Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm

Ha Tien

 

Nguyễn Hiến Lê

Hà Tiên là tên gọi đã có từ xa xưa, qua từng thời kỳ, địa giới thay đổi từ vùng thành trấn, chuyển sang tỉnh, đổi thành quận, huyện và bây giờ là thị xã. Giữa thế kỷ 17, khi Mạc Cửu đến đây khai phá thì vùng đất này vẫn còn hoang sơ, vắng vẻ. Cuối thế kỷ trên, thì Hà Tiên đã trở thành một thương cảng sầm uất.

Năm 1714, khi Mạc Cửu dâng đất lên cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn dùng hai chữ Hà Tiên để đặt tên cho cả vùng đất bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang và một số vùng lân cận ngày nay.

Khi Gia Long lên ngôi, Hà Tiên được đặt thành trấn của Nam Kỳ, trong trấn có huyện Hà Tiên. Năm 1825, để không trùng tên với trấn, vua Minh Mạng đổi huyện Hà Tiên thành huyện Hà Châu. Năm 1832, vua Minh Mạng lại đổi trấn Hà Tiên thành tỉnh Hà Tiên

 

Đất Hà Tiên

Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không nhớ rõ là năm một ngàn chín trăm ba mươi mấy, người ta đào được những đồng tiền vàng La Mã ở Óc eo (gần chân núi Ba thê), vậy thì vào khoảng đầu công nguyên, biển vô tới Óc eo hoặc cách Óc eo không bao xa, chỉ vài ba cây số. Hồi đó các núi ở Hà tiên, Ba hòn, Hòn trẹm chắc còn nằm ngoài biển, không biết từ thế kỷ thứ mấy, miền ấy mới được bồi xong. Ngày nay ai đi qua Ba hòn, còn thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch giá – Hà tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt đất khoảng một thước. Vậy thì vùng bờ biển đó chắc cũng đã được dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù sa bồi.

Dãy núi từ Hà tiên tới Hòn trẹm ấy hiện nay nằm sát hoặc gần bờ biển, nhìn ra các hòn ngoài khơi: hòn Phụ tử, hòn Heo, hòn Ngang, hòn Một, hòn Phú Quốc… và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát (xụa là rừng, nay vẫn còn đất phèn), xa xa vài chục cây số mới có dãy núi Thất sơn. Như vậy là Hà tiên là một miền hẻo lánh nơi chân trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con đường trải đá Rạch giá – Hà tiên thì thị trấn ấy gần như cô lập với các miền chung quanh: muốn xuống Rạch giá phải dùng đường biển, mất nữa ngày, mà muốn vô Châu đốc thì phải đi vòng lên biên giới, mượn một con đường trên phần đất Cao miên.

Nó đã cô lập mà lại kì đặc, không giống một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn Văn học Hà tiên (1) đã tả nó như sau:

“Ở đó (Hà tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết.

Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ long. Có một ít núi vôi ở Ninh bình, có một ít thạch thất sơn môn của Hương tích. Có một ít Tây hồ, một ít Hương giang. Có một ít chùa chiền của Bắc ninh, lăng tẩm của Thuận hóa. Có một ít Đồ sơn, Cửa tùng, có một ít Nha trang, Long hải.

Ở đây không có cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có”. 

Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng, muốn nghênh ngang một cõi.

 

Họ Mạc

Kẻ đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ XVII.

Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận chủ quyền Mãn Thanh, bỏ quê hương mà dắt bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng Dương và Trần ghé vào Quảng nam (1679) qui phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm đất Đồng nai và Mĩ tho để tự kinh lí lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh vượng là Cù lao Phố (Biên hòa); còn Mạc thì tiến xa hơn, tới địa phận Chân lạp (cũng gọi là Giản phố trại) – tức Cao miên, tức Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Hòa trong Hà tiên Mạc thị thế hệ khảo – Hoa Cương học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan lớn Chân lạp, năm 1700 xin vua Chân lạp ra khai khẩn miền Banteay Meas, tức Mang khảm, mới đầu mở sòng bạc, sau qui tụ các người Hoa, Việt, Miên, lập ấp, mở khẩu, thành lập một tiểu quốc, nhưng thường bị giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mạng khảm từ đó đổi tên là Hà tiên, thành một cửa ngõ Chân lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng hầu hết các sản phẩm Chân lạp (*).

