Nơi đâu có hồ, đàn thiên nga sẽ bay đến- Thuật sử Phật Giáo tại đất Mỹ (Bài 1)

Rick Fields

Trần Quang Nghĩa dịch

2,500 năm sau khi Như Lai nhập Niết bàn, Giáo lý Tối cao sẽ truyền đến xứ sở người mặt đỏ.

Thích Ca Mâu Ni nói với nữ thần Vimala theo Lịch sử Phật giáo của Bu-ston

 . . . có tính cách đông phương trong người khai phá xông xáo. Nơi phương Tây xa nhất cũng là nơi phương Đông xa nhất.

 Vị Karmapa bảo với phỏng vấn viên trong tuần này rằng ngài đến Hoa Kỳ vì giáo huấn của Đức Phật đã đi trước ngài. “Nơi đâu có hồ, đàn thiên nga sẽ bay đến,” ngài nói thông qua một thông dịch viên.

The Boston Globe, 10  tháng 12 năm 1976

CHÚ Ý:

LỜI NÓI ĐẦU TRƯỚC HỘI CHÚNG

Buổi tiếp tâm bắt đầu như trong mọi buổi tiếp tâm khác- với tiếng chuông ngân vang sâu thẳm – và kéo dài bảy ngày như trong các buổi tiếp tâm khác, với các thời khắc xen kẽ giữa thiền tọa, thiền hành, thọ thực chánh niệm, lao động chân tay giữa các khoảng thời gian ngắn, tham dự vấn thiền với thiền sư, và ngủ một vài giờ. Nhưng thay vì với một thiền sư như phần đồng các khóa tiếp tâm khác, lần này có đến 20 thiền sư và các tăng sĩ hoằng pháp tham dự.

Kết thúc vào ngày 4 tháng 7 năm 1976, khóa tiếp tâm này được tổ chức nhằm đánh dấu ngày khánh thành Thiền viện Dai Bosatsu, thiền viện truyền thống phong cách Nhật đầu tiên ở Hoa Kỳ. Thiền sư Richard Baker đã đến từ San Francisco để dự lễ khai mạc.  Thiền sư Sasaki và Maezumi từ Los Angeles, Thiền sư Takeda từ Mexico City, và Thiền sư Philip Kapleau từ Rochester, và Seung Sahn, không phải Thiền sư Nhật hay Mỹ, mà là Thiền sư Hàn quốc, đã đến đây từ Providence, và rồi một nhóm lớn các thiền sư được thỉnh mời cũng từ Nhật Bản đến tham dự. Thậm chí có cả một tăng sĩ Tây Tạng,  đã kết hợp một số giáo lí Thiền tông vào pháp thoại của mình,  Chogyam Trungpa, Rinpoche, hậu duệ đời 11 dòng Trungpa Tulku, không vận lễ phục truyền thống đẹp đẽ nhất như các thiền sư, mà mặc một bộ vét cắt kiểu Anh.

Tu viện chi phí đến 3 triệu đô la từ nhà tài trợ chính và thiết kế theo mô hình một thiền viện Nhật, mà giờ đã trở thành một báu vật quốc gia. Một tăng đoàn Thần đạo Nhật, đội mũ chóp thuật sĩ, tụng kinh và dâng hương, và ai đó lần đầu tiên gióng lên tiếng đại hồng chung từ ngọn đồi bằng dùi gỗ được quấn vải đỏ, trắng và xanh trong dịp lễ. Một bài diễn văn bằng tiếng Nhật và rồi Thiền sư Baker phát biểu một ít lời bằng tiếng Anh, và Thiền sư Eido nhắc tới một người  đáng lẽ có mặt ở đây, nhưng lại không. Dù ông không nói tên nhưng ai cũng biết đó là Thiền sư Nakagawa Soen, được xem là có tính lập dị cho dù đối với một Thiền sư, luôn làm những điều mình thích không bận tâm đến các phép lịch sự xã giao thông thường. Thiền sư Soen là một trong các thiền sư tiên phong; dòng kết nối pháp của ông thông qua người bạn thân Nyogen Senzaki, đi ngược thời gian trở về với vị thiền sư đầu tiên đặt chân tới Mỹ, Soyen Shaku, người đã phát biểu trước Hội nghị Tôn giáo Thế giới vào năm 1893 tại Chicago, một bài diễn văn đã được đệ tử ông,  D. T. Suzuki dịch cho ông ở Nhật Bản. Trong bất kì tình huống nào, vị thiền sư vắng mặt Nakagawa Soen càng như hiện diện uy nghi hơn.

