Người Viking

viking_soldiers

Biên dịch hongsonvh

ttvnol.com

Theo dòng sự kiện

789 Lần đầu tiên người Viking đổ bộ xuống nước Anh, một viên chức được gửi đến bởi nhà vua Anglo-Saxon – Beorthric để chất vấn lý do của cuộc viếng thăm của nhóm người trên đã bị giết chết.
792 Nhà vua người Anglo-Saxon, King Offa bắt đầu tổ chức phòng thủ vùng Kent trước nguy cơ của người Viking.
793 Người Viking Na Uy phá hủy tu viện trên đảoLindisfarne ở ngoài khơi bờ biển miền Bắc nước Anh, cuộc tấn công đầu tiên được ghi nhận.
795 Người Viking tấn công lên đảo Rathlin và các tu viện trên đất liền thuộc Ailen.
799 Người Viking tiến hành các cuộc tấn công vào cửa sông Loire, nước Pháp
800-900 Người Viking tiến hành các cuộc tấn công trong suốt thế kỷ thứ 9 dẫn đến sự sụp để của các tiểu quốc Anglo-Saxontrừ We.s.s.e.x.)
806-865 Người Viking Thụy Điển dưới sự lãnh đạo của Rurik định cư xung quanh hồLadoga, miền Bắc nước Nga và tiếptheo là Novgorod.
808 Vua Gottrik của Đan Mạch phá hủy trung tâm buôn bán của người Slav tại Reric và di chuyển các nhà buôn tới trung tâm buôn bán mới của ông ta ở gần đó- Haithabu.
810 Người Viking Đan Mạch tấn công tỉnhFriesia của triều đình Carolingian
830 Người Viking Na Uy thành lập căn cứ tại một hòn đảo phía Bắc Scotland và mở các cuộc đột kích sâu vào đất Ireland.
830-850 Người Viking liên tục các cuộc tấn công vào bờ biểnở miền Nam nước Anh và miền Bắc nước Pháp.
834-837 Người Viking mở cuộc tấn công hàng năm vào thành phố Dorestad thuộc tỉnh Friesia.
835 Vua Egbert của Wes.s.e.x đánh bại người Viking Đan Mạch nhưng các cuộc đổ bộ khác đã tàn phá đảo Sheppey tại cửa sông Thames.
840 Người Viking tiến hành trú đông lần đầu tiên ở Ireland.
841 Người Viking lập các pháo đài dọc theo bờ sông Liffey nay là thành phố Dublin và tiến hành cướp phá thành phố Rouen của Pháp.
842-843 Người Viking cướpphá thành phố Quentovic của Pháp rồi giương buồm ngược sông Loire để tấn công thành phố Nantes và lần đầu tiên họ trú đông ở Pháp.
844 Tàu của người Viking đi ngược sông Garonne – Pháp và đến được Seville – Tây Ban Nha, nhưng ngay lập tức bị đuổi đánh cho tơi bời bởi người Moor.
845 Người Viking Đan Mạch tập trung 120 chiếc tàu ngược sông Seine, tấn công Paris; vua Frank – Charles Hói phải trả tiền để họ rút lui tương đương với 7.000 pound bạc – khoản tiền chuộc đầu tiên trong 13 lần người Pháp phải trả tiền chuộc.
850-851 Quân đội của người Viking trú đông ở Anh lần đầu tiên, tại Thanet người Viking bị đánh bại bởi vua Ethelwulf của xứ Wes.s.e.x và tiểu quốc này trở thành trung tâm kháng chiến của người Anglo-Saxon.
852 người Viking Thụy Điển muốn thu tiền chuộc – danegeld từ các công dân của thành phố Novgorod.
855/856 Người Viking trú đông trên đảo Sheppey gần của sông Thames.
857 Người Viking Đan Mạch cướp phá Paris.
858 Người Viking Thụy Điển tìm thấy thấy thành phố Kiev.
859-862 Hạm đội của người Viking tàn phá các thành phố trên bờ biển Địa Trung Hải.
860 Người Viking tấn công Đế quốc Byzantine nhưng không thành công.
860 Người Viking Na Uy khám phá ra Iceland.
862 Thành phố Cologne của nước Đức bị cướp bóc bởi người Viking.
863 Người Viking tấn công vào thành phố Xanten, Đức.
865 “Đại quân” của người Viking Đan Mạch đổ bộ vào đất Anhđể tiến hành các cuộc chinh phục lâu dài, và vào năm 870 họ đã chinh phục được một vùng rộng lớn ở phía Bắc và phía Đông nước Anh – đây được gọi là ” the Danelaw “.
866 Vùng Kentlần đầu tiên phải trả tiền danegeld.
866/867 Salomon – Công tước xứ Brittany đánh bại lực lượng của người Frank tại Brissarthe với sự trợ giúp của lính đánh thuê Viking.
870 Harald Finehair thống nhất Na Uy và trở thành nhà vua duy nhất của nước này, vua Edmund của Đông Anglia ( người Saxon) bị đánh bại và bị giết bởi người Đan Mạch.
870-930 Người Viking định cư tại Iceland.
871 Người Viking Đan Mạch bị đánh bại bởi người Anglo-Saxon dưới sự chỉ huy của Ethelred I và Alfred của xứ Wess.e.x ở vùng Ashdown.
872 Trận hải chiến Hafrsfjord giữa HaraldFinehair và liên hiệp của các thủ lĩnh ở các vùng phía Bắc và phía Tây của Na Uy, Đan Mạch chiếm vương quốc Mercia của người Anglo-Saxon.
878 Sau một thời gian ban đầu thua trận, Alfred của xứ Wess.e.x đánh bại người Đan Mạch dưới sự chỉ huy của Guthrum tại Edington.
881 Người Viking tiến hành các cuộc đột kích vào Aachen, Worms, Metz, Bonn và Cologne.
882 Oleg the Wise (thủ lĩnh Viking đã bị Slavơ hóa) đã thống nhất Novgorod với Kiev. Người Viking tấn công vào Trier.
884-885 Các cuộc tấn công của người Viking Đan Mạch tại Kent bị đẩy lùi bởi Alfred, người cũng tái chiếm được London, người Đan Mạch bị buộc phải chấp nhận Hiệp ước Hòa bình -Peace of Wedmore, và điều chỉnh biên giới phía nam củaDanelaw; Alfred trở thành vua Alfred Đại Đế của người Saxon – Anh quốc.
886 Thành phố Paris bị vây hãm trong 11 tháng bởi 40.000 người và 700 tàu Viking.
887/888 Người Viking được vua Charles Béo của người Frank thuê để đi đánh quân phiến loạn Burgundy .
