven biển. Nông dân và người nghèo khổ ở thành thị bị người Saracen đột kích, cướp phá nên không thể trả tiền thuê đất cho các lãnh chúa người Frank của họ. Trừ phi bị chặn đứng, nếu không chính sách phá hoại của Saladin sẽ làm suy yếu vương quốc Thập tự chinh.

Để đáp lại, Baldwin IV đã cho chuyển quân đội của mình đến Tiberias trên biển Galilee. Từ đó ông hành quân về phía bắc-tây bắc tới gần tòa thành của Safed. Tiếp tục theo cùng một hướng, ông đã đến được lâu đài Toron ( Tebnine ), khoảng 13 dặm (21 km) về phía đông-đông nam của Tyre. Cùng với các Templar Knights do Odo của St Amand và một lực lượng từ Công quốc Tripoli do Bá tước Raymond III chỉ huy, Baldwin di chuyển về phía đông bắc.

Trận đánh

Từ phía đông của vùng ven biển, quân Thập tự chinh đã nhìn thấy chiếc lều của Saladin ở phía xa. Baldwin và các quý tộc của ông đã quyết định tiến xuống vùng đồng bằng và tấn công cùng một lúc. Khi quân đội của người Frank di chuyển xuống phía dưới, quân kỵ binh đã sớm bỏ lại những người lính bộ. Sau khi bị chậm trễ một vài giờ, đội quân Thập tự chinh tập hợp lại, sau đó họ gặp và dễ dàng đánh bại các lực lượng đột kích của người Saracen, những người trở về từ các cuộc đột kích của họ.

Tin rằng mình đã chiến thắng cuộc chiến này, người Frank cho phép các lính canh của họ nghỉ ngơi. Các hiệp sĩ của Raymond và Odo của St Amand của Templar chuyển lên một vùng đất cao giữa Ayyun Marj và sông Litani. Lính bộ binh của Thập tự quân cũng nghỉ nghơi để bù cho cuộc hành quân vội vã của họ trước đó trong ngày.

Đột nhiên, đội quân chính của Saladin đã bất ngờ tấn công vào quân Thập tự chinh vốn không được chuẩn bị và đánh bại họ một cách nặng nề. Các nhà phân tích quân sự thời gian đó đổ lỗi thất bại cho Odo của St Amand, người đã bị bắt sống tại trận. Vua Baldwin hầu như suýt nữa không kịp chạy thoát, ông không thể nhảy lên ngựa vì bị bệnh tê liệt của mình ( do bị bệnh phong), ông đã được mang đến nơi an toàn bởi một hiệp sĩ, các vệ sĩ của ông mở một đường máu xuyên qua người Saracens. Nhiều người Frank sống sót sau cuộc chiến bỏ chạy tới nơi trú ẩn tại lâu đài Beaufort (Qala’at tro-Shaqif Arnoun) ở khoảng năm dặm về phía tây nam của chiến trường.

Hậu quả

Saladin ngay lập tức đã lợi dụng chiến thắng của mình để phá hủy vừa được thành lũy Le Chastellet vừa mới được xây dựng xong ở trong trận Ford Jacob. Trong những năm sau trận Marj Ayyun, các thủ lĩnh Frank trở nên thận trọng hơn và hai chiến dịch tiếp theo-các trận Belvoir Castle (1182) và trận Al-Fule (1183) công việc phòng thủ được thực hiện một cách nghiêm túc.

Trận Ford Jacob

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: năm 1179
Địa điểm: Gần sông Jordan phía bắc Israel ngày nay
Kết quả: Triều Ayyubid Chiến thắng

Các bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem

Chỉ huy : Baldwin IV của Jerusalem

Lực lượng : 1.500 người

Thương vong và thiệt hại : 700 người bị giết, 800 bị bắt sống

Người Hồi giáo:  Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Không rõ về số lượng nhưng đông hơn phe Thiên chúa giáo nhiều lần