Buổi lễ bị gián đoạn bởi một cơn bão sấm, và nối tiếp đến tận khuya quanh ngọn lửa gào thét, nơi dòng nước trí tuệ, nói nôm na là rượu sake, chảy tuôn trào.

Trong khi đó, tại New York một đoàn thuyền giong buồm trên sông East chào mừng lễ kỷ niệm 200 năm ngày thành lập nước Mỹ, và Dudzom Rinpoche, người đứng đầu dòng tu Nyingma của Phật giáo Tây Tạng, vừa mới đặt chân đến nước Mỹ, đã có một bài phát biểu trên đài FM WBAI đề tài Trong Tinh Thần, được biết có đến 78,900 thính giả lắng nghe trong khi 2,000 người thuộc cánh Phật giáo khác diễu hành xuống Đại lộ Thứ 5 với ban nhạc chơi hành khúc. Không có ai biết rõ mọi hoạt động Phật giáo trong ngày Kỷ niệm lần thứ 200 Quốc Khánh 4 tháng 7 nói lên điều gì, chỉ mới 200 năm nước Mỹ được thành lập, nhưng rõ ràng với mọi Đức Phật, A la hán, Bồ tát, thiện nam, tín nữ, và du khách Nhật tề tựu dự lễ khánh thành Thiền viện Dai Bosatsu ở Catskills thì đây chỉ là điểm khởi đầu.

 

Thiền viện Dai Bosatsu

PHẦN I 

CHƯƠNG MỘT :  CHUYỂN PHÁP LUÂN

I

Tất Đạt Ta Cồ Đàm ra đời khoảng 567 TCN trong một tiểu vương quốc ngay dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn. Phụ thân ngài là tộc trưởng dòng Thích Ca. Người ta nói rằng 12 năm trước khi ngài ra đời, các tăng sĩ Bà la môn tiên tri rằng ngài sẽ trở thành một đấng quân vương cái thế hoặc một bậc đại hiền triết. Để ngăn cản không cho ngài trở thành nhà tu khổ hạnh,  phụ vương giữ ngài bên trong vòng thành của cung điện. Cồ Đàm lớn lên trong cảnh xa hoa vương giả, bị che khuất mắt khỏi  thế giới bên ngoài, được các vũ nữ chiều chuộng hết mực,  được các bậc Bà la môn giáo huấn,  được rèn luyện thuật bắn cung, đánh kiếm, võ thuật, bơi lội và chạy bộ. Khi đến tuổi,  ngài kết hôn với Gopa (theo truyền thống Tây Tạng, còn chúng ta quen với Da-du-đà-la theo truyền thống Trung Quốc) và hạ sinh cho ngài một con trai. Theo cách nói ngày nay, có thể cho là ngài có đủ mọi thứ.

Nhưng,  như thế cũng chưa đủ. Một điều gì đó,  một điều gì đó khăng khít theo ngài như bóng theo hình, lôi kéo ngài vượt qua tường thành vào thế giới đường phố của Kinh Thành Ca-tì-la-vệ. Ngoài đó ngài gặp ba cảnh tượng đơn giản: một người bệnh,  một người già và một thi thể được mang đến nơi chôn cất. Trong cuộc sống vương giả ngài chưa chuẩn bị đón nhận các trải nghiệm này, và khi người đánh xe bảo với ngài mọi người sinh ra đều phải trải qua lão, bệnh,  tử, ngài không thế nào an tâm được. Khi xe về cung điện,  ngài đi ngang qua một thầy tu khổ hạnh lang thang,  bước đi thanh tịnh trên đường,  mình vận áo choàng, tay ôm bình bát của một khất sĩ, và ngài phát tâm rời bỏ cung vàng đi tìm câu trả lời cho nguồn gốc của khổ đau.  Ngài lặng lẽ giả từ vợ và con, không đành đánh thức họ, phi ngựa đến  một bìa rừng. Tại đó ngài xuống ngựa, lấy gươm cắt đứt mớ tóc dài, rồi đổi bộ y phục vương giả lấy bộ y phục giản dị của một thầy tu khổ hạnh.

