Anh hùng hay tướng cướp: Osman Batyr và các nhóm vũ trang người Kazakh ở Tây Trung Quốc

Long Vũ

Ngày 29/4/1951, tại thủ phủ Dihua (nay là thành phố Urumqi) thuộc tỉnh Tân Cương, Trung Quốc – hơn 8 vạn nhân dân các dân tộc Tân Cương tham dự một buổi xét xử lớn nhất lịch sử địa phương. Chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kết án và tử hình tướng cướp người Kazakh – Osman Batyr – người đã lãnh đạo các nhóm vũ trang hàng vạn quân của người Kazakh trên lãnh thổ Tân Cương trong hơn 40 năm từ những năm đầu thế kỷ 20.

Các nhóm cướp và các cuộc nổi dậy vũ trang của người Kazakh ở Tân Cương là một trong những thách thức lớn nhất mà Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phải đối mặt sau khi thành lập. Nó đi vào lịch sử với tên gọi ”Chiến dịch tiễu phỉ Tây Bắc” kéo dài suốt từ năm 1949 tới năm 1958 mới dẹp được hoàn toàn. Sở dĩ đối mặt với khó khăn như vậy, là vì dưới thời ảnh hưởng của Liên Xô, những biến động liên tiếp trong khu vực Trung Á đã làm đảo lộn đáng kể cấu trúc dân cư khu vực này. Trong trường hợp cụ thể, vào những năm 1930s, nạn đói khủng khiếp gây ra bởi chính sách tập thể hóa nông nghiệp ở Kazakhstan đã làm khoảng 1 triệu người chết đói và làm hàng trăm nghìn người Kazakh tràn sang Tân Cương chạy trốn. Cuộc di cư đã đẩy dân số người Kazakh ở Tân Cương tăng đột biến lên hơn 300.000 người, trong khi dân số người Hán ở vùng Tân Cương chỉ khoảng 100.000 người. Do dân số đông, đói kém cộng với tình trạng loạn lạc ở Tân Cương trong những năm ảnh hưởng bởi Liên Xô, người Kazakh ở đây đã thành lập nên những nhóm vũ trang hàng vạn người để kiếm sống. Việc kiếm sống của họ có thể thực hiện bằng việc đánh thuê cho chính quyền và các lãnh chúa, hoặc bằng cách cướp bóc dân thường người Hán, Hồi, Mông Cổ, Tây Tạng,… trong vùng. Các nhóm này đã không bị trấn áp bởi Liên Xô hay Quốc Dân Đảng, ngược lại còn bị tận dụng để phục vụ mục tiêu của mình, dẫn đến các nhóm cướp vũ trang Kazakh trở thành nỗi ám ảnh của người dân Tân Cương trong hàng chục năm.

Phải đến thời Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, việc trấn áp các nhóm vũ trang Kazakh mới được thúc đẩy mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc đó lại dẫn đến những vấn đề căng thẳng giữa Trung Quốc với Liên Xô và các nước Trung Á sau này. Thực tế, khi chia rẽ và xung đột nổ ra giữa Liên Xô và Trung Quốc, hai bên tranh chấp và giao tranh nhiều nhất là trên biên giới Tân Cương chứ không phải trên đảo Damasky/ Trân Bảo như trước nay người ta nghĩ. Thậm chí, trong khi Trung Quốc coi Osman Batyr là ”tướng cướp” và xử tử, thì ở Liên Xô, Kazakhstan, Thổ Nhĩ Kỳ sau này người ta vẫn coi Osman Batyr là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng, đấu tranh cho dân tộc Kazakh. Và cho đến tận ngày nay, vấn đề sắc tộc ở khu vực Tân Cương vẫn không thể nói là đã được giải quyết, giữa Kazakhstan và Trung Quốc vẫn tồn tại căng thẳng thường trực.