Thương vong và thiệt hại : Không có con số chính xác

Jerusalem được cho là một trong những thành phố linh thiêng nhất trên thế giới. Vì lý do này mà người Kitô giáo và người Hồi giáo đã liên tục chiến đấu với nhau để kiểm soát thành phố của vùng Đất Thánh trong nhiều thế kỷ. Khoảng năm 1095, các Kitô hữu từ châu Âu đã hành quân đến thánh địa để kiểm soát Jerusalem. Vào năm 1099, quân Thập tự chinh đã đạt được mục tiêu của họ và chiếm Jerusalem từ tay người Hồi giáo. Mặc dù tình trạng bất ổn hoành hành trên vùng Đất Thánh sau cuộc Thập tự chinh đầu tiên, quân Thập tự chinh liên tục đánh bại bất cứ quân đội Hồi giáo nào chống lại họ trong nhiều năm. Saladin, một trong những nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Hồi giáo, đã có thể chiếm lại Jerusalem năm 1187 sau gần một thế kỷ dưới sự cai trị của người Kitô giáo. Nhiều học giả tin rằng việc quân Hồi giáo chiếm lại được thành phố Đất Thánh có thể được bắt nguồn từ chiến thắng của người Hồi giáo trước Thập tự quân tại pháo đài Ford Jacob ở Syria, trận chiến xảy ra vào năm 1179 giữa Saladin-vua Hồi giáo và vua Baldwin IV-Thiên chúa giáo. Địa điểm này còn được gọi trong tiếng Latin là Vadum Iacob và trong tiếng Do Thái hiện đại là Ateret.

Những người tham chiến trong năm 1179 đấu tranh cho quyền lực và sự khởi đầu của họ

Saladin, một trong những nhà cai trị Hồi giáo nổi tiếng nhất, ông là vua của Ai Cập và vào năm 1174, ông trở thành sultan của Syria sau khi tiếp quản thành phố Damascus. Sau khi lên nắm chính quyền ở Syria, Saladin cam kết sẽ tạo thành một đế quốc Hồi giáo xung quanh Jerusalem. Đương nhiên, mục tiêu cuối cùng là để chiếm lại thành phố Thánh từ tay của quân Thập tự chinh, một bước quan trọng hướng tới sự kết thúc của Jihad ( phong trào Thánh chiến của người Hồi giáo). Tuy nhiên, kế hoạch (Jihad ) này cũng bao gồm việc chiếm được vùng Đất Thánh mà không có xung đột quân sự lớn. Baldwin IV đã kiểm soát được Vương quốc Jerusalem ở tuổi mười ba sau cái chết của cha mình là Amalric I trong năm 1174, cùng năm mà Saladin lên nắm quyền. Baldwin là một tín đồ trung thành của Kitô giáo và kết quả đây là vấn đề lớn nhất mà Saladin phải vượt qua. Mặc dù Baldwin là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và giàu có nhưng ông lại bị mắc bệnh phong ở một độ tuổi rất trẻ. Vì thế nên đôi khi nếu được mô tả trong bộ phim và tranh vẽ, Baldwin sẽ được mô tả là có mang một chiếc mặt nạ sắt để dấu đi những đám loét trên khuôn mặt.

Sau khoảng ba năm tại vị trên ngai vàng tại Jerusalem, Baldwin đã phải đối mặt với thách thức quân sự đầu tiên rất mình. Saladin xâm chiếm vương quốc Thiên chúa giáo trong khoảng năm 1177 và ép quân Thập tự chinh phải tháo chạy. Mặc dù Saladin đã có gần hai mươi năm chinh chiến và có kinh nghiệm hơn rất nhiều so với Baldwin, vị quốc vương trẻ trung của người Kitô giáo vẫn không bị lúng túng trong những tình huống căng thẳng. Baldwin và quân Thập tự chinh đã đánh bại một cách tuyệt đối người Hồi giáo tại trận Mont Gisard vào ngày 25 tháng 11 năm 1177. Một học giả người đã từng tham gia Thập tự chinh đã viết về trận Mont Gisard, “[trận đánh] là một thành tựu nổi bật của Baldwin – đây là thất bại duy nhất trong chiến trận mà Saladin đã phải nhận trước khi gặp phải Richard Lionheart và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba “. Cuối trận đánh, Saladin đã buộc phải bỏ chạy trở lại Ai Cập sau khi thoát chết trong gang tấc. Mặc dù chiến thắng này cũng gây thiệt hại to lớn cho đội quân của Baldwin, hình ảnh của ông trên toàn vương quốc được nâng cao. Trong thực tế, một số Kitô hữu ở vùng Cận Đông đã thậm chí còn tin rằng “‘phép màu’ của chiến thắng của ông [tại Mont Gisard] xuất hiện như là một dấu hiệu của sự ủy nhiệm của Thiên Chúa.”