891 Người Viking bị đánh bại bởi quân đội của người Đông Frank ( nước Đức) ở Bỉ.
892-896 Vua Alfred Đại Đế đánh bại “Đại quân” của người Đan Mạch ở châu Âu và bắt những lực lượng còn sót lại phải chạy trốn đến Danelaw hoặc nướcPháp; người Saxon rất thành công trong việc chống lại các tầu của người Viking trong các trận chiến trên biển.
900 Người Viking Đan Mạch và Orkadian- Na Uy dưới sự chỉ huy của Rolf the Ganger đột kích và sau đó định cư ở giữa hai con sông Loire và sông Seine – nước Pháp.
902 Người Ailen đuổi người Na Uy ra khỏi Dublin.
907 Chúa Oleg dẫn đầu hạm đội xuôi xuống sông Dniepr đến Biển Đen, năm 991 có đụng độ với các lực lượng của Đê quốc Byzantine.
910-912 Người Viking căng buồm ra biển Caspi làm cướp biển.
911 Rolf the Gangerđược cấp cho vùng Normandy vốn là thái ấp củavua Frank – Charles – Giản dị. Hiệp ướcgiữa Byzantine và người Rus bằng văn bản lần đầu tiên nóivề lính đánh thuêViking trong quân đội Byzantine – vào năm 988 có khoảng 1000 lính “Varangians” và sau đó tăng lên khoảng 6.000 lính.
912 Rolf của Normandy đổi tên là Rollo và chuyển sang đạo Kitô giáo.
917-919 Người Na Uy chiếm lại Dublin; Người Viking từIreland chiếm vùng trung tâm của người Đan Mạch ở York.
924 Vua Saxon Edward the Elder chiếm lại phần lớn vùng Danelaw sau chiến dịch 20 năm.
934 Vua Đức Henry Fowler đánh bại vua Đan Mạch Chnuba tại Haithabu.
937 Trận Brunanburh – Olaf Guthfrithsson chỉ huy lực lượng Vikings từ Ireland và Na Uy, một phần của Danelaw trong hai ngàychiến đấu đã đánh bại lực lượng Saxons và lính đánh thuê Viking dưới sự chỉ huy của vua Athelstan.
940-954 York vẫn tạm thời thuộc về vương quốc Viking độc lâp.
950 Vua Haakon Tốt bụng cố gắng để chuyển người Na Uy sang Kitô giáo.
954 Eadred đuổi Eric Bloodaxe, vị vua Viking cuối cùng ra khỏi York, nước Anh lại một lần nữa nằm dưới sự quản lý của người Anglo-Saxon.
958 Harald Bluetooth trở thành vua của Đan Mạch.
962-965 Harald Bluetooth tái thiết Đan Mạch tăng cường kiểm soát đối với Na Uy,và sau đó cho chuyển đổi nước Đan Mạch sang Kitô giáo.
974 Hoàng đế Otto II của Đức chiếm Danewerk, một pháo đài trên biên giới Frank-
Đan Mạch. Harald Bluetooth chiếm lại vùng lãnh thổ này vào năm 983.
980-1014 Người Viking lại tiếp tục các cuộc tấn công vào nước Anh, vuaEthelred II ” the Ill-Advised ” bị đánh bại liên tục bất chấp các khoản tiền chuộcdanegeld rất lớn, năm 991 ông này tiến hành cuộc thảm sát tàn bạo những người Đan Mạch được sinh ở Anh.
980 Trận Tara – căn cứ của Na Uy ở Ailen bị đánh bại bởi người Ailen, và sau đó phải trả tiềncống nộp.
982-985 Eric the Red khám phá ra Greenland, trong các năm 985, 1085ông dẫn đầu đoàn thám hiểm gồm 25 chiếc tàu. Bjarni Herjolfsson đã thất bại và khôngđổ bộ được lên phía Bắc Greenland mà thay vào đó họ đến được châu Mỹ.
991 Trận chiến Maldon-quân đội xứ Wes.s.e.x dưới sự chỉ huy của Ealdorman Byhrtnoth bị đánh bại bởi quân đội của người Viking dưới sự chỉ huy của Olaf Tryggvasson và Thorkell Đại đế.
995-1000 Olaf Tryggvasson trị vì như là vua của Na Uycho đến khi bị đánh bại và bị giết chết trong trận hải chiến Svoldr với người Đan Mạch và Thụy Điển.
1000 Theo sau Herjolfsson Bjarni, LeifEricson và Thorwals – anh traicủa ông khám phá ra vùng “Vinland” trên bờ biển Đông Bắc châu Mỹ.
1013 Vua Đan Mạch – Svein Forkbeard được công nhận bởi vùng Danelaw ( thuộc địa của Đan Mạch ở nước Anh).
1014 Người Ailen dưới sự lãnh đạo của vua Brian Boru đánh bại người Viking Na Uy ở trận đánh quyết định Clontarf. Cnut Vĩ Đại – con trai con trai củaSveinForkbeard, đánh bại “Tất cả các quý tộc củaAnh “ở trận Ashingdon; năm 1016,thiết lập một vương quốc Anglo-Nordic trong một thời gian ngắn.
1015/1016 Olaf Haraldsson (St.Olaf) tranh giành ngôi vua Na Uy.
1028 Olaf Haraldsson bị đuổi ra khỏi Na Uy và năm 1030 bị giết chết tại trận Stiklastad.
1035-1043 Sau cái chết của Cnut Đại đế, Hardacnut(1035-1042) trở thành vua của nước Anh vàĐan Mạch và Magnus Tốt bụng (1035-1047) là vua của Na Uy. Năm 1042, vua Magnus lại thống nhất Đan Mạch và Na Uy; năm 1043 đánh bại người Slav tại Haithabu.
1047-1066 Harald Sigurdsson “Hardrada” cai trị như là vua của Na Uy;Svein Estridson cai trị như là vua của Đan Mạch.
1050 Harald Hardrada phá hủy Haithabu.
1066 Harald Hardrada xâm nhập vào phía Bắc nước Anh; ông này ngay lập tức bị đánh bại và bị giết bởi HaroldGodwinsson – vua Saxon tại trận Stamford Bridge,
ngày 25 tháng 9 năm 1066 William của Normandy dẫn đầu lực lượng Norman xâm lược miền Nam nước Anh; lực lượng quân đội của người Saxon hành quân về phía Nam, nhưng vua Harold bị đánh bại và bị giết tại trận Hastings ngày 14 tháng 10.
1067 Svein Estridson tiến hành các cuộc đột kích vào nước Anh, William theConqueror chấp nhận trả tiền danegeld.
1079 Thủ lĩnh vùng Iceland – Godred Corvan mở các cuộc tấn công vào Isle of Man, sau đó hướng vàongười Viking ở Dublin và xóa bỏ sự cai trị của ngườiNa Uy.
1085 Cuộc tấn công cuối cùng của người Viking dưới sự chỉ huy của vua Đan Mạch – Cnut đã thất bại.