Nếu chỉ là một hải khẩu thì dù ghe tàu tấp nập, cũng chưa có gì đặc biệt. Điều đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu quốc đó chỉ trong nửa thế kỉ đã thành “một văn hiến quốc” ở giữa một miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải ngạc nhiên.

Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà tiên năm 1735, thì ngay năm sau, 1936, thành lập Chiêu Anh các, một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ Khổng Tử. Ông cha Trung hoa, mẹ Việt (3), rất đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân, đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là người Việt, còn thì là Trung hoa, người Minh hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc từ Gia định tới, hoặc từ Quảng đông, Phúc kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái (**). 

Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ. Ba tập truyện này đã lạc, còn ba tập thơ thì có lẽ là:

– Tập Hà tiên thập vịnh gồm 320 bài, (4) toàn bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích thủ xướng, còn các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các họa.

– Tập Hà tiên thập cảnh khúc vịnh bằng thơ môm của Mạc Thiên Tích.

– Tập Minh Bột di ngư thi thảo gồm những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.

Hai tập trên còn được trọn vẹn, tập cuối chỉ còn sót vài bài.

Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay từ thời đó, và Lê Qúi Đôn trong tập “Phủ biên tạp lục (1776) đoạn chép về họ Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: Không thể bào ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”, rồi trong Kiến văn tiểu lục lại khen: “văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất là những bài thơ cả chữ Hán lẫn chữ Nôm của Mạc Thiên Tích.

Ngay những người ngoại quốc cũng nhận Hà tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ trong dòng Franciscan bảo:

“Trong xứ (Hà tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học được. Những người Trung hoa sang đây mà có khả năng văn học thì mới được mời đến đó dạy học” (5). 

Còn sách Văn hiến thông thảo đời Thanh vào năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà tiên) trong văn học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện nhỏ” (6).

Trong khi đó đừng nói chi Gia định, ngay cả ở Thuận hóa cũng chẳng có một thi đàn nào cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử tưởng tượng một nhóm người di cư qua một nước tuy là đồng văn nhưng vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi hẻo lánh nhất, mà chỉ nữa thế kỉ sau, làm cho nơi đó thành một đất văn vật nhất trong cõi, góp công vào văn học xứ đó bằng chữ của mình và bằng cả thổ ngữ, thì có lạ không chứ!

Tiếc thay nền văn học Hà tiên bừng lên rực rỡ được có 31 năm; đến năm 1771, Hà tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy về Gia định. Chiêu Anh các tan rã, sách vở bị tiêu hủy; năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn, qua Xiêm, và hai năm sau, 1780, ông tuẩn tiết ở kinh đô Xiêm; từ đó Hà tiên cũng cùng họ Mạc mà suy tàn.
————————–

(1) Quình Lâm xuất bản – 1970
(2) Chính tên là Tông, tự Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-38) tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim, thành chữ Tích cũng có nghĩa là cho.
(3) Theo Đông Hồ (Văn học Hà tiên – tr. 142), “căn cứ trên bia mộ dựng ở núi Bình sao (Hà tiên), hiện vẫn còn, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ, đề Thái phu nhân là họ Nguyễn, thì chúng ta có thể quyết được mẹ Thiên Tích là người Việt. Bởi người Tàu ít có người họ Nguyễn”.
Theo Gia định thành thông chí (quyển II), ông Hàn Nguyên dẫn trong bài “Hà tiên, chìa khóa Nam tiến của dân tộc Việt Nam xuống đồng bằng sông Cửu Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970, tr. 265, thì mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên là Bùi thị Lẫm, gốc ở Đồng môn, thuộc Biên hòa.
Cũng trong bài ấy, ông Hàn Nguyên còn dẫn lời của Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai.
Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong Thông chí. Dù theo thuyết nào thì mẹ của Thiên Tích cũng là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi thơ nôm được.
(4) Có 320 bài thì ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm 32 thi sĩ thôi (mỗi nhà làm 10 bài), kể cả Thiên Tích. Con số 36 cũng như con số 12, 72… không đáng tin lắm.
(5) Hãn Nguyên – Bài đã dẫn. Tập san Sử Địa 19-20, tr. 270.
(6) Theo Gaspardone – Hãn Nguyên trong bài kể trên. Hàn lâm viện đó là Chiêu Anh các.
(*) Trong bài Cộng đồng người Khmer Nam Bộ, TS Nguyễn Văn Huy cho rằng Mạc Cửu chọn thủ phủ, lúc còn theo Chân lạp, là Mán Khảm sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo), và vùng đất do Mạc Cửu khai khẩn gọi là Căn Khẩu quốc. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu. Năm 1724, Mạc Cửu dâng luôn toàn bộ đất đai và được phong làm đô đốc cai trị lãnh thổ Căn Khẩu, đổi tên thành Long Hồ dinh. Mặc Cửu mất năm 1735, con là Mạc Sĩ Lân, sau đổi thành Mạc Thiên Tứ kế nghiệp, Long Hồ dinh đổi tên thành trấn Hà Tiên. 
(**) Tác giả N.T.D.M trong bài Chiêu Anh Các, Tạp chí Chiêu Anh Các số 2 (được đăng lại trên website Mạng Giáo dục) ghi nhận “thành phần nhân sự” như sau: “Theo Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi kỹ hơn: Văn nhân tỉnh Phúc Kiến 15 người, Quảng Đông 13 người, Phủ Triệu Phong (Việt Nam) 4 người, phủ Gia Định 2 người, phủ Qui Nhơn 2 người. Cộng là 36 vị”. 