1/ Sơ lược về Osman Batyr và người Kazakh ở Tây Trung Quốc

Người Kazakh là một dân tộc Turk ở Trung Á, có truyền thống du mục lâu đời. Trên những con đường du mục của người Kazakh, họ thường xuyên qua lại giữa khu vực Tân Cương và Trung Á không bị cản trở, do Tân Cương xét về mặt dân tộc và lịch sử gắn với Trung Á hơn là Trung Hoa. Điều này càng rõ nét hơn dưới thời Liên Xô: Tân Cương gần như bị kéo khỏi tay Trung Quốc, trở thành một phần lãnh thổ Liên Xô. (Nếu bạn nào đọc ”Truyện núi đồi và thảo nguyên” của Chingiz Aitmatov xuất bản cũ sẽ thấy vài lần nhắc đến Tân Cương như nhà của dân du mục Trung Á, đi qua lại dễ dàng – thực ra cũng là do bối cảnh lịch sử lúc đó Tân Cương thuộc Liên Xô).

Vào những năm 1930, ở Kazakhstan thuộc Liên Xô, chính quyền Xô Viết địa phương tiến hành tập thể hóa nông nghiệp vội vã và sai lầm. Người Kazakh bị cưỡng bức rời đồng cỏ vào khu tập thể, và gia súc bị tịch thu. Hậu quả làm hơn 1 triệu người Kazakh chết đói từ năm 1931 đến 1933, cùng hàng trăm nghìn người Kazakh phải bỏ quê hương đi tị nạn. Trong đó, hơn 200.000 người Kazakh đã tràn vào Tân Cương năm 1933, khiến dân số Kazakh ở đây tăng đột biến lên 360.000 người, gấp 3 lần người Hán lúc đó chỉ khoảng 100.000 dân. Việc một số quá lớn người Kazakh đổ vào Tân Cương trong thời gian ngắn như thế dĩ nhiên không được tất cả dân chúng địa phương chào đón. Từ năm 1933 đến năm 1936, người Kazakh ở Tân Cương nhiều lần bị xua đuổi, phải di cư tiếp đến các vùng khác như Cam Túc, Tứ Xuyên, Tây Tạng,… hình thành các nhóm người Kazakh khắp nơi trên đất Trung Hoa.

Chân dung thủ lĩnh Osman Batyr của người Kazakh

Osman Batyr và các quan chức Cộng hòa Đông Turkestan đệ nhị – nhà nước vệ tinh của Liên Xô từ năm 1944 đến 1949 ở Tân Cương 

 Osman Batyr Islamuly – một người Kazakh sinh ra trên đất Tân Cương năm 1899, chứng kiến thảm cảnh đồng bào Kazakh của mình, đã tập hợp họ thành các nhóm hàng vạn quân, tự vũ trang để bảo vệ mình. Nhưng việc này việc này lại xảy ra đúng vào thời loạn ở Tân Cương. Từ năm 1934 đến 1936, các nhóm quân địa phương người Hồi ở Cam Túc trung thành với Quốc Dân Đảng nhiều lần đánh vào Tân Cương, mục đích để thu hồi Tân Cương cho Quốc Dân Đảng. Đa phần những lần như thế lãnh chúa Tân Cương Thịnh Thế Tài thường thua trận, bỏ chạy và phải cầu viện Liên Xô. Trong bối cảnh đó, Osman Batyr nhận thấy cơ hội, và ông đã liên hệ với lãnh chúa Tân Cương, để cho những người Kazakh của mình đánh thuê giúp họ chống lại Quốc Dân Đảng. Đổi lại, chính quyền Tân Cương chấp nhận ban cho người Kazakh đồng cỏ để họ sinh sống cùng nhiều quyền lợi khác.`Từ đó, các nhóm quân vũ trang Kazakh trở thành lính đánh thuê cho các lãnh chúa Tân Cương, bảo vệ họ khỏi các lãnh chúa khác mà chủ yếu ở đây là các lãnh chúa người Hồi ở Cam Túc-Thanh Hải.