Thời gian sớm nhất ghi lại các cuộc tấn của người Viking là trong những năm 790 cho đến khi người Norman chinh phục nước Anh trong năm 1066, thường được gọi là thời đại Viking theo lịch sử của Scandinavơ. Tuy nhiên, người Norman là những hậu duệ của người Viking Đan Mạch được phong tước ở vùng của phía bắc của nước Pháp – Lãnh thổ của công tước Normandy – Vào thế kỷ thứ 10. Theo đó, hậu duệ của những người Viking tiếp tục có một ảnh hưởng ở miền bắc châu Âu. Tương tự như vậy, vua Harold Godwinson, vị vua Anglo-Saxon cuối cùng của nước Anh, người đã kết thúc cuộc sống của một trong những vị vua Viking ngoại đạo cuối cùng, Chỉ một vài tuần sau đó ông bị giết trong cuộc xâm lược của người Norman – hậu duệ của những người Viking Đan Mạch trong năm 1066.

Về mặt Địa lý, một ” Kỷ Viking” không chỉ nói đến những vùng đất Scandinavơ (hiện nay là Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển), mà còn để chỉ vùng lãnh thổ bị thống trị bởi người thuộc chủng Bắc German, chủ yếu là Danelaw, bao gồm cả thành phố York, trung tâm hành chính của phần còn lại của Vương quốcNorthumbria, các phần còn lại của Mercia và East Anglia. Người Viking mở đường biển đến các vùng đất mới phía tây, phía bắc và phía đông, kết quả là tạo ra các khu định cư độc lập ở Shetland, Orkney, và Quần đảo Faroe; Iceland; Greenland; và L’Anse aux Meadows, Một khu định cư được lập trong một thời gian ngắn tại Newfoundland, khoảng năm 1000 sau Công Nguyên, nhiều nơi trong số những vùng đất này cụ thể như Greenland và Iceland, có thể ban đầu đã được phát hiện bởi các thủy thủ bị gió thổi lạc đường Họ cũng rất có thể đã tìm ra, có lẽ trên cơ sở các ghi chép của các thủy thủ, người đã nhìn thấy đất liền từ phía xa. Khu định cư Greenland cuối cùng đã bị bỏ hoang phế có thể là do sự biến đổi khí hậu. Người Viking cũng khám phá và định cư tại vùng lãnh thổ của người Slavơ và thống trị khu vực Đông Âu, đặc biệt khu định cư Kievan Rus. Vào năm 950 AD khu định cư này đã phần lớn Slavơ hóa

Đầu năm 839, khi sứ giả Thụy Điển lần đầu tiên đến thăm Hy Lạp, người Scandinavơ đã phục vụ như là lính đánh thuê cho Đế quốc Byzantine. Trong cuối thế kỷ thứ 10, một đơn vị vệ binh hoàng gia mới được thành lập mà theo truyền thống có thu nạp một số lượng lớn người Scandinavơ. Lực lượng này được biết đến như là lực lượng vệ binh Varangian. Thuật ngữ “Varangian” có thể có nguồn gốc từ Bắc Âu cổ, nhưng trong tiếng Slavơ và tiếng Hy Lạp lại dùng để chỉ người Scandinavơ hoặc Frank. Nổi tiếng nhất trong số những người Scandinavơ phục vụ trong Lực lượng vệ binh Varangian là Harald Hardrada, người sau đó tự lập mình làm vua của Na Uy (1047-1066).

Các hải cảng thương mại quan trọng trong giai đoạn này là Birka, Hedeby, Kaupang, Jorvik, Staraya Ladoga, Novgorod và Kiev. Nói chung, người Na Uy mở rộng về phía bắc và phía tây đến những nơi như Ireland, Scotland, Iceland và Greenland, người Đan Mạch đi đến Anh và Pháp, sau đó định cư lại tại Danelaw (Miền Đông Bắc của nước Anh) và Normandy; và người Thụy Điển đi về phía đông. Những quốc gia này mặc dù có những khác biệt nhưng nói chung giống nhau về văn hóa và ngôn ngữ. Tên của các vị vua người Scandinavơ chỉ được biết đến ở phần sau của thời đại Viking. Chỉ sau khi kết thúc thời đại Viking thì các vương quốc này mới có được bản sắc riêng biệt như là các quốc gia khác nhau bởi quá trình Kitô hóa. Như vậy sự kết thúc của thời đại Viking ở các quốc gia Scandinavơ cũng đánh dấu sự khởi đầu thời kỳ Trung cổ tương đối ngắn ngủi của họ.

Cống nộp và tiền chuộc

Năm 880 một số thành viên của Great Heathen Host đã đột nhập vào Wes.s.e.x một lần nữa sau đó họ rời nước Anh để xâm nhập vào miền Bắc các nước Pháp và Bỉ. Những người khác lại xâm nhập vào nước Đức sau đó đã quay trở lại nước Anh. Người Viking thường yêu cầu một khoản cống nộp mà họ gọi là Danegeld (một chỉ riêng một thủ lãnh người Viking tên là Ragnar đã xâm chiếm Paris với 150 chiếc tàu. Vua France phải trả người Viking một số tiền bằng bạc tương đương với 50 triệu dollar ở thời nay để họ không bao giờ quay trở lại …. nhưng việc này cũng không thể trì hoãn được trong một thời gian dài). Những kẻ xâm lược chia tiền và đem về nhà. Trong thế kỷ thứ 9 người Pháp phải nộp £ 685 vàng và £ 43.042 bạc cho người Viking. Năm 911 vua Charles của Pháp phải chấp nhận mất một phần vương quốc của mình cho người thủ lĩnh Viking người Đan Mạch tên là Rollo – Béo để Rollo hứa sẽ đuổi những người Viking khác đi. Vùng này được gọi là Normandy, bởi vì “người đàn ông đến từ phương Bắc” sống ở đó. Tấn công vào những tầng lớp quý tộc có đẳng cấp càng cao thì Danegeld (tiền chuộc) lại càng tăng lên. Năm 1012 người Viking yêu cầu £ 48.000 bạc như một khoản tiền chuộc cho đức Tổng-giám-mục Canterbury (một người bị Viking giam cầm ). Khi người Viking không nhận được thêm tiền chuộc họ đánh vị Tổng-giám-mục này cho đến chết bằng những khúc xương. Bốn năm sau Cnut Đại đế (người Đan Mạch ) chinh phục toàn bộ nước Anh và thu được £ 82.500 bạc sau đó tự xưng làm vua.

The Great Heathen Host

Sau những năm 800 AD các cuộc tấn công của người Viking tăng lên không ngừng. Một nhà tu hành người Pháp đã viết về những người Viking “đem lửa và gươm đến khắp mọi nơi, tra tấn đến chết và giam cầm, tàn phá tất cả các tu viện và để lại sự sợ hãi.” Ngày càng có nhiều các cuộc tấn công đã trở thành cuộc xâm lược.Cướp biển người Viking định cư ở Orkney và Shetland ở phía bắc Ireland, nơi họ bắt người bản địa làm nô lệ. Những người khác xây dựng các pháo đài ở Ireland và tấn công các tu viện. Trong năm 844 người Viking định cư trên các đảo ở bờ biển của Pháp và đến năm 851 lần đầu tiên họ đã dành mùa đông ở nước Anh. Năm 865 một nhóm người Đan Mạch cùng nhau lập một băng nhóm được gọi là the Great Heathen Host. Trong 30 vòng năm họ đã xâm-lược vùng Tây Âu. Với một chiếc phướn có hình một con quạ đang bay họ đã chinh phục miền bắc và miền đông nước Anh và tạo thành một vùng lãnh thổ được gọi là Danelaw (luật của người Đan Mạch). Khi băng nhóm này của người Đan Mạch đi xa hơn và xa hơn nữa về phía nam họ đã tiến vào tiểu quốc Wes.s.e.x của Anh, vua Alfred (gốc người Saxon ) phải rút vào trong một đầm lầy với một nhóm du kích nhỏ và và mở một loạt các phản công thành công vào những kẻ xâm lược người Đan Mạch. Đến tháng 5 năm 878, ông buộc những người Viking phải đầu hàng và giành được một nền hòa bình tạm thời. Người Đan Mạch rút lui và định cư xa hơn về phía đông và khoảng 30 thủ lãnh Đan Mạch đã được rửa tội và gia nhập Kitô giáo. Đối mặt với vua Alfred và quân đội của ông, những người Viking tạo nên một bức tường bằng lá chắn (như trận đánh ở biển) và dương cao chiếc phướn có hình con quạ của họ mà họ tin rằng nó sẽ mang lại chiến thắng. Chẳng bao lâu sau cuộc chiến đã trở thành một thảm họa. 840 người Đan Mạch đã bị thiệt mạng và chiếc phướn nổi tiếng đã bị tịch thu.

Những người Viking là những người hay đi thuyền nhất ở vùng Bắc Đại Tây Dương, phía nam tới tận Bắc Phi và phía đông tới tận nước Nga, Constantinople và Trung Đông, họ vừa là kẻ cướp, thương nhân, thực dân và lính đánh thuê. Người Viking dưới sự chỉ huy của Leif Eriksson, người thừa kế của Erik the Red, đã đến tận Bắc Mỹ và thiết lập một khu định cư trong một thời gian ngắn ở vùng mà ngày nay là L’Anse aux Meadows, Newfoundland và Labrador, Canada.