Với các hành động này, Thích Ca Mâu Ni Cồ Đàm đã gia nhập một giai cấp trọn vẹn của những người muốn thoát ly khỏi xã hội Ấn Độ để tìm giải thoát. Từ lúc nào không thể nhớ, luôn luôn có các thánh nhân lang bạt, những con người lang thang không nhà, kiên trì công phu thiền định,  rèn luyện yoga, thực hành phép tu khổ hạnh. Nhưng trong thời Thích Ca, Ấn Độ bị xâu xé vì chiến tranh giữa các vương quốc, các nghi thức và quy luật của các giáo sĩ Bà la môn bất ngờ mở rộng cửa để tra vấn, số người ra đi tìm chân lý đã tăng mạnh. Và không ít đạo sư với nhiều phương thức tu tập  và  giáo huấn đa dạng xuất hiện, và Cồ Đàm lên đường tra hỏi đủ trường  phái – vô thần, duy vật,  duy tâm và biện chứng. Từ chốn rừng sâu đến nơi chợ búa nhộn nhịp đều nghe thấy âm thanh ồn ào của hàng ngàn lời rao giảng và biện bác, và về phương diện này, không khác gì thời đại chúng ta.

Cồ Đàm cuối cùng quyết định đến thọ giáo hai bậc thầy. Từ Arada Kalama, có đến 300 đệ tử, ngài học cách trì giới tâm để bước vào cảnh giới vô vi, nhưng cho dù Arada Kalama mời ngài ở lại tiếp mình giáo huấn đệ tử, ngài cho rằng phép tu này không đưa đến giải thoát,  nên cất bước ra đi.  Sau đó Sĩ Đạt Ta học cách giới định tâm thức không phải hữu thức mà cũng không phải vô thức từ thầy Udraka Ramaputra, vốn có đến 600 đệ tử.  Ông cũng yêu cầu Sĩ Đạt Ta ở lại tiếp mình giáo huấn. Nhưng tin phép tu này cũng không phải là con đường giải thoát, ngài lại lìa bỏ vị thầy thứ hai.

Suốt 6 năm Sĩ Đạt Ta cùng với 5 bạn đồng tu thực hành phép tu khổ hạnh và thiền định.  Ngài gắng sức cùng cực, có lúc mỗi ngày chỉ dùng một hột cơm, lấy tâm trí chế ngự thèm khát của cơ thể. Xương sườn ngài nhô ra dưới lớp da khô khốc nhăn nheo, ngài trông như một thây ma còn sống.  Năm bạn đồng tu tẩy chay ngài khi ngài quyết định phải có thêm lương thực và từ bỏ lối tu khổ hạnh.  Rồi Sĩ Đạt Ta bước vào làng để tìm kiếm thức ăn. Tại đó, một phụ nữ tên Sujata dâng cho ngài một bát cơm  sữa, và một lọ mật ông. Sức khỏe ngài hồi phục, Sĩ Đạt Ta tắm mình trong dòng Sông Nairanjana, rồi bước về phía cây bồ đề. Ngài trải tấm đệm cỏ kusha bên dưới gốc cây rồi bắt chéo chân, ngồi xuống.

Ngài tĩnh tọa, đã lắng nghe mọi đạo sư,  đã nghiên cứu mọi kinh điển và đã thử nghiệm mọi phương pháp. Giờ đây không có gì khác để nương tựa,  không có gì khác để hướng đến, không có nơi đâu để đi. Ngài ngồi vững chắc, không lay chuyển và quyết tâm như một ngọn núi, cho đến cuối cùng,  sau sáu ngày,  ngài mở mắt nhìn ngôi sao mai mới mọc, như lời truyền tụng, và ngài thoắt nhiên xác chứng những gì mình bấy lâu tìm kiếm  không hề mất đi, đối với ngài cũng như mọi người khác. Không có gì cần phải đạt được, không còn phải phấn đấu để đạt được.  “Lạ thay! Lạ thay!”, ngài được cho là đã thốt lên,  “Nào hay tất cả chúng sinh đều có đầy đủ đức tính trí huệ Như Lai, bởi do ngu si mê hoặc mà không thấy không biết.” Vậy là ở tuổi 35, Sĩ Đạt Ta đã thức tỉnh, sau 6 năm lìa bỏ cung điện, và trở thành Phật, bậc Tỉnh Thức, hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni  thuộc dòng Thích Ca.

