Phó Bảng có phải là Tiến Sĩ ?

Nam Định, tháng 12-1897

Nam Định, tháng 12-1897 – Khoa thi Hương năm Đinh Dậu – Các quan giám khảo trong đại triều phục

Cao Văn Thức

Phó bảng là một kết quả đạt được của một số cử nhân dự khoa thi Hội dưới thời nhà Nguyễn. Lâu nay có nhiều quan niệm khác nhau về loại bằng cấp này, có người thì cho rằng Phó bảng là một học vị riêng biệt và thấp hơn Tiến sĩ; ngược lại có người nói Phó bảng cũng là Tiến sĩ mà thôi. Vậy thực hư thế nào, ta hãy sơ lược qua quá trình hình thành loại bằng cấp này.

Sơ lược học vị Phó bảng

Thời vua Gia Long (1802-1819), chỉ mới tổ chức được 3 khoa thi Hương ở một số địa phương để lấy Hương cống và Sinh đồ (1807, 1813, 1819), chứ chưa tổ chức thi Hội để lấy Tiến sĩ. Đến thời Minh Mệnh (1820-1840), tổ chức khoa thi Hội đầu tiên vào năm 1822, lấy đỗ 8 tiến sĩ; từ đó triều định định lệ cứ 3 năm mở một khoa thi, năm trước thi Hương, năm sau thi Hội; ngoài các khoa thi Hội chính thức ra, thỉnh thoảng triều đình còn mở thêm ân khoa hoặc các khoa như Chế khoa Cát sĩ, Nhã sĩ…

Sơ lược thi Hội thời nhà Nguyễn từ khoa thi đầu tiên thời Minh Mạng (1822) đến khoa thi cuối cùng dưới thời Khải Định (1919):

         – Thi Hội là một khoa thi lớn cấp quốc gia, tổ chức tại kinh độ Huế, nên thường gọi là đại khoa (khoa thi lớn). Người đỗ cử nhân đều được quyền dự thi, tú tài thì không được thi Hội trừ một vài trường hợp đặc biệt.

         – Thi Hội có 4 kỳ, có một thời gian thu lại còn 3 kỳ, nhưng rồi lại trở về 4 kỳ. Thi Hội tính điểm bằng phân số từ 1 đến 10, chứ không tính theo kiểu ưu, bình, thứ, liệt như thi Hương. Thí sinh thi tất cả 4 kỳ Hội đều có điểm và tổng cộng đúng số điểm theo quy định của triều đình thì được gọi là trúng cách và được phép vào thi Đình.

         – Thi Đình là kỳ thi được tổ chức tại sân điện của nhà vua nên còn được gọi là thi Điện. Thi Đình là nhằm sắp xếp thứ bậc tiến sĩ cho những người đã trúng cách ở thi Hội.

          Tiến sĩ triều Nguyễn ở thế kỷ XIX cũng tương tự tiến sĩ triều Lê ở thế kỷ XV gồm có 3 bậc:

        + Đệ nhất giáp tiến sĩ (tiến sĩ hạng nhất) gồm 3 vị thứ: đệ nhất danh (tên thứ nhất) dân gian thường gọi là Trạng Nguyên; đệ nhị danh (tên thứ hai ) gọi là Bảng Nhãn; đệ tam danh (tên thứ ba) gọi là Thám Hoa.

        + Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng hai), thường gọi là Hoàng giáp.

        + Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ hạng ba), thường gọi vắn tắt là tiến sĩ.

          Chia ra nhiều loại tiến sĩ như vậy, nhưng số lượng đỗ rất ít ỏi. Suốt hơn một trăm năm khoa cử triều Nguyễn (1807-1919) ở bậc đại khoa chỉ có 2 người đỗ Bảng Nhãn, 9 người đỗ Thám Hoa, 54 người đỗ Hoàng giáp và 227 người đỗ Tam giáp tiến sĩ. So với triều Lê ở thế kỷ XV, nước ta thời Nguyễn ở thế kỷ XIX diện tích rộng gấp đôi, dân số cũng hơn gấp nhiều lần nhưng số tiến sĩ chỉ bằng 1/3 nhà Lê.