Các động cơ thúc đẩy cho quá trình mở rộng Viking là một chủ đề tranh luận nhiều trong lịch sử Bắc Âu. Một lý thuyết phổ biến thừa nhận rằng Charlemagne “Sử dụng vũ lực và khủng-bố để truyền đạo Kitô cho tất cả những người ngoại đạo”, “rửa tội, chuyển đổi đạo giáo hoặc là chết với sắt và máu” ” làm người Viking và những người ngoại đạo khác muốn trả thù”.. Giáo sư Rudolf Simek xác nhận rằng ” không phải là một sự trùng hợp nếu hoạt động đầu tiên của Viking xảy ra trong thời cai trị của Hoàng Đế Charlemagne”.Vì sự xâm nhập của Kitô giáo tại Scandinavơ đã tạo ra xung đột nghiêm trọng đã chia rẽ Na Uy trong gần một thế kỷ sau đó.

Một lý giải được thừa nhận một cách phổ biến là người dân Bắc Âu có tỷ lệ tăng về dân số cao hơn tỷ lệ gia tăng số lương thực được sản xuất ra tại các quốc gia thuộc vùng Scandinavơ của họ. Đối với một số dân cư vùng ven biển với kỹ thuật đi biển cao cấp, việc mở rộng ra lãnh thổ nước ngoài có một hiệu lực youth bulge. Tuy nhiên, lý giải này chỉ ít có chút ít logic để giải thích tại sao họ lại mở rộng ra nước ngoài hơn là mở rộng diện tích canh tác về phía những vùng rừng núi rộng lớn bên trong Bán đảo Scandinavơ. Cần lưu ý rằng làm cướp biển thì dễ dàng hơn là phải khai hoang một khu vực rộng lớn rừng núi rộng lớn để làm trang trại và đồng cỏ trong khu vực này bị giới hạn bởi một mùa sinh trưởng (đây là vùng khí hậu lạnh nên cây trồng không phát triển). Lý giải về sự gia tăng trong dân số hoặc giảm sút trong sản xuất nông nghiệp không được chứng minh một cách dứt khoát.

Một giải thích khác là những người Viking tìm khai thác một thời điểm có sự suy yếu ở các vùng quốc gia xung quanh. Ví dụ, những người Viking Đan Mạch đã nhận thấy được sự chia rẽ nội bộ của đế chế của Charlemagne bắt đầu từ những năm 830 và sự ly khai về tôn giáo làm cho nước.Anh bị chia rẽ nội bộ và nhiều thị trấn ở gần những vùng biển hoặc của sông sẽ trở thành những con mồi dễ dàng. Việc không có những lực lượng hải quân bảo vệ bờ biển được tổ chức tốt trên khắp Tây Âu đã cho phép các tàu Viking đi lại tự do, cướp bóc và buôn bán khi cơ hội cho phép.

Sự suy giảm lợi nhuận của các tuyến đường thương mại truyền thống cũng có thể đã đóng một vai trò. Thương mại giữa Tây Âu và phần còn lại của lục địa Á-Âu bị giáng một đòn nặng nề khi Đế quốc La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ 5. Việc mở rộng tầm ảnh hưởng của đạo Hồi trong thế kỷ thứ 7 cũng có ảnh hưởng xấu tới nền thương mại của các quốc gia Tây Âu. Nền Thương mại ở vùng Địa trung hải đã suy giảm ở mức thấp nhất khi những người Viking bắt đầu mở rộng ảnh hưởng của họ. Bằng cách mở các tuyến đường thương mại mới trong các vùng của người Ả Rập và vùng đất của người Frank, người Viking đã được hưởng lợi từ thương mại quốc tế bằng cách mở rộng vượt ra ngoài ranh giới truyền thống của họ.

Chiến thuật chiến đấu của người Viking

Lúc đầu, các cuộc tấn công cướp bóc được tiến hành chỉ bởi một vài người với một số ít các tàu.Tuy nhiên, khi có tiếng vang về sự thành công của họvà với đồng thờisự xuất hiệncủa vương quốc Na Uy và Đan Mạchthống nhất và mạnh mẽ, những đội quân Viking lớn hơn đã đổ bộ và ở lại trên bờ lâu hơn, cuối cùnghọ tiến hành trú đông vàsau đó định cư ở trong vùng lãnh thổ tốt nhất mà họ chiếm được.Thường thì họ bắt lấy những con ngựa tại địa phương để tạo cho mìnhkhả năng cơ động và phạm vi hoạt động cao hơn. Đây là phương pháp mà người Viking đã tiến hành khi tiến từ tỉnh Đông Anglia chiếm được từ tay ngườiAnglo-Saxon để tấn công York năm 866.

Từ 850 người Viking Đan Mạch bắt đầu trú đông ở nước Anh, lấy tiền chuộc – danegeld để đổi lấy hứa hẹn về hòa bình. Vùng Kent đã phải trả một khoản tiền lớn trong năm 865, nhưng họ vẫn là nạn nhân của một cuộc tấn lớn ngay sau đó. Sau năm 870 người Viking thống trị trên một vùng rộng lớnở miền trung nước Anh (from coast to coast) và lập nên vùng Danelaw; trong nhiều thế hệ các thủ lĩnh người Anglo-Saxon đã cố gắng tái chiếm lại cái gọi là vùng Danelaw này. Những nỗ lực này thường dẫn đến các trận chiến như trận Brunanburh năm 937 và Maldon năm 991, những trận đánh mà người Viking đã chứng minh rằng họcó thể chiến đấu một cách ngang bằng với đối phương trong những trận đánh trên bộ. Đặc biệt đáng quan tâm là trận Brunanburh người ta có thể thấy người Viking chiến đấu trên cả hai mặt trận: một là với quân đội của người Anglo-Saxon với sự hỗ trợ của lính đánh thuê người Đan Mạch và một nữa là trận giữacác lãnh chúa Na Uy nổi loạn ở Ireland với người Viking Đan Mạch ở phía Đông Danelaw.

Thời đầu người Viking dùng ngựa nghẽo chỉ để di chuyển, như bác Viking cao tuổi ở trong tranh – cưỡi ngựa cho khỏi mỏi cái chân, nhưng sau đó họ cũng tìm cách thành lập các đội kỵ binh Viking

Những trận đánh ở miền bắc và miền tây châu Âu chủ yếu là những trận chiến bằng bộ binh vào đầu thời Trung Cổ; những trận chiến sử dụng kỵ binh là rất hiếmcho tới trước Thế kỷ 11, mặc dù người Frank đã có một lực lượng kỵ binh có chất lượng cao. (Kỵ binh là một phần rất quan trọngcủa quân đội của Đế quốcByzantine ở miền Nam và Đông Châu Âu trong suốt thời gian này). Bản thân người Viking lại chỉ thấy rằng ngựa là một phương tiện để vận tải và thông tin liên lạc. Họ đã bị đánh bại bởi, ví dụ người Frank tại trận Saucourt năm 881 và người Byzantine tại trận Slistria năm 972 vì những ưu thế tuyệt đối của kỵ binh. Tuy nhiên không có luật lệ nào mà không có ngoại lệ, có những bằng chứng bằng văn bản cho thấy trong năm 888 người Viking đã tự triển khai lính kỵ binh của mìnhtại trận Monfaucon ở nước Pháp và tại trận Solcoit ở Ireland năm 968.

Đôi khi thời gian và địa điểm của một trận chiến cũng thực sựlà một yếu tố quan trọng, cũng như thói quen cướp bóc các vùng đất của đối phương của người Viking thường được tiến hành ngay trước khi trận chiến nổ ra; người Anglo-Saxon đã tận dụng được khoảng thời gian quý báu này để tập hợp lực lượng của họlại như ở trận Brunanburh.