Jacob Ford và tòa lâu đài Chastellet

Jacob Ford nằm ở vị trí khoảng một trăm dặm về phía bắc Jerusalem và tại con sông Jordan, nó chính là một con sông chính cắt ngang một trong những tuyến đường chính giữa Acre, Israel và Damascus. Jacob Ford cũng là một trong các cửa an toàn nhất của Jordan và vì vị trí và tầm quan trọng của nó, nó đã bị chiếm đóng bởi cả người Kitô giáo Palestine và Hồi giáo Syria như là một ngã tư lớn giữa hai nền văn minh. Trong thế kỷ thứ mười hai, Baldwin và Saladin liên tục tranh cãi về khu vực mà Jacob Ford được định vị. Như một động thái chiến lược táo bạo và là kết quả của chiến thắng quân sự của mình tại Mont Gisard, Baldwin đã quyết định hành binh đến Jacob Ford và xây dựng một pháo đài phòng thủ trên lãnh thổ của mình. Nhà vua và quân Thập tự chinh của ông đưa ra giả thuyết rằng đó là một pháo đài có thể bảo vệ Jerusalem khỏi một cuộc xâm lư.ợc từ phía Bắc và gây áp lực tới các đồn lũy của Saladin ở Damascus. Giữa tháng 10 năm 1178 và tháng 4 năm 1179, Baldwin đã bắt đầu giai đoạn đầu tiên xây dựng một hệ thống phòng thủ mới của ông, một pháo đài gọi là Chastellet tại Jacob Ford. Trong khi công cuộc xây dựng đang được tiến hành, Saladin đã nhận thức đầy đủ được ý nghĩa của tòa pháo đài này, ông sẽ phải vượt qua tại của Ford Jacob nếu ông ta còn muốn bảo vệ Syria và chinh phục Jerusalem. Vào lúc đó, ông đã không thể ngăn chặn công trình xây dựng của Chastellet bằng biện pháp quân sự bởi vì một phần lớn quân đội của ông đã đang đóng quân ở miền bắc Syria, để đánh dẹp người Hồi giáo nổi loạn. Một trong những tác giả Hồi giáo viết, “Saladin đã luôn luôn cho vẽ những bức tranh miêu tả mình là nhà vô địch của người Hồi giáo trong việc chống lại những kẻ xâm nhập từ châu Âu, mặc dù trong thực tế, ông đã dành rất nhiều, nếu không nói là gần như toàn bộ sự nghiệp của mình để tham gia vào một cuộc chiến tranh chống lại … những người Hồi giáo khác” Do đó, vị sultan quay sang tìm cách hối lộ và sẽ nộp 60.000 dinar nếu Baldwin ngừng xây dựng pháo đài. Baldwin đã từ chối, nhưng Saladin đề nghị một giá mới là 100.000 dinar. Vị vua Thiên chúa giáo trẻ tuổi nhưng cứng đầu lại từ chối một lần nữa và tiếp tục xây dựng Chastellet. Đến mùa hè 1179, Baldwin lực lượng đã xây dựng được một bức tường đá rất lớn. ” tòa lâu đài lúc này có tường cao ghê gớm hơn 10 mét-những gì mà tài liệu Ả Rập sau này mô tả là một thành lũy vững chắc của đá và sắt” – và một tháp, nhưng nó vẫn còn là trong quá trình xây dựng dở dang”.