Quả nhiên, quân đội Kazakh của Osman Batyr đã tỏ ra hiệu quả trong chiến đấu. Họ đã cùng lực lượng Bạch Vệ Nga giúp lãnh chúa Thịnh Thế Tài nhiều lần đẩy lùi được quân người Hồi đánh vào thủ đô Dihua (nay là Urumqi). Năm 1934, khi quân Hồi đã chiếm được Dihua, Thịnh Thế Tài phải bỏ chạy, thì khoảng 600 quân Bạch Vệ Nga và 1000 quân Kazakh đã tổ chức phản công tái chiếm lại Dihua, đánh bại quân Hồi. Sau trận này danh tiếng của quân Kazakh tăng đáng kể. Mặc dù vậy, trong trận đánh Dihua lần 2 năm 1936, quân Bạch Vệ Nga lẫn Kazakh cũng không cứu nổi Dihua, mà phải nhờ đến 7 vạn quân Liên Xô can thiệp mới đánh bại được quân người Hồi của tướng Mã Trọng Anh.

2/ Tham vọng độc lập cho người Kazakh của Osman Batyr.

Tuy vậy, những biến động trong thập niên 40s đã khiến Osman Batyr quyết định chấm dứt phận đánh thuê của người Kazakh, chuyển sang chiến đấu cho bản thân. Cụ thể, chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, quân Quốc Dân Đảng tiến vào Tân Cương năm 1944, Liên Xô hất Thịnh Thế Tài để chuyển sang ủng hộ người Duy Ngô Nhĩ,… Osman Batyr đã cho quân của mình nổi dậy, chiếm nhiều vùng rộng lớn ở phía Bắc Tân Cương. Mục tiêu lúc này của Osman Batyr là biến Tân Cương thành quốc gia độc lập cho các dân tộc du mục, và vì lẽ đó khi quân Quốc Dân Đảng tiến vào thu hồi Tân Cương, quân của Osman đã phục kích các đoàn xe của Quốc Dân Đảng làm họ thiệt hại nặng. Từ năm 1943, các xe Quốc Dân Đảng đi qua “Hành lang Altai” ở phía Bắc – một trong 2 tuyến đường chính để đi vào Tân Cương – liên tục bị quân Kazakh đánh phá. buộc họ phải chuyển đường vận chuyển xuống phía Nam, nơi cũng thường xuyên bị Liên Xô không kích đánh chặn.

Toan tính về nhà nước độc lập của Osman Batyr càng có cơ sở khi năm 1944, Liên Xô lập ra nhà nước ”Cộng hòa Đông Turkestan đệ Nhị” trên lãnh thổ Tân Cương, với thành phần lãnh đạo gồm đủ các dân tộc Tân Cương như Duy Ngô Nhĩ, Kazakh, Kyrgyz, Uzbek,…Thực chất mục đích của Liên Xô chỉ là lập ra chính quyền tay sai để chống lại Quốc Dân Đảng. Nhưng khi “Cộng hòa Đông Turkestan đệ Nhị” thành lập, Osman Batyr đã tình nguyện mang quân của mình gia nhập. Osman còn được Liên Xô và Mông Cổ chào đón. Như cuối năm 1943, Osman Batyr đã được sang thăm Cộng hòa nhân dân Mông Cổ và được lãnh đạo Choibalsan của Mông Cổ tặng nhiều vũ khí, đạn dược để chống Quốc Dân Đảng. Chuyến thăm này vào thời điểm đó được công bố khá rầm rộ, xuất hiện trên các trang báo chí truyền thông của Liên Xô và Mông Cổ, được nhiều báo Liên Xô ghi lại. Tuy nhiên sau này tình hình chuyển biến, Mông Cổ đã tìm cách giấu nhẹm mối liên hệ với Osman Batyr, những dĩ nhiên là không thể giấu mãi.

Osman Batyr và lãnh đạo Cộng sản Mông Cổ Choibalsan.

Choibalsan và cố vấn Liên Xô thăm trại của Osman Batyr năm 1945

Tháng 9 năm 1945, Osman Batyr mang quân của mình vòng qua đường Mông Cổ để tấn công quân Quốc Dân Đảng ở quận Altai, phía Bắc Tân Cương, là một vùng đồng cỏ rộng có nhiều người Kazakh sinh sống. Sau những trận đánh ác liệt, quân Kazakh của Osman Batyr đã đánh bại được quân Quốc Dân Đảng, giải phóng được quận Altai. Để ban thưởng cho các chiến công của Osman Batyr, Liên Xô bổ nhiệm ông làm Thống Đốc quận Altai và trao cho Osman huân chương ”Anh hùng Nhân dân Cộng hòa Đông Turkestan”. Tuy nhiên, sau sự kiện đó, Osman Batyr đã có tham vọng của riêng mình: thành lập một Hãn quốc độc lập cho người Kazakh ở Altai. Vùng Altai có thể nói là một nơi mơ ước với người Kazakh với những đồng cỏ xanh tốt lý tưởng cho lối sống du mục của họ.