Triều Nguyễn không có ai đỗ Trạng Nguyên. Lâu nay có giả thuyết là triều Nguyễn chủ trương không lấy Trạng Nguyên theo lệ “tứ bất”, nhưng xét về mặt lý thuyết là sai vì không có bất cứ một văn bản chính thức nào của triều đình đã ban bố rằng chủ trương không lấy đỗ Trạng Nguyên, và hơn nữa trong các loại mũ áo được chế tác để ban phát cho những người đỗ tiến sĩ các hạng trong kỳ thi Đình thì có cả áo mũ Trạng Nguyên, tuy vậy ngoài thực tế chưa có bất cứ người nào được diễm phúc này. Có lẽ tiêu chí chọn Trạng Nguyên quá cao, vừa đòi hỏi thí sinh có năng lực đặc biệt xuất chúng, vừa có một sự trải nghiệm thực tế trên chính trường; yếu tố thứ hai này hoàn toàn bất lợi cho thí sinh vì hầu hết bọn họ đều là những học trò ngày đêm ôn luyện văn bài sách ở trường lớp, chỉ có kiến thức sách vở, chứ đã ra làm quan đâu mà có vốn sống thực tế về đời sống chính trị, xã hội của đất nước.

         -Thời Minh Mạng, đến khoa thi Hội thứ 3 (1829), ngoài đỗ hạng trúng cách, nhà vua cho lấy đỗ thêm một số thí sinh. Quy định của triều đình: Thí sinh qua 4 kỳ đạt 10 điểm trở lên thì đỗ chánh trúng cách và được vào thi Đình, 4 kỳ đạt từ 4 đến 9 điểm hoặc 3 kỳ đạt 10 điểm mà có một kỳ bất cập phân (tức zê rô điểm) thì cho đỗ loại lấy thêm. Nhà vua cho lấy hạng đỗ thêm vì có lẽ qua hai khoa thi Hội năm 1822, 1826 thấy số lượng đỗ tiến sĩ quá ít, không đủ nguồn lực bổ sung vào bộ máy nhà nước. Loại đỗ lấy thêm được ghi tên ở bảng Ất (tức bảng phụ nên thường gọi là Phó bảng); còn những người trúng cách (đỗ chính thức) thì tên ghi ở bảng Giáp (bảng chính). Đỗ Phó bảng rồi thì không được thi Hội lại lần sau.

          Phó bảng sau khi đỗ Hội xong thì được cấp phát văn bằng và trở về quê quán để chờ triều đình bổ nhiệm quan chức, chứ không được vào thi Đình như những thí sinh trúng cách. Mãi đến các khoa 1877, 1879, 1880, thời vua Tự Đức, mới cho phép Phó bảng được vào thi Đình; đến thời vua Kiến Phúc (1884) thì Phó bảng lại không được phép thi Đình. Năm 1885, thời vua Hàm Nghi lại cho phó bảng được thi Đình.

          Sau khi vua Thành Thái lên ngôi vua, việc thi Hội, thi Đình được sắp xếp lại theo một quy củ thống nhất và được áp dụng bắt đầu từ khoa thi Hội năm 1889 cho đến khoa cuối cùng năm 1919:

          + Thi Hội có tất cả 4 kỳ, thí sinh nào cộng tất cả 4 kỳ được 8 phân trở lên mà không có kỳ nào bị bất cập (điểm liệt) thì đỗ hạng chánh trúng cách (chính thức); thí sinh cộng 3 kỳ được 8 phân trở lên mà có một kỳ bất cập hoặc cộng 4 kỳ được từ 4 đến 7 phân mà không có kỳ nào bất cập thì đỗ hạng phó trúng cách (còn gọi là thứ trúng cách). Hai hạng này đều được phép vào thi Đình.

          + Thi Đình được quy định điểm đỗ: 10 phân đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ đệ nhất danh (Trạng Nguyên); 8-9 phân đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ đệ nhị danh (Bảng Nhãn); 6-7 phân đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ đệ tam danh (Thám Hoa); 4-5 phân đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; 3 phân đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân; 1-2 phân đỗ Phó bảng.

         Những người đã đỗ trúng cách ở thi Hội thì vào thi Đình dù văn bài chỉ đạt 1-2 phân vẫn được đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ, còn những người đỗ phó trúng cách thì phải đạt từ 3 phân trở lên mới đỗ tiến sĩ, còn 1-2 phân thì chỉ đỗ phó bảng. Những trường hợp phó trúng cách ở khoa thi Hội mà đỗ vượt lên tiến sĩ ở kỳ thi Đình rất hiếm hoi, còn đa số đều an phận ở hàng phó bảng.