Bức tường lá chắn

Đội hình chính của người Viking trong trận chiến chính là “bức tường lá chắn” hay còn gọi là skjaldborg. Các chiến binh đứng cạnh nhau và giữ những chiếckhiên của họ sao cho vành của chiếc khiên này sát với vành của chiếc khiên kia, hoặc thậm chí chồng chéo lên nhau, nhưng những chiếc khiên chồng chéo lên nhau sẽ không cho phép tạo ra một khoảng giao động đủ rộngđể sử dụng các thanh kiếm hoặc rìu, do đó, Lớp đứng đằng trước chỉ có nhiệm vụ làxô đẩy đối thủhoặc đỡ gạt những ngọn giáo của đối phương. Đằng sau bức tường lá chắn, những chiến binh mang mang giáo dài tấn công vào đối phương qua vai của hàngphía trước của mình; yếu tố địa hình có thể có ý nghĩa thắng – bại quyết định nếu một bên chiếm giữ được lợi thế, ví dụ như một vị trí cao hơn. Tùy thuộc vào kích thước của một đội quân mà họ có thể lập một vài bức tường lá chắn, bức này đứng phía sau bức khác.

Người Viking ngay từ đầu thường cố gắng chiếm được lợi thế quyết định trước đối thủ của họ bằng các cuộc tấn công bất ngờ. Các toán đột kích của họ thường đổ bộ xuống các bãi biển hoặc tiến vào các cửa sông dưới sự che phủ của bóng tối hoặc thời tiết xấu. Khái niệm của người La Mã trước đây về một ” đội quân thường trực” dường như đã biến mất ỏ phía Bắc châu Âu kể từ thế kỷ thứ 5, khi họ phải đối mặt với những cuộc tấn công kiểu đánh và chạy ở các vùng Friesians, Anglo-Saxon hay Frank vì không có thời gian để xác định các mối đe dọa và tập hợp lực lượng phòng thủ lớn. Các mục tiêu của các cuộc tấn công (của người Viking )cũng đã được lựa chọn kỹ càng để bảo đảm thành công, đặc biệt là các tu viện – mặc dù đây thường là nơi được sử dụng để cất giữ các kho tàng nhưng chúng lại được bảo vệ rất kém.

Có bằng chứng cho thấy lính phóng lao và cung thủ được triển khai cả phía trước và phía sau các đội quân để khai thác những điểm yếu trong bức tường lá chắncủa đối phương. Sau đó, các hàng ở phía trước sẽ xung đột với nhau, các chiến binh xô đẩy nhau, đâm đối phương bằng giáo và chém chặt nhau bằng búa trậncho đến khi một bên phá vỡ được bức tường lá chắn của bên kia.Trong quá trình của trận đánh có vẻ như là khoảng cách giữa các lá chắn được mở ra phần nàođể những người lính có thể vung rìu chiến và các thanh kiếm của họ để chiến đấu với nhau. Các yếu điểm trên bức tường lá chăn có thể bị tấn công bởi một đội hình đặc biệt được tạo lập giống như một chiếc nêm được gọi là – svynfylking– đó là đội hình gồm cứ hai chiến binh tạo thành một điểm, ba chiến binh ở hàng thứ hai, năm chiến binh ở hàng thứ ba và như vậy là các chiến binh ở bên ngoài mang những chiếc khiên chồng chéo lên nhau và các giáo binh ở bên trong đột phá qua bức tường của đối thủ.

Nếu tính toàn vẹn của một bức tường lá chắn đã bị phá hỏng, đây cũng không phải là điều bất thường để làm lực lượng này dễ bị vỡ trận và bị hỗn loạn. Đây là thời điểm mà các vị thủ lĩnh phảicho thấy khả năngvà cá tính của mình bằng cách tập hợp lại vàtổ chức lại những chiến binh của mình, hoặc bằng cách tăng cường lực lượng viện binh mà ôngta dự trữ ở phía sau. Quân đội của người Viking ở thời đầu Trung cổ thường được chia ra ba loại chiến binh bao gồm: cá nhân những người đàn ôngtự do làm nghĩa vụnghĩa vụ quân sự khi được triệu tập; Những– hersir- người giàu có, trung thành với một Jarl – thủ lĩnh (hoặc sau này là một vị vua) và những ngườicó vũ trang khác từ vùng đất của ông ta;và các tùy tùng – chư hầu đã thề trung thành với một vị thủ lĩnh. Mục tiêu chính củacuộc chiến thường là thủ lĩnh của lực lượng đối lập. Nếu ông ta bị giết chết thì các chiến binh bình thường – những người hiếm khi được đào tạo chiến đấu tốt – được giải phóng khỏi nghĩa vụ chiến đấu cho ông ta và những thường binh nàysẽ hạ vũ khí nếu như họ không chạy trốn khỏi chiến trường. Tuy nhiên,vấn đề danh dự đã quy định rằng những chư hầu đã tuyên thệ với vị thủ lĩnh sẽ vẫn tiếp tục chiến đấu xung quanh xác chúa tể của họ cho đến khi họ bị hạ gục.

Hải chiến trên biển

Nguyên tắc của các trận chiến trên biển của người Viking cũng diễn ratheo nguyên tắc của các trận chiến trên đất liền. Các bên buộc chặt (bằng dây thừng) hầu hết các tàu của bên mình vào bên cạnh nhau để tạo ra các khoảng không gian để hình thành một bức tường lá chắn. Những kẻ tấn công sẽ cố gắng để phá vỡ đội hình này, ví dụ như trong các trận Hafrsfjord năm 872, trận Svöldr năm 1000 và trận Nissa trong năm 1062. Lần lượt từng chiếc tầu một bị tấn công và sau đóđược tách ratừ đội hình chính rồi trôi dạt đi. Cả hai bên đều giữ lại để sử dụng một số tàu ở ngoài đội hình để cơ động, trinh sát và khiêu chiến.

Người Viking đã từng sử dụng chiến thuật tấn công kẻ thù bằng cách bơi áp mạn tầu và tấn công lên boong, trong một cơn bão mũi tên, ném đávà phóng lao từ cả hai phía. Nếu bên phòng thủ thành công trong việc giết chết các tay chèo của phía tấn công, hoặc nếu mái chèo của các tàu phe tấn công bị gẫy, thì cuộc tấn công thường trở nên thất bại vì họ sẽ bị kém đi về khả năng cơ động. Tuy nhiên, các yếu tố của một trận hải chiến thực sự ở thời Cổ – chiến thuật vượt trội hơn,đòn đâm, buộcđối phương phải đi thuyền ngược gió, hoặc sử dụngmáy bắn đá Catapult – đã được biết tới bởi hầu hết những người Viking. Hầu hết cáctrận chiến trên biển đều diễn ra trong các vùng nước yên tĩnh ven biển, cửa sông, nơi không có khoảng không gian cho các chiến thuật này.

Quân đội của người Viking

Kích cỡ của quân đội Viking là cực kỳ đa dạng, nó tăng lên liên tục và ổn định từ những năm cuối của thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 11. Một bản thảo tiếng Anglo-Saxon thời tiền Kỷ Viking gọi một nhóm khoảng 35 chiến binh hoặc nhiều hơn là một “đội quân – army” và chúng ta có thể giả định rằng các cuộc tấn công đầu tiên của người Viking được tiến hành bởi các băng nhóm nhỏ như vậy. Ngay cả những ghi chép sau này khi mô tả trận các trận chiến, ít khi người ta đề cập đến số lượng của các chiến binh Viking; kích cỡ của một đội quân Viking thường được ước tính theo số tầu và số lượng thuyền viên trên tàucó thể thay đổi tùy theo số lượng các mái chèo. Các ghi chép về cuộc vây hãm Paris trong năm 886 – nói rằng người Viking có 40.000 quân và 700 tàu – dựa trên một mức trung bìnhlà khoảng dưới 60 mái chèo cho mỗi con tàu, nhưng số lượng thuyền viên có thể sẽ khác nhau (và dù sao thì tất cả các số liệu từ xa xưa thường được coi là “tạoấn tượng” hơn là chính xác về mặt tính toán số học).