 Lưu truyền rằng, vào canh đầu của đêm cuối cùng đó, Sĩ Đạt Ta  nhìn thấy tất cả tiền kiếp của mình.  Canh hai ngài đắc được thiên nhãn minh, thấy được cõi sinh diệt của chúng sinh phụ thuộc vào bản chất của nghiệp hành của mình. Ngài thấy thấu suốt sự phiền não của vòng luân hồi vốn không có thực tính. Vào canh ba,  chỉ trong thời gian một hồi trống, ngài lĩnh hội được thập nhị nhân duyên, khởi đầu vì si mê đưa tới già chết, và khởi đầu với sự giác ngộ kết thúc vòng sinh lão bệnh tử. Và cùng một lúc, ngay trước bình minh,  ngài chứng Tứ Điệu Đế: sự thật về sự khổ, nguồn gốc của sự khổ, sự diệt khổ, và Bát Chính Đạo: gồm chính kiến,  chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp,  chính mạng,  chính tinh tấn, chính niệm  và chính định. Đây là Diệu Đế thứ tư, Đạo Đế, đã đưa đến việc nhận thức được ba Diệu Đế đầu.

 Trong khi lời dạy có hệ thống này là một lời giáo huấn truyền thống, điều quan trọng cần nhớ là trong hơn 2,500 năm kể từ buổi sáng hôm đó nội dung giác ngộ của Thích Ca Mâu Ni đã được các giáo phái khác nhau lý giải khác nhau. Nhưng ngày nay những ai tự nhận mình là “Phật tử” đều đồng ý rằng quả chính đẳng chính giác này, sự giác ngộ chân chính và viên mãn này, không phải là điều chỉ riêng Đức Phật thực hiện được, cho riêng ngài, mà chính là bản chất mọi chúng sinh đều có từ lúc lọt lòng.

Chính mặt đất – nơi nương tựa của mọi chúng sinh, bình đẳng,  vô tư với mọi loài di chuyến và không di chuyển – là nơi mà Đức Phật đã chạm vào bằng bàn tay phải để làm chứng cho sự giác ngộ của mình. Hơn thế nữa,  ngài không nhắm tới sự xác chứng nào. Trong 49 ngày ngài đã tận hưởng hương vị tự do và an lạc của sự giải thoát. Lúc đầu ngài không có ý định cho ai biết về sự chứng ngộ của mình, bởi vì ngài biết nó quá thâm sâu để mọi người có thể lĩnh hội được. Nhưng,  theo truyền thuyết, đấng Phạm Thiên, chúa tể của 3,000 thế giới, yêu cầu Đấng Tỉnh Thức hãy hoằng pháp, vì có “những người đôi mắt chỉ mới che mờ đôi chút,” ngài bèn nhận lời.

Hai sư phụ trước đây của.ngài, Udraka và Arada Kalama, vừa mới qua đời một vài ngày trước, nên ngài đi tìm 5 người bạn tu khổ hạnh trước đây đã từ bỏ ngài. Khi họ thấy ngài tiến đến Vườn Nai ở Benares, họ quyết định phớt lờ ngài, vì ngài đã phá vỡ lời giao ước.  Nhưng khi thấy dung nghi ngài quá rạng rỡ, họ liền đứng dậy, dọn chỗ ngồi cho ngài và rửa chân ngài, và lắng nghe Đức Phật chuyển pháp luân,  giảng pháp lần đầu tiên.

Diệu Đế Thứ nhất của Đức Phật dạy rằng mọi kiếp sống, mọi sinh tồn đều là đặc trưng của duhkha – từ Phạn có nghĩa là khổ, đau, không mãn nguyện. Thậm chí các khoảnh khắc vui sướng cũng chực chờ hóa thành đau khổ khi chúng ta bám víu lấy chúng, hoặc một khi chúng biến thành ký ức, chúng hành hạ hiện tại khi tâm trí lúc nào cũng muốn tái hiện quá khứ trong những nỗ lực tuyệt vọng và vô ích.