          Sau khi chấm thi Đình xong, những người đỗ chính thức ở ba hạng nhất, nhì, ba được ghi tên ở bảng Giáp (chính bảng), những người đỗ phó bảng được ghi tên ở bảng Ất (phụ bảng).

         Người đỗ chính thức được gọi là tiến sĩ giáp bảng (tiến sĩ bảng chính), gọi tắt là tiến sĩ; người đỗ phó bảng gọi là tiến sĩ bảng Ất (tiến sĩ bảng phụ), gọi tắt là phó bảng.

          Như vậy, ta có thể hình dung rằng tiến sĩ và phó bảng cùng đỗ một cấp thi, nhưng hai bậc đỗ: tiến sĩ là hạng đỗ chính thức, còn phó bảng là loại đỗ khuyến khích. Và phó bảng cũng là là tiến sĩ: Tiến sĩ là loại đỗ chính thức, tên ghi ở bảng chính (Giáp tiến sĩ); Phó bảng là loại đỗ  khuyến khích, tên ghi ở bảng phụ (Ất tiến sĩ).

          Vì vậy, gọi là Ất tiến sĩ đúng về mặt chữ nghĩa hơn và tên học vị này được ghi trong văn bằng do triều đình cấp phát, còn Phó bảng chỉ là cách gọi vắn tắt của từ bảng phụ. Thuật ngữ Phó bảng phổ biến trong dân gian hơn, tuy vậy cũng sẽ dễ gây ra sự hiểu lầm của nhiều người không am hiểu về khoa cử thời Nguyễn, cứ đinh ninh rằng Phó bảng là một học vị không phải là tiến sĩ.

          Sự thiệt thòi của Phó bảng

          Trong suốt hơn trăm năm khoa cử thời Nguyễn, qua cách đãi ngộ của triểu đình đối với những người đỗ đại khoa, ta có thể thấy được sự bất cân xứng giữa tiến sĩ và phó bảng.

         1.Phó bảng không được tham dự kỳ thi Đình. Từ khi học vị Phó bảng xuất hiện năm 1829 đến năm 1875, suốt hơn 60 năm, sau khi thi Hội có kết quả thì những người đỗ Phó bảng không được tham dự kỳ thi Đình. Thỉnh thoảng theo nhu cầu chính trị, nhà vua cho phép phó bảng được thi Đình ở một số khoa  (1877, 1879, 1880…) mà thôi.

Đến khoa thi Hội năm 1889, đời vua Thành Thái, mới có quy định phó bảng được chính thức thi Đình và duy trì mãi cho đến khi thi cử Hán học chấm dứt vào năm 1919 dưới thời vua Khải Định.

  1. 2. Phó bảng không được Xướng danh (truyền lô). Sau khi thi Đình có kết quả, triều đình tổ chức lễ Truyền lô (xướng danh) cho các tân khoa tiến sĩ. Ngày truyền lô, từ sáng sớm tại cửa Ngọ Môn, các quan trong hội đồng chấm thi y phục chỉnh tề tụ tập đông đủ; một người thư lại cầm danh sách những người thi đỗ, khi đọc đến tên người nào thì một người lính ngồi trên mình voi cầm loa hướng ra bốn phía xướng to đến 3 lần, ví dụ: “…đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, Nghệ An tỉnh, Nam Đàn huyện, Khánh Sơn xã, Nguyễn Văn Y”… Lễ xướng danh chỉ dành cho những người đỗ tiến sĩ giáp bảng, chứ tiến sĩ ất bảng thì không có.

          3.Treo bảng. Những khoa thi mà Phó bảng không được phép thi Đình thì sau khi có kết quả thi Hội, Hội đồng giám khảo sẽ cho chia làm hai bảng: Một bảng chính ghi tên những người trúng cách (đỗ chính thức) và một bảng phụ cho những người đỗ phó bảng. Hai bảng đều màu đỏ. Bảng chính được thực hiện theo nghi lễ một cách long trọng: Tấm bảng được đặt trên chiếc mâm lớn, trùm khăn nhiễu vàng, do một người lính kính cẩn bưng đi trước, các quan trong hội đồng giám khảo theo sau, đi vào cung điện trình lên nhà vua; và sau khi được vua duyệt y thì các quan trang trọng rước tấm bảng tiến ra cửa Ngọ Môn, đi đến Phu Văn Lâu và cho treo bảng lên trong 3 ngày. Còn bảng phụ thì chỉ cho treo trong một ngày và không có nghi lễ gì cả.