Vì vậy, sau khi nhận chức Thống đốc Altai, Osman Batyr đã tỏ ra xa lánh Liên Xô, định dựa vào Mông Cổ để thành lập một quốc gia độc lập cho người Kazakh. Đây rõ ràng là điều ngây thơ của Osman, do Mông Cổ cũng chỉ là một nhà nước phụ thuộc Liên Xô không hơn không kém. Lãnh đạo Choibalsan của Mông Cổ sau khi từ chối giúp đỡ Osman, đã thông báo với Liên Xô về khả năng Osman Batyr không còn trung thành với Liên Xô nữa. Thất vọng vì không được giúp đỡ, quân của Osman Batyr chuyển sang cướp phá cả các làng mạc Mông Cổ. Từ năm 1946, các cuộc xung đột dọc biên giới Mông Cổ liên tiếp nổ ra, mà thủ phạm được xác định là các nhóm quân vũ trang người Kazakh của Osman Batyr vượt qua biên giới Mông Cổ để cướp bóc và sát hại binh lính và biên phòng Mông Cổ.Binh lính Mông Cổ xâm nhập qua biên giới cũng thường xuyên bị lính Kazakh của Osman phục kích sát hại. Năm 1945 sau khi hết thế chiến, Bộ Chính trị Mông Cổ tuyên bố: các nhóm giặc cướp người Kazakh là mối nguy lớn nhất với Cộng hòa nhân dân Mông Cổ ở biên giới phía Tây.

Cùng thời điểm đó, quân Quốc Dân Đảng cũng phải đối phó với quân Mông Cổ xâm lấn biên giới, nên đã để nghị hợp tác với quân của Osman cùng chống lại Mông Cổ ở biên giới, đổi lại Quốc Dân Đảng đảm bảo một quyền tự trị cho người Kazakh ở vùng Altai. Bị hấp dẫn bởi đề nghị tự trị, Osman đã đồng ý giúp Quốc Dân Đảng ở biên giới chống Mông Cổ. Và trong sự kiện nổi tiếng nhất, tháng 7 năm 1948 hàng trăm quân Kazakh cùng quân Quốc Dân Đảng vượt qua biên giới tấn công một đồn biên phòng Mông Cổ gần núi Baitag Bogd. Tuy nhiên, cuộc tấn công của người Kazakh đã bị 10 lính Mông Cổ đẩy lùi trong một trận chiến bi hùng của người Mông Cổ.

3/ Thất bại và bị xử tử – Số phận người Kazakh ở Trung Quốc sau cái chết của Osman.

Sau thất bại nặng nề đó, Osman Batyr vẫn hợp tác với Quốc Dân Đảng, nhưng ông cũng không có hành động nào chống lại quân Liên Xô và Cộng hòa Đông Turkestan. Osman và đồng bào Kazakh của ông sống yên bình ở vùng Altai đến năm 1949. Tuy nhiên, biến cố đến khi năm 1949, Quốc Dân Đảng thua trận trước Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quân Giải phóng nhân dân Trung Hoa tiến vào Tân Cương không gặp sự kháng cự, do 10 vạn quân Quốc Dân Đảng ở đây hạ vũ khí đầu hàng.