Lời dạy của Đức Phật dựa trên sự nội quán trực tiếp vào bản chất của hiện hữu và sự phê phán căn cơ của lòng tham cầu và vô số cách trốn tránh – hoặc qua chủ nghĩa không tưởng chính trị,  liệu pháp tâm lý, hành động hưởng lạc thô thiển, hoặc  (và đây là điều phân biệt đạo Phật với các tôn giáo khác) sự cứu rỗi của thượng đế thần bí.  Khổ là Diệu pháp, và điều đó có thật. Nó là một nền tảng,  một viên đá bước đi phải được thấu hiểu đầy đủ để không trốn tránh hoặc lý giải nó. Trải nghiệm khổ, trải nghiệm lao động tâm trí, đưa đến Diệu Đế Thứ Hai,  nguồn gốc của khổ, theo truyền thống được mô tả là tham muốn, thèm khát khoái lạc, nhưng cũng  và một cách cơ bản hơn là  tham muốn cái hiện hữu tiếp tục, cũng như tham muốn cái không hiện hữu.  Quán sát bản chất của lòng tham muốn này dẫn đến cốt lõi của Diệu Đế Thứ Hai,  ý tưởng về cái “ngã”, tức cái “tôi” với tất cả khao khát, hy vọng,  và sợ hãi,  và chỉ khi cái ngã này được hiểu thấu đáo và được coi là không có thực thì Diệu Đế Thứ Ba, sự diệt khổ, mới thực hiện được.

Năm nhà tu khổ hạnh lắng nghe bài thuyết giáo đầu tiên của Đức Phật trong Vườn Nai trở thành hạt nhân của cộng đồng tăng đoàn, sangha, gồm các thầy (các cô thì sau này mới được Đức Phật cho phép) đi theo đường đạo mà Đức Phật thuyết giảng trong Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo. Những tăng sĩ này, gọi là tì kheo, sống giản dị,  chỉ sở hữu một bình bát, một cà sa, một kim may,  một bình nước có nắp lọc, và một dao cạo, vì họ phải cạo đầu, dấu hiệu của người xuất gia. Họ đi khắp miền đông bắc Ấn Độ, thực hành thiền định, một mình hoặc từng nhóm nhỏ, sống bằng việc khất thực.

Tuy nhiên, lời dạy của Đức Phật không chỉ dành cho tăng đoàn, mà ngài còn chỉ thị họ mang lời dạy ấy đến tất cả chúng sinh. “Này các Tỳ kheo, hãy đi vì lợi lạc của nhiều người, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của trời và người.”

Trong 49 năm sau đó Đức Phật đi khắp các làng mạc và thị trấn Ấn Độ, nói bằng thổ ngữ và sử dụng các hình ảnh đời thường để mọi người có thể hiểu được giáo lý của ngài. Ngài dạy dân làng thực tập chánh niệm khi kéo nước từ giếng lên, và khi một phụ nữ ôm đứa con trai nhỏ vừa mới chết đến cầu xin ngài chữa cho em sống lại, ngài không làm phép lạ, mà thay vào đấy bảo bà đi xin hạt cải từ một ngôi nhà nào không có người chết đến cho ngài làm phép. Bà trở về báo với Đức Phật mình không sao tìm được hạt cải đó, nhưng thay vào đó,  bà tìm được thông điệp ngài muốn dạy cho mình, rằng cái chết là điều phổ quát, và bắt đầu thực tập Bát Chánh Đạo để cắt đứt phiền não. Trong mùa mưa khi việc đi lại khó khăn Đức Phật cùng tăng đoàn thực tập thiền định. Địa điểm của một số nơi an cư ban đầu không khác các lán trại nhỏ, nhưng dần dần trở nên ổn định hơn. Khi tiếng tăm của Đức Thích Ca lan xa, các bậc vua chúa và nhà mạnh thường quân giàu có tặng ngài vườn tược và công viên làm tịnh xá. Đức Phật nhận lấy nhưng ngài vẫn tiếp tục sống như từ ngài 29 tuổi: như một tu sĩ lang thang, tự mình khất thực và dành thì giờ để chuyên tâm thiền định. Chỉ có một điều khác biệt: gần như mỗi ngày sau buổi cơm trưa, Đức Phật thuyết giảng giáo pháp.