          Ở các khoa thi mà Phó bảng được phép thi Đình thì kết quả ở thi Hội vẫn treo bảng như đã miêu tả ở trên, còn sau khi thi Đình có kết quả thì treo bảng như sau:

        – Bảng chính (Giáp bảng) màu vàng có vẽ hình rồng nên thường gọi là long bảng (bảng rồng) hoặc hoàng bảng, kim bảng (bảng vàng). Bản này ghi tên những người đỗ chính thức, gồm các tiến sĩ ở 3 giáp (đệ nhất, đệ nhị, đệ tam). Sau lễ Truyền lô thì bảng vàng sẽ được đưa đến treo ở chính giữa đền Phu Văn Lâu 3 ngày cho thiên hạ chiêm ngưỡng, sau đó được cất vào nơi lưu trữ của triều đình.

          – Bảng phụ (Ất bảng) màu đỏ. Bảng này ghi tên những người đỗ phó bảng. Bảng phụ được treo ở cái chái bên cạnh Phu Văn Lâu, thấp hơn bảng chính một chút.

  1. Tiệc yến. Sau khi dự lễ Truyền lô xong thì tiến sĩ giáp bảng được ban áo mão và theo phái đoàn quan chức trong Hội đồng giám khảo và các đại thần trong triều vào sân điện để lạy tạ nhà vua. Hôm sau, các tân khoa tiến sĩ sẽ được vua đãi tiệc yến tại cung điện. Sau khi dự tiệc, các tân khoa sẽ được hướng dẫn đi thăm vườn Thượng Uyển của nhà vua và làm thơ xướng họa; rồi hôm sau nữa lại tiếp tục được triều đình cử quan chức, lính hầu che lọng dẫn các ông đi dạo chơi phố xá ở kinh thành.
  2. Bia đá. Để tôn vinh và lưu danh tên tuổi những người đỗ đại khoa, mỗi khoa thi triều đình lại cho dựng một tấm bia khắc đầy đủ tiểu sử vắn tắt của các tiến sĩ giáp bảng đã đỗ ở khoa đó. Bia đá được dựng ở nhà Văn Miếu ở phía tây kinh thành Huế, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế ngày nay. Tổng cộng có tất 32 tấm bia đá ghi tên 293 tiến sĩ các khoa thi từ 1822 đến 1919 (chính thức có 292 người, về sau thêm Bùi Văn Dị được đặc cách nên tộng cộng là 293 người).

          Phó bảng không được khắc tên vào bia đá.

  1. Vinh quy bái tổ. Sau khi hưởng đầy đủ những đặc ân của triều đình tại kinh đô thì tiến sĩ được sử dụng ngựa trạm để về quê và được dân địa phương đón rước vinh quy bái tổ. Theo quy định của triều đình phong kiến thì những người đỗ tiến sĩ sẽ được dân hàng tổng (gồm nhiều làng) khoảng dăm bảy trăm người được cắt cử đi theo hương chức các làng, gia đình người thi đỗ và viên chức của huyện sở tại, đem theo cờ trống võng lọng, lên tỉnh lỵ để đón rước về làng mở tiệc ăn mừng suốt mấy ngày trời.

Phó bảng thì không được triều đình quy định đón rước như tiến sĩ, cho nên phải trở về nhà âm thầm, không kèn không trống.

  1. Quan chức, phẩm hàm. Sau khi đỗ đạt, tiến sĩ và phó bảng đều được triều đình bổ nhiệm quan chức. Tuy vậy, buổi đầu bổ nhiệm bao giờ tiến sĩ cũng hơn phó bảng một bậc về chức vụ, phẩm hàm. Ví dụ: Tiến sĩ được bổ nhiệm tri phủ, hàm ngũ phẩm (bậc 5), trong khi phó bảng được bổ nhiệm tri huyện, hàm lục phẩm (bậc 6)…

Phó bảng chịu thiệt thòi về những đặc ân tôn vinh khoa bảng của triều đình một thời gian rất dài. Mãi cho đến giai đoạn thi cử Hán học sắp tàn, phó bảng mới được hưởng một ít đặc ân của tiến sĩ:

– Khoa thi Hội, thi Đình năm Tân Sửu (1901), theo lời tâu xin vua Thành Thái của quan chánh chủ khảo (chủ tịch Hội đồng thi) Cao Xuân Dục thì Phó bảng mới nhận đặc ân là được ban áo mão, cờ biển, được đi ngựa trạm về quê và được địa phương đón rước vinh quy bái tổ.