Ngược lại, không chấp nhận đầu hàng Quân Giải phóng, Osman Batyr đã kêu gọi người Kazakh ”đại di cư” từ phía Bắc Tân Cương, xuống phía nam gần biên giới Tây Tạng để lập căn cứ chống lại chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Cuộc di cư lớn đầu tiên diễn ra vào năm 1950, với hơn 5 vạn người đi bộ từ Bắc Tân Cương đến gần Tây Tạng, người dân Tân Cương gọi là ”Di dân Canh Dần”. Tuy nhiên, nhiều người Kazakh đã chết trên đường đi vì đói, rét và bệnh tật. Tuy nhiên, cuối cùng thì Osman Batyr cũng mang được lực lượng của mình đến chân núi Côn Luân, ngã 3 biên giới giữa Liên Xô, Tân Cương và Tây Tạng. Họ không vào Tây Tạng do người Tây Tạng cũng thù ghét dân du mục Kazakh. Căn cứ kháng chiến của Osman được xây dựng, và được còn được hỗ trợ từ các nước Trung Á thuộc Liên Xô. Trong một lần phỏng vấn, Osman Batyr đã có một câu nói nổi tiếng bằng tiếng Nga: ”За казахов готов вступить в переговоры с дьяволом!

Оспан-батыр!” (vì người Kazakh, tôi sẵn lòng đàm phán với quỷ dữ).

Một sự thật là trong căn cứ của Osman Batyr có rất nhiều người Nga, hầu hết là cựu quân Bạch Vệ đã di cư đến Tân Cương sau Nội chiến Nga, nay không trở về Liên Xô mà tiếp tục ở lại Tân Cương. Ở một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất, điệp viên CIA Douglas Mackiernan trên đường từ Tân Cương qua Tây Tạng để trốn quân Trung Quốc đã ghé qua trại du kích của Osman Batyr, nơi ông được 3 điệp viên người Nga gia nhập. Tuy nhiên khi tiến vào Tây Tạng, Douglas Mackiernan cùng 2 điệp viên Nga đã bị lính Tây Tạng bắn chết do mặc quần áo người Kazakh – kẻ thù của Tây Tạng.

Tuy nhiên, sau năm 1950, chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tiến hành chiến dịch trấn áp thổ phỉ quy mô lớn chưa từng có ở khu vực Tây Bắc. Điều này làm các nhóm quân Kazakh của Osman Batyr thiệt hại khá nặng. Từ 5 vạn quân, đến năm 1950 quân của Osman chỉ còn khoảng 3-4 nghìn người. Do vậy đầu năm 1950, Osman và người Kazakh của ông lại tiến hành một cuộc di cư nữa, men theo dãy Côn Luân để đi về phía Đông qua Thanh Hải, Cam Túc. Có lẽ Osman Batyr dự định đến Thanh Hải để nương nhờ người dân tộc Hồi, một dân tộc được coi là anh em với người Kazakh mặc dù trước đó Osman Batyr từng đánh nhau với quân Hồi. Tuy vậy, cuộc di cư không thành, và đến tháng ngày 19/2/1950, tại chân núi Kanambol, huyện Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Osman Batyr cùng gia đình và tùy tùng đã bị Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa phát hiện và bắt giữ.

Sau hơn một năm, ngày 29/4/1951, Chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa ”tướng cướp” Osman Batyr cùng các tùy tùng ra xét xử công khai trước 8 vạn nhân dân các dân tộc Tân Cương. Tại đây, sau khi bị đấu tố kiểu cách mạng văn hóa, Osman Batyr đã bị xử tử, có nguồn nói rằng ông đã bị chặt tay chân trước khi giết. Các con ông sau đó đều bị chết, bị coi là do tra tấn. Nhiều người Tân Cương sau này coi ngày 29/4 là ngày ”Mặt trời lặn” – ngày Osman Batyr ”tử vì đạo”, và ngày nay cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ tị nạn ở nhiều nơi vẫn tổ chức tưởng niệm ngày Osman ”tử đạo” – dù ông không phải là người Duy Ngô Nhĩ, ông là người Kazakh. Thậm chí ở Thổ Nhĩ Kỳ, việc kỷ niệm ngày Osman Batyr tử đạo được tổ chức công khai bất chấp áp lực của Trung Quốc.

Ngày 29/4/1951, Osman Batyr bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kết án và tử hình trước 8 vạn nhân dân Tân Cương.

Bất chấp cái chết của thủ lĩnh Osman Batyr, cuộc nổi dậy của người Kazakh ở Trung Quốc vẫn kéo dài đến năm 1958 mới chấm dứt. Nhưng bên cạnh đó, cũng không ít người dân Tân Cương vui mừng vì cái chết của Osman Batyr, vì đã gây ra những vụ cướp bóc, ám ảnh người dân Tân Cương hàng chục năm trời.