Các cuộc đột kích ban đầu thường được chỉ huy bởi một nhà lãnh đạo địa phương, với mục đích chiếm đất đai tại quê nhà hoặc tìm kiếm các chiến lợi phẩm có giá trị và bắt các nô lệ để bán ra nước ngoài. Thủy thủ đoàn của ông nàythường được tuyển dụngtừ những người đàn ông trong cùng một gia đình hoặc dòng họ và có thể thêm vào một số người hàng xóm, tất cả mọi người phải tự mình sắm sửa các trang thiết bị và hy vọng rằng phần thưởng sẽ ở dạng các đồ cướp đượcđem chia. Thường thì họ là cả hai loại người chiến binh và thương nhân, tại một điểm họ bán những gì họđã cướp ở nơi khác. Họ thường có một người lãnh đạođược bầu chọn, nhưng những quyết địnhquan trọng thường được mang ra thảo luậntrong toàn nhóm. Một số chiến binh Viking còn rất trẻ, chỉ độ 15 hoặc thậm chí 12 tuổi khi họ tham gia lần đầu tiên;tất cả các cậu bé đều đã học được sức mạnh, sự khéo léo và khả năng nhạy bén từ khi còn nhỏ bởi các cuộc đi săn, và các kỹ năng chiến đấuđược giảng dạy bởi cha ông của họ được mang ra luyện tập với bạn bè.

Việc thống nhất các lãnh thổ của Na Uy và Đan Mạchv ào một vương quốc thay đã làm đổi cấu trúc của quân đội Viking. Đối với việc phòng thủ đất nước, vương quốc vùng Scandinavia này đã cho thông qua cái gọi là leding – tuyển quân, đây chính là hệ thống nghĩa vụ quân sự, theo đó mỗi người tự do sở hữu đất phảicung cấp người, trang thiết bị quân sự, tàu và các loại vũ khí, con số tùy thuộc vào diện tích đất đai mà anh ta nắm giữ. Sauđó leding được thay thế bằngmột thứ thuế mà người ta lấy nó làm nguồn để trả lương cho một người lính chuyên nghiệp. Nhà vua chỉ huy quân đội của mình vàđược bảo vệ bởi các Hird -vệ sĩ riêng của ông ta,mỗi người trong số đó đều đã tuyên thệ trung thành với nhà vua.

Có một số hoài nghi với các con số được trích dẫn, nhưng thực sự thì có một quân đội lớntrong thời đại Viking là điều không có gì lạ. Người phương Bắc (Viking Nauy)được cho là bị mất ít nhất 8.000 quân trong trận Saucourt trong năm 881.Quân đội do vua Harald Hadrada bị đánh bại trong trận Stamford Bridge năm 1066 được cho là đã mất từ 240 đến 300 chiếc tàu. OlafTryggvasson đột kíchvào Maldon trong năm 991 với một hạm đội gồm 93 tàu, với mục đích gây quỹ tài trợ cho nỗ lực của mình tại Na Uy để giành lại ngôi vua

Thi thoảng có một vài vị vua, ví dụ như: Harald Bluetooth -cung cấp cho một phần quân đội của ông ta vũ khí và thậm chí cả áo giáp. Việc tăng cường lính đánh thuê cũng là một yếu tố khác; một ví dụ làquân đội của Thorkel Đại đế – chỉ phục vụ bản thân họ và người nào trả tiền cao nhất.

Công sự

Có một số công sự từ Kỷ Viking được biết đếnnhư “các bức tường lâu đài – wall castles” tại Fyrkat,Aggersborg, Trelleborg, Nonnebakken và tất nhiên là cảDanewerk nữa. Các công trình phòng thủ vĩ đại này đều ở vùng đấtmiền Nam Jutland – chúng cao 2m và rộng 12m (6.5ft & 39ft), và được làm bằng gỗ – kết nối các chướng ngại vật tự nhiên với nhau để cung cấp sự bảo vệchống lại các toán cướp người Slav và Germanic. Phần đầu tiêncủa hệ thống này được xây dựng trong năm 737 và phần cuối cùngđược kết thúc vào năm 968. Chiều dài tổng thể của nó là khoảng 30 km(18,6 dặm) chỉ chừa có một cửa khẩu qua đóđến Viborg. Haithabu, một trong nhữngthành phố thương mại quan trọng nhất của thời đó nằm ở vùng lân cậncủa Danewerk. Nhưng ngay cả Danewerk cũng khôngthể ngăn chặn được quân Đức dưới sự chỉ huy của Hoàng đế Otto II chinh phục phần lớn miền nam Đan Mạch vào năm 974 (họ bị đuổi ra vào năm 983).

Cả bốn pháo đài trên của người Viking tất cả đều được xây dựng trong nửa sau của thế kỷ thứ 10 và tất cả đều tương tự về mặt cấu trúc, chỉ có kích thước khác nhau.Mỗi pháo đài là một bức tường hình tròn và có hào sâu và hai con đường chínhcắt nhau trong khu nội thành. TạiTrelleborg, Fyrkat và Nonnebakken có 16khu nhà dài – longhouse lớn chia thành bốn nhóm đối xứng; tại Aggersborg có các tòa nhà có đường kính lớn gấp hai lần so với nơi khác vànhiều tòa nhà gấp ba lần. Bên ngoài các bức tường chính có thêm hàng rào vây quanh và các tòa nhà, sự sắp xếp thì thay đổi từ vị trí này tới vị trí khác. Mặc dùsử dụng cho mục đích quân sự là điều đương nhiên, nhưng mục đích chính của các công sự này giường như là để bảo vệngười dân địa phương, cũng như cung cấpchỗ ở phù hợp ở cho các đại diện của nhà vua Đan Mạch.

Giới thiệu sơ lược về vũ khí và binh giáp của người Viking

Thủa ban đầu mới tập hợp để làm những chuyến cướp phá đầu tiên chỉ có một số rất ít trong những người Viking được trang bị đầy đủ áo giáp, mũ sắt, kiếm… ( đây thường là những người giàu có ) và các vũ khí này thường là cha truyền con nối ( cha đi cướp bóc, con lại nối nghiệp cha), các thường binh Viking chỉ được trang bị những vũ khí trong gia đình và vũ khí dễ dàng tự chế được như khiên tròn, chùy ghỗ, dao ( ở nhà có thể dùng để pha mổ thịt cá ), giáo dài ( loại này cần một cái cán dài và tí thép ở đầu là xong), rìu chiến ( loại này thời bình có thể kết hợp để đi đốn củi trong thời bình), lao ( thời bình cũng dùng để đi săn), cung tên … đặc biệt các loại kiếm là hiếm có vì đắt tiền ( vì muốn rèn được kiếm phải có sắt tốt cộng với kỹ thuật rèn kiếm phải rất tinh vi)

Tàu bè của người Viking

Kỹ thuật đóng tầu Clinker của người Viking với các lớp gỗ được gép chồng lên nhau


Các con tầu Long-ship có mỗi hàng mái chèo ở mỗi bên thành tầu để nó không bị lệ thuộc vào gió trong những ngày thời tiết yên ả