– Khoa thi Hội, thi Đình năm Canh Tuất (1910), theo tâu xin của Bộ Học lên vua Duy Tân, nên Phó bảng được dự yến tiệc, thăm vườn Thượng Uyển, dạo chơi phố xá kinh thành như tiến sĩ.

Chỉ có 2 đặc ân mà Phó bảng hoàn toàn không được hưởng đó là không được khắc tên vào bia đá và buổi đầu bổ nhiệm quan chức phải thấp hơn tiến sĩ một bậc.

Một số trường hợp tiêu biểu

Trong suốt trăm năm khoa cử triều Nguyễn, có tất cả 558 người đỗ đại khoa, trong đó có 292 tiến sĩ và 266 phó bảng. Xét về học lực thì trình độ giữa tiến sĩ và phó bảng cũng sàn sàn như nhau, nhưng sự tôn vinh của triều đình thì khác nhau một trời một vực. Trong thời đại khoa cử thịnh hành đó, người ta xem phó bảng chỉ là “cái đuôi của tiến sĩ”, vì vậy những người học giỏi nhưng kém may đỗ phó bảng rất hâm hực, bất mãn. Xin đơn cử một số trường hợp tiêu biểu:

Trường hợp phải chấp nhận chịu thua thiệt:

+ Ông Đỗ Huy Uyển (1815-1882), quê huyện Ý Yên, Nam Định, năm 1841 thi Hội 4 kỳ được 12 điểm, cao nhất toàn khoa, xứng đáng đỗ Hội nguyên (Thủ khoa thi Hội), nhưng văn bài có câu khiếm nhã(1) nên bị quan trường truất xuống cuối bảng phụ. Ngày ra bảng, ông Uyển nằng nặc đòi trả lại cái bằng phó bảng, bạn bè khuyên can mãi mới chịu nhận nhưng lòng buồn bực mãi đến cuối đời.

+ Ông Vũ Duy Tân (1840 – 1915), quê huyện Kim Bảng, Hà Nam, thi đỗ Hội nguyên khoa thi năm 1868; nhưng khi vào thi Đình, trong bài văn sách bàn về thời thế, ông có ý chê triều đình không quyết tâm đánh Pháp nên phật ý vua, bị giáng xuống phó bảng. Làm quan Ngự sử, ông viết sớ phê bình Tự Đức ham chơi, không chăm việc nước làm vua nổi giận phê 4 chữ “Tiến sĩ bất đệ” (tiến sĩ không có hạng, tức phó bảng), ý nói cái tiến sĩ chính thức còn không đỗ nỗi thì làm nên trò trống gì mà chê bai người khác. Về hưu, ông cho khắc treo ở nhà 4 chữ “Tiến sĩ bất đệ” để tỏ sự không nguôi về lời chê trách vô lý của vua Tự Đức.

+ Phan Văn Ái (1850-1898), quê huyện Văn Giang, Hưng Yên. Khoa thi Hội năm 1880, ông đỗ hạng chánh trúng cách, nhưng khi làm bài văn sách ở kỳ thi Đình, ông quên mất mấy câu thơ cổ nên bị quan trường truất xuống phó bảng.

+ Trần Tán Bình (1868-1937), quê huyện Thường Tín, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1895, ông thi Hội đỗ hạng chánh trúng cách, nhưng vào thi Đình không rõ vì sao bị truất xuống phó bảng. Báo Đồng văn nhật báo ở Hà Nội đăng tường thuật khoa thi này, đã chế giễu Trần Tán Bình: ông này thi Hội đỗ hạng chánh trúng cách mà vào kỳ Đình thí bị đánh xuống phó bảng, trong khi hai người khác chỉ đỗ phó trúng cách nhưng vào thi Đình lại vượt lên hàng tiến sĩ; vì vậy lúc hai ông tiến sĩ may mắn nọ dạo chơi vườn Thượng Uyển thì phó bảng Trần Tán Bình nên có chén rượu mừng (!)