Kế hoạch và chiến thuật

Sau khi Baldwin từ chối cả lần hai hối lộ, Saladin chuyển sự chú ý ra khỏi cuộc nổi dậy ở miền bắc Syria và tập trung vào Ford Jacob và tòa lâu đài Chastellet. Ông đã hoàn toàn nhận thức được rằng bất kỳ cuộc đàm phán thương lượng tiếp theo hoặc sẽ chỉ là vô ích và rằng ông chỉ lãng phí thêm thời gian, thời gian mà Baldwin rất cần để hoàn thành tòa pháo đài khổng lồ của mình. Năm 1179, chỉ vài tháng sau khi công trình xây dựng Chastellet bắt đầu, Saladin đã triệu tập một đội quân Hồi giáo lớn để xuống phía đông nam của Ford Jacob. Kế hoạch cực kỳ là đơn giản: bao vây lâu đài và cư dân của nó trước khi quân tiếp viện từ Jerusalem hoặc bất kỳ vùng lãnh thổ lân cận của nó có thể đến nơi. Mặt khác Baldwin lại đang ở Tiberias, một tỉnh nằm trên biển Galilee, xa khoảng gần một nửa ngày hành quân từ Ford Jacob. Nếu có bất kỳ cuộc tấn công nào vào dự án của ông, quân tiếp viện sẽ có thể đến nơi tương đối nhanh chóng. Hơn nữa, pháo đài tại của Ford Jacob, ít nhất là những gì đã được hoàn thành của nó là tương đối mạnh và có khả năng có thể cầm cự cho đến khi cứu trợ có thể đến trong trường hợp xảy ra một cuộc bao vây. Một học giả đã từng tham gia những cuộc thập tự chinh khẳng định rằng: ” cuộc bao vây được triển khai như một cuộc chạy đua – người Hồi giáo phải phá vỡ các thành lũy phòng thủ của Ford Jacob trước khi lực lượng Latin tới” ( nếu không họ sẽ bị nghiền thành bột)

Trận chiến tại Ford Jacob và chiến thắng của Saladin

Ngày 23 tháng 8 1179, Saladin đến Ford Jacob và ra lệnh cho quân đội của mình bắn phá tòa lâu đài bằng cung tên và do đó bắt đầu cuộc bao vây vào tòa lâu đài. Trong khi các cung thủ làm phân tâm những người đàn ông bên trong pháo đài, các thợ mỏ đã đào một đường hầm để chọc thủng bức tường đá ở góc đông bắc của Chastellet. Khi đường hầm đã được đào xong, người của Saladin đã cho một số lớn gỗ xuống đường hầm và châm lửa đốt. Quá trình này, được gọi là sự hủy hoại, đây là một phương pháp người ta đốt nóng chân các bức tường thành từ một đường hầm ngầm khiến các bức tường cuối cùng sụp đổ dưới trọng lượng của chúng. Sự hủy hoại đầu tiên đã không thành công cho Saladin và quân đội của ông. Vì vậy, các binh sĩ bị buộc phải dập lửa bằng những xô nước và họ được trả một đồng vàng cho mỗi thùng để làm như vậy. Sau khi đám cháy được dập tắt, những người thợ mỏ lại tiếp tục vào và hướng dẫn cách để đốt lửa. Đồng thời, Baldwin, có được biết về vụ tấn công này, ông liền kêu gọi quân tiếp viện từ Jerusalem. Tuy nhiên, thông tin liên lạc giữa Baldwin và Chastellet đã bị chậm chễ và vào lúc ông ta (Baldwin) biết thì cuộc bao vây đã được tiến hành trong nhiều ngày.