Sau này, cộng đồng người Kazakh ở Tân Cương còn có những lần biến động lớn. Ví dụ như năm 1962, trong sự kiện mà lịch sử Trung Quốc gọi là ”Bạo loạn 29 tháng 5”, gần 7 vạn người Trung Quốc, trong đó có nhiều người Kazakh bị Liên Xô kích động đã ồ ạt vượt qua biên giới Tân Cương để trốn sang Liên Xô. Sự kiện này cũng để lại một bộ phận Hoa Kiều ở Liên Xô, những người mà sau này khi Liên Xô sụp đổ, Trung Quốc đã chối bỏ họ từ chối cho hồi hương, khiến họ bị kẹt lại Trung Á trong tủi nhục. Hoặc như sau năm 1991, hơn 2 triệu người Kazakh từ nước ngoài đã trở về quê nhà sau khi Kazakhstan giành lại độc lập từ Liên bang Xô Viết. Những người này được gọi bằng tên ”Oralman” – tiếng Kazakh nghĩa là ”người về nhà”. Nói tóm lại, từ năm 1960 đến năm 1991, đã có gần 2 triệu người Kazakh rời Trung Quốc để trở về quê nhà Kazakhstan, một trong những cuộc di dân lớn nhất sau khi Liên Xô sụp đổ.

Hiện nay, người Kazakh vẫn là một sắc dân thiểu số quan trọng ở Trung Quốc, với dân số khoảng 1,5 triệu người. Những cũng có gần 1 triệu người Kazakh đã ở lại Trung Quốc, sống rải rác khắp các tỉnh và Khu tự trị từ Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng, Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên,… Họ được công nhận là 1 trong 56 dân tộc thiểu số của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Một lễ tưởng niệm ngày Osman Batyr tử vì đạo được tổ chức công khai ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ năm 2008

Một cuốn sách về Osman Batyr xuất bản ở Thổ Nhĩ Kỳ.

*Ngoài lề: Sự biến Ita năm 1962 – khi Trung Quốc cũng có ”Nạn kiều” 

Vào năm 1962, trong bối cảnh chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc, một sự kiện đã diễn ra khi hàng vạn công dân Trung Quốc vượt biên qua Liên Xô. Sự kiện được Liên Xô gọi là ”Biến cố Itai”, còn Trung Quốc gọi là ”Bạo loạn phản cách mạng 29 tháng 5”. Bản chất của sự việc là những công dân Trung Quốc, gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau trong đó có những dân tộc có liên hệ với Liên Xô, do tình hình kinh tế xã hội khó khăn của Trung Quốc và bị Liên Xô kích động đã tổ chức vượt biên ồ ạt sang Liên Xô, bỏ lại đất nước sau lưng.

Câu hỏi đặt ra ở đây, là những ai được người Trung Quốc gọi là ”kiều dân”?

Câu trả lời: đó là các dân tộc gốc Trung Á ở Tân Cương, những người mà dưới thời Liên Xô kiểm soát Tân Cương đã có điều kiện di dân đến vùng Tân Cương làm dân số tăng mạnh, ngang ngửa thậm chí áp đảo người Hán. Năm 1941, dân số khu vực Tân Cương có 3 triệu người Duy Ngô Nhĩ, hơn 360.000 người Kazakh, gần 100.000 người Hồi, 65.000 người Kyrgyz,… trong khi có khoảng 100.000 người Hán.