+ Phan Võ (1889 – ?), quê huyện Yên Thành, Nghệ An, thi đỗ giải nguyên (thủ khoa cử nhân) trường Nghệ năm 1909, năm sau thi Hội đỗ phó trúng cách, vào thi Đình đỗ phó bảng. Khi có kết quả, ông muốn trả lại cái bằng phó bảng để ôn luyện tiếp trong 3 năm nữa thi lại khoa sau để giật cái tiến sĩ, nhưng nhà nghèo đành phải nhận bằng phó bảng. Ông làm quan đến thượng thư (bộ trưởng) nhưng vẫn còn day dứt mãi về việc không đỗ được tiến sĩ chính thức.

v.v…

Trường hợp may mắn:

+ Vũ Duy Thanh (1807-1859), quê huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Ông lận dận đến 3 lần thi Hội mới đỗ được phó bảng (1848, 1849, 1851). Năm 1851, sau khoa thi Hội, vua Tự Đức cho mở khoa thi Chế khoa Cát sĩ tương đương thi Hội và cho phép tất cả thí sinh đã đỗ tú tài, cử nhân, phó bảng từ trước được dự thi. Vũ Duy Thanh đỗ Đình nguyên (thủ khoa thi Đình) với học vị Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn). Ông làm quan đến Tế tửu Quốc tử giám (tương đương giám đốc Đại học quốc gia ngày nay), ông tự học và hiểu biết nhiều lĩnh vực tự nhiên như địa chất, khoáng sản… và từng thử nghiệm tự chế tạo thành công chiếc tàu thủy nhỏ chạy trên sông Hương vào năm 1859.

+ Bùi Văn Dị (1833-1895), quê Phủ Lý, Hà Nam. Năm 1865, ông thi Hội đỗ hạng chánh trúng cách (4/4), nhưng thi Đình bị truất xuống phó bảng không rõ duyên cớ gì. Ông làm quan đến Thượng thư, Phụ chính đại thần, có thời gian còn làm Kinh diên giảng quan (phụ trách việc giảng sách ở tòa Kinh Diên) cho vua Thành Thái. Từ chỗ thâm tình, ông nhờ vua xét lại việc đáng tiếc của mình trong khoa thi Hội năm 1865; vua Thành Thái vui lòng cứu xét và sắc phong cho ông văn bằng Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân và cho khắc thêm tên tuổi ông vào bia đá ở Văn Miếu.

+ Trần Dĩnh Sĩ (1859-1914), quê huyện Phong Điền, Thừa Thiên. Năm 1895, ông thi Hội đỗ chót bảng hạng phó trúng cách, thế nhưng vào thi Đình ông lại vượt lên 5 điểm, cao nhất kỳ thi, đỗ Đình nguyên Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).

+ Đặng Văn Thụy (1858-1936), quê huyện Diễn Châu, Nghệ An. Ông thi Hội 4 lần đều hỏng (1884, 1889, 1885, 1892), đành phải ra làm quan và không đi thi Hội nữa. Năm 1904 có khoa thi Hội, ông tình cờ vào Huế thăm bố vợ (Thượng thư Cao Xuân Dục), do bố vợ động viên nên ông đành phải đi thi. Thi Hội, ông chỉ đỗ loại phó trúng cách, vào thi Đình văn sách đạt 4 (5?) điểm, cao nhất kỳ thi, đỗ Đình nguyên Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp).

v.v…

Một số Phó bảng lừng danh:

Hơn một trăm năm khoa cử triều Nguyễn, có tất cả 558 đại khoa (tiến sĩ, phó bảng)(2) nhưng chỉ một số rất ít có sự nghiệp lưu danh sử sách, còn đại đa số đều đi vào quên lãng. Trong số 266 người đỗ tiến sĩ ất bảng (phó bảng) thì có mấy vị công nghiệp lừng lẫy, tên tuổi lưu danh hậu thế như:

+ Hoàng Diệu (1829-1882), quê huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Hoàng Diệu đỗ phó bảng năm 1853, làm quan có nhiều chính tích, thăng đến Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình). Năm 1882, quân Pháp đánh thành Hà Nội, Hoàng Diệu quyết tâm chống giữ. Quân đội triều đình thất bại do vũ khí kém, thành Hà Nội bị mất, ông tự vẫn để giữ tròn khí tiết.

+ Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), quê huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ông đỗ phó bảng năm 1879, làm quan được phong Hồng lô tự khanh. Năm 1885, hưởng ứng dụ Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông tham gia thành lập Nghĩa hội Quảng Nam và năm 1886 trở thành thủ lĩnh của Nghĩa hội, tổ chức đánh thắng Pháp nhiều trận. Quân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, đến giữa năm 1887, do thế cùng lực kiệt, ông phải trá hàng để cứu sinh mạng nghĩa quân. Ông bị thực dân Pháp hành hình vào tháng 10-1887.

+  Phan Châu Trinh (1872-1926), quê huyện Phú Ninh, Quảng Nam. Năm 1901, ông đỗ phó bảng và ra làm quan. Năm 1905, ông từ quan, cùng các nhà nho tiến bộ vận động phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ với phương châm “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh để tiến tới giành độc lập dân tộc. Năm 1908, ông bị thực dân Pháp xử đày Côn Đảo. Năm 1910, được ra tù, ông vận động đi Pháp hoạt động chính trị. Năm 1925, ông trở về Sài Gòn diễn thuyết về dân chủ, dân quyền. Năm 1926,  Phan Châu Trinh qua đời; đám tang ông đã trở thành một cuộc tổng biểu dương lực lượng của nhân dân toàn quốc.

Qua phần tản mạn về học vị phó bảng trên đây, có thể thấy rằng sự đãi ngộ của triều đình đã quá phân biệt giữa hai bằng cấp tiến sĩ giáp bảng và tiến sĩ ất bảng, đã gây ra sự hậm hực trong lòng nhiều sĩ tử không may thi đỗ phó bảng thời bấy giờ. Nhiều người mang nỗi hận đó cho đến khi đi sang thế giới bên kia. Tuy vậy, ngày hôm nay, chúng ta nhìn lại sự việc đã qua từ lâu rồi thì vấn đề đỗ đạt khoa bảng cao thấp chẳng có gì là quan trọng nữa, mà vấn đề quan trọng là bản thân con người đỗ đạt đó có những đóng góp gì cho nhân sinh xã hội, gây dựng  được sự nghiệp để lưu lại hậu thế hay không mà thôi, như Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi, cũng xuất thân phó bảng, từng nói: “Người sĩ quân tử đọc sách thánh hiền, cốt để lập công to, làm việc lớn mà thôi, chứ khoa danh lớn nhỏ có kể làm gì!(3). Quả đúng như vậy, đỗ đạt cao, làm quan to chỉ để vinh thân phì gia, không có những đóng góp gì cho đất nước, dân tộc thì cũng sẽ như gió thổi, mây trôi, cuộc đời chẳng có ý nghĩa gì cả.


Chú thích:

  1. Văn bài của ông có câu “vua phải sửa mình để tạ lỗi với trời” bị cho là vô lễ, thực sự là do lúc cha ông làm quan tại triều hay khoe con và thích giễu cợt các bạn đồng liêu là học vấn yếu kém nên bị ghét, gặp kỳ chấm thi họ bới lông tìm vết để trả đũa.
  2. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Hệ thống giáo dục và khoa cử Nho giáo triều Nguyễn, NXB Chính trị Quốc gia, 2011, tr.190.
  3. Nhiều tác giả, Phạm Thận Duật – Sự nghiệp văn hóa – Sứ mệnh Cần Vương, NXB Khoa học Xã hội, 2001, tr.74.

 

3 thoughts on “Phó Bảng có phải là Tiến Sĩ ?

  1. Bài này có tên Phó bảng có phải là TS. Thì rành rành Phó bảng KHÔNG phải là TS, mọi người biết twf khi chưa đọc.
    Bài có rất nhiều thông tin quý gia, giúp ta phân biệt rất nhiều mặt giữa hai tấm bằng này. Do vậy, nên đặt tên bài khác đi, xứng đáng với sự sưu tầm.

  2. Người Việt nam không nên thương xót kiểu san bằng được , đã là phó bảng ( vua vớt thêm để đủ người làm quan , chứ không phải cùng hạng với Tiến sĩ ) thì chấp nhận đi , tị nạnh làm gì . Người Việt mình hay thích danh hão , gắn đủ các loại danh dài loằng ngoằng đằng trước để phô trương với đời , trong khi bên trong phần lớn rỗng tuếch . Còn không thì cứ như Breznev ấy , yêu cầu bọn dưới quyền gắn tất cả các loại huân chương vào ngực , gắn tên vào mấy quyển sách mà người khác viết giùm .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s