Lực lượng bên trong lâu đài của Baldwin bắt đầu củng cố các cửa chính trong tòa lâu đài. Ngay sau đó, người Hồi giáo châm lại đám cháy trong đường hầm dưới chân bức tường của tòa lâu đài và bức tường sụp đổ. Kết quả là, các “mọi nỗ lực của quân Thập tự chinh tăng cường cho tòa lâu đài đều vô ích và khoảng sáu ngày sau khi cuộc bao vây bắt đầu, Saladin và quân đội của ông đã tiến vào được Chastellet. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1179, quân xâm lược người Hồi giáo đã cướp phá tòa lâu đài tại Ford Jacob và giết chết hầu hết các cư dân của nó. Cùng ngày hôm đó, chậm hơn một tuần sau khi quân tiếp viện được gọi đến, Baldwin và đội quân tiếp viện của ông mới xuất phát từ Tiberias, từ xa họ chỉ còn thấy trên chân trời các làn khói đen kịt tỏa lên trực tiếp từ Chastellet. Rõ ràng, họ đã đến quá muộn để cứu 700 hiệp sĩ, kiến trúc sư và công nhân xây dựng, những người đã thiệt mạng và 800 người khác bị bắt giam. Baldwin và quân tiếp viện của ông quay trở lại về Tiberias và Saladin đã ra lệnh phần còn lại của pháo đài phải được phá bỏ.

Hậu quả

Mặc dù Saladin tuyên bố đây là một chiến thắng quân sự cho Chastellet, quân đội của ông lại là nạn nhân của một kẻ thù khác. Ngay sau cuộc bao vây, 700 quân Thập tự chinh của Ford Jacob đã bị giết chết và được đặt vào một cái hố. Do nhiệt độ tháng 8 các xác chết trong hố đã bắt đầu phân rã và kết quả là một bệnh dịch phát sinh gây thiệt mạng một số sĩ quan cao cấp của Saladin, khoảng mười người chết vì bệnh dịch. Tuy nhiên, thiệt hại đã không làm giảm bớt sức mạnh quân sự của Saladin . Năm 1180, Saladin và Baldwin đã ký thỏa thuận ngừng bắn. Sau đó, bảy năm sau khi hòa bình được thiết lập giữa những người Hồi giáo và quân Thập tự chinh, Saladin chiếm lại Jerusalem từ các Kitô hữu sau trận Hattin năm 1187. Một số học giả cho thấy sau thành công của cuộc chinh phạt của Saladin ở Ford Jacob năm 1179, Jerusalem trở nên rất dễ bị chiếm vì “việc xâm nhập vào vương quốc này theo cách vượt sông Jordan ngay phía nam của hồ Tiberias … như Saladin đã từng sử dụng trong các năm 1182, 1184 và 1187 và nó hầu như không được bảo vệ “. Saladin vẫn thu được các thành công về quân sự và chính trị trong vùng Cận Đông sau khi chiếm Jerusalem cho đến khi có một cuộc chạm trán quân sự với Richard the Lionheart, sau đó ông đã buộc phải ký hiệp ước hòa bình vào năm 1192. Ông qua đời trong năm sau đó. Mặt khác, Baldwin IV đã không làm được bất kỳ điều gì để ngăn chở Saladin. Bệnh phong đã tàn phá cơ thể của vị vua trẻ tuổi và ông đã qua đời ở tuổi 23 trong năm 1185 và ông đã không thể phục thù cho bản thân mình hoặc cho quân Thập tự chinh của mình vì thất bại của ông tại Ford Jacob.

Cuộc vây hãm Kerak
Trận vây hãm Kerak đã diễn ra năm 1183 với việc lực lượng của tấn công Saladin bị đẩy lùi từ bức tường thành của Thập tự quân.
Kerak là một thành lũy của Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, ở 124 km về phía Nam của Amman. Pháo đài được xây dựng năm 1142 bởi Pagan Butler, Lãnh chúa của Montreal. Trong khi Raynald cai trị, có một số hiệp ước tồn tại giữa Kitô hữu và quốc gia Hồi giáo trong Đất Thánh, không ai kể cả Raynald đủ dũng cảm để phá vỡ hiệp ước. Nhưng rồi cuối cùng đến năm 1183 khi ông này tổ chức một chuyến chinh phạt xung quanh Biển Hồng Hải . Ông ta đã chiếm được thị trấn Aqaba, nơi cung cấp cho ông ta một căn cứ để tung ra các hoạt động tấn công vào những thành phố linh thiêng nhất của Hồi giáo như Mecca. Saladin-vị thủ lãnh của các lực lượng Hồi giáo, không thể chịu đựng được điều này và quyết định bao vây lâu đài của Raynald.