Tư thế ngồi chèo thuyền của các thuỷ thủ Viking


Hai bên thành tầu được treo những chiếc khiên tròn nhiều mầu sắc

Không có nhiều chứng cứ để chứng minh với phần còn lại của châu Âu rằng người Viking là những thợ mộc có tay nghề cao, những nhà đóng tầu vĩ đại, những thủy thủ điêu luyện. Mặc dù được làm bằng gỗ, nhưng nhiều tầu của Viking còn tồn tại được đến ngày nay trong tình trạng đáng nể vì chúng là một phần của những ngôi mộ táng, và phần đất mà chúng được chôn đã giữ cho chúng trong điều kiện tốt. Những con tầu nổi tiếng được tìm thấy là những con tầu được táng tại các thành phố Gokstad và Oseberg ở Nauy. Thực sự thì những con tầu của Viking là những con tầu được chế tạo tốt nhất thời đó. Những con tầu được đóng theo kiểu Clinker build làm cho chiếc thân tầu có đủ độ linh hoạt để chịu đựng được sóng to và những cơn bão tố ở biển cả. Các con tầu được đóng theo kiêut Clinker-build là chúng có phần thân được lắp từ các phiến gỗ lớn xếp chồng lên nhau theo một chiếc khung sườn với các dầm ngang, các khớp nối được nẹp lại để chống thấm nước

Ảnh chiếc thân của một con tầu Gosktad Viking làm mộ táng ở thế kỷ thứ 9 được tìm thấy ở Vestfold, Nauy


Ảnh họa tiết ở phần mũi tầu của một con tầu Viking ở bảo tàng thuộc trường ĐH Oldsaksamling, Oslo Nauy

Có một số loại tầu Viking khác nhau dùng cho những mục đích khác nhau được gọi là drakkar, karve, snekker, skeider hoặc knarr theo các kích cỡ. Một trong những loại tầu nổi tiếng là langskip ( Long-ship), đây là loại tầu canoeing with elegant lines cho phép tạo ra tốc độ cao ở dưới nước. Nó là một con tầu khá dài ( khoảng 20 mét hoặc 65 feet) và khá hẹp về chiều ngang ( hoặc 5 mét hoặc 16 feet) và có thể được hạ thỷ ở vùng nước nông. Tầu long-ship chỉ có một cột buồm trung tâm và một lá buồm hỉnh vuông rất mầu mè, thường là được kẻ ô vuông với các sọc xanh, sọc đỏ hoặc sọc xám. Mỗi chiếc tầu có một hàng mái chèo ở mạn phải và mạn trái vì vậy chúng không bị phụ thuộc vào vào gió trong những ngày thời tiết yên ả.Con tàu được lái bởi một mái chèo lớn ở phần đuôi tàu và nó làm việcnhư một chiếc bánh lái. Chiếc mũi cong và chiếc đuôi của một chiếc long-ship thường được chạm trổ hình dạng những động vật hoang dã rất đẹp – hoặc thường là đầu của một con rồng được làm bằng kim loại. Một vài người giàu có dát vàng hoặc bạc lên các con tầu của họ. Những trang trí này phát sáng trong ánh nắng mặt trời và có thể được nhằm mục đích tạo ấn tượng với kẻ thù và dọa ma quỷ. Khi các con tầu đi vào hoặc đi ra khỏi cảng. Các cạnh của con tầu được treo những chiếc khiên hình tròn và nhiều mẩu sắc. Những chiếc khiên này sẽ bị dỡ bỏ khi con tầu ra đến biển.

Những chiếc tầu Viking có thiết kế đáy nông nên có thể bơi áp sát bờ biển, hoặc cập bờ và bơi ngược các dòng sông. Vào cuối thế kỷ thứ 8 những con tầu này được hoàn thiện đến mức độ có thể dong buồm ra biển mở.

Những tầu buôn của người Viking có hình dạng khá là khác với những tầu long-ship. Nó có chiếc thân rộng hơn và sâu hơn.

Vây hãm Paris


Hugin, tên của một con tầuđươc Gosktad được tái tạo và đóng ở Đan Mạch, nó đã bơi vượt biển Bắc vào năm 1949 và bây giờ nằm ở trong nơi trưng bày tại Pegwell Bay, hạt Ken – Anh quốc

Quay trở lại ý nghĩa của người Viking với sự sụp đổ của vương triều Carolingian, như chúng ta đã biết từ nửa cuối của thế kỷ thứ 9, sau cái chết của Hoàng Đế Charlemagne vương quốc của người Frank chìm trong đấu đá nội bộ rồi bị phân chia thành các vương quốc Đông Frank và Tây Frank, các vị vua kế nghiệp Hoàng Đế Charlemagne đều có tư chất tầm thường -> chỉ ham hố đấu đá nội bộ mà không bảo vệ được người dân của mình, vì vậy mà người Viking thường xuyên tổ chức các đợt tập kích ngày càng lớn và ngày càng sâu vào trong lãnh thổ của người Frank, và cuộc vây hãm Paris là một trong những đợt đột kích như vậy.

Cuộc vây hãm Paris năm 885-886 là một cuộc bao vây thành phố Paris của người Viking, sau đó thành phố này trở thành thủ đô của vương quốc của người Frank ở phía Tây. Đó là, một trong những sự kiện quan trọng nhất của triều đại của Hoàng đế Charles Béo và một bước ngoặt trong số phận của triều đại Carolingian và lịch sử nước Pháp.

Những người Viking (đặc biệt là người Đan Mạch đến từ Đảo Anh và Người phương Bắc ở lục địa Châu Âu), là những mối đe dọa chính quấy rầy các nhà vua của châu Âu vào cuối thế kỷ thứ chín, và vào khoảng giữa của Kỷ Viking. Họ đã thiết lập một vùng đất có tên là Danelaw ở nước Anh và là những người cầm quyền cai trị người Rus từ hồ Ladoga đến Novgorod. Ảnh hưởng của họ loang xa đến tận những vùng như Địa Trung Hải, Họ sách nhiễu cả tín đồ Thiên Chúa Giáo lẫn Hồi giáo, tại vùng đồng bằng ven biển và cửa sông của các nước Pháp, Tây Ban Nha và Italy. Các khu vực bị đột kích tồi tệ nhất trong Đế quốc rộng lớn của triều đình Carolingian là vùng Đất thấp và các vùng lân cận trong các xứ Gaul và Germania, Những khu vực này có nhiều con sông thuận tiện cho việc tiếp cận bằng đường thủy.
Năm 845, người Viking chèo thuyền ngược sông Seine và tấn công Paris. Và họ cũng tấn công ba lần nữa trong những năm 860, mỗi lần họ chỉ rời đi sau khi tiến hành cướp phá và nhận được các khoản tiền chuộc mà họ cảm thấy chấp nhận được. Năm 864, theo Chỉ dụ Pistres, Nhiều chiếc cầu được xây dựng trên sông Seine không chỉ tại Pîtres, nhưng tại Paris lại có hai cây cầu đang được xây dựng: mỗi chiếc ở mỗi bên của Île de la Cité. Những chiếc cầu này sẽ phục vụ một cách đắc lực trong cuộc bao vây vào năm 885. Nhà cai trị cấp cao nhât trong khu vực xung quanh Paris (Île-de-France) là công tước của xứ Francia (cũng là công tước của Paris), người kiểm soát các vùng đất giữa sông Seine và Loire. Đầu tiên là Robert the Strong, quan trấn thủ của Neustria và missus dominicus của thung lũng Loire. Ông bắt đầu cho củng cố các pháo đài của thành phố cổ và liên tục chiến đấu với người phương Bắc cho đến khi ông chết trong trận chiến chống lại người Viking tại Brissarthe. Con trai ông – Odo đã thừa kế ông và tiếp tục củng cố các pháo đài của Paris.