 

Họ Lâm

Trong một trăm rưởi năm, Hà tiên thiêm thiếp ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ còn là một thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhắc nhở tới. Tới khoảng 1926-28 nó mới lại được nhắc nhở, vì là quê hương của Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới cầm bút mà đã nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh Phượng (tức Trác Chi lệ kí tập – Trác Chi là tên tự của ông (*), Đông Hồ là tên hiệu), và bài Phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học xá, trường đầu tiên trong nước chuyên dạy tiếng Việt.

Ngày nay tên Đông Hồ đã quá quen thuộc, phải lùi lại thời đó, trên bốn chục năm trước – mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn được coi là trí thức cũng phải đọc Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại ở Hà tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi, chẳng có bằng cấp, thành tích gì cả mà chen chân được vào cái “hội” đó thì quả là phi thường. Chẳng những chen chân lại còn sắp vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du kí. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam thời đó.

Sở trường ấy của ông, khoảng mươi năm nay một số người chê là sở đoản. Trong văn chương cũng như trong mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa rồi, nghĩa là trào lưu văn học bình dân, giữ màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng hạn như nhà văn Hồ Biểu Chánh.

Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới rồi trong cuốn Văn học Hà tiên, ông gián tiếp trả lời như sau:

“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo, hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc (…)

Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-18, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong trào sách báo ở Hà nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổi. Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934) rồi đến Phong Hóa, Ngày nay ở Hà nội (1932-40) báo Tiếng Dân ở Huế (1927) (…)

Và từ 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn giả từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở Sàigòn, như những Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn v.v… Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỳ này (…)

Từ đó văn học miền Nam dần dần khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính cách đặc thù địa phương mà hòa đồng, thống nhất với văn hóa dân tộc hai miền Trung Bắc”.

Vậy thì chủ trương của ông thật rõ rệt: phụng sự văn học dân tộc chứ không phải văn học địa phương, để thống nhất ba miền.

Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ hồi nào tôi không rõ, nhưng chắc là sớm lắm – nhờ ông sinh ở Hà tiên trong một gia đình Nho học.
Hà tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu ảnh hưởng đậm của những lưu dân Trung hoa. Sách Văn hiến thông thảo(do Hãn Nguyên trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà tiên thời Mạc Thiên Tích:

“Nhà cửa không khác Trung quốc, từ nhà vương (Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng gạch lợp ngói. Trong cách ăn mặc, họ bắt chước triều đại trước (nhà Minh), Vương bới tóc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiễu, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sừng, mang hia. Ngày thường họ dùng đủ màu (…) Gặp thì họ chấp tay chào nhau.”

Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kĩ, Hà tiên còn giữ được ít nhiều màu sắc Trung Hoa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ, giao tế; còn miền Đông, từ Vĩnh long trở ra Biên hòa, Bà rịa, chịu ảnh hưởng của những lớp Nam tiến cuồn cuộn từ miền Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát, tự nhiên, ưa thứ văn chương bình dân hơn.

Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc Kiến (Hoa Nam) có lẽ cũng qua Việt nam với họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan kí lục họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ Hữu Lân, bá phụ của Đồng Hồ nổi tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời Đông Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà tiên, không được đọc gì khác ngoài văn thơ Hán Nôm. Vì vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các nhà Nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng thời với ông ở miền Đông, chẳng hạn Hồ Biểu Chánh. Vì vậy mà hai mươi mốt tuổi ông đã làm được bài Phú Đông Hồ, khiến các nhà Nho phải phục. Vì vậy mà ông được nhận ngay vào phái Nam Phong, và suốt đời có nếp sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi thay đổi, mới hơn nhiều nhà trong nhóm Nam Phong, mà rán hòa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút pháp thì hồi ba mươi tuổi đã định rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắt cầu Nam Bắc, mở đường cho sự “thống nhất văn học dân tộc” như ông nói.

Đó là mục đích thứ nhất trong đời ông. (**)
—————-

Chú thích của Goldfish:

(*) Theo ghi nhận trong bài Đông Hồ (không rõ tác giả, www.nguyenkynam.com) thì: “Họ Lâm, nhũ danh là Kỳ Phác (bộ ngọc), hộ tịch chép là Tấn Phác (Biện Hoà Tấn Phác), ông bác đặc tiểu tự là Quốc Tỉ (Truyền quốc ngọc tỉ) sau đổi là Trác Chi (Hữu phác ngọc, nghi sử ngọc nhân điêu trác chi)”. Theo Tự điển Hán Việt Thiều Chửu: Phát 璞 là ngọc trong đá và Trác 琢 là sửa ngọc, mài giũa ngọc. Cụ Nguyễn Hiến Lê, trong thư gửi cho Quách Tấn, có nhắc đến một biệt hiệu nữa là Đại Ẩn Am (theo Hồi ký Quách Tấn).

Nhân đây tôi mạn phép nêu lên chi tiết sau: Trong bài Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên, cụ NHL có nhắc đến dấu son “Lâm Đông Thủy Cổ Nguyệt”, nhưng trong Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, tác giả lại viết “(…) đóng dấu son “Đông Thủy cổ nguyệt” (tức Đông Hồ: chữ Hồ gồm 3 chữ thủy, cổ và nguyệt)”; không có chữ Lâm? Trong bài Đông Hồ nêu trên ghi nhận, ngoài 2 biệt hiệu Đông Hồ và Đại Ẩn Am, ông Đông Hồ còn có biệt hiệu “Thủy Cổ Nguyệt (chiết tự chữ hồ)”; tức là không có chữ Lâm Đông! 

(**) Trong thư gửi cho Quách Tấn, ngày 25/1/1983, cụ NHL viết: “Đông Hồ có hai công lớn: Phụng sự Việt Ngữ, thúc đẩy người ta trau dồi Việt Ngữ từ 1924-1925; làm cho văn xuôi Miền Nam hóa thanh nhã, “có văn”, như văn xuôi Miền Bắc. (So sánh văn anh ấy viết từ 1925 với văn các cây bút đương thời, như Nguyễn Chánh Sắc… thì thấy một trời một vực)” (sđd)

 

Mục đích thứ nhì là nối lại sự nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đã bị gián đoạn trong một thế kĩ rưỡi. 

Một thanh niên sanh trong một gia đình có truyền thống văn học, tại một nơi danh thắng đã có một thời nổi tiếng là “văn hiến quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đã được thấy làn nước Đông Hồ, ngọn núi Tô châu, chân được dạo những chốn còn lưu lại di tích tiền nhân như Kim Dự, Bình San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích cùng những văn thơ Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các, một thanh niên được gặp những hoàn cảnh may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười bốn, mười lăm tuổi đã được khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi hai tuổi danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có giọng lãng mạn như Từ Trẩm Ái (bài Linh Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mĩ như văn Lục Triều (bài Phú Đông hồ); một thanh niên như vậy nhất định là yêu quê hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài bão cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối nghiệp được tiền nhân thì ít nhất cũng làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi hải ngoại (*) xa xôi này không phải không có văn chương” (lời Đông Hồ).

Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự, chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc động mạnh, viết thư cho tôi, ông đã thú rằng “làm con, tôi đã để cho bác tôi nỗi khổ tâm vì tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Vậy ông đã tự tin lắm, nhận được giá trị của mình ngay từ thiếu thời và điều tôi đoán rằng ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó chắc không xa sự thực.

Thời đại ông không phải thời đại Mạc Thiên Tích, Hà tiên không còn là một tiểu quốc mà chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp thuộc lại càng không thể so sánh được với địa vị một vị hầu dưới triều chúa Nguyễn (Thiên Tích được phong là Tông Đức hầu), cho nên sự nghiệp của ông khác hẳn của Thiên Tích.

Không thể lập được một Chiêu Anh các thì ông rán dựng Trí Đức học xá, cũng là một nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các; chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong nước để thành lập một tao đàn thì ông đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi Việt ngữ, hiểu được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuyết trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn chương ở Hà tiên, Biên hòa, Tây ninh… nghe tiếng gọi là “hồn Đại Việt” của ông mà cùng với ông trau giồi “giọng Hàn Thuyên”.

Không có Đại thành điện, Khuê văn lâu… như Tông Đức hầu, thì ông có Vạn quyển thư lâu, Vương giả hương đình, Quình Lâm thư thất… tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh quí và nét bút của cổ nhân và của chính ông thì chất, treo đầy tường; mà hương trầm, hương mai, hương lan, hương huệ thường tỏa ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai cũng phải nhận rằng về phương diện đó ông là bậc “vương giả” trong giới tao nhân Việt nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư kí Hàn lâm viện Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Sàigòn để tìm những kỉ niệm về thi hào Tagore thì nha Văn hóa bối rối, không biết tiếp vị khách ấy ở đâu cho trang nhã, có vẻ “văn hóa” một chút, phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.

Những hoạt động cùng phong cách đó của họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với những hoạt động cùng phong cách họ Mạc, nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức, nhưng dù vậy đi nữa, tôi nghĩ cũng cần ghi lại cho văn học sử.

Tôi không rõ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau được bao nhiêu người; một số có khiếu văn chương , nhưng rồi chẳng viết lách gì cả, và rốt cuộc chỉ còn một mình nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và khi miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con ong, một cành hoa… nhận xét có phần sắc bén hơn ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của ông rất đậm; mà văn thơ của hai ông bà có một địa vị riêng biệt ở Nam, có thể nói là thuộc về một phái riêng, phái Hà Tiên.

Phái này chỉ còn vài ba nhà nữa (như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng Toàn), nhưng sự nghiệp không kém gì phái Chiêu Anh các.

Không kể rất nhiều bài đăng rải rác trên các tạp chí, hiện nay chưa in thành sách (**), Đông Hồ đã lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm, trong số đó có sáu bảy tập thơ.

Nữ sĩ Mông Tuyết cũng đăng lác đác ít bài thơ, hồi kí, đã xuất bản được một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái cơ trong chậu úp, một tập tùy bút Dưới mái trăng non và có một tập văn cảo: Hà tiên tạp thuyết. Bà vẫn còn sáng tác và chắc còn cống hiến cho quốc dân vài tập nữa.

Đã có người nhận định về phần mà người ta gọi là “văn chương thuấn túy”, tức thơ, tùy bút… trong sự nghiệp của Đông Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những trứ tác của hai ông bà liên quan đến Hà tiên, để đọc giả thấy rõ hai ông bà đã đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rún được những gì. Phần đó là phần hai ông bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai để ý tới.

Ở trên tôi đã dẫn một đoạn Đông Hồ tả Hà tiên, và độc giả đã thấy lòng yêu quê hương của ông ra sao, ông cho Hà tiên gồm đủ các thắng cảnh trong nước, không khác gì một Việt nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà để thưởng ngoạn.

Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông Hồ đã giới thiệu quê hương với độc giả Nam Phong:

– Năm 1926 ông viết thiên Hà tiên Mạc thị sử (Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần Đình Quang hồi đầu thế kĩ.

Ba năm sau ông can đảm nhận rằng vì “sở học còn kém mà không tìm được bản chánh Gia phả họ Mạc”, nên thiên đó “còn khiếm khuyết”, sai suyển rất nhiều, không thể để lầm cho người sau được”, ông viết lại. Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng lại.

Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc thị gia phả của Vũ thế Dinh, tự Thân Di, viết năm 1818. Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có nhiều chỗ cần phải xét lại, chia ra chương tiết, sau khi “tham khảo thêm các sách Nam sử và ngoại truyện”, tăng bổ thêm những chổ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm.

Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh nhân nước nhà của Đào Văn Hội.

Sau khi lên Sàigòn rồi, ông kiếm thêm được nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt, như bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên,Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà tiên, Journal asiatique 1952 của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kĩ lưỡng cuốn Mạc thị gia phả kể trên, của Trần Kinh Hòa, Văn hóa Á châu số 7 tháng 10 năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa tập Hà tiên Mạc thị sử, nhưng chưa kịp làm thì đã qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và thận trong. Mặc dù chưa sửa lại, tập đó đến nay vẫn tạm dùng được.

– Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú quốc, ông được thăm gần hết cảnh đẹp và di tích trên đảo, về viết một thiên du kí rất đầy đủ, đăng trong Nam Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm đảo Phú quốc. Ông nhận xét, ghi chép rất tỉ mỉ, mà văn du kí của ông tươi đẹp, nên ngày nay đọc lại còn thấy thú.

– Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà tiên như Bơi thuyền chơi Đông hồ, Đông hồ cảnh sớm, Lên chơi núi Đại Tô châu, Chơi Tô châu, Cảnh trăng trên Đông Hồ…, đáng để ý hơn cả là:

Bài kí Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi Châu nham tức núi Đá dựng cách chợ Hà tiên sáu, bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn Thạch Động.

Và bài phú Đông Hồ rất nỗi tiếng (N.P số 145 năm 1929 – sau sửa lại vài chỗ, đăng lại trong số 158 năm 1931).

– Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập nhan đề là Hà tiên thập cảnh và đường vào Hà tiên (Bốn phương – 1960). Tập này mõng, nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả biết rõ ràng về mười thắng cảnh Hà tiên. Về mỗi cảnh Đông Hồ dẫn một bài thơ Nôm, thất ngôn Đường luật của Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh, kể tích xưa cho ta hiểu rõ thêm. Cuối tập có mươi trang tả bốn năm con đường đưa vào Hà tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.

Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà tiên, thu thập tất cả sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà tiên được trên mười tập… Tôi đã thấy ông ghi chú kĩ lưỡng từng tài liệu một, gom lại thành một bó lớn, một phần được dùng trong cuốn Văn học Hà tiên (Quình Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ lớn, có nhiều hình ảnh, gồm những bài giảng của ông ở Đại học Văn khoa Sàigòn. Tôi nhận thấy công trình khảo cứu công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc trĩ thôn cư nguyên tác là thất ngôn Đường luật và dùng những vần tinh, thinh, thanh, linh, đình thì ông dịch ra thất ngôn Đượng luật và dùng những vần mình, tranh, xanh, thanh, thinh.

Ông đã trình bày cặn kẻ chẳng riêng mười bài thơ nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh Hà tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các, tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.

Đó là công của Đông Hồ với Hà tiên. Sự đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập truyện Nàng Ái cơ trong chậu úp (Bốn phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi kí về Hà tiên trong tập Dưới mái trăng non (Mặc Lâm -1969) nhưng nội cuốn Nàng Ái cơ cũng đáng được chú ý rồi.

Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử Hà tiên, đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà tiên, Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà tiên, sống với các nhân vật Hà tiên.

Truyện có thực, còn lưu lại di tích, tức chùa Phù Dung ở Hà tiên mà Đại nam nhất thống chí chép đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu nghĩa đổi thành Phù Dung.

Nhân vật chính, Dì Tự, một ái cơ của Mạc Thiên Tích, đã đẹp lại hay chữ, khiến bà chính thất họ Nguyễn ghen tương mà lập mưu hãm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên cứu sống, rồi chán chường thế sự bà xin phép chồng đi tu, Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù Cừ đó để bà lánh đời (***).