Không có bài pháp hoặc vấn-đáp nào được ghi chép lại trong thời Đức Phật tại thế. Theo truyền thống mà Bu-ston, tác giả cuốn Lịch sử Phật giáo ở Ấn Độ và Tây Tạng thế kỷ 12, đi theo, thì việc hoằng pháp của Đức Phật có thể chia thành ba giai đoạn, hoặc ba lần chuyển pháp luân. Lần thứ nhất giảng về Tứ Diệu Đế và pháp vô ngã, sự không tồn tại của cái ngã thường hằng. Lần thứ hai, kinh bát nhã ba la mật đa (sự toàn hảo của trí tuệ) trình bày về sự không hiện hữu không những của cái ngã, mà còn của mọi phần tử khác (gọi là dharma: pháp) của hiện hữu. Trung tâm của thời kỳ này là thuyết giảng về shunyata, tức tính không, cũng có thể biến thành “sự viên mãn”, vì nó đưa đến trải nghiệm của sự trống rỗng của các khái niệm, và do đó sống động và năng động. Thời chuyển pháp thứ ba và thứ tư,  Bus-ton nói, chứng minh Chân lý Tuyệt đối. Chính ở đây người Tây Tạng thường định vị nguồn gốc của vajyana, tức giáo pháp “Kim cương thừa”.

Đức Phật nhập diệt tại Câu Thì Na ở tuổi 80, sau khi thọ thực món thịt heo hoặc nấm độc. Một số tì kheo đau buồn, nhưng Đức Phật,  nằm nghiêng, đầu dựa vào bàn tay phải, nhắc nhở cho họ nhớ rằng mọi pháp đều vô thường, và khuyên họ chỉ nên nương tựa vào chính mình (hải đảo tự thân) và giáo pháp của ngài.  Cuối cùng ngài hỏi có ai thắc mắc gì không.  Không ai hỏi gì. Rồi ngài nói những lời sau cùng: “Này các tì kheo, mọi thành tố đều sẽ bị băng hoại. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát. “

II

Vào mùa mưa đầu tiên sau khi Đức Phật nhập Niết bàn, tương truyền có 500 chư tăng tập hợp tại một hang động gần Vương xá, họp Đại hội Kết tập Kinh điển Thứ nhất. Anan, người thị giả theo hầu Đức Phật nhiều năm, đọc lại các bản kinh mà ngài đã nghe và thuộc, tạo thành Tạng Kinh, và U Bà Li kể lại 250 giới luật, vinaya (Tạng Luật). Trong khi đó Ma ha ca diếp kể lại Tạng Luận, tổng hợp các pháp tâm lý và siêu hình của đạo Phật.  Ba tuyến tập này được viết trên lá cọ vài trăm năm sau,  cấu thành Kinh Tam Tạng (Ba giỏ kinh), trở thành giáo lý căn bản của mọi phiên bản kinh điển Phật giáo về sau.

Đại hội Kết tập I thống nhất tăng đoàn, nhưng các sự kiện phức tạp xảy ra quanh điều được Phật tử gọi là Đại hội Kết tập Lần II, đã được cho là bắt đầu chia rẽ họ. Các sự kiện này, bắt đầu khoảng 100 năm sau khi Phật nhập Niết bàn, liên quan đến các lời lên án một số tăng sĩ ra khỏi một số giới luật. Chẳng hạn, tăng sĩ nhận tiền cúng đường, có tâm ý muốn tích lũy của cải. Tuy nhiên,  đằng sau các lời tố cáo này là vụ tranh chấp sâu xa hơn. Theo một truyền thống, ngay trước khi Phật nhập Niết bàn, ngài dặn dò Anan rằng tăng đoàn có thể điều chỉnh một số điểm không quan trọng trong Tạng Luật. Ananda đã truyền tải thông điệp này cho các trưởng lão tại Đại hội Kết tập I, nhưng khi họ hỏi giới luật nào Đức Phật cho là không quan trọng và giới luật nào quan trọng thì Anan bảo là mình quên hỏi Đức Phật, nên các lão tăng quyết định an toàn nhất là nên giữ lại tất cả giới luật đã được truyền thụ. Tuy nhiên,  trong các sự kiện xoay quanh Đại hội Kết tập II, một số tì kheo lập luận rằng tạng luật được hình thành đáp ứng với các tình huống đặc biệt,  cũng nên thay đổi để đáp ứng các điều kiện mới. Theo Biên niên Sử Trưởng lão, 10,000 tì kheo không tuân thủ tạng luật đã bị trục xuất khỏi Đại hội. Nhóm này lập thành một giáo phái gọi là Đại chúng bộ lan truyền khắp miền Bắc Ấn, trong khi các tăng lớn tuổi hơn lập thành Thượng Tọa bộ phát triển ở miền Nam Ấn. (Vào thế kỷ 3 sẽ có 4 giáo phái chính, sau đó phân ra 18 giáo phái, với các quan điểm triết lý và giáo thuyết có thay đổi.)