Do dân số người Hán ít ỏi, lại đa phần là trình độ thấp, nên khi tiếp quản Tân Cương năm 1949, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gặp rất nhiều khó khăn, gần như là bước vào một quốc gia mới chứ không giống như tiếp quản đất cũ. Trong tình hình đó, chính quyền mới của Tân Cương đã phải dùng đến biện pháp tận dụng những lực lượng cũ của những thế lực mà Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa coi là ”kẻ thù”. Cụ thể, hơn 10 vạn hàng binh Quốc Dân Đảng đã được thu nạp vào lực lượng sản xuất mới của Quân khu Tân Cương. Ngoài ra, Quân Giải Phóng còn tận dụng những tướng cũ của Chính quyền ”Cộng hòa Đông Turkestan đệ nhị” do Liên Xô lập ra từ năm 1944 đến 1949 – dẫn đến tình trạng nhiều chỉ huy cao cấp của Quân giải phóng Trung Hoa ở Tân Cương lại là người Nga, Kazakh, Uyghur, Kyrgyz, Tatar,… Ví dụ, Tư lệnh đầu tiên của Tập đoàn quân số 5 Quân Giải phóng Trung Hoa ở Tân Cương là tướng Fatiyi Ivanovich Leskin – người Nga. Ngoài ra, 2 tướng cao cấp của Tập đoàn quân 5 là Thiếu tướng Zunong Taiyev – người Duy Ngô Nhĩ và Thiếu tướng Margov Iskhakov – người Tatar. Đây chính là 2 tướng sau này đã đào ngũ sang Liên Xô.

Ngoài ra, thành phần dân cư Tân Cương cũng có nhiều người vốn là dân tị nạn Trung Á. Ví dụ như người Kazakh chạy trốn nạn đói ở Liên Xô năm 1930 đã tràn vào Tân Cương. Hoặc nếu không có nạn đói, thì bản thân các dân tộc Trung Á cũng đã là dân du mục, đi qua lại giữa Tân Cương và Trung Á như đi ”bà con đi dạo” – trích lời Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Khắc Cường năm 2014.

*Sự biến Ita năm 1962.

Năm 1962, do những sai lầm trong chính sách dưới thời Mao Trạch Đông, kinh tế-xã hội Trung Quốc lâm vào khủng hoảng trầm trọng, đời sống nhân dân nhiều nơi cực khổ. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc lại chia rẽ với Liên Xô dẫn đến căng thẳng giữa 2 nước. Trước khi 2 nước đọ pháo trực tiếp trên đảo Damansky/Trân Bảo năm 1969 như đã biết, thì trước đó 2 bên đối đầu chủ yếu là trên biên giới Tân Cương. Ở mặt trận này, rõ ràng Liên Xô có lợi thế vượt trội, do có thời gian kiểm soát Tân Cương gần 50 năm từ thời Đế quốc Nga. Thành phần dân tộc Tân Cương cũng có quan hệ mật thiết với Liên Xô, trong khi người Hán ở Tân Cương lúc đó vẫn khá ít.

Từ những năm 1960, chính quyền Liên Xô ở các nước Trung Á đã có hành động khuyến khích dân Trung Quốc ở Tân Cương bỏ sang Liên Xô. Đài phát thanh Liên Xô ở biên giới hàng ngày phát các bản tin bằng tiếng Uyghur, Kazakh, Kyrgyz,… kích động các dân tộc vượt biên sang Liên Xô. Trong khi đó do thiếu phiên dịch, các bản tin Trung Quốc trong khu vực chỉ được phát bằng 2 thứ tiếng: Hán và Duy Ngô Nhĩ, hoàn toàn thiếu các ngôn ngữ còn lại. Hộ chiếu Liên Xô được cấp rất dễ dàng cho những người vượt biên này. Những lời kêu gọi từ phía Liên Xô cùng tình trạng khó khăn ở Trung Quốc khiến nhiều người tìm cách vượt biên vào Liên Xô, làm việc quản lý biên giới của Trung Quốc vô cùng khó khăn, phải vận động thanh niên Trung Quốc xung phong lên Tân Cương tuần tra biên giới.

Tuy nhiên, bước ngoặt lớn xảy ra vào tháng 4 năm 1962 giáng đòn mạnh vào quân đội Trung Quốc. Cuối tháng 4/1962, phó Tham mưu trưởng Quân khu Tân Cương – tướng Margov Iskhakov (người Tatar) xin sang Liên Xô ”đàm phán” nhưng sau đó đã trốn ở lại Liên Xô. Không lâu sau đó, thêm một Phó tham mưu trưởng khác là tướng Zunong Taiyev (người Uyghur) cũng đào ngũ trốn sang Liên Xô. Liên tiếp 2 tướng cấp cao đào thoát sang Liên Xô làm hàng ngũ Quân giải phóng Trung Hoa rối loạn, trong khi Liên Xô tận dụng vụ đào thoát này tăng cường kích động dân chúng Tân Cương vượt biên.