Bản đồ thành phố Paris ở thế kỷ thứ 9 – Paris lúc này chỉ là một thị trấn nhỏ nằm ở giữa sông Seine, chính hai cây cầu nối Paris với hai bên bờ sông Seine. Chính hai cây cầu này đã ngăn cản không cho người Viking tiến sâu vào bên trong nước Pháp

Trong khi đó, vùng Tây Francia ( cốt lõi của nước Pháp ngày nay) có sự trị vì của một loạt các nhà vua trong một thời gian ngắn cho đến khi Charles Béo, vua của Đức và Italy, trở thành vua của họ. Hy vọng về việc sẽ tái thống nhất lại Đế chế của Hoàng đế Charlemagne lại được nhen nhóm, nhưng chỉ một năm sau khi Charles thừa kế ngai vàng (năm 884), một lần nữa người Viking lại phát động cuộc tấn công lớn nhất vào Paris

Cuộc vây hãm 

Sigfred, thủ lãnh của người Đan Mạch, đòi một khoản tiền chuộc từ Charles nhưng đã bị từ chối. Ông này nhanh chóng điều 700 tàu đi ngược sông Seine mang theo hơn 30.000 chiến binh, một con số rất cần được đặt câu hỏi vì ngay cả một đội quân chỉ bằng một phần mười sức mạnh như vậy cũng là một đội quân tầm cỡ trung bình vào lúc đó. Paris vào thời gian này là chỉ một thị trấn trên một hòn đảo. Tầm quan trọng chiến lược của nó đến từ khả năng chặn lối đi của các con tàu với hai cây cầu thấp, một cây được làm bằng gỗ và một cây kia được làm bằng đá.

hậm trí ngay cả cái bóng của các tàu Viking cũng không thể vượt qua Paris vì những cây cầu này. Odo chuẩn bị cho sự xuất hiện của những người Viking với việc củng cố đầu cầu với hai tháp canh ở mỗi chiếc cầu. Ông chỉ có rất ít quân, không quá 200 lính vũ trang. Ông đã có sự trợ giúp của anh em mình, Robert, cùng với hai công tước, một hầu tước, và Joscelin, vị cha đứng đầu nhà thờ ở Saint-Germain-des-Pres.

Những người Viking đến ngày 25 Tháng Mười Một 885 và bắt đầu bằng cách yêu cầu cống nộp. Yêu cầu này ngay lập tức bị từ chối, họ liền tiến hành một cuộc bao vây. Ngày 26 tháng 11, người Đan Mạch tấn công các tòa tháp phía Đông bắc bằng các dụng cụ công thành như ballistae, mangonel và catapult, bắn vào các ngọn tháp với rất nhiều mũi tên và đá. Tuy nhiên họ bị đẩy lùi bởi các hỗn hợp nhựa thông và hắc ín được đốt nóng chảy. Ngày hôm đó tất cả các cuộc tấn công của người Viking bị đẩy lùi và vào ban đêm người dân Paris xây lại tầng trên của chiếc tháp.

Tranh vẽ một số loại vũ khí công thành mà người Viking có thể sử dụng để công phá Paris


Tranh vẽ súng bắn tên (đá) ballistae từ thời La Mã – có thể được người Viking sử dụng để công phá Paris

ào ngày 27 tháng 11, một cuộc tấn công của người Viking được tiến hành bao gồm đào hầm, công thành và bắn tên lửa nhưng vô ích. Vào ngày hôm đó vị cha cố Joscelin dũng cảm bước ra bờ lũy và tham gia trận chiến với một cây cung và một chiếc rìu chiến. Ông trồng một cây thánh giá ở bên ngoài hệ thống phòng thủ và hô hào tất cả những người đàn ông hãy tham gia chiến đấu. Người em của ông – Ebles cũng tham gia chiến đấu.

Trong hai tháng, những người Viking đào hầm, làm cho chiến hào quanh chỗ ở của họ để khỏi bị tấn công bất ngờ. Trong tháng 1 năm 886, họ đã cố gắng để lấp các vùng sông có nước nông bằng các mảnh vỡ, cành cây, động vật đã chết và cả xác người chết (những tù nhân bị tử hình) để bộ binh của họ đến được vùng xung quanh các tháp canh, nhưng họ lại một lần nữa không có được sự thành công. Họ tiếp tục làm việc này trong hai ngày nữa và vào ngày thứ ba họ châm lửa đốt ba chiếc tàu và hướng chúng vào cây cầu bằng gỗ. Các con tàu bị chìm trước chúng có thể làm lây lan ngọn lửa tới cây cầu, nhưng tuy nhiên chiếc cầu được chế tạo bằng gỗ đã bị suy yếu. Ngày 6 tháng 2, mưa lớn làm con sông (chứa đầy các mảnh vụn từ những nỗ lực của người Viking trong tuần trước đó) bị tràn và đẩy phần hỗ trợ của cây cầu ra xa. Cây cầu đã bị gãy, chiếc tháp canh ở phía Đông bắc lúc này bị cô lập với chỉ mười hai người phòng thủ ở bên trong. Người Viking yêu cầu mười hai người này đầu hàng nhưng họ từ chối và sau đó tất cả đã bị giết chết.

Người Viking để lại một lực lượng đằng sau, nhưng lực lượng chủ yếu đã tiến về phía trước, ra khỏi Paris để cướp bóc các thành phố Le Mans và Chartres. Vào lúc này, Odo đã thành công trong việc gửi một số người vượt qua chiến tuyến của người Bắc Âu để đến nước Ý và cầu xin Charles gửi quân tiếp viện cho họ. Henry, Bá tước của xứ Sachsen, Người đại diện cho Charles ở Đức đã hành quân tới Paris. Người Viking bao vây sau đó phải tản ra và nhiều đồ cung cấp được chở vào thành phố. Tinh thần chiến đấu của quân vây thành xuống rất thấp và Sigfred đòi sáu mươi cân bạc. Ông này rời khỏi cuộc bao vây trong tháng 4.Rollo một thủ lĩnh khác của người Viking và người của ông ta vẫn tiếp tục ở lại.

Trong tháng, bệnh dịch bắt đầu lan rộng trong khắp Paris và Joscelin, vị lãnh tụ về mặt tinh thần kiêm giáo sỹ chiến đấu đã chết vì bệnh dịch. Chính bản thân Odo sau đó đã vượt qua vùng người Viking kiểm soát để xin Charles hỗ trợ: Charles đồng ý. Odo đã chiến đấu theo cách của mình để trở lại Paris. Charles và Henry của xứ Saxony hành quân về phía Bắc. Đáng buồn cho những người bị bao vây, Henry đã chết trên đường hành quân.

Vào mùa hè, người Đan Mạch đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để chiếm được thành phố nhưng họ đã bị đẩy lùi. Đại quân của Đế chế xuất hiện vào tháng 10 và làm cho người Viking phải tản ra. Charles bao vây Rollo và quân đội của ông ta rồi lập một doanh trại ở Montmartre. Tuy nhiên Charles không có ý định chiến đấu. Ông cử người của mình xuống dọc sông Seine để tàn phá xứ Burgundy vì xứ này đang có một cuộc nổi dậy. Khi những người Viking rút khỏi nước Pháp vào mùa xuân năm sau, ông đã trả cho họ £ 700 bạc như đã hứa.

Hậu quả

Việc người dân Paris và Odo từ chối không cho người Viking xuôi xuống sông Seine làm cho những kẻ xâm lược phải kéo các con tàu của họ trên đất liền để đến Marne. Khi Charles qua đời năm 888, người dân Pháp chọn Odo làm vua của họ. Anh trai của Odo sau đó được bầu làm vua. Trong suốt thế kỷ tiếp theo dòng họ Robertian, hậu duệ của Robert the Strong đấu tranh với dòng họ Carolingians để giành ngôi vua nước Pháp. Đất tước công của họ ( France) đã được dùng để đặt tên cho vương quốc (nước Pháp sau này) và Đế chế Carolingian không bao giờ còn có thể được tập hợp lại.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s