Cuộc vây hãm và cứu viện

Người Hồi giáo đã tìm cách để có Kerak nhiều năm, nhưng bây giờ họ kéo dài đến điểm phòng thủ của nó phá vỡ. Tại một điểm, 9 máy phóng máy bay đã được bắn phá các bức tường và dân cư bên trong.

Bên trong bức tường, một cuộc hôn nhân hoàng gia đang diễn ra. Humphrey IV của Toron, trai riêng của vợ Raynald và là người thừa kế của bà đang nắm bàn tay của Isabella của Jerusalem-em gái cùng cha khác mẹ với nhà vua. Khi đám cưới lễ tiếp tục, Saladin ra lệnh cho quân lính của mình tránh không bắn phá vào khu nhà của đôi vợ chồng trẻ, nhưng áp lực vẫn tiếp tục đè lên Kerak. Vài tín sứ đã cố gắng để thoát ra khỏi thị trấn và đưa thư xin cứu viện tới vua Baldwin IV.

Baldwin ngay lập tức hành quân với một lực lượng cứu viện cùng với nhiếp chính của mình, Raymond III của Tripoli. Mặc dù bị bệnh phong từ khi còn nhỏ Baldwin vẫn quyết tâm làm thất bại nỗ lực của Saladin là như vậy mà ông đã dẫn cá nhân, mặc dù ông đã phải được khênh đi trên một chiếc cáng. Lực lượng Thiên chúa giáo đến nơi khi Saladin vẫn còn đang dở tấn công vào các công kiên cố. Biết rằng nếu tiếp tục liều thì có thể ông sẽ bị nghiền giữa quân đội của quốc vương và các bức tường của Kerak, nên ông đành dỡ bỏ cuộc bao vây

Nhà vua của vương quốc Jerusalem tiếp tục đối đầu với đối thủ Hồi giáo của ông trong một thời gian nữa, mặc dù người ta biết rõ ràng rằng ông không thể tồn tại lâu hơn nữa bởi vì căn bệnh của chính mình. Chỉ 5 năm sau khi đối thủ lớn của Saladin ra đi, Vương quốc đã sụp đổ.

Hậu quả

Saladin Kerak trở lại một lần nữa vào 1184, với kết quả tương tự. Kerak vẫn là một thành lũy của Thập tự quân và là một biểu tượng của phương Tây trong khu vực cho đến khi nó thất thủ trước người Hồi giáo trong năm 1263 ( tức là sau gần một thế kỷ nữa). Lần sau, quân Thập tự chinh đã đối mặt với một cuộc bao vây lớn ở chính các bức tường của thành phố Thánh Địa Jerusalem.

Trận Cresson

Trận Cresson là một trận đánh nhỏ xảy ra trong ngày 1 tháng 5 năm 1187, tại khúc đường cong Cresson, hoặc Ain Gozeh ở gần Nazareth. Đây là một khúc dạo đầu cho sự thất bại quyết định của Vương quốc Jerusalem ở trận Hattin hai tháng sau đó.

Bối cảnh

Tình hình chính trị căng thẳng ở Jerusalem vì phe phái kình địch giữa hai chi nhánh của nhà vua. Raymond III của Tripoli, người trước đây là nhiếp chính cho vương quốc này từ chối chấp nhận Guy của Lusignan làm vua, sau cái chết của vua con-Baldwin V (con trai riêng của vợ Guy) trong năm trước. Gerard của Ridefort, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Templar, Roger de Moulins Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller, Balian của Ibelin, Joscius, Đức tổng-giám-mục của Tyre và Reginald Grenier, lãnh chúa của Sidon đã được gửi đến Tiberias để đàm phán với Raymond.