Như một kết quả tất yếu, sáng sớm ngày 22/4/1962 hàng nghìn cư dân Tân Cương mang theo gia đình, gia súc và tài sản đi bộ hàng cây số về phía cửa khẩu Khorgos trên biên giới Liên Xô đòi qua biên giới. Lính biên phòng Trung Quốc không cho họ qua, nhưng Liên Xô đã cử xe tải và binh lính đến, đe dọa lính Trung Quốc và đón người vượt biên vào đất Liên Xô. Lính Trung Quốc không thể đáp trả, trong khi chính phủ Trung Quốc phản ứng bằng cách đóng cửa lãnh sự quán Liên Xô ở các thành phố Y Ninh và Urumqi.

Từ đó cho đến hết tháng 5 năm 1962, đã có hơn 7 vạn người Tân Cương bỏ sang Liên Xô, mang theo 220.000 con gia súc và để lại 400.000 ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang, đẩy nền kinh tế Tân Cương trước nguy cơ sụp đổ. Đỉnh điểm vào ngày 29/5/1962, ở nhiều nhà máy, nông trường trong khu vực Tân Cương diễn ra bạo loạn khi nhiều công nhân có cả người Hán đình công đòi vượt biên sang Liên Xô. Chính phủ Trung Quốc sau đó phải dùng biện pháp mạnh, đưa quân đội lên trấn áp, đồng thời đưa hàng vạn thanh niên Trung Quốc lên Tân Cương khai hoang và giữ biên giới. Để rồi những năm sau đó, hàng trăm nghìn đến hàng triệu cư dân người Hán đã được đưa đến Tân Cương giữ đất và làm kinh tế, mà tác động của nó là làm tỷ lệ cư dân người Hán trong vùng tăng mạnh, áp đảo các sắc dân thiểu số.

Người dân Tân Cương biểu tình với dòng chữ: ”Đả đảo bọn Khruschev của Trung Quốc” (ý nói chỉ trích các lãnh đạo Trung Quốc xét lại) trong sự kiện Ita năm 1962.

*Hậu quả.

Các cuộc di cư của cư dân Tân Cương vào Liên Xô năm 1962 để lại hậu quả to lớn về kinh tế và xã hội cho khu vực này, đồng thời thúc đẩy chính quyền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đẩy mạnh việc đưa người Hán đến sống ở Tân Cương. Căng thẳng giữa Liên Xô và Trung Quốc cũng liên tục căng thẳng trong những năm sau đó, và hai bên thậm chí vài lần đụng độ đổ máu ở biên giới Tân Cương.

Tuy nhiên, đến nhưng năm 80-90s, gió đã đảo chiều. Trong khi Trung Quốc mở cửa thành công, nền kinh tế và đời sống nhân dân cải thiện, thì ở Liên Xô khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Nhiều người năm xưa vượt biên qua Liên Xô đã tìm cách trở về Trung Quốc. Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc đã bác bỏ những yêu cầu này. Hàng vạn người tụ tập ở các cửa khẩu biên giới, giương những biểu ngữ tiếng Hán kêu gọi Trung Quốc cho họ trở về, nhưng đã bị lính biên phòng Trung Quốc chặn lại. Nhiều người trong số họ, trong đó có nhiều người Hán, ngậm ngùi sống nốt quãng đời còn lại trên đất Trung Á trong sự tủi nhục đã phản bội quê hương trước kia.


Tham khảo: Modern China’s Ethnic Frontiers: A Journey to the West – tác giả Hsiao-ting Lin.

One thought on “Anh hùng hay tướng cướp: Osman Batyr và các nhóm vũ trang người Kazakh ở Tây Trung Quốc

  1. Pingback: Sự kiện ‘’Loạn Y Lê’’ của người Duy Ngô Nhĩ năm 1944 ở Tân Cương | Nghiên Cứu Lịch Sử

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s