Chắc chắn sự khác biệt ý kiến thể hiện trong Đại hội Kết tập II phản ảnh một phần sự phát triển lớn mạnh của phong trào Phật giáo trong tầng lớp thế tục. Đại chúng bộ và các giáo phái tương tự đóng góp cho sự tiến hóa của Đại thừa (Cỗ xe lớn), mở rộng Phật pháp đến với đại chúng, trong khi Thượng Tọa bộ còn tồn tại đến ngày này với tên Theravada (còn được gọi dưới tên Phật giáo Nguyên Thủy) ở Đông Nam Á.

Giáo phái Đại thừa dạy rằng cư sĩ tại gia cũng như tu sĩ đều có thể đạt đến Niết bàn. Thay vì các A la Hán có thể giải thoát nhờ nỗ lực tự thân, họ cố gắng trở thành bồ tát, và thệ nguyện ở lại cõi luân hồi cho đến khi mọi chúng sinh đều được độ giải thoát. Đồng thời, Phật giáo Đại thừa phát triển một ý niệm sớm sủa về một phật tính siêu việt. Đức Phật của kinh điển Đại thừa  thuyết pháp và cư ngụ ở một cảnh giới cao hơn, bao quanh là đoàn tùy tùng gồm các bậc bồ tát và a la hán, lên tiếng từ cõi sâu thẳm của không thời gian vô tận. Trong khi điều này tạo cho Phật giáo một chiều kích mang tính sùng bái, nó cũng nhấn mạnh Phật không nhất thiết là điều gì đó xảy ra trong quá khứ và phải được gìn giữ,  mà đúng ra là điều gì đó vĩnh hằng, liên tục, và luôn được tạo ra.

III

Từ nguồn cội ở Mahadha (tiếng Hán là Ma Kiệt Đà), đạo Phật truyền theo  phương Tây Bắc đến biên giới Iran, Pakistan và miền Trung Á, và rồi đến Trung Quốc dọc theo Con đường Tơ lụa, không chỉ truyền bá bởi các tì khéo mà còn bởi các thương gia, đoàn lữ hành và khách nước ngoài – những hạng người thế tục, từ khắp nơi, bị thu hút bởi tính thực tiễn của Phật giáo (các con buôn có thể hiểu được trách nhiệm đạo lý của nghiệp quả) và tính ưu việt vượt lên giai cấp,  chủng tộc và quốc gia.

Vào thế kỷ 3 trước CN Hoàng Đế Ashoka của đế chế Maurya phái các sứ đoàn Phật giáo đi về phía tây xa tận Hy Lạp (nơi họ gặt hái rất ít thành tựu, nếu không muốn nói là không), và về phía nam vượt Ấn Độ Dương đến Sri Lanka. Sri Lanka,  sau đó là Miến Điện, Thái Lan, Miên trở thành quê hương của giáo phái Theravada, còn sống sót từ Thượng Tọa bộ sau Đại hội Kết tập II.

Phật giáo vào Trung Hoa vào thế kỷ 1 sau CN. Cả kinh điển của Đại thừa và Tiểu Thừa đều được dịch ra tiếng Hoa và tăng đoàn được thành lập.  Giới trí thức Trung Hoa say mê với triết học Phật giáo mới mẻ này, nhưng các nhà nho của Khổng gia cho rằng cuộc sống tu viện lật đổ nghĩa vụ hiếu thảo với cha mẹ và trung với quân vương, nên dán cho Đạo Phật là đạo giáo không lành mạnh,  ăn bám, và ngoại bang. Những đạo sĩ của Lão giáo và đệ tử của tân Khổng giáo, ngược lại,  vốn đã hấp thụ truyền thống mặc định và xa lánh cuộc sống thế tục, lao vào nghiên cứu và dịch thuật các cẩm nang thiền định của đạo Phật một cách say mê. 