Trận chiến

Trong khi đó, Saladin gửi một đương đối nhỏ lực lượng nhỏ đến Tiberias do al-Afdal, con trai của ông, để tìm kiếm sự trả thù cho một cuộc tấn công vào một đoàn người Hồi giáo của Raynald của Châtillon. Raymond III Saladin hy vọng sẽ đồng minh với ông ta để chống lại Guy và cho phép lực lượng này đi qua Tiberias trên 30 tháng 4, mặc dù ông đã cảnh báo các tín hữu sự hiện diện của đội quân này ở Nazareth. Biết được sự kiện này, Gerard nhanh chóng tập hợp một đội quân nhỏ, bao gồm các đơn vị đồn trú của các Hiệp sỹ Templar từ Qaqun và al-Fulah và các hiệp sĩ của hoàng gia đóng quân tại Nazareth, tổng số chỉ có khoảng 130 hiệp sĩ; Balian đã dừng lại trên đường đi tới thái ấp của ông và đến về Nablus và Reginald cũng đi nơi khác. Lực lượng của Saladin, do con trai ông, bao gồm khoảng 7000 người.

Gerard đến được Cresson ngày 1 tháng 5. Quấn Itinerarium Peregrinorum et Gesta Ricardi Regis , một biên niên sử của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba có ghi:

Vì vậy, Saladin tập hợp lực lượng vũ trang của mình và gấp rút hành quân vào Palestine. Ông đã cử tiểu vương của Edessa, Manafaradin [ al-Muzaffar ] tiến về phía trước với 7000 người Thổ Nhĩ Kỳ để tàn phá Đất Thánh. Bây giờ, khi này Manafaradin tiến vào khu vực Tiberias, ông tình cờ gặp phải Đại thủ lĩnh của Tu sỹ dòng Đền-Gerard de Ridefort và Đại thủ lĩnh của Tu sỹ Cứu tế-Roger des Moulins. Trong trận chiến bất ngờ sau đó, ông ta đặt đẩy lui được người đầu tiên và giết chết người thứ hai..

Người Hồi giáo giả vờ rút lui, một chiến thuật phổ biến mà không cần phải lừa Gerard, tuy nhiên, ông này ra lệnh tấn công mà không quan tâm đến lời khuyên của Roger và các hiệp sĩ đã bị tách ra từ những người lính. Người Hồi giáo đã đẩy lui một cách dễ dàng một cuộc tấn công trực tiếp bằng giáo và giết chết cả các hiệp sĩ lúc này đã kiệt sức và sau đó họ quét sạch số lính bộ binh còn lại. Gerard bị thương nhưng sống sót, tuy nhiên, hầu như tất cả những người khác đều đã thiệt mạng. Tuy nhiên theo quấn sử Itinerarium, Gerard đã không ham truy đuổi đối phương mà thực sự ông này bị mắc bẫy mà không biết và ông ta cũng là nạn nhân của cuộc tấn công của mình. Itinerarium cũng ghi lại sự thành công của một Hiệp sỹ Templar có tên là Jakelin de Mailly, người mà sau khi tất cả các đồng đội của ông đã bị giết thì ông này vẫn chiến đấu đơn thương độc mã chống lại các đám đông người Hồi giáo cho đến khi kiệt sức và ngã gục xuống.

Balian còn đến đó sau một ngày sau và ông cũng đã dừng lại tại Sebastea để chào mừng một ngày lễ. Sau khi đến được tòa lâu đài La Fève, nơi mà các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller cắm trại, ông thấy rằng nơi này bị bỏ hoang. Ông đã gửi Ernoul-Hiệp sỹ thực tập của ông tiến về phía trước để tìm hiểu những gì đã xảy ra và tin tức về cuộc chiến thảm khốc đến ngay từ số ít người sống sót. Raymond nghe nói về trận chiến và cũng đã gặp phái đoàn tại Tiberias và đồng ý đi cùng họ trở về Jerusalem.

Raymond cuối cùng đã sẵn sàng thừa nhận Guy làm vua, nhưng thiệt hại cho vương quốc này là khá trầm trọng và cả Gerard và Raynald đều coi Raymond là một kẻ phản bội. Saladin tập hợp một đội quân lớn hơn 20.000 người và xâm chiếm vương quốc Jerusalem vào tháng 6 và đánh bại Guy tại Hattin vào ngày 4 tháng 10 và sau đó ông tiến hành công chiếm Jerusalem.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s