Truyện chỉ có vậy, tác giả đã tưởng tượng thêm để viết thành một lịch sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống lại một thịnh thời ở Hà tiên với những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh duyệt binh, cảnh tết Đoan ngọ… Tuy là tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử, theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên đại trong sử. Tác giả đã khảo cứu công phu, dựng truyện chặt chẽ, mà văn thì đẽo gọt, đối với một tiểu thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm hiện thời. Từ đầu thế kĩ đến nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là truyện tình mang tên “lịch sử” còn tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử kí sự mượn cái tên “tiểu thuyết”. Đúng tên lịch sử kí sự tiểu thuyết chỉ có Nàng Ái cơ trong chậu úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người hoan nghênh có lẽ chỉ vì xuất hiện không đúng lúc.

Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc đề tựa và trình bày (có mấy bức tranh của ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng cốt truyện nữa.

Vậy ông đã trả ơn quê hương một cách xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được chút gì về Hà tiên hầu hết là nhờ ông cả.

Thật cũng lạ! Họ Mạc và họ Lâm đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quảng đông, Lâm ở Phúc kiến, cùng qua Nam Việt một thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của mình, rồi coi quê hương đó là quê hương thứ nhất, cũng tận tâm phục vụ cho tiếng mẹ đẻ; họ Mạc đến đời thứ bảy chỉ có hai đứa con gái, còn họ Lâm đến đời thứ tám cũng chỉ có hai người con gái (Đông Hồ là con trai duy nhất đời thứ bảy, sanh hai con trai đều không nuôi được).

Hiện nay ngoài Mộng Tuyết ra (****), còn có nhà văn, nhà thơ nào gốc gác ở Hà tiên nữa không? Và Hà tiên bao giờ mới lại có được một họ làm rạng danh Hà tiên như họ Lâm? Nếu có thì thời đại đã thay đổi, Hà tiên sẽ không còn là nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đã thống nhất thì sự nghiệp của người sau tất khác của người trước. Và chúng ta có thể nói rằng lịch sử văn học Hà tiên sẽ vĩnh viễn gắn liền với với hai họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà tiên thành “văn hiến quốc”, họ Mạc mở đường, họ Lâm nối nghiệp: người sau sẽ chuyển qua một hướng khác chứ không tiếp tục nữa.

 

Sàigòn 1-3-1971
————————–

Ghi chú của Goldfish:
(*) Trong bài Tao Đàn Chiêu Anh Các Hà Tiên (Tạp chí Chiêu Anh Các số 62), N.T.D.M giảng từ hải ngoại trong câu “Không thể bảo rằng hải ngoại không có văn chương vậy” của Lê Quý Đôn như sau: “(…) người Đàng Ngoài muốn vào đến (Hà tiên) thì phải đi vòng đường biển, nên gọi là “hải ngoại”.

(**) Trong thư gửi cho Quách Tấn ngày 14/02/1984, cụ NHL viết: “(…) anh ấy (Đông Hồ) mới nằm xuống, vợ con lo xuất bản tất cả những bản thảo còn lại của anh ấy!” (Trích Hồi Ký Quách Tấn)

(***) Trong bài Chùa Phù Dung – Hà Tiên đăng trên website Diễn đàn trường Đại học Cần Thơ, tác giả tndung cho rằng: “Chùa Phù Dung do Mạc Thiên Tích con của Mạc Cửu xây ngay chân núi Bình San, để cho bà vợ thứ tu hành. Trước đó chùa có tên là am Phù Cừ. Phù Cừ và Phù Dung là tên hai giống Sen, một trắng, một hồng”. Trong bài Di tích (không rõ tác giả, www.vietshare.com/quehuong/kiengiang) ghi: “Chùa Phù Dung: Còn gọi là Phù Cừ Am Tự, do tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích (Mạc Thiên Tứ) dựng vào khoảng thế kỷ 18 tại chân Bình Sơn, thị xã Hà Tiên cho nàng Ái Cơ Phù Cừ (Nguyễn Thị Xuân), vợ thứ hai của ông”.

(****) Bà mất ngày 1-7-2007, thọ 93 tuổi. Ngoài các tác phẩm được cụ NHL nêu ra ở trên bà còn có cuốn hồi ký Núi Mộng Gương Hồ gồm ba tập, NXB Trẻ, 1988.

 

Nguyễn Hiến Lê. ời Câu Chuyện Văn Chương. Westminster CA : Văn Nghệ, 1986.
Nguồn : http://thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=10231

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s