Khi người Trung Quốc nhận được các bản kinh khác nhau của hai giáo phái Phật giáo Ấn Độ, họ rất hoang mang trước các xung khắc giữa hai phiên bản, phiên bản nào cũng tự nhận là lời dạy gốc của Đức Phật. Trong một nỗ lực nhằm thống nhất các tông phái khác nhau của Phật giáo Ấn Độ,  người Trung Quốc thành lập một tổng hợp chủ yếu: Liên Hoa tông, dựa trên Kinh Liên Hoa, và Hoa Nghiêm tông, dựa trên Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên,  cả hai tông phái đều là cấu trúc trí tuệ thâm sâu đòi hỏi nghiên cứu và học tập nhiều đến nỗi không còn nhiều thời gian để hành đạo.

Các tông phái Tịnh độ và Thiền định, trái lại, nhấn mạnh đến tu tập, và chứng ngộ. Tịnh độ tông, xuất xứ từ Ấn Độ, đề cao việc tụng kinh A di đà để bảo đảm được rước về cõi tịnh độ, nơi đó được cho là sẽ dễ tu tập đạt giác ngộ hơn. Chỉ cần có lòng tin. Tịnh độ tông rất phổ biến đối với dân quê ít học, nhưng nó cũng nhanh chóng được truyền bá trong mọi tầng lớp xã hội.

Thiền tông dạy cách trực tiếp nhìn vào Phật tánh (kiến tánh) mà không cần thông qua kinh điển.  Thiền tông thu hút giới tính hoa đã thực tập lối mặc định của đạo Lão. Nó đạt đến hình thức tinh yếu của thiền tông Trung Quốc khi Thiền sư Bách Trượng, (người chủ trương “ngày nào không lao động,  thì không được ăn cơm”), đưa lao động tay chân và làm ruộng thành một phần tích hợp của việc tu tập thiền tại các tu viện. Trong khi phép tu Tịnh độ tông và Thiền tông dường như loại trừ nhau, người Trung Quốc cuối cùng mang hai tông phái lại gần nhau,  và các buổi tụng kinh được tổ chức trong hầu hết các thiền viện.

Từ Trung Quốc đạo Phật lan truyền đến Hàn quốc và Việt Nam. Ở cả hai quốc gia Thiền thu hút giới trí thức và Tịnh độ phổ biến trong giới nông dân và dân quê.

Đạo Phật đến Nhật Bản đầu tiên vào năm 550 khi một quốc vương Hàn gửi hình ảnh và kinh Phật làm quà tặng cho triều đình Nhật. Đến thế kỷ 7 và 8 một số tông phái từ Trung Quốc truyền đến Nhật.  Liên Hoa tông và Chân ngôn tông (Phật giáo mật tông) đi vào Nhật Bản thế kỷ 9, một thời kỳ khi các vị thần của Thần đạo bị hấp thu vào hệ thống Phật giáo. Đến thế kỷ 12 cả Thiền tông và Tịnh độ tông đều đậm hình thức Nhật Bản.

Đạo Phật vào Tây Tạng từ Ấn Độ và Trung Á khoảng thế kỷ 7. Cũng có chút ảnh hưởng từ Trung Quốc. Liên hoa Sinh, một đại sư Ấn, đi vào Tây Tạng từ Afghanistan vào thế kỷ 8 và khuất phục đạo Bon bản xứ bằng cách đánh bại các quỷ thần và bắt họ làm các hộ pháp cho Phật giáo. Vào thế kỷ 11 một số người Tây Tạng,  trong đó có dịch giả Marpa, thực hiện chuyến đi hiểm nghèo đến Ấn Độ và mang về nhiều kinh Phật mới.

Trong khi đạo Phật bắt rễ trên những xứ Á châu quanh Ấn Độ thì trên quê hương của mình, đạo Phật bị các cuộc xâm lăng Hồi giáo hủy diệt mà đỉnh cao là cuộc xâm lăng của Mohammed Al Ghauri vào năm 1192, trong đó ông càn quét qua Ấn Độ, đi đến đâu cũng phá hủy các trung tâm đạo học lớn của Phật giáo: Nalanda, Vikramashila, Odantapura và các nơi khác. Vào cuối thế kỷ 12, đạo Phật đã ngừng tồn tại tại ngay chính nơi khai sinh ra nó, chỉ trừ một ít trường hợp lẻ loi.


Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s