Thuyết âm mưu về người Do Thái

Zionist-octopus-over-White-House

(một tập hợp các bài viết từ ttvnol.com)

Tại sao dân Do Thái thống trị phương Tây? 

Jenna1987 dịch thuật, biên soạn

Chính quyền Obama chính thức công nhận “mưu đồ Do Thái”

Cuối cùng thì chính quyền Obama cũng mất cảm giác thực tại, khi mà tháng 4-5 năm nay đã chính thức thừa nhận “âm mưu Do Thái” ở Mỹ và thế giới. Điều đó làm cho ngay cả các tổ chức Do Thái cũng cảm thấy bị sốc. Những gì đồn thổi trước đó giờ được nghe từ chính Washington. Giờ người ta biết ai chính xác ai buộc phải vì ai mà cổ xúy LGBT và thừa nhận đám cưới đồng tính ở mức Liên bang.

Tờ “Washington Post”, ngày 21-5-2013 khi được đón tiếp bởi Ủy ban quốc gia của Đảng dân chủ, trong tháng lễ “Di sản Do Thái” đã viết, phó TTg Mỹ Biden khi đăng đàn phát biểu tại lễ này đã công nhận vai trò đặc biệt của Do Thái trong ý tưởng đám cưới đồng tính, mà lúc đó đã được thừa nhận ở một số bang Mỹ.

Bên cạnh đó, ông ta tuyên: “85% của mọi đổi thay diễn ra ở gần đây ở Hollywood và truyền thông đại chúng, trở thành có thể chỉ vì các chi nhánh Do Thái… đứng đầu những ảnh hưởng khổng lồ… thực sự khổng lồ…” Biden lưu ý, ảnh hưởng Do Thái trong lĩnh vực “… thay đổi luật pháp di cư, phong trào quyền dân sự và các thành tựu nữ quyền – feminism”.

Theo người đứng vai thứ 2 trong chính quyền Obama, “chúng ta (Mỹ) – là quốc gia vĩ đại với lòng vô cùng tôn kính cảm ơn sự đóng góp đem đến cho chúng ta từ di sản của người Do Thái và các nguyên lý Do Thái”.

Bài phát biểu cảm động của ông phó dường như quá đáng quá đối với cả người nghe bình thường. Vì thế, Johnathan Cheyt từ tờ tạp chí “New York” phỏng đoán rằng bài phát biểu của ông phó đã gián tiếp thừa nhận “âm mưu Do Thái”, và thậm chí làm cho người ta kích động chống Do Thái, các nhân vật Do Thái uy quyền khác ở Mỹ có mặt ở buổi lễ cũng chẳng thích thú gì với bài phát biểu quá hứng của Jô. Nhưng ông phó nghĩ hành động như thế chả làm kinh động các nhà lãnh đạo Mỹ và giới truyền thông, ngoài các bề trên kín đáo Do Thái ở Mỹ.

Có những điều tế nhị mà các bề trên biết và các “chuyên gia lịch sử” của họ biết và bằng mọi cách không muốn bị lật ngửa trong các văn kiện, tư liệu Nhà trắng và các nguồn chính thức, bởi nó có thể gây ra thái độ rất tiêu cực ngay cả đối với quá khứ xa xưa, thời vị TT Mỹ đầu tiên George Washington (1732-1799), khi ông này nói thẳng rằng: “Chúng hành động chống chúng ta có hiệu quả hơn quân đội kẻ thù của chúng ta. Chúng nguy hiểm hàng trăm lần hơn đối với tự do của chúng ta và vấn đề nghiêm trọng này chúng ta đang phải đối mặt. Chỉ có một điều xót xa, là các bang đã không tiêu diệt chúng từ lâu như kẻ gây họa cho xã hội và như kẻ thù nguy hiểm nhất đối với sự bình yên của nước Mỹ”. (nguồn: Max George Washington Appleton & Co.)

Gần 250 năm sau…

Dĩ nhiên loại như Jô, sẽ chả biết Washington là ai. Bởi nếu biết, hắn đã phải xấu hổ nhục nhã với ông tổ nước Mỹ lắm lắm. Tất nhiên Jô cũng chả biết, những Slogan vĩ đại về tự do dân chủ và nhân quyền cũng đã mục nát từ lâu. 

Jô chỉ biết có ông chủ Do Thái. Nhưng không phải lúc nào chó liếm chân chủ, cũng được chủ âu yếm thích thú, lại còn bị đá cho phát đau điếng, chúng ta biết rồi.

Nhưng hóa ra là từ Abraham Lincoln đến Barack Obama hiện nay, chẳng những lời răn dạy của các ông tổ sáng lập nước Mỹ đã bị đập vỡ, mà còn công khai qui phục Do Thái, công khai thừa nhận ảnh hưởng Do Thái là vô độ! 

Nhưng Jô chả có bất cứ quyền gì để làm như thế. Nếu ông tổ Washington có đội mồ sống dậy, tất phải vả cho vỡ mặt lũ hậu sinh hèn hạ ô nhục.

Tại sao giới bề trên DT thấy căng thẳng với những gì Jô phun ra? Kinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống xã hội, mọi phong trào dân chủ nhân quyền, cho đến nữ quyền hay đồng tính… chẳng chừa cái gì mà Do Thái không thống trị. Nhưng nói ra điều ấy, là cấm kỵ. Bởi nó có thể gây ra làn sóng chống đối rộng khắp. Và có thể bị qui là “phát biểu căm hờn” hay anti-Semitic.

Chẳng riêng gì Washington, trong 2000 năm qua, mọi lãnh đạo thế giới này, vua, hoàng đế, sa hoàng… đều chẳng muốn thấy một lãnh thổ quốc gia Do Thái như Mỹ. Hóa ra, từ đầu thế kỷ XX,Mỹ đã bị môn đệ của quỷ Satan biến thành bệ phóng để hiện thực hóa “âm mưu thống trị thế giới” của Do Thái, thứ mà ông phó Jô vừa thú nhận tháng 5 vừa qua.

Để làm bằng chứng, về điều các nhà lãnh đạo thế giới không muốn, xin dẫn ra đây một số:

Napoleon Bonaparte (Pháp): “Sở hữu mọi làng mạc là bọn kẻ cướp Do Thái, chúng xây dựng lại chế độ nông nô, chúng là bầy quạ thực sự. Sự bần cùng là Do Thái gây ra, không phải từ một cá nhân đơn độc, mà từ toàn thể giống người này. Chúng giống như đàn sâu, hay châu chấu, ăn nước Pháp”.

Mobuchum Okuma (nhà khoa học Nhật): “Do Thái trên khắp thế giới phá hoại chủ nghĩa yêu nước và nền tảng sức mạnh quốc gia”.
Ivan Franco (Ukraine): “Khi tôi đọc rất nhiều sách Mác-xít, CNXH, chủ nghĩa tự do và dân chủ, đằng sau mỗi thứ đó tôi đều thấy sự xảo quyệt mà Do Thái sắp đặt”.

Peter the Great (hoàng đế Nga 1672-1725): “Tôi muốn thấy đất nước tôi là của Mohammet và đa thần hơn là Do Thái. Cái giống này lừa lọc và gian trá. Chúng phải không được phép định cư và gây ra vấn đề cho chúng ta. Bất chấp lệnh của tôi, chúng vẫn cố đút lót các cận thần của tôi, với mục đích đòi công bằng. Tôi nhổ tận gốc lũ quỷ xứ, thay vì dung thứ chúng. Sẽ không có buôn bán hay trú ngụ nào ở Nga cho chúng, cho dù chúng có cố gắng đút lót hối lộ bao nhiêu đi chăng nữa”.

Elizabeth Petrovna (Russian empress. 1709-1761) : “DT cư trú ở những phần khác nhau của Nga. Từ đó chúng ghét Christ và tôi chẳng trông mong gì tốt đẹp. Đối với tình cảnh này, tôi đã công bố sắc lệnh sau đây: Tất cả DT, đàn ông phụ nữ, bất kể hoàn cảnh và sự giàu có, cùng tất cả tài sản phải bị quét sạch ra khỏi biên giới. Từ bây giờ trở đi, không cho phép dưới bất cứ hoàn cảnh nào đi vào Nga, trừ khi cải sang tín ngưỡng Christian Hy lạp;”

Ivan IV (Sa Hoàng 1530-1584) : “Juda tiến vào Nga với các con buôn không đứng đắn, từ đó chúng gây ra nhiều tai họa, chở thuốc độc đã nấu vào Nga và người Christians xa lánh Christianity”.

Marcus Cicero (nhà diễn thuyết Roma. TCN) 

“Dân DT thuộc về lực lượng bóng tối và ghê tởm. Ai mà biết được bè lũ này đông đảo như thế nào, chúng cố kết cùng nhau và có thể tỏ ra có sức mạnh như thế nào nhờ sự đoàn kết của mình.”

Diodorus Siculo (sử học Hy Lạp 30 TCN):

“Những người bạn của vua Antiochus Syria (223-187 TCN) khuyên nhà vua trục xuất dân DT, những kẻ không muốn sống hòa hợp với người khác và coi họ là kẻ thù”.

Lucius Seneca (triết gia Roman, 4 TCN): “Sắc dân này (DT) – là bệnh dịch hạch. Nó có thể có được ảnh hưởng như thế đến chúng ta – kẻ thắng cai trị bằng luật của mình.”

Những đại gia đình đang thống trị thế giới

Chỉ cần gõ cụm từ “The Large Families that rule the world” vào google, dễ tìm được hàng loạt trang cùng nói 1 chủ đề: kẻ nào đang thống trị thế giới ngày nay.

Ví dụ trong số kết quả có Pravda.ru: http://english.pravda.ru/business/fi…e_the_world-0/

Một số người đã bắt đầu nhận ra rằng có những tập đoàn tài chính lớn đang thống trị thế giới. Không kể đến các mưu đồ chính trị, xung đột, các cuộc cách mạng và chiến tranh. Nó không phải là tình cờ. Tất cả mọi thứ đã được lên kế hoạch từ lâu.

Một số gọi nó là “lý thuyết âm mưu” hay New World Order. Dù sao, điều chính yếu để hiểu các sự kiện chính trị và kinh tế hiện nay là một hạt nhân hẹp các gia đình, những kẻ đã tích lũy được nhiều của cải và quyền lực.

Chúng ta đang nói về 6, 8 hoặc có thể 12 gia đình thực sự đang thống trị thế giới. Biết rằng điều đó là một bí ẩn khó làm sáng tỏ.

Chúng ta sẽ không xa sự thật bằng cách trích dẫn Goldman Sachs, Rockefellers, Loebs Kuh và Lehmans ở New York, Rothschild Paris và London, Warburgs của Hamburg, Paris và Lazards ở Israel, Moses Seifs ở Rome.

Nhiều người đã nghe nói về Nhóm Bilderberg, Khai sáng (Illuminati) hoặc Hội tam điểm. Nhưng tên của những gia đình, những kẻ đang vận hành thế giới này và kiểm soát các quốc gia, các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO hay IMF là gì?

Để cố gắng trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể bắt đầu với những điều đơn giản nhất: tóm tắt những nhà băng lớn nhất thế giới, và xem ai là cổ đông và ai đưa ra quyết định.

Các nhà băng lớn nhất thế giới hiện nay là: Bank of America, JP Morgan, Citigroup, Wells Fargo, Goldman Sachs và Morgan Stanley.

Bây giờ chúng ta xem xét các cổ đông của họ là ai.

Bank of America:
State Street Corporation, Vanguard Group, BlackRock, FMR (Fidelity), Paulson, JP Morgan, T. Rowe, Capital World Investors, AXA, Bank of NY, Mellon.

JP Morgan:
State Street Corp., Vanguard Group, FMR, BlackRock, T. Rowe, AXA, Capital World Investor, Capital Research Global Investor, Northern Trust Corp. và Bank of Mellon.

Citigroup:
State Street Corporation, Vanguard Group, BlackRock, Paulson, FMR, Capital World Investor, JP Morgan, Northern Trust Corporation, Fairhome Capital Mgmt và Bank of NY Mellon.

Wells Fargo:
Berkshire Hathaway, FMR, State Street, Vanguard Group, Capital World Investors, BlackRock, Wellington Mgmt, AXA, T. Rowe và Davis Selected Advisers.

Chúng ta có thể thấy rằng có nhóm hạt nhân có mặt và lặp lại trong tất cả các nhà băng: State Street Corporation, Vanguard Group, BlackRock và FMR (Fidelity). Để tránh lặp lại tên của họ, bây giờ chúng ta sẽ gọi họ là “tứ đại gia”.

Goldman Sachs:
“Tứ đại gia”, Wellington, Capital World Investors, AXA, Massachusetts Financial Service và T. Rowe.

Morgan Stanley:
“Tứ đại gia”, Mitsubishi UFJ, Franklin Resources, AXA, T. Rowe, Bank of NY Mellon e Jennison Associates. Rowe, Bank of NY Mellon và Jennison Associates.

Chúng ta có thể chỉ mới xác định tên của các cổ đông lớn. Để đi xa hơn, chúng ta có thể cố gắng tìm hiểu về các cổ đông của những công ty này và các cổ đông của các ngân hàng lớn trên toàn thế giới.

Bank of NY Mellon:
Davis Selected, Massachusetts Financial Services, Capital Research Global Investor, Dodge, Cox, Southeatern Asset Mgmt. và … “tứ đại gia”.

State Street Corporation (1 trong 4 “tứ đại gia”):
Massachusetts Financial Services, Capital Research Global Investor, Barrow Hanley, GE, Putnam Investment và … “tứ đại gia” (cổ đông của chính nó!).

BlackRock (1 trong 4 “tứ đại gia”):
PNC, Barclays e CIC.

Ai đứng sau PNC? FMR (Fidelity), BlackRock, State Street, v, v.
Và ai đứng sau Barclays? BlackRock.

Và chúng ta có thể mất nhiều giờ đi qua thiên đường thuế tại quần đảo Cayman, Monaco hoặc nơi cư trú hợp pháp của công ty Shell ở Liechtenstein. Một mạng lưới nơi các công ty luôn luôn là giống nhau, nhưng không bao giờ có tên của một đại gia.

Tóm lại: 8 công ty tài chính lớn nhất nước Mỹ (JP Morgan, Wells Fargo, Bank of America, Citigroup, Goldman Sachs, US Bancorp, Bank of New York Mellon và Morgan Stanley) được kiểm soát 100% bởi 10 cổ đông và chúng ta có 4 công ty luôn luôn hiện diện trong tất cả các quyết định: BlackRock, State Street, Vanguard và Fidelity.

Ngoài ra, Cục Dự trữ liên bang Mỹ – FED (cũng là 1 nhà băng có tên gọi như vậy) bao gồm 12 nhà băng, được đại diện bởi một hội đồng quản trị 7 người, trong đó bao gồm các đại diện của “tứ đại gia”, mà lần lượt có mặt trong tất cả các thực thể khác.

Tóm lại, FED được điều khiển bởi bốn công ty tư nhân lớn: BlackRock, State Street, Vanguard và Fidelity. Các công ty này kiểm soát chính sách tiền tệ của Mỹ (và thế giới), mà không có ai kiểm soát chúng hay có lựa chọn “dân chủ”. Các công ty này làm ra và tham gia vào cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay trên toàn thế giới và để đạt được mục đích trở thành giàu có hơn.

Để kết thúc, nhìn vào một số các công ty bị kiểm soát bởi nhóm “tứ đại gia” này:

Alcoa Inc.
Altria Group Inc.
American International Group Inc.
AT&T Inc.
Boeing Co.
Caterpillar Inc.
Coca-Cola Co.
DuPont & Co.
Exxon Mobil Corp.
General Electric Co.
General Motors Corporation
Hewlett-Packard Co.
Home Depot Inc.
Honeywell International Inc.
Intel Corp.
International Business Machines Corp
Johnson & Johnson
JP Morgan Chase & Co.
McDonald’s Corp.
Merck & Co. Inc.
Microsoft Corp.
3M Co.
Pfizer Inc.
Procter & Gamble Co.
United Technologies Corp.
Verizon Communications Inc.
Wal-Mart Stores Inc.
Time Warner
Walt Disney
Viacom
Rupert Murdoch’s News Corporation.,
CBS Corporation
NBC Universal

Cùng một “tứ đại gia” kiểm soát phần lớn các công ty châu Âu trên thị trường chứng khoán.

Ngoài ra, tất cả những kẻ điều hành các tổ chức tài chính lớn như Quĩ tiền tệ quốc tế – IMF, Ngân hàng Trung ương châu Âu – ECB và Ngân hàng Thế giới – WB, đã được “đào tạo” và vẫn là “nhân công” của “tứ đại gia”, kẻ thành lập ra các tổ chức này.

Tên của các gia đình kiểm soát “tứ đại gia”, không bao giờ xuất hiện. Nhưng chắc chắn là Do Thái.

Tài phiệt tài chính đứng đầu mọi cuộc chiến tranh!

Giới tài phiệt ngân hàng, khẳng định ảnh hưởng của họ trong các ngành công nghiệp bằng cách cung cấp dòng tín dụng cần thiết để sản xuất trong/ngoài nước, dân sự/quân sự. Trong trường hợp bán hàng quân sự, các chính phủ khác nhau mua thì phải trả trước/đặt cọc tại các ngân hàng bảo lãnh cho thương vụ. Các hãng định giá thì trông chờ vào sự hợp tác với các công ty sản xuất để cung cấp một dòng cam kết bảo lãnh trọng về tín dụng, và cân nhắc nó khi lượng giá vấn đề rủi ro của công ty. Lãi suất tín dụng lớn làm cho các công ty sản xuất thu được lợi nhuận thấp (nôm na là phải trả lãi quá nhiều) khi phải vay mượn tiền từ các tổ chức tài chính.

Ngoài ra các tổ chức tài chính còn cung cấp dịch vụ tư vấn/cố vấn cho bộ phận tài chính các công ty công nghiệp làm sao để họ có thể tạo cán cân thu chi cho có hiệu quả nhất, làm sao để đầu tư tiền, tài sản của họ cho sinh lợi và cung cấp cho họ hiểu biết về việc mua, sát nhập, loại bỏ, liên doanh với các công ty khác, về rủi ro đầu tư mạo hiểm, về ngoại hối, và tạo điều kiện tiếp cận với thị trường vốn khi công ty muốn phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Các ngân hàng cũng quản lý phần tài sản trả lương của các công ty và rốt cục là tất cả các nguồn tài chính cần thiết để hoàn thành dự án/công trình của các công ty. Điều hiển nhiên là các dịch vụ này không phải là miễn phí.

Kẻ lớn nhất trong thị trường vũ khí là Boeing, không chỉ chế tạo máy bay dân sự, máy bay quân sự, hệ thống phòng thủ tên lửa, thông tin liên lạc vũ trụ, mà còn có các nhà băng đỡ đầu mà nhờ đó có thể cung cấp cho các khách hàng các giao dịch thương mại/tài chính của nó. Hơn 30 ngân hàng ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á-Thái Bình Dương đã nhận gửi dịch vụ của họ cho Boeing.

Northrop Grumman, làm ăn hoàn toàn trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, nó được các ngân hàng sau cung cấp tài chính: Bank of America, JP Morgan Chase, Deutsche Bank (đứng thứ 27), Credit Suisse First Boston (đứng thứ 31), Lehman Brothers Holding (đứng thứ 83) và những nhà băng khác.

Lockheed Martin, nhờ có nhiều mối quan hệ có ảnh hưởng với chính phủ, nên là nhà thầu số 1 của các hợp đồng quốc phòng, Lockheed chế tạo F-16 và các loại máy bay chiến đấu, tên lửa Patriot, vệ tinh và một mảng các hệ thống khác. Một trong những kẻ bảo lãnh và là đại diện thân thuộc của Lockheed Martin là JP Morgan Chase. Morgan cung cấp bảo lãnh, bảo hiểm tài sản của nó ra khắp thế giới.

Công ty Raytheon, một nhà sản xuất quân sự lớn khác được giúp đỡ bởi Citigroup, Bank of America, Credit Suisse First Boston, và JP Morgan Chase.

General Dynamics, sản xuất xe bọc thép Stryker, xe tăng M1 Abrams và gần đây là MRAP (Mine Resistant Ambush Protected), nhận dịch vụ chủ yếu từ Bank of America và JP Morgan Chase.

Giá trung bình của máy bay chiến đấu trên thị trường là khoảng $80 triệu, ví dụ giá sản xuất F-35 (JSF) do Lockheed Martin chế tạo khoảng $50 triệu. Giá của Stryker khoảng $2 triệu. Giá xe tăng Abrams khoảng $4,3 triệu. Giá MRAP khoảng $2 triệu và cuối cùng giá 1 quả tên lửa Patriot khoảng $2 triệu.

Đó là lý do tại sao chẳng hạn, Lockheed Martin, báo cáo dự kiến sẽ tăng 34% lợi nhuận quý II 2007, bởi Lockheed có thu nhập cao hơn từ máy bay chiến đấu và hệ thống điện tử, trong khi phải trả lương thấp hơn (International Business Times 2007). Thu nhập cả năm của Lockheed sẽ là $41,1 tỷ, nhờ chiến tranh Afghan, Iraq và những cuộc xung đột khắp thế giới. Và như Washington Post cho biết, còn bao nhiêu những công ty vũ khí khác khác thu lời từ những xác chết trên chiến trường. “General Dynamics tìm thấy lợi nhuận trên chiến trường-” (2006).

Tướng Smedley Butler (1881 – 1940), marine nhiều công danh nhất trong lịch sử nước Mỹ, đã một lần đã viết rằng, chiến tranh là cái máy phản lực: “Lợi nhuận làm ăn thông thường ở Mỹ là 6, 8, 10 và đôi khi 20%. Nhưng trong chiến tranh lợi nhuận-ah! Đó là vấn đề khác, 20, 60, 100 và thậm chí cả 1800%. Khi một công ty sản xuất dân sự chuyển sang sản xuất quân sự, lợi nhuận của nó lên như pháo thăng thiên.”

Không hẳn là chiến tranh, ví dụ chống khủng bố cũng đem đến lợi nhuận lớn cho những công ty này. Để lấy làm ví dụ, người ta đọc được qua tin tức, Lockheed Martin – nhà tài trợ chính của cuộc đảo chính Chile năm 1973 – được Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa tệ nạn (CDC-Disease Control and Prevention) chọn tiếp tục cung cấp hàng hỗ trợ cho Chi nhánh văn phòng phối hợp sẵn sàng chống khủng bố và phản ứng nhanh. chỉ riêng phần thưởng này, 5 năm hợp đồng ước lượng giá đã $135 triệu.

Gắn bó khăng khít với chiến tranh Iraq, là công ty Halliburton của ông phó diều hâu Cheney (xếp hạng 291) hay còn gọi là quí ngài điều hành “Biệt đội thần chết”, có tài sản $16,82 tỷ, được tham gia vào việc thăm dò/sản xuất dầu khí và tái thiết Iraq sau khi chiếm đóng. Halliburton có quan hệ chặt chẽ với Hoàng gia Saudi và được bảo trợ bởi JP Morgan Chase, HSBC Mỹ, Bank USA, Royal Bank of Scotland và Citigroup như là đại diện quản trị. Citigroup điều hành ngân hàng Saudi-American (SAMBA) cho đến năm 2003, và ngầm điều khiển nó sau khi xâm lược Iraq. Thủ tướng Pakistan, Shaukat Aziz – được Tổng thống Musharraf bổ nhiệm – là giám đốc quản lý của SAMBA trong những năm 90. Cả đứng đầu Saudi Arabia và Pakistan trong việc thu lời từ cuộc chiến Iraq.

Shaw Group là nhà cung cấp các hệ thống ống dẫn, kỹ thuật và dịch vụ xây dựng ở Iraq. Kết hợp với công ty quốc tế được bảo trợ này là Bank of America, JP Morgan Chase, Ngân hàng Hoàng gia Canada (thứ 77) và Ngân hàng Nova Scotia, Canada (hạng 127).

Bechtel là một công ty kỹ thuật và xây dựng khổng lồ hoạt động tại Iraq, và được đỡ đầu chủ yếu là từ Bank of America và Export-Import Bank. Công ty này đã có và có quan hệ chặt chẽ với các chính quyền Mỹ khác nhau – cả cộng hòa và dân chủ – và cũng với gia đình hoàng gia Saudi. Riley Bechtel, chủ sở hữu chính của nó đã bổ nhiệm G. W. Bush làm cố vấn.

Để chuẩn bị các cấp độ khác nhau của chính phủ và công chúng cho các cuộc chiến tranh – tại Afghanistan và Iraq – những hãng quốc tế khổng lồ này sử dụng các Thùng ý tưởng (think-tanks) như Hội đồng Quan hệ đối ngoại, và trả rất nhiều tiền. Và cũng như vậy, thường xảy ra là các quan chức nhận hối lộ và công chúng bị ném bom những bịa đặt dối trá hay giả mạo về nguy cơ gì đó qua các phương tiện truyền thông.

Để tăng cường mối liên hệ giữa chính phủ, vốn đầu tư tài chính và cánh công nghiệp, và trao đổi những kinh nghiệm và thủ đoạn giữa họ với nhau, các quan chức cấp cao, các viên quản trị và điều hành được luân chuyển lên xuống liên tục từ các ngân hàng đến các ghế trong chính phủ đến các công ty và ngược lại. Ví dụ, 2 viên quản trị chính điều hành Bechtel sang làm ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng trong chính quyền Reagan. George Schultz, cựu chủ tịch Bechtel, cựu ngoại trưởng Mỹ là một kẻ ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến chống Iraq và cũng như thế, Dick Cheney “rời” Halliburton để làm phó tổng thống trong chính quyền G. W. Bush. Ví dụ khác, tháng 2 2001, Northrop thông báo rằng Lewis W. Coleman, cựu Chủ tịch chứng khoán LLC – Bank of America, trở thành thành viên của ban giám đốc Northrop.

Và để nhấn mạnh giới tài phiệt đã làm thế nào để điều khiển chính phủ, ở đây chúng ta đã đề cập đến những gã tài chính khổng lồ như Citigroup – kẻ có số lớn tài sản đến vụ cướp bóc Ngân hàng TW Haiti – JP Morgan Chase và HSBC Holdings, kiểm soát Federal Reserve Cartel qua cổ phần của ngân hàng.

Trong khi cuộc sống bình thường của dân chúng căng thẳng bởi tất cả các loại thuế, thì đặc biệt là những công ty khổng lồ này lại được giảm thuế lớn. Tham nhũng đã trở thành không thể kiềm chế được trong tất cả các lĩnh vực và ở mọi cấp độ của xã hội. Ví dụ trong việc buôn bán vũ khí quốc tế, khoảng $2,5 tỷ được chi trả như hối lộ. Vốn tài chính để mở mang đầu tư ra các thị trường mới bằng cách hối lộ lớn, nếu không phải bằng vũ lực tàn bạo.

Trước đây, chính phủ Mỹ thông báo rằng họ sẽ cho phép bán khoảng $60 tỷ vũ khí cho Israel, Ai Cập, Ả Rập Saudi và vùng Vịnh với cái cớ mối đe dọa Iran, (ABC News). Trong cùng ngày đại sứ Hoa Kỳ ở Liên Hợp Quốc đã cáo buộc Saudi Arabia và đồng minh Mỹ trong khu vực, phá hoại nỗ lực kiềm chế bạo lực ở Iraq. Nói cách khác, điều quan trọng là kiếm tiền lớn và lớn hơn nữa từ lợi nhuận buôn bán vũ khí ngọt ngào, không có vấn đề gì với cuộc sống đắng cay của hàng triệu người Iraq và hàng ngàn người Mỹ đang sa lầy trong cuộc chiến Iraq.

Có câu hỏi: những đồng tiền này đến từ đâu? Câu trả lời là – ngoại trừ trong trường hợp của Israel – những đồng tiền này đến từ việc bán rẻ tài nguyên thiên nhiên của các nước lạc hậu và vay mượn với lãi suất cao từ cùng các ngân hàng quốc tế, mà không bao giờ có thể trả được, vì tiền lãi ngày càng chồng chất lên tiền lãi. Và trong chủ đề ngân sách chính phủ Mỹ, đó là tiền của người nộp thuế mà thay vì được sử dụng cho các phúc lợi xã hội lại bị đem ra phục vụ cái mồm ngày càng tham lam của con quái vật chiến tranh. Khoảng 41% hay hơn ngân sách chính phủ Mỹ hàng năm $650 tỷ đến với các cuộc chiến tranh.

Mối liên hệ giữa vốn đầu tư tài chính, chính phủ, và cánh công nghiệp tác động to lớn về mọi mặt đến xã hội và thiên nhiên. Chúng kéo xã hội đến bản năng động vật của chúng. Chúng phá hủy một quốc gia và cho vay tiền để xây dựng lại nó, một lần nữa phá hủy nó và lại xây dựng lại nó – thậm chí là trên giấy – tất cả chỉ để đạt được lợi nhuận sau lợi nhuận, vớ bẫm nhiều chiều, và quan trọng nhất là qua việc tăng cổ phần nắm giữ của chúng bằng cách thao túng cung-cầu của những hàng hóa đặc biệt như dầu mỏ.

Một lần nữa trong trường hợp của Iraq, “Bộ trưởng Iraq sẽ có thể vay hàng tỷ đô la để mua nhiều trang thiết bị cần thiết từ các nhà cung cấp nước ngoài, nhưng chỉ được bằng cách thế chấp doanh thu dầu mỏ quốc gia qua 1 ngân hàng được quản lý bởi 1 ngân hàng New York của nhà băng đa quốc gia JP Morgan Chase. (CorpWatch)

Để đi đến kết luận, mối liên hệ giữa vốn đầu tư tài chính, chính phủ và giới công nghiệp có thể mô tả dưới tên TỔ HỢP TÀI CHÍNH-CÔNG NGHIỆP. Nhưng thuật ngữ này không phản ánh toàn bộ các khía cạnh của liên minh làm ăn này, bởi vì giới công nghiệp và chính phủ Mỹ, chính họ bị kiểm soát bởi các nguồn vốn tài chính hay giới tài phiệt.

Nhà băng Do Thái cho vay cách mạng Mỹ

Cuộc đời Haym Salomon (1740-1785) được ca ngợi như anh hùng hy sinh cho cách mạng Mỹ, thí dụ như nguồn Wikitree http://www.wikitree.com/wiki/Salomon-1

Đọc nó, rõ ràng hắn ta là 1 kênh cho các quỹ của Do Thái Illuminati kiếm tiền bằng cách tài trợ cuộc Cách mạng Mỹ.

Tất cả các cuộc cách mạng lớn ( Anh, Mỹ, Pháp và Nga ) đều được nhà băng Do Thái thiết kế và trục lợi, sử dụng các công cụ hội kín Tam điểm, một giáo phái Satan dựa trên các phép thuật Do Thái.

Các cuộc cách mạng được thiết kế để quét đi những trật tự cũ dựa trên nền tảng Kitô giáo, bằng tiền Do Thái cho vay với lãi suất cắt cổ cho tất cả các bên, và để lại một xã hội hỗn loạn để các nhà băng Do Thái trục lợi 1 lần nữa, dù cách mạng có thành công hay không cho đến khi chúng thống trị cả thế giới bằng NOW.

Napoleon là 1 gian hùng được chúng dựng lên trong đống tro tàn cách mạng Pháp 1789. Hắn ta sử dụng tiền bạc vay của Do Thái phá tan hoang châu Âu suốt bao nhiêu năm. Nhưng cuối cùng, chính hắn cũng nhận ra. Chúng ta nghe những câu cay đẳng của Napoleon và Washington

“Sở hữu mọi làng mạc là bọn kẻ cướp Do Thái, chúng xây dựng lại chế độ nông nô, chúng là bầy quạ thực sự. Sự bần cùng là Do Thái gây ra, không phải từ một cá nhân đơn độc, mà từ toàn thể giống người này. Chúng giống như đàn sâu, hay châu chấu, ăn nước Pháp”.

“Chúng hành động chống chúng ta có hiệu quả hơn quân đội kẻ thù của chúng ta. Chúng nguy hiểm hàng trăm lần hơn đối với tự do của chúng ta và vấn đề nghiêm trọng này chúng ta đang phải đối mặt. Chỉ có một điều xót xa, là các bang đã không tiêu diệt chúng từ lâu như kẻ gây họa cho xã hội và như kẻ thù nguy hiểm nhất đối với sự bình yên của nước Mỹ”.

Bài cũ cứ lặp đi lặp lại suốt mấy thế kỷ. Thời đại ngày nay, bài cũ đó biến đổi đi một chút

Mối liên hệ giữa vốn đầu tư tài chính, chính phủ, và cánh công nghiệp tác động to lớn về mọi mặt đến xã hội và thiên nhiên. Chúng kéo xã hội đến bản năng động vật của chúng. Chúng phá hủy một quốc gia và cho vay tiền để xây dựng lại nó, một lần nữa phá hủy nó và lại xây dựng lại nó – thậm chí là trên giấy – tất cả chỉ để đạt được lợi nhuận sau lợi nhuận, vớ bẫm nhiều chiều, và quan trọng nhất là qua việc tăng cổ phần nắm giữ của chúng bằng cách thao túng cung-cầu của những hàng hóa đặc biệt như dầu mỏ.

Ở Mỹ, Do Thái lập ra các nhà băng để làm cách mạng Mỹ. Điều này giải thích lý do tại sao phần lớn các thành viên sáng lập, tổng thống và các nghị sĩ đã (và đang cả ngày nay ) là hội viên Tam Điểm, và tại sao biểu tượng Masonic ở khắp mọi nơi.

 Và điều đó cũng giải thích lý do tại sao, sau khi phục vụ mục đích của nó, Mỹ đang bị suy yếu. Trong cuộc khủng hoảng miệng vực tài chính hiện tại, những lời của James Wardner âm vang rõ ràng :

“Tôi ở đây để nói với bạn rằng sự tàn tạ của tiêu chuẩn sống Mỹ đã được lên kế hoạch từ đầu… ở cấp cao nhất của chính phủ Mỹ – một kế hoạch để phá sản, một kế hoạch để tạo ra bất ổn và đảo lộn, một kế hoạch để làm cho người Mỹ thành nông nô trong trật tự thế giới mới! ” – THE PLANNED DESTRUCTION OF AMERICA (1993)

Nhân loại đang trong sự kìm kẹp của giáo phái Satan mà hầu hết các “lãnh đạo” của chúng tôi thuộc về nó. Điều gì có thể là sai ?

Trong ngôi đền người Mỹ Do Thái anh hùng, Haym Salomon đã thành huyền thoại. Cuộc đời hắn ta ngắn gọn là đầy biến động, và ảnh hưởng đến hình ảnh nước Mỹ là rất lớn.

Cục Bưu chính Mỹ ban hành một con tem ca ngợi Salomon như một “anh hùng tài chính của cuộc cách mạng Mỹ. ” Tượng đài tưởng niệm Salomon, George Washington và Robert Morris được dựng lên ở East Wacker – Chicago và Beverly Hills – California, là nơi đất nhà của tổ chức gọi là Hội người Do Thái yêu nước và Hội Bạn bè của Haym Salomon.

đài tưởng niệm Salomon, George Washington và Robert Morris

đài tưởng niệm Salomon, George Washington và Robert Morris

Sinh ở Lissa, Ba Lan, năm 1740, Salomon đã có nhiều năm di chuyển khắp tây Âu và Anh, nói ttrôi chảy một số thứ tiếng và chúng phục vụ tốt cho phần còn lại của cuộc đời mình.

Đến New York năm 1772, hắn ta nhanh chóng khẳng định mình là một thương gia và buôn chứng khoán nước ngoài (broker) thành công. Nổi bật là làm quen với Alexander MacDougall, lãnh đạo của Hội các con trai nữ thần tự do ở New York (Sons of Liberty), Salomon đã trở thành nhà hoạt động vì lòng yêu nước. Hội các con trai của nữ thần tự do là một hội Tam điểm, mà lập ra đảng chè Boston hay còn gọi là trà đảng (tea Party), cái đảng này một cánh hoạt động của nhà băng Do Thái Illuminati.

Như mọi khi, lúc chúng sắp đặt xong mọi thứ thì chiến tranh nổ ra vào năm 1776, Salomon có hợp đồng cung ứng cho quân đội Mỹ ở trung tâm New York. Năm 1777, hắn lấy Rachel Franks, người có anh trai Isaac là một trung tá dưới quyền George Washington. Ketubah – bản ghi chép cưới xin của họ hiện để ở Hội lịch sử Do Thái Mỹ.

Lửa cách mạng bùng lên thiêu rụi nhiều chỗ ở New York, binh lính Anh bắt và giam cầm Salomon. Sau hắn được thả và người Anh hy vọng sẽ sử dụng kỹ năng ngôn ngữ của hắn để giao tiếp với lính đánh thuê Đức của họ.

Thay vào đó, Salomon ngấm ngầm khuyến khích lính đánh thuê đào ngũ. Lại bị bắt lần nữa vào đầu năm 1778, Salomon bị tịch thu tài sản. Một tòa đánh trống đầu kết án hắn bị treo cổ. Nhưng Salomon đã trốn thoát có thể là với sự giúp đỡ của Sons of Liberty và chạy trốn không một xu dính túi đến Philadelphia. Vợ và con của cũng đi ngay sau đó.

Ở Philadelphia, Salomon tiếp tục hành nghề môi giới. Bộ trưởng Pháp bổ nhiệm hắn làm chân trả lương chung cho các lực lượng Pháp chiến đấu chống Anh cùng phía Mỹ. Chính phủ Hà Lan, và Tây Ban Nha cũng đề nghị hắn bán chứng khoán để hỗ trợ các khoản cho vay đối với Quốc hội Lục địa.

Năm 1781, Quốc hội Mỹ đã thành lập Văn phòng Tài chính để cứu Mỹ từ đống đổ nát tài chính. Salomon liên minh với Giám đốc Tài chính William Morris và trở thành một trong những nhà broker hiệu quả nhất trong hối phiếu để đáp ứng chi phí của chính phủ liên bang. Cá nhân Salomon vẫn cho các thành viên của Quốc hội Lục địa và các viên chức liên bang khác vay tiền, tính lãi và hoa hồng thấp hơn giá thị trường. James Madison đã thú nhận rằng: “Tôi có một thời gian… là một người hưu trí dựa trên sự ủng hộ của Haym Salomon, một nhà môi giới Do Thái.”

Trong khi hỗ trợ nước Mỹ, Salomon cũng đóng vai trò nổi bật ở Philadelphia và các vấn đề của cộng đồng Do Thái, là thành viên của ông hội đồng quản trị thánh Mikveh Israel Philadelphia, thủ quỹ của Hội Philadelphia vì du khách nghèo, và tham gia tòa án giáo đoàn Do Thái đầu tiên. Salomon đã giúp đứng đầu cuộc chiến thành công bãi bỏ lời thề cấm người Do Thái và không Kitô hữu giữ chức vụ công ở Pennsylvania.

Salomon hoạt động trong bối cảnh của một xã hội, và một thời đại, mà thời đó coi mọi Do Thái đều như những kẻ cho vay nặng lãi và cào tiền.

Năm 1784, viết như “Một người môi giới Do Thái”, Salomon phản đối cáo buộc rằng các thương gia Do Thái trục lợi. Salomon nghĩ rằng là bất công khi buộc tội như thế là “bừa bãi về người Do Thái của thành phố này nói chung… vì những lỗi lầm của một vài người”. Sự Salomon bảo vệ hăng hái các đồng sự của mình đã đưa Salomon lên thành huyền thoại.

Salomon liều lĩnh cả cơ đồ của mình, cam kết cho vay trên danh nghĩa cách mạng, trên tự do tôn giáo. Mặc dù thất bại tài chính vào cuối đời, nhưng tên Salomon gắn liền với chủ nghĩa lý tưởng và sự thành công của cuộc Cách mạng Mỹ, và sự đóng góp của Do Thái để thực hiện cho lý tưởng tự do Mỹ.

Solomon là mỏ tiền, nguồn cung cấp thực phẩm và trang thiết bị cho binh lính Washington. Tướng George Washington biết rằng ông ta luôn luôn có thể dựa vào Haym Salomon để đảm bảo nguồn tiền để chiến đấu với quân đội cựu Lục địa.

Trong chiến dịch Yorktown, Solomon cho Washington vay 350 ngàn bảng và sử dụng hầu như toàn bộ số tiền có hoặc được ủy nhiệm, từ cộng đồng Do Thái để cho vay, nên được coi là người hùng tài chính của cuộc Cách mạng Mỹ. Vào cuối của cuộc chiến tranh, năm 1783, một phần nhỏ của số tiền được hoàn trả nhưng hầu hết nó không bao giờ được hoàn trả. Cuộc đời Salomon là không phải tất cả là thắng lợi. Một tay buôn tiền thành công trong những năm đầu 1780, và qua đời vào năm 1785 để lại một vợ và bốn đứa con nhỏ với các khoản nợ lớn hơn tài sản của ông ta. Khi con trai Salomon kiến nghị Quốc hội để đòi tiền nợ của cha mình, các ủy ban khác nhau đã từ chối thừa nhận tuyên bố của gia đình. Năm 1936, Quốc hội đã bỏ phiếu để xây dựng một đài tưởng niệm Salomon ở Columbia, nhưng kinh phí xây dựng thực tế không bao giờ được cấp.

Người Do Thái bị trục xuất 47 lần trong 1000 năm – Tại sao?

Tại sao lại thường xuyên như vậy? Tại sao lại bị ở tất cả các quốc gia và các nền văn hóa? 
Tại sao không có dân tộc nào khác có được kỳ tích bị trục xuất bằng 1 phần nhỏ như thế?

Hay sống khép kín trong các ghetto kín cổng cao tường, chỉ có duy nhất 1 lối vào. Theo tôn giáo bị coi là quái thai dị dạng, phản động chưa từng có thứ dị giáo nào so được và hay… làm cách mạng.

Henry Ford, ông tổ của ngành công nghiệp ô tô Mỹ và thế giới có lẽ hiểu rõ nhất và có một phần câu trả lời về sự ngược đãi người Do Thái? Tài sản của Henry Ford không những bị đám nhà băng Do Thái nuốt trọn. Chúng còn biến quỹ Ford, với ý định ban đầu tử tế, thành nơi cấp tiền làm cách mạng khắp thế giới. Chúng làm Henry Ford, một người Mỹ có tài năng thực sự, làm giàu từ lao động sáng tạo của mình ô danh.

“Cái thiên tài của người Do Thái là sống dựa vào người, không dựa vào đất đai, hay sản xuất các hàng hóa từ nguyên liệu thô, mà dựa vào người. Người khác trồng trọt trên đất đai, người Do Thái, nếu có thể, sẽ sống dựa vào người trồng trọt. Người khác làm nghề buôn bán và sản xuất, người Do Thái sẽ khai thác những thành quả của công việc họ. Đó là tài năng đặc biệt của Do Thái. Nếu tài năng này được mô tả là ký sinh trùng, thì thuật ngữ có vẻ là hợp lý.”

“Dân tộc của người DT là duy nhất sở hữu các bí mật của tất cả phần thế giới còn lại… không có chính phủ nào trên thế giới phục tùng họ trọn bộ như Mỹ. ‘Anh quốc cũng như thế… Đức cũng như vậy’ khi họ là Do Thái quốc tế, kẻ đã làm được điều này.”

“Người Mỹ là những kẻ (bây giờ người ta biết thế) bẩn thỉu, đê tiện, tham lam, độc ác. Tại sao? Bởi quyền lực-tiền bạc Do Thái tập trung ở đây.” – Ông Henry Ford.
Chỉ tính ở châu Âu, những người Do Thái đã bị trục xuất 47 lần trong 1.000 năm qua. Dưới là trích đoạn từ sách Đạo Do Thái của quỉ Sa tăng – The Synagogue of Satan của Andrew Carrington Hitchcock nói về một số lần người Do Thái bị trục xuất:

Mainz, 1012
Pháp, 1182
Upper Bavaria, 1276
Anh, 1290
Pháp, 1306
Pháp, 1322
Saxony, 1349
Hungary, 1360
Bỉ, 1370
Slovakia, 1380
Pháp, 1394
Áo, 1420
Lyons, 1420
Cologne, 1424
Mainz, 1438
Augsburg, 1438
Upper Bavaria, 1442
Hà Lan, 1444
Brandenburg, 1446
Mainz, 1462
Lithuania, 1495
Bồ Đào Nha, 1496
Naples, 1496
Navarre, 1498
Nuremberg, 1498
Brandenburg, 1510
Phổ, 1510
Genoa, 1515
Naples, 1533
Ý, 1540
Naples, 1541
Prague, 1541
Genoa, 1550
Bavaria, 1551
Prague, 1557
Đức Giáo Hoàng, 1569
Hungary, 1582
Hamburg, 1649
Vienna, 1669
Slovakia, 1744
Mainz, 1483
Warsaw, 1483
Tây Ban Nha, 1492
Ý, 1492
Moravia, 1744
Bohemia, 1744
Moscow năm 1891

Còn trong cuốn sách L’antisémitisme son histoire et ses causes (Chống Xê-mít trong lịch sử và các nguyên nhân của nó), xuất bản năm 1894, của tác giả người Do Thái Bernard Lazare, nêu ra ý kiến sau về việc người Do Thái bị trục xuất:

Nếu đó là thù nghịch, thậm chí là ác cảm, đối với người Do Thái tại một thời kỳ và ở một quốc gia, thì sẽ dễ dàng để làm sáng tỏ nguyên nhân của sự tức giận này, nhưng sự phân biệt đối xử này ngược lại là đối tượng của lòng căm thù cho tất cả các dân tộc tự lập. Do đó, kể từ khi những kẻ thù của người Do Thái có chủng tộc đa dạng nhất, họ sống ở các nước rất xa nhau, bị cai trị bằng pháp luật rất khác nhau, chi phối bởi các nguyên tắc đối nhau, không cùng một tinh thần đạo đức, hay phong tục tập quán, được cổ vũ bởi khuynh hướng khác nhau mà không cho phép họ phán xét bất cứ điều gì theo cùng một cách, vì thể mà nguyên nhân chung của việc chống Xê-mít luôn luôn tự nằm tại chính Israel và không phải trong những người chiến đấu chống lại Israel.

Giáo sư Jesse H. Holmes viết trên American Hebrew, nói rõ ý kiến cũng tương tự như sau:
Thật khó có thể là một tai nạn khi mà sự phản kháng chống lại người Do Thái lại thấy ở khá nhiều khắp mọi nơi trên thế giới, những nơi người Do Thái và người không Do Thái có mối liên hệ. Và như người Do Thái là yếu tố chung của hoàn cảnh này thì dường như, trên tất cả, nguyên nhân sẽ được tìm thấy ở trong họ chứ không phải là trong các nhóm rất đa dạng và khác nhau cảm nhận thấy sự phản kháng này.

Do Thái Zionist đứng sau nạn diệt chủng người Armenia

Trong các năm 1915-1923, cuộc diệt chủng người Armenia đã làm cho hơn 1 triệu đến 3,7 triệu người Armenia bị thiệt mạng bàn tay của đạo quân “Young Turks” theo những cách dã man tàn bạo nhất. Nhưng Do Thái đã nhúng tay và đóng vai trò hàng đầu ở đây. Ngoại trừ Holocaust giả dối do Zionist dựng lên để cướp bóc nước Đức hàng trăm tỷ USD và dựng lên Israel, diệt chủng Armenia là lớn nhất và đầy đủ tư liệu nhất trong lịch sử nhân loại, xét trên góc độ qui mô và mức độ tàn bạo. Những tư liệu như thế có thể tìm thấy rất nhiều trên mạng.

Kế hoạch 1915-1923 diệt chủng Armenia, nơi 1,5 triệu người Armenia bị giết hại một cách dã man trong vùng đất tổ tiên của họ ở Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, thực sự Thổ mới được dựng lên ở đây vào năm 1910 hoặc 1912.

Có cuốn sách ” Nhóm lợi ích bên trong của cuộc cách mạng Ottoman – Inner Folds of the Ottoman Revolution” viết bởi Mevlan Zadeh Rifat ở Thổ Nhĩ Kỳ và được xuất bản năm 1929, tác giả, một thân vương Thổ Nhĩ Kỳ (Sultan), tuyên bố rằng “diệt chủng Armenia đã được quyết định trong tháng 8 năm 1910 và tháng 10 năm 1911, bởi Young Turk gồm toàn bộ người Do Thái Balkan di cư ở dạng giáo phái hỗn tạp Do Thái-Hồi, trong đó có Talaat, Enver, Behaeddin Shakir, Jemal, và Nizam đóng vai như là người Hồi giáo. Chúng gặp nhau ở nhà khách/chi hội ở Salonika (một chi nhánh Tam điểm Rothschild tài trợ)”. Chủ nghĩa hỗn tạp có nghĩa là một sự kết hợp các hình thức khác nhau của niềm tin hay thực tiễn; mà Tam điểm phù hợp với mô tả đó. Khi mà Tam điểm bắt đầu cuộc cách mạng 1897 ở Pháp với tiếng rú “tự do, tình anh em, bình đẳng”, thì Young Turks sử dụng khẩu hiệu tương tự của chúng trong cuộc cách mạng năm 1908.

Báo cáo hội thảo/thuyết trình năm 1994 của Joseph Brewda Viện Schiller mang tên “Palmerson phát động Young Turks để kiểm soát lâu dài Trung Đông – Palmerson launches Young Turks to permanently control Middle East” tuyên bố kẻ sáng lập ra Young Turks là một gã Do Thái chính cống tên Emmanuel Carasso. Ông nói: “Carasso thiết lập hội bí mật Young Turk trong những năm 1890 ở Salonika, khi đó là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ, và nay thuộc Hy Lạp. Carasso cũng là bậc thủ lĩnh lớn của Hội Tam điểm Ý, được gọi là “Phục sinh Macedonia”. Trụ sở Tam điểm cũng là sở chỉ huy Young Turks, và tất cả các thủ lĩnh Young Turk hàng đầu đều là hội viên Tam Điểm.”

Hơn nữa Brewda còn nói: “Trong chế độ Young Turk, Carasso tiếp tục đóng vai trò thủ lĩnh hàng đầu. Hắn đến gặp Sultan, nói với quân vương rằng ông đã bị lật đổ. Hắn ta chịu trách nhiệm quản thúc Sultan. Hắn vận hành mạng lưới gián điệp Young Turks trong khu vực Balkan. Và hắn cũng chịu trách nhiệm cung cấp mọi nguồn lương thực cho đế chế trong WW-I”. Thật là mỉa mai sau 4 bốn thế kỷ kể từ khi Sultan Thổ hoan nghênh dân Do Thái châu Âu bị trục xuất vào Thổ Nhĩ Kỳ, thì những gã Do Thái chính cống thuộc tổ chức bí mật và Zionism lại đá Sultan ra khỏi ngai vàng đầu thế kỷ 20, phá hủy đế chế Ottoman, và ăn mừng chiến thắng của chúng bằng cách giấu mặt tàn sát gần như toàn bộ người Kitô giáo Armenia, một triệu rưỡi người Armenia, nửa triệu người Hy Lạp, nửa triệu người Kitô Assyria và Arameans.
Sultan không phải là vị vua duy nhất bị lật đổ, các cuộc cách mạng và những gã BUÔN VUA đã làm đảo lộn khắp lục địa Á-Âu thế kỷ XVIII-XX đã làm ít nhất 9 ông vua châu Âu bị giết, kể cả Sa Hoàng.
Năm 1982, sau khi quân đội Israel xâm lược Lebanon, chúng ăn mừng chiến thắng của mình bằng cách giấu mặt tàn sát trẻ em và phụ nữ trong trại tập trung Palestine Shattila, ở Lebanon, bằng cách cho đám chiến binh dân quân Phalanger người Lebanon vào trại trong hai ngày để giết chóc dân của mình. 80% người tỵ nạn trong trại bị giết hại. Gần như tất cả số bị chết là người già, phụ nữ và trẻ em và tất cả họ không hề mang vũ khí. Không có một khẩu súng, một con dao nào thấy có trong sở hữu của họ, các nhân chứng Palestine tuyên bố như vậy.

Tất cả những điều này đều theo tri giác Talmud, sách thánh Quỉ Satan của dân Do Thái, nó khuyến khích dân Do Thái giết chóc, trực tiếp hay gián tiếp, bởi những câu nói như thế này: “Mỗi Do Thái kẻ tràn ngập máu người vô thần, là đang làm công việc như hiến tế thần Satan”. Talmud: Bammidber Raba c21 & Jalkut 772. Trong mắt Talmudists tất cả không Do Thái là vô thần. Và “Đây là luật để giết bất cứ ai phủ nhận Torah. Kitô hữu thuộc về những kẻ từ chối Torah.” Talmud: Coschen Hamischpat, Hagah 425. Câu cú thực sự rất ngắn gọn.

Đức Giêsu đến, đổ máu mình để cứu vớt nhân loại và chấm dứt hiến tế con người và động vật thực hiện bởi Talmudist Do Thái tin sự đổ máu của những người vô tội là một điều kiện tiên quyết của các vị thần thuộc loài bò sát của chúng, đặc biệt trước khi bắt tay vào sự nghiệp. Chúng đã sắp đặt các vụ giết chóc và tàn sát hàng triệu và hàng triệu sinh mạng để các thần thánh ma quỷ của chúng thỏa cơn khát máu và ban cho chúng một quê hương mới ở gần phía đông. Rõ ràng, hiến tế hàng trăm triệu sinh mạng trong nửa đầu của thế kỷ 20 (trong đó có cả người Do Thái của Holocaust Đức Quốc xã) đã làm dịu các vị thần của chúng và mong muốn của chúng đã được ban.
Quay lại với Young Turks. Ông Brewda viết: “Một lĩnh vực quan trọng khác là báo chí. Khi nắm quyền, Young Turks làm một số tờ báo, bao gồm cả ‘The Young Turk’, có biên tập viên không ai khác hơn người một Do Thái Nga đứng đầu, Vladimir Jabotinsky. Jabotinsky đã được dạy dỗ như một tài năng trẻ ở Ý”.

Ông Brewda, bỏ qua khả năng Talaat có thể là một Do Thái bí mật xâm nhập, viết: “Tất nhiên, cũng có một số người Thổ đã giúp lãnh đạo phong trào Young Turks, Ví dụ, Talaat Pasha, Talaat là bộ trưởng Nội vụ và tên độc tài của chế độ Thổ trong thời kỳ WW-I. Hắn từng là thành viên Hội Tam Điểm Ý của Carasso ở Salonika. Một năm trước cuộc đảo chính 1908, Talaat trở thành chủ nhân cao cấp của Hội Tam Điểm Scotland Rite trong đế chế Ottoman. Nếu đến (nơi lưu trữ) trụ sở Scotland Rite ở Washington, DC, bạn có thể thấy rằng hầu hết các thủ lĩnh Young Turks đều là các giáo chức trong Scotland Rite. “

Năm 1916 người Anh và Pháp, bị mê mẩn bởi lòng tham, đã thực sự có một thỏa thuận bí mật để chia chác đế chế Ottoman với nhau. Cuốn sách anti-semitic hiện nay của Hitler “Cuộc đời tôi – Mien Kempt” (Mein Kampf) là một sách bán chạy ở Thổ, nó được xuất bản bởi các nhà xuất bản Thổ khác nhau với hàng ngàn hàng vạn cuốn. Và cuối cùng người Thổ đã tỉnh mộng và nhận ra rằng bằng cách chối bỏ Sultan của họ đã trao Palestine cho Do Thái Zionist làm quê hương với cái giá đế chế lâu đời hàng thế kỷ của họ? Và là người Thổ bị nô dịch hóa muốn khám phá ai là nhà lãnh đạo thực sự của họ? Có những tuyên bố rằng người sáng lập mắt xanh của Thổ hiện đại, Kemal Ataturk có nguồn gốc Do Thái. Và người ta biết rằng ít nhất có 2 tổng thống Thổ hiện đại (Inonu và Bayar) là dân Do Thái.

Tại Istanbul, thủ đô và trung tâm quyền lực của đế quốc Ottoman, chỉ có vài ngàn (dưới 10.000) Do Thái, khoảng 200.000 người Armenia và Hy Lạp, họ kiểm soát thương mại, tài chính và nghệ thuật của đế chế. Do Thái và Kitô hữu trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ qua hàng trăm năm đời sống đế quốc. Do Thái là kẻ thua cuộc và các Kitô hữu là những người luôn luôn chiến thắng bởi các Sultan (có rất ít Sultan xấu giết Kitô hữu) lắng nghe và ủng hộ Kitô hữu. Đối với Do Thái Zionist chiếm đoạt Thổ, thì các Kitô hữu của nó phải bị loại bỏ, và đó là bộ mặt ngoài xấu xa khác của cuộc diệt chủng đầu tiên trong thế kỷ 20 ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Một nguồn khác là bài viết có tên dài “Người Armenia và Dự án diệt chủng của Do Thái: Loại bỏ xung đột sắc tộc Dọc theo con đường dầu mỏ từ Baku đến vùng kênh đào Suez” (The Armenian & Jewish Genocide Project: Eliminating Ethnic Conflict Along the Oil Route From Baku to the Suez Canal Region) được viết bởi Clifford Shack và được đăng trong trang web.

Ông Shack viết: “Năm 1880, chi nhánh Pháp của gia đình Rothschild giành được lợi ích trong lĩnh vực dầu mỏ Baku của Nga và trong một nỗ lực để cung cấp cho nhà máy lọc dầu của họ trên biển Adriatic với dầu giá rẻ của Nga. Để đổi lấy những lợi ích này nên họ đã xây dựng một tuyến đường sắt nối Baku đến cảng Biển Đen mới có được ở Batum. Điều này đã mở cửa vựa dầu Baku, một nguồn cung cấp lớn trên thế giới, đến với thế giới. Với sự thành công của con đường sắt mới, Rothschild có được nhiều dầu hơn là số họ thực sự có thể bán. Vượt qua nỗi sợ hãi của họ khi cạnh tranh với gã dầu khổng lồ Standard Oil (Mỹ), họ tìm kiếm thị trường rộng lớn phía đông Suez.”

Ông Shack nói rõ hơn nữa lập luận của mình: “Quyết định khôn ngoan của chi nhánh Rothschild Pháp là đa dạng hóa sang các vùng khai thác dầu khác, có thể là một tính toán. Ba năm sau khi gia nhập với Hoàng gia Hà Lan, sản xuất tại Baku bất ngờ tụt xuống 1 nửa năm 1905. Mặc dù rung động bởi hoạt động chính trị, sự gián đoạn chính là do tình trạng bạo lực của các xung đột sắc tộc giữa người Hồi giáo trong khu vực và các dân tộc thiểu số người Armenia là các Kitô hữu. Xung đột sắc tộc này gây ra sự gián đoạn phân phối dầu ra thị trường thế giới lần đầu tiên. Standard Oil đã nhanh chóng thế chân nhu cầu của thị trường khi nguồn cung của họ yên ổn. Hoàng gia/Hà Lan/Shell Group (và các quý tộc) nhìn khoản đầu tư của họ ở Baku của họ tan trong lửa. Xung đột sắc tộc là gốc rễ của vấn đề. Do đó có thể giả định một cách tin cậy rằng họ đã sử dụng các biện pháp để loại trừ khả năng đó xảy ra trong tương lai.” Tập đoàn dầu mỏ dường như đã học được bài học từ lịch sử bởi trước khi xây dựng tuyến dầu Baku-Ceyhan ngày nay, đã bắt đầu, đã có ai đó đã chắc chắn rằng không có người Armenia nào ở lại Baku thêm nữa. Ông Shack lưu ý rằng “việc loại bỏ dân Armenia của Baku sẽ không giải quyết vấn đề xung đột sắc tộc trong khu vực. Các khu vực xung quanh sẽ tạo ra hiệu ứng bể chứa tái cung cấp các yếu tố mâu thuẫn dân tộc thiểu số.” Và ông hỏi: “là loại bỏ (năm 1915-1923) nhóm thiểu số như người Armenia là cái giá đẹp phải trả cho hòa bình trong một khu vực rất quan trọng cho sự phát triển và đầu tư của vùng Viễn Đông?”. Rõ ràng ông Shack đã bỏ qua yếu tố trả thù giận dữ trong trái tim con thú người.

Ông Shacks trả lời câu hỏi của chính mình bằng cách nói trong bài viết về làm ăn lớn và các tập đoàn lớn: “Có lẽ là công bằng để nói rằng diệt chủng một nhóm thiểu số 1 triệu hoặc hơn, để phục vụ lợi ích của một tỷ, hay hơn, là ít câu hỏi sẽ phải thực hiện, hơn là phải thực hiện như thế nào. Vì vậy, khi mà không để lộ bất kỳ động cơ chính đáng nào liên can đến các nhà lập kế hoạch thực sự tội ác diệt chủng, lược đồ dính líu của phe được ủy thác (cụ thể là Thổ Hồi giáo, người Kurd và Azerbaijan), được điều khiển thông qua các lớp của ảnh hưởng, tạo ra vỏ bọc đầy đủ cho những kẻ lên kế hoạch.”

Trong chương 30 của cuốn sách Isaiah chúng ta đọc lời Chúa tiên tri: “Khốn khổ cho đám trẻ nổi loạn, những đứa thực hiện một kế hoạch, nhưng không phải của Ta, và tạo một đồng minh, nhưng không có Linh hồn của Ta, để thêm tội lỗi vào tội lỗi,… Vì điều này là loạn dân, những đứa con hư hỏng, những đứa con từ chối lắng nghe lời răn Thượng Đế”.

Đây không phải là toàn bộ câu chuyện, có một mối liên hệ ma quỷ ngoài hành tinh với nó. Amitakh Stanford, trong trang web và trong bài viết của mình “Tàn tích Anunnaki vẫn còn trên trái đất –The Anunnaki Remnants Are Still on Earth” viết: “Đó là sinh vật khủng khiếp, Anunnaki, mà Sitchin đã viết lời tạ lỗi. Đọc tư liệu của Sitchin, ông đã vẽ ra những sinh vật quỷ xứ ngoài hành tinh đến mức có thể bằng cách trình bày câu chuyện chúng đang cố gắng để cứu hành tinh của mình, và để lại cho người đọc tin rằng sau khi hoàn thành điều đó, chúng sẽ bỏ đi không một dấu vết, nói như thế. Tuy nhiên, Anunnaki đến đây để chinh phục và nô dịch, không vì bất kỳ mục đích cao đẹp nào, và dù thế nào, cũng không để cho họ tự nguyện. “Anunnaki giết loài người và các loài vật khác trên hành tinh. Trước kia, điều này thường được gọi là diệt chủng. Tuy nhiên, ngày nay có thuật ngữ hoa mỹ hơn được dùng, gọi là “thanh lọc chủng tộc”. Thái độ khinh thị chủng tộc khác là một điều hèn hạ khác mà Anunnaki dùng để chia rẽ loài người thành nhiều phe phái, tạo ra thù hận và ngờ vực của họ với nhau. Bất kỳ quan điểm công bằng lịch sử nào đều xác thực điều này là thật. Holocaust của thế kỷ XX là một trong những ví dụ như vậy.” Sau tất cả, chúng ta đang phải đối phó với con người sinh vật bình thường, nhưng là những kẻ bị ám ảnh với thực thể ngoài hành tinh và những kẻ bị thao túng, bị gây ảnh hưởng và bị chỉ dẫn bởi những sinh vật ác quỷ ngoài hành tinh ấy trong những phe phái khác nhau của chúng. 
_____

Bài nghiên cứu này không có bản quyền. Tái bản là được phép. Không ai cần phải lãng phí thời gian gọi tác giả là ‘anti-semite’. Ông sẽ là người đầu tiên đến cứu giúp Do Thái nếu và khi cuộc sống của họ bị đe dọa. Trước khi gọi ông là anti-semite, tốt hơn hãy gọi Chúa của Kinh Thánh và tiên tri của Ngài là anti-semite. Nếu không, sẽ phải đọc lại Kinh Thánh… hãy cẩn thận.

Đối với bài viết của Joseph Brewda hãy truy cập: SchillerInstitute.org sau tìm tên tác giả hay đầu đề bài viết trên ô tìm kiếm của học viện. Đối với bài viết của Clifford Shack, hãy tìm trên Yahoo hay Google để đến nơi đăng tải.

Cuốn sách Thổ Nhĩ Kỳ “Nhóm lợi ích bên trong của cuộc cách mạng Ottoman – Inner Folds of the Ottoman Revolution ” không có bản dịch tiếng Anh nào. Nó đã được dịch sang tiếng Armenia năm 1939 tại Beirut, Lebanon, bởi Donigian Press.

http://socioecohistory.wordpress.com…ide-holocaust/

Đảng Cộng Hòa Mỹ – Đỏ Từ Lúc Bắt Đầu

http://www.newswithviews.com/Stang/alan30.htm

Đảng Cộng hòa đỏ, là cái đỏ cộng sản. Đúng như thế, tôi không nhầm. Đảng Cộng hòa Mỹ từng là cộng sản.

Nhiều người yêu nước Mỹ than vãn rên rỉ ngày nay đảng Cộng hòa đã “lạc lối” và “sai đường”. Đảng đã “xa rời” trách nhiệm pháp lý, xa rời triết lý của những người hùng Cộng hòa như Robert Taft, người bị tay chân của Eisenhower lừa lọc trong cuộc bổ nhiệm ứng cử viên TT năm 1952.

Đó là nói về hiện tượng tại sao ngày này, Đảng Cộng hòa lại ghét tiến sĩ Ron Paul, một đảng viên kỳ cựu ghê gớm đến vậy. Đâu đó đã nói Ron Paul bị tân diều hâu ghét bỏ. Nguyên cớ chỉ có một, bởi Paul giống ông Taft, là tinh hoa của đảng Cộng hòa.

Và người yêu nước Mỹ nói đó là sai lầm, tất nhiên. Lý do đảng Cộng hòa ghét tiến sĩ Paul chính xác là bởi đảng không còn là một đảng truyền thống và chính thống, là bởi nền tảng tự do của đảng là một lầm lạc, chứ đảng Cộng hòa đã “không đi sai, không đi trái.”

Đảng Cộng hòa đã sai ngay từ đầu, ngày nó thành lập. Ngay từ đầu, Đảng Cộng hòa đã hoạt động, không bị chệch hướng vì một chính thể lớn hơn nữa, đế quốc hơn nữa, vì thuế cao hơn nữa, nhiều chiến tranh hơn nữa, nhiều chủ nghĩa độc tài hơn nữa. Ngay từ đầu, Đảng Cộng hòa đã được nhuộm đỏ bởi màu cộng sản.

Tại sao thế? Năm 1848, Cộng sản nổi lên làm cách mạng khắp châu Âu, liên kết lại bằng một tài liệu được chuẩn bị sẵn cho mục đích này, Tuyên ngôn đảng Cộng sản. tác giả của nó là một kẻ ăn bám thoái hóa tên Karl Mark, kẻ được một bè lũ nhỏ Liên hiệp cộng sản giàu có thuê cho mục đích này. Tuyên ngôn tuyên trung thành với Liên hiệp và cũng tuyên các nạn nhân mà nó sẽ xử.

Nhưng cuộc cách mạng năm 1848 không thành công. Các thủ phạm đã trốn thoát ngay trước mũi cảnh sát. Và bọn chúng, dĩ nhiên trốn đến đất Mỹ. Năm 1856, tức là 8 năm sau đó, đảng Cộng hòa tranh cử cho ứng viên đầu tiên của mình chức tổng thống. Vào thời gian đó, cái đảng của những tên cộng sản từ chạy trốn từ châu Âu sang đã thâm nhập hoàn toàn vào đất nước này, đặc biệt là miền Bắc. Nhiều kẻ trở thành các quan chức cao cấp trong quân đội Liên minh và chính phủ.

Qua nhiều thập kỷ, người Mỹ thấy kỳ lạ về sự tàn bạo Yankee – dân Mỹ miền Bắc trong cuộc nội chiến. Robert E. Lee xâm chiếm miền Bắc, nhưng người anh hùng quả cảm Ki-tô đã ngăn chặn mọi sự cướp phá chống thường dân. Thiên tài quân sự Stonewall Jackson trụ vững như một núi đá và dẫn quân Yankees đến Manassas, nhưng khi Barbara Frietchie đòi phất cờ Yankee ở Frederick, Maryland, thay cho lá cờ Ngôi sao gạch chéo, người hùng Ki-tô ra lệnh, theo John Greenleaf Whittier:

“‘Ai chạm vào một sợi tóc trên cái đầu Yon Gray Sẽ chết như một con chó! Tiến lên!”. 

Yankees xâm lược miền Nam thật tàn bạo, giết chóc, hãm hiếp và phát hủy mọi của cải của dân chúng. Trong thị trấn Georgia, 400 phụ nữ bị nhốt ở trên sân trong nhiệt độ tháng 7 cả tuần không vệ sinh tắm rửa. Thật khủng khiếp khi cái chất nhờn Yankee lên men. Khoảng hai ngàn phụ nữ miền Nam và trẻ em bị bắt về phía bắc để lao động như nô lệ. Không rõ điều này có được dạy trong trường học?

Cuộc hành quân đến biển Sherman đốt phá trụi đến mặt đất thật kinh sợ mà bọn Phát xít cũng phải nể. Tại sao? Bởi Yankees rất ghét nô lệ da đen? Không có nghi ngờ gì Cộng sản đã thực sự ảnh hưởng mạnh ở miền Bắc, kết hợp với chủ nghĩa bãi nô điên cuồng, ít nhất là một trong những lý do chính. Chế độ nô lệ là một lý do để bào chữa về sau, chúng nghĩ ra muộn khi đưa vào để tuyên truyền lôi kéo.

Nhìn lại, có vẻ như vì không có gì như thế này đã từng xảy ra ở đây, Lee và Jackson đã không hoàn toàn hiểu những gì họ đã chiến đấu. Có điều đó thực sự là cuộc “nội chiến”, chứ không phải ly khai, họ lẽ ra sẽ và có thể dễ dàng chiếm Washington sau khi chiếm Manassas và treo cổ tổng thống Cộng sản đầu tiên của người Mỹ và những tên tội phạm chiến tranh khác. Thay vào đó họ lại quay về, trong niềm tin sai lầm rằng Yankees bị đánh bại sẽ để họ được yên. Lee hiểu ra điều này quá muộn. Ông nói sau chiến tranh giá như ông ta biết ngay từ đầu những gì ông phát hiện ra, ông sẽ phải chiến đấu đến người cuối cùng.

Cuộc chiến miền Nam là gì? Alexander Hamilton là cục trưởng ngân khố quốc gia đầu tiên, ông ta muốn có một chính phủ trung ương mạnh và một ngân hàng quốc gia. Phó tổng thống Aaron Burr đã giết chết Hamilton trong một trận đấu. Vấn đề là Burr đã không giết Hamilton đủ sớm. Henry Clay kế thừa và mở rộng ý tưởng của Hamilton trong một cái gì đó gọi là “hệ thống Mỹ”, theo đó ủng hộ chính phủ trợ cấp lớn cho các ngành công nghiệp ưu đãi và đánh thuế cao đến tổn hại, những gì ngày nay chúng ta gọi là “chủ nghĩa xã hội cho người giàu.” Clay truyền cảm hứng cho ông luật sư đường sắt Abraham Lincoln, kẻ thừa kế cuộc đào tẩu Đỏ từ cuộc Cách mạng 1848 và trở thành tổng thống Cộng sản đầu tiên của nước Mỹ.

Tất cả điều này lại đến với tâm trí bằng xuất bản gần đây về đảng Cộng hòa đỏ: chủ nghĩa Mark-xít trong nội chiến và Mark-xít Lincoln (Universe, Lincoln, Nebraska, 2007) của nhà sử học miền Nam Walter D. Kennedy và Al Benson. Bạn phải đọc quyển sách này , bởi vì nó là cái đinh không thể bác bỏ đóng chặt mọi thứ đã nói ở trên và một số thứ nữa. Hãy xem xét qua cái đảng Cộng hòa đỏ này và, khi làm việc đó, hãy nhớ rằng lý do hầu hết người Mỹ chưa bao giờ nghe nói về tất cả điều này là bởi kẻ thắng viết sử.

Ví dụ, August Willich là một thành viên trong Liên hiệp Cộng sản London League cùng với Karl Mark và Friedrich Engels. Không cần phải nói, Willich trở thành một vị tướng quan trọng trong quân đội Liên minh. Robert Rosa thuộc về câu lạc bộ Cộng sản New York và là tướng của đoàn bộ binh 45 New York. Tướng Louis Blenker của New York là một “nhà Mark-xít đầy thuyết phục”. Đội quân 10 000 lính trong sư đoàn của ông ta cướp bóc dân chúng ở Virginia là được truyền cảm hứng từ Blenker. Rất nhiều lính tráng của ông ta, vừa mới ra khỏi tù ở châu Âu. Vị tổng thống Cộng sản đầu tiên biết điều này, nên biến chúng thành những kẻ cướp bóc miền Nam.

Trong đảng Cộng hòa đỏ, người ta thấy có 9 nhà cách mạng châu Âu bị kết án tội phản quốc và bị trục xuất sang Úc. Chúng đã trốn thoát sang Mỹ và Canada. Ba, bốn tên trong đó, không hề có kinh nghiệm quân sự, lại trở thành tướng trong Liên minh, cùng tham gia ít nhất có ba nhà Mark-xít khác cũng nắm giữ các chức vụ. “Mỗi người trong số 9 kẻ này sau là thành viên của Nghị viện Canada, thống đốc vùng lãnh thổ, hay bang trong Liên minh, lãnh đạo đảng, thủ tướng hay tổng chưởng lý.”

Nhiều người trong số những người này, dù không phải tất cả, là người Đức-Do Thái, một nhóm trong số 4000 tên chạy trốn sang Mỹ được biết đến với cái tên Nhóm 48, chúng nhanh chóng thêm vào chủ nghĩa giải phóng nô lệ đầy bạo lực, nữ quyền – femenism vào đức tin cộng sản của chúng (ai có ý kiến về phong trào feminism ngày nay?). Ở Missouri, Franz Sigel (nhóm 48) trở thành tướng Liên minh và đã may đồng phục cho trung đoàn bộ binh thứ 3 của ông ta mà đồng phục thì trông tương tự như đồng phục các nhà cách mạng Đức mặc vào năm 1848. 

Nhóm 48 trở thành các thủ lĩnh cao cấp của Liên minh, bao gồm đại tá Friedrich Salomon, trung đoàn Wisconsin 9, đại tá Fritz Anneke, trung đoàn Wisconsin 34 và đại tá Konrad Krez, trung đoàn Wisconsin 27. Nhà báo cộng sản Karl Heinzen đã viết: “Nếu bạn phải cho nổ tung một nửa lục địa và gây ra một cuộc tắm máu để tiêu diệt đảng của bọn man rợ, bạn phải không đắn đo lương tâm. Bất cứ ai không sẵn lòng hy sinh cuộc đời mình để làm tròn nghĩa vụ tiêu diệt một triệu lũ man rợ, không phải là một người cộng hòa thực sự.” Heinzen đã đến đất nước này và hỗ trợ Lincoln.

Joseph Weydemeyer đã chạy trốn khỏi Đức sau khi cuộc cách mạng cộng sản thất bại. Tại London, hắn ta thuộc về Liên đoàn Cộng sản và là một ông bạn chí tình của Mark và Engels. Hắn đến Mỹ năm 1851, hỗ trợ Lincoln, nhưng vẫn duy trì tình bạn thân thiết với Mark và trở thành thiếu tướng trong quân đội Liên minh.

Nhà XHCN hàng chục năm Richard Hinton phải rời nước Anh. Ở Mỹ, hắn ta là đại tá quân Liên minh, một đảng viên Cộng hòa cấp tiến và có mối liên hệ với kẻ kỳ dị John Brown. Còn Allan Pinkerton là tài trợ của Brown. Tại một cuộc họp với Brown, Pinkerton nói với con trai mình: “Hãy nhìn rõ con người này. Hắn ta vĩ đại hơn Napoleon, xứng đáng vĩ đại như George Washington.” Đúng, Pinkerton là tay thám tử vĩ đại đã lập ra bộ máy mang tên hắn ta. Tại sao lại không biết điều đó? Ở Kansas, gã giết người hàng loạt Brown được hưởng sự hỗ trợ của các Yankees giàu có (nhóm bí mật 6). August Bondi và Charles Kaiser là 2 kẻ khác đồng đảng với Brown, thì thuộc về Nhóm 48.

Còn chính Mark thì sao? Sau cách mạng 1848, Mark đã trốn sang Anh. Ông ta thành phóng viên tờ New York Tribune của Horace Greeley, có tổng biên tập là một cộng sản tên Charles Dana. Dana thuê Mark làm phóng viên nước ngoài. Mark thường viết thư cho họ hàng về đảng Cộng hòa mới. Sự rộng lượng của Dana đối với Mark giữ cho cái đống phế thải này sống còn.

Nhớ rằng Mark không bao giờ đi làm một ngày nào để nuôi đình ông ta, nhưng lại có thời gian để làm người hầu gái có chửa. Dana sau này trở thành trợ lý Bộ trưởng Chiến tranh. Tất cả đều có vị trí khi ông tổng thống cộng sản đầu tiên được bầu theo phiếu của đảng Cộng hòa năm 1860 và kích động cuộc chiến tranh cộng sản Lincoln để phá hoại Liên minh.

Hội nghị đảng Cộng hòa năm 1860 tổ chức tại Chicago, một trung tâm cháy rực những cộng sản Do Thái gốc Đức. Nhiều kẻ đỏ như vậy là các đại biểu, bao gồm Johann Bernhard Stallo và Frederick Hassaurek từ Ohio, Heinrich Bornstein từ Missouri, là bạn của Mark. Nhà XHCN Carl Schurz là đại biểu của Wisconsin. Để đảm bảo hỗ trợ tiếng Đức ở Illinois, Lincoln đã bí mật mua tờ báo Illinois Staats Anzieger. Sau cuộc bầu cử, ông ta được trao vị trí biên tập viên lãnh sự.

Nhà XHCN Friedrich Kapp là biên tập viên của tờ New Yorker-Abendzeitung. Ông ta viết các bài tuyên truyền cho đảng Cộng hòa mới và tích cực giúp đỡ để các đầu mối Đức-Mỹ dồn phiếu cho Lincoln. Cùng với Nhóm 48, ông là đại cử tri cho Lincoln năm 1860.

Hãy nhớ rằng, đó chỉ là một vài ví dụ. Bạn thực sự cần phải đọc cuốn sách. Gọi điện thoại miễn phí ở Mỹ 1 (800) 288-4677 để đặt mua “Đảng Cộng hòa đỏ: chủ nghĩa Mark-xít trong nội chiến và Mark-xít Lincoln” (Red Republicans: Marxism in the Civil War and Lincoln’s Marxists).

Hãy nhớ rằng chế độ nô lệ, đối với những người Cộng sản, chỉ là một công cụ về sau. Trước chiến tranh giành độc lập, các thuộc địa miền Nam đã có kiến nghị đến vua Anh dừng nhập khẩu nô lệ vào miền Nam, do các trùm sò Do Thái buôn vào đây. Bạn có biết rằng Jefferson đã cố gắng đưa vào Tuyên ngôn Độc lập lời khiếu nại chống lại nhà vua, vì chính phủ của ông đã bị ngăn cấm các thuộc địa chấm dứt buôn bán nô lệ? Diễn đạt của Jefferson đã bị xoá để tránh hành vi xúc phạm vua Anh, cùng các trùm Do Thái kiếm được bộn tiền từ buôn bán nô lệ.

Thật vậy, bạn cũng biết rằng nếu chế độ nô lệ là những gì miền Nam chiến đấu để bảo vệ, thì tại sao tất cả chế độ nô lệ lại tồn tại trong Liên minh? Lincoln tuyên bố rõ ràng ông ta sẽ bảo vệ chế độ nô lệ và sẽ không giải phóng các nô lệ thuộc sở hữu của các ông chủ trong các bang Liên minh: “Tôi không có mục đích, trực tiếp hay gián tiếp can thiệp vào tổ chức của chế độ nô lệ tại các bang, nơi chúng tồn tại. Tôi tin rằng tôi không có quyền hợp pháp để làm như vậy, và tôi không có ý làm như vậy. “

Hãy nhớ rằng Tuyên Ngôn Giải Phóng đã đi vào cuộc chiến. Đó là một tuyên truyền phô diễn giải phóng nô lệ chỉ ở các khu vực do Liên minh chiếm đóng, nói cách khác, không có gì cả. Trong khi đó, nhà bãi nô nổi tiếng Robert E. Lee, người đầu tiên Lincoln đề nghị làm chỉ huy của quân đội Liên minh, đã giải phóng nô lệ trong gia đình ông ta từ lâu trước khi chiến tranh. Vì vậy, vai trò của những nhà cộng sản, những kẻ đến sau là ở chỗ nào?

Thượng nghị sĩ Cộng hòa John Sherman, anh em của con quỉ hành quân đến biển Sherman, tư vấn cho các thượng nghị sĩ đồng nghiệp “quốc hữu hóa càng nhiều càng tốt làm cho người ta yêu đất nước hơn các tiểu bang của họ. Tất cả các quyền cá nhân, tất cả các quyền lợi địa phương, tất cả các lợi nhuận ngân hàng, lợi ích của mọi cá nhân, mọi thứ, lúc này phải đặt dưới quyền lợi của Chính phủ.”

Nước Đức là một tập hợp phi tập trung các bang độc lập. Mục tiêu của Nhóm 48 là “hợp nhất, các nền cộng hòa độc lập” mà trong đó các bang này sẽ bị giải thể. Đất đai và công nghiệp tư nhân sẽ bị tịch thu. Chính phủ bị chuyển đổi thành chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng như thế của Nhóm 48 đã được thực hiện ở đây. Bằng cách đó, Hitler đã thi hành ở Đức những năm 1930. Đó là những gì những nhà cộng sản chạy trốn đã tìm thấy rất hấp dẫn ở Lincoln. Lịch sử đã lặp lại, cho dù người ta không để ý.

Vì vậy, một lần nữa, đảng Cộng hòa đã không “đi sai”. Chỉ có điều nó đã thối rữa ngay từ đầu. Nó chưa bao giờ là bất cứ cái gì khác, ngoài cộng sản đỏ. Đặc trưng của quốc gia cộng hòa hoàn toàn phù hợp với “nhà nước cộng sản”. Phát hiện này có ý nghĩa gì với chúng ta? Một lần nữa, tiến sĩ, thượng nghị sĩ Ron Paul đã sai. Ông không phải là một “nhà cộng hòa truyền thống”. Bởi “cộng hòa truyền thống” phải chống lại thuế cao, chống chính phủ đế quốc và chống chiến tranh vô độ.

Tiến sĩ Paul là thượng nghị sĩ Cộng hòa nhưng lại giống đảng viên Dân chủ truyền thống hơn, chiểu theo tham khảo các khóa học của đảng Dân chủ trước khi cộng sản chiếm quyền, bắt đầu với việc bầu Nhà băng dự trữ liên bang-thuế thu nhập-WWI Wilson và quá đỗi tài giỏi với cuộc bầu cử chọn ra kẻ dối trá, lừa đảo, trộm cắp, phản bội và giết người hàng loạt Do Thái Franklin Delano Roosevelt. Đấy là đang nói về đảng Dân chủ của Thomas Jefferson.

Vì vậy, tất nhiên là đảng Cộng hòa sẽ làm mọi thứ có thể nhằm vào cái bị cát tiến sĩ Paul. Thật sự đúng khi người ta coi ông là kẻ hay can thiệp mà lại không thuộc về nơi này. Đúng như thế, sau hàng thập kỷ xuyên tạc quan điểm dân chúng về đảng Cộng hòa, ông phải làm một đảng viên Cộng hòa. Nhưng không có lòng trung thành yêu nước, và chắc chắn không có sự tin tưởng, cái đảng rắn chuông này, sẽ phản bội ông ngay vào lúc có thể.

Tiến sĩ Ron, chỗ của ông không phải ở đây. Đảng Cộng hòa là một thứ khác. Xin chia buồn!

Nền dân chủ vĩ đại không có hiến pháp!

Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước, qui định những nguyên tắc cơ bản nhất của 1 nhà nước. Nhưng nền dân chủ vĩ đại Anh Quốc lại không có Hiến Pháp. Giải thích điều này, chỉ có thể nói là giới bề trên thống trị, không muốn bị trói buộc trong các điều luật cơ bản của hiến pháp, để có thể bóc lột và ăn bám vào thuộc địa. Làm thế nào để ghi vào hiến pháp quyền khai thác thuộc địa?

Kể từ thời Albion tối tăm trước khi Chúa Kitô ra đời cho đến ngày nay, nước Anh không có hiến pháp theo đúng nghĩa thống nhất, hay văn bản bằng chữ tường minh. Còn cái gọi là hiến pháp lại là 1 tập các điều luật.

Vì không có ranh giới phân định rõ ràng giữa tiêu chí về quyền hiến pháp và các nhánh luật pháp khác. Luật sư Anh thực hành luật thật sự khó khăn khi xác định quyền của các nhánh luật pháp khi không có 1 hệ thống luật pháp chính thức mang đặc điểm hoàn toàn trừu tượng. Không có văn bản hiến pháp tương minh, rất khó để nói về 3 thành phần trong nhà nước Anh: quyền nhà nước, quyền dân chúng và các thỏa ước hiến pháp khác. Hiến pháp của Khối liên hiệp vua Anh là 1 tập hợp các luật, các tiền lệ và các qui ước, thỏa thuận về hiến pháp.

Thực sự không có bất cứ 1 văn bản hiến pháp nào ở Anh. Còn tập các luật là hiến pháp nhưng cũng chẳng hề có văn bản nào qui định luật nào là hiến pháp hay thuộc về hiến pháp mà không phải nằm trong luật khác. Điều này tất yếu phải viện đến cái mà trong pháp luật gọi là “tiền lệ phán xử”. Thứ tiền lệ này đã từ lâu là đặc điểm của nền pháp lý Anh.

Google đưa bằng chứng Nữ Hoàng cởi truồng!

Gã khùng nào có thể cãi Nền dân chủ Anh Quốc vĩ đại có hiến pháp chứ, thì cứ tra Google. Để giúp đỡ các công dân thế giới tung hô pháp trị phương Tây và thực hành dân chủ kiểu Tây, google đã dày công lập trang web thu thập đầy đủ tất cả hiến pháp các quốc gia trên thế giới ở http://www.constituteproject.org ;

Nhưng rất tiếc và rất khôi hài khi ở đó không có hiến pháp Anh!

Dĩ nhiên, đám sùng kính hít hà tiêu chuẩn Mỹ – giá trị Tây sẽ lại rên rỉ: Anh có hiến pháp chứ, đó là ‘hiến pháp không viết ra” vì không có văn bản viết ra bằng chữ. Làm thế nào để viết ra văn bản bằng chữ thứ không hề tồn tại. Sẽ thật khôi hài và lố bịch khi có “luật hình sự không viết ra”. Google dù đã cố gắng để giúp đỡ các nhân sĩ thế giới phát triển dân chủ, củng cố pháp trị, nhưng không thể nào viết về pháp trị hay phát triển dân chủ ở Anh, dù có tra dưới cái tên: Great Britain, United Kingdom, England cũng không có hiến pháp: https://www.constituteproject.org/#/

Làm thế nào để các nhà thông thái phương Tây dạy dỗ nhân dân thế giới về dân chủ học, pháp trị học mà lại không biết Anh Quốc vĩ đại không có hiến pháp?

Không có hiến pháp nên, Thượng Nghị viện Anh hay Viện quý tộc không được bầu, ít nhất là từ 1952, mà được cha truyền con nối. Điều đó giống như thời cổ đại, trước cả khi Chúa nằm trong máng cỏ, có ngôi sao sáng ở trên trời sa xuống! Dĩ nhiên, có thể nhằm vào 1 quả trứng trong bụng 1 bà chửa nào đó để khi nó oe oe là bổ nhiệm làm cụ Thượng! Nữ Hoàng hoàn toàn cởi truồng!

Do Thái tiếm quyền Anh Quốc đã lâu, thực sự đã rất lâu – cuộc đấu lịch sử!

Nhiều con vịt mạnh miệng Hoàng tử Anh sẽ là “nhà lãnh đạo thế giới”! Con mẹ vịt nào nói thế, thì về hỏi ông bà ông vải nhà mày xem có cần nhà lãnh đạo thế giới không?

Ngay lập tức Iran nói về gốc rễ Do Thái ở Hoàng gia Anh. Họ nói công khai hoàng tộc này đã lây nhiễm gốc rễ Do Thái. Không chỉ có vậy, báo Anh như tờ Huffington Post cũng bắt đầu băn khoăn nghe ngóng về người đỡ đầu, về gia phả hoàng tộc, về công nương quá cố Diana.

Nhà băng Do Thái Khai sáng tổ chức cách mạng Anh

z1

Người Kitô giáo nếu nghe lời Chúa của họ dạy bảo, thì đến buôn bán cũng khó bởi họ không được phép nói dối hay lừa lọc. Còn vua, trừ trộm cướp hay giết chóc quá đáng, không thể treo cổ thần dân của mình khi họ là con chiên của Chúa, chỉ có thể đi đày hoặc trục xuất. Bởi vậy mà, thời trước, nhà tù châu Âu đầy nhong nhóc. Chẳng thế mà thời Tân thế giới đào vàng ở Mỹ, là một cơ hội hiếm có để châu Âu tống cổ đám cặn bã, du thủ du thực sang bên kia đại dương cho khuất mắt. Thật không may, sang đó đất đai màu mỡ, vàng và khoáng sản nhiều, sắc dân này lại khấm khá phát đạt. Nhưng đó là câu chuyện khác.

Rothschild, là một DT cho vay nặng lãi, không bị ràng buộc bởi Chúa răn, hắn ta có cơ khấm khá. Nhưng không bằng lòng với nghề cho vay, mà phải buôn vua mới nhanh giàu hơn như nhà Windsors. Hắn ta cũng nhanh chóng tìm đến họ hàng DT ở Anh để làm chỗ nhờ dựa. Nhưng còn phải chờ cách mạng Anh thành công đã.

“Đó là số phận mà Anh phải chịu như nạn nhân đầu tiên của một loạt các cuộc cách mạng, mà hiện vẫn chưa kết thúc.”

Với những từ khó hiểu, Isaac Disraeli, cha của Benjamin Earl xứ Beaconsfield, về 2 tập sách của mình về Charles I, xuất bản năm 1851.

Nguồn gốc của thế giới hiện đại và trật tự thế giới mới (New World Order) có lẽ bắt nguồn từ cuộc cách mạng Anh 1641-1660 và cuộc “Cách mạng Vinh quang” vĩ đại năm 1688 sau đó, khi các nhà băng Do Thái Illuminati lập chỗ đứng vững chắc ở Anh và đã biến nhà băng của chúng thành công cụ để thống trị thế giới.

Tập sách “Life of Charles I” của Isaac Disraeli là tác phẩm chi tiết đáng kinh ngạc có cái nhìn sâu sắc, dựa trên thông tin thu được từ các hồ sơ của Melchior de Salom, phái viên Pháp ở Anh trong thời gian đó.

Cảnh tượng này sẽ mở ra cái nhìn thoáng qua xa xôi của Vương quốc Anh dựa trên Kitô giáo, và truyền thống cổ xưa của mình, những biện pháp hà khắc của chế độ quân chủ trói buộc, Giáo hội, Nhà nước, quý tộc và dân chúng trong một liên quan trang nghiêm ở một mặt, ở mặt khác, những bất ổn sâu sắc đáng ngại từ cái cách đức tin Cơ đốc – Calvin.

Calvin, là kẻ đã đến Geneva từ Pháp, nơi mà tên hắn được viết là Cauin, (có thể là một cố gắng đánh vần Pháp Cohen) tổ chức một số lượng lớn các nhà hùng biện mang tính cách mạng, không chỉ là một vài trong số đó đã gây thảm họa cho Anh và Scotland. Mà còn đặt nền móng cho cuộc cách mạng dưới tấm áo chùng nhiệt tình tôn giáo.

Trên cả hai mặt của tấm vải tuýt, những kẻ mị dân giao kèo với tất cả các tôn giáo vào sự tuân thủ cứng nhắc “ngày Sa-bát” (Sabbath), ngày nghỉ hoặc ngày thiêng cuối tuần theo tôn giáo Abraham. Theo những lời Isaac Disraeli viết, “quốc gia đã bị chia rẽ khéo léo thành Sabbatarians và Sa-bát ly khai”

Theo Disraeli, “Calvin coi Sa-bát có nguồn gốc của người Do Thái, giới hạn ở những dân thần thánh.” Khi Calvin nắm được quyền lực của họ trong nước, “có vẻ như tôn giáo chủ yếu là Sabbatarian hà khắc, và rằng thượng nghị viện Anh đã bị chuyển đổi thành một công ty Do Thái của Rabbins”, và sau đó “Năm 1650, sau khi hành quyết nhà vua, một đạo luật đã được thông qua cho phép trừng phạt đối với vi phạm Sa-bát”.

Phát tín hiệu giai cấp vô sản

Đến thời điểm này đột nhiên bắt đầu xuất hiện từ các Thành phố dân chúng vũ trang “operatives”, từ tương đương “lao công” thời trung cổ. Disraeli viết:

“Họ nói số lượng lên tới cả chục ngàn… với vũ khí giống như chiến tranh. Đó là lực lượng dân quân nổi dậy mọi mùa trong năm, và tin vào bất kỳ công việc hủy diệt nào ở mức giá rẻ nhất… với những cuộc xông xáo cùng dao găm và dùi cui, suy luận rõ ràng là đoàn quân phá hoại này đã được chuẩn bị từ lâu.”

Đám đông vũ trang này của “công nhân” đe dọa mọi thứ, bao gồm cả nhà Quốc hội và Cung điện vào những thời điểm quan trọng, chính xác trong mô hình được thuê sau này bởi “ban nhạc Thánh” và “Marseillais” trong cuộc Cách mạng Pháp.

Isaac Disraeli rút ra một lần nữa và một lần nữa sự tương đồng đáng ngạc nhiên giữa điều này và cuộc cách mạng Pháp, đáng chú ý là trong đoạn đăng của mình trên báo chí, “không còn bị hạn chế, ” và dồn dập các tờ rơi và các cuốn sách nhỏ mang tính cách mạng. Ông viết, dường như từ 1640-1660, đám đông đã lên đến 30 ngàn người.

Và sau này, bộ sưu tập tờ rơi cách mạng Pháp là cùng kiểu với thời Charles I, nhưng phong phú hơn về số lượng và tính khốc liệt.

Ông tiếp, “bàn tay nào phía sau bức màn chơi của đám đông… có thể đưa ra một danh sách chính xác 59 nhân vật, xây dựng thương hiệu của họ bằng danh hiệu đáng ghét Straffordians hay kẻ phản bội đất nước.”

Có tay thực sự đứng sau? Disraeli biết rõ nhưng hãy tham khảo Bách khoa toàn thư Do Thái của Sombart: Người Do Thái và CNTB hiện đại, cũng như các tác phẩm khác.

Từ đó những gì chúng ta biết là Cromwell, là nhân vật tư lệnh của cuộc cách mạng, ông ta có tiếp xúc gần gũi với các nhà tài chính Do Thái giàu có ở Hà Lan, và trong thực tế đã trả một số tiền lớn bởi Manasseh Ben Israel, cho Fernandez Carvajal , “người Do Thái vĩ đại” như ông ta gọi, và cũng là nhà thầu chính cho của quân đội mô hình mới của Cromwell.

Trong cuốn “Người Do Thái ở Anh – The Jews in England”, chúng ta đọc thấy: – “1643 đã mang đến một đội ngũ đông đảo người Do Thái Anh, điểm tập hợp của họ là ngôi nhà của đại sứ người Bồ Đào Nha De Souza, một Marano (tên mật của người Do Thái ). Nổi bật trong số đó là Fernandez Carvajal, nhà tài chính vĩ đại và nhà thầu quân đội.”

Tờ rơi cổ vũ cách mạng được tung ra trong dịp này, như Disraeli nói: “Mang tiếng khóc nổi dậy quái gở “đến túp lều của bạn, hỡi Israel”. Ngay sau đó nhà vua và Hoàng gia rời cung điện Whitehall.

Năm thành viên với mobs vũ trang và biểu ngữ đi theo họ, đã đưa ra một khải hoàn trở lại để Westminster. Sân khấu đã được thiết lập tại cho sự ra đời của Carvajal và người Do Thái của mình và sự phát triển của sinh vật Cromwell của họ.

Huffington Post viết: “Jewish king and queen? Điều như thế là có thể”.

Trong gia phả dòng họ Kate Middleton, vợ hoàng tử William: mẹ Kate là Carol Middleton, con gái của Ronald Goldsmits và Dorothy Herrison, đáng tiếc cả Ronald và Dorothy đều là Do Thái.

Cha mẹ Dorothy Herrison: Robert Herrison và Elizabeth Templ – cả 2 là Do Thái, và Elizabeth Templ đến từ dòng họ Mayer, một dòng họ Do Thái có tiếng ở Anh từ thế kỷ XIX.

Mặc dù cậu hoàng tử nhỏ được rửa tội trong nhà thờ Kitô, nhưng nhiều cậu lại cắt bao qui đầu theo đúng tục lệ Do Thái và Hồi giáo! Điều này được ghi chép như sau:

“Tập tục cắt bao qui đầ cho các hoàng tử xuất hiện trong gia đình hoàng gia từ đầu thế kỷ XVIII khi vương viện bị chiếm đoạt bởi George I. Ở quê gốc Hanover của George, cũng có tập tục cắt bao qui đầu cho các cậu con quyền quí. Ba đứa trai của nữ hoàng: Charles, Andrew and Edward, đều có gì đấy chung với phần lớn đàn ông Do Thái như là cắt bao qui đầu. Nghi lễ cắt này được thực hiện bởi bác sĩ Do Thái Jacob Snoumen…”

Eddie Ericsson viết về việc này: Người ta biết rõ nữ hoàng Elizabeth, cũng như nữ hoàng Victoria thế kỷ XIX, có nguồn gốc từ vua DT David. Điều này, tuy nhiên, lại được chấp thuận ở hoàng gia Anh như cái gọi là huyền thoại Tu viện Sion (Priory of Sion) hơn là trực hệ Judaism.

Thực sự, triều đại Hanover mà hiện tại là Windsors, đến từ Welf, là con cháu của quản gia Dagobert I, thời kỳ Franks (608 – 639), như viết trong tự điển bởi Brockhaus và Efron. Bộ tộc này cùng the Roman Curia nổi loạn trong thế kỷ VII-VIII, giết vua Franks, như “chủng tộc Âu đầu tiên”, chúng chiếm đoạt đế chế Caroling và khi đó Welf trở thành kẻ thù chính của Hohenstaufen.

Khi có Caroling, Godfrey của Bouillon lập ra “Tu viện Sion” – cựu quản gia tiếm quyền lực chính trị và di sản phả hệ của những ai chúng hủy hoại. Điều này đủ để kết luận về Windsors, kẻ đóng giả “Franks” làm “chủng tộc Âu đầu tiên” là như thế nào. Nhưng đáng tiếc, nhiều tác giả phương Tây lại rất bị thuyết phục về nguồn gốc chủng tộc Âu của hoàng gia Anh.

Hiện tại, cũng Eddie Eriksson viết, bộ tộc DT phần phía bắc, liên kết với bộ tộc phía nam nhà Rothschild, hay con cháu của vua Khazar… và sau này thống trị phương Tây.

Phải nhớ là toàn bộ châu Âu hiện tại, là “nghĩa địa của các dân tộc“, từ Saxons và Britons cho đến người Sorbian của bộ tộc Slavian), trong chiến tranh loạn lạc đã chạy điên cuồng về phía đông thời kỳ tên quản gia nổi loạn giết vua. Sau này họ hình thành các nước ở phía đông, gồm cả Đức, Phổ, Áo, Hung, Nga của bộ tộc Rus… Riêng người Đức đế chế 3 (Third Reich) cũng như cả European ngày nay, lúc nào cũng bị ám ảnh bởi “phức hệ của những tên phản bội”. Người Anh, trái lại cố để sắm vai “phán xử” xoa dịu mối quan hệ với Nga trong thời Do Thái làm “cách mạng tháng 10 vĩ đại 1917-1918” – vương miện Sa Hoàng đã thực sự, theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, bị đem về Anh cho bộc lạc Do Thái.

Đế chế Rus- Franks là nhà nước có luật lệ mẫu mực nhất ở European bị gã quảng gia nổi loạn cướp ngôi. Nhà Windsors hiện nay, đang cố cầm đầu phong trào “Đúng đắn chính trị (Political correctness) thì đừng có quên điều đó.

Tờ rơi cổ vũ cách mạng được tung ra trong dịp này, như Disraeli nói: “Mang tiếng khóc nổi dậy quái gở “đến túp lều của bạn, hỡi Israel”. Ngay sau đó nhà vua và Hoàng gia rời cung điện Whitehall.

Các thành viên với đám đông vũ trang và biểu ngữ đi theo họ, đã ca khải hoàn trở về Westminster. Sân khấu được thiết lập tại cho sự ra đời của Carvajal và người Do Thái và sự nổi lên của quái vật Cromwell của họ.

AI CẤP TIỀN CHO CROMWELL?

Tình cảnh đã thay đổi, cuộc nội chiến đã thực hiện xong nhiệm vụ của mình. Đến năm 1647, nhà vua đã thắng và bại trong trận chiến Naseby. Vua sau đó hầu như là một tù nhân bị giam lỏng, nhưng được đối xử như một vị khách danh giá tại nhà mình Holmby.

Theo bức thư được công bố trên “Plain English” 03 tháng 9 năm 1921:

Những người cao tuổi uyên bác đã có ngờ vực lâu hơn nhiều họ có. Người bạn của tôi, ông L. D. van Valckert, Amsterdam, gần đây đã gửi cho tôi một lá thư có chứa hai trích dẫn từ giáo đường Do Thái Mulheim. Nhiều nội dung chứa trong đó bị mất trong một số giai đoạn trong chiến tranh Napoleon, và gần đây đã thuộc sở hữu của ông van Valckert.

Nó được viết bằng tiếng Đức, và có trích dẫn từ lá thư được gửi và nhận bởi các tác giả giáo đường DT Mulheim. Lá đầu tiên gửi cho tôi: 

ư16 tháng sáu 1647.

Từ O.C. (nghĩa là Oliver Cromwell ), bởi Ebenezer Pratt.

Đáp lại sự ủng hộ tài chính sẽ biện hộ việc thu nhận người Do Thái vào Anh: Tuy nhiên điều này là không thể khi vua Charles còn sống.

Không thể hành quyết Charles mà không có xét xử, có căn cứ thích đáng mà hiện tại không hiện hữu.

Do đó khuyên rằng Charles nên bị ám sát, nhưng sẽ không có gì để làm với các thỏa thuận để kiếm được sát thủ, mặc dù đã sẵn sàng giúp đỡ hắn trong việc trốn thoát.

Phần trả lời được gửi đi như sau:

12 tháng 7 năm 1647.

Gửi O.C. bởi E. Pratt.

Sẽ cấp hỗ trợ tài chính ngay sau khi Charles bị loại bỏ và người Do Thái được thừa nhận. Ám sát là quá nguy hiểm. Charles sẽ có cơ hội để trốn thoát: Việc bắt lại ông ta sẽ làm cho việc xét xử và hành quyết là có thể. Sự hỗ trợ sẽ là hào phóng, nhưng vô ích để thảo luận về các điều khoản cho đến khi xét xử (vua) bắt đầu.” 

‘Plain English’ là tạp chí hàng tuần bằng tiếng Anh của nhà xuất bản North British Publishing Co. và bien tập bởi nhà quí tộc Alfred Douglas.

Với thông tin này sẽ rõ hơn những động thái giết vua diễn ra sau đó. Ngày 04 tháng 6 năm 1647, Cornet Joyce, hành động theo lệnh bí mật từ chính Cromwell, và theo Disraeli, ngay cả tổng tư lệnh Fairfax cũng không hay biết, 500 tên lính cách mạng đã đến nhà Holmby và bắt giữ nhà vua.

Theo Disraeli, ” Kế hoạch này đã được sắp xếp vào ngày 30 tháng 5 tại một cuộc họp bí mật được tổ chức tại nhà Cromwell, mặc dù sau đó Cromwell giả vờ rằng nó xảy ra mà không có sự nhất trí của mình.”

Động thái này trùng hợp với sự phát triển đột ngột trong quân đội, sự nổi lên của “Levelers” và “Rationalists”.

Giáo lý của họ cũng là của những nhà cách mạng Pháp, mà trong thực tế, những gì chúng ta biết ngày nay là chủ nghĩa cộng sản. Đó là những kẻ giết vua, những kẻ đã 4 lần “thanh trừng” Quốc hội, cho đến khi để lại cuối cùng 50 thành viên, Cộng sản cũng như họ, được biết đến sau này là những kẻ sống sót.

Hành quyết Charles I

Chín ông vua Âu đã bị hành quyết dưới bàn tay Judais, một số ông khác bị truất ngôi trong giai đoạn XVII-XX.

Quay lại lá thư từ giáo đường Do Thái Mulheim ngày 12 tháng 6 năm 1647, và đề nghị xảo quyệt của nó để nhà vua trốn thoát và sử dụng điều đó như một cái cớ để hành quyết. Đúng sự kiện như thế đã xảy ra, vào ngày 12 tháng 11 cùng năm đó.

Hollis và Ludlow cho rằng việc chạy trốn là mưu kế của Cromwell. Isaac Disraeli viết: “các nhà sử học đương đại đã quyết định rằng nhà vua từ ngày bị trục xuất khỏi Holmby đến khi trốn thoát đến Isle xứ Wight, suốt từ đầu đến cuối là trò lừa bịp của Cromwell.”

Vẫn còn ít nhiều điều để nói. Cromwell đã thực hiện các đơn đặt hàng từ giáo đường Do thái, và bây giờ việc còn lại chỉ là chờ giai đoạn xét xử giả tạo.

Vận động cho điều này được tiếp tục trong một thời gian. Và nó trở nên rõ ràng khi Hạ viện, thậm chí khi họ trong điều kiện bị “thanh trừng ” một phần, vẫn ủng hộ khuynh hướng đi đến thỏa thuận với nhà vua. Vào ngày 5 tháng 12 năm 1648, các nghị sĩ ngồi cả đêm để bàn bạc, và cuối cùng đạt đến kết luận cho câu hỏi, “Nhượng bộ đó của nhà vua là thỏa đáng để giải quyết.”

Nên thoả thuận của Hạ viện là đạt được, dĩ nhiên, Cromwell sẽ không thể nhận được khoản tiền lớn mà ông ta hy vọng có được từ những người Do Thái. Ông lại phải tấn công Hạ viện 1 lần nữa. Vào đêm 6 tháng 12, Đại tá Pryde, theo chỉ đạo của ông ta, thực hiện cuộc “thanh lọc” Hạ viện lần cuối cùng và nổi tiếng nhất, được gọi là “thanh trừng của Pryde”. Đến 04 tháng 1, phần Hạ viện còn lại là 50 thành viên Cộng sản, (Rump), tự trao cho mình “quyền tối cao”.

Ngày 9 tháng1, “một Tòa án tối cao Tư pháp” để xử vua được công bố. Hai phần ba thành viên của nó đến từ quân đội của Cromwell.

Algernon Sidney cảnh báo Cromwell: ” Đầu tiên, nhà vua có thể bị xét xử bởi không phải tòa án. Thứ hai, không ai lại bị xét xử bởi tòa án như thế này.” Vì vậy, Hugh Ross Williamson viết trong “Charles and Cromwell”, và cho biết thêm một tác động cuối cùng rằng “không có luật sư Anh nào có thể tìm được cách kết tội, và cuối cùng vai luật sư đã được giao cho một kẻ ngoài hành tinh, Isaac Dorislaus.”

Không cần phải nói, Isaac Dorislaus là chính xác cùng dạng ngoài hành tinh Carvajal và Manasseh Ben Israel, cùng các nhà tài chính khác, những kẻ trả tiền “cho người bào chữa” bằng tiền máu của chúng.

BẢN CHẤT THỰC CỦA CUỘC CÁCH MẠNG

Người Do Thái đã một lần nữa được phép đổ bộ tự do vào Anh bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của các cơ quan Hội đồng Nhà nước, trong đó họ tuyên bố rằng chúng sẽ là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Nhà nước và Kitô Giáo.

Có lẽ đó là do các cuộc biểu tình của họ mà đạo luật trục xuất thực sự đã không bao giờ bị bãi bỏ cho đến ngày nay.

Isaac Disraeli viết, “Cuộc cách mạng Anh dưới thời Charles I, không giống bất kỳ điều gì trước đó… Từ thời điểm đó và các sự kiện chúng ta chiêm nghiệm trong lịch sử của chúng ta các giai đoạn của cuộc cách mạng.”

Có nhiều thứ hơn nữa đi theo con đường tương tự, đặc biệt là ở Pháp. Năm 1897, có một đầu mối quan trọng hơn nữa nói về những diễn biến bí ẩn rơi vào tay người Gentile: Nghị định thư của trưởng lão Zion (Protocols of the Elders of Zion).

Trong tài liệu đó chúng ta đọc được câu này đáng chú ý: “Hãy nhớ rằng cuộc Cách mạng Pháp, những bí mật của sự chuẩn bị của nó được biết rõ với chúng ta bởi toàn bộ là công việc với sự tham gia của chúng ta.” Nghị định thư số 3, 14.

Những trưởng lão Do Thái có lẽ thậm chí đã viết thông điệp còn đầy đủ hơn, viết, “Hãy nhớ rằng các cuộc cách mạng Anh và Pháp, những bí mật trong đó được biết rõ với chúng ta bỏi đó hoàn toàn là công việc của chúng ta.”

Vấn đề khó khăn của cuộc chinh phục của cả hai vương quốc, tuy nhiên vẫn còn chưa được giải quyết. Scotland là xứ trung thành với hoàng gia hơn ai hết, và họ đã công bố vua Charles II. Quân đội Cromwell hành quân bao vây Scotland, được hỗ trợ bởi những kẻ Geneva có cảm tình, chúng phát tán bọn Judaic man rợ, nhưng Scotland vẫn chấp nhận vua Charles II. Ông hơn nữa chấp nhận Kitô giáo Presbyterian của Scotland, chậm nhưng đều đặn cảm xúc ở Anh bắt đầu đồng điệu với Scotland.

Cuối cùng sau cái chết của Cromwell, cả các nước Anh chào đón sự phục hồi của nhà vua mới lên ngôi của Anh.

Công tước xứ MARLBOROUGH

Một nhân vật đặc biệt trong số những người bỏ James tại thời điểm quyết định là John Churchill, công tước đầu tiên xứ Marlborough. Sẽ là thú vị khi đọc trong Bách khoa toàn thư của Do Thái (Jewish Encyclopedia) rằng vị công tước này trong nhiều năm đã nhận không ít hơn 6.000 bảng Anh một năm từ một gã Do Thái Hà Lan tên là Solomon Medina.

Mục tiêu thực sự của “Cách mạng Vinh quang” đã đạt được sau một vài năm vào 1694, khi có sự đồng ý của Hoàng gia để thành lập “Ngân hàng Anh – Bank of England” và là tổ chức nắm giữ nợ của quốc gia. Ngân hàng này tồn tại đến tận ngày nay.

Điều lệ này giao đặc quyền đúc tiền của hoàng gia cho một ủy ban vô danh, chuyển đổi cơ sở sang vàng, và cho phép những kẻ cho vay quốc tế bảo hiểm tiền vay của chúng bằng thuế của đất nước, thay vì những cam kết không chắc chắn của một số nhà chức trách hay cầm quyền, là tất cả bảo hiểm mà chúng có thể có được trước đó.

Từ thời điểm cố máy kinh tế đã được thiết lập để vận hành, mọi giàu có thịnh vượng rốt cục rơi vào khái niệm vàng hư ảo do Do Thái kiểm soát, chúng bòn rút dần nguồn sống của đất đai, thứ của cải thực sự được thừa kế của người dân Anh.

XIỀNG XÍCH SCOTLAND

Liên minh chính trị và kinh tế của Anh và Scotland ngay sau đó đã bị xói mòn và bất chấp các cuộc biểu tình chính thức từ mọi nơi.

Mục tiêu chính của Liên minh là để ngăn chặn Hoàng gia tại Scotland đúc tiền và buộc họ cũng phải chịu trách nhiệm về “nợ quốc gia”. Sự kìm kẹp của bọn cho vay tiền bây giờ đã hoàn toàn trải rộng khắp nước Anh. Sự nguy hiểm là các thành viên của Quốc hội chung mới sẽ sớm hay muộn, theo tinh thần của tổ tiên của họ, thách thức nhà nước về vấn đề này.

Để chống lại điều này, do đó, hệ thống đảng phái giờ đây được đưa ra, làm nản lòng những phản ứng mang tính quốc gia thực sự và tạo điều kiện cho nhân vật lừng danh phân chia và cai trị, sử dụng sức mạnh tài chính mới được lập của chúng để đảm bảo rằng những người của chúng và các chính sách của chúng được đảm bảo trên sân khấu chính trị, và được hỗ trợ đầy đủ từ báo chí, tờ rơi của chúng, và từ các tài khoản ngân hàng hàng ngày.

Vàng sớm trở thành cơ sở để cho vay, tiền cho vay có qui mô 10 lần lớn hơn số tiền gửi, con số mà cánh nhà băng hiện nay có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra nổi.

Nói cách khác, 100 bảng tiền vàng sẽ được bảo đảm pháp lý cho 1.000 bảng cho vay, 3% của 100 bảng có thể kiếm được 30 bảng lãi hàng năm mà kẻ cho vay không phải lo lắng gì ngoài việc giữ gìn sổ sách.

Chủ sở hữu đất có giá trị 100 bảng, tuy nhiên, vẫn phải làm việc hàng ngày để kiếm được có lẽ không quá 4%. Sự kết thúc của quá trình này chỉ là vấn đề thời gian.
Những kẻ cho vay nặng lãi phải trở thành triệu phú, những người sở hữu và làm việc dựa vào đất đai, người Anh và người Scotland, phải bị hủy hoại.

Quá trình này vẫn tiếp tục không thể lay chuyển được cho đến tận ngày nay, khi nó đã gần hoàn thành., nó được ngụy trang một cách đạo đức giả bởi tuyên truyền một cách khôn ngoan rằng nó đã giúp đỡ người nghèo bằng cách khấu trừ người giàu. Chẳng có gì thực sự như thế. Nó chính là phá hoại các tầng lớp sống dựa vào đất đai một cách có chủ ý, các tầng lớp đó là người Anh không DT, vai trò của họ dần bị thay thế bởi các tổ chức tài chính Do Thái, những kẻ ăn bám vào họ.

Lịch sử hiện đại nước Anh và nữ hoàng là như thế, cho dù phương Tây có không nói ra.

Công tước xứ MARLBOROUGH

Một nhân vật đặc biệt trong số những người bỏ James tại thời điểm quyết định là John Churchill, công tước đầu tiên xứ Marlborough. Sẽ là thú vị khi đọc trong Bách khoa toàn thư của Do Thái (Jewish Encyclopedia) rằng vị công tước này trong nhiều năm đã nhận không ít hơn 6.000 bảng Anh một năm từ một gã Do Thái Hà Lan tên là Solomon Medina.

Mục tiêu thực sự của “Cách mạng Vinh quang” đã đạt được sau một vài năm vào 1694, khi có sự đồng ý của Hoàng gia để thành lập “Ngân hàng Anh – Bank of England” và là tổ chức nắm giữ nợ của quốc gia. Ngân hàng này tồn tại đến tận ngày nay.

Điều lệ này giao đặc quyền đúc tiền của hoàng gia cho một ủy ban vô danh, chuyển đổi cơ sở sang vàng, và cho phép những kẻ cho vay quốc tế bảo hiểm tiền vay của chúng bằng thuế của đất nước, thay vì những cam kết không chắc chắn của một số nhà chức trách hay cầm quyền, là tất cả bảo hiểm mà chúng có thể có được trước đó.

Từ thời điểm cố máy kinh tế đã được thiết lập để vận hành, mọi giàu có thịnh vượng rốt cục rơi vào khái niệm vàng hư ảo do Do Thái kiểm soát, chúng bòn rút dần nguồn sống của đất đai, thứ của cải thực sự được thừa kế của người dân Anh.

XIỀNG XÍCH SCOTLAND

Liên minh chính trị và kinh tế của Anh và Scotland ngay sau đó đã bị xói mòn và bất chấp các cuộc biểu tình chính thức từ mọi nơi.

Mục tiêu chính của Liên minh là để ngăn chặn Hoàng gia tại Scotland đúc tiền và buộc họ cũng phải chịu trách nhiệm về “nợ quốc gia”. Sự kìm kẹp của bọn cho vay tiền bây giờ đã hoàn toàn trải rộng khắp nước Anh. Sự nguy hiểm là các thành viên của Quốc hội chung mới sẽ sớm hay muộn, theo tinh thần của tổ tiên của họ, thách thức nhà nước về vấn đề này.

Để chống lại điều này, do đó, hệ thống đảng phái giờ đây được đưa ra, làm nản lòng những phản ứng mang tính quốc gia thực sự và tạo điều kiện cho nhân vật lừng danh phân chia và cai trị, sử dụng sức mạnh tài chính mới được lập của chúng để đảm bảo rằng những người của chúng và các chính sách của chúng được đảm bảo trên sân khấu chính trị, và được hỗ trợ đầy đủ từ báo chí, tờ rơi của chúng, và từ các tài khoản ngân hàng hàng ngày.

Vàng sớm trở thành cơ sở để cho vay, tiền cho vay có qui mô 10 lần lớn hơn số tiền gửi, con số mà cánh nhà băng hiện nay có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra nổi.

Nói cách khác, 100 bảng tiền vàng sẽ được bảo đảm pháp lý cho 1.000 bảng cho vay, 3% của 100 bảng có thể kiếm được 30 bảng lãi hàng năm mà kẻ cho vay không phải lo lắng gì ngoài việc giữ gìn sổ sách.

Chủ sở hữu đất có giá trị 100 bảng, tuy nhiên, vẫn phải làm việc hàng ngày để kiếm được có lẽ không quá 4%. Sự kết thúc của quá trình này chỉ là vấn đề thời gian.
Những kẻ cho vay nặng lãi phải trở thành triệu phú, những người sở hữu và làm việc dựa vào đất đai, người Anh và người Scotland, phải bị hủy hoại.

Quá trình này vẫn tiếp tục không thể lay chuyển được cho đến tận ngày nay, khi nó đã gần hoàn thành., nó được ngụy trang một cách đạo đức giả bởi tuyên truyền một cách khôn ngoan rằng nó đã giúp đỡ người nghèo bằng cách khấu trừ người giàu. Chẳng có gì thực sự như thế. Nó chính là phá hoại các tầng lớp sống dựa vào đất đai một cách có chủ ý, các tầng lớp đó là người Anh không DT, vai trò của họ dần bị thay thế bởi các tổ chức tài chính Do Thái, những kẻ ăn bám vào họ.

Lịch sử hiện đại nước Anh và nữ hoàng là như thế, cho dù phương Tây có không nói ra.

Thêm ít sự thật đáng ghét về nước Anh!

Kể từ khi bị Do Thái cai trị, nước Anh trở thành dã man khủng khiếp, chưa từng có trong lịch sử. Bộ lạc Do Thái gây ra những tội ác kinh hoàng chống người Anh và các dân tộc khắp thế giới, kéo dài đến tận ngày nay. Thực sự là loài cầm thú ăn thịt với hàng trăm triệu sinh mạng đã mất.

Cromwell, cũng như Napoleon sau này, trở thành cỗ máy kiếm tiền bằng chiến tranh cho các ông chủ Do Thái. Nhưng cỗ máy đẫm máu này lại mang tên nước Anh.

Hẳn nhiên, sau hành quyết Charles I, Cromwell tấn công Scotland năm 1650. Scotland giáng trả năm 1651, sau khi Cromwell chết, Scotland giành lại độc lập và chỉ sát nhập với Anh năm 1707.

Cuộc tàn sát người Irish ở Ireland là diệt chủng. Cromwell bắt đầu tấn công Ireland năm 1649.

Các thành phố Droedas, Wexford và Dublin bị thiêu rụi trong bão lửa. Ở Droedas, Cromwell ra lệnh cắt đầu tất cả binh lính và thầy tu Catholic, còn ở Wexford là thảm sát kinh hoàng mọi thứ binh lính Cromwell bắt được. Phần lớn dân Irish tháo chạy về phía tây, hầu hết đất đai của người Irish bị Cromwell chiếm đoạt và giao cho con rể Ayrton cai quản.

Năm 1641, ở Ireland có hơn 1,5 triệu cư dân, năm 1652 chỉ còn 700 ngàn người Irish. Dân số đã hầu như giảm 1 nửa. Âm mưu diệt chủng và đồng hóa thâm độc ở chỗ, chúng hầu như giết sạch đàn ông Irish trong độ tuổi trưởng thành, đàn bà, trẻ em Irish bị biến thành nô lệ. Những người chạy trốn cũng không yên. Luật định cư ban bố năm 1952, trục xuất người Irish ra khỏi đất đai của họ, đẩy họ về phía tây vùng Connacht cằn cỗi, với nạn đói đến chết, bất cứ ai trục xuất mà bị bắt đều bị tội chết. Họ bị coi chẳng khác gì sói hoang, mỗi đầu sói bị giết được binh lính Anh trả 6 bảng, còn đầu người Irish “nổi loạn hoặc thầy tu” được trả 5 bảng. Người Irish gọi đó là “địa ngục Connacht”.

Quá trình thuộc địa hóa Ireland kéo dài sang thế kỷ sau. Ở London năm 1691, chúng bắt đầu chia đạo Thiên chúa thành Tin lành không thuộc giáo hội Anh. Tin lành là tôn giáo quái gở, ru ngủ tầng lớp bị trị chấp nhận số phận bị cai trị. Cơ cấu dân số, văn hóa xã hội và chính trị Irish bị đảo lộn. Dân số Anh và Scots trên đất Irish tăng, người Irish giảm, giới bề trên và luật lệ Tin lành hình thành, cho đến 1775, toàn bộ người Irish Thiên chúa chỉ còn sở hữu có 5% đất đai. Họ bị cấm đưa trẻ em đến nhà thờ của họ, bị ngăn cấm các hoạt động xã hội, giao thương và chỉ còn được làm nông nghiệp trong sự kìm kẹp như nô lệ. Ireland trở thành nguồn tích lũy tư bản cho các ông chủ bước vào giai đoạn công nghiệp hóa.

Nạn đói kéo dài khiến dân số Irish tụt giảm. Mất mùa khoai tây giai đoạn 1845-1849 là thảm họa chết chóc và bị trầm trọng hơn rất nhiều bởi những luật lệ hà khắc ngăn cấm, người Irish thậm chí không được cứu trợ từ họ hàng ở các nước. Hậu quả, 1,5 triệu người Irish chết đói, rất nhiều người tìm đường di cư sang Mỹ hay bỏ quê tha hương – khoảng 1,5 triệu. Cho đến 1850, dân số Irish giảm 30%, nếu năm 1841 họ có 8,178 triệu người thì năm 1901 chỉ còn lại 4,459 triệu.

Vì nhiều lý do, cuộc diệt chủng người Irish rất ít được đề cập đến và nguyên nhân thực sự bị lờ đi.

Rothschild – Một dòng họ gây chiến tàn bạo

SSX dịch và biên soạn

Nathan-Rothschild

Họ nhà Rothschild kiểm soát thế giới này đã rất lâu rồi, những xúc tu của con quái vật đã vươn tới rất nhiều khía cạnh đời sống hàng ngày của chúng ta, như đã được chứng minh bằng các tư liệu trong thời gian sau đây, sẽ có tên các tài liệu để nếu có dịp thì các bạn sẽ tìm đọc thêm. Hãy tin rằng những nội dung như thế sẽ chẳng bao giờ xuất hiện trên sách báo công cộng. Tuy nhiên, trước khi vào phần tóm tắt các nội dung chính của các tài liệu, xin vui lòng đọc những lời giới thiệu, nó sẽ cho bạn biết Rothschilds là ai và Rothschilds chẳng như những gì mà họ tuyên bố.

Rothschilds tuyên bố họ là người Do thái, trong khi thực tế, họ là người Khazars. Họ đến từ một quốc gia được gọi là Khazaria, vùng đất bị khóa giữa Biển Đen và Biển Caspian mà bây giờ là một phần của Georgia, Azecbaijan và một phần nước Nga. Lý do mà Rothschilds tuyên bố là người Do thái mà thực ra là người Khazars đó là theo mệnh lệnh của một ông vua, đổi đức tin sang Do thái giáo những năm 740 SCN, nhưng tất nhiên không bao gồm chuyển đổi gene Mông cổ-châu Á của họ thành gene người Do thái. 

Bạn sẽ thấy rằng khoảng 90% số người ngày nay tự gọi mình là người Do thái thực sự lại là Khazars, hay như họ muốn được biết đến là Do thái Ashkenazi. Những người này biết cách nói dối cả thế giới bằng cách tuyên bố rằng đất Israel là di sản thừa kế, trong khi đất tổ của họ ở cách xa đó tận 800 dặm đâu đó trong rặng núi Kapkav.

Do vậy lần tới khi bạn nghe ông TTg Israel than vãn về sự ngược đãi người Do thái, hãy để ý điều này, bất cứ ông TTg Israel nào cũng đều là Do thái Ashkenazi hết. Do vậy, khi mà tất cả các ông TTg Israel ve vãn thuyết phục phương Tây cho họ về đất mẹ Do thái, họ biết thừa là đang cố ý nói dối bạn, họ chưa bao giờ đặt chân đến vùng đất Palestine này, tất cả họ đều biết điều đó, bởi chính họ tự gọi mình là Do thái Ashkenazi. Điều này ít nhất đã một nhà sử học viết trong một cuốn sách về lịch sử Do thái.

Cuốn sách có tên ?oSách khải huyền-The Book of Revelation?, là cuốn cuối cùng của bộ kinh Tân Ước, Chương 2, đoạn 9 nói về người Do thái Ashkenazi: 

“Ta biết việc làm của ngươi, nỗi đau khổ và sự nghèo túng, (nhưng, ngươi mưu kế làm giàu) và ta biết sự báng bổ nhằm vào những người khi mà họ nói rằng họ là Do thái, và không phải vậy, mà là nhằm vào giáo đường của quỉ Satan.” 

Dòng giống giàu có đẫm máu vô độ nhất trên thế giới và các chúa tể của người Do thái Ashkenazi trên thế giới ngày nay là dòng họ Rothschild. Như bạn sẽ nhìn thấy qua các sự kiện, Rothschilds đã đoạt được ngôi vị này qua việc nói dối, và thực hiện các vụ tàn sát. Sự đẫm máu của họ cũng vươn rộng đến tận gia đình các Hoàng tộc Châu Âu, có những cái tên sau đây: Astor; Bundy; Collins; Dupont; Freeman; Kennedy; Morgan; Oppenheimer; Rockefeller; Sassoon; Schiff; Taft; và Van Duyn. 

Tuy nhiên, không phải chỉ có sự tàn ác đẫm máu để mà phải suy nghĩ. Hàng thế kỷ qua, người Do thái Ashkenazi trên thực tế đang thực hiện một cam kết bằng cách thay tên đổi họ để cho phép họ tham gia vào cuộc đua tranh nòi giống thống trị trên đất nước mà họ sinh sống, Và như thế, khi đã giành được vị trí có tầm ảnh hưởng tại đất nước ấy, họ sẽ khai thác các lợi ích để phục vụ cho ông chủ thực sự của họ ở nơi nào đó. Có rất nhiều chứng cứ để chứng minh rằng dòng họ Rothschilds đang tiếp tục cái truyền thống lừa dối ấy. 

Hơn nữa dòng họ Rothschilds được biết đến là sinh đẻ rất nhiều con cháu một cách bí mật mà sau đó họ có thể đặt chúng vào các vị trí quyền lực khi cần thiết. Điều này bắt đầu với người đầu tiên có cái tên Rothschild, kẻ có 6 đứa con bí mật. Cuối cùng, hãy nhớ thế giới là một nơi phức tạp, tôi nếu muốn có thể đổi tên thành Rothschild, hoặc bất kỳ tên liệt kê ở trên, và như thế chẳng làm cho tôi thành 1 phần của cái gia đình này hơn là những người đã thay bằng đạo Do thái năm 740 để thành người Do thái Ashkenazi.

Do đó, xin vui lòng, không tự tiện cho rằng một ai đó mà bạn nhìn thấy có cái Rothschild hoặc bất kỳ tên nào liệt kê ở trên là một phần của mạng lưới tội phạm Rothschild. Hơn nữa và quan trọng nhất là, phần lớn người Do thái Ashkenazi là vô tội và không phải là một thành phần trong mạng lưới này. 

Bài viết này được trình bày để cung cấp tư liệu cho biết ai là kẻ thù, không phải là một người trong chủng tộc cụ thể hay những người có cái họ đặc biệt, những người mà chẳng có gì để làm với mạng lưới tội phạm Rothschild. Tuy nhiên nó quá dài để chỉ có thể viết vắn tắt.

Theo dòng thời gian

1743: Mayer Amschel Bauer, một người Do thái Ashkenazi sinh ra ở Frankfurt-Đức, con trai của Moses Amschel Bauer, một kẻ cho cho vay tiền và sở hữu nhà cho thuê. 

Moses Amschel Bauer đặt một dấu hiệu màu đỏ phía trên cửa ra vào các ngôi nhà của ông ta. Đó là một hình ngôi sao 6 cạnh màu đỏ (dịch theo hình học và số học sẽ thành con số 666) mà theo Rothschild chỉ đạo, 2 thế kỷ sau, dấu hiệu này thành ngôi sao 6 cạnh trên cờ Israel.

1753: Gutle Schnaper, một người Do thái Ashkenazi khác (vợ tương lai của Mayer Amschel Bauer), sinh ra trong sự mong đợi của một thương gia, tên ông ta là Salomon Schnaper Wolf. 

1760: Trong hơn 10 năm, Mayer Amschel Bauer làm việc cho một ngân hàng thuộc sở hữu của nhà Oppenheimers ở Hanover, Đức. Ông ta rất thành công và trở thành một đối tác trẻ. Trong khi làm việc tại ngân hàng ông ta làm quen với General von Estorff. 

Sau cái chết của ông bố, Bauer quay trở về Frankfurt để tiếp nhận việc kinh doanh của cha. Bauer nhận ra sự quan trọng của dấu hiệu màu đỏ 6 cạnh đổi tên của mình từ Bauer thành Rothschild, sau khi dấu hiệu màu đỏ 6 cạnh có nghĩa là 666 treo trên lối vào cửa (“Roth”, tiếng Đức là, “Đỏ-Red”, “Schild,” là “Dấu hiệu-Sign”). 

Bây giờ Mayer Amschel Rothschild, phát hiện ra rằng General von Estorff đang gắn bó với triều đình Hoàng tộc William IX vùng Hesse-Kassel , một trong những Hoàng tộc giàu có nhất ở Châu Âu, gia tộc Hoàng thân này đạt được sự giàu sang bằng cách cho các nước thuê binh lính Hessian và kiếm được nguồn lợi nhuận khổng lồ (thực tế là ngày nay hình thức xuất khẩu này vẫn tiếp tục tồn tại, dưới dạng lính đánh thuê mang cái tên ?oGìn giữ hoà bình-peacekeeping” trên toàn thế giới. (Hessian, tên cũ chỉ lính Đức cho Anh thuê, cũng có nghĩa là trung đoàn hay 1 loại ủng Đức lúc đó mà binh lính thường dùng). 

Ông ta do đó lần nữa làm quen với von Estorff để ông này bán giảm giá cho Rothschild những đồng xu cổ và đồ nữ trang. Như đã định, Rothschild sau đó tự giới thiệu mình với Hoàng thân William bằng cách vui lòng bán lại cho ông Hoàng thân những đồng xu cổ và đồ nữ trang quí hiếm với giá rẻ. Sau đó, khi được William chỉ bảo các vụ làm ăn, Rothschild luôn biết biếu xén vị Hoàng tử tiền hoa hồng sau mỗi phi vụ.

Rothschild dần dần trở nên thân cận với Hoàng tử William, cuối cùng được phép làm ăn cùng ông ta và các thành viên Hoàng tộc. Nhanh chóng, Rothschild khám phá ra rằng cho CQ và giới Hoàng gia vay tiền kiếm được nhiều lời lãi hơn là cho đám tư nhân vay, các khoản vay lớn hơn lại được bảo đảm bằng thuế của quốc gia.

1769: Mayer Amschel Rothschild được Hoàng tử William cho phép treo biển trước các cửa hiệu của ông ta cái biển mang dòng chữ: “Ngài M. A. Rothschild, đại diện xứ Hanau của Hoàng tộc William” (Hanau là một thành phố tại Hesse, cách Frankfurt 25 km về phía đông.)

1770: Mayer Amschel Rothschild lên kế hoạch thành lập tổ chức Khai sáng-Illuminati và giao phó nó cho Adam Weishaupt, một Ashkenazi khác, một người Do thái bí mật mà bề ngoài là theo Thiên chúa chính thống, tổ chức và phát triển nó. Khai sáng được dùng làm cơ sở để giảng dạy Talmud, và sau đó là dạy cho các giáo sĩ Do thái. Khai sáng có thể gọi là một hệ thống đức tin, mà theo ngữ nghĩa của từ này là ?onhững người giữ ánh sáng?.

Cũng năm này, Rothschild cưới Gutle Schnaper. 

1773: Đứa con đầu tiên của Mayer Amschel Rothschild ra đời, giống như tất cả các em khác sau này, nó tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình từ năm 12 tuổi.

1774: Salomon Mayer Rothschild ra đời. 

1776: Adam Weishaupt chính thức hoàn thành việc gây dựng tổ chức Khai sáng vào tháng 1. Mục đích của Khai sáng là chia rẽ goyim (tất cả những người không Do thái) thông qua chính trị, kinh tế, xã hội, và tôn giáo. Các bên đối lập được vũ trang và các sự cố được tạo ra để họ: đấu tranh với nhau; phá hoại các chính phủ dân tộc, phá hoại các tổ chức tôn giáo, cơ sở giáo dục, và cuối cùng tiêu diệt nhau. 

Weishaupt bằng học thuyết Khai sáng sớm thâm nhập vào các hội viên hội Tam điểm và thiết lập các căn cứ làm đầu não cho các hoạt động bí mật. Tất cả đều đặt dưới trướng Mayer Amschel Rothschild được ông ta chu cấp, và khái niệm đó cùng với hội Tam điểm đã tràn lan ra khắp thế giới cho đến tận ngày nay. 

Weishaupt cũng tuyển mộ 2000 môn đệ trong số những người thông minh nhất trong các lĩnh vực nghệ thuật và thư tín, giáo dục, khoa học, tài chính, và công nghiệp. Họ được hướng dẫn để làm theo những phương pháp sau đây để có thể điều khiển dân chúng. 

(Ghi chú: đoạn này rất rắc rối, khó dịch, nhiều ẩn ý, bạn đọc thông cảm)

1) Sử dụng tiền và hối lộ tình dục để nắm những người có địa vị xã hội, ở các cấp độ khác nhau của tất cả các chính phủ và các lĩnh vực. Một khi những người bị gây ảnh hưởng đã rơi vào dối trá, lừa gạt, và những cám dỗ của Khai sáng họ sẽ bị nắm giữ trong cảnh bó buộc bằng cách áp dụng hình thức tống tiền chính trị và các dạng khác, đe doạ phá hoại tài chính, vạch trần trước công chúng, làm thiệt hại về tài chính, thậm chí sát hại họ và gia đình họ.

2) Các khoa của trường học gieo rắc vào các học sinh có năng lực tinh thần đặc biệt thuộc các gia đình có giáo dục khuynh hướng quốc tế hoá, và khuyên bảo họ trau dồi, rèn luyện trong các khoá đào tạo quốc tế hoá, rằng thay vì CQ dân tộc thì một CQ quốc tế mới có thể chấm dứt các cuộc chiến tranh và xung đột muôn thủa. Những đào tạo này cung cấp những kẻ thông thái để chọn vào hội Khai sáng.

3) Tất cả dân chúng rơi vào vòng ảnh hưởng và bị Khai sáng kiểm soát cùng những sinh viên đã được giáo dục và huấn luyện 1 cách đặc biệt sẽ được dùng như những các tay chân và được đặt vào hậu trường CP các nước như các chuyên gia và chuyên viên. Do vậy họ sẽ đưa ra lời khuyên cho lãnh đạo cao cấp thuận theo các chính sách đáp ứng lâu dài cho ý tưởng bí mật của Khai sáng về âm mưu 1 thế giới đem đến cái chết cho các CQ các nước cũng như tôn giáo mà họ đã lựa chọn để phục vụ cho họ.

4) Giành được quyền kiểm soát tuyệt đối báo chí, mà tại thời điểm đó là phương tiện truyền thông đại chúng duy nhất, làm cho tất cả báo chí và thông tin bị chêch hướng để số đông tin tưởng rằng CP 1 thế giới là giải pháp duy nhất cho tất cả nhân loại và những vấn đề khác nhau.

1777: Nathan Mayer Rothschild sinh ra. 

1784: Adam Weishaupt ban hành các chỉ thị của ông ta đối với cuộc cánh mạng Pháp sắp được Maximilien Robespierre phát động trong một quyển sách. Cuốn sách này được một phụ tá của Weishaupt viết và gửi bằng người đưa thư từ Frankfurt đến Paris. Tuy nhiên trong lộ trình đó, người đưa thư bị bắt, cuốn sách về kế hoạch bạo loạn cách mạng bị cảnh sát phát giác và giao nộp cho chính quyền Bavaria.

Hậu quả, chính quyền Bavaria ra lệnh cho cảnh sát lục soát bắt bớ tất cả các cơ sở của hội Tam điểm, cả nơi ông ta có ảnh hưởng nhất. Rõ ràng, chính quyền Bavaria đã tin chắc rằng cuốn sách đã phát hiện là một mối đe dọa thực sự của các nhóm riêng rẽ đã bị nhiễm ảnh hưởng, sử dụng chiến tranh và cách mạng để kết liễu họ. 

1785: Chính quyền Bavaria đặt Khai sáng ra ngoài vòng pháp luật và đóng cửa tất cả các cơ sở của hội Tam điểm ở Bavaria. Mayer Amschel Rothschild gia đình chuyển đến một căn nhà năm tầng ở Frankfurt cùng gia đình ông Schiff.

1786: Bavaria công bố các chi tiết của tổ chức Khai sáng trong một tài liệu có tên, “Những ghi chép nguyên bản của bè phái và tổ chức Khai sáng”. Sau đó họ gửi tài liệu này cho tất cả các trưởng giới nhà thờ, tu viện và lãnh đạo CP các nước châu Âu. 

Nhưng đáng tiếc lời cảnh báo của CQ Bavaria đã bị bỏ qua. Có vẻ như Karl Marx, một người Do thái Ashkenazi khác đã kế thừa cái tư tưởng đại đồng từ hội Khai sáng này.

1788: Kalmann (Carl) Mayer Rothschild ra đời. 

1789: Do sự thờ ơ của châu Âu trước lời cảnh báo của CQ Bavaria, kế hoạch của Khai sáng đã thành công cho đến 1793. Cuộc chiến tranh cách mạng này là mơ ước của giới chủ nhà băng Do thái, chúng thiết lập hiến pháp mới và đưa ra các đạo luật ngăn cấm giáo hội thu thuế và cũng loại bỏ luôn giáo hội khỏi việc được miễn thuế. 

1790: Mayer Amschel Rothschild nói, “Hãy để tôi phát hành và kiểm soát tiền tệ quốc gia và tôi chẳng cần biết kẻ nào viết ra các điều luật.” 

1791: Rothschilds kiểm soát được tiền tệ quốc gia, thông qua Alexander Hamilton, một đặc tình của ông ta tại nội các George Washington khi thiết lập một ngân hàng trung ương Mỹ gọi là Ngân hàng đầu tiên của Hợp chủng quốc với 20 đặc quyền. (First Bank of the United States).

1792: Jacob (James) Mayer Rothschild ra đời. 

1796: Mayer Amschel Rothschild cưới Eva Hanau.

1798: John Robison xuất bản một cuốn sách mang tên “Những bằng chứng của một âm mưu chống lại tất cả các tôn giáo và Chính phủ các nước châu Âu được vạch ra trong cuộc họp của hội Tam điểm, Khai sáng và các hội đoàn.” Trong cuốn sách này, Giáo sư Robison của trường Đại học Edinburgh, một trong những lãnh đạo có trí tuệ thời gian này, năm 1783 được bầu làm tổng thư ký của giới thượng lưu Hoàng gia Edinburgh, đã cung cấp thông tin chi tiết của toàn bộ mưu đồ Khai sáng Rothschild. 

Ông cho biết đã được làm một hội viên Tam điểm bậc cao như thế nào tại một lễ nghi của hội Tam điểm Scotland, và đã được Adam Weishaupt mời sang châu Âu, tại đó ông được đưa cho một bản copy đã sửa đổi của âm mưu Weishaupt. Tuy nhiên, dù đã là một hội viên lâu năm, Robison đã không đồng ý với nó, sau đó công bố âm mưu đã kể trên. Cuốn sách bao gồm cả các chi tiết của CQ Bavaria điều tra về tổ chức Khai sáng và cách mạng Pháp. 

Cũng trong năm này, David Pappen, Chủ tịch của Đại học Harvard, đã diễn thuyết trong các lớp học về tầm ảnh hưởng của Khai sáng đến các chính sách và đời sống tôn giáo Mỹ.

Ở tuổi 21, Nathan Mayer Rothschild rời Frankfurt đến Anh, nơi mà với một khoản tiền lớn của ông bố, anh ta đã lập một ngân hàng nhà ở London. 

1800: Salomon Mayer Rothschild cưới Caroline Stern. 

1806: Napolean nói rằng, “lọại bỏ Hoàng gia Hess-Cassel khỏi vị trí thống trị và loại bỏ ra khỏi danh sách các CQ.” Khi nghe thấy thế, Hoàng tử William IX bỏ trốn đến Đan mạch và giao phó tài sản của ông ta, khoảng $3000000 tại thời điểm đó cho Mayer Amschel Rothschild giữ. Nathan Mayer Rothschild lúc này cưới Hannah Barent Cohen con gái của một thương gia giàu có ở London,ông chủ nhà băng Anh. 

1808: Nathan Mayer Rothschild có đứa con trai đầu tiên tên là Lionel Nathan Rothschild. 

1810: Quí ngài Francis Baring và Abraham Goldsmid chết. Nathan Mayer Rothschild trở thành ông chủ chính của nhà băng Anh.

Salomon Mayer Rothschild đến Viên, Áo và lập ngân hàng M. von Rothschild und Söhne. 

1811: Những đặc quyền của nhà băng Rothschilds Mỹ đã hết hạn và quốc hội đã bỏ phiếu bãi bỏ việc gia hạn thêm cho các đặc quyền ấy. Nathan Mayer Rothschild không lấy đó làm buồn tuyên bố: “Hoặc là đặc quyền phải được phục hồi hoặc là Mỹ sẽ tự thấy mình trong một cuộc chiến tranh đầy tai hoạ.” 

Tuy nhiên, Mỹ đã cứng rắn và đặc quyền của Rothschilds không được gia hạn, nó làm cho Nathan Mayer Rothschild tung ra đe doạ khác: “Dạy cho những tên Mỹ láo xược một bài học. Đem chúng trở lại thân phận thuộc địa.”

1812: Được Rothschilds cấp tiền bạc, và Nathan Mayer Rothschild yêu cầu, Anh tuyên bố chiến tranh với Mỹ. Mưu mô của Rothschilds là làm sao để Mỹ chìm ngập trong nợ nần vì cuộc chiến tranh này đến mức Mỹ phải đầu hàng Rothschilds và cho Rothschilds nối lại sở hữu First Bank.

Ông bố Mayer Amschel Rothschild chết. Ông ta để lại một luật lệ đặc biệt mà dòng họ nhà Rothschilds phải tuân thủ: tất cả các vị trí chủ chốt việc kinh doanh của gia đình được giành riêng cho các thành viên trong gia đình nắm giữ; chỉ có đàn ông mới được quyền điều hành kinh doanh, kể cả 6 đứa con hoang bí mật đã tiết lộ.

(Rất cần phải nói là Mayer Amschel Rothschild cũng có năm đứa con gái, do đó, ngày nay sự lan rộng của triều đại Rothschilds Zionist mà không thấy tên Rothschilds là đã rất xa và rộng, và người Do thái tin rằng sự pha trộn con cái của một bà mẹ Do thái với ngoại đạo thì người mẹ là người Do thái duy nhất, không tính con cái);

Do vậy gia đình dòng họ này cần phải lấy nhau trong họ hàng gần con chú con bác để bảo tồn tương lai dòng giống (trong số 18 đám cưới của đời cháu Mayer Amschel Rothschild, 16 đám là lấy nhau trong họ hàng chú bác – một điều mà nay gọi là loạn luân); 

Không có một thống kê nào về sự tài sản của nhà Rothschilds được công bố cũng như không có bất cứ sự kiện hợp lệ nào nói về việc chuyển giao thừa kế; đứa con lớn tuổi nhất trong số những đứa con lớn trở thành lãnh đạo của gia đình, trật tự chỉ bị đảo lộn khi phần lớn cả dòng họ đồng ý.

Đây là trường hợp ngoại lệ, Nathan Mayer Rothschild được dòng họ bầu chọn sau khi ông bố, Mayer Amschel Rothschild chết. 

Jacob (James) Mayer Rothschild đến Paris để lập ngân hàng, Rothschild Frères. 

Nathaniel Rothschild, con trai của Jacob (James) Mayer Rothschild, ra đời. 

1814: Quay trở lại chiến tranh Anh-Pháp và số tiền $3000000 mà Hoàng tử William IX xứ Hesse-Hanau giao phó cho Mayer Amschel Rothschild, hãy mở Bách khoa toàn thư của Do thái, ấn bản 1905, Tập 10, trang 494, trong đó viết: “Theo lời kể, số tiền này được cấ giấu trong thùng rượu và thoát khỏi cuộc truy tìm của quân lính Napoleon khi họ tiến vào Frankfurt, và vẫn còn nguyên đến năm 1814, khi bầu cử, William IX quay trở lại Đức ứng cử. Trên thực tế thì không lãng mạn như thế và có vẻ thiết thực hơn.?

Dòng cuối cùng cho biết tiền đã không bao giờ được Rothschilds trả lại cho William IX. Trong encyclopaedia viết: “Nathan Mayer Rothschild đầu tư số tiền $3000000 này vào vàng trong Công ty Đông Ấn Độ và nó là rất cần thiết cho Wellington của bán đảo chiến dịch bán đảo của Wellington.” 

Việc Nathan đánh cắp tiền đã đạt được ?oít nhất 4 lợi ích: 

1) Bán đứt giấy tờ có giá của Wellington, ông ta mua chỉ với 50 cent một đô la và tự chủ về mệnh giá; 
2) Bán vàng để Wellington; 
3) Mua lại.
4) Chuyển tiếp vào Bồ đào nha.”

1815: Năm anh em nhà Rothschilds cung cấp vàng cho cả hai phía quân đội của Wellington (thông qua Nathan tại Anh), Napoleon (thông qua Jacob tại Pháp), và bắt đầu các chính sách tài trợ của cả hai bên trong cuộc chiến tranh. Rothschilds mong muốn chiến tranh, bởi vì chúng là cỗ máy sinh lời khổng lồ trên những khoản nợ không hề có rủi ro.

Đó là bởi vì chúng được bảo đảm bởi chính phủ mỗi quốc gia, và do đó là nỗ lực của dân số mỗi nước, không quan trọng nếu quốc gia đó thua trong chiến tranh, vì các khoản cho vay đã được đảm bảo rằng kẻ chiến thắng sẽ tôn trọng khoản nợ của kẻ chiến bại. 

Trong khi Rothschilds tài trợ cả hai, họ sử dụng các ngân hàng mà họ đã mở mang trên khắp Châu Âu để tạo ra cơ hội để thiết lập một mạng lưới dịch vụ cung ứng không gì sánh được về hành trình bí mật và khả năng lưu chuyển nhanh chóng, luôn luôn kịp thời với các sự kiện.

Hơn nữa, mạng lưới Rothschilds là duy nhất cho phép các thương gia vượt qua sự phong toả Anh Pháp lúc chiến sự. Nó còn cho phép Nathan Mayer Rothschild nắm bắt kịp thời diễn biến của chiến tranh và ông ta sử dụng những thông tin này để mua hay bán trên thị trường chứng khoán theo tình hình diễn biến chiến tranh.

Một người trong mạng lưới làm ăn của Rothschilds tên là Rothworth. Khi biết kết quả của trận đánh Waterloo mà phần thắng thuộc về người Anh, Rothworth nắm bắt ngay tin tức và chuyển đến cho Nathan, đúng 24 tiếng trước khi Wellington tuyên bố thắng trận. 

Lúc đó, các khế ước công nợ của Anh được gọi là trái phiếu-consuls và chúng đang được giao dịch trên sàn chứng khoán. Nathan Mayer Rothschild chỉ thị cho tất cả nhân viên của ông ta trên sàn giao dịch bắt đầu bán ra ào ạt. Việc đó làm cho tất cả các nhà đầu tư tưởng nước Anh đã thua trận và họ cũng bắt đầu bán ra một cách điên cuồng.

Vì vậy các trái phiếu rớt giá tự do thê thảm. Nathan kín đáo chỉ thị mua vào tất cả trái phiếu mà họ có thể với tay vào được.

Khi tin tức thắng trận đến, trái phiếu tăng giá phi mã còn hơn cả lúc trước chiến tranh.Kết quả Nathan lãi đến 20/1 đồng vôn bỏ ra.

Điều này đã cho phép dòng họ Rothschilds kiểm soát hoàn toàn nền kinh tế nước Anh, nay là trung tâm tài chính trên thế giới sau Napoleon thua trận, và buộc Anh phải thành lập ngân hàng mới, mà Nathan Mayer Rothschild làm chủ. 

Điều thú vị là 100 năm sau khi New York Times chuẩn bị đăng câu chuyện này thì ông cháu của Nathan Mayer Rothschild đã cố gắng đệ đơn ra toà ngăn cản sách báo công bố câu chuyện này. Dòng họ nhà Rothschilds tuyên bố câu chuyện là bịa đặt và phỉ báng họ, nhưng toà án từ chối yêu cầu của nhà Rothschilds và yêu cầu gia đình trả án phí.

Quay lại năm 1815, đây là năm mà Nathan Mayer Rothschild làm cho mình nổi tiếng bằng tuyên bố: 

“Tôi không cần biết con rối nào ngự trên ngai vàng nước Anh để thống trị cái Đế chế mặt trời không bao giờ lặn này. Kẻ kiểm soát nguồn tiền nước Anh sẽ thống trị nước Anh, và tôi đang kiểm soát nguồn tiền tệ nước Anh.?

Ông ta khoe khoang trong 17 năm ở Anh quốc ông ta đã tăng số tiền £20000 bố ông ta đưa lên 2500 lần đến con số £50000000.

Rothschilds cũng sử dụng quyền kiểm soát của họ trong ngân hàng Anh để thay thế phương thức vận chuyển vàng từ quốc gia đến quốc gia bằng cách sử dụng 5 ngân hàng của họ trên khắp châu Âu và thiết lập hệ thống công nợ và tín phiếu như hệ thống ngân hàng hiện nay đang sử dụng.

Đến cuối thế kỷ XIX, đã có một thời kỳ được biết đến như là ?oThời đại Rothschilds” người ta ước lượng dòng họ Rothschild kiểm soát một nửa số của cải trrn toàn thế giới.

Tuy nhiên thỉnh thoảng cái xấu lại xảy ra với Rothschilds trong năm này, Công ước Viena khởi đầu trong tháng Chín 1814 và kết thúc trong tháng sáu năm này. Lý lẽ của Công ước này là cho phép Rothschilds tạo ra một hình thái chính phủ toàn cầu, để cho họ hoàn toàn kiểm soát chính trị trên rất nhiều các nền văn minh thế giới. 

Rất nhiều các chính phủ các nước châu Âu đã mắc nợ Rothschilds, do đó họ cho rằng có thể dùng nó như một công cụ để mặc cả. Tuy nhiên Sa hoàng Nga Alexander I, đã không chịu đựng được cái ngân hàng trung tâm của Rothschilds, nên không màng đến cái kế hoạch này, thế cho nên kế hoạch chính phủ toàn cầu của Rothschilds thất bại.

Nổi khùng vì điều đó, Nathan nguyền rủa rằng một ngày nào đó ông ta hoặc con cháu ông ta sẽ huỷ diệt Sa hoàng Alexander I cùng toàn thể gia đình và dòng dõi. 

Thật không may ông ta đã nói đúng và 102 năm sau Rothschild đã tài trợ Bolsheviks thực hiện lời nguyền này. 

khazarian_georgia

Bản đồ Khazaria, nơi cư trú của dân tộc Khazar, hay còn gọi là Ashkenazi sau này. Trong bản đồ có đánh dấu các cuộc di cư, nội ngoại chiến.

Người Do thái và 4 cuộc cách mạng

TG: Brother Nathanael Kapner http://www.realjewnews.com/?p=62 

Có lẽ không có dân tộc nào làm cách mạng nhiều bằng người DT. 4 cuộc cách mạng do người Do thái phát động. 

Một là cách mạng Anh năm 1649 được người DT Hà lan cung cấp tiền bạc cho Cromell, hay còn gọi là nội chiến Anh 1649, trong cuộc nội chiến này, Cromell giết chết vua Charles và thống trị nước Anh cùng xứ Ireland và Scotland. Bị tiền bạc DT sai khiến, năm 1656 Cromell đã mở cửa để hồi hương người DT bị trục xuất trước đó.

Hai là cũng từ đó, thế giới DT bắt đầu đề xướng, kích động và cấp vốn cho cuộc cách mạng Pháp 1789. Hậu quả là vua Pháp cũng bị giết chết và DT lật đổ sự ngự trị nhiều ngàn năm của đạo Cơ đốc. Họ tìm thấy lợi ích trong cuộc CM này, các lực lượng trước đây chống DT bị trục xuất và sự giải phóng vĩ đại người DT đã được thực hiện. 

Ba là cuộc cách mạng Bolshevik trên đất Nga, giới Bolshevik Do thái được các nhà băng DT do by Jacob H Schiff cầm đầu ủng hộ tiền bạc. Cái tên Schiff đã được nhắc đến ở bài trên, ông ta là chủ nhà băng ?oJewish Banking house? và Kuhn, Loeb Co. được CQ Xô viết hứa hẹn, lần thứ 3 Nga hoàng bị thảm sát, xã hội Cơ đốc giáo bị DT huỷ hoại.

Ông Fahey, trong cuốn sách rất giá trị có tên ?oRulers Of Russia? có đoạn trích dẫn: ?oTrong 10/1918, trong số 388 thành viên CP cách mạng chỉ có 16 người là thực sự Nga. Tất cả số còn lại là DT với 1 ngoại lệ là 1 người da đen. Rất nhiều trong số DT này đến từ vùng đất thấp phía đông New York.?

Bốn là nội chiến Tây ban nha 1936, được Bolshevik hỗ trợ tiền bạc, nhưng phe đối lập Franco và Đức đã thành công.

Dĩ nhiên còn cuộc thứ 5 nữa, qui mô quốc tế của nó thật kinh khủng và trụ sở cuộc cách mạng này nằm ở NƯỚC MỸ. Chương trình nghị sự của zionist là tạo ra TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI – NEW WORLD ORDER, những ai hay vào internet chẳng lạ gì cụm từ này, tư tưởng thì chẳng có gì mới, nó là của Khai sáng. Giới đầu sỏ DT bao gồm: Richard Perle, Paul Wolfowitz, và William Kristol, giới cố vấn tân diều hâu phát_xít DT đang bu bám quanh CQ Mỹ từ Bush đến Obama. Hội vận động hành lang DT với cái tên AIPAC hẳn không còn ai xa lạ, là bộ máy tổ chức của cuộc cách mạng thứ 5 đang diễn ra bây giờ.

Trong đêm tối ngày 16 tháng 7 năm 1918, Nga hoàng Nicholas II và gia quyến Thiên chúa ngoan đạo của ông ta đã bị Do thái Ashkenazi bắn và đâm chết bằng lưỡi lê trong máu lạnh.

Những kẻ Do thái Ashkenazi Bolshevik sau đây đã thực hiện tội ác này:

1. Jacob Yurovksy, a Jewish Czech 

2. Sergei Medvedjev 

3. Lev Nikulin, a Jewish Czech 

4. Peter Yermakov 

5. Fyodor Vaganov, a New York Jew 

6. Jacob Sverdlov, (Yankel Solomon), CT Xô viết tối cao đầu tiên. Hắn ta ra lệnh thủ tiêu cả Hoàng tộc Nga hoàng. Sverdlov bắt đầu sự nghiệp chống Thiên chúa khi hắn ta gia nhập đảng DCLĐXH Nga năm 1902. 

Thế là bắt đầu một chuỗi thảm sát kinh hoàng 8 000 000 người Nga Chính thống giáo từ 1918 đến tận 1943.

Ngày nay Nga đã chính thức coi đây là một tội ác, còn cái đảng Bolshevik mới, tro tàn của cái đảng Bolshevik tanh máu kia mới bị cấm hoạt động không lâu. Năm ngoái họ đã mở một cuộc khai quật nơi được cho là đã chôn cất Nga hoàng và gia quyến. 

Trang bi thương của Sa hoàng Romanov

Đây là vấn đề còn vô số tranh cãi, biện hộ trái chiều và chưa hẳn toàn bộ những gì nêu trong đây là đúng và là những diễn biến về vụ thảm sát được chính phủ Nga hiện nay thừa nhận. Tuy nhiên nó không giống như một vụ án tử hình có tuyên án và xử đàng hoàng. Nó diễn ra bí mật, vụng trộm. Một vụ thảm sát. Thảm hoạ của chiến tranh nội chiến 1908-1918 Tại Nga.

Một số ý kiến biện hộ của các bên SSX sẽ nêu ở một bài khác. 

Sa hoàng Nicholas II và gia đình

Sa hoàng Nicholas II và gia đình

Sa hoàng Nicholas II và gia đình

Khi cuộc cách mạng nổi lên, biết không thể trụ vững Sa hoàng Nicholas II và gia đình đi lánh nạn ở Tobolsk Siberi từ tháng 8/1917. Ông hy vọng sẽ thoát được sang Anh. Vua nước Anh George V là họ hàng gần của Romanov, nhưng ông ta từ chối giúp đỡ bởi lúc này Rothschilds đang đè đầu cưỡi cổ ông ta.

Ngày 22/4/1918, Lenin phái Yankel Yakovlev đến thuyết phục Nicholas đồng ý ký vào thoả thuận hoà bình Brest-Litovsk. Nicholas từ chối nhưng đồng ý quay về Mát-xcơ-va. Ông đã không còn lựa chọn nào khác ngoài hy vọng có thể đàm phán thêm với Lenin.

Ngày 30/4 Bolsheviks chặn đoạn tàu Nicholas tại Ekaterinburg. Từ 1/5 cho đến 17/7, ông và gia đình bị đưa đi giam lỏng tại ngôi nhà Ipatiev ở Ekaterinburg và bị hành quyết tại đây.

Một trong những lý do Sa hoàng Nicholas phải chết là những người nông dân, nếu biết được họ bị Bolsheviks dối lừa. Họ sẽ đưa ông trở lại. Quân Bạch vệ trung thành cố gắng để giải thoát cho Nicholas và đã hành động. 

Sverdlov (Solomon) và Lenin ký quyết định hành quyết. Bản hành quyết được gửi cho Yurovsky thi hành. Yurovsky là chỉ huy đám Khazar trong đội công an bí mật. Hắn ta được bổ nhiệm làm phó dân uỷ toà án, đội trưởng Cheka, một kẻ hung bạo tuyệt đối. Hắn sinh tại Tomsk, trong một gia đình Do thái 10 người con. Cũng trong tháng 7, Sverdlov bổ nhiệm Yurovsky làm chỉ huy trưởng đội bảo vệ nhà Ipatiev. Âm mưu thủ tiêu Sa hoàng Romanov coi như đã dàn dựng xong.

Binh lính Nga thì vẫn bảo vệ cho Nicholas II. Ngày 4/7/1918, Yurovsky theo lệnh cấp trên sa thải tất cả các binh lính, ngoại trừ Pavel Medvedev, một kẻ Do thái làm gián điệp cho Cheka. Yurovsky thay toàn bộ đội bảo vệ trong ngoài ngôi nhà bằng người nước ngoài.

Những tên đồ tể được Yurovsky đưa đến. Chúng là Do thái Hungary. Một số ý kiển nói chúng người Do thái Czech.Binh lính bảo vệ ngôi nhà Ipatiev bị thay bằng Cheka. 2 tuần trước biến cố là quãng thời gian đau khổ, chẳng còn tí riêng tư nào khi đi vệ sinh cũng bị kèm chặt.Nhục nhã, lăng mạ và thậm chí hãm hiếp. Jacob Yurovsky thấy Anastasia “rất hấp dẫn” bèn cấm quân lính đụng đến cô ta.

Giữa đêm, Yurovsky đánh thức gia đình Nicholas dậy. Ngày 17/7/1918. 1 giờ đêm, Sa hoàng, vợ, 4 con gái, người hầu gái, bác sĩ, đầu bếp, người phục vụ bị đưa đến tầng hầm, Sa hoàng bế cậu con trai nhỏ trên tay.Yurovsky, Medvedev, Nikulin, Yermakov, Vaganov, tất cả là Do thái Cheka, lũ đồ tể đã đợi sẵn.

Yurovsky cùng cả bọn Cheka bước vào phòng, chúng mang theo súng. Nicholas cố gắng trấn an và bảo vệ vợ cùng các con. Yurovsky chĩa súng thẳng vào Nicholas và xiết cò. Sa hoàng chết ngay lập tức. Tiếp hắn bắn Hoàng hậu Alexandra khi bà đang đưa tay cầu nguyện. Rồi đến lượt Olga, Tatiana và Maria.Demidova, người hầu gái vẫn còn sống sau phát đạn đầu. Lũ Cheka đâm tiếp bằng lưỡi lê, 30 nhát. Căn phòng trở nên tĩnh lặng, chẳng còn tiếng rên la nào. Cậu con trai nhỏ vẫn đang trong tay Nicholas và còn sống. Yurovsky tiến đến bắn 2 phát vào mang tai. Khói súng, máu chảy đầy căn phòng chật trội mỗi chiều chưa đến 8m. Còn lại 2 người và Botkin vẫn sống. Yurovsky nói tất cả ra ngoài trừ 2 tên bảo vệ, chúng đâm chết Botkin và người hầu. 

Không rõ số phận người con gái thứ 4 Anastasia của Sa hoàng thế nào. Yurovsky và 2 tên bảo vệ lột bỏ quần áo các cô gái tìm nữ trang. Đồ nữ trang trên ngực mấy người làm chệch viên đạn và họ vẫn còn sống. Yurovsky nói để 2 tên bảo vệ “giải thoát” cho họ. Hiện trường, những lưỡi lê như thế được dùng trong vụ hành quyết và 2 cô con gái Olga và Maria 

Lũ súc vật kéo nhau rời nhà Ipatiev. Tất cả những kẻ can dự vào vụ thảm sát này đều là người Do thái, ngoại trừ Lenin 1/2 Do thái. 
Các xác chết được chất lên xe tải, nó rời thành phố Ekaterinburg trong đêm, lúc 2h30 sáng đến một mỏ sắt bỏ hoang gọi là mỏ Four Brothers.

Chúng ném các xác chết xuống một cái rãnh cạn. Các cô gái lại bị toán bảo vệ lột bỏ quần áo tìm nữ trang một lần nữa.
Sáng hôm sau, khoảng 11h, “đại diện quân đội” Philip Golochtchekine (cũng Do thái) và đại diện Xô viết, chủ tịch Bieloborodov đến giám sát công việc. Họ thấy cái rãnh quá nông để lộ xác chết. Yurovsky và người của hắn ta bèn lôi xác dòng họ Romanov đem đi vùi ở một chỗ khác. Chúng lại chất xác chết lên xe tải đến một cái mỏ khác. Nhưng xe tải bị sa lầy. Chúng không đi nữa mà quyết định vùi xuống 1 cái hố ngay trên con đường Koptyaki, ở đâu đó khoảng 20km ngoài thành phố Yekaterinburg. Khi đào sâu 1m thì đụng phải đá, chúng mở rộng hố chứ không đào sâu thêm nữa và ném những cái xác xuống, lấp đất qua loa. Nhưng việc vẫn chưa xong. Một vài ngày sau, dù quá muộn nhưng quân Bạch vệ đã đến, họ cũng đã chiếm được thành phố Yekaterinburg vào ngày 25/7. 

9 ngày sau, thành phố Ekaterinburg tràn ngập quân phản cách mạng. Họ bắt bọn lính gác khai báo, chúng đã thú tội. Nhưng trước khi tìm hiểu kỹ càng, Bolsheviks đã chiếm lại thành phố và sau đó đổi tên là Sverdlov. Bạch vệ rút lui.

Năm 1977, không hiểu vô tình hay cố ý, nhà Ipatiev bị huỷ hoại. 71 năm sau, ngày 12/4/1989, tin tức đại chúng loan báo đã tìm thấy nơi chôn cất hoàng tộc Romanov tại cánh rừng Koptyaki. Thực tế việc này do một nhà sử học nghiệp dư phát hiện. 2 ông tên là Alexander Avdonin và Geli Ryabov, cũng như báo giới Nga cho biết 2 ông đã công bố việc này từ cách đó đã 10 năm, năm 1979, nhưng đó là thời CS, chẳng ai quan tâm.

Năm 1989, một nhóm các nhà nhân chủng học, dựa theo báo cáo của Yurovsky cũng đã khai quật một địa điểm khác, họ thu nhặt được 1000 mảnh xương, và lắp ghép được 9 bộ hài cốt. Họ cho rằng đó là những gì còn lại của Hoàng tộc Romanov.

Các chuyên gia Mỹ, phân tích răng và xương, họ nói đã tìm thấy Công chúa Anastasia. Họ sửng sốt bị mức độ huỷ hoại của bộ xương. Và cho dù vậy thì xét nghiệm ADN để khẳng định đó là Anastasia đã không được công bố.

Năm 1991, sau hàng chục năm, CQ bắt đầu khai quật, người ta phát hiện 9 cái xác cũng với dây trói, những lọ a-xít bị đập vỡ. Sau đó các phân tich ADN của các chuyên gia Nga và Anh đều khẳng định đã tìm thấy hài cốt Hoàng tộc Romanov. 9 bộ hài cốt tìm được là của gia đình Nicholas II. Năm 2007, các nhà khảo cổ tuyên bố họ tìm thấy 2 người con cuối cùng của Nicholas. Hoàng tử nhỏ 13 tuổi Tsarevich Alexei và người chị trên Maria (chứ không phải Anastasia).80 năm sau, 1998, những gì còn lại của Sa hoàng Romanov được làm lễ cầu siêu và an táng tại nhà thờ chính thống.

5 thoughts on “Thuyết âm mưu về người Do Thái

  1. Hahaha. Càng đọc càng thấy hấp dẫn. Tác giả cứ như Dan Brown ấy. Hitler hẳn sẽ cảm thấy tự hào vì có học trò xuất sắc như vậy. Chúa Jesus hẳn phải đăng ký lại quốc tịch Do Thái của mình vì quá xấu hổ cộng đồng Do Thái hiện nay. Người Do Thái nên tự thiến hết đi vì giọng điệu của tác giả xem ra rất căm thù (tôi đọc có thoang thoảng hương vị phân biệt chủng tộc). Phải chăng tác giả là nạn nhân trực tiếp của cộng đồng người Do Thái, tác giả đã dính “phép thuật” của quỷ Satan Do Thái?!? Người Do Thái đi trên đường thì tác giả sẽ chém bay đầu liền như thời trung cổ chăng?? Tác giả mong muốn điều gì qua bài viết này? Đàn áp/diệt chủng/cô lập/thù ghét tất cả cộng đồng người Do Thái? Tôi xem bài viết trên này chẳng khác gì một bài “phân tích” cố gắng thoi thóp “vạch trần” “thuyết âm mưu” và làm kịch tính hoá mọi vấn đề nhằm qua mặt người đọc hòng dấy lên bản chất tò mò hay tin sái cổ của đa phần dân chúng ưa “chuyện giật gân” nhan nhản đầy trên mạng. Tin tôi đi, tác giả nên gia nhập Nazism đi, trong đấy không thiếu thành phần con người như tác giả. Môi trường ấy hợp với bác hơn. Và quên nữa, tác giả nói ngon lắm, cầm dao/súng đi trọc nã vài người Do Thái đi rồi hãy nói tiếp! Ép người ta đến đường cùng rồi thì việc tiếp theo tác giả sẽ làm gì??

  2. Có một số điểm tôi muốn nói đến bài viết này như sau:
    + Đúng là gia tộc Rothchild có thế lực rất lớn chi phối thế giới này, nhưng vùng họ kiểm soát chỉ là phương Tây thôi! Nga, Trung Quốc, châu Á là nhưng nơi họ chưa vươn vòi bạch tuộc đến được.
    + Trong giai đoạn đầu cách mạng Tháng 10 Nga, đảng Bolsheviks đã được giới tài chính phương Tây hỗ trợ, nhưng cách mà đảng Bolsheviks “trả ơn” cũng chỉ tử tế hơn Nga Hoàng một tý. Lenin đã thắt lưng buộc bụng trả nợ hết cho tư bản tài chính phương Tây, không để chúng đụng vào nước Nga. Vậy nên sau đó bọn tư bản tài chính mới hỗ trợ hết lòng cho quân “Bạch vệ” gây ra cuộc nội chiến 4 năm trời nhưng thất bại.
    + Những cuộc cách mạng mà tác giả kể đến trong bài viết thì dù có người Do Thái hay không nó vẫn nổ ra. Người do thái đã rất khôn ngoan, thuận nước đẩy thuyền, đứng về phe sẽ chiến thắng nên sau khi cách mạng thành công họ dành được nhiều quyền lợi.
    + Nhiều luận điểm lịch sử tác giả đưa ra rất lố. Tôi có cảm giác đang đọc tiểu thuyết lịch sử chứ không phải là bài khảo cứu lịch sử.
    + Nhiều câu chữ trong bài cho thấy tác giả không chỉ phân biệt chủng tộc mà còn phân biệt tôn giáo nữa, bênh vực và tỏ ra tiếc nuối cho những thế lực phong kiến Cơ đốc giáo như hoàng gia Pháp trong cách mạng 1789 hay Nga Hoàng trong cách mạng 17/1917. Tác giả có vẻ nuối tiếc nhưng chế độ lỗi thời này chỉ vì 1 lý do “Cơ đốc giáo”.

  3. Họ khôn hơn, giỏi hơn thế thôi. thử xem giọng lưỡi hằn học này mà có tiền và leo được tới đỉnh quyền lực thì thế giới sẽ đến đâu. Hitle đời